Table of Contents
Preface
Part One: The Past
1 The Akashic Records as a Chronicler of the Past
2 Case History— The Family of Anna Campbell—Lược sử ca bệnh— Gia đình Anna Campbell
3 Recognizing Insights fromYour Own Past—Nhận biết những thấu suốt từ quá khứ của chính bạn
Part Two: The Present
4 The Akashic Records as an Indicator of the Present—Hồ Sơ Akasha như một chỉ dấu của Hiện Tại
5 Case Histories—Trường Hợp
6 Working with the Present—Làm việc với Hiện Tại
Part Three: The Future
7 The Akashic Records and Probabilities and Potentials—Ký lục Akasha và các Xác suất cùng Tiềm năng
8 Case Histories—Hồ Sơ Trường Hợp
9 Discovering Insights into Your Future—9 Khám phá những thấu triệt về Tương Lai của Bạn
Conclusion—Kết luận
The Akashic Records
Other Books by Kevin J. Todeschi
Edgar Cayce’s ESP
The Edgar Cayce Ideal’s Workbook
Edgar Cayce on the Reincarnation of Biblical Characters
Edgar Cayce on the Reincarnation of Famous People Edgar Cayce on the Akashic Records Edgar Cayce on Soul Mates
The Encyclopedia of Symbolism
Soul Development: Edgar Cayce’s Approach for a New World
Twelve Lessons in Personal Spirituality
The Akashic Records
The Book of Life
KEVIN J. TODESCHI
ARE PRESS
ASSOCIATION FOR RESEARCH AND ENLIGHTENMENT
A.R.E. Press • Virginia Beach • Virginia
Copyright © 1998 by Kevin J. Todeschi
8th Printing, May 2003
Printed in the U.S.A.
All rights reserved. No part of this book may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.
A.R.E. Press
215 67th Street
Virginia Beach, VA 2 3451-2061
Todeschi, Kevin J.
Edgar Cayce on the Akashic Records, the book of life / Kevin
J. Todeschi.
p. cm.
ISBN 0-8 7604-401-1
1. Akashic Records. 2. Cayce, Edgar, 1877-1945. I. Title.
BF1045.A44T63 1998
133.9—dc21 97-42767
Edgar Cayce Readings © 1971, 1993-2007 by the Edgar Cayce Foundation. All rights reserved.
Cover design by Lightbourne Images
To those souls who never really forget whence they came or whither they were going...v
And I saw the dead, small and great, stand before God; and the books were opened: and another book was opened, which is the book of life: and the dead were judged out of those things which were written in the books, according to their works.
Preface
It is no exaggeration to state that the computer has transformed (and is still transforming) the planet. Whether it’s technology, transportation, communication, education, or entertainment, the computer age has revolutionized the globe and the ways that we understand and interact with one another. No segment of modern society has gone unaffected. The amount of information now stored in computer memory and crossing the internet highway daily is literally unfathomable. And yet, this vast complex of computer systems and collective databases cannot begin to come close to the power, the memory, or the omniscient recording capacity of the Akashic Records.
Không hề cường điệu khi nói rằng máy tính đã biến đổi (và vẫn đang biến đổi) hành tinh này. Dù là công nghệ, giao thông, truyền thông, giáo dục hay giải trí, kỷ nguyên máy tính đã cách mạng hóa địa cầu và những cách thức chúng ta thấu hiểu và tương tác với nhau. Không lĩnh vực nào của xã hội hiện đại không bị tác động. Lượng thông tin hiện đang lưu trữ trong bộ nhớ máy tính và băng qua xa lộ internet mỗi ngày thật sự không thể hình dung nổi. Thế nhưng, khối hệ thống máy tính đồ sộ và những cơ sở dữ liệu tập thể này vẫn không thể sánh với quyền năng, trí nhớ, hay khả năng ghi nhận phổ tri của Hồ Sơ Akasha.
For ease of understanding, the Akashic Records or “The Book of Life” can be likened to the universe’s supercomputer system. “Akasha” comes from a Sanskrit word meaning “boundless space” and is equated to the central storehouse of all information for every individual who has ever lived. More than just a reservoir of events, the Akashic Records contain every deed, word, feeling, thought, and intent that has occurred at any time in the history of the world. Much more than simply a memory storehouse, these Akashic Records are interactive; they have a tremendous influence upon our everyday lives, our relationships, our feelings and belief systems, and the potentials and probabilities we draw toward us.
Để dễ thấu hiểu, Hồ Sơ Akasha hay “Cuốn Sách của Sự Sống” có thể ví như siêu máy tính của vũ trụ. “Akasha” xuất phát từ một từ Phạn có nghĩa là “không gian vô biên” và được đồng nhất như kho trung ương lưu trữ mọi thông tin cho mọi cá nhân từng sống. Hơn cả một bể chứa sự kiện, Hồ Sơ Akasha lưu giữ mọi hành động, lời nói, cảm xúc, tư tưởng và ý định đã xảy ra trong bất kỳ thời điểm nào của lịch sử thế giới. Hơn hẳn một kho ký ức, các Hồ sơ Akasha này là tương tác; chúng có ảnh hưởng to lớn lên đời sống hàng ngày của chúng ta, các mối quan hệ, cảm xúc và hệ niềm tin, cũng như những tiềm năng và xác suất mà chúng ta thu hút về phía mình.
The Akashic Records contain the history of every soul since the dawn of creation. These records connect each of us to one another. They contain the stimulus for every archetypal symbol or mythic story which has ever deeply touched patterns of human behavior and experience. They have been the inspiration for dreams and invention. They draw us toward or repel us from one another. They mold and shape levels of human consciousness. They are a portion of Divine Mind. They are the unbiased judge and jury that attempt to guide, educate, and transform every individual to become the very best that she or he can be. They embody an ever-changing fluid array of possible futures that are called into potential as we interact and learn from the data that has already been accumulated.
Hồ Sơ Akasha chứa lịch sử của mọi linh hồn kể từ bình minh sáng tạo. Những hồ sơ này kết nối mỗi người chúng ta với nhau. Chúng chứa mầm kích thích cho mọi biểu tượng nguyên mẫu hay câu chuyện huyền thoại từng chạm thấu sâu vào các mô thức hành vi và trải nghiệm của con người. Chúng đã là nguồn cảm hứng cho mộng mị và phát minh. Chúng kéo chúng ta lại gần hay khiến chúng ta xa rời nhau. Chúng nắn đúc và định hình các cấp độ tâm thức của con người. Chúng là một phần của Thể trí thiêng liêng. Chúng là vị thẩm phán và bồi thẩm đoàn vô tư, nỗ lực dẫn dắt, giáo dục và chuyển đổi mỗi cá nhân trở thành điều tốt đẹp nhất mà người ấy có thể. Chúng bao hàm một dãy lưu chất luôn biến dịch của những tương lai khả hữu được gọi vào tiềm năng khi chúng ta tương tác và học hỏi từ các dữ kiện đã được tích lũy.
Information about these Akashic Records—this Book of Life—can be found in folklore, in myth, and throughout the Old and New Testaments. It is traceable at least as far back as the Semitic peoples and includes the Arabs, the Assyrians, the Phoenicians, the Babylonians, and the Hebrews. Among each of these peoples was the belief that there is in existence some kind of celestial tablets which contain the history of humankind as well as all manner of spiritual information.
Thông tin về các Hồ Sơ Akasha—Cuốn Sách của Sự Sống này—có thể tìm thấy trong văn học dân gian, trong huyền thoại, và xuyên suốt Cựu Ước lẫn Tân Ước. Có thể lần theo ít nhất đến các dân tộc Semitic và bao gồm người Ả Rập, Assyria, Phoenicia, Babylon và Do Thái. Ở mỗi dân tộc ấy đều có niềm tin rằng tồn tại một loại thiên thư nào đó chứa lịch sử nhân loại cũng như mọi thông tin tinh thần khác.
The first reference in Scripture to some nonearthly volume is found in Exodus 32:32. After the Israelites had committed a most grievous sin by worshiping the golden calf, it was Moses who pleaded on their behalf, offering to take full responsibility and have his own name stricken “out of thy book which thou hast written” in recompense for their deed. Later, in the Old Testament, we learn that there is nothing about an individual that is not known in this same book. In Psalm 139, David makes reference to the fact God has written down everything about him and all the details of his life—even that which is imperfect and those deeds which have yet to be performed.
Lần đầu trong Kinh Thánh đề cập đến một thư tịch phi trần gian được thấy ở Xuất Hành 32:32. Sau khi dân Israel phạm một tội trọng là thờ bò vàng, chính Moses đã cầu thay cho họ, sẵn sàng nhận toàn trách nhiệm và để tên mình bị gạch “khỏi sách mà Ngài đã chép” để đền bù cho việc ấy. Về sau, trong Cựu Ước, chúng ta biết rằng chẳng có gì về một cá nhân mà không được biết trong cùng cuốn sách ấy. Trong Thi Thiên 139, David nhắc đến việc Thượng đế đã chép hết thảy mọi điều về ông và mọi chi tiết đời ông—ngay cả những gì còn bất toàn và những việc chưa thực hiện.
For many individuals this Book of Life is simply a symbol of those destined for heaven and has its roots in the custom of recording genealogical records of names or perhaps early census taking. Traditional religion suggests that this book—either in literal or symbolic form— contains the names of all those who are worthy of salvation. The book is to be opened in connection with divine judgment (Dan. 7:10, Rev. 20:12). In the New Testament, those redeemed by Christ are contained within the book (Philippians 4); those not found in the book of life will not enter the kingdom of heaven.
Với nhiều người, Cuốn Sách của Sự Sống chỉ là biểu tượng của những kẻ được định cho thiên đàng và có gốc từ tập tục ghi chép phả hệ hay có lẽ từ các cuộc kiểm tra dân số thời sơ kỳ. Tôn giáo truyền thống cho rằng cuốn sách này—dù theo nghĩa đen hay nghĩa biểu tượng—chứa tên của tất cả những ai xứng đáng được cứu rỗi. Sách sẽ được mở ra liên hệ với phán xét thiêng liêng (Đa-ni-ên 7:10, Khải Huyền 20:12). Trong Tân Ước, những người được Đức Christ cứu chuộc được ghi trong sách (Phi-líp 4); những ai không thấy tên trong sách sự sống sẽ không vào được thiên quốc.
As an interesting corollary, in the ancient world a person’s name was symbolic of that individual’s existence. According to Sir James George Frazer, author of The Golden Bough—one of the most extensive volumes on world mythology—there was such a bond between one’s name and one’s existence “that magic may be wrought on a man just as easily as through his name as through his hair, his nails, or any other material part of his person.” In ancient Egypt, to blot a person’s name out of a record was equivalent to destroying the fact that he or she had ever existed.
Như một hệ luận thú vị, trong thế giới cổ xưa, tên của một người là biểu trưng cho sự hiện hữu của người đó. Theo Sir James George Frazer, tác giả của The Golden Bough—một trong những bộ khảo cứu rộng lớn nhất về thần thoại thế giới—giữa tên gọi và sự tồn tại của một người có mối dây liên hệ đến mức “phép thuật có thể được thực hiện với một người dễ dàng như qua tên của y cũng như qua tóc, móng tay, hay bất kỳ phần vật chất nào khác của thân y.” Ở Ai Cập cổ, xoá tên một người khỏi ghi chép tương đương với việc tiêu hủy thực tại rằng người ấy đã từng tồn tại.
Closer to our current era, a great deal of contemporary information on the Akashic Records has been made available by both reputable psychics and modern-day mystics—individuals who have somehow perceived beyond the limits of three dimensions. According to H.P. [Helena Petrovna] Blavatsky ( 1831-1891), Russian immigrant, mystic, and founder of the Theosophical Society, the Akashic Records are much more than simply an account of static data which may be gleaned by a sensitive. Instead, the records have an ongoing creative stimulus upon the present:
Gần với thời đại của chúng ta hơn, vô số thông tin đương đại về Hồ Sơ Akasha đã được công bố bởi cả những nhà thông linh đáng tin cậy và các nhà thần bí hiện đại—những người bằng cách nào đó đã tri giác vượt ngoài giới hạn ba chiều. Theo H.P. [Helena Petrovna] Blavatsky ( 1831-1 891), người nhập cư Nga, nhà thần bí và là người sáng lập Hội Thông Thiên Học, Hồ Sơ Akasha không chỉ đơn thuần là một bản ghi tĩnh có thể được gạn lọc bởi một người nhạy cảm. Trái lại, các hồ sơ này có một kích thích sáng tạo liên tục tác động lên hiện tại:
Akasha is one of the cosmic principles and is a plastic matter, creative in its physical nature, immutable in its higher principles. It is the quintessence of all possible forms of energy, material, psychic, or spiritual; and contains within itself the germs of universal creation, which sprout forth under the impulse of the Divine Spirit.
Akasha là một trong những nguyên lý vũ trụ và là một chất liệu dẻo, sáng tạo trong bản tính vật lý của nó, bất biến trong những nguyên lý cao hơn. Nó là tinh tuý của mọi hình thái năng lượng khả hữu, vật chất, tâm linh, hay tinh thần; và chứa trong chính nó những mầm mống của sáng tạo phổ quát, vốn nảy nở dưới xung lực của Tinh thần Thiêng liêng.
Alchemy and the Secret Doctrine
Thuật giả kim và Giáo Lý Bí Nhiệm
Rudolf Steiner ( 1861-1925), the Austrian-born philosopher, educator, and founder of the Anthroposophical Society, possessed the ability to perceive information beyond the material world: a “spiritual world” which was just as real to him as the physical world was to others. Steiner claimed that the ability to perceive this other world could be developed, enabling an individual to see events and information every bit as concrete as the present:
Rudolf Steiner ( 1861-1 925), nhà triết học, nhà giáo dục người Áo và là người sáng lập Hội Nhân Trí học, sở hữu khả năng tri giác thông tin vượt ngoài thế giới vật chất: một “thế giới tinh thần” đối với Ông cũng thực như thế giới vật chất đối với kẻ khác. Steiner khẳng định rằng khả năng tri giác thế giới khác này có thể được phát triển, cho phép một cá nhân nhìn thấy các biến cố và thông tin cụ thể y như hiện tại:
... man can penetrate to the eternal origins of the things which vanish with time. A man broadens his power of cognition in this way if he is no longer limited to external evidence where knowledge of the past is concerned. Then he can see in events what is not perceptible to the senses, that part which time cannot destroy. He penetrates from transitory to non-transitory history. It is a fact that this history is written in other characters than is ordinary history. In gnosis and in theosophy it is called the “Akasha Chronicle”... To the uninitiated, who cannot yet convince himself of the reality of a separate spiritual world through his own experience, the initiate easily appears to be a visionary, if not something worse. The one who has acquired the ability to perceive in the spiritual world comes to know past events in their eternal character. They do not stand before him like the dead testimony of history, but appear in full life. In a certain sense, what has happened takes place before him.
... con người có thể thâm nhập đến những nguồn cội vĩnh cửu của các sự vật vốn phai tàn theo thời gian. Con người mở rộng quyền năng nhận thức theo cách này nếu y không còn bị giới hạn vào bằng chứng bên ngoài khi liên quan đến tri thức về quá khứ. Bấy giờ y có thể thấy trong các biến cố điều không khả tri đối với giác quan, phần mà thời gian không thể hủy diệt. Y xuyên từ lịch sử phù du đến lịch sử bất hoại. Sự thật là lịch sử này được chép bằng những ký tự khác với lịch sử thông thường. Trong ngộ tri và trong Thông Thiên Học, nó được gọi là “Biên niên Akasha”... Với người chưa nhập môn, kẻ chưa thể tự mình xác chứng thực tại của một thế giới tinh thần riêng biệt qua kinh nghiệm bản thân, thì bậc nhập môn dễ bị xem như một kẻ mộng tưởng, nếu không muốn nói là tệ hơn. Người đã thủ đắc khả năng tri giác trong thế giới tinh thần sẽ nhận biết các biến cố quá khứ trong phẩm tính vĩnh cửu của chúng. Chúng không hiện ra trước y như lời chứng chết cứng của lịch sử, mà sống động trọn vẹn. Theo một nghĩa nào đó, điều đã xảy ra liền diễn ra trước mắt y.
Cosmic Memory
Ký ức Vũ trụ
In terms of contemporary insights, perhaps the most extensive source of information regarding the Akashic Records comes from the clairvoyant work of Edgar Cayce ( 1877-1945), Christian mystic and founder of the Association for Research and Enlightenment, Inc. For fortythree years of his adult life, Edgar Cayce possessed the ability to lie down on a couch, close his eyes, fold his hands over his stomach, and put himself into some kind of an altered state in which virtually any type of information was available. The accuracy of Cayce’s psychic work is evidenced by approximately one dozen biographies and literally hundreds of books and tapes which explore various aspects of his information and the thousands of topics he discussed.
Xét về những tri kiến đương đại, có lẽ nguồn tư liệu rộng lớn nhất liên quan Hồ Sơ Akasha đến từ công trình thông nhãn của Edgar Cayce ( 1877-1 945), nhà thần bí Kitô giáo và là người sáng lập Association for Research and Enlightenment, Inc. Trong bốn mươi ba năm của đời trưởng thành, Edgar Cayce có khả năng nằm xuống trên một chiếc ghế dài, nhắm mắt, chắp tay trên bụng, và đưa mình vào một trạng thái biến đổi nào đó trong đó hầu như bất cứ loại thông tin nào cũng khả dụng. Độ chuẩn xác của công trình tâm linh của Cayce được chứng thực bởi khoảng một tá tiểu sử và hàng trăm sách vở, băng đĩa khảo sát các khía cạnh khác nhau trong thông tin của Ông và hàng ngàn chủ đề Ông đã bàn đến.
When asked about the source of his information, Cayce replied that there were essentially two. The first was the subconscious mind of the individual for whom he was giving the reading and the second was the Akashic Records. In further describing these records, Cayce stated:
Khi được hỏi về nguồn gốc thông tin của mình, Cayce trả lời rằng có hai nguồn chủ yếu. Thứ nhất là thể trí tiềm thức của cá nhân mà Ông đang thực hiện bài đọc, và thứ hai là Hồ Sơ Akasha. Mô tả thêm về các hồ sơ này, Cayce nói:
Upon time and space is written the thoughts, the deeds, the activities of an entity—as in relationships to its environs, its hereditary influence; as directed—or judgment drawn by or according to what the entity’s ideal is.
Trên thời gian và không gian người ta chép nên những tư tưởng, những hành vi, những hoạt động của một thực thể—như trong mối tương quan với môi trường của y, ảnh hưởng di truyền của y; như được dẫn dắt—hoặc phán đoán được rút ra bởi hay theo lý tưởng của thực thể ấy.
Hence, as it has been oft called, the record is God’s book of remembrance; and each entity, each soul—as the activities of a single day of an entity in the material world—either makes same good or bad or indifferent, depending upon the entity’s application of self towards that which is the ideal manner for the use of time, opportunity and the EXPRESSION of that for which each soul enters a material manifestation.
Bởi thế, như nó vẫn thường được gọi, hồ sơ là Sách Tưởng Niệm của Thượng đế; và mỗi thực thể, mỗi linh hồn—như những hoạt động của một ngày của một thực thể trong thế giới vật chất—hoặc làm cho nó thành tốt hoặc xấu hoặc dửng dưng, tùy thuộc vào việc thực thể áp dụng tự ngã mình vào điều được xem là phương cách lý tưởng cho việc sử dụng thời gian, cơ hội và BIỂU HIỆN điều vì đó mỗi linh hồn đi vào một sự hiện thân vật chất.
The interpretation then as drawn here is with the desire and hope that, in opening this for the entity, the experience may be one of helpfulness and hopefulness.
Bấy giờ lời giải như được rút ra ở đây là với ước muốn và hy vọng rằng, khi mở điều này cho thực thể, trải nghiệm có thể là một điều hữu ích và đầy hy vọng.
1650-1*
1650-1 *
Most often, when giving a reading which discussed a person’s soul history and the individual’s sojourn through space and time, Cayce would begin with a statement such as “ Yes, we have before us the records of the entity now known or called _________.” In describing the process for accessing these records, Edgar Cayce stated:
Thường khi, khi thực hiện một bài đọc bàn về lịch sử linh hồn của một người và những chặng du hành của cá nhân ấy qua không gian và thời gian, Cayce sẽ bắt đầu với một câu như “ Vâng, chúng tôi có trước chúng tôi các hồ sơ của thực thể hiện được biết hay gọi là _________.” Mô tả quy trình tiếp cận những hồ sơ này, Edgar Cayce nói:
*The readings were all numbered to provide confidentiality. The first set of numbers (e.g., “1650”) refers to the person or group for whom the reading was given. The second set of numbers (e.g., “1”) refers to the number in the series. In this example ( 1650-1), the number represents the first reading for the individual assigned [1650].
*Các bài đọc đều được đánh số để bảo mật. Dãy số thứ nhất (ví dụ, “1650”) chỉ người hay nhóm mà bài đọc được thực hiện cho. Dãy số thứ hai (ví dụ, “1”) chỉ số thứ tự trong chuỗi. Trong ví dụ này ( 1650-1), con số biểu thị bài đọc thứ nhất cho cá nhân được gán [1650].
I see myself as a tiny dot out of my physical body, which lies inert before me. I find myself oppressed by darkness and there is a feeling of terrific loneliness. Suddenly, I am conscious of a white beam of light. As this tiny dot, I move upward following the light, knowing that I must follow it or be lost.
Tôi thấy chính mình như một chấm nhỏ tí rời khỏi thể xác, vốn đang bất động trước mặt tôi. Tôi cảm thấy bị bóng tối đè nén và có một cảm giác cô độc khủng khiếp. Đột nhiên, tôi ý thức về một tia sáng trắng. Là chấm nhỏ này, tôi chuyển động đi lên theo luồng sáng, biết rằng tôi phải theo nó nếu không sẽ lạc mất.
As I move along this path of light I gradually become conscious of various levels upon which there is movement. Upon the first levels there are vague, horrible shapes, grotesque forms such as one sees in nightmares. Passing on, there begin to appear on either side misshapen forms of human beings with some part of the body magnified. Again there is change and I become conscious of gray-hooded forms moving downward. Gradually, these become lighter in color. Then the direction changes and these forms move upward and the color of the robes grows rapidly lighter. Next, there begin to appear on either side vague outlines of houses, walls, trees, etc., but everything is motionless.
Khi tôi đi dọc theo con đường ánh sáng này, tôi dần ý thức về các tầng cấp khác nhau trên đó có chuyển động. Ở những tầng thứ nhất có những hình thù mơ hồ, khủng khiếp, các dạng méo mó như ta thấy trong ác mộng. Đi tiếp, bắt đầu xuất hiện ở hai bên những hình người dị dạng với một phần thân thể được phóng đại. Lại nữa có đổi thay và tôi ý thức về những hình dáng trùm mũ xám đang đi xuống. Dần dần, chúng sáng hơn về màu sắc. Rồi hướng chuyển động đổi khác và các hình này đi lên và màu áo choàng nhanh chóng trở nên sáng hơn. Kế đó, bắt đầu hiện ra hai bên những nét phác mờ của nhà cửa, tường, cây cối, v.v., nhưng mọi thứ đều bất động.
As I pass on, there is more light and movement in what appear to be normal cities and towns. With the growth of movement I become conscious of sounds, at first indistinct rumblings, then music, laughter, and singing of birds. There is more and more light, the colors become very beautiful, and there is the sound of wonderful music. The houses are left behind, ahead there is only a blending of sound and color. Quite suddenly I come upon a hall of records. It is a hall without walls, without ceiling, but I am conscious of seeing an old man who hands me a large book, a record of the individual for whom I seek information.
Khi tôi đi tiếp, có nhiều ánh sáng hơn và chuyển động nơi những gì có vẻ là các thành thị, phố xá bình thường. Với sự gia tăng của chuyển động tôi trở nên ý thức về âm thanh, lúc đầu là những tiếng ầm ì mơ hồ, rồi âm nhạc, tiếng cười, và tiếng chim hót. Ánh sáng mỗi lúc một nhiều, các màu sắc trở nên rất đẹp, và có âm nhạc tuyệt vời. Nhà cửa lùi lại phía sau, phía trước chỉ còn là sự hòa quyện của âm thanh và màu sắc. Bất chợt tôi chạm đến một đại sảnh hồ sơ. Đó là một đại sảnh không tường, không mái, nhưng tôi ý thức thấy một ông lão trao cho tôi một cuốn sách lớn, một ghi chép về cá nhân mà tôi tìm kiếm thông tin.
Case 294-19 Report File
Hồ sơ Báo cáo Trường hợp 294-19
Once given the record, Cayce had the ability to select the information which would be most capable of assisting the individual at that time in their life. Frequently, a reading might suggest that only a selection of the available material was being provided, but that the individual was being given that which would be “most helpful and hopeful.” Additional insights were frequently provided in subsequent readings once an individual had attempted to work with and apply the information which had been given previously.
Khi đã có cuốn hồ sơ, Cayce có khả năng lựa chọn những thông tin nào có thể giúp ích nhất cho cá nhân ấy vào thời điểm đó trong đời họ. Nhiều khi, một bài đọc có thể gợi ý rằng chỉ một phần tài liệu khả dụng đang được cung cấp, nhưng cá nhân này đang được trao điều sẽ “hữu ích và đầy hy vọng” nhất. Những tri kiến bổ sung thường được cung cấp trong các bài đọc tiếp theo một khi người ấy đã nỗ lực làm việc với và áp dụng những thông tin được đưa ra trước đó.
As a means of perhaps alluding to the fact that the Akashic Records were not simply a transcription of the past but included the present, the future, and certain probabilities as well, in reading 304-5, Cayce began the reading with the curious statement:
Như một cách ám chỉ rằng Hồ Sơ Akasha không chỉ là bản chép của quá khứ mà bao gồm cả hiện tại, tương lai, và cả những xác suất nữa, trong bài đọc 304-5, Cayce bắt đầu bài đọc với lời lạ lùng:
Yes, we have the body here, and the record as has been made and as may be made with the will as exercised, and the condition irrespective of the will’s influence or effect as has been created. We have conditions that might have been, that are and that may be. Do not get the three mixed [up] or crossed purposes of either. [Author’s emphasis]
Vâng, chúng tôi có thân thể ở đây, và hồ sơ như đã được tạo nên và như có thể được tạo nên cùng với ý chí khi được vận dụng, và tình trạng bất kể ảnh hưởng hay hiệu lực của ý chí như đã được tạo. Chúng tôi có những điều kiện lẽ ra đã có, đang có và có thể có. Đừng trộn lẫn ba thứ [lên] hay đặt chúng vào những mục đích chéo nhau của bất cứ thứ nào. [Nhấn mạnh của Tác giả]
When discussing the Book of Life, Cayce stated that it was “the record of God, of thee, thy soul within and the knowledge of same” (281-33). In another reading ( 2533-8), Cayce was asked to explain the difference between the Book of Life and the Akashic Records:
Khi bàn về Cuốn Sách của Sự Sống, Cayce nói rằng đó là “ghi chép của Thượng đế, của ngươi, linh hồn của ngươi ở bên trong và tri thức về chính điều ấy” (281-33). Trong một bài đọc khác ( 2533-8), Cayce được yêu cầu giải thích sự khác nhau giữa Cuốn Sách của Sự Sống và Hồ Sơ Akasha:
Q. [What is meant by] The Book of Life? A. The record that the individual entity itself writes upon the skein of time and space, through patience—and is opened when self has attuned to the infinite, and may be read by those attuning to that consciousness...
H. [Ý của] Cuốn Sách của Sự Sống là gì? Đ. Ghi chép mà chính thực thể cá nhân tự viết lên guồng sợi của không gian và thời gian, qua nhẫn nại—và được mở ra khi tự ngã đã hòa điệu với vô cùng, và có thể được đọc bởi những ai hòa điệu với tâm thức ấy...
Q. The Book of God’s Remembrances?
H. Cuốn Sách Tưởng Niệm của Thượng đế?
A. This is the Book of Life.
Đ. Ấy chính là Cuốn Sách của Sự Sống.
Q. The Akashic Records?
H. Hồ Sơ Akasha?
A. Those made by the individual, as just indicated.
Đ. Những điều được chính cá nhân tạo nên, như vừa chỉ ra.
The Edgar Cayce readings suggest that each of us writes the story of our lives through our thoughts, our deeds, and our interactions with the rest of creation. This information has an effect upon us in the here and now. In fact, the Akashic Records have such an impact upon our lives and the potentials and probabilities we draw toward us that any exploration of them cannot help but provide us with insights into the nature of ourselves and our relationship to the universe.
Các bài đọc của Edgar Cayce gợi rằng mỗi người chúng ta viết câu chuyện đời mình qua tư tưởng, hành vi và tương tác với phần còn lại của tạo sinh. Thông tin này có tác động lên chúng ta ngay trong hiện tại. Thật vậy, Hồ Sơ Akasha ảnh hưởng đến đời sống chúng ta và những tiềm năng cùng xác suất mà chúng ta thu hút đến mức bất kỳ cuộc khảo sát nào về chúng cũng không thể không đem lại cho chúng ta những tri kiến về bản tính của chính mình và mối liên hệ của mình với vũ trụ.
There is much more to our lives, our histories, and our individual influence upon our tomorrows than we have perhaps dared to imagine. By accessing information from the Akashic Records, the universe’s computer database, much might be revealed to us. The world as we have collectively perceived it is but a faint shadow of reality. This book has been compiled in the hopes of giving individuals a glimpse beyond that shadow.
Còn có nhiều điều về đời sống, lịch sử và ảnh hưởng cá nhân của chúng ta lên ngày mai hơn là chúng ta dám tưởng. Bằng cách tiếp cận thông tin từ Hồ Sơ Akasha, cơ sở dữ liệu của vũ trụ, lắm điều có thể được hé lộ. Thế giới như chúng ta cộng thông tri giác về nó chỉ là một chiếc bóng mờ nhạt của thực tại. Cuốn sách này được biên soạn với hy vọng ban cho mỗi người một cái nhìn vượt qua chiếc bóng ấy.
Kevin J. Todeschi
Kevin J. Todeschi
Virginia Beach, Virginia xx
Virginia Beach, Virginia xx
Part One: The Past
Again the specter raised a cry, and shook his chain and wrung his shadowy hands.
Lại một lần nữa, bóng ma cất tiếng kêu, rung lắc sợi xích và vò đôi bàn tay mờ ảo của mình.
“You are fettered,” said Scrooge trembling. “Tell me why?”
“Ông bị xiềng xích,” Scrooge run rẩy nói. “Hãy nói cho tôi vì sao?”
“I wear the chain I forged in life,” replied the Ghost. “I made it link by link, and yard by yard; I girded it on of my own free will, and of my own free will I wore it... ”
“Tôi mang sợi xích do chính tôi rèn nên khi còn sống,” Hồn Ma đáp. “Tôi đã kết nó từng mắt, từng thước; tôi đã tự mình đai nó vào, và do ý chí tự do của chính mình mà tôi đã đeo nó... ”
Conversation between Ebenezer Scrooge and the ghost of Jacob Marley
Cuộc đối thoại giữa Ebenezer Scrooge và hồn ma Jacob Marley
Charles Dickens’s A Christmas Carol
Một khúc ca Giáng sinh của Charles Dickens
1 The Akashic Records as a Chronicler of the Past
The records that have been written have been written... Then the natural question of the entity, from that which has been given, is: From what source, or how, is such a record read of the activities in the past? How may self know that there is being given a TRUE record of the activities in a period of which there is no written WORD [of] history? Yet the entity itself sees, and is being taught, and is studying, the records that are written in nature, in the rocks, in the hills, in the trees, in that termed the genealogical log of nature itself. Just as true, then, is the record that the mind makes upon the film of time and space in the activities of a body with its soul that is made in the image of the Maker; being then spirit, in its form, upon the records IN time and space.
Những hồ sơ đã được chép thì đã được chép... Thế thì câu hỏi tự nhiên của thực thể, từ điều đã được đưa ra, là: Từ nguồn nào, hay bằng cách nào, một hồ sơ như vậy được đọc về những hoạt động trong quá khứ? Làm thế nào tự ngã biết được rằng đang có một HỒ SƠ CHÂN THẬT về các hoạt động trong một thời kỳ mà không có LINH TỪ [của] lịch sử nào được viết? Ấy vậy mà chính thực thể nhìn thấy, và đang được dạy, và đang học, các hồ sơ vốn được chép trong thiên nhiên, trong đá, trong đồi, trong cây, trong điều được gọi là nhật ký phả hệ của chính thiên nhiên. Cũng chân thật như thế, là hồ sơ mà tâm tạo nên trên thước phim của thời gian và không gian về các hoạt động của một thể cùng với linh hồn của nó—vốn được làm theo hình ảnh của Đấng Tạo Hóa; bấy giờ là tinh thần, trong hình thể của nó, trên các hồ sơ TRONG thời gian và không gian.
487-17
487-17
Imagine having a computer system that keeps track of every event, thought, image, or desire that had ever transpired in the earth. Imagine, as well, that rather than simply a compilation of written data and words, this system contains countless videotape film and pictures, providing the viewer with an eyewitness account of all that had ever happened within any historical time frame. Finally, imagine that this enormous database not only keeps track of the information from an objective perspective but also maintains the perspectives and emotions of every individual involved. As incredible as it may sound, this description gives a fairly accurate representation of the Akashic Records.
Hãy hình dung có một hệ thống máy tính ghi lại mọi biến cố, tư tưởng, hình ảnh, hay ước muốn từng xảy ra trên trần thế. Hãy hình dung thêm rằng thay vì chỉ là một tập hợp dữ kiện và chữ nghĩa, hệ thống này chứa vô số cuộn phim và hình ảnh, cho phép người xem có được tường thuật tận mắt về mọi điều từng xảy ra trong bất kỳ khung thời gian lịch sử nào. Cuối cùng, hãy hình dung rằng cơ sở dữ liệu khổng lồ này không những ghi chép thông tin từ một quan điểm khách quan mà còn lưu giữ cả các quan điểm và cảm xúc của mọi cá nhân có liên quan. Dẫu nghe không thể tin nổi, mô tả này lại khá đúng với Hồ Sơ Akasha.
Edgar Cayce, who has been called the most documented psychic of all time as well as a twentieth-century mystic, helped thousands of people through the use of his remarkable intuitive ability. For over forty years, Cayce gave readings, or psychic dissertations, using the Akashic Records as his primary resource material. Cayce’s essential talent was his ability to access and describe information from these records, information which would enable people to discover everything from their essential purpose in life to the underlying cause of a long-standing problem. It was a resource of information, Cayce claimed, which was and is available to everyone.
Edgar Cayce, người được gọi là nhà thông linh được tư liệu hóa nhất mọi thời cũng như một nhà thần bí thế kỷ hai mươi, đã trợ giúp hàng nghìn người nhờ khả năng trực giác phi thường của mình. Suốt hơn bốn mươi năm, Cayce đưa ra các bài đọc, hay diễn giảng tâm linh, dùng Hồ Sơ Akasha làm nguồn tư liệu chính. Tài năng cốt lõi của Cayce là khả năng tiếp cận và mô tả thông tin từ những hồ sơ này, thông tin có thể giúp con người khám phá từ mục đích cốt yếu của đời mình đến nguyên nhân sâu xa của một vấn đề tồn lưu lâu dài. Theo Cayce, đó là một nguồn thông tin vốn đã và đang sẵn có cho mọi người.
In an effort to describe how this is feasible, Edgar Cayce stated that it is possible for individuals to attune to the Akashic Records in the same manner that a radio could be built to tune in to radio waves. Although the records are not physical in nature, an individual in attunement can “hear,” “read,” and “experience” the information nonetheless. In order to illustrate what an individual might perceive while viewing this information, Cayce told an eighteen-year-old girl that the Akashic Records of the mental world might be compared to a movie theater of the physical world (275-19). This movie could be replayed in an effort to understand what had occurred in an individual’s experience in any period, at any time, or while in any place in history. Also within this data was a record of lessons learned, opportunities lost, faults acquired, and experiences gained. In addition, although an individual’s actions could be misinterpreted or misconstrued in the physical world, the Akashic Records maintained an objective record of a person’s “real life” because it reported his or her true intent.
Nỗ lực giải thích điều này khả thi thế nào, Edgar Cayce nói rằng cá nhân có thể hòa điệu với Hồ Sơ Akasha giống như người ta có thể chế tạo một chiếc radio để bắt sóng vô tuyến. Dù các hồ sơ không có bản chất vật lý, một người trong trạng thái hòa điệu vẫn có thể “nghe,” “đọc,” và “trải nghiệm” thông tin ấy. Để minh họa một cá nhân có thể tri nhận gì khi xem thông tin này, Cayce nói với một cô gái mười tám tuổi rằng Hồ Sơ Akasha của thế giới trí tuệ có thể được so với rạp chiếu phim của thế giới vật chất (275-19). Cuốn phim ấy có thể tua lại nhằm hiểu điều đã xảy ra trong trải nghiệm của một cá nhân vào bất kỳ thời kỳ nào, thời điểm nào, hay tại bất kỳ nơi đâu trong lịch sử. Cũng trong dữ liệu này là hồ sơ về những bài học đã học, cơ hội đã bỏ lỡ, các khuyết điểm đã tích luỹ, và những kinh nghiệm đã thu nhận. Thêm vào đó, tuy hành động của một cá nhân có thể bị hiểu sai hay xuyên tạc trong thế giới vật chất, Hồ Sơ Akasha vẫn lưu một ghi nhận khách quan về “đời sống thực” của người ấy vì nó ghi nhận ý định chân thật của y.
In 1934, while giving a reading to a twenty-eight-yearold freight agent (416-2), Edgar Cayce tried to define these records further. Not only did he discuss what the Akashic Records are, but he explained how they are written, and clarified how an individual could gain access to the information. Apparently, any type of endeavor— whether action, thought, desire, or deed—creates some kind of vibration. This vibration produces a mark upon (what Cayce called) the skein of space and time and is somehow permanently identified with the individual responsible. Although unseen, it is an etheric energy that is as evident to a sensitive as the printed word is to a sighted person:
Năm 1934, khi đưa một bài đọc cho một nhân viên vận tải hai mươi tám tuổi (416-2), Edgar Cayce đã cố định nghĩa sâu hơn về những hồ sơ này. Ông không chỉ bàn về bản chất của Hồ Sơ Akasha, mà còn giải thích chúng được viết ra sao, và làm rõ cách một người có thể tiếp cận thông tin. Rõ ràng, bất kỳ loại nỗ lực nào—dù là hành động, tư tưởng, ước muốn hay việc làm—đều tạo ra một loại rung động nào đó. Rung động này tạo nên một dấu ấn trên (điều Cayce gọi) cuộn sợi của không gian và thời gian và bằng cách nào đó được gắn định vĩnh viễn với cá nhân chịu trách nhiệm. Dù vô hình, đó là một năng lượng dĩ thái hiển nhiên đối với người nhạy cảm chẳng khác gì chữ in đối với người sáng mắt:
When there is the thought or the activity of the body in any particular environ, this very activity makes for the impressions upon the soul...
Khi có tư tưởng hay hoạt động của thân thể trong bất kỳ môi trường nào, chính hoạt động này tạo nên các ấn tượng trên linh hồn...
As to the records made by such an activity, these are written upon what is known as time or space; much in the form or manner as are the messages that are of a familiar nature to the body in its present activity. As the instruments of recording are used, so does the activity of ENERGY expended leave its imprint upon the etheric wave that records between time and space that DESIRED to be put, as to that impelling or producing. Just as the figures or characters make for communications between individuals, so does the soul upon the pages or records of time and space.
Về các hồ sơ được tạo nên bởi một hoạt động như thế, chúng được chép trên điều được biết như là thời gian hay không gian; rất giống hình thức hay cách thức các thông điệp vốn quen thuộc với thân thể trong hoạt động hiện tại. Khi những khí cụ ghi chép được sử dụng, thì hoạt động của NĂNG LƯỢNG được tiêu phí để lại dấu ấn trên làn sóng dĩ thái vốn ghi nhận giữa thời gian và không gian điều MONG MUỐN được đặt vào, như là cái thúc đẩy hay sản sinh. Cũng như các con số hay ký tự tạo nên giao tiếp giữa các cá nhân, linh hồn cũng vậy trên những trang hay hồ sơ của thời gian và không gian.
416-2
416-2
Complicating our ability to understand and work with these records, however, Cayce explained to his wife, Gertrude, in reading 538-32 that it is very possible for anyone attempting to read the records (a psychic, a sensitive individual, the entity itself, etc.) to misinterpret the information. Perceiving the Akashic database is apparently shaded by the mental experience and background of the person reading the information UNLESS the intent is totally selfless and desirous of being of help. In other words, two individuals could acquire very different interpretations from the very same records because of their own belief systems, backgrounds, experiences, and personal motives.
Tuy nhiên, làm phức tạp khả năng thấu hiểu và làm việc với những hồ sơ này, Cayce giải thích với vợ mình, Gertrude, trong bài đọc 538-32 rằng bất kỳ ai nỗ lực đọc các hồ sơ (một nhà thông linh, một người nhạy cảm, chính thực thể, v.v.) đều rất có thể diễn giải sai thông tin. Tưởng tri cơ sở dữ liệu Akasha rõ ràng bị nhuộm màu bởi kinh nghiệm và nền tảng tâm trí của người đọc thông tin TRỪ KHI ý định hoàn toàn vô ngã và chỉ mong giúp ích. Nói cách khác, hai người có thể rút ra những diễn giải rất khác nhau từ cùng một hồ sơ bởi hệ niềm tin, nền tảng, kinh nghiệm và động cơ riêng của họ.
During the course of a reading given to a thirty-eightyear-old physician, the subjective nature of the Akashic Records was explained as follows:
Trong một bài đọc thực hiện cho một bác sĩ ba mươi tám tuổi, tính chủ quan của Hồ Sơ Akasha được giải thích như sau:
Hence the interpretations of these may vary somewhat, dependent upon what phases the approach is made. In the same manner that in material experiences entities, viewing an event or happening, are prompted to give THEIR version according to the reaction upon their ideal—and upon those promptings of the purpose of the individual so viewing same.
Vậy nên các diễn giải về những điều này có thể khác nhau ít nhiều, tùy thuộc vào phương diện nào mà người ta tiếp cận. Cũng theo cách trong những trải nghiệm vật chất, các thực thể, khi nhìn một biến cố hay sự việc, thường bị thúc đẩy để đưa ra PHIÊN BẢN của họ theo phản ứng của họ đối với lý tưởng của chính họ—và theo những thúc bách của mục đích của cá nhân đang nhìn điều ấy.
1448-2
1448-2
The same person was told that every experience encountered in an individual’s life could leave a good or a bad impression upon these Akashic Records. Apparently each occurrence in life has the capacity to be a constructive or a destructive influence, based upon what an individual does with that experience. Different choices will leave very different impressions upon the records.
Người ấy cũng được cho biết rằng mọi kinh nghiệm gặp trong đời một cá nhân đều có thể để lại một ấn tượng tốt hay xấu lên những Hồ Sơ Akasha này. Rõ ràng mỗi biến cố trong đời đều có năng lực trở thành ảnh hưởng xây dựng hay phá hoại, tùy theo điều người ấy làm với trải nghiệm đó. Những lựa chọn khác nhau sẽ để lại những dấu ấn rất khác nhau trên hồ sơ.
Since these records are so complete, so accurate, and so individualized, a logical question might be: Just what is the purpose of the Akashic Records in the first place? Simply put, the answer is to keep track of and assist with each soul’s personal growth and transformation. However, in order to adequately discuss and understand Edgar Cayce’s perception of the records, one needs to possess an adequate background in what might be termed “the Cayce Cosmology.” Essentially, that cosmology can be summed up in the statement: God is essentially love and the Universe is completely orderly. Beyond that concept is the premise that each individual was purposefully created, as a soul, to become a companion with the Creator.
Vì các hồ sơ này quá đầy đủ, quá chính xác, và quá cá nhân hóa, một câu hỏi hợp lý có thể là: Mục đích đầu tiên của Hồ Sơ Akasha là gì? Nói gọn, câu trả lời là để theo dõi và trợ giúp với sự tăng trưởng và chuyển hóa cá nhân của mỗi linh hồn. Tuy nhiên, để có thể bàn luận và hiểu cho thấu quan niệm của Edgar Cayce về hồ sơ, cần có nền tảng đủ về điều có thể gọi là “vũ trụ học của Cayce.” Về cơ bản, vũ trụ học ấy có thể tóm trong mệnh đề: Thượng đế vốn là tình thương và Vũ trụ hoàn toàn có trật tự. Trên nền tảng đó là tiền đề rằng mỗi cá nhân được tạo dựng có chủ đích, như một linh hồn, để trở thành bạn đồng hành với Đấng Tạo Hóa.
Confirming Scripture, according to the Cayce readings, we were created in “God’s image” (Genesis 1:26) and therefore our natural state is spirit. Life did not begin at the moment of physical birth, rather there was an existence in spirit prior to physicality. God gave to each soul complete freedom of choice and the opportunity to find expression—to find themselves, so to speak. Because souls are created in God’s image, it would only be through a process of personal experiences—one choice leading to another, and then another, and then another—that God’s companions could gain their own individuality, truly being a part of Him and yet individuals in their own right. Once they have discovered their individuality they would once again return in consciousness to be His companions and cocreators.
Xác nhận Kinh Thánh, theo các bài đọc của Cayce, chúng ta được tạo theo “hình ảnh của Thượng đế” (Sáng Thế Ký 1:26) và do đó trạng thái tự nhiên của chúng ta là tinh thần. Sự sống không khởi đầu vào khoảnh khắc sinh ra về mặt thể xác, mà trước vật chất hóa đã có một hiện hữu trong tinh thần. Thượng đế ban cho mỗi linh hồn tự do ý chí trọn vẹn và cơ hội để biểu lộ—để tìm ra chính mình, như cách nói. Vì linh hồn được tạo theo hình ảnh của Thượng đế, chỉ qua tiến trình những trải nghiệm cá nhân—lựa chọn này dẫn đến lựa chọn khác, rồi nữa, rồi nữa—thì những người bạn của Thượng đế mới có thể đạt được cá tính của chính mình, thật sự là một phần của Ngài mà vẫn là cá thể riêng. Khi đã khám phá cá tính riêng, họ sẽ một lần nữa trở về trong tâm thức để là bạn đồng hành và đồng sáng tạo với Ngài.
From Cayce’s perspective, although we are currently having a physical experience, our bodies are simply a temporal home. Just as an automobile is discarded when the owner no longer finds it useful, so too are our bodies set aside when they have completed their function. We are not physical bodies with souls, but are spiritual beings who happen to be having a physical existence. If this is true and we are fundamentally spirituals beings, then we might ask: So, just what are we doing here? The answer proposed by the Cayce information is that we are essentially gathering experiences.
Theo quan điểm của Cayce, dù hiện nay chúng ta đang có một trải nghiệm vật chất, thân xác của chúng ta chỉ là một ngôi nhà tạm thời. Cũng như chiếc xe bị bỏ khi chủ nhân không còn thấy hữu dụng, thân xác chúng ta cũng được đặt sang bên khi đã hoàn tất chức năng. Chúng ta không phải là thân xác vật chất có linh hồn, mà là những hữu thể tinh thần tình cờ đang có một hiện hữu vật chất. Nếu điều này đúng và chúng ta căn bản là các hữu thể tinh thần, thì có thể hỏi: Vậy, chúng ta đang làm gì ở đây? Câu trả lời theo thông tin của Cayce là chúng ta về bản chất đang gom góp các trải nghiệm.
According to the readings, the soul, basically creative in nature, longs to find self-expression. In fact, the essential question repeatedly posed by the soul might be: Who am I? This question is addressed in infinite ways as each soul chooses specific experiences to meet itself. The soul gains firsthand knowledge not only about its own identity but also learns how choices lead to certain experiences. In time, soul experiences and acquired knowledge will lead to wisdom. Inevitably, wisdom will lead to compassion and eventually love will be the end result. At this point, the soul will know its individual identity as well as its true relationship with God. The soul will have come to understand that its primary essence and God’s are one and the same, LOVE:
Theo các bài đọc, linh hồn, vốn sáng tạo về bản tính, khao khát tìm biểu lộ. Quả vậy, câu hỏi cốt yếu mà linh hồn lặp lại có thể là: Ta là ai? Câu hỏi này được giải quyết theo vô vàn cách khi mỗi linh hồn chọn những trải nghiệm đặc thù để gặp lại chính mình. Linh hồn đạt tri thức trực tiếp không chỉ về căn tính của chính nó mà còn học cách các lựa chọn đưa đến những trải nghiệm nhất định. Theo thời gian, các trải nghiệm của linh hồn và tri thức thủ đắc sẽ dẫn đến minh triết. Tất yếu, minh triết sẽ dẫn đến lòng trắc ẩn và rốt cuộc tình thương sẽ là kết quả sau cùng. Lúc này, linh hồn sẽ biết căn tính cá nhân cũng như mối liên hệ chân thật của mình với Thượng đế. Linh hồn sẽ thấu rằng bản thể chủ yếu của mình và của Thượng đế là một và đồng nhất, TÌNH THƯƠNG:
Thus innately the entity is ever desiring to try something new. This is well, provided the basis of such is builded upon truth. For truth in any clime is ever the same—it is law. And love is law, law is love. Love is God, God is Love. It is the universal consciousness, the desire for harmonious expressions for the good of all, that is the heritage in man, if there is the acceptance of the way and manner such may be applied, first in the spiritual purpose and then in the mental application, and the material success will be pleasing to any.
Vậy nên tự nội tại thực thể luôn mong muốn thử điều mới. Điều này tốt, miễn nền tảng của nó được xây dựng trên chân lý. Vì chân lý ở bất kỳ xứ sở nào cũng vẫn như nhau—đó là luật. Và tình thương là luật, luật là tình thương. Tình thương là Thượng đế, Thượng đế là Tình thương. Đó là tâm thức phổ quát, khát vọng hướng đến những biểu lộ hài hòa vì điều thiện chung, chính là phần gia sản trong con người, nếu có sự chấp nhận con đường và phương cách để điều ấy được áp dụng, trước hết trong mục đích tinh thần rồi đến ứng dụng trí tuệ, và thành công vật chất sẽ làm hài lòng bất kỳ ai.
3350-1
3350-1
The soul’s education in self-awareness is undertaken through a process of cause and effect. This cause-andeffect growth pattern was examined in nearly two thousand Cayce readings which explored the topic of reincarnation. Rather than being a fatalistic process, the influence from one’s past merely provides a framework of potentials and probabilities. These possibilities are all inscribed upon the Akashic Records. An individual’s choices, actions, and free will in the present actually determine the experience lived this time around. For Cayce, it wasn’t nearly so important as to who an individual had once been (or even what they had been doing), as it was paramount that the individual focus on the present and the opportunities and the challenges that faced the person in this time, in this place, right now. In the language of the readings:
Nền giáo dục tự tri của linh hồn được thực hiện qua tiến trình nhân-quả. Mẫu thức tăng trưởng nhân-quả này được khảo sát trong gần hai ngàn bài đọc của Cayce bàn về chủ đề tái sinh. Thay vì là một tiến trình định mệnh, ảnh hưởng từ quá khứ chỉ cung cấp một khung các tiềm năng và xác suất. Những khả thể này đều được ghi trên Hồ Sơ Akasha. Những lựa chọn, hành động và ý chí tự do của một người trong hiện tại thực sự quyết định trải nghiệm sống lần này. Đối với Cayce, việc một người từng là ai (hay thậm chí đã làm gì) không quan trọng bằng việc người ấy phải tập trung vào hiện tại và những cơ hội lẫn thách thức đang đối diện mình trong thời này, nơi này, ngay bây giờ. Ngôn ngữ của các bài đọc nói:
In the studies, then, know WHERE ye are going... to find that ye only lived, died and were buried under the cherry tree in Grandmother’s garden does not make thee one whit [a] better neighbor, citizen, mother or father!
Trong học tập, vậy thì, hãy biết CÁC NGƯƠI đang đi ĐÂU... khám phá rằng các ngươi chỉ đã sống, chết và được chôn dưới gốc anh đào trong vườn của Bà Ngoại cũng chẳng làm các ngươi thành người láng giềng, công dân, người mẹ hay người cha tốt hơn [một] chút nào!
But to know that ye spoke unkindly and suffered for it, and in the present may correct it by being righteous—THAT is worth while!
Nhưng biết rằng các ngươi đã nói lời không tử tế và đã chịu đựng vì điều ấy, và trong hiện tại có thể sửa nó bằng cách sống công chính—ĐIỀU ẤY mới đáng công!
5753-2
5753-2
One young woman was told that from the past she had an innate gift for music (275-33), and that through meditation and attunement she could reawaken those talents in the present: “For, as an individual attunes itself to that which it has attained, even at a MOMENT of time, there is aroused the abilities to KNOW even that which WAS known through the [past] experience.” In another instance, a forty-six-year-old woman who received a reading about her past lives was told which lifetimes were having the greatest effect upon the present (757-8). Her reading detailed incarnations in Colonial America, England during the Crusades, ancient Persia, and ancient Egypt. From each of these experiences, certain inclinations had been developed and still remained a part of the woman’s personality and individuality. In America, she had acquired the ability to assist individuals in cooperating and communicating with one another so that people of various backgrounds and motives could learn to work together. From long periods of isolation in England, she retained an inner longing to always make time in her life for personal reflection and contemplation. From an incarnation as Persian nobility, she had acquired the desire to be surrounded by finery and beauty. Her interest in religious thought was traced to a similar work she had begun in ancient Egypt. Each of these traits simply acted as influences in the woman’s current life. Nothing was fixed; instead, the woman could use, abuse, or even ignore these inclinations in her life right now.
Một cô gái trẻ được cho biết rằng từ quá khứ cô đã có một năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc (275-33), và rằng qua tham thiền và điều hợp rung điệu cô có thể đánh thức lại các tài năng ấy trong hiện tại: “Vì, khi một cá nhân điều hợp chính mình với điều mà nó đã đạt được, dẫu chỉ trong MỘT KHOẢNH KHẮC thời gian, thì các khả năng để BIẾT ngay cả điều đã ĐÃ được biết qua kinh nghiệm [quá khứ] được khơi dậy.” Trong một trường hợp khác, một phụ nữ bốn mươi sáu tuổi nhận một bản đọc về các tiền kiếp của mình được cho biết những kiếp sống nào đang có ảnh hưởng lớn nhất lên hiện tại (757-8). Bản đọc của bà trình bày chi tiết các lần lâm phàm ở thời Thuộc địa tại Mỹ, ở Anh vào thời Thập tự chinh, ở Ba Tư cổ đại, và ở Ai Cập cổ. Từ mỗi kinh nghiệm ấy, một số khuynh hướng nhất định đã được phát triển và vẫn còn là một phần của phàm ngã và bản vị của người phụ nữ. Ở Mỹ, bà đã lĩnh hội khả năng giúp các cá nhân hợp tác và giao tiếp với nhau để những người từ các nền tảng và động cơ khác nhau có thể học cách làm việc chung. Từ những thời kỳ sống cô lập lâu dài ở Anh, bà giữ một khao khát nội tâm là luôn dành thời gian trong đời cho suy ngẫm và chiêm ngưỡng riêng tư. Từ một lần lâm phàm là giới quý tộc Ba Tư, bà có lòng ham muốn được vây quanh bởi sự sang trọng và cái đẹp. Mối quan tâm của bà về tư tưởng tôn giáo được lần theo đến một công việc tương tự mà bà đã khởi sự ở Ai Cập cổ. Mỗi nét tính này chỉ đơn giản đóng vai trò ảnh hưởng trong đời sống hiện tại của người phụ nữ. Không có gì là cố định; trái lại, ngay bây giờ bà có thể sử dụng, lạm dụng, hoặc thậm chí bỏ qua các khuynh hướng ấy trong đời.
For example, the woman’s impulse to be alone could be used in the present as times for personal rejuvenation in order to better assist those around her; however, it might just as easily be directed into a sense of aloofness or the selfish desire to always put her own needs first. In Cayce’s understanding, influences from the past are always molded and shaped by an individual’s will, desires, and purposes in the present.
Chẳng hạn, thôi thúc muốn ở một mình của người phụ nữ có thể được dùng trong hiện tại như những khoảng thời gian tự hồi phục để có thể trợ giúp tốt hơn những người quanh mình; tuy nhiên, nó cũng dễ dàng bị lái thành một cảm thức xa cách hoặc lòng ích kỷ muốn luôn đặt nhu cầu của riêng mình lên trước. Theo sự thấu hiểu của Cayce, các ảnh hưởng từ quá khứ luôn được nhào nặn và định hình bởi ý chí, ước muốn và mục đích của một cá nhân trong hiện tại.
In addition to the past-life material, interesting insights presented themselves in this woman’s case. During the course of the reading, Cayce described what manner of information was written upon the Akashic Records, how that information made its impression, as well as the influence this type of material could have upon an individual in the present. After putting himself into the trance state and journeying in consciousness to the Akashic Records, Cayce began his discourse. The woman’s reading states in part:
Bên cạnh các tư liệu về tiền kiếp, những minh kiến thú vị đã tự bày ra trong trường hợp của người phụ nữ này. Trong tiến trình bản đọc, Cayce mô tả loại thông tin nào được ghi chép trên Hồ sơ Akasha, cách thông tin ấy in dấu, cũng như ảnh hưởng mà loại tư liệu này có thể có đối với một cá nhân trong hiện tại. Sau khi đưa mình vào trạng thái xuất thần và du hành trong tâm thức đến Hồ sơ Akasha, Cayce bắt đầu diễn giảng. Bản đọc của người phụ nữ ghi như sau, trích đoạn:
Yes, we have the entity and those relations with the universe and universal forces, that are latent and manifested in the personalities of the entity now known as—or called—[757], as recorded by the experiences in the soul’s activity and journey through the environs that make for those impressions—or those that become manifested influences or forces in the experience of an entity in its present sojourn in the earth.
Vâng, chúng tôi có thực thể này và những liên hệ của y với vũ trụ và các lực vũ trụ, những điều vốn tiềm ẩn và biểu lộ trong các phàm ngã của thực thể hiện nay được biết đến—hay gọi là—[757], như được ghi lại bởi các kinh nghiệm trong hoạt động của linh hồn và cuộc hành trình qua các môi trường vốn tạo nên những ấn tượng ấy—hay những điều trở thành các ảnh hưởng hay mãnh lực được biểu lộ trong kinh nghiệm của một thực thể trong kỳ lữ trú hiện tại của y trên trần thế.
Questions naturally arise in this particular experience of this entity as to how or in what manner the records are made of an entity’s sojourn or activity in a sphere or space, so that there are the abilities of one to read or interpret same. Are they as letters written? Are they as pictures of the experiences of an entity? Are they in forms as of omens or characters that represent certain influences or activities about the earth? Yea, all of these, my friend, and more; for they are as but the skein of life itself, the expression of a divine force from the God-Father itself, making manifestations in forms that become manifestations in a material experience. For truly to be absent from the body is to be present with those infinite influences and forces that may act upon and be acted upon, from the emanations of divine influences that may be either visions as picturized, written as thought in characterizations from the various influences through which such entities make for the communication—whether in ideas or in characters that represent those ideas in their expressions as one to another. As in all forms of communicative influences from one entity or soul to another—in a look, in an expression of some portion of the anatomical influences or form, or from word, or from the turn as from the cut or form of eye, shape or form of mouth, the rising of the brow, or in any communicative influences—these either bespeak of those things that are for the aggrandizement of self ’s own motives or impulses, or are the expressions of that purpose, that desire, whereunto such a soul or expression or entity has been called. These are forms or manners through which such are written, as in the Book of Life; and may be read and known of men.
Những câu hỏi tự nhiên nảy sinh trong kinh nghiệm đặc thù này của thực thể về việc bằng cách nào hay theo thể thức nào các hồ sơ được lập nên về kỳ lữ trú hay hoạt động của một thực thể trong một cõi hay một không gian, để từ đó một người có khả năng đọc hay giải diễn chúng. Chúng có như những hàng chữ được viết chăng? Chúng có như những bức hoạ về các kinh nghiệm của một thực thể chăng? Chúng có ở dạng như những điềm triệu hay ký tự đại diện cho các ảnh hưởng hay hoạt động nhất định quanh trái đất chăng? Phải, tất cả những điều ấy, bạn hữu của tôi, và còn hơn thế nữa; vì chúng như chính búi chỉ của sự sống, sự biểu lộ của một mãnh lực thiêng liêng từ chính Thượng đế-Cha, tạo ra những biểu hiện trong các hình thức trở thành các biểu lộ trong kinh nghiệm vật chất. Vì thực sự vắng mặt khỏi thể xác là hiện diện với những ảnh hưởng và mãnh lực vô cùng tận ấy, vốn có thể tác động lên và chịu tác động từ các xuất lộ của những ảnh hưởng thiêng liêng mà có thể là các thị kiến như được hình ảnh hoá, được viết như tư tưởng trong các hình thức ký tự từ những ảnh hưởng khác nhau qua đó các thực thể như thế tạo nên sự giao tiếp—dù là trong các ý niệm hay trong các ký tự đại diện cho các ý niệm ấy trong các biểu hiện của chúng như của người này với người khác. Như trong mọi hình thức ảnh hưởng truyền đạt từ thực thể hay linh hồn này sang thực thể hay linh hồn khác—trong một cái nhìn, trong một biểu cảm của một phần nào đó của các ảnh hưởng hay hình thể giải phẫu, hay bằng lời nói, hay từ dáng dấp như từ đường nét hay hình dạng của mắt, hình dạng hay dáng của miệng, sự nhướng mày, hay trong bất cứ ảnh hưởng truyền đạt nào—tất cả những điều này hoặc nói lên những điều nhằm phóng đại các động cơ hay xung lực của phàm ngã, hoặc là các biểu hiện của mục đích ấy, ước muốn ấy, điều mà linh hồn hay biểu hiện hay thực thể như vậy đã được kêu gọi đến. Đây là các hình thức hay cách thức qua đó những điều như thế được “viết”, như trong Sách Sự Sống; và có thể được người ta đọc và biết đến.
757-8
757-8
In essence, life is an adventure of experiences whereby an individual is challenged to become a better person for having had those experiences. An experience alone doesn’t determine who the individual is as a person, rather it is how the individual chooses to face those experiences. From the perspective of reincarnation, an individual’s growth is predicated primarily upon how well he or she deals with the opportunities and circumstances that present themselves in daily life.
Tựu trung, đời sống là một cuộc phiêu lưu của các kinh nghiệm, qua đó một cá nhân được thách thức để trở nên người tốt hơn nhờ đã có những kinh nghiệm ấy. Bản thân một kinh nghiệm không quyết định một cá nhân là ai, đúng hơn là việc cá nhân ấy chọn đối diện các kinh nghiệm thế nào. Từ phối cảnh của luân hồi, sự trưởng thành của một cá nhân chủ yếu tuỳ thuộc vào việc y đối xử ra sao với các cơ hội và hoàn cảnh tự bày ra trong đời sống hằng ngày.
Unfortunately, rather than seeing that individuals are very much active “cocreators” in the unfoldment of their life journeys, too often reincarnation has been misinterpreted as a fatalistic journey through experiences and relationships that belong to an individual because of her or his “karma.” With this approach, choices made in the past have somehow etched in stone the future, and life is simply a process of going through the motions. This is definitely not the Cayce approach to reincarnation and karma in which each lifetime is one of nearly limitless opportunities. At one point, Edgar Cayce stated that approaches to reincarnation that do not take into account the importance of free will, created what he called a karmic “bugaboo” (136-18)—a total misunderstanding of the laws at work. From his perspective, individuals are very much active participants in their life journeys and not simply sometime-reluctant observers.
Đáng tiếc là, thay vì thấy rằng các cá nhân thực sự là những “đồng sáng tạo” chủ động trong sự khai mở hành trình đời mình, quá thường xuyên luân hồi bị hiểu lầm như một cuộc phiêu lưu định mệnh qua những kinh nghiệm và các mối quan hệ thuộc về một cá nhân bởi “nghiệp” của y. Với cách tiếp cận này, các chọn lựa trong quá khứ nào đó đã khắc đá tương lai, và đời sống chỉ đơn giản là tiến trình làm cho phải phép. Đây dứt khoát không phải cách tiếp cận của Cayce đối với luân hồi và nghiệp, nơi mỗi kiếp sống là một chuỗi cơ hội gần như vô hạn. Đã có lúc Edgar Cayce phát biểu rằng những cách tiếp cận luân hồi không tính đến tầm quan trọng của ý chí tự do đã tạo nên điều ông gọi là “ám ảnh” nghiệp quả (136-18)—một sự hiểu lầm hoàn toàn về các định luật đang vận hành. Từ phối cảnh của ông, các cá nhân rất mực là những người tham dự chủ động vào hành trình đời mình chứ không chỉ là những kẻ bàng quan miễn cưỡng đôi lúc.
The word karma is a Sanskrit term that means work, deed, or act. It can also be interpreted to mean “cause and effect.” Although agreeing with this concept, the Edgar Cayce readings make perhaps one of the most intriguing and unique philosophical contributions: the idea that karma can be defined as memory. It is not really a debt that must be paid, nor is it necessarily a set of specific circumstances that must be experienced because of deeds or misdeeds from the past. Karma is simply patterns of memory. It is a pool of information stored in the Akashic Records that the subconscious draws upon in the present. It has elements that are positive as well as those which seem negative. For example, an immediate affability toward an individual just met is as likely to be “karmic” as is an immediate animosity toward someone else. To be sure, this subconscious memory has an effect and an influence upon how we think, how we react, what we choose, even how we look! But the component of free will is ever within our grasp.
Từ “karma” là một thuật ngữ Phạn ngữ có nghĩa là công việc, hành vi, hay hành động. Nó cũng có thể được hiểu là “nhân và quả”. Dẫu đồng thuận với khái niệm này, các bản đọc của Edgar Cayce có lẽ đưa ra một đóng góp triết học độc đáo và gợi mở nhất: ý tưởng rằng nghiệp có thể được định nghĩa như là ký ức. Nó không thật sự là một món nợ phải trả, cũng không nhất thiết là một tập hợp những hoàn cảnh cụ thể buộc phải trải nghiệm vì những hành hay lỗi lầm trong quá khứ. Nghiệp đơn giản là những mô thức ký ức. Đó là một kho thông tin lưu trữ trong Hồ sơ Akasha mà tiềm thức rút ra trong hiện tại. Nó gồm những yếu tố tích cực cũng như những yếu tố có vẻ tiêu cực. Chẳng hạn, một thiện cảm tức thì với một người vừa gặp cũng “mang màu nghiệp” không kém gì một ác cảm tức thì với người khác. Chắc chắn, ký ức tiềm thức này có tác động và ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ, cách chúng ta phản ứng, điều chúng ta chọn, thậm chí cả cách chúng ta trông ra sao! Nhưng yếu tố ý chí tự do thì luôn trong tầm tay của chúng ta.
In one respect, this idea of “karma as memory” can be broken down even further so that we possess memory in terms of desires that we’ve brought with us from the past, memory in terms of situations that may still need to be learned, and even memory in terms of patterns that we keep choosing to experience, but in simplest terms it can be understood as memory. Although the memory is there, freedom of choice allows an individual to determine the path he or she takes in this present life. In practical terms, we may not always be able to understand why a certain situation was drawn to us, and in fact the why may not be of primary importance; what is important is how we choose to respond.
Ở một phương diện, ý tưởng “nghiệp như ký ức” này có thể được phân giải sâu hơn nữa để thấy rằng chúng ta sở hữu ký ức dưới dạng những ước muốn mang từ quá khứ, ký ức dưới dạng những tình huống vẫn cần phải học, và thậm chí ký ức dưới dạng những mô thức mà chúng ta cứ chọn để trải nghiệm; nhưng nói giản dị, có thể hiểu nó là ký ức. Dẫu ký ức ấy hiện hữu, tự do chọn lựa cho phép một cá nhân quyết định con đường y sẽ đi trong đời sống hiện tại. Trên bình diện thực tế, chúng ta không phải lúc nào cũng hiểu được vì sao một hoàn cảnh nhất định lại hút đến với mình, và thực tế “vì sao” có thể không phải điều trọng yếu; điều quan trọng là chúng ta chọn đáp ứng thế nào.
In 1944, while giving a reading to a forty-year-old fireman, Cayce discussed the fact that the past-life information he was drawing upon was specifically related to the life cycle that the individual presently faced. The suggestion given by Gertrude Cayce for accessing the information from the Akashic Records and a portion of the reading follows:
Năm 1944, trong khi cho một bản đọc cho một người lính cứu hỏa bốn mươi tuổi, Cayce bàn về thực tế rằng các thông tin về tiền kiếp mà ông đang rút ra đặc biệt liên quan đến chu kỳ đời sống mà cá nhân ấy hiện đang đối mặt. Lời gợi ý do Bà Gertrude Cayce đưa ra để tiếp cận thông tin từ Hồ sơ Akasha và một phần của bản đọc như sau:
Gertrude Cayce: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:
Gertrude Cayce: Ông sẽ cho biết các liên hệ của thực thể này và vũ trụ, và các lực vũ trụ; cho biết các điều kiện vốn là các phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như những lần xuất hiện trước đây trong cõi hồng trần, cho biết thời gian, địa điểm và tên gọi, và điều mà trong mỗi đời đã xây dựng hay làm chậm sự phát triển của thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại, điều mà y có thể đạt được, và bằng cách nào. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu ra:
Edgar Cayce: Yes, we have the records here of that entity now known as or called [3902].
Edgar Cayce: Vâng, chúng tôi có ở đây các hồ sơ về thực thể hiện nay được biết đến hay gọi là [3902].
In giving the interpretations of the records, written or imposed or impressed upon the skein of time and space, or the Akashic records in God’s book of remembrances, these we find:
Khi đưa ra các diễn giải về những hồ sơ, được viết hay đặt để hay in ấn lên búi chỉ của thời gian và không gian, hay các hồ sơ Akasha trong Sách Tưởng Niệm của Thượng đế, chúng tôi thấy như sau:
We would choose from these records that which if applied in the experience will bring a better interpretation of the how and why that there are certain latent and manifested urges in the abilities of the entity in the present, which if applied in a constructive, creative way may bring a better ability of the entity to apply itself in being a channel, a manifestation of those divine influences that are the cause and purpose of the entity’s appearance in the earth in the present...
Chúng tôi sẽ chọn từ các hồ sơ này những điều mà nếu được áp dụng trong kinh nghiệm sẽ mang lại một diễn giải tốt hơn về cái “như thế nào” và “vì sao” có những thôi thúc tiềm ẩn và biểu lộ nhất định trong các năng lực của thực thể ở hiện tại, mà nếu được vận dụng theo cách xây dựng, sáng tạo, có thể mang lại một khả năng tốt hơn cho thực thể trong việc tự áp dụng mình như một kênh, một biểu lộ của các ảnh hưởng thiêng liêng vốn là nguyên nhân và mục đích của sự xuất hiện của thực thể trong trần gian vào hiện tại...
As to the appearances in the earth, we find that these have been quite varied. Not all may be given by any means but these that are a part of the awareness or consciousness of the entity in the present cycle of its experience. And these are at that period that they may be applied. As indicated the mental is to be applied for the development of the material as well as the mental and spiritual self. Keep self from condemnation ever. [Author’s emphasis]
Về các lần xuất hiện nơi trần thế, chúng tôi thấy rằng những lần ấy khá đa dạng. Không thể nào cho hết bằng bất cứ cách nào, nhưng là những điều thuộc về phần nhận biết hay tâm thức của thực thể trong chu kỳ hiện tại của kinh nghiệm y. Và những điều này đang ở vào thời điểm mà chúng có thể được áp dụng. Như đã chỉ ra, phương diện trí tuệ cần được áp dụng cho sự phát triển của cả bản thân vật chất cũng như bản thân trí tuệ và tinh thần. Hãy luôn giữ mình khỏi tự lên án. [Tác giả nhấn mạnh]
3902-2
3902-2
Regardless of which cycle has surfaced in one’s life, the soul constantly experiences the consequences of its previous choices. This concept is expressed in biblical terminology as “What you sow you must reap” and is generally labeled as “Like attracts like” by students of reincarnation. This essentially means that individuals get to experience for themselves the effects that their previous choices have had upon others. Rather than being predestined, individuals continue to be in control of their lives (and their perceptions) through how they choose to respond to the situations they’ve drawn to themselves. Ultimately all experiences are for one’s personal growth.
Bất kể chu kỳ nào đã trồi lên trong đời một người, linh hồn liên tục trải nghiệm các hệ quả của những chọn lựa trước đó của mình. Khái niệm này được diễn đạt theo thuật ngữ Kinh thánh là “Gieo gì gặt nấy” và thường được các đạo sinh của thuyết luân hồi gọi là “Tương tự hút tương tự”. Về bản chất, điều này có nghĩa là các cá nhân được tự mình trải nghiệm các hiệu ứng mà những chọn lựa trước đó của họ đã gây ra cho người khác. Thay vì bị tiền định, các cá nhân tiếp tục làm chủ đời mình (và các nhận thức của mình) qua cách họ chọn đáp ứng với những tình huống mà họ đã hút đến. Rốt cuộc mọi kinh nghiệm đều nhằm cho sự trưởng thành cá nhân.
It is worth noting that soul growth can occur even when an individual has made the “wrong” choice. For example, in one case which will be explored in greater depth in the next chapter, one woman (1523) had obviously made the wrong choice when she married her first husband. However, that choice enabled her and her husband both to overcome certain patterns that had originated two hundred years earlier. Although the memory (or the karma) from the past had to be dealt with, it might have been overcome in an easier fashion. It is interesting to note that the readings often suggested it was better to make an erroneous choice than it was to be idle and to do nothing, because soul development was only possible through movement, growth, and activity.
Đáng lưu ý là sự tăng trưởng của linh hồn vẫn có thể xảy ra ngay cả khi một cá nhân đã đưa ra một chọn lựa “sai”. Chẳng hạn, trong một trường hợp sẽ được khảo sát sâu hơn ở chương sau, một phụ nữ (1523) đã rõ ràng chọn sai khi kết hôn với người chồng đầu. Tuy nhiên, chọn lựa đó đã giúp cả bà và chồng bà vượt qua một số mô thức đã khởi nguyên từ hai trăm năm trước. Dẫu ký ức (hay nghiệp) từ quá khứ cần phải được giải quyết, nó lẽ ra có thể được vượt qua theo một cách dễ dàng hơn. Điều thú vị là các bản đọc thường gợi ý rằng thà đưa ra một chọn lựa sai lầm còn hơn là thụ động chẳng làm gì, bởi vì sự phát triển của linh hồn chỉ khả hữu qua vận động, tăng trưởng và hoạt động.
In Cayce’s cosmology, each soul’s wealth of experiences from the past acts as subconscious memory in the present. By coming to terms with that memory—which manifests through such things as one’s desires, feelings, attributes, even fears—faults and shortcomings can be overcome and talents and abilities expressed.
Trong vũ trụ quan của Cayce, cả kho kinh nghiệm quá khứ của mỗi linh hồn vận hành như ký ức tiềm thức trong hiện tại. Bằng cách đối diện với ký ức ấy—vốn biểu hiện qua những điều như ước muốn, cảm xúc, thuộc tính, thậm chí sợ hãi—những tật xấu và khiếm khuyết có thể được vượt thắng và các tài năng, khả năng được biểu lộ.
In terms of personal relationships, Edgar Cayce stated that we never meet anyone by chance, nor do we ever have an emotional connection (positive or negative) to another individual for the very first time. Relationships are an ongoing learning and experiential process. In other words, we pick up our relationship with another person exactly where it was left the last time around. As one example, two individuals from the Cayce files (cases 288 and 294) were told that “These two have ever been together,” (294-9) and have experienced every imaginable relationship from father and daughter, employee and employer, mother and son, to husband and wife. In another instance ( 1222-1), a woman was told that part of the reason her husband was so controlling and demanding was because he had purchased her in a previous life. Cayce stated, “He bought you! Doesn’t he act like it at times?” to which the woman responded, “He sure does!” The nature and ongoing development of all relationships are a portion of that which is recorded by the Akashic Records.
Về các mối quan hệ cá nhân, Edgar Cayce nói rằng chúng ta không bao giờ gặp ai một cách ngẫu nhiên, cũng không bao giờ có một kết nối cảm xúc (tích cực hay tiêu cực) với một cá nhân khác lần đầu tiên. Các mối quan hệ là một tiến trình học hỏi và trải nghiệm liên tục. Nói cách khác, chúng ta tiếp tục mối quan hệ với người khác đúng ở chỗ mà nó đã dở dang từ vòng trước. Chẳng hạn, hai cá nhân trong hồ sơ Cayce (các ca 288 và 294) được cho biết rằng “Hai người này xưa nay luôn ở cùng nhau,” (294-9) và đã trải qua mọi quan hệ có thể hình dung được từ cha và con gái, nhân viên và chủ, mẹ và con trai, đến vợ và chồng. Trong một trường hợp khác ( 1222-1), một phụ nữ được cho biết rằng một phần lý do chồng bà quá kiểm soát và đòi hỏi là vì hắn đã từng mua bà trong một kiếp trước. Cayce nói: “Hắn đã mua cô! Có phải đôi lúc hắn cư xử y như vậy không?”, và người phụ nữ đáp: “Đúng là thế!” Bản chất và diễn tiến liên tục của mọi mối quan hệ là một phần của những gì được Hồ sơ Akasha ghi lại.
An interesting twist on the idea that individuals are constantly meeting the memory they have previously built in relationships with one another is that there really isn’t karma between people; instead, there is only karma with one’s own self. These patterns of behavior and memory are stored within one’s own records. The conceptual challenge, however, is that individuals seem to most effectively come to terms with their own karmic memory, or “meet themselves,” through their interactions with others. It is this interesting dynamic of meeting oneself through relationships with others that often causes individuals to perceive “them” as the basis of one’s frustrations and challenges rather than accepting personal responsibility.
Một khúc ngoặt thú vị của ý tưởng rằng các cá nhân liên tục gặp lại ký ức mà họ từng xây dựng trong các mối quan hệ với nhau là ở chỗ: thực ra không có nghiệp giữa người với người; thay vào đó, chỉ có nghiệp với chính mình. Những mô thức hành vi và ký ức này được lưu trữ trong chính hồ sơ của mỗi người. Thách thức về mặt khái niệm, tuy nhiên, là ở chỗ các cá nhân dường như đối diện hữu hiệu nhất với ký ức nghiệp của chính mình, hay “gặp lại mình”, thông qua tương tác với người khác. Chính động lực thú vị là gặp lại mình qua các mối quan hệ với người khác này thường khiến người ta nhìn “họ” như là căn nguyên của những bực dọc và thách thức, thay vì chấp nhận trách nhiệm cá nhân.
And yet, in spite of the fact that karma belongs to oneself, each soul is constantly drawn toward certain individuals and groups that will enable them to meet themselves in circumstances and relationships. Those individuals and groups, in turn, are drawn toward specific people in an effort to come to terms with their own karmic memory.
Và tuy vậy, bất chấp thực tế rằng nghiệp thuộc về chính mình, mỗi linh hồn liên tục bị hút về phía những cá nhân và nhóm người nhất định—những người sẽ giúp họ gặp lại mình trong các hoàn cảnh và các mối quan hệ. Ngược lại, những cá nhân và nhóm ấy cũng bị hút về phía những con người cụ thể trong nỗ lực đối diện với ký ức nghiệp của chính họ.
This concept of cyclic patterns with groups of individuals is evidenced among Cayce’s contemporaries. A number of people who had readings were frequently given lifetimes in history that progressed along the following lines: Atlantis, ancient Egypt, Persia, Palestine, Europe, Colonial America, and then as a contemporary of Cayce’s in the first half of the twentieth century. Because of this pattern, and the number of individuals who requested past-life readings for themselves and their families, some individual relationships can be traced for thousands of years.
Khái niệm về các mô thức chu kỳ với những nhóm người được minh chứng trong số các người đương thời với Cayce. Một số người từng nhận bản đọc thường xuyên được cho các kiếp sống trong lịch sử diễn tiến theo chuỗi như sau: Atlantis, Ai Cập cổ, Ba Tư, Palestine, châu Âu, nước Mỹ thời Thuộc địa, và rồi là người đương thời với Cayce trong nửa đầu thế kỷ hai mươi. Vì mô thức này, và vì số lượng người đã thỉnh cầu bản đọc về tiền kiếp cho chính họ và gia đình, một số mối quan hệ cá nhân có thể được lần theo hàng ngàn năm.
In an effort to understand the dynamics of group karma that may be at play in our own lives, it’s possible to gather insights from the experiences of others. The experiences of these people and the development of their relationships through time can provide us with some interesting insights into how this process of coming to terms with the Akashic Records of the past works, as well as the interconnected dynamic between free choice and karmic memory. By exploring the biographical stories of others against their soul histories, we might discover karma-in-action. The process of life and death, rebirth, and the movement toward individuality is similar for each of us. Looking at the records and the soul histories of others might enable us to make more educated choices for ourselves as we come to terms with our own karmic memory and the meeting of patterns from the past.
Nỗ lực hiểu động lực của nghiệp nhóm có thể đang vận hành trong chính đời ta, chúng ta có thể thu thập minh kiến từ kinh nghiệm của người khác. Kinh nghiệm của những người này và diễn tiến các mối quan hệ của họ qua thời gian có thể mang lại cho chúng ta những điều đáng suy ngẫm về cách tiến trình đối diện với Hồ sơ Akasha của quá khứ vận hành, cũng như động lực liên hệ giữa tự do chọn lựa và ký ức nghiệp. Bằng việc khảo sát các câu chuyện tiểu sử của người khác trong tương quan với lịch sử linh hồn của họ, chúng ta có thể khám phá “nghiệp trong-hành-động”. Tiến trình của sinh và tử, tái sinh, và chuyển động hướng đến tính cá thể thì tương tự cho mỗi chúng ta. Việc nhìn vào các hồ sơ và lịch sử linh hồn của người khác có thể giúp chúng ta đưa ra các chọn lựa sáng suốt hơn cho chính mình khi đối diện với ký ức nghiệp của bản thân và sự gặp lại các mô thức từ quá khứ.
With that in mind, one of the most fascinating case histories in the Cayce files is that of a twenty-nine-yearold woman who received her first reading in January 1938. What distinguishes this case from hundreds of others is that over the next six and a half years (before Cayce’s death in 1945) this woman procured an astonishing eighty-three readings for seventeen family members. These readings enabled her to understand how some of her current problems related not only to the present, but to a period that had occurred more than one hundred years previously—before she had even been born! More than that, she discovered how a majority of her family grouping had been “entangled” for thousands of years. These events and experiences continued to be written on the Akashic Records, giving impulse and reason to many of the woman’s current experiences.
Với lưu ý đó, một trong những lược sử ca bệnh hấp dẫn nhất trong hồ sơ Cayce là của một phụ nữ hai mươi chín tuổi nhận bản đọc đầu tiên vào tháng Giêng năm 1938. Điều phân biệt trường hợp này với hàng trăm ca khác là ở chỗ trong sáu năm rưỡi tiếp theo (trước khi Cayce qua đời năm 1945) người phụ nữ này đã xin được con số đáng kinh ngạc là tám mươi ba bản đọc cho mười bảy thành viên gia đình. Những bản đọc này giúp bà hiểu cách một số vấn đề hiện tại của mình không chỉ liên hệ đến hiện tại mà còn đến một giai đoạn xảy ra hơn một trăm năm trước—trước cả khi bà chào đời! Hơn thế nữa, bà phát hiện phần lớn nhóm gia đình của mình đã “vướng mắc” với nhau suốt hàng ngàn năm. Những sự kiện và kinh nghiệm này tiếp tục được ghi vào Hồ sơ Akasha, tạo xung lực và lý do cho nhiều trải nghiệm hiện tại của người phụ nữ.
2 Case History— The Family of Anna Campbell—Lược sử ca bệnh— Gia đình Anna Campbell
(Note: The names of case 1523 and her family members have been changed in order to maintain confidentiality.)
(Ghi chú: Tên của ca 1523 và các thành viên gia đình đã được thay đổi để đảm bảo tính bảo mật.)
In 1938 a twenty-nine-year-old woman came to Edgar Cayce for a psychic reading (case 1523). She was desperate and felt he was her last hope. She was near an end, both physically and mentally. Her marriage was not a happy one, but she was lost as to what to do. She was torn between divorcing her second husband or staying with him. Although unhappy in the situation, part of her hoped to make the marriage work in order to fulfill her dream of having a family.
Năm 1938, một phụ nữ hai mươi chín tuổi đến gặp Edgar Cayce để xin một bản đọc ngoại cảm (ca 1523). Cô tuyệt vọng và cảm thấy ông là hy vọng cuối cùng của mình. Cô gần như đến đoạn cuối, cả về thể chất lẫn tinh thần. Cuộc hôn nhân của cô không hạnh phúc, nhưng cô bối rối không biết phải làm gì. Cô giằng xé giữa việc ly dị người chồng thứ hai hay ở lại với anh ta. Dẫu bất hạnh trong hoàn cảnh, một phần trong cô vẫn hy vọng làm cho cuộc hôn nhân vận hành để hoàn thành giấc mơ có một gia đình.
Her reason for coming to see Mr. Cayce, however, was not for marital advice but because of a physical condition. She was fearful that her situation might require surgery and render her incapable of conception. A tubal pregnancy during her disastrous first marriage had resulted in the removal of one set of fallopian tubes. She had begun to experience similar physical symptoms and feared that a second tubal pregnancy would end her chances of having a baby. More than anything else, she wanted to be a mother. Other family members had pursued college and careers; her sister was working on a master’s degree. But not Anna; for as long as she could remember, she had one dream: “to have six children and to grow old with them.” She hoped by having a physical reading that she would avoid another operation.
Tuy nhiên, lý do cô đến gặp Ông Cayce không phải để xin lời khuyên hôn nhân mà vì một tình trạng thể chất. Cô sợ rằng tình trạng của mình có thể đòi hỏi phẫu thuật và khiến cô không thể thụ thai. Một lần mang thai ngoài tử cung trong cuộc hôn nhân đầu thảm hoạ đã dẫn đến việc cắt bỏ một bên vòi trứng. Cô bắt đầu trải qua những triệu chứng thể chất tương tự và lo sợ rằng một lần mang thai ngoài tử cung thứ hai sẽ chấm dứt cơ hội có con. Hơn bất cứ điều gì, cô muốn làm mẹ. Những người thân khác đã theo đuổi đại học và sự nghiệp; chị cô đang học cao học. Nhưng Anna thì không; từ thuở nhớ được, cô chỉ có một giấc mơ: “có sáu đứa con và già đi cùng chúng.” Cô hy vọng bằng cách xin một bản đọc về thể chất, mình sẽ tránh được một ca mổ khác.
Anna’s life history was unknown to Edgar Cayce at the time of her reading. However, an overview of her story will enable us to better understand her situation as well as its connection to the past.
Tiểu sử đời Anna không hề được Edgar Cayce biết đến vào thời điểm bản đọc. Tuy nhiên, một cái nhìn khái quát về câu chuyện của cô sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn hoàn cảnh của cô cũng như mối liên hệ của nó với quá khứ.
She was born in a very small town at the turn of the twentieth century. So small, in fact, that half a century later the town would have been annexed by surrounding communities and literally disappeared. Her parents were farmers, though her mother had come from a Kentucky background much more refined and dignified than her father’s. This fact seemed to bother her father for much of his life. Her father was one of the last frontiersmen, deeply rooted in the land and the knowledge of what it could provide for his family.
Cô sinh ra ở một thị trấn rất nhỏ vào bước ngoặt thế kỷ hai mươi. Nhỏ đến mức, nửa thế kỷ sau, thị trấn đã bị các cộng đồng xung quanh sáp nhập và hầu như biến mất. Cha mẹ cô là nông dân, dù mẹ cô xuất thân từ một nền nếp Kentucky thanh lịch và trang nghiêm hơn cha cô nhiều. Sự thật này dường như đã làm phiền cha cô suốt một phần lớn đời ông. Cha cô là một trong những người tiên phong nơi vùng biên hiếm hoi còn lại, bám rễ sâu vào đất đai và tri thức về những gì nó có thể cung cấp cho gia đình.
She was one of six children who would grow to adulthood and for the most part she got along with all of her siblings with the exception of her older sister. For as long as she could remember, there was antagonism, jealousy, and distrust between the two. Although her parents ran a fairly structured environment—there were chores and studies to be done—her mother had become so frustrated by the years of fighting between Anna and her sister, Vera, that she no longer tried to intercede. It was left for Anna and Vera to fight it out, and fight it out they did.
Cô là một trong sáu đứa con sẽ lớn lên thành người trưởng thành, và phần nhiều thời gian cô hòa thuận với tất cả anh chị em trừ cô chị. Từ thuở nhớ được, giữa hai người là đối kháng, ghen tị và ngờ vực. Dù cha mẹ cô điều hành gia đình khá nề nếp—có việc vặt và việc học phải làm—mẹ cô đã thất vọng đến mức sau bao năm can thiệp giữa Anna và chị cô, Vera, bà không còn cố gắng chen vào nữa. Mọi chuyện để mặc cho Anna và Vera “tự giải quyết”, và họ đã “giải quyết” đúng nghĩa.
Although family squabbles are common, the antagonism between the two seemed intensely focused. Interestingly enough, Anna noticed that there appeared to be two others in the household who had as great a difficulty getting along as she and her sister. Her father and her third brother, Warren (born right after Anna), constantly quarreled. It seemed that Warren was always being “switched” for things that one of the other children just might have gotten away with—her father appeared intent on keeping him “in line.” For this reason, she felt it was her duty (and her mother’s as well) to come to Warren’s rescue whenever he was having “the tar whipped out of him” by her dad.
Dẫu cãi vã trong gia đình là chuyện thường, đối kháng giữa hai người dường như tập trung dữ dội. Thú vị là Anna nhận ra trong nhà hình như còn có hai người khác cũng khó chung sống chẳng kém gì cô và chị. Cha cô và người anh thứ ba, Warren (sinh ngay sau Anna), cãi nhau liên miên. Có vẻ như Warren luôn bị đánh roi vì những chuyện mà một đứa khác có thể qua được—cha cô dường như quyết tâm giữ cậu “vào khuôn phép”. Vì lý do này, cô cảm thấy đó là bổn phận của mình (và của mẹ) phải ra tay cứu Warren mỗi khi cậu “bị quất cho tơi tả” bởi cha cô.
Her mother seemed to get along well with everyone. The woman had even been described as “an angel.” Though she and Anna had differing opinions about many things, they were very close. In spite of her mother’s kindness, gentility, and compassion, however, one thing seemed completely out of the woman’s character: the woman had an intense hatred of Catholics. Her mother had even been known to say that she would rather see one of her children dead than married to a Catholic. The opportunity to change her mind would present itself through one of her sons.
Mẹ cô dường như hòa thuận với mọi người. Người phụ nữ ấy thậm chí từng được mô tả là “một thiên thần”. Dù bà và Anna bất đồng ý kiến về nhiều điều, họ rất thân thiết. Tuy nhiên, bất chấp lòng tốt, sự dịu dàng và từ tâm của mẹ, có một điều hoàn toàn trái với tính cách của bà: bà căm ghét người Công giáo dữ dội. Mẹ cô thậm chí từng nói rằng bà thà thấy một đứa con chết còn hơn là nó cưới người Công giáo. Cơ hội để bà thay đổi quan kiến sẽ đến qua một người con trai của bà.
In this rural setting there was always something to occupy Anna’s time. Whether it was weeding, cleaning, picking, washing, planting, sewing, ironing, or schooling, free time was minimal. Anna constantly felt that she never got to do what she wanted for there just wasn’t time. Families had to work hard just to make a living from the land. Her father built houses on the side and had a few rental properties to make ends meet.
Trong bối cảnh thôn dã này, lúc nào cũng có việc cho Anna làm. Dù là nhổ cỏ, dọn dẹp, hái lượm, giặt giũ, gieo trồng, may vá, ủi đồ, hay việc học, thời giờ rảnh rất ít ỏi. Anna liên tục cảm thấy mình chẳng bao giờ được làm điều mình muốn vì đơn giản không có thời gian. Các gia đình phải làm việc cật lực chỉ để sống nhờ đất. Cha cô nhận xây nhà thêm bên ngoài và có vài căn nhà cho thuê để xoay xở.
Complicating her young life, Anna found it impossible to escape Vera’s presence; the two shared a room. On those few occasions when the lack of chores allowed young friends or cousins to call, Vera tried to sway the visitors to another room with wondrous tales of exciting games they could play—“but not with Anna.” As time passed, the elder sister became paranoid whenever male callers came to visit her. She showed an extreme fear that they might give Anna the least bit of attention. She was even jealous of the way Anna looked and acted—though Anna always believed it was her sister who was the model and not herself. Throughout the entire time they grew up together, Vera believed that Anna had gotten “all the breaks” and she none. From Anna’s perspective, she didn’t feel as though she had gotten any advantages.
Làm phức tạp thêm đời tuổi trẻ, Anna thấy mình không thể thoát khỏi sự hiện diện của Vera; hai người chung một phòng. Vào những dịp hiếm hoi khi bớt việc nhà đủ để bạn bè hay anh chị em họ đến chơi, Vera tìm cách lôi kéo khách sang phòng khác với những câu chuyện hấp dẫn về các trò thú vị họ có thể chơi—“nhưng không có Anna.” Dần dần, cô chị trở nên hoang tưởng mỗi khi khách nam đến thăm mình. Cô ta tỏ ra cực kỳ sợ rằng họ có thể để ý đến Anna dù chỉ chút ít. Cô ta còn ghen với cả vẻ ngoài và cách cư xử của Anna—dù Anna luôn tin rằng chị mình mới là người kiểu mẫu chứ không phải cô. Suốt quãng thời gian họ lớn lên cùng nhau, Vera tin rằng Anna “được hết phần thuận lợi” còn cô ta thì không. Từ phối cảnh của Anna, cô không hề thấy mình được ưu ái gì.
In spite of her sister’s presence, Anna was relatively happy as a youngster as long as she was home. She had four brothers, two older (Mitchell and Carl) and two younger (Warren and Everett) to keep her company, a father to tag along with whenever she could escape from dishes and household chores, and beautiful dreams of her grownup life as a mother that filled her mind. Her happiness faded and what bliss she had ended, however, as soon as she entered school.
Bất chấp sự hiện diện của chị, Anna tương đối hạnh phúc khi còn nhỏ miễn là ở nhà. Cô có bốn anh em trai, hai người lớn hơn (Mitchell và Carl) và hai người nhỏ hơn (Warren và Everett) để bầu bạn, một người cha để bám theo mỗi khi cô có thể trốn khỏi chén bát và việc nhà, và những giấc mơ tuyệt đẹp về đời trưởng thành làm mẹ lấp đầy tâm trí. Tuy nhiên, hạnh phúc của cô phai nhạt và những phút an lạc chấm dứt ngay khi cô vào trường.
It didn’t take her long to realize that other girls didn’t like her. They thought of her as a tomboy or a flirt, though neither description was totally accurate. Although their attitude hurt at first, she decided it was fine because she didn’t like them much either. She felt much more comfortable around boys, like her brothers, but it wasn’t proper to play with boys—even speak to them at some schools. So she became a loner.
Cô chẳng mất bao lâu để nhận ra các bạn gái khác không thích mình. Họ xem cô như một đứa giống con trai hay là một kẻ lẳng lơ, dẫu chẳng mô tả nào thật sự đúng. Dù thái độ ấy ban đầu khiến cô tổn thương, cô quyết định cũng được thôi vì cô cũng chẳng ưa họ mấy. Cô thấy thoải mái hơn quanh các cậu trai, như các anh em mình, nhưng ở một số trường thì chơi với con trai—thậm chí nói chuyện với họ—là điều không hợp phép. Thế là cô trở thành kẻ đơn độc.
Although it might have seemed unusual for a girl in the 1910s, she began in time to excel at two things she could do on her own: music and basketball. As time passed, she stayed a loner, keeping most of her thoughts to herself and wishing for the day when she would have a husband and a family. Eventually she entered the eighth grade when her life would change forever. Although still very much a loner, she became a member of the girl’s basketball team. Much of the time, however, she continued to dream wistfully of someone who quite probably didn’t exist, someone with whom she could spend the rest of her life.
Dù có thể là lạ với một cô gái vào thập niên 1910, theo thời gian cô bắt đầu xuất sắc ở hai điều có thể làm một mình: âm nhạc và bóng rổ. Thời gian trôi qua, cô vẫn sống đơn độc, giữ kín phần lớn suy nghĩ và mong mỏi đến ngày có chồng và có gia đình. Cuối cùng cô lên lớp tám, khi đời cô sẽ đổi thay mãi mãi. Dẫu vẫn sống rất khép kín, cô trở thành thành viên đội bóng rổ nữ. Tuy vậy, phần lớn thời gian cô vẫn mơ màng về một người có lẽ không hề tồn tại, một người để cô có thể sống cùng đến hết đời.
One day it happened. Seemingly out of nowhere she spotted him. His name was Robert. Although he was several years older than she (and certainly not aware of her existence), she knew he was THE ONE. Anna wasn’t quite clear how she knew it, but there was never any doubt that Robert was to be her husband.
Rồi một ngày điều đó xảy ra. Như từ hư không cô trông thấy anh. Tên anh là Robert. Dù anh lớn hơn cô vài tuổi (và chắc chắn chẳng hay biết cô tồn tại), cô biết anh chính là NGƯỜI ẤY. Anna không rõ mình biết bằng cách nào, nhưng chưa bao giờ có chút hoài nghi rằng Robert sẽ là chồng cô.
This “knowing” was one of several unusual experiences which would shape her life. In one of the first, she had been at her aunt’s house in the city. A place she had frequented dozens of times before. Through the back window she could see the marshlands, and the grasses, and the trees off in the distance. Instead of being peaceful, the image suddenly grew more foreboding and frightening as if the fear had been buried deep within her all the time. She began to feel chilled, alone, and more terrified than she had ever been before. Suddenly, she heard herself whisper, “I’ve got to get out of this place... I’ve got to get out of this place!” The fear subsided just as quickly as it had come, and all that remained was the scene through the back window. She was in her aunt’s house, safe and sound, though the happening would remain with her and be called to mind more than twenty years later in the home of Edgar Cayce as he witnessed a similar scene contained in the Akashic Records.
Cái “biết” ấy là một trong vài trải nghiệm lạ thường sẽ định hình đời cô. Trong một lần đầu tiên, cô đang ở nhà dì trên thành phố—một nơi cô đã lui tới hàng chục lần trước đó. Qua cửa sổ sau, cô thấy đầm lầy, thấy cỏ lau, và những hàng cây xa xa. Thay vì đem lại bình yên, khung cảnh bỗng trở nên đe doạ và đáng sợ như thể nỗi sợ hãi đã bị chôn sâu trong cô từ lâu. Cô bắt đầu thấy lạnh, cô độc, và sợ hãi hơn bao giờ hết. Bất chợt, cô nghe chính mình thì thầm: “Mình phải rời khỏi chỗ này... mình phải rời khỏi chỗ này!” Nỗi sợ tan nhanh như khi nó đến, và tất cả còn lại chỉ là khung cảnh qua cửa sổ sau. Cô đang ở nhà dì, an toàn và bình yên, dẫu biến cố ấy sẽ ở lại với cô và được gợi lại hơn hai mươi năm sau trong ngôi nhà của Edgar Cayce khi ông chứng kiến một cảnh tượng tương tự được chứa trong Hồ sơ Akasha.
The experience with Robert was similar. She found herself in the schoolyard where dozens of children were playing and laughing and arguing. Suddenly, she happened to look up from what she had been doing in the direction of a group of students not too far away. Instantly, in the midst of all the noise, the excitement of play, and the bouncing of balls, she spotted him, and what happened next would amaze her for the rest of her life:
Trải nghiệm với Robert cũng tương tự. Cô thấy mình trong sân trường, nơi hàng chục đứa trẻ đang chơi đùa, cười nói và cãi cọ. Đột nhiên, cô ngẩng lên khỏi việc đang làm theo hướng một nhóm học sinh không xa. Tức khắc, giữa tất cả âm thanh, sự náo nhiệt của vui chơi và những quả bóng nảy bật, cô trông thấy anh, và điều xảy ra tiếp theo khiến cô ngạc nhiên suốt đời:
All at once, the noises began to subside. All the children in the schoolyard began to vanish from her sight and she was completely alone with a boy she didn’t even know. There was no sound; there was no one else around. The two of them were all that existed. Her astonishment at the scene caused her to catch her breath, and in the next instant the schoolyard and all its children returned. From that day forth, her dream of a husband would have the face of Robert... but it would seem a very long while before he even knew that she was alive.
Thình lình, các âm thanh bắt đầu lắng xuống. Tất cả bọn trẻ trong sân trường bắt đầu biến khỏi tầm mắt và cô hoàn toàn ở một mình với một cậu con trai mà cô còn chẳng biết là ai. Không có âm thanh; không còn ai khác quanh đó. Chỉ còn hai người họ hiện hữu. Sự kinh ngạc trước cảnh tượng khiến cô nín thở, và ngay khoảnh khắc kế tiếp sân trường cùng tất cả bọn trẻ trở lại. Từ hôm ấy, giấc mơ về người chồng tương lai của cô mang gương mặt Robert... nhưng có vẻ còn rất lâu trước khi anh thậm chí biết cô tồn tại.
Finally, toward the first of the year, Anna began to feel more comfortable around some of the children at school. Unfortunately for her reputation, however, all of them were boys. Harsh and untruthful talk among some of the girls continued, and an event toward the end of the eighth grade would ruin her reputation.
Cuối cùng, vào đầu năm, Anna bắt đầu thấy thoải mái hơn quanh một số đứa trẻ ở trường. Tuy bất lợi cho danh tiếng của cô, tất cả đều là con trai. Những lời đồn ác ý và bịa đặt giữa vài cô gái vẫn tiếp diễn, và một biến cố vào cuối lớp tám sẽ huỷ hoại danh tiếng của cô.
One night, when her parents thought she was at a neighborhood party, she and some friends went for an innocent adventure in a car. Her friends, all boys, had “their girls” with them, and Anna was simply along for the ride, dreaming of Robert. The journey started well enough, but instead of soon returning as had been planned, the car broke down miles from home. All of the other girls and most of the boys managed to get rides to their respective houses. Only three of them were left alone—the three who lived near one another—Anna and two of the boys. Hours passed before the three got another car and the boys were able to take Anna home.
Một đêm, khi cha mẹ tưởng cô ở một buổi tiệc trong xóm, cô và vài người bạn đi một chuyến phiêu lưu vô hại bằng ô tô. Bạn cô, đều là con trai, ai cũng có “cô bạn” đi cùng, và Anna chỉ đơn giản là đi hóng gió, mơ về Robert. Chuyến đi bắt đầu suôn sẻ, nhưng thay vì sớm quay về như dự tính, xe bị hỏng giữa đường cách nhà nhiều dặm. Tất cả các cô gái khác và phần lớn đám con trai đều kiếm được xe để về nhà. Chỉ còn ba người ở lại—ba người sống gần nhau—Anna và hai cậu con trai. Hàng giờ trôi qua trước khi ba người mượn được chiếc xe khác và hai cậu có thể đưa Anna về nhà.
Her father had gone to the party looking for her. There he heard wild tales of Anna heading off in a car with “a bunch of boys.” The ensuing hours had given him plenty of time to contemplate his worst fears. By the time the trio pulled into the dirt driveway he was waiting for them, rifle in hand.
Cha cô đã đến buổi tiệc tìm cô. Ở đó ông nghe những câu chuyện kinh khủng về việc Anna phóng xe đi với “một bọn con trai”. Những giờ tiếp theo cho ông quá nhiều thời gian để nghĩ ngợi về điều tệ hại nhất. Khi bộ ba rẽ vào lối xe vào lát đất, ông đã chờ sẵn, tay lăm lăm khẩu súng trường.
Without waiting for an explanation, he threatened to kill the boys if they ever laid hands on Anna again. His daughter tried desperately to relate what had happened, but the man was enraged and could not hear a word she was saying. Fearing for their lives, the two boys bolted from the home, and Anna was “whooped” and sent off to bed. Unluckily for Anna, by the next morning the story had spread like wildfire throughout the small town. But it wasn’t the story of the car breaking down, or the old man with the gun, or the three and their innocent adventure. Instead it was the story of the young girl and imaginative tales of what she had done late at night with two boys.
Không đợi giải thích, ông dọa giết bọn con trai nếu chúng còn dám đụng vào Anna lần nào nữa. Con gái ông cố sức kể lại chuyện đã xảy ra, nhưng ông đang nổi giận và chẳng nghe được lời nào. Sợ cho mạng sống, hai cậu con trai phóng ra khỏi nhà, còn Anna thì “bị đòn” và bị đuổi lên giường. Rủi cho Anna, sáng hôm sau câu chuyện đã lan như cháy rừng khắp thị trấn nhỏ. Nhưng chẳng phải là câu chuyện về xe hỏng, ông già cầm súng, hay ba người với chuyến phiêu lưu vô tội. Thay vào đó là câu chuyện về cô gái trẻ và những mẩu chuyện thêu dệt về những gì cô đã làm khuya hôm ấy với hai cậu con trai.
Within a week Anna couldn’t venture anywhere without having someone point at her and whisper behind their hand about the incident. Her reputation had long been in question, but there no longer remained any doubt. She was branded a loose woman. The episode made her withdraw even more into a place where her only fantasy was Robert. Her schoolwork began to slide drastically, her depression grew much more severe, and she began to seem very different to her parents than before the incident.
Trong vòng một tuần, Anna không thể ra khỏi nhà mà không bị ai đó chỉ trỏ và thì thầm sau tay về vụ việc. Danh tiếng của cô bấy lâu vốn đã bị ngờ vực, giờ thì không còn gì phải bàn. Cô bị đóng nhãn là người đàn bà buông thả. Biến cố khiến cô thu mình sâu hơn nữa vào nơi mà duy nhất còn lại là ảo mộng về Robert. Việc học sa sút trầm trọng, cơn trầm uất trở nên nặng nề hơn nhiều, và trong mắt cha mẹ, cô bắt đầu có vẻ rất khác so với trước biến cố.
Her mother and father became alarmed. They were aware of the name their daughter was acquiring in the community. They were also worried about Anna’s infatuation with Robert because they were aware that the young man had acquired quite a reputation as a “ladykiller.” From their point of view, he was from the worst part of town, the child of a totally unsuitable family, and not at all the one for their daughter. They worried that Anna’s blossoming figure, her spoiled reputation, and her own infatuation could lead to only one thing when Robert finally noticed her. Seeing no other option, they sent her away to school for a year—to Kentucky with her eldest brother, Mitchell, who had gotten a job as a teacher.
Cha mẹ cô hoảng hốt. Họ biết cái tiếng mà con gái đang mang trong cộng đồng. Họ cũng lo về việc Anna mê đắm Robert, vì họ biết chàng trai trẻ đã mang một danh tiếng “tay sát gái”. Theo quan điểm của họ, anh ta đến từ khu tệ hại nhất của thị trấn, là con của một gia đình hoàn toàn không thích hợp, và tuyệt nhiên không phải người dành cho con gái họ. Họ lo sợ rằng thân hình đang nảy nở của Anna, tiếng xấu hư hỏng và chính sự mê muội của cô chỉ có thể dẫn đến một điều khi Robert cuối cùng để ý đến cô. Thấy không còn chọn lựa nào khác, họ gửi cô đi học xa một năm—đến Kentucky với người anh cả, Mitchell, người vừa nhận việc làm giáo viên.
Depressed to the depths of her soul, Anna dutifully followed her parents’ wishes. But as time passed she realized that she was no better off in Kentucky. Before too long she found herself just as hated by the girls and not trusted to be around the boys. To make matters worse, one of Anna’s teachers made it her personal responsibility to discipline this wayward child, causing the girl great misery. Before too long, Anna was experiencing all of the horrors she had back home, but she was even worse off because Robert had remained behind. As her state of mind deteriorated, her teacher saw it as a rebellious spirit and rode Anna mercilessly. The discipline seemed to have no effect on the girl, so by midwinter the teacher managed to have Anna expelled.
Sầu não đến tận cùng linh hồn, Anna vâng theo ý cha mẹ. Nhưng theo thời gian, cô nhận ra rằng ở Kentucky cũng chẳng khá hơn. Chẳng mấy chốc cô thấy mình bị bọn con gái ghét bỏ y như trước và bị coi là không đáng tin để ở gần bọn con trai. Tệ hơn nữa, một cô giáo xem như trách nhiệm cá nhân của mình là kỷ luật đứa trẻ lạc lối này, khiến cô gái khổ sở vô cùng. Chẳng bao lâu, Anna trải qua mọi nỗi kinh hoàng như ở nhà, nhưng tình cảnh còn tệ hơn vì Robert ở lại phía sau. Khi trạng thái tinh thần sa sút, cô giáo lại xem đó là tinh thần chống đối và hà khắc với Anna không thương xót. Kỷ luật chẳng có tác dụng gì với cô gái, nên đến giữa mùa đông cô giáo đã thu xếp để Anna bị đuổi học.
It would have been disastrous to return home expelled because it would only confirm her reputation of corruptness in the community. Her parents were heartbroken and couldn’t understand how they had managed to raise such a child. Seeing no other choice, they advised her to remain in Kentucky—being passed among relatives until the school term had ended. No one would ever have to know of her shame at school. It would be safe to come home when the school term was finally over.
Trở về nhà trong tình cảnh bị đuổi học sẽ là thảm hoạ vì chỉ càng xác nhận tiếng xấu trụy lạc của cô trong cộng đồng. Cha mẹ cô đau lòng và không hiểu làm sao họ lại nuôi nấng nên một đứa con như vậy. Không còn chọn lựa nào khác, họ khuyên cô ở lại Kentucky—đi ở lẫn giữa họ hàng cho đến khi niên học kết thúc. Sẽ không ai phải biết nỗi nhục ở trường. Sẽ an toàn để về nhà khi niên học cuối cùng cũng qua.
The rest of the year went slowly, but eventually she found herself back at her parents’. Even after returning home, however, life never returned to normal. She just had to get away. Without her parents’ knowledge, at the age of seventeen she eloped with Robert. It would become just one more heartbreak in their experience.
Phần còn lại của năm trôi chậm chạp, nhưng cuối cùng cô cũng trở về nhà cha mẹ. Tuy nhiên, ngay cả sau khi trở về, đời sống cũng chẳng trở lại bình thường. Cô chỉ muốn thoát đi. Không cho cha mẹ hay, mười bảy tuổi cô đã bỏ trốn kết hôn với Robert. Đây sẽ trở thành một nỗi đoạn trường nữa trong kiếp nhân sinh của họ.
From the very start, Anna felt out of place with Robert’s family. Her parents had been right; the families really were from two different worlds. Her only solution was to try to make the best of a difficult situation. More than anything else she wanted children, and she was bound and determined to make the marriage work.
Ngay từ đầu, Anna cảm thấy lạc lõng với gia đình Robert. Cha mẹ cô đã đúng; hai gia đình thực sự thuộc về hai thế giới khác nhau. Giải pháp duy nhất của cô là cố gắng làm tốt nhất trong hoàn cảnh khó khăn. Hơn bất cứ điều gì, cô muốn có con, và quyết tâm làm cho cuộc hôn nhân vận hành.
Robert, however, seemed different after they married. He saw himself very much as the center of the universe. To make matters worse, many of Robert’s friends seemed to think as highly of him as he did. It was as if he had an entourage of supporters who fell in line to wait on his every command. He appeared to get much for little, behaving as though the world owed him a living and all he had to do was wait for it. Much of the time Anna felt like an outsider in this widening circle of her husband’s friends. However, each time she reached the depths of her depression, he threw just enough attention her way to keep her secure.
Tuy nhiên, Robert có vẻ khác hẳn sau khi cưới. Anh ta xem mình như là trung tâm của vũ trụ. Tệ hơn nữa, nhiều bạn của Robert dường như cũng đánh giá anh ta cao như chính anh ta. Cứ như thể anh có một đoàn tuỳ tùng ủng hộ sẵn sàng xếp hàng chờ lệnh. Anh ta dường như được nhiều mà chẳng làm bao, cư xử như thể thế gian mắc nợ anh một cuộc sống và việc của anh chỉ là chờ nó đến. Nhiều khi Anna thấy mình như kẻ ngoài cuộc trong vòng tròn bè bạn của chồng ngày một rộng ra. Tuy vậy, mỗi khi cô chìm xuống tận đáy trầm uất, anh lại ném đủ chút chú ý về phía cô để giữ cô không rời xa.
As time went on, her unhappiness about Robert and his family worsened. She experienced much sorrow and ill-health over a tubal pregnancy. Then the bottom fell out of her world when she realized Robert was seeing other women! It wasn’t long before he didn’t even try to keep it a secret. She was shamed.
Theo thời gian, nỗi bất hạnh của cô về Robert và gia đình anh càng trầm trọng. Cô trải qua nhiều sầu đau và suy sụp sức khoẻ vì một lần mang thai ngoài tử cung. Rồi thế giới của cô sụp đổ khi cô nhận ra Robert đang qua lại với phụ nữ khác! Chẳng bao lâu anh ta thậm chí không buồn che giấu. Cô bị làm nhục.
Anna was totally and undeniably lost. More than anything she felt completely connected to Robert, and yet he could not or would not change. All her life she had only wanted to be a wife and a mother. When her marriage collapsed in divorce, she collapsed as well.
Anna hoàn toàn và không thể chối cãi là đã lạc lối. Hơn hết thảy, cô cảm thấy mình gắn chặt với Robert, vậy mà anh không thể hay không muốn thay đổi. Cả đời cô chỉ muốn làm vợ và làm mẹ. Khi cuộc hôn nhân sụp đổ trong ly hôn, cô cũng sụp đổ theo.
After a brief stay at her parents’, she knew she had to leave the area. The pull Robert had on her was unbelievable. Regardless of what he had done, she couldn’t get him out of her mind. Her mental health sank so low that she moved to New York to live with Vera! They worked out a deal: Anna would pay all the bills and the rent, and Vera would finish school. In return, Anna would have a place to stay and Vera would repay half of the monty to Anna as soon as it was feasible. To lessen their expenses, the two sisters took a third girl as a roommate.
Sau một thời gian ngắn ở nhà cha mẹ, cô biết mình phải rời khỏi vùng. Sức hút của Robert đối với cô thật không thể tin nổi. Bất chấp những gì anh đã làm, cô không thể dứt anh khỏi tâm trí. Tinh thần suy sụp đến mức cô chuyển đến New York sống với Vera! Họ thoả thuận: Anna sẽ trả hết các hoá đơn và tiền thuê nhà, và Vera sẽ học xong. Đổi lại, Anna sẽ có nơi ở và Vera sẽ trả lại một nửa số tiền cho Anna ngay khi có thể. Để giảm chi phí, hai chị em nhận thêm một cô gái thứ ba làm bạn cùng phòng.
Although Anna tried briefly to get a job as a singer— she had a beautiful voice—she ended up as a waitress. Nightly she would bring home her tips and keep them in a box. After a while, however, she noticed that the money seemed to be disappearing with regularity. To convince herself about what was happening, she began keeping careful track. Before too long she discovered that she was right and even caught the thief in the act. It should have come as quite a surprise to Anna to find that it wasn’t the third roommate taking her money, but her own sister!
Dẫu Anna có thử đi xin việc ca sĩ một thời gian ngắn—cô có một giọng hát tuyệt đẹp—rốt cuộc cô làm bồi bàn. Hằng đêm cô mang tiền boa về và để trong một chiếc hộp. Thế nhưng sau một thời gian, cô nhận thấy tiền dường như biến mất đều đặn. Để tự xác nhận điều đang xảy ra, cô bắt đầu ghi chép cẩn thận. Chẳng bao lâu cô thấy mình đoán đúng và thậm chí bắt quả tang kẻ trộm ngay tại trận. Điều đáng ra phải khiến Anna vô cùng ngạc nhiên là: kẻ ấy không phải cô bạn cùng phòng thứ ba, mà là chính chị ruột của cô!
The incident was brushed aside. Later, when the two of them were rooming alone and Vera had gotten a job in a different restaurant, they agreed to split all of their earnings fifty-fifty. For a long while, Vera brought home no more than $5.00 per day. The elder girl claimed that $5.00 was the best she could do even on “a good day.” However, eventually Anna had to substitute for a period of time because Vera became ill. The younger woman was shocked to find that even on some of the slowest days she averaged $18.00. It turned out that the elder sister had been pocketing the extra money all along. Vera felt that anything she could take from Anna was her due; it never seemed to bother her conscience.
Sự việc ấy bị gạt qua một bên. Sau đó, khi chỉ còn hai người ở chung phòng và Vera đã kiếm được việc ở một nhà hàng khác, họ đồng ý chia đôi mọi khoản thu nhập. Suốt một thời gian dài, Vera mang về nhà không quá 5,00 đô la mỗi ngày. Cô chị khăng khăng rằng 5,00 đô la là mức tốt nhất cô có thể làm được vào “một ngày khá khẩm”. Tuy nhiên, rốt cuộc Anna phải thay ca trong một thời gian vì Vera lâm bệnh. Cô em sửng sốt khi phát hiện ngay cả những ngày ế ẩm nhất cô vẫn kiếm trung bình 18,00 đô la. Hóa ra bấy lâu nay cô chị đã bỏ túi số tiền dư. Với Vera, bất cứ thứ gì có thể lấy từ Anna thì đều là phần của mình; việc ấy dường như chẳng hề khiến lương tâm cô cắn rứt.
Finally, Anna met a man she decided to marry. She wasn’t infatuated with him and she didn’t love him—that place still belonged to Robert. However, she wanted a family and felt that she was running out of time; besides, he really seemed to want her.
Cuối cùng, Anna gặp một người đàn ông mà cô quyết định kết hôn. Cô không si mê anh và cũng không yêu anh—chỗ ấy vẫn thuộc về Robert. Tuy vậy, cô muốn có một gia đình và cảm thấy mình sắp cạn thời gian; vả lại, anh thật sự dường như rất muốn cô.
Vera couldn’t stand to be in the same room with Anna and her fiancé, Alan. Though Vera seemed to like Alan, and she and Anna were getting along as well as could be expected, she refused to be part of a threesome. The situation didn’t improve much after Alan and Anna were married; all that changed was that Vera supported Alan in everything he did and continued to find fault with everything about Anna.
Vera chẳng thể chịu nổi khi ở cùng phòng với Anna và vị hôn phu của cô, Alan. Dù Vera có vẻ thích Alan, và cô cùng Anna cũng tạm gọi là hoà thuận, cô vẫn từ chối ở trong cảnh ba người. Tình hình cũng chẳng khá hơn bao nhiêu sau khi Alan và Anna kết hôn; điều duy nhất thay đổi là Vera ủng hộ Alan trong mọi việc anh làm và vẫn tiếp tục bắt bẻ mọi điều về Anna.
Alan couldn’t find work in New York, so Anna returned home with him, where her father tried to set Alan up with a job. Anna’s desire to be with Robert had not subsided, so she was thankful that his life had taken him in a direction where their paths did not cross. For a time Anna thought everything would turn out for the best, but it soon appeared that she was wrong.
Alan không tìm được việc ở New York, thế nên Anna trở về quê cùng anh, nơi cha cô cố gắng sắp xếp cho Alan một công việc. Khao khát được ở bên Robert của Anna vẫn chưa nguôi, nên cô mừng vì cuộc đời đã đưa anh đi theo một hướng mà con đường của họ không cắt nhau. Có một thời gian Anna nghĩ mọi việc rồi sẽ ổn thoả, nhưng chẳng bao lâu cô thấy mình đã lầm.
Her marriage became unbearable. She didn’t love her husband and at times resented the fact that they were together. When she was unhappiest, she fantasized that Robert would return and take her away. As miserable as she had been with Robert, she couldn’t get him out of her mind. She only stayed with Alan for the sake of having children; she was nearly thirty years old and running out of time.
Cuộc hôn nhân trở nên không thể chịu đựng. Cô không yêu chồng và đôi lúc bực bội vì họ ở bên nhau. Những khi tuyệt vọng nhất, cô mơ tưởng Robert sẽ quay lại và đưa cô đi. Dù đã khổ sở đến thế với Robert, cô vẫn không sao gạt anh ra khỏi tâm trí. Cô chỉ ở lại với Alan vì chuyện con cái; cô gần ba mươi tuổi và thời gian không còn nhiều.
One of her darkest moments came when her physical condition indicated another tubal pregnancy. She felt defeated and lost. She was unhappy with Alan and hopelessly connected to Robert. She had been referred to Edgar Cayce by several friends. Prior to visiting Mr. Cayce she had thrown herself to the floor sobbing, wishing to die. It was nearly the end of January 1938, and though she thought her life over, it was about to change dramatically.
Một trong những thời khắc tăm tối nhất đến khi tình trạng cơ thể của cô báo hiệu thêm một ca thai ở vòi trứng. Cô thấy mình thua cuộc và lạc lối. Cô bất hạnh với Alan và tuyệt vọng gắn chặt với Robert. Vài người bạn đã giới thiệu cô đến Edgar Cayce. Trước khi gặp Ông Cayce, cô đã quăng mình xuống sàn mà nức nở, chỉ muốn chết. Lúc ấy gần cuối tháng Giêng năm 1938, và dẫu cô tưởng đời mình chấm hết, nó sắp sửa thay đổi sâu sắc.
In order to verify for herself the authenticity of Mr. Cayce’s clairvoyance, she did not tell him of her problem nor did she mention her previous operation. She merely stated that she needed a physical reading. Although desperate for help, she was quite suspect of this psychic business and had pursued the possibility only at the insistence of one of her friends.
Để tự kiểm chứng tính xác thực của năng lực thông nhãn nơi Ông Cayce, cô không nói với ông về vấn đề của mình cũng như chẳng nhắc gì đến ca phẫu thuật trước đó. Cô chỉ nói rằng mình cần một bài đọc thể chất. Dù tuyệt vọng cần giúp đỡ, cô rất hoài nghi chuyện thông linh này và chỉ tìm đến như một khả thể vì một người bạn cứ khăng khăng nài nỉ.
Her doubts were laid to rest, however, when Mr. Cayce, in the midst of the reading while “asleep” on the couch, uttered one sentence: “... disturbances with the activities of the pelvic organs, and as in the present there is the false conception that has produced in the tube that is left—there’s one... ” Because of the tone of the overall reading and its undeniable accuracy, she followed Cayce’s suggestions to the letter, which included a change of diet, internal medications, and massage; within two weeks there was vast improvement and within two months she felt physically normal. No operation was necessary.
Tuy nhiên, mọi hoài nghi đều tan biến khi Ông Cayce, giữa bài đọc trong lúc “ngủ” trên chiếc ghế dài, buông một câu: “... những rối loạn trong hoạt động của các cơ quan vùng chậu, và như hiện tại, có sự thụ thai giả đã xảy ra trong ống còn lại—chỉ còn một ống...” Vì giọng điệu chung của bài đọc và độ chính xác không thể phủ nhận, cô làm đúng từng chữ các gợi ý của Cayce, bao gồm thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc nội khoa và xoa bóp; trong vòng hai tuần tình trạng cải thiện rất nhiều và trong vòng hai tháng cô cảm thấy thể chất bình thường trở lại. Không cần phẫu thuật.
In April of that year she had her first life reading, and its information transformed the way she thought about herself, her hardships, and her family. Cayce began the reading by stating, “ Yes, we have the records here of that reading by stating, “ Yes, we have the records here of that 4) Although Anna had never even considered something as foreign to her as reincarnation, the insights she gained from the reading changed her life forever and became as real to her as the present. Anna would later tell Mr. Cayce that having come in contact with him and his family meant “more to me than anything that has ever come into my existence... ” for the past seemed connected to the present in the most remarkable way. The story which emerged from the Akashic Records contained striking connections to her present-day problems.
Tháng Tư năm ấy cô có bài đọc đời sống đầu tiên, và những gì trong đó đã chuyển hoá cách cô nghĩ về chính mình, về những khó khăn và gia đình. Cayce mở đầu bài đọc bằng câu: “Vâng, chúng tôi có các hồ sơ ở đây của bài đọc bằng cách nói, “Vâng, chúng tôi có các hồ sơ ở đây của bài đọc 4) Dù Anna chưa từng nghĩ đến điều gì xa lạ với cô như luân hồi, các thấu suốt cô nhận được từ bài đọc đã thay đổi đời cô vĩnh viễn và trở nên thật như hiện tại. Sau này Anna sẽ nói với Ông Cayce rằng việc gặp ông và gia đình ông có ý nghĩa “với tôi nhiều hơn bất cứ điều gì từng đi vào đời tôi...” vì quá khứ dường như kết nối với hiện tại theo cách kỳ diệu nhất. Câu chuyện hiện ra từ Hồ Sơ Akasha chứa những mối liên hệ nổi bật với các vấn đề đương thời của cô.
A hundred years previously, she had been born as a daughter into the household of a frontier family. Her parents were settlers who tried hard to eke a living from the land. Apparently, at the time, Anna was interested most in herself, not caring for the lifestyle advocated by her nineteenth-century parents. Her reading summed up Anna’s motivation during that period as “What she desired she took; what she wanted she got!”
Một trăm năm trước, cô đã được sinh ra làm con gái trong một gia đình nơi vùng biên viễn. Cha mẹ cô là dân khai hoang cố gắng lắm mới chắt chiu được miếng sống từ đất đai. Rõ ràng khi ấy, Anna chủ yếu quan tâm đến bản thân, chẳng màng đến lối sống mà cha mẹ thế kỷ mười chín của cô chủ trương. Bài đọc tóm lược động cơ của Anna thời ấy là: “Điều gì cô muốn cô lấy; điều gì cô muốn cô có!”
In an interesting preview of her present, when she was seventeen, an unsuitable drifter convinced her to run away from home as his “companion.” She agreed without hesitation, and the two journeyed westward to an area then known as Fort Dearborn, near present-day Chicago.
Một điềm báo thú vị về hiện tại của cô: năm mười bảy tuổi, một kẻ giang hồ không xứng đáng đã thuyết phục cô bỏ nhà theo hắn làm “bạn đường”. Cô đồng ý không do dự, và cả hai đi về phía tây đến một vùng khi ấy gọi là Đồn Dearborn, gần Chicago ngày nay.
Before long, she was befriended by a saloon madam who owned one of the taverns. The woman was a great source of help and inspiration to many of the girls who worked for her. In fact, the elder woman helped many of them get back on the right track when their life seemed darkest. The madam saw their work as a way of giving companionship to lonely men and a means of giving women time to reconsider their lives. On the other hand, Anna saw it as a way of obtaining whatever she wanted. In spite of their different approaches, the madam would become her dearest friend and closest advisor—and her own mother one hundred years in the future. By choice, Anna became an entertainer in the tavern and didn’t hesitate to provide private amusement to the saloon’s clients. In time, she had a child fathered by her driftercompanion, though she insisted on retaining her position as entertainer, waitress, and bar moll.
Không lâu sau, cô được một bà chủ nhà chứa/quán rượu kết thân—bà sở hữu một trong những quán rượu. Người đàn bà ấy là nguồn trợ giúp và cảm hứng lớn cho nhiều cô gái làm việc cho bà. Thực vậy, bà giúp nhiều người trong số họ trở lại đúng đường khi đời họ u tối nhất. Bà chủ xem công việc của họ là cách đem lại bầu bạn cho những người đàn ông cô độc và là phương tiện cho phụ nữ có thời gian suy xét lại đời mình. Còn Anna xem đó là cách để đạt bất cứ thứ gì cô muốn. Dù khác biệt trong cách tiếp cận, bà chủ sẽ trở thành bạn thân thiết nhất và cố vấn gần gũi nhất của cô—và là chính mẹ cô một trăm năm sau. Do lựa chọn, Anna trở thành người mua vui trong quán rượu và không ngần ngại cung cấp thú vui riêng cho các khách của quán. Lâu dần, cô có một đứa con với người bạn giang hồ, dù cô vẫn khăng khăng giữ vai trò người mua vui, bồi bàn và gái quán rượu.
Except for one of the fort’s guides, few problems seemed to impinge upon her life. The guide, a self-styled minister, was abhorred by the “abominations” that occurred within the tavern. In contrast, he found his life to be rather exemplary. Because of his judgments about the inappropriateness of what was occurring, he found frequent occasion to condemn the tavern’s activities, its entertainers, and even its patrons. This led to frequent confrontations (and fistfights!) between Anna’s driftercompanion and the guide. A number of times the guide had the tar whipped out of him, and the conflict between the two was never really settled: it was no surprise to Anna to find that her drifter-companion would return as her brother, Warren, and the fort’s guide was none other than her pa.
Ngoại trừ một người dẫn đường của đồn, dường như ít có vấn đề nào tác động vào đời cô. Người dẫn đường ấy, một “mục sư” tự phong, kinh tởm những “điều ghê tởm” xảy ra trong quán rượu. Trái lại, ông thấy đời mình khá gương mẫu. Vì những phán xét về tính không thích đáng của những gì đang diễn ra, ông thường xuyên lên án hoạt động của quán, các cô mua vui, thậm chí cả thực khách. Điều đó dẫn đến những cuộc chạm trán thường xuyên (và cả ẩu đả!) giữa người bạn giang hồ của Anna và người dẫn đường. Nhiều lần người dẫn đường bị đánh nhừ tử, và mối xung đột giữa hai người chẳng bao giờ thật sự ngã ngũ: Anna chẳng ngạc nhiên khi biết người bạn giang hồ ấy sẽ trở lại làm anh trai cô, Warren, còn người dẫn đường của đồn không ai khác hơn là cha cô.
Eventually, Anna’s nineteenth-century counterpart grew tired of her relationship with the drifter and took up with a frontiersman named John Bainbridge. Life remained pretty much the same until Indian attacks on the fort caused Bainbridge and Anna and a group of others to escape. During one attack and the ensuing escape, Anna was forced to abandon her child. Although having no choice in the matter, Anna apparently never gave the child a second thought—it would provide for an interesting turnabout in the next century when all she could think about was children and wonder why she was barren.
Rốt cuộc, bản ngã thế kỷ mười chín của Anna chán mối quan hệ với kẻ giang hồ và cặp kè với một người biên viễn tên John Bainbridge. Đời vẫn hầu như thế cho đến khi các cuộc tấn công của người da đỏ vào đồn buộc Bainbridge, Anna và một nhóm người khác phải trốn chạy. Trong một cuộc tấn công và cuộc thoát thân sau đó, Anna bị buộc phải bỏ lại đứa con. Dù không còn lựa chọn nào khác, Anna dường như chẳng bận tâm thêm về đứa bé—điều ấy sẽ tạo nên một nghịch chuyển thú vị ở thế kỷ sau, khi cô không nghĩ gì ngoài con cái và tự hỏi vì sao mình hiếm muộn.
Indians pursued the group, at one point surrounding them as they drifted through the slow-moving waters of a river. Becoming very afraid, Anna had a reoccurring thought throughout the episode: “I’ve got to get out of this place. I’ve got to get out of this place!” That same thought would be repeated in her aunt’s house when a scene would call the memory to mind after the fort, the Indians, and the danger had long ceased to exist.
Người da đỏ truy đuổi nhóm, có lúc vây quanh họ khi họ trôi theo dòng nước chậm của một con sông. Khi trở nên rất sợ hãi, Anna có một ý nghĩ cứ lặp đi lặp lại suốt biến cố: “Mình phải ra khỏi chỗ này. Mình phải ra khỏi chỗ này!” Ý nghĩ ấy sẽ lặp lại trong nhà dì cô, khi một cảnh tượng gợi nhớ ký ức sau khi cái đồn, người da đỏ và hiểm nguy đã lâu qua đi.
Finally, Anna managed to escape from the Indians; Bainbridge would lose his life saving hers. Eventually, she would end up in Virginia, the place of her “current nativity.” With her arrival in Virginia, she became a new person. Perhaps it was the events of her early life or perhaps it was her desire to start over, but whatever the cause, Anna became known as an “angel” to those in need. She comforted the sick, counseled the wayward, and assisted the poor. Her life touched many and she was held in great esteem for her kindness—no one would know of her bar-moll adventures.
Sau cùng, Anna thoát được người da đỏ; Bainbridge mất mạng khi cứu cô. Cuối cùng, cô đến Virginia, nơi “sinh ra hiện thời” của mình. Với sự đến Virginia, cô trở thành một người mới. Có lẽ vì những biến cố đầu đời hoặc có lẽ vì khao khát bắt đầu lại, nhưng dù nguyên do là gì, Anna trở nên được người khốn khó xem như một “thiên thần”. Cô an ủi kẻ ốm đau, khuyên nhủ người lạc lối và giúp đỡ kẻ nghèo túng. Đời cô chạm đến nhiều người và cô được kính trọng vì lòng tốt—không ai biết những cuộc phiêu lưu gái quán rượu của cô.
At one point, she nursed back to health a settler who seemed emotionally neglected by his wife. The end result was that he fell in love with her and abandoned his own wife. Anna took to him not so much because she loved him, but because he loved her and no longer would she look out only for herself. Interestingly, though the man’s wife wasn’t interested in him, she didn’t want anyone else to be interested either. She became extremely bitter, mostly toward Anna for stealing something that was “hers.” One hundred years later the bitter wife would become Anna’s sister, Vera, and the man she didn’t really love would return as her second husband, Alan.
Có lúc, cô chăm sóc hồi phục cho một người khai hoang dường như bị vợ mình bỏ mặc về mặt tình cảm. Kết cục là anh ta đem lòng yêu cô và bỏ vợ. Anna mến anh không hẳn vì cô yêu, mà vì anh yêu cô và từ đó cô sẽ không còn chỉ lo cho riêng mình. Thú vị thay, dù người vợ kia chẳng hứng thú với chồng, bà ta cũng không muốn ai khác hứng thú. Bà trở nên cực kỳ cay nghiệt, nhất là với Anna vì đã cướp thứ “thuộc về bà”. Một trăm năm sau, người vợ cay nghiệt ấy sẽ trở thành chị gái của Anna, Vera, còn người đàn ông bà không thật sự yêu sẽ trở lại làm người chồng thứ hai của cô, Alan.
Though her nineteenth-century life was not long in duration—she died at forty-eight—it entailed a great many adventures, experiences, and lessons, all of which would have a direct bearing on her next life when she would be born into a frontier family in a very small town in the twentieth century.
Dù đời thế kỷ mười chín của cô không dài—cô mất lúc bốn mươi tám tuổi—nó bao hàm rất nhiều phiêu lưu, trải nghiệm và bài học, tất cả đều sẽ tác động trực tiếp lên đời kế tiếp khi cô được sinh vào một gia đình biên viễn ở một thị trấn rất nhỏ trong thế kỷ hai mươi.
The Dearborn experience was not the only lifetime given to Anna by Cayce; however, it was reported as the greatest influence on her current sojourn. She was told of two additional lifetimes recorded upon the records that were having a tremendous influence on her present: one in France and one in Laodicea (part of the Roman Empire). All told, Anna was given six lifetimes that were greatly affecting her present experience: Fort Dearborn, France, Laodicea, Israel, Egypt, and Atlantis. It was France that had set up the situation with her first husband, Robert.
Trải nghiệm Dearborn không phải là tiền kiếp duy nhất được đưa ra cho Anna bởi Cayce; tuy nhiên, nó được ghi nhận là có ảnh hưởng lớn nhất lên cuộc lữ hành hiện thời của cô. Cô được cho biết về hai tiền kiếp nữa ghi trên hồ sơ đang gây ảnh hưởng to lớn lên hiện tại của cô: một ở Pháp và một ở Laodicea (thuộc Đế quốc La Mã). Tổng cộng, Anna được cho biết có sáu tiền kiếp đang ảnh hưởng mạnh đến kinh nghiệm hiện tại: Đồn Dearborn, Pháp, Laodicea, Israel, Ai Cập và Atlantis. Chính Pháp đã sắp đặt tình huống với người chồng đầu, Robert.
In France they had been lovers, where it was a wellkept secret. Robert had been one of the nobility and Catholic and unable to obtain a divorce. Out of necessity and on infrequent occasions, she had become his mistress. She would spend a lifetime desiring to be with him.
Ở Pháp họ từng là tình nhân, và đó là một bí mật được giữ kín. Robert là người thuộc giới quý tộc, theo Công giáo và không thể ly dị. Vì nhu cầu và chỉ vào những dịp thưa thớt, cô trở thành tình nhân của anh. Cô sẽ dành cả một kiếp ao ước được ở bên anh.
Unfortunately, although being with him was her sole desire, it was not his. Being of the nobility, he had grown to love the pomp and the elegance and the respect that his position provided. He loved walking into a room and watching heads turn to meet his gaze; he loved having an entourage follow after him, waiting on his every word; he loved possessing women who would throw themselves at him, wishing to be a part of his world. All these things would follow him for two hundred years—affording him situations that would seem rather unusual when measured against his twentieth-century status and lack of education.
Trớ trêu thay, dù ở bên anh là khao khát duy nhất của cô, thì đó lại không phải là khao khát của anh. Là người thuộc giới quý tộc, anh đã đem lòng yêu vẻ phô trương, nét thanh lịch và sự kính trọng mà địa vị đem lại. Anh thích bước vào một căn phòng và nhìn các cái đầu quay lại đón ánh mắt anh; anh thích có một đoàn tuỳ tùng theo sau, chờ đợi từng lời của anh; anh thích chiếm hữu những phụ nữ sẵn sàng quăng mình vào anh, mong được là một phần trong thế giới của anh. Tất cả những điều ấy sẽ theo anh suốt hai trăm năm—đưa đến những tình cảnh có vẻ khá khác thường khi đem so với địa vị và sự thiếu học của anh trong thế kỷ hai mươi.
The reading made it clear that much of Anna’s infatuation with Robert was because she had desired and continued to desire a perfect relationship with him. It also hinted at the fact that this was only a desire and not a real likelihood; yet it was a desire not to be easily overcome.
Bài đọc cho thấy rõ phần lớn sự si mê của Anna với Robert là vì cô đã và còn tiếp tục khao khát một mối quan hệ hoàn hảo với anh. Nó cũng ngụ ý rằng đây chỉ là một khao khát chứ không phải điều có nhiều khả năng thành hiện thực; thế nhưng đó là một khao khát không dễ vượt qua.
Her reading stated that she would experience “greater harmony” in her life lasting “until ’40 and ’41, when AGAIN there will be a period of disturbance.” The reading urged her to continue working on her relationship with her current husband, Alan, even stating that it would be possible to conceive a child if they could only work things out. Regardless of the possibility of children, however, there were definite reasons the two of them were together. The reading provided Anna with insights she could work with, though she rarely discussed any of the information with anyone, including members of her own family.
Bài đọc nói rằng cô sẽ trải nghiệm “sự hoà hợp lớn hơn” trong đời kéo dài “cho đến ’40 và ’41, khi LẠI sẽ có một giai đoạn xáo trộn.” Bài đọc thúc giục cô tiếp tục nỗ lực với mối quan hệ hiện tại cùng chồng mình, Alan, thậm chí còn nói rằng có thể thụ thai nếu họ có thể giải quyết được với nhau. Dù có con hay không, vẫn có những lý do rõ ràng vì sao hai người ở cùng nhau. Bài đọc đem lại cho Anna những thấu suốt cô có thể vận dụng, dẫu cô hiếm khi bàn luận bất cứ thông tin nào với ai, kể cả các thành viên trong gia đình mình.
During the 1930s and 1940s, the topic of past lives and reincarnation was not one which often occurred across the breakfast table. On a number of occasions, her family members would go to Mr. Cayce for a physical reading, and they got help. In fact, Vera would eventually be cured of tuberculosis (but she refused to get a life reading), and Mitchell’s firstborn would be saved from a lifethreatening illness. Even then only a few seemed open to the specifics of reincarnation, and some weren’t interested at all in hearing about what went on at Mr. Cayce’s home. For Anna, the information was all factual and enabled her to piece together the lives of those closest to her. As brief examples, she learned the following about her parents:
Trong những năm 1930 và 1940, chủ đề tiền kiếp và luân hồi không phải điều thường được nhắc đến trên bàn ăn sáng. Nhiều lần, các thành viên gia đình cô đến gặp Ông Cayce để xin bài đọc thể chất, và họ đã nhận được sự giúp đỡ. Thực vậy, Vera cuối cùng được chữa khỏi bệnh lao (nhưng cô từ chối xin bài đọc đời sống), và đứa con đầu lòng của Mitchell được cứu khỏi một căn bệnh đe doạ tính mạng. Ngay cả khi ấy, chỉ một vài người có vẻ cởi mở với các chi tiết của luân hồi, và một số thì chẳng hứng thú gì với việc nghe chuyện xảy ra ở nhà Ông Cayce. Với Anna, thông tin đều là sự kiện và cho phép cô ghép nối cuộc đời của những người thân cận nhất. Ví dụ ngắn gọn, cô biết những điều sau về cha mẹ mình:
In addition to being the fort’s guide in Dearborn, her father had been a tax collector in Rome and an inspector of military garrisons. This existence had caused him to become rather severe in his dealings with others, and the severity would remain with him nearly 1,900 years later as the father of six children. An interesting out-of-character quality that Anna had always noticed in her father was his ability to pick out clothing and fine cloth; it amazed her that he could buy a dress or a coat for her, or her sister, or her mother that was perfect. According to the Akashic Records, he had been a merchant of fine material in Persia. In Egypt, he was known for his fine workmanship in the construction of homes—as he would be centuries later in Virginia. Connected with members of his family throughout time, he had known his wife in Dearborn, Palestine, and Egypt, and Anna in Dearborn, Egypt, and Persia. Recognizing that he was often judgmental and severe, the records also stated that he was a great leader and motivator of people, as well as talented in workmanship. The advice given him by the reading was that he should begin practicing the devout and spiritual life he had so frequently preached.
Ngoài việc là người dẫn đường của đồn ở Dearborn, cha cô từng là một người thu thuế ở Rome và một viên thanh tra các đồn binh. Kiếp sống này khiến ông trở nên khá nghiêm khắc trong cách đối xử với người khác, và sự nghiêm khắc ấy vẫn còn nơi ông gần 1.900 năm sau, khi ông làm cha của sáu đứa con. Một phẩm chất khác thường mà Anna luôn nhận thấy nơi cha mình là khả năng chọn quần áo và vải vóc tinh xảo; cô kinh ngạc vì ông có thể mua cho cô, cho chị cô, hay cho mẹ cô một chiếc váy hay áo choàng vừa y hệt. Theo Hồ Sơ Akasha, ông từng là một lái buôn vải vóc cao cấp ở Ba Tư. Ở Ai Cập, ông nổi tiếng về tay nghề tinh xảo trong xây dựng nhà cửa—như nhiều thế kỷ sau ở Virginia. Kết nối với các thành viên gia đình suốt qua thời gian, ông từng biết vợ mình ở Dearborn, Palestine và Ai Cập, và biết Anna ở Dearborn, Ai Cập và Ba Tư. Nhận biết rằng ông thường hay phán xét và nghiêm khắc, các hồ sơ cũng nêu rằng ông là một nhà lãnh đạo lớn và người khơi gợi động lực cho kẻ khác, cũng như có tài về tay nghề. Lời khuyên dành cho ông trong bài đọc là ông nên bắt đầu thực hành đời sống mộ đạo và tinh thần mà ông đã rao giảng quá thường xuyên.
As the kindly madam in the Dearborn experience, Anna’s mother had been associated, one way or another, with all of her children. Her ability to always know what to say or to prepare individuals for a new life—an ability that had been most evidenced in Dearborn—had been cultivated in ancient Egypt. Apparently it had been her duty as a teacher to help prepare emissaries and teachers to other lands. Interestingly enough, she had been a teacher before her marriage to Anna’s father this time around. Her most influential life had been one in Palestine—several of her current children had also been her children then. In that life she had also experienced a healing from Jesus Himself! From that same time period she had developed her hatred of Catholics: she had been a member of the apostle Peter’s household and had known the apostle Paul. Firsthand, she had witnessed how the message of this Man, Jesus, had been nearly lost by the Church’s early contention between these two— the 2,000-year-old frustration was still carried within her heart. The reading stated that in addition to her other talents, she was adept at healing and at growing plants— a flower business would appear in 1941, after her children had been raised.
Là bà chủ nhân từ trong trải nghiệm Dearborn, mẹ của Anna theo cách này hay cách khác đã kết nối với tất cả con cái của bà. Khả năng luôn biết phải nói gì hoặc chuẩn bị cho người ta một cuộc đời mới—khả năng được thể hiện rõ nhất ở Dearborn—đã được bồi đắp từ Ai Cập cổ. Dường như nhiệm vụ của bà khi làm thầy là giúp chuẩn bị các sứ giả và các thầy giáo đến những miền đất khác. Thật thú vị, bà từng là cô giáo trước khi kết hôn với cha Anna ở kiếp này. Kiếp ảnh hưởng mạnh nhất của bà là một kiếp ở Palestine—vài đứa con hiện thời của bà khi ấy cũng là con của bà. Trong kiếp ấy bà cũng đã từng được chính Đức Jesus chữa lành! Cũng từ thời ấy bà nuôi dưỡng sự căm ghét người Công giáo: bà từng là thành viên trong gia đình của tông đồ Phêrô và biết tông đồ Phao-lô. Bà đã chứng kiến tận mắt cách thông điệp của Con Người này, Jesus, gần như bị đánh mất bởi sự tranh chấp thời đầu của Giáo hội giữa hai người ấy—nỗi bực dọc 2.000 năm vẫn còn mang trong tim bà. Bài đọc nói rằng ngoài các tài năng khác, bà khéo chữa lành và trồng hoa—một cơ sở kinh doanh hoa sẽ xuất hiện vào năm 1941, sau khi con cái đã trưởng thành.
It’s worth noting the different karmic effect that the bar-moll occupation had on both Anna and her mother, because it’s apparently not the deed of prostitution that created karma for Anna but the reasons behind it. As a dance-hall girl, Anna felt she could get anything she wanted personally; on the other hand, Anna’s mother saw her occupation as a means of helping others. A hundred years later the effect was that Anna’s mother retained her ability to help others, whereas Anna was still labeled a loose woman. From Cayce’s perspective, it wasn’t the deed with which the Akashic Records were most concerned; rather, it was the intent (the real purpose) behind that deed.
Đáng lưu ý là hiệu quả nghiệp quả khác nhau mà nghề gái quán rượu gây ra cho cả Anna lẫn mẹ cô, bởi hiển nhiên không phải hành vi mại dâm đã tạo nghiệp cho Anna mà là lý do đằng sau nó. Là một cô gái phòng trà, Anna thấy mình có thể đạt bất cứ điều gì riêng tư mình muốn; còn mẹ cô thì nhìn công việc như một phương tiện để giúp người khác. Một trăm năm sau, hệ quả là mẹ Anna vẫn giữ được khả năng giúp người, trong khi Anna vẫn bị gắn mác là người đàn bà phóng túng. Theo quan điểm của Cayce, điều mà Hồ Sơ Akasha quan tâm không phải là hành vi tự thân; đúng hơn là động cơ (mục đích thật sự) phía sau hành vi ấy.
Anna worked diligently on her relationship with Alan, all the while remembering the ominous prediction about “ ’40 and ’41” contained in her reading. In an effort to prepare herself for the inevitable, she procured another reading and asked, “... please explain just what this refers to, and... how may I best prepare myself for it and meet it correctly?” The answer was, “ To give as to what such would be, would not be in keeping with the entity using self ’s OWN will, self ’s own choice or judgment.” ( 1523-11) The reading went on to say that there remained much she needed to work on with Alan, hinting that if it wasn’t taken care of in this life, she would have to fulfill it in another.
Anna làm việc hết lòng với mối quan hệ cùng Alan, đồng thời ghi nhớ lời dự báo đáng ngại về “’40 và ’41” trong bài đọc của mình. Để chuẩn bị cho điều không tránh khỏi, cô xin một bài đọc khác và hỏi: “... xin hãy giải thích rõ điều này ám chỉ điều gì, và... làm sao tôi có thể chuẩn bị tốt nhất để đối diện đúng đắn?” Câu trả lời là: “Để nói ra đó sẽ là điều gì thì sẽ không phù hợp với việc bản thể sử dụng Ý CHÍ RIÊNG của chính mình, chọn lựa hay phán đoán của chính mình.” ( 1523-1 1) Bài đọc tiếp tục nói rằng còn rất nhiều điều cô cần giải quyết với Alan, ngụ ý rằng nếu không giải quyết trong đời này, cô sẽ phải hoàn tất nó ở một đời khác.
One year later the prediction came true. Without warning, despite the intervening years and seemingly out of the blue, Robert would return to her and want the two of them to get back together. The desire she felt for him was almost overpowering, though logic and common sense agreed that it would never work. He said he had changed; she knew he could not. And yet she was not happy with Alan, and her unhappiness made her want Robert all the more. In desperation she asked in a reading if this was the event that had been predicted. The response was affirmative, stating that the situation was to become even more tempting. It did. Apparently the cycle of her French incarnation had rolled around once more.
Một năm sau lời dự báo ứng nghiệm. Không hề báo trước, bất chấp những năm tháng xen giữa và như từ trên trời rơi xuống, Robert quay lại với cô và muốn cả hai tái hợp. Khao khát cô dành cho anh gần như áp đảo, dù lý trí và lẽ thường đều cho rằng sẽ chẳng bao giờ ổn thỏa. Anh nói anh đã thay đổi; cô biết anh không thể. Nhưng cô không hạnh phúc với Alan, và sự bất hạnh ấy càng làm cô muốn Robert hơn. Trong tuyệt vọng, cô hỏi trong một bài đọc liệu đây có phải biến cố đã được báo trước. Câu trả lời là khẳng định, nói rằng tình huống thậm chí sẽ trở nên cám dỗ hơn. Quả vậy. Hiển nhiên chu kỳ hoá thân ở Pháp của cô đã quay trở lại.
Although it was one of the hardest things she would ever do, she ignored Robert’s advances and pushed aside the urge to become his mistress. They had many opportunities to be together, but while together they simply talked. She was torn between her desire to be with him and her attempts to work things out with Alan. Time passed, and she continued to do what her head said was right, even though it caused her heart great difficulty. Eventually, Robert entered the service and was again out of the picture, though the two would be in frequent correspondence throughout World War II. Ultimately, she overcame her desire to be with him, though Anna would feel love toward Robert for the rest of her life.
Dù đó là một trong những điều khó khăn nhất cô từng làm, cô phớt lờ những lời tán tỉnh của Robert và gạt sang bên thôi thúc trở thành tình nhân của anh. Họ có nhiều cơ hội ở bên nhau, nhưng khi ở cùng, họ chỉ trò chuyện. Cô bị xé đôi giữa khao khát được ở bên anh và nỗ lực hàn gắn với Alan. Thời gian trôi qua, cô tiếp tục làm điều cái đầu bảo là đúng, dù trái tim chịu nhiều dằn vặt. Rốt cuộc, Robert nhập ngũ và lại rời khỏi khung cảnh đời cô, dẫu cả hai thường xuyên thư từ suốt Thế chiến II. Sau cùng, cô vượt qua khao khát ở bên anh, dù Anna sẽ dành tình yêu cho Robert đến hết đời.
The years slipped by, and Anna never had the children she wanted. She tried to save her marriage with Alan, but her effort didn’t work—though in the end she was thankful they had managed to stay together for as long as they had; in the process each of them had learned a great deal. She would marry again, but never have any children. It probably came as just one more heartbreak to find that both Robert and Alan would eventually father children with their next wives.
Năm tháng trôi qua, và Anna chẳng bao giờ có những đứa con như lòng mong. Cô cố cứu vãn cuộc hôn nhân với Alan, nhưng nỗ lực không thành—dù cuối cùng cô biết ơn vì họ đã cố gắng ở với nhau lâu đến thế; qua đó mỗi người học được rất nhiều. Cô sẽ kết hôn lần nữa, nhưng vẫn không có con. Có lẽ đó là một nỗi đau nữa khi phát hiện cả Robert và Alan cuối cùng đều có con với các bà vợ kế.
Happily, a child did enter Anna’s family, becoming an integral part of her life. He was Billy, her brother Carl’s son. She spent much time with him, playing and going to the beach. She had several “happenings” with the child that convinced her they had known one another before. Oftentimes, she pretended he was “her son,” even allowing strangers they encountered to assume likewise. The closeness she felt toward him was experienced in return by the child. Oftentimes Billy threatened his parents by saying he was going to live with Anna, for he loved her “the very best.” Later, a reading confirmed that Billy had been her son in Laodicea and his father at the time was the same man who would become John Bainbridge, Anna’s second companion in Dearborn 1,900 years later.
May mắn thay, một đứa trẻ đã bước vào gia đình Anna, trở thành phần gắn bó trong đời cô. Đó là Billy, con trai của người anh Carl. Cô dành nhiều thời gian với cậu bé, chơi đùa và đi biển. Cô có vài “chuyện xảy ra” với đứa bé khiến cô tin rằng hai người đã từng biết nhau trước đó. Nhiều khi, cô giả vờ cậu là “con trai” mình, thậm chí để mặc những người lạ họ gặp hiểu như vậy. Sự gần gũi cô cảm thấy với cậu được cậu đáp lại. Nhiều lần Billy doạ bố mẹ rằng cậu sẽ đến sống với Anna, vì cậu yêu cô “nhiều nhất trên đời”. Sau này, một bài đọc xác nhận rằng Billy từng là con trai cô ở Laodicea và cha cậu khi ấy là chính người đàn ông sau này trở thành John Bainbridge, bạn đồng hành thứ hai của Anna ở Dearborn 1.900 năm sau.
Her relationship with Billy would always be close. Just as his own mother was Catholic, Billy would become Catholic and go to parochial school and somehow Anna’s own mother would survive it all. Unfortunately, however, Billy and his father had a very difficult time getting along. Apparently his father and mother had also been married in Dearborn, and Billy had been present as well. Most of Anna’s family, it seemed, were playing out their Dearborn cycle.
Mối quan hệ giữa cô và Billy sẽ luôn khắng khít. Giống như mẹ ruột cậu là người Công giáo, Billy cũng sẽ trở thành người Công giáo và đi học trường giáo xứ và bằng cách nào đó mẹ của chính Anna cũng chịu đựng qua tất cả. Tuy nhiên, Billy và cha cậu gặp rất nhiều khó khăn để hoà hợp. Rõ ràng cha và mẹ cậu cũng từng kết hôn ở Dearborn, và Billy cũng có mặt khi ấy. Có vẻ hầu hết gia đình Anna đang diễn lại chu kỳ Dearborn của họ.
In Dearborn as a priest, Billy had been horrified to see his sister (his present mother) married and taken away by a man he found unworthy and inappropriate (his present father). It was jealousy, to be sure. However, the priest’s affections for his sister were genuinely deep because the two had been companions in France as well as mother and son in Egypt. This jealousy was very difficult for both father and son to work out. Billy’s father claimed that his marriage had been happy and ideal until the birth of his son. Billy’s father, Carl, was eventually transferred to Chicago! Perhaps it was best that the problems be dealt with and solved in the very place they had arisen.
Ở Dearborn, là một linh mục, Billy từng kinh hoàng khi thấy em gái (người mẹ hiện tại của cậu) kết hôn và bị một người mà cậu thấy không xứng đáng và không phù hợp (người cha hiện tại của cậu) đem đi. Ấy là ghen tuông, dĩ nhiên. Tuy vậy, tình cảm của vị linh mục dành cho em gái là rất sâu đậm bởi hai người từng là bạn đồng hành ở Pháp cũng như là mẹ và con ở Ai Cập. Lòng ghen này rất khó để cả cha lẫn con vượt qua. Cha của Billy khẳng định rằng cuộc hôn nhân của ông đã hạnh phúc và lý tưởng cho đến khi con trai chào đời. Cha của Billy, Carl, rốt cuộc được điều chuyển đến Chicago! Có lẽ tốt nhất là những rắc rối được đối diện và giải quyết ngay tại nơi chúng từng phát sinh.
Years later, Billy would confirm one of the past-life scenarios Edgar Cayce had taken from the Akashic Records. While he was a priest in the Dearborn experience, Billy’s reading stated he had ministered to the needs of the frontier’s people. In Chicago, while his seventh-grade class studied the frontier and the white man’s westward migration, Billy provided information that surprised his teacher, a nun. The lesson centered around a priest who had been helpful to an Indian chief in preventing a massacre. Billy suddenly called out the name of the Indian. His response startled the nun because the name of the chief, although known to her, was not contained in the textbook. She inquired as to how he knew, and his response was that he had been a priest and had lived in that part of the country and knew of the Indian. Though his answer had been correct, she didn’t have the slightest idea what he was talking about.
Nhiều năm sau, Billy xác nhận một trong những kịch bản tiền kiếp mà Edgar Cayce đã rút ra từ Hồ Sơ Akasha. Khi là một linh mục trong trải nghiệm Dearborn, bài đọc của Billy nói cậu từng chăm lo nhu cầu cho dân biên viễn. Ở Chicago, khi lớp bảy của cậu học về miền biên cương và cuộc thiên di về phía tây của người da trắng, Billy cung cấp thông tin khiến cô giáo, một nữ tu, kinh ngạc. Bài học xoay quanh một linh mục đã giúp một tù trưởng người da đỏ ngăn một vụ thảm sát. Billy bỗng thốt lên tên người da đỏ đó. Phản ứng của cậu làm nữ tu sửng sốt vì tên vị tù trưởng, dù bà biết, lại không hề có trong sách giáo khoa. Bà hỏi làm sao cậu biết, và cậu đáp rằng cậu từng là linh mục và từng sống ở phần đất ấy của đất nước và biết về người da đỏ đó. Dù câu trả lời của cậu đúng, bà cũng chẳng hiểu cậu đang nói gì.
For the rest of her life, Anna would attempt to share with others much of what she had found in the Cayce readings. Perhaps because she had firsthand experience, she became an avid proponent of the health readings. She would have more than her share of opportunities to care for the declining health of members of her own family. Possibly because her Dearborn cycle of “comforting the sick” had rolled around once more, or because, in meeting self, she was overcoming the Dearborn tendency to care of only her own needs, or both, she spent years nursing both parents through their old age and was with each one when they died. In time, she would have to care for a third husband and eventually her sister Vera as each passed through old age, sickness, and death. In fact, she would spend nearly twenty years of her life taking care of at least one person or another totally dependent upon her!
Suốt phần đời còn lại, Anna sẽ cố gắng chia sẻ với người khác nhiều điều cô đã tìm được trong các bài đọc của Cayce. Có lẽ vì có trải nghiệm trực tiếp, cô trở thành người cổ xúy nhiệt thành cho các bài đọc sức khoẻ. Cô sẽ có nhiều hơn phần của mình các dịp chăm sóc sức khoẻ suy giảm của các thành viên gia đình. Có lẽ vì chu kỳ Dearborn của cô về “an ủi người bệnh” đã quay lại, hoặc vì trong cuộc gặp gỡ chính mình, cô đang vượt qua xu hướng Dearborn chỉ lo cho nhu cầu riêng, hoặc cả hai, cô đã dành nhiều năm chăm sóc cả cha lẫn mẹ qua tuổi già và hiện diện bên từng người khi họ qua đời. Về sau, cô còn phải chăm sóc một người chồng thứ ba và rốt cuộc là chị cô, Vera, khi mỗi người bước qua tuổi già, bệnh tật và cái chết. Thực tế, cô dành gần hai mươi năm đời mình để chăm nom cho hết người này đến người khác hoàn toàn trông cậy vào cô!
She never had any doubt about the validity of the material in the readings. Throughout her life she had found more than just physical help from the information, for one by one her trying relationships had improved: her relationship with herself, with Robert, and even with Alan took on a whole new meaning because of the information Cayce pulled from records. Perhaps the most difficult relationship, however, was Anna’s relationship with Vera. Just as it would be the first one to cause Anna the most difficulty, it would be the last one to be resolved—a process taking more than seventy years.
Cô chưa từng nghi ngờ tính xác thực của những gì trong các bài đọc. Suốt đời cô đã tìm được nhiều hơn là trợ giúp thể chất từ thông tin ấy, vì lần lượt các mối quan hệ khó nhọc của cô đã cải thiện: mối quan hệ với chính mình, với Robert, và cả với Alan cũng mang một ý nghĩa hoàn toàn mới nhờ những thông tin Cayce rút từ các hồ sơ. Có lẽ mối quan hệ khó khăn nhất, tuy thế, là mối quan hệ của Anna với Vera. Cũng như nó là mối đầu tiên gây cho Anna nhiều khó nhọc nhất, nó sẽ là mối cuối cùng được giải quyết—một tiến trình kéo dài hơn bảy mươi năm.
In 1946, a psychologist named Gina Cerminara was piecing together information on reincarnation from the Cayce files. Her work would eventually evolve into the bestselling book, Many Mansions. While researching the information, Dr. Cerminara inquired about the relationship between Anna and her sister, Vera. A portion of Anna’s response from August 7, 1946, is as follows:
Năm 1946, một nhà tâm lý học tên Gina Cerminara đang ghép nối các thông tin về luân hồi từ các hồ sơ Cayce. Công trình của bà rốt cuộc phát triển thành cuốn sách bán chạy, Many Mansions. Trong khi nghiên cứu, Bác sĩ Cerminara hỏi về mối quan hệ giữa Anna và chị cô, Vera. Một đoạn trong thư hồi âm của Anna ngày 7 tháng Tám, 1946, như sau:
Dear Gina:
Gina thân mến:
Probably the best way to write up the report you requested is to picture myself talking to you. My spelling is lousy and I’m pretty much out of practice writing—but here goes!
Có lẽ cách tốt nhất để viết bản tường trình chị xin là hình dung tôi đang nói chuyện với chị. Chính tả của tôi tệ lắm và tôi cũng khá lâu không viết—nhưng thôi kệ!
The disharmony between [Vera] and me started at a very early age. The first incident I remember took place when I was about eight and [Vera] fourteen. Two cousins (girls about the same ages as ours) visited us for a few days. I suppose it isn’t at all uncommon for kids to clash but somehow this seemed to stand out in my mind. Any attention I would get annoyed [ Vera] to the point that she would whip up all kinds of imaginary things, such as pretending that she was going somewhere or that she had toys to play with, and if they wanted to share these things with her—they would have to leave me out of it. I was no match for her then and she usually won her point. I wasn’t conscious of having any feeling of antagonism at that age, but I would feel hurt and defeated and most often would end up playing by myself and of course feeling very sorry for myself. Envy seemed to be the outstanding feeling at that time... Mama got so she didn’t pay any attention to us but just let us fight it out.
Sự bất hoà giữa [Vera] và tôi bắt đầu rất sớm. Sự việc đầu tiên tôi nhớ xảy ra khi tôi khoảng tám tuổi và [Vera] mười bốn. Hai người chị em họ (con gái, chừng tuổi như chúng tôi) đến thăm chúng tôi vài ngày. Tôi nghĩ trẻ con xung khắc chẳng có gì lạ, nhưng bằng cách nào đó chuyện này lại nổi bật trong trí tôi. Bất cứ sự chú ý nào tôi nhận được đều khiến [Vera] bực bội đến mức cô ấy bịa ra đủ thứ, như giả vờ là mình sắp đi đâu đó hoặc là mình có đồ chơi để chơi, và nếu họ muốn chia sẻ những thứ ấy với cô—thì họ phải loại tôi ra. Hồi ấy tôi không phải là đối thủ của cô và cô thường đạt được điều mình muốn. Tôi không ý thức mình có cảm giác đối kháng nào ở tuổi ấy, nhưng tôi thấy tổn thương và thua cuộc và thường thì kết thúc bằng việc chơi một mình và dĩ nhiên là thấy tội nghiệp cho chính mình. Ghen tị có vẻ là cảm xúc nổi bật khi đó... Mẹ đã đến mức chẳng buồn để ý gì đến bọn tôi nữa mà cứ để chúng tôi tự cãi nhau cho xong.
After I was separated from [Robert] and before I married [Alan] we spent three winters together. Beginning then, another outstanding characteristic presented itself and has stayed with us right along. She always felt quite free to take anything that was mine—first without my knowing it and eventually it didn’t matter whether I knew it or not... Since she felt that I had taken [Alan] away from her—even though the readings indicated that was not the case—she undoubtedly came back this time with the feeling that anything she could take from me was her due—for it certainly never seemed to bother her conscience...
Sau khi tôi chia tay [Robert] và trước khi tôi cưới [Alan], chúng tôi sống với nhau ba mùa đông. Bắt đầu từ đó, một đặc điểm nổi bật khác bộc lộ và vẫn đi cùng chúng tôi suốt. Cô ấy luôn cảm thấy rất tự do lấy bất cứ thứ gì của tôi—đầu tiên là không cho tôi biết và dần dần thì biết hay không cũng chẳng quan trọng... Vì cô ấy cảm thấy tôi đã lấy [Alan] khỏi tay cô ấy—dù các bài đọc cho thấy không phải vậy—chắc chắn cô ấy đã trở lại lần này với cảm giác rằng bất cứ thứ gì cô ấy có thể lấy từ tôi là phần của mình—vì chuyện ấy có vẻ chẳng bao giờ khiến lương tâm cô bận lòng...
I firmly believe I fulfilled my obligations with [Alan] for this incarnation. Not so with [ Vera]— there will be more to come—and so this report is only complete to date, perhaps not complete but sufficient, I hope...
Tôi tin chắc tôi đã chu toàn các bổn phận với [Alan] cho kiếp này. Không phải vậy với [Vera]—sẽ còn nữa—và vì thế bản tường trình này chỉ hoàn tất đến thời điểm hiện tại, có lẽ chưa trọn vẹn nhưng hy vọng là đủ...
Case 1523-11 Report File After their roommate days, Vera did marry, although it would be disastrous for her. Eventually she would divorce and return to her parents’ home. In spite of Vera’s presence, however, when her parents’ health began to decline, it was Anna who shouldered the greatest responsibility for their care. Although this fact caused Anna some frustration, it also provided for a decade of opportunities to begin working with Vera and their own mixed feelings on a regular basis. With a great deal of effort on both parts the relationship between the two sisters became “tolerable.” It was this feeling that eventually replaced the feelings of distrust and animosity. However, just being “tolerable” would not finish their work together.
Trường hợp 1523-1 1 Hồ Sơ Báo cáo Sau những ngày ở chung phòng, Vera có kết hôn, dẫu cuộc hôn nhân ấy tai hoạ cho cô. Cuối cùng cô ly dị và quay về nhà cha mẹ. Tuy Vera vẫn ở đó, nhưng khi sức khỏe cha mẹ bắt đầu suy giảm, Anna là người gánh phần lớn trách nhiệm chăm sóc họ. Dù thực tế này khiến Anna có phần ấm ức, nó cũng đem lại cả thập kỷ cơ hội để bắt đầu làm việc với Vera và những cảm xúc pha tạp của chính họ một cách thường xuyên. Với nỗ lực rất lớn của cả hai bên, mối quan hệ giữa hai chị em trở nên “có thể chịu đựng được”. Chính cảm giác này rốt cuộc thay thế cảm giác ngờ vực và thù ghét. Tuy nhiên, chỉ “chịu đựng được” thì vẫn chưa hoàn tất việc của họ cùng nhau.
Through a chain of life events and family moves and deaths, late in life Anna and Vera found themselves thrown together as each other’s closest relative. When nearly an octogenarian, Vera became bedridden with no one to care for her except Anna who was in her seventies. The situation lasted for two years, and although Anna had nursing assistance in caring for her sister, in a very real sense they had many opportunities to be alone together and talk and reminisce and think of days gone by. Toward the end of Vera’s life it seemed as though all animosity that had existed between them was finally gone. In fact, two days before she died, with words carrying great emotion and sincerity Vera whispered to Anna, “I hope we can be sisters again.” Finally, there had been a reconciliation.
Qua một chuỗi biến cố đời sống, những lần dời nhà và những cái chết trong gia đình, về cuối đời Anna và Vera thấy mình bị ném lại với nhau như những người thân cận nhất còn lại của nhau. Khi gần tám mươi tuổi, Vera nằm liệt giường và không ai chăm sóc ngoài Anna, khi ấy ở tuổi bảy mươi. Tình cảnh ấy kéo dài hai năm, và dù Anna có sự trợ giúp của điều dưỡng khi chăm sóc chị, theo một nghĩa rất thực, họ có nhiều dịp để ở bên nhau, trò chuyện, hồi tưởng và nghĩ về những ngày đã qua. Về cuối đời Vera, dường như mọi ác cảm từng tồn tại giữa họ rốt cuộc đã tan biến. Thực tế, hai ngày trước khi qua đời, với lời nói chan chứa xúc cảm và chân thành, Vera thì thầm với Anna: “Em mong chúng mình có thể lại làm chị em.” Sau cùng, đã có sự hoà giải.
Years after Mr. Cayce’s death, Anna provided yet another reincarnation confirmation regarding an episode that had occurred with her brother, Warren. He was the brother who had been her drifter-companion in the dance hall days of Dearborn, he was the one family member least interested in the Cayce phenomena, and the one who knew absolutely nothing about reincarnation. Her report says it all:
Nhiều năm sau khi Ông Cayce qua đời, Anna cung cấp thêm một xác nhận về luân hồi liên quan đến một chuyện xảy ra với người anh Warren. Anh là người anh từng là bạn giang hồ của cô trong thời Dearborn ở vũ trường, là người ít hứng thú nhất với hiện tượng Cayce, và là người hoàn toàn chẳng biết gì về luân hồi. Bản tường trình của cô kể đủ:
I went dancing for a couple of hours at the American Legion, in a party with [Warren] and his wife and friends. [ Warren] was so obviously in his Dearborn background, going from table to table, patting different ones on the back, drinking, etc. He came back to the table and started in asking me to sing his favorite number... wanting me to sing with the band, insisting that he would stand right there by me and hold my hand. Said he loved me better than anyone else in the world—and had been trying to figure out why he hadn’t married me (this in a laughing vein, of course). Said he would rather dance with me than anyone else he’d ever danced with. That is of particular interest in view of the fact that he knows nothing of his connection with me in Dearborn—in fact rejects anything that deals with the thought of reincarnation...
Tôi đi nhảy vài tiếng ở Hội Cựu chiến binh Mỹ, trong một buổi tiệc với [Warren] và vợ anh cùng bạn bè. [Warren] rõ ràng ở trong bối cảnh Dearborn của anh, đi từ bàn này sang bàn khác, vỗ vai người này người nọ, uống rượu, v.v. Anh quay về bàn và bắt đầu nài tôi hát bản số một anh thích... muốn tôi hát với ban nhạc, khăng khăng rằng anh sẽ đứng ngay đó bên tôi và nắm tay tôi. Nói rằng anh yêu tôi hơn bất cứ ai khác trên đời—và đã cố nghĩ xem vì sao anh không cưới tôi (tất nhiên nói đùa). Nói rằng anh muốn nhảy với tôi hơn bất cứ ai anh từng nhảy cùng. Điều đó đặc biệt thú vị vì anh hoàn toàn không biết gì về mối liên hệ của anh với tôi ở Dearborn—thực tế là bác bỏ bất cứ điều gì dính đến ý tưởng luân hồi...
Case 1523-11 Report File
Trường hợp 1523-1 1 Hồ Sơ Báo cáo
In a very real sense, Anna’s present came into marvelous perspective when viewed from the past. By her own account, she was able to come to a clearer understanding of herself and every member of her family simply because of the reincarnation information contained within the Akashic Records. From a philosophical perspective it was life-changing, but in a very real sense the information gave her practical insights into herself and others—insights that enabled Anna to deal with necessary situations in this process of “meeting” herself.
Theo một nghĩa rất thực, hiện tại của Anna trở nên sáng rõ kỳ diệu khi được nhìn từ quá khứ. Theo lời chính cô, cô có thể đạt được sự thấu hiểu minh bạch hơn về bản thân và mọi thành viên gia đình đơn giản chỉ vì thông tin luân hồi chứa trong Hồ Sơ Akasha. Về mặt triết lý đó là sự thay đổi đời sống, nhưng theo nghĩa rất thực, thông tin ấy đem lại cho cô những thấu suốt thực hành về chính mình và tha nhân—những thấu suốt cho phép Anna xử lý những tình huống cần thiết trong tiến trình “gặp gỡ” chính mình.
In spite of a lifetime of many hardships, Anna would spend her remaining years in excellent health, financial security, and great optimism. Nearly identical to her Dearborn days, she would become a “counselor.” Because of her knowledge of the Cayce readings, hundreds would seek her out for help, advice, or simply someone with whom they could talk. Individuals from all walks of life found her insights extremely helpful, never really knowing the extent in which Anna’s own background and trials had molded her. People often found her a source of inspiration, compassion, and understanding. Once again, the cycle would roll around and she would be seen as “an angel,” possessing the innate ability to be of great help and assistance to others.
Bất chấp một đời nhiều gian nan, Anna dành những năm còn lại với sức khoẻ tuyệt hảo, an toàn tài chính và lạc quan lớn lao. Gần như lặp lại thời Dearborn, cô trở thành một “người cố vấn”. Nhờ sự hiểu biết về các bài đọc của Cayce, hàng trăm người tìm đến cô để xin giúp đỡ, lời khuyên, hoặc đơn giản là để có người trò chuyện. Những con người từ mọi nẻo đường đời thấy các thấu suốt của cô vô cùng hữu ích, chẳng hề biết quá khứ và thử thách của chính Anna đã tôi luyện cô đến mức nào. Một lần nữa, chu kỳ quay lại và cô lại được xem là “một thiên thần”, sở hữu khả năng bẩm sinh để giúp đỡ và nâng đỡ người khác.