An underlying premise in the Edgar Cayce readings is that individuals who have a strong emotional feeling toward one another— positively or negatively—generally have karmic memory that constantly influences their present relationship. In other words, oftentimes people respond to one another with greater depth of emotion than might seem appropriate to an objective observer because those individuals are not only responding to an incident in the present but, in all likelihood, to other experiences that have ever occurred between them throughout all time and space. In spite of these past-life memories and the subsequent influences they have, however, Cayce was adamant in maintaining that free will remained the strongest influence in any given relationship because, although there may be negative patterns and inclinations that exist at an unconscious level, those “impulses” do not need to be reenergized or given power in the present.
Một tiền đề nền tảng trong các bài đọc Edgar Cayce là: những cá nhân có cảm xúc mạnh với nhau—tích cực hay tiêu cực—thường có ký ức nghiệp quả không ngừng ảnh hưởng đến mối quan hệ hiện tại. Nói cách khác, nhiều khi người ta đáp ứng lẫn nhau với chiều sâu cảm xúc vượt quá điều có vẻ thích đáng với một quan sát viên khách quan, bởi vì họ không chỉ phản ứng với một sự cố hiện tại mà, rất có thể, với những trải nghiệm từng xảy ra giữa họ suốt mọi thời và không gian. Dẫu có những ký ức tiền kiếp và ảnh hưởng theo sau, Cayce vẫn quả quyết rằng ý chí tự do là ảnh hưởng mạnh nhất trong bất kỳ mối quan hệ nào, bởi lẽ, dù có thể tồn tại những khuôn mẫu và khuynh hướng tiêu cực ở mức vô thức, những “xung lực” đó không nhất thiết phải được nạp lại năng lượng hay trao quyền lực trong hiện tại.
The importance of free will was emphasized in a reading, for a woman in her forties who was a strong supporter of Edgar Cayce and his work. She was extremely close to her nieces and nephews, for whom she obtained readings. One of her nephews was thirteen at the time of his reading and the aunt and nephew apparently wavered between a very amicable relationship and one in which each seemed to be a source of irritation to the other. When the question was asked in the boy’s reading as to whether they would be closely associated throughout his life or end up separating, Cayce responded that the answer was not set; instead it had to do with the use of their will in the present: “This depends to be sure upon the activities … No life, no individual is set! It is not a line; it deviates. For the will of each may change the relationships.” (1235-1)
Tầm quan trọng của ý chí tự do được nhấn mạnh trong một bài đọc cho một phụ nữ tuổi bốn mươi—một người ủng hộ mạnh mẽ Edgar Cayce và công việc của Ông. Bà vô cùng thân thiết với các cháu—bà xin bài đọc cho họ. Một người cháu trai mười ba tuổi vào thời điểm nhận bài đọc, và dường như giữa hai cô cháu có lúc rất hòa thuận, có lúc lại gây khó chịu cho nhau. Khi câu hỏi được nêu trong bài đọc của cậu bé về việc liệu hai cô cháu sẽ gắn bó suốt đời hay sẽ xa cách, Cayce trả lời rằng câu trả lời không cố định; đúng hơn là tùy thuộc vào việc sử dụng ý chí trong hiện tại: “Điều này dĩ nhiên tùy thuộc vào các hoạt động … Không có đời sống nào, không có cá nhân nào đã được định sẵn! Nó không phải là một đường thẳng; nó có những chệch hướng. Vì ý chí của mỗi người có thể thay đổi các mối quan hệ.” (1235-1)
Cayce went on to explain that the greatest source of their connection was the karmic memory from a lifetime in Rome in which the two had been friends. During that experience, the nephew had often provided guidance that his present-day aunt depended upon. In the present, their roles had been reversed and the aunt now found herself in the role of guiding the youth, especially in terms of his spiritual direction. Apparently, the conflict existed because not only did the nephew now find himself in a subservient position but at a subconscious level the aunt realized that she could no longer turn to her former friend for help, as she had done in the past. When the question was asked as to whether or not the relationship had the potential to be beneficial for the youth in the present, Cayce again turned the answer over to the application of individual will: “Depends upon the application again. Everything in the experience depends upon the application. How wilt thou use thy opportunities? if for weal or for woe? These are not set!”
Cayce giải thích tiếp rằng nguồn liên hệ lớn nhất của họ là ký ức nghiệp quả từ một kiếp sống ở La Mã khi hai người là bạn. Trong trải nghiệm ấy, người cháu trai thường cung cấp chỉ dẫn mà người cô hiện tại phụ thuộc vào. Ở hiện tại, vai trò bị đảo ngược và người cô thấy mình trong vị thế dẫn dắt cậu thiếu niên, đặc biệt về phương diện định hướng tinh thần. Dường như xung đột nảy sinh vì giờ đây người cháu thấy mình ở vị thế lệ thuộc, và ở tầng vô thức, người cô nhận ra rằng bà không còn có thể tìm đến người bạn cũ để xin giúp đỡ như trước nữa. Khi có người hỏi liệu mối quan hệ có tiềm năng mang lại lợi ích cho cậu trong hiện tại không, Cayce lại quy câu trả lời về việc áp dụng ý chí cá nhân: “Lại tùy vào sự áp dụng. Mọi thứ trong trải nghiệm đều tùy vào sự áp dụng. Ngươi sẽ dùng các cơ hội của mình thế nào? để mang phúc hay gây họa? Những điều này không hề cố định!”
The readings also repeat that there is an underlying purposefulness behind every relationship and experience encountered by a soul. For example, during the course of a reading given to a thirty-five-year-old musician interested in past lives, work prospects and his personal relationships, Cayce stated that wherever an individual found himself or herself in the present is an opportunity to be a meaningful experience:
Các bài đọc cũng lặp lại rằng có một mục đích nền tảng đằng sau mọi mối quan hệ và trải nghiệm mà một linh hồn gặp phải. Chẳng hạn, trong một bài đọc cho một nhạc sĩ ba mươi lăm tuổi quan tâm đến tiền kiếp, triển vọng công việc và các mối quan hệ cá nhân, Cayce nói rằng bất cứ nơi nào một người thấy mình ở hiện tại đều là cơ hội để có một trải nghiệm có ý nghĩa:
Yet, let the entity know that it is not by chance that it has entered this experience at this time, but the life is a purposeful experience; and the place in which it finds itself in the present is that from which it may use the present abilities, the present faults, the present failures—yea, the present virtues— in fulfilling that purpose for which the soul manifests in the material or three-dimensional plane.
“Dẫu vậy, để thực thể biết rằng không phải tình cờ mà nó đi vào trải nghiệm này vào thời điểm này, mà đời sống là một trải nghiệm có mục đích; và nơi chốn hiện tại là nơi nó có thể dùng những khả năng hiện có, các lỗi hiện có, những thất bại hiện có—vâng, cả những đức hạnh hiện có—để hoàn thành mục đích mà linh hồn biểu hiện trong cõi vật chất hay cõi ba chiều.”
2421-2
2421-2
On another occasion, a forty-one-year-old woman interested in the karmic connection between herself and her daughter was told: “It is true for the entity, and for most individual souls manifesting in the earth, that nothing, no meeting comes by chance. These are a design or a pattern. These patterns, however, are laid out by the individual entity. For there are laws.” (2620-2)
Một lần khác, một phụ nữ bốn mươi mốt tuổi quan tâm đến mối liên kết nghiệp quả giữa bà và con gái được cho biết: “Điều này đúng với thực thể, và với hầu hết các linh hồn cá nhân lâm phàm trên trần thế, rằng không có gì, không một cuộc gặp gỡ nào là do tình cờ. Đây là một đồ hình hay một khuôn mẫu. Tuy nhiên, các khuôn mẫu này được vạch ra bởi chính thực thể cá nhân. Vì có các định luật.” (2620-2)
Edgar Cayce frequently emphasized the lawfulness of karma by paraphrasing a line from the New Testament: “ … for whatsoever a man soweth, that shall he also reap.” (Galatians 6:7) For example, when a fifty-six-year-old woman had questions about the karmic relationships between herself and various family members, she was told: “Learn the law; that ye reap what ye sow! The manner in which ye measure to others, it will be measured to thee again! That is an unchangeable law! Then, live the law; be the law, as respecting such.” (2185-1)
Edgar Cayce thường nhấn mạnh tính luật định của nghiệp quả bằng cách diễn giải một câu trong Tân Ước: “Vì ai gieo giống chi, sẽ gặt giống ấy.” (Galatia 6:7) Chẳng hạn, khi một phụ nữ năm mươi sáu tuổi hỏi về các mối quan hệ nghiệp quả giữa bà và các thành viên gia đình, bà được bảo: “Hãy học định luật; rằng ngươi gặt điều ngươi gieo! Ngươi đong cho người ta bằng đấu nào, thì sẽ được đong trả bằng đấu ấy! Đó là một định luật bất biến! Vậy thì, hãy sống theo định luật; hãy làm hiện thân của định luật liên quan đến những điều như thế.” (2185-1)
Along the same lines, a thirty-eight year-old member of the U.S Treasury Department’s Secret Service was reminded:
Tương tự, một người ba mươi tám tuổi thuộc Cơ quan Mật vụ của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ được nhắc nhở:
… each soul meets that it—the soul—has builded in the experiences.
“… mỗi linh hồn gặp chính điều mà nó—linh hồn—đã xây dựng trong các trải nghiệm.
For the law of the universe, the law of a merciful Father, remaineth ever. Though there may be turmoils within the earth, though there may be confusions in the elements about the earth, the law remains that what ye sow ye reap, what ye sow ye must meet.
Vì định luật của vũ trụ, định luật của một Cha nhân từ, vẫn luôn còn đó. Dẫu có những xáo động trong trần thế, dẫu có những rối loạn nơi các yếu tố quanh địa cầu, định luật vẫn là: ngươi gieo gì gặt nấy, điều ngươi gieo ngươi phải đối diện.”
1205-1
1205-1
A fifty-six-year-old investment counselor apparently having problems at work was reminded that his experience was simply a lawful recompense for his own actions in a previous life. In other words, he was simply meeting himself:
Một cố vấn đầu tư năm mươi sáu tuổi dường như gặp vấn đề ở chỗ làm được nhắc rằng trải nghiệm của ông đơn giản là sự đền bù theo luật cho hành động của chính ông trong một kiếp trước. Nói cách khác, ông đang gặp chính mình:
The entity took advantage of a group. Hence expect a group to take advantage of thee! For what ye measure, it must be, it will be measured to thee. For ye must pay every whit that ye measure to others. And this applies in the future as well as in the past. Do you wonder that your life is in such a mess!
“Thực thể đã lợi dụng một nhóm. Vậy hãy trông đợi một nhóm sẽ lợi dụng ngươi! Vì điều ngươi đong cho người ta, phải thế, sẽ được đong trả cho ngươi. Vì ngươi phải trả đủ mọi phân lượng mà ngươi đã đong cho người khác. Và điều này áp dụng cho tương lai cũng như quá khứ. Ngươi còn lấy làm lạ vì đời ngươi rối ren đến thế sao!”
3063-1
3063-1
As stated previously, rather than being some type of a punishment or a debt, the karmic memory that enables people to “meet” themselves in their experiences and relationships is ultimately the means through which individuals grow, develop and become more in alignment with their Creator. Oftentimes, that growth entails learning how to love unconditionally—whether it’s love of self or love of others. The contemporary story of Hiromi Martin is one such example:
Như đã nói, thay vì là một hình phạt hay món nợ, ký ức nghiệp quả khiến người ta “gặp” chính mình trong các trải nghiệm và mối quan hệ rốt cuộc là phương tiện qua đó cá nhân tăng trưởng, phát triển và trở nên tương hợp hơn với Đấng Tạo Hóa của mình. Thường thì sự tăng trưởng ấy bao hàm việc học cách yêu vô điều kiện—dù là yêu bản thân hay yêu người khác. Câu chuyện đương đại của Hiromi Martin là một ví dụ như vậy:
Hiromi admits that for a long time she didn’t understand her karmic relationship with her mother-in-law or the lesson that each had been attempting to learn. She was born in Asia, and her own parents immigrated first to Holland and then to the United States. During World War II, her father had spent four years as a POW in a Japanese prison camp. When she became an adult, Hiromi married a United States citizen, a Caucasian. Although close to her husband, she always had a very challenging time with her mother-in-law, who came across as being prejudice about Hiromi’s nationality. To make matters worse, because of a series of life events, her mother-in-law lived with her and her husband for over twenty years.
Hiromi thừa nhận rằng suốt một thời gian dài cô không hiểu mối quan hệ nghiệp quả với mẹ chồng hay bài học mà mỗi người đang cố học. Cô sinh ra ở châu Á, cha mẹ cô di cư trước đến Hà Lan rồi sang Hoa Kỳ. Trong Thế chiến II, cha cô bị giam bốn năm như một tù binh chiến tranh trong trại giam Nhật Bản. Khi trưởng thành, Hiromi kết hôn với một công dân Hoa Kỳ, một người da trắng. Dù thân thiết với chồng, cô luôn gặp thời gian vô cùng khó khăn với mẹ chồng, người tỏ ra định kiến về quốc tịch của Hiromi. Tệ hơn nữa, vì nhiều biến cố, mẹ chồng sống cùng cô và chồng suốt hơn hai mươi năm.
According to Hiromi, her mother-in-law was mean, critical, insulting, and prone to frequent yelling: “For a number of years, I thought I was the cause of the way she treated me, and it was devastating.” For years she waited on the woman’s every demand: “I felt like an indentured slave whose servitude would never be up.” The situation went on for seventeen years, causing Hiromi to become despondent: “I wallowed in feelings of selfishness and despair and I ignored my need to love myself and take care of my health.” In the seventeenth year she developed cancer and became convinced that her attitude and hopelessness had depleted her immune system and allowed the cancer to manifest. Hiromi became determined that she would not allow herself to die from the situation.
Theo Hiromi, mẹ chồng cô độc ác, hay chỉ trích, xúc phạm và thường xuyên la mắng: “Trong nhiều năm, tôi nghĩ mình là nguyên nhân khiến bà đối xử với tôi như vậy, và điều đó thật hủy hoại.” Nhiều năm cô chiều theo mọi đòi hỏi của bà: “Tôi thấy mình như một nô lệ khế ước mà thời hạn phục dịch chẳng bao giờ mãn.” Tình cảnh kéo dài mười bảy năm, khiến Hiromi rơi vào tuyệt vọng: “Tôi đắm mình trong cảm giác ích kỷ và tuyệt vọng và lờ đi nhu cầu yêu bản thân, chăm sóc sức khỏe.” Đến năm thứ mười bảy, cô bị ung thư và tin rằng thái độ cùng sự vô vọng đã làm suy kiệt hệ miễn dịch, cho phép ung thư phát tác. Hiromi quyết tâm sẽ không để mình chết vì tình cảnh ấy.
In addition to following the treatment recommended by her doctor, Hiromi eventually went to a psychic and asked what past-life experience was most affecting her situation in the present. The response was that she had once been an Egyptian slave serving a cruel and arrogant master—eventually she had escaped the situation and was able to live a happy life with a family of her own. It did not take a stretch of the imagination to realize that the master she had once served and despised had returned as her present-day mother-in-law. It is only now that Hiromi realizes the lessons that each had tried to teach the other:
Bên cạnh việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ, Hiromi sau đó tìm đến một nhà ngoại cảm và hỏi kiếp sống nào ảnh hưởng nhiều nhất đến tình huống hiện tại. Câu trả lời là cô từng là một nô lệ Ai Cập phục dịch một ông chủ tàn nhẫn và ngạo mạn—cuối cùng cô đã trốn thoát và sống hạnh phúc với gia đình riêng. Không khó để nhận ra rằng ông chủ mà cô từng phục dịch và căm ghét đã trở lại thành mẹ chồng hiện tại của cô. Chỉ đến bây giờ Hiromi mới nhận ra những bài học mà mỗi người cố dạy nhau:
She tried to teach me the very hard lesson of self-worth and the fact that I didn’t need her approval. She needed to learn from me that people of a different color or race are no different than herself—no one is any better or any worse than anyone else. In time, I learned patience and self-worth. I even learned to love myself.
“Bà cố dạy tôi bài học vô cùng khó về giá trị bản thân và rằng tôi không cần sự chấp thuận của bà. Bà cần học từ tôi rằng người khác màu da hay chủng tộc chẳng khác gì bà—không ai hơn hay kém ai. Theo thời gian, tôi đã học nhẫn nại và giá trị bản thân. Tôi thậm chí học được cách yêu chính mình.”
Hiromi did all the right things and she quickly regained her health, and her peace of mind. Within a couple of years, her entire life had changed—her children grew up and left home, she made a new life for herself and no longer felt like the “victim” she had once been. It was only after she had transformed her relationship with her mother-in-law that the elder woman passed on. Rather than dreading their next encounter, Hiromi now thinks of their karmic memory with a different attitude: “I never again want to repeat the history we have had. I no longer have the need to be challenged in order to love myself or to feel my self-worth through another’s approval or acceptance. Because I have changed, I hope our next meeting will be one of mutual love and acceptance.”
Hiromi đã làm đúng mọi điều và nhanh chóng hồi phục sức khỏe cũng như sự bình an nội tâm. Chẳng bao lâu sau, toàn bộ cuộc sống của cô thay đổi—các con khôn lớn rời nhà, cô xây dựng một đời sống mới và không còn thấy mình là “nạn nhân” như trước. Chỉ sau khi cô chuyển hóa mối quan hệ với mẹ chồng, người phụ nữ lớn tuổi ấy mới qua đời. Thay vì sợ hãi cuộc gặp gỡ lần tới, Hiromi giờ nghĩ về ký ức nghiệp quả của họ với một thái độ khác: “Tôi không bao giờ muốn lặp lại lịch sử mà chúng tôi đã có. Tôi không còn cần bị thách thức để yêu chính mình hay cảm nhận giá trị bản thân qua sự chấp thuận hay công nhận của người khác. Vì tôi đã đổi thay, tôi hy vọng cuộc gặp tới của chúng tôi sẽ là một cuộc hội ngộ của tình thương và sự chấp nhận lẫn nhau.”
The story of Phyllis Lambert is also one that entails its share of personal challenges. One of the earliest challenges concerned her boyfriend, Paul, whom she describes as follows:
Câu chuyện của Phyllis Lambert cũng là một câu chuyện có phần chia sẻ những thử thách cá nhân. Một trong những thử thách sớm nhất liên quan đến bạn trai cô, Paul, người cô mô tả như sau:
Paul was my brother’s best friend. He was always a part of our family. Paul and I dated through high school and said that we would get married. His father was a plumber and he planned to follow in his father’s footsteps but first he wanted to serve his military time. He enlisted in the army. He was killed six weeks after his arrival in Vietnam.
“Paul là bạn thân nhất của anh trai tôi. Anh ấy luôn là một phần của gia đình chúng tôi. Paul và tôi hẹn hò suốt thời trung học và từng nói rằng sẽ kết hôn. Cha anh là thợ ống nước và anh dự định nối nghiệp, nhưng trước hết muốn hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Anh gia nhập quân đội. Anh hy sinh sáu tuần sau khi đến Việt Nam.”
Paul’s death was devastating but Phyllis got on with her life as best as she could. She married someone else at eighteen but divorced at nineteen. She spent two years hitchhiking across the country before marrying again at twenty-three. She had two sons before getting her second divorce at twenty-five. She married again at thirty and divorced three years later. After that, she dated a number of men but avoided any kind of real commitment. For a long time, it seemed like her life was out of control: “I was single, working full-time, drinking, raising two sons, sleeping with anyone who asked, and using recreational drugs (cocaine and grass).” When her life seemed at its lowest point, Phyllis had a dream that changed everything:
Cái chết của Paul là một cú sốc nhưng Phyllis đã cố gắng tiếp tục sống. Cô kết hôn với người khác lúc mười tám tuổi nhưng ly hôn khi mười chín. Cô dành hai năm đi nhờ xe xuyên nước Mỹ trước khi tái hôn lúc hai mươi ba. Cô có hai con trai trước khi ly hôn lần hai ở tuổi hai mươi lăm. Cô kết hôn lần nữa lúc ba mươi và ly hôn ba năm sau. Sau đó, cô hẹn hò với nhiều người đàn ông nhưng né tránh mọi cam kết thực sự. Suốt một thời gian dài, cuộc đời cô dường như ngoài tầm kiểm soát: “Tôi độc thân, làm việc toàn thời gian, uống rượu, nuôi hai con trai, ngủ với bất cứ ai ngỏ ý, và dùng ma túy giải trí (cocaine và cần sa).” Khi cuộc đời ở điểm chạm đáy, Phyllis đã có một giấc mơ thay đổi tất cả:
It seems that there was a highway. No cars, no trucks, just people walking … The road was bordered on each side with green grass running into the valley … I was enjoying the walk. Off in the distance the trees were so pretty and so tempting that I started to walk in that direction. As I wandered towards the forest, a man came out. He wore blue jeans, a red plaid shirt and tennis shoes. He had dark hair and glasses. As we came closer to each other, I realized that this was Paul. But Paul was dead—killed years ago in Vietnam!
Có vẻ như có một xa lộ. Không xe hơi, không xe tải, chỉ có người đi bộ… Con đường có bãi cỏ xanh hai bên chạy dài vào thung lũng… Tôi đang tận hưởng cuộc dạo bộ. Đằng xa, những hàng cây đẹp đến mê lòng và mời gọi đến mức tôi bắt đầu bước về phía đó. Khi tôi đang lần bước về phía khu rừng, một người đàn ông đi ra. Anh mặc quần jean xanh, áo sơ mi ca-rô đỏ và giày thể thao. Anh có mái tóc sẫm và đeo kính. Khi chúng tôi tiến lại gần nhau hơn, tôi nhận ra đó là Paul. Nhưng Paul đã chết—bị giết nhiều năm trước ở Việt Nam!
I was so happy to see him, tears welled into my eyes and my heart exploded with happiness. I ran toward him and just stared for a minute. He looked just like he always had, only older and more mature. He had the same rosy cheeks and the same habit of pushing his glasses up his nose with his index finger. I held him and felt the warmth of his body and smelled the familiar smell that was his alone. I cried from happiness and never questioned why he was there …
Tôi mừng đến trào nước mắt và trái tim vỡ òa trong hạnh phúc. Tôi chạy về phía anh và chỉ đứng sững nhìn một lúc. Anh trông giống như trước đây, chỉ có vẻ già dặn và chín chắn hơn. Anh vẫn đôi má ửng hồng và cái tật đẩy gọng kính lên sống mũi bằng ngón trỏ. Tôi ôm anh, cảm được hơi ấm thân thể anh và hít hà mùi hương quen thuộc chỉ riêng anh có. Tôi khóc vì hạnh phúc và không hề tự hỏi vì sao anh ở đó…
I wanted so much to stay with Paul, to be in his presence, to talk to him about all of the things that had happened in my life, but he told me I needed to leave. He said that my sons needed me, but he promised that he would be at the end of this road later and we would have forever to talk.
Tôi muốn ở lại với Paul đến chừng nào có thể, được ở trong sự hiện diện của anh, được nói với anh về tất cả những điều đã xảy ra trong đời tôi, nhưng anh bảo tôi cần phải rời đi. Anh nói các con trai tôi cần tôi, nhưng anh hứa rằng anh sẽ chờ ở cuối con đường này sau đó và chúng tôi sẽ có mãi mãi để chuyện trò.
I remember crying, yet feeling so safe and secure and peaceful within myself. It was like getting a breath of clean, cool air after a hot, humid day. Paul told me to hurry and he turned and walked back into the trees. I wanted to follow, but I was torn between him and my boys. But Paul did say that he would be at the end of the road, and I trusted him. I turned and headed back in the direction that I had come.
Tôi nhớ là mình vừa khóc, vừa cảm thấy an toàn, vững dạ và bình yên trong nội tâm. Nó giống như được hít một hơi không khí mát lành sau một ngày nóng ẩm. Paul bảo tôi hãy nhanh lên rồi anh quay đi và bước trở lại vào rừng cây. Tôi muốn đi theo, nhưng bị giằng xé giữa anh và các con trai tôi. Nhưng Paul đã nói rằng anh sẽ ở cuối con đường, và tôi tin anh. Tôi quay người và đi về theo hướng mình đã đến.
After she awoke, Phyllis’ life was never the same. She is convinced that the dream became a turning point and enabled her to start getting her life in order. She eventually earned an associate’s degree in accounting to help her in her career. She focused on raising her sons, and she also became involved in a spiritual discussion group. Eventually, she began having a series of dreams and past-life experiences that convinced her that she had been a “saloon girl” in the 1800s. During a past-life reverie, she got the sense that she had been abandoned by her parents at the age of fifteen in southern Canada and had ended up working in a saloon in Montana as a means of supporting herself. She now realizes that after Paul’s death she had picked up a past-life pattern that was connected to her present-day karmic struggles with men:
Sau khi tỉnh giấc, cuộc đời của Phyllis không bao giờ như cũ nữa. Bà tin chắc rằng giấc mơ là một bước ngoặt, giúp bà bắt đầu đưa cuộc sống mình vào nề nếp. Cuối cùng bà lấy được bằng cao đẳng kế toán để hỗ trợ cho sự nghiệp. Bà tập trung vào việc nuôi dạy các con trai, và bà cũng tham gia một nhóm thảo luận về tinh thần. Rồi dần dần, bà bắt đầu có một loạt giấc mơ và những trải nghiệm tiền kiếp khiến bà tin rằng vào những năm 1800, bà đã từng là “cô gái phòng rượu.” Trong một lần miên tưởng về tiền kiếp, bà có cảm giác rằng mình bị cha mẹ bỏ rơi năm mười lăm tuổi ở miền nam Canada và sau đó đã phải làm việc trong một quán rượu ở Montana để tự nuôi mình. Bây giờ bà nhận ra rằng sau cái chết của Paul, bà đã lặp lại một mô thức tiền kiếp có liên hệ đến những chật vật nghiệp quả hiện thời của bà với đàn ông:
I understand that each man I’ve had a relationship with may well be connected to that lifetime in Montana, and other lives as well. I’m aware of a pattern of not trusting men, on insisting that I maintain my “freedom” and independence. I finally understand that some of these patterns don’t have to be repeated.
Tôi hiểu rằng mỗi người đàn ông mà tôi có quan hệ có khả năng gắn với kiếp sống ở Montana ấy, và cả những kiếp khác nữa. Tôi nhận biết một mô thức là không tin đàn ông, nhất quyết giữ “tự do” và độc lập của mình. Cuối cùng tôi hiểu rằng một số mô thức ấy không cần phải lặp lại.
Phyllis is certain that her relationship with Paul was the continuation of a relationship they had shared in the past and will undoubtedly share in the future. The concept of reincarnation has also helped her transform some of her more challenging relationships:
Phyllis tin chắc rằng mối quan hệ của bà với Paul là sự tiếp nối của một mối quan hệ mà họ đã chia sẻ trong quá khứ và không nghi ngờ gì sẽ còn chia sẻ trong tương lai. Khái niệm luân hồi cũng đã giúp bà chuyển hóa một số mối quan hệ khó khăn hơn:
I know this isn’t the end of who I am, and that what I learn and experience will come with me in future lives—it’s an ongoing process for us all. I also know that people I deal with today are some of those with whom I’ve interacted in the past, and will no doubt contend with in the future. This can be comfort as well as a motivation to change a situation today.
Tôi biết đây không phải là điểm kết thúc của con người tôi, và rằng những gì tôi học hỏi và trải nghiệm sẽ đi cùng tôi vào những kiếp tương lai—đó là một tiến trình đang tiếp diễn cho tất cả chúng ta. Tôi cũng biết rằng những người tôi giao tiếp hôm nay là vài người trong số những người tôi đã từng tương tác trong quá khứ, và không nghi ngờ gì sẽ còn phải đối mặt trong tương lai. Điều này vừa có thể là niềm an ủi vừa là động lực để thay đổi một tình huống ngay hôm nay.
In another contemporary example, Lois Holmes describes how past-life recall enabled her to overcome an overeating problem, understand why she had such an affinity to various minorities and realize where her strong connection to her granddaughter came from. Now in her seventies, Lois admits that all of her life she had a problem with her weight and overeating—a problem that is also shared by her granddaughter. Although a Caucasian woman herself, while growing up she often resented white people for their racial prejudice:
Trong một ví dụ đương đại khác, Lois Holmes mô tả cách ký ức tiền kiếp giúp bà vượt qua vấn đề ăn quá độ, hiểu vì sao bà có sự đồng cảm mạnh mẽ với nhiều nhóm thiểu số và nhận ra nguồn gốc mối nối sâu dày của bà với cháu gái. Nay đã ở tuổi bảy mươi, Lois thừa nhận rằng suốt đời bà gặp vấn đề về cân nặng và ăn quá độ—một vấn đề mà cháu gái bà cũng mắc phải. Tuy là phụ nữ da trắng, nhưng khi lớn lên bà thường bực bội với người da trắng vì thành kiến chủng tộc của họ:
I always felt that I was born into the wrong family. Nobody was like me—they didn’t think like me. I loved them, and they loved me but we were so very different in our thinking especially about religion and race. I have always felt a strong connection for the “underdog,” no matter who the person was or what color he or she happened to be. I have always felt a strong connection to Native Americans, African Americans, and people from India … this was all very different than my upbringing.
Tôi luôn cảm thấy mình sinh lầm gia đình. Không ai giống tôi—họ không nghĩ như tôi. Tôi yêu họ, và họ yêu tôi nhưng chúng tôi rất khác nhau trong cách nghĩ, nhất là về tôn giáo và chủng tộc. Tôi luôn cảm thấy một mối liên đới mạnh mẽ với “kẻ yếu thế,” bất kể người đó là ai hay màu da thế nào. Tôi luôn thấy gắn bó với người Bản địa châu Mỹ, người Mỹ gốc Phi, và người từ Ấn Độ… tất cả điều này rất khác với nếp nhà tôi.
After Lois became interested in reincarnation, she had a past-life experience in which she saw herself living in India as a member of the lower class: “I saw myself as a resident of India and I also saw that my present-day granddaughter, with whom I am very close, was my beloved younger sister.” During the experience, Lois realized that both she and her younger sister had starved in that lifetime. When it was over, the past-life memory became the impetus she needed to overcome her overeating problem: “I was able to see why I overate in this lifetime. As a result, I have stopped overeating since that recall experience.” She was also able to see how being a member of one of India’s lower classes enabled her to have an affinity with individuals who were the “underdog” or of a minority. When asked if there was anything she would like to say to family members about her experience, Lois responded:
Sau khi Lois quan tâm đến luân hồi, bà có một trải nghiệm tiền kiếp trong đó bà thấy mình sống ở Ấn Độ với tư cách là thành viên tầng lớp thấp: “Tôi thấy mình là một cư dân Ấn Độ và tôi cũng thấy rằng cháu gái hiện tại của tôi, người mà tôi rất thân, đã là cô em gái yêu dấu của tôi.” Trong trải nghiệm ấy, Lois nhận ra rằng cả bà và em gái đã chết đói trong kiếp đó. Khi trải nghiệm kết thúc, ký ức tiền kiếp trở thành động lực bà cần để vượt qua vấn đề ăn quá độ: “Tôi có thể thấy vì sao tôi ăn quá độ trong kiếp này. Hệ quả là từ sau lần hồi tưởng đó, tôi đã dừng việc ăn quá độ.” Bà cũng thấy được rằng, là thành viên của một trong những tầng lớp thấp ở Ấn Độ đã giúp bà có sự đồng cảm với những người “yếu thế” hay thuộc nhóm thiểu số. Khi được hỏi có điều gì bà muốn nói với các thành viên gia đình về trải nghiệm của mình, Lois đáp:
I would like to talk to my mother, my dad, my sister, and my brothers—all of who have passed over … I would like to tell them all of the things that I have experienced, and how understanding reincarnation has been such a light in my life— answering so many questions. While alive, they would have thought my ideas heresy and even blasphemy. They could not understand why I liked black people or why I was so liberal. I have told my remaining family about my experiences, and at least most of them have seemed pretty open to the ideas I have to share.
Tôi muốn nói chuyện với mẹ, cha, chị và các anh của tôi—tất cả đều đã qua đời… Tôi muốn kể cho họ mọi điều tôi đã trải nghiệm, và rằng sự thấu hiểu luân hồi đã là một ánh sáng trong đời tôi—trả lời biết bao câu hỏi. Khi còn sống, họ hẳn đã cho rằng các ý tưởng của tôi là tà thuyết, thậm chí là phạm thượng. Họ không hiểu vì sao tôi thích người da đen hay vì sao tôi quá phóng khoáng. Tôi đã nói với những người còn lại trong gia đình về trải nghiệm của mình, và chí ít đa số họ có vẻ khá cởi mở với các ý tưởng tôi chia sẻ.
A less positive example of karmic memory and being unwilling or unable to work through it is evidenced in the story of two women who were told in their Cayce readings of a strong past-life connection with Edgar Cayce himself. Donna Vincenze was from Virginia Beach, Virginia, and sometimes volunteered to work in Cayce’s office; Magdalena Capputto was somewhat of a socialite, who lived in New York City and saw Cayce when he was there on business. Although the two did not know each other personally, both women had been told that they had once had a very close personal relationship with Cayce during the same past life. According to Magdalena’s readings, she had been married to Edgar Cayce when he essentially kept what amounted to a Roman mistress; Donna was told that she had been that mistress. One day Magdalene decided to make a trip to Virginia Beach, and Edgar Cayce decided it would make for an interesting experiment to see what would happen when the two women finally met for the very first time. It was Donna who eventually made the following report for the Cayce archives:
Một ví dụ kém tích cực hơn về ký ức nghiệp quả và sự không sẵn lòng hay không thể giải quyết nó được thể hiện trong câu chuyện của hai phụ nữ được cho biết trong các bài đọc của Cayce rằng họ có một mối nối tiền kiếp mạnh mẽ với chính Edgar Cayce. Donna Vincenze đến từ Bãi biển Virginia, bang Virginia, đôi khi tình nguyện làm việc tại văn phòng của Cayce; Magdalena Capputto là người có phần thượng lưu, sống ở Thành phố New York và gặp Cayce khi ông có công việc ở đó. Dù hai người không hề quen biết nhau, cả hai đều được cho biết rằng họ từng có một mối quan hệ cá nhân rất thân thiết với Cayce trong cùng một kiếp trước. Theo các bài đọc của Magdalena, bà đã kết hôn với Edgar Cayce vào thời điểm ông thực chất giữ một tình nhân theo kiểu La Mã; Donna được cho biết rằng bà chính là tình nhân ấy. Một ngày nọ Magdalene quyết định đi Bãi biển Virginia, và Edgar Cayce cho rằng sẽ thú vị nếu làm một thử nghiệm xem điều gì sẽ xảy ra khi hai phụ nữ cuối cùng gặp nhau lần đầu. Sau đó Donna là người gửi báo cáo sau đây cho kho lưu trữ của Cayce:
Mr. Cayce told me that Mrs. Capputto was coming to Va. Beach and that he would be most interested in seeing us meet … He told me that he had not told her about me—at least he had not identified me, and that when I met her—I would know but she would not. He seemed interested in what her reaction would be to me. It interested me that he did not seem concerned about how I might react to her.
Ông Cayce nói với tôi rằng Bà Capputto sẽ đến Bãi biển Virginia và rằng ông rất muốn chứng kiến cảnh chúng tôi gặp nhau… Ông bảo tôi rằng ông chưa nói với bà ấy về tôi—ít nhất là ông chưa nêu rõ tôi là ai, và rằng khi tôi gặp bà ấy—tôi sẽ biết nhưng bà ấy thì không. Ông có vẻ hứng thú muốn biết phản ứng của bà ấy với tôi sẽ thế nào. Tôi thấy thú vị là ông dường như không quan tâm tôi sẽ phản ứng ra sao với bà ấy.
As I recall she arrived on a Monday or Tuesday—of the week—I do not recall what month, but I do remember the weather was very nice. The first time I met her, we picked her up to take her to the Tuesday Night Bible Meeting. Mrs. Cayce, Gladys, Mr. Cayce, Mrs. Capputto and I were the only ones in the car—Actually I do not know what I expected to feel, but I can tell you that I was very surprised to find that I felt very sure of my position—as related to Mr. Cayce and Mrs. Capputto, but the unexpected thing was that I felt very flirtatious. She had planned to stay at the Beach two weeks—but checked out the next day and went back to N.Y. After Mr. Cayce had seen her in N.Y. he told (when he came home) that she explained that she was so upset by my presence that she just had to go home.
Theo tôi nhớ bà ấy đến vào một ngày thứ Hai hay thứ Ba—trong tuần—tôi không nhớ tháng nào, nhưng tôi nhớ thời tiết rất đẹp. Lần đầu tôi gặp bà, chúng tôi đón bà để đưa đến Buổi Họp Kinh Thánh tối thứ Ba. Bà Cayce, Gladys, Ông Cayce, Bà Capputto và tôi là những người duy nhất trên xe—Thực ra tôi không biết mình mong sẽ cảm thấy gì, nhưng tôi có thể nói rằng tôi rất ngạc nhiên khi thấy mình rất chắc chắn về vị trí của mình—liên quan đến Ông Cayce và Bà Capputto, nhưng điều bất ngờ là tôi cảm thấy rất lả lơi. Bà ấy định ở lại Bãi biển hai tuần—nhưng hôm sau đã làm thủ tục trả phòng và quay về New York. Sau khi Ông Cayce gặp bà ở New York, ông nói (khi ông về nhà) rằng bà giải thích là bà đã quá bối rối vì sự hiện diện của tôi đến mức phải về nhà ngay.
1523-16 Report File
1523-16 Hồ sơ Báo cáo
A contemporary example of almost reliving karmic memory from the past is told in the story of Alicia Albertson who broke off her three-year relationship with her boyfriend Rick. Alicia admits that even though she initiated the break-up, she was still upset, as she had often contemplated the possibility of marrying Rick. As Alicia recalls, “Even upon our first meeting and all along the way, I just knew that this was an important relationship for us.”
Một ví dụ đương đại về việc gần như sống lại ký ức nghiệp quả từ quá khứ được kể trong câu chuyện của Alicia Albertson, người đã chấm dứt mối quan hệ ba năm với bạn trai Rick. Alicia thừa nhận rằng dù chính bà khởi xướng việc chia tay, bà vẫn buồn bã, vì bà đã từng nghĩ đến khả năng kết hôn với Rick. Như Alicia nhớ lại: “Ngay lần gặp đầu tiên và suốt chặng đường, tôi đã biết rằng đây là một mối quan hệ quan trọng với chúng tôi.”
Part of the problem had been the fact that Rick seemed to have a “cruel and distant streak” that made life miserable. Even though Alicia realized that the break-up was for the best, she obtained a reincarnation regression tape by Brian Weiss and tried to get at the heart of her connection. The regression enabled her to see the karmic memory that had led to their relationship in the present:
Một phần vấn đề là Rick dường như có một “chuỗi tàn nhẫn và xa cách” khiến cuộc sống khổ sở. Dù Alicia nhận ra rằng chia tay là tốt nhất, bà đã lấy một băng hồi quy luân hồi của Brian Weiss và cố gắng đi thẳng vào cốt lõi mối nối của họ. Cuộc hồi quy cho phép bà thấy ký ức nghiệp quả đã dẫn đến mối quan hệ của họ ở hiện tại:
I very clearly saw myself in 1800s France. I was the wife of a very wealthy man, who was older than I. I could see that he had dark hair and a beard. He was also very cruel and harsh. As a result, I hated my life but I had no way out. I did not have the upper hand or any income of my own. I was desperate to break away but I didn’t know how I could. When I looked closely at my husband’s face in the reverie, I realized that it was Rick.
Tôi nhìn thấy rất rõ mình ở nước Pháp thế kỷ 19. Tôi là vợ của một người đàn ông rất giàu, lớn tuổi hơn tôi. Tôi thấy ông ta tóc đen và có râu. Ông ta cũng rất tàn bạo và khắc nghiệt. Vì thế, tôi căm ghét cuộc đời mình nhưng không có lối thoát. Tôi không nắm thế thượng phong cũng không có thu nhập riêng. Tôi tuyệt vọng muốn thoát đi nhưng không biết làm sao. Khi nhìn kỹ khuôn mặt chồng trong cảnh miên tưởng, tôi nhận ra đó là Rick.
When the reverie was over, Alicia understood that her three-year relationship with Rick had been the opportunity to re-script what she had been unable to change in the past. She also found it interesting that in this life she had had the “upper hand” all along: she was seven years older than Rick, she was the one that had been formally educated, and her career had been the more financially rewarding.
Khi cảnh miên tưởng kết thúc, Alicia hiểu rằng mối quan hệ ba năm với Rick là cơ hội để viết lại kịch bản điều bà đã không thể thay đổi trong quá khứ. Bà cũng thấy thú vị là trong kiếp này bà nắm thế thượng phong ngay từ đầu: bà lớn hơn Rick bảy tuổi, bà là người được giáo dục chính quy, và sự nghiệp của bà đem lại tài chính dồi dào hơn.
Peggy McGrath tells an even more positive example of healing a past-life memory through the use of the will. As background information, Peggy was born in Ireland more than seventy years ago to a Catholic mother and a Protestant father. At the time it was unthinkable that a Catholic would marry a Protestant, and placing Peggy with her maternal grandmother solved the dilemma of her illegitimate birth. She was essentially abandoned by her birthparents—her mother was sent off to England to pursue a nursing career and her father was shipped to India as part of the British government’s police presence. She never met either her mother or father, as her birth had somehow “shamed” them and they felt forced to completely alter the course of their lives. However, Peggy’s grandmother adored her and she had a wonderful upbringing.
Peggy McGrath kể một ví dụ còn tích cực hơn nữa về việc chữa lành một ký ức tiền kiếp bằng sức mạnh ý chí. Về bối cảnh, Peggy sinh ra ở Ireland cách đây hơn bảy mươi năm, mẹ theo Công giáo và cha theo Tin Lành. Thời bấy giờ một người Công giáo lấy người Tin Lành là điều khó chấp nhận, và việc gửi Peggy cho bà ngoại bên ngoại nuôi đã giải quyết thế bí của một đứa trẻ sinh ngoài giá thú. Bà bị cha mẹ ruột bỏ rơi—mẹ bị gửi sang Anh để theo đuổi nghề y tá còn cha bị điều sang Ấn Độ trong lực lượng cảnh sát của chính quyền Anh. Bà chưa bao giờ gặp mẹ hay cha mình, vì việc bà ra đời bằng cách nào đó đã “làm họ hổ thẹn” và họ thấy mình buộc phải đổi hướng cuộc đời hoàn toàn. Tuy vậy, bà ngoại rất yêu bà và bà có một tuổi thơ tuyệt vời.
Peggy moved to the United States in the 1940s to pursue an education. Eventually, she married and had children of her own. In time, her children married and had their own children. She was delighted when the time came for her to become a grandmother. Her joy was shortlived, however, when it became apparent that her granddaughter— though only an infant—did not want to be around her: “For whatever reason, she just didn’t feel comfortable with me.” Because she had always been popular with children, Peggy couldn’t understand what the problem was but regardless of how she spoke to, cuddled or held her granddaughter, the baby’s attitude did not change. The child did not like her or want to be around her. One night, however, Peggy had a dream that seemed to answer where the problem had originated:
Peggy chuyển đến Hoa Kỳ vào thập niên 1940 để học hành. Rồi bà kết hôn và có con. Theo thời gian, các con bà lập gia đình và cũng có con cái. Bà vô cùng hân hoan khi đến lúc mình làm bà ngoại. Tuy nhiên, niềm vui chóng tàn khi thấy rõ rằng cháu gái của bà—dù chỉ là một hài nhi—không muốn ở gần bà: “Vì một lý do nào đó, bé không thấy thoải mái với tôi.” Vì vốn luôn được trẻ con quý mến, Peggy không hiểu vấn đề ở đâu, nhưng bất kể bà nói chuyện, ôm ấp hay bồng bế cháu thế nào, thái độ của đứa bé vẫn không đổi. Đứa trẻ không thích bà hay muốn ở gần bà. Thế rồi một đêm, Peggy có một giấc mơ dường như trả lời nguồn gốc vấn đề:
I was riding a merry-go-round with my favorite aunt, who I knew was deceased, but in the dream she was alive and well. All at once the merry-go-round started going backwards and I realized it was moving back in time. I turned and noticed that my granddaughter was sitting near my aunt and as the merry-go-round continued its journey back in time my granddaughter became my mother. As my mother, she spoke happily with my aunt. My aunt looked at me to make certain I had gotten the message—that this woman who had been forced to change her life because of my birth was now my granddaughter—and when it was clear I understood, my aunt got off at the next stop. I was left alone on the merry-go-round with my mother.
Tôi đang cưỡi ngựa gỗ trong vòng quay với người cô yêu quý của mình, người mà tôi biết là đã qua đời, nhưng trong mơ cô vẫn còn sống và khỏe mạnh. Bỗng chốc vòng quay bắt đầu quay ngược lại và tôi nhận ra nó đang đi lùi về quá khứ. Tôi quay lại và thấy cháu gái tôi đang ngồi gần cô, và khi vòng quay tiếp tục cuộc hành trình về quá khứ, cháu gái tôi trở thành mẹ tôi. Trong vai mẹ tôi, cô ấy trò chuyện vui vẻ với cô tôi. Cô tôi nhìn tôi để chắc rằng tôi đã hiểu thông điệp—rằng người phụ nữ từng buộc phải đổi đời vì tôi chào đời giờ đây là cháu gái tôi—và khi thấy rõ tôi đã hiểu, cô tôi xuống ở điểm dừng tiếp theo. Tôi còn lại một mình trên vòng quay với mẹ tôi.
Upon awakening, Peggy knew that she had to heal the relationship with her granddaughter/mother. Immediately, she started praying for their relationship and for their ability to forgive one another. She also worked with meditation. Almost like a silent affirmation, in her mind she began thanking her mother for all of the good things that the woman had been instrumental in bringing to her life. Peggy even thanked her mother for life itself. The approach seemed to work, for gradually, her granddaughter began to change. As Peggy recalls:
Khi thức dậy, Peggy biết rằng bà phải chữa lành mối quan hệ với cháu gái/mẹ mình. Ngay lập tức, bà bắt đầu cầu nguyện cho mối quan hệ của họ và cho khả năng tha thứ lẫn nhau. Bà cũng thực hành tham thiền. Gần như một lời khẳng định thinh lặng, trong tâm bà bắt đầu cảm ơn mẹ mình vì tất cả điều tốt lành mà người phụ nữ ấy đã góp phần mang đến cho đời bà. Peggy thậm chí cảm ơn mẹ vì sự sống của chính bà. Cách tiếp cận này dường như hiệu nghiệm, vì dần dần, cháu gái bà bắt đầu thay đổi. Như Peggy nhớ lại:
By the time my granddaughter was a toddler, she insisted on coming to visit with me and staying overnight with me. Any of her tiny problems were brought specifically to me to be solved. As the years passed, anything I ever gave to her became like a special treasure in her eyes, even to this day. When she grew up, I found it especially interesting that she chose her previous career of nursing. This time she took it a step further and became a neo-natal nurse, as though she wanted to make certain that she could help take care of little children, as she had to leave one behind the last time around. She simply adores children.
Đến khi cháu tôi biết đi, cháu nằng nặc đòi đến thăm tôi và ngủ lại với tôi. Bất kỳ vấn đề nhỏ nào của cháu đều được mang đến cho riêng tôi để giải quyết. Theo năm tháng, bất cứ thứ gì tôi tặng cháu đều trở thành một kho báu đặc biệt trong mắt cháu, cho đến tận hôm nay. Khi lớn lên, tôi thấy đặc biệt thú vị là cháu chọn nghề cũ của mình là điều dưỡng. Lần này cháu đi xa hơn và trở thành y tá sơ sinh, như thể cháu muốn bảo đảm rằng mình có thể giúp chăm sóc trẻ nhỏ, vì lần trước cháu đã phải bỏ lại một đứa trẻ phía sau. Cháu vô cùng yêu trẻ.
Peggy states that without the dream, she and her granddaughter might have gone through life ignoring each other, never healing the situation from the past.
Peggy cho biết nếu không có giấc mơ ấy, có lẽ bà và cháu gái đã sống hết đời mà phớt lờ nhau, không bao giờ chữa lành được tình huống từ quá khứ.
Another example of personal healing is evidenced in the past-life story of Nadine Brockman. According to Nadine, it was during a hypnotic regression that she came to the realization that two lifelong personal phobias and her favorite aunt’s inability to have children were all connected to the same experience—an experience in which she and her aunt had last been together. Nadine states that throughout her life she has been afraid of two things: having another person touch her head and traveling any distance away from her home:
Một ví dụ khác về chữa lành cá nhân thể hiện trong câu chuyện tiền kiếp của Nadine Brockman. Theo Nadine, chính trong một lần hồi quy thôi miên bà nhận ra rằng hai nỗi ám sợ suốt đời và việc người cô yêu quý nhất không thể có con đều gắn với cùng một trải nghiệm—một trải nghiệm trong đó bà và người cô ấy đã ở bên nhau lần cuối. Nadine nói rằng suốt đời bà sợ hai điều: bị người khác chạm vào đầu và đi xa nhà:
As far back as I can remember, I hated anyone touching my head or combing my hair. I even refused to go to the beauty shop—preferring instead to cut my own hair. In terms of travel, anytime I had to go somewhere I developed some kind of a sickness: severe dizziness, head colds, middle ear infections, etc.
Từ khi nhớ được, tôi ghét ai đó chạm vào đầu hay chải tóc cho tôi. Tôi thậm chí từ chối đến tiệm làm tóc—thích tự cắt tóc hơn. Về chuyện đi xa, hễ tôi phải đi đâu là tôi lại mắc một chứng bệnh nào đó: chóng mặt dữ dội, cảm nặng, viêm tai giữa, v.v.
In part because of her phobias, Nadine eventually went to a regression therapist to see about the possibility of being hypnotized and regressed as a means of being healed of both problems. The results she experienced ended up being instantaneous:
Một phần vì các ám sợ này, Nadine cuối cùng đã tìm đến một nhà trị liệu hồi quy để xem liệu có thể được thôi miên và hồi quy như một phương tiện chữa lành cả hai vấn đề không. Kết quả bà trải nghiệm hóa ra tức thời:
I saw myself as a three-year-old girl, living near the beach in Sweden. My mother in that lifetime was my childless aunt from the present. One evening I wanted to go out to play but my mother told me it was too late and I needed to go to bed. I was very unhappy with her response, so when she was not looking I saw myself sneak out of the house and run out to the beach to play.
Tôi thấy mình là một bé gái ba tuổi, sống gần bãi biển ở Thụy Điển. Mẹ tôi trong kiếp đó chính là người cô không con của tôi hiện thời. Một buổi tối tôi muốn ra ngoài chơi nhưng mẹ bảo đã quá muộn và tôi cần đi ngủ. Tôi rất không hài lòng với câu trả lời, nên khi mẹ không nhìn, tôi thấy mình lẻn ra khỏi nhà và chạy ra bãi biển chơi.
As early evening turned to darkness, I became scared. I was lost. I saw a light atop some rocks so I began climbing what amounted to a cliff. Unfortunately, when I was up quite a ways, I ended up falling off the cliff and smashing my head on the rocks below.
Khi chiều tà chuyển sang tối, tôi bắt đầu sợ. Tôi bị lạc. Tôi thấy một ánh sáng trên đỉnh vài tảng đá nên bắt đầu leo lên, thực ra là một vách đá. Không may, khi đã leo khá cao, tôi bị trượt và rơi khỏi vách đá, đập đầu xuống những tảng đá phía dưới.
The scene changed and I could see my mother (now aunt) holding me and weeping over me, crying aloud, “I will never have children again.”
Cảnh đổi đi và tôi thấy mẹ tôi (bây giờ là cô tôi) ôm tôi và khóc nức nở, kêu lên: “Tôi sẽ không bao giờ có con nữa.”
The experience proved to be very emotional for Nadine. While still in the regression she started crying and saying, “It’s all my fault, it’s all my fault.” The hypnotist reassured her by gently repeating that she had only been a child and had never meant for the tragedy to happen. Still, it really affected her to see her now-aunt in such pain: “I’m closer to her than even my own mother!”
Trải nghiệm ấy rất xúc động với Nadine. Khi còn trong trạng thái hồi quy, bà bắt đầu khóc và nói: “Tất cả là lỗi của tôi, tất cả là lỗi của tôi.” Nhà thôi miên trấn an bà bằng cách nhẹ nhàng lặp lại rằng bà khi ấy chỉ là một đứa trẻ và chẳng bao giờ muốn bi kịch xảy ra. Dù vậy, việc thấy người cô—nay là cô ruột—đau đớn như thế thực sự tác động đến bà: “Tôi còn thân với cô hơn cả mẹ ruột!”
In the end, however, the experience proved to be helpful and healing. Today, it doesn’t bother Nadine to have someone else touch her hair and she no longer gets sick when traveling. Not only have the concepts of reincarnation and karma enabled Nadine to make strides in her personal growth and development but she is convinced that they hold the same promise for everyone:
Cuối cùng, trải nghiệm tỏ ra hữu ích và chữa lành. Ngày nay, Nadine không còn khó chịu khi người khác chạm vào tóc mình và bà cũng không còn đổ bệnh khi đi xa. Không chỉ các khái niệm luân hồi và nghiệp quả đã giúp Nadine tiến bộ trong sự trưởng thành và phát triển cá nhân, mà bà còn tin chắc rằng chúng chứa đựng cùng một lời hứa cho mọi người:
We have the opportunity to stretch and reach our soul’s potentials. There is a Higher Power, a Source, within each and every one of us. If only people would try to accept life’s challenges, to understand that there is a reason for everything. We are solely responsible for creating our reality.
Chúng ta có cơ hội vươn tới và khai phát các tiềm năng của linh hồn mình. Có một Quyền năng Cao cả, một Nguồn, trong từng người một. Chỉ cần mọi người thử chấp nhận các thách thức của đời sống, hiểu rằng mọi thứ đều có lý do. Chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm tạo ra thực tại của mình.
An interesting example of family karma created and played out within the same hundred-year period is told by Angela Anderson. According to Angela, her story began when she was a young girl on a train with her mother traveling from California to Oklahoma. The ride seemed fine until her mother tried to take her from the passenger car to the dining car. Between cars, the noise of the wheels on the tracks was so loud that Angela began to scream and cry until her mother took her back to the passenger car. From that time on Angela had an irrational fear of trains. As she grew older, she noticed other idiosyncrasies developing such as disgust for the sound of the German language and an irrational fear that as a mother she herself would lose a child.
Một ví dụ thú vị về nghiệp gia đình được tạo và diễn ra trong cùng một khoảng trăm năm được Angela Anderson kể lại. Theo Angela, câu chuyện của bà bắt đầu khi bà còn là một cô bé đi tàu cùng mẹ từ California đến Oklahoma. Chuyến đi có vẻ ổn cho đến khi mẹ cố dẫn bà từ toa hành khách sang toa ăn. Giữa hai toa, tiếng bánh xe nghiến trên đường ray ầm ầm đến mức Angela bắt đầu thét lên và khóc cho đến khi mẹ đưa bà trở lại toa hành khách. Từ đó Angela có một nỗi sợ vô lý đối với tàu hỏa. Khi lớn lên, bà nhận thấy những nét kỳ dị khác xuất hiện như cảm giác ghê tởm với âm thanh tiếng Đức và một nỗi sợ vô lý rằng với tư cách người mẹ, bà sẽ mất một đứa con.
Time passed and eventually Angela married a police officer, became a nurse and had two children: a boy and a girl. Her children were wonderful. Her son liked to draw and seemed especially interested in drawing cars. In addition to her duties as a nurse, she and her husband both taught Baptist Sunday school. For the most part, her life was very good. However, one night she had a terrifying dream:
Thời gian trôi qua, cuối cùng Angela cưới một sĩ quan cảnh sát, trở thành y tá và có hai con: một trai, một gái. Con cái bà thật tuyệt. Con trai thích vẽ và đặc biệt hứng thú vẽ ô tô. Ngoài công việc y tá, cả bà và chồng đều dạy Trường Chúa nhật Baptist. Phần lớn cuộc sống của bà rất tốt đẹp. Tuy nhiên, một đêm bà có một giấc mơ kinh hoàng:
I felt during the dream as though I was awake and this was real. I heard the screen door open and looked up into the face of a man standing beside me. The streetlight shone on his face. He was dressed all in black from his feet to his head. Only his face, hair and hands were not covered. His eyes were black and slanted and they had the most evil look I had ever seen. I knew he meant to kill me. I tried to scream and punch my husband but could not make a sound nor could I move a muscle. I was filled with terror. The man stepped toward me and my terror became worse.
Trong mơ tôi có cảm giác như mình đang thức và điều này là thật. Tôi nghe cửa lưới mở và ngẩng lên nhìn khuôn mặt một người đàn ông đứng cạnh mình. Ánh đèn đường chiếu lên mặt hắn. Hắn mặc toàn đồ đen từ chân đến đầu. Chỉ có mặt, tóc và bàn tay là không che. Đôi mắt hắn đen và xếch và có vẻ độc ác nhất mà tôi từng thấy. Tôi biết hắn định giết tôi. Tôi cố hét và đánh chồng nhưng không phát ra nổi âm thanh nào cũng chẳng động đậy được. Tôi tràn ngập sợ hãi. Hắn bước về phía tôi và nỗi kinh hoàng của tôi càng tệ hơn.
Angela forced herself to awaken and was unable to go back to sleep. Still terrified, she was certain that she had seen the face of death. Her husband tried to reassure her that everything was okay, but Angela became convinced that something horrible was about to happen. Her fears proved prophetic one week later when her husband was involved in a car accident with another car while riding with their fifteen-year-old son. Their son was killed instantly and her husband was left a cripple, retaining only the use of one arm. The crash resulted in her husband’s onslaught of epilepsy as well as a struggle with severe depression. He also felt guilty for not being able to avoid the accident. Angela herself became very bitter over the loss of their son. For a time it seemed that her husband might not survive his own injuries. At the very least, his work as a police officer was over. Their life as a family was horribly altered and seemed almost impossible to deal with. In addition to all this tragedy, for some reason, Angela had an intense fear of her daughter being raped and often told friends, “I would rather be raped myself than have my daughter raped.” The intervention of two people helped to turn Angela’s life around. The doctor who saved her husband’s life was from India. In addition to helping her husband, the doctor tried to comfort Angela. He encouraged her and told her that in his opinion, “the soul changes bodies like the body changes clothes.” His words opened her mind to an entirely new philosophy and according to Angela, “Thus began my current journey toward wisdom and enlightenment.” The second individual was a friend and a hypnotherapist who agreed to hypnotize Angela to see if she could discover why this tragedy was a part of her life’s experience. To her amazement, while under hypnosis Angela remembered exact details of a past life that seemed to explain the karmic reason behind the tragedy:
Angela gắng tỉnh dậy và không thể ngủ lại. Vẫn sợ hãi, bà chắc rằng mình vừa thấy khuôn mặt của tử thần. Chồng bà cố trấn an rằng mọi thứ vẫn ổn, nhưng Angela tin rằng điều khủng khiếp sắp xảy ra. Nỗi sợ của bà tỏ ra như điềm báo: một tuần sau, chồng bà gặp tai nạn với một xe khác khi đang đi cùng con trai mười lăm tuổi. Con trai họ chết ngay lập tức và chồng bà trở thành người tàn tật, chỉ còn dùng được một cánh tay. Vụ va chạm khiến chồng bà bị động kinh bùng phát và phải vật lộn với trầm cảm nặng. Ông cũng cảm thấy tội lỗi vì không tránh được tai nạn. Bản thân Angela trở nên cay đắng vì mất con. Có lúc tưởng như chồng bà không qua khỏi thương tích của chính mình. Ít nhất thì công việc cảnh sát của ông cũng chấm dứt. Cuộc sống gia đình của họ bị thay đổi khủng khiếp và dường như bất khả chịu đựng. Thêm vào tất cả bi kịch ấy, vì lý do nào đó, Angela có nỗi sợ mãnh liệt rằng con gái mình sẽ bị cưỡng hiếp và thường nói với bạn bè: “Tôi thà bị cưỡng hiếp còn hơn để con gái tôi bị cưỡng hiếp.” Sự can thiệp của hai người đã giúp xoay chuyển cuộc đời Angela. Bác sĩ cứu sống chồng bà đến từ Ấn Độ. Bên cạnh việc giúp chồng bà, ông cố an ủi Angela. Ông động viên và nói rằng theo ý kiến ông, “linh hồn thay thân xác như thân xác thay y phục.” Lời ông mở tâm trí bà đến một triết lý hoàn toàn mới và theo lời Angela: “Thế là bắt đầu cuộc hành trình hiện thời của tôi hướng đến minh triết và giác ngộ.” Người thứ hai là một người bạn và nhà thôi miên, người đã đồng ý thôi miên Angela để xem liệu bà có thể khám phá vì sao bi kịch này là một phần trải nghiệm đời bà. Thật đáng ngạc nhiên, khi đang được thôi miên, Angela nhớ lại chi tiết chính xác một tiền kiếp dường như giải thích lý do nghiệp quả đằng sau bi kịch:
I remembered a life in Poland when I was a Polish Jew named Claude Rainey. I had a jewelry store and a watch repair shop on a corner. My wife was named Edith (I knew she had returned as my daughter in this life) and my son was named Reuben (I knew he had returned as my son). The year was 1943.
Tôi nhớ một kiếp ở Ba Lan khi tôi là một người Do Thái Ba Lan tên Claude Rainey. Tôi có một tiệm nữ trang và sửa đồng hồ ở một góc phố. Vợ tôi tên Edith (tôi biết bà đã trở lại làm con gái tôi trong kiếp này) và con trai tôi tên Reuben (tôi biết cậu đã trở lại làm con trai tôi). Năm ấy là 1943.
In my memory we heard the Nazis coming and all of us went into hiding. I hid behind a showcase inside a wall where money and jewelry were hidden. I could see through a tiny crack in the wall. The Nazis found Reuben and beat, kicked, and stomped him to death. They also found Edith and took turns raping her before they killed her. I did nothing to try and stop them. By the time the Nazis found me, there was blood everywhere. Since I was strong, I was sent by train to Bergen-Belzen [a Nazi concentration camp]. I knew that my husband in this life had been a member of the SS at the camp and had been killed during the war. Later I was sent by train to Auschwitz, where I was murdered.
Trong ký ức của tôi, chúng tôi nghe thấy bọn Đức Quốc xã đang đến và tất cả đều trốn. Tôi trốn sau một tủ kính trong một bức tường nơi cất tiền và nữ trang. Tôi có thể nhìn qua một khe nứt rất nhỏ trên tường. Bọn Đức Quốc xã tìm thấy Reuben và đánh đập, đá, giẫm cậu đến chết. Chúng cũng tìm ra Edith và lần lượt cưỡng hiếp bà trước khi giết bà. Tôi đã không làm gì để cố ngăn chúng. Đến khi bọn Đức Quốc xã phát hiện tôi, máu me ở khắp nơi. Vì tôi khỏe, tôi bị đưa lên tàu đến Bergen-Belzen [một trại tập trung của Đức Quốc xã]. Tôi biết rằng chồng tôi trong kiếp này từng là thành viên SS ở trại và đã bị giết trong chiến tranh. Sau đó tôi bị đưa bằng tàu đến Auschwitz, nơi tôi bị sát hại.
The experience explained many things: Angela’s fear of trains, her fear of losing a child, her fear about her daughter being raped, her feelings about the German language, even her husband’s own injuries seemed to be in recompense for his actions in Nazi Germany.
Trải nghiệm này giải thích nhiều điều: nỗi sợ tàu hỏa của Angela, nỗi sợ mất con, nỗi sợ con gái bị cưỡng hiếp, cảm giác của bà về tiếng Đức, thậm chí cả thương tích của chồng bà cũng dường như là sự bù hoàn cho hành động của ông trong nước Đức Quốc xã.
Since that experience, Angela has come to grips with her son’s death. She has even forgiven the man who caused the accident. Because of the events in her life and the people who helped her gain a new understanding, her philosophy has changed to the point where she now believes, “The soul cannot escape itself.” She is convinced that her life’s experiences have been purposeful, and that the individuals who helped her to change her philosophy were not sent by accident. Twenty years have passed since the accident, and although she still misses her son, she is convinced that he has returned to her family. She is now a grandmother and amazingly her grandson is like her son “in every way.” His personality, his appearance and his interaction with family members remind Angela of the son she lost. She adds, “He even draws cars almost identical to those our son used to draw!”
Từ sau trải nghiệm đó, Angela đã chấp nhận cái chết của con trai. Bà thậm chí đã tha thứ cho người gây ra tai nạn. Nhờ các biến cố trong đời và những người đã giúp bà đạt một nhận hiểu mới, triết lý sống của bà thay đổi đến mức giờ đây bà tin rằng: “Linh hồn không thể trốn khỏi chính mình.” Bà tin chắc rằng những trải nghiệm của đời bà là có mục đích, và rằng những người giúp bà thay đổi triết lý không phải ngẫu nhiên mà đến. Hai mươi năm đã trôi qua từ tai nạn, và dù bà vẫn nhớ con trai, bà tin chắc rằng cậu đã trở lại với gia đình bà. Giờ bà đã làm bà ngoại và thật ngạc nhiên, cháu trai bà giống con trai bà “trong mọi phương diện.” Phàm ngã, diện mạo và cách cháu tương tác với các thành viên gia đình đều gợi Angela nhớ đến đứa con đã mất. Bà nói thêm: “Cháu còn vẽ ô tô gần như y hệt những chiếc mà con trai chúng tôi từng vẽ!”
Certainly, past-life experiences influence present-day relationships. As a demonstration of how Cayce’s clients experienced this lawful meeting of karmic memory in their own lives, some examples from the files follow:
Chắc chắn, những trải nghiệm tiền kiếp ảnh hưởng đến các mối quan hệ hiện đời. Để minh họa cách các thân chủ của Cayce trải nghiệm cuộc hội ngộ hợp luật của ký ức nghiệp quả trong đời họ, sau đây là vài ví dụ từ hồ sơ:
A sixty-four-year-old woman inquired about her past-life relationship with her son-in-law, an individual whose purposes she often questioned and yet she generally felt very close to him, sometimes even feeling “of one mind.” Her reading stated that she had been closely associated with him as a friend on at least two different occasions: in Egypt during the rise of the Hebrew Joseph from prisoner to second-in-command of the country, and also during the second breaking up of the continent of Atlantis. During these experiences the two friends often found occasion to debate one another. In the present, she was counseled to be a source of encouragement to him in terms of his own spiritual and mental development—a role she had apparently served in their previous experiences together. (2612-1)
Một phụ nữ sáu mươi bốn tuổi hỏi về mối liên hệ tiền kiếp của bà với con rể—một người mà mục đích của anh ta bà thường hoài nghi, thế nhưng bà nói chung lại cảm thấy rất gần gũi, đôi khi thậm chí “đồng tâm” với anh. Bài đọc cho biết bà đã từng gắn bó thân thiết với anh ta như một người bạn ít nhất trong hai dịp: ở Ai Cập vào thời người Hê-bơ-rơ Joseph từ tù nhân vươn lên làm nhân vật quyền lực thứ hai của đất nước, và cũng trong lần vỡ lục địa Atlantis lần thứ hai. Trong các trải nghiệm ấy, hai người bạn thường tranh biện với nhau. Ở hiện tại, bà được khuyên hãy là nguồn động viên cho anh trên phương diện phát triển tinh thần và trí tuệ—một vai trò bà dường như từng đảm nhận trong những trải nghiệm chung trước đây. (2612-1)
A thirty-year-old man who had become extremely interested in the Edgar Cayce information was told that in one of his past lives he had been alive at the time of Jesus. During that lifetime he had been married to a woman that doubted Jesus was, in fact, the long-awaited Messiah, as she preferred instead to cling to her traditional religious upbringing. When the man inquired if he presently knew the woman who had once been his wife, Cayce replied in the affirmative—his wife then had returned as his mother-in-law. Interestingly enough, the woman had retained her skeptical and disbelieving nature regarding the Edgar Cayce information with which both her daughter and son-in-law had become involved. (137-121)
Một người đàn ông ba mươi tuổi, cực kỳ quan tâm đến thông tin của Edgar Cayce, được cho biết rằng trong một kiếp ông từng sống vào thời Đức Jesus. Trong kiếp đó ông đã kết hôn với một phụ nữ hoài nghi việc Jesus thật sự là Đấng Cứu Thế đã chờ đợi từ lâu, vì bà thích bám vào nền tảng tôn giáo truyền thống của mình hơn. Khi người đàn ông hỏi liệu hiện tại ông có quen biết người phụ nữ từng là vợ mình không, Cayce đáp là có—người vợ khi ấy đã trở lại làm mẹ vợ ông. Thật thú vị, người phụ nữ ấy vẫn giữ bản chất hoài nghi và không tin về các thông tin của Edgar Cayce mà cả con gái và con rể bà đã dấn thân vào. (137-121)
A childless woman was extremely close to her nephew, a toddler. She often had occasion to take him to the beach and frequently strangers would stop and comment on what a beautiful child she had. She never corrected them, allowing them to imagine that the boy was her child. She felt unconditional love for the boy and he seemed to have the same feelings for her in return. When the woman’s brother and wife moved out of state, taking her nephew with them, she was heartbroken. She longed for the boy’s visits, which mainly corresponded to family occasions and holidays. When asked about the past-life connection between the two, Edgar Cayce stated that the boy had been the woman’s son during a lifetime in Palestine. Their closeness was a continuation from that experience, and in the present their relationship was such that they would be a “prop one to the other” throughout their lives. (1990-3)
Một phụ nữ không con rất thân thiết với cháu trai nhỏ. Bà thường đưa cậu bé ra bãi biển và nhiều người lạ thường dừng lại khen bà có đứa con thật đẹp. Bà không bao giờ đính chính, để họ tưởng cậu bé là con bà. Bà yêu cậu vô điều kiện và cậu dường như cũng có cảm xúc như thế với bà. Khi anh trai và chị dâu của bà chuyển ra sống ở bang khác, đưa cả cháu trai đi theo, bà đau lòng. Bà mong ngóng những chuyến thăm của cậu, chủ yếu vào các dịp gia đình và ngày lễ. Khi được hỏi về mối nối tiền kiếp giữa hai người, Edgar Cayce cho biết cậu bé từng là con trai của người phụ nữ trong một kiếp ở Palestine. Sự gắn bó của họ là sự tiếp nối từ trải nghiệm đó, và trong hiện tại mối quan hệ của họ là “nương đỡ lẫn nhau” suốt đời. (1990-3)
The grandmother of a fourteen-year-old boy was told that the boy’s condition—an incoordination of the sensory system and the brain, causing the child to be unable to speak—was the result of karma. However, it was not simply the boy’s karma: Both the child and those responsible for him were apparently meeting the memory of a previous experience when they had been together. This joint responsibility was described as follows: “Thus the condition is karmic in its reaction … for the body is meeting itself; but so must those responsible for this entity meet themselves.” (4013-1)
Bà ngoại của một cậu bé mười bốn tuổi được cho biết rằng tình trạng của cậu—sự thiếu phối hợp giữa hệ cảm giác và não, khiến cậu không thể nói—là kết quả của nghiệp quả. Tuy nhiên, đó không chỉ là nghiệp của cậu bé: cả đứa trẻ và những người chịu trách nhiệm với cậu dường như đang đối diện với ký ức của một trải nghiệm trước đây khi họ đã từng ở cùng nhau. Trách nhiệm chung này được mô tả như sau: “Vậy nên tình trạng này là nghiệp quả trong phản ứng của nó… vì thân này đang gặp lại chính mình; nhưng những người chịu trách nhiệm với thực thể này cũng phải gặp lại chính mình như thế.” (4013-1)
Later, in the course of a reading for the grandmother, this karmic connection was further clarified. It seems that the grandmother and others had once been employed in temple service in Jerusalem but had become subject to harsh edicts and strict measures governing the affairs of all individuals during the reign of Nehemiah, a ruler who helped to rebuild the walls of the city. Some individuals became so angered by Nehemiah’s dictatorial control that they swore vengeance upon him. Cayce reminded the family: “And he who swears vengeance pays even unto the last farthing. So it brought developments, retardments, for when there is jealousy, hate, things that do not make the soul of man free, these bring retardments to an individual in his activities in the earth.” (5177-1) On other occasions, Cayce reminded people that regardless of what other individuals had done to them hate was not an option, as there were serious karmic ramifications to hating someone else: “And the soul that holds resentment owes the soul to whom it is held, much!” (1298-1)
Sau đó, trong một bài đọc dành cho bà ngoại, mối nối nghiệp này được làm rõ thêm. Có vẻ bà ngoại và những người khác từng phục vụ trong đền thờ ở Jerusalem nhưng đã bị áp đặt những sắc lệnh hà khắc và các biện pháp nghiêm ngặt cai quản công việc của mọi người dưới triều Nehemiah, một vị cai trị giúp xây lại tường thành của thành phố. Một số người tức giận trước sự độc đoán của Nehemiah đến mức thề sẽ báo thù ông. Cayce nhắc gia đình: “Và kẻ thề báo thù sẽ phải trả cho đến đồng xu cuối cùng. Vậy nên điều đó mang đến những phát triển, những trì trệ, vì khi có ghen tuông, hận thù, những điều không khiến linh hồn con người được tự do, thì chúng mang sự trì trệ đến cho một cá nhân trong các hoạt động của y trên dương thế.” (5177-1) Ở những dịp khác, Cayce nhắc mọi người rằng bất kể người khác đã làm gì với họ, hận thù không phải là một lựa chọn, vì hận thù ai đó có hậu quả nghiệp quả nghiêm trọng: “Và linh hồn nào ôm giữ oán hận thì mắc nợ rất nhiều với linh hồn mà nó oán hận!” (1298-1)
During a reading given to a fifty-eight-year-old grandmother, the woman inquired about her past-life connection to her grandchildren (a boy and a girl). She also wanted to know why she felt more love and concern for her grandson than she did for her granddaughter. Cayce explained that in one of her most recent incarnations her two grandchildren had been her close friends. The boy had frequently sought out her guidance and opinion, whereas the girl had been much more self-sufficient. These friendships from the past had resulted in them all being drawn back together in the present. In terms of why she felt so much more concern for one over the other, Cayce replied:
Trong một bài đọc dành cho một bà ngoại năm mươi tám tuổi, người phụ nữ hỏi về mối nối tiền kiếp của bà với các cháu (một trai, một gái). Bà cũng muốn biết vì sao bà cảm thấy yêu thương và quan tâm đến cháu trai hơn cháu gái. Cayce giải thích rằng trong một trong những lần đầu thai gần đây, hai đứa cháu từng là bạn thân của bà. Cậu bé thường tìm đến bà để xin lời khuyên và ý kiến, còn cô bé thì tự lập hơn nhiều. Các tình bạn từ quá khứ ấy đã kéo họ trở lại với nhau trong hiện tại. Về việc vì sao bà cảm thấy quan tâm nhiều đến một đứa hơn đứa kia, Cayce đáp:
… there was the ability of the one to be self-sufficient— which brings an indifference; while the seeking for counsel, for help, or for instruction in the other, naturally brings the greater feeling of response. For, it is a universal and a divine law that like begets like. So, in the present experience, while there is loving—yet in the one it might be truly called loving indifference, while in the other it is love that is truly a creative, growing experience in the activities of each.
… có nơi một đứa khả năng tự lập—điều này mang lại một sự dửng dưng; trong khi việc tìm kiếm lời khuyên, sự giúp đỡ, hay sự chỉ dẫn nơi đứa kia tự nhiên mang đến cảm thức đáp ứng lớn hơn. Vì đó là một định luật phổ quát và thiêng liêng rằng đồng sinh đồng. Vậy nên, trong trải nghiệm hiện tại, dù có yêu thương—nhưng ở một đứa có thể thực sự gọi là yêu thương mang tính dửng dưng, còn nơi đứa kia thì đó là tình yêu đúng nghĩa là một trải nghiệm sáng tạo, lớn dậy trong các hoạt động của mỗi bên.
1472-13
1472-13
Due to the death of her brother’s wife, a forty-one-year-old woman ended up with the responsibility of raising her brother’s daughter—her own niece. She essentially became the girl’s mother. When she asked about her connection to the child in a past-life reading from Edgar Cayce, the explanation was that she was simply picking up her relationship with the girl from an Egyptian experience when her niece had been her daughter. (2011-3)
Do vợ của anh trai qua đời, một phụ nữ bốn mốt tuổi đã nhận trách nhiệm nuôi dưỡng con gái của anh—cô cháu gái của chính mình. Bà trở thành mẹ của cô bé. Khi bà hỏi về mối nối với đứa trẻ trong một bài đọc tiền kiếp của Edgar Cayce, lời giải thích là bà chỉ đang nối lại mối quan hệ với cô bé từ một trải nghiệm ở Ai Cập khi cháu gái bà từng là con gái bà. (2011-3)
Sometimes the karma of family relationships entails individuals incarnating back into the same family. For example, the Cayce readings state that Edgar Cayce’s own grandfather eventually reincarnated into the family as Cayce’s grandson. (2824-1) In a similar manner, Paula Woodruff states that a karmic connection she has with the past is with one of her own relatives. In fact, she is convinced that she and her husband are the return of her own great-grandmother and great-grandfather. The awareness came to her after her mother died and Paula inherited all of her mother’s mementos and personal property. Among the belongings was an enormous chest filled with family pictures of numerous generations—people she knew as well as people she had never even seen. There were wedding pictures and portraits she hadn’t known existed. One day, she was sorting through them when a friend came to visit and began looking through the pictures with her:
Đôi khi nghiệp của các quan hệ gia đình bao hàm việc các cá nhân đầu thai trở lại cùng một gia đình. Ví dụ, các bài đọc của Cayce nói rằng chính ông nội của Edgar Cayce rốt cuộc đã tái sinh vào gia đình làm cháu nội của Cayce. (2824-1) Tương tự, Paula Woodruff cho biết một mối nối nghiệp bà có với quá khứ chính là với một người bà con của mình. Thực tế, bà tin chắc rằng bà và chồng là sự trở lại của cụ cố bà và cụ cố ông. Nhận biết ấy đến với bà sau khi mẹ bà qua đời và Paula thừa hưởng tất cả kỷ vật và tài sản cá nhân của mẹ. Trong đống đồ có một chiếc rương khổng lồ đầy ảnh gia đình qua nhiều thế hệ—những người bà biết cũng như những người bà chưa từng thấy. Có ảnh cưới và ảnh chân dung mà bà không hề biết là tồn tại. Một ngày, bà đang lục xem thì một người bạn đến thăm và bắt đầu xem ảnh cùng bà:
My friend lifted a portrait and was taken aback by the fact that one of the older pictures looked exactly like my husband! It was a picture of my great-grandfather, whom I had never seen before. When I saw the picture, it was overwhelming! He looked exactly like my husband except for the fact that my great-grandfather appeared to have a scar on his left temple.
Bạn tôi nhấc một bức chân dung và sững lại vì một bức ảnh xưa trông chính xác như chồng tôi! Đó là ảnh cụ cố tôi, người tôi chưa từng thấy. Khi tôi nhìn bức ảnh, cảm giác thật choáng ngợp! Ông trông hệt như chồng tôi, trừ việc cụ cố có vẻ có một vết sẹo ở thái dương trái.
Later, when I had the opportunity to show others the portrait, they were as amazed as my friend and I had been. There was no doubt that my husband had been my great-grandfather! As we looked through the pictures we came across a picture of a woman who was short and round, and appeared to look very much like me—the writing on the back identified the woman as my great-grandmother. I knew then and there that my husband and I had returned to the very same family.
Sau đó, khi tôi có dịp cho người khác xem bức chân dung, họ kinh ngạc như tôi và bạn tôi đã từng. Không nghi ngờ gì, chồng tôi đã từng là cụ cố tôi! Khi chúng tôi xem tiếp, chúng tôi bắt gặp ảnh một phụ nữ thấp và tròn, trông rất giống tôi—chữ viết sau ảnh xác nhận người phụ nữ là cụ cố bà tôi. Ngay khi ấy tôi biết rằng chồng tôi và tôi đã trở lại chính gia đình này.
Finally, the story of Pearl Davenport suggests that there are often connections individuals possess that may not have yet surfaced but wait until the time is right. Pearl says that her experiences have led her to believe that “we are all connected in ways that we never imagined before.” One of her most memorable examples concerned a doctor that she had no conscious knowledge of. They met because, as she was being wheeled into the emergency room, “His name just rolled off my tongue and I asked for him.”
Cuối cùng, câu chuyện của Pearl Davenport gợi ý rằng thường có những mối nối mà mỗi người sở hữu nhưng chưa xuất lộ, đợi đến khi thời điểm chín muồi. Pearl nói những trải nghiệm của bà khiến bà tin rằng “chúng ta đều kết nối với nhau theo những cách mà trước đây ta chưa từng hình dung.” Một ví dụ đáng nhớ nhất của bà liên quan đến một bác sĩ mà bà không hề có nhận biết có thức nào về ông. Họ gặp nhau vì, khi bà được đẩy vào phòng cấp cứu, “Tên ông cứ tự nhiên bật ra khỏi miệng tôi và tôi đã xin gặp ông.”
After her stay in the hospital, Pearl repeatedly found herself thinking about the doctor just when he was in the midst of traumas or personal problems. Whenever he came to mind, she would call: “Whenever he needed someone, I was there—a tragedy in his life, problems with his son, the death of a close friend, a divorce, etc. I just seemed to show up exactly when he needed someone to talk to.” Rather than having some kind of sexual attraction or connection, Pearl describes their relationship as follows: “I always felt responsible for him.” One night she had an intense vision that made her wonder if she was going crazy:
Sau khi xuất viện, Pearl liên tục thấy mình nghĩ về bác sĩ đúng lúc ông đang ở giữa các sang chấn hay vấn đề cá nhân. Hễ ông hiện lên trong tâm trí, bà lại gọi điện: “Hễ ông cần ai đó, tôi đều có mặt—một bi kịch trong đời, vấn đề với con trai, cái chết của một người bạn thân, một cuộc ly dị, v.v. Tôi cứ xuất hiện đúng lúc ông cần một người để trò chuyện.” Thay vì có một hấp lực hay kết nối tình dục nào, Pearl mô tả mối quan hệ của họ như sau: “Tôi luôn cảm thấy mình có trách nhiệm với ông.” Một đêm bà có một thị kiến mạnh mẽ đến mức khiến bà tự hỏi mình có điên không:
I was driving to work in the dark on one of the most heavily traveled roads in our area, and yet I seemed to be the only one there. When I looked up at the sky, I saw the sky turn to the color of blue velvet and the stars began to appear like diamonds. Suddenly, I saw the hands of God open up my chest and place a heart inside of me and told me to: “Keep it safe for another time.” I knew that this heart belonged to my physician-friend.
Tôi đang lái xe đi làm trong đêm trên một trong những con đường đông đúc nhất khu vực, vậy mà dường như chỉ có mỗi mình tôi. Khi ngước nhìn bầu trời, tôi thấy trời chuyển sắc nhung xanh và các vì sao hiện lên như kim cương. Đột nhiên, tôi thấy đôi tay của Thượng đế mở lồng ngực tôi ra, đặt một trái tim vào trong và bảo tôi: “Hãy giữ gìn nó cho một lần khác.” Tôi biết trái tim ấy thuộc về người bác sĩ-bằng-hữu của tôi.
The next day she contacted a talented psychic she knew to inquire what her past-life relationship had been with the doctor. The woman told her that the doctor had been her son and—without knowing of her feelings or their connection—stated that the overriding attraction was that, “You feel responsible for this man.” Once the relationship was explained, Pearl no longer felt crazy; it was as if a big burden had been removed and everything began to make sense:
Ngày hôm sau, bà liên lạc với một nhà tâm linh tài năng mà bà quen để hỏi về mối quan hệ tiền kiếp của mình với vị bác sĩ. Người phụ nữ nói với bà rằng bác sĩ từng là con trai bà—và không hề biết gì về cảm xúc hay mối nối của họ—xác nhận rằng sức hút chủ đạo là: “Chị cảm thấy có trách nhiệm với người đàn ông này.” Khi mối quan hệ được cắt nghĩa, Pearl không còn thấy mình điên nữa; như thể một gánh nặng lớn được dỡ xuống và mọi thứ bắt đầu có nghĩa:
What I have learned is that life is really very simple. We are all connected. Ultimately, we choose our lives and our lessons. The various lifetimes that a soul has is like the pieces of a huge quilt, all woven together—never ending, just continuing to weave its way through various experiences and relationships.
Điều tôi học được là đời sống thực ra rất đơn giản. Chúng ta đều kết nối với nhau. Sau cùng, chúng ta chọn đời mình và các bài học của mình. Những kiếp sống khác nhau mà một linh hồn sở hữu giống như những mảnh của một tấm chăn bông khổng lồ, tất cả dệt lại—không bao giờ kết thúc, chỉ tiếp tục dệt đường đi của mình qua nhiều trải nghiệm và mối quan hệ khác nhau.
Perhaps one of the most helpful concepts contained within the Edgar Cayce files dealing with the karma of family relationships is that these experiences are purposeful for all concerned. Individuals grow through their relationships with others. To be sure, sometimes that growth can be extremely challenging but, regardless of where or with whom a person finds herself or himself; that experience is simply a lawful response to the past, enabling the individual to meet something in self in the present.
Có lẽ một trong những khái niệm hữu ích nhất nằm trong hồ sơ Edgar Cayce khi đề cập đến nghiệp quả của các mối liên hệ gia đình là: những trải nghiệm ấy đều có chủ đích đối với tất cả những ai liên can. Con người trưởng thành qua các mối liên hệ với người khác. Dĩ nhiên, đôi khi sự trưởng thành ấy vô cùng thách thức, nhưng, bất kể một người thấy mình ở đâu hay ở với ai; trải nghiệm đó đơn giản là một đáp ứng hợp luật đối với quá khứ, giúp cá nhân có thể gặp gỡ một điều gì đó trong chính mình ở hiện tại.
Individuals that have a strong emotional connection to one another are inevitably connected by karmic memory; however, what is done with that memory remains a matter of free will and choice. Although life’s feelings, challenges and relationships are often predicated by the past, they do not predetermine the future. In fact, part of the lawfulness of karma and reincarnation is that eventually each soul will come to love all others in the same way that the Creator loves all of us—unconditionally. With this in mind, all relationships are ultimately the means through which the soul learns to love self, one another, and God, and, as Cayce once told a group of individuals studying the application of spiritual principles: “‘Thou shalt love the Lord thy God with all thy heart, thy mind, thy soul; thy neighbor as thyself.’ For this is the whole law, the whole law.” (262-100)
Những người có gắn bó cảm xúc mạnh mẽ với nhau tất yếu được kết nối bởi ký ức nghiệp quả; tuy vậy, làm gì với ký ức ấy vẫn là vấn đề của ý chí tự do và sự chọn lựa. Dẫu cho cảm xúc, thách thức và các mối liên hệ trong đời thường do quá khứ đặt nền, chúng không định sẵn tương lai. Thực vậy, một phần của tính hợp luật của nghiệp và tái sinh là rốt cuộc mỗi linh hồn sẽ đến chỗ yêu thương mọi linh hồn khác theo cùng một cách mà Đấng Sáng Tạo yêu thương tất cả chúng ta—vô điều kiện. Với điều này trong tâm trí, mọi mối liên hệ rốt ráo là phương tiện qua đó linh hồn học yêu thương chính mình, yêu thương nhau, và yêu Thượng đế, và, như Cayce đã từng nói với một nhóm người đang học cách ứng dụng các nguyên tắc tinh thần: “‘Ngươi hãy yêu Chúa là Thượng đế của ngươi hết lòng, hết trí, hết linh hồn; và yêu người lân cận như chính mình.’ Vì đó là toàn bộ luật pháp, toàn bộ luật pháp.” (262-100)
6
Overcoming Personal Karma—Vượt qua Nghiệp quả Cá nhân
For as ye would that men should do to you, do ye even so to them! This is not merely a rule—it is a principle, it is an active force in which one may oft see self not as through a glass darkly but as face to face with thy own ideal!
Vì điều gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, hãy làm cho họ như vậy! Đây không chỉ là một quy luật—đó là một nguyên lý, là một mãnh lực tác động nhờ đó người ta thường có thể thấy chính mình không phải như nhìn qua tấm gương mờ tối mà là mặt đối mặt với lý tưởng của chính ngươi!
2185-1
2185-1
In 1935, a thirty-three-year-old woman who had procured many readings from Edgar Cayce obtained a follow-up reading, asking for further insights into the karmic connection between herself and her two sons. Cayce reminded her that their karmic connection had already been discussed previously and suggested instead that the mother consider why souls in general (and the mother and her two sons in particular) were repeatedly drawn back together. He stated that the answer was connected to each soul’s unique development as well as its destiny to become a companion to the Creator:
Năm 1935, một phụ nữ ba mươi ba tuổi, người đã xin rất nhiều bài đọc từ Edgar Cayce, nhận một bài đọc tiếp theo, thỉnh cầu hiểu biết sâu hơn về mối liên hệ nghiệp quả giữa Bà và hai người con trai. Cayce nhắc Bà rằng mối liên hệ nghiệp quả của họ đã được bàn trước đó và thay vào đó gợi ý người mẹ suy xét vì sao các linh hồn nói chung (và người mẹ cùng hai con trai nói riêng) cứ được kéo trở lại với nhau nhiều lần. Ngài nói rằng câu trả lời gắn với sự phát triển độc đáo của mỗi linh hồn cũng như định mệnh của linh hồn trở nên bạn đồng hành với Đấng Sáng Tạo:
Hence souls in their varied experiences … are again and again drawn together by the natural law of attractive forces for the activity towards what? The development of the soul to the one purpose, the one cause—to be companionate with the First Cause [God]!
Vì thế các linh hồn trong những trải nghiệm muôn hình … cứ hết lần này đến lần khác được kéo lại gần nhau bởi định luật tự nhiên của các lực hấp dẫn để hoạt động hướng đến điều gì? Sự phát triển của linh hồn cho một mục đích duy nhất, một nguyên do duy nhất—để trở nên đồng bạn với Nguyên Nhân Đầu Tiên [Thượng đế]!
903-23
903-23
In other words, all relationships encountered by all people are ultimately for the growth and development of everyone involved. What this suggests is that any challenging relationship inevitably involves the need for everyone to change, grow and develop to some extent resources that the individual does not yet possess. Often the greatest barrier to personal growth may be the dynamic of wanting to make certain that the other person learns his or her lessons and meets self, rather than understanding that self is only responsible for learning one’s own lessons. People can commit only to their own personal growth. People can take responsibility only for themselves. People cannot assume responsibility for someone else learning a particular lesson—they can only change themselves.
Nói cách khác, mọi mối liên hệ mà mọi người gặp đều rốt ráo nhằm cho sự trưởng thành và phát triển của tất cả những ai tham dự. Điều này gợi ý rằng bất kỳ mối liên hệ thách thức nào cũng tất yếu bao hàm nhu cầu mọi người phải thay đổi, lớn lên và phát triển ở một mức độ nào đó những nguồn lực mà cá nhân hiện chưa sở hữu. Thường thì rào cản lớn nhất đối với sự trưởng thành cá nhân là xu thế muốn bảo đảm người khác học bài học của họ và đối diện với chính họ, thay vì hiểu rằng bản thân chỉ chịu trách nhiệm học các bài học của chính mình. Con người chỉ có thể cam kết với sự trưởng thành cá nhân của chính mình. Con người chỉ có thể chịu trách nhiệm về chính mình. Con người không thể gánh trách nhiệm thay cho người khác trong việc học một bài học nào đó—họ chỉ có thể thay đổi chính mình.
On one occasion, Edgar Cayce gave a thirty-eight-year-old businessman a definition of karma to assist the gentleman’s understanding of one of the ways it could be created. The definition is connected to this very idea of learning something that the soul is presently lacking as the means of overcoming personal karma. Cayce told him: “Karma is, then, that that has been in the past builded as indifference to that known to be right! Taking chances—as it were—‘[I] will do better tomorrow—this suits my purpose today—I’ll do better tomorrow’.” (257-78)
Có lần, Edgar Cayce đã đưa cho một doanh nhân ba mươi tám tuổi một định nghĩa về nghiệp quả để giúp Ông thấu hiểu một trong những cách thức nghiệp có thể được tạo ra. Định nghĩa này gắn với chính ý niệm học điều mà linh hồn hiện đang thiếu như là phương tiện vượt qua nghiệp cá nhân. Cayce nói với Ông: “Vậy nghiệp là cái đã được tạo dựng trong quá khứ như sự dửng dưng với điều đã biết là đúng! Đem bản thân ra đánh cược—nào là—‘[Tôi] sẽ làm tốt hơn vào ngày mai—điều này hợp với mục đích của tôi hôm nay—tôi sẽ làm tốt hơn vào ngày mai’.” (257-78)
Keeping this in mind, a helpful attitude in terms of overcoming personal karma is not, “I need to meet this lesson and get it over with,” but is instead, “This is enabling me to become a better person … this will enable me to become the person I was meant to be … this will help me to become whole.” In this manner, the purposefulness of life as well as of every relationship is made clear: to become more attuned to the soul nature of the individual and of the soul’s ultimate connection to God—a connection that is the birthright of each and every soul. In regards to that purposefulness, Cayce once told a twenty-nine-year-old man: “For it is not by chance that one enters a material experience, but by the grace and mercy of an all wise universal consciousness; that each soul may become aware of its relationships to the Creative Forces, as may be manifested by and through its relationships to its fellow men.” (2301-1)
Ghi nhớ điều này, một thái độ hữu ích để vượt qua nghiệp cá nhân không phải là, “Tôi cần gặp bài học này và xử cho xong,” mà là, “Điều này đang giúp tôi trở thành một con người tốt hơn … điều này sẽ giúp tôi trở nên con người mà tôi được định là như thế … điều này sẽ giúp tôi trở nên trọn vẹn.” Theo cách này, tính có chủ đích của đời sống cũng như của mọi mối liên hệ trở nên rõ ràng: trở nên hòa điệu hơn với bản tính linh hồn của cá nhân và với mối nối rốt ráo của linh hồn với Thượng đế—một mối nối là quyền bẩm sinh của mọi linh hồn. Về tính có chủ đích ấy, Cayce từng nói với một người đàn ông hai mươi chín tuổi: “Vì không phải ngẫu nhiên mà người ta bước vào một kinh nghiệm nơi cõi hồng trần, mà là bởi ân sủng và lòng xót thương của một tâm thức phổ quát đầy minh triết; để mỗi linh hồn có thể trở nên ý thức về các mối liên hệ của mình với các Mãnh Lực Sáng Tạo, như có thể được biểu lộ bởi và qua các mối liên hệ của mình với đồng loại.” (2301-1)
Just as Cayce discussed the importance of becoming a better person through dealing with one’s personal family karma, the contemporary story of Lyn Warren details how that process can work—often in spite of us. Through a series of life experiences, Lyn became aware of a previous lifetime that had a tremendous impact upon her, involving a parent from a previous incarnation returning as one of her children in the present. Today, Lyn is an eighty-five-year-old woman who is grateful for having had the experience as well as the challenges that it brought to her: “I feel this experience enabled me to become free of much anger and to learn to love. I have learned that it is possible to truly love unconditionally … I still have much to learn in that area, but I’ve come a long way.”
Cũng như Cayce đã luận về tầm quan trọng của việc trở nên một con người tốt hơn qua việc xử lý nghiệp gia đình cá nhân, câu chuyện đương đại của Lyn Warren cho thấy quá trình ấy có thể vận hành thế nào—thường là bất chấp chúng ta. Qua một chuỗi trải nghiệm, Lyn trở nên biết về một tiền kiếp có tác động to lớn trên Bà, liên quan đến một người cha từ kiếp trước trở lại làm một trong những người con của Bà ở hiện tại. Ngày nay, Lyn là một phụ nữ tám mươi lăm tuổi biết ơn vì đã có trải nghiệm ấy cũng như những thách thức nó mang đến: “Tôi cảm thấy trải nghiệm này đã giúp tôi thoát khỏi nhiều giận dữ và học biết yêu thương. Tôi đã học rằng thật sự có thể yêu vô điều kiện … Tôi vẫn còn nhiều điều phải học trong lĩnh vực đó, nhưng tôi đã đi được một chặng đường dài.”
Lyn remembered a past life in which she once lived as the daughter of a domineering, controlling father, whom she had grown to hate. Whether it was out of love, concern or temperament, her father had attempted to hold complete dominion over her and her response had been to become angry and rebellious. Lyn believes that a marriage, which her father would not approve, afforded her the opportunity to leave her father’s control and she took it without hesitation, abandoning her father and their relationship in the process. All communication between father and daughter came to an end, and Lyn never did learn to forgive him. Her opportunity came in her present incarnation when she found she was pregnant with her fifth child:
Lyn nhớ một đời sống trong đó Bà từng là con gái của một người cha gia trưởng, kiểm soát, người mà Bà đã dần dần căm ghét. Dù là vì thương yêu, lo lắng hay do khí chất, người cha đã tìm cách nắm quyền thống trị hoàn toàn trên Bà và phản ứng của Bà là trở nên giận dữ và phản kháng. Lyn tin rằng một cuộc hôn nhân mà người cha sẽ không chấp thuận đã cho Bà cơ hội rời khỏi sự kiểm soát của ông và Bà đã nắm lấy không do dự, bỏ mặc cha mình và mối liên hệ của họ trong quá trình ấy. Mọi giao tiếp giữa cha và con gái chấm dứt, và Lyn đã không bao giờ học cách tha thứ cho ông. Cơ hội đến trong kiếp sống hiện tại khi Bà phát hiện mình mang thai đứa con thứ năm:
Having two sons and two daughters already, I felt our family was well balanced and complete. One night, I was startled to hear an inner communication say as I was falling asleep: “It’s time for me.” Several nights later I was dropping off to sleep and I heard the same voice again.
Đã có sẵn hai con trai và hai con gái, tôi cảm thấy gia đình mình cân bằng và trọn vẹn. Một đêm, tôi giật mình khi nghe một tiếng giao tiếp nội tâm vang lên lúc tôi đang chìm vào giấc ngủ: “Đến lúc ta rồi.” Vài đêm sau, tôi chập chờn ngủ và lại nghe đúng giọng nói ấy.
Unlike Lyn’s previous pregnancies, this one felt different from the very beginning: “I knew immediately when he was conceived for he entered with a powerful force and I started rebelling against the whole idea of being pregnant.” After he was born, Lyn found it hard to love her new son with the same love that she shared with her previous children. Throughout the entire experience, Lyn describes how she had become “an angry, depressed mother.” In spite of the fact that she knew better, Lyn could not find it in her heart to love this child. Even the daily demands of having a baby in the house caused her to become angry and bitter. Almost immediately she felt as if this child held dominion over her and controlled her entire life.
Khác với những lần mang thai trước, lần này cảm giác khác ngay từ đầu: “Tôi biết ngay khoảnh khắc nó được thụ thai vì nó bước vào với một mãnh lực mạnh mẽ và tôi bắt đầu phản kháng cả ý nghĩ mình đang mang thai.” Sau khi bé chào đời, Lyn thấy khó mà yêu thương cậu con mới với cùng tình yêu như Bà dành cho các con trước. Suốt trải nghiệm, Lyn mô tả mình đã trở thành “một bà mẹ giận dữ, u uất.” Dẫu biết điều hay lẽ phải, Lyn vẫn không thể tìm trong trái tim mình tình yêu dành cho đứa trẻ này. Ngay cả những đòi hỏi thường ngày của việc có một em bé trong nhà cũng khiến Bà trở nên giận dữ và cay đắng. Gần như ngay lập tức, Bà cảm thấy như đứa trẻ này nắm quyền thống trị mình và kiểm soát cả đời Bà.
Lyn describes him as being a good baby but still she resented his presence and found dealing with him a real challenge. She recalls one of her lowest points, as follows:
Lyn mô tả bé là một đứa trẻ ngoan nhưng Bà vẫn oán ghét sự hiện diện của bé và thấy việc xử lý bé là một thách thức thật sự. Bà nhớ một trong những thời khắc thấp nhất như sau:
One afternoon when he had awakened from his nap, he cried out just a little bit to let me know that he wanted to get up. I hurried into his room and angrily yanked him out of his crib and was rough with him as I carried him into the next room. He was only about six months old but when I came to a stop, he pushed himself away from me and looked me squarely in the eyes. I felt him ask in confusion: “What’s wrong with you? I only wanted to get up?”
Một buổi chiều khi bé thức dậy sau giấc ngủ trưa, bé khóc nhẹ một chút để cho tôi biết là muốn dậy. Tôi vội vàng vào phòng, bực tức kéo bé ra khỏi nôi và thô bạo bế bé qua phòng bên cạnh. Bé chỉ khoảng sáu tháng tuổi, nhưng khi tôi dừng lại, bé đẩy người ra khỏi tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi cảm thấy bé bối rối hỏi: “Mẹ bị sao vậy? Con chỉ muốn dậy thôi mà?”
It was then I cried out to God: “How low must I fall before you help me?”
Lúc ấy tôi kêu lên với Thượng đế: “Con phải rơi xuống thấp đến mức nào nữa trước khi Ngài giúp con?”
Shortly after the experience, Lyn felt a presence in the room that she believes had come to help her. Still, the change did not come immediately: “It took me two years to love this child and it wasn’t until he was six that I no longer felt that he was dominating me. In fact, when he was six I finally became the parent rather than acting the part of the rebellious child.” There is no doubt in Lyn’s mind that the father she had once rebelled against in her previous existence had returned in the present as her youngest son. Today, Lyn is happy to say that she loves her grown son equal to each of her other children and no longer feels the anger and resentment that had plagued her as a young mother.
Chẳng bao lâu sau trải nghiệm ấy, Lyn cảm nhận một hiện diện trong phòng mà Bà tin là đến để giúp Bà. Tuy vậy, sự chuyển hóa không đến ngay tức thì: “Tôi mất hai năm để yêu đứa trẻ này và mãi đến khi nó lên sáu tôi mới không còn cảm giác nó đang thống trị mình. Thực ra, khi nó sáu tuổi thì cuối cùng tôi trở thành người làm cha mẹ thay vì đóng vai cô bé phản kháng.” Không còn nghi ngờ gì trong tâm trí Lyn rằng người cha mà Bà từng phản kháng trong kiếp trước nay đã trở lại làm con trai út của Bà. Hiện nay, Lyn hạnh phúc nói rằng Bà yêu người con trai trưởng thành này ngang bằng các con khác và không còn cảm thấy cơn giận và sự oán hờn từng đeo đẳng Bà khi còn là một bà mẹ trẻ.
It’s important to note that soul growth and the overcoming of personal karma is not so much a finite goal as it is an ongoing process. Countless citations of this dynamic exist in the readings. For example, when a forty-two-year-old widow asked whether or not she and her late husband had overcome their negative karma from the past and instead grown and developed through their most recent experience with one another, Cayce replied: “The growth has been well. It will be again,” (3175-1) suggesting that they had learned a great deal but that there would be more to come at some point in the future.
Điều đáng lưu ý là sự trưởng thành của linh hồn và việc vượt qua nghiệp cá nhân không phải là một mục tiêu hữu hạn mà là một quá trình đang diễn tiến. Vô số trích dẫn về năng động này có trong các bài đọc. Chẳng hạn, khi một góa phụ bốn mươi hai tuổi hỏi liệu Bà và người chồng quá cố đã vượt qua nghiệp xấu từ quá khứ và thay vào đó lớn lên, phát triển nhờ trải nghiệm gần đây nhất với nhau hay chưa, Cayce đáp: “Sự trưởng thành là tốt. Nó sẽ lại đến,” (3175-1) hàm ý họ đã học được rất nhiều nhưng đến một lúc nào đó trong tương lai, sẽ còn nữa.
In another instance, a fifty-six-year-old woman who had divorced her husband wanted to know if her relationship with him had been karmic as well as whether or not she had learned her lesson. She asked: “Have I known [ex-husband] in previous lives, was the marriage a karmic debt and is it now finished?” Cayce’s reply suggested that she had definitely learned specific lessons she had apparently agreed to at a soul level but their joint learning experience would continue in a subsequent lifetime together: “It is now finished. There was much to be worked out. It is complete in itself, but will be met again in another experience.” (2185-1)
Một trường hợp khác, một phụ nữ năm mươi sáu tuổi đã ly hôn chồng muốn biết liệu mối liên hệ của Bà với Ông có mang tính nghiệp quả hay không, và Bà đã học xong bài học chưa. Bà hỏi: “Tôi đã biết [chồng cũ] trong những đời trước chưa, cuộc hôn nhân có phải là một món nợ nghiệp và bây giờ nó đã xong chưa?” Câu trả lời của Cayce gợi ý rằng Bà thật sự đã học những bài học cụ thể mà dường như Bà đã đồng ý ở cấp linh hồn, nhưng trải nghiệm học hỏi chung của họ sẽ tiếp tục trong một kiếp sau với nhau: “Bây giờ nó đã xong. Có rất nhiều điều cần được giải quyết. Nó đã tự nó hoàn tất, nhưng sẽ được gặp lại trong một trải nghiệm khác.” (2185-1)
Although some individuals may vehemently wish to complete all of their karma with another individual in one incarnation, that desire may not always be fulfilled. As a case in point, when a thirty-five-year-old schoolteacher asked about the possibility of separating from or remaining with her husband for soul growth and development, learning the lessons that had brought the couple together, the reading advised separation. Apparently the relationship had become so negative that her staying could no longer be beneficial—the two would have to meet their karma at some point in the future. Cayce’s advice was for them to “separate” and included the following rationale:
Dẫu có những người kịch liệt mong muốn hoàn tất toàn bộ nghiệp với một người nào đó trong một kiếp, ước muốn ấy không phải lúc nào cũng được đáp ứng. Đơn cử, khi một cô giáo ba mươi lăm tuổi hỏi về khả năng ly thân hay tiếp tục ở với chồng để phát triển linh hồn, học các bài học đã đưa hai người đến với nhau, bài đọc khuyên nên ly thân. Rõ ràng mối liên hệ đã trở nên tiêu cực đến mức việc Bà ở lại sẽ không còn ích lợi—hai người sẽ phải gặp nghiệp của họ vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Lời khuyên của Cayce là “ly thân” và kèm theo lập luận sau:
For, where there has come those influences that make for the continued nagging, or the continued activities that become repulsive to the body-consciousness and the activities of an individual in relationships with others, this is not for the welfare or the mental associations of ideas; but the repulsiveness of body-associations and relations becomes such as to make for destructive influences in the experiences of both.
Vì, khi đã có những ảnh hưởng tạo nên sự cằn nhằn dai dẳng, hay những hoạt động liên tục trở thành điều gây ghê tởm đối với ý thức thân thể và các hoạt động của một cá nhân trong mối liên hệ với người khác, thì đó không phải là vì phúc lợi hay vì các liên kết tư tưởng; mà sự ghê tởm trong các liên hệ và tiếp xúc thân xác trở nên đến mức tạo ra những ảnh hưởng hủy hoại trong trải nghiệm của cả hai bên.
272-2
272-2
Another way of looking at this process of soul growth and meeting self is simply the fact that the lawfulness of karma eventually enables a soul to gain an awareness of what the soul is currently lacking. In other words, a lesson learned or the successful meeting of self enables the soul to move ever closer to personal wholeness and the awareness of oneness with God.
Một cách khác để nhìn vào tiến trình trưởng thành linh hồn và gặp gỡ chính mình đơn giản là sự thật rằng tính hợp luật của nghiệp rốt cuộc giúp linh hồn nhận biết điều mà linh hồn hiện đang thiếu. Nói cách khác, một bài học đã học hay một lần đối diện chính mình thành công giúp linh hồn tiến gần hơn mãi đến sự toàn vẹn cá nhân và nhận biết về sự nhất thể với Thượng đế.
Sometimes it is challenging to understand karma when two individuals may be facing a similar experience or relationship and yet the lesson each needs to learn is very different. For example, during the course of a reading given to a twenty-year-old man who was shy and had problems in his relationships, Edgar Cayce stated that the young man needed to learn to listen and see the needs of others much more often than he spoke: “There is given only two eyes, two ears. We should hear and see twice, yes, four times as much as we say … ” (5242-1) Conversely, a twenty-three-year-old woman also with self-esteem problems and in a karmic relationship with an overly critical father was told (in no uncertain terms) that she needed to set a spiritual ideal, become responsible for herself and learn to speak up for herself. Cayce advised: “Know thy ideal, and live to that. For, each soul must give account for its own self … But, so live that ye may look everyone in the face and tell him to go to hell!” (2803-2)
Đôi khi thật khó hiểu nghiệp khi hai người có thể đang đối diện một trải nghiệm hay mối liên hệ tương tự mà bài học mỗi người cần học lại rất khác nhau. Chẳng hạn, trong một bài đọc cho một chàng trai hai mươi tuổi rụt rè và gặp vấn đề trong các mối liên hệ, Edgar Cayce nói rằng chàng trai cần học lắng nghe và nhìn thấy nhu cầu của người khác thường xuyên hơn nhiều so với việc nói: “Chúng ta chỉ có hai mắt, hai tai. Ta nên nghe và nhìn gấp đôi, vâng, gấp bốn lần so với nói … ” (5242-1) Ngược lại, một phụ nữ hai mươi ba tuổi cũng gặp vấn đề về tự trọng và đang trong một mối liên hệ nghiệp quả với người cha quá khắt khe được nói (một cách không chút vòng vo) rằng Bà cần lập một lý tưởng tinh thần, chịu trách nhiệm về chính mình và học cách lên tiếng cho chính mình. Cayce khuyên: “Hãy biết lý tưởng của ngươi, và sống theo điều đó. Vì mỗi linh hồn phải tự trả lẽ cho chính mình … Nhưng, hãy sống sao cho ngươi có thể nhìn thẳng mặt mọi người và bảo ông ta xuống địa ngục!” (2803-2)
Obviously, in the above examples, neither individual would have been given the other person’s advice. The successful meeting of self and the overcoming of personal karma involves being able to develop an awareness and a response from within the self that is currently lacking. Too often individuals mistakenly assume that karma simply entails putting up with something repeatedly, but instead the successful meeting of karmic memory more often involves coming up with new resources and new modes of behavior. The contemporary example of three grown siblings, Betty, Alan, and Nancy, provides an illustration:
Rõ ràng, trong các ví dụ trên, không ai trong hai người sẽ nhận lời khuyên dành cho người kia. Việc đối diện chính mình một cách thành công và vượt qua nghiệp cá nhân đòi hỏi phát triển được một nhận thức và một đáp ứng từ trong nội tâm vốn hiện đang thiếu. Quá thường khi, người ta lầm tưởng rằng nghiệp đơn thuần là chịu đựng một điều gì đó lặp đi lặp lại, nhưng thực ra việc gặp gỡ ký ức nghiệp quả thành công thường bao hàm việc đưa ra những nguồn lực mới và những cách ứng xử mới. Ví dụ đương đại về ba anh chị em trưởng thành, Betty, Alan và Nancy, là một minh họa:
As adults, the three found themselves equal owners of a family company that employed twenty-some people. According to Alan and Betty, one of their greatest challenges at work was their relationship with Nancy. As Alan tells it, “Nancy is a know-it-all. Regardless of the topic, the problem, the plan, the customer, or the employee, Nancy has the one and only answer. God forbid that Betty or I should disagree with her. Nancy is always right.”
Khi trưởng thành, cả ba thấy mình là đồng sở hữu một công ty gia đình sử dụng chừng hơn hai chục người. Theo Alan và Betty, một trong những thách thức lớn nhất tại nơi làm việc là mối liên hệ của họ với Nancy. Như Alan kể, “Nancy là một kẻ biết-tuốt. Bất kể chủ đề, vấn đề, kế hoạch, khách hàng hay nhân viên, Nancy có câu trả lời duy nhất đúng. Thượng đế chớ để Betty hay tôi bất đồng với cô ấy. Nancy lúc nào cũng đúng.”
To be sure, Nancy has her strengths—she’s adept with computers and has a thorough knowledge of the market, but the ongoing challenge of working with her for more than ten years put a strain on the siblings’ relationship and on the company founded by their late father. Betty comments, as follows: “It got to the point where I didn’t even want to be in the same room with her—I avoided her whenever possible, and during our weekly management meetings I generally kept my thoughts to myself, and stewed.” Conversely, Alan found himself often speaking up and “flying off the handle” whenever they were together: “I couldn’t begin to add up the number of times Nancy and I have argued between ourselves or in front of some of the staff.” Rather than changing the situation, Alan admits all that was accomplished was Nancy’s growing sense that her brother didn’t like her or appreciate her contribution to the company.
Phải nói, Nancy có thế mạnh—cô ấy thạo máy tính và hiểu tường tận thị trường, nhưng thách thức kéo dài khi làm việc với cô hơn mười năm đã khiến mối liên hệ anh chị em và cả công ty do người cha quá cố của họ sáng lập bị căng thẳng. Betty bình luận như sau: “Đến mức tôi chẳng muốn ở chung phòng với cô ấy—tôi lảng tránh khi có thể, và trong các buổi họp quản trị mỗi tuần tôi thường giữ ý kiến cho riêng mình và âm ỉ bực bội.” Ngược lại, Alan thấy mình thường xuyên lên tiếng và “nổi nóng” mỗi khi ở cùng nhau: “Tôi không thể bắt đầu đếm nổi số lần Nancy và tôi tranh cãi giữa chúng tôi hoặc trước mặt một số nhân viên.” Thay vì thay đổi tình hình, Alan thừa nhận điều duy nhất đạt được là cảm giác ngày càng lớn nơi Nancy rằng anh trai không thích cô hoặc không trân trọng đóng góp của cô cho công ty.
Aware of the laws of reincarnation and karma, Alan said that one day, when he was “trying to figure out the karmic connection between the three of us,” a possible way of solving their relationship problem finally came to him:
Nhận biết các định luật tái sinh và nghiệp quả, Alan nói rằng một ngày kia, khi anh “đang cố tìm hiểu mối nối nghiệp giữa ba chúng tôi,” một cách khả dĩ để giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của họ bỗng đến với anh:
I suddenly understood that I needed to quit responding to Nancy in the rash, decisive, abrupt way that can be a part of my personality. I also understood that Betty was not helping herself or the situation by remaining quiet and just becoming upset and holding everything in. I theorized that perhaps Betty and I were both supposed to be learning something from the situation and perhaps there was even something we could learn from each other. The amazing thing is that I needed to become more reflective and soft-spoken, like Betty, and it seemed that Betty needed to become more outspoken and forceful.
Tôi bỗng hiểu rằng tôi cần thôi đáp ứng với Nancy theo lối nóng nảy, quyết liệt, cộc cằn vốn có thể là một phần của phàm ngã tôi. Tôi cũng hiểu rằng Betty đang không giúp chính mình hay tình hình bằng cách cứ im lặng rồi khó chịu, dồn nén mọi thứ. Tôi giả thuyết rằng có lẽ cả Betty và tôi đều phải học một điều gì đó từ tình huống này và thậm chí có khi chúng tôi có thể học lẫn nhau nữa. Điều đáng kinh ngạc là tôi cần trở nên điềm đạm và nói năng nhẹ nhàng hơn, giống Betty, và có vẻ Betty cần trở nên quả quyết và dứt khoát hơn.
Although it was challenging for both Alan and Betty, they had a conversation and decided to give it a try. During their next meeting with Nancy, Betty was the one that spoke up in a more decisive manner and Alan remained reflective, although he admits he “had to say something” about one of the issues and tried to do so in a more soft-spoken manner. According to Betty, the results speak for themselves:
Dẫu khó khăn cho cả Alan lẫn Betty, họ đã trò chuyện và quyết định thử. Trong cuộc họp tiếp theo với Nancy, Betty là người lên tiếng với giọng điệu dứt khoát hơn và Alan giữ thái độ điềm tĩnh, dù anh thừa nhận anh “phải nói vài điều” về một trong các vấn đề và cố gắng nói theo cách nhẹ nhàng hơn. Theo Betty, kết quả tự nó đã nói lên:
Over the last six months our arguments are about one-fourth what they used to be. I can’t speak for Nancy because we haven’t talked about the issue in these terms, but I know Alan comes across much more calm and collected and I try to be more assertive and less of a pushover. I can’t say it’s always been easy. Sometimes during a meeting I see Alan’s look and I know he wants to say something and doesn’t or he’s expecting me to say something and I haven’t, but overall I think both my brother and I have grown in our capacity to deal with our sister. I also think we’ve grown as human beings.
Sáu tháng qua, các cuộc cãi vã của chúng tôi giảm còn khoảng một phần tư so với trước. Tôi không thể nói thay cho Nancy vì chúng tôi chưa bàn vấn đề theo các thuật ngữ này, nhưng tôi biết Alan thể hiện bình tĩnh và điềm đạm hơn nhiều và tôi cố gắng quả quyết hơn, bớt dễ bị lấn lướt. Tôi không thể nói là luôn dễ dàng. Đôi khi trong một cuộc họp, tôi thấy ánh mắt của Alan và tôi biết anh muốn nói điều gì đó nhưng lại không nói, hoặc anh đang chờ tôi nói mà tôi chưa nói, nhưng nhìn chung tôi nghĩ cả anh trai và tôi đều đã lớn lên trong năng lực đối diện với chị gái. Tôi cũng nghĩ chúng tôi đã trưởng thành hơn như những con người.
In the same way that Betty and Alan came to understand that the successful meeting of karma was somehow connected to personal development and soul growth, an adult male who had ongoing problems with his father and wondered about the advisability of simply avoiding the karmic situation was counseled by Edgar Cayce:
Cũng như Betty và Alan đi đến hiểu biết rằng việc gặp gỡ nghiệp thành công có liên hệ nào đó với phát triển cá nhân và trưởng thành linh hồn, một người đàn ông trưởng thành có vấn đề dai dẳng với cha và băn khoăn liệu đơn giản tránh né tình huống nghiệp có nên chăng đã được Edgar Cayce khuyên nhủ:
These conditions should be worked out in self. This should be the attitude of self … With what measure ye mete, with what condemnation ye make, so shall it be measured to you again! Ye cannot hide thine self in numbers, in running away to distant places or anywhere! Self is ever in the presence of the godly conditions of thy making … Ask not who will ascend to bring peace and harmony from on high, or where shall I go to seek peace and harmony abroad. Know it must be created within thine own heart, and soul!
Những điều kiện này nên được giải quyết trong chính mình. Đó nên là thái độ của ngươi … Với thước đo nào ngươi đo người khác, với lên án nào ngươi đưa ra, thì sẽ được cân lại cho ngươi như vậy! Ngươi không thể ẩn mình trong đám đông, trong việc chạy trốn đến những nơi xa xôi hay bất cứ đâu! Cái tôi luôn ở trong sự hiện diện của các điều kiện thiêng liêng do chính ngươi tạo nên … Đừng hỏi ai sẽ thăng lên để mang bình an và hòa hợp từ trên cao xuống, hoặc ta sẽ đi đâu để tìm bình an và hòa hợp ở nơi xa. Hãy biết rằng nó phải được tạo ra trong chính trái tim và linh hồn của ngươi!
1264-1
1264-1
On a number of occasions, Edgar Cayce discussed the fact that growing in personal awareness and the overcoming of personal karma were inextricably connected. One example is the story of a thirty-one-year-old woman who came to him for help suffering from what was labeled “emotional hysteria.” The woman’s problem developed after a miscarriage and also included the loss of her voice, and the inability to swallow foods and eat normally. Although doctors thought she might have had a stroke or was suffering from a mental condition, Cayce explained that the condition was karmic and was apparently connected to the loss of a child in a former life—a condition that had been brought to her subconscious awareness after the miscarriage. He stated that she did not have a mental problem, instead the condition had arisen deep within the consciousness of her being in the form of karmic memory, resulting in the pathological condition she was experiencing. Although the treatment included various physical therapies and a specialized diet, Cayce contended that the most helpful treatment would be daily meditation, attuning to the divine within and then using that inspiration to be of “material, mental and spiritual aid to others.”
Nhiều lần, Edgar Cayce luận rằng việc tăng trưởng trong nhận thức cá nhân và việc vượt qua nghiệp cá nhân gắn kết với nhau đến không thể tách rời. Một ví dụ là câu chuyện của một phụ nữ ba mươi mốt tuổi đến nhờ Ngài giúp đỡ vì tình trạng được gán nhãn “cuồng loạn cảm xúc.” Vấn đề của Bà phát sinh sau một vụ sảy thai và còn gồm mất tiếng nói, không thể nuốt thức ăn và ăn uống bình thường. Dù các bác sĩ nghĩ Bà có thể đã bị đột quỵ hay mắc một rối loạn tâm thần, Cayce giải thích rằng tình trạng ấy mang tính nghiệp quả và dường như gắn với việc mất một đứa con trong kiếp trước—một tình trạng đã được đưa lên tầng nhận biết tiềm thức của Bà sau lần sảy thai. Ngài nói rằng Bà không mắc vấn đề tâm thần, mà tình trạng này khởi lên từ sâu trong tâm thức của hữu thể Bà dưới dạng ký ức nghiệp quả, đưa đến tình trạng bệnh lý Bà đang trải qua. Dù phác đồ gồm nhiều trị liệu thể chất và một chế độ ăn đặc biệt, Cayce cho rằng trị liệu hữu ích nhất sẽ là tham thiền hằng ngày, hòa điệu với điều thiêng liêng nội tại rồi dùng cảm hứng ấy để trở thành “sự trợ giúp về vật chất, trí tuệ và tinh thần cho người khác.”
What is most interesting in this case, however, is, after outlining the recommended treatment and emphasizing the importance of spiritual attunement in the woman’s healing process, Cayce added that the condition could actually be reversed “almost instantly” through hypnosis. While hypnosis would not enable her to actually meet the karma and therefore should be tried only as a last resort, the condition would return or it would have to be met at some point in the woman’s future. (The importance of gaining a specific awareness in this process of overcoming karma will be discussed in greater detail in the next chapter on “Karma Versus Grace.”) The woman’s reading ended with the following:
Điều đáng chú ý nhất trong trường hợp này, tuy vậy, là sau khi phác thảo trị liệu đề nghị và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hòa điệu tinh thần trong tiến trình chữa lành của người phụ nữ, Cayce bổ sung rằng tình trạng này thực ra có thể được đảo ngược “gần như tức thì” qua thôi miên. Dù thôi miên sẽ không giúp Bà thật sự gặp nghiệp và vì thế chỉ nên dùng như biện pháp sau cùng, tình trạng ấy sẽ quay trở lại hoặc nó sẽ phải được gặp vào một lúc nào đó trong tương lai của người phụ nữ. (Tầm quan trọng của việc đạt một nhận thức cụ thể trong tiến trình vượt qua nghiệp sẽ được bàn kỹ hơn trong chương kế tiếp về “Nghiệp quả và Ân sủng.”) Bài đọc của người phụ nữ khép lại với những lời sau:
For, all healing comes from the one source. And whether there is the application of foods, exercise, medicine, or even the knife—it is to bring the consciousness of the forces within the body that aid in reproducing themselves—the awareness of creative or God forces.
Vì, mọi sự chữa lành đều đến từ một nguồn duy nhất. Và bất kể có ứng dụng thực phẩm, luyện tập, dược phẩm, hay thậm chí là dao mổ—đều là nhằm mang đến ý thức về các lực trong thân thể, vốn hỗ trợ tự tái sinh—tức là nhận biết về các lực Sáng Tạo hay của Thượng đế.
2696-1
2696-1
Frequently, the Cayce readings demonstrate how karma can manifest through a health situation or problem because often the entire family is affected and/or involved in the problem or in the search for healing. (Refer to the story of Franklin, Julia and Debbie Wagner discussed in Chapter 3 for an earlier example). An interesting case concerned an eleven-year-old boy who came to Edgar Cayce with a severe bedwetting problem. As a last resort, the parents obtained a reading because doctors had been unable “to find a cause or cure.” Regardless of what the boy ate or drank or regardless of how the boy’s parents tried to help their son, the child wet the bed every single night According to the boy’s mother: “Every night. We expected it. We never scolded him or blamed him, nor tried to make him unhappy over it. We tried all kinds of methods, advised by many doctors. As, no fluids after 3 o’clock, giving him salty foods and nothing to drink (supposed to absorb the fluids), etc.”
Thường xuyên, các bài đọc của Cayce cho thấy nghiệp có thể biểu hiện qua một tình huống hay vấn đề sức khỏe bởi vì nhiều khi cả gia đình đều bị ảnh hưởng và/hoặc liên đới trong vấn đề hay trong hành trình tìm kiếm chữa lành. (Xin tham chiếu câu chuyện về Franklin, Julia và Debbie Wagner đã được bàn trong như một ví dụ trước đó). Một trường hợp thú vị liên quan đến một cậu bé mười một tuổi đến gặp Edgar Cayce vì bị đái dầm nặng. Như một biện pháp sau cùng, cha mẹ xin một bài đọc vì các bác sĩ đã không thể “tìm ra nguyên nhân hay cách chữa.” Bất kể cậu bé ăn uống gì hay cha mẹ đã cố giúp con ra sao, đứa trẻ đái dầm mỗi đêm. Theo lời mẹ cậu bé: “Đêm nào cũng vậy. Chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần. Chúng tôi không bao giờ mắng mỏ hay đổ lỗi cho con, cũng không làm con buồn vì chuyện đó. Chúng tôi thử mọi cách, theo khuyên nhủ của nhiều bác sĩ. Như là, sau 3 giờ chiều không uống chất lỏng, cho ăn mặn và không cho uống gì (được cho là để hấp thu chất lỏng), v.v.”
During the course of the boy’s reading, Cayce traced the problem to a lifetime during the late seventeenth century when he had been an associate minister and somewhat of a tyrant during the Salem witch trials. In that life the boy’s name had been Marshall Whittaker, and Marshall had been fond of the practice of “ducking” a witch—plunging an individual accused of witchcraft into a lake or a pond to prove guilt or innocence. According to belief at the time, if the individual floated he or she was guilty of witchcraft; if the individual drowned he or she was innocent. The reading stated that the nightly bedwetting was essentially the lawful response for the soul’s “ducking” of others; in other words, each night he was symbolically “ducking” himself. The reading went on to say that in time the bedwetting would cause an even greater emotional problem in the boy’s life unless he overcame he tendency of being so condemning of others. A portion of the young man’s reading is as follows:
Trong quá trình bài đọc, Cayce truy nguyên vấn đề về một kiếp sống cuối thế kỷ mười bảy khi cậu từng là một mục sư phụ tá và phần nào có tính bạo tyr trong các phiên tòa xét xử phù thủy tại Salem. Trong đời đó, tên cậu là Marshall Whittaker, và Marshall ưa chuộng thực hành “dìm nước” phù thủy—nhúng người bị cáo buộc phù thủy xuống hồ hay ao để chứng minh tội hay vô tội. Theo tín niệm thời ấy, nếu người đó nổi thì có tội phù thủy; nếu chết đuối thì vô tội. Bài đọc nói rằng việc đái dầm mỗi đêm về bản chất là đáp ứng hợp luật cho việc linh hồn đã “dìm nước” người khác; nói cách khác, mỗi đêm cậu đang tượng trưng “dìm” chính mình. Bài đọc tiếp rằng theo thời gian, việc đái dầm sẽ gây một vấn đề cảm xúc còn lớn hơn trong đời cậu nếu cậu không vượt qua xu hướng kết án người khác quá mức. Một phần bài đọc cho chàng trai như sau:
Before this, then, the entity was in the land of the present nativity, but during the early periods when there were those disturbances wrought by the activity of the minister of a church—as of one Marshall Whittaker.
Trước đó, thực thể ở trong vùng đất là nơi đầu thai hiện tại, nhưng vào giai đoạn đầu khi có những xáo trộn gây ra bởi hoạt động của vị mục sư của một giáo đường—như là một người tên Marshall Whittaker.
The entity then was the minister, or the associate minister, who caused the uprising and the condemnation of children who saw, who heard, who experienced the voices of those in the inter-between.
Thực thể khi ấy là mục sư, hay mục sư phụ tá, người đã gây nên cuộc nổi dậy và sự lên án những đứa trẻ đã thấy, đã nghe, đã trải nghiệm những tiếng nói của những kẻ ở khoảng trung gian.
And because of the entity’s condemning there was brought a hardship into the experience of the entity, especially the adopting of that rule of “ducking” others.
Và vì sự kết án của thực thể nên có một gian truân được mang vào trải nghiệm của thực thể, đặc biệt là việc chấp nhận luật “dìm nước” người khác.
Hence the entity physically has experienced the ducking, from its own self, in its daily activities—which will grow to become more and more of a hindrance in self, unless there will be set aright that incoordination between the mental mind, or the physical mind and the spiritual mind of the individual entity, as related to condemnation of things in others.
Vì thế thực thể về mặt thể xác đã trải nghiệm việc bị dìm, bởi chính mình, trong các hoạt động hằng ngày—điều mà sẽ tăng lớn, trở thành chướng ngại trong chính mình, trừ khi sẽ được sửa ngay sự bất điều hòa giữa tâm trí trí tuệ, hay tâm trí thể xác và tâm trí tinh thần của thực thể cá nhân, liên hệ đến việc kết án các điều nơi người khác.
And these, as indicated in the present, are conflicting emotions in the experience of the entity. Hence, unless changes are made, these will grow to be more and more of such a nature as to cause the entity to turn within. For, such conditions will bring that tendency for the entity to subjugate its opinions, when these become expressions, especially after the twelfth, thirteenth and fourteenth year of experience.
Và như đã chỉ ra trong hiện tại, đây là những cảm xúc xung đột trong trải nghiệm của thực thể. Do đó, nếu không có thay đổi, chúng sẽ tăng trưởng, trở nên ngày càng có tính chất khiến thực thể quay vào trong. Vì, những điều kiện như thế sẽ mang đến xu hướng nơi thực thể là khuất phục các ý kiến của mình, khi các ý kiến ấy trở thành biểu lộ, nhất là sau năm thứ mười hai, mười ba và mười bốn của trải nghiệm.
2779-1
2779-1
To overcome the condition, as well as the soul’s tendency of being condemning, the reading recommended pre-sleep suggestion. Each night as the boy was falling asleep, the parents were encouraged to make positive statements to the youth—statements that would describe the kind of behavior that the parents hoped the boy would emulate in his relationships with others. These statements were supposed to have an immediate and lasting effect upon the boy’s subconscious mind. The boy’s mother eventually reported on how they had followed the reading’s recommendations:
Để vượt qua tình trạng này, cũng như xu hướng kết án người khác của linh hồn, bài đọc khuyến nghị ám thị trước khi ngủ. Mỗi đêm khi cậu bé chập chờn ngủ, cha mẹ được khuyến khích nói với cậu những lời khẳng định tích cực—những mệnh đề mô tả kiểu hành vi mà cha mẹ hy vọng con sẽ noi theo trong các mối liên hệ với người khác. Những mệnh đề này được cho là có tác động tức thời và bền vững lên tiềm thức của cậu. Mẹ cậu bé kể lại việc họ đã làm theo khuyến nghị:
At first we did nothing about it, thinking that a hypnotist was necessary, and we didn’t want that. But then we thought we’d try suggestion ourselves. So I sat by his bedside and just as he was dropping off to sleep I said: “You’re going to be very happy, [2779]. You’re going to make many people happy. You’re going to do many kind things for people. Every person you meet you will do something kind for.” The very first night we tried this, he was dry! We kept giving him the suggestion every night and he never wet the bed again until he went to camp on the 1st of August. The counselor knew nothing about the situation; he wet the bed all the time in camp. At the end of the first week we went out to visit him, and I spoke to the Camp Counselor about it, giving him the suggestion. He gave it to [2779] every night, and he stopped wetting the bed. We continued giving the suggestion every night until the next September. Then one night we stopped, and he was dry just the same; and ever after that. The suggestion was no longer necessary. Very, very occasionally since then it has happened.
Ban đầu chúng tôi không làm gì, nghĩ rằng cần một nhà thôi miên, mà chúng tôi lại không muốn thế. Nhưng rồi chúng tôi nghĩ sẽ tự mình thử ám thị. Vậy là tôi ngồi bên giường, và ngay lúc con sắp thiếp đi, tôi nói: “Con sẽ rất hạnh phúc, [2779]. Con sẽ làm nhiều người hạnh phúc. Con sẽ làm nhiều điều tử tế cho mọi người. Mỗi người con gặp, con sẽ làm một điều tốt cho họ.” Ngay đêm đầu tiên chúng tôi thử điều này, con đã khô ráo! Chúng tôi tiếp tục đưa ra ám thị mỗi đêm và con không đái dầm nữa cho đến khi đi trại vào ngày 1 tháng Tám. Người phụ trách trại không biết gì về tình trạng này; con đái dầm suốt khi ở trại. Cuối tuần đầu, chúng tôi đến thăm, và tôi nói với người phụ trách về chuyện đó, đưa cho ông ấy lời ám thị. Ông ấy nói với [2779] mỗi đêm, và con ngừng đái dầm. Chúng tôi tiếp tục đưa ra ám thị hằng đêm cho đến tháng Chín kế tiếp. Rồi một đêm chúng tôi ngừng, và con vẫn khô ráo như thường; và từ đó về sau. Ám thị không còn cần thiết nữa. Thỉnh thoảng, rất rất hiếm hoi từ đó, nó mới xảy ra.
Since the successful meeting of karma often requires personal soul development, the Cayce information presents three keys to soul growth that are applicable to each and every soul. Those keys include: setting a spiritual ideal, the application of spiritual principles, and personal attunement to the divine. Each of these is discussed in greater detail below:
Vì việc gặp gỡ nghiệp thành công thường đòi hỏi phát triển linh hồn cá nhân, thông tin của Cayce đưa ra ba chìa khóa cho sự trưởng thành linh hồn, có thể ứng dụng cho mọi linh hồn. Những chìa khóa đó gồm: lập một lý tưởng tinh thần, ứng dụng các nguyên tắc tinh thần, và hòa điệu cá nhân với điều thiêng liêng. Mỗi điểm được bàn kỹ hơn dưới đây:
Setting a Spiritual Ideal
Lập một Lý tưởng Tinh thần
Repeatedly, the Edgar Cayce readings told individuals that the most important tool they could use to help transform their lives was to set a spiritual ideal. Essentially an ideal is a positive spiritual quality or standard that is vital in each person’s movement toward wholeness. Examples might include such behaviors as unconditional love, forgiveness, empathy, oneness, cooperation, and so forth. Every spiritual ideal is essentially a component of the ultimate ideal, which is the “awareness within each soul … of the soul’s oneness with God.” (5749-14) A selection of the case histories from the Cayce files that connected the overcoming of family karma with the establishment of a spiritual ideal include the following:
Nhiều lần, các bài đọc của Edgar Cayce nói với mọi người rằng công cụ quan trọng nhất họ có thể dùng để giúp chuyển hóa đời sống là lập một lý tưởng tinh thần. Về bản chất, một lý tưởng là một phẩm chất hay chuẩn mực tinh thần tích cực có tính sống còn cho hành trình tiến đến sự toàn vẹn của mỗi người. Ví dụ có thể gồm những hành vi như yêu vô điều kiện, tha thứ, đồng cảm, nhất thể, hợp tác, v.v. Mọi lý tưởng tinh thần rốt lại đều là một thành phần của lý tưởng tối hậu, đó là “sự nhận biết trong mỗi linh hồn … về sự nhất thể của linh hồn với Thượng đế.” (5749-14) Một số trích đoạn hồ sơ trường hợp từ các hồ sơ Cayce kết nối việc vượt qua nghiệp gia đình với việc thiết lập một lý tưởng tinh thần gồm những điều sau:
When a twenty-three-year-old man asked about the means through which he could create “harmonious relations” with his mother, Cayce advised:
Khi một chàng trai hai mươi ba tuổi hỏi về phương cách để tạo “những mối liên hệ hài hòa” với mẹ mình, Cayce khuyên:
Set thyself a standard, an ideal. Not merely an ideal of filial or home or social relationships, or political or any other type, but an ideal relationship as with friends and foes alike. The ideal relationship as would be in a mental self to all associations, the ideal relationship as in the spiritual. And know, all has to be founded upon what spiritual ideal is. For, this alone is universal, and this alone is eternal. That which is safe, sure, peace, harmonious, can only be founded on the spiritual ideal.
Hãy tự đặt ra cho mình một chuẩn mực, một lý tưởng. Không chỉ là lý tưởng về mối quan hệ hiếu thảo hay trong nhà hay xã hội, hay chính trị hay bất cứ kiểu nào khác, mà là một mối quan hệ lý tưởng như với cả bạn lẫn thù. Mối quan hệ lý tưởng như sẽ có trong tự tâm trí đối với mọi giao tiếp, mối quan hệ lý tưởng như trong lĩnh vực tinh thần. Và hãy biết, mọi sự đều phải đặt nền trên lý tưởng tinh thần là gì. Vì chỉ điều này là phổ quát, và chỉ điều này là vĩnh cửu. Cái gì an toàn, chắc chắn, bình an, hài hòa, chỉ có thể được đặt nền trên lý tưởng tinh thần.
Know thy ideal—what it stands for! Know Who is the author of same. And then live it!
Hãy biết lý tưởng của ngươi—nó đại diện cho điều gì! Hãy biết Ai là Đấng tác thành của điều ấy. Và rồi sống theo nó!
This will establish better relationships with self and with the mother, with the friends and acquaintances. For, then, personalities cease to be the barriers that cause contentions or inharmony.
Điều này sẽ tạo lập mối liên hệ tốt đẹp hơn với chính mình và với người mẹ, với bạn bè và quen biết. Vì rồi, các phàm ngã thôi còn là những hàng rào gây tranh chấp hay bất hòa.
1931-4
1931-4
On another occasion, a woman having relationship problems with her husband asked, “What can be done for greater harmony between us?” The response recommended that the couple unify their purposes and ideals:
Một lần khác, một phụ nữ đang có vấn đề trong mối liên hệ với chồng hỏi, “Có thể làm gì để giữa chúng tôi hài hòa hơn?” Câu trả lời khuyến nghị hai người phối hiệp các mục đích và lý tưởng:
Let each be of one purpose; not necessarily thinking the same on questions, but their ideals and purposes. Let each think of the other and not of self alone. Know that the relationships in the present should be ever as much for the other as for self …
Để mỗi người cùng một mục đích; không nhất thiết nghĩ giống nhau về các câu hỏi, nhưng giống nhau trong lý tưởng và mục đích. Hãy để mỗi người nghĩ về người kia chứ không chỉ nghĩ về riêng mình. Hãy biết rằng các mối liên hệ trong hiện tại luôn luôn nên vì người kia không kém gì vì chính mình …
These each have ideals. Make them coordinate with the material, the mental and the spiritual lives of each. Know that it must begin in the spiritual. Then material results will be brought into the experience as the mind is controlled towards those ideals set by each as to the spirit with which they will control and act in relationships one to another.
Mỗi người trong số này đều có lý tưởng. Hãy làm cho chúng phối hợp với đời sống vật chất, trí tuệ và tinh thần của mỗi người. Hãy biết rằng nó phải khởi đầu trong lĩnh vực tinh thần. Khi ấy, các kết quả vật chất sẽ được mang vào trải nghiệm khi tâm trí được điều hướng về các lý tưởng mà mỗi người đã lập, theo tinh thần mà họ sẽ kiểm soát và hành xử trong mối liên hệ với nhau.
3051-4
3051-4
Similarly, in a reading for a forty-four-year-old music teacher, Cayce stated that the essential problem in the teacher’s relationships with others was his tendency to be self-centered, that he had forgotten the importance of the divine in his daily life and that he had yet to set a spiritual ideal. The reading’s advice included the following:
Tương tự, trong một bài đọc cho một thầy dạy nhạc bốn mươi bốn tuổi, Cayce nói rằng vấn đề cốt yếu trong các mối liên hệ của người thầy với người khác là xu hướng tự kỷ trung tâm; rằng Ông đã quên mất tầm quan trọng của điều thiêng liêng trong đời sống hằng ngày và rằng Ông vẫn chưa lập một lý tưởng tinh thần. Lời khuyên trong bài đọc gồm những điều sau:
Yet remember, “The Lord thy God is one Lord!” O that man would but attain to that consciousness and apply that principle in his dealings with every activity …
Tuy nhiên, hãy nhớ, “Chúa là Thượng đế của ngươi là Chúa duy nhất!” Ôi ước gì con người đạt tới được tâm thức ấy và áp dụng nguyên lý đó trong cách xử sự với mọi hoạt động …
Thou shalt love the Lord thy God with all thy heart, thy mind, thy body: thy neighbor as thyself! … For this is the beginning and the end of the law …
Ngươi hãy yêu Chúa là Thượng đế của ngươi hết lòng, hết trí, hết thân: và yêu người lân cận như chính mình! … Vì đây là khởi đầu và kết thúc của luật pháp …
Find thy ideals, and then study to show thyself approved unto same; rightly stressing the words of truth, applying them in that same phase of consciousness, whether to spiritual, mental or physical-material phases.
Hãy tìm lý tưởng của ngươi, và rồi học tập để tỏ mình xứng hợp với điều ấy; nhấn mạnh cho đúng những lời chân lý, và áp dụng chúng trong cùng một bình diện tâm thức, dù là đối với các phương diện tinh thần, trí tuệ hay vật chất-thể xác.
5142-1
5142-1
Simply stated, a spiritual ideal is a motivating influence that an individual uses to measure her or his thoughts and actions. This ideal then leads to appropriate attitudes and activities that will help to manifest the spiritual ideal in daily life. As an illustration, if the chosen spiritual ideal is forgiveness then the individual would attempt to dwell upon those thoughts, attitudes and ideas that helped to nurture the ideal of forgiveness. If a parent was trying to work with the ideal of forgiveness in relationship to a grown child, for example, then any former attitudes that did not measure up to that ideal would not be appropriate. Appropriate attitudes might include such things as forgiveness itself, unconditional love, compassion, understanding, and so forth. Each of those positive attitudes should then empower activities and interactions that help to manifest that spiritual ideal. Using this same example, perhaps the attitude of forgiveness might lead to the activity of writing a note to the child in an effort to try to heal the relationship. The attitude of understanding might lead to the activity of “active listening” during the next encounter with the child. The attitude of compassion might lead to the activity of daily meditation, focusing on compassion, and so forth. It is in this manner that a spiritual ideal begins to affect and alter an individual’s thoughts and activities in daily life. From Cayce’s perspective, if a potential thought or action does not measure up to one’s chosen spiritual ideal, then it is neither helpful nor appropriate.
Nói giản dị, một lý tưởng tinh thần là một lực thúc đẩy mà một người dùng để cân đo các ý nghĩ và hành động của mình. Lý tưởng này rồi sẽ dẫn đến các thái độ và hoạt động tương ứng giúp biểu lộ lý tưởng tinh thần trong đời sống hằng ngày. Chẳng hạn, nếu lý tưởng tinh thần được chọn là tha thứ, thì người ấy sẽ nỗ lực nuôi dưỡng các ý nghĩ, thái độ, ý niệm giúp bồi đắp lý tưởng tha thứ. Nếu một bậc cha mẹ đang cố gắng làm việc với lý tưởng tha thứ trong mối liên hệ với một người con đã trưởng thành, chẳng hạn, thì mọi thái độ trước đây không đo được theo lý tưởng ấy sẽ không còn thích đáng. Các thái độ thích đáng có thể gồm chính sự tha thứ, yêu vô điều kiện, từ bi, thấu hiểu, v.v. Mỗi thái độ tích cực đó rồi nên trao quyền cho các hoạt động và tương tác giúp biểu lộ lý tưởng tinh thần. Vẫn theo ví dụ này, có lẽ thái độ tha thứ có thể dẫn đến hành động viết một lá thư cho người con nhằm chữa lành mối liên hệ. Thái độ thấu hiểu có thể dẫn đến hoạt động “lắng nghe tích cực” trong lần gặp gỡ tiếp theo với con. Thái độ từ bi có thể dẫn đến hoạt động tham thiền hằng ngày, tập trung vào lòng từ bi, v.v. Chính theo cách này, một lý tưởng tinh thần bắt đầu ảnh hưởng và chuyển đổi các ý nghĩ, hoạt động của một người trong đời sống hằng ngày. Theo quan điểm của Cayce, nếu một ý nghĩ hay hành động tiềm tàng không đo được theo lý tưởng tinh thần đã chọn, thì nó không hữu ích cũng chẳng thích đáng.
When working with ideals, the readings suggested creating three columns. Label the first, “My Spiritual Ideal,” and list whatever ideal is currently being worked with. Label the second, “My Mental Attitudes,” and list perhaps four to seven attitudes that can best facilitate the manifestation of that spiritual ideal. Finally, label the third column, “My Physical Activities,” and generate one or two activities for each of the attitudes on the list. Actually, creating an ideals chart is one of the readings’ most frequent recommendations for how to apply spiritual principles in daily life.
Khi làm việc với lý tưởng, các bài đọc gợi ý lập ba cột. Đặt nhãn cột thứ nhất, “Lý tưởng Tinh thần của tôi,” và liệt kê lý tưởng đang được làm việc. Đặt nhãn cột thứ hai, “Các Thái độ Trí tuệ của tôi,” và liệt kê khoảng bốn đến bảy thái độ có thể giúp nhất cho việc biểu lộ lý tưởng tinh thần ấy. Cuối cùng, đặt nhãn cột thứ ba, “Các Hoạt động Thể chất của tôi,” và tạo ra một hoặc hai hoạt động cho mỗi thái độ trong danh sách. Quả thật, lập một bảng lý tưởng là một trong những khuyến nghị xuất hiện thường xuyên nhất về cách ứng dụng các nguyên tắc tinh thần trong đời sống hằng ngày.
The Application of Spiritual Principles
Sự Ứng dụng các Nguyên tắc Tinh thần
Once an individual has gained an awareness of specific qualities or principles that might be helpful in meeting a situation, the next step is applying those principles. For example, a thirty-six-year-old secretary who had expressed concerns about problems she was having in various karmic relationships was told: “As ye would be forgiven, so forgive in others. That is the manner to meet karma.” (2271-1) In terms of personal application, oftentimes the readings used the phrase, “Do what you know to do and the next step will be given,” suggesting that the greatest challenge in application was not so much discovering what needed to be accomplished but instead actually following through on applying it.
Khi một người đã nhận ra những phẩm chất hay nguyên tắc cụ thể có thể hữu ích để đối diện một tình huống, bước tiếp theo là áp dụng các nguyên tắc ấy. Chẳng hạn, một thư ký ba mươi sáu tuổi bày tỏ lo lắng về các vấn đề trong nhiều mối liên hệ mang tính nghiệp được nói: “Như ngươi muốn được tha thứ, hãy tha thứ cho người khác. Đó là cách để gặp nghiệp.” (2271-1) Về phương diện ứng dụng cá nhân, nhiều khi các bài đọc dùng câu: “Hãy làm điều ngươi biết phải làm, và bước kế tiếp sẽ được ban cho,” ngụ ý rằng thách thức lớn nhất trong việc ứng dụng không hẳn là khám phá cần làm gì mà là quả quyết làm theo điều đã biết.
On another occasion, during the course of a follow-up life reading given to a thirty-three-year-old woman who wanted to know what she could do to prevent herself from becoming so upset by the “little things” that her husband did—things that apparently drove her crazy. The reading suggested that her response was simply a carryover from their English incarnation together when she had been extremely willful and disagreements between them had often been the result of her willfulness. In order to meet this karmic memory, she was told to extract herself and her will from the situation, to set it aside, and to consciously let it go. The reading assured her that in this process she could overcome her response to the situation. (2390-9) Conversely, during the husband’s follow-up reading, the couple was encouraged to begin using the following affirmation each day:
Một lần khác, trong một bài đọc đời sống tiếp theo cho một phụ nữ ba mươi ba tuổi muốn biết Bà có thể làm gì để không còn quá bực bội vì “những chuyện nhỏ” do chồng làm—những chuyện rõ ràng khiến Bà phát điên. Bài đọc gợi ý rằng phản ứng của Bà đơn giản là một dư hưởng từ kiếp sống người Anh cùng nhau, khi Bà cực kỳ cố chấp và bất đồng giữa họ thường do ý chí cứng rắn của Bà. Để gặp ký ức nghiệp ấy, Bà được bảo hãy rút chính mình và ý chí của mình ra khỏi tình huống, gác nó sang bên, và ý thức buông bỏ. Bài đọc quả quyết với Bà rằng trong tiến trình này, Bà có thể vượt qua phản ứng với tình huống. (2390-9) Ngược lại, trong bài đọc tiếp theo cho người chồng, cặp đôi được khuyến khích bắt đầu dùng lời khẳng định sau đây mỗi ngày:
Then, let the prayer of each be—three times each day—agree upon a time—not merely say it, but feel it, be it:
Vậy, hãy để lời cầu nguyện của mỗi người—mỗi ngày ba lần—thống nhất một thời điểm—không chỉ nói, mà cảm nhận, trở thành nó:
“Lord! Thy will be done in me, today. Lord, thy will be done in me today.”
“Lạy Chúa! Ý Chí của Ngài được nên trong con, hôm nay. Lạy Chúa, ý Chí của Ngài được nên trong con hôm nay.”
Then, as ye go about thy daily tasks, in associations with others, let thy words, thy acts, thy thoughts, be ever, “Lord, thy will be done in me today.”
Rồi, khi các ngươi đi làm các việc hằng ngày, trong liên hệ với người khác, hãy để lời nói, hành động, ý nghĩ của ngươi, luôn là, “Lạy Chúa, ý Chí của Ngài được nên trong con hôm nay.”
2533-7
2533-7
Similarly, Cayce encouraged a forty-four-year-old woman wanting to transform her life, overcome her personal karma and become a better person:
Tương tự, Cayce đã khích lệ một phụ nữ bốn mươi bốn tuổi đang mong muốn chuyển hóa đời sống, vượt qua nghiệp cá nhân và trở thành một con người tốt hơn:
Practice then in thy daily experience, and thy associations with thy fellow man, charity to all, love to all; finding fault with none; being patient with all, showing brotherly love and brotherly kindness. Against these there is no law! And ye who have put on and as ye put on these, by the application of them in thy dealings with thy fellow man, ye become free of the laws that are of body or of mind; for ye are then conscious of being one with the Creative Forces that bring into the experience and consciousness of all the love of the Father for the children of men.
Hãy thực hành trong kinh nghiệm hằng ngày của ngươi, và trong giao tiếp với đồng loại, lòng bác ái với mọi người, tình thương với tất cả; đừng bắt lỗi ai; kiên nhẫn với mọi người, biểu lộ tình huynh đệ và lòng nhân ái huynh đệ. Chống lại những điều ấy chẳng có định luật nào cả! Và các ngươi, những người đã khoác lấy và đang khoác lấy những điều này, bằng việc áp dụng chúng trong cách các ngươi đối đãi với đồng loại, các ngươi trở nên thoát khỏi những định luật thuộc thân hay thuộc trí; vì khi ấy các ngươi ý thức được mình là một với các Mãnh Lực Sáng Tạo, vốn mang vào kinh nghiệm và tâm thức của mọi người tình thương của Đức Cha dành cho những người con của nhân loại.
And it is only as ye deal with thy fellowman that ye show forth His love. For as ye do it unto the least of these, thy brethren, ye do it unto thy Maker.
Và chỉ khi các ngươi đối xử với đồng loại thì các ngươi mới thể hiện được Tình thương của Ngài. Vì khi các ngươi làm điều đó cho một người hèn mọn nhất trong các huynh đệ của các ngươi, là các ngươi đã làm cho Đấng Tạo Hóa của mình.
1620-1
1620-1
Cayce’s basic advice of simply applying what one knows to do was given to a thirty-two-year-old man who apparently felt he had experienced a very karmic first marriage and subsequently a negative divorce. The man was interested in pursuing other relationships but his first marriage had left him quite fearful of getting involved with someone else. Edgar Cayce encouraged the man to simply take it one step at a time:
Lời khuyên căn bản của Cayce về việc đơn giản áp dụng điều mình biết cần làm đã được đưa ra cho một người đàn ông ba mươi hai tuổi, người này dường như cảm thấy mình đã trải qua một cuộc hôn nhân đầu đầy nghiệp quả và sau đó là một cuộc ly hôn tiêu cực. Người đàn ông quan tâm đến việc theo đuổi những mối quan hệ khác nhưng cuộc hôn nhân đầu đã khiến anh ta khá sợ hãi việc gắn bó với ai khác. Edgar Cayce khích lệ người này hãy cứ tiến từng bước một:
Then, do that thou knowest to do today! Tomorrow will be given thee the next step to take.
Vậy thì, hãy làm điều ngươi biết cần làm hôm nay! Ngày mai sẽ cho ngươi bước tiếp theo để thực hiện.
Be patient; be gentle; be kind. Show brotherly love. For what ye sow, ye reap. What thou art today is because of what thou hast done about that which thou didst know towards doing good.
Hãy kiên nhẫn; hãy dịu dàng; hãy tử tế. Hãy biểu lộ tình huynh đệ. Vì gieo gì gặt nấy. Con người của ngươi hôm nay là vì những gì ngươi đã làm đối với điều mà ngươi đã biết là nhằm làm điều thiện.
815-3
815-3
Personal Attunement to the Divine
Sự Chỉnh hợp Cá nhân với Đấng Thiêng liêng
One of the most important transformative tools available to individuals is the act of attuning to the divine through both meditation and prayer. From Cayce’s perspective, prayer and meditation were instrumental in personal development; they were also the means through which an individual could effectively cultivate his or her spiritual ideal and develop the awareness of what the soul should be about at any moment in life. The readings described prayer as talking to God and meditation as listening to the divine within. A thirty-eight-year-old man was given the following definition of each: “For prayer is supplication for direction, for understanding. Meditation is listening to the Divine within.” (1861-19) The impact of personal attunement on an individual’s life is described by a contemporary forty-one-year-old woman, as follows:
Một trong những dụng cụ chuyển hóa quan trọng nhất sẵn có cho mỗi người là hành vi chỉnh hợp với Đấng thiêng liêng qua cả tham thiền và cầu nguyện. Theo quan điểm của Cayce, cầu nguyện và tham thiền đóng vai trò công cụ trong phát triển cá nhân; chúng cũng là phương tiện qua đó cá nhân có thể hữu hiệu vun trồng lý tưởng tinh thần của mình và phát triển nhận biết về việc linh hồn nên làm gì ở bất kỳ khoảnh khắc nào trong đời. Các bài đọc mô tả cầu nguyện là trò chuyện với Thượng đế và tham thiền là lắng nghe tiếng thiêng liêng ở bên trong. Một người đàn ông ba mươi tám tuổi đã được cho định nghĩa về mỗi điều như sau: “Vì cầu nguyện là lời khẩn cầu xin chỉ dẫn, xin thấu hiểu. Tham thiền là lắng nghe Đấng Thiêng liêng ở bên trong.” (1861-19) Tác động của sự chỉnh hợp cá nhân lên đời sống của một người được một phụ nữ bốn mươi mốt tuổi đương thời mô tả như sau:
Before my spiritual journey began I was beaten down, angry, despondent. I didn’t want to be like that but I was not able to change it—even after reading a number of self-help books. Finally, someone introduced me to meditation and it enabled me to change from within, to the very core of my being. Life is so much better, and the only thing that has really changed is me!
Trước khi hành trình tinh thần của tôi bắt đầu, tôi bị đánh quỵ, đầy giận dữ, chán nản. Tôi không muốn như thế nhưng tôi không thể thay đổi—even sau khi đọc nhiều sách tự lực. Cuối cùng, có người giới thiệu tôi với việc tham thiền và nó giúp tôi thay đổi từ bên trong, đến tận cốt lõi hiện hữu của tôi. Cuộc đời tốt hơn nhiều, và điều duy nhất thực sự thay đổi là chính tôi!
When a fifty-six-year-old woman came to Edgar Cayce, still holding onto regrets in her relationships, especially regrets related to a deceased sister and a karmic relationship she had once had with an old boyfriend, the reading recommended that she change her consciousness through prayer and meditation:
Khi một phụ nữ năm mươi sáu tuổi tìm đến Edgar Cayce, vẫn còn ôm giữ những nuối tiếc trong các mối quan hệ, đặc biệt là những nuối tiếc liên quan đến một người chị đã qua đời và một mối quan hệ nghiệp quả mà bà từng có với một người bạn trai cũ, bài đọc khuyến nghị bà hãy chuyển đổi tâm thức qua cầu nguyện và tham thiền:
Open thy consciousness and let it ever be as, not merely in words but in purposes, of hopes, of desires:
Hãy mở tâm thức của ngươi và để nó luôn như thế, không chỉ trong lời nói mà trong mục đích, trong hy vọng, trong ước muốn:
“Here am I, o Lord, use me, send me! And may I seek only to do, to be a channel through which thy blessings, thy promises, may be fulfilled to my friends, my neighbors, those about me. Others, Lord, others!”
“Con đây, lạy Chúa, xin dùng con, xin sai con đi! Và nguyện con chỉ tìm làm, trở nên một kênh qua đó các phước lành của Ngài, các lời hứa của Ngài, được ứng nghiệm cho bạn bè con, láng giềng con, những người quanh con. Những người khác nữa, lạy Chúa, những người khác nữa!”
In that attitude and in those manners may the entity fully enter into the more perfect understanding, not seeking something from without but knowing as the body, the mind, the soul-consciousness is attuned by meditation, by prayer to the infinite, the voice, the feeling, the hope may all come to thee.
Trong thái độ ấy và trong những cung cách ấy, thực thể có thể hoàn toàn bước vào sự thấu hiểu trọn vẹn hơn, không tìm kiếm điều gì từ bên ngoài mà biết rằng khi thân, trí và tâm thức linh hồn được chỉnh hợp bằng tham thiền, bằng cầu nguyện với Đấng Vô cùng, thì tiếng nói, cảm xúc, hy vọng đều có thể đến với ngươi.
5276-1
5276-1
Similarly, a thirty-one-year-old commercial artist interested in the karmic connection between himself and his wife, as well as between himself and a close friend, was informed of the connection between soul growth and spiritual attunement:
Tương tự, một họa sĩ thương mại ba mươi mốt tuổi quan tâm đến mối liên hệ nghiệp quả giữa chính mình và vợ, cũng như giữa mình và một người bạn thân, đã được chỉ rõ mối liên hệ giữa tăng trưởng linh hồn và sự chỉnh hợp tinh thần:
For the law is perfect, if the entity seeks to interpret and to apply the spiritual laws that change not except by their natural or actual growth. For each soul grows to the awareness, or to heaven—not go to heaven but grow to heaven, that is within the consciousness of each soul to attain if it applies self and meets oft in the temple of the living God within the individual entity.
Vì định luật là hoàn hảo, nếu thực thể tìm cách diễn giải và áp dụng những định luật tinh thần vốn không thay đổi ngoại trừ bởi sự tăng trưởng tự nhiên hay thực chất của chúng. Vì mỗi linh hồn tăng trưởng đến nhận biết, hay đến thiên đàng—không phải đi đến thiên đàng mà là lớn lên đến thiên đàng, vốn nằm trong tâm thức của mỗi linh hồn để đạt được nếu nó áp dụng tự ngã và thường gặp gỡ trong đền thờ của Thượng đế hằng sống ở trong chính thực thể cá nhân.
3605-1
3605-1
By working with these three keys to soul growth—setting a spiritual ideal, the application of spiritual principles, and personal attunement to the divine—individuals can overcome personal karma and grow in spiritual awareness. What follows are comments from a variety of contemporary individuals who have come to terms with the lawfulness of karma, the dynamic and necessity of “meeting self” and the importance of personal growth, spiritual development, and attunement to the divine:
Bằng việc làm việc với ba chìa khóa cho tăng trưởng linh hồn—đặt một lý tưởng tinh thần, áp dụng các nguyên tắc tinh thần, và sự chỉnh hợp cá nhân với Đấng thiêng liêng—cá nhân có thể vượt qua nghiệp quả cá nhân và tăng trưởng trong nhận biết tinh thần. Sau đây là những nhận xét từ nhiều người đương thời đã chấp nhận tính hợp luật của nghiệp quả, sự năng động và sự cần thiết của việc “gặp chính mình” và tầm quan trọng của tăng trưởng cá nhân, phát triển tinh thần, và chỉnh hợp với Đấng thiêng liêng:
From a forty-three-year-old man: “I have learned that all the things that have happened to me are because of me, not society, my family, the government, my ex-wife, or even the devil. I brought on all my problems myself. It is up to me, with God’s help, to change anything that I am not happy with. We are not victims.”
Từ một người đàn ông bốn mươi ba tuổi: “Tôi đã học được rằng mọi điều đã xảy đến với tôi là vì tôi, không phải xã hội, gia đình tôi, chính phủ, vợ cũ tôi, hay thậm chí ma quỷ. Chính tôi đã tự mang tất cả những vấn đề của mình đến. Tùy ở tôi, với sự trợ giúp của Thượng đế, để thay đổi bất cứ điều gì mà tôi không hài lòng. Chúng ta không phải là nạn nhân.”
From a fifty-two-year-old woman: “The concepts of karma and reincarnation made me understand that you cannot ‘cop out’ on any life experience. It’s important to learn to roll with every punch, or every challenge that comes your way, and ultimately we need to learn how to love ourselves and one another unconditionally.”
Từ một phụ nữ năm mươi hai tuổi: “Những khái niệm về nghiệp quả và luân hồi khiến tôi hiểu rằng bạn không thể ‘trốn tránh’ bất cứ kinh nghiệm sống nào. Điều quan trọng là học cách xoay xở với mọi cú đánh, hay mọi thách thức đến với bạn, và sau cùng chúng ta cần học cách yêu thương chính mình và nhau một cách vô điều kiện.”
A fifty-nine-year-old woman states: “I have overcome my long-lasting inferiority complexes and my fears of doing innovative, challenging tasks. I have learned to take responsibility for my mistakes and to go on searching to better myself.”
Một phụ nữ năm mươi chín tuổi nói: “Tôi đã vượt qua những mặc cảm tự ti kéo dài và nỗi sợ làm những việc mang tính đổi mới, thách thức. Tôi đã học cách chịu trách nhiệm cho lỗi lầm của mình và tiếp tục kiếm tìm để cải thiện bản thân.”
A sixty-two-year-old man attributes his ability to comprehend life’s lessons and his individual purpose to his awareness of the laws of reincarnation and karma: “For me, understanding how life works in terms of reincarnation and karma have been extremely helpful in understanding such questions as: ‘Who am I?’ ‘Why am I here?’ ‘Where am I going?’ and ‘What is the purpose of life?’”
Một người đàn ông sáu mươi hai tuổi quy việc có thể thấu hiểu những bài học của đời sống và mục đích cá nhân của ông cho nhận biết về các định luật luân hồi và nghiệp quả: “Đối với tôi, thấu hiểu cách đời sống vận hành theo quan hệ luân hồi và nghiệp quả đã vô cùng hữu ích trong việc hiểu những câu hỏi như: ‘Tôi là ai?’ ‘Tôi ở đây để làm gì?’ ‘Tôi sẽ đi đâu?’ và ‘Mục đích của đời sống là gì?’”
A forty-six-year-old man has a similar response:
Một người đàn ông bốn mươi sáu tuổi có phản hồi tương tự:
Knowing about my past lives helped me to work on letting go of unconscious resentment and anger. It also helped me to understand why I so often felt on guard around my father. I worked on learning that he really didn’t owe me anything. I worked on forgiveness and letting go of the idea that something was owed me. It really helped me to understand that my father didn’t owe me anything.
Biết về những tiền kiếp của mình đã giúp tôi làm việc để buông bỏ những oán hận và giận dữ vô thức. Nó cũng giúp tôi hiểu vì sao tôi thường cảm thấy phải cảnh giác khi ở cạnh cha mình. Tôi đã rèn tập để hiểu rằng ông thực sự chẳng mắc nợ tôi điều gì. Tôi đã làm việc với sự tha thứ và buông bỏ ý nghĩ rằng có điều gì đó nợ tôi. Nó thực sự giúp tôi hiểu rằng cha tôi chẳng nợ tôi điều gì.
A fifty-two-year-old woman adds: “Understanding karma has been extremely helpful in explaining my loves and hates, my fears and phobias, particularly those involving people who are close to me. In addition, approaching things—even bad things—with love has made a profound difference on my life.”
Một phụ nữ năm mươi hai tuổi bổ sung: “Hiểu nghiệp quả đã vô cùng hữu ích trong việc giải thích những yêu và ghét, những nỗi sợ và ám ảnh của tôi, đặc biệt là những điều liên quan đến những người thân cận với tôi. Thêm nữa, tiếp cận mọi sự—even những điều tồi tệ—bằng tình thương đã tạo nên khác biệt sâu xa đối với đời tôi.”
Another woman offers the following: “We contract for learning in our various lives, trying to apply the best that we know. Sooner or later we will all make it. Ultimately, we help each other along the way. I get exactly what I need, when I need it. There are no victims in the universe.”
Một phụ nữ khác đưa ra điều sau: “Chúng ta ký kết để học hỏi trong các đời sống khác nhau, cố gắng áp dụng điều tốt nhất mà chúng ta biết. Rồi sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ đạt. Sau cùng, chúng ta giúp nhau trên đường. Tôi nhận đúng điều tôi cần, vào đúng lúc tôi cần. Không có nạn nhân trong vũ trụ.”
A woman in her fifties discusses how a seemingly difficult challenge ended up being for her own good: “My divorce resulted in great growth for me. I feel I became a much stronger person and a much greater artist. I published a book on creativity and personal growth, became well known as an artist, got my MA, developed a business, began teaching on a university level, and so on.”
Một phụ nữ ở độ tuổi năm mươi bàn về cách một thách thức tưởng như khó khăn rốt cuộc lại là điều tốt cho bà: “Cuộc ly hôn mang lại sự tăng trưởng lớn lao cho tôi. Tôi cảm thấy mình trở nên một con người mạnh mẽ hơn nhiều và một nghệ sĩ lớn hơn nhiều. Tôi xuất bản một cuốn sách về sáng tạo và tăng trưởng cá nhân, trở nên nổi tiếng như một nghệ sĩ, lấy bằng Thạc sĩ, phát triển một doanh nghiệp, bắt đầu giảng dạy ở bậc đại học, v.v.”
A seventy-four-year-old woman had this to say: “It took me years to realize how loved I am. For so long I felt so invisible and insignificant. I tried so hard to be perfect and worthy. Now, I finally realize that I am a channel of blessings, and I try to reflect to others the bountiful love of God that so fills my heart. My cup runneth over and can’t hold it in. I am so blessed.”
Một phụ nữ bảy mươi bốn tuổi nói như sau: “Tôi mất nhiều năm mới nhận ra mình được yêu thương đến thế nào. Trong một thời gian dài tôi cảm thấy vô hình và vô nghĩa. Tôi đã cố gắng thật nhiều để trở nên hoàn hảo và xứng đáng. Giờ đây, cuối cùng tôi nhận ra rằng tôi là một kênh của phước lành, và tôi cố phản chiếu cho người khác tình yêu dạt dào của Thượng đế đang tuôn đầy trái tim tôi. Chén tôi đầy tràn và không thể giữ lại. Tôi thật được phước.”
A parent of three grown children learned the following:
Một phụ huynh có ba con đã trưởng thành đã học được điều sau:
I have come to know that my children are not an extension of myself but individuals on their own separate paths. We have come together for a joint purpose but their paths are uniquely their own. Perhaps I can be a role model for them and teach them and equally learn from them but I cannot know their path or purpose, I can only strive to find my own.
Tôi đã hiểu rằng con cái tôi không phải là sự nối dài của bản thân tôi mà là những cá thể đi trên những con đường riêng. Chúng ta đã đến với nhau vì một mục đích chung nhưng con đường của chúng là độc nhất của riêng chúng. Có lẽ tôi có thể làm gương cho chúng và dạy dỗ chúng và cũng học từ chúng, nhưng tôi không thể biết con đường hay mục đích của chúng, tôi chỉ có thể nỗ lực tìm ra con đường của chính mình.
Because of his life experiences and his growing awareness, a fifty-year-old man now understands the ongoing nature of soul growth: “I am far from being a perfect person but I have become a much better person. I have gotten to the point where I generally ask myself, ‘What am I supposed to be learning from this?’ Ultimately, all of my relationships have helped me to become a better person.”
Nhờ các kinh nghiệm đời sống và nhận biết đang tăng trưởng, một người đàn ông năm mươi tuổi giờ hiểu bản chất liên tục của tăng trưởng linh hồn: “Tôi còn xa mới là người hoàn hảo nhưng tôi đã trở thành một con người tốt hơn nhiều. Tôi đã đạt đến chỗ mà tôi thường tự hỏi: ‘Tôi phải học gì từ việc này?’ Sau cùng, mọi mối quan hệ của tôi đã giúp tôi trở thành một con người tốt hơn.”
Finally, a middle-aged woman recites all she has learned in this ongoing process of overcoming her personal karma:
Cuối cùng, một phụ nữ trung niên thuật lại tất cả những gì bà đã học được trong tiến trình liên tục vượt qua nghiệp quả cá nhân:
I’ve learned patience and compassion through caring for parents and grandparents that were ill.
Tôi đã học kiên nhẫn và từ bi bằng việc chăm sóc cha mẹ và ông bà bị bệnh.
I’ve learned that life will bring me what I need and that worry is an unnecessary habit. Numerous times what I’ve needed has fallen right into my lap with such uncanny timing that it goes far beyond coincidence.
Tôi đã học rằng đời sống sẽ mang đến cho tôi điều tôi cần và rằng lo lắng là một thói quen không cần thiết. Biết bao lần điều tôi cần rơi đúng vào lòng tôi với một sự trùng hợp kỳ lạ đến mức vượt xa ngẫu nhiên.
I’ve learned that only brutal honesty when examining the self will yield worthwhile results. When it comes to personal growth, the ego—with all of its built in defense mechanisms—has to be set aside.
Tôi đã học rằng chỉ có sự trung thực khắc nghiệt khi xét mình mới đem lại kết quả đáng giá. Khi nói đến tăng trưởng cá nhân, phàm ngã—với tất cả cơ chế tự vệ bẩm sinh của nó—phải được gác sang một bên.
I’ve learned that other people really are my magic mirror and I study them and my feelings towards them in order to better understand myself. For example, I’ve learned to be more sensitive to others when I speak. This came from working with someone who was so incredibly insensitive that I would cringe from the things she would say to others or myself. After years of being exposed to this I found myself hearing her voice in my head when I said something even remotely insensitive or negative. It was quite a deterrent and although it was unpleasant I am grateful for the growth that it brought me.
Tôi đã học rằng người khác thực sự là tấm gương nhiệm mầu của tôi và tôi quan sát họ và cảm xúc của mình đối với họ để hiểu mình tốt hơn. Chẳng hạn, tôi đã học để nhạy cảm hơn với người khác khi tôi nói. Điều này đến từ việc làm việc với một người vô cùng vô cảm đến mức tôi rùng mình trước những điều cô ấy nói với người khác hoặc với chính tôi. Sau nhiều năm tiếp xúc như vậy, tôi thấy mình nghe giọng nói của cô ấy trong đầu khi tôi nói điều gì đó dù chỉ hơi thiếu nhạy cảm hay tiêu cực. Nó là một sự răn đe rõ rệt, và dù khó chịu tôi vẫn biết ơn vì sự tăng trưởng mà nó mang lại cho tôi.
7
Karma Versus Grace—Nghiệp Quả và Ân Điển
Thus we may through those administrations of that which is the spirit of truth made manifest, turn this karma, or law, to grace and mercy.
Vì vậy chúng ta có thể, qua những sự tác động của tinh thần của chân lý đã được biểu lộ, chuyển hóa nghiệp quả này, hay định luật này, thành ân điển và thương xót.
5209-1
5209-1