Upon hearing the terms “karma” and “grace,” some individuals may not at first see any connection between the two but both are laws that operate within the absolute lawfulness of the universe. Both are also inextricably connected to each soul’s movement toward wholeness. An essential difference between the two, however, is that the law of grace empowers an individual with the divine pattern of the Creator in the process of meeting self, whereas the law of karma leaves the self with self’s resources alone.
Khi nghe các thuật ngữ “nghiệp quả” và “ân điển”, ban đầu một số người có thể không thấy mối liên hệ nào giữa hai điều, nhưng cả hai đều là những định luật vận hành trong tính luật tắc tuyệt đối của vũ trụ. Cả hai cũng gắn bó không thể tách rời với sự vận hành của mỗi linh hồn hướng đến tính trọn vẹn. Tuy nhiên, một khác biệt cốt yếu giữa hai điều là định luật ân điển trao quyền cho cá nhân bằng mẫu hình thiêng liêng của Đấng Tạo Hóa trong tiến trình gặp chính mình, trong khi định luật nghiệp quả để lại cho cái tôi chỉ với các nguồn lực của chính nó.
On one occasion, while describing how meeting self could be accomplished through either karma or grace, Cayce told a thirty-two-year-old sheet metal worker:
Có lần, khi mô tả cách việc gặp chính mình có thể được thực hiện qua nghiệp quả hoặc ân điển, Cayce nói với một công nhân tôn ba mươi hai tuổi:
For the law of the Lord is perfect, and whatsoever an entity, an individual sows, that must he reap … As to whether one meets it in the letter of the law or in mercy, in grace, becomes the choice of the entity. If one would have mercy, grace, love, friends, one must show self in such a manner to those with whom one becomes associated. For like begets like.
Vì định luật của Chúa là hoàn hảo, và hễ một thực thể, một cá nhân gieo gì thì người ấy phải gặt nấy … Việc một người gặp nó theo văn tự của định luật hay trong lòng thương xót, trong ân điển, trở thành sự chọn lựa của thực thể. Nếu ai muốn có thương xót, ân điển, tình thương, bạn hữu, người đó phải biểu lộ mình theo cung cách ấy với những người mà người ấy kết giao. Vì đồng khí tương cầu.
5001-1
5001-1
The New Testament tells us that the law of karma is superceded by the law of grace when discussing the fruits of the spirit: “But the fruit of the Spirit is love, joy, peace, longsuffering, gentleness, goodness, faith, meekness, temperance: against such there is no law.”(Galatians 5:22-23; emphasis mine) Each of these fruits of the spirit are essentially components of a consciousness described as the universal Christ Consciousness: “the awareness within each soul, imprinted in pattern on the mind and waiting to be awakened by the will, of the soul’s oneness with God.” (5749-14)
Tân Ước cho chúng ta biết rằng định luật nghiệp quả được vượt trội bởi định luật ân điển khi bàn về hoa trái của Thánh Linh: “Nhưng bông trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: không có luật pháp nào cấm các sự đó.” (Ga-la-ti 5:22-23; tôi nhấn mạnh) Mỗi hoa trái của Thánh Linh này về thực chất là các thành phần của một tâm thức được mô tả là Tâm thức Christ phổ quát: “sự nhận biết ở trong mỗi linh hồn, được in dấu theo mẫu hình trên trí, và đang chờ được đánh thức bởi ý chí, về sự hợp nhất của linh hồn với Thượng đế.” (5749-14)
The Cayce readings state that this consciousness was perfectly manifested by Jesus. However, rather than thinking that this awareness is somehow connected to the religion of Christianity (after all, Jesus was not a Christian, He was a Jew), it is important to realize that it instead depends on the perfect manifestation of the fruits of the spirit by any individual. In other words, Christ Consciousness is the birthright of each and every soul, regardless of his or her religion.
Các bài đọc của Cayce nói rằng tâm thức này đã được Đức Jesus biểu lộ một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, thay vì nghĩ rằng nhận biết này bằng cách nào đó gắn với tôn giáo Cơ Đốc (rốt cuộc, Đức Jesus không phải là người Cơ Đốc, Ngài là người Do Thái), điều quan trọng là nhận ra rằng nó lệ thuộc vào việc biểu lộ hoàn hảo hoa trái của Thánh Linh bởi bất kỳ cá nhân nào. Nói cách khác, Tâm thức Christ là quyền bẩm sinh của mọi linh hồn, bất kể tôn giáo của người ấy.
What may be conceptually challenging to some people is the idea that living a life in accord with the spirit is not necessarily a matter of religion. But Jesus Himself stated that His mission was not really to change religion nor was it to somehow put the religion of the Old Testament prophets back on track. Instead, it was to perfectly manifest the laws of the Creator in the earth and in the process fulfill the meeting of self:
Điều có thể là thách thức về mặt khái niệm đối với một số người là ý tưởng rằng sống một đời sống phù hợp với Thần Linh không nhất thiết là vấn đề tôn giáo. Nhưng chính Đức Jesus đã nói rằng sứ mạng của Ngài không thật sự nhằm thay đổi tôn giáo cũng không nhằm bằng cách nào đó đưa tôn giáo của các tiên tri Cựu Ước trở lại đúng đường. Thay vào đó, là để biểu lộ hoàn hảo các định luật của Đấng Tạo Hóa ở trần gian và trong tiến trình ấy hoàn tất việc gặp chính mình:
Think not that I come to destroy the law, or the prophets: I am not come to destroy, but to fulfill.
Chớ tưởng rằng ta đến để phá luật pháp hay các đấng tiên tri; ta đến không phải để phá, song để làm cho trọn.
For verily I say unto you, till heaven and earth pass, one jot or one tittle shall in no wise pass from the law, till all be fulfilled.
Vì quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm, một nét nào trong luật pháp thảy đều không qua đi, cho đến khi mọi sự được trọn.
(Matthew 5:17-18)
(Ma-thi-ơ 5:17-18)
Regardless of whether an individual becomes subject to karma alone or is empowered with grace, the lawfulness of life does not change—he or she must still eventually meet self. Grace does not do away with the necessity of meeting self; it enables the individual to meet self in the best possible manner by putting self in accord with the pattern of spiritual perfection that was demonstrated by Jesus. In this process, the soul avails itself of the grace of God.
Bất kể một cá nhân trở nên chịu sự chi phối của riêng nghiệp quả hay được trao quyền bằng ân điển, tính hợp luật của đời sống không thay đổi—người ấy rồi cũng phải gặp chính mình. Ân điển không xóa bỏ sự cần thiết của việc gặp chính mình; nó giúp cá nhân gặp chính mình bằng cách tốt nhất có thể, bằng cách đặt cái tôi hòa hợp với mẫu hình hoàn hảo tinh thần đã được Đức Jesus phô diễn. Trong tiến trình này, linh hồn nương nhờ ân điển của Thượng đế.
An example from the Cayce files is the case of a fifty-two-year-old schoolteacher who asked for guidance and direction in order to deal with her personal karma. Cayce explained that karma could best be met by aligning self with the pattern of the Christ Consciousness, as demonstrated by Jesus: “Not that every soul shall not give account for the deeds done in body, and in the body meet them! But in each meeting, in each activity, let the pattern [of the Christ Consciousness]— not in self, not in mind alone, but in Him—be the guide.” (2067-2) In the same reading, the woman was told that by putting her life in perfect accord with the pattern of Christ’s life, she would eventually transform all of her karma: “He alone is each soul pattern! He is thy karma, if ye put thy trust wholly in Him!”
Một ví dụ từ hồ sơ Cayce là trường hợp một nữ giáo viên năm mươi hai tuổi, bà xin chỉ dẫn và định hướng để giải quyết nghiệp quả cá nhân. Cayce giải thích rằng nghiệp quả có thể được gặp một cách tốt nhất bằng cách chỉnh hợp tự ngã với mẫu hình của Tâm thức Christ, như Đức Jesus đã biểu lộ: “Không phải rằng mọi linh hồn sẽ không phải khai trình về các việc đã làm trong thân, và trong thân mà gặp chúng! Nhưng trong mỗi lần gặp, trong mỗi hoạt động, hãy để mẫu hình [của Tâm thức Christ]—không ở nơi tự ngã, không chỉ nơi trí, mà ở nơi Ngài—làm kim chỉ nam.” (2067-2) Trong cùng bài đọc, người phụ nữ được cho biết rằng bằng việc đặt đời sống của mình hoàn toàn phù hợp với mẫu hình đời sống của Christ, rốt cuộc bà sẽ chuyển hóa tất cả nghiệp quả của mình: “Chỉ một mình Ngài là mẫu hình của mỗi linh hồn! Ngài là nghiệp quả của ngươi, nếu ngươi đặt trọn niềm tin nơi Ngài!”
Rather than seeing the soul pattern of Jesus as being allegiance to a particular faith, it would be more accurate to see it as conformity with divine spirit and the resulting behavior. Cayce went on to describe this pattern as “doing good, being kind, being patient, being loving in every experience of man’s activity.” Another way of understanding the helpfulness of the pattern set by Jesus is to realize that, regardless of what issues or experiences an individual may be facing in the present, those issues have already been met by Jesus as He lived in perfect accord with the laws of the Creator.
Thay vì xem mẫu hình linh hồn của Đức Jesus như là sự trung thành với một đức tin riêng biệt, sẽ chính xác hơn nếu xem đó là sự tương hợp với Thần Linh và hành vi hệ quả. Cayce tiếp tục mô tả mẫu hình này là “làm điều thiện, tử tế, kiên nhẫn, yêu thương trong mọi kinh nghiệm của hoạt động của con người.” Một cách khác để hiểu sự hữu ích của mẫu hình do Đức Jesus đặt ra là nhận ra rằng, bất kể các vấn đề hay kinh nghiệm hiện tại mà một cá nhân đang đối mặt là gì, những vấn đề ấy đã từng được Đức Jesus gặp rồi khi Ngài sống hoàn hảo theo các định luật của Đấng Tạo Hóa.
Cayce author and scholar Lynn Sparrow once described Jesus’ life as a map that could be followed through the oftentimes-confusing issues in the maze of life:
Tác giả và học giả về Cayce, Lynn Sparrow, từng mô tả đời sống của Đức Jesus như một tấm bản đồ có thể theo mà đi qua những vấn đề thường rối rắm trong mê cung của cuộc đời:
Perhaps we can best understand the compatibility of karma and grace by looking at an analogy. Suppose you are in the center of a maze, and your job is to get out. Now there are two ways that you can go about getting through the maze. You can blindly fumble and bumble your way down various corridors. When you hit a dead end, you must go back and retrace your steps to the point where you made the wrong turn, then try once again … This path of trial and error would be like taking the way of karma …
Có lẽ chúng ta có thể hiểu tốt nhất tính tương thích của nghiệp quả và ân điển bằng cách nhìn vào một phép loại suy. Giả sử bạn đang ở giữa một mê cung, và nhiệm vụ của bạn là thoát ra. Giờ có hai cách để bạn vượt qua mê cung. Bạn có thể mày mò mò mẫm trong mù mờ dọc theo các hành lang khác nhau. Khi gặp ngõ cụt, bạn phải quay lại và lần theo bước chân đến chỗ mình rẽ sai, rồi thử lại lần nữa … Con đường thử và sai này giống như đi theo con đường của nghiệp quả …
Suppose, on the other hand, that someone said to you, “I’ve successfully completed that maze, and I have a map that shows every turn. Furthermore, if you’ll accept my map, I’ll impart to you the strength and wisdom you need to follow my map. You may not understand how I can give you this special help, but if you will just accept it, you will experience it working on your trip through the maze. You will succeed, not through your own efforts, but by trusting that I have already secured your release from this maze.” This would be the way of grace: accepting the map—which would be analogous to Jesus as the pattern—and accepting the power to follow the map.
Mặt khác, giả sử có người nói với bạn: “Tôi đã vượt qua xong mê cung ấy, và tôi có một tấm bản đồ chỉ mọi chỗ rẽ. Hơn nữa, nếu bạn chấp nhận bản đồ của tôi, tôi sẽ truyền cho bạn sức mạnh và minh triết mà bạn cần để theo bản đồ của tôi. Bạn có thể không hiểu làm sao tôi có thể ban cho bạn sự trợ giúp đặc biệt này, nhưng nếu bạn chỉ cần chấp nhận nó, bạn sẽ kinh nghiệm nó vận hành trên chuyến đi qua mê cung. Bạn sẽ thành công, không phải nhờ nỗ lực riêng của bạn, mà bằng việc tin cậy rằng tôi đã đảm bảo cho bạn sự giải thoát khỏi mê cung này rồi.” Đây sẽ là con đường của ân điển: chấp nhận tấm bản đồ—tức là tương tự với Đức Jesus như mẫu hình—và chấp nhận quyền năng để theo tấm bản đồ.
(Sparrow, pg. 202)
(Sparrow, tr. 202)
Along the same lines, Edgar Cayce told a fifty-seven-year-old man interested in healing the karma he had with his immediate family that the best approach was to live in accord with the pattern of the Christ Consciousness that had been exemplified by Jesus: “For, since the foundations of the world He has paved the ways, here and there entering into the experience of man’s existence that He may know every temptation that might beset man in all of his ways.” (442-3)
Cùng theo hướng ấy, Edgar Cayce nói với một người đàn ông năm mươi bảy tuổi quan tâm đến việc chữa lành nghiệp quả giữa ông và gia đình ruột thịt rằng cách tiếp cận tốt nhất là sống phù hợp với mẫu hình của Tâm thức Christ đã được Đức Jesus làm gương: “Vì, từ khi nền tảng của thế gian được lập, Ngài đã lát sẵn các con đường, đôi lúc bước vào kinh nghiệm hiện hữu của con người để Ngài có thể biết mọi cám dỗ có thể vây bủa con người trong mọi đường lối của y.” (442-3)
In 1933, an individual who had obtained readings for both himself and his mother wrote a letter to Edgar Cayce and inquired about what the readings had to say regarding karmic influences. Cayce’s reply suggested that the law of karma could be wiped away with the law of grace by living in accord with the soul’s pattern of perfection and becoming “godlike in the world.” A portion of Cayce’s response to Mr. [256] follows:
Năm 1933, một người đã xin các bài đọc cho cả bản thân và mẹ mình viết thư cho Edgar Cayce và hỏi về những điều các bài đọc nói liên quan đến ảnh hưởng nghiệp quả. Hồi đáp của Cayce gợi ý rằng định luật nghiệp quả có thể được xóa nhòa bởi định luật ân điển bằng cách sống phù hợp với mẫu hình hoàn hảo của linh hồn và trở nên “giống Thượng đế trong thế gian.” Một phần hồi âm của Cayce gửi Ông [256] như sau:
Yes, the readings have had a great deal to say about Karmic influences, and that—according to the readings—is where the saving grace of the Christ comes in our activity …
Vâng, các bài đọc đã nói rất nhiều về những ảnh hưởng nghiệp quả, và—theo các bài đọc—đó chính là nơi ân điển cứu rỗi của Christ bước vào trong hoạt động của chúng ta …
Yes, the [karmic] obligations that individuals have one to another from former associations must be met. This accounts for the attraction individuals have, or the repellent forces that come. Of course, realizing this in relationship to individuals, and as to what is the saving grace or power with such associations wherever karmic influences must be worked out, or where obligations are due, we know that the ministrations in the manner of the Christ’s injunctions may wipe out any bill—we might say—in the opposite direction … Man alone is given a soul, with the power to be a co-creator with God, having the ability—through his will—to separate himself from the divine forces or powers. This is determined by his associations with his fellow man, who—as himself—is a manifestation, with the ability to become godlike in his associations with the whole, or with all forms of life as manifested in the Christ Consciousness or the Christ Life; for He became the Son to whom all power was given in heaven and in earth, in exchange for His ability to manifest God’s force, God’s power, or to become godlike in the world; thus, He became the Savior of men, through His ability to manifest life in its correct relationship and form in the earth. Hence man may turn to Him for whatever may be necessary for him to make right with this fellow man, through the counsel, through the love He manifested. We each arrive at that position at some time, or every day in our experience, when we have to answer the question “What will ye do with this man called Jesus?”
Vâng, những [nghiệp] nghĩa vụ mà các cá nhân mắc với nhau từ những mối liên hệ trước kia phải được giải quyết. Điều này lý giải sức hút giữa các cá nhân, hoặc những lực đẩy lẫn nhau phát sinh. Dĩ nhiên, khi nhận thức điều này trong mối liên hệ với các cá nhân, và về ân điển cứu rỗi hay quyền năng trong những liên hệ như vậy ở bất cứ nơi nào các ảnh hưởng nghiệp quả phải được giải tỏa, hay nơi còn có nghĩa vụ phải trả, chúng ta biết rằng các sự phục vụ theo phương cách tuân theo chỉ giáo của Christ có thể xóa sạch bất cứ khoản nợ nào—chúng ta có thể nói vậy—theo chiều ngược lại … Chỉ con người được ban cho một linh hồn, với quyền năng để trở nên một đồng-sáng tạo với Thượng đế, có khả năng—thông qua ý chí—tách mình khỏi các lực hay quyền năng thiêng liêng. Điều này được quyết định bởi những mối liên hệ của y với đồng loại, người mà—như chính y—là một biểu hiện, với khả năng trở nên giống Thượng đế trong mối liên hệ của mình với toàn thể, hay với mọi hình thức sự sống như được biểu lộ trong Tâm thức Christ hay Đời sống Christ; vì Ngài đã trở nên Con, Đấng mà mọi quyền năng trên trời và dưới đất được ban cho, đổi lấy khả năng của Ngài để biểu lộ lực của Thượng đế, quyền năng của Thượng đế, hay trở nên giống Thượng đế trong thế gian; do đó, Ngài trở thành Đấng Cứu Rỗi của loài người, qua khả năng của Ngài để biểu lộ sự sống trong mối liên hệ và hình thái đúng đắn của nó ở trần gian. Vì vậy con người có thể hướng về Ngài để xin bất cứ điều gì cần thiết cho y nhằm làm cho đúng với đồng loại của mình, qua lời khuyên, qua tình thương mà Ngài đã biểu lộ. Mỗi chúng ta đều đến điểm ấy vào một thời điểm nào đó, hoặc mỗi ngày trong kinh nghiệm của mình, khi chúng ta phải trả lời câu hỏi “Các ngươi sẽ làm gì với người gọi là Jesus này?”
256-1 Report File
256-1 Hồ sơ Báo cáo
One component of the “letter of the law” that governs karmic memory has to do with the quantitative response an individual encounters in the process of meeting self. In other words, part of the lawfulness of “what you sow you must reap” is that an individual meets karmic memory in equal measure to how that memory was created. If a person did something out of accord with the pattern of wholeness “X” number of times to someone else, then he or she would have to personally encounter the same situation in life the same number of times in order to meet it. Grace, however, has the ability to do away with the quantity and instead enables the individual to meet the situation and gain the necessary awareness with a qualitative response. This is essentially meeting self in the spirit of the law rather than the letter of the law.
Một thành tố của “văn tự của định luật” vốn chi phối ký ức nghiệp quả liên quan đến phản hồi định lượng mà cá nhân gặp phải trong tiến trình gặp chính mình. Nói cách khác, một phần của tính hợp luật “gieo gì gặt nấy” là cá nhân gặp ký ức nghiệp quả theo một mức độ tương xứng với cách ký ức ấy đã được tạo ra. Nếu một người làm điều gì đó sai lệch với mẫu hình trọn vẹn “X” lần đối với người khác, thì người ấy sẽ phải tự mình gặp cùng tình huống tương tự trong đời “X” lần để có thể đối diện nó. Ân điển, tuy nhiên, có khả năng loại bỏ yếu tố định lượng và thay vào đó giúp cá nhân gặp tình huống và đạt được nhận biết cần thiết bằng một phản hồi mang tính định tính. Về thực chất, đây là gặp chính mình theo tinh thần của định luật thay vì văn tự của định luật.
When a group of individuals in New York requested a reading from Edgar Cayce on the possibility of understanding karma and studying, researching and proving the topic of reincarnation, Cayce suggested that the life of King David in the Old Testament would be a helpful pattern for them to study:
Khi một nhóm người ở New York yêu cầu Edgar Cayce một bài đọc về khả năng thấu hiểu nghiệp quả và việc nghiên cứu, khảo cứu và chứng minh đề tài luân hồi, Cayce đề nghị rằng đời sống của Vua Đa-vít trong Cựu Ước sẽ là một mẫu hình hữu ích cho họ để nghiên cứu:
Using the experience of David the king as an example, what was it in his experience that caused him to be called a man after God’s own heart? That he did not falter, that he did not do this or that or be guilty of every immoral experience in the category of man’s relationship? Rather was it that he was sorry, and not guilty of the same offence twice!
Dùng kinh nghiệm của vua Đa-vít làm ví dụ, điều gì trong kinh nghiệm của ông khiến ông được gọi là người hợp lòng Thượng đế? Phải chăng là vì ông không hề chao đảo, rằng ông không hề làm điều này hay điều nọ hay không hề phạm mọi kinh nghiệm vô luân trong mọi phạm trù các quan hệ của con người? Hay đúng hơn là vì ông biết ăn năn, và không phạm cùng một lỗi hai lần!
Well that ye pattern thy study of thyself after such a life!
Thật tốt nếu các ngươi lấy đời sống như thế mà làm mẫu để xét mình!
5753-2
5753-2
The same reading also explained the proper rationale for studying the topics of reincarnation and karma in the first place:
Cùng bài đọc ấy cũng giải thích lý do đúng đắn để nghiên cứu các đề tài luân hồi và nghiệp quả ngay từ đầu:
And to find that ye only lived, died and were buried under the cherry tree in Grandmother’s garden does not make thee one whit better neighbor, citizen, mother or father!
Và việc phát hiện rằng ngươi từng sống, chết và được chôn dưới gốc anh đào trong vườn của Bà ngoại không khiến ngươi trở thành một người láng giềng, một công dân, một người mẹ hay người cha tốt hơn dù chỉ một chút!
But to know that ye spoke unkindly and suffered for it, and in the present may correct it by being righteous— that is worth while!
Nhưng biết rằng ngươi đã nói lời không tử tế và chịu khổ vì nó, và trong hiện tại có thể sửa nó bằng cách sống công chính—điều ấy mới đáng giá!
What is righteousness? Just being kind, just being noble, just being self-sacrificing; just being willing to be the hands for the blind, the feet for the lame—these are constructive experiences.
Công chính là gì? Chỉ là tử tế, chỉ là cao thượng, chỉ là biết hi sinh; chỉ là sẵn lòng làm đôi tay cho người mù, làm đôi chân cho người què—đó là những kinh nghiệm xây dựng.
Ye may gain knowledge of same, for incarnations are a fact! How may ye prove it? In thy daily living!
Các ngươi có thể đạt tri thức về điều ấy, vì các lần nhập thể là một sự kiện! Các ngươi có thể chứng minh thế nào? Bằng đời sống hằng ngày của các ngươi!
As individuals attune themselves to the soul’s pattern of wholeness, not only is the individual better able to meet self but all of the memories of past experiences may be brought to the soul’s awareness in the process. This is referred to in the New Testament when Jesus speaks about “the Comforter” (the Holy Spirit): “ … he shall teach you all things, and bring all things to your remembrance, whatsoever I have said unto you.” (John 14:26) A fascinating account of how this bringing of “all things to your remembrance” might be experienced is told by Blanche Nelson, who had the following experience:
Khi các cá nhân chỉnh hợp mình với mẫu hình trọn vẹn của linh hồn, không chỉ cá nhân có thể gặp chính mình tốt hơn mà mọi ký ức về các kinh nghiệm quá khứ cũng có thể được đem đến cho linh hồn trong tiến trình. Điều này được nhắc đến trong Tân Ước khi Đức Jesus nói về “Đấng An Ủi” (Chúa Thánh Thần): “… Ngài sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, và nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều mà ta đã nói cùng các ngươi.” (Giăng 14:26) Một thuật sự hấp dẫn về cách “nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều” có thể được kinh nghiệm được kể bởi Blanche Nelson, người đã có trải nghiệm sau:
One morning, as I awoke, I became aware of a man standing beside my bed. I had the impression of white hair and a beard and he was wearing a white robe as well. He was a being of light and was bent over me with his arm outstretched and his hand positioned above my forehead. He said the word, “Remember!” He repeated this word and he said it with such intensity and focus that my mind followed his command …
Một buổi sáng, khi tôi thức dậy, tôi nhận biết có một người đang đứng bên giường tôi. Tôi có ấn tượng về mái tóc bạc và bộ râu, và ông mặc cả áo choàng trắng. Ông là một hữu thể của ánh sáng, cúi xuống phía tôi với cánh tay đưa ra và bàn tay đặt trên trán tôi. Ông nói từ “Hãy nhớ!” Ông lặp lại từ này và nói với một cường độ và tập trung đến mức tâm tôi làm theo mệnh lệnh của ông …
I was amazed at what I knew. The structure of the universe, the mystery of all creation, the purpose of not only my own life, but also the lives of everyone I knew. From the forming of atoms to the complexities of the soul, from human development to the millions of other life forms in all of creation, from the stars in the physical world to the memory of every detail of every life I have ever lived, all these things and much, much more, were known to me. Knowledge that would have taken hundreds of years to learn on earth was now a part of me.
Tôi kinh ngạc trước những gì mình biết. Cấu trúc của vũ trụ, mầu nhiệm của toàn thể tạo hóa, mục đích không chỉ của đời tôi mà cả đời của mọi người tôi biết. Từ sự hình thành các nguyên tử đến những phức tạp của linh hồn, từ sự phát triển của con người đến hàng triệu hình thức sự sống khác trong toàn thể tạo hóa, từ các vì sao trong thế giới vật chất đến ký ức mọi chi tiết của mọi đời sống tôi từng sống, tất cả những điều ấy và còn nhiều, nhiều nữa, đã trở thành tri thức của tôi. Tri thức đáng lẽ phải mất hàng trăm năm để học trên trần gian giờ đã là một phần của tôi.
I stood upon a precipice overlooking the universe, reveling in this knowledge, filled with an indescribable peace. I remember thinking, “But it’s so simple! Why a child could understand it! How could it be that I have been living so long and never saw this while I was in the body!? It’s so perfect! And so obvious!”
Tôi đứng trên một mỏm đá nhìn ra vũ trụ, say sưa trong tri thức ấy, tràn đầy một bình an khôn tả. Tôi nhớ mình đã nghĩ, “Nhưng nó đơn giản quá! Một đứa trẻ cũng có thể hiểu! Sao lại có thể như thế được rằng tôi đã sống lâu đến vậy mà không hề thấy điều này khi còn ở trong thân xác!? Mọi sự thật quá hoàn hảo! Và hiển nhiên như thế!”
Suddenly something monumental I had understood was gone! It was like having something on the tip of your tongue, just beyond your ability to bring it forth, this was how I felt, but this wasn’t just some name of a movie or of a phone number, this was a HUGE loss. I tried to focus on it and recall it and as I did so, another large chunk of knowledge disappeared. And so a snowball effect began and the harder I tried to retain this precious gift, the faster it began to slip from my grasp. I began falling back and soon found myself back in my body with my spiritual traveler standing over me saying, “Remember … remember!”
Bất chợt, một điều vĩ đại mà tôi đã hiểu biến mất! Nó giống như có điều gì đó ở trên đầu lưỡi, ngay ngoài tầm gọi lại, tôi đã cảm như thế, nhưng đây không chỉ là tên một bộ phim hay một số điện thoại, đây là một mất mát KHỔNG LỒ. Tôi cố tập trung vào nó và hồi tưởng, và khi tôi làm vậy, một mảng lớn tri thức khác biến mất. Thế là hiệu ứng quả cầu tuyết bắt đầu và càng cố giữ lại món quà quý báu này, nó càng trượt khỏi tay tôi nhanh hơn. Tôi bắt đầu rơi trở lại và chẳng bao lâu đã thấy mình ở trong thân xác, với người lữ khách tinh thần của tôi vẫn đứng bên tôi nói: “Hãy nhớ … hãy nhớ!”
All I remember is what I’ve written here.
Tất cả những gì tôi nhớ chỉ là điều tôi đã viết ở đây.
Elizabeth Reynolds was fifty-seven years old when she obtained a reading from Edgar Cayce. One of her greatest karmic challenges was her husband, from whom she was separated. In addition to wanting to know where the karma with her husband had originated, Elizabeth was apparently wondering whether their getting together had been a mistake; Cayce assured her that it had not: “As has been indicated through these channels, there is never a chance meeting, or any association, that hasn’t its meaning or purpose in the development of an individual entity or soul.” (1648-2) The karma that she was facing was traced to a lifetime in which the couple had been together as brother and sister.
Elizabeth Reynolds năm mươi bảy tuổi khi bà xin một bài đọc từ Edgar Cayce. Một trong những thách thức nghiệp quả lớn nhất của bà là người chồng mà bà đã ly thân. Ngoài việc muốn biết nghiệp quả giữa bà và chồng đã khởi nguyên thế nào, Elizabeth dường như băn khoăn liệu việc họ đến với nhau có phải là sai lầm; Cayce bảo đảm với bà rằng không phải: “Như đã được chỉ dẫn qua những kênh này, chẳng có cuộc gặp gỡ tình cờ nào, hay bất cứ mối liên hệ nào mà lại không có ý nghĩa hay mục đích cho sự phát triển của một thực thể hay linh hồn cá nhân.” (1648-2) Nghiệp quả mà bà đang đối diện được truy về một kiếp mà hai người từng là anh em ruột.
In terms of how she could best meet karmic memory in the present, the reading told Elizabeth that if an individual focused on self alone, she or he would remain subject to karma, whereas by focusing on the soul’s pattern of wholeness the person would open to grace, the karma would be met, and the individual would move toward greater soul development.
Về cách tốt nhất để bà có thể gặp ký ức nghiệp quả trong hiện tại, bài đọc nói với Elizabeth rằng nếu một cá nhân chỉ tập trung vào cái tôi, người ấy sẽ vẫn chịu nghiệp quả; trong khi nếu tập trung vào mẫu hình trọn vẹn của linh hồn, người ấy sẽ mở ra với ân điển, nghiệp quả sẽ được gặp, và cá nhân sẽ tiến tới phát triển linh hồn lớn lao hơn.
A thirty-six-year-old insurance agent was given similar advice:
Một nhân viên bảo hiểm ba mươi sáu tuổi nhận được lời khuyên tương tự:
For, it is not by chance that each entity enters, but that the entity—as a part of the whole—may fill that place which no other soul may fill so well. For He hath not willed that any soul should perish. Thus with each material manifestation there is an undertaking by an entity to so manifest that it, as a part of the whole, may become more and more attuned to that consciousness, and thus glorify Him in the entity’s relationships to others in any and in every experience.
Vì, không phải tình cờ mà mỗi thực thể bước vào, mà là để thực thể—như một phần của toàn thể—có thể lấp đầy chỗ mà không linh hồn nào khác có thể lấp đầy tốt bằng. Vì Ngài chẳng hề muốn cho một linh hồn nào bị hư mất. Do đó, với mỗi lần biểu lộ vật chất, có một sự dấn thân bởi một thực thể để biểu lộ như vậy hầu cho thực thể ấy, như một phần của toàn thể, có thể ngày càng được chỉnh hợp với tâm thức ấy, và như thế tôn vinh Ngài trong các mối liên hệ của thực thể với người khác trong bất cứ và mọi kinh nghiệm.
Each soul was, is, and is to be a companion with that creative influence or force called God. Thus each entity is a child of God, or is a part of that whole.
Mỗi linh hồn đã, đang và sẽ là một bạn đồng hành với ảnh hưởng hay mãnh lực sáng tạo gọi là Thượng đế. Do đó, mỗi thực thể là một con của Thượng đế, hay là một phần của toàn thể ấy.
2533-1
2533-1
The Cayce material states that the purpose of life is to move ever closer toward personal wholeness and the soul’s awareness of its ultimate relationship to God. Two laws that assist all individuals in this process are the laws of karma and grace. The law of karma enables an individual to meet memory patterns within the self that are out of harmony with the soul’s oneness with the Creator. Meeting these karmic memory patterns enables an individual to grow in awareness through personal challenges and obedience to the law. Grace provides a means to gain the necessary awareness without having to necessarily meet the same measure of karmic memory created. Regardless of whether an individual chooses to remain subject to the law of karma or instead align with the pattern of the law of grace, the lawfulness of the universe does not change.
Tài liệu Cayce nêu rằng mục đích của đời sống là tiến gần hơn nữa đến tính trọn vẹn cá nhân và nhận biết của linh hồn về mối quan hệ tối hậu của nó với Thượng đế. Hai định luật hỗ trợ mọi người trong tiến trình này là định luật nghiệp quả và ân điển. Định luật nghiệp quả giúp cá nhân gặp các mô thức ký ức ở trong chính mình vốn sai lệch so với sự hợp nhất của linh hồn với Đấng Tạo Hóa. Gặp các mô thức ký ức nghiệp quả này giúp cá nhân tăng trưởng trong nhận biết qua các thách thức cá nhân và sự vâng theo định luật. Ân điển cung cấp phương cách để đạt được nhận biết cần thiết mà không nhất thiết phải gặp cùng mức độ các ký ức nghiệp quả đã tạo. Bất kể cá nhân chọn ở lại dưới định luật nghiệp quả hay thay vào đó chỉnh hợp với mẫu hình của định luật ân điển, tính hợp luật của vũ trụ không hề thay đổi.
Conclusion
Kết luận
Thus we may through those administrations of that which is the spirit of truth made manifest, turn this karma, or law, to grace and mercy.
Vì vậy chúng ta có thể, qua những sự tác động của tinh thần của chân lý đã được biểu lộ, chuyển hóa nghiệp quả này, hay định luật này, thành ân điển và thương xót.
5209-1
5209-1
Families are purposeful, and every person in one’s family is there for a reason. Ultimately, that reason is to enable all individuals to grow in soul development and personal wholeness, becoming better people in the process. Along the way each individual meets self, healing karmic memory patterns that are out of harmony with the soul’s awareness of its connection to the rest of Creation and its oneness with the Creator. Each relationship experienced by all individuals has the capacity to bring a person ever closer to an awareness of that oneness. Even the most difficult of family relationships can be viewed as an individual’s soul choice, leading to personal growth. As Edgar Cayce told one woman, “then in every contact is there the opportunity for an entity, a soul, to fulfil or meet itself … ” (903-23) With this in mind, there is an underlying purposefulness behind every relationship and each experience a soul encounters.
Gia đình là có mục đích, và mỗi người trong gia đình của một người hiện diện ở đó vì một lý do. Sau cùng, lý do ấy là để giúp mọi cá nhân tăng trưởng trong phát triển linh hồn và tính trọn vẹn cá nhân, trở nên những con người tốt hơn trong tiến trình. Trên đường đi, mỗi cá nhân gặp chính mình, chữa lành các mô thức ký ức nghiệp quả sai lệch so với nhận biết của linh hồn về sự nối kết với phần còn lại của Tạo Hóa và sự hợp nhất với Đấng Tạo Hóa. Mỗi mối quan hệ mà tất cả mọi người trải nghiệm đều có khả năng đưa một người đến gần hơn nữa với nhận biết về sự hợp nhất ấy. Ngay cả những mối quan hệ gia đình khó khăn nhất cũng có thể được nhìn như một sự chọn lựa của linh hồn, dẫn đến tăng trưởng cá nhân. Như Edgar Cayce nói với một phụ nữ, “vậy thì trong mọi tiếp xúc đều có cơ hội để một thực thể, một linh hồn, hoàn tất hay gặp chính mình …” (903-23) Nghĩ như thế, có một tính mục đích nền tảng phía sau mọi mối quan hệ và mỗi kinh nghiệm mà một linh hồn gặp.
In the process of compiling information for the “Philosophy” chapter of Cayce’s biography, There Is a River, author Thomas Sugrue wanted to know if souls generally made progress in their experiences in the earth with the following question: “Is the average fulfillment of the soul’s expectation [of lessons to be learned] more or less than fifty percent?” Cayce’s answer suggests that in spite of how things may sometimes appear in the outer world there is growth. He replied, “It’s a continuous advancement, so it is more than fifty percent.” (5749-14) Cayce went on to say that an understanding of the laws of reincarnation and karma had once been an integral part of Christianity but they had been removed by founders of the early Church in “the attempts to take short cuts.”
Trong tiến trình thu thập thông tin cho chương “Triết học” của tiểu sử Cayce, There Is a River, tác giả Thomas Sugrue muốn biết liệu các linh hồn nói chung có tiến bộ trong các kinh nghiệm ở trần gian không với câu hỏi: “Mức độ hoàn thành trung bình đối với kỳ vọng của linh hồn [về các bài học cần học] là nhiều hay ít hơn năm mươi phần trăm?” Câu trả lời của Cayce gợi ý rằng bất chấp cách mọi điều đôi khi dường như xuất hiện ở thế giới bên ngoài, vẫn có sự tăng trưởng. Ông đáp: “Đó là một sự thăng tiến liên tục, nên là hơn năm mươi phần trăm.” (5749-14) Cayce nói tiếp rằng sự hiểu biết về các định luật luân hồi và nghiệp quả đã từng là một phần không thể thiếu của Cơ Đốc giáo nhưng chúng đã bị những vị sáng lập Giáo hội sơ khai loại bỏ trong “những nỗ lực đi đường tắt.”
Oftentimes, the readings explained the lawfulness of karma by stating that whatever an individual sowed would eventually have to be reaped. Although some individuals might use this cause-and-effect dynamic to describe karma as justice, a consequence or even a debt, it is most accurate to describe it as a pool of unconscious memory. To be sure, an individual draws upon karmic memory in a variety of ways in her or his present experience, but karma is simply memory. This memory has elements that may appear to be both positive and negative. For example, a lifelong closeness to one family member is as likely to be karmic as an ongoing animosity to another. Although karma definitely has an effect upon life and one’s attitude toward others, the exercise of free will determines the actual experience an individual has in the present.
Nhiều lần, các bài đọc giải thích tính hợp luật của nghiệp quả bằng cách nói rằng hễ cá nhân gieo gì thì rốt cuộc phải gặt nấy. Dù một số người có thể dùng động thái nhân-quả này để mô tả nghiệp quả như công lý, như hệ quả hoặc thậm chí là món nợ, thì chính xác nhất là mô tả nó như một kho ký ức vô thức. Chắc chắn, cá nhân rút từ ký ức nghiệp quả theo nhiều cách trong kinh nghiệm hiện tại của mình, nhưng nghiệp quả đơn giản là ký ức. Ký ức này có các yếu tố có thể có vẻ cả tích cực lẫn tiêu cực. Chẳng hạn, sự gắn bó suốt đời với một thành viên gia đình cũng có khả năng mang tính nghiệp quả như sự hằn học dai dẳng với một người khác. Dù nghiệp quả chắc chắn có ảnh hưởng đến đời sống và thái độ của một người đối với người khác, thì việc vận dụng ý chí tự do quyết định trải nghiệm thực tế mà cá nhân có trong hiện tại.
In practical terms, individuals may not always be able to understand why a certain relationship was drawn to them, but the “why” may not be primary. What is important is “how” individuals choose to respond to each relationship and life experience. Imagine, for example, that two people encounter a similar circumstance in their upbringing—perhaps an overly critical parent—yet each person chooses to deal with the situation in a very different manner. One might spend a lifetime remaining angry and bitter, perhaps becoming overly critical in response, and the other might instead work through the situation by forgiving the parent and vowing to never exhibit similar traits in his or her relationships with others. Although the situation starts out the same, each person’s choice determines a very different life experience.
Về mặt thực tiễn, các cá nhân không phải lúc nào cũng có thể hiểu vì sao một mối quan hệ nào đó được thu hút đến với họ, nhưng “vì sao” có thể không phải là quan trọng nhất. Điều quan trọng là “cách” mà cá nhân chọn để đáp ứng với mỗi mối quan hệ và kinh nghiệm sống. Hãy hình dung, chẳng hạn, hai người gặp một hoàn cảnh tương tự trong tuổi thơ—có lẽ là một phụ huynh quá hay chỉ trích—vậy mà mỗi người chọn cách đối diện rất khác nhau. Một người có thể dành cả đời để nuôi giận dữ và cay đắng, có lẽ đáp lại bằng cách trở nên quá chỉ trích, còn người kia có thể làm việc với tình huống bằng cách tha thứ cho phụ huynh và nguyện không bao giờ thể hiện những đặc tính tương tự trong các mối quan hệ của mình với người khác. Dù tình huống khởi đầu giống nhau, lựa chọn của mỗi người quyết định hai trải nghiệm sống rất khác.
Sometimes an understanding of karmic connections can be conceptually challenging in that there really isn’t karma between people; instead, memory exists in relationship to people and is really a karmic experience within one’s self. However, people come to terms with that memory or meet themselves most effectively through interaction with others. This interesting dynamic of family relationships can mislead people to perceive various family members as the source of their challenges and frustrations, rather than accepting personal responsibility.
Đôi khi việc hiểu các mối liên hệ nghiệp quả có thể là thách thức về mặt khái niệm bởi thật ra không có nghiệp quả giữa người với người; thay vào đó, ký ức tồn tại trong mối liên hệ với người khác và thực ra là một kinh nghiệm nghiệp quả ở trong chính mình. Tuy nhiên, con người xử lý ký ức ấy hay gặp chính mình một cách hữu hiệu nhất thông qua tương tác với người khác. Tính năng động thú vị này của các mối quan hệ gia đình có thể khiến người ta hiểu lầm mà cho rằng các thành viên gia đình khác nhau là nguồn gốc của các thách thức và bực bội của họ, thay vì chấp nhận trách nhiệm cá nhân.
The Cayce readings indicate that each individual retains the memory of former experiences, often as patterns that manifest through the emotional and even cellular levels of the body. These memory patterns must be met and their “meeting” generally entails a growth in personal awareness. In this manner an individual lawfully meets personal karma and acquires personal resources and growth in awareness that are necessary for the soul’s personal development.
Các bài đọc của Cayce cho biết rằng mỗi cá nhân giữ lại ký ức về các kinh nghiệm trước kia, thường là dưới dạng các mô thức biểu hiện qua các tầng cảm xúc và thậm chí tế bào của thân thể. Các mô thức ký ức này phải được gặp và “việc gặp” chúng nói chung bao hàm một sự tăng trưởng trong nhận biết cá nhân. Bằng cách này, cá nhân hợp luật mà gặp nghiệp quả cá nhân và thu nhận các nguồn lực cá nhân cùng sự tăng trưởng trong nhận biết cần thiết cho sự phát triển cá nhân của linh hồn.
In this process of growing toward at-one-ment with the Creator, there is a choice: An individual can repeatedly meet his or her own karmic memory and allow it to remain a stumblingblock in life, or the individual can open to the law of grace and draw upon the pattern of wholeness inherent in every situation. In this manner, personal karma and life’s challenges can instead become stepping-stones toward greater development.
Trong tiến trình lớn lên hướng đến trạng thái hợp nhất với Đấng Tạo Hóa, có một sự chọn lựa: Một cá nhân có thể lặp đi lặp lại việc gặp ký ức nghiệp quả của chính mình và để nó tiếp tục là chướng ngại trong đời, hoặc cá nhân có thể mở ra với định luật ân điển và nương tựa vào mẫu hình trọn vẹn vốn tiềm ẩn trong mọi tình huống. Bằng cách này, nghiệp quả cá nhân và các thách thức của đời sống có thể trở thành những bước đệm hướng tới phát triển lớn lao hơn.
Individuals avail themselves of grace by putting themselves in accord with the fruits of the spirit, by aligning to the soul’s pattern of wholeness and perfection and by consciously choosing a path of personal growth and development. From the perspective of the Cayce readings, three tools that are extremely effective in soul growth entail the setting of spiritual ideals, the application of spiritual principles in everyday life and becoming personally attuned to the divine.
Các cá nhân thụ hưởng ân điển bằng cách tự đặt mình hòa hợp với hoa trái của tinh thần, bằng cách chỉnh hợp với mô thức trọn vẹn và hoàn hảo của linh hồn và bằng cách có ý thức chọn một con đường tăng trưởng và phát triển cá nhân. Từ quan điểm của các bài đọc Cayce, ba khí cụ hết sức hiệu quả cho sự tăng trưởng của linh hồn bao gồm: thiết lập các lý tưởng tinh thần, vận dụng các nguyên tắc tinh thần trong đời sống hằng ngày và trở nên hòa điệu cá nhân với cái thiêng liêng.
Family karma is not some kind of punishment or divine retribution; instead, it is the means through which individuals can gain an awareness of themselves, their relationships to all others and ultimately their relationship to the Creator. Family karma is the lawful response to choices and actions that have occurred in the past. It demonstrates the exacting nature of individual responsibility and it allows for the ever-present hopefulness of personal free will. In the end, family karma enables every individual to have the opportunity to become a better person for having had the experience of being in that family. It also enables each individual to eventually come to the realization that the Creator is all loving and fair, and that life is now and will forever be a completely lawful experience.
Nghiệp gia đình không phải là một loại hình phạt hay sự báo ứng thiêng liêng; trái lại, đó là phương tiện nhờ đó cá nhân có thể đạt được sự tự nhận biết về chính mình, về các mối tương quan với tất cả những người khác và sau cùng là mối tương quan của mình với Đấng Sáng Tạo. Nghiệp gia đình là sự đáp ứng hợp luật đối với những chọn lựa và hành động đã xảy ra trong quá khứ. Nó cho thấy tính nghiêm minh của trách nhiệm cá nhân và cho phép niềm hy vọng luôn hiện hữu của ý chí tự do cá nhân. Rốt cuộc, nghiệp gia đình giúp mỗi người có cơ hội trở nên một con người tốt đẹp hơn nhờ đã có kinh nghiệm sống trong gia đình đó. Nó cũng giúp mỗi người rốt lại nhận ra rằng Đấng Sáng Tạo là toàn ái và công bằng, và rằng sự sống hiện nay và mãi mãi về sau là một kinh nghiệm hoàn toàn hợp với định luật.
Notes
1. For a more thorough examination of reincarnation and karma in the Bible, see Why Jesus Taught Reincarnation by Herbert Bruce Puryear, Ph.D. 2. In addition to There Is a River, by Thomas Sugrue, a further examination of Cayce’s life and work can be found in Sidney D. Kirkpatrick’s Edgar Cayce: An American Prophet. 3. The Edgar Cayce readings are numbered to maintain confidentiality. The first set of numbers (e.g. “440”) refers to the individual or group for whom the reading was given. The second set of numbers (e.g. “5”) refers to the number of the reading for that individual or group. 4. For the most part, all names used within this volume have been changed to maintain confidentiality. 5. “Candid Camera of the Cosmos,” by Gina Cerminara. A.R.E. Bulletin, November 1945. 6. For additional information on the topic of soul mates, see Edgar Cayce on Soul Mates by Kevin J. Todeschi.
References and Recommended Reading
Bowman, Carol. Children’s Past Lives: How Past Life Memories Affect Your Child. New York: Bantam, 1998.
Cerminara, Gina. Many Mansions. New York: New American Library, 1967.
Easton, Stewart C., translator. Man and the World in the Light of Anthroposophy. Spring Valley, New York: Anthroposophic Press, 1975.
Hamilton, Edith. Mythology. Boston: Back Bay Books (Little Brown and Company), 1998.
The Holy Bible, King James Version, 1979.
Puryear, Herbert Bruce, Ph.D. Why Jesus Taught Reincarnation: A Better News Gospel. Scottsdale, Arizona: New Paradigm Press, 1992.
Smith, Huston. The World’s Religions. New York: HarperCollins, 1991.
Sparrow, Lynn Elwell. Edgar Cayce and Christian Faith. Virginia Beach, Virginia: A.R.E. Press, 1999.
Stevenson, Ian. Twenty Cases Suggestive of Reincarnation. Charlottesville, Virginia: University Press of Virginia, 1974.
Sugrue, Thomas. There Is a River. Virginia Beach, Virginia: A.R.E. Press, 1997.
Todeschi, Kevin J. Edgar Cayce on the Akashic Records. Virginia Beach, Virginia: A.R.E. Press, 1998.
Todeschi, Kevin J. Edgar Cayce on Soul Mates. Virginia Beach, Virginia: A.R.E. Press, 1999.
Weiss, Brian. Only Love Is Real: A Story of Soulmates Reunited. New York: Warner Books,