← Edgar Cayce on Reincarnation and Family Karma

1695-1

Regardless of how individuals may feel about their families, the Edgar Cayce information suggests that part of the lawfulness of karma entails drawing specific individuals to one another, providing the opportunity for souls to learn specific lessons along the way. Stated more simply, people choose their parents. Although this concept of choice may make sense to individuals who were brought up with loving parents or raised in a supportive home environment, the idea may be somewhat challenging for those with extremely difficult upbringings or even with parents who were cruel and abusive. Why would a child choose to be born into such an environment? Why would individuals choose parents who didn’t nurture and love them? In all likelihood, the answer is that no thinking human being would ever choose such a situation. However, that choice is not made at the level of human consciousness, it is made at the level of the soul.

Bất kể mỗi người cảm thấy thế nào về gia đình mình, thông tin từ Edgar Cayce gợi rằng một phần trong tính luật định của nghiệp quả là lôi kéo những cá nhân nhất định đến với nhau, tạo cơ hội để các linh hồn học những bài học xác định trên đường đi. Nói đơn giản hơn, con người chọn cha mẹ của mình. Dù khái niệm lựa chọn này có thể hợp lý với những ai lớn lên cùng cha mẹ yêu thương hoặc trong môi trường gia đình nâng đỡ, ý tưởng ấy có thể khá thách thức đối với những người có tuổi thơ cực kỳ khó khăn hay thậm chí có cha mẹ độc ác và bạo hành. Vì sao một đứa trẻ lại chọn sinh vào một môi trường như vậy? Vì sao người ta lại chọn những bậc cha mẹ không dưỡng nuôi và yêu thương họ? Rất có thể, câu trả lời là không một con người biết suy nghĩ nào lại chọn một tình huống như thế. Tuy nhiên, sự lựa chọn ấy không được thực hiện ở cấp độ tâm thức con người, nó được thực hiện ở cấp độ của linh hồn.

From Cayce’s perspective the soul is a spiritual being that, while in the earth, is having a physical experience. The seven to ten decades in human consciousness experienced at the level of personality are a mere flicker of an instant when balanced against the eternality of the soul. In the same manner that individuals will commit to a short period of intense training or an aggressive and demanding educational experience (like boot camp or medical school) in order to experience the rewards that lay beyond, the soul picks specific experiences in order to learn lessons important to the individual’s personal growth and development.

Theo quan điểm của Cayce, linh hồn là một thực thể tinh thần, trong khi ở trần gian đang có một trải nghiệm thể chất. Bảy đến mười thập kỷ trong tâm thức con người, được trải nghiệm ở cấp độ phàm ngã, chỉ như tia lóe của một khoảnh khắc nếu đặt lên bàn cân với tính vĩnh cửu của linh hồn. Tương tự như cách con người sẵn sàng cam kết một giai đoạn huấn luyện khốc liệt ngắn hạn hay một trải nghiệm giáo dục căng thẳng và đòi hỏi (như trại huấn luyện tân binh hay trường y) để gặt hái phần thưởng phía sau, linh hồn chọn những trải nghiệm xác định để học các bài học quan trọng cho sự trưởng thành và phát triển cá nhân của mỗi người.

With this in mind, a soul that has a problem with a rash and explosive temper might pick a parent with the very same problem as a means of eradicating it from the self. Conversely, an individual with a soul mission of helping vulnerable children could choose to be born into an abusive situation in order to be able to relate to the very same individuals that he or she would eventually try to help. Another possibility is that sometimes individuals get to personally encounter the same things they once imposed upon another. To be sure, people can also chose parents and family members with whom they have been close, and who have been extremely helpful in previous incarnations— picking up exactly where they left off. The case histories for the individuals who came to Edgar Cayce for assistance corroborate each of these situations, and others, as being genuine workings of karmic memory through the process of reincarnating into the earth.

Với điều này trong tâm, một linh hồn có vấn đề với tính nóng nảy bộc phát có thể chọn một người cha hay mẹ có đúng vấn đề như vậy như phương tiện trừ tiệt nó nơi bản thân. Ngược lại, một người có sứ mệnh linh hồn là giúp đỡ trẻ em dễ tổn thương có thể chọn sinh vào một hoàn cảnh bạo hành để có thể đồng cảm với chính những đối tượng mà người ấy rốt cuộc sẽ tìm cách giúp đỡ. Khả thể khác là đôi khi con người trực tiếp trải nghiệm chính những điều họ từng áp đặt lên kẻ khác. Chắc chắn là, người ta cũng có thể chọn cha mẹ và các thành viên gia đình mà họ từng thân thiết, từng giúp đỡ họ rất nhiều trong các kiếp trước—tiếp tục chính xác từ nơi đã dở dang. Những tiểu sử trường hợp của những người tìm đến Edgar Cayce cầu trợ đều xác nhận từng tình huống như vậy, và các tình huống khác, như những vận hành chân thực của ký ức nghiệp quả thông qua tiến trình tái sinh vào trần gian.

Cayce biographer, Thomas Sugrue, both knew Edgar Cayce and for a time lived in the Cayce home. During the process of writing the biography, There Is a River, Sugrue obtained a reading and asked a couple of questions about children choosing to be born into the earth. He planned to use the information that he obtained by weaving it into the “Philosophy” chapter of There Is a River. One of Sugrue’s questions was: “Does the incoming soul take on some of the parents’ karma?” Cayce responded, “Because of its relative relationship to same, yes. Otherwise, no.” (5749-14) The answer suggests that the “parents’ karma” was only taken on by the incoming soul if it had been personally involved in the situation that had created the karma in the first place. In this instance, the karmic memory would belong to the child as much as it belonged to the parents.

Nhà viết tiểu sử của Cayce, Thomas Sugrue, vừa quen biết Edgar Cayce vừa có thời gian sống trong nhà Cayce. Trong quá trình viết cuốn tiểu sử Có Một Dòng Sông, Sugrue nhận một bài đọc và hỏi vài câu về việc con cái chọn sinh vào trần gian. Ông dự định dùng thông tin thu nhận được để dệt vào chương “Triết lý” của Có Một Dòng Sông. Một câu hỏi của Sugrue là: “Linh hồn sắp nhập thế có gánh một phần nghiệp quả của cha mẹ không?” Cayce đáp, “Vì mối liên hệ tương quan với điều đó, có. Bằng không thì không.” (5749-14) Câu trả lời gợi rằng “nghiệp quả của cha mẹ” chỉ được linh hồn nhập thế gánh vác nếu nó từng trực tiếp dính líu vào tình huống tạo ra nghiệp quả ngay từ đầu. Trong trường hợp này, ký ức nghiệp quả sẽ thuộc về đứa trẻ cũng như thuộc về cha mẹ.

Another question asked by Sugrue was, “Are there several patterns which a soul might take on, depending on what phase of development it wished to work upon—i.e., could a soul choose to be one of several personalities, any of which would fit its individuality?” Cayce’s response was simply, “Correct,” suggesting that there is much more to the soul than is manifested by the personality and that the soul is often involved in choosing what lessons it hopes to work with at any moment in time.

Một câu hỏi khác Sugrue nêu ra là, “Có nhiều mẫu thức mà linh hồn có thể nhận vào, tùy theo giai đoạn phát triển mà nó muốn làm việc—tức là, liệu một linh hồn có thể chọn trở thành một trong vài phàm ngã khác nhau, mà bất kỳ phàm ngã nào trong số đó cũng phù hợp với cá tính chân thực của nó không?” Cayce đáp đơn giản, “Đúng vậy,” gợi rằng có nhiều hơn rất nhiều nơi linh hồn so với điều được biểu lộ qua phàm ngã và rằng linh hồn thường tham dự vào việc chọn những bài học nó hy vọng sẽ làm việc vào bất kỳ thời điểm nào.

Oftentimes, individuals only briefly inquired about present-day family relationships. In those instances, rather than outlining detailed biographical sketches of the past, the readings simply presented brief explanations of the karmic memory experienced in the present. Some of these examples of the karmic connection between children and their parents are as follows:

Nhiều khi, người ta chỉ hỏi lướt qua về các mối quan hệ gia đình hiện tại. Trong những lần như vậy, thay vì phác họa các nét tiểu sử chi tiết của quá khứ, các bài đọc chỉ đưa ra những giải thích ngắn gọn về ký ức nghiệp quả đang được trải nghiệm trong hiện tại. Một số ví dụ về mối liên hệ nghiệp quả giữa con cái và cha mẹ như sau:

On one occasion, a middle-aged woman wanted to know why her father had been such a source of antagonism for her. Cayce responded that it was simply the meeting of self: “For thou also antagonized him.” (1183-1)

Trong một lần, một phụ nữ trung niên muốn biết vì sao cha bà lại là nguồn gây đối kháng với bà đến vậy. Cayce đáp rằng đó chỉ là cuộc gặp gỡ với chính mình: “Vì chính ngươi cũng đã đối kháng ông ấy.” (1183-1)

A mother and daughter who were frequently at odds with one another were told that the issue between them was one of control. The two had apparently switched past-life roles in that the daughter had once been her mother’s mother. Cayce explained, “Thus often the questioning as to who shall be boss.” (2969-2)

Một bà mẹ và cô con gái thường xuyên bất hòa được cho biết vấn đề giữa họ là chuyện kiểm soát. Hai người dường như đã hoán đổi vai trò tiền kiếp khi cô con từng là mẹ của mẹ mình. Cayce giải thích, “Bởi vậy, thường xuyên có sự chất vấn ai sẽ là người làm chủ.” (2969-2)

Actually, the switching of parental-child roles seems to be a frequent karmic response throughout many of the case histories contained in the Cayce files. For example, a seventy-two-year-old woman thinking of retirement and living with her daughter was encouraged to do so, just as her daughter had once lived with her when “conditions were reversed.” (851-2) On another occasion, a thirty-one-year-old woman discovered that her three-year-old son had once been her father. At the time he had attempted to control and direct her. Part of the reason the youth had chosen her to be his mother was in an effort to have her help him “temper” this tendency (1294-1). A forty-nine-year-old woman learned that her present-day son had once been essentially her adoptive father: “Hence as ye will find, so oft thy present son would tell thee what to do!” (3576-1) When a sixty-nine-year-old farmer inquired about the karmic relationship he had experienced with his son, Cayce responded: “In the experience before this he gave you a good licking once, as ye have given him several this time! These are still innate things that must be worked out. Ye have come together for good. Don’t lose patience with yourself nor with thy son.” (2051-5) These are just a few of the many examples of role reversal from the readings.

Thực tế, việc hoán đổi vai trò cha mẹ—con cái dường như là một đáp ứng nghiệp quả khá phổ biến xuyên suốt nhiều hồ sơ trường hợp trong tài liệu Cayce. Chẳng hạn, một phụ nữ bảy mươi hai tuổi đang nghĩ đến nghỉ hưu và sống với con gái được khuyến khích làm như vậy, y như khi cô con từng sống với bà khi “các điều kiện bị đảo ngược.” (851-2) Trong một dịp khác, một phụ nữ ba mươi mốt tuổi phát hiện rằng con trai ba tuổi của mình từng là cha của bà. Khi ấy ông từng cố kiểm soát và điều khiển bà. Một phần lý do cậu bé chọn bà làm mẹ là để nhờ bà giúp cậu “làm dịu” khuynh hướng này (1294-1). Một phụ nữ bốn mươi chín tuổi biết rằng con trai hiện tại của bà từng về bản chất là cha nuôi của bà: “Bởi vậy như ngươi sẽ thấy, con trai hiện tại của ngươi thường hay bảo ngươi phải làm gì!” (3576-1) Khi một nông dân sáu mươi chín tuổi hỏi về mối liên hệ nghiệp quả ông từng trải qua với con trai, Cayce đáp: “Trong trải nghiệm trước kiếp này nó đã cho ông một trận đòn nên thân, như ông đã cho nó vài trận lần này! Đây vẫn là những điều bẩm sinh cần phải được giải quyết. Hai người đã đến với nhau vì điều lành. Đừng mất kiên nhẫn với chính mình cũng như với con trai của ông.” (2051-5) Đây chỉ là vài ví dụ trong muôn vàn trường hợp hoán đổi vai trò từ các bài đọc.

When a thirty-two-year-old woman asked the reason that she and her mother were related in the present, Cayce explained that the two were reversing the roles they had lived in a French incarnation. Rather than seeing her relationship with her mother as an obligation or a duty, she was encouraged to see it as an “opportunity” to correct what had once gone wrong. The readings suggested that there was a still a purpose for them to work together:

Khi một phụ nữ ba mươi hai tuổi hỏi lý do vì sao bà và mẹ lại có quan hệ như hiện tại, Cayce giải thích rằng hai người đang đảo ngược những vai đã sống trong một kiếp ở Pháp. Thay vì xem mối quan hệ với mẹ như nghĩa vụ hay bổn phận, bà được khuyến khích coi đó là một “cơ hội” để chỉnh sửa điều từng sai hỏng. Các bài đọc gợi rằng vẫn còn mục đích để họ làm việc cùng nhau:

Where individuals come together in such an association, ever there is something to be worked out. For one has been or is dependent upon the other for some expression or some means or manner of reaching a development or an attunement to the Creative Forces in the experiences of each.

Khi các cá nhân đến với nhau trong một liên kết như vậy, luôn luôn có điều gì đó cần được giải quyết. Vì một người đã là hoặc đang lệ thuộc vào người kia cho một biểu hiện nào đó hay một phương cách nào đó để đạt một phát triển hoặc một sự hòa điệu với Các Lực Sáng Tạo trong các kinh nghiệm của mỗi người.

1695-1

1695-1

Another woman was told that the two seemingly different relationships she possessed with her daughter were connected to two experiences from the past that had each created their own karmic memory. In one experience the daughter had been a one-time friend who eventually turned away from the friendship. It was from that experience that doubt and resentment often arose. In another lifetime, her present-day daughter had been her daughter then. From that lifetime there was the urge for the daughter to turn to her mother for counsel and advice, just as she had done in that previous incarnation. (2620-2)

Một phụ nữ khác được cho biết rằng hai mối quan hệ dường như khác nhau mà bà có với con gái gắn với hai trải nghiệm trong quá khứ, mỗi trải nghiệm tạo ra ký ức nghiệp quả riêng. Trong một trải nghiệm, cô con từng là một người bạn thuở nào rốt cuộc quay lưng với tình bạn. Từ trải nghiệm đó, hoài nghi và oán hờn thường nảy sinh. Ở một kiếp khác, cô con hiện tại từng là con gái của bà khi ấy. Từ kiếp đó có một thôi thúc để cô con tìm đến mẹ xin lời khuyên và chỉ dẫn, y như cô từng làm trong hóa thân trước. (2620-2)

These types of examples briefly describing the karmic connections between parents and children are contained throughout the Edgar Cayce life readings. There are also detailed case histories that present fascinating glimpses into how karmic memory works and how it sometimes involves every member of the family. The story of Franklin Wagner, his wife Julia, and their daughter Debbie is one such example:

Những dạng ví dụ như thế—mô tả ngắn gọn các mối liên hệ nghiệp quả giữa cha mẹ và con cái—có mặt xuyên suốt các bài đọc đời sống của Edgar Cayce. Cũng có những hồ sơ trường hợp chi tiết đưa ra những thoáng nhìn hấp dẫn về cách ký ức nghiệp quả vận hành và cách đôi khi nó liên quan đến mọi thành viên trong gia đình. Câu chuyện của Franklin Wagner, vợ ông là Julia, và con gái họ Debbie là một ví dụ như vậy:

Debbie Wagner was twelve years old when the family came to Edgar Cayce for help. The girl was prone to epileptic fits, and family friends had referred the parents for a reading. Debbie’s condition had caused her parents much concern, and previously they had sought out quite a number of medical professionals to assist their daughter.

Debbie Wagner mười hai tuổi khi gia đình tìm đến Edgar Cayce để được giúp đỡ. Cô bé hay lên cơn động kinh, và bạn bè của gia đình đã giới thiệu cha mẹ đến xin một bài đọc. Tình trạng của Debbie khiến cha mẹ cô hết sức lo lắng, và trước đó họ đã tìm đến khá nhiều chuyên gia y khoa để giúp con gái.

Cayce gave a physical reading that outlined a series of treatments that Franklin and Julia were encouraged to follow. The couple also received life readings that got to the heart of their present situation, as well as the karmic memory involved. During the American Revolution, Franklin and Julia had been married. At the time, the couple believed in the sanctity of the British Crown and they were horrified with the idea that the colonies were trying to gain independence. As a result, they coerced their grown daughter into spying for England. During that incarnation, the girl was both attractive and had a highly developed sense of intuition—apparently, both her body and her psychic abilities had been used in service to the Crown. The couple was told that this daughter had reincarnated as Debbie in the present.

Cayce đưa ra một bài đọc về thể xác, phác thảo một loạt phương thức trị liệu mà Franklin và Julia được khuyến khích làm theo. Cặp đôi cũng nhận các bài đọc về đời sống, đi thẳng vào trọng tâm tình cảnh hiện tại của họ, cũng như ký ức nghiệp quả dính líu. Vào thời Cách mạng Mỹ, Franklin và Julia là vợ chồng. Khi ấy, hai người tin vào tính thiêng liêng của Vương quyền Anh và kinh hoàng trước ý tưởng các thuộc địa muốn giành độc lập. Hệ quả là, họ ép buộc cô con gái đã trưởng thành của mình làm gián điệp cho nước Anh. Trong hóa thân đó, cô gái vừa xinh đẹp vừa có trực giác phát triển cao—rõ ràng, cả thân xác lẫn năng lực thông linh của cô đều được dùng để phục vụ Vương quyền. Cặp đôi được cho biết người con gái ấy đã tái sinh thành Debbie trong hiện tại.

Because the couple had used their daughter for their own selfish purposes, much of their life in the present was spent trying to get help for the girl. Because Debbie had once controlled others with her physical charms as well as her intuitive talents, the epileptic fits had come as a means of making her lose control in the present. It was through the family relationship that each individual was being given the opportunity to heal what had once gone awry. In the language of the readings, “each soul must meet its own self” (2345-1) In an effort to clarify the information and the karmic connection between the three, Hugh Lynn Cayce (Edgar Cayce’s eldest son) sent a letter to Franklin, explaining the situation as follows:

Bởi vì cặp đôi từng sử dụng con gái cho mục đích ích kỷ của riêng họ, phần lớn đời sống hiện tại của họ được dành ra để tìm kiếm sự trợ giúp cho cô bé. Bởi vì Debbie từng kiểm soát người khác bằng sức hấp dẫn thể xác cũng như tài năng trực giác, các cơn động kinh đã đến như một phương tiện làm cô đánh mất quyền kiểm soát trong hiện tại. Chính qua mối quan hệ gia đình mà mỗi cá nhân được trao cơ hội để chữa lành điều từng trật đường ray. Theo ngôn ngữ của các bài đọc, “mỗi linh hồn phải đối diện với chính mình” (2345-1). Nhằm làm sáng tỏ thông tin và mối liên hệ nghiệp quả giữa ba người, Hugh Lynn Cayce (con trai cả của Edgar Cayce) đã gửi thư cho Franklin, giải thích tình huống như sau:

Your daughter’s life reading indicates that a [karmic] debt was the basic cause of her physical condition at this time …

Bài đọc đời sống của con gái ông cho thấy rằng một món nợ [nghiệp quả] là nguyên nhân cơ bản của tình trạng thể chất của cháu lúc này …

As I understand the picture, in the incarnation just before this, during the period of the American Revolution, you and your wife had a child, this same girl who is your daughter today. At that time you believed in and worked for a British cause. You were instrumental in encouraging and perhaps forcing your daughter to act as a spy in securing information which could be used against the colonies. This in itself need not have been necessarily wrong, but evidently the methods employed broke the spiritual law in that they destroyed the ideals of the girl. I call your attention to the reference in your daughter’s readings on page two, “as to relationship which excited the fires of physical beings of many.”

Theo sự hiểu của tôi về bức tranh này, trong hóa thân ngay trước hiện tại, vào thời kỳ Cách mạng Mỹ, ông và vợ có một đứa con, chính cô gái ấy là con gái ông hôm nay. Lúc đó ông tin và làm việc cho một mục tiêu của người Anh. Ông là người đã khuyến khích và có lẽ cưỡng bức con gái mình hành động như một gián điệp nhằm thu thập thông tin có thể dùng chống lại các thuộc địa. Tự bản thân việc này không nhất thiết là sai, nhưng hiển nhiên các phương thức được dùng đã phá vỡ luật thiêng liêng ở chỗ chúng phá hủy các lý tưởng của cô gái. Tôi xin lưu ý ông đoạn tham chiếu trong các bài đọc của con gái ông ở trang hai: “về mối liên hệ đã khơi lửa dục tính của nhiều người.”

Evidently your daughter was then possessed of some psychic ability which was misused … Evidently you attempted to force the girl to use the psychic ability, which you did not understand, to control others and to secure information which you desired. In your own reading we find the reference to “periods of confusion brought on by these attempt to gather data and information for use of those the entity felt were in authority.” (Evidently referring here to the British authority.)

Hiển nhiên con gái ông khi ấy có một số khả năng thông linh đã bị lạm dụng … Rõ ràng ông đã cố ép cô gái sử dụng năng lực thông linh—mà ông không hiểu—để kiểm soát người khác và thu thập thông tin ông mong muốn. Trong bài đọc riêng của ông, chúng ta thấy câu tham chiếu đến “những thời kỳ rối trí do những nỗ lực này nhằm thu thập dữ kiện và thông tin để sử dụng cho những người mà thực thể cảm thấy là có thẩm quyền.” (Rõ ràng ở đây là tham chiếu tới nhà cầm quyền Anh.)

It is interesting to note that all psychic abilities involve the ductless glands of the body. The pineal, the pituitary, the thyroid and the adrenal as well as glands of reproduction are all connected in the expression of any psychic faculty. The fact that your daughter misused such ability in a previous incarnation brings over into the present the tendency, directed through the soul-mind, for a disturbance in the glandular system. Such glandular disturbances involve the type of trouble associated with your daughter’s case.

Điều đáng chú ý là mọi năng lực thông linh đều liên quan đến các tuyến nội tiết của cơ thể. Tuyến tùng, tuyến yên, tuyến giáp và tuyến thượng thận cũng như các tuyến sinh sản đều có liên hệ đến sự biểu lộ của bất kỳ năng lực thông linh nào. Việc con gái ông đã lạm dụng năng lực như vậy trong một hóa thân trước đem sang hiện tại khuynh hướng, được điều hướng qua tâm trí-linh hồn, tạo nên rối loạn trong hệ tuyến. Những rối loạn tuyến như vậy liên quan đến dạng trục trặc gắn với trường hợp của con gái ông.

You and your wife have the opportunity and the responsibility of helping this soul meet and overcome this condition. The fact that you have taken this responsibility indicates your own spiritual understanding and development. It is important that you help this child balance her life and express the finer characteristics and abilities. Understanding this relationship will be of great help in guiding and directing her life …

Ông và vợ có cơ hội và trách nhiệm giúp linh hồn này đối diện và vượt qua tình trạng này. Việc ông đã nhận lấy trách nhiệm này cho thấy sự thấu hiểu và phát triển tinh thần của chính ông. Điều quan trọng là ông giúp cháu cân bằng đời sống và biểu lộ những phẩm chất và khả năng tốt đẹp hơn. Thấu hiểu mối liên hệ này sẽ rất hữu ích trong việc dẫn dắt và định hướng đời cháu …

2345-1 Report File

2345-1 Hồ sơ Báo cáo

According to notes on file, Franklin Wagner was extremely impressed with the information. Not only did it give him a recommended treatment to assist his daughter but it also provided a karmic explanation for their experience. Mr. Wagner remained an enthusiast of the Cayce work for years. In fact, when Edgar Cayce died, he sent Cayce’s wife Gertrude the following letter of sympathy:

Theo các ghi chú lưu trữ, Franklin Wagner cực kỳ ấn tượng với thông tin. Không chỉ ông nhận được một phương án điều trị để giúp con gái mà còn có cả một lý giải nghiệp quả cho trải nghiệm của họ. Ông Wagner vẫn là người nhiệt thành với công trình của Cayce trong nhiều năm. Thực ra, khi Edgar Cayce qua đời, ông gửi cho vợ Cayce là bà Gertrude bức thư chia buồn sau:

February 13, 1945

Ngày 13 tháng 2, 1945

My dear Mrs. Cayce:

Kính thưa Bà Cayce:

Upon my return to my office today after an absence of several weeks I was deeply grieved to learn of Edgar’s untimely death. I had heard that he was indisposed, but I hadn’t the slightest idea that his illness was so serious.

Khi hôm nay tôi trở lại văn phòng sau một thời gian vắng mặt vài tuần, tôi vô cùng đau buồn khi biết tin Edgar qua đời quá sớm. Tôi có nghe rằng ông ấy bị ốm, nhưng tôi không hề nghĩ bệnh tình nghiêm trọng đến thế.

I can well understand what Edgar’s death must mean to you and the boys; the loss of a devoted husband and loving father is indeed a grievous one. Always considering Edgar a God-fearing man and deeply admiring his saintly character, I deemed it a privilege to call myself his friend. Although, my acquaintance with Edgar was comparatively brief, he made a profound impression upon me, and since his death has affected me so much I can realize what it must mean to you, your family and Edgar’s close associates. I am sure you understand Mrs. Cayce, how deeply I sympathize with you in your bereavement …

Tôi có thể hiểu Edgar mất đi sẽ có ý nghĩa thế nào với bà và các con; mất mát một người chồng hết lòng và một người cha thương con thực sự là nỗi đau quá lớn. Luôn xem Edgar là một người kính sợ Thượng đế và hết mực khâm phục phẩm cách thánh thiện của ông, tôi coi đó là đặc ân khi được gọi mình là bạn ông. Dẫu quen biết Edgar tương đối ngắn, ông đã để lại ấn tượng sâu đậm nơi tôi, và vì sự ra đi của ông khiến tôi xúc động đến vậy, tôi có thể hình dung nó có ý nghĩa thế nào đối với bà, gia đình bà và những cộng sự thân cận của Edgar. Tôi tin bà hiểu, thưa bà Cayce, tôi chia buồn sâu sắc với bà trong tang quyến …

Inasmuch as the Association files are crammed full with his readings, and as I know that these contain invaluable advice and counsel on many important subjects, I do hope that you and the members of the Association will, to the fullest possible extent, make them available to those who, like myself, had such confidence in his judgement.

Vì hồ sơ của Hội chất đầy các bài đọc của ông, và vì tôi biết chúng chứa đựng lời khuyên và chỉ dẫn vô giá về nhiều chủ đề quan trọng, tôi rất hy vọng bà và các thành viên của Hội sẽ, trong phạm vi rộng nhất có thể, giúp những ai, như tôi, đã đặt niềm tin vào sự nhận định của ông, được tiếp cận chúng.

With sincere best wishes to you and the boys, I am Faithfully yours, Franklin Wagner

Với những lời chúc chân thành gửi đến bà và các con, tôi xin Trân trọng, Franklin Wagner

Another case from the Cayce files exploring how present-day physical problems can be connected to karmic memory is the story of a twenty-seven-year-old man who had suffered with a “delicate” digestive system for his entire life. Even as a child, he had to have a diet carefully monitored by his mother. According to notations on file later written by his sister:

Một trường hợp khác từ tài liệu Cayce khảo sát cách những vấn đề thể chất hiện tại có thể gắn với ký ức nghiệp quả là câu chuyện về một người đàn ông hai mươi bảy tuổi đã phải chịu đựng một hệ tiêu hóa “mong manh” suốt đời. Ngay từ nhỏ, chế độ ăn của anh đã phải được mẹ giám sát cẩn thận. Theo ghi chép trong hồ sơ do chị gái anh viết sau này:

For instance, he never could eat much cornbread—the roughness upset his stomach. If he ate as much sweets as the other children in the family he would become nauseated and vomit; he could never indulge in rich foods and get away with it as the rest of us did. Many times during his early childhood, I remember, he fell down—stumping his toe on a root or something—and lost consciousness; seeming to indicate, with my later knowledge of the lacteal ducts, etc., that the digestive system was the cause of the fainting or loss of consciousness when he had a physical shock such as falling down.

Chẳng hạn, anh ấy không bao giờ ăn được nhiều bánh bắp—độ thô ráp khiến dạ dày anh khó chịu. Nếu anh ăn nhiều đồ ngọt như những đứa trẻ khác trong nhà, anh sẽ buồn nôn và nôn; anh không bao giờ có thể phóng túng với những món giàu béo mà không gặp rắc rối như phần còn lại của chúng tôi. Nhiều lần trong thời thơ ấu, tôi nhớ, anh bị ngã—vấp rễ cây hay gì đó—và ngất đi; dường như cho thấy, với hiểu biết sau này của tôi về các ống dưỡng trấp, v.v., rằng hệ tiêu hóa là nguyên nhân của sự ngất xỉu hay mất ý thức khi anh chịu một chấn động thể chất như té ngã.

641-1 Report File

641-1 Hồ sơ Báo cáo

During a life reading, the poor digestion was traced to lifetimes in both France and Persia when he had been a member of the courts and frequently prone to the excess of gluttony. The digestive problem was simply a way of enabling his soul to learn moderation. The individual’s mother also had experiences in the French and Persian courts but it was a lifetime in Atlantis that proved especially helpful in the present. The two had been associated during that period when the mother had served in the role of dietician for the high priests. That same skill emerged in the present as her interest in health foods, as well as her ability to help her son with his digestive problem. The problem had once been so serious that one file notation reads: “If he had not had the good karma of such a mother he might never have lived to grow up, because such care was necessary in his diet during his early years.” (641-6 and 1187-2)

Trong một bài đọc đời sống, vấn đề tiêu hóa được truy nguyên đến các kiếp ở cả Pháp và Ba Tư khi anh từng là thành viên triều đình và thường vướng vào sự phàm ăn quá độ. Vấn đề tiêu hóa đơn giản là phương tiện cho linh hồn anh học sự tiết độ. Người mẹ của anh cũng có những trải nghiệm trong các triều đình Pháp và Ba Tư, nhưng một hóa thân ở Atlantis tỏ ra đặc biệt hữu ích trong hiện tại. Hai mẹ con từng có liên hệ trong thời kỳ ấy, khi người mẹ giữ vai trò chuyên viên dinh dưỡng cho các thượng tế. Chính kỹ năng ấy bộc lộ trong hiện tại qua sự quan tâm của bà đến thực phẩm lành mạnh, cũng như khả năng giúp con trai xử lý vấn đề tiêu hóa. Vấn đề ấy từng nghiêm trọng đến mức một ghi chú trong hồ sơ viết: “Nếu anh không có nghiệp lành là một người mẹ như thế, anh có lẽ đã không sống được đến lúc trưởng thành, vì sự chăm sóc như thế là cần thiết trong khẩu phần của anh suốt những năm đầu đời.” (641-6 và 1187-2)

Another exploration of karmic memory in the parent-child relationship is detailed in the story of Edith Maxwell, who had a series of readings from Edgar Cayce. Lonely throughout much of her life, eventually a reading described Edith’s loneliness as a karmic situation because she had once abandoned two children. Although Edith had already obtained life readings as well as a reading for a physical condition, her sixth reading requesting additional details of a life during the early nineteenth century revealed the cause of her loneliness.

Một khảo cứu khác về ký ức nghiệp quả trong mối quan hệ mẹ—con được trình bày trong câu chuyện về Edith Maxwell, người đã nhận một loạt bài đọc từ Edgar Cayce. Cô đơn suốt phần lớn đời mình, rốt cuộc một bài đọc mô tả nỗi cô đơn của Edith như một tình huống nghiệp quả bởi vì bà đã từng bỏ rơi hai đứa con. Dù Edith đã nhận các bài đọc đời sống cũng như một bài đọc về tình trạng thể chất, bài đọc thứ sáu của bà, yêu cầu thêm chi tiết về một đời sống vào đầu thế kỷ mười chín, đã hé lộ nguyên nhân của nỗi cô đơn ấy.

Besides providing the information that Edith asked for, Cayce proceeded to tell her about another lifetime that was the cause of her karmic loneliness. Apparently she had not been ready to hear the information earlier. Cayce explained that in the year 1592, during an incarnation in Norway, she had committed suicide. That event was at the heart of her carrying a “great loneliness” throughout much of her life.

Ngoài việc cung cấp thông tin Edith yêu cầu, Cayce tiếp tục nói với bà về một hóa thân khác là nguyên nhân của nỗi cô đơn nghiệp quả. Rõ ràng là trước đó bà chưa sẵn sàng nghe. Cayce giải thích rằng vào năm 1592, trong một hóa thân ở Na Uy, bà đã tự sát. Sự kiện đó nằm ở cốt lõi của việc bà mang một “nỗi cô đơn lớn” suốt phần lớn đời mình.

Gina Cerminara, Ph.D., longtime scholar of the Cayce information and author of numerous books once described Edith’s background as follows:

Gina Cerminara, Tiến sĩ, một học giả lâu năm về các thông tin của Cayce và là tác giả của nhiều cuốn sách, đã từng mô tả bối cảnh đời Edith như sau:

… [her] first husband died shortly after marriage. She married again—this time to a man much older than herself, and the marriage was so unhappy that she soon obtained a divorce. She had no children. All the members of her family had died; she literally had no one. Her position as social secretary brought her into contact with people, but it was a superficial contact. She would have liked to remarry, but the opportunity did not present itself. She was alone. Cerminara, pg. 132

… người chồng đầu [bà ấy] qua đời không lâu sau khi kết hôn. Bà lại kết hôn—lần này với một người đàn ông lớn tuổi hơn mình rất nhiều, và cuộc hôn nhân bất hạnh đến mức chẳng bao lâu bà đã ly hôn. Bà không có con. Tất cả thành viên gia đình bà đều đã mất; theo nghĩa đen, bà không còn ai cả. Công việc thư ký xã hội đưa bà tiếp xúc với người khác, nhưng đó chỉ là giao tiếp hời hợt. Bà muốn tái hôn, nhưng cơ hội đã không đến. Bà cô độc. Cerminara, tr. 132

During the Norwegian lifetime, Edith’s husband had apparently disgraced the family when he abandoned his religious beliefs. The end result was that Edith and her husband became outcasts in the community. Already the mother of one child, after the birth of her second child, Edith’s sixteenth century counterpart decided she could take the exile no longer and she killed herself by throwing herself in a fjord. According to Cayce, this selfish act and the loneliness that Edith had caused for both her husband and two young children had to be met in the present in the form of karmic memory. The reading suggested that her present-day loneliness was simply the means in which she was meeting herself: “Thus we find the influences arising in the experience of the entity in the present—as the periods of what may be called melancholia, disappointments, discouragements.” (1468-6)

Trong kiếp sống ở Na Uy, người chồng của Edith dường như đã làm gia đình ô nhục khi từ bỏ tín ngưỡng của mình. Hệ quả là Edith và chồng trở thành kẻ bị ruồng bỏ trong cộng đồng. Vốn đã là mẹ của một đứa trẻ, sau khi sinh đứa thứ hai, đối phần thế kỷ XVI của Edith quyết định không còn chịu nổi cảnh lưu đày và đã tự sát bằng cách gieo mình xuống một vịnh hẹp. Theo Cayce, hành vi ích kỷ này và nỗi cô đơn mà Edith đã gây ra cho cả chồng lẫn hai đứa con nhỏ phải được đối diện trong hiện tại dưới dạng ký ức nghiệp quả. Bài đọc gợi ý rằng nỗi cô đơn hiện nay của bà chỉ là phương tiện qua đó bà đang gặp lại chính mình: “Vì thế chúng ta thấy những ảnh hưởng phát sinh trong kinh nghiệm của thực thể ở hiện tại—như những giai đoạn có thể gọi là u uất, thất vọng, chán nản.” (1468-6)

Cayce went on to tell her that the husband she had divorced in the present was the same husband she had abandoned in Norway through her suicide. The two children she had left behind had also returned in her present incarnation: one had been her brother who had died, and the other was a friend that was described as being close one minute and distant the next. Cayce went on to assure her that the reason the information was being provided was that she had indeed grown spiritually and he pointed out that the growth had enabled her loneliness to diminish. He ended the reading by encouraging her to continue with her own soul growth and discovering her relationship to the Creator:

Cayce nói tiếp rằng người chồng mà bà đã ly hôn trong hiện tại chính là người chồng mà bà đã bỏ rơi ở Na Uy qua việc tự sát. Hai đứa con mà bà đã để lại cũng đã trở lại trong lần lâm phàm hiện tại của bà: một là người anh trai đã qua đời, và đứa còn lại là một người bạn được mô tả là lúc thì rất thân, lúc lại xa cách. Cayce tiếp tục trấn an bà rằng lý do cung cấp thông tin là vì quả thật bà đã trưởng thành về mặt tinh thần và ông chỉ ra rằng sự trưởng thành ấy đã làm nỗi cô đơn của bà vơi bớt. Ông kết thúc bài đọc bằng cách khích lệ bà tiếp tục sự tăng trưởng của chính linh hồn mình và khám phá mối liên hệ với Đấng Tạo Hóa:

For, as the entity continues to look within, there the promise has been and is that He, the way, the truth, the light, will meet thee; in making and bringing that into the experience, mentally, materially, that is the helpful force for the greater spiritual development.

Vì, khi thực thể tiếp tục hướng nội, ở đó đã có và đang có lời hứa rằng Ngài, con đường, chân lý, ánh sáng, sẽ gặp ngươi; trong việc kiến tạo và đưa điều đó vào kinh nghiệm, về mặt trí tuệ, về mặt vật chất, đó là mãnh lực hữu ích cho sự phát triển tinh thần lớn lao hơn.

1468-6

1468-6

A contemporary example of karma in the parent-child relationship is presented in the story of Mark Cavanaugh. For a long while, Mark worked on trying to improve his relationship with his mother. More than anything, he wanted his mother to be nicer to him, and he did things to seek her approval—even trying to be someone that he really wasn’t. He tried to be the son that he thought she wanted. He attempted to overcome his feelings of not being good enough. Even though he never recalls having a mother-son connection with her, he really wanted her to care. He knew that at one level she loved him but he really wanted to feel that love. He knows now that he was trying to get her to be someone other than who she really was.

Một ví dụ đương đại về nghiệp quả trong mối quan hệ cha mẹ–con cái được trình bày trong câu chuyện của Mark Cavanaugh. Suốt một thời gian dài, Mark cố gắng cải thiện mối quan hệ với mẹ. Trên hết, anh muốn mẹ đối xử với mình tử tế hơn, và anh đã làm nhiều điều để tìm kiếm sự chấp thuận của bà—thậm chí cố gắng trở thành một người mà thật ra anh không phải. Anh cố làm người con trai như anh nghĩ bà mong muốn. Anh nỗ lực vượt qua cảm giác mình không đủ tốt. Dù không hề nhớ có sự gắn bó mẹ–con nào với bà, anh vẫn rất muốn bà quan tâm. Anh biết ở một mức nào đó bà yêu anh, nhưng anh thật sự muốn cảm được tình yêu ấy. Giờ đây anh hiểu rằng mình đã cố bắt bà trở thành một người khác với con người thật của bà.

When Mark was in his thirties, he had a dream that perfectly explained the karmic origins of their present-day relationship:

Khi ở tuổi ba mươi, Mark có một giấc mơ giải thích hoàn hảo nguồn gốc nghiệp quả của mối quan hệ hiện tại giữa họ:

I dreamt that she was a Roman woman of wealth and power, and I was her slave—a Christian slave. In that lifetime she abused me physically, verbally, and sexually—it is interest to note that even now, as an adult, I don’t like her touching me affectionately. In that life, my mother was angry and critical. I was a Christian and tried to follow Christ’s teachings in order to get her to change her behavior towards me.

Tôi mơ rằng bà là một phụ nữ La Mã giàu có và quyền lực, còn tôi là nô lệ của bà—một nô lệ Kitô hữu. Trong kiếp đó bà hành hạ tôi về thể xác, lời nói, và cả tình dục—điều đáng chú ý là ngay bây giờ, khi đã trưởng thành, tôi không thích bà chạm vào tôi một cách âu yếm. Trong kiếp ấy, mẹ tôi giận dữ và hay chỉ trích. Tôi là một Kitô hữu và cố theo giáo huấn của Đức Christ để khiến bà thay đổi cách cư xử với tôi.

At one point, I snapped, realizing that she was never going to change, and I was going to be receiving her abusive treatment forever. My resolve and my mind broke, thinking that the abuse was never going to end. I broke her neck, and I was later killed by a Roman soldier for the crime.

Đến một lúc nào đó, tôi đứt phựt, nhận ra rằng bà sẽ chẳng bao giờ thay đổi, và tôi sẽ phải chịu sự ngược đãi của bà mãi mãi. Ý chí và tâm trí tôi gãy vụn, nghĩ rằng sự lạm dụng sẽ không bao giờ chấm dứt. Tôi bẻ gãy cổ bà, và sau đó tôi bị một lính La Mã giết vì tội ác ấy.

During the dream, I saw myself after death and heard the voice of what I thought to be God say, “This is YOUR mother,” meaning she was going to be my mother in a future life.

Trong giấc mơ, tôi thấy mình sau khi chết và nghe tiếng nói của điều tôi cho là Thượng đế phán: “Đây CHÍNH là mẹ của con,” nghĩa là bà sẽ là mẹ tôi trong một đời tương lai.

I was horrified. “She is not MY mother!” I replied.

Tôi kinh hoàng. “Bà ấy không phải là MẸ của tôi!” tôi đáp.

Suddenly, I saw myself standing before Jesus. Although he looked upon me without judgment, He said: “It would have taken you this long to work things out with her.” During his statement, He held his hands about six inches apart. Then he widened the gap between his hands to be at least double and added: “Now it’s going to take this long.”

Đột nhiên, tôi thấy mình đứng trước Đức Jesus. Dù Ngài nhìn tôi mà không phán xét, Ngài nói: “Đáng lẽ con chỉ cần từng này thời gian để giải quyết chuyện với bà ấy.” Khi nói, Ngài giữ hai bàn tay cách nhau khoảng mười lăm xăng-ti-mét. Rồi Ngài mở rộng khoảng cách giữa hai tay ít nhất gấp đôi và nói thêm: “Giờ thì sẽ cần từng này thời gian.”

The dream ended and I awoke.

Giấc mơ chấm dứt và tôi tỉnh dậy.

After the dream, Mark understood that he still had a lot of work to do on his relationship with his mother. The tremendous attitude of being nonjudgmental that Jesus had shown him proved to be extremely helpful in healing his own attitude. He was able to let go of the need to have her change. He began to be comfortable with himself when he was around her, turning loose of the need to be someone else in order to win her approval. In time, he was able to accept her just the way she was. Because of his efforts, Mark is certain that the karmic situation between them has been healed. In fact, when asked if there is anything he would like to tell his mother at this point in time, Mark replies in the affirmative: “Thank you for being willing to be my mother. Thank you for trying to give me what you feel you were able to. Thank you for teaching me what you had to teach. May God continue to be with you on your journey.”

Sau giấc mơ, Mark hiểu rằng anh vẫn còn rất nhiều việc phải làm với mối quan hệ với mẹ mình. Thái độ không phán xét vô cùng lớn lao mà Đức Jesus thể hiện với anh tỏ ra vô cùng hữu ích trong việc chữa lành thái độ của chính anh. Anh buông bỏ nhu cầu phải khiến bà thay đổi. Anh bắt đầu thoải mái với chính mình khi ở bên bà, buông xả nhu cầu trở thành người khác để giành sự chấp thuận của bà. Dần dần, anh có thể chấp nhận bà đúng như con người bà. Nhờ những nỗ lực của mình, Mark tin chắc rằng tình huống nghiệp quả giữa họ đã được chữa lành. Thực tế, khi được hỏi liệu lúc này có điều gì anh muốn nói với mẹ không, Mark trả lời khẳng định: “Cảm ơn mẹ đã sẵn lòng làm mẹ của con. Cảm ơn mẹ đã cố gắng trao cho con những gì mẹ cảm thấy mình có thể. Cảm ơn mẹ đã dạy con những gì mẹ phải dạy. Cầu xin Thượng đế luôn ở cùng mẹ trên hành trình của mẹ.”

Another contemporary account is told by Judith Beatty in describing a karmic situation with her son that seemed to foster healing on several levels. Now in her seventies, Judith can remember exactly how she felt the day after giving birth to her youngest child, Arnold, when the doctor came to tell her that the boy had Down’s Syndrome, she was not at all upset. She says matter-of-factly, “I was on cloud nine at the thought of receiving the blessing of a special child!” Although she quickly admits: “I have never found any other parent with such a positive reaction to news that their baby was not ‘normal’.” When Arnold was 14, Judith had an experience that seemed to explain her overwhelming joy at being entrusted with a handicapped child.

Một tường thuật đương đại khác được Judith Beatty kể lại khi mô tả một tình huống nghiệp quả với con trai dường như thúc đẩy sự chữa lành trên nhiều tầng. Nay đã ở tuổi bảy mươi, Judith vẫn nhớ như in cảm giác của bà vào ngày hôm sau khi sinh đứa con út, Arnold—khi bác sĩ đến báo rằng cậu bé mắc Hội chứng Down—bà hoàn toàn không buồn chút nào. Bà nói một cách rất tự nhiên: “Tôi như ở trên chín tầng mây khi nghĩ đến việc được ban phúc một đứa trẻ đặc biệt!” Dẫu bà cũng nhanh chóng thừa nhận: “Tôi chưa bao giờ tìm thấy phụ huynh nào có phản ứng tích cực như thế trước tin con họ không ‘bình thường’.” Khi Arnold lên 14 tuổi, Judith trải qua một kinh nghiệm dường như giải thích niềm vui áp đảo của bà khi được trao phó một đứa trẻ khuyết tật.

In the midst of a past-life regression, Judith found herself in a rural setting in the French Alps. She was married to a peasant farmer, and the couple had goats and made cheese, which Judith took into the market. During the scene, Judith realized that her breasts were gorged and that she was in terrible grief. She came to understand that she had given birth to a handicapped child and her husband had taken the infant away to a convent where the child might be taken care of. Judith recalls: “Although he did it because I would not have the time to be able to care for such a baby and still do all of the tasks that were necessary for our survival, I was still very angry.” Her husband was stern and domineering, and during the reverie Judith saw that she had grown old and died as a very bitter and lonely woman.

Giữa một lần hồi quy tiền kiếp, Judith thấy mình ở một miền nông thôn trên dãy An-pơ thuộc Pháp. Bà kết hôn với một nông dân và hai vợ chồng nuôi dê, làm phô mai—Judith mang ra chợ bán. Trong cảnh ấy, Judith nhận ra ngực mình căng sữa và bà đang trong nỗi đau buồn khôn nguôi. Bà hiểu rằng mình đã sinh một đứa trẻ khuyết tật và người chồng đã đem đứa bé tới một tu viện nơi nó có thể được chăm sóc. Judith nhớ lại: “Dù anh ấy làm vậy vì tôi sẽ không có thời gian để chăm một đứa trẻ như thế mà vẫn làm hết những việc cần thiết cho sự sinh tồn của chúng tôi, tôi vẫn rất giận.” Chồng bà nghiêm khắc và gia trưởng, và trong cơn miên tưởng Judith thấy mình già đi và chết như một người đàn bà rất cay đắng và cô độc.

The meaning of the experience became clear as Judith understood that her domineering husband had reincarnated as her son: “In that life he had given away the handicapped child, in this life he had to face being handicapped himself.”

Ý nghĩa của trải nghiệm trở nên rõ ràng khi Judith hiểu rằng người chồng gia trưởng ấy đã tái sinh làm con trai bà: “Trong kiếp đó anh ấy đã đem đứa trẻ khuyết tật đi, trong kiếp này anh ấy phải đối diện việc chính mình bị khuyết tật.”

When Arnold was a teenager, Judith began to see some of the domineering and controlling behavior that the boy had exhibited in his previous incarnation; however, since she recognized its source, she was able to help Arnold work through it. She also believes that the way he was raised was extremely helpful in enabling him to work through some of the previous domineering behavior: “I think that a great deal of healing took place. Arnold was raised in a very stable home with lots of love and adoring brothers and sisters. Even now, in his thirties, he is so happy. By his own choice, he lives in a group home and is so happy and blesses so many by his loving spirit.”

Khi Arnold ở tuổi thiếu niên, Judith bắt đầu nhận thấy vài biểu hiện gia trưởng và kiểm soát mà cậu đã thể hiện trong kiếp trước; tuy nhiên, do bà nhận ra nguồn cơn, bà có thể giúp Arnold vượt qua. Bà cũng tin rằng cách nuôi dạy của gia đình vô cùng hữu ích trong việc giúp cậu xử lý một phần những hành vi gia trưởng trước kia: “Tôi nghĩ đã có rất nhiều sự chữa lành diễn ra. Arnold được nuôi trong một mái nhà rất ổn định, với nhiều tình thương và các anh chị em yêu mến. Ngay cả bây giờ, ở tuổi ba mươi, cậu rất hạnh phúc. Theo lựa chọn của mình, cậu sống trong một nhà chung và rất hạnh phúc, ban phúc cho rất nhiều người bằng tinh thần yêu thương của mình.”

Today, Judith understands why more than forty years ago she felt such joy when the doctor informed her of Arnold’s condition: “I had been pining away for that handicapped child, and the universe finally sent me a child that I could take care of as I had once desired. I was overjoyed.”

Hôm nay, Judith hiểu vì sao hơn bốn mươi năm trước bà cảm thấy hân hoan như thế khi bác sĩ thông báo tình trạng của Arnold: “Tôi đã mòn mỏi vì đứa trẻ khuyết tật ấy, và vũ trụ cuối cùng gửi cho tôi một đứa trẻ mà tôi có thể chăm sóc như đã từng mong muốn. Tôi đã vô cùng mừng rỡ.”

In another instance, Beverly Stevens, who is now in her sixties, recalls the challenging relationship she once had with her daughter: “Starting when Amy was two years old, she and I could not seem to get along. I loved her but there was a two-way antagonism that troubled me and estranged us through her early adulthood.” The animosity between her and Amy continued until Beverly was in her forties and attended a workshop that dealt with the subject of past lives. During the program she experienced a past-life reverie, enabling her to understand the karmic memory between herself and her daughter:

Trong một trường hợp khác, Beverly Stevens, nay ở tuổi sáu mươi, hồi tưởng mối quan hệ đầy thử thách bà từng có với con gái: “Bắt đầu từ khi Amy hai tuổi, xem ra tôi và con không thể hòa hợp. Tôi yêu con nhưng có một sự đối kháng hai chiều khiến tôi trăn trở và làm chúng tôi xa cách suốt thời con bước vào tuổi trưởng thành.” Sự hiềm khích giữa bà và Amy tiếp diễn cho đến khi Beverly ở tuổi bốn mươi và tham dự một hội thảo về đề tài tiền kiếp. Trong chương trình, bà trải nghiệm một cảnh miên tưởng tiền kiếp, giúp bà hiểu ký ức nghiệp quả giữa mình và con gái:

I clearly saw myself as a young father in New England, circa 1700s. It was winter and I was chopping wood for the fire to warm my large family. I felt strong resentment that my wife was about to give birth to our ninth child, which we could not afford to feed or care for. My only positive thought was the prospect that the child might be a boy—then he could at least help us survive through his own labors.

Tôi thấy rất rõ mình là một người cha trẻ ở vùng New England, khoảng những năm 1700. Đó là mùa đông và tôi đang bổ củi sưởi ấm cho gia đình đông con. Tôi cảm thấy oán hận dữ dội vì vợ tôi sắp sinh đứa con thứ chín, điều mà chúng tôi không đủ khả năng nuôi dưỡng hay chăm sóc. Ý nghĩ tích cực duy nhất của tôi là hy vọng đứa bé có thể là con trai—như vậy nó ít nhất có thể giúp chúng tôi sinh tồn nhờ sức lao động của chính nó.

I was extremely angry when the child was born and I had one more daughter that I didn’t want and didn’t need. I knew in the midst of the reverie that this daughter had returned as Amy.

Tôi vô cùng giận dữ khi đứa trẻ chào đời và hóa ra đó lại là thêm một đứa con gái mà tôi không muốn và không cần. Tôi biết ngay trong cơn miên tưởng rằng đứa con gái ấy đã trở lại làm Amy.

Beverly states that the reverie made her feel “humbled and saddened, but very enlightened.” Ultimately, the experience became a turning point in healing their relationship. Beverly was able to use it as a means of understanding where the negative feelings had come from as well as consciously deciding to change them. She began working on loving Amy “wholly and without reservation.” In time, the negative feelings began to dissipate and Beverly became certain the relationship was finally healed. In fact, when asked how she feels about Amy today, she says without hesitation, “I owe her a lifetime of love.”

Beverly nói rằng cảnh miên tưởng khiến bà cảm thấy “khiêm nhu và buồn bã, nhưng rất được soi sáng.” Cuối cùng, trải nghiệm trở thành bước ngoặt chữa lành mối quan hệ giữa họ. Beverly có thể dùng nó như phương tiện để hiểu nguồn gốc của những cảm xúc tiêu cực, đồng thời có ý thức quyết định thay đổi chúng. Bà bắt đầu dồn công sức yêu thương Amy “trọn vẹn và không giữ lại điều gì.” Theo thời gian, những cảm xúc tiêu cực dần dần tiêu tan và Beverly tin chắc mối quan hệ rốt cuộc đã được chữa lành. Thực tế, khi được hỏi hôm nay bà cảm thấy thế nào về Amy, bà không do dự: “Tôi nợ con cả một đời yêu thương.”

Additional examples of karmic relationships between children and parents appear in these cases from the Cayce files:

Những ví dụ bổ sung về mối quan hệ nghiệp quả giữa con cái và cha mẹ xuất hiện trong các trường hợp sau từ hồ sơ của Cayce:

A thirty-three-year-old man became a widower when his pregnant wife gave birth and soon died thereafter of pneumonia. The child was premature and sickly. Suddenly, the man found himself responsible for the care of a young daughter. During the course of his life reading, Cayce explained that in his most recent incarnation he had failed to help a young woman who had come to him in need of his aid. That young woman had returned to him in the present as his daughter. Cayce’s advice was simple: “In the experience before this you could have helped and didn’t. You better help in the present.” (3581-1)

Một người đàn ông ba mươi ba tuổi thành góa vợ khi vợ anh mang thai sinh con và chẳng bao lâu sau chết vì viêm phổi. Đứa trẻ sinh non và ốm yếu. Bất chợt, người đàn ông thấy mình phải chịu trách nhiệm chăm sóc một cô con gái nhỏ. Trong quá trình bài đọc về đời sống của anh, Cayce giải thích rằng trong lần lâm phàm gần đây nhất, anh đã không giúp một cô gái trẻ đến tìm anh để xin giúp đỡ. Cô gái trẻ ấy đã trở lại với anh trong hiện tại làm con gái anh. Lời khuyên của Cayce rất đơn giản: “Trong kinh nghiệm trước đây anh đã có thể giúp mà lại không giúp. Tốt hơn là anh nên giúp ở hiện tại.” (3581-1)

A young woman learned that her controlling father had been her husband in their most recent life together. During that experience, she had forsaken her husband and run off with another man, explaining the rationale behind her father’s present-day need to exert control. Complicating the karmic situation, however, in the present, the other man had returned as her boss—twenty-three years her senior, and already married. The two began an affair and despite advice from Edgar Cayce and the frustration of her father and other members of the family, the woman and her boss ran off together, repeating the very same roles they had followed in their most recent incarnation. (2960-1)

Một phụ nữ trẻ biết rằng người cha hay kiểm soát của cô đã từng là chồng cô trong kiếp gần nhất họ ở bên nhau. Trong kiếp đó, cô đã ruồng bỏ chồng và chạy theo một người đàn ông khác, điều này giải thích lý do đằng sau nhu cầu kiểm soát của người cha ở hiện tại. Làm phức tạp tình huống nghiệp quả, trong hiện tại, người đàn ông kia đã trở lại làm sếp của cô—hơn cô hai mươi ba tuổi và đã kết hôn. Hai người bắt đầu quan hệ và bất chấp lời khuyên của Edgar Cayce cùng sự bực dọc của cha cô và các thành viên khác trong gia đình, người phụ nữ và ông sếp bỏ đi cùng nhau, lặp lại y hệt những vai trò họ đã theo trong kiếp gần nhất. (2960-1)

A thirty-year-old divorced woman was told that the closeness she felt to her mother was due to the fact that in her most recent incarnation she had been a man and married to the woman who was now her mother. It was this same lifetime that frequently prompted the mother to seek her daughter’s advice, rather than the reverse. Apparently, as a man her daughter had often provided groups and individuals with wise counsel, and the mother continued to seek what had once been so readily available. (897-1)

Một phụ nữ ba mươi tuổi đã ly hôn được cho biết rằng sự gần gũi cô cảm thấy với mẹ là do trong kiếp gần nhất cô từng là đàn ông và kết hôn với người phụ nữ nay là mẹ cô. Chính kiếp đó cũng thường xuyên khiến người mẹ tìm đến lời khuyên của con gái, thay vì ngược lại. Rõ ràng, khi là đàn ông, con gái bà thường đưa lời khuyên khôn ngoan cho các nhóm và cá nhân, và người mẹ tiếp tục tìm kiếm điều từng có sẵn như vậy. (897-1)

When a fifty-three-year-old woman asked about the past-life connections with her daughter, Cayce explained that there had been several. On one occasion, her daughter had been her mother and in another lifetime her daughter had been a close friend and companion. It was these two experiences that created their relationship dynamic, which the reading described as follows: “Hence at times ye find the daughter as a companion and at times she wants to tell you what to do!” (3615-1)

Khi một phụ nữ năm mươi ba tuổi hỏi về mối liên hệ tiền kiếp với con gái, Cayce giải thích rằng đã có vài mối liên hệ. Có lần con gái là mẹ của bà và trong một kiếp khác con gái là bạn thân và bạn đồng hành. Chính hai trải nghiệm này tạo nên động lực quan hệ của họ, được bài đọc mô tả như sau: “Thế nên có lúc ngươi thấy con gái như một người bạn đồng hành và có lúc nó muốn bảo ngươi phải làm gì!” (3615-1)

It is important to point out that the Edgar Cayce material presents the idea that adopted individuals possess the very same karmic connections within their adopted families as do children who are raised by their birth parents. In fact, the readings suggest that spiritual laws work to bring individuals into the very relationships needed at a soul level. Those spiritual laws maneuver situations in the material world so that those children end up in specific homes, regardless of whether or not adoption has been involved. As a case in point, one woman was told that her son had not come by accident or happenstance, but as a means of helping him learn a lesson he needed as a soul: “For this association has not been by chance, but that ye may be in thine own life ever that upon which [your son] may rely for all that is holy, all that is beautiful, all that represents what home really means.” (2272-1)

Điều quan trọng cần chỉ ra là tài liệu Edgar Cayce trình bày ý tưởng rằng người được nhận nuôi có các kết nối nghiệp quả y hệt trong gia đình nhận nuôi như những đứa trẻ được cha mẹ ruột nuôi dưỡng. Thực tế, các bài đọc gợi ý rằng các định luật tinh thần vận hành để đưa từng người vào đúng những mối quan hệ cần thiết ở cấp độ linh hồn. Những định luật tinh thần ấy điều phối các tình huống trong thế giới vật chất để những đứa trẻ đó đến đúng các mái nhà cụ thể, bất kể có liên quan đến việc nhận nuôi hay không. Lấy một trường hợp làm ví dụ, một phụ nữ được cho biết rằng con trai bà không đến với bà do ngẫu nhiên hay tình cờ, mà như một phương tiện giúp cậu học một bài học cần thiết như một linh hồn: “Vì mối liên hệ này không phải do ngẫu nhiên, mà để ngươi có thể, trong chính đời sống mình, mãi là điều mà [con trai của cô] có thể nương dựa cho tất cả những gì là thiêng liêng, tất cả những gì là đẹp đẽ, tất cả những gì biểu trưng cho ý nghĩa thực sự của mái ấm.” (2272-1)

When a professor asked about the past-life connection with his adopted son, Cayce stated that the two had often been together. Three of the most notable previous incarnations included a lifetime when the French military forces had aided the American colonies in their battle for independence. At that time father and son had been members of the French troops—the father serving as a commander over his present-day son. Previous to that experience, the two had been together during a life in Palestine in which the son had served as his father’s religious instructor. In one of their earliest incarnations, the two had apparently been married in Atlantis (2246-1).

Khi một giáo sư hỏi về mối liên hệ tiền kiếp với con trai nuôi, Cayce nói rằng hai người thường xuyên ở cùng nhau. Ba kiếp đáng chú ý nhất gồm một đời khi lực lượng quân sự Pháp đã hỗ trợ các thuộc địa Mỹ trong cuộc chiến giành độc lập. Khi đó cha và con đều là thành viên quân đội Pháp—người cha giữ chức chỉ huy của người hiện là con trai mình. Trước trải nghiệm ấy, hai người từng ở cùng nhau trong một đời ở Palestine khi người con làm bậc hướng dẫn tôn giáo cho cha. Ở một trong những lần lâm phàm sớm nhất, hai người dường như đã kết hôn ở Atlantis (2246-1).

The foster woman of a twelve-year-old boy inquiring about the past-life connection with the youth was told that she was simply continuing the relationship she had once had with the boy when he had been her own son (603-1). A forty-nine-year-old woman was told that she had essentially adopted her adopted son before, during an experience at the time of Jesus (2787-1).

Người mẹ nuôi của một cậu bé mười hai tuổi, khi hỏi về mối liên hệ tiền kiếp với cậu, được cho biết rằng bà chỉ đang tiếp nối mối quan hệ từng có với cậu khi cậu là con ruột của bà (603-1). Một phụ nữ bốn mươi chín tuổi được cho biết rằng về cơ bản bà đã từng nhận nuôi con nuôi của mình trước đây, trong một trải nghiệm vào thời Đức Jesus (2787-1).

The adoptive parents of a three-year-old boy and a tenth-month-old boy were informed that both children had been with them previously, as well as with one another. The three-year-old had served in the capacity of sort of governor in Egypt when his younger brother had been an interpreter of the law. At the time the two boys had been close friends. In Persia they had also been together, when the elder boy had served as an emissary. The reading stated that the two boys had purposefully chosen to be brothers in this life in order to learn from one another. (3340-1 and 3346-1).

Cha mẹ nhận nuôi của một bé trai ba tuổi và một bé trai mười tháng tuổi được thông báo rằng cả hai đứa trẻ đã từng ở với họ trước đây, cũng như ở với nhau. Đứa ba tuổi từng giữ vai trò kiểu như một vị tổng quản ở Ai Cập khi em trai nhỏ hơn là người giải thích luật pháp. Khi đó hai cậu bé là bạn thân. Ở Ba Tư, họ cũng đã ở cùng nhau, khi cậu anh lớn hơn làm sứ giả. Bài đọc nói rằng hai cậu đã có chủ ý chọn làm anh em trong đời này để học hỏi lẫn nhau. (3340-1 và 3346-1).

A contemporary example of adoption in which the attempted soul lessons did not appear to turn out quite so well is told in the story of Heidi and Ben Foster, a couple who were unable to conceive children, so they adopted a daughter and named her Janice. Heidi never kept the adoption a secret from her daughter. Instead, since she believed in karma and reincarnation she simply told Janice that their coming together as a family had been prearranged from the very beginning. Although Ben never took to having a daughter the way Heidi did, one day Janice surprised her mother with the statement: “One time daddy was a mean man and he shot me and you were the doctor.” Although Heidi asked for additional information, her daughter simply looked at her dubiously, as if to say, “Surely you remember!”

Một ví dụ đương đại về việc nhận nuôi mà các bài học của linh hồn tìm cách thực hiện dường như không diễn tiến tốt đẹp được kể trong câu chuyện của Heidi và Ben Foster, một cặp vợ chồng không thể sinh con nên đã nhận nuôi một bé gái và đặt tên là Janice. Heidi không bao giờ giấu Janice chuyện nhận nuôi. Trái lại, vì tin vào nghiệp quả và luân hồi, bà chỉ nói với Janice rằng việc họ đến với nhau như một gia đình đã được sắp đặt từ ban đầu. Dù Ben chẳng bao giờ gắn bó với cô con gái như Heidi, một ngày kia Janice làm mẹ ngạc nhiên khi nói: “Có lần bố là một người đàn ông độc ác và ông ấy bắn con, còn mẹ là bác sĩ.” Dù Heidi hỏi thêm thông tin, con gái chỉ nhìn bà đầy ngờ vực, như thể muốn nói: “Chắc chắn mẹ nhớ chứ!”

According to Heidi, Janice and her adopted father were never close. When Heidi sought a divorce from Ben when her daughter was only nine, it appeared to have little effect on the girl. A few years later when Janice was a teenager, she told her mother: “I’m glad you divorced him. He would have never let me do what I need to do with my life.”

Theo Heidi, Janice và cha nuôi không bao giờ thân thiết. Khi Heidi xin ly hôn với Ben lúc con gái mới chín tuổi, chuyện này dường như chẳng ảnh hưởng mấy đến cô bé. Vài năm sau, khi Janice là thiếu niên, cô nói với mẹ: “Con mừng vì mẹ ly dị ông ấy. Ông ấy sẽ chẳng bao giờ để con làm những gì con cần làm với cuộc đời mình.”

Ben remarried and moved out of state with his new wife and stepchildren. He made little attempt to communicate with Janice, and when she spent over two years in Japan for school he never even wrote one letter.

Ben tái hôn và dọn ra khỏi tiểu bang cùng vợ mới và các con riêng. Ông gần như không cố gắng liên lạc với Janice, và khi cô ở Nhật hơn hai năm để học, ông thậm chí không viết nổi một lá thư.

A few years passed and, when Janice was 25, Ben died unexpectedly. Shortly thereafter Janice had a dream in which she was driving her car with the sunroof open and looked up to see Ben trying to get her attention. She told him to go away and closed the sunroof.

Vài năm trôi qua và khi Janice 25 tuổi, Ben đột ngột qua đời. Không lâu sau, Janice có một giấc mơ trong đó cô đang lái xe, cửa sổ trời mở, và ngước lên thấy Ben đang cố thu hút sự chú ý của cô. Cô bảo ông đi đi và đóng cửa sổ trời lại.

Heidi is certain that her daughter and ex-husband came together to heal their karmic memory from the past. She is just as certain that their connection with one another is far from over. According to Heidi, “I have concluded that the two of them definitely have some negative karma, and that it was not resolved in this life.” Obviously the two will have to try to meet it at some point in the future.

Heidi tin chắc rằng con gái và chồng cũ của bà đã đến với nhau để chữa lành ký ức nghiệp quả từ quá khứ. Bà cũng tin chắc rằng mối liên hệ giữa họ còn lâu mới chấm dứt. Theo Heidi: “Tôi kết luận rằng hai người chắc chắn có một số nghiệp xấu, và nó đã không được giải quyết trong đời này.” Rõ ràng họ sẽ phải tìm cách đối diện nó vào một thời điểm nào đó trong tương lai.

Katie Eubanks states that “there was a time when I felt overwhelmed in dealing with Dawn,” one of her adopted daughters. Dawn had anorexia and the toll on her daughter as well as on the entire family was often more than Katie could handle. Dawn was their first and Katie and her husband subsequently had three additional children. In addition to four children, Katie’s role as a schoolteacher entailed the many demands of students on a daily basis. Katie admits, “There were many occasions when my students left me frazzled and my own children completely consumed me.”

Katie Eubanks nói rằng “đã có lúc tôi cảm thấy bị choáng ngợp khi đối diện với Dawn,” một trong những người con gái nhận nuôi của bà. Dawn bị chứng biếng ăn tâm thần và gánh nặng đè lên con gái cũng như cả gia đình thường vượt quá sức chịu đựng của Katie. Dawn là đứa con đầu lòng của họ và sau đó Katie cùng chồng có thêm ba đứa nữa. Ngoài việc có bốn đứa con, vai trò giáo viên của Katie còn đi kèm vô số đòi hỏi từ học sinh mỗi ngày. Katie thừa nhận: “Có rất nhiều dịp học sinh khiến tôi kiệt sức và chính con cái tôi đã hoàn toàn chiếm hết tôi.”

Without discussing her personal situation, one day Katie obtained a psychic reading from a visiting intuitive. During the reading, the psychic described a past life when Katie had experienced a series of miscarriages, each time “sighing a sigh of relief that there was not the bearing of a child.” Obviously, she did not want the responsibility of having children of her own. Eventually, however, she did have a child, a son. Unfortunately, she abandoned her son to others while the boy was still relatively young.

Không bàn chuyện riêng, một ngày kia Katie xin một bài đọc thông linh từ một nhà trực giác ghé thăm. Trong buổi đọc, nhà thông linh mô tả một kiếp sống khi Katie trải qua một chuỗi lần sẩy thai, mỗi lần đều “thở phào nhẹ nhõm vì không phải sinh con.” Rõ ràng, bà không muốn gánh trách nhiệm có con. Tuy nhiên, sau cùng bà cũng có một đứa con trai. Không may, bà bỏ mặc con trai cho người khác khi cậu còn khá nhỏ.

Katie suddenly realized that Dawn had been the child she had once abandoned: “We had sought her out and adopted her as a tiny baby. She was vital in our lives—without her, I’m certain we would not have had any other children. Katie also understood that the many demands of children placed upon her was a karmic balance to having once neglected her responsibilities. That understanding proved extremely helpful, facilitating a new awareness and an approach that helped Katie get through even the most difficult of times.

Katie chợt hiểu rằng Dawn chính là đứa con bà đã từng bỏ rơi: “Vợ chồng tôi đã đi tìm và nhận nuôi con khi con còn là một bé sơ sinh. Con đóng vai trò thiết yếu trong đời chúng tôi—không có con, tôi chắc chắn chúng tôi đã không có thêm đứa nào.” Katie cũng hiểu rằng muôn vàn đòi hỏi con cái đặt lên bà là một thế cân bằng nghiệp quả cho việc từng lơ là trách nhiệm. Sự thấu hiểu đó tỏ ra vô cùng hữu ích, mở ra một nhận thức mới cùng cách tiếp cận giúp Katie vượt qua ngay cả những thời khắc khó khăn nhất.

Eventually, Dawn received the treatment she needed for anorexia and is today a grown woman with a family of her own. As for Katie, she cannot imagine her life without children: “ I am reaping the fruits of my new understanding. I experience so much joy and love from my marriage, my children and my grandchildren, and even from my students. My life feels fulfilled.”

Sau cùng, Dawn nhận được điều trị cần thiết cho chứng biếng ăn và nay là một phụ nữ trưởng thành có gia đình riêng. Về phần Katie, bà không thể hình dung đời mình nếu không có con: “Tôi đang gặt hái trái thơm của sự thấu hiểu mới. Tôi cảm nhận quá nhiều niềm vui và tình thương từ cuộc hôn nhân, các con, các cháu của tôi, và ngay cả từ học sinh. Đời tôi thấy viên mãn.”

An example of attempting to work through a negative parent–child memory from the past is contained in the story of Ruth Peterson and Ellen Norris. Both women were in their thirties when they met one another through Ellen’s occupations as a manicurist and a cashier. They became friendly acquaintances.

Một ví dụ về nỗ lực hóa giải một ký ức tiêu cực giữa cha mẹ–con cái từ quá khứ nằm trong câu chuyện của Ruth Peterson và Ellen Norris. Cả hai đều ở tuổi ba mươi khi gặp nhau qua công việc của Ellen là thợ làm móng và thu ngân. Họ trở thành những người quen thân thiện.

Ruth was a longtime enthusiast of the Edgar Cayce material and after she had known Ellen long enough to feel comfortable mentioning the subject, she volunteered Cayce’s name as an individual who might be of assistance, as Ellen suffered with polio. Ruth had had a number of her own readings, including life, relationship and health readings. In fact, Edgar Cayce told Ruth that in her most recent past life she had been a saloon entertainer in the Old West at the same time that Cayce had been a drifter and a “ne’er do well,” and the two had become friends. It was in that same incarnation that Ruth had apparently abandoned a daughter into the care of Indians.

Ruth là người lâu năm say mê tài liệu của Edgar Cayce, và sau khi quen Ellen đủ lâu để thấy thoải mái khi đề cập đề tài này, bà gợi tên Cayce như một người có thể giúp ích, vì Ellen mắc bại liệt. Ruth đã có nhiều bài đọc cho chính mình, gồm các bài đọc đời sống, mối quan hệ và sức khỏe. Thực tế, Edgar Cayce từng nói với Ruth rằng trong kiếp gần nhất bà là một nữ ca sĩ phòng rượu ở Miền Viễn Tây thời xưa, cùng thời với khi Cayce là một kẻ lang bạt và “vô tích sự,” và hai người trở thành bạn. Cũng trong kiếp đó, Ruth dường như đã ruồng bỏ một cô con gái, trao con cho người da đỏ chăm sóc.

Ellen followed Ruth’s advice and obtained both health and life readings. Through the information she learned that the polio was the karmic result of her inflicting bodily harm upon others in a previous incarnation. What came as a greater surprise, however, was that the reading suggested that Ellen had been the very daughter that Ruth had abandoned in the Old West. Cayce went on to say that Ruth’s karmic memory of having abandoned a child could be healed in the present by helping Ellen with her polio:

Ellen nghe theo lời khuyên của Ruth và xin cả bài đọc sức khỏe lẫn bài đọc đời sống. Qua thông tin nhận được, cô biết bại liệt là kết quả nghiệp quả do cô đã gây hại thân thể người khác trong một kiếp trước. Điều khiến cô ngạc nhiên hơn là bài đọc gợi ý rằng Ellen chính là cô con gái mà Ruth từng bỏ rơi ở Miền Viễn Tây. Cayce nói tiếp rằng ký ức nghiệp quả của Ruth về việc bỏ rơi một đứa con có thể được chữa lành trong hiện tại bằng cách giúp Ellen với chứng bại liệt:

We find that the entity was a child of … [Ruth Peterson] … we find that here, in the present experience, much of that as karmic forces in that sojourn by that mother, may be met in the present by her ministry to this entity.

Chúng ta thấy rằng thực thể là một đứa con của … [Ruth Peterson] … chúng ta thấy rằng ở đây, trong kinh nghiệm hiện tại, nhiều điều thuộc về các lực nghiệp quả trong kiếp du hành ấy nơi người mẹ đó, có thể được gặp gỡ trong hiện tại nhờ sự phụng sự của bà dành cho thực thể này.

Then, keep thou the faith. And indeed may that mother [Ruth] find herself in that love, in that needed activity in self, to be—herself—consistent; that there may be brought those helps not only to the body here, but the fullness of the purpose towards creative influences in the life.

Vậy, hãy giữ vững đức tin. Và thật vậy, mong rằng người mẹ [Ruth] ấy tự thấy mình trong tình thương, trong hoạt động cần thiết nơi tự thân, để—tự chính bà—được kiên định; hầu có thể mang đến những trợ giúp không chỉ cho thân thể này, mà còn sự viên mãn của mục đích hướng về các ảnh hưởng sáng tạo trong đời sống.

2778-2

2778-2

In order to treat the condition, Cayce recommended ongoing massage as well as the use of a heat cabinet and electrical stimulation to various parts of the body. Because she had such faith in the Cayce information, Ruth Peterson undertook the task of providing the treatments. Within six months, Ellen’s condition had improved dramatically; however, something that Ruth had not foreseen began to take place in that Ellen appeared to relish the role of patient. Ruth Peterson eventually made a report in the 1950s to the Edgar Cayce Foundation, describing what had transpired:

Để điều trị tình trạng bệnh, Cayce khuyến nghị xoa bóp liên tục, dùng buồng nhiệt và kích thích điện đến nhiều phần của cơ thể. Vì có niềm tin mạnh mẽ vào thông tin của Cayce, Ruth Peterson đảm nhận việc cung cấp các liệu pháp. Trong vòng sáu tháng, tình trạng của Ellen cải thiện rõ rệt; tuy nhiên, điều Ruth không lường trước đã xảy ra: Ellen có vẻ thích thú vai trò bệnh nhân. Cuối cùng, Ruth Peterson làm một tường trình vào thập niên 1950 cho Quỹ Edgar Cayce, mô tả diễn biến:

… because I felt so sorry to see anyone in such a physical condition, I made arrangements for Miss [Norris] to have a room (and board) with my mother, who lived right across the street from me, and further engaged my father to make a rub-down table—had the heat cabinet made and wired, and generally setting everything in order so that the treatments could be carried out … In the final analysis, I did all of the massaging. So far as I can remember now, the treatments extended for almost 2 years, beginning in August 1942, and running until May, 1944.

… vì tôi cảm thấy quá đau lòng khi thấy ai đó trong tình trạng thể chất như vậy, tôi thu xếp để cô [Norris] có một phòng (và ăn) ở nhà mẹ tôi, người sống ngay đối diện nhà tôi, rồi nhờ cha tôi đóng một chiếc bàn xoa bóp—cho làm một buồng nhiệt, đấu điện, và nhìn chung là sắp đặt mọi thứ để liệu pháp có thể tiến hành … Sau chót, chính tôi làm toàn bộ việc xoa bóp. Theo tôi nhớ thì các liệu trình kéo dài gần 2 năm, bắt đầu từ tháng Tám 1942 và đến tháng Năm 1944.

During the course of treatments, I learned that the patient had been in and out of hospitals or institutions for Polio from the time she was stricken until her late ‘teens. At least 3 or 4 major operations were performed on her feet and legs and thighs, to relieve the drawing in her legs as well as prevent the toe, ankle and knee joints from becoming crystallized. She wore braces which fitted around the thighs, holding the weight of her body from her hips up, when she walked. She spoke often of having no home life and felt that she was not wanted by her parents and in particular—that her mother didn’t wish to care for her. I have no way of knowing whether or not this was true, but she felt her “rejection” strongly, and often referred to it.

Trong quá trình trị liệu, tôi biết rằng bệnh nhân đã ra vào bệnh viện hay các cơ sở dành cho người bại liệt từ khi cô bị bệnh cho đến cuối tuổi thiếu niên. Ít nhất 3 hoặc 4 cuộc phẫu thuật lớn đã được tiến hành trên bàn chân, cổ chân và đùi của cô để giảm co rút chân và ngăn các khớp ngón chân, cổ chân và gối bị kết cứng. Cô mang nẹp ôm quanh đùi, khi đi nẹp giữ trọng lượng cơ thể cô từ hông trở lên. Cô thường nói về việc không có đời sống gia đình và cảm thấy mình không được cha mẹ muốn, đặc biệt—rằng mẹ cô không muốn chăm sóc cô. Tôi không biết điều đó đúng hay không, nhưng cô cảm thấy “bị chối bỏ” rất mạnh và thường nhắc đến điều ấy.

Three months after starting the treatments the patient was able to stand without crutches or braces, and for the first time in her life bore her weight on her legs. However, she could not keep her balance, not stand for any length of time.

Ba tháng sau khi bắt đầu trị liệu, bệnh nhân có thể đứng mà không cần nạng hay nẹp, và lần đầu trong đời, tự chịu trọng lượng trên đôi chân mình. Tuy vậy, cô không thể giữ thăng bằng, cũng không thể đứng lâu.

By the spring of 1943 the improvement was so marked that the muscles were beginning to respond; for instance her toes, and the muscles inside the knee would move. The feet and toes which hung from the ankle as if they were broken, showed signs of control, with the texture of the skin changing. Thus, in the first months, her progress was outstanding and her attitude was optimistic, construct[ive], and expectant …

Đến mùa xuân 1943, sự cải thiện rõ đến mức các cơ bắt đầu đáp ứng; ví dụ các ngón chân và cơ trong gối đã cử động. Bàn chân và các ngón, trước đây thõng xuống từ cổ chân như thể bị gãy, đã cho thấy dấu hiệu kiểm soát, với kết cấu da thay đổi. Như vậy, trong những tháng đầu, tiến triển của cô rất nổi bật và thái độ thì lạc quan, xây dựng và đầy mong đợi …

By January, 1943, she was beginning to look forward to the attention the treatments were providing her with. The focus of purpose apparently shifted from getting well to retaining the care. As she persisted in this attitude, the therapy sessions became strained, and disturbing to both of us. The insistence on personal attentions—perhaps seeking the “babying” she had felt deprived of all her life, made it necessary that we attempt to reach an understanding of what our individual purposes and desires were. At this point I asked her, “Would your rather have the personal attention, or would you rather walk?” and she replied, “I’d rather have your personal attention, if I would have to choose between the two.”

Đến tháng Giêng 1943, cô bắt đầu mong chờ sự chú ý mà các liệu pháp mang lại. Trọng tâm mục đích dường như chuyển từ việc hồi phục sang việc duy trì sự chăm sóc. Khi cô kiên trì với thái độ này, các buổi trị liệu trở nên căng thẳng và gây xao động cho cả hai chúng tôi. Sự nhấn mạnh vào những chăm sóc mang tính cá nhân—có lẽ là đi tìm sự “vỗ về như trẻ nhỏ” mà cô cảm thấy mình bị thiếu hụt suốt đời—khiến chúng tôi buộc phải cố đạt tới một sự hiểu biết về mục đích và mong muốn riêng của mỗi người. Ở điểm này tôi hỏi cô, “Cô muốn có sự chăm sóc cá nhân hơn, hay muốn đi lại được hơn?” và cô đáp, “Tôi muốn có sự chăm sóc cá nhân của bà, nếu phải chọn một trong hai.”

2778-6 Report File

2778-6 Hồ sơ báo cáo

When the relationship became strained, a second life reading was obtained in which Cayce clarified the responsibility each bore toward the other. Although Ruth had abandoned her daughter, the karmic experience of polio was not Ruth’s responsibility. In addition, the readings stated that Ruth’s abandonment had not been “premeditated,” but “rather as of stress of circumstance.”

Khi mối quan hệ trở nên căng thẳng, một bài đọc đời sống thứ hai được xin để Cayce làm rõ trách nhiệm mỗi người dành cho người kia. Dù Ruth đã bỏ rơi con gái, kinh nghiệm nghiệp quả của chứng bại liệt không phải trách nhiệm của Ruth. Thêm nữa, các bài đọc nêu rằng việc bỏ rơi của Ruth không “có chủ ý từ trước” mà “là do áp lực hoàn cảnh.”

When Ellen threatened repeatedly to quit her treatments, Ruth talked her out of it. This went on for some time until the day came when Ellen refused to have any further treatments. According to Ruth’s report: “She said to me one day, ‘I’m not going to take any more treatments,’ and this time I made no effort to talk her out of it. She left Virginia Beach and I did not see her again.”

Khi Ellen dọa bỏ trị liệu hết lần này đến lần khác, Ruth đều khuyên can cô. Chuyện này kéo dài khá lâu cho đến ngày Ellen từ chối điều trị thêm. Theo tường trình của Ruth: “Một ngày cô nói với tôi, ‘Tôi sẽ không nhận thêm liệu pháp nào nữa,’ và lần này tôi không cố thuyết phục cô nữa. Cô rời Virginia Beach và tôi không gặp lại cô ấy.”

Occasional communication did continue between the two and it was learned that Ellen had improved enough to discard the leg braces and was able to use short crutches, “almost like canes … much better and less confining than the old ones.” Ellen also kept up correspondence with greeting, birthday, and Christmas cards to Ruth and several members of Ruth’s family. The last notations in Ellen’s file suggest that multiple times throughout the 1970s she requested additional information from A.R.E., as well as various copies of her readings.

Việc liên lạc lẻ tẻ vẫn tiếp diễn giữa hai người và người ta biết rằng Ellen đã cải thiện đủ để bỏ nẹp chân và dùng nạng ngắn, “gần như gậy… tốt hơn nhiều và ít gò bó hơn loại cũ.” Ellen cũng tiếp tục gửi thiệp chúc, sinh nhật và Giáng sinh cho Ruth và vài thành viên gia đình Ruth. Những ghi chú sau cùng trong hồ sơ của Ellen cho thấy nhiều lần trong thập niên 1970 cô đã yêu cầu thêm thông tin từ A.R.E., cũng như nhiều bản sao bài đọc của mình.

A contemporary example of past-life abandonment is told by a mother who says, “It was extremely difficult raising a child who constantly seemed to resent me. I spent years questioning what I had done to be so hated by my daughter.” It was only after the girl married and had a child of her own that mother and daughter began a constructive relationship with one another: “after my granddaughter was born, our relationship had a complete turnaround.”

Một ví dụ đương đại về chuyện bỏ rơi tiền kiếp được kể bởi một người mẹ nói rằng, “Việc nuôi một đứa trẻ dường như luôn oán giận tôi là vô cùng khó khăn. Tôi đã dành nhiều năm tự hỏi mình đã làm gì để bị con gái căm ghét đến vậy.” Chỉ đến khi cô gái kết hôn và có con, mối quan hệ giữa mẹ và con mới bắt đầu có tính xây dựng: “sau khi cháu gái tôi chào đời, mối quan hệ của chúng tôi đã đổi hướng hoàn toàn.”

It was several years later during a reverie at a conference program dealing with the subject of past lives that the woman finally got a possible glimpse of the karmic problem. The past-life reverie also gave her an understanding of the feet and leg pain that had been a problem for much of her life.

Vài năm sau, trong một cảnh miên tưởng tại một chương trình hội thảo về tiền kiếp, người phụ nữ cuối cùng hé thấy có thể về vấn đề nghiệp quả. Cảnh miên tưởng cũng cho bà hiểu về chứng đau chân và chân đã là vấn nạn trong phần lớn đời bà.

During the reverie, the woman saw herself as a Jewish woman in the Holy Land who had fallen in love with a Christian Knight who had come to fight the Crusades. Their love eventually led to a pregnancy and the woman gave birth to daughter, whom she left behind to follow her knight after he returned home. During the reverie she saw herself walking hundreds of miles and perishing before she found him. Her abandoned infant had returned as her present-day daughter, and the resentment the girl possessed finally had a rationale explanation. The awareness of their past connection was the impetus that finally enabled the woman to begin healing their relationship.

Trong cảnh miên tưởng, bà thấy mình là một phụ nữ Do Thái ở Thánh Địa, đã yêu một Hiệp sĩ Kitô giáo đến tham chiến trong các cuộc Thập Tự chinh. Tình yêu của họ cuối cùng dẫn đến một thai kỳ và bà sinh con gái, rồi bỏ con lại để theo vị hiệp sĩ khi ông quay về quê hương. Trong cảnh ấy, bà thấy mình đi bộ hàng trăm dặm và chết trước khi tìm được ông. Đứa bé bị bỏ rơi đã trở lại làm con gái hiện tại của bà, và mối oán giận mà cô gái mang theo cuối cùng có lời giải thích hợp lý. Nhận biết về mối liên hệ quá khứ là động lực cuối cùng giúp người phụ nữ bắt đầu chữa lành mối quan hệ của họ.

The Edgar Cayce readings frequently related histories in which parents and children are brought together in a relationship to learn from one another. Sometimes that learning is challenging and difficult, on other occasions that learning is facilitated by example and through love. This process of personal growth and development is simply the means by which each individual meets his or her karmic memory— the means by which each individual meets self. As Cayce told the parents of an eleven-year-old boy:

Các bài đọc của Edgar Cayce thường kể lại những lịch sử trong đó cha mẹ và con cái được đưa lại gần nhau trong một mối quan hệ để học hỏi lẫn nhau. Đôi khi việc học ấy đầy thử thách và khó khăn; những lần khác, việc học được thúc đẩy bằng tấm gương và qua tình thương. Tiến trình trưởng thành và phát triển cá nhân này đơn giản là phương tiện qua đó mỗi người gặp gỡ ký ức nghiệp quả của mình—phương tiện qua đó mỗi người gặp lại chính mình. Như Cayce đã nói với cha mẹ của một cậu bé mười một tuổi:

Yet oft, as we find here, individuals again and again are drawn together that there may be the meeting in the experience of each that which will make them aware of wherein they, as individuals (individual entity and soul), have erred respecting experiences in materiality or soul life even. For the soul lives on …

Tuy nhiên, thường khi, như ta thấy ở đây, các cá nhân hết lần này đến lần khác được thu hút lại với nhau để trong kinh nghiệm của mỗi người có sự gặp gỡ những điều sẽ làm họ nhận ra họ, với tư cách là những cá nhân (thực thể cá nhân và linh hồn), đã sai trệch ở đâu đối với những kinh nghiệm trong vật chất hay thậm chí trong đời sống linh hồn. Vì linh hồn còn sống mãi …

693-11

693-11

From the Edgar Cayce readings as well as contemporary examples it is clear that family relationships are much more complex than may be observed at face value: They involve an ongoing process of karmic experiences and memories from the past playing out against the dynamics of free will in present time.

Từ các bài đọc của Edgar Cayce cũng như những ví dụ đương đại, rõ ràng rằng các mối quan hệ gia đình phức tạp hơn nhiều so với cái nhìn bề mặt: Chúng bao hàm một tiến trình liên tục của những kinh nghiệm và ký ức nghiệp quả từ quá khứ diễn ra trong động lực của tự do ý chí trong hiện tại.

4

Karmic Relationships Between Siblings—Những Mối Quan Hệ Nghiệp Quả Giữa Anh Chị Em

Then the entity became associated with many of those that are in the entity’s own household in the present, and their contacts, their aids, their fallings away, are necessary for the developments of all so associated in the present.

Rồi thực thể gắn bó với nhiều người hiện đang ở chính trong gia đình của thực thể ở hiện tại, và các tiếp xúc của họ, các trợ giúp của họ, các sự rời xa của họ, là cần thiết cho sự phát triển của tất cả những ai cùng gắn bó như thế trong hiện tại.

378-12

378-12

The Edgar Cayce’s readings indicate that every individual within a family generally has strong karmic ties with every other member of his or her family. Simply stated, a family’s interconnectedness with each other is essentially a complex archaeological dig of past lives and historical experiences that cannot help but influence present-day interactions. To be sure, the strong subconscious memories that each individual possesses of every other family member can lead to intense disagreements, anger and frustration, but it may just as likely contribute to lasting friendships, joy, and some of the deepest connections individuals experience.

Các bài đọc của Edgar Cayce cho thấy rằng mỗi cá nhân trong một gia đình thường có những mối dây nghiệp quả mạnh mẽ với mọi thành viên khác trong gia đình. Nói giản dị, sự tương liên của một gia đình với nhau về cơ bản là một cuộc khai quật khảo cổ học phức tạp của các tiền kiếp và những trải nghiệm lịch sử không thể không ảnh hưởng đến những tương tác hiện tại. Chắc chắn, những ký ức tiềm thức mạnh mẽ mà mỗi người mang theo về từng thành viên khác có thể dẫn đến tranh cãi gay gắt, giận dữ và bực bội, nhưng cũng có khả năng không kém là chúng góp phần tạo nên tình bạn bền vững, niềm vui và vài kết nối sâu sắc nhất mà con người từng trải.

In regards to the workings of family karma and the best response to that karmic memory, the Edgar Cayce material suggests that there are essentially two things to keep in mind: (1) Relationships pick up exactly where they have been left off; in other words, there is often a continuity of expression (negatively or positively) in every relationship; and, (2) Regardless of past-life memories that are influencing a present-day relationship, free will remains the strongest determinant of how that relationship will evolve.

Về cách hoạt động của nghiệp quả gia đình và cách đáp ứng tốt nhất với ký ức nghiệp quả đó, tài liệu của Edgar Cayce gợi ý rằng về cơ bản có hai điều cần ghi nhớ: (1) Các mối quan hệ tiếp nối chính xác ở chỗ chúng đã dừng—nói cách khác, thường có sự liên tục biểu lộ (tiêu cực hoặc tích cực) trong mọi quan hệ; và (2) Bất kể ký ức tiền kiếp đang ảnh hưởng đến một mối quan hệ hiện tại ra sao, tự do ý chí vẫn là yếu tố quyết định mạnh mẽ nhất đối với tiến trình phát triển của mối quan hệ ấy.

The Edgar Cayce information often reminded individuals of the importance of free will and encouraged them to keep their focus on the here and now. For example, when a thirty-six-year-old woman asked for further clarification about a past-life experience when she had apparently had problems with her sister, Cayce encouraged her to keep her focus on the present: “ … know—as just indicated—you are having the same problems with the same individuals in the present.” (288-48)

Thông tin của Edgar Cayce thường nhắc mọi người về tầm quan trọng của tự do ý chí và khuyến khích họ giữ sự chú tâm vào đây-và-bây giờ. Ví dụ, khi một phụ nữ ba mươi sáu tuổi xin làm rõ hơn về một trải nghiệm tiền kiếp khi cô dường như đã có vấn đề với chị gái, Cayce khuyên cô nên giữ sự chú tâm vào hiện tại: “ … hãy biết—như vừa chỉ ra—cô đang có cùng những rắc rối với chính những người đó trong hiện tại.” (288-48)

In regards to the lawful continuity of relationships picking up exactly where they left off, Cayce told a brother and sister that their challenges were simply the same issues from the past that hadn’t been “worked out.” The problem had manifested in the present when the brother gave bad financial advice about a business dealing to his sister. In the course of the reading, Cayce assured the sister that the problem could be “righted,” enabling them to have a positive relationship with one another and correcting what had once gone wrong. (1000-14)

Về tính hợp luật của sự liên tục khi các mối quan hệ tiếp nối chính xác nơi chúng đã dừng, Cayce nói với một anh và một chị rằng các thử thách của họ chỉ là những vấn đề từ quá khứ chưa được “giải quyết xong.” Vấn đề biểu lộ trong hiện tại khi người anh đưa cho chị mình lời khuyên sai lầm về tài chính liên quan đến một thương vụ. Trong quá trình bài đọc, Cayce trấn an người chị rằng vấn đề có thể được “sửa cho đúng,” cho phép họ có một mối quan hệ tích cực với nhau và sửa chữa điều từng trục trặc. (1000-14)

On another occasion, a twenty-one-year-old law student was told that he and his younger brother had come into the same family, “choosing the same mother” in the process because of their closeness in a past life in Palestine. At that time the student had been in some position of authority and his younger brother had served in the capacity of counselor. Cayce stated that although they had often disagreed during that experience (and would inevitably do so in the present), it had not affected the close bond between them. (2542-1 and 2677-1)

Trong một dịp khác, một sinh viên luật hai mươi mốt tuổi được cho biết rằng anh và em trai đã vào cùng một gia đình, “chọn cùng một người mẹ” trong tiến trình ấy, vì sự gắn bó gần gũi trong một kiếp ở Palestine. Khi đó, sinh viên giữ một vị trí quyền hạn nào đó và em trai giữ vai trò cố vấn. Cayce nói rằng, dù họ thường bất đồng trong kiếp ấy (và tất yếu cũng sẽ như vậy trong hiện tại), điều đó không ảnh hưởng đến sợi dây gắn bó chặt chẽ giữa họ. (2542-1 và 2677-1)

A twenty-three-year-old woman learned that the ongoing resentment and rivalry she felt from her brother was traceable to their shared experience in Rome during the formation of the early Church. Apparently at that time in Church history women could hold positions of spiritual authority, and her brother had become jealous and resentful when she was elevated to Church deaconess—surpassing his own position of authority in the Church. Cayce suggested that the karmic memory of that experience was at the heart of his resentment (2803-2).

Một phụ nữ hai mươi ba tuổi biết rằng sự oán giận và ganh đua dai dẳng cô cảm nhận từ anh trai bắt nguồn từ trải nghiệm chung của họ ở La Mã khi Giáo hội sơ khai được hình thành. Có vẻ vào thời điểm ấy trong lịch sử Giáo hội, phụ nữ có thể nắm giữ các vị trí quyền hạn tinh thần, và anh cô đã trở nên ghen tị, bực bội khi cô được tấn phong làm nữ phó tế—vượt trên địa vị của chính anh trong Giáo hội. Cayce gợi ý rằng ký ức nghiệp quả của trải nghiệm đó là cốt lõi nỗi oán giận của anh (2803-2).

Being more positive in nature, two sisters learned that their present-day reliance upon one another was simply the continuation of the same type of relationship they had once shared in ancient Egypt, when the two had been close friends and often counseled with and depended upon one another (958-3).

Tích cực hơn, hai chị em gái biết rằng sự nương tựa vào nhau trong hiện tại chỉ là sự tiếp nối của cùng kiểu quan hệ họ từng chia sẻ ở Ai Cập cổ, khi hai người là bạn thân và thường tham vấn, nương tựa vào nhau (958-3).

An interesting case history of sibling karma is found in the story of Anna Campbell and her sister, Vera. For as long as she could remember, the sisters had disliked one another. From Anna’s perspective it always seemed as though Vera had been competing with her—at home, at school, and among their friends. Although Vera was the eldest, she had come across as being extremely jealous; she didn’t want Anna to share her friends, her toys, or even her secrets. The conflict between them had been so routine that their mother eventually gave up all hope of ever reconciling the two. In fact, she once told them, “You’ll have to fight it out between the two of you.” And fight it out they did.

Một trường hợp thú vị về lịch sử nghiệp quả giữa anh chị em được tìm thấy trong câu chuyện của Anna Campbell và chị gái của cô, Vera. Từ bao lâu Anna còn nhớ được, hai chị em đã không ưa nhau. Từ góc nhìn của Anna, dường như Vera luôn cạnh tranh với cô—ở nhà, ở trường và trong đám bạn bè. Dù Vera là chị cả, cô lại tỏ ra cực kỳ ghen tuông; cô không muốn Anna chia sẻ bạn bè, đồ chơi, hay thậm chí cả bí mật của mình. Mâu thuẫn giữa họ trở nên thường nhật đến mức mẹ họ cuối cùng từ bỏ mọi hy vọng hòa giải. Thậm chí, có lần bà nói với hai người: “Hai đứa phải tự giải quyết với nhau thôi.” Và họ đã “giải quyết” đúng như thế.

Of six children in the Campbell household, they were the only two that always had a problem with one another. To make matters worse, as the only girls they had been forced to share a room. At one point the anger between them had caused one of the sisters to take a piece of chalk and draw a line across the wooden floor. And, according to Anna, from that time forward: “Vera had her side of the room, and I had mine.” While they were growing up, frequently each had pretended that the other did not even exist.

Trong sáu đứa con nhà Campbell, chỉ có hai người họ là luôn gặp rắc rối với nhau. Tệ hơn nữa, vì là hai đứa con gái duy nhất nên họ bị buộc phải chung phòng. Có lúc cơn giận giữa họ khiến một trong hai lấy viên phấn vạch một đường trên sàn gỗ. Và, theo lời Anna, từ dạo ấy: “Vera có phía của cô ấy trong phòng, còn tôi có phía của tôi.” Khi lớn lên, họ thường xuyên giả vờ như người kia hoàn toàn không hiện hữu.

As time passed and the two grew to adulthood, problems persisted between them. Anna once admitted to Cayce biographer Gina Cerminara that Vera was “so secretive that she didn’t even want me to know how many pairs of hose she owned,” and that Vera seemed to feel justified in taking anything that belonged to her sister: “She always felt quite free to take anything that was mine—first without my knowing it and eventually it didn’t matter whether I knew it or not.” (1523-11 Report File). Eventually Anna married and the relationship with her sister deteriorated to the point that Vera couldn’t even stand to be in the same room as the couple.

Theo thời gian, khi cả hai trưởng thành, rắc rối giữa họ vẫn dai dẳng. Anna từng thừa nhận với nhà viết tiểu sử Cayce là Gina Cerminara rằng Vera “quá kín đáo đến mức cô ấy thậm chí không muốn tôi biết cô ấy có bao nhiêu đôi vớ,” và rằng Vera dường như tự cho mình quyền lấy bất cứ thứ gì thuộc về chị: “Cô ấy luôn cảm thấy khá tự do lấy bất cứ thứ gì là của tôi—ban đầu thì không cho tôi biết và sau rốt thì chẳng còn quan trọng là tôi có biết hay không.” (Hồ sơ Báo cáo 1523-11). Sau đó Anna kết hôn và mối quan hệ với chị gái xấu đi đến mức Vera thậm chí không thể chịu nổi khi ở cùng phòng với vợ chồng Anna.

Because of a health condition, Anna eventually came to Edgar Cayce for a reading. The effectiveness of his physical recommendations prompted her to seek out additional information in numerous readings about her health, her past lives, her marriage, and a variety of relationships. In fact, it was during one of her follow-up readings that Anna asked for information about the karmic connection with her sister in the following question: “What has been the past association with my sister, Vera, that has brought about the apparent antagonistic attitude toward one another? Just how should I meet this situation for our mutual development?” (1523-11)

Do một vấn đề sức khỏe, cuối cùng Anna tìm đến Edgar Cayce để xin một bài đọc. Hiệu quả của các khuyến nghị về thể chất khiến cô tiếp tục tìm thêm thông tin trong nhiều bài đọc về sức khỏe, tiền kiếp, hôn nhân và nhiều mối quan hệ khác. Thật vậy, trong một bài đọc tiếp theo, Anna đã hỏi về mối liên hệ nghiệp quả với chị gái qua câu hỏi: “Trong quá khứ tôi đã có mối liên hệ gì với chị gái tôi, Vera, khiến phát sinh thái độ dường như đối nghịch lẫn nhau? Tôi nên đối diện tình huống này thế nào để chúng tôi cùng phát triển?” (1523-11)

Cayce replied that in their most recent incarnation the two had known each other in the Tidewater, Virginia, area. At the time, Vera had been married to a man who had become quite ill. Rather than attending to the needs of her husband, Vera kept herself busy with other duties and obligations, apparently allowing her husband to fend for himself. However, another woman in town took pity on the man and nursed him back to health. The other woman had been Anna and the man had been none other than Anna’s present-day husband. During that experience, Vera became resentful and bitter because in her mind another woman had stolen the affections of her husband. At the same time, Anna resented Vera for essentially abandoning her husband. Cayce described the situation, as follows:

Cayce đáp rằng trong lần lâm phàm gần đây nhất, hai người từng biết nhau ở vùng Tidewater, Virginia. Lúc đó, Vera kết hôn với một người đàn ông lâm trọng bệnh. Thay vì chăm sóc chồng, Vera bận rộn với những bổn phận và công việc khác, dường như để mặc chồng tự lo liệu. Tuy nhiên, một người phụ nữ khác trong thị trấn động lòng trắc ẩn và chăm sóc ông đến khi bình phục. Người phụ nữ ấy là Anna, và người đàn ông ấy không ai khác chính là chồng hiện tại của Anna. Trong trải nghiệm đó, Vera trở nên uất ức và cay nghiệt vì trong tâm trí cô, một phụ nữ khác đã cướp mất tình cảm của chồng mình. Đồng thời, Anna oán trách Vera vì về cơ bản đã bỏ rơi chồng. Cayce mô tả tình huống như sau:

In that experience we find that in the Tidewater area they were antagonists for the companionship of the present husband. Not that the entity took the husband away from the sister, but because of their associations, because of their companionship, because of the willingness to bring encouragement and to nurse the entity back to life, there came first that of jealousy, then suspicion and then hate.

“Trong trải nghiệm đó, chúng ta thấy rằng ở vùng Tidewater họ là đối thủ cho sự bầu bạn của người chồng hiện tại. Không phải là thực thể đã cướp người chồng khỏi chị mình, mà bởi vì mối giao du của họ, bởi vì sự bầu bạn của họ, bởi vì sự sẵn lòng đem lại khích lệ và chăm sóc thực thể ấy hồi sinh, nên trước hết nảy sinh ghen tuông, rồi ngờ vực và sau đó là oán hận.”

Thus, as indicated in the present experience of each, they are each suspicious of the other—more than hating or misjudging the other.

“Vì thế, như đã chỉ ra trong trải nghiệm hiện tại của mỗi người, họ nghi kỵ nhau—hơn là ghét bỏ hay đánh giá sai về nhau.”

1523-11

1523-11

In terms of how they could heal their relationship in the present, the reading encouraged Anna to give her sister hope, help, confidence, love, harmony and peace. Because of their family connection as well as the fact that they lived in close proximity to one another, the reading also suggested that the two would have frequent “association and companionship.” Cayce encouraged Anna with the following: “Sow seeds of confidence, even though they are trampled upon. But don’t sow them and expect them to be trampled upon! Be hurt whenever they are, yes—but do it again and again!”

Về cách hàn gắn mối quan hệ hiện tại, bài đọc khuyến khích Anna đem đến cho chị mình hy vọng, sự giúp đỡ, niềm tin, tình thương, hòa hợp và bình an. Vì mối liên hệ gia đình cũng như việc hai người sống gần nhau, bài đọc còn gợi ý rằng họ sẽ thường xuyên có những “giao tiếp và bầu bạn.” Cayce động viên Anna như sau: “Hãy gieo hạt giống của niềm tin, dù cho chúng bị giẫm đạp. Nhưng đừng gieo với kỳ vọng rằng chúng sẽ bị giẫm đạp! Bị tổn thương mỗi khi điều ấy xảy ra, phải—nhưng hãy làm lại, hết lần này đến lần khác!”

Although the advice was not easy, over the years Anna continued to work on her relationship with Vera. When the parents of the two sisters grew old and became ill and the sisters had to help take care of them, the situation provided more than a decade of opportunities to continue to work with their feelings toward one another. Eventually, Anna even admitted that the two could now “tolerate” one another. However, just being tolerant would not finish their work together.

Dù lời khuyên không dễ thực hành, qua nhiều năm Anna vẫn tiếp tục làm việc với mối quan hệ của mình với Vera. Khi cha mẹ hai chị em về già và lâm bệnh, buộc hai người phải góp sức chăm sóc, tình huống ấy đem lại hơn mười năm cơ hội để tiếp tục chuyển hóa cảm xúc dành cho nhau. Cuối cùng, Anna thậm chí thừa nhận rằng giờ đây hai người có thể “chịu đựng” nhau. Tuy vậy, chỉ khoan dung thôi thì chưa thể hoàn tất công việc chung của họ.

Late in life Anna and Vera found themselves thrown together as each other’s closest relative. When she was nearly eighty, Vera became bedridden with no one to care for her except for her seventy-year-old sister. The situation lasted for two years, and although Anna had nursing assistance in caring for her sister, in a very real sense they had many opportunities to be alone together and talk, and reminisce, and think of days gone by. Toward the end of Vera’s life it seemed as though all animosity that had existed between them was finally gone. In fact, two days before she died, with words carrying a great deal of emotion and sincerity Vera whispered to Anna, “I hope we can be sisters again.”

Về cuối đời, Anna và Vera thấy mình buộc phải gắn bó với nhau như những thân nhân gần gũi nhất. Khi gần tám mươi tuổi, Vera nằm liệt giường và không ai chăm sóc ngoài người em gái bảy mươi tuổi. Tình trạng ấy kéo dài hai năm, và dù Anna có sự hỗ trợ điều dưỡng để chăm sóc chị, thì theo một nghĩa rất thực, họ có nhiều cơ hội ở riêng với nhau để trò chuyện, hồi tưởng, và nghĩ về ngày xưa. Về cuối đời Vera, dường như mọi hiềm khích giữa họ cuối cùng đã tan biến. Thực vậy, hai ngày trước khi qua đời, với lời lẽ chan chứa cảm xúc và chân thành, Vera thì thầm với Anna: “Tôi hy vọng chúng ta có thể lại làm chị em.”

Since relationship roles frequently change throughout a soul’s various incarnations, the Edgar Cayce readings often present case histories in which one-time brothers and sisters returned in different roles, or examples in which previous past-life relationships resulted in a brother-sister experience in the present. The following two contemporary case histories tell stories in which past-life siblings returned to pick up their close relationships, but assumed different roles in the present.

Bởi vì vai trò trong các mối quan hệ thường thay đổi qua các lần lâm phàm khác nhau của một linh hồn, các bài đọc Edgar Cayce thường đưa ra những ca điển hình trong đó những người từng là anh chị em trở lại trong những vai khác, hoặc các ví dụ khi mối liên hệ tiền kiếp dẫn thành trải nghiệm anh chị em trong hiện tại. Hai trường hợp đương đại sau đây kể câu chuyện những anh chị em tiền kiếp trở lại để tiếp nối mối gắn bó thân thiết nhưng đảm nhận vai khác trong đời này.

In the first example, a man in his twenties became good friends with a woman in her thirties through their mutual interest in a spiritual organization. Their relationship began when on numerous occasions the two had found themselves at the same conference or social function and were drawn together. Rather than being a romantic connection, their friendship seemed more like that of a brother and sister; in fact, the man even began calling the woman, “Sis.” At one particular conference in which the two were in attendance the source of their friendship became clear during a past-life reverie. In the reverie, the woman saw a past life when she was a member of an Indian tribe out west and extremely close to one of the warriors, who was her brother. In the midst of the reverie, she suddenly realized that her brother from the past had returned as her present-day friend. Perhaps, surprisingly, during the very same reverie, the man had simply been thinking about his female friend and wondering, “I wonder if I knew her before?” All at once he heard a loud voice register inside his head: “SHE WAS YOUR SISTER!” After the reverie, the two shared the synchronistic experience with one another.

Trong ví dụ thứ nhất, một người đàn ông ngoài hai mươi kết thân với một phụ nữ ngoài ba mươi qua mối quan tâm chung đến một tổ chức tinh thần. Mối quan hệ bắt đầu khi nhiều lần họ cùng tham dự một hội nghị hay sinh hoạt xã hội và bị thu hút đến với nhau. Không phải một liên kết lãng mạn, tình bạn của họ giống như giữa anh và em gái; thực tế, người đàn ông còn bắt đầu gọi người phụ nữ là “Em Gái.” Ở một hội nghị mà cả hai cùng có mặt, nguồn cội của tình bạn trở nên sáng rõ trong một hồi tưởng tiền kiếp. Trong hồi tưởng, người phụ nữ thấy một kiếp sống khi cô là thành viên của một bộ tộc người bản địa ở miền Tây và vô cùng thân thiết với một chiến binh, là anh trai của cô. Giữa hồi tưởng, cô bỗng nhận ra người anh từ quá khứ đã trở lại thành người bạn hiện tại. Có lẽ bất ngờ, ngay trong cùng hồi tưởng ấy, người đàn ông chỉ vừa nghĩ về bạn nữ của mình và tự hỏi: “Không biết tôi đã từng biết cô ấy trước đây chưa?” Bất chợt anh nghe một tiếng nói lớn vang lên trong đầu: “CÔ ẤY ĐÃ LÀ CHỊ EM GÁI CỦA ANH!” Sau hồi tưởng, hai người chia sẻ với nhau trải nghiệm trùng hợp này.

The second example is the story of Allen Brockman who had been living with his girlfriend for a couple of years but could not bring himself to ask her to marry. According to Allen, “I could never understand why I loved her and cared about her, but I was not ‘in love’ with her.”

Ví dụ thứ hai là câu chuyện của Allen Brockman, người đã sống chung với bạn gái vài năm nhưng không tài nào ngỏ lời cưới. Theo Allen, “Tôi chẳng bao giờ hiểu vì sao tôi yêu và quan tâm cô ấy, nhưng tôi lại không ‘đang yêu’ cô ấy.”

Because Allen had long worked with his dreams—often asking a question before falling asleep and getting an answer in his dreams—he decided to ask about his relationship. That night he saw his girlfriend living in Scotland during a previous period in history. In the same dream he saw himself as a female, and it became clear from the dream that he and his girlfriend had once been sisters.

Vì Allen từ lâu đã thực hành làm việc với giấc mơ—thường đặt câu hỏi trước khi ngủ và nhận được câu trả lời trong mơ—anh quyết định hỏi về mối quan hệ của mình. Đêm ấy anh thấy bạn gái sống ở Scotland vào một thời kỳ lịch sử trước đây. Trong cùng giấc mơ, anh thấy mình là một phụ nữ, và trở nên rõ ràng rằng anh và bạn gái từng là chị em gái.

When Allen awoke he understood their present-day connection. He also understood why the love he felt was not the same kind of love he had hoped to find in a marriage relationship. Shortly thereafter, the two amicably agreed to break up as boyfriend and girlfriend.

Khi tỉnh dậy, Allen hiểu mối liên hệ hiện tại của họ. Anh cũng hiểu vì sao tình thương anh cảm nhận không phải là thứ tình yêu anh kỳ vọng sẽ tìm thấy trong một cuộc hôn nhân. Chẳng bao lâu sau, hai người đồng thuận chia tay nhau trong êm thấm.

Another contemporary example of karma between siblings in which the feelings in the relationship were not completely amicable is the story of a middle-aged man who describes his relationship with his sister as follows: “We have always had strong feelings for each other, but at the same time I would say that our relationship is quite distant.” When the two are together at family functions and holiday get-togethers, there is a strong recognition of an emotional bond—a bond that is just as likely to prompt frustration and animosity as it is love and understanding. Part of their present-day relationship dynamic is that in between family functions there is no attempt by either brother or sister to maintain contact. The basis of their sibling karma finally seemed to have a rational explanation when the brother caught a glimpse of their most recent lifetime together:

Một ví dụ đương đại khác về nghiệp quả giữa anh chị em, trong đó cảm xúc không hoàn toàn hòa thuận, là câu chuyện của một người đàn ông trung niên miêu tả mối quan hệ với em gái mình như sau: “Chúng tôi luôn có tình cảm mạnh mẽ dành cho nhau, nhưng đồng thời tôi cho rằng mối quan hệ của chúng tôi khá xa cách.” Khi họ ở cùng nhau trong các dịp gia đình và lễ hội, có một sự nhận ra rõ rệt về mối dây tình cảm—một mối dây cũng có thể khơi gợi bực bội và hiềm khích chẳng kém gì tình thương và thấu hiểu. Một phần động lực mối quan hệ hiện tại là: giữa các dịp gia đình, cả anh lẫn em đều không cố gắng giữ liên lạc. Nền tảng nghiệp quả giữa hai anh em rốt cuộc có một lời giải thích hợp lý khi người anh thoáng thấy kiếp sống gần nhất của họ bên nhau:

I saw a scene in which she was my wife during the colonial period. We lived in Boston where I was a doctor. We had a daughter that had become ill, and in spite of my medical training, I was unable to save her, and she died. The tragedy devastated our marriage. My wife withdrew from me, as I withdrew from her, and our marriage deteriorated. In the midst of this experience, I “knew” that this situation was at the heart of our present relationship dynamic.

“Tôi thấy một cảnh, khi cô ấy là vợ tôi trong thời kỳ thuộc địa. Chúng tôi sống ở Boston, tôi là bác sĩ. Chúng tôi có một cô con gái bị bệnh, và mặc dầu tôi được đào tạo y khoa, tôi không cứu được con bé, và nó qua đời. Bi kịch ấy tàn phá cuộc hôn nhân. Vợ tôi rút lui khỏi tôi, và tôi cũng rút lui khỏi cô ấy, hôn nhân xuống dốc. Giữa trải nghiệm đó, tôi ‘biết’ rằng tình huống ấy là cốt lõi của động lực quan hệ hiện tại giữa chúng tôi.”

A story that details how karmic memory can surface in everyday life is told by Wanda Groves. Now in her fifties, Wanda recalls as a child how she used to dream about a little dark-haired girl. The dreams lasted well into high school and Wanda assumed they were simply a vision of a child that would be hers one day in the future. She now knows that the dreams were past-life in nature and that she was actually glimpsing a past-life version of herself:

Một câu chuyện cho thấy ký ức nghiệp quả có thể trồi lên trong đời thường được kể bởi Wanda Groves. Nay đã ở tuổi năm mươi, Wanda nhớ hồi nhỏ cô thường mơ về một bé gái tóc đen. Những giấc mơ kéo dài cho đến tận thời trung học và Wanda cho rằng chúng chỉ là hình ảnh về đứa con gái sẽ là con cô trong tương lai. Giờ đây cô biết rằng những giấc mơ mang tính chất tiền kiếp và cô thực ra đã thoáng thấy một phiên bản tiền kiếp của chính mình:

I eventually came to understand that the girl was about nine years old and lived around the late 1890s. She came from a very close-knit family and was particularly close to an older brother. She died before her 10th birthday of complications from a cold and pneumonia.

“Cuối cùng tôi hiểu ra cô bé khoảng chín tuổi và sống vào cuối thập niên 1890. Cô bé đến từ một gia đình rất gắn kết và đặc biệt thân với một người anh lớn. Cô bé qua đời trước sinh nhật mười tuổi vì biến chứng từ cảm lạnh và viêm phổi.”

What made the recall information so interesting to Wanda was the fact that her present life seemed to mirror a major invent from the previous lifetime; when she was nine years old she was hospitalized with pneumonia and nearly died: “At the time, I was terrified that I was going to die.” She survived and has been health conscious ever since, “taking care of myself through good nutrition, exercise and check-ups.” In terms of the family karma from that experience, Wanda says with certainty, “I now know that my older son, with whom I am very close, had been my brother back when I died of pneumonia.”

Điều khiến thông tin hồi ức trở nên thú vị với Wanda là đời hiện tại của cô dường như phản chiếu một biến cố lớn từ kiếp trước; khi chín tuổi cô phải nhập viện vì viêm phổi và suýt chết: “Khi đó, tôi kinh hoàng sợ mình sẽ chết.” Cô sống sót và từ đó luôn chú tâm sức khỏe, “chăm sóc bản thân bằng dinh dưỡng tốt, vận động và khám định kỳ.” Về nghiệp quả gia đình từ trải nghiệm ấy, Wanda quả quyết: “Giờ tôi biết rằng con trai lớn của tôi, người mà tôi rất thân, đã từng là anh trai tôi khi tôi chết vì viêm phổi.”

Another example of karma between siblings from the Cayce files is the story of Anthony and John Williams—two brothers who each had physical readings from Edgar Cayce. John was forty-one-years old and two years older than Anthony when he sent a letter to Cayce asking for additional information about his relationship with his brother: “I wonder whether you would be kind enough, to give me another reading which would throw light on the relationship between my brother Anthony and myself and also give me some rules for my own conduct in this relationship.” (2564-3 Report File) According to notations eventually made in John’s file, the relationship was marked with jealousy and frequent problems in spite of the fact that John felt that he had always tried to help Anthony, who suffered with multiple sclerosis.

Một ví dụ khác về nghiệp quả giữa anh em trong hồ sơ Cayce là câu chuyện của Anthony và John Williams—hai anh em đều từng nhận bài đọc thể chất từ Edgar Cayce. John bốn mươi mốt tuổi và lớn hơn Anthony hai tuổi khi ông gửi thư cho Cayce xin thêm thông tin về mối quan hệ với em mình: “Tôi tự hỏi liệu ông có thể vui lòng cho tôi một bài đọc khác để soi sáng mối quan hệ giữa em trai tôi, Anthony, và tôi, và cũng đưa cho tôi vài chỉ dẫn cho cách xử sự của chính tôi trong mối quan hệ này.” (Hồ sơ Báo cáo 2564-3) Theo các ghi chú sau này trong hồ sơ của John, mối quan hệ bị chi phối bởi ghen tuông và những vấn đề thường xuyên, dù John cảm thấy mình luôn cố gắng giúp Anthony, người mắc bệnh đa xơ cứng.

The reading highlighted three incarnations in early America, Rome and ancient Egypt. Cayce stated that the basis of their problematic relationship was essentially because of a difference in motivating ideals in those lifetimes. In John’s case, the reading stated that he was generally motivated by freedom of the individual, including freedom of worship as well as the freedom to work together for a collective idea (such as the establishment of the United States). Conversely, Anthony’s approach had generally been more controlling and fear-based, even going so far as to advocate government by intimidation. According to the reading, “These different attitudes that arise are as the basis of the disturbances that are the experience of each in the present.” (2524-4) In terms of healing their relationship in the present, Cayce gave John the following advice:

Bài đọc làm nổi bật ba lần lâm phàm ở nước Mỹ thời kỳ đầu, La Mã và Ai Cập cổ đại. Cayce cho biết nền tảng mối quan hệ rắc rối của họ chủ yếu do sự khác biệt về những lý tưởng thúc đẩy trong các kiếp sống đó. Với John, bài đọc nói rằng ông thường được thúc đẩy bởi tự do cá nhân, gồm cả tự do thờ phượng cũng như tự do cùng nhau làm việc cho một lý tưởng tập thể (như việc lập nên Hợp Chúng Quốc). Trái lại, cách tiếp cận của Anthony thường mang tính kiểm soát và dựa trên sợ hãi, thậm chí đến mức cổ xúy việc cai trị bằng hăm dọa. Theo bài đọc, “Những thái độ khác biệt nảy sinh này chính là nền tảng của những rối loạn mà mỗi người đang trải nghiệm trong hiện tại.” (2524-4) Về phương diện chữa lành mối quan hệ hiện nay, Cayce cho John lời khuyên sau:

And in thy dealings with thy brother, meet rather that as would be if conditions were reversed; being patient, being understanding; not as preachments but rather as following of precepts and living the ideal that is manifest in the word of the entity.

“Và trong các giao tiếp của ngươi với anh/em ngươi, hãy đối đãi như thể điều kiện đảo ngược; hãy nhẫn nại, hãy thấu hiểu; không phải bằng những lời rao giảng mà bằng việc theo các giới điều và sống lý tưởng được biểu lộ trong lời của thực thể.

And let thy prayer ever be, in this direction:

Và nguyện cầu của ngươi hãy luôn là:

Father, God! Speak thou to me in words that I may understand. But let me, O God, speak ever to my brother in deeds, rather than words.

Cha ơi, Thượng Đế! Xin Ngài phán với con bằng những lời con có thể hiểu. Nhưng xin cho con, lạy Thượng Đế, luôn nói với anh/em con bằng việc làm hơn là bằng lời.

These (words), in the state of each, only cause disputations. Yet these conditions may be met, if there is the manifesting of patience and brotherly love.

Những (lời) này, trong trạng thái của mỗi người, chỉ gây tranh cãi. Tuy vậy những điều kiện này có thể được hóa giải, nếu có sự biểu lộ của nhẫn nại và tình huynh đệ.”

2524-4

2524-4

As previously mentioned, individuals in adopted families have the same kind of karmic connections from the past as those in birth families. For example, parents of two adopted boys wanted to know if they had ever been related “by blood or marriage” to their sons. They were told that they had all been together as a family in Ancient Persia, where one of the boys had been essentially a governor. That same son had talents in politics and was very self-certain, whereas his younger brother was much more shy. The reading said that, in part, the two boys had chosen to come back again into the same family by way of adoption so that the younger boy could learn how to feel positive about himself from his elder brother. Previously the two had also shared a strong social connection in Egypt at a time when “much was brought to light” in terms of spiritual truths and the physical, mental and spiritual development of humankind. (3346-1 and 3340-1)

Như đã đề cập, các cá nhân trong gia đình nhận nuôi có các mối liên kết nghiệp quả quá khứ giống như trong gia đình huyết thống. Chẳng hạn, cha mẹ của hai cậu con trai nhận nuôi muốn biết liệu họ đã từng “cùng huyết thống hay hôn phối” với các con trai hay chưa. Họ được cho biết rằng cả nhà đã từng ở bên nhau như một gia đình tại Ba Tư cổ, nơi một trong hai cậu trai về cơ bản là một vị quan cai trị. Cậu con trai ấy có năng khiếu chính trị và rất tự tin, trong khi người em thì rụt rè hơn nhiều. Bài đọc nói rằng, phần nào đó, hai cậu đã chọn trở lại cùng một gia đình qua con đường nhận nuôi để cậu em có thể học cách cảm thấy tích cực về bản thân từ người anh. Trước đó hai em cũng có một mối liên hệ xã hội chặt chẽ ở Ai Cập vào một thời khi “nhiều điều được đưa ra ánh sáng” về các chân lý tinh thần và sự phát triển thể chất, trí tuệ và tinh thần của nhân loại. (3346-1 và 3340-1)

Another example is that of a boy and a girl who had been adopted into the same family at different times. The two frequently fought with one another, causing their adopted mother to ask about their past-life connection. Cayce explained that in various periods in history they had been members of opposing groups, including in Rome and in Egypt. In the present, the adopted parents were encouraged to “temper” the children’s responses to one another, provide them each with a spiritual foundation and instill hope and purposefulness into their upbringing. In this manner, their present-day relationship problems could be healed. (2690-1 and 2691-1)

Một ví dụ khác là về một cậu bé và một cô bé được nhận vào cùng một gia đình ở những thời điểm khác nhau. Hai đứa thường xuyên cãi nhau, khiến người mẹ nuôi phải hỏi về mối liên hệ tiền kiếp giữa chúng. Cayce giải thích rằng trong nhiều thời kỳ lịch sử chúng từng thuộc các nhóm đối địch, kể cả ở La Mã và Ai Cập. Hiện tại, cha mẹ nuôi được khuyến khích “giảm bớt” phản ứng của bọn trẻ đối với nhau, cho mỗi đứa một nền tảng tinh thần và gieo vào việc giáo dưỡng chúng hy vọng cùng tính mục đích. Bằng cách này, những rắc rối quan hệ hiện tại có thể được chữa lành. (2690-1 và 2691-1)

The following cases from the Cayce readings offer more examples of sibling karma:

Những trường hợp sau đây từ các bài đọc của Cayce cung cấp thêm ví dụ về nghiệp quả anh chị em:

A woman found herself widowed at a very young age and, having nowhere else to turn, she moved in with her brother. For years, the two lived together as housemates, apparently becoming very close because of the arrangement. Cayce stated that part of the karmic memory that had drawn the two together was the fact that they had been together in ancient Egypt. During that experience they had aggressively disagreed and opposed one another in regards to a rebellion that was taking place against the king. Although they eventually worked through some of the issues in that experience, their present relationship had finally enabled them to heal whatever negative karmic memory had remained. (3564-2 and 3062-2)

Một phụ nữ góa chồng khi còn rất trẻ và, không còn nơi nương tựa, dọn đến sống với anh trai. Trong nhiều năm, họ sống cùng như bạn nhà, và dường như trở nên rất thân thiết vì sắp đặt này. Cayce nói rằng một phần ký ức nghiệp quả kéo họ lại với nhau là vì họ từng ở bên nhau tại Ai Cập cổ. Trong trải nghiệm ấy, họ gay gắt bất đồng và đối nghịch nhau xung quanh một cuộc nổi loạn chống lại nhà vua. Dù rốt cuộc họ cũng xử lý được một số vấn đề trong trải nghiệm đó, mối quan hệ hiện tại sau cùng đã giúp họ chữa lành những ký ức nghiệp quả tiêu cực còn sót lại. (3564-2 và 3062-2)

When parents of a five-year-old girl and a baby boy obtained a reading for their daughter and asked why the girl had chosen to be born into her present family, the reply suggested that her entrance would ultimately enable each member of the family to learn something about themselves. In the language of the readings: “or the meeting of much in each.” (1635-3)

Khi cha mẹ của một bé gái năm tuổi và một bé trai sơ sinh xin một bài đọc cho con gái và hỏi vì sao cô bé lại chọn sinh vào gia đình hiện tại, câu trả lời gợi ý rằng sự xuất hiện của cô rốt cuộc sẽ giúp mỗi thành viên gia đình học được điều gì đó về chính mình. Theo ngôn ngữ các bài đọc: “tức là cuộc tương ngộ của nhiều điều trong mỗi người.” (1635-3)

On another occasion, a forty-one-year-old cook asked Edgar Cayce why she had always felt distant from her brother and sisters. Cayce explained that during a past life in England during the uprising against Charles II, she had tried to be an influence for political calm and diplomacy. However, members of her community were not pleased with her endeavors and managed to have her evicted from her home and sent to France. According to the readings, the individuals responsible for her banishment had incarnated as her present-day siblings. (2624-1)

Một dịp khác, một đầu bếp bốn mươi mốt tuổi hỏi Edgar Cayce vì sao cô luôn cảm thấy xa cách với anh và chị em gái. Cayce giải thích rằng trong một kiếp sống ở Anh vào thời nổi dậy chống Charles II, cô đã cố gắng làm ảnh hưởng theo hướng bình ổn chính trị và ngoại giao. Tuy nhiên, dân làng không hài lòng với nỗ lực này và tìm cách trục xuất cô khỏi nhà, đày sang Pháp. Theo các bài đọc, những người chịu trách nhiệm về việc trục xuất cô đã tái sinh thành anh chị em hiện tại của cô. (2624-1)

A forty-seven-year-old woman was told that during the early formation of the Church in Laodicea, she had been married to the disciple who oversaw that group of the Church’s faithful. When she asked how she had been related to her mother and father at the time, Cayce replied that they had been, “A brother and a sister, in that particular experience.” (1468-3)

Một phụ nữ bốn mươi bảy tuổi được cho biết rằng trong buổi đầu hình thành Giáo hội tại Laodicea, cô kết hôn với người môn đồ giám trông nhóm tín hữu đó. Khi cô hỏi lúc ấy cô có quan hệ thế nào với cha và mẹ mình, Cayce trả lời rằng họ là: “Một người là anh, một người là chị, trong trải nghiệm đó.” (1468-3)

A forty-three-year-old woman asked for additional insights into her past-life connections with members of her family. Cayce replied that some of the roles were similar and that some had reversed (such as parent and child), but that regardless of the specific relationship there were “needs” in the present that had come as a karmic response or an outgrowth to that previously experienced. The overall purposefulness of these relationships—approached aright—was for the development and growth of everyone involved:

Một phụ nữ bốn mươi ba tuổi xin hiểu thêm về liên hệ tiền kiếp với các thành viên gia đình. Cayce trả lời rằng có vai trò tương tự, có vai đảo nghịch (như cha mẹ—con cái), nhưng bất chấp mối quan hệ cụ thể, có những “nhu cầu” trong hiện tại đã đến như một đáp ứng nghiệp quả hay là sự tiếp nối từ trải nghiệm trước đó. Mục đích tổng quát của những mối quan hệ này—nếu được tiếp cận đúng—là để sự phát triển và tăng trưởng của mọi người liên quan:

And these become then the real reasons—if there is as a reason—rather because the brother was then the sister, or the sister rather than as the relationships of the companion … [but] in the present the relationships are such that if the relationships are related to Creative Forces, as they are expressed in the fruits of the spirit, and these exercised in the relationships, the development of body, mind and soul becomes in its proper relationship in the present.

“Và vì thế những điều này trở thành những lý do thực sự—nếu như có cái gọi là lý do—đúng hơn là vì hồi đó người anh là người chị, hay người chị thay cho quan hệ của người bạn đời … [nhưng] trong hiện tại, các mối quan hệ là như vậy, rằng nếu các mối quan hệ được quy chiếu về Các Lực Sáng Tạo, như chúng được biểu lộ trong hoa trái của tinh thần, và những điều này được thực hành trong các mối quan hệ, thì sự phát triển của thân, tâm và linh hồn sẽ đạt đến mối tương quan thích đáng trong hiện tại.”

338-4

338-4

On another occasion, quibbling siblings from an incarnation in the early settling of Canada had returned in the present to work through their frequent dissension over minor things, only this time their relationship was that of husband and wife. Cayce told the couple that the same attitude they often possessed as brother and sister often crept into their present activities; however, they had gradually become more amicable in working together than they had previously. In fact, Cayce told the woman: “Ye are working it out beautifully! Keep it in the same way and manner—to give and forgive, counsel and re-counsel, one with the other.” (2174-1)

Một dịp khác, cặp anh chị em hay cãi cọ trong một kiếp sống thời kỳ khai phá Canada đã trở lại hiện tại để xử lý sự bất hòa thường xuyên về những chuyện nhỏ nhặt; chỉ khác là lần này mối quan hệ là vợ chồng. Cayce nói với cặp đôi rằng cùng một thái độ họ thường có khi là anh chị em thường len lỏi vào sinh hoạt hiện nay; tuy vậy, họ đã dần hòa hợp hơn trong việc cộng tác so với trước. Thực vậy, Cayce nói với người vợ: “Các ngươi đang giải nó rất đẹp! Hãy giữ theo cùng cách thức ấy—cho và tha thứ, khuyên nhủ và lại khuyên nhủ, cùng nhau.” (2174-1)

When a twenty-seven-year-old woman inquired about the advisability of moving out of her family’s apartment and finding a place of her own because of the difficulties she was having with family members, Cayce responded that if she was able to do it, it would actually be best to try to work things out before moving. Knowing that the situation was difficult, Cayce provided a couple of ways of looking at the situation. He said that if she was unable to be other than antagonistic toward her family members, or they could only be antagonistic towards her, then it would be better to move. If she moved immediately, however, she needed to know that it would lead to spite and animosity, and additional karma in the future. The best approach would be for her to discover how she could be helpful and assist them in the present:

Khi một phụ nữ hai mươi bảy tuổi hỏi về việc có nên ra khỏi căn hộ của gia đình và tìm một nơi cho riêng mình vì những khó khăn với các thành viên, Cayce đáp rằng nếu làm được, tốt nhất là cố gắng giải quyết trước khi dọn đi. Biết rằng tình thế khó khăn, Cayce đưa ra vài cách nhìn. Ngài nói rằng nếu cô không thể cư xử ngoài sự đối nghịch với các thành viên gia đình, hoặc họ chỉ có thể đối nghịch với cô, thì tốt hơn nên dọn đi. Tuy nhiên, nếu dọn ngay, cô cần biết rằng điều đó sẽ dẫn đến hằn học và hiềm khích, và thêm nghiệp quả về sau. Cách tiếp cận tốt nhất là để cô khám phá làm sao có thể hữu ích và trợ giúp họ trong hiện tại:

But if there is sought by the entity for not the differences that exist in the minds of the family and the associations but as to how the entity may be a help to those in the family in finding their relationships to Creative Forces, this will make for the better surroundings, making the security of the entity in its abilities for stabilizing itself in a much surer and a much better means or manner.

“Nhưng nếu thực thể tìm kiếm không phải là những khác biệt tồn tại trong tâm trí gia đình và các liên hệ, mà là thực thể có thể giúp những người trong gia đình tìm mối quan hệ của họ với Các Lực Sáng Tạo như thế nào, thì điều này sẽ tạo nên môi trường tốt hơn, khiến sự an ổn của thực thể trong khả năng tự ổn định mình được bảo đảm hơn và tốt hơn nhiều về phương tiện hay cách thức.”

1436-3

1436-3

Along the same lines, when a thirty-nine-year-old photographer asked, “What do you suggest would be best for me to do regarding my family relations?” The reading reminded him that he was meeting his own self. He was encouraged to meet all of his family obligations and to keep the following approach in mind: “As ye would have them do to you, do ye even so to them.” (876-1)

Tương tự, khi một nhiếp ảnh gia ba mươi chín tuổi hỏi, “Ông đề nghị điều gì là tốt nhất tôi nên làm liên quan đến các mối quan hệ gia đình?” Bài đọc nhắc ông rằng ông đang gặp chính mình. Ông được khuyến khích chu toàn mọi bổn phận gia đình và ghi nhớ cách tiếp cận sau: “Ngươi muốn người ta làm cho mình điều gì, thì cũng hãy làm cho họ như vậy.” (876-1)

On one occasion, when a thirty-five-year-old accountant whose sister had already obtained a reading asked the following question: “Do I owe the members of my family anything and what?” Cayce responded:

Một lần khác, khi một kế toán ba mươi lăm tuổi—người có chị gái đã nhận một bài đọc—hỏi: “Tôi có mắc nợ các thành viên gia đình điều gì không và là gì?” Cayce đáp:

There is a duty, an obligation that ye owe self in the relationship to every member of the family; as every member owes same to thee; to make the associations constructive and each better for having been thrown or drawn together.

“Có một bổn phận, một nghĩa vụ mà ngươi nợ chính mình trong mối quan hệ với mọi thành viên gia đình; như mỗi thành viên cũng nợ điều ấy với ngươi; để làm cho các mối giao kết mang tính xây dựng và mỗi người trở nên tốt hơn nhờ đã được đặt chung hay thu hút về chung với nhau.

For nothing happens as by accident, but that the glory of the Father may be manifested in the doings and the relationships of each individual as one to another.

Vì chẳng có gì xảy ra như bởi tình cờ, mà là để vinh quang của Cha được tỏ bày trong hành động và mối tương quan của mỗi cá nhân với người khác.”

1432-1

1432-1

Families are drawn together as a means of enabling every individual to become a better person for having been with other family members. There is also a lawfulness as to why certain individuals are drawn into a family at a given time. As one reading puts it, “No association or experience is by chance, but is the outgrowth of a law—spiritual, mental or material.” (2753-2) Therefore, every individual is drawn into his or her family as a means of learning specific lessons pertinent to that individual’s soul growth and development. Whether or not those lessons are learned at any given time remains a matter of free will; however, the readings suggest that eventually each of those lessons will be learned—it is simply a matter of time. As Cayce told one woman: “Know that this has not been completed in the present, and thus is to be met in each! Then why not now?” (1523-6)

Các gia đình được kéo lại với nhau như một phương tiện giúp mỗi người trở nên tốt hơn nhờ đã ở cùng những thành viên khác. Đồng thời có một tính luật định về lý do một số người được thu hút vào một gia đình vào thời điểm nhất định. Như một bài đọc nói: “Không một mối liên hệ hay trải nghiệm nào là do ngẫu nhiên, mà là sản phẩm của một định luật—tinh thần, trí tuệ hay vật chất.” (2753-2) Vậy nên, mỗi cá nhân được kéo vào gia đình như một phương tiện để học những bài học cụ thể thích hợp với sự tăng trưởng và phát triển của linh hồn người ấy. Việc những bài học đó có được học vào thời điểm nào hay không vẫn là vấn đề của ý chí tự do; tuy nhiên, các bài đọc gợi ý rằng rốt cuộc mỗi bài học rồi sẽ được học—đó chỉ là vấn đề thời gian. Như Cayce nói với một phụ nữ: “Hãy biết rằng điều này chưa được hoàn tất trong hiện tại, nên sẽ phải được đối diện trong mỗi trải nghiệm! Vậy tại sao không phải là bây giờ?” (1523-6)

5

Miscellaneous Karmic Relationships—Một Số Quan Hệ Nghiệp Quả Khác

Yet oft, as we find here, individuals again and again are drawn together that there may be the meeting in the experience of each that which will make them aware of wherein they, as individuals (individual entity and soul), have erred respecting experiences in materiality or soul life even. For the soul lives on …

“Song thường khi, như chúng ta thấy ở đây, các cá nhân hết lần này đến lần khác được kéo lại với nhau để có cuộc gặp gỡ trong trải nghiệm của mỗi người, hầu khiến họ trở nên ý thức về chỗ mà họ, với tư cách cá nhân (thực thể và linh hồn), đã lầm lỗi liên quan đến các trải nghiệm trong vật chất hay ngay cả trong đời sống linh hồn. Vì linh hồn tiếp tục sống…”

693-3

693-3