4
Changes—Inaccurate, Misinterpreted or Partially Wrong—Những thay đổi—Không chính xác, Bị diễn giải sai hoặc Chỉ đúng một phần
[Background: Reading given to a twenty-nine-year-old male, seeking help with his “material and mental affairs.”]
[Hoàn cảnh: Buổi đọc dành cho một nam giới hai mươi chín tuổi, tìm kiếm sự trợ giúp về “các vấn đề vật chất và tinh thần” của mình.]
Reading 311-8; April 9, 1932
Buổi đọc 311-8; 9 tháng 4, 1932
(Q) How much longer will this general depression last and when will we begin to see a definite improvement?
(Q) Tình trạng suy thoái chung này còn kéo dài bao lâu và khi nào chúng ta sẽ bắt đầu thấy sự cải thiện rõ rệt?
(A) In the Spring of ‘33 will be the real definite improvements. There will be periods, to be sure, of much better—and periods of ‘all gone to pot!’—but the definite periods, as we find in the present, would be in the Spring of ‘33.
(A) Mùa xuân năm ‘33 sẽ có những cải thiện thật sự rõ rệt. Chắc chắn sẽ có những giai đoạn khá hơn nhiều—và những giai đoạn “đổ bể hết!”—nhưng những giai đoạn rõ rệt, như chúng ta thấy hiện nay, sẽ là vào mùa xuân năm ‘33.
(Q) What parts of the country will first show signs of a revival in business?
(Q) Những khu vực nào của đất nước sẽ sớm cho thấy dấu hiệu phục hồi trong kinh doanh?
(A) The southern and southwestern will be the better for some commercial interests. Those of other interests, as the Railroads, must be considered as adjustments are made in not only the relative valuations in stocks and bonds, and the like, these must come from the motive and steel interests. Hence will be spotted in eastern and western Pennsylvania, Ohio, and the Middle West, with a considerable change in the far western portion of the country. This in the immediate vicinity, as indicated from the port as supplied by those that come to this particular port, will gradually be on the advance; for the safety, with the surety of not only shipping, but of the interests as will be represented in the foreign lands...
(A) Miền nam và tây nam sẽ khá hơn đối với một số lợi ích thương mại. Những lợi ích khác, như Đường sắt, phải được cân nhắc khi có các điều chỉnh không chỉ trong các định giá tương đối của cổ phiếu và trái phiếu, và tương tự, mà còn phải đến từ các ngành động lực và thép. Do đó sẽ lác đác ở đông và tây Pennsylvania, Ohio, và vùng miền Trung Tây, với một thay đổi đáng kể ở phần viễn tây của đất nước. Điều này trong khu vực trước mắt, như chỉ ra từ cảng được cung ứng bởi những người đến cảng đặc thù này, sẽ dần dần đi lên; vì sự an toàn, với sự bảo đảm không chỉ về vận tải đường biển, mà còn về các lợi ích sẽ được đại diện ở các xứ ngoại...
(Q) How soon will the changes in the earth’s activity begin to be apparent?
(Q) Khi nào các thay đổi trong hoạt động của địa cầu bắt đầu trở nên rõ rệt?
(A) When there is the first breaking up of some conditions in the South Sea (that’s South Pacific, to be sure), and those as apparent in the sinking or rising of that that’s almost opposite same, or in the Mediterranean, and the Aetna area, then we may know it has begun.
(A) Khi có sự vỡ ra trước tiên của một số điều kiện ở Nam Hải (tức Nam Thái Bình Dương, dĩ nhiên), và những điều hiển lộ như trong việc chìm xuống hay trồi lên của vùng gần như đối diện với nó, hoặc ở Địa Trung Hải, và khu vực Etna, thì chúng ta có thể biết nó đã bắt đầu.
(Q) How long before this will begin?
(Q) Bao lâu nữa điều này sẽ bắt đầu?
(A) The indications are that some of these have already begun, yet others would say these are only temporary. We would say they have begun. ‘36 will see the greater changes apparent, to be sure.
(A) Dấu hiệu cho thấy một số điều này đã khởi sự rồi, dẫu những người khác sẽ nói đây chỉ là tạm thời. Chúng tôi nói rằng nó đã bắt đầu. Năm ‘36 sẽ thấy các thay đổi lớn rõ rệt, dĩ nhiên.
(Q) Will there be any physical changes in the earth’s surface in North America? If so, what sections will be affected, and how?
(Q) Có thay đổi vật lý nào trên bề mặt địa cầu ở Bắc Mỹ không? Nếu có, những khu vực nào sẽ bị ảnh hưởng và như thế nào?
(A) All over the country we will find many physical changes of a minor or greater degree. The greater change, as we will find, in America, will be the North Atlantic Seaboard. Watch New York! Connecticut, and the like.
(A) Khắp đất nước chúng ta sẽ thấy nhiều thay đổi vật lý ở mức độ nhỏ hay lớn. Thay đổi lớn hơn, như chúng ta sẽ thấy, ở Mỹ, sẽ là dải duyên hải Bắc Đại Tây Dương. Hãy chú ý New York! Connecticut, và các vùng tương tự.
(Q) When will this be?
(Q) Khi nào điều đó xảy ra?
(A) In this period. As to just when—
(A) Trong giai đoạn này. Còn chính xác khi nào—
(Q) What, if any, changes will take place around Norfolk area, Va?
(Q) Những thay đổi nào, nếu có, sẽ diễn ra quanh khu vực Norfolk, Virginia?
(A) No material, that would be effective to the area, other than would eventually become more beneficial—in a port, and the like.
(A) Không có gì đáng kể gây tác động đến khu vực, ngoài những điều sau cùng sẽ trở nên có lợi hơn—như về một hải cảng, và tương tự.
(Q) Is the Rosicrucian Order, Amorc, fully aware of the impending changes in the earth’s activities, and is it taking proper steps to meet these conditions?
(Q) Hội Rosicrucian, AMORC có nhận thức đầy đủ về các thay đổi sắp tới trong hoạt động của địa cầu không, và có đang có những bước đi thích hợp để đối phó các tình huống này không?
(A) This, to be sure, would involve many of those that are secrets, or for many of only initiates for this particular order. There is being a concerted effort to warn those of that particular trend of thought in the direction, though the period as is mostly given, as we find, begins then and goes on—rather than being the period of the greater change, as is being taught by these—see? Some of these, it’s best not to give, for we would involve others; for some here are not initiates!
(A) Điều này, dĩ nhiên, sẽ liên quan đến nhiều điều là bí mật, hoặc chỉ dành cho nhiều người là thọ giáo cho hội riêng này. Đang có một nỗ lực phối hợp để cảnh báo những người thuộc xu hướng tư tưởng đặc thù ấy theo hướng đó, dẫu thời kỳ được nêu phần nhiều, như chúng tôi thấy, bắt đầu rồi tiếp diễn—hơn là thời kỳ của thay đổi lớn, như những điều các vị ấy đang giảng dạy—hiểu chứ? Một số điều trong này, tốt nhất là không nêu ra, vì chúng ta sẽ lôi kéo người khác vào; bởi vì có những người ở đây không phải là thọ giáo!
[Background: Part of the World Affairs readings. Question was in regards to the “spiritual, mental and physical changes which are coming to the earth.”]
[Hoàn cảnh: Một phần của các buổi đọc về Thời cuộc Thế giới. Câu hỏi liên quan đến “những thay đổi tinh thần, trí tuệ và thể chất đang đến với địa cầu.”]
Reading 3976-15; January 19, 1934
Buổi đọc 3976-15; 19 tháng 1, 1934
HLC: We seek at this time such information as will be of value and interest to those present, including T. Mitchell Hastings, Jr. in the next room, regarding the spiritual, mental and physical changes which are coming to the earth. You will tell us what part we may play in meeting and helping others to understand these changes. At the end of each fifteen minute period you will pause, until I tell you to continue, while the recording instrument is being arranged. You will speak distinctly at a normal rate of speech, and you will answer the questions which we will ask...
HLC: Chúng tôi tìm kiếm lúc này những thông tin có giá trị và hữu ích cho những người hiện diện, gồm cả T. Mitchell Hastings, Jr. ở phòng bên, liên quan đến những thay đổi tinh thần, trí tuệ và thể chất đang đến với địa cầu. Ngài sẽ cho chúng tôi biết vai trò nào chúng tôi có thể đảm đương trong việc đón nhận và giúp người khác hiểu những thay đổi này. Cứ mỗi mười lăm phút, Ngài sẽ tạm dừng, cho đến khi tôi bảo tiếp tục, trong lúc sắp xếp thiết bị ghi âm. Ngài sẽ nói rõ ràng với tốc độ bình thường, và Ngài sẽ trả lời những câu hỏi chúng tôi sẽ nêu...
EC: As to the material changes that are to be as an omen, as a sign to those that this is shortly to come to pass—as has been given of old, the sun will be darkened and the earth shall be broken up in divers places—and then shall be proclaimed—through the spiritual interception in the hearts and minds and souls of those that have sought His way—that HIS star has appeared, and will point [pause] the way for those that enter into the holy of holies in themselves. For, God the Father, God the Teacher, God the director, in the minds and hearts of men, must ever be in those that come to know Him as first and foremost in the seeking of those souls; for He is first the God to the individual and as He is exemplified, as He is manifested in the heart and in the acts of the body, of the individual, He becomes manifested before men. And those that seek in the latter portion of the year of our Lord (as ye have counted in and among men) ‘36, He [He, Christ Spirit?] will appear.
EC: Về những thay đổi vật chất sẽ là điềm, là dấu cho những ai rằng điều này sắp diễn ra—như đã được ban xưa, mặt trời sẽ tối lại và đất sẽ vỡ ra ở nhiều nơi—và rồi sẽ được tuyên xưng —qua sự linh cảm tinh thần trong lòng, trong trí và trong linh hồn của những ai đã tìm kiếm đường lối của Ngài—rằng NGÔI sao của Ngài đã xuất hiện, và sẽ chỉ [tạm dừng] đường cho những ai bước vào Nơi Chí Thánh trong chính mình. Vì, Thượng đế là Cha, Thượng đế là Đấng Dạy Dỗ, Thượng đế là Đấng hướng dẫn, trong tâm trí và trong lòng người, phải luôn ở trong những ai đến để biết Ngài như là Đấng trước nhất và tối thượng trong sự tìm kiếm của những linh hồn ấy; vì Ngài trước hết là Thượng đế đối với cá nhân, và như Ngài được thể hiện, như Ngài được biểu lộ trong lòng và trong hành vi của thân thể, của cá nhân, Ngài trở nên hiển lộ trước mặt người ta. Và những ai tìm kiếm trong phần sau của năm của Chúa chúng ta (như các ngươi vẫn tính trong và giữa loài người) ‘36, Ngài [Ngài, Tinh thần của Đức Christ?] sẽ xuất hiện.
As to the changes physical again: The earth will be broken up in the western portion of America. The greater portion of Japan must go into the sea. The upper portion of Europe will be changed as in the twinkling of an eye. Land will appear off the east coast of America. There will be the upheavals in the Arctic and in the Antarctic that will make for the eruption of volcanos in the Torrid areas, and there will be shifting then of the poles—so that where there has been those of a frigid or the semi-tropical will become the more tropical, and moss and fern will grow. And these will begin in those periods in ‘58 to ‘98, when these will be proclaimed as the periods when His light will be seen again in the clouds. As to times, as to seasons, as to places, alone is it given to those who have named the name—and who bear the mark of those of His calling and His election in their bodies. To them it shall be given.
Về những thay đổi thể chất lần nữa: Địa cầu sẽ bị vỡ ở phần phía tây của nước Mỹ. Phần lớn Nhật Bản sẽ chìm xuống biển. Phần phía bắc châu Âu sẽ bị biến đổi trong nháy mắt. Sẽ xuất hiện đất liền ngoài khơi bờ đông nước Mỹ. Sẽ có các cuộc trồi lên ở Bắc Cực và Nam Cực khiến các núi lửa phun ở vùng Nhiệt đới, và rồi sẽ có sự chuyển dịch của các cực—đến độ nơi từng lạnh giá hay cận nhiệt đới sẽ trở nên nhiệt đới hơn, và rêu cùng dương xỉ sẽ mọc. Và những điều này sẽ khởi trong các giai đoạn từ ‘58 đến ‘98, khi những điều ấy sẽ được tuyên bố là những thời kỳ mà ánh sáng của Ngài sẽ lại được thấy trong mây trời. Còn như thời điểm, như mùa, như địa điểm, chỉ duy được ban cho những ai đã kêu Danh—và mang dấu ấn của những người được Ngài kêu gọi và tuyển chọn trên thân thể họ. Với họ, điều ấy sẽ được ban.
As to those things that deal with the mental of the earth, these shall call upon the mountains to cover many. As ye have seen those in lowly places raised to those of power in the political, in the machinery of nations’ activities, so shall ye see those in high places reduced and calling on the waters of darkness to cover them. And those that in the inmost recesses of theirselves awaken to the spiritual truths that are to be given, and those places that have acted in the capacity of teachers among men, the rottenness of those that have ministered in places will be brought to light, and turmoils and strifes shall enter. And, as there is the wavering of those that would enter as emissaries, as teachers, from the throne of life, the throne of light, the throne of immortality, and wage war in the air with those of darkness, then know ye the Armageddon is at hand. For with the great numbers of the gathering of the hosts of those that have hindered and would make for man and his weaknesses stumblingblocks, they shall wage war with the spirits of light that come into the earth for this awakening; that have been and are being called by those of the sons of men into the service of the living God. For He, as ye have been told, is not the God of the dead, not the God of those that have forsaken Him, but those that love His coming, that love His associations among men—the God of the living, the God of Life! For, He is Life.
Về những điều thuộc phương diện trí tuệ của địa cầu, chúng sẽ kêu các núi phủ che nhiều người. Như các ngươi đã thấy những kẻ ở chỗ thấp hèn được đưa lên chỗ quyền lực trong chính trị, trong bộ máy hoạt động của các quốc gia, thì các ngươi cũng sẽ thấy những kẻ ở chỗ cao trọng bị hạ xuống và kêu gọi những làn nước tối tăm phủ che họ. Và những ai trong chốn thâm sâu nhất của tự ngã họ thức tỉnh với các chân lý tinh thần sẽ được ban, và những nơi vốn làm phận sự thầy dạy giữa loài người, thì sự mục ruỗng của những kẻ làm chức vụ ở các chốn ấy sẽ bị phơi bày, và bạo động cùng tranh chấp sẽ tràn vào. Và, khi có sự nao núng nơi những ai sẽ bước vào như sứ giả, như thầy dạy, từ ngai của sự sống, ngai của ánh sáng, ngai của bất tử, và giao chiến trên không trung với những kẻ thuộc bóng tối, thì các ngươi biết rằng trận A-ma-ghê-đôn đã gần kề. Vì với số đông lớn lao của đoàn quân những kẻ đã cản trở và sẽ làm cho con người cùng các yếu hèn của y thành những chướng ngại, chúng sẽ giao chiến với các thần linh của ánh sáng đang đến địa cầu vì cuộc thức tỉnh này; những đấng đã được và đang được những người con của nhân loại kêu gọi vào sự phụng sự Thượng đế hằng sống. Vì Ngài, như các ngươi đã được phán dạy, không phải Thượng đế của kẻ chết, không phải Thượng đế của những kẻ đã lìa bỏ Ngài, mà là của những ai yêu mến sự đến của Ngài, yêu mến sự giao tiếp của Ngài giữa loài người—Thượng đế của kẻ sống, Thượng đế của Sự Sống! Vì Ngài là Sự Sống.
Who shall proclaim the acceptable year of the Lord in him that has been born in the earth in America? Those from that land where there has been the regeneration, not only of the body but the mind and the spirit of men, they shall come and declare that John Peniel is giving to the world the new order of things. Not that these that have been proclaimed have been refused, but that they are made plain in the minds of men, that they may know the truth and the truth, the life, the light, will make them free.
Ai sẽ tuyên xưng năm hồng ân của Chúa trong người đã sinh ra trên đất ở nước Mỹ? Những người từ miền đất nơi đã có cuộc tái sinh, không chỉ của thân xác mà của tâm trí và tinh thần của con người, họ sẽ đến và tuyên bố rằng John Peniel đang ban cho thế gian trật tự mới của sự vật. Không phải những điều đã được tuyên xưng bị khước từ, mà là chúng được làm cho rõ ràng trong tâm trí con người, để họ biết lẽ thật và lẽ thật, sự sống, ánh sáng, sẽ giải phóng họ.
I have declared this, that has been delivered unto me to give unto you, ye that sit here and that hear and that see a light breaking in the east, and have heard, have seen thine weaknesses and thine faultfindings, and know that He will make thy paths straight if ye will but live that ye know this day—then may the next step, the next word, be declared unto thee. For ye in your weakness [pause] have known the way, through that as ye have made manifest of the spirit of truth and light that has been proclaimed into this earth, that has been committed unto the keeping of Him that made of Himself no estate but who brought into being all that ye see manifest in the earth, and has declared this message unto thee: “Love the Lord thy God with all thine heart,” and the second is like unto it, “Love thy neighbor as thyself.” Who is thine neighbor? Him that ye may aid in whatsoever way that he, thy neighbor, thy brother, has been troubled. Help him to stand on his own feet. For such may only know the acceptable way. The weakling, the unsteady, must enter into the crucible and become as naught, even as He, that they may know the way. I, Halaliel, have spoken.
Ta đã tuyên xưng điều này, điều đã được giao cho ta để ban cho các ngươi, các ngươi là những người ngồi đây và nghe và thấy một ánh sáng rạng lên từ phương đông, và đã nghe, đã thấy các yếu đuối và thói bắt bẻ của các ngươi, và biết rằng Ngài sẽ làm đường lối của các ngươi nên ngay thẳng nếu các ngươi chỉ sống điều mà các ngươi biết hôm nay—thì bước kế, lời kế tiếp, có thể được phán cho ngươi. Vì các ngươi trong yếu đuối của mình [tạm dừng] đã biết đường lối, qua điều mà các ngươi đã biểu lộ của Thần Khí chân lý và ánh sáng đã được tuyên xưng vào địa cầu này, điều đã được giao phó cho Đấng mà Ngài đã không làm cho chính mình có địa vị nào nhưng đã đem vào hiện hữu mọi điều các ngươi thấy biểu lộ nơi đất, và đã công bố thông điệp này cho ngươi: “Hãy yêu mến Chúa là Thượng đế của ngươi hết lòng ngươi,” và điều răn thứ hai giống như vậy: “Hãy yêu người lân cận như chính mình.” Ai là người lân cận của ngươi? Là người mà ngươi có thể giúp đỡ bằng bất cứ cách nào khi người lân cận, người anh em của ngươi, gặp hoạn nạn. Hãy giúp người ấy đứng trên chính đôi chân mình. Vì như thế người ấy mới biết đường lối đáng chấp thuận. Kẻ bạc nhược, kẻ không vững, phải bước vào lò luyện và trở nên như hư không, y như Ngài, để họ biết đường lối. Ta, Halaliel, đã phán.
(Q) What are the world changes to come this year physically?
(Q) Những thay đổi thể lý của thế giới sẽ đến trong năm nay là gì?
(A) The earth will be broken up in many places. The early portion will see a change in the physical aspect of the west coast of America. There will be open waters appear in the northern portions of Greenland. There will be new lands seen off the Caribbean Sea, and dry land will appear. There will be the falling away in India of much of the material suffering that has been brought on a troubled people. There will be the reduction of one risen to power in central Europe to naught. The young king son will soon reign [see next question]. In America in the political forces we see a re-stabilization of the powers of the peoples in their own hands, a breaking up of the rings, the cliques in many places. South America shall be shaken from the uppermost portion to the end, and in the Antarctic off of Tierra Del Fuego land, and a strait with rushing waters.
(A) Địa cầu sẽ bị vỡ ra ở nhiều nơi. Phần đầu năm sẽ chứng kiến sự thay đổi về diện mạo thể lý của bờ tây nước Mỹ. Sẽ xuất hiện vùng nước thông thoáng ở phần bắc Greenland. Sẽ thấy đất liền mới ngoài khơi biển Caribê, và đất khô sẽ lộ ra. Sẽ có sự suy giảm nhiều đau khổ vật chất ở Ấn Độ—điều đã đổ xuống trên một dân tộc khốn khó. Sẽ có việc hạ bệ một người đã lên nắm quyền ở trung Âu, đến chỗ hư không. Vị thái tử trẻ sẽ sớm trị vì [xem câu hỏi kế]. Ở Mỹ, trong các lực chính trị, chúng ta thấy có sự tái ổn định quyền lực của dân chúng trong tay chính họ, sự tan rã của các nhóm lợi ích, các phe cánh ở nhiều nơi. Nam Mỹ sẽ bị chấn động từ chỗ cực bắc đến tận cùng, và ở Nam Cực, ngoài khơi Tierra Del Fuego sẽ có đất, và một eo biển với dòng nước cuồn cuộn.
(Q) To what country is the reference made regarding the young king?
(Q) “Nước” nào được ám chỉ liên quan đến vị vua trẻ?
(A) In Germany.
(A) Ở Đức.
(Q) Is America fulfilling her destiny?
(Q) Hoa Kỳ có đang hoàn tất định mệnh của mình không?
(A) Rather should the question be sought, my children, are individuals fulfilling those channels to which they have been brought through their own application of the knowledge within themselves to fulfill their position? For each and every one, each and every nation, is led—even as in heaven. For that ye see in earth is a pattern of that in the mind, as ye well know, and is as a shadow of spiritual truth, life and light. Is America as a whole? This is as has been given. If there is not the acceptance in America of the closer brotherhood of man, the love of the neighbor as self, civilization must wend its way westward—and again must Mongolia, must a hated people, be raised. It is filling its destiny? Is it filling, rather, its place, that destined in the experience of peoples, of a nation? What have ye done with the knowledge that ye have respecting the relationships of thy Creator to thy fellow man? and hast thou made known that ye know of His ways, God’s ways, among thy fellows? Yea, here and there, as ye have seen, America has become not only the greater of these that have sent those that would make known secular ways but has also—does harbor within its bosom those things of other lands that are making, as it were, a leaven to the whole. And here, there—for, as given, His messenger shall appear there. Hence, is finding those that make the paths straight.
(A) Thay vào đó, các con nên tìm câu hỏi này: các cá nhân có đang hoàn tất những vai kênh mà họ đã được dẫn đến—thông qua sự vận dụng của chính họ đối với tri thức bên trong mình—để chu toàn vị trí của họ không? Vì từng người và mỗi quốc gia đều được dẫn dắt—ngay như ở trên trời. Vì điều các ngươi thấy ở dưới đất là một mô hình của điều ở trong trí, như các ngươi biết rõ, và là cái bóng của chân lý, sự sống và ánh sáng tinh thần. Còn như nước Mỹ nói chung? Điều này là như đã được ban. Nếu không có sự chấp nhận ở Mỹ về tình huynh đệ gần gũi hơn giữa con người với nhau, về yêu người lân cận như chính mình, thì văn minh phải lững thững tiến về phương tây—và rồi lại phải Mông Cổ, phải một dân tộc bị ghét bỏ, được dấy lên. Nó có đang hoàn tất định mệnh của mình chăng? Đúng hơn, nó có đang hoàn tất vị trí của mình, vị trí được định liệu trong kinh nghiệm của các dân tộc, của một quốc gia chăng? Các ngươi đã làm gì với tri thức mà các ngươi có, liên quan đến mối liên hệ giữa Đấng Tạo Hóa của các ngươi với đồng loại? và các ngươi đã cho biết rằng các ngươi biết các đường lối của Ngài, đường lối của Thượng đế, giữa đồng loại của các ngươi chưa? Phải, nơi này nơi khác, như các ngươi đã thấy, nước Mỹ không những trở thành lớn hơn trong số các nước đã sai những người làm cho các đường lối thế tục được biết đến mà còn—đang dung chứa trong lòng mình những điều của các xứ khác, như thể một thứ men làm dậy cả khối. Và đây đó—vì như đã ban, Sứ giả của Ngài sẽ hiện ra ở đó. Do vậy, đang tìm thấy những người làm cho nẻo đường ngay thẳng.
(Q) Explain the relation between the information just given regarding Germany and the changes for this year, and the information already given through this channel on Hitler.
(Q) Hãy giải thích mối liên hệ giữa thông tin vừa ban về Đức và những thay đổi trong năm nay, với thông tin đã được ban qua kênh này về Hitler.
(A) Read that, my children, that has been given; that there was the destiny for the man, if he did not allow Imperialism to enter in—and it is entering. Hence must be called into question.
(A) Hãy đọc, các con, điều đã được ban; rằng người này có định mệnh, nếu y không để chủ nghĩa Đế quốc chen vào—và nó đang chen vào. Bởi vậy phải bị đem ra chất vấn.
(Q) Who will uncover the history of the past in record form which are said to be near the sphinx in Egypt?
(Q) Ai sẽ phát lộ lịch sử quá khứ ở dạng ký lục được cho là ở gần tượng nhân sư tại Ai Cập?
(A) As was set in those records of the law of One in Atlantis, that there would come three that would make of the perfect way of life. And as there is found those that have made, in their experience from their sojourn in the earth, a balance in their spiritual, their mental, their material experiences or existences, so may they become those channels through which there may be proclaimed to a seeking, a waiting, a desirous body, those things that proclaim how there has been preserved in the earth (that as is a shadow of the mental and the spiritual reservation of God to His children) those truths that have been so long proclaimed. Those, then, that make themselves that channel. For, as He has given, who is to proclaim is not mine to give, but they that have made of themselves such a measure of their experiences as to be worthy of proclaiming.
(A) Như đã được ghi trong các ký lục của luật Một ở Atlantis, rằng sẽ có ba người đến để làm nên con đường sống toàn hảo. Và khi tìm thấy những ai đã làm nên, trong kinh nghiệm của họ từ những lần lưu trú trên trần, một tương xứng trong các kinh nghiệm tinh thần, trí tuệ, vật chất của họ, thì họ có thể trở thành các kênh qua đó có thể tuyên xưng cho một đoàn thể đang tìm kiếm, đang chờ đợi, đang ao ước, những điều tuyên bố rằng cách thức bảo tồn đã có trong địa cầu (điều vốn như cái bóng của sự dành dụm—trí năng và tinh thần—của Thượng đế cho các con cái Ngài) những chân lý đã được tuyên xưng bấy lâu. Vậy thì, những ai tự làm mình thành kênh ấy. Vì, như Ngài đã phán, ai sẽ tuyên xưng không thuộc phần Ta ban, mà là những người đã làm nên cho mình một thước đo các kinh nghiệm khiến họ xứng đáng để tuyên xưng.
(Q) Is Roosevelt right?
(Q) Roosevelt có đúng không?
(A) Who is right? He that will be guided by that spirit of truth. He, Roosevelt, has been raised for a privilege; and as to whether he—as others—is to use those privileges in His ways that make for right, or error in the lives of those that are influenced by the activities of the body, is within his relationship to that God WE as individuals, as souls, both in the earth, in heaven, in air, are measured to that as he proclaims. His basis in that he has done thus far has been founded in the spirit of truth. As to what will be done, as it was with him who sat at the peace table and proclaimed a way, yet was rejected among men, even in his own land, when he stood in the position as Roosevelt does to his people. What will the people do with the spirit of truth that is being proclaimed by him (Roosevelt), is rather the question. He has been called. He has been given. What will ye do with this man?
(A) Ai là đúng? Kẻ sẽ được dẫn dắt bởi Thần Khí chân lý. Ông Roosevelt đã được dấy lên để hưởng một đặc ân; và việc ông—như những người khác—sẽ dùng các đặc ân ấy theo các đường lối của Ngài khiến nên điều phải lẽ, hay lầm lỗi, trong đời sống của những người bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của thân, là nằm trong mối liên hệ của ông ấy với Thượng đế mà CHÚNG TA, với tư cách cá nhân, với tư cách linh hồn, cả ở trần, ở trời, ở không trung, được đo lường theo điều ông ấy tuyên xưng. Nền tảng của ông trong những gì ông đã làm cho đến nay được xây trên Thần Khí chân lý. Còn sẽ làm gì, thì cũng như người đã ngồi tại bàn hòa ước và tuyên xưng một con đường, nhưng đã bị khước từ giữa người đời, ngay trong chính xứ sở mình, khi người ấy đứng ở vị trí như Roosevelt hiện nay trước dân mình. Dân chúng sẽ làm gì với Thần Khí chân lý đang được ông (Roosevelt) tuyên xưng, đó mới là câu hỏi. Ông đã được kêu gọi. Ông đã được ban cho. Các ngươi sẽ làm gì với người này?
(Q) Will he live out his term?
(Q) Ông ấy có tại vị hết nhiệm kỳ không?
(A) The greater period for destructive forces to enter in as respecting the life in this experience has passed. It will come again not in this year, but when there are changes in the next session. As to what will be the final outcome, depends—as ever—upon what is done about that period. What may ye as individuals gathered here do respecting same? Make known that his ways are worthy of being considered, and pray ye with him that if it be His will his hour will pass. If he falters, then he must be removed.
(A) Giai đoạn lớn hơn để các lực phá hoại chen vào hầu đoạt lấy sự sống trong kinh nghiệm này đã qua. Nó sẽ lại đến không phải trong năm nay, mà khi có những thay đổi ở khóa họp tới. Còn kết cục sau cùng sẽ ra sao, vẫn—như bao giờ—tùy thuộc vào điều được làm liên quan đến giai đoạn ấy. Các ngươi—với tư cách những cá nhân đang tụ họp ở đây—có thể làm gì về điều đó? Hãy cho biết rằng các đường lối của ông ấy đáng được cân nhắc, và hãy cầu nguyện cùng ông ấy rằng nếu ấy là ý của Ngài thì giờ nguy khốn của ông sẽ vượt qua. Nếu ông nao núng, thì ông phải bị dời đi.
(Q) Is there any further counsel or advice for us gathered here, which will enable us to understand better our responsibility?
(Q) Có lời khuyên nào nữa cho chúng tôi—những người tụ họp tại đây—giúp chúng tôi hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình không?
(A) All gathered here in the name of God who is the Father, to those that seek to know His ways—and who is as something outside the veil of their understanding unless sought, even as the counsel of the Father, of that God-Mother in each soul that seeks to know the biddings; not as one that would reap vengeance but rather as the loving, merciful Father. For, as ye show mercy, so may the Father show mercy to thee. As ye show the wisdom, as ye show the love of thy fellow man, so may the love be shown, so may the wisdom, so may the guiding steps day by day be shown thee. Be ye joyous in the Lord, knowing that He is ever present with those that seek His face. He is not in heaven, but makes heaven in thine own heart, if ye accept Him. He, God, the Father, is present and manifest in that ye mete to your fellow man in thine own experience. Would ye know the Father, be the father to thy brother. Would ye know the love of the Father, show thy love to thy faltering, to thy erring brother—but to those that seek, not those that condemn.
(A) Tất cả những ai tụ họp tại đây nhân danh Thượng đế là Cha, những người tìm biết các đường lối của Ngài—và Ngài như là điều gì đó bên ngoài bức màn lĩnh hội của họ trừ phi được tìm kiếm, ngay như lời khuyên của Cha, của “Thượng đế-Mẹ” trong mỗi linh hồn tìm biết sự chỉ bảo; không như Đấng sẽ gieo oán phạt mà đúng hơn như Người Cha yêu thương, nhân từ. Vì, như các ngươi tỏ lòng thương xót, thì cũng vậy Cha có thể tỏ lòng thương xót với ngươi. Như các ngươi tỏ ra sự minh triết, như các ngươi tỏ ra tình thương với đồng loại, thì cũng vậy tình thương sẽ được tỏ ra, cũng vậy sự minh triết, cũng vậy các bước dẫn dắt từng ngày sẽ được chỉ cho ngươi. Hãy hân hoan trong Chúa, biết rằng Ngài luôn hiện diện với những ai tìm kiếm dung nhan Ngài. Ngài không ở trên trời, nhưng làm nên thiên đàng trong chính lòng các ngươi, nếu các ngươi tiếp nhận Ngài. Ngài, Thượng đế là Cha, hiện diện và biểu lộ trong điều các ngươi đối đãi với đồng loại trong chính kinh nghiệm của mình. Muốn biết Cha, hãy làm người cha đối với anh em ngươi. Muốn biết tình yêu của Cha, hãy tỏ tình yêu của ngươi với người anh em đang nao núng, đang sai trật—nhưng với những ai tìm kiếm, không phải những kẻ lên án.
We are through.
Chúng tôi xin kết thúc.
[Background: Reading given to a forty-eight-year-old male who inquired about the safety of San Francisco, CA.]
[Hoàn cảnh: Buổi đọc dành cho một nam giới bốn mươi tám tuổi hỏi về sự an toàn của San Francisco, California.]
Reading 270-30; February 13, 1933
Buổi đọc 270-30; 13 tháng 2, 1933
(Q) Will the earth upheavals during 1936 affect San Francisco as it did in 1906?
(Q) Những biến động của địa cầu trong năm 1936 có ảnh hưởng đến San Francisco như năm 1906 không?
(A) This’ll be a baby beside what it’ll be in ‘36!
(A) Lần đó sẽ chỉ như em bé so với điều sẽ xảy ra vào ‘36!
[Background: Reading given to a sixty-six-year-old female seeking personal guidance.]
[Hoàn cảnh: Buổi đọc dành cho một phụ nữ sáu mươi sáu tuổi tìm kiếm chỉ dẫn cá nhân.]
Reading 1152-11; August 13, 1941
Buổi đọc 1152-11; 13 tháng 8, 1941
As to conditions in the geography of the world, of the country—changes here are gradually coming about.
Về các điều kiện địa lý của thế giới, của đất nước—những thay đổi ở đây đang dần xuất hiện.
No wonder, then, that the entity feels the need, the necessity for change of central location. For, many portions of the east coast will be disturbed, as well as many portions of the west coast, as well as the central portion of the U.S.
Vậy nên, không lạ gì mà thực thể cảm thấy nhu cầu, sự cần thiết phải đổi chỗ ở trung tâm. Vì, nhiều phần ở duyên hải phía đông sẽ bị xáo trộn, cũng như nhiều phần ở duyên hải phía tây, cũng như phần trung tâm của Hợp chúng quốc.
In the next few years lands will appear in the Atlantic as well as in the Pacific. And what is the coast line now of many a land will be the bed of the ocean. Even many of the battle fields of the present will be ocean, will be the seas, the bays, the lands over which the new order will carry on their trade as one with another.
Trong vài năm tới sẽ xuất hiện đất liền ở Đại Tây Dương cũng như ở Thái Bình Dương. Và ranh giới bờ biển hiện nay của nhiều xứ sở sẽ trở thành đáy biển. Ngay cả nhiều chiến trường hiện thời cũng sẽ là đại dương, sẽ là biển, là vịnh, là những vùng đất mà trên đó “trật tự” mới sẽ thực hiện việc giao thương với nhau.
Portions of the now east coast of New York, or New York City itself, will in the main disappear. This will be another generation, though, here; while the southern portions of Carolina, Georgia—these will disappear. This will be much sooner.
Một phần của duyên hải phía đông New York hiện nay, hoặc chính Thành phố New York, phần lớn sẽ biến mất. Tuy nhiên điều này sẽ là ở thế hệ kế; còn các phần phía nam của Carolina, Georgia—những vùng này sẽ biến mất. Điều này sẽ sớm hơn nhiều.
The waters of the lakes will empty into the Gulf, rather than the waterway over which such discussions have been recently made. It would be well if the waterway were prepared, but not for that purpose for which it is at present being considered.
Nước của các hồ sẽ đổ vào Vịnh (Mexico), chứ không phải con đường thủy mà gần đây đã có nhiều bàn luận. Sẽ tốt nếu tuyến đường thủy được chuẩn bị, nhưng không phải cho mục đích mà hiện nay nó đang được xét tới.
Then the area where the entity is now located [Virginia Beach for rdg.] will be among the safety lands, as will be portions of what is now Ohio, Indiana and Illinois, and much of the southern portion of Canada and the eastern portion of Canada; while the western land—much of that is to be disturbed—in this land—as, of course, much in other lands.
Vậy thì khu vực nơi thực thể hiện đang cư trú [Virginia Beach cho buổi đọc] sẽ ở trong các vùng an toàn, cũng như các phần của những nơi hiện nay là Ohio, Indiana và Illinois, và nhiều phần phía nam của Canada và phần phía đông của Canada; còn miền tây—nhiều vùng sẽ bị xáo trộn—trong xứ này—và dĩ nhiên, nhiều nơi ở các xứ khác.
Then, with the knowledge of these—first the principles, then the material changes.
Vậy thì, với tri thức về những điều này—trước hết là các nguyên tắc, rồi đến những thay đổi vật chất.
The choice should be made by the entity itself as to location, and especially as to the active work.
Việc chọn lựa nên do chính thực thể quyết định về nơi chốn, và đặc biệt là về công việc chủ động.
To be sure there is work to be done by the entity, definite work.
Chắc chắn có việc phải làm cho thực thể, việc làm cụ thể.
Join with all of those who declare that the Lord has come and that His day is again at hand.
Hãy hiệp cùng tất cả những ai tuyên bố rằng Chúa đã đến và rằng ngày của Ngài lại gần kề.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Should this work start by early fall?
(Q) Công việc này nên khởi sự vào đầu mùa thu chăng?
(A) Start today!
(A) Hãy bắt đầu hôm nay!
(Q) I have for many months felt that I should move away from New York City.
(Q) Từ nhiều tháng nay tôi cảm thấy mình nên rời Thành phố New York.
(A) This is well, as indicated. There is too much unrest; there will continue to be the character of vibrations that to the body will be disturbing, and eventually those destructive forces there—though these will be in the next generation.
(A) Điều này tốt, như đã chỉ ra. Có quá nhiều bất an; sẽ tiếp tục có kiểu rung động gây xáo trộn cho thân thể, và sau cùng là các lực phá hoại ở đó—tuy chúng sẽ thuộc thế hệ kế.
(Q) Will Los Angeles be safe?
(Q) Los Angeles có an toàn không?
(A) Los Angeles, San Francisco, most all of these will be among those that will be destroyed before New York even.
(A) Los Angeles, San Francisco, hầu hết tất cả những nơi này sẽ thuộc số những nơi bị hủy diệt trước cả New York nữa.
(Q) Should California or Virginia Beach be considered at all, or where is the right place that God has already provided for me to live?
(Q) Có nên cân nhắc California hay Virginia Beach không, hay đâu là nơi đúng đắn mà Thượng đế đã dành sẵn cho tôi cư trú?
(A) As indicated, these choices should be made rather in self. Virginia Beach or the area is much safer as a definite place. But the work of the entity should embrace most all of the areas from the east to the west coast, in its persuading—not as a preacher, nor as one bringing a message of doom, but as a loving warning to all groups, clubs, woman’s clubs, writer’s clubs, art groups, those of every form of club, that there needs be—in their activities—definite work towards the knowledge of the power of the Son of God’s activity in the affairs of men.
(A) Như đã chỉ ra, những chọn lựa này đúng hơn nên do tự thân quyết định. Virginia Beach hoặc khu vực ấy an toàn hơn nhiều như một nơi cụ thể. Nhưng công việc của thực thể nên bao trùm hầu khắp các vùng từ bờ đông đến bờ tây, trong sự thuyết phục—không như một nhà giảng đạo, cũng không như người mang thông điệp diệt vong, mà như một lời cảnh báo yêu thương đến mọi nhóm, các câu lạc bộ, câu lạc bộ phụ nữ, câu lạc bộ văn bút, các nhóm nghệ thuật, những nhóm của mọi loại câu lạc bộ, rằng trong các hoạt động của họ cần có—một công việc cụ thể—hướng tới tri thức về quyền năng hoạt động của Con Thượng đế trong các sự vụ của con người.
(Q) Are there special groups with which I should become affiliated, in doing the work that God is urging His people to do now, impersonally?
(Q) Có những nhóm đặc thù nào mà tôi nên gia nhập, để thực hiện công việc mà Thượng đế đang thôi thúc dân Ngài làm ngay bây giờ, một cách vô ngã không?
(A) Rather as indicated, use that wherein there is the likeness, see? Magnify those things that are the virtues in all, minimizing the faults that are there. Not as a member of a group. May be member of an organization, but rather than as a member of a group be a helpmeet to all groups! As just indicated, clubs of every nature. Arouse them to their abilities; by writing as well as speaking. For the entity has the abilities in these directions, as has been indicated.
(Đ) Đúng như đã gợi ý, hãy dùng cái nơi có sự tương đồng, hiểu chứ? Phóng đại những điều là đức hạnh nơi mọi người, và giảm thiểu những lỗi lầm hiện hữu. Không phải như một thành viên của một nhóm. Có thể là thành viên của một tổ chức, nhưng thay vì là một thành viên của một nhóm, hãy là bạn đồng hành trợ giúp cho mọi nhóm! Như vừa nêu, các câu lạc bộ thuộc mọi loại. Khơi dậy họ nhận ra những khả năng của họ; bằng văn viết cũng như bằng lời nói. Vì thực thể có những khả năng theo các hướng này, như đã được chỉ ra.
[Background: Part of the Study Group series of readings. Question was asked regarding “present world conditions.”]
[Bối cảnh: Phần thuộc loạt buổi đọc của Nhóm Nghiên Cứu. Câu hỏi được nêu liên quan đến “tình hình thế giới hiện tại.”]
Reading 262-26; August 21, 1932
Buổi đọc 262-26; Ngày 21 tháng 8, 1932
(Q) Compilers: What should we do regarding the paper on “Present World Conditions” which we sent to the Westerner, Calgary, Alberta, Canada?
(H) Những người biên soạn: Chúng tôi nên làm gì liên quan đến bài báo về “Tình hình Thế giới Hiện tại” mà chúng tôi đã gửi cho tờ Westerner, Calgary, Alberta, Canada?
(A) Patience; for this is on its way.
(Đ) Hãy kiên nhẫn; vì điều này đang trên đường đến.
(Q) What is their attitude regarding this paper?
(H) Thái độ của họ đối với bài này là gì?
(A) With patience wait, that ye may know—for it worketh as the leaven.
(Đ) Hãy kiên nhẫn mà chờ, để các ngươi có thể biết—vì nó làm việc như men dậy bột.
(Q) [[69]’s husband]: Furnish the information concerning the disaster which has been predicted to happen around the last of this month, the results and location.
(H) [Chồng của [69]]: Cung cấp thông tin liên quan đến thảm hoạ đã được dự đoán sẽ xảy ra vào cuối tháng này, kết quả và địa điểm.
(A) As we find, from those various channels through which such information has come, know rather that as was given by Him—“The hour ye know not, and the time ye know not. Not even the Son, but the Father.” These are then rather those that shall be of the spiritual awakening, than material disasters in the present; for the time has not yet come—saith the oracle—for it is not yet fulfilled.
(Đ) Theo như chúng ta thấy, từ những kênh khác nhau qua đó thông tin như vậy đã đến, hãy biết đúng hơn rằng như đã được Ngài phán—“Giờ các ngươi không biết, và thời các ngươi không biết. Ngay cả Con cũng không biết, chỉ có Cha.” Vậy thì đây là những điều sẽ thuộc về sự thức tỉnh tinh thần hơn là các thảm hoạ vật chất trong hiện tại; vì thời điểm vẫn chưa tới —lời sấm truyền nói vậy—vì nó chưa được ứng nghiệm.
(Q) Is there any message for the group as a whole at this time?
(H) Lúc này có thông điệp nào cho cả nhóm không?
(A) Ye have taken upon yourselves that as is worthy of the calling as set in Him. “Ye have chosen me, even as I have chosen you.” Be faithful and patient, that ye may enter in.
(Đ) Các ngươi đã đảm nhận cho chính mình điều xứng đáng với sự kêu gọi như đặt nơi Ngài. “Các ngươi đã chọn Ta, cũng như Ta đã chọn các ngươi.” Hãy trung tín và kiên nhẫn, để các ngươi có thể bước vào.
[Background: Interpretation of a dream Edgar Cayce had on the train coming back from Detroit after having been arrested for practicing without a license. The dream has often been interpreted to suggest Cayce stated that Nebraska would become a coastline; however, the reading on the dream suggests that regardless of what occurs in the outer world (e.g. being arrested) the Cayce work would survive.]
[Bối cảnh: Diễn giải một giấc mơ mà Edgar Cayce đã có trên tàu lửa khi trở về từ Detroit sau khi bị bắt vì hành nghề không có giấy phép. Giấc mơ này thường bị hiểu như gợi ý rằng Cayce nói Nebraska sẽ trở thành một đường bờ biển; tuy nhiên, buổi đọc về giấc mơ cho thấy rằng bất kể điều gì xảy ra ở thế giới bên ngoài (ví dụ: bị bắt), công trình của Cayce vẫn sẽ tồn tại.]
Reading 294-185; June 30, 1936
Buổi đọc 294-185; Ngày 30 tháng 6, 1936
GC: You will have before you the entity known as Edgar Cayce, present in this room. In order that we may better understand and interpret the various phenomena manifesting through him you will continue explanations given from time to time as to the laws governing his psychic readings, explaining what traits of personality now manifested in Edgar Cayce have been due to his psychic powers and their expressions. You will answer the questions which will be submitted...
GC: Quý vị sẽ thấy trước mặt mình thực thể được biết là Edgar Cayce, hiện có mặt trong phòng này. Để chúng tôi có thể thấu hiểu và diễn giải tốt hơn các hiện tượng khác nhau biểu lộ qua ông, xin hãy tiếp tục những giải thích đã thỉnh thoảng được đưa ra về các định luật chi phối các buổi đọc thông linh của ông, giải thích những đặc tính phàm ngã hiện biểu lộ nơi Edgar Cayce đã do năng lực thông linh của ông và các biểu hiện của chúng như thế nào. Xin trả lời các câu hỏi sẽ được nêu ra...
(Q) Interpret and explain the dream which Edgar Cayce has on March 3, 1936 in which he was born again over two hundred years in the future and traveled to various sections of this country where records of Edgar Cayce could be found. [Detailed dream not read:] [3/3/36 On train from Detroit to Va. Beach, following end of court action in re his arrest in 11/35 for “practicing medicine without a license”. See 254-89 Reports of Court Trial.]: I had been born again in 2158 A.D. in Nebraska. the sea apparently covered all of the western part of the country, as the city where I lived was on the coast. The family name was a strange one. At an early age as a child I declared myself to be Edgar Cayce who had lived 200 yrs. before. Scientists, men with long beards, little hair, and thick glasses, were called in to observe me. They decided to visit the places where I said I had been born, lived and worked, in Ky., Ala., N.Y., Mich., and Va. Taking me with them the group of scientists visited these places in along, cigar-shaped, metal flying ship which moved at high speed. Water covered part of Ala. Norfolk, Va. had become an immense seaport. N.Y. had been destroyed either by war or an earthquake and was being rebuilt. Industries were scattered over the countryside. Most of the houses were of glass. Many records of my work as Edgar Cayce were discovered and collected. The group ret’d to Nebraska taking the records with them to study.
(H) Diễn giải và giải thích giấc mơ mà Edgar Cayce đã có vào ngày 3 tháng 3 năm 1936, trong đó ông được sinh ra lần nữa hơn hai trăm năm trong tương lai và đi đến nhiều vùng của đất nước này nơi có thể tìm thấy các hồ sơ về Edgar Cayce. [Không đọc chi tiết giấc mơ:] [3/3/36 Trên tàu từ Detroit về Va. Beach, sau khi kết thúc vụ kiện liên quan đến việc ông bị bắt vào 11/35 vì “hành nghề y mà không có giấy phép”. Xem 254-89 Báo cáo Phiên Tòa.] Tôi đã được sinh lại vào năm 2158 sau CN tại Nebraska. Biển dường như bao phủ toàn bộ phần phía tây của đất nước, vì thành phố nơi tôi sống nằm trên bờ biển. Họ nhà mang một cái tên lạ. Khi còn rất nhỏ, tôi đã tự xưng mình là Edgar Cayce, người đã sống 200 năm trước. Các nhà khoa học, những người đàn ông có râu dài, ít tóc và đeo kính dày, được mời đến quan sát tôi. Họ quyết định đến thăm những nơi mà tôi nói rằng mình đã sinh ra, đã sống và làm việc, ở Ky., Ala., N.Y., Mich., và Va. Đưa tôi đi cùng, nhóm các nhà khoa học đã đến thăm những nơi này trên một con tàu bay kim loại hình điếu xì gà, dài, di chuyển với tốc độ cao. Nước bao phủ một phần của Ala. Norfolk, Va. đã trở thành một hải cảng khổng lồ. N.Y. đã bị phá hủy do chiến tranh hoặc do động đất và đang được xây dựng lại. Công nghiệp rải rác khắp vùng nông thôn. Phần lớn các ngôi nhà làm bằng kính. Nhiều hồ sơ về công việc của tôi với tư cách Edgar Cayce đã được phát hiện và sưu tập. Nhóm trở về Nebraska, mang theo các hồ sơ để nghiên cứu.
(A) These experiences, as has oft been indicated, come to the body in those manners in which there may be help, strength, for periods when doubt or fear may have arisen. As in this experience, there were about the entity those influences which appeared to make for such a record of confusion as to appear to the material or mental-minded as a doubting or fearing of those sources that made for the periods through which the entity was passing in that particular period. And the vision was that there might be strength, there might be an understanding that though the moment may appear as dark, though there may be periods of the misinterpreting of purposes, even these will be turned into that which will be the very proof itself in the experiences of the entity and those whom the entity might, whom the entity would in its experience through the earth plane, help; and those to whom the entity might give hope and understanding. This then is the interpretation. As has been given, ‘Fear not.’ Keep the faith; for those that be with thee are greater than those that would hinder. Though the very heavens fall, though the earth shall be changed, though the heavens shall pass, the promises in Him are sure and will stand—as in that day—as the proof of thy activity in the lives and hearts of those of thy fellow man. For indeed and in truth ye know, “As ye do it unto thy fellow man, ye do it unto thy God, to thyself.” For, self effaced, God may indeed glorify thee and make thee stand as one that is called for a purpose in the dealings, the relationships with thy fellow man. Be not unmindful that He is nigh unto thee in every trial, in every temptation, and hath not willed that thou shouldest perish. Make thy will then one with His. Be not afraid. That is the interpretation. That the periods from the material angle as visioned are to come to pass matters not to the soul, but do thy duty today! Tomorrow will care for itself. These changes in the earth will come to pass, for the time and times and half times are at an end, and there begin those periods for the readjustments. For how hath He given? “The righteous shall inherit the earth.” Hast thou, my brethren, a heritage in the earth?
(Đ) Những trải nghiệm này, như đã thường được chỉ ra, đến với thân thể theo những cách mà ở đó có thể mang lại trợ lực, sức mạnh, cho những thời kỳ khi hoài nghi hoặc sợ hãi có thể đã dấy lên. Như trong trải nghiệm này, quanh thực thể có những ảnh hưởng dường như tạo nên một ghi chép nhầm lẫn đến mức đối với người có tâm trí vật chất hay trí năng thì như thể hoài nghi hoặc sợ hãi những nguồn lực đã làm nên những thời kỳ mà thực thể đang đi qua trong giai đoạn đặc thù ấy. Và khải tượng là để có thể có sức mạnh, có sự thấu hiểu rằng dù khoảnh khắc có thể tối tăm, dù có thể có những thời kỳ hiểu sai các mục đích, thì ngay cả những điều này cũng sẽ được chuyển thành chính bằng chứng trong những trải nghiệm của thực thể và những người mà thực thể có thể, mà thực thể sẽ—trong trải nghiệm của mình trên cõi trần—giúp đỡ; và những người mà thực thể có thể ban hy vọng và sự thấu hiểu. Đây là phần diễn giải. Như đã được phán, ‘Đừng sợ.’ Hãy giữ vững đức tin; vì những Đấng ở cùng ngươi lớn hơn những kẻ muốn cản trở. Dẫu cho trời có sụp, dẫu đất có đổi thay, dẫu trời có qua đi, các lời hứa nơi Ngài là chắc thật và sẽ đứng vững—như trong ngày ấy—như bằng chứng cho hoạt động của ngươi trong đời sống và tấm lòng của những người đồng loại. Vì quả thật, các ngươi biết rằng, “Như các ngươi làm điều đó cho người đồng loại, là các ngươi làm cho Thượng đế của các ngươi, cho chính mình.” Bởi vì, khi cái tôi được xóa nhòa, Thượng đế quả có thể vinh hiển hoá ngươi và khiến ngươi đứng như một người được kêu gọi cho một mục đích trong cách ứng xử, trong các mối liên hệ với người đồng loại. Chớ quên rằng Ngài ở gần ngươi trong mọi thử thách, trong mọi cám dỗ, và Ngài không muốn ngươi phải diệt vong. Hãy làm cho ý chí của ngươi hiệp nhất với Ý Chí của Ngài. Đừng sợ. Đó là phần diễn giải. Rằng những thời đoạn xét từ góc nhìn vật chất như đã thấy trong khải tượng sẽ xảy đến hay không, thì chẳng can hệ gì đến linh hồn; nhưng hãy làm phận sự của ngươi hôm nay! Ngày mai sẽ lo cho chính nó. Những biến đổi này trên đất sẽ xảy đến, vì “thời” và “các thời” và “nửa thời” đã mãn, và khởi đầu những giai đoạn cho các điều chỉnh lại. Vì Ngài đã phán thế nào? “Người công chính sẽ hưởng đất.” Hỡi các huynh đệ của tôi, các ngươi có cơ nghiệp trên đất chăng?
[Background: Reading given to thirty-year-old male in which the topic of “coming changes” was discussed.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một nam giới 30 tuổi, trong đó chủ đề “những thay đổi sắp đến” được bàn luận.]
Reading 311-9; August 6, 1932
Buổi đọc 311-9; Ngày 6 tháng 8, 1932
(Q) What about the other changes mentioned which would make for my greater development?
(H) Còn những thay đổi khác đã nhắc đến mà sẽ giúp cho sự phát triển lớn hơn của tôi thì sao?
(A) These are on the way. Just don’t be over anxious, and keep on working on. These will be on the way.
(Đ) Chúng đang trên đường đến. Chỉ đừng quá nôn nóng, và cứ tiếp tục làm việc. Chúng sẽ đến.
(Q) Will these develop so that I can make this change before making the other changes mentioned?
(H) Liệu những điều này sẽ phát triển để tôi có thể thực hiện thay đổi này trước khi thực hiện những thay đổi khác đã nói không?
(A) As we find, these would apparently be just preceding these changes. Not that they interfere, but there is the overlap—or the intermediate stage for these developments.
(Đ) Như chúng tôi thấy, những điều này dường như sẽ ngay trước những thay đổi kia. Không phải chúng cản trở, mà là có sự chồng lấn—hoặc giai đoạn trung gian cho những phát triển này.
(Q) Am I to understand that all these changes are entirely beyond my control at present and depend on circumstances entirely?
(H) Tôi có hiểu rằng tất cả những thay đổi này hiện hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của tôi và hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh không?
(A) Most of these are entirely beyond control; that is, beyond perceptible control, but the activities of the body—and that attitude which may be had by the body in the various associations and connections—to be sure, would have much to do with the offer, or the changes as the conditions develop—see?
(Đ) Phần lớn những điều này hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát; tức là ngoài sự kiểm soát có thể nhận biết, nhưng các hoạt động của thân thể—và thái độ mà thân thể có thể có trong những mối giao kết và liên hệ khác nhau—chắc chắn sẽ ảnh hưởng nhiều đến lời mời chào, hoặc những thay đổi khi các điều kiện phát triển—hiểu chứ?
(Q) What can I do to bring about changes which will allow me to direct my energies into and give full time to work of a psychic nature?
(H) Tôi có thể làm gì để tạo ra những thay đổi cho phép tôi hướng năng lượng của mình vào và dành toàn thời gian cho công việc có tính thông linh?
(A) These, as we find, will require the necessity of some expansion in psychic fields, that are themselves—as it were—on the way, where there will be sufficient interest concentrated in the directing of some particular forces which are in the field, that will give an opportunity for the activities in this direction. These, as we find, should occur, giving the opportunity, within the next two to three years.
(Đ) Những điều này, như chúng tôi thấy, sẽ đòi hỏi sự cần thiết của một số mở rộng trong các lĩnh vực thông linh, vốn tự chúng—nói vậy—đang trên đường đến; nơi sẽ có đủ sự quan tâm tập trung vào việc định hướng một số mãnh lực đặc thù đang có mặt trong lĩnh vực ấy, điều sẽ tạo cơ hội cho các hoạt động theo hướng này. Những điều này, như chúng tôi thấy, sẽ xảy ra, ban cho cơ hội, trong vòng hai đến ba năm tới.
(Q) Are there to be physical changes in the earth’s surface in Alabama?
(H) Có xảy ra những thay đổi thể chất trên bề mặt Trái Đất ở Alabama không?
(A) Not for some period yet.
(Đ) Chưa phải trong một thời kỳ nào đó.
(Q) When will the changes begin?
(H) Khi nào những thay đổi sẽ bắt đầu?
(A) Thirty-six to thirty-eight.
(Đ) Ba mươi sáu đến ba mươi tám.
(Q) What part of the State will be affected?
(H) Phần nào của bang sẽ bị ảnh hưởng?
(A) The northwestern part, and the extreme southwestern part.
(Đ) Phần tây bắc, và phần tây nam cực nam.
(Q) Is there any further advice for me at this time?
(H) Lúc này có lời khuyên nào thêm cho tôi không?
(A) As has been given, there are those usages of the knowledge that is within self’s own activity, that may be put to advantage so that it is not used in destructive manners—that is, in forcing issues, but rather assist those offers that may come through the usages of these to be put in terms that would be satisfactory to the body. Do that.
(Đ) Như đã được nêu, có những cách sử dụng tri thức nằm trong hoạt động của tự thân, có thể được đưa vào thế lợi, để nó không được dùng theo những cách hủy hoại —tức là, ép buộc vấn đề—mà đúng hơn là hỗ trợ những lời mời chào có thể đến thông qua cách sử dụng những điều ấy, để được đặt thành những điều khoản thỏa đáng cho thân thể. Hãy làm điều đó.
[Background: Follow-up reading given to [311] regarding coming changes.]
[Bối cảnh: Buổi đọc tiếp theo dành cho [311] liên quan đến những thay đổi sắp đến.]
Reading 311-10; November 19, 1932
Buổi đọc 311-10; Ngày 19 tháng 11, 1932
(Q) Please explain more fully ans. to [311-9] in my reading of Aug. 6th.
(H) Xin giải thích đầy đủ hơn phần trả lời cho [311-9] trong buổi đọc của tôi ngày 6 tháng 8.
(A) As we find, this should be the understanding in itself as to just how the changes or the things come about in the activities of human endeavors and their relationships to the variations in the activities, see? These should be understood!
(Đ) Như chúng tôi thấy, bản thân điều này nên là sự thấu hiểu về việc các thay đổi hay các sự việc hình thành như thế nào trong các hoạt động của nỗ lực con người và mối liên hệ của chúng với những biến thiên trong các hoạt động, hiểu chứ? Những điều này cần được hiểu!
(Q) Are the physical changes in Alabama predicted for 1936-38 to be gradual or sudden changes?
(H) Những thay đổi thể chất ở Alabama được dự đoán cho giai đoạn 1936–38 sẽ diễn ra dần dần hay đột ngột?
(A) Gradual.
(Đ) Dần dần.
(Q) What form will they take?
(H) Chúng sẽ có hình thức như thế nào?
(A) To be sure, that may depend upon much that deals with the metaphysical, as well as to that people called actual or in truth! for, as understood—or should be by the entity—there are those conditions that in the activity of individuals, in line of thought and endeavor, keep oft many a city and many a land intact through their application of the spiritual laws in their associations with individuals. This will take more of the form here in the change, as we find, through the sinking of portions with the following up of the inundations by this overflow.
(Đ) Chắc chắn rồi, điều ấy có thể tùy thuộc rất nhiều vào những gì liên quan đến phần siêu hình, cũng như vào điều mà người ta gọi là thực tế hay là chân lý! vì, như được hiểu—hay lẽ ra thực thể nên hiểu—có những điều kiện mà trong hoạt động của các cá nhân, theo đường hướng tư tưởng và nỗ lực, thường giữ cho biết bao thành phố và biết bao xứ sở được vẹn toàn nhờ việc họ áp dụng các định luật tinh thần trong mối liên hệ với các cá nhân. Ở đây, như chúng tôi thấy, sự thay đổi sẽ có hình thức là sự lún sụt của một số phần, tiếp theo là những trận ngập lụt do sự tràn nước này.
(Q) When will the physical changes start in Norfolk and vicinity?
(H) Khi nào những thay đổi thể chất sẽ bắt đầu ở Norfolk và vùng lân cận?
(A) This would be nearer to ‘58 than to ‘38 or ‘36, as we find...
(Đ) Như chúng tôi thấy, điều này sẽ gần với ‘58 hơn là ‘38 hay ‘36...
(Q) When did I make a study of the teachings of Zoroaster?
(H) Tôi đã nghiên cứu các giáo huấn của Zoroaster khi nào?
(A) During those periods when the activities of the entity were in those portions of the land that these came under, as shown in the information given respecting sojourns in the earth.
(Đ) Trong những thời kỳ khi các hoạt động của thực thể ở những vùng đất nằm dưới ảnh hưởng đó, như đã cho thấy trong thông tin về những lần lưu trú nơi cõi trần.
(Q) Would it be well for me to make a study of astrology?
(H) Có tốt cho tôi nếu nghiên cứu chiêm tinh học không?
(A) Well for everyone to make a study of astrology! for, as indicated, while many individuals have set about to prove the astrological aspects and astrological survey enable one to determine future as well as the past conditions, these are well to the point where the individual understands that these act upon individuals because of their sojourn or correlation of their associations with the environs through which these are shown—see? Rather than the star directing the life, the life of the individual directs the courses of the stars, see? for was it not given when His star appeared? Is it not shown in all the studies of the positions that the earth occupies in its course through the spheres that every condition is as cause and effect? but that the scale has gradually been on the increase for the individuals as they passed through their various experiences in the cycles of position? This is not intended to indicate that (as some astrological reports have been made) there is a definite period when individuals enter a cycle, or that every two thousand or one thousand, or five hundred or twenty-four hundred years an individual reenters the earth; but as a race, as a whole does the twenty-four hundred year period hold good, see? for in each period does the earth, do the planets, do all of those about space again revert to that it would begin over again. The individual activity is a thing of itself, see? for, as may be illustrated in Life—as of an individual: It may be said that the line of thought in the present is towards a change in the Aries age from the Pisces, or from the Aquarius, or to those various activities, see? but it doesn’t mean that every individual changes, for each individual has its own development. As we look about us we see the various spheroids, spheres, planets or solar systems, and they have their individual activity. Look at the soul of man and know it may be equal to, or greater; for it must be man’s ability to control one of such! Vast study, yes!
(Đ) Tốt cho mọi người khi nghiên cứu chiêm tinh học! vì, như đã chỉ ra, dẫu nhiều cá nhân đã cố công chứng minh rằng các khía cạnh chiêm tinh và khảo sát chiêm tinh cho phép người ta xác định các điều kiện tương lai cũng như quá khứ, thì những điều này rất hữu ích đến mức cá nhân hiểu rằng chúng tác động lên các cá nhân bởi vì sự lưu trú hay sự tương quan của họ với môi trường qua đó những điều ấy được thể hiện—hiểu chứ? Đúng hơn là ngôi sao định hướng đời sống, thì đời sống của cá nhân định hướng các lộ trình của các ngôi sao, hiểu chứ? vì há chẳng đã được phán khi Ngôi Sao của Ngài xuất hiện đó sao? Há chẳng phải mọi khảo cứu về các vị trí mà Trái Đất chiếm giữ trong hành trình qua các thiên cầu đều cho thấy mọi điều kiện đều là nhân và quả đó sao? nhưng rằng cán cân dần dần đã nghiêng về phía tăng trưởng cho các cá nhân khi họ đi qua các trải nghiệm khác nhau trong các chu kỳ vị trí? Điều này không nhằm ngụ ý rằng (như một số báo cáo chiêm tinh đã nêu) có một thời đoạn nhất định khi các cá nhân bước vào một chu kỳ, hoặc rằng cứ mỗi hai nghìn hay một nghìn, hay năm trăm hay hai nghìn bốn trăm năm là một cá nhân tái nhập trần gian; mà là như một chủng tộc, như một tổng thể thì chu kỳ hai nghìn bốn trăm năm là đúng, hiểu chứ? vì trong mỗi chu kỳ thì Trái Đất, các hành tinh, tất cả những gì trong không gian lại quay về điểm khởi đầu để bắt đầu lại. Hoạt động của cá nhân là một sự việc tự thân, hiểu chứ? vì, như có thể minh họa trong đời sống—của một cá nhân: Có thể nói rằng đường hướng tư tưởng hiện nay là hướng tới một sự thay đổi từ thời kỳ Aries sang Pisces, hoặc từ Aquarius, hoặc tới những hoạt động khác nhau đó, hiểu chứ? nhưng điều ấy không có nghĩa là mọi cá nhân đều thay đổi, vì mỗi cá nhân có sự phát triển riêng của mình. Khi chúng ta nhìn quanh, chúng ta thấy các khối cầu, các thiên cầu, các hành tinh hay các hệ mặt trời khác nhau, và chúng có hoạt động riêng. Hãy nhìn vào linh hồn của con người và biết rằng nó có thể ngang bằng, hoặc lớn hơn; vì ắt hẳn con người có khả năng kiểm soát một trong những thứ như thế! Nghiên cứu bao la, đúng vậy!
(Q) Who is giving this information?
(H) Ai đang cung cấp thông tin này?
(A) Zorain. Student with Zoroaster, yes.
(Đ) Zorain. Học trò cùng với Zoroaster, đúng vậy.
[Background: Reading given a thirty-five-year-old male in which a shifting of the poles was predicted to occur around the millennium.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một nam giới 35 tuổi, trong đó dự đoán sự dịch chuyển các cực sẽ xảy ra vào khoảng thời điểm thiên niên kỷ.]
Reading 826-8; August 11, 1936
Buổi đọc 826-8; Ngày 11 tháng 8, 1936
(Q) What great change or the beginning of what change, if any, is to take place in the earth in the year 2,000 to 2,001 A.D.?
(H) Sự thay đổi lớn nào hoặc khởi đầu của sự thay đổi nào, nếu có, sẽ diễn ra trên Trái Đất vào năm 2000 đến 2001 sau CN?
(A) When there is a shifting of the poles. Or a new cycle begins.
(Đ) Khi có sự dịch chuyển các cực. Hoặc một chu kỳ mới bắt đầu.
[Background: Reading given to a twenty-seven-year-old female in which unspecified “changes” were predicted to occur during her lifetime.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một nữ giới 27 tuổi, trong đó dự đoán những “thay đổi” không xác định sẽ xảy ra trong suốt cuộc đời cô.]
Reading 3648-1; January 24, 1944
Buổi đọc 3648-1; Ngày 24 tháng 1, 1944
As indicated, in periods when changes were being wrought, the entity has entered the earth—even as a pattern. Changes are due to be wrought in the earth through the period of the entity’s sojourn.
Như đã chỉ ra, trong những thời kỳ khi các thay đổi đang được tạo tác, thực thể đã nhập thế—ngay cả như một khuôn mẫu. Những thay đổi được định sẽ được tạo tác trên Trái Đất trong suốt thời kỳ lưu trú của thực thể.
Then, seek the associations and the companionships through which ye may contribute to these changes that may have as great effect upon the future as ye have had through the other periods of activity; and ye will be creating for thine own individuality, for thine own entity’s influence, that which will be a continued growth.
Vậy, hãy tìm các mối giao kết và bạn hữu qua đó các ngươi có thể góp phần vào những thay đổi ấy, có thể tạo ảnh hưởng lớn lao cho tương lai như các ngươi đã từng có qua những thời kỳ hoạt động khác; và các ngươi sẽ đang kiến tạo cho cá tính riêng của mình, cho ảnh hưởng của chính thực thể mình, điều sẽ là một sự tăng trưởng liên tục.
[Background: Reading given regarding prophecies contained within the Great Pyramid and what some of those prophecies entailed.]
[Bối cảnh: Buổi đọc liên quan đến các lời sấm bên trong Đại Kim Tự Tháp và một số điều mà những lời sấm ấy bao hàm.]
Reading 5748-5; June 30, 1932
Buổi đọc 5748-5; Ngày 30 tháng 6, 1932
GC: You will please give at this time detailed information regarding the origin, purpose and prophecies of the Great Pyramid of Gizeh near Cairo, Egypt. Please answer the questions asked.
GC: Xin vui lòng cung cấp lúc này thông tin chi tiết liên quan đến nguồn gốc, mục đích và các lời sấm của Đại Kim Tự Tháp Gizeh gần Cairo, Ai Cập. Xin vui lòng trả lời các câu hỏi được nêu.
EC: Yes. In the information as respecting the pyramids, their purpose in the experience of the peoples, in the period when there was the rebuilding of the priest during the return in the land, some 10,500 before the coming of the Christ into the land, there was first that attempt to restore and to add to that which had been begun on what is called the Sphinx, and the treasure or storehouse facing same, between this and the Nile, in which those records were kept by Arart and Araaraart in the period.
EC: Vâng. Trong thông tin liên quan đến các kim tự tháp, mục đích của chúng trong trải nghiệm của các dân chúng, vào thời kỳ có sự tái thiết của giới tư tế trong lần trở về xứ, vào khoảng 10.500 năm trước khi Đức Christ đến xứ, trước hết có nỗ lực khôi phục và bổ sung cho điều đã được khởi công trên cái gọi là Nhân Sư, và kho tàng hay nhà chứa đối diện với nó, giữa nơi này và sông Nile, nơi các bản ghi chép được Arart và Araaraart lưu giữ vào thời kỳ ấy.
Then, with Hermes and Ra (those that assumed or took up the work of Araaraart) there began the building of that now called Gizeh, with which those prophecies that had been in the Temple of Records and the Temple Beautiful were builded, in the building of this that was to be the hall of the initiates of that sometimes referred to as the White Brotherhood.
Sau đó, với Hermes và Ra (những người tiếp quản hay đảm đương công việc của Araaraart) bắt đầu việc xây dựng cái nay gọi là Gizeh, gắn với những lời sấm vốn đã có trong Đền Lưu Trữ và Đền Mỹ Lệ, được kiến tạo vào việc xây dựng này, vốn sẽ là đại sảnh của các điểm đạo đồ thuộc cái đôi khi được gọi là Huynh đệ Đoàn Chánh đạo.
This, then, receives all the records from the beginnings of that given by the priest, Arart, Araaraart and Ra, to that period when there is to be the change in the earth’s position and the return of the Great Initiate to that and other lands for the folding up of those prophecies that are depicted there. All changes that came in the religious thought in the world are shown there, in the variations in which the passage through same is reached, from the base to the top—or to the open tomb and the top. These are signified by both the layer and the color in what direction the turn is made.
Vậy nên, nơi này tiếp nhận tất cả các ghi chép từ khởi nguyên của điều được vị tư tế Arart, Araaraart và Ra ban ra, cho đến thời kỳ sẽ có sự thay đổi vị trí của Trái Đất và sự trở lại của Đại Điểm đạo Đồ đến đó và các xứ khác để khép lại những lời sấm được mô tả ở đó. Mọi biến đổi diễn ra trong tư tưởng tôn giáo trên thế giới đều được biểu thị ở đó, trong những biến thiên mà nơi ấy đường đi được tiếp cận, từ nền đến đỉnh—hoặc đến mộ mở và đỉnh. Những điều này được biểu trưng bởi cả từng lớp và màu sắc theo hướng rẽ.
This, then, is the purpose for the record and the meaning to be interpreted by those that have come and do come as the teachers of the various periods, in the experience of this present position, of the activity of the spheres, of the earth.
Vậy, đây là mục đích của bản ghi và là ý nghĩa để được diễn giải bởi những ai đã đến và đang đến như các vị thầy của những thời kỳ khác nhau, trong trải nghiệm của vị trí hiện tại này, của hoạt động của các thiên cầu, của Trái Đất.
In the period that is to come, this ends—as to that point which is between what is termed in chronological time in present—between 1950 and ‘58, but there have been portions that have been removed by those that desecrated many of those other records in the same land. This was rejected by that Pharaoh who hindered in the peoples leaving the land.
Trong thời kỳ sắp đến, điều này kết thúc—tới điểm mà theo niên đại hiện nay—giữa 1950 và ‘58, nhưng đã có những phần bị loại bỏ bởi những kẻ đã xúc phạm nhiều ghi chép khác ở cùng xứ sở. Điều này đã bị vị Pharaon khước từ, kẻ cản trở dân chúng rời khỏi xứ.
(Q) Are the deductions and conclusions arrived at by D. Davidson and H. Aldersmith in their book on The Great Pyramid correct?
(H) Những suy luận và kết luận mà D. Davidson và H. Aldersmith đưa ra trong cuốn sách của họ về Đại Kim Tự Tháp có đúng không?
(A) Many of these that have been taken as deductions are correct. Many are far overdrawn. Only an initiate may understand.
(Đ) Nhiều điều trong các suy luận ấy là đúng. Nhiều điều bị cường điệu quá mức. Chỉ một điểm đạo đồ mới có thể thấu hiểu.
(Q) What corrections for the period of the 20th century?
(H) Những hiệu chỉnh cho thời kỳ thế kỷ 20 là gì?
(A) Only those that there will be an upheaval in ‘36.
(Đ) Chỉ rằng sẽ có một biến động vào năm ‘36.
(Q) Do you mean there will be an upheaval in ‘36 as recorded in the pyramid?
(H) Ý ông là sẽ có một biến động vào năm ‘36 như đã ghi trong kim tự tháp ư?
(A) As recorded in the pyramid, though this is set for a correction, which, as has been given, is between ‘32 AND ‘38—the correction would be, for this—as seen—is ‘36—for it is in many—these run from specific days; for, as has been seen, there are periods when even the hour, day, year, place, country, nation, town, and individuals are pointed out. That’s how correct are many of those prophecies as made. Oft may there be changes that bring periods, as seen in that period when there was an alteration in that initiate in the land of Zu and Ra that brought a change, but at a different point because of being driven by those that were set as the guides or guards of same. In this same pyramid did the Great Initiate, the Master, take those last of the Brotherhood degrees with John, the forerunner of Him, at that place. As is indicated in that period where entrance is shown to be in that land that was set apart, as that promised to that peculiar peoples, as were rejected—as is shown in that portion when there is the turning back from the raising up of Xerxes as the deliverer from an unknown tongue or land, and again is there seen that this occurs in the entrance of the Messiah in this period—1998.
(Đ) Như được ghi trong kim tự tháp, mặc dù điều này được ấn định cho một sự hiệu chỉnh, điều mà—như đã nêu—là trong khoảng ‘32 VÀ ‘38—sự hiệu chỉnh, như đã thấy, là ‘36—vì ở nhiều chỗ—các mốc này chạy tới tận những ngày cụ thể; vì, như đã thấy, có những thời đoạn mà thậm chí giờ, ngày, năm, nơi chốn, quốc gia, thành thị và cá nhân đều được chỉ ra. Đó là mức độ chuẩn xác của nhiều lời sấm đã được lập. Nhiều khi có thể có những thay đổi đem đến những thời đoạn, như thấy trong thời kỳ có sự cải biến nơi vị điểm đạo đồ trong xứ sở của Zu và Ra, điều đã mang đến một thay đổi, nhưng ở một điểm khác vì bị những kẻ được đặt làm người hướng dẫn hay canh giữ dồn ép. Chính trong kim tự tháp này mà Đại Điểm đạo Đồ, Đấng Thầy, đã nhận những phẩm cấp cuối cùng của Huynh đệ Đoàn cùng với John, vị đi trước của Ngài, tại nơi đó. Như được chỉ ra trong thời kỳ mà lối vào cho thấy ở trong xứ đã được dành riêng, như là điều đã được hứa cho dân tộc đặc biệt ấy, vốn đã bị khước từ—như được biểu thị ở đoạn có sự quay lui khỏi việc cất nhắc Xerxes làm đấng giải cứu từ một tiếng nói hay xứ sở không quen biết, và rồi lại thấy điều này xảy ra trong sự nhập thế của Đấng Cứu Thế trong giai đoạn này—1998.
5
Changes in World Affairs—Những thay đổi trong tình hình thế giới
[Background: World Affairs reading given to the Norfolk Study Group #1.]
[Bối cảnh: Buổi đọc về Tình hình Thế giới dành cho Nhóm Nghiên Cứu Norfolk số 1.]
Reading 3976-8; January 1, 1932
Buổi đọc 3976-8; Ngày 1 tháng 1, 1932
GC: You will have before you the entity Edgar Cayce, present in this room and the subject of the lecture he desires to give tonight, “Present World Conditions.” Please indicate the approach he should make and outline in detail the data for this talk. Please answer the questions regarding this which will be asked.
GC: Quý vị sẽ thấy trước mặt mình thực thể Edgar Cayce, hiện có mặt trong phòng này, và chủ đề bài thuyết trình mà ông muốn đưa ra tối nay, “Tình hình Thế giới Hiện tại.” Xin chỉ rõ cách tiếp cận ông nên thực hiện và phác thảo chi tiết dữ liệu cho bài nói này. Xin trả lời các câu hỏi về điều này sẽ được nêu.
EC: Yes, we have the entity here. In approach to such an universal subject, there is the necessity for the signifying of the approach that is to be made, and if [is] same to be of value in the experience of others, what may be done about same.
EC: Vâng, chúng tôi có thực thể ở đây. Khi tiếp cận một chủ đề phổ quát như vậy, cần phải xác định phương cách tiếp cận sẽ được thực hiện, và nếu điều ấy là hữu ích trong trải nghiệm của những người khác, thì có thể làm gì về điều đó.
In the beginning when chaos existed in the creating of the earth, the Spirit of God moved over the face of same and out of chaos came the world—with its beauty in natural form, or in nature.
Ngay buổi sơ nguyên khi hỗn mang hiện hữu trong công cuộc tạo dựng Trái Đất, Thần Linh của Thượng đế đã vận hành trên bề mặt ấy, và từ hỗn mang, thế giới—với vẻ đẹp nơi hình thể tự nhiên, hay nơi thiên nhiên—đã được hiện thành.
With man’s advent into the world, then personalities, individualities, began to find expressions in subduing the earth, and man—with his natural bent—not only attempted to subdue the earth, but to subdue one another; and the result was the differences of opinions, the various sects, sets, classes and races.
Khi con người đến với thế gian, thì các phàm ngã, các cá tính, bắt đầu tìm kiếm biểu lộ trong việc chinh phục đất đai, và con người—với thiên hướng tự nhiên của mình—không chỉ cố chinh phục đất, mà còn chinh phục lẫn nhau; và hệ quả là những khác biệt về quan điểm, các phái, các tập hợp, giai tầng và chủng loại.
As the earth was peopled, and the abilities of expansion were able to bring the various groups, or associations of groups or nations, they could—and did—withdraw into themselves, and build for themselves in the various portions of the world that known as the periods of advancement of some particular group of peoples.
Khi Trái Đất đông dân, và khả năng mở rộng cho phép đưa các nhóm khác nhau, hay các liên hợp nhóm hoặc các quốc gia, họ có thể —và đã —co cụm vào trong chính mình, và xây dựng cho mình ở các miền khác nhau của thế giới những gì được biết như là các thời kỳ tiến bộ của một số nhóm dân nhất định.
As the world has advanced, all the various phases of man’s developments have entered to make a different phase, either in the political, economic, or religious aspect of man’s experience. In the various portions, then, of the world there has been builded those necessary developments for that particular group or portion of those peoples, or those developments of those peoples in their particular line.
Khi thế giới tiến lên, mọi phương diện khác nhau của sự phát triển nơi con người đã tham gia để tạo nên một diện mạo khác biệt, hoặc trong phương diện chính trị, kinh tế, hay tôn giáo của trải nghiệm con người. Ở các phần khác nhau của thế giới, đã được xây dựng những phát triển cần thiết cho nhóm hay bộ phận dân cư đặc thù đó, hay cho sự phát triển của dân chúng ấy theo đường hướng riêng của họ.
With the advent of the closeness of the worlds coming into being, so that the man upon the other side of the world is as much the neighbor as the man next door, more and more have been the turmoils that have arisen in the attempt of individual leaders or groups to induce, force or compel, one portion of the world to think as the other, or the other group to dwell together as brethren with one bond of sympathy, or one standard for all.
Với sự xuất hiện của tính gần gũi giữa các thế giới đi vào hiện hữu, đến mức người ở nửa bên kia trái đất cũng là người láng giềng chẳng khác gì người ở nhà kế bên, thì ngày càng nhiều xáo động đã dấy lên trong nỗ lực của các lãnh đạo cá nhân hay các nhóm nhằm dụ dỗ, cưỡng ép hay bắt buộc một phần của thế giới phải nghĩ như phần kia, hoặc buộc nhóm kia cùng sống với nhau như huynh đệ với một mối cảm thông, hay một tiêu chuẩn chung cho tất cả.
With the present conditions, then, that exist—these have all come to that place in the development of the human family where there must be a reckoning, a one point upon which all may agree, that out of all of this turmoil that has arisen from the social life, racial differences, the outlook upon the relationship of man to the Creative Forces or his God, and his relationships one with another, must come to some common basis upon which all may agree. You say at once, such a thing is impractical, impossible! What has caused the present conditions, not alone at home but abroad? It is that realization that was asked some thousands of years ago, “Where is thy brother? His blood cries to me from the ground!” and the other portion of the world has answered, is answering, “Am I my brother’s keeper?” The world, as a world—that makes for the disruption, for the discontent—has lost its ideal. Man may not have the same idea. Man—all men—may have the same ideal!
Với những điều kiện hiện nay đang tồn tại—tất cả đã đi đến điểm trong sự phát triển của gia đình nhân loại nơi phải có sự quyết toán, một điểm nhất mà mọi người có thể đồng thuận, rằng từ mọi xáo trộn đã nảy sinh do đời sống xã hội, do khác biệt chủng tộc, do cách nhìn về mối liên hệ của con người với các Lực Sáng Tạo hay với Thượng đế của mình, và mối liên hệ lẫn nhau, ắt phải đi đến một nền tảng chung mà tất cả có thể đồng ý. Các ngươi sẽ nói ngay, điều như thế là phi thực, bất khả! Điều gì đã gây nên các điều kiện hiện tại, không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài? Chính là lời nhận biết đã được hỏi từ ngàn năm trước, “ Ở đâu là anh em ngươi? Máu kêu lên với Ta từ mặt đất!” và phần kia của thế giới đã đáp, đang đáp, “Ta có phải là người canh giữ anh em ta không?” Thế giới, với tư cách là một thế giới—điều tạo ra sự tan vỡ, tạo ra bất mãn—đã đánh mất lý tưởng của mình. Con người có thể không có cùng một ý kiến. Con người— mọi người—có thể có cùng một lý tưởng!
As the Spirit of God once moved to bring peace and harmony out of chaos, so must the Spirit move over the earth and magnify itself in the hearts, minds and souls of men to bring peace, harmony and understanding, that they may dwell together in a way that will bring that peace, that harmony, that can only come with all having the one Ideal; not the one idea, but “Thou shalt love the Lord Thy God with all thine heart, thy neighbor as thyself!” This [is] the whole law, this [is] the whole answer to the world, to each and every soul. That is the answer to the world conditions as they exist today.
Như Thần Linh của Thượng đế đã từng vận hành để mang lại bình an và hoà điệu từ hỗn mang, thì nay Thần Linh cũng phải vận hành khắp địa cầu và tự tôn vinh trong trái tim, trí năng và linh hồn của con người để đem đến bình an, hoà điệu và sự thấu hiểu, hầu họ có thể cùng cư trú theo một cách đem lại bình an ấy, hoà điệu ấy, điều chỉ có thể đến khi mọi người đều có một Lý Tưởng duy nhất; không phải một ý kiến duy nhất, mà là “Ngươi phải kính mến Chúa là Đức Chúa Trời của ngươi hết lòng, và yêu người lân cận như chính mình!” Đây [là] toàn bộ luật pháp, đây [là] toàn bộ câu trả lời cho thế giới, cho từng linh hồn. Đó là câu trả lời cho tình hình thế giới như chúng đang hiện hữu hôm nay.
How shall this be brought about? As [they] each in their own respective sphere put into action that they know to be the fulfilling of that as has been from the beginning, so does the little leaven leaven the whole lump.
Điều này sẽ được mang lại bằng cách nào? Khi từng người trong phạm vi của mình đem ra hành động điều mình biết là sự ứng nghiệm của điều đã có từ thuở ban đầu, thì men nhỏ sẽ làm dậy cả khối bột.
Man’s answer to everything has been power—Power of money, Power of position, Power of wealth, Power of this, that or the other. This has never been God’s way, will never be God’s way. Rather little by little, line upon line, here a little, there a little, each thinking rather of the other fellow, as that that has kept the world in the various ways of being intact—where there were ten, even, many a city, many a nation, has been kept from destruction. Though ye may look upon, or feel that that which was given to Abram—as he viewed the cities of the plain and pled for the saving of same—was an allegorical story, a beautiful tale to be told children—that it might bring fear into the hearts of those that would have their own way—may it not come into the hearts of those now, today, wilt thou, thine self, make of thine own heart an understanding that thou must answer for thine own brother, for thine own neighbor! and who is thine neighbor? He that lives next door, or he that lives on the other side of the world? He, rather, that is in need of understanding! He who has faltered; he who has fallen even by the way. He is thine neighbor, and thou must answer for him!
Câu trả lời của con người cho mọi sự vẫn là quyền lực —Quyền lực của tiền bạc, Quyền lực của địa vị, Quyền lực của của cải, Quyền lực của thứ này, thứ kia. Đây chưa bao giờ là con đường của Thượng đế, và sẽ không bao giờ là con đường của Thượng đế. Đúng hơn là từng chút một, dòng này nối dòng kia, chỗ này một chút, chỗ kia một chút, mỗi người nghĩ về người khác nhiều hơn, như điều đã giữ cho thế giới—theo nhiều cách—được nguyên vẹn—nơi có mười người, thậm chí, biết bao thành thị, biết bao quốc gia đã được giữ khỏi diệt vong. Dẫu các ngươi có thể nhìn, hay cho rằng điều đã được ban cho Abram—khi ông nhìn các thành của đồng bằng và khẩn cầu cho sự cứu rỗi của chúng—chỉ là một câu chuyện ngụ ngôn, một truyện đẹp kể cho trẻ em—để đem sợ hãi vào lòng những kẻ muốn theo ý riêng —thì liệu điều ấy có thể đi vào lòng những người hiện nay, hôm nay chăng, rằng ngươi, chính ngươi, sẽ làm cho lòng mình nên một sự thấu hiểu rằng ngươi phải trả lời thay cho anh em mình, cho người lân cận của mình! và ai là người lân cận của ngươi? Kẻ sống nhà kế bên, hay người sống ở bên kia địa cầu? Đúng hơn, là người đang cần được thấu hiểu! Kẻ đã chùn bước; kẻ thậm chí đã ngã trên đường. Người ấy là người lân cận của ngươi, và ngươi phải trả lời thay cho người ấy!
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) What is the cause of the great economic depression and when may conditions be expected to become normal in the United States?
(H) Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế lớn là gì và khi nào có thể kỳ vọng các điều kiện trở lại bình thường ở Hoa Kỳ?
(A) The United States may not expect to recover sooner than another nation, unless its basis for recovery is founded in that that brings peace, harmony and understanding. As it, the United States, (in the present) is the leading nation in attempting to give an understanding of the principles of “Thou shalt love thy neighbor as thyself,” it stands above all others in its financial, in its social positions in the world; yet it has faltered, and—as of old—when troubles arise, when fearful conditions beset thee, the same answer as was of old, “Know ye that sin lieth at thy door!” When there are, then, the greater number that would see that the ideal is again made the standard, then may conditions be expected to improve. This not as men count improvement, in dollars and cents, but in contentment and understanding—and one is the fruit of the other!
(Đ) Hoa Kỳ không thể kỳ vọng hồi phục sớm hơn các quốc gia khác, trừ khi nền tảng cho sự hồi phục của mình được đặt trong điều mang lại bình an, hoà điệu và sự thấu hiểu. Vì Hoa Kỳ (trong hiện tại) là quốc gia dẫn đầu trong nỗ lực đem lại sự thấu hiểu về những nguyên tắc “Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình,” nên nó đứng trên hết thảy trong địa vị tài chính, trong địa vị xã hội trên thế giới; tuy nhiên, nó đã chùn bước, và—như ngày xưa—khi rắc rối nổi lên, khi những điều đáng sợ bủa vây ngươi, thì câu trả lời vẫn như xưa, “Hãy biết rằng tội lỗi nằm ngay trước cửa ngươi!” Khi nào có con số lớn hơn những người muốn thấy rằng lý tưởng được làm thành chuẩn mực trở lại, thì khi đó điều kiện mới có thể kỳ vọng cải thiện. Điều này không theo cách con người đếm sự cải thiện, bằng tiền đô và xu, mà là bằng sự an hoà và sự thấu hiểu—và một là hoa trái của điều kia!
(Q) Will the United States be drawn into war or go to war within the next five years? If so, with whom and over what will the trouble arise?
(H) Hoa Kỳ có bị lôi vào chiến tranh hoặc sẽ tham chiến trong vòng năm năm tới không? Nếu có, với ai và vì chuyện gì rắc rối sẽ nảy sinh?
(A) The position or conditions that exist in the affairs, or the hearts of nations, is much as has been described. Now as to whether this will come to pass or not, depends upon whether there is the arousing in the hearts, souls and minds of a sufficient number of individuals—who will align themselves with that that is right in His sight, or not! Some years ago (this, we understand, is out of line with what many would have one believe), there was a Peace Table, and about same were gathered representatives of every nation under the sun! In the soul of the representative of the United States sat the Prince of Peace; yet many would have you believe, in the economical world, the financial world, that had that man never left his home, his own shores, that the world would be better today. Not so; for “Ye shall pay every whit,” for “The heavens and earth may pass away, but my word shall not,” are the words of Him who made the world. As to whether it will be in three years or five years, depends upon those who would rally to, “I will make of my life a channel of blessing to someone, today!”
(Đ) Vị thế hay các điều kiện đang hiện hữu trong cục diện, hay trong lòng các quốc gia, phần nhiều như đã mô tả. Còn liệu điều này sẽ xảy ra hay không, tùy thuộc vào việc có hay không có sự thức tỉnh trong lòng, linh hồn và trí của một số lượng đủ các cá nhân—những người sẽ chỉnh hợp với điều đúng trong tầm nhìn của Ngài, hay không! Vài năm trước (điều này, chúng tôi hiểu, là lệch khỏi điều mà nhiều người muốn người ta tin), đã có một Bàn Hoà Bình, và quanh đó quy tụ đại diện của mọi quốc gia dưới mặt trời! Trong linh hồn của vị đại diện Hoa Kỳ ngự Vị Vương Tử của Hoà Bình; vậy mà nhiều người muốn khiến các ngươi tin, trong thế giới kinh tế, thế giới tài chính, rằng nếu người ấy chưa từng rời khỏi mái nhà, bờ cõi của mình, thì thế giới hôm nay đã tốt hơn. Không phải vậy; vì “Các ngươi sẽ trả đủ mọi phần,” bởi “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta sẽ chẳng qua đi,” là lời của Đấng đã tạo dựng thế gian. Còn nó sẽ là trong ba năm hay năm năm, thì tùy thuộc vào những ai sẽ tập hợp quanh lời nguyện, “Con sẽ làm cho đời con thành một kênh phước lành cho ai đó, hôm nay!”
(Q) From the general trend of events, what is to be expected in the struggle between Great Britain and India?
(H) Theo xu hướng tổng quát của các biến cố, có thể kỳ vọng gì trong cuộc đấu giữa Anh Quốc và Ấn Độ?
(A) Great Britain is losing an excellent fight. Non-resistance is hard to be broken!! [Mohandas Gandhi] As to whether those peoples will remain, or whether the prayers and supplications of others will be with those, depends upon individuals.
(Đ) Đại Anh đang thua một cuộc chiến tuyệt hảo. Chủ trương bất kháng cự thật khó bị bẻ gãy!! [Mohandas Gandhi] Còn dân tộc ấy sẽ ở lại hay không, hay những lời cầu nguyện và khẩn cầu của những người khác sẽ ở cùng họ hay không, là tùy nơi các cá nhân.
(Q) What can be expected in the trend of events in the political and economic conditions in Europe?
(H) Có thể kỳ vọng gì trong xu hướng các biến cố về tình hình chính trị và kinh tế ở châu Âu?
(A) Europe is as a house broken up. Some years ago there was the experience of a mighty peoples being overridden for the gratification and satisfaction of a few, irrespective of any other man’s right. That peoples are going through the experience of being born again, and is the thorn in the flesh to many a political and financial nation in Europe, in the world—but out of same, with the prayers and supplications of those that may pray—even as Abram, or Abraham—“If there be fifty, will it not be spared?” “O, if there be ten faithful, will it not be spared?” Then, the hope of Europe depends upon you! in your own home today! In not the same way, but the same manner as did the life of Lot, or of the other peoples in Sodom and Gomorrah.
(Đ) Châu Âu như một ngôi nhà tan vỡ. Vài năm trước đã có trải nghiệm một dân tộc hùng mạnh bị chèn ép vì sự thoả mãn và thoả dục của một số ít, bất chấp quyền của bất kỳ người nào khác. Dân tộc ấy đang trải qua trải nghiệm tái sinh, và là cái dằm trong xác thịt đối với biết bao quốc gia chính trị và tài chính ở châu Âu, trên thế giới—nhưng từ đó, với những lời cầu nguyện và khẩn cầu của những người có thể cầu nguyện—như Abram, hay Abraham—“Nếu có năm mươi người, há chẳng được dung thứ sao?” “Ôi, nếu có mười người trung tín, há chẳng được dung thứ sao?” Vậy thì, hy vọng của châu Âu tùy thuộc vào các ngươi! trong chính ngôi nhà của mình hôm nay! Không phải theo cách như thế, nhưng theo cùng một tinh thần như đời sống của Lot, hoặc của những người khác nơi Sôđôm và Gômôra.
(Q) What is the name of that nation referred to?
(H) Tên của quốc gia vừa ám chỉ là gì?
(A) Russia!
(Đ) Nga!
(Q) Considering the general trend of events, will prohibition be lost in America and about when?
(H) Xét theo xu hướng tổng quát của các biến cố, lệnh cấm rượu có bị bãi bỏ ở Mỹ không và khoảng khi nào?
(A) No one may ever legislate goodness into the heart of the soul of anyone! When there is builded in the souls of men that as would be called prohibiting, that satisfies that of a physical desire, this will make for the right character of prohibition—but it has already lost in America, and only waits the decisions of those as to whether the peoples will stand as a law abiding, or a law breaking peoples.
(Đ) Chẳng ai có thể ban hành luật để đưa điều thiện vào lòng linh hồn của bất kỳ ai! Khi điều được xây dựng trong linh hồn con người—điều có thể gọi là sự ngăn cấm—đủ để thoả mãn dục vọng thể xác, thì điều ấy sẽ tạo nên dạng cấm đoán đúng đắn—nhưng nó đã mất ở Mỹ rồi, và chỉ còn chờ quyết định xem dân chúng sẽ đứng như một dân tộc tuân thủ luật pháp hay phá bỏ luật pháp.
(Q) Upon what religious thought will fall the greatest responsibility in leading the world toward the light of understanding?
(H) Hệ tư tưởng tôn giáo nào sẽ gánh trách nhiệm lớn nhất trong việc dẫn dắt thế giới đến ánh sáng của sự thấu hiểu?
(A) That as is comprised in that as has been given, whether it be the Greek or the barbarian, whether it be from the bond or from the free, “Thou shalt love the Lord thy God with all thine heart, and thy neighbor as thyself!”
(Đ) Điều vốn bao hàm trong điều đã được ban, bất kể là người Hy Lạp hay man di, bất kể là từ kẻ nô lệ hay người tự do, “Ngươi sẽ kính mến Chúa là Đức Chúa Trời của ngươi hết lòng, và yêu người lân cận như chính mình!”
We are through.
Chúng ta xong.
[Background: Follow-up World Affairs reading given to the Norfolk Study Group #1, members of which hoped to create an article or publication on the topic of “present world conditions.”]
[Bối cảnh: Buổi đọc tiếp theo về Tình hình Thế giới dành cho Nhóm Nghiên Cứu Norfolk số 1, những thành viên của nhóm này hy vọng tạo một bài viết hay ấn phẩm về chủ đề “tình hình thế giới hiện tại.”]
Reading 3976-9; February 2, 1932
Buổi đọc 3976-9; Ngày 2 tháng 2, 1932
GC: You will have before you the data on Present World Conditions given through this channel, a copy of which I hold in my hand [3976-8]. You will please advise us as to the feasibility of seeking to present this in its present form to the world through publication in some magazine. You will answer the questions which we will ask regarding this.
GC: Trước mặt Ông sẽ có dữ liệu về Tình hình Thế giới Hiện tại được ban qua kênh này, một bản sao của nó tôi đang cầm trong tay [3976-8]. Xin vui lòng cho chúng tôi lời khuyên về tính khả thi của việc tìm cách giới thiệu tài liệu này cho thế giới dưới hình thức hiện tại qua việc xuất bản trên một tạp chí nào đó. Ông sẽ trả lời các câu hỏi chúng tôi nêu về việc này.
EC: Yes, we have the outline of information as given. As we find, this was given rather as an outline, or a basis for expansion in directions that would be outlined or followed by a collaborator, or by one choosing to speak upon such a subject. As individuals see, feel or experience, the truth, and truths that are presented in the outline, well that same be considered for distribution through channels of publications, or in distributing in any manner as seen fit or chosen by those for whom the information was given for their consideration.
EC: Vâng, chúng tôi có đề cương thông tin như đã nêu. Như chúng tôi nhận thấy, điều này được đưa ra như một đề cương, hay một nền tảng để triển khai theo những hướng sẽ được phác thảo hay theo sau bởi một cộng tác viên, hoặc bởi người chọn phát biểu về chủ đề như vậy. Khi các cá nhân thấy, cảm nhận hay trải nghiệm chân lý, và những chân lý được trình bày trong đề cương, thì điều ấy nên được cân nhắc để phổ biến qua các kênh xuất bản, hoặc phổ biến bằng bất cứ cách nào được xem là thích hợp hay được những người mà vì họ thông tin được ban cho để họ xem xét lựa chọn.
In expanding upon that given, well to follow along those channels or outline that has been made. Then present, if chosen to publish same, to any periodical that publishes such class of information; for the question is a world-wide one at present, and any phase—whether spiritual, or of an economical, or purely financial—might be considered; as the Christian Science Monitor; as Forum; as Outlook; as Digest; as any of the more local periodicals in various portions of the country; as Sunset, the Westerner, the Southerner, the Blue Goose, the Argosy, the Saturday Evening Post, or any of the local weeklies; as Household, or Capper, or the like. Ladies Home Journal, Woman’s Home Companion, or any of these. Delineator, or those of that class. All would consider such an open question, and one of such vital interest to so many in the present. Best that same be presented on its merit; not from any individual, or class, or group...
Khi triển khai thêm những điều đã cho, tốt là theo các kênh hay đề cương đã được xây dựng đó. Rồi trình bày, nếu chọn xuất bản, cho bất kỳ tờ báo định kỳ nào đăng tải loại thông tin như vậy; vì vấn đề này hiện nay là vấn đề toàn cầu, và bất kỳ phương diện nào—dù là tinh thần, hay thuộc kinh tế, hay thuần túy tài chính—đều có thể được cân nhắc; như Christian Science Monitor; như Forum; như Outlook; như Digest; như bất kỳ tờ báo định kỳ nào mang tính địa phương hơn ở các miền khác nhau trong cả nước; như Sunset, the Westerner, the Southerner, the Blue Goose, the Argosy, the Saturday Evening Post, hoặc bất kỳ tuần san địa phương nào; như Household, hoặc Capper, hay tương tự. Ladies Home Journal, Woman’s Home Companion, hoặc bất kỳ tờ nào trong số đó. Delineator, hoặc những tờ cùng loại. Tất cả sẽ coi đây là một vấn đề mở, và là vấn đề có tầm quan tâm sống còn đối với rất nhiều người ở hiện tại. Tốt nhất là trình bày nó dựa trên giá trị tự thân; không từ bất kỳ cá nhân, hay tầng lớp, hay nhóm nào...
As illustrated by the acceptance and rejection of the offerings made by Cain and Abel, and the rebellious forces that arose in the lives of groups through that same difference; thinking (as it showed) of self, rather than of service that was ordained by the manner of creation in the earth...
Như được minh họa qua việc chấp nhận và khước từ của lễ vật Cain và Abel đã dâng, và những mãnh lực phản nghịch đã nổi lên trong đời sống của các nhóm vì chính sự khác biệt ấy; họ nghĩ (như đã cho thấy) về bản ngã, hơn là về phụng sự vốn được định bởi cách thức sáng tạo trong địa cầu...
As of the peoples in Egypt, with their advancement—to which the ones chosen were sent for instruction and servitude for their rebelliousness in that land of promise, and with their raising to that of the ability—through the raising up of the leader to lead them out—to become the lawgivers, and to become that channel through which mercy, grace, should come to a tired, weary, war-ridden world, in peace to all mankind—through the Prince of Peace, of the house of David, of the stock of Judah, of the sons of Jacob, of the seed of Abraham—the father of the faithful...
Như đối với dân Ai Cập, với sự thăng tiến của họ—vì đó mà những người được chọn đã được sai đến để chịu huấn luyện và phục dịch do sự phản nghịch của họ trong miền đất hứa, và cùng với việc họ được nâng lên đến khả năng—qua việc dựng dậy một vị lãnh tụ để dẫn họ ra ngoài—để trở thành những người ban luật, và trở thành kênh mà qua đó lòng thương xót, ân sủng, sẽ đến với một thế giới mệt mỏi, kiệt quệ, bị giày xéo bởi chiến tranh, đem bình an đến cho toàn thể nhân loại—qua Vị Vương Tử Hòa Bình, thuộc nhà David, thuộc dòng dõi Judah, thuộc những con của Giacóp, thuộc dòng giống của Abraham— người cha của những kẻ trung tín...
As in the Grecian, in their arts; as in the Roman, in the law; as American, in its freedom of speech—in its activities towards freedom of service toward that God, as according to the dictates of the conscience; showing that natural advancement or evolution of men’s minds toward that of a one God, one purpose, one ideal—with many ideas of expressing same, but one ideal...
Như ở người Hy Lạp, trong nghệ thuật; như ở người La Mã, trong luật pháp; như ở người Mỹ, trong tự do ngôn luận—trong các hoạt động hướng đến tự do phụng sự đối với Thượng đế, theo mệnh lệnh của lương tâm; cho thấy sự thăng tiến hay tiến hóa tự nhiên của tâm trí con người hướng về một Thượng đế duy nhất, một mục đích duy nhất, một lý tưởng duy nhất —dẫu có nhiều ý tưởng để biểu đạt điều ấy, nhưng chỉ có một lý tưởng...
Not is there to come from any class, individual, sect or group, any uprising or presenting of a truth, other than that which was given of Him, “The day approaches when neither in this mountain nor yet in Jerusalem, but in each one’s heart, will there be planted that truth”, that must bring the world out of chaos, out of this attempt to grapple one with another for that which fades and dies with the day—or the years; but rather that which is lasting, in “Thou shalt love the Lord thy God with all thine heart, thine neighbor as thyself!”
Không được để từ bất kỳ tầng lớp, cá nhân, giáo phái hay nhóm nào xuất hiện sự nổi dậy hoặc trình bày một chân lý nào khác hơn điều đã được Ngài phán, “Ngày đến khi chẳng còn ở núi này hay ở Giê-ru-sa-lem nữa, mà trong lòng mỗi người, chân lý ấy sẽ được gieo”, chân lý ấy phải đưa thế giới ra khỏi hỗn mang, khỏi nỗ lực chụp giật lẫn nhau những thứ tàn phai, chết theo ngày—hay theo năm tháng; mà hướng đến điều tồn tại bền vững, là “Ngươi phải kính mến Chúa là Thượng Đế của ngươi hết lòng ngươi, và yêu người lân cận như chính mình!”
[Background: World Affairs reading given to a group of individuals interested in creating a benevolent global organization to help all nations with various issues related to government infrastructure.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc về Thế sự được ban cho một nhóm cá nhân quan tâm đến việc tạo lập một tổ chức bác ái toàn cầu để giúp mọi quốc gia với các vấn đề khác nhau liên quan đến hạ tầng chính quyền.]
Reading 3976-4; February 11, 1927
Buổi đọc 3976-4; Ngày 11 tháng 2, 1927
GC: You will have before you Edgar Cayce, [287], [943], and [4825], who are present in this room, and you will tell them if it is possible, through the information which might be given through these forces, to build a world organization which would control finance, railroads, oil and steel industries, newspapers, and news syndicates, and shipping industries; not only in the United States but in each nation of the world, and you will state or formulate a policy by which this may be accomplished, so that the power and influence gained thereby may be used for the upbuilding of mankind by establishing hospitals, churches, schools, farm loans, rural road constructions, throughout all the nations of the world. You will answer the questions I might ask you regarding this.
GC: Trước mặt Ông sẽ có Edgar Cayce, [287], [943], và [4825], những người đang hiện diện trong phòng này, và Ông sẽ cho họ biết liệu có khả dĩ, thông qua thông tin có thể được ban qua các mãnh lực này, thiết lập một tổ chức thế giới có thể kiểm soát tài chính, đường sắt, công nghiệp dầu mỏ và thép, báo chí và các hãng thông tấn, và ngành vận tải biển; không chỉ ở Hoa Kỳ mà ở mỗi quốc gia trên thế giới, và Ông sẽ nêu hoặc hoạch định một đường lối nhờ đó điều này có thể thành tựu, để quyền lực và ảnh hưởng có được nhờ đó có thể được dùng cho việc xây dựng nhân loại bằng cách thiết lập bệnh viện, nhà thờ, trường học, các khoản vay nông trại, xây dựng đường nông thôn, trên khắp mọi quốc gia trên thế giới. Ông sẽ trả lời các câu hỏi mà tôi có thể nêu về việc này.
EC: Yes, we have the minds of the individuals as given, as individuals, and those ideas and ideals of each as concerning the formulation of such plans as outlined.
EC: Vâng, chúng tôi có thể trí của các cá nhân như đã nêu, với tư cách là các cá nhân, và những ý tưởng cùng lý tưởng của mỗi người liên quan đến việc hoạch định những kế hoạch như đã phác thảo.
There may be given, through these sources, that information whereby such conditions might be made—not only as ideals, but as formulated plans of outlining such conditions, and bringing same to that point where they would be workable; for the ideals of the ages stand as the interest of each in their way of manifesting such conditions before the world, and for the world.
Qua các nguồn này có thể được ban cho thông tin nhờ đó những điều kiện như vậy có thể được tạo lập—không chỉ như những lý tưởng, mà như những kế hoạch đã định hình để phác thảo những điều kiện ấy, và đưa chúng đến điểm mà chúng có thể thực thi; vì các lý tưởng của muôn thời đứng vững như mối quan tâm của mỗi người trong cách họ biểu lộ những điều kiện như vậy trước thế giới, và cho thế giới.
In considering such, there are many things for each to consider, and the various phases of same; for such conditions have been the dream of many an individual, and of many with much more material power and prestige than those as would consider such at the present. Same was the idea of Alexander when he sought to conquer the world, yet the tenets of the ideal were forgotten in the desires of the flesh, and while the principles as set forth in the mind and heart of the man as the student under Plato and Archimedes, and Aurilius and others, the man became so gored by the greed of power as to become the loathsome body—as it passes to its reward for the use of the power as given into the hands.
Khi cân nhắc điều đó, mỗi người có nhiều điều phải xét, và những phương diện khác nhau của nó; vì những điều kiện như vậy đã là giấc mơ của biết bao cá nhân, và của nhiều người có quyền lực và thanh thế vật chất lớn hơn nhiều so với những người hiện đang cân nhắc điều này. Điều ấy cũng là ý tưởng của Alexander khi ông tìm cách chinh phục thế giới, tuy nhiên các giáo điều của lý tưởng đã bị quên lãng trong dục vọng của xác phàm, và dẫu những nguyên tắc được đặt ra trong tâm trí và trái tim của người vốn là môn sinh dưới trướng Plato và Archimedes, và Aurilius cùng những người khác, thì con người ấy đã bị lòng tham quyền lực đâm sầm đến mức trở nên một thân phận đáng ghê tởm—và y đi đến quả báo cho việc sử dụng quyền lực được trao vào tay.
Again we find the dream of such power in the mind and the hands of one [Kaiser Wilhelm of Germany, World War I] not yet passed into the reward of deeds and thoughts (for they are deeds done in the body), in that in which the whole world rose, as it were, to subjugate such conditions.
Một lần nữa chúng ta thấy giấc mộng về quyền lực như vậy trong tâm trí và trong tay một người [Kaiser Wilhelm của Đức, Thế chiến I] chưa đi đến quả báo cho các việc làm và tư tưởng (vì đó là những việc làm trong xác phàm), trong đó cả thế giới đã, như thể, vùng dậy để khuất phục những điều kiện như vậy.
Then, where would such as these, in their lowly state—as compared to these—seek that which would become the policy of such an idealistic plan, or the idealistic outlook for such organizations?
Vậy thì, những người này, trong thân phận thấp hèn—so với những người kia—sẽ tìm đâu ra điều có thể trở thành đường lối cho một kế hoạch lý tưởng như vậy, hay tầm nhìn lý tưởng cho những tổ chức như vậy?
Only in Him in whom there was found no guile, and though He were buffeted by man—though He was ridiculed by those in power, though He suffered among those convicted of crime in the flesh, and railings against their fellow man—yet those tenets as were proclaimed by that as the man, making self as the son of man, and through those conditions became the Son of the living God—in these tenets, in these ways and manners, may such conditions be brought to the realization of those that would build an invisible empire within the hearts of men; and seeking then the way for each one as would head each organization as would be necessary, there would be seen that in a short while there may be brought into realization that that would be able to rule—not as an iron rule of the oppressor; not as one seeking to subjugate others to the will—but making the will one with that universal force as is necessary to bring everyone to that throne of grace, of faith, of hope, of love, of all those conditions necessary to build hospitals, churches, roads, loans, and help others to help themselves.
Chỉ ở Nơi mà nơi đó không thấy có gian trá, và dẫu Ngài bị người đời xô đẩy—dẫu Ngài bị những người cầm quyền chế nhạo, dẫu Ngài chịu khổ giữa những người bị kết tội phạm pháp trong xác phàm, và những lời mắng nhiếc chống lại đồng loại—thì những giáo điều đã được công bố bởi Đấng ấy như một con người, tự làm mình như con của loài người, và qua những điều kiện ấy trở thành Con của Thượng đế hằng sống—chính trong các giáo điều này, trong những đường lối và phương thức này, các điều kiện như vậy có thể được đưa đến chỗ hiện thực bởi những ai sẽ xây dựng một đế quốc vô hình trong tâm khảm con người; và rồi tìm kiếm cách thức để mỗi người đứng đầu mỗi tổ chức cần có, thì sẽ thấy rằng chẳng bao lâu có thể đưa đến hiện thực điều có thể cai quản— không như một quyền lực sắt của kẻ áp bức; không như kẻ tìm cách khuất phục người khác theo ý mình—mà là làm cho ý chí trở nên một với mãnh lực phổ quát cần có để đưa mọi người đến ngai ân sủng, đức tin, hy vọng, tình thương, đến tất cả những điều kiện cần thiết để xây dựng bệnh viện, nhà thờ, đường xá, các khoản vay, và giúp người khác tự giúp mình.
Yes, such information may be given—used aright to these as named.
Vâng, thông tin như vậy có thể được ban—nếu những người được nêu dùng nó cho đúng.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) What would be the first steps necessary to take to form such an organization?
(H) Những bước đầu tiên cần thực hiện để hình thành một tổ chức như vậy là gì?
(A) First the choosing of those who would give self in holy communion with this one purpose and, making self right with God, choose to be used as an instrument of good for the saving of the good in human principles; for, as is seen, as has been given, the world awaits the coming of those who will proclaim the day of freedom from the bonds of those who would rule, either through prestige or through political influence, see? Then, ones so chosen by their fitness—as will come through such communion—will be the first to begin. See? For, as each are chosen, through these same forces there may be given their perfect fitness for such elements; for, as in this: As these seek, let’s give to each their place, their niche, their abilities, their conditions, concerning such ideals. To some these are as ideals that may be used, see, for their own personal gains. To others these are as ideals that will be as benefits to the world, see? We are speaking of individuals, as individuals. First, in Edgar Cayce, we find one lowly in heart—ever seeking to do good, as good is understood by the individual, and willing ever to be used as an instrument for the speaking of those in whom such elements of an Arcadia have been the dream of their earthly experience. Giving then to those in charge, or as directors, that individual information necessary to meet each and every condition as arises. In [287] there is found first that necessity of making self’s inner self one with that creative energy that would make an answer of “My spirit beareth witness with Thy Spirit, O God, that I am Thy Son, and willing to be used as an instrument of good toward the giving of mankind the opportunity to know the will of Thy Son as may be manifest through my activities toward my fellow man, in carrying out that which will become the crowning glory of my life, and my service to my fellow man; laying aside those things that so easily beset, and I will run the race as is set before me in Him!” In that as is seen in [943]—that ability to defend those principles as may be given for the direction of such conditions as are necessary to make such elements feasible, plausible, workable and applicable, in the lives of individuals chosen as channels through which such information, such monies, such positions, may be obtained, that such may become possible. Keeping self ever in that way and manner. In that of [4825] there is seen the ability of the use of power and of principle, yet that inner self must be made over again, as it were, in that oneness of the purpose as has often been set in self, yet finds self oft and anon forgetting the way. Keep each not as religion, but as the dictates of the heart to guide, direct, the fellow man—for before each there is set a way, and in that way is set a light. Veer not from same! Let him that is weak of mind or heart not take the handle, for he that ploweth and looketh back is worse than the infidel.
(Đ) Trước hết là chọn những người sẵn sàng hiến mình trong hiệp thông thánh thiện với một mục đích này và, làm cho bản thân trở nên ngay thẳng với Thượng đế, chọn được dùng như một khí cụ của điều thiện nhằm bảo tồn điều thiện trong những nguyên lý nhân sinh; vì, như thấy, như đã được ban, thế giới đang chờ đợi sự xuất hiện của những người sẽ công bố ngày giải phóng khỏi xiềng xích của những kẻ muốn cai trị, dù bằng thế lực hay bằng ảnh hưởng chính trị, thấy chứ? Vậy thì, những người được chọn theo mức độ thích hợp—như sẽ đến qua sự hiệp thông như vậy—sẽ là những người khởi đầu. Thấy chứ? Vì, khi mỗi người được chọn, qua chính những mãnh lực này có thể ban cho sự thích hợp hoàn hảo của họ đối với những yếu tố như vậy; như trong điều này: Khi những người này tìm kiếm, chúng ta hãy trao cho mỗi người vị trí của họ, hốc tường của họ, năng lực của họ, điều kiện của họ, liên quan đến những lý tưởng ấy. Với một số người, đây là những lý tưởng có thể dùng, thấy đó, cho lợi ích riêng. Với người khác, đây là những lý tưởng sẽ mang lợi ích cho thế giới, thấy chứ? Chúng tôi đang nói về các cá nhân, với tư cách cá nhân. Trước hết, nơi Edgar Cayce, chúng tôi thấy một người khiêm nhu trong lòng—luôn tìm làm điều thiện, như điều thiện được cá nhân hiểu, và luôn sẵn sàng được dùng như một khí cụ để nói cho những người mà trong họ những yếu tố của một Arcadia đã là giấc mơ của kinh nghiệm trần thế. Rồi ban cho những người phụ trách, hay các giám đốc, những thông tin cá nhân cần thiết để ứng phó với mọi điều kiện nảy sinh. Nơi [287] trước hết thấy điều cần thiết là làm cho nội ngã của mình nên một với năng lượng sáng tạo khiến có thể đáp lời “Thần linh của tôi làm chứng cùng Thần Linh của Ngài, lạy Thượng đế, rằng con là Con của Ngài, và con sẵn sàng được dùng làm khí cụ của điều thiện để ban cho nhân loại cơ hội biết ý muốn của Con Ngài như có thể hiển lộ qua những hoạt động của con đối với đồng loại, trong việc thực hiện điều sẽ trở nên vinh quang đội triều của cuộc đời con, và sự phụng sự của con với đồng loại; gác qua một bên những điều dễ vướng bận, và con sẽ chạy cuộc đua đã đặt trước mặt con trong Ngài!” Nơi [943]—thấy năng lực bảo vệ những nguyên tắc có thể được ban cho để chỉ đạo những điều kiện cần thiết khiến các yếu tố như vậy khả thi, có lý, vận hành được và ứng dụng được, trong đời sống những cá nhân được chọn làm kênh qua đó thông tin như vậy, tiền bạc như vậy, địa vị như vậy, có thể đạt được, để điều đó có thể trở thành khả hữu. Giữ mình luôn trong con đường và phương thức ấy. Nơi [4825] thấy năng lực sử dụng quyền lực và nguyên tắc, nhưng nội ngã ấy phải được tái tạo, như thể, trong sự duy nhất của mục đích vốn thường được đặt ra nơi bản thân, nhưng bản thân thường và hay quên lối. Đừng giữ mỗi điều ấy như một tôn giáo, mà như mệnh lệnh của trái tim để hướng dẫn, chỉ đạo, đồng loại—vì trước mỗi người đều có một con đường, và trên con đường ấy có một ánh sáng. Chớ rẽ khỏi điều đó! Ai yếu về trí hay tim thì chớ nắm tay cày, vì ai cầm cày mà ngoái lại còn tệ hơn cả kẻ vô tín.
That is all the questions for the present.
Đó là tất cả câu hỏi cho hiện tại.
As given, this may be outlined. These are worthy, will they make themselves one in the purpose as set; for many peoples—in many nations, in many climes—are ready and willing to follow that Light, that Star.
Như đã ban, điều này có thể được phác thảo. Những người này xứng đáng, nếu họ làm mình hợp nhất trong mục đích đã đặt; vì nhiều dân tộc—ở nhiều quốc gia, nhiều miền khí hậu—đã sẵn sàng và sẵn lòng bước theo Ánh Sáng đó, vì Sao đó.
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
[Background: World Affairs reading given to the Norfolk Study Group #1, members of which asked how individuals in the U.S. could “best contribute to the spiritual development and progress of the world?”]
[Hậu cảnh: Buổi đọc về Thế sự được ban cho Nhóm Nghiên cứu Norfolk #1, các thành viên trong nhóm hỏi người ở Hoa Kỳ có thể “đóng góp tốt nhất cho sự phát triển và tiến bộ tinh thần của thế giới” như thế nào?]
Reading 3976-11; April 6, 1933
Buổi đọc 3976-11; Ngày 6 tháng 4, 1933
GC: You will give at this time a comprehensive discussion of how the people of the United States can best contribute to the spiritual development and progress of the world, answering first the question, “Through what measures and by what definite plans can we meet our own difficulties?” and second, “What definite programs should our nation sponsor to promote greater international harmony and peace?” Please present this in such a form that it will be of help and interest to the average reader and may be presented for publication to some periodical from the Norfolk Study Group #1. You will answer the questions which will be asked concerning this.
GC: Lúc này Ông sẽ đưa ra một cuộc bàn luận toàn diện về cách người dân Hoa Kỳ có thể đóng góp tốt nhất cho sự phát triển và tiến bộ tinh thần của thế giới, trả lời trước câu hỏi, “Bằng những biện pháp nào và bởi những kế hoạch xác định nào chúng ta có thể đối diện với những khó khăn của chính mình?” và thứ hai, “Những chương trình cụ thể nào quốc gia chúng ta nên bảo trợ để thúc đẩy sự hòa hợp và hòa bình quốc tế lớn hơn?” Xin trình bày điều này theo hình thức để nó hữu ích và hấp dẫn đối với độc giả phổ thông và có thể được trình lên để xuất bản trên một tạp chí nào đó từ Nhóm Nghiên cứu Norfolk #1. Ông sẽ trả lời các câu hỏi sẽ được nêu liên quan đến việc này.
EC: Yes. As we find—while this is very poorly stated, to obtain any comprehensive outline, for it’s stated backwards:
EC: Vâng. Như chúng tôi thấy—dù điều này được nêu rất chưa chuẩn để có thể thu được một đề cương toàn diện, vì nó được nêu theo lối ngược:
In considering conditions as they exist, and considering as to what individuals may do, and how the government should foster this or that movement, for a greater understanding, it is well that this be considered from the standpoint of what the Group represents first in the lives of individuals, and in the lives of groups, or masses, or classes.
Khi cân nhắc các điều kiện như chúng hiện hữu, và cân nhắc xem các cá nhân có thể làm gì, và chính quyền nên thúc đẩy phong trào này hay nọ như thế nào, để hiểu biết lớn hơn, thì tốt là điều này được xét từ quan điểm của việc Nhóm trước hết đại diện cho điều gì trong đời sống của các cá nhân, và trong đời sống của các nhóm, hay quần chúng, hay các tầng lớp.
Then to consider, too, as to the form of government and the policies of those who formed same, and how the people in their various walks of life have adhered to them, or how those principles have been fostered or furthered in their application in government towards the lives of the government’s constituents.
Rồi cũng cần xét đến hình thức chính quyền và các chính sách của những người đã hình thành nó, và dân chúng trong những nẻo sống khác nhau đã gắn bó với chúng như thế nào, hoặc các nguyên tắc đó đã được nuôi dưỡng hay thúc đẩy ra sao trong ứng dụng của chính quyền đối với đời sống của các thành phần do chính quyền quản lý.
When this, then, has been—or may be—presented from this angle, or view, then there may be given that of a definite nature as to what the group—as individuals, and as a group—may present as some form of application in the experience of individuals, groups, or masses, for consideration by those who are in authority.
Khi điều này, vậy thì, đã được—hoặc có thể được—trình bày từ góc độ này, hay quan điểm này, khi đó có thể ban ra điều mang tính xác định về việc nhóm—với tư cách cá nhân, và với tư cách một nhóm—có thể trình bày một hình thức áp dụng nào đó trong kinh nghiệm của cá nhân, nhóm, hay quần chúng, để những người có thẩm quyền cân nhắc.
For, as He has given, consider those in authority; for the powers that be are ordained from on High.
Vì, như Ngài đã phán, hãy tôn trọng những người có thẩm quyền; vì các quyền bính hiện hữu là do Trên Cao an bài.
Then may there be given through these channels that which may be of help.
Bấy giờ mới có thể ban qua những kênh này những điều hữu ích.
[Background: World Affairs reading given regarding the subject of “present world conditions” and the possibility of an article/paper on the topic.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc về Thế sự được ban liên quan đến chủ đề “tình hình thế giới hiện tại” và khả năng viết một bài báo/đề văn về chủ đề này.]
Reading 3976-12; August 25, 1933
Buổi đọc 3976-12; Ngày 25 tháng 8, 1933
(Q) Are there any warnings regarding the trend of coming events in this or foreign countries which for the benefit of those seeking light should be given out in this paper?
(H) Có cảnh báo nào liên quan đến xu hướng các sự kiện sắp tới ở quốc gia này hay nước ngoài mà vì lợi ích của những người tìm kiếm ánh sáng nên được công bố trong bài này không?
(A) Merely that which has already been presented; or the stress may be made on same in that this is the time when all men—everywhere—should turn to that which is the only aid in and under such conditions.
(Đ) Chỉ là những điều đã được trình bày; hoặc có thể nhấn mạnh lại rằng đây là thời điểm mọi người—khắp nơi—nên quay về với điều là cứu trợ duy nhất trong và dưới những điều kiện như vậy.
(Q) What warnings regarding general physical upheavals or disturbances should be given in this paper?
(H) Những cảnh báo nào liên quan đến các biến động hay rối loạn vật lý tổng quát nên được nêu trong bài này?
(A) These should not be given in this particular paper, see? Only those that have been made reference to in the first paper.
(Đ) Những điều này không nên đưa vào bài này, thấy chứ? Chỉ nêu những điều đã được nhắc trong bài đầu tiên.
(Q) Give the outstanding events which may be expected in the struggle between Great Britain and India.
(H) Nêu những sự kiện nổi bật có thể trông đợi trong cuộc đấu tranh giữa Anh và Ấn Độ.
(A) Those that have already come to pass, in those things that have just happened; in the recognition of the low caste and the outcast, or the untouchables. And this has been accomplished, and will go farther—as pointed out in the present paper.
(Đ) Những điều đã đã xảy ra, trong những điều vừa mới diễn ra; trong sự thừa nhận tầng lớp thấp và những người ngoài lề, hay những người “không được đụng tới”. Và điều này đã được thực hiện, và sẽ tiến xa hơn—như đã chỉ ra trong bài hiện tại.
(Q) Give the outstanding events in Russia through 1938.
(H) Nêu những sự kiện nổi bật ở Nga đến năm 1938.
(A) These should be presented rather after there have been those changes in that to be presented, from that already given; that out of Russia, you see, there may come that which may be the basis of a more world-wide religious thought or trend—see? Then that which may be added, or that may be added at the present time, may be presented. Let’s work with what we’ve got and go step by step; not get the cart before the horse!
(Đ) Những điều này nên được trình bày sau khi có những thay đổi trong phần sẽ được đưa vào, từ điều đã ban; rằng từ nước Nga, thấy đó, có thể xuất hiện điều có thể là nền tảng cho một khuynh hướng hay tư tưởng tôn giáo mang tính toàn cầu hơn—thấy chứ? Vậy thì điều gì có thể bổ sung, hay có thể bổ sung vào lúc này, có thể trình bày. Hãy làm việc với những gì chúng ta có và tiến hành từng bước; đừng đặt cỗ xe trước con ngựa!
(Q) What will be the outcome of the present administration’s plans for economic recovery in the U.S.?
(H) Kết quả của các kế hoạch phục hồi kinh tế của chính quyền hiện tại ở Hoa Kỳ sẽ ra sao?
(A) This will succeed.
(Đ) Điều này sẽ thành công.
(Q) Will there be any trend in the U.S. towards any form of socialism or will the representative form of government meet the needs which will arise?
(H) Ở Hoa Kỳ có xu hướng nào hướng tới một hình thức xã hội chủ nghĩa nào đó không hay hình thức chính quyền đại diện sẽ đáp ứng được những nhu cầu sẽ phát sinh?
(A) Under the present supervision, yes.
(Đ) Dưới sự giám sát hiện tại, có.
(Q) How far will this progress?
(H) Tiến triển đến đâu?
(A) Depends—Until the change has come.
(Đ) Tùy—Cho đến khi sự thay đổi đến.
(Q) What warnings and advice may be given to the people of this country, the U.S., in preparing themselves to meet and make the most of these conditions?
(H) Những cảnh báo và khuyên nhủ nào có thể dành cho người dân quốc gia này, Hoa Kỳ, trong việc chuẩn bị để đối diện và tận dụng tốt nhất những điều kiện này?
(A) That which has been presented, through the turning more and more to that pointed out; as the spirit of that which was in the directing of those influences in the peace at Versailles, that has been so damned by those of other thought that would make capital of same. But that “I am my brother’s keeper, and the blood of my brother will cry out from the ground if we heed not the warnings that were given to those of old.” For, the Lord is the same yesterday, today and forever.
(Đ) Điều đã được trình bày, qua việc quay về nhiều hơn với điều đã chỉ ra; như tinh thần của điều đã có trong việc điều hướng những ảnh hưởng trong hòa ước Versailles, điều mà đã bị những người có tư tưởng khác lên án nặng nề để rồi trục lợi. Nhưng rằng “Ta là người giữ em của ta, và máu của em ta sẽ kêu thấu từ đất nếu chúng ta không lưu ý những cảnh báo đã ban cho người xưa.” Vì, Chúa vẫn như vậy hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
(Q) Give a list of the principal events that will be of major importance to this nation or to the world from the present date through 1938, giving approximate time and place where such events may be expected to occur.
(H) Hãy lập danh sách những sự kiện chủ yếu sẽ có tầm quan trọng lớn đối với quốc gia này hay thế giới kể từ ngày hiện tại đến năm 1938, cho biết thời điểm và nơi chốn gần đúng nơi những sự kiện đó có thể xảy ra.
(A) Let’s don’t get the cart before the horse! Let’s begin with what we have and then add that necessary!
(Đ) Đừng đặt cỗ xe trước con ngựa! Hãy bắt đầu với những gì chúng ta có rồi thêm những điều cần thiết!
(Q) Was the recent storm and high water a warning—etc.?
(H) Cơn bão và mực nước dâng gần đây có phải là một cảnh báo—v.v.?
(A) Again we are seeking that which has little to do with that which is to be presented in the first or basic forces of these!
(Đ) Một lần nữa, chúng ta đang tìm kiếm điều ít liên quan đến điều sẽ được trình bày trong những nền tảng đầu tiên hay các lực cơ bản của những điều này!
(Q) Any other advice to the compilers, as to how we should handle this paper?
(H) Có lời khuyên nào khác dành cho những người biên soạn, về cách chúng tôi nên xử lý bài này?
(A) That there has been presented this in such and such time, see? enumerating those events in the change, in the aspect of the relationships of countries one with another, dealing with the political situations in the various countries; then pointing as to what was presented respecting same. Then that as with internal, see? That then as may be expected to follow. Then there may be given that which may add to or take from that which is presented.
(Đ) Rằng điều này đã được trình bày trong thời điểm như thế này, thấy chứ? liệt kê những sự kiện trong sự thay đổi, trong diện mạo các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau, đề cập đến tình hình chính trị ở các nước khác nhau; rồi chỉ ra điều đã được trình bày liên quan đến các điều ấy. Sau đó là điều liên quan đến nội bộ, thấy chứ? Rồi điều có thể trông đợi tiếp theo. Bấy giờ có thể ban ra điều có thể bổ sung hay lược bỏ khỏi điều đã trình bày.
[Background: Reading given to a sixty-seven-year-old male missionary which discussed how to bring about the betterment of “world affairs.”]
[Hậu cảnh: Buổi đọc được ban cho một nam giáo sĩ truyền giáo 67 tuổi, bàn về cách đem lại sự cải thiện cho “thế sự”.]
Reading 1598-2; May 29, 1938
Buổi đọc 1598-2; Ngày 29 tháng 5, 1938
In relationships to world conditions:
Trong các mối tương quan với tình hình thế giới:
Any who seek such information, as we have indicated, had best be in the position to do something about same. For that given becomes then not only a duty but an obligation upon the part of those to whom such may be given, in the nature of the relationships that exist.
Bất kỳ ai tìm kiếm thông tin như vậy, như chúng tôi đã chỉ ra, tốt nhất nên ở vị thế có thể làm điều gì đó đối với điều ấy. Vì điều được ban khi ấy trở thành không chỉ là một bổn phận mà còn là một nghĩa vụ của những người mà điều ấy được ban cho, xét theo bản chất của các mối tương quan hiện hữu.
As has been given, however, that which has prevented and does prevent the whole of civilization becoming a turmoil is the attempt of those who have the ideals of the Prince of Peace at heart! And as of old, the prayers of ten may save a city; the prayers of twenty-five may save a nation—as the prayers and activities of one may! but in union there is strength.
Tuy nhiên, như đã ban, điều đã ngăn cản và đang ngăn cản cả nền văn minh trở thành hỗn loạn chính là nỗ lực của những người mang lý tưởng của Vị Vương Tử Hòa Bình trong tim! Và như thời xưa, lời cầu nguyện của mười người có thể cứu một thành; lời cầu nguyện của hai mươi lăm người có thể cứu một quốc gia—như lời cầu nguyện và hành động của một người cũng có thể! nhưng hiệp nhất thì có sức mạnh.
Then if that purpose would be kept, then it must ever be kept in mind that we are our brother’s keeper!
Vậy nếu mục đích ấy muốn được giữ gìn, thì luôn phải ghi nhớ rằng chúng ta là người giữ em của mình!
[Background: World Affairs reading given in preparation for the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a discussion on “National and International affairs.”]
[Hậu cảnh: Buổi đọc về Thế sự được ban để chuẩn bị cho kỳ Đại hội thường niên của các hội viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là bàn về “Các vấn đề Quốc gia và Quốc tế.”]
Reading 3976-18; June 20, 1938
Buổi đọc 3976-18; Ngày 20 tháng 6, 1938
GC: You will have before you the work of the Ass’n for Research and Enlightenment, Inc., in studying and presenting the psychic work of Edgar Cayce. It is desired to present on Monday evening, June 27th, material presented through this channel, for the Seventh Annual Congress, on National and International affairs which will be in keeping with the ideal and purposes of the work being undertaken by the Association. You will consider the type of audience which will be present, the need for informative information which will not be spectacular or sensational, yet that will be constructive. Advise us also as to the manner of presentation. You will give the first discourse on this subject.
GC: Trước mặt Ông sẽ có công việc của Hiệp hội Nghiên cứu và Khai sáng, Inc., trong việc nghiên cứu và trình bày công trình thông linh của Edgar Cayce. Mong muốn trình bày vào tối thứ Hai, ngày 27 tháng 6, tư liệu được ban qua kênh này, cho Kỳ Đại hội lần thứ bảy, về các vấn đề Quốc gia và Quốc tế và sẽ phù hợp với lý tưởng và mục đích của công việc đang được Hiệp hội đảm trách. Ông sẽ cân nhắc loại thính giả sẽ hiện diện, nhu cầu về thông tin mang tính cung cấp tri thức mà không giật gân hay câu khách, nhưng mang tính xây dựng. Xin cũng tư vấn cách thức trình bày. Ông sẽ đưa ra bài diễn thuyết đầu tiên về chủ đề này.
EC: Yes, we have the work of the Association for Research and Enlightenment, Inc., and the policies and ideals and purposes of same; as related to National and International affairs that would not be spectacular but constructive—and in keeping with the ideals.
EC: Vâng, chúng tôi có công việc của Hiệp hội Nghiên cứu và Khai sáng, Inc., và các chính sách, lý tưởng và mục đích của tổ chức; khi liên hệ đến các vấn đề Quốc gia và Quốc tế theo hướng không giật gân mà xây dựng—và phù hợp với các lý tưởng.
As has been and is being understood by many, there are changes being wrought in the nation, as well as in the inter-relationships with other nations.
Như đã và đang được nhiều người hiểu, có những thay đổi đang được tạo tác trong quốc gia, cũng như trong các mối tương quan với các quốc gia khác.
All of these may be considered from the one angle.
Tất cả những điều này có thể được xét từ một góc độ.
It is also understood, comprehended by some, that a new order of conditions is to arise; that there must be many a purging in high places as well as low; that there must be the greater consideration of each individual, each soul being his brother’s keeper.
Cũng có những người hiểu, lĩnh hội rằng một trật tự điều kiện mới sẽ trỗi dậy; rằng cần có nhiều cuộc gột rửa ở chốn cao cũng như nơi thấp; rằng cần phải quan tâm lớn hơn đến từng cá nhân, từng linh hồn là người giữ em của mình.
There will then come about those circumstances in the political, the economic and the whole relationships where there will be a leveling—or a greater comprehension of this need.
Rồi sẽ xuất hiện những hoàn cảnh trong chính trị, kinh tế và toàn bộ các mối tương quan nơi đó sẽ có một sự cân bằng—hoặc một sự thấu hiểu lớn hơn về nhu cầu này.
For as the time or the period draws near for these changes that come with the new order, it behooves all of those who have an ideal—as individuals, as well as groups or societies or organizations, to be practicing, applying same in their experience—and their relationships as one to another.
Vì khi thời điểm hay giai đoạn của những thay đổi đi cùng trật tự mới đến gần, tất cả những ai có một lý tưởng—với tư cách cá nhân, cũng như nhóm hay đoàn thể hay tổ chức—cần thực hành, áp dụng điều đó trong kinh nghiệm của mình—và trong các mối tương quan của họ với nhau.
For unless these are up and doing, then there must indeed be a new order in their relationships and their activities.
Vì nếu những người này không đứng dậy và hành động, thì thật sự sẽ phải có một trật tự mới trong các mối tương quan và các hoạt động của họ.
For His ways will carry through. For as He gave, “Though the heavens and the earth may pass away, my word will not pass away.”
Vì đường lối của Ngài sẽ đi đến cùng. Vì như Ngài đã phán, “Dẫu trời đất có qua đi, lời Ta sẽ không qua đi.”
All too often has this message been forgotten in the pulpits and in the organizations, not only in the national relationships but in the international relationships.
Thông điệp này đã bị lãng quên quá nhiều lần nơi giảng đường và trong các tổ chức, không chỉ trong các mối tương quan quốc gia mà cả trong quốc tế.
And as the dealings are as one to another, unless these are in keeping with those tenets they must fail; for all power in heaven and in earth hath been given into His hands.
Và khi cư xử với nhau, nếu những điều này không phù hợp với các giáo điều ấy, chúng ắt sẽ thất bại; vì mọi quyền năng trên trời và dưới đất đã được trao vào tay Ngài.
Then as we approach all phases of human relationships, these must be taken into consideration.
Vậy khi chúng ta tiếp cận mọi phương diện của các mối tương quan nhân sinh, những điều này phải được cân nhắc.
And there cannot be one measuring stick for the laborer in the field and the man behind the counter, and another for the man behind the money changers. All are equal—not only under the material law but under the spiritual.
Và không thể có một thước đo cho người lao động ngoài đồng và người sau quầy, và một thước đo khác cho kẻ đứng sau các bàn đổi tiền. Tất cả đều bình đẳng—không chỉ dưới luật vật chất mà cả dưới luật tinh thần.
And His laws, His will, will not come to naught!
Và luật của Ngài, ý muốn của Ngài, sẽ không trở nên vô ích!
Though there may come those periods when there will be great stress, as brother rises against brother, as group or sect or race rises against race—yet the leveling must come.
Dẫu sẽ đến những thời kỳ có cơn căng thẳng lớn, khi anh nổi lên chống anh, khi nhóm hay giáo phái hay chủng tộc nổi lên chống chủng tộc—nhưng sự cân bằng ắt phải đến.
And only those who have set their ideal in Him and practiced it in their dealings with their fellow man may expect to survive the wrath of the Lord.
Và chỉ những ai đã đặt lý tưởng của mình trong Ngài và thực hành nó trong cách đối đãi với đồng loại mới có thể mong tồn tại qua cơn thịnh nộ của Chúa.
In thy dealings, then—whether at home, in thy dealings with state or the national situations, or the international affairs—there must come all under that purpose, that desire.
Vậy trong cách đối đãi của ngươi—dù ở nhà, trong cách đối đãi với các tình huống của bang hay quốc gia, hay các vấn đề quốc tế—tất cả đều phải đến dưới mục đích, ước muốn đó.
And then there should be, there will be those rising to power that are able to meet the needs. For none are in power but that have been given the opportunity by the will of the Father—from which all power emanates.
Rồi sẽ có, sẽ có những người trỗi dậy nắm quyền có thể đáp ứng nhu cầu. Vì chẳng ai ở trong quyền bính mà không được ban cơ hội bởi ý muốn của Chúa Cha—từ đó mọi quyền năng phát xuất.
Hence those will be leveled with the purpose, “My word shall not fail!”
Do đó những người ấy sẽ được cân đong với mục đích, “Lời Ta sẽ không hư mất!”
In presenting such—well that it be given as extract, or as that from such sources to be used or taken as those present see fit.
Khi trình bày như thế—nên đưa dưới dạng trích lục, hoặc như những phần từ các nguồn như vậy để những người hiện diện sử dụng hay chọn dùng theo sự thấy phù hợp.
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
[Background: Follow-up World Affairs reading given during the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a continuation of the discussion on “National and International affairs.”]
[Hậu cảnh: Buổi đọc tiếp nối về Thế sự được ban trong kỳ Đại hội thường niên của các hội viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là tiếp tục bàn luận về “Các vấn đề Quốc gia và Quốc tế.”]
Reading 3976-19; June 24, 1938
Buổi đọc 3976-19; Ngày 24 tháng 6, 1938
GC: You will continue at this time the information given Monday, June 20th, on National and International affairs, which is to be presented at the Congress meeting on Monday, June 27th. Please continue this discourse, applying the general principles outlined to present conditions in America and other countries. You will answer the questions that may be asked.
GC: Lúc này Ông sẽ tiếp tục những thông tin đã ban hôm thứ Hai, ngày 20 tháng 6, về các vấn đề Quốc gia và Quốc tế, sẽ được trình bày tại phiên họp Đại hội vào thứ Hai, ngày 27 tháng 6. Xin tiếp tục diễn từ này, áp dụng các nguyên tắc chung đã phác ra vào các điều kiện hiện tại ở Hoa Kỳ và các nước khác. Ông sẽ trả lời các câu hỏi có thể được nêu.
EC: Since the application of those truths or tenets as indicated becomes the basic needs of the peoples of every land in the present, to be sure it behooves those in America—then—to apply same in their dealings with the situations that exist respecting the political, the economic and the general situations throughout the land.
EC: Vì việc áp dụng những chân lý hay giáo điều đã nêu trở thành nhu cầu căn bản của các dân tộc mọi miền ở hiện tại, nên ắt hẳn điều đó khiến những người ở Hoa Kỳ—vậy thì—áp dụng những điều này trong cách họ đối đãi với những tình huống đang hiện hữu liên quan đến chính trị, kinh tế và các tình huống chung khắp cả nước.
This at the first glance may appear to be an impractical thing; yet these are the conditions to be met:
Thoạt nhìn, điều này có vẻ bất khả thi; tuy nhiên đây là những điều kiện cần đối mặt:
Every phase of human experience and human relationship must be taken into consideration; just as indicated from that given, that we are our brother’s keeper.
Mọi phương diện của kinh nghiệm nhân sinh và các mối tương quan nhân sinh phải được cân nhắc; đúng như đã chỉ ra từ điều đã ban, rằng chúng ta là người giữ em của mình.
Then if those in position to give of their means, their wealth, their education, their position, do not take these things into consideration, there must be that leveling that will come.
Vậy nếu những người ở vị thế có thể trao ban của cải, học vấn, địa vị của họ, không cân nhắc những điều này, thì ắt phải có sự cân bằng sẽ đến.
For unless these are considered, there must eventually become a revolution in this country—and there will be a dividing of the sections as one against another. For these are the leveling means and manners to which men resort when there is the plenty in some areas and a lack of the sustenance in the life of others.
Vì nếu những điều này không được cân nhắc, rốt cuộc ắt sẽ xảy ra một cuộc cách mạng ở đất nước này—và sẽ có sự chia cắt các miền chống đối nhau. Vì đây là những phương cách cân bằng mà con người sử dụng khi nơi nào đó thì sung túc còn nơi khác thì thiếu sinh kế.
These are the manners in which such things as crime, riots and every nature of disturbance arise—in that those who are in authority are not considering every level, every phase of human activity and human experience.
Đó là cách mà những thứ như tội phạm, bạo loạn và đủ loại rối loạn phát sinh—khi những người có thẩm quyền không cân nhắc mọi tầng lớp, mọi phương diện của hoạt động và kinh nghiệm nhân sinh.
We find these conditions have been in other lands centralized, localized into individual activities—as in Russia, Italy, Germany; the conditions that exist in Spain, in China, in Japan are what? The oppression of the producers by those for whom and to whom such power has come to be used as their opportunity for becoming their brother’s keeper; and not as represented in some lands, the disregarding of the other’s rights.
Chúng ta thấy những điều kiện này ở các xứ khác đã được tập trung, địa phương hóa vào các hoạt động cá nhân—như ở Nga, Ý, Đức; những điều kiện đang hiện hữu ở Tây Ban Nha, Trung Hoa, Nhật Bản là gì? Sự áp bức những người sản xuất bởi những kẻ mà đối với họ và trong tay họ quyền lực như vậy đã đến để được dùng như cơ hội trở thành người giữ em của mình; chứ không như điều thể hiện ở một số xứ sở, là phớt lờ quyền của người khác.
Then those who are in power must know that they are their brother’s keeper, and give expression to that which has been indicated in “Thou shalt love the Lord with all they heart and mind and body, and thy neighbor as thyself.”
Vậy những người đang nắm quyền phải biết rằng họ là người giữ em của mình, và bày tỏ điều đã được chỉ ra trong “Ngươi phải kính mến Chúa hết lòng, hết trí và hết thân, và yêu người lân cận như chính mình.”
This rule must be applied. It is true that some of those factions in Russia this is an attempt, yet there are those who have applied and do apply same in not only the economic life but attempt to in the mental and spiritual life. And this brings or works hardships where it should not be.
Quy luật này phải được áp dụng. Đúng là trong một số phe phái ở Nga đây là một nỗ lực, nhưng vẫn có những người đã và đang áp dụng điều này không chỉ trong đời sống kinh tế mà còn cố gắng trong đời sống trí tuệ và tinh thần. Và điều này tạo ra hay gây nên những gian khó nơi lẽ ra không nên có.
True, in other lands—whether the Communism, the Fascism or the Nazi regime—these are missions to be filled, and these are opportunities. But when there becomes class or mass distinction between this or that group, this or that party, this or that faction, then it becomes a class rather than “thy neighbor as thyself.”
Đúng vậy, ở các xứ khác—dù là Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Phát xít hay chế độ Quốc Xã—những điều này có sứ mệnh để hoàn thành, và đó là cơ hội. Nhưng khi trở thành phân biệt giai tầng hay quần chúng giữa nhóm này hay nhóm kia, đảng này hay đảng kia, phe này hay phe kia, thì nó trở thành phe phái hơn là “người lân cận như chính mình.”
For all stand as one before Him. For the Lord is not a respecter of persons, and these things cannot long exist.
Vì mọi người đều đứng như một trước mặt Ngài. Vì Chúa không thiên vị ai, và những điều này không thể tồn tại lâu.
From the conditions in these other lands, then, America—the United States—must take warning.
Từ những điều kiện ở các xứ sở khác, Hoa Kỳ—Hợp Chúng quốc—phải lấy làm cảnh báo.
For to whom does the wealth belong? to whom do the possibilities of the land belong?
Vì của cải thuộc về ai? tiềm năng của đất đai thuộc về ai?
Does it belong to those who have inherited it, to those who have been given the positions by power? or to those who have by their labor, by the sweat of their brow produced same?
Nó thuộc về những người thừa kế, những người được trao địa vị bằng quyền lực? hay thuộc về những người nhờ lao động, mồ hôi trán tạo ra điều đó?
Not that all would be had in common as in the communistic idea, save as to keep that balance, to keep that oneness, to keep that association of ideas, of activity, of the influences throughout the experiences of all. These are to be kept in those attunements in which there may be the land itself defining what freedom is; in that each soul is by his own activity to be given the opportunity of expression, of labor, of producing.
Không phải mọi thứ đều chung như trong ý niệm cộng sản, mà là để giữ sự thăng bằng, giữ sự đơn nhất, giữ sự cộng thông của ý tưởng, của hoạt động, của ảnh hưởng xuyên suốt kinh nghiệm của mọi người. Những điều này cần được giữ trong những hòa điệu mà ở đó chính miền đất định nghĩa tự do là gì; ở chỗ mỗi linh hồn, bằng hoạt động riêng của mình, được cho cơ hội biểu đạt, lao động, sản xuất.
But all of these, also, are not to say where or what, but are to seek through their own ability, their own activity, to give that of themselves that is in keeping with those who labor in the vineyard of the Lord.
Song tất cả những điều này cũng không phải để nói rằng ai ở đâu hay làm gì, mà là mỗi người phải tìm, qua năng lực riêng của mình, hoạt động riêng của mình, để dâng hiến phần của chính mình phù hợp với những người lao động trong vườn nho của Chúa.
Hence these may apply in the national and international relationships.
Do đó những điều này có thể áp dụng trong các mối tương quan quốc gia và quốc tế.
For there must come, first, a stabilization of the monetary unit. There must come then the exchange of commodities or of trade in a way and manner in which not merely sections, not merely distinctions made of one portion of the land against one another, but all are taken into consideration.
Vì trước hết phải có sự ổn định của đơn vị tiền tệ. Rồi phải có việc trao đổi hàng hóa hay thương mại theo cách thức mà không chỉ là các miền, không chỉ là phân biệt vùng này chống vùng kia, mà tất cả đều được cân nhắc.
Unless this is done, turmoils and strifes will arise. And that which has made and does make the people of America afraid, is the fear of servitude in any manner!
Nếu điều này không được thực hiện, xáo trộn và tranh chấp sẽ phát sinh. Và điều đã khiến và đang khiến người dân Hoa Kỳ sợ hãi, chính là nỗi sợ bị nô dịch theo bất kỳ cách nào!
All, though, must learn that those who are to be the greater, those who would make the greater contributions to activity in every sphere and phase of influence, are to be the servants of all; not those who would be lords over others.
Tất cả, tuy vậy, phải học rằng ai muốn lớn hơn, ai muốn cống hiến lớn hơn trong hoạt động ở mọi lãnh vực và phương diện ảnh hưởng, thì phải là kẻ phục vụ mọi người; không phải những kẻ muốn làm chúa trên người khác.
For the Lord so loved the world as to give His only begotten Son, that whosoever would might know that life in its manifestations, in its expressions and relationships and dealings as one to another is not a gouging, not a “gimmie”, not a hate—not those things that belittle, but those that create hope, faith and understanding in the minds and the hearts of men everywhere!
Vì Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai muốn thì có thể biết sự sống trong biểu hiện của nó, trong bày tỏ và trong đối đãi của người với người không phải bằng sự trục lợi, không phải “đưa đây”, không phải hận thù—không phải những điều làm thấp hèn, mà là những điều tạo ra hy vọng, đức tin và sự thấu hiểu trong tâm trí và trái tim con người khắp nơi!
All that is for the sustenance of life is produced from the soil. Then there must be a return to the soil. Every man must be in that position that he at least creates, by his activities, that which will sustain the body—from the soil; or where he is supplying same to those activities that bring such experiences into the lives of all.
Mọi điều duy trì sự sống đều sản xuất từ đất. Vậy phải trở về với đất. Mỗi người phải ở vị thế mà ít nhất bằng hoạt động của mình tạo nên, từ đất, điều sẽ nuôi sống thân xác; hoặc nơi người ấy cung ứng điều đó cho những hoạt động mang những kinh nghiệm như vậy vào đời sống của mọi người.
For of dust the body is made, and of dust the sustenance of same comes.
Vì thân xác được làm bằng bụi đất, và sự nuôi sống thân xác cũng đến từ bụi đất.
Then the mind and the spirit, in accord with those things indicated, will bring into the experiences of all that relationship one to another wherein that all are brethren. For these must bring and keep peace one with another.
Rồi tâm trí và tinh thần, thuận hòa với những điều đã chỉ ra, sẽ đưa vào kinh nghiệm của mọi người mối tương quan người với người nơi đó tất cả đều là huynh đệ. Vì những điều này phải đem đến và gìn giữ hòa bình giữa người với người.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Make such comment as may be presented on the following affairs, as I name them: The unemployment situation in America.
(H) Xin bình luận như có thể về các vấn đề sau đây, theo tôi sẽ nêu: Tình trạng thất nghiệp ở Hoa Kỳ.
(A) In all of those centers or areas there must be more and more return to the toil upon the land, and not so much of the makeshift of labor in specific or definite fields. For unless this comes, there must and will come disruption, turmoil and strife.
(A) Trong tất cả các trung tâm hay khu vực ấy cần phải ngày càng quay trở lại với lao tác trên đất đai, chứ không quá sa vào những giải pháp tạm bợ của việc làm trong các lĩnh vực chuyên biệt hay cố định. Vì nếu điều này không diễn ra, thì ắt hẳn và chắc chắn sẽ đến cảnh đổ vỡ, xáo trộn và tranh chấp.
(Q) Labor and capital in America.
(Q) Lao động và tư bản ở Mỹ.
(A) Unless there is the give and the take, and the considerations of those that produce—so that they have as much of the use and the division of the excess and profits of the labors—there must be brought greater turmoils in the land.
(A) Nếu không có sự nhường nhịn và tương hỗ, và sự lưu tâm đến những người sản xuất—để họ được hưởng quyền sử dụng và phần phân chia thặng dư, lợi tức từ công lao động tương xứng—thì trong xứ sở ắt sẽ dấy lên những xáo trộn lớn hơn.
(Q) The Japanese and Chinese situation.
(Q) Tình hình Nhật Bản và Trung Hoa.
(A) These bespeak of themselves that which is happening and has happened. But might does not make right. Rather will the principles of the Christian faith be carried forward in and through the turmoils that are a part of both China and Japan. For without those cleansings and purifyings, tradition alone may not be destroyed. For it is through the purging that the strength and beauty of each will come forth.
(A) Những điều ấy tự thân đã nói lên cái đang và đã xảy ra. Nhưng sức mạnh không làm nên chính nghĩa. Đúng hơn, các nguyên tắc của đức tin Cơ Đốc sẽ được mang tiến qua và trong những cơn xáo trộn vốn là một phần của cả Trung Hoa lẫn Nhật Bản. Vì nếu thiếu những cuộc tẩy rửa và thanh lọc ấy, thì truyền thống tự thân sẽ không thể bị phá bỏ. Bởi chính qua sự thanh tẩy mà sức mạnh và vẻ đẹp của mỗi bên sẽ hiển lộ.
(Q) The Spanish situation.
(Q) Tình hình Tây Ban Nha.
(A) This is that whereunto the real troubles, here, are only beginning. For unless there is to be the consideration given to each factor, then others will come in and devour the spoils. This is the outcome of seed sown in the ages past, and from same man can—as a whole—and should take warning.
(A) Đây là nơi mà những rắc rối thực sự, ở đây, mới chỉ bắt đầu. Vì trừ phi người ta chịu xét đến từng yếu tố, thì những kẻ khác sẽ ùa vào và nuốt trọn chiến lợi phẩm. Đây là kết quả của những hạt giống đã gieo từ các thời đại trước, và từ đó nhân loại—như một toàn thể—có thể và nên rút lấy lời cảnh tỉnh.
(Q) The Russian situation.
(Q) Tình hình Nga.
(A) As we have indicated, here a new understanding has and will come to a troubled people. Here, because of the yoke of oppression, because of the self-indulgences, has arisen another extreme. Only when there is freedom of speech, the right to worship according to the dictates of the conscience—until these come about, still turmoils will be within.
(A) Như chúng ta đã chỉ ra, tại đây một hiểu biết mới đã và sẽ đến với một dân tộc khốn đốn. Tại đây, vì ách áp bức, vì sự tự phóng túng, đã nảy sinh một cực đoan khác. Chỉ khi có tự do ngôn luận, quyền thờ phượng theo tiếng gọi của lương tâm—cho đến khi những điều ấy thành hiện thực, thì bên trong vẫn sẽ còn xáo trộn.
(Q) The German situation, within its own country and its relations with others.
(Q) Tình hình Đức, trong nước mình và trong quan hệ với các nước khác.
(A) A man that represents a country—so long as there is class and mass distinction, there must be turmoils and strife. But so long as the powers are held within those whose purposes and ideals are that of “I am my brother’s keeper,” and not forcing self upon same. Being the brother’s keeper does not mean that “I am to tell him what to do, or that he is to do this or that irrespective,” but rather that all are free before the law and before God.
(A) Một người đại diện cho một quốc gia—bao lâu còn có phân biệt giai tầng và quần chúng, bấy lâu ắt phải có xáo trộn và tranh chấp. Nhưng bao lâu quyền lực ở trong tay những người có mục đích và lý tưởng là “Ta là người gìn giữ cho anh em ta”, chứ không áp đặt cái tôi lên họ. Làm người gìn giữ cho anh em không có nghĩa là “Ta phải bảo y làm gì, hay y phải làm điều này điều kia bất chấp,” mà là mọi người đều tự do trước pháp luật và trước Thượng đế.
(Q) The Italian situation internally and in relation with others.
(Q) Tình hình Ý nội bộ và trong quan hệ với các nước khác.
(A) This is being rather an outgrowth; and the dictatorship is becoming more and more in line with those policies of peace—and will bring peace to many another disturbed quarter and section.
(A) Đây là một sự phát sinh kế tiếp; và chế độ độc tài đang ngày càng đi theo các chính sách hòa bình—và sẽ đem hòa bình đến cho nhiều khu vực, địa hạt rối ren khác.
(Q) The British situation in its own country and in relation to its colonies.
(Q) Tình hình Anh quốc trong nước mình và trong quan hệ với các thuộc địa.
(A) This is being balanced, or is the balancing power in the European land as well as in the Far East.
(A) Nước này đang được cân bằng, hay đang là thế lực cân bằng tại lục địa Âu châu cũng như ở Viễn Đông.
And when those activities are set that will bring the consideration of every phase, more and more will it be able to control the world for peace. In France we find that where an old debt must eventually be paid.
Và khi những hoạt động được thiết lập nhằm đem lại sự lưu tâm tới mọi phương diện, thì ngày càng hơn, quốc gia ấy sẽ có thể điều hướng thế giới theo hòa bình. Ở Pháp, chúng ta nhận thấy có một món nợ xưa rốt cuộc phải được thanh toán.
We are through for the present.
Hiện thời chúng ta tạm kết thúc.
[Background: World Affairs reading given on the topic of “the international situations existing or arising at this time” (1938).]
[Bối cảnh: Buổi đọc Thời sự Thế giới về chủ đề “các tình hình quốc tế đang tồn tại hoặc đang phát sinh vào thời điểm này” (1938).]
Reading 3976-20; September 27, 1938
Buổi đọc 3976-20; 27 tháng 9, 1938
GC: You will have before you the enquiring mind of Leslie Savage, of 109 Pennington Avenue, Passaic, New Jersey, and the members of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., who are interested in the international situations existing or arising at this time. In view of the circumstances and conditions, what should be the attitude of the leader of our government, Franklin D. Roosevelt, and what should he do at this time? You will answer the questions that may be asked.
GC: Trước ông sẽ là tâm trí truy vấn của Leslie Savage, ở 109 Pennington Avenue, Passaic, New Jersey, và các thành viên của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng, Inc., những người quan tâm đến các tình hình quốc tế đang tồn tại hoặc đang phát sinh vào thời điểm này. Xét các hoàn cảnh và điều kiện, vị lãnh đạo chính quyền của chúng ta, Franklin D. Roosevelt, nên có thái độ gì và nên làm gì vào lúc này? Ông sẽ trả lời các câu hỏi có thể được nêu.
EC: Yes, we have the conditions that are arising in the international situations in the present; and as we find, the purposes and ideals of the members of the Association for Research and Enlightenment.
EC: Vâng, chúng ta có những điều kiện đang nảy sinh trong các tình hình quốc tế hiện tại; và như chúng ta thấy, những mục đích và lý tưởng của các thành viên Hiệp hội Nghiên cứu và Khai Sáng.
In view of these—this, as we find, is the counsel as might be offered in the present:
Xét những điều này— điều này, như chúng ta thấy, là lời khuyên có thể được đưa ra trong hiện tại:
Conditions have advanced to such a tempo that to attempt to interfere would be rather to be drawn into the conditions that are arising and that will arise.
Các điều kiện đã tiến đến một nhịp độ mà nếu tìm cách can thiệp thì sẽ dễ bị cuốn vào chính các điều kiện đang và sẽ phát sinh.
Rather, then, the policy should be to—in a brotherly manner—quiet as far as possible the fears of the peoples of the country as a nation; and advise all in their attitudes to not do or say that as would be in any manner a cause for animosities or hates to arise among the peoples of the land.
Đúng hơn, chính sách nên là—bằng cung cách huynh đệ—trấn an tối đa nỗi sợ của người dân trong nước như một quốc gia; và khuyên mọi người trong thái độ của mình đừng làm hay nói điều gì theo bất cứ cách nào có thể gây hiềm khích hay hận thù nảy sinh giữa dân chúng trong xứ sở.
For all are brethren, and there are those of the nation that are bound up in the conditions of all those countries and peoples that are becoming involved in the situations.
Vì mọi người đều là huynh đệ, và có những người trong quốc gia đang gắn bó với các điều kiện của tất cả những xứ sở và dân tộc đang bị cuốn vào các tình hình ấy.
Hence, the advice and counsel, the activities should be towards those as they would be towards brethren—where disputes or disturbances have arisen.
Do đó, lời khuyên và chỉ dẫn, các hoạt động nên hướng đến họ như đối với huynh đệ—nơi nào đã phát sinh tranh chấp hay rối loạn.
Not merely as a pacifist attitude of peace at any cost, but rather as that of equity, or equality, of the correct attitude of nation or brother as with brother, in respect to the whole situation.
Không chỉ như một thái độ chủ hòa chấp nhận hòa bình bằng bất kỳ giá nào, mà đúng hơn như tinh thần công bằng, bình đẳng, thái độ đúng đắn của quốc gia hay người anh em đối với anh em, xét trên toàn cảnh.
These, then, with the necessary preparedness for the meeting of all emergencies in any direction that may be taken by those who allow their hates and their disputes to overcome or to put aside brotherly love.
Những điều này, kèm theo sự sẵn sàng cần thiết để ứng phó mọi tình huống khẩn cấp theo bất kỳ hướng nào có thể bị những kẻ để cho hận thù và tranh chấp lấn át hoặc gạt bỏ tình huynh đệ lợi dụng.
For it is as brother against brother in the disputes.
Bởi trong các tranh chấp ấy là anh em chống lại anh em.
And know that all stand as one before the judgement bar of the Creator.
Và hãy biết rằng mọi người đều đứng như một trước tòa phán xét của Đấng Tạo Hóa.
Hence prayer, and more prayer; and as we have given, live toward one another as a nation, as a brother nation to the others—on either side—as ye pray!
Vì thế cầu nguyện, và càng cầu nguyện hơn; và như chúng ta đã nói, hãy sống đối với nhau như một quốc gia, như một quốc gia anh em đối với các quốc gia khác—ở cả hai phía—như các ngươi cầu nguyện!
Do not pray one way and live another! Be consistent, be persistent.
Đừng cầu nguyện một đằng mà sống một nẻo! Hãy nhất quán, hãy kiên trì.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) May any other constructive or helpful information be given now regarding conditions over the country?
(Q) Lúc này có thể đưa ra thông tin xây dựng hay hữu ích nào khác liên quan đến tình hình khắp đất nước không?
(A) Keep in that manner of unity of purpose in a service to the fellow man, in God’s service through His love for His fellow man.
(A) Hãy giữ lối hợp nhất mục đích trong sự phụng sự đồng loại, trong sự phụng sự Thượng đế qua Tình thương của Ngài dành cho đồng loại.
We are through for the present.
Hiện thời chúng ta tạm kết thúc.
[Background: World Affairs reading given on the topic of “the true spirit of Thanksgiving.”]
[Bối cảnh: Buổi đọc Thời sự Thế giới về chủ đề “tinh thần đích thực của Lễ Tạ Ơn.”]
Reading 3976-21; November 20, 1938
Buổi đọc 3976-21; 20 tháng 11, 1938
GC: You will give at this time information which may stimulate in the hearts and minds of those gathered here a greater appreciation of the true spirit of Thanksgiving, and which may be to all those to whom it is sent an inspiration and an explanation for Thanksgiving even in the face of personal problems and spreading world-wide fears and hatreds that seem to dominate so many minds today.
GC: Lần này ông sẽ đưa ra thông tin có thể khơi dậy trong lòng và trí của những người tụ họp ở đây sự trân trọng lớn hơn về tinh thần đích thực của Lễ Tạ Ơn, và có thể trở thành nguồn cảm hứng và lời giải thích cho Lễ Tạ Ơn đối với tất cả những ai được gửi đến, ngay cả khi đối diện với các vấn đề cá nhân và nỗi sợ cùng hận thù lan rộng khắp thế giới dường như đang thống trị rất nhiều tâm trí hôm nay.
EC: Yes, we have the subject here; and many there be that appear with the desire to give their own interpretation upon such a subject. But rather would we choose—from the more universal need of those here, as well as mankind everywhere—that thought, that purpose, that attribute of man’s choice to show, to give thanksgiving for not only the blessings as may be the experience of many but the fuller meaning of the appreciation of Life itself and the opportunity which is offered to all through same to become more and more aware of their relationship to the Creative Force or God.
EC: Vâng, chúng ta có chủ đề ở đây; và có nhiều người xuất hiện với khao khát đưa ra diễn giải riêng của mình về một chủ đề như thế. Nhưng đúng hơn, chúng ta muốn chọn—từ nhu cầu phổ quát hơn của những người có mặt ở đây, cũng như của nhân loại khắp nơi—tư tưởng, mục đích, phẩm tính về sự chọn lựa của con người nhằm biểu lộ, dâng lời tạ ơn không chỉ vì các phước lành là kinh nghiệm của nhiều người mà còn vì ý nghĩa sâu rộng hơn của việc trân quý chính Sự sống và cơ hội được trao cho mọi người qua đó để ngày càng ý thức về mối liên hệ của họ với Lực Sáng Tạo hay Thượng đế.
It is well that ye be reminded, then, of how—in those periods when there were the preparations in the lives and experiences of a peculiar people, under unusual circumstances, in extraordinary environments—they were reminded, not in their days of plenty but in the days when each day they were given only sufficient for that day, that periods were to be, should be, set aside when thanksgiving was to be a part of their activity—their remembrances for all the joys, the sorrows, the disappointments, the hopes that were and might be theirs if—if—they would but hold to those promises; relying—as it was necessary in those days, those hours, for a complete dependence—upon the bounty of a merciful Father, who had a purpose in the bringing out, in the edifying, in the directing.
Điều tốt là các ngươi được nhắc nhớ, rằng—vào những thời kỳ khi có các chuẩn bị trong đời sống và kinh nghiệm của một dân tộc đặc thù, dưới những hoàn cảnh khác thường, trong môi trường phi thường—họ được nhắc nhở, không phải trong những ngày dư dật mà là trong những ngày mà mỗi ngày họ chỉ được ban đủ cho ngày ấy, rằng cần phải—và nên—dành ra những kỳ hạn khi việc tạ ơn là một phần trong hoạt động của họ—những tưởng niệm cho tất cả niềm vui, nỗi buồn, thất vọng, hy vọng đã và có thể là của họ nếu— nếu —họ chỉ cần giữ những lời hứa đó; nương cậy—như trong những ngày ấy, những giờ ấy, việc nương cậy hoàn toàn là cần thiết—vào ân huệ của một Cha đầy xót thương, Đấng có một mục đích trong việc dẫn xuất, trong việc xây dựng, trong việc chỉ dẫn.
And today, as ye look back upon those experiences, ye—too—find thyselves chosen.
Và hôm nay, khi các ngươi nhìn lại những kinh nghiệm ấy, các ngươi— cũng —thấy mình được chọn.
Have ye chosen Him?
Các ngươi đã chọn Ngài chưa?
For as was given then, “If ye will be my people, I will be thy God!”
Vì như đã được phán khi đó, “Nếu các ngươi sẽ là dân Ta, Ta sẽ là Thần của ngươi!”
This is a universal experience, then. To each soul gathered here, to each soul throughout the land, to each soul as may be in all lands: “If ye will be My people, I will be thy God!”
Vậy đây là một kinh nghiệm phổ quát. Với mỗi linh hồn tụ họp ở đây, với mỗi linh hồn khắp xứ sở, với mỗi linh hồn ở mọi miền: “Nếu các ngươi sẽ là Dân Ta, Ta sẽ là Thần của ngươi!”
Then in this land—as ye understand—when in the experiences of a handful of those seeking a place where they might worship God according to the dictates of their own conscience, the bounties of the land were in such measures as to preserve their lives—then there was the proclamation that thanksgiving must be in the mind and heart of each soul.
Rồi, trong xứ sở này—như các ngươi hiểu—khi trong kinh nghiệm của một nhóm ít ỏi những người đi tìm một nơi chốn để họ có thể thờ phượng Thượng đế theo tiếng gọi của lương tâm mình, các ân huệ của đất đai đã đến với mức độ đủ để bảo toàn mạng sống của họ—bấy giờ có lời tuyên xưng rằng việc tạ ơn phải ở trong tâm trí và trái tim của mỗi linh hồn.
So in this land was set the precedent that has come to mean so much that year after year thy rulers of the several States, thy director in the general, have kept, do keep that precedent.
Vì thế, trong xứ sở này đã đặt nên một tiền lệ đã trở thành điều có ý nghĩa lớn lao đến nỗi năm này qua năm khác các nhà lãnh đạo của các Tiểu bang, vị tổng chỉ huy nói chung, đã giữ, đang giữ tiền lệ đó.
Then, to all: As ye do in the spirit of true thanksgiving come to realize, as ye find in thy daily experience with thy fellow man—he that is unappreciative of opportunity, of care, of thought, of longsuffering, to thine own mind becomes very little.
Vậy thì, với tất cả mọi người: Khi các ngươi, trong tinh thần của sự tạ ơn đích thực, đến để nhận ra, như các ngươi thấy trong kinh nghiệm hằng ngày với đồng loại mình—kẻ vô ơn trước cơ hội, trước sự chăm sóc, nghĩ suy, nhẫn chịu, đối với chính tâm trí các ngươi trở nên rất nhỏ bé.
What, then, will ye—as servants—yea, as children of a living God, of a living promise to thee—do about such a period, such a day?
Vậy, các ngươi —với tư cách là đầy tớ—vâng, như những đứa con của một Thượng đế hằng sống, của một lời hứa sống động dành cho các ngươi—sẽ xử trí ra sao về một kỳ hạn như thế, một ngày như thế?
For the day itself is as nothing. Remember how He as the Teacher of teachers gave that the Sabbath was made for man, not man for the Sabbath!
Vì bản thân ngày ấy tự nó chẳng là gì. Hãy nhớ Ngài là Vị Thầy của các thầy đã dạy rằng ngày Sa-bát được lập ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sa-bát!
Then remember, Thanksgiving is thy opportunity to show thy appreciation to thy friend, thy home, thy mother, thy children—yea, most of all to thy God!
Vậy hãy nhớ, Lễ Tạ Ơn là cơ hội của ngươi để bày tỏ lòng cảm tạ với bạn hữu, mái ấm, mẹ, con cái—vâng, hơn hết là với Thượng đế của ngươi!
As it may be truly said—of all the days for man’s opportunity, of man’s making, of man’s concern—truly Thanksgiving should be nearer and dearer to the hearts of those who are appreciative of Life and its opportunities, under any experience!
Như có thể nói cách chân thực—trong tất cả những ngày dành cho cơ hội của con người, bởi con người lập ra, do con người bận tâm— thật sự Lễ Tạ Ơn nên gần gũi và thân thiết hơn với trái tim của những ai trân trọng Sự sống và các cơ hội của nó, dưới bất kỳ kinh nghiệm nào!
For remember, it was instituted not under plenty but under needs.
Vì hãy nhớ, nó được thiết lập không phải trong cảnh dư dật mà giữa những nhu cầu thiếu thốn.
What is the need then of man in this day of disturbed mind, of anxieties?
Vậy nhu cầu của con người trong ngày này—ngày của tâm trí rối bời, của âu lo—là gì?
That ye may reconsecrate, rededicate—each of you—thy heart, thy body, thy purpose, to the living God!
Ấy là để các ngươi tái thánh hiến, tái dâng hiến—mỗi người trong các ngươi—trái tim, thân thể, mục đích của mình, cho Thượng đế hằng sống!
This is the message then that should be to all.
Đó là thông điệp nên gửi đến mọi người.
Let this day of Thanksgiving be not only that wherein to enjoy that which may satiate the body, that which may make for the gratifying of appetites of the body, but that day when each of you may give thanks to God for being alive—with the opportunities to raise thy voice in prayer, in praise, in thanksgiving for the love He hath shown, that He showers upon thee day by day!
Hãy để ngày Lễ Tạ Ơn này không chỉ là ngày hưởng dùng những thứ có thể làm thỏa thân xác, những thứ có thể thỏa mãn các dục vọng của thân xác, mà là ngày mỗi người trong các ngươi có thể tạ ơn Thượng đế vì được sống—với các cơ hội để cất tiếng cầu nguyện, ngợi khen, tạ ơn vì Tình thương Ngài đã bày tỏ, Ngài tuôn đổ trên các ngươi ngày qua ngày!
And as ye do this—in the spirit of love, in the spirit of truth, of patience, of longsuffering—ye will receive that awareness of His closeness to thee. And this will bring you to the greater knowledge, the greater understanding of what He would have thee do.
Và khi các ngươi làm điều này—trong tinh thần yêu thương, trong tinh thần chân lý, nhẫn nại, nhẫn chịu—các ngươi sẽ nhận được ý thức về sự gần gũi của Ngài với các ngươi. Và điều này sẽ đem các ngươi đến tri thức lớn hơn, sự thấu hiểu lớn hơn về điều Ngài muốn các ngươi làm.
Let thy life, thy experience then, be not without purpose.
Vậy cuộc đời, kinh nghiệm của ngươi chớ vô mục đích.
What do ye then purpose to do with His promises to thee?
Rồi các ngươi định làm gì với những lời hứa của Ngài dành cho ngươi?
In this land ye may give praise for freedom of speech, for the opportunities to raise thy voice in whatever way and manner ye choose.
Trong xứ sở này các ngươi có thể ca ngợi vì tự do ngôn luận, vì các cơ hội để cất tiếng theo bất luận cách thức và phương cách nào các ngươi chọn.
For know, as He taught, the principles of life are that as ye do unto the least of thy brethren ye do unto thy Maker.
Vì hãy biết, như Ngài đã dạy, những nguyên tắc của sự sống là: điều gì các ngươi làm cho một người anh em bé mọn nhất, tức là các ngươi làm cho Đấng Tạo Hóa của mình.
Then, as ye give thanks, as ye give praise to thy friends for kindnesses, for gentlenesses, for those things that make thy experience more bearable in a cruel world—under circumstances oft where a troubled heart is made lighter—how much greater in this day, then, that is set aside by thy laws, by the judgments of thy governors and of thy president—how much more ye would give thanks to God!
Vậy, khi các ngươi tạ ơn, khi các ngươi bày tỏ lòng tri ân với bạn hữu vì những nhân từ, dịu dàng, vì những điều khiến kinh nghiệm của các ngươi trở nên dễ chịu hơn trong một thế giới khắc nghiệt—thường là trong những hoàn cảnh khi một trái tim u uất được làm nhẹ nhàng hơn—biết bao hơn trong ngày này, ngày được luật pháp của các ngươi, bởi phán quyết của các thống đốc và của tổng thống các ngươi dành riêng ra—các ngươi sẽ càng hơn nữa mà tạ ơn Thượng đế!
For it is in Him indeed that ye live, that ye move and have thy being.
Vì thực sự trong Ngài các ngươi sống, các ngươi chuyển động và có sự hiện hữu của mình.
Let thy heart then be glad.
Vậy hãy để lòng ngươi hoan hỷ.
And as has been indicated, let each raise his voice in thanksgiving for all that has, that may come to pass in the experience of each soul that prays, “Thy will, O God, be done in me—now. Not as I will, but as Thou would have me go.”
Và như đã được chỉ ra, hãy để mỗi người cất tiếng tạ ơn vì tất cả những gì đã, những gì có thể xảy đến trong kinh nghiệm của mỗi linh hồn biết cầu nguyện rằng, “Ý Ngài, lạy Thượng đế, được nên trọn trong con—ngay bây giờ. Không theo ý con, mà theo đường Ngài muốn con đi.”
Pray that peace may be in the minds and hearts of those who direct the destiny of the many, throughout the world. For they are not in power of themselves, but that ye—too—may learn a lesson to do, and to seek to do, the will of thy Father; and not to do that which is in direct contradiction to that of praise to thy Lord, thy God.
Hãy cầu nguyện để bình an ở trong tâm trí và trái tim của những người định hướng vận mệnh của số đông, khắp thế giới. Vì họ không nắm quyền do chính họ, mà để cho các ngươi — cũng —học một bài học để làm, và tìm để làm, ý muốn của Cha các ngươi; chứ không làm điều gì trực tiếp nghịch lại việc ngợi khen Chúa, Thượng đế của các ngươi.
Keep then that Day in praise, in thanksgiving, in such ways, such a manner that ye show to thy conscience that what ye worship as thy God is aware of thy appreciation of life!
Vậy hãy giữ Ngày ấy trong lời ngợi khen, trong tạ ơn, theo những phương cách, một cách mà các ngươi cho lương tâm mình thấy rằng Đấng các ngươi thờ phượng là Thượng đế nhận biết sự trân quý của các ngươi dành cho đời sống!
We are through.
Chúng ta kết thúc.
[Background: World Affairs reading given in preparation for the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E.]
[Bối cảnh: Buổi đọc Thời sự Thế giới được đưa ra để chuẩn bị cho buổi họp Đại hội thường niên của các thành viên A.R.E. của Edgar Cayce.]
Reading 3976-22; June 13, 1939
Buổi đọc 3976-22; 13 tháng 6, 1939
GC: You will give at this time a discourse on World Affairs which may be presented by Edgar Cayce on Thursday evening, June 15th, the opening meeting of the Eighth Annual Congress of the Association for Research & Enlightenment, Inc.
GC: Lần này ông sẽ trình bày một diễn từ về Thời sự Thế giới để Edgar Cayce có thể trình bày vào tối thứ Năm, ngày 15 tháng 6, buổi khai mạc Đại hội thường niên lần thứ Tám của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng, Inc.
EC: In giving a dissertation upon World Affairs of today, it may be well to look, for a moment, upon that which has come to pass in the affairs of the nations of the earth since the records have been kept of man’s doings. Also it may be well to look at those promises, as well as the warnings that have been a record of those peoples in their attempts to present a manner of moral, religious and secular life of the various peoples.
EC: Khi trình bày một bài thuyết luận về Thời sự Thế giới hôm nay, có lẽ tốt khi dừng lại một chút để nhìn vào những gì đã xảy ra trong các sinh hoạt của các dân tộc trên địa cầu kể từ khi có ghi chép về việc làm của con người. Cũng có lẽ tốt khi nhìn vào những lời hứa, cũng như những cảnh báo đã là ghi chép của các dân tộc trong nỗ lực trình bày một khuôn mẫu đời sống đạo đức, tôn giáo và thế tục của các cộng đồng khác nhau.
These to become illustrative in the minds of individuals must be referred, then, to individual attainment or individual application of those things which have been and are still ruling factors.
Để những điều này trở nên minh họa trong tâm trí các cá nhân, chúng phải được quy chiếu về mức độ đạt được của cá nhân hay sự áp dụng cá nhân đối với những điều từng là và vẫn đang là các yếu tố chi phối.
Man finds himself endowed with body, mind and soul; and each phase of his consciousness is seeking for the satisfying or gratifying of the longings of those phases of his nature.
Con người thấy mình được phú bẩm thân, trí và linh hồn; và mỗi phương diện của tâm thức y đều đi tìm sự thỏa mãn hay làm vừa lòng những khao khát của các phương diện ấy trong bản tính y.
Hence we find there are in the experience of man three desired purposes, or three natural laws pertaining to his material existence: survival of his species, or the preservation of life; to give expression of his own concept of life; and (third) to be heard, to be noticed in his activity.
Do vậy, chúng ta thấy có ba mục đích ước muốn trong kinh nghiệm của con người, hay ba định luật tự nhiên liên quan đến sự tồn tại vật chất của y: sinh tồn của giống loài, hay sự bảo tồn sự sống; biểu đạt quan niệm riêng của mình về sự sống; và (thứ ba) được lắng nghe, được để ý trong hoạt động của mình.
Out of this individual purpose grows that position or condition known in various groups or countries as nationalism, patriotism, and the ability to rule—or force his concept upon others.
Từ mục đích cá nhân này nảy sinh vị thế hay điều kiện được gọi trong các nhóm hay các quốc gia khác nhau là chủ nghĩa quốc gia, lòng yêu nước, và khả năng cai quản—hoặc áp đặt quan niệm của mình lên người khác.
These are conditions which exist in man’s experience today.
Đây là những điều kiện đang hiện hữu trong kinh nghiệm của con người ngày nay.
Then look, for the moment, upon those standards that have been proclaimed in the varied lands.
Vậy, hãy nhìn trong chốc lát vào những chuẩn mực đã được công bố ở các miền đất khác nhau.
To us here, as individuals, we have accepted, we do accept those tenets of the Nazarene, Jesus of Nazareth, whose whole gospel was combined in that message, “Ye shall love the Lord thy God with all thy heart and mind, and thy neighbor as thyself.” And then, as to make this become a more practical experience in the lives of individuals, He gave “A new commandment I give unto you, that ye love one another.”
Đối với chúng ta ở đây, với tư cách cá nhân, chúng ta đã chấp nhận, chúng ta chấp nhận các giáo điều của Đấng Nazarene, Đức Jesus ở Nazareth, người mà toàn bộ phúc âm của Ngài được kết tinh trong sứ điệp: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thượng đế của ngươi hết lòng và trí, và thương người lân cận như chính mình.” Và rồi, để điều này trở nên kinh nghiệm thực tiễn hơn trong đời sống từng cá nhân, Ngài đã ban “Một điều răn mới Ta ban cho các ngươi, ấy là các ngươi hãy yêu thương nhau.”
That we as individuals may make compatible, then, those relationships of Creative Forces or God upon the one hand, and the nature of man in materiality upon the other hand, is the need of this day, this age. For He will indeed come again—and woe be unto him who is found wanting!
Rằng để chúng ta—như các cá nhân—có thể làm cho tương hợp các mối liên hệ giữa các Lực Sáng Tạo hay Thượng đế một bên, và bản tính của con người trong vật chất bên kia, đó là nhu cầu của ngày nay, của thời đại này. Vì Ngài ắt sẽ trở lại—và khốn thay cho ai bị thấy là thiếu sót!
In the experiences of the earth, of the nations, since those periods of the war to outlaw war, there has grown more and more the desire and the purposes for peace. Not as a peace at any cost, or any price, but a peace that is compatible with man’s nature, man’s purposes, when that purpose, that aim, that desire is made compatible with the spiritual law as given by that Teacher.
Trong kinh nghiệm của địa cầu, của các dân tộc, kể từ những giai kỳ của cuộc chiến nhằm đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật, đã ngày càng lớn dậy ước muốn và mục tiêu về hòa bình. Không phải là hòa bình bằng bất cứ giá nào, hay bất cứ cái giá nào, mà là một hòa bình tương hợp với bản tính con người, mục đích con người, khi mục đích, chí hướng, ước muốn ấy được làm cho tương hợp với luật tinh thần như Vị Thầy đã ban.
When this is compared with all the varied experiences of groups, of nations that have had, that do have a following of some other teacher, we have found, we will find that the basic principles “Ye shall love the Lord” are at the core, the heart of every one. The manner of its application to the fellow man has been and is that variation, that has made for the application of man’s desire in the relations to the other two phases of man’s consciousness.
Khi điều này được so sánh với tất cả những kinh nghiệm muôn màu muôn vẻ của các nhóm, các quốc gia đã có, đang có những người theo một vị thầy khác, chúng ta đã thấy, chúng ta sẽ thấy rằng những nguyên lý căn bản “Ngươi phải yêu mến Chúa” đều nằm ở cốt lõi, trái tim của mọi truyền dạy. Cái khác biệt là ở phương cách áp dụng đối với đồng loại, vốn đã và đang là biến thức khiến con người áp đặt ước muốn của mình trong mối liên hệ với hai phương diện còn lại của tâm thức con người.
But since those periods when man has been made to think—think—not only of the sources of man’s spiritual but his mental and material desires—more and more has gone up the prayer from individuals, groups—yea, whole nations have joined almost as one; and more and more of the secular things are being put aside.
Nhưng kể từ những kỳ hạn khi con người được khiến phải suy — suy —không chỉ về nguồn cội tâm linh của con người mà còn về các ước muốn trí tuệ và vật chất của y—ngày càng nhiều lời cầu nguyện đã dâng lên từ các cá nhân, các nhóm—vâng, cả những quốc gia trọn vẹn đã gần như hợp thành một; và ngày càng nhiều điều thế tục đang được gác sang một bên.
Hence we find at this present time, now, the conditions or the circumstances throughout the nations of the world, or in the earth, are a challenge to every thinking person; that ye are not alone to pray for peace but are to pursue peace—by living the second phase of the divine injunction, “thy neighbor as thyself.”
Do đó, chúng ta thấy ở thời khắc hiện tại, lúc này, các điều kiện hay hoàn cảnh khắp các quốc gia trên thế giới, hay trên địa cầu, là một thách thức cho mọi người biết suy nghĩ; rằng các ngươi không chỉ một mình cầu nguyện cho hòa bình mà còn phải theo đuổi hòa bình—bằng cách sống theo phần thứ hai của huấn lệnh thiêng liêng, “người lân cận như chính mình.”
Then, today, we are to answer within our individual consciousness, “Am I my brother’s keeper?” Not “What does the world owe me?” but “What contribution can I, as an individual soul seeking God, seeking to know His face, make that may hasten the day of the Lord?”
Vậy, hôm nay, chúng ta phải trả lời trong tâm thức cá nhân mình rằng, “Ta có phải là người gìn giữ cho anh em ta không?” Không phải “Thế giới mắc nợ ta điều gì?” mà là “Ta, như một linh hồn đang tìm kiếm Thượng đế, tìm biết Tôn Nhan Ngài, có thể đóng góp gì để làm mau đến Ngày của Chúa?”
For we as individuals, as we look about us, realize more and more that indeed we are live and move and have our being in Him—and we are becoming mindful also OF “from whence we came.” And we realize that as He has given, “If ye will be my people, I will be thy God” applies to me, to you, to each soul that has been blessed with the consciousness, the awareness of life.
Vì chúng ta—như các cá nhân—khi nhìn quanh mình, càng ngày càng nhận ra rằng quả thật chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu trong Ngài—và chúng ta cũng đang trở nên lưu tâm đến cả “chúng ta đến từ đâu.” Và chúng ta nhận ra rằng như Ngài đã phán, “Nếu các ngươi sẽ là dân Ta, Ta sẽ là Thần của ngươi” áp dụng cho ta, cho ngươi, cho mỗi linh hồn đã được phú ban tâm thức, sự tự giác về sự sống.
For Life itself in all its forms and phases is indeed a manifestation of that we worship as God.
Vì chính Sự sống, trong mọi hình thức và phương diện, thật là một biểu hiện của Đấng mà chúng ta thờ phượng như là Thượng đế.
We realize that selfishness, jealousies, those things that make people afraid must gradually be put away.
Chúng ta nhận ra rằng tính vị kỷ, ganh tị, những điều làm con người sợ hãi phải dần dần được dẹp bỏ.
First, then, as an individual, self must be conquered. Rather than raising thy voice, then, that ye may be heard, raise thy voice that He, thy God, may be heard!
Trước hết, như một cá nhân, cái ngã phải được chế ngự. Thay vì cất tiếng để các ngươi được lắng nghe, hãy cất tiếng để Ngài, Thượng đế của ngươi, được lắng nghe!
Who, then, is thy God? Is it thyself, thy body, thy ego? Rather look, then, to Him who is able to keep you from falling, but is able to keep you in strength of His might by thy desire, by purpose, thy aims being “Others, Lord! Others!”
Vậy thì, Đấng nào là Thượng đế của ngươi? Có phải là chính ngươi, thân xác ngươi, cái ngã của ngươi? Đúng hơn, hãy hướng nhìn đến Ngài, Đấng có thể gìn giữ ngươi khỏi sa ngã, và có thể giữ ngươi trong sức mạnh của Quyền năng Ngài nhờ ước muốn, mục đích, và chí hướng của ngươi là “Những người khác, Lạy Chúa! Những người khác!”
We are through for the present.
Hiện thời chúng ta tạm kết thúc.
[Background: Continuation of World Affairs reading given in preparation for the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a discussion of “the conditions which exist in each of the principal countries.”]
[Bối cảnh: Tiếp nối Buổi đọc Thời sự Thế giới được đưa ra để chuẩn bị cho buổi họp Đại hội thường niên của các thành viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là thảo luận về “những điều kiện hiện hữu ở từng quốc gia chủ yếu.”]
Reading 3976-23; June 13, 1939
Buổi đọc 3976-23; 13 tháng 6, 1939
You will continue the discourse begun this morning on World Affairs which Edgar Cayce will present at the opening meeting of the Eighth Annual Congress of the Association for Research and Enlightenment, Inc. Please comment fully on the conditions which exist in each of the principal countries.
Ông sẽ tiếp tục diễn từ đã bắt đầu sáng nay về Thời sự Thế giới mà Edgar Cayce sẽ trình bày tại buổi khai mạc Đại hội thường niên lần thứ Tám của Hiệp hội Nghiên cứu và Khai Sáng, Inc. Xin bình luận đầy đủ về những điều kiện đang hiện hữu ở từng quốc gia chủ yếu.
EC: Many will ask, “What has the foregoing to do with conditions which exist in the various countries? What has it to do with those countries that are called democracies; or Fascism, Communism, or any of the totalitarian countries?”
EC: Nhiều người sẽ hỏi, “Những điều vừa nêu có liên quan gì đến các điều kiện đang hiện hữu ở các quốc gia khác nhau? Nó có liên quan gì đến những nước gọi là dân chủ; hay Phát xít, Cộng sản, hoặc bất kỳ nước toàn trị nào?”
As everyone should see from that which has been indicated, it is that there must be first the individual conviction of the need to trust God for the needs of His people at all times and under every circumstance, whether this is under democracy or any other form of government.
Như mọi người đều nên thấy từ những điều đã chỉ ra, đó là trước hết phải có xác tín cá nhân về nhu cầu phó thác vào Thượng đế cho các nhu cầu của Dân Ngài trong mọi thời và dưới mọi hoàn cảnh, dù đó là dưới dân chủ hay bất cứ hình thức cai trị nào.
The disturbance has ever been, since the first disagreement as to what sacrifice and as to the character of sacrifice was to be offered, that someone is to set a rule by which all others are to be judged, or to which all are to conform—when the rule is—and should ever be—that as was proclaimed from the beginning, “Know, O Israel, the Lord thy God is one!”
Sự rối loạn vẫn luôn hiện diện, kể từ cuộc bất đồng đầu tiên về việc hy sinh, về bản chất của của lễ hy sinh cần dâng, rằng ai đó sẽ đặt ra một quy chuẩn để tất cả những người khác bị phán xét theo đó, hay để tất cả đều phải khuôn theo—trong khi quy luật là—và nên luôn là—điều đã được công bố từ ban đầu, “Hỡi Israel, hãy biết, Chúa là Thượng đế của ngươi là Duy Nhất! ”
And while each soul seeks to manifest in a material world, the purpose, the idea—yea, the ideal is that all are to work in unison for the good of all.
Và trong khi mỗi linh hồn tìm cách biểu hiện trong một thế giới vật chất, mục đích, ý tưởng—vâng, lý tưởng—là tất cả phải cùng làm việc trong hợp nhất vì thiện ích chung.
What, think ye, has caused or did cause that meeting of the democratic countries, or the democracies and the totalitarian states? Was it because of the wisdom of the men that met, or that either of the four there had their own way? Rather was it not the prayers of the mothers and the fathers of each nation represented there, that there might not be that destruction of human life which would be the natural outcome of open conflict? [Versailles Treaty?, Munich Agreement?]
Theo các ngươi nghĩ, điều gì đã gây ra hay từng gây ra cuộc hội họp của các nước dân chủ, hay các nền dân chủ và các nhà nước toàn trị? Có phải vì trí tuệ của những người đã gặp gỡ, hay vì một trong bốn bên ở đó đã đạt được ý riêng? Đúng hơn, chẳng phải đó là lời cầu nguyện của những người mẹ và người cha ở mỗi quốc gia được đại diện ở đó, rằng đừng có sự hủy diệt mạng sống con người vốn là hệ quả tự nhiên của xung đột công khai đó sao? [Hiệp ước Versailles?, Hiệp định Munich?]
It is, then, still the challenge to each country, to each nation—that while there is, to be sure, the natural instinct or purpose of self-preservation, it is to be less and less of self and more and more for that which was from the beginning.
Vậy thì, đây vẫn là thách thức đối với mỗi nước, mỗi quốc gia—rằng trong khi hẳn nhiên có bản năng hay mục đích tự nhiên là tự bảo tồn, thì nó phải ngày càng ít cái tôi đi, và ngày càng nhiều hơn cho điều vốn có từ ban đầu.
Then, there needs be that not so much be set as to this ritual, or this form, or the other, for any given peoples or any nation, but rather that the individuals in each nation, everywhere, are to turn again to the God of the fathers and not in self-indulgence, self-aggrandizement, but more and more of self-effacement.
Vậy, không cần đặt nặng nghi thức này, hình thức kia, hay điều nọ cho bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào, mà là để các cá nhân trong mỗi quốc gia, khắp nơi, quay trở lại với Thượng đế của các tổ phụ—không phải trong thói tự phóng túng, tự tôn vinh, mà là ngày càng nhiều hơn trong sự tự xóa mình.
For as the people of each nation pray, and then live that prayer, so must the Spirit work.
Vì khi dân của mỗi quốc gia cầu nguyện, và rồi sống theo lời cầu nguyện ấy, thì Thần Linh tất phải hành động.
Then—each of you here—give God a chance to show what great blessings He will give to those who love Him. This does not mean that ye, or anyone, would condone persecutions anywhere or in any form. For, know ye, His laws fail not—“As ye sow, so shall ye reap.”
Vậy—mỗi người trong các ngươi ở đây— hãy cho Thượng đế một cơ hội để bày tỏ những phước lành lớn lao Ngài sẽ ban cho những ai yêu mến Ngài. Điều này không có nghĩa là các ngươi, hay bất kỳ ai, sẽ dung túng bách hại ở bất cứ đâu hay dưới bất cứ hình thức nào. Vì, hãy biết, các định luật của Ngài không hề sai chạy—“Gieo gì, gặt nấy.”
Man can only begin, then, within himself. And as he applies that he knows, that he understands of God, in his daily life, so may there be given him the next step to make.
Vậy thì, con người chỉ có thể bắt đầu ở trong chính mình. Và khi y áp dụng điều y biết, điều y hiểu về Thượng đế, trong đời sống hằng ngày, thì y sẽ được ban cho bước kế tiếp để thực hiện.
Then ye ask, “What is to be the outcome of England and France in their efforts to join hands with Russia as an encirclement of the totalitarian regime?” These, so long as they are in keeping with God’s purposes with man, will succeed. When they become active for self-preservation without the thought or purpose of their fellow man, they must fail.
Rồi các ngươi hỏi, “Sẽ ra sao với Anh và Pháp trong nỗ lực nắm tay Nga để bao vây chế độ toàn trị?” Những điều này, bao lâu còn phù hợp với mục đích của Thượng đế dành cho con người, sẽ thành công. Khi chúng trở thành hành động vì tự bảo tồn mà chẳng nghĩ hay nhắm đến đồng loại, chúng ắt thất bại.
So it is with the endeavors of Germany, Italy, Japan. As they attempt to preserve their own personalities, their own selves, without thought of their fellow man, they may succeed for the moment, but “God is not mocked,” and whatsoever a man, a country, a nation sows, that it must reap.
Đối với các nỗ lực của Đức, Ý, Nhật cũng vậy. Khi họ tìm bảo tồn bản ngã, chính mình, mà chẳng nghĩ đến đồng loại, họ có thể thành công nhất thời, nhưng “Thượng đế không bị nhạo báng,” và điều gì một người, một đất nước, một quốc gia gieo, thì nó phải gặt.
“What then,” ye ask, “is to be the outcome? What is there that I can do about it?”
“Vậy thì,” các ngươi hỏi, “kết cục sẽ như thế nào? Ta có thể làm gì về điều ấy?”
Let thy daily life be free from criticism, from condemnation, from hate, from jealousy. And as ye give power to the Spirit of Peace, so may the Prince of Peace, the love of God, manifest.
Hãy để đời sống hằng ngày của ngươi không có chỉ trích, không kết án, không hận thù, không ghen tị. Và khi các ngươi trao quyền cho Thần Linh của Hòa Bình, thì Vị Vương Tử Hòa Bình, Tình yêu của Thượng đế, sẽ hiển lộ.
So long as ye turn thy thoughts to the manners and means for meeting and overcoming those destructive forces, ye show forth that which may bring to the world that day of the Lord. For the promise is that in the latter days there shall be the purposes in the hearts of men, everywhere!
Bao lâu các ngươi hướng tâm tưởng đến các cách thức và phương tiện để đối phó và vượt qua các lực phá hoại ấy, thì bấy lâu các ngươi phô bày điều có thể đem đến cho thế giới Ngày của Chúa. Vì đã hứa rằng trong những ngày sau rốt sẽ có những mục đích ở trong lòng người, khắp nơi!
There is in every land today—through the prayers that have gone up for the last two years—a more seeking for that at-onement with Creative Forces, a more seeking for the knowledge and the purposes of God, than there has been for ages.
Hôm nay ở mọi miền đều có—qua những lời cầu nguyện đã dâng lên trong hai năm vừa qua—một sự tìm kiếm nhiều hơn cho sự hợp nhất với các Lực Sáng Tạo, một sự tìm kiếm nhiều hơn cho tri thức và mục đích của Thượng đế, hơn bất cứ thời đại nào đã có từ lâu lắm.
Then, rest not on those things that become as quicksand about thee, but on the true, the tried arm of God. For the earth is His, and the fulness thereof.
Vậy, đừng đặt nền trên những điều trở thành như cát lún quanh ngươi, mà trên cánh tay chân thật, đã từng được thử thách của Thượng đế. Vì địa cầu là của Ngài, và sự sung mãn trong đó thuộc về Ngài.
To each of you, then: Give God a chance! Know that no man is in authority or in power in the earth today save as has been granted of God, the He, the Father, may be better known. Man sees only for the moment. When man has purposed in his heart, God hath seen the end thereof.
Với mỗi người trong các ngươi, vậy: Hãy cho Thượng đế một cơ hội! Hãy biết rằng hôm nay không ai nắm quyền hay có quyền thế trên địa cầu nếu không do Thượng đế ban, để Ngài, Đấng Cha, được nhận biết rõ hơn. Con người chỉ nhìn thấy nhất thời. Khi con người đã định trong lòng, Thượng đế đã thấy sự cuối cùng của điều ấy.
And what is the will of the Father? That no soul should perish! And all will be, all are, tried so as by fire.
Và ý muốn của Cha là gì? Rằng không linh hồn nào phải diệt vong! Và mọi người sẽ, đều đang, được thử luyện như bởi lửa.
The fires of nature are what? Self-indulgence, self-glorification.
Những ngọn lửa của tự nhiên là gì? Sự tự phóng túng, tự tôn vinh.
Then, turn ye—every one—to the Law of Love, and love thy neighbor as thyself.
Vậy thì, các ngươi—mọi người—hãy quay về Luật của Tình yêu, và yêu người lân cận như chính mình.
We are through for the present.
Hiện thời chúng ta tạm kết thúc.
[Background: World Affairs reading given during the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a discussion on “the major problems which confront the American people.”]
[Bối cảnh: Buổi đọc Thời sự Thế giới được đưa ra trong kỳ Đại hội thường niên của các thành viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là thảo luận về “các vấn đề lớn đối đầu với người dân Mỹ.”]
Reading 3976-24; June 16, 1939
Buổi đọc 3976-24; 16 tháng 6, 1939
GC: You will have before you the mass thought of the American nation, its ideals, principles and purposes. You will give at this time a discourse on the major problems which confront the American people, indicating their basic causes and suggesting what attitudes we may hold and procedures we may take individually and collectively to help correct and balance these conditions. You will answer the questions, as I ask them:
GC: Trước ông sẽ là tư tưởng đại chúng của dân tộc Mỹ, các lý tưởng, nguyên tắc và mục đích của họ. Lần này ông sẽ trình bày một diễn từ về các vấn đề lớn đối đầu với người dân Mỹ, chỉ rõ các nguyên nhân căn bản và gợi ý những thái độ chúng ta có thể giữ và những biện pháp chúng ta có thể thực hiện với tư cách cá nhân và tập thể để giúp sửa chữa và cân bằng những điều kiện này. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu:
EC: Yes, we have those suggestions here as to problems which confront American people today, and what individuals or groups may do as respecting same.
EC: Vâng, chúng ta có những gợi ý ở đây về các vấn đề đang đối đầu với người dân Mỹ hôm nay, và những gì cá nhân hay các nhóm có thể làm liên quan đến các điều ấy.
The ideals, the purposes that called the nation into being are well. It might be answered by saying that there needs to be on the part of each man, each woman, the adhering to those principles that caused the formulating of the American thought.
Các lý tưởng, mục đích đã gọi quốc gia này vào hiện hữu là tốt đẹp. Có thể trả lời rằng cần có—về phía mỗi người nam, mỗi người nữ—sự bám giữ các nguyên tắc đã tạo nên hình thành của tư tưởng Mỹ.
Yet in the present there are seen many complex problems, many conditions that are at variance to the first cause or first principles; not only among groups and individuals in high places, both from the political and the economic situations, but the problems of labor-capital as well. All of these are problems in America today, as well as that of religious thought, religious principles, racial concern—which are mass as well as individual and group thought.
Tuy nhiên trong hiện tại có thể thấy nhiều vấn đề phức tạp, nhiều điều kiện trái ngược với nguyên nhân đầu tiên hay các nguyên tắc ban đầu; không chỉ giữa các nhóm và các cá nhân ở địa vị cao, cả từ các tình thế chính trị và kinh tế, mà còn cả các vấn đề lao động—tư bản. Tất cả những điều này là các vấn đề ở Mỹ hôm nay, cũng như vấn đề tư tưởng tôn giáo, các nguyên tắc tôn giáo, mối quan tâm về chủng tộc—vốn là tư tưởng tập thể cũng như của từng cá nhân và nhóm.
And these as they are stressed become more and more of a problem. For with the very thought upon those things that are at variance to the principles of right, justice, mercy, peace, the right to worship according to the dictates of the conscience, as thought is given we find that power to the thought is created by the very mass of the thought itself, as well as conditions that become individual problems in the lives of the peoples of America.
Và những điều này, khi được nhấn mạnh, càng ngày càng trở thành vấn đề. Vì chỉ với tư tưởng đặt trên những điều trái với các nguyên tắc của điều đúng, công chính, xót thương, hòa bình, quyền thờ phượng theo tiếng gọi của lương tâm, khi tư tưởng được trao cho, chúng ta thấy quyền năng cho tư tưởng được tạo ra bởi chính khối lượng tư tưởng ấy, cũng như các điều kiện trở thành vấn đề cá nhân trong đời sống người dân Mỹ.
These are the problems not only as to who would be in power here or there, as to who would administer in this or that office, but the matter of the privilege to meet or worship according to those principles that have been set forth or proclaimed that are made so much a laughingstock by so many in the present, owing to the situations that arise.
Đây là các vấn đề không chỉ về việc ai sẽ nắm quyền ở đây hay kia, ai sẽ điều hành tại chức vụ này hay nọ, mà còn là vấn đề của đặc quyền họp mặt hay thờ phượng theo các nguyên tắc đã được công bố hay tuyên xưng—những điều đang bị quá nhiều người đùa cợt trong hiện tại, do các tình thế phát sinh.
Yet, as we find, if there is the turning of every man and woman to the thought of God, then we may solve every problem. For it is not by mere thought, not by any activity other than the moving force within each entity, each body; and when more of patience, more tolerance, more thought of others is advanced and kept in the heart of the individual, this lends that power, that influence, that force for good.
Tuy vậy, như chúng ta thấy, nếu mỗi người nam và nữ quay về tư tưởng hướng Thượng đế, thì chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề. Vì không phải chỉ bởi ý nghĩ, không phải bởi bất kỳ hoạt động nào khác hơn động lực chuyển động ở trong mỗi thực thể, mỗi thân thể; và khi nhiều nhẫn nại hơn, bao dung hơn, nghĩ đến người khác hơn được nâng lên và giữ trong lòng từng cá nhân, điều này trao quyền, ảnh hưởng, sức mạnh cho điều thiện.
Ye are to have turmoils—ye are to have strifes between capital and labor. Ye are to have a division in thine own land before there is the second of the Presidents that next will not live through his office—a mob rule! [Prediction of Roosevelt, Kennedy and race riots?]
Các ngươi sẽ có xáo trộn—các ngươi sẽ có tranh chấp giữa tư bản và lao động. Các ngươi sẽ có sự chia rẽ ngay trong xứ sở mình trước khi có vị Tổng thống thứ hai kế tiếp không sống sót qua nhiệm kỳ của mình—một nền cai trị của đám đông! [Tiên đoán về Roosevelt, Kennedy và bạo loạn sắc tộc?]
To meet same? Only that each soul turns not to self alone and cry for strength, but that each soul lives in such a manner that there may be the awakening to the needs, the purposes, the causes for the nation coming into existence!
Để đối phó điều ấy? Chỉ bằng cách mỗi linh hồn đừng quay về chỉ với bản thân mà kêu sức, nhưng mỗi linh hồn sống theo cách có thể đánh thức dậy các nhu cầu, các mục đích, các nguyên do khiến quốc gia này đi vào hiện hữu!
That such is, and to be, a part of the experience of America is because of unbelief!
Rằng điều như thế đã là, và sẽ là, một phần trong kinh nghiệm của nước Mỹ là do sự không tin!
Ready for questions.
Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) As has been indicated through these channels, money is the root cause of the general economic unbalance of our country. Will you give specifically the reasons for this statement and the approach that can be made toward correction of the money order as operated today.
(Q) Như đã được chỉ ra qua những kênh này, tiền là nguyên do gốc rễ của sự mất cân bằng kinh tế tổng quát của đất nước chúng ta. Xin ông nêu cụ thể các lý do cho phát biểu này và cách tiếp cận có thể thực hiện để chỉnh đốn trật tự tiền tệ như nó đang vận hành hôm nay.
(A) Fear on the part of those who control or direct the investing of capital into channels that give the greater outlet of their characters of outlet. As to how this may be corrected—it is only through patience, persistence, and a return to the trust in God, and not in the power or the might of self. For those who are hungry care not as to the source of strength or power, until there is the fulfilling of that desired. Unless there is, then, a more universal oneness of purpose on the part of all, this will one day bring—here—in America—revolution!
(A) Nỗi sợ hãi nơi những người kiểm soát hay điều hướng việc đầu tư vốn vào những kênh cho phép phóng xuất lớn hơn các đặc tính biểu lộ của họ. Về cách có thể sửa chữa điều này—chỉ bằng sự nhẫn nại, bền chí, và một trở lại với niềm tín thác nơi Thượng đế, chứ không phải nơi quyền lực hay sức mạnh của bản ngã. Vì những kẻ đói chẳng bận tâm về nguồn của sức mạnh hay quyền năng, cho đến khi điều họ mong muốn được thoả. Trừ phi có một sự hợp nhất mục đích mang tính phổ quát hơn từ phía mọi người, nếu không, thì rồi một ngày nào đó—ngay đây —ở nước Mỹ—sẽ có cách mạng!
(Q) Is there today in operation an outer organization representative of the anti-Christ forces, which has power to subvert governments as well as institutions? If so, will you explain and give directions for counteracting these forces?
(Q) Hiện nay có một tổ chức bên ngoài đại diện cho các lực lượng phản Đức Christ đang hoạt động, có quyền lực lật đổ các chính phủ cũng như các định chế không? Nếu có, xin giải thích và chỉ dẫn cách hoá giải các lực lượng này?
(A) As has been given, there is the need more for the world thought, for every soul turning to the power within, and giving God a chance with their lives, their purposes, their desires one with His! And there is that power that is only in the influence for destruction as man himself gives it power. But just as has been given of old, one with the strength, the power of the Lord, may put the thousands to flight Then, it behooves each soul—here, everywhere—to seek more and more for the strength, the direction, the might of that promised in, “If ye will call, I will hear.”
(A) Như đã được nói, cần hơn hết là cho tư tưởng của thế giới, để mọi linh hồn quay về quyền năng bên trong, và trao cho Thượng đế cơ hội với đời sống, mục đích, ước muốn của họ hiệp nhất với Ý của Ngài! Và có quyền lực ấy, vốn chỉ có ảnh hưởng phá hoại chừng nào con người tự trao cho nó quyền lực. Nhưng cũng như xưa đã nói, một người với sức mạnh, quyền năng của Chúa, có thể khiến hàng ngàn phải tan chạy. Vậy thì, mỗi linh hồn—ở đây, ở khắp nơi—nên tìm kiếm ngày càng nhiều sức mạnh, sự dẫn dắt, quyền năng của điều đã hứa: “Nếu các ngươi kêu cầu, Ta sẽ nghe.”
(Q) What should be the attitude of this country toward the refugee problem as it relates specifically to the Jewish people. Please explain their problems?
(Q) Đất nước này nên có thái độ gì đối với vấn đề người tị nạn khi nó liên hệ đặc biệt đến người Do Thái. Xin giải thích vấn đề của họ?
(A) These are like every other individual. Their problems, so long as all are considered, are one. If they themselves become secular, or become tyrannical in their nature, then this—too—will become a problem in America. The attitude towards the refugees—they that entertain those who are without home, or hungry, many entertain the Lord Himself. For, “As ye do it unto the least, ye do it unto thy Maker.” That should be the attitude, ever. But live, each soul, in such a manner as to implant not the bigness of the individual but the love of God made manifest among men! These are problems not only, then, of the Jewish peoples but of those of every cult, of every ism or cism. For, remember the first principle—all are equal before God!
(A) Họ cũng như mọi cá nhân khác. Vấn đề của họ, bao lâu mọi người còn được xét đến, thì là một. Nếu chính họ trở nên thế tục, hoặc trở nên bạo quyền trong bản tính, thì điều này—cũng—sẽ trở thành một vấn đề ở nước Mỹ. Thái độ đối với người tị nạn—ai tiếp đãi những kẻ không nhà, hay đói khát, thì nhiều khi đã tiếp chính Chúa. Vì, “Hễ các ngươi làm điều đó cho người nhỏ bé nhất, là các ngươi làm điều đó cho Đấng Tạo Hoá của mình.” Đó phải là thái độ, luôn luôn. Nhưng hãy sống, mỗi linh hồn, theo cách gieo vào không phải cái lớn lao của cá nhân mà là tình thương của Thượng đế được biểu lộ giữa loài người! Vậy, đây không chỉ là vấn đề của người Do Thái mà còn của mọi giáo phái, mọi chủ nghĩa hay phân phái. Vì, nhớ nguyên tắc đầu tiên— mọi người bình đẳng trước Thượng đế!
(Q) Whereas the late Rudolf Steiner announced a threefold social order which he said it was the will of the spirit of the age to bring about, and whereas he stated that this social order would come through the free will of human beings as a result of social cataclysms—is it within the bounds of possibility that the threefold social order of Rudolf Steiner can be brought about in this country?
(Q) Trong khi Rudolf Steiner (đã khuất) công bố một trật tự xã hội tam phân, mà Ông nói đó là ý muốn của tinh thần thời đại phải thực hiện, và Ông cũng nói rằng trật tự xã hội này sẽ đến qua ý chí tự do của con người như kết quả của các biến cố xã hội—thì trong phạm vi khả thể, trật tự xã hội tam phân của Rudolf Steiner có thể được thực hiện ở đất nước này không?
(A) To bring the threefold activity of any individual other than God’s will produces a problem—whether Rudolf Steiner or whatever name! For there’s only one Name given whereby man shall be directed. These are the characters of activities of social order, of social justice—yes. But they shall be ever not as of any individual, but as just indicated—that all are free, all are equal before God. The social order, the religious order, the economic order must all be for one God! For, know that the Lord thy God is one!
(A) Đem hoạt động tam phân của bất kỳ cá nhân nào mà khác với Ý của Thượng đế sẽ sinh ra một vấn đề —dù đó là Rudolf Steiner hay bất kỳ danh nào! Vì chỉ có một Danh được ban để con người được dẫn dắt. Đúng, đây là các đặc tính của những hoạt động thuộc trật tự xã hội, công lý xã hội. Nhưng chúng sẽ luôn không là của bất kỳ cá nhân nào, mà như vừa nêu—rằng mọi người đều tự do, mọi người bình đẳng trước Thượng đế. Trật tự xã hội, trật tự tôn giáo, trật tự kinh tế, tất cả phải vì một Thượng đế! Vì, biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi là một!
(Q) Would it be good to work with this end in view? If so, what course should be pursued to bring this about?
(Q) Làm việc hướng tới mục tiêu đó có tốt không? Nếu có, cần theo đường lối nào để đưa việc ấy thành hiện thực?
(A) As an individual, study to show thyself approved unto God, a workman not ashamed, rightly dividing the words of truth, keeping self unspotted from censure of the world. This done, with the principles, the rules—but in the Name of the Father-God!
(A) Với tư cách cá nhân, hãy học để tỏ mình được chấp nhận trước Thượng đế, như người làm việc không hổ thẹn, phân giải ngay thẳng lời chân lý, giữ cho chính mình không vương ô uế bởi lời chê trách của thế gian. Làm điều này, với các nguyên tắc, các quy luật—nhưng trong Danh của Đức Cha-Thượng đế!
(Q) Are capital and labor fulfilling their responsibility toward each other? Where does the basic fault lie and what attitude should we take in correcting this condition?
(Q) Tư bản và lao động có đang làm tròn trách nhiệm với nhau không? Lỗi căn bản nằm ở đâu và chúng ta nên có thái độ nào để sửa chữa tình trạng này?
(A) Who is to judge one against another? As has been indicated, so long as there are disputes among labor, capital need not fear. When labor becomes a united effort, capital may fear. As to the fault, and the attitude—in that same principle that he that labors may eat, he that labors not may not eat. These are principles; and, to be sure, capital labors as well as he that worketh with the hands. But not to the detriment of, but to the united effort of all to be a greater channel of service.
(A) Ai sẽ xét đoán người này chống người kia? Như đã chỉ ra, chừng nào còn có bất hoà trong giới lao động, tư bản không cần sợ. Khi lao động trở thành một nỗ lực hợp nhất, tư bản có thể sợ. Về lỗi và thái độ—cũng nằm trong nguyên tắc rằng ai lao động thì được ăn, ai không lao động thì không được ăn. Đó là những nguyên tắc; và, dĩ nhiên, tư bản cũng lao động như người làm việc bằng đôi tay. Nhưng không theo cách gây tổn hại cho ai, mà là vào nỗ lực hợp nhất của tất cả để trở thành một kênh phụng sự lớn hơn.
(Q) What should be our attitude toward the Negro, and how may we best work out the karma created in relations with him?
(Q) Chúng ta nên có thái độ nào đối với người da đen, và làm sao chúng ta có thể tốt nhất hoá giải nghiệp quả đã tạo ra trong mối liên hệ với họ?
(A) He is thy brother! They that produced, they that brought servitude without thought or purpose have created that which they must meet within their own principles, their own selves. These should be taken in the attitude of their own individual fitness, as in every other form of associations. For He hath made of one blood the nations of the earth.
(A) Người ấy là anh em của ngươi! Những kẻ đã tạo ra, đã áp đặt ách nô dịch mà không suy nghĩ hay mục đích, đã tạo nên điều mà chính họ phải đối diện trong các nguyên tắc của mình, trong chính bản thân mình. Những điều này nên được tiếp cận bằng thái độ xét theo sự thích đáng cá nhân, như trong mọi hình thức liên hệ khác. Vì Ngài đã làm cho các dân trên mặt đất bởi một huyết mà ra.
(Q) Is the Fascist movement a danger to this country?
(Q) Phong trào Phát xít có là mối nguy cho đất nước này không?
(A) Any movement that is other than that of the brotherhood of man and the Fatherhood of God is dangerous!
(A) Bất kỳ phong trào nào không phải là tình huynh đệ của loài người và Tình Cha của Thượng đế đều nguy hiểm!
(Q) How can it be combated?
(Q) Làm sao đối trị?
(A) By that same purpose or principle as has been indicated.
(A) Bằng chính mục đích hay nguyên tắc như đã nêu.
(Q) Is there a racial or social problem facing America, in the U.S.?
(Q) Có vấn đề chủng tộc hay xã hội nào đang đối mặt nước Mỹ, ở Hoa Kỳ không?
(A) As indicated, these all depend upon the effort of individuals to all live as brothers one with another!
(A) Như đã chỉ ra, tất cả tuỳ thuộc vào nỗ lực của các cá nhân để cùng sống như anh em với nhau!
(Q) How can it be met for the protection of our democracy?
(Q) Làm sao đối mặt điều đó để bảo vệ nền dân chủ của chúng ta?
(A) Raise not democracy nor any other name above the brotherhood of man, the Fatherhood of God!
(A) Đừng nâng dân chủ hay bất kỳ danh xưng nào lên trên tình huynh đệ của loài người, Tình Cha của Thượng đế!
We are through.
Chúng tôi xin dừng.
[Background: World Affairs reading given during the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was on trying to understand “what is taking place in the world today and in meeting the conditions which are to come in America.”]
[Bối cảnh: Buổi đọc Các Vấn Đề Thế Giới được đưa ra trong kỳ Đại hội thường niên của các hội viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là cố gắng thấu hiểu “điều gì đang diễn ra trong thế giới hôm nay và cách đối diện những điều kiện sẽ đến ở nước Mỹ.”]
Reading 3976-25; June 23, 1940
Buổi đọc 3976-25; 23 tháng 6, 1940
GC: You will give at this time a discourse on world affairs which will aid those assembled here in understanding what is taking place in the world today and in meeting the conditions which are to come in America.
GC: Lúc này, xin hãy ban một bài thuyết giảng về các vấn đề thế giới để giúp những người đang nhóm họp nơi đây hiểu điều đang diễn ra trong thế giới hôm nay và cách đối diện những điều kiện sẽ đến ở nước Mỹ.
EC: In the days of old, when there were those developments of man as to his attempts to understand his relationships to the Maker, warnings were given again and again as to what would be the experiences of individuals who professed one thing and lived another, or who attempted to use amiss that which was given them. And these came to pass in the experiences and in the generations of those peoples so directed.
EC: Thuở xưa, khi có những khai mở của con người trong nỗ lực hiểu mối liên hệ của mình với Đấng Tạo Hoá, các cảnh báo đã được ban đi hết lần này đến lần khác về những gì sẽ là trải nghiệm của các cá nhân—những người tuy tuyên xưng một điều nhưng sống một điều khác, hoặc những người tìm cách lạm dụng điều đã được ban cho họ. Và các điều ấy đã xảy đến trong kinh nghiệm và trong các thế hệ của những dân tộc được chỉ bảo như thế.
These came about in the manners indicated, though not always at the times or periods as had been felt or expected by individuals. For, oft such expressions are found in dealing with such, that “his day and generation has not been completed,” yet in a little while there comes the opportunity.
Các điều ấy đã xảy ra theo các cách đã nêu, dù không phải lúc nào cũng đúng vào thời điểm hay giai đoạn như các cá nhân đã cảm thấy hay trông đợi. Vì, thường khi người ta nói khi đề cập những điều ấy rằng “ngày và thế hệ của người ấy chưa hoàn tất,” nhưng chẳng bao lâu sau cơ hội lại đến.
Then there came that period in man’s activity in which it was proclaimed, that no longer it would be in this temple or in this mountain that there would go out the message to the people, or to their gatherings here or there, but lo it would be written upon their hearts—so that the old men should dream dreams, the young men should see visions, the maidens should proclaim the acceptable year of the Lord.
Rồi đã đến thời kỳ trong hoạt động của con người khi lời được công bố, rằng sẽ không còn ở đền thờ này hay trên núi kia mà sứ điệp sẽ được gửi đến cho dân chúng, hay đến những nhóm họp nơi này nơi nọ, nhưng kìa nó sẽ được viết trên lòng họ—để những người già sẽ mộng mị, những người trẻ sẽ thấy khải tượng, các thiếu nữ sẽ công bố năm hồng ân của Chúa.
And then there came into the experience of the world He who was rejected of man.
Và rồi đã đến với kinh nghiệm của thế gian Ngài, Đấng bị loài người từ khước.
Only here and there, apparently for the little while, has there been that peace, that harmony which apparently was the promise of those, or to those, who would live or accept that promise as He gave, “I will come and abide with you always.”
Chỉ đây đó, dường như chỉ trong một thoáng, mới có được bình an, hoà điệu—điều dường như là lời hứa của những ai, hay cho những ai, sẽ sống hoặc chấp nhận lời hứa như Ngài đã ban: “Ta sẽ đến và ở cùng các ngươi luôn.”
Why then the turmoil in the world today?
Vậy, vì sao hôm nay thế giới lại hỗn loạn?
They have forgotten God! Not that it is merely a karmic condition of a nation, of a people; for, know ye not that the prayer of one man saved a city?
Họ đã quên Thượng đế! Không phải đó chỉ là tình trạng nghiệp quả của một quốc gia, của một dân tộc; vì, lẽ nào các ngươi không biết rằng lời cầu nguyện của một người đã cứu cả một thành?
Thinkest thou that the arm of God is shorter today than in days of yore?
Ngươi có nghĩ rằng cánh tay của Thượng đế hôm nay ngắn hơn ngày xưa chăng?
Then, as to the needs for those things and conditions which are to come to pass in America:
Vậy, những điều cần thiết cho những điều và điều kiện sẽ xảy ra ở nước Mỹ là gì:
When many of the isles of the sea, many of the lands, have come under the subjugation of those who fear not man nor the devil, but rather would associate with that in which they may proclaim might and power as being right in that of the superman, that would be of the generations as would be established—then shall thine own land see the blood flow as in those periods when brother fought against brother.
Khi nhiều hải đảo, nhiều vùng đất đã rơi vào sự khuất phục của những kẻ chẳng sợ người cũng chẳng sợ quỷ, mà đúng hơn là kết bè cùng điều mà họ có thể xưng tụng uy lực và quyền năng như là lẽ phải trong lý tưởng siêu nhân, như là thứ sẽ thuộc về các thế hệ sẽ được lập nên—thì rồi chính đất nước các ngươi sẽ thấy máu đổ như trong thời kỳ anh em chém giết lẫn nhau.
Then, what may ye do, what may ye think? Upon what may ye call? Only He who is able to keep that ye have committed unto Him against any experience that may arise.
Vậy, các ngươi có thể làm gì, có thể nghĩ gì? Các ngươi có thể nương cậy điều gì? Chỉ duy Ngài—Đấng có thể gìn giữ điều các ngươi đã phó thác cho Ngài—trước mọi trải nghiệm có thể dấy lên.
When thou hast gathered thy hoards of the earth together, and have entrusted them to the keeping of those who are wastrels, what has been and is the result in thy own experience? Want and need has come to thy hand!
Khi ngươi đã gom góp của cải thế gian của ngươi và giao phó chúng cho những kẻ phung phí, kết quả trong chính kinh nghiệm của ngươi là gì? Thiếu thốn và nhu cầu đã đến tay ngươi!
Yet when thou hast trusted only in Him, who is the Creator, the Maker of heaven and earth, then there has been peace and harmony, and sufficient unto the day the needs thereof.
Thế nhưng khi ngươi chỉ tín thác nơi Ngài, Đấng Tạo Hoá, Đấng Dựng nên trời đất, thì đã có bình an và hoà điệu, và đủ cho nhu cầu của ngày đó.
Ye only live moment by moment. Then, make that moment—each moment—as one in which ye will give glory to God by just being kind, and patient, and loving to thy fellow man. Thus ye will indeed find that ye will entertain Him, who has promised to be thy Brother, thy helper.
Các ngươi chỉ sống từng khoảnh khắc. Vậy, hãy làm cho khoảnh khắc ấy—mỗi khoảnh khắc—là một khoảnh khắc các ngươi dâng vinh quang cho Thượng đế bằng cách chỉ đơn giản nhân hậu, nhẫn nại và yêu thương đồng loại của mình. Như thế, quả thật các ngươi sẽ thấy rằng các ngươi sẽ tiếp đón Ngài, Đấng đã hứa sẽ là Huynh Trưởng, là trợ thủ của ngươi.
For as He gave, “Put thy burdens on me—learn of me.”
Vì như Ngài phán, “Hãy đặt gánh nặng của ngươi trên Ta— học nơi Ta.”
Then—as ye, as an American people, stand as a nation that has accepted Christianity, and has even put upon the coin of the realm “In God We Trust,”—ye must not trust in the might of man, nor in political or economic conditions. For these, too, will find their changes; and in high places many will be brought low; and many who are of low estate will be set as a city on a hill—whose light also may be cut off from not being planted in Him who is the true light.
Vậy—vì các ngươi, là một dân tộc Hoa Kỳ, đứng như một quốc gia đã chấp nhận Ki-tô giáo, và đã khắc trên đồng tiền quốc gia rằng “Chúng ta tin cậy nơi Thượng đế,”—các ngươi chớ đặt niềm tin nơi sức mạnh của con người, cũng không nơi các điều kiện chính trị hay kinh tế. Vì những điều đó rồi cũng đổi thay; và ở chốn cao sang nhiều người sẽ bị hạ xuống; và nhiều người ở địa vị thấp hèn sẽ được đặt lên như một thành trên đồi—mà ánh sáng của họ cũng có thể bị tắt nếu không cắm rễ nơi Ngài, Đấng là ánh sáng chân thật.
Let thy voice be raised, then, as in praise to thy Maker; not in word alone but rather in the manner in which ye meet thy fellow men day by day. For the prayer, and the living of same by those sixty and four who are here gathered, may even save America from being invaded—if that is what ye desire.
Vậy, hãy cất tiếng của ngươi lên như lời ca ngợi Đấng Tạo Hoá; không chỉ bằng lời mà đúng hơn là bằng cách ngươi đối đãi với tha nhân mỗi ngày. Vì lời cầu nguyện, và đời sống phù hợp với lời ấy của sáu mươi tư người đang nhóm họp nơi đây, thậm chí có thể cứu nước Mỹ khỏi bị xâm lược—nếu đó là điều các ngươi mong muốn.
For the Lord can, the Lord will, the Lord does preserve those who in righteousness ask. “Ask and ye shall receive; knock and it shall be opened unto you.”
Vì Chúa có thể, Chúa sẽ, Chúa đang gìn giữ những ai trong chính trực mà cầu xin. “Hãy xin thì sẽ được; hãy gõ thì cửa sẽ mở cho.”
And as ye live, so may the Christian light of love encompass the earth; not that of hate, selfishness, money, power, or fame!
Và khi các ngươi sống như thế, ánh sáng Ki-tô của tình thương có thể bao trùm địa cầu; chứ không phải thứ của hận thù, ích kỷ, tiền bạc, quyền lực hay danh vọng!
Then, all ye who are gathered here—Do not entrust this to someone else, but “I—even I!” Let rather thy cry be: “Lord, here am I! Use me in the way and manner that Thou seest best fit; that we may preserve the faith we have in the Lord, the Savior, Jesus the Christ; that we may still be as one brotherhood; as one knowing Thou art near; as one manifesting Thy power, O God; not of ourselves, but that others may see Thy glory—even the one next to me. Even though he may curse, may swear, may do those things that are unseemly, let thy power be manifested, O God; that Jesus, thy Son, may indeed come into the earth; that all men may know that He is the Lord of my heart, my mind, my body, my home, my country, my state, my nation!”
Vậy, tất cả các ngươi đang nhóm họp nơi đây—Đừng phó thác điều này cho người khác, mà là “Con—chính con!” Hãy để tiếng kêu của ngươi là: “Lạy Chúa, con đây! Xin dùng con theo cách và theo đường lối mà Ngài thấy là thích hợp nhất; để chúng con giữ được đức tin mà chúng con đặt nơi Chúa, Đấng Cứu Rỗi, Đức Jesus Đấng Christ; để chúng con vẫn là một huynh đệ; như một người biết Ngài ở gần; như một người biểu lộ quyền năng của Ngài, lạy Thượng đế; không phải của riêng chúng con, nhưng để người khác thấy vinh quang của Ngài—dẫu chỉ là người ở ngay bên con. Dầu người ấy có nguyền rủa, có thề thốt, có làm những điều không thích đáng, xin quyền năng của Ngài vẫn được biểu lộ, lạy Thượng đế; để Đức Jesus, Con của Ngài, quả thật đến với trần gian; để mọi người đều biết rằng Ngài là Chúa của lòng con, trí con, thân con, nhà con, xứ con, tiểu bang con, quốc gia con!”
It must begin, though, with self—lest ye know not the hour nor the day that He has turned His back on thee.
Tuy nhiên, điều ấy phải khởi đầu từ chính bản thân—kẻo các ngươi không biết giờ hay ngày Ngài đã quay lưng khỏi ngươi.
For He will not always bear with those who disregard Him; just as ye have seen those lands, those countries, those peoples give their blood. Let their suffering be not in vain, but glory ye rather in the cross of Christ. Suffer with them by giving of thy means, thy mind, thyself as channels to make His message known in the earth!
Vì Ngài sẽ không luôn chịu đựng những ai coi thường Ngài; cũng như các ngươi đã thấy những vùng đất, những quốc gia, những dân tộc kia đổ máu. Xin cho sự đau khổ của họ không trở nên vô ích, nhưng thay vào đó các ngươi hãy tự hào trong thập giá của Đức Christ. Hãy cùng đồng chịu với họ bằng cách dâng hiến của cải, trí tuệ, chính mình của ngươi như các kênh để làm cho sứ điệp của Ngài được biết đến trên đất!
Ye each seek to know—or many do—as to what will be the outcome of those activities in Europe, in Africa, in Asia.
Mỗi người trong các ngươi tìm biết—hoặc nhiều người tìm—về kết cục của những biến động ấy ở Âu Châu, Phi Châu, Á Châu sẽ ra sao.
All will be broken up—yea, all will seem as but naught; yet as they who pray live like they pray, there may come healing as this people, this company—yea, this land—gives that hope, increases that faith by their living, not hating; by their loving, not despising, that which is good.
Tất cả sẽ bị tan vỡ—phải, tất cả sẽ dường như hư không; nhưng khi những người cầu nguyện sống như điều họ cầu nguyện, có thể đến sự chữa lành khi dân tộc này, nhóm người này—phải, xứ sở này—ban phát hy vọng, gia tăng đức tin ấy bằng đời sống chứ không thù ghét; bằng tình yêu chứ không khinh miệt điều thiện.
Let that mind be in you, then, as in Christ Jesus, who thought it not robbery to make Himself equal with God, yet went about—everywhere, day by day—doing good; not “doing others” but doing good to others.
Hãy để tư tưởng ấy ở trong các ngươi, như ở trong Đức Christ Jesus, Đấng không coi sự làm cho mình ngang hàng với Thượng đế là sự cướp đoạt, song Ngài đã đi khắp nơi—ngày ngày—làm điều lành; không phải “ làm người khác” mà là làm điều lành cho người khác.
He is the way, the truth, the light. There is no other.
Ngài là đường đi, lẽ thật, ánh sáng. Không có con đường nào khác.
We are through.
Chúng tôi xin dừng.
[Background: World Affairs reading given in response to a question regarding astrological activity influencing the earth.]
[Bối cảnh: Buổi đọc Các Vấn Đề Thế Giới được đưa ra để đáp lại một câu hỏi liên quan đến hoạt động chiêm tinh ảnh hưởng đến địa cầu.]
Reading 3976-26; April 28, 1941
Buổi đọc 3976-26; 28 tháng 4, 1941
GC: In the light of the information given through this channel this morning, April 28, 1941, [for Mrs. [2550]] regarding astrological aspects for the next two weeks, and our desire to use this for the good of all, you will please advise us as to the character of changes to take place and how we may constructively meet them. You will then answer the questions, as I ask them.
GC: Dưới ánh sáng của thông tin được ban qua kênh này sáng nay, 28 tháng 4, 1941, [cho Bà [2550]] về các phương diện chiêm tinh trong hai tuần tới, và ước muốn của chúng tôi dùng điều này cho lợi ích của mọi người, xin hãy chỉ dẫn cho chúng tôi về tính chất của những thay đổi sẽ diễn ra và cách chúng tôi có thể kiến tạo đối diện chúng một cách xây dựng. Sau đó xin trả lời các câu hỏi khi tôi nêu.
EC: Yes, we have the information that has been indicated through these channels regarding astrological influences and their effect upon the future thought of each soul now manifesting in the earth.
EC: Vâng, chúng tôi có những thông tin đã được nêu qua các kênh này liên quan đến ảnh hưởng chiêm tinh và tác động của chúng lên tư tưởng tương lai của mỗi linh hồn đang biểu lộ trên trần thế.
As is understood by many, in the earth manifestation and the cycle of time much repeats itself; and those in authority, in high and low places, have the opportunity for individual expression—that wields an influence upon those who are directed in body, mind or thought or spirit by the activities of those manifesting in the earth.
Như nhiều người hiểu, trong sự biểu lộ ở trần gian và chu kỳ thời gian, nhiều điều lặp lại; và những người nắm quyền, ở chốn cao sang hay thấp hèn, có cơ hội biểu lộ cá nhân—điều sẽ tác động lên những ai bị dẫn hướng về thân xác, tâm trí, tư tưởng hay tinh thần bởi các hoạt động của những người đang biểu lộ trên trần thế.
As to those experiences paralleling the cycle of astrological activity now—beginning on the morrow—there will be the Sun, the Moon, Jupiter, Uranus and Venus all in the one sign.
Về những trải nghiệm song hành với chu kỳ hoạt động chiêm tinh hiện nay—bắt đầu từ ngày mai—sẽ có Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Mộc, Sao Thiên Vương và Sao Kim đều ở cùng một dấu hiệu.
When last this occurred, as indicated, the earth throughout was in turmoil, in strife.
Lần sau cùng điều này xảy ra, như đã nêu, địa cầu khắp nơi ở trong bão tố, trong tranh chấp.
There are still influences indicated in the lives of groups banded as nations, banded as peoples, still influenced by those happenings.
Vẫn còn các ảnh hưởng được chỉ ra trong đời sống của các nhóm liên kết thành quốc gia, liên kết thành dân tộc, vẫn còn bị ảnh hưởng bởi những biến cố ấy.
What then, ye ask, is the influence that makes for this great change that may be expected?
Vậy, các ngươi hỏi, ảnh hưởng nào tạo nên biến chuyển vĩ đại có thể trông đợi?
The powers of light and darkness, as then, as sixteen hundred (1600) years before. As in those periods, so today—we find nation against nation; the powers of death, destruction, the wrecking of that which has been and is held near and dear to the hearts of those who have through one form or another set ideals.
Các quyền lực của ánh sáng và bóng tối, như khi đó, như mười sáu trăm (1600) năm trước. Như trong các thời kỳ ấy, thì hôm nay—chúng ta thấy nước đối nghịch nước; quyền lực của chết chóc, tàn phá, hủy hoại những gì vốn đã và đang được gìn giữ như gần gũi và thân thương trong lòng của những người đã, bằng hình thức này hay hình thức khác, đặt ra các lý tưởng.
These are not to be questioned, in that as may be a helpful force; but what is coming to pass? and how may ye as individuals help?
Những điều này không phải là điều cần nghi vấn, trong chừng mực chúng có thể là một lực hữu ích; nhưng điều gì đang xảy ra? và các ngươi—với tư cách cá nhân—có thể giúp như thế nào?
As indicated in that given, to each it will become a personal thing, a personal condition. Thus it will require—yea, demand—that there be an expression on the part of each as to that given thirty-two hundred (3200) years ago: “Declare ye today Whom ye will serve! As for me and my house, we will serve the living God.”
Như đã chỉ ra trong điều được ban, đối với mỗi người nó sẽ trở thành điều cá nhân, một hoàn cảnh cá nhân. Do đó, sẽ đòi hỏi—phải, yêu cầu—rằng phải có sự biểu lộ từ nơi mỗi người theo điều đã được ban cách đây ba mươi hai trăm (3200) năm: “Hôm nay các ngươi hãy công bố Đấng mà các ngươi sẽ phục vụ! Phần ta và nhà ta, chúng ta sẽ phụng sự Thượng đế hằng sống.”
If there is sufficient, then, of those that will not only declare this in mind and in purpose but by deed and word of mouth, there may come then an enlightening through that which has been promised of old; that the young men shall dream dreams, the old men shall have visions, the daughters or maidens may know the spirit of truth—yea, that all may come to the greater knowledge of the indwelling of the Prince of Peace.
Nếu có đủ số người như thế, vừa công bố điều ấy trong tâm trí và trong mục đích, lại vừa bằng việc làm và bằng chính lời nói, thì rồi có thể đến sự khai minh qua điều đã hứa tự thuở xưa; rằng những người trẻ sẽ mộng mị, người già sẽ thấy khải tượng, các con gái hay thiếu nữ có thể biết Thần khí của lẽ thật—vâng, để mọi người có thể đến với hiểu biết lớn lao hơn về sự ngự trị bên trong của Vị Vương của Hòa Bình.
Strifes will arise through the period. Watch for them near Davis Strait in the attempts there for the keeping of the life line to a land open. Watch for them in Libya and in Egypt, in Ankara and in Syria, through the straits about those areas above Australia, in the Indian Ocean and the Persian Gulf.
Trong kỳ này sẽ dấy lên những tranh chấp. Hãy nhìn xem chúng gần eo biển Davis trong nỗ lực giữ mở đường sinh mệnh đến một vùng đất. Hãy nhìn xem chúng ở Libya và Ai Cập, ở Ankara và Syria, qua các eo biển quanh những vùng ở phía trên nước Úc, tại Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư.
Ye say that these are of the sea; yes—for there shall the breaking up be, until there are those in every land that shall say that this or that shows the hand of divine interference, or that it is nature taking a hand, or that it is the natural consequence of good judgments.
Các ngươi nói rằng đó là những việc của biển; đúng—vì chính tại đó sẽ có sự tan vỡ, cho đến khi có những người ở mọi xứ sẽ nói rằng điều này hay điều kia cho thấy bàn tay can thiệp thiêng liêng, hoặc rằng tự nhiên can dự, hoặc rằng đó là hệ quả tự nhiên của những phán đoán đúng đắn.
But in all of these, let each declare Whom ye will serve: a nation, a man, a state, or thy God?
Nhưng trong tất cả những điều này, hãy để mỗi người công bố Đấng mà các ngươi sẽ phục vụ: một quốc gia, một con người, một tiểu bang, hay Thượng đế của ngươi?
For to Him ye must look for comfort that ye know that comes. All that is of a temporal nature, this—too must pass away; yet there remains the comfort for those who declare themselves, “Let others do as they may, but as for me, I will serve the living God.”
Vì các ngươi phải hướng về Ngài để tìm sự ủi an mà các ngươi biết là đến. Mọi điều thuộc về tạm bợ, thì—điều đó—cũng phải qua đi; nhưng vẫn còn sự ủi an cho những ai tự xưng rằng, “Người khác có thể làm như họ muốn, nhưng phần tôi, tôi sẽ phụng sự Thượng đế hằng sống.”
In the period, too, there will be the breaking of agreements, the declaring of stands by groups will be known, and bring—to some—consternation.
Trong kỳ này cũng sẽ có sự bội ước, việc công bố lập trường bởi các nhóm sẽ được biết, và—đối với một số người—điều đó sẽ gây hoang mang.
But fear not ye that influence that may destroy the body. Rather give praise and glory to Him who may save both body and soul to everlasting joy.
Nhưng đừng sợ ảnh hưởng có thể huỷ diệt thân xác. Trái lại, hãy dâng lời tôn vinh ngợi khen Đấng có thể cứu cả thân xác lẫn linh hồn đến niềm vui muôn đời.
Let thy prayer then be:
Vậy, lời cầu nguyện của ngươi hãy là:
Lord, here am I! Use me in the way, in the manner thou seest fit; that I may ever be that thou hast purposed for me to be—a light shining as in darkness to those who have lost hope, from one cause or another.
Lạy Chúa, con đây! Xin dùng con theo đường lối, cách thức mà Ngài thấy thích hợp; để con luôn là điều Ngài đã định cho con—một ngọn đèn toả sáng như giữa bóng tối cho những ai vì lý do này hay khác đã mất hy vọng.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Is it indicated that America will enter the war during this two weeks?
(Q) Có chỉ dấu rằng nước Mỹ sẽ tham chiến trong hai tuần này không?
(A) There may be committed those aggressivenesses that may cause the leading to the breaking up of that determination which has been set, that may come about during this period; but not a declaration in the period. As we have indicated, more may come as disturbance to America from within than from without.
(A) Có thể có những hành vi xâm lấn khiến dẫn đến sự phá vỡ quyết tâm vốn đã được định, điều có thể xảy ra trong kỳ này; nhưng sẽ không có tuyên chiến trong kỳ. Như chúng tôi đã chỉ ra, điều gây rối cho nước Mỹ có thể đến từ bên trong hơn là từ bên ngoài.
(Q) Will serious civil strife in the United States result, and how soon, and of what nature?
(Q) Liệu sẽ có nội biến nghiêm trọng ở Hoa Kỳ không, và bao lâu nữa, và có tính chất gì?
(A) As we have indicated through these channels before, this depends upon whether or not those who have seen the light, those who understand the situations between labor and capital, the employee and the employer, pray and live consistent one with the other. As to how soon, this—too—may be determined by the happenings in the next two weeks; but as to the breaking up, this will depend on conditions, on developments farther along.
(A) Như chúng tôi đã chỉ ra trước đây qua các kênh này, điều này tuỳ thuộc vào việc những người đã thấy ánh sáng, những người hiểu tình thế giữa lao động và tư bản, giữa người làm công và chủ nhân, có cầu nguyện và sống nhất quán với nhau hay không. Bao lâu nữa—điều này—cũng có thể được quyết định bởi các biến cố trong hai tuần tới; nhưng về sự tan vỡ, điều đó sẽ tuỳ thuộc vào các điều kiện, vào các diễn biến về sau.
(Q) What can we do to counteract such serious happenings?
(Q) Chúng tôi có thể làm gì để hoá giải những biến cố nghiêm trọng như vậy?
(A) Make known the trouble—Where it lies; that they who have forgotten God must about face!
(A) Hãy công bố vấn nạn—nơi nó đang nằm; rằng những ai đã quên Thượng đế phải quay lại!
(Q) How can Milton W. Harrison be helpful, through his series of conferences?
(Q) Milton W. Harrison có thể giúp ích bằng cách nào qua chuỗi hội nghị của Ông?
(A) By the awareness of the disturbances, that God must not be left out of the purposes of men! For, as indicated, point to the happenings as divine direction.
(A) Bằng cách làm cho người ta nhận biết các xáo trộn này, rằng Thượng đế không được phép bị gạt ra ngoài các mục đích của con người! Vì, như đã chỉ ra, hãy chỉ vào những biến cố như là sự dẫn dắt thiêng liêng.
(Q) Or have you other suggestions?
(Q) Hay Ngài còn có gợi ý nào khác?
(A) Read that indicated. Let each and every soul call on not their God but the one God!
(A) Hãy đọc điều đã chỉ ra. Hãy để mỗi linh hồn kêu cầu không phải thần của riêng họ mà là một Thượng đế!
We are through for the present.
Tạm thời chúng tôi xin dừng.
[Background: World Affairs reading given during the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a discussion on “World Peace.”]
[Bối cảnh: Buổi đọc Các Vấn Đề Thế Giới được đưa ra trong kỳ Đại hội thường niên của các hội viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là thảo luận về “Hòa Bình Thế Giới.”]
Reading 3976-27; June 19, 1942
Buổi đọc 3976-27; 19 tháng 6, 1942
You will give a discourse on a spiritual and practical concept for World Peace, giving suggestions for individuals and group operations to make it effective. Then you will answer the questions that may be submitted, as I ask them:
Các ngài sẽ ban một bài thuyết giảng về một quan niệm tinh thần và thực tiễn cho Hòa Bình Thế Giới, đưa ra các gợi ý cho cá nhân và hoạt động theo nhóm để làm cho nó hữu hiệu. Sau đó Ngài sẽ trả lời các câu hỏi có thể được nêu, khi tôi hỏi:
EC: Yes, we have those interpretations that have been made by various individuals throughout time, as to what would or does constitute world peace.
EC: Vâng, chúng tôi có những diễn giải đã được thực hiện bởi nhiều cá nhân qua mọi thời, về điều gì tạo nên hay cấu thành hòa bình thế giới.
In the study of the history of various groups, in their varied activities through the earth, these in the most part have sought that which would satisfy or gratify the ideas and ideals of the few—or those that were set in power from various sources, or by circumstance as had arisen in the affairs of men in varied portions of the earth.
Khi nghiên cứu lịch sử của các nhóm khác nhau, trong các hoạt động đa dạng của họ trên trần thế, thì phần nhiều họ đã tìm kiếm điều thoả mãn hay làm vui thỏa ý tưởng và lý tưởng của số ít—hoặc của những người được đặt vào quyền lực bởi các nguồn khác nhau, hoặc do hoàn cảnh nảy sinh trong cục diện của loài người ở nhiều nơi trên đất.
Today we find a world at war. There is no individual but what is and will be affected by the outcome of the conflicting emotions that are prompting the activities in all the spheres of man’s experience in the earth.
Hôm nay, chúng ta thấy một thế giới đang chiến tranh. Không có cá nhân nào mà không bị, và sẽ bị, ảnh hưởng bởi kết cục của những xung động cảm xúc xung đột đang thúc đẩy các hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh nghiệm của con người trên trần thế.
Then, through whom, from whence may man gather an idea, an ideal to which he—as an individual or as a group, or as a nation—may adhere with impunity; to which purpose, to which ideal, to which surety he may put his faith, his confidence?
Vậy, qua ai, từ đâu con người có thể gom góp một ý niệm, một lý tưởng mà y—với tư cách cá nhân, hay nhóm, hay quốc gia—có thể bám giữ một cách yên ổn; để đặt niềm tin, niềm cậy trông vào mục đích, vào lý tưởng, vào sự chắc chắn nào?
As has been indicated, it is not in individuals or in personalities. For, these have failed—and are in the present causing those conflicts which have set the world on fire; causing death, destruction. And fear has crept into the heart even of the elect.
Như đã chỉ ra, không phải nơi các cá nhân hay nơi các phàm ngã. Vì những thứ ấy đã thất bại—và hiện thời đang gây ra những xung đột đã đốt cháy thế giới; gây chết chóc, tàn phá. Và sợ hãi đã len lỏi vào lòng ngay cả của những người được chọn.
Unless these days be shortened—as has been given—the very elect may be shaken, may tremble at the destruction, the littleness to which human life is held in the ideas of groups or nations, or those purposes that have been set.
Nếu các ngày này không được rút ngắn—như đã chỉ ra—thì chính những người được chọn cũng có thể bị lay chuyển, có thể run rẩy trước sự tàn phá, trước sự nhỏ bé mà sự sống con người bị coi là trong ý tưởng của các nhóm hay các quốc gia, hoặc trong những mục đích đã được đặt ra.
Then, there must be the looking to Him who has overcome the world; who hath known death, who hath known wars, who hath known trials, who hath known tribulations; who hath met man on his own consciousness of physical, mental and spiritual emotions; Him who hath given, “I come not to bring peace alone but a sword—to those who have forsaken the way of life”; Him—who came that man might have life more abundantly; He who, though capable of defying man, said in the hour of trial, “My hour is come—the prince of this world cometh, but he hath no part in me—My peace I give unto you; not as the world knoweth peace, but my peace.”
Vậy, cần phải hướng về Ngài —Đấng đã thắng thế gian; Đấng đã nếm biết sự chết, đã biết chiến tranh, đã biết các thử thách, đã biết các hoạn nạn; Đấng đã gặp con người ngay trên chính tâm thức của y—về những xúc cảm của thân xác, của tâm trí và của tinh thần; Đấng đã phán, “Ta không đến chỉ để đem bình an mà còn đem gươm—cho những kẻ đã lìa bỏ con đường của sự sống”; Đấng—đã đến để con người có được sự sống dư dật hơn; Ngài, dẫu có thể thách thức con người, đã nói trong giờ thử thách, “Giờ của Ta đã đến—chúa của đời này đến, nhưng nó chẳng có phần nào nơi Ta—Bình an của Ta Ta ban cho các ngươi; không như thế gian biết bình an, nhưng là bình an của Ta.”
Then, we find, peace in the world must begin first within the heart and purpose and mind of the individual, prompted by that something which answers within—even as has been given, “My spirit beareth witness with thy spirit, as to whether ye be the children of God or not.”
Vậy, chúng ta thấy, hòa bình trong thế giới phải khởi đầu trước hết trong lòng, trong mục đích và trong trí của từng cá nhân, được thúc đẩy bởi điều gì đó đáp ứng từ bên trong—như đã phán, “Thần linh của Ta làm chứng với thần linh của ngươi về việc các ngươi có phải là con cái của Thượng đế hay không.”
As man looks upon the world today, there comes that understanding, that manner in which choice and judgments may be drawn; even as He gave to that one who had announced by the authority of the prophets, “Behold the lamb of God, that taketh away the sins of the world,” who comes to bring peace into the hearts of those who seek to do righteousness in the earth. And yet because he had fallen into that answering as of self to fears within, he began to doubt—as apparently no measure was being attempted, outwardly at least, to relieve him of his bonds; and he asked, “Art thou He that was to come, or shall we look for another?” The Master’s answer is the judgment of today, even as then. There was not the Yes or the No answer, but “Go tell John that the sick are healed, the poor have the gospel preached, the lame walk, the blind see.”
Khi con người nhìn lên thế giới hôm nay, sẽ đến sự hiểu biết, cái cách mà ở đó có thể rút ra chọn lựa và phán đoán; như khi Ngài đã phán với người đã tuyên bố bởi thẩm quyền của các nhà tiên tri, “Kìa Chiên Con của Thượng đế, Đấng cất tội lỗi thế gian đi,” Đấng đến để đem bình an vào lòng của những ai tìm làm điều công chính trên trần thế. Thế mà, bởi người ấy đã rơi vào sự đáp ứng như của bản ngã trước nỗi sợ bên trong, người ấy bắt đầu hoài nghi—vì dường như chẳng hề có biện pháp nào, ít nhất là bên ngoài, để giải thoát khỏi xiềng xích; và người ấy hỏi, “Có phải Ngài là Đấng phải đến không, hay chúng tôi phải trông đợi một đấng khác?” Câu trả lời của Thầy là phán đoán cho hôm nay, như khi đó. Không phải là câu có/không, mà là “Hãy về nói với Giăng rằng kẻ đau được chữa lành, kẻ nghèo được rao giảng Tin Mừng, kẻ què đi được, kẻ mù thấy được.”
Not merely the physically lame, not merely the physically blind, not merely the physically sick—but it was that which answered to the whole purpose of man’s experience in the earth, which was completed in Him; that makes it possible for as many as believe to become the children of the living God.
Không chỉ là kẻ què về thể xác, không chỉ là kẻ mù về thể xác, không chỉ là kẻ bệnh về thể xác—mà đó là điều đáp ứng trọn mục đích của kinh nghiệm con người trên trần thế, điều đã được viên mãn trong Ngài; điều làm cho bao nhiêu kẻ tin thì trở nên con cái của Thượng đế hằng sống.
Then, thinkest thou that ye can treat thy neighbor, thy brother, with aught but the spirit of truth, the fruits of the spirit that He gave, and find other than that ye measure out? For, with what measure ye mete it is measured to thee again. As ye do it unto the least ye do it unto thy Maker.
Vậy, ngươi nghĩ mình có thể đối xử với láng giềng, với anh em mình, bằng bất cứ điều gì khác hơn là tinh thần của chân lý, các hoa trái của Thần khí như Ngài đã ban, mà lại mong gặt điều khác hơn điều ngươi đã đo lường ư? Vì với tiêu chuẩn nào ngươi đo, sẽ được đo lại cho ngươi. Hễ các ngươi làm điều đó cho người nhỏ bé nhất, là các ngươi làm điều đó cho Đấng Tạo Hoá của mình.
Whose spirit, what manner of peace, then, seek ye as individuals? That ye may gratify the appetites of thy body? That ye may satisfy the lust of the eye? That ye may know fame or fortune? These fade, these pass away.
Vậy, các ngươi—với tư cách cá nhân—tìm kiếm thần khí nào, kiểu bình an nào? Để thoả mãn các ham muốn của thân thể ngươi? Để làm mãn nhãn lòng tham của mắt? Để có danh hay lợi? Những điều ấy phai tàn, những điều ấy qua đi.
Only that which enables the individual also to bear the cross, even as He, will enable that individual to know that peace which encompassed Him in such a measure that He broke the bonds of death, overcame hell and the grave, and rose in a newness of life; that ye—here—and now—might know that peace in these troubled periods.
Chỉ điều gì khiến cá nhân cũng có thể vác thập giá, như Ngài, thì mới khiến cá nhân ấy biết được thứ bình an đã bao phủ Ngài đến mức Ngài phá tan xiềng xích của sự chết, thắng được âm phủ và mồ mả, và sống lại trong sự sống mới; để các ngươi—ngay đây—và bây giờ—có thể biết bình an ấy trong những thời kỳ bão tố này.
What can you do, then, as individuals, that this plague of war, this injustice to man be taken away—this plague of death and fear of destruction?
Vậy, các ngươi có thể làm gì, với tư cách cá nhân, để tai ương chiến tranh này, sự bất công đối với con người này được cất đi—tai ương của sự chết và nỗi sợ hãi tàn phá này?
Ye may stand—even as He—between the living and the dead!
Các ngươi có thể đứng—như Ngài—giữa kẻ sống và người chết!
Let those that die have that purpose even as He, “It shall not be in vain!”
Hãy để những ai qua đời có mục đích ấy như Ngài, “Điều đó sẽ không uổng công! ”
Let those that live live unto God; magnifying, spreading the fruits of brotherly love, kindness, patience; that this plague of war may be stayed.
Hãy để những ai sống thì sống cho Thượng đế; làm cho lớn lên, lan toả những hoa trái của tình huynh đệ, nhân hậu, nhẫn nại; để tai ương chiến tranh này được ngăn lại.
Ye cannot pray “Peace—Peace” when there is no peace in thine own heart and soul! but by knowing (for His spirit answers with thy spirit) that each day, each person ye meet is glad that you are alive! Glad that you have come in touch with them; for you have brought—and bring—hope to their lives, just in the passing!
Các ngươi không thể cầu, “Bình an—Bình an” khi trong lòng và linh hồn của chính ngươi không có bình an! mà là bằng việc biết (vì Thần linh của Ngài làm chứng với thần linh của ngươi) rằng mỗi ngày, mỗi người ngươi gặp đều vui mừng vì ngươi đang sống! Vui mừng vì ngươi đã chạm đến họ; bởi ngươi đã—và đang—mang đến hy vọng cho đời họ, chỉ trong thoáng gặp gỡ!
This means, then, that you may so live the life as He emulated in the earth, that ye radiate life, joy, peace! that which casteth out fear—by living, by being, by doing unto others, for others, that ye would like others to do unto you.
Điều đó có nghĩa là, ngươi có thể sống cuộc đời như Ngài đã nêu gương trên trần thế, để ngươi toả ra sự sống, niềm vui, bình an! điều xua tan sợ hãi—bằng đời sống, bằng hiện hữu, bằng việc làm cho người khác, vì người khác, điều ngươi muốn người khác làm cho mình.
O, ye say, this is not new! Neither is thy present disturbance, nor thy present hope, nor anything! For, even as he said, “There is nothing new under the sun.” What is has been, and will be again. Only as ye use that birthright, that purpose, that will within thine own consciousness to do justice, to do right, to love good, to eschew evil, may ye as individuals, as a group, as a nation, stand between the living and the dead—and stay the sin that maketh man make war—of any nature—against his brother.
Ồ, ngươi sẽ nói, điều này chẳng mới mẻ gì! Hiện cảnh xáo trộn của ngươi cũng không mới, niềm hy vọng hiện tại của ngươi cũng không mới, chẳng có gì mới! Vì như người xưa đã nói, “Chẳng có gì mới dưới ánh mặt trời.” Điều đã có rồi sẽ có lại. Chỉ khi ngươi dùng quyền thừa tự, mục đích, ý chí trong tâm thức riêng để làm công bình, làm điều đúng, để yêu điều thiện, để lìa điều ác, thì ngươi—với tư cách cá nhân, nhóm, quốc gia—mới có thể đứng giữa kẻ sống và người chết—và ngăn tội lỗi đang khiến con người gây chiến—bất cứ kiểu nào—chống lại anh em mình.
Thou art thy brother’s keeper! Act that in thine own heart. Who is thy brother? “Who is my mother? They that do the will of the Father, the same is my mother, my sister, my brother.”
Ngươi là người giữ anh em mình! Hãy làm điều ấy trong lòng mình. Ai là anh em ngươi? “Ai là mẹ Ta? Ai làm theo ý Cha, người ấy là mẹ Ta, chị em Ta, anh em Ta.”
If ye do the things of the devil, are ye not his? If ye do the things of the Lord (He is God), are ye not His?
Nếu các ngươi làm những điều của ma quỷ, há các ngươi không phải thuộc về nó sao? Nếu các ngươi làm những điều của Chúa (Ngài là Thượng đế), há các ngươi không phải thuộc về Ngài sao?
Then study to show thyself approved unto God, a workman not ashamed, rightly dividing the words of truth, keeping self unspotted from the world.
Vậy, hãy học để tỏ mình được chấp nhận trước Thượng đế, như người làm việc không hổ thẹn, phân giải ngay thẳng lời chân lý, giữ chính mình không vương bụi đời.
In this ye may build, here a little, there a little, line upon line, precept upon precept.
Trong điều này, các ngươi có thể xây dựng, đây một ít, kia một ít, dòng nối dòng, giới điều nối giới điều.
Fear and doubt cast away, trusting in the Lord. He alone can save.
Hãy xua đi sợ hãi và nghi ngờ, đặt lòng tin nơi Chúa. Chỉ một mình Ngài cứu được.
(Q) What should be the specific form of collaboration of the members of the Association to insure fulfillment of its purpose in the establishment of the new World Order?
(Q) Hình thức cộng tác cụ thể nào của các hội viên của Hội có thể bảo đảm hoàn tất mục đích trong việc kiến lập Trật tự Thế giới mới?
(A) Study—each individual member—to show thyselves approved unto God. Know, as has so oft been indicated, oft what may be good for one may be questionable for another. But know that the Lord knoweth His own and calleth them by name. Then let each one, as a son, as a daughter of the living God, feed His lambs, feed His sheep. With what? The spirit of truth, the spirit of peace! Apply that new commandment as He gave, “Love one another.” In all groups, all organizations, it is not what this or that name or group may do, but as one. For, the Lord thy God is one! And the Christ, the Savior, died for all—not for one! no sect, no schism, no ism, no cult. For, the first to meet the Lord in peace was he that was also crucified. That should, in each heart, make those who have named the Name, and who claim God as the Father, Jesus Christ as the elder brother, know that no sacrifice is too great in order that the glory, the honor of the Lord may be demonstrated, manifested among men. What is the test? The spirit, the fruits of the spirit,—that brings hope, kindness, longsuffering, patience into the experience; not merely the offering of self as one who would make of self a martyr, no. For, remember, the Lord could, the Lord might have kept away from the Cross. But for thy sake He bore the shame, though without sin. Remember ye what the thief said? “Rail not, for we but meet our own sin (or self), and He is without sin.” Then, make not of thyself a martyr, but as one that stands between the living and the dead, to glorify the Lord!
(A) Hãy học—mỗi hội viên—để tỏ mình được chấp nhận trước Thượng đế. Biết như đã quá nhiều lần chỉ ra, rằng điều có thể tốt cho người này có thể là điều còn nghi vấn cho người khác. Nhưng biết rằng Chúa biết những kẻ thuộc về Ngài và gọi tên từng người. Vậy, hãy để mỗi người, như con trai, con gái của Thượng đế hằng sống, chăn chiên con của Ngài, chăn chiên của Ngài. Bằng gì? Bằng tinh thần của chân lý, tinh thần của bình an! Áp dụng điều răn mới như Ngài đã ban, “Hãy yêu nhau.” Trong mọi nhóm, mọi tổ chức, điều hệ trọng không phải là nhóm hay danh này danh kia sẽ làm gì, mà là như một. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi là một! Và Đấng Christ, Đấng Cứu Rỗi, đã chết vì mọi người— không phải vì một người! không vì giáo phái nào, không vì phân phái nào, không vì chủ nghĩa nào, không vì giáo phái nào. Vì người đầu tiên gặp Chúa trong bình an là kẻ cũng bị đóng đinh. Điều đó phải khiến trong mỗi lòng của những ai đã kêu Danh Ngài, và xưng Thượng đế là Cha, Đức Jesus Christ là Huynh Trưởng, biết rằng không có hy sinh nào là quá lớn để vinh quang, vinh dự của Chúa được thể hiện, được bày tỏ giữa loài người. Bài thử thách là gì? Ấy là tinh thần, là hoa trái của Thần khí—đem hy vọng, nhân hậu, nhẫn nại, chịu đựng lâu dài vào kinh nghiệm; chứ không chỉ là dâng mình như kẻ muốn biến mình thành tử đạo, không. Vì nhớ rằng, Chúa có thể, Chúa có thể đã tránh khỏi thập giá. Nhưng vì các ngươi, Ngài đã chịu điều hổ nhục ấy, dẫu không có tội. Các ngươi còn nhớ tên trộm đã nói gì chăng? “Đừng miệt thị nữa, vì chúng ta chỉ đang gặp điều thuộc về tội (hay tự ngã) của chính mình, còn Ngài thì không hề có tội.” Vậy, chớ biến mình thành tử đạo, mà hãy như người đứng giữa kẻ sống và người chết, để tôn vinh Chúa!
(Q) In praying, speaking, writing, members of our Association may in a small way aid in promulgating sound spiritual concepts regarding obstructions to World Peace. As some of these obstructions are mentioned, please give the basic principles upon which constructive attitudes may be based: First, Economic inequalities of nations.
(Q) Trong khi cầu nguyện, diễn thuyết, viết lách, các hội viên của Hội chúng ta có thể, ở mức nhỏ, góp phần truyền bá các quan niệm tinh thần vững chắc liên quan đến những chướng ngại đối với Hòa Bình Thế Giới. Khi một số chướng ngại được nêu, xin vui lòng cho các nguyên tắc căn bản làm nền cho các thái độ mang tính xây dựng: Thứ nhất, bất bình đẳng kinh tế giữa các quốc gia.
(A) These are all answered in that question asked, “Art thou the Christ, or must we look for another?” What was the answer? Not “Yes, I am he that ye announced some three and a half years ago at Jordan,” no. “Tell him the sick are healed, the blind see—“This is the answer for meeting every problem, every question as to the economic condition of the nations. For He gave, “Let him that hath two coats give one to another. Let him that is forced to do this or that go the whole length.” These are the basic principles upon which world order, world economic and social relations may be established, manifested among men. For, while all have fallen short of the glory as manifested in Him, know that God—even as the Christ on the day of His crucifixion—is not a respecter of persons, nor of their employment. For, what good thing did the thief on the cross but to warn his brother thief, “We are meeting our just dues”? recognizing his shortcomings—hoping—doing something about same! Let ye as individuals, as a group, as an Association, do something about the problems. Not as to direct, not as to sit in high places; for no individual is in any place or position save by the grace of God. Who then can stand before the Lord? Only those who have the pure heart, the pure purpose. To them there is peace, even in the midst of strife, even in the midst of bloodshed.
(A) Tất cả những điều này đều đã được đáp lại trong câu hỏi: “Có phải Ngài là Đức Christ, hay chúng tôi phải tìm một Đấng khác?” Câu trả lời là gì? Không phải là “Đúng, Ta là Đấng mà các ngươi đã công bố chừng ba năm rưỡi trước ở sông Jordan”, không. “Hãy nói với ông ấy: kẻ đau được chữa lành, kẻ mù được thấy—” Đây là câu trả lời để ứng xử với mọi vấn đề, mọi câu hỏi liên quan đến tình trạng kinh tế của các quốc gia. Vì Ngài đã dạy: “Ai có hai áo, hãy cho người khác một áo. Ai bị bắt buộc làm điều này hay điều kia, hãy đi trọn quãng đường.” Đây là những nguyên tắc căn bản trên đó trật tự thế giới, các tương quan kinh tế và xã hội thế giới có thể được thiết lập, được biểu hiện giữa loài người. Vì, dẫu mọi người đều đã thiếu hụt so với vinh quang đã biểu lộ nơi Ngài, hãy biết rằng Thượng đế—cũng như Đức Christ trong ngày Ngài chịu đóng đinh—không thiên vị người nào, cũng chẳng thiên vị nghề nghiệp của họ. Bởi, kẻ trộm trên thập giá đã làm điều lành gì ngoài việc cảnh tỉnh người trộm đồng hành rằng: “Chúng ta đang chịu phần công chính của mình”? nhận ra thiếu sót của mình—hy vọng—và làm điều gì đó về điều ấy! Vậy mỗi người trong các ngươi, như những cá nhân, như một nhóm, như một Hiệp hội, hãy làm điều gì đó về các vấn đề. Không phải để chỉ đạo, không phải để ngồi ở chỗ cao trọng; vì không ai ở bất kỳ nơi chốn hay địa vị nào nếu không bởi ân sủng của Thượng đế. Vậy ai có thể đứng trước mặt Chúa? Chỉ những người có tâm trong sạch, mục đích trong sạch. Với họ có bình an, ngay giữa vòng tranh chấp, ngay giữa lúc đổ máu.
(Q) Racial hatreds?
(Q) Hận thù chủng tộc?
(A) This also is answered only in that the Lord is not a respecter of persons. “He that doeth the will of the Father, the same is my brother, my sister, my mother.” Those, to man, represented the closest relationship—blood of his own blood, materially. Then, mentally, spiritually, do something about those of the races that are misunderstood, or who have been neglected here or there!
(A) Điều này cũng chỉ được giải đáp ở chỗ Chúa không thiên vị người nào. “Ai làm theo ý muốn của Cha, người ấy là anh em Ta, chị em Ta, mẹ Ta.” Những người ấy, đối với con người, biểu trưng mối liên hệ gần gũi nhất—máu mủ của chính mình, theo vật chất. Vậy thì, về trí tuệ, về tinh thần, hãy làm điều gì đó về những người thuộc các chủng tộc bị hiểu lầm, hay đã bị lãng quên chỗ này chỗ khác!
(Q) Nationalism?
(Q) Chủ nghĩa quốc gia?
(A) There should be the feeling for the own self, but not unto the detriment of others. For, though He were the Son, He took upon Himself the form of man, became as naught, subject to all the trials, all the sorrows of thine own self. Then, what right has any man to set state or nation above that principle of brotherly love? But always “Render unto Caesar the things that are Caesar’s and unto God the things that are God’s.”
(A) Cần có tình cảm đối với chính mình, nhưng không đến mức gây tổn hại cho kẻ khác. Vì, dẫu Ngài là Con, Ngài đã khoác lấy hình người, trở nên hư không, chịu mọi thử thách, mọi sầu khổ như chính các ngươi. Vậy thì, người nào có quyền đặt nhà nước hay quốc gia cao hơn nguyên tắc tình huynh đệ? Nhưng luôn luôn: “Hãy trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và trả cho Thượng đế những gì thuộc về Thượng đế.”
(Q) Religious differences?
(Q) Khác biệt tôn giáo?
(A) These are the swords He brought into man’s material understanding. And more wars, more bloodshed have been shed over the racial and religious differences than over any other problem! These, too, must go the way of all others; and man must learn—if he will know the peace as promised by Him—that God loveth those who love Him, whether they be called of this or that sect or schism or ism or cult! The Lord is one!
(A) Đây là những lưỡi gươm Ngài đem vào sự hiểu biết vật chất của con người. Và đã có thêm nhiều cuộc chiến, nhiều máu đổ vì khác biệt chủng tộc và tôn giáo hơn bất kỳ vấn đề nào khác! Những điều ấy cũng phải đi theo con đường của mọi thứ khác; và con người phải học—nếu muốn biết bình an như Ngài đã hứa—rằng Thượng đế yêu những ai yêu Ngài, bất kể họ được gọi theo phái này hay phái nọ, giáo phái hay chủ nghĩa hay nhóm nào! Chúa là Một!
We are through for the present.
Hiện tạm dừng tại đây.
[Background: World Affairs reading given during the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a discussion on “international peace founded upon understanding of one another’s economic, social and spiritual problems.”]
[Thông tin nền: Buổi đọc Thời sự Thế giới được đưa ra trong kỳ Đại hội thường niên của các hội viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là thảo luận về “nền hòa bình quốc tế đặt nền tảng trên sự thấu hiểu các vấn đề kinh tế, xã hội và tinh thần của nhau.”]
Reading 3976-28; June 20, 1943
Buổi đọc 3976-28; 20 tháng 6, 1943
GC: You will have before you the conditions in the world today, and that needed by those seeking advice in helping to construct a permanent basis for international peace founded upon understanding of one another’s economic, social and spiritual problems. You will answer the questions, as I ask them:
GC: Trước mặt ông sẽ là các tình trạng trên thế giới hôm nay, và điều cần cho những người tìm lời khuyên để trợ giúp xây dựng một nền tảng bền vững cho hòa bình quốc tế đặt trên sự thấu hiểu các vấn đề kinh tế, xã hội và tinh thần của nhau. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu chúng:
EC: Yes, we have—as we have had before—those problems which have brought about the upheavals and the wars, the distrust, the jealousy, the hate existing today. These are the result of man’s forgetting God, and that which truly represents man’s sincere attempt to worship, honor and glorify a living God.
EC: Vâng, chúng ta có—như trước đây—những vấn đề đã gây ra biến động và chiến tranh, sự ngờ vực, ghen ghét, hận thù đang hiện hữu hôm nay. Đây là kết quả của việc con người quên Thượng đế, và quên điều thực sự biểu lộ nỗ lực chân thành của con người nhằm thờ phượng, tôn kính và làm vinh hiển một Thượng đế hằng sống.
For this may only be done in the manner in which individuals, states, nations, treat their fellow man. For, as ye do unto others, ye do to thy Maker. And when those activities are such as to dishonor thy fellow man, ye dishonor thy God—and it brings all of those forms of disturbance that exist in the world today.
Vì việc này chỉ có thể được thực hiện bằng cách các cá nhân, tiểu bang, quốc gia, đối xử với đồng loại của mình như thế nào. Bởi, như các ngươi làm cho người khác, là các ngươi làm cho Đấng Tạo Hóa của mình. Và khi những hành động như thế là làm nhục đồng loại của ngươi, các ngươi làm nhục Thượng đế—và nó mang đến tất cả những hình thức rối loạn đang hiện diện trên thế giới hôm nay.
As for the individuals here—peace must begin within self before there may be the activity or the application of self in such a manner as to bring peace in thine own household, in thine own heart, in thine own vicinity, in thine own state or nation. And only one agreement: Worship God in a manner that is in keeping with the dictates of thy conscience.
Còn đối với những cá nhân ở đây—bình an phải khởi đầu từ nội tâm trước khi có thể có hoạt động hay sự ứng dụng bản thân theo cách đem hòa bình đến trong chính gia đình ngươi, trong chính trái tim ngươi, trong khu vực của ngươi, trong tiểu bang hay quốc gia của ngươi. Và chỉ một sự đồng thuận: Thờ phượng Thượng đế theo cách phù hợp với lương tâm của ngươi.
Thus—nothing new, nothing strange; yet on Friday next strange things will happen, that will determine as to how long, as to how many, as to what will be necessary. These are thoughts and activities of men, but are as the mind and the body in the individual. When there has been rebellion in the body of sufficient of the cells to set up resistance, illness begins.
Vậy—không có gì mới, không có gì lạ; nhưng đến thứ Sáu tới đây những điều lạ lùng sẽ xảy ra, sẽ định đoạt xem kéo dài bao lâu, bao nhiêu người, và những gì sẽ là cần thiết. Đây là tư tưởng và hoạt động của con người, nhưng giống như tâm trí và thân thể trong một cá nhân. Khi trong thân thể có đủ số tế bào nổi loạn để gây nên sự kháng cự, bệnh tật bắt đầu.
When there has been in the earth those groups that have sufficiently desired and sought peace, peace will begin. It must be within self.
Khi trên trần gian có những nhóm người đã đủ mức mong muốn và kiếm tìm hòa bình, hòa bình sẽ bắt đầu. Nó phải bắt đầu nơi chính tự thân.
The same is true in economic conditions. He that saith he loveth God and seeth his neighbor in need of food or a coat, and saith “Go in peace—God be with thee,” and does nothing about same, is a liar and a thief, wherever he may be; is false to self and will one day create those things that will bring discontent and disputations in the earth.
Điều tương tự đúng trong các điều kiện kinh tế. Ai nói rằng mình yêu Thượng đế mà thấy người lân cận đang cần lương thực hay một chiếc áo, rồi nói “Hãy đi bình an—Cầu Thượng đế ở cùng ngươi”, nhưng không làm gì về điều đó, thì kẻ ấy là kẻ nói dối và là kẻ trộm, ở bất cứ đâu; là kẻ giả dối với chính mình và một ngày kia sẽ tạo ra những điều khiến bất mãn và tranh cãi lan tràn trên trần gian.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Is there any indication of the time at which hostilities will cease between this country and Italy, Germany? Japan?
(Q) Có chỉ dấu nào về thời điểm chấm dứt thù địch giữa nước này với Ý, Đức? Nhật Bản?
(A) These are [dependent on] the thoughts and principles of men. They will be able to determine much as regards more than one, by the 25th of June. [Decisions in re labor unions?]
(A) Những điều này [phụ thuộc vào] tư tưởng và nguyên tắc của con người. Họ sẽ có thể định đoạt được rất nhiều, liên quan đến hơn một nước, vào ngày 25 tháng 6. [Các quyết định liên quan đến công đoàn lao động?]
(Q) Could a suggestion be made as to the major problems which will confront us in the making of the peace?
(Q) Có thể đề nghị những vấn đề lớn nào sẽ đối mặt với chúng ta trong việc kiến tạo hòa bình?
(A) Differences of opinions in the different religious groups, as well as the economic conditions in the varied land, will be those things that will cause greater disputations. As for this own land, more turmoils will be in and following peace—not immediate—than there are in the present. These will be turmoils from within. Lack of godliness in the hearts of some of those that direct the affairs of groups.
(A) Sự khác biệt quan điểm giữa các nhóm tôn giáo khác nhau, cũng như các điều kiện kinh tế ở nhiều xứ sở, sẽ là những điều gây ra tranh cãi lớn hơn. Còn với xứ sở này, sẽ có nhiều rối ren trong và sau khi hòa bình—không phải ngay lập tức—hơn cả hiện tại. Đó sẽ là những rối ren từ bên trong. Sự thiếu kính sợ Thượng đế trong lòng một số người điều hành công việc của các nhóm.
(Q) What could our own country be doing toward equalizing opportunities for trade among the nations immediately following the war?
(Q) Quốc gia chúng ta có thể làm gì để cân bằng cơ hội thương mại giữa các quốc gia ngay sau chiến tranh?
(A) In some quarters too much is being done already! These are the things over which many disputes will arise. But there must first come some basis for an economic situation in all lands, in those that are a part of the united effort against what is called aggression, as well as the conditions in those lands over which those devastating activities have come in every form. Food, clothing, and all of those things that make the heart of man—as man—afraid.
(A) Ở vài nơi đã làm quá nhiều rồi! Đây sẽ là những điều gây ra nhiều tranh chấp. Nhưng trước hết phải có một cơ sở nào đó cho tình thế kinh tế ở mọi xứ sở, ở những nơi là thành phần của nỗ lực liên hiệp chống lại cái gọi là xâm lược, cũng như những điều kiện ở những xứ sở đã phải chịu các hoạt động tàn phá dưới mọi hình thức. Lương thực, y phục, và tất cả những điều khiến trái tim con người—với tư cách con người—phải sợ hãi.
(Q) Will we move toward a lowered tariff?
(Q) Chúng ta sẽ tiến tới việc hạ thuế quan chứ?
(A) In many directions, yes.
(A) Theo nhiều hướng, có.
(Q) Will it be possible to maintain a fair standard of living for our own people while helping to raise economic standards in other parts of the world?
(Q) Liệu có thể duy trì một mức sống công bằng cho dân ta trong khi giúp nâng chuẩn mực kinh tế ở các phần khác trên thế giới?
(A) Not only must it be possible, it must be done! if there will be any lasting peace! But it must begin in the hearts and minds of individuals. For it is as just given. As the vital cells of the body—when they have rebelled, and caused sufficient others to do likewise, destruction sets in.
(A) Không những phải có thể, mà còn phải được thực hiện! nếu muốn có bất kỳ nền hòa bình bền lâu nào! Nhưng nó phải bắt đầu trong trái tim và tâm trí của mỗi người. Vì như vừa nói. Cũng như các tế bào sinh mệnh của thân thể—khi chúng đã nổi loạn, và khiến đủ số khác làm theo, thì sự hủy hoại bắt đầu.
(Q) Would it be feasible to work out an international currency, or an international stabilization of exchange values?
(Q) Có khả thi không nếu xây dựng một đồng tiền quốc tế, hoặc một sự ổn định quốc tế về giá trị hối đoái?
(A) This, too, will be worked toward. It will be a long, long time before established. There may indeed be another war over just such conditions, but it’ll be a step in the right direction—in the attempts in bringing peace at this time.
(A) Điều này cũng sẽ được hướng tới. Sẽ còn rất, rất lâu mới được thiết lập. Quả thật có thể sẽ có một cuộc chiến nữa vì chính những điều kiện như thế, nhưng đó sẽ là một bước đi đúng hướng—trong các nỗ lực đem lại hòa bình lúc này.
(Q) How might we cooperate in setting up an international police force in such fashion that our recent enemies will not be antagonized?
(Q) Làm thế nào chúng ta có thể hợp tác trong việc thiết lập một lực lượng cảnh sát quốc tế theo cách mà không khiến kẻ thù gần đây của ta bị kích động?
(A) These have expected same, and unless some such is created, they will ever feel they have won the war, no matter how much they declare their willingness to quit!
(A) Họ đã trông đợi điều ấy, và nếu không có thứ như thế được thiết lập, họ sẽ luôn cho rằng mình đã thắng cuộc chiến, bất kể họ tuyên bố sẵn lòng chấm dứt đến mức nào!
(Q) Can the re-education of the German people in the principles of democracy be conducted in such fashion that their own cooperation will be enlisted? How?
(Q) Việc tái giáo dục người Đức theo các nguyên tắc dân chủ có thể tiến hành theo cách thu hút được chính sự hợp tác của họ không? Bằng cách nào?
(A) This depends upon from what standard. Who would set the standard for the democratic education of a Germany who considers itself already more wise than all the democracies! Rather teach them God, and how to search and find Him, and apply His principles in dealing with their fellow man.
(A) Điều này tùy thuộc chuẩn mực nào. Ai sẽ đặt ra chuẩn mực cho việc giáo dục dân chủ đối với một nước Đức vốn tự xem mình đã khôn ngoan hơn mọi nền dân chủ! Thà hãy dạy họ về Thượng đế, và cách tìm kiếm để gặp Ngài, và áp dụng các nguyên tắc của Ngài trong khi đối xử với đồng loại.
(Q) Should educational materials be prepared ahead of time, and if so by what sort of representative group?
(Q) Có nên soạn trước tài liệu giáo dục không, và nếu có thì do một nhóm đại diện kiểu nào?
(A) We do not find this altogether feasible, without there having already been preconceived ideas by those who set themselves up as little gods to tell the others what to do. This is not democracy. But teach them God, and first, “Thou shalt love the Lord thy God as thyself, and thy neighbor as thyself, with thy heart, with thy mind, with thy purpose.” But so long as there is the gospel sent with the jug and a bullet, you will not teach them God.
(A) Chúng tôi cho rằng điều này không thực sự khả thi, nếu không sẽ có sẵn các định kiến của những kẻ tự tôn mình làm “tiểu thần” để bảo người khác phải làm gì. Đó không phải là dân chủ. Nhưng hãy dạy họ về Thượng đế, và trước hết, “Ngươi phải yêu kính Chúa là Thượng đế của ngươi như chính mình, và yêu người lân cận như chính mình, bằng cả trái tim, trí tuệ, và mục đích của ngươi.” Nhưng chừng nào còn rao giảng “phúc âm” mà kèm theo bình rượu và viên đạn, các ngươi sẽ không dạy họ về Thượng đế đâu.
(Q) Since we are fighting for the freedom of all races, what suggestions could you give us toward effecting greater equality of opportunity for minority groups in our own country?
(Q) Vì chúng ta đang chiến đấu cho tự do của mọi chủng tộc, xin cho những đề nghị nào giúp tạo bình đẳng cơ hội lớn hơn cho các nhóm thiểu số tại chính đất nước mình?
(A) As indicated in the first, all groups must have their representation and their privileges, that they—too—may have the opportunity. Unless we begin within our own selves and our own household, we are false to ourselves and to the principles that we attempt to declare. By setting classes or masses against other groups—this is not brotherly love.
(A) Như đã nêu ngay từ đầu, mọi nhóm đều phải có đại diện và đặc quyền của họ, để họ—cũng vậy—có cơ hội. Nếu không khởi sự từ chính bản thân mình và chính gia đình mình, chúng ta là giả dối với chính mình và với các nguyên tắc ta cố tuyên xưng. Dùng việc đặt giai tầng này hay đám đông kia chống lại các nhóm khác—đó không phải tình huynh đệ.
(Q) Would it be wise at this time, before hostilities cease, for the United States to rescind the Japanese exclusion act in favor of proportionate immigration such as we permit from other countries?
(Q) Liệu lúc này, trước khi chấm dứt thù địch, Hoa Kỳ có nên hủy bỏ đạo luật loại trừ người Nhật để thay bằng nhập cư theo tỷ lệ như ta vẫn cho phép từ các nước khác?
(A) Who made me judge over my fellow man? When ye do, ye have given away half thy land!
(A) Ai đã đặt Ta làm quan tòa trên đồng loại? Khi các ngươi làm thế, là các ngươi đã trao đi một nửa đất nước của mình!
(Q) Could you suggest any other move which would help to validate our immediate international good will?
(Q) Ông có thể gợi ý một động thái nào khác giúp củng cố thiện chí quốc tế tức thời của chúng ta không?
(A) How was international good will described with such as in the land of the Hittites and the Hivites? This is a good judgement. Better let ‘em come again! [Josh. 9; Josh. 11] [Euthanasia? Reincarnation?]
(A) Thiện chí quốc tế đã được mô tả thế nào trong những trường hợp như xứ Hê-tít và Hi-vít? Đó là một phán định tốt. Tốt hơn là hãy để họ lại đến nữa! [Giô-suê 9; Giô-suê 11] [An tử? Luân hồi?]
We are through for the present.
Hiện tạm dừng tại đây.
[Background: World Affairs reading given during the annual Congress meeting of members of Edgar Cayce’s A.R.E. The topic was a discussion on the vibrations and spirit of various nations.]
[Thông tin nền: Buổi đọc Thời sự Thế giới được đưa ra trong kỳ Đại hội thường niên của các hội viên A.R.E. của Edgar Cayce. Chủ đề là thảo luận về các rung động và tinh thần của nhiều quốc gia.]
Reading 3976-29; June 22, 1944
Buổi đọc 3976-29; 22 tháng 6, 1944
GC: It has been indicated through this channel that much might be given regarding what the vibrations of nations, as individuals, might mean. You will give such information concerning these vibrations and their relations to the spirit of the various nations, particularly in connection with the seven sins and twelve virtues in the human family, which will be helpful to us as an organization and as individuals in our attempt to be channels of blessing to our fellow men. You will then answer the questions, which may be submitted, as I ask them.
GC: Qua kênh này đã chỉ ra rằng có thể trình bày nhiều điều liên quan đến ý nghĩa của các rung động của quốc gia, như với cá nhân. Ông sẽ cung cấp những thông tin như vậy về các rung động này và mối liên hệ của chúng với tinh thần của các quốc gia khác nhau, đặc biệt liên quan đến bảy tội và mười hai đức trong gia đình nhân loại, sao cho hữu ích cho chúng tôi như một tổ chức và như các cá nhân trong nỗ lực làm kênh ban phước cho đồng loại. Sau đó ông sẽ trả lời các câu hỏi có thể được nêu, khi tôi đặt ra.
EC: When there came about the periods of man’s evolution in the earth, what was given then as to why man must be separated into tongues, into nations, into groups? “Lest they in their foolish wisdom defy God.” What is here then intimated? That man, seeking his own gratification of the lusts of the flesh, might even in the earth defy God. With what, then, has man been endowed by his Creator? All that would be necessary for each individual soul-entity to be a companion with God. And that is God’s desire toward man.
EC: Khi đến các thời kỳ của tiến trình thăng thượng của con người trên trần gian, khi ấy đã nói gì về lý do con người phải bị phân tách ra thành các tiếng nói, các quốc gia, các nhóm? “Kẻo họ, trong sự khôn ngoan dại dột của mình, lại dám thách thức Thượng đế.” Vậy ở đây hàm ý điều gì? Rằng con người, kiếm tìm thỏa mãn các dục vọng của xác thịt, có thể ngay trên trần gian này thách thức Thượng đế. Vậy, con người đã được Đấng Tạo Hóa phú cho những gì? Tất cả những gì cần thiết để mỗi linh hồn-cá thể trở nên một bạn đồng hành với Thượng đế. Và đó là ý muốn của Thượng đế đối với con người.
Thus when man began to defy God in the earth and the confusion arose which is represented in the Tower of Babel—these are representations of what was then the basis, the beginnings of nations. Nations were set up then in various portions of the land, and each group, one stronger than another, set about to seek their gratifications. Very few—yea, as ye will recall, it even became necessary that from one of these groups one individual, a man, be called. His ways were changed. His name was changed. Did it take sin away from the man, or was it only using that within the individual heart and purpose and desire even then, as man throughout the periods of unfoldment put—in his interpretation—that of material success first? It isn’t that God chose to reserve or save anything that was good from man, so long as man was, is, and will be one who uses that living soul as a companion with God. That’s God’s purpose. That should be man’s purpose.
Vì thế khi con người bắt đầu thách thức Thượng đế trên trần gian và sự hỗn loạn nảy sinh, điều được tượng trưng trong Tháp Ba-bên—đó là các biểu trưng cho nền tảng, khởi nguyên của các quốc gia. Các quốc gia được thiết lập khi ấy ở nhiều phần đất khác nhau, và mỗi nhóm, nhóm này mạnh hơn nhóm kia, khởi sự kiếm tìm thỏa mãn của họ. Rất ít—vâng, như các ngươi sẽ nhớ, thậm chí đã phải cần gọi ra từ một trong các nhóm ấy một cá nhân, một người. Đường lối của ông được thay đổi. Tên của ông được thay đổi. Điều đó có cất bỏ tội khỏi người ấy không, hay chỉ là sử dụng điều vốn đã ở trong lòng, trong mục đích và ước muốn của cá nhân ngay khi ấy, như con người xuyên suốt các thời kỳ khai mở đã đặt—trong diễn giải của mình—thành công vật chất lên hàng đầu? Không phải Thượng đế đã lựa chọn cất giấu hay giữ lại điều tốt lành nào khỏi con người, miễn là con người đã, đang và sẽ là người biết dùng linh hồn sống động ấy làm bạn đồng hành với Thượng đế. Đó là mục đích của Thượng đế. Đó cũng nên là mục đích của con người.
In the application of this principle, then, in the present day what has come about? Each nation has set some standard of some activity of man as its idea, either of man’s keeping himself for himself or of those in such other nations as man’s preparation for that companionship with God. For remember, there are unchangeable laws. For God is law. Law is God. Love is law. Love is God. There are then in the hearts, the minds of man, various concepts of these laws and as to where and to what they are applicable. Then, just as in the days of old, the nature of the flesh, human flesh and its natures, has not changed, but the spirit maketh alive. The truth maketh one free. Just as man has done throughout the ages, so in the present, as one takes those of the various nations as have seen the light and have, through one form or another, sought to establish as the idea of that nation, of that people, some symbol that has and does represent those peoples in those days of the fathers of the present land called America.
Trong việc ứng dụng nguyên tắc này, ở ngày nay đã xảy ra điều gì? Mỗi quốc gia đã đặt một chuẩn mực nào đó cho một hoạt động nào đó của con người như là lý tưởng của mình, hoặc là giữ mình cho chính mình, hoặc là coi những quốc gia khác như sự chuẩn bị của con người cho tình bạn đồng hành ấy với Thượng đế. Vì hãy nhớ, có những định luật bất biến. Vì Thượng đế là định luật. Định luật là Thượng đế. Tình thương là định luật. Tình thương là Thượng đế. Vậy nên, trong lòng và trí của con người, có các quan niệm khác nhau về những định luật này và về nơi chốn, cũng như phạm vi áp dụng. Rồi, cũng như xưa kia, bản tính của xác thịt, của xác thịt con người và các bản năng của nó, không hề đổi, nhưng thần khí làm cho sống động. Chân lý làm cho một người được tự do. Cũng như con người đã làm suốt các thời đại, thì nay, khi xét các quốc gia khác nhau—những nơi đã thấy ánh sáng và, qua hình thức này hay khác, đã cố thiết lập như là lý tưởng của quốc gia ấy, của dân tộc ấy—một biểu tượng nào đó, thứ đã và đang biểu trưng cho dân ấy trong những ngày của các bậc tiền nhân xứ sở hiện nay gọi là Mỹ.
What is the spirit of America? Most individuals proudly boast “freedom.” Freedom of what? When ye bind men’s hearts and minds through various ways and manners, does it give them freedom of speech? Freedom of worship? Freedom from want? Not unless those basic principles are applicable throughout the tenets and lines as has been set, but with that principle freedom. For God meant man to be free and thus gave man will, a will even to defy God. God has not willed that any soul should perish, but hath with every trial or temptation prepared a way of escape.
Tinh thần của nước Mỹ là gì? Đa số người tự hào khoe “tự do.” Tự do khỏi điều gì? Khi các ngươi trói buộc lòng và trí của con người qua nhiều cách thức và phương tiện, điều đó có cho họ tự do ngôn luận không? Tự do thờ phượng không? Tự do khỏi thiếu thốn không? Không, trừ phi các nguyên tắc căn bản ấy được áp dụng xuyên suốt các điều khoản và đường lối đã đặt ra, nhưng với nguyên tắc tự do làm nền. Vì Thượng đế muốn con người được tự do và do đó Ngài ban cho con người ý chí, một ý chí đủ để thách thức Thượng đế. Thượng đế không hề ý muốn cho bất kỳ linh hồn nào phải hư vong, nhưng đã kèm theo mỗi thử thách hay cám dỗ một lối thoát.
There have come through the various periods of man’s unfoldment, teachers proclaiming “This the way, here the manner in which ye may know,” and yet in the Teacher of Teachers is found the way, He who even in Himself fulfilled the law. For when God said, “Let there be light” there came Light into that which He had created, that was without form and was void and it became the Word, and the Word dwelt among men and men perceived it not. The Word today dwells among men and many men perceive it not.
Qua các thời kỳ khai mở của con người, đã có những bậc thầy tuyên xưng “Đây là con đường, đây là cách các ngươi có thể biết”, và rồi trong Vị Thầy của các thầy tìm thấy con đường, Đấng mà ngay nơi chính Ngài đã làm trọn định luật. Vì khi Thượng đế phán, “Hãy có ánh sáng” thì Ánh sáng xuất hiện trong cái mà Ngài đã sáng tạo, cái vốn vô hình vô dạng và trống không, và nó trở nên Linh từ, và Linh từ đã cư ngụ giữa loài người mà người đời không nhận biết. Linh từ hôm nay vẫn cư ngụ giữa loài người và nhiều người vẫn không nhận biết.
Those nations who have taken those vows that man shall be free should also take those vows “He shall know the truth and the truth then shall make him free.”
Những quốc gia đã phát thệ rằng con người sẽ được tự do cũng nên phát thệ rằng “Con người sẽ biết chân lý, và chân lý ấy sẽ khiến họ được tự do.”
Then what is this that would be given thee today? Here is thy lesson: Hear ye all! Beware lest ye as an individual soul, a son, a daughter of God, fail in thy mission in the earth today; that those ye know, those ye contact shall know the truth of God, not by thy word, bombastic words, but in longsuffering, in patience, in harmony, that ye create in thine own lives, for it must begin with thee. God has shown thee the pattern, even one Jesus, who became the Christ that ye might have an advocate with the Father, for the Father hath said “In the day ye eat or use the knowledge for thine own aggrandizement, ye shall die.” But he that had persuaded the spirit, the souls that God had brought into being, to push into matter to gratify desire for self-expression, self-indulgence, self-satisfaction, said “Ye shall not surely die”, or what were then the activities of man—for as had been said, “A day is a thousand years, a thousand years as a day.”
Vậy hôm nay điều gì sẽ được trao cho các ngươi? Đây là bài học của các ngươi: Hãy nghe! Hãy coi chừng kẻo chính ngươi—một linh hồn cá thể, một người con trai, con gái của Thượng đế—lỡ mất sứ mệnh của mình trong trần gian hôm nay; rằng những người ngươi biết, những người ngươi tiếp xúc sẽ biết chân lý của Thượng đế, không bởi lời nói lớn tiếng, phô trương, mà bằng sự nhẫn nại, bằng lòng chịu đựng, bằng hòa điệu mà ngươi tạo ra trong chính đời sống mình, vì nó phải khởi đầu từ ngươi. Thượng đế đã cho ngươi khuôn mẫu, chính là một Giê-su, Đấng đã trở nên Đức Christ để các ngươi có một Đấng biện hộ trước Cha, vì Cha đã phán “Trong ngày các ngươi ăn hoặc dùng tri thức cho sự tự tôn của mình, các ngươi sẽ chết.” Nhưng kẻ đã xúi giục thần trí, linh hồn mà Thượng đế đã mang vào hiện hữu, thúc đẩy chúng nhập vào vật chất để thỏa mãn ước muốn biểu lộ cái tôi, nuông chiều cái tôi, thỏa mãn cái tôi, thì nói rằng “Các ngươi chắc chắn không chết đâu”, hay là những gì rồi sẽ là hoạt động của con người—bởi như đã được nói, “Một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày.”
What was the length of life then? Nearly a thousand years. What is your life today? May it not be just as He had given, just as He indicated to those peoples, just as He did to the lawgiver, just as He did to David—first from a thousand years to a hundred and twenty, then to eighty? Why? Why? The sin of man in his desire for self-gratification.
Độ dài đời người khi ấy là bao nhiêu? Gần một ngàn năm. Còn đời các ngươi hôm nay là bao lâu? Há chẳng phải cũng như Ngài đã phán, như Ngài đã chỉ cho dân ấy, như Ngài đã chỉ cho người ban luật, như Ngài đã chỉ cho Đa-vít—ban đầu từ một ngàn năm xuống một trăm hai mươi, rồi xuống tám mươi đó sao? Vì sao? Vì sao? Vì tội lỗi của con người trong ước muốn tự thỏa mãn.
What nations of the earth today vibrate to those things that they have and are creating in their own land, their own environment? Look to the nations where the span of life has been extended from sixty to eight-four years. You will judge who is serving God. These are judgements. These are the signs to those who seek to know, who will study the heavens, who will analyze the elements, who will know the heart of man, they that seek to know the will of the Father for themselves answer “Lord, here am I, use me, send me where I am needed.”
Những quốc gia nào trên trần gian hôm nay đang rung hưởng theo những điều mà họ có và đang tạo ra trong chính đất nước, chính môi trường của họ? Hãy nhìn các quốc gia nơi tuổi thọ đã được nới từ sáu mươi lên tám mươi bốn năm. Các ngươi sẽ phân định ai đang phụng sự Thượng đế. Đó là những phán đoán. Đó là các dấu chỉ cho những ai tìm biết, những ai sẽ học hỏi bầu trời, phân tích các nguyên tố, thấu hiểu trái tim con người—những người tìm biết ý muốn của Cha cho chính mình—để trả lời rằng “Lạy Chúa, con đây, xin dùng con, sai con đến nơi con cần đến.”
Just as have been those principles of your present conflict. “Send help, for man’s heritage of freedom will be taken away.” By whom? He that hath said, “Surely ye will not die.” There are those two principles, two conflicting forces in the earth today: the prince of this world, and that principle that says to every soul, “Fear not, I have overcome the world and the prince of the world hath nothing in me.” Can ye say that? Ye must! That is thy hope; that “The prince of this world, satan, that old serpent, hath no part in any desire of my mind, my heart, my body, that I do not control in the direction it shall take.” These are the things, these are the principles.
Cũng như đã có những nguyên tắc trong cuộc xung đột hiện tại của các ngươi. “Gửi viện trợ, vì gia tài tự do của con người sẽ bị cướp đi.” Bởi ai? Bởi kẻ đã nói, “Các ngươi chắc chắn không chết đâu.” Có hai nguyên tắc ấy, hai lực đối nghịch ấy trong trần gian hôm nay: chúa của thế gian này, và nguyên tắc phán với mọi linh hồn, “Đừng sợ, Ta đã thắng thế gian và chúa của thế gian chẳng có gì nơi Ta.” Các ngươi có thể nói vậy chăng? Các ngươi phải nói! Đó là hy vọng của các ngươi; rằng “Chúa của thế gian này, Sa-tan, con rắn xưa, chẳng có phần nào trong bất kỳ ước muốn nào của trí, của lòng, của thân ta mà ta không kiểm soát được hướng đi của nó.” Đó là những điều, đó là những nguyên tắc.
What then of nations? In Russia there comes the hope of the world, not as that sometimes termed of the Communistic, of the Bolshevistic; no. But freedom, freedom! that each man will live for his fellow man! The principle has been born. It will take years for it to be crystallized, but out of Russia comes again the hope of the world. Guided by what? That friendship with the nation that hath even set on its present monetary unit “In God We Trust.” (Do ye use that in thine own heart when you pay your just debts? Do ye use that in thy prayer when ye send thy missionaries to other lands? “I give it, for in God we trust”? Not for the other fifty cents either!)
Vậy còn các quốc gia thì sao? Ở Nga sẽ xuất hiện niềm hy vọng của thế giới, không phải như điều đôi khi được gọi là Cộng sản, là Bôn-sê-vích; không. Mà là tự do, tự do! để mỗi người sống vì đồng loại! Nguyên tắc ấy đã được khai sinh. Sẽ cần nhiều năm để nó kết tinh, nhưng từ Nga một lần nữa sẽ đến niềm hy vọng của thế giới. Được dẫn dắt bởi điều gì? Bởi tình bằng hữu với quốc gia thậm chí đã khắc trên đơn vị tiền tệ hiện tại của mình dòng chữ “In God We Trust.” (Các ngươi có dùng điều ấy trong chính lòng mình khi trả các món nợ công chính không? Các ngươi có dùng điều ấy trong lời cầu nguyện khi gửi giáo sĩ đến các xứ khác không? “Con dâng hiến, vì nơi Thượng đế chúng ta tin cậy”? Cũng không phải vì năm mươi xu còn lại đâu!)
In the application of these principles, in those forms and manners in which the nations of the earth have and do measure to those in their activities, yea, to be sure, America may boast, but rather is that principle being forgotten when such is the case, and that is the sin of America.
Trong việc áp dụng các nguyên tắc này, trong những hình thức và cách thức mà các quốc gia trần gian đã và đang đo lường với nhau trong hoạt động của họ, vâng, hẳn rồi, nước Mỹ có thể tự hào, nhưng nguyên tắc ấy lại bị quên lãng mỗi khi điều đó xảy ra, và đó chính là tội của nước Mỹ.
So in England, from whence have come the ideas—not ideals—ideas of being just a little bit better than the other fellow. Ye must grow to that in which ye will deserve to be known, deserve to receive. That has been, that is, the sin of England.
Còn ở Anh, nơi từ đó phát sinh các ý tưởng—không phải lý tưởng—ý tưởng rằng mình “hơn người khác một chút.” Các ngươi phải lớn lên đến chỗ xứng đáng được biết đến, xứng đáng được nhận lãnh. Đó đã là, và là, tội của nước Anh.
As in France, to which this principle first appealed, to which then came that which was the gratifying of the desires of the body—that is the sin of France.
Như ở Pháp, nơi nguyên tắc này trước hết chinh phục, nhưng rồi kéo theo sự thỏa mãn các dục vọng của thân xác—đó là tội của nước Pháp.
In that nation which was first Rome, when there was that unfolding of those principles, its rise, its fall, what were they that caused the fall? The same as at Babel. The dissensions, the activities that would enforce upon these, in this or that sphere, servitude; that a few might just agree, that a few even might declare their oneness with the higher forces. For their’s was the way that seemeth right to a man but the end is death. That is the sin of Italy.
Tại quốc gia từng là La Mã, khi các nguyên tắc ấy khai mở, sự hưng rồi suy của nó, thì điều gì khiến suy vong? Cũng là điều đã có ở Ba-bên. Những chia rẽ, những hoạt động áp đặt nô dịch lên kẻ này người nọ; để một số ít có thể đồng thuận, để một số ít thậm chí tuyên xưng sự “hợp nhất” của mình với các lực cao cả. Vì đường lối của họ là “đường lối dường như đúng với một người, nhưng cuối cùng là sự chết.” Đó là tội của nước Ý.
The sin of China? Yea, there is the quietude that will not be turned aside, saving itself by the slow growth. There has been a growth, a stream through the land in ages which asks to be left alone to be just satisfied with that within itself. It awoke one day and cut its hair off! And it began to think and to do something with its thinking! This, here, will be one day the cradle of Christianity, as applied in the lives of men. Yea, it is far off as man counts time, but only a day in the heart of God—for tomorrow China will awake. Let each and every soul as they come to those understandings, do something, then, in his or her own heart.
Tội của Trung Hoa? Vâng, đó là sự tĩnh lặng không bị chuyển lay, tự cứu lấy mình bằng đà tăng trưởng chậm chạp. Đã có một dòng tăng trưởng, một dòng chảy xuyên qua đất nước qua các thời đại, nó muốn được bỏ mặc yên thân, hài lòng với cái ở trong mình. Một ngày kia nó thức dậy và cắt bỏ mái tóc! Và nó bắt đầu suy nghĩ và làm điều gì đó với tư duy của mình! Nơi đây, một ngày kia, sẽ là chiếc nôi của Kitô giáo như được áp dụng trong đời sống con người. Vâng, về phía con người thì còn xa, nhưng chỉ là một ngày trong lòng Thượng đế—vì ngày mai Trung Hoa sẽ thức dậy. Vậy mỗi linh hồn, khi đạt đến những hiểu biết ấy, hãy làm điều gì đó, nơi lòng mình.
Just as in India, the cradle of knowledge not applied, except within self. What is the sin of India? Self, and left the “ish” off—just self.
Cũng như ở Ấn Độ, chiếc nôi của tri thức không được áp dụng, trừ trong chính mình. Tội của Ấn Độ là gì? Cái tôi —tính vị kỷ—chỉ còn cái tôi mà thôi.
Then apply in thine own life truth. What is truth? It might have been answered, had an individual entity who stood at the crossways of the world waited for an answer. Yet that soul had purified itself and had given the new commandment that “ye love one another!”
Vậy hãy áp dụng chân lý trong chính đời sống ngươi. Chân lý là gì? Đáng lẽ nó đã được đáp lại, nếu một linh thể đứng tại ngã tư của thế giới ngày ấy đã chịu chờ câu trả lời. Tuy vậy, linh hồn ấy đã tự thanh luyện và đã ban điều răn mới rằng “các ngươi hãy yêu thương nhau!”
What is it all about then? “Thou shalt love the Lord thy God with all thine heart, thine soul, thine mind, thine body, and thy neighbor as thyself.” The rest of all the theories that may be concocted by man are nothing, if these are just lived. Love thy neighbor as thyself in the associations day by day, preferring as did the Christ who died on the cross rather than preferring the world be His without a struggle.
Vậy rốt lại là gì? “Ngươi phải yêu kính Chúa là Thượng đế của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí, hết sức, và yêu người lân cận như chính mình.” Mọi lý thuyết khác mà con người có thể bày ra đều là hư không, nếu các điều này được sống thật. Hãy yêu người lân cận như chính mình trong các mối liên hệ hằng ngày, ưu tiên như Đức Christ đã ưu tiên—Đấng đã chết trên thập giá—hơn là ưu tiên cho thế gian thuộc về Ngài mà chẳng cần phấn đấu.
Know, then, that as He had His cross, so have you. May you take it with a smile. You can, if ye will let Him bear it with thee. Do it.
Hãy biết rằng, như Ngài có thập giá của Ngài, ngươi cũng vậy. Nguyện ngươi vác nó với nụ cười. Ngươi có thể, nếu ngươi để Ngài cùng vác với ngươi. Hãy làm đi.
We are through for the present.
Hiện tạm dừng tại đây.
A.R.E. PRESS
A.R.E. PRESS
Edgar Cayce (1877–1945) founded the non-profit Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) in 1931, to explore spirituality, holistic health, intuition, dream interpretation, psychic development, reincarnation, and ancient mysteries—all subjects that frequently came up in the more than 14,000 documented psychic readings given by Cayce.
Edgar Cayce (1877–1945) đã sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) năm 1931, để tìm hiểu tinh thần, sức khỏe toàn diện, trực giác, giải đoán giấc mơ, phát triển thông linh, luân hồi, và các huyền bí cổ xưa—tất cả là những chủ đề thường xuất hiện trong hơn 14.000 buổi đọc thông linh được ghi chép của Cayce.
Edgar Cayce’s A.R.E. provides individuals from all walks of life and a variety of religious backgrounds with tools for personal transformation and healing at all levels—body, mind, and spirit.
A.R.E. của Edgar Cayce cung cấp cho những người đến từ mọi nẻo đời và nhiều nền tảng tôn giáo các công cụ cho chuyển hóa cá nhân và chữa lành ở mọi cấp—thân, trí, và tinh thần.
A.R.E. Press has been publishing since 1931 as well, with the mission of furthering the work of A.R.E. by publishing books, DVDs, and CDs to support the organization’s goal of helping people to change their lives for the better physically, mentally, and spiritually.
A.R.E. Press cũng đã xuất bản từ năm 1931, với sứ mệnh thúc đẩy công việc của A.R.E. bằng cách xuất bản sách, DVD và CD để hỗ trợ mục tiêu của tổ chức là giúp con người thay đổi đời sống tốt hơn về mặt thể chất, tinh thần và tinh thần.
In 2009, A.R.E. Press launched its second imprint, 4th Dimension Press. While A.R.E. Press features topics directly related to the work of Edgar Cayce and often includes excerpts from the Cayce readings, 4th Dimension Press allows us to take our publishing efforts further with like-minded and expansive explorations into the mysteries and spirituality of our existence without direct reference to Cayce specific content.
Năm 2009, A.R.E. Press ra mắt nhãn xuất bản thứ hai, 4th Dimension Press. Trong khi A.R.E. Press tập trung các chủ đề liên hệ trực tiếp đến công trình của Edgar Cayce và thường bao gồm trích đoạn từ các buổi đọc của Cayce, 4th Dimension Press cho phép chúng tôi tiến xa hơn trong nỗ lực xuất bản, với những cuộc khám phá đồng điệu và rộng mở vào các huyền bí và tính tinh thần của hiện hữu mà không viện dẫn trực tiếp đến nội dung riêng về Cayce.
A.R.E. Press/4th Dimension Press
A.R.E. Press/4th Dimension Press
215 67th Street
215 67th Street
Virginia Beach, VA 23451
Virginia Beach, VA 23451
Learn more at EdgarCayce.org. Visit ARECatalog.com to browse and purchase additional titles.
Tìm hiểu thêm tại EdgarCayce.org. Truy cập ARECatalog.com để duyệt và mua thêm các tựa sách.
ARE PRESS.COM
ARE PRESS.COM
EDGAR CAYCE’S A.R.E.
EDGAR CAYCE’S A.R.E.
Who Was Edgar Cayce?
Edgar Cayce là ai?
Twentieth Century Psychic and Medical Clairvoyant
Nhà Ngoại Cảm Thế Kỷ Hai Mươi và Nhà Thông Nhãn Y Khoa
Edgar Cayce (pronounced Kay-Cee, 1877-1945) has been called the “sleeping prophet,” the “father of holistic medicine,” and the most-documented psychic of the 20th century. For more than 40 years of his adult life, Cayce gave psychic “readings” to thousands of seekers while in an unconscious state, diagnosing illnesses and revealing lives lived in the past and prophecies yet to come. But who, exactly, was Edgar Cayce?
Edgar Cayce (phát âm “Kay-Cee”, 1877-1945) được gọi là “nhà tiên tri khi ngủ”, “cha đẻ của y học toàn diện”, và là nhà thông linh được ghi chép nhiều nhất của thế kỷ 20. Trong hơn 40 năm ở tuổi trưởng thành, Cayce đã cho các “buổi đọc” thông linh cho hàng ngàn người tìm đạo trong trạng thái vô thức, chẩn đoán bệnh tật và hé lộ các kiếp sống đã qua cũng như những lời tiên tri về tương lai. Nhưng rốt cuộc, Edgar Cayce là ai?
Cayce was born on a farm in Hopkinsville, Kentucky, in 1877, and his psychic abilities began to appear as early as his childhood. He was able to see and talk to his late grandfather’s spirit, and often played with “imaginary friends” whom he said were spirits on the other side. He also displayed an uncanny ability to memorize the pages of a book simply by sleeping on it. These gifts labeled the young Cayce as strange, but all Cayce really wanted was to help others, especially children.
Cayce sinh tại một trang trại ở Hopkinsville, Kentucky, năm 1877, và năng lực thông linh của ông xuất hiện rất sớm từ thời thơ ấu. Ông có thể thấy và trò chuyện với linh hồn người ông quá cố, và thường chơi với những “bạn tưởng tượng” mà ông nói là các linh hồn ở bờ bên kia. Ông cũng bộc lộ khả năng kỳ lạ là ghi nhớ các trang sách chỉ bằng cách ngủ trên cuốn sách đó. Những khả năng này khiến cậu bé Cayce bị xem là khác lạ, nhưng điều Cayce thực sự mong muốn chỉ là giúp đỡ người khác, nhất là trẻ em.
Later in life, Cayce would find that he had the ability to put himself into a sleep-like state by lying down on a couch, closing his eyes, and folding his hands over his stomach. In this state of relaxation and meditation, he was able to place his mind in contact with all time and space—the universal consciousness, also known as the super-conscious mind. From there, he could respond to questions as broad as, “What are the secrets of the universe?” and “What is my purpose in life?” to as specific as, “What can I do to help my arthritis?” and “How were the pyramids of Egypt built?” His responses to these questions came to be called “readings,” and their insights offer practical help and advice to individuals even today.
Về sau, Cayce nhận ra mình có khả năng đưa bản thân vào trạng thái giống giấc ngủ bằng cách nằm trên ghế dài, nhắm mắt, và khoanh tay lên bụng. Trong trạng thái thư giãn và tĩnh niệm này, ông có thể đặt tâm của mình tiếp xúc với mọi thời gian và không gian—tâm thức vũ trụ, còn gọi là siêu tâm thức. Từ đó, ông có thể đáp lại các câu hỏi rộng lớn như, “Bí mật của vũ trụ là gì?” và “Mục đích đời tôi là gì?” cho đến cụ thể như, “Tôi có thể làm gì để giúp bệnh viêm khớp của mình?” và “Các kim tự tháp Ai Cập được xây như thế nào?” Những đáp ứng ấy được gọi là “buổi đọc”, và những minh triết của chúng đến nay vẫn mang lại trợ giúp thực tiễn và lời khuyên cho cá nhân.
The majority of Edgar Cayce’s readings deal with holistic health and the treatment of illness. Yet, although best known for this material, the sleeping Cayce did not seem to be limited to concerns about the physical body. In fact, in their entirety, the readings discuss an astonishing 10,000 different topics. This vast array of subject matter can be narrowed down into a smaller group of topics that, when compiled together, deal with the following five categories: (1) Health-Related Information; (2) Philosophy and Reincarnation; (3) Dreams and Dream Interpretation; (4) ESP and Psychic Phenomena; and (5) Spiritual Growth, Meditation, and Prayer.
Đa số các buổi đọc của Edgar Cayce bàn về sức khỏe toàn diện và trị liệu bệnh tật. Tuy nhiên, dù nổi tiếng nhất với mảng này, Cayce trong trạng thái ngủ dường như không bị giới hạn trong các mối quan tâm về thân xác. Thực vậy, tổng thể các buổi đọc đề cập đến con số đáng kinh ngạc là 10.000 chủ đề khác nhau. Khối lượng đề tài rộng lớn này có thể thu gọn thành nhóm chủ đề nhỏ hơn, khi tổng hợp lại, bao gồm năm lĩnh vực: (1) Thông tin liên quan sức khỏe; (2) Triết lý và Luân hồi; (3) Giấc mơ và Giải đoán giấc mơ; (4) ESP và Các hiện tượng thông linh; và (5) Trưởng thành tinh thần, Tham thiền và Cầu nguyện.
Learn more at EdgarCayce.org.
Tìm hiểu thêm tại EdgarCayce.org.
What Is A.R.E.?
A.R.E. là gì?
Edgar Cayce founded the non-profit Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) in 1931, to explore spirituality, holistic health, intuition, dream interpretation, psychic development, reincarnation, and ancient mysteries—all subjects that frequently came up in the more than 14,000 documented psychic readings given by Cayce.
Edgar Cayce sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Association for Research and Enlightenment (A.R.E.) năm 1931, để tìm hiểu tinh thần, sức khỏe toàn diện, trực giác, giải đoán giấc mơ, phát triển thông linh, luân hồi, và các huyền bí cổ xưa—tất cả là những chủ đề thường xuất hiện trong hơn 14.000 buổi đọc thông linh được Cayce ghi chép.
The Mission of the A.R.E. is to help people transform their lives for the better, through research, education, and application of core concepts found in the Edgar Cayce readings and kindred materials that seek to manifest the love of God and all people and promote the purposefulness of life, the oneness of God, the spiritual nature of humankind, and the connection of body, mind, and spirit.
Sứ mệnh của A.R.E. là giúp con người chuyển hóa cuộc đời theo hướng tốt đẹp hơn, thông qua nghiên cứu, giáo dục, và ứng dụng các khái niệm cốt lõi tìm thấy trong các buổi đọc của Edgar Cayce và các tài liệu đồng điệu, nhằm biểu lộ tình thương của Thượng đế và mọi người, thúc đẩy mục đích sống, sự duy nhất của Thượng đế, bản tính tinh thần của nhân loại, và mối liên kết giữa thân, trí, và tinh thần.
With an international headquarters in Virginia Beach, Va., a regional headquarters in Houston, regional representatives throughout the U.S., Edgar Cayce Centers in more than thirty countries, and individual members in more than seventy countries, the A.R.E. community is a global network of individuals.
Với tổng hành dinh quốc tế tại Virginia Beach, Va., một trụ sở khu vực ở Houston, đại diện khu vực trên khắp Hoa Kỳ, các Trung tâm Edgar Cayce tại hơn ba mươi quốc gia, và hội viên cá nhân tại hơn bảy mươi quốc gia, cộng đồng A.R.E. là một mạng lưới toàn cầu của các cá nhân.
A.R.E. conferences, international tours, camps for children and adults, regional activities, and study groups allow like-minded people to gather for educational and fellowship opportunities worldwide.
Các hội thảo A.R.E., các tour quốc tế, trại dành cho trẻ em và người lớn, hoạt động khu vực, và nhóm học tập cho phép những người đồng chí hướng tụ họp cho các cơ hội giáo dục và kết nối bằng hữu trên toàn thế giới.
A.R.E. offers membership benefits and services that include a quarterly body-mind-spirit member magazine, Venture Inward, a member newsletter covering the major topics of the readings, and access to the entire set of readings in an exclusive online database.
A.R.E. cung cấp các quyền lợi và dịch vụ hội viên bao gồm tạp chí hội viên theo quý về thân-trí-tinh thần, Venture Inward, một bản tin hội viên bao quát các chủ đề chính của các buổi đọc, và quyền truy cập toàn bộ kho buổi đọc trong một cơ sở dữ liệu trực tuyến độc quyền.
Learn more at EdgarCayce.org.
Tìm hiểu thêm tại EdgarCayce.org.
EDGARCAYCE.ORG.
EDGARCAYCE.ORG.