← Edgar Cayce on the Akashic Records

9 Discovering Insights into Your Future—9 Khám phá những thấu triệt về Tương Lai của Bạn

9 Discovering Insights into Your Future—9 Khám phá những thấu triệt về Tương Lai của Bạn

The variable nature of one’s future is graphically portrayed in the motion picture Back to the Future II with Michael J. Fox. Fox plays a young man, Marty, who is suddenly thrust into a horrific future which bears little resemblance to the life he knew. In a short time, Marty comes to the realization that “the future” in which he finds himself has been built upon a series of events that took place in his own past. In order to change the future, he needs to return to the past and rectify his misdeeds. Thankfully, the young man has at his disposal a time machine and he is able to go back and correct what went wrong. Once that is accomplished, the future he found so appalling suddenly ceases to exist.

Bản chất biến đổi của tương lai được khắc hoạ sinh động trong bộ phim Back to the Future II với Michael J. Fox. Fox vào vai một chàng trai trẻ, Marty, bất ngờ bị ném vào một tương lai khủng khiếp, hầu như chẳng giống cuộc đời cậu từng biết. Chẳng bao lâu, Marty nhận ra rằng “tương lai” mà cậu đang ở được xây trên một chuỗi biến cố đã xảy ra trong quá khứ của chính cậu. Để đổi tương lai, cậu cần quay lại quá khứ và sửa những điều lầm lỗi. May thay, chàng trai có trong tay một cỗ máy thời gian và có thể trở về để hiệu chỉnh những gì đã sai. Khi điều đó hoàn tất, tương lai từng khiến cậu kinh hãi bỗng chốc không còn tồn tại.

Even without a time machine, the future is ever changeable. Because of the vital role free will plays in our lives, no other statement is more useful in summarizing the readings’ outlook on our enfolding tomorrows. Beyond the soul’s tendencies, talents, and innate urges, nothing is predestined or set. Although these urges may sometimes predispose an individual in a certain direction, the outcome of her or his life is integrally connected to the will. The Akashic Records provide all individuals with those very circumstances and events which will best enable the soul to have the greatest probability for success.

Dẫu không có cỗ máy thời gian, tương lai vẫn luôn có thể đổi thay. Vì vai trò sống còn mà ý chí tự do nắm giữ trong cuộc đời chúng ta, không điều gì tóm lược quan điểm của các bài đọc về những ngày mai đang mở ra hữu ích hơn mệnh đề này. Ngoài các khuynh hướng, tài năng và xung lực bẩm sinh của linh hồn, không có gì bị tiền định hay cố định. Dẫu những xung lực ấy đôi khi có thể đặt để một cá nhân theo một hướng nhất định, kết cục đời người ấy gắn kết mật thiết với ý chí. Hồ sơ Akasha mang đến cho mọi người chính những hoàn cảnh và biến cố sẽ giúp linh hồn có xác suất thành công cao nhất.

Edgar Cayce repeatedly reminded people they could be successful—in terms of soul growth and personal transformation—if they simply applied whatever it was that they knew to do. Most often, individuals are aware of some of those very things which would enable them to become better people. However, too often there is a gap between knowledge and its application. The readings frequently admonished individuals to “do what you know to do and the next step will be given.” In other words, soul growth is not dependent upon what an individual knows; instead, it is predicated upon what an individual does about what she or he knows. In the language of the readings, “... O that all would realize, come to the consciousness that what we are—in any given experience, or time—is the combined results of what we have done about the ideals that we have set!” ( 1549-1)

Edgar Cayce nhiều lần nhắc rằng họ có thể thành công—xét về trưởng thành của linh hồn và chuyển hoá cá nhân—nếu đơn giản áp dụng những gì mình biết cần làm. Thường thì, mỗi người đều biết đôi điều sẽ giúp họ trở thành người tốt hơn. Tuy vậy, quá thường xuyên tồn tại một khoảng cách giữa tri thức và ứng dụng. Các bài đọc thường khuyên răn: “Hãy làm điều mình biết cần làm, rồi bước tiếp theo sẽ được ban cho.” Nói cách khác, trưởng thành của linh hồn không phụ thuộc vào điều một cá nhân biết; thay vào đó, tuỳ thuộc vào điều người ấy làm với điều mình biết. Theo ngôn ngữ của các bài đọc: “... Ước sao mọi người đều nhận ra, đạt đến tâm thức rằng những gì chúng ta là—trong bất kỳ kinh nghiệm hay thời điểm nào—là kết quả tổng hợp của những gì chúng ta đã làm đối với các lý tưởng chúng ta đã lập!” ( 1549-1)

Simply stated, an ideal is the motivating influence that undergirds the intentionality of why an individual does what he or she does. The focus is upon one’s intent. Rather than being an intellectual exercise, Cayce encouraged individuals to choose ideals which would enable them to apply the qualities of love, service, compassion, and understanding in their interactions with others—all the while becoming better people in the process. Essentially, a spiritual ideal causes individuals to be concerned with how they might assist those around them. The focus is on others rather than upon one’s self.

Nói giản dị, một lý tưởng là động lực nền tảng chống đỡ cho chủ ý vì sao một người làm điều mình làm. Trọng tâm là nơi chủ ý của mỗi người. Thay vì là một thao tác trí tuệ, Cayce khuyến khích chọn những lý tưởng giúp họ áp dụng các phẩm chất tình thương, phụng sự, cảm thông và thấu hiểu trong giao tiếp với người khác—đồng thời bản thân trở nên tốt hơn trong tiến trình ấy. Cốt yếu, một lý tưởng tinh thần khiến con người quan tâm đến việc mình có thể trợ giúp những người xung quanh ra sao. Trọng tâm là tha nhân, không phải bản thân.

The importance of becoming aware of one’s intent and choosing a spiritual ideal is to enable individuals to become aware of what they are building and inscribing upon the Akashic Records. As far as the readings are concerned, the future of each individual is destined to include meeting those very conditions which she or he has built in the past and is continually building in the present.

Tầm quan trọng của việc ý thức chủ ý của mình và chọn một lý tưởng tinh thần là giúp mỗi người nhận ra những gì họ đang xây dựng và khắc ghi vào Hồ sơ Akasha. Theo các bài đọc, tương lai của mỗi cá nhân tất yếu sẽ bao gồm việc gặp lại chính những điều kiện mà người ấy đã xây trong quá khứ và vẫn đang tiếp tục xây trong hiện tại.

Because of the changeable nature of one’s destiny, individuals might wish to know how it’s possible to gain insights into their evolving futures. From the readings’ perspective, there are at least two facts of which an individual can become certain. The first is that the soul is destined to grow (and eventually awaken) to an awareness of its true relationship to the Creator. Whatever it takes to bring about this growth in consciousness is exactly what the Akashic Records will continually draw toward the soul. Cayce asked one individual, how much longer “Can the will of man continue to defy its Maker?” (826-8) In terms of one’s personal future, the second certainty is that individuals will continue to draw a particular lesson toward themselves until they have learned it. This second premise is clearly illustrated in the work history of Glen Peters, a businessman:

Vì bản chất đổi thay của định mệnh, người ta có thể muốn biết làm sao để có được những thấu triệt về tương lai đang tiến hoá của mình. Theo quan điểm của các bài đọc, có ít nhất hai điều chắc chắn mà một người có thể nắm được. Thứ nhất, linh hồn tất yếu sẽ lớn lên (và rốt cuộc thức tỉnh) để ý thức về mối liên hệ đích thực của mình với Đấng Sáng Tạo. Bất cứ điều gì cần để đem lại sự tăng trưởng trong tâm thức, chính là điều mà Hồ sơ Akasha sẽ liên tục lôi kéo về phía linh hồn. Cayce hỏi một người: còn bao lâu nữa “Ý chí của con người còn có thể thách thức Đấng Tạo Hoá của mình?” (826-8) Xét về tương lai cá nhân, điều chắc chắn thứ hai là mỗi người sẽ tiếp tục hút về phía mình một bài học nhất định cho đến khi họ học xong nó. Tiền đề thứ hai này được minh hoạ rõ trong lịch sử nghề nghiệp của Glen Peters, một doanh nhân:

Glen started a new job at a company and found himself sharing office space with a woman named Tammy. From the first, Glen didn’t really care for his office mate. He felt that she talked too much, seemed very jealous of his arrival, and appeared intent on guiding and overseeing his work, thereby (from his perspective) preventing mistakes he might make due to his inexperience with the company. Over several months, the situation worsened until Glen could no longer stand being in the same room with her. It caused him greater frustration to realize that no one else in the office had as difficult a time with Tammy as he did. A number of people genuinely liked her, so complaining to his boss seemed somewhat childish. During one weekend, when he was pondering what to do in his situation, an insight finally came to him.

Glen bắt đầu một công việc mới tại một công ty và thấy mình phải chia sẻ không gian văn phòng với một phụ nữ tên Tammy. Ngay từ đầu, Glen không ưa bạn cùng phòng. Anh cảm thấy cô nói quá nhiều, có vẻ rất ghen tỵ với sự xuất hiện của anh, và dường như muốn định hướng, giám sát công việc của anh, nhờ đó (theo anh nghĩ) ngăn chặn những sai sót anh có thể mắc vì thiếu kinh nghiệm với công ty. Qua vài tháng, tình hình xấu đi đến mức Glen không thể chịu nổi việc ở cùng phòng với cô. Điều khiến anh bực bội hơn là nhận ra chẳng ai khác trong văn phòng gặp khó khăn với Tammy như anh. Nhiều người thực sự quý mến cô, nên phàn nàn với sếp xem ra hơi trẻ con. Cuối tuần nọ, khi đang suy tính phải làm gì với tình huống của mình, cuối cùng một thấu triệt đã đến với anh.

In thinking about his work history, Glen realized that in his last two positions, “at two different companies,” he was in situations in which he had been forced to interact on a regular basis with two different personalities “exactly like Tammy.” It was this recognition which made him realize—somewhat reluctantly—that he was the one who needed to change, not his office mate. From then on, Glen did whatever he could to interact with Tammy on a positive basis.

Khi nghĩ về lịch sử công việc, Glen nhận ra rằng ở hai vị trí gần đây nhất, “tại hai công ty khác nhau,” anh đều ở trong tình thế buộc phải tương tác thường xuyên với hai kiểu người “y hệt Tammy.” Chính nhận thức này khiến anh—dù miễn cưỡng—hiểu rằng người cần thay đổi là anh, chứ không phải bạn cùng phòng. Từ đó, Glen làm mọi điều có thể để tương tác với Tammy trên cơ sở tích cực.

He decided that her talkative nature and unwelcomed “critiques” were possibly in response to the fact that he rarely shared his thoughts on any company project. The same had been true at his previous places of employment. He surmised that Tammy’s perception of his inexperience was either caused by his projecting a “know-it-all” attitude (even when he didn’t) or a result of her feelings of inadequacy. Either way, Glen felt that part of the solution was to engage with her more frequently and to find occasion to honestly admire her work.

Anh quyết định rằng tính hay nói và những “phê bình” không được chào đón của cô có thể là phản ứng trước việc anh hiếm khi chia sẻ suy nghĩ của mình về bất kỳ dự án nào của công ty. Điều này cũng từng đúng ở nơi làm việc trước. Anh suy đoán rằng cách Tammy nhìn về sự thiếu kinh nghiệm của anh hoặc là do anh “toàn biết tuốt” (dù không phải vậy) hoặc là do cảm giác tự ti của cô. Dù thế nào, Glen cảm thấy một phần giải pháp là giao tiếp với cô thường xuyên hơn và tìm dịp chân thành khen ngợi công việc của cô.

By his admission, healing the relationship was not always easy, for he frequently found himself falling into old patterns of behavior. But in time there was a definite change and his entire perception of Tammy changed as well. He was genuinely surprised to find that he liked working with her and even considered her “a friend.” In relating the story of his work history, it became apparent that the Akashic Records had drawn the same situation to Glen twice previously before he was finally able to effect a change in his own awareness. From the perspective of the Edgar Cayce readings, lessons that have been ignored or avoided are destined to become a part of one’s personal future.

Theo lời y tự thừa nhận, việc hàn gắn mối quan hệ không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì y thường thấy mình rơi vào những khuôn nếp hành vi cũ. Nhưng theo thời gian đã có một thay đổi rõ rệt và toàn bộ nhận thức của y về Tammy cũng đổi khác. Y thực sự ngạc nhiên khi phát hiện mình thích làm việc với cô ấy và thậm chí coi cô là “một người bạn.” Khi kể lại lịch sử công việc của mình, trở nên hiển nhiên rằng Hồ sơ Akasha đã hai lần kéo cùng một tình huống đến với Glen trước đó, trước khi cuối cùng y có thể tạo tác một thay đổi trong chính nhận biết của mình. Từ quan điểm các bài đọc của Edgar Cayce, những bài học bị phớt lờ hoặc né tránh tất yếu sẽ trở thành một phần của tương lai cá nhân của mỗi người.

The same tools that can assist individuals in gaining insights into the Akashic Records dealing with their past and present are helpful in enabling them to perceive glimpses into their evolving futures. The esoteric sciences can be valuable as long as individuals keep in mind that their future is not fixed regardless of what anyone might believe to the contrary. To be sure, there are “potential patterns” in one’s life, but what an individual does with those patterns and where she or he directs her or his life energies is a matter of free will.

Những công cụ có thể giúp cá nhân đạt được những minh sát vào Hồ sơ Akasha liên quan đến quá khứ và hiện tại của họ cũng hữu ích trong việc giúp họ thoáng thấy tương lai đang tiến hóa của mình. Các khoa học huyền môn có thể hữu ích miễn là cá nhân luôn ghi nhớ rằng tương lai của họ không cố định, bất kể ai có thể tin điều ngược lại. Chắc chắn, trong đời mỗi người có những “mẫu tiềm năng,” nhưng cá nhân làm gì với những mẫu ấy và y hướng dòng sinh lực đời mình về đâu là vấn đề của tự do ý chí.

Personal reveries (one is included at the end of this chapter) and dreams can assist individuals in gaining valid insights from their own subconscious minds. And spiritual ideals can certainly help direct one’s intent in a direction which will insure that the future becomes a positive experience of “growth” rather than one of “loss” for the soul. The readings also repeatedly state that the closer a soul is in attunement to the Creative Forces, the more apt the soul is to receive insights from the records themselves.

Những cuộc miên tưởng cá nhân (một bài được đưa ở cuối chương này) và giấc mơ có thể giúp cá nhân thu nhận những minh sát xác đáng từ tiềm thức của chính họ. Và các lý tưởng tinh thần chắc chắn có thể định hướng ý định của mỗi người theo một hướng sẽ đảm bảo rằng tương lai trở thành một kinh nghiệm tích cực của “tăng trưởng” chứ không phải là “mất mát” đối với linh hồn. Các bài đọc cũng nhiều lần khẳng định rằng linh hồn càng chỉnh hợp gần với Các Mãnh Lực Sáng Tạo, linh hồn càng có khuynh hướng nhận được những minh sát từ chính các hồ sơ.

As an example of gaining an insight into the future, Edgar Cayce’s secretary, Gladys Davis, had an unusual dream experience which seemed to accurately predict the future of a friend about whom she was concerned. The friend, a Mr. Ladd, was on the verge of losing his job and his family’s future looked uncertain. Gladys recalled the background of the experience as follows:

Để minh họa một ví dụ về việc thu nhận minh sát vào tương lai, thư ký của Edgar Cayce, Gladys Davis, đã có một kinh nghiệm mộng mị khác thường dường như dự đoán chính xác tương lai của một người bạn mà bà bận tâm lo lắng. Người bạn ấy, một ông Ladd, đang bên bờ vực mất việc và tương lai của gia đình ông trông có vẻ bất định. Gladys nhớ lại bối cảnh của trải nghiệm như sau:

In late January of 1934 Edgar Cayce, Hugh Lynn Cayce [Cayce’s eldest son], and I were visitors for the weekend at the Ladd home on Long Island. Late Sunday night Mrs. Ladd was telling me about her husband’s financial difficulties; his job was insecure, and they were about to lose their home. As I got in bed I remember wishing I could do something to help the Ladd family. It turned awfully cold that night and I was very uncomfortable. Although the little modern cottage was steam heated, I was from the South and it seemed mighty cold to me.

Cuối tháng Giêng năm 1934, Edgar Cayce, Hugh Lynn Cayce [con trai cả của Cayce], và tôi tới thăm nhà ông bà Ladd ở Long Island vào dịp cuối tuần. Khuya Chủ nhật, bà Ladd kể cho tôi nghe về khó khăn tài chính của chồng mình; công việc của ông không vững, và họ sắp mất nhà. Khi tôi lên giường, tôi nhớ mình đã ước gì có thể làm điều gì đó để giúp gia đình Ladd. Đêm ấy trời trở lạnh khủng khiếp và tôi rất khó chịu. Dù căn nhà nhỏ hiện đại có sưởi bằng hơi nước, tôi từ phương Nam tới nên thấy rét khủng khiếp.

That evening she had a dream which she would recall and discuss the next morning:

Đêm ấy bà đã có một giấc mơ mà sáng hôm sau bà vẫn còn nhớ và đem ra thảo luận:

[In the dream, there was] a knock on the door. I said, “Come in.” Mr. Ladd stood there with a coal scuttle in his hand, and wearing a lumber jacket. (I had never seen him in anything but a business suit.) He came in and made a fire in a little coal stove which stood in the room, saying, “Now the room will soon be warm so you can get up.”

[Trong mơ, có] tiếng gõ cửa. Tôi nói, “Mời vào.” Ông Ladd đứng đó, tay cầm một thùng than, mặc một chiếc áo khoác gỗ. (Tôi chưa từng thấy ông mặc gì khác ngoài bộ com-lê công sở.) Ông vào và nhóm lửa trong chiếc lò than nhỏ đặt trong phòng, nói rằng, “Giờ căn phòng sẽ sớm ấm lên để bà có thể dậy.”

On the train back to New York later that morning I told Mr. Cayce and Hugh Lynn about the dream, when relating what an uncomfortable night I had experienced. We all laughed and attributed the dream to my discomfort. Still, I remember remarking how strange it was that the room should be different from the one I was occupying—which had cute little radiators on two sides of it (too cute and too little).

Trên chuyến tàu về New York sáng hôm ấy, tôi kể cho ông Cayce và Hugh Lynn về giấc mơ khi thuật lại một đêm khó chịu tôi đã trải qua. Tất cả chúng tôi cùng cười và quy giấc mơ do cảm giác khó chịu của tôi. Dù vậy, tôi nhớ mình đã nhận xét thật lạ lùng khi căn phòng trong mơ lại khác với căn phòng tôi đang ở—căn phòng có những bộ tản nhiệt nhỏ xinh ở hai bên (quá xinh và quá nhỏ).

Gladys thought no more about the dream until April 1935, fifteen months later, when she was on a business trip to New York and found herself in a guest house at the Sun Air Farm in Oak Ridge, N.J. On Sunday morning, April 7, 1935, she was awakened by the sound of knocking at her door. She said, “Come in” and, according to Gladys, “there stood Mr. Ladd in his lumber jacket, a coal bucket in his hand, and he said, ‘I thought you’d like to have a little fire in your stove to take the chill off while you get dressed.’ I immediately noticed that the little room was exactly the same as I had dreamed it over a year ago.” Apparently, Mr. Ladd had become manager of the Sun Air Farm in January 1935.

Gladys không nghĩ gì thêm về giấc mơ cho đến tháng Tư năm 1935, mười lăm tháng sau, khi bà đi công tác đến New York và thấy mình ở một nhà khách tại nông trại Sun Air ở Oak Ridge, N.J. Sáng Chủ nhật, ngày 7 tháng 4 năm 1935, bà bị đánh thức bởi tiếng gõ cửa. Bà nói, “Mời vào” và, theo lời Gladys, “ở đó đứng ông Ladd trong chiếc áo khoác gỗ, tay cầm một xô than, và ông nói, ‘Tôi nghĩ bà sẽ thích có chút lửa trong lò để xua bớt cái lạnh khi bà thay đồ.’ Tôi lập tức nhận ra căn phòng nhỏ trông y hệt như tôi đã mơ hơn một năm trước.” Rõ ràng, ông Ladd đã trở thành quản lý nông trại Sun Air vào tháng Giêng năm 1935.

Later that June, Gladys asked in a reading how such an experience was even possible. She was told:

Tháng Sáu năm ấy, Gladys hỏi trong một bài đọc rằng làm sao một trải nghiệm như vậy lại có thể xảy ra. Bà được cho biết:

The law of cause and effect is immutable, by choice in individual experience. Or choice is the factor that alters or changes the effect produced by that which is the builder for every experience of associations of man, in even material experience. Hence as thought and purpose and aim and desire are set in motion by minds, their EFFECT is as a condition that IS... DREAM is but ATTUNING an individual mind to those individual storehouses of experience that has been set in motion. Hence at times there may be the perfect connection, at others there may be the static of interference by inability of coordinating the own thought to the experience or actuality or fact set in motion. Hence those experiences that are visioned are not only as has been given to some, to be interpreters of the unseen, but to others dreams or as dreamer of dreams, to others as prophecy, to others healing, to others exhortation, to this and that and the other; yet all are of the same spirit. Hence this is the manner as may be seen.

Định luật nhân quả là bất biến, do lựa chọn trong kinh nghiệm cá nhân. Mà lựa chọn chính là yếu tố làm biến đổi hay thay đổi hiệu quả do cái vốn là kẻ kiến tạo cho mọi kinh nghiệm về các mối liên hệ của con người, ngay cả trong kinh nghiệm vật chất. Do đó khi tư tưởng, mục đích, chí hướng và ước muốn được các thể trí khởi động, HIỆU QUẢ của chúng là như một điều kiện ĐANG LÀ... GIẤC MƠ chỉ là SỰ CHỈNH HỢP tâm trí cá nhân với những kho tàng kinh nghiệm cá nhân vốn đã được khởi động. Vì thế có lúc có thể có sự nối kết hoàn hảo, lúc khác có thể có nhiễu do không thể phối hợp tư tưởng của chính mình với kinh nghiệm, hay với thực tại, hay với sự kiện đã được khởi động. Vậy nên những kinh nghiệm được thị kiến không chỉ, như đã được nói với một số người, là để làm người thông giải điều vô hình, mà với người khác là những giấc mơ hay là kẻ mộng mơ, với người khác là lời tiên tri, với người khác là sự chữa lành, với người khác là lời khuyên nhủ, với chuyện này chuyện kia; nhưng tất cả đều cùng một linh khí. Và đây là cách thức có thể được thấy.

262-83

262-83

The importance of dreams in revealing insights into the future is repeatedly discussed in the Edgar Cayce material. In fact, from Cayce’s perspective nothing of significance ever happens without it first being foreshadowed in a dream. However, one’s personal will remains an important factor even in the face of a “foreshadowed” future.

Tầm quan trọng của giấc mơ trong việc bộc lộ những minh sát về tương lai được bàn đến lặp đi lặp lại trong tài liệu Edgar Cayce. Thực vậy, theo quan điểm của Cayce, không có điều gì trọng yếu xảy ra mà trước đó lại không được báo trước trong một giấc mơ. Tuy nhiên, ý chí cá nhân vẫn là một yếu tố quan trọng ngay cả khi đối diện với một tương lai “được báo trước.”

An excellent example can be found in Scripture in the story of Joseph and his ability to interpret the dreams of Pharaoh (Genesis 41). By correctly interpreting the pharaoh’s dreams, Joseph predicts Egypt will have seven years of plenty followed by seven years of famine. As a result of the dreams, Pharaoh decides that the country must mobilize and prepare for the shortage of food. In time, all that Joseph foresaw comes to pass. But because of the country’s preparation, the famine is not catastrophic to the people of Egypt. Although the years of drought were probably inevitable, because of weather patterns and the flooding of the Nile, the ways in which the people prepared for and responded to that drought became a matter of free will.

Một ví dụ xuất sắc có thể tìm thấy trong Kinh Thánh qua câu chuyện Giuse và khả năng giải mộng của ông cho Pharaon (Sáng Thế Ký 41). Bằng cách giải đúng giấc mơ của Pharaon, Giuse dự báo Ai Cập sẽ có bảy năm dư dật tiếp theo là bảy năm đói kém. Do giấc mơ, Pharaon quyết định đất nước phải huy động và chuẩn bị cho sự thiếu lương thực. Theo thời gian, mọi điều Giuse thấy trước đều xảy đến. Nhưng nhờ sự chuẩn bị của đất nước, nạn đói không trở thành thảm họa đối với dân Ai Cập. Mặc dù những năm hạn hán có lẽ là không thể tránh khỏi, do các mẫu thời tiết và việc sông Nile tràn bờ, cách người dân chuẩn bị cho và ứng xử với nạn hạn hán ấy trở thành vấn đề của tự do ý chí.

Another possible dream insight into a personal future comes from the story of a man who dreamed of his own death. The dream was not negative, but seemed to focus on an experience that occurred after he had died:

Một minh sát mơ mộng khác có thể về tương lai cá nhân đến từ câu chuyện một người đàn ông mơ thấy cái chết của chính mình. Giấc mơ không hề tiêu cực, mà dường như tập trung vào một trải nghiệm xảy ra sau khi ông đã chết:

I dreamed that I had died and was standing on a cloud with a bunch of other people who were also dead. It wasn’t at all alarming and seemed kind of natural. After a short while, I found myself standing next to an easel (still in the clouds) and painting a picture of a beautiful sailboat. When I was nearly completed, an angel happened to walk by and commented on the beauty of my painting. We got to talking about other things and finally the angel looked me right in the eyes and said, “You know, in order to achieve balance in your next life, you need to incarnate as a woman.” I remember speaking with the angel about it for a moment or two longer, and then that was the end of the dream.

Tôi mơ rằng mình đã chết và đang đứng trên một đám mây với một nhóm người khác cũng đã chết. Điều đó hoàn toàn không đáng sợ và dường như rất tự nhiên. Chẳng bao lâu, tôi thấy mình đứng cạnh một giá vẽ (vẫn trên mây) và đang vẽ bức tranh một chiếc thuyền buồm tuyệt đẹp. Khi gần xong, một thiên thần tình cờ đi ngang và nhận xét về vẻ đẹp bức tranh của tôi. Chúng tôi trò chuyện về những chuyện khác và cuối cùng thiên thần nhìn thẳng vào mắt tôi và nói, “Bạn biết đấy, để đạt được sự quân bình trong kiếp sau của bạn, bạn cần đầu thai làm phụ nữ.” Tôi nhớ mình nói chuyện với thiên thần về điều đó thêm một hai phút nữa, rồi giấc mơ kết thúc.

In addition to the beauty of the dream, what eventually intrigued the man about his experience was what happened years later while undergoing relationship counseling with his spouse. The counselor told him that he was “too masculine” in his opinions, thought processes, and behaviors. He was advised to begin admiring and cultivating those qualities which were regarded as feminine traits: compassion, empathy, and a being who was much more nurturing. Could the man’s dream have foretold an evolving personal future being drawn in place by the Akashic Records?

Ngoài vẻ đẹp của giấc mơ, điều sau cùng làm người đàn ông bị cuốn hút về trải nghiệm là chuyện xảy ra nhiều năm sau, khi ông tham vấn tư vấn hôn nhân với vợ. Vị tư vấn nói ông “quá nam tính” trong các quan điểm, tiến trình tư duy và hành vi. Ông được khuyên hãy bắt đầu ngưỡng mộ và trau dồi những phẩm chất được xem là đặc trưng nữ tính: lòng trắc ẩn, sự đồng cảm, và một cung cách dưỡng nuôi hơn nhiều. Liệu giấc mơ của người đàn ông có báo trước một tương lai cá nhân đang hình thành được Hồ sơ Akasha kéo dần vào vị trí?

The possibility that unfolding futures developing within the records are accessible by one’s subconscious mind is evident in the true story of Morgan Robertson, a struggling nineteenth-century writer. In 1898 Robertson wrote a novel about an enormous ocean liner which he described as follows: “She was the largest craft afloat and the greatest of the works of men.” The ship was larger than anything that had ever been built and had all the amenities of “a first-class hotel... a floating city”:

Khả năng rằng các tương lai đang mở ra và phát triển trong các hồ sơ có thể được tiềm thức con người tiếp cận được thể hiện trong câu chuyện có thật về Morgan Robertson, một nhà văn thế kỷ mười chín đang chật vật. Năm 1898 Robertson viết một tiểu thuyết về một con tàu biển khổng lồ mà ông mô tả như sau: “Nó là con tàu lớn nhất còn nổi và là kiệt tác vĩ đại nhất của con người.” Con tàu lớn hơn bất cứ thứ gì từng được đóng và có mọi tiện nghi của “một khách sạn hạng nhất... một thành phố nổi”:

Two brass bands, two orchestras, and a theatrical company entertained the passengers during the waking hours; a corps of physicians attended to the temporal, and a corps of chaplains to the spiritual, welfare of all on board, while a well-drilled fire company soothed the fears of nervous ones and added to the general entertainment by daily practice with their apparatus.

Hai ban nhạc đồng, hai dàn nhạc và một đoàn kịch giải trí cho hành khách trong giờ thức; một đội bác sĩ chăm lo đời sống vật chất, và một đội tuyên úy chăm lo phúc lợi tinh thần cho mọi người trên tàu, trong khi một đội cứu hỏa được huấn luyện bài bản trấn an nỗi sợ của những người dễ lo và góp phần vào việc giải trí chung bằng các buổi luyện tập hằng ngày với thiết bị của họ.

She was considered “unsinkable—indestructible” and had been fashioned so that “nineteen water-tight compartments could be closed in half a minute... [and even] with nine compartments flooded the ship would still float... ”

Con tàu được xem là “không thể chìm—bất khả hủy” và được chế tạo sao cho “mười chín khoang kín nước có thể được đóng lại trong nửa phút... [và thậm chí] với chín khoang bị ngập, con tàu vẫn nổi... ”

In the novel, the ship was filled with thousands of people who met their death one cold April night when the “unsinkable” vessel struck an iceberg. The name of Robertson’s fictional novel was Futility: The Wreck of the Titan. Fourteen years after the novel’s release, on April 12, 1912, a ship called the Titanic left Southampton, England, on her maiden voyage to New York and sank after striking an iceberg. Both vessels could carry several thousand people, and neither had sufficient lifeboats for its passengers. Both ships were able to travel at speeds of twenty-four to twenty-five knots. The Titan was described as being 800 feet in length with a displacement of 70,000 tons; and the real Titanic measured 882.5 feet and displaced 66,000 tons. Did Morgan Robertson’s subconscious mind provide him with a potential reality from the records which became the subject of his novel? Had the Akashic Records made note of a probable future which was fast coming into existence because of the activities of a British shipping company, the White Star line? The striking similarities between the two crafts suggest that that is exactly what happened.

Trong tiểu thuyết, con tàu chở đầy hàng ngàn người đã gặp tử nạn vào một đêm tháng Tư lạnh giá khi con tàu “không thể chìm” va phải một tảng băng trôi. Tên tiểu thuyết hư cấu của Robertson là Hư Vô: Vụ Đắm Của Con Tàu Titan. Mười bốn năm sau ngày sách ra mắt, vào ngày 12 tháng 4 năm 1912, một con tàu tên Titanic rời Southampton, Anh, trong chuyến hải hành đầu tiên tới New York và bị chìm sau khi đâm vào một tảng băng trôi. Cả hai con tàu đều có thể chở vài ngàn người, và cả hai đều không có đủ xuồng cứu sinh cho hành khách. Cả hai có thể di chuyển với tốc độ hai mươi bốn đến hai mươi lăm hải lý. Con tàu Titan được mô tả dài 800 feet với lượng choán nước 70.000 tấn; còn Titanic thực đo 882,5 feet và choán nước 66.000 tấn. Liệu tiềm thức của Morgan Robertson đã cung cấp cho ông một hiện thực tiềm năng từ các hồ sơ, trở thành đề tài cho tiểu thuyết của ông? Phải chăng Hồ sơ Akasha đã ghi nhận một tương lai có khả năng cao sẽ mau chóng đi vào hiện hữu do các hoạt động của một công ty vận tải biển Anh, White Star Line? Những tương đồng nổi bật giữa hai con tàu gợi ý rằng đó chính xác là điều đã xảy ra.

Although rare, on approximately a dozen occasions while giving a reading, Edgar Cayce would suddenly provide the individual with insights into her or his next life. Because of the dynamic of collective and individual free will, generally such insights were not possible. However, on a number of occasions, the Akashic Records had apparently drawn together enough specific potentials to make accessing portions of the information somehow feasible. For a fifty-one-year-old man ( 5149-1), Cayce began the reading by stating the man’s place of birth and then proceeded to discuss the fact that it was very close to the location he would be born in his next experience—Cayce then named the city.

Dù hiếm, vào khoảng chục lần trong khi cho bài đọc, Edgar Cayce thình lình cung cấp cho cá nhân những minh sát về kiếp sống kế tiếp của họ. Do động lực của tự do ý chí tập thể và cá nhân, nói chung những minh sát như vậy không thể thực hiện. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Hồ sơ Akasha dường như đã gom đủ những tiềm năng cụ thể khiến việc tiếp cận một phần thông tin trở nên khả dĩ theo một cách nào đó. Với một người đàn ông năm mươi mốt tuổi ( 5149-1), Cayce mở đầu bài đọc bằng cách nêu nơi sinh của người đàn ông và sau đó bàn đến thực tế rằng đó rất gần với địa điểm y sẽ được sinh ra trong kinh nghiệm kế tiếp của mình—Cayce rồi nêu tên thành phố.

In the reading given to a forty-one-year-old physician, in addition to discussing the soul’s strengths, innate urges, and past lives, Cayce commended the woman for her quest for knowledge which she had undertaken primarily “for the greater ability in helping, aiding others.” The reading discussed the fact that her soul would likely experience a great development in the present which would enable her “in the next experience [to] bring for the entity a period of manifestation when few will surpass the entity either in the mental, the material or the spiritual life that will be experienced” (872-1).

Trong bài đọc dành cho một nữ bác sĩ bốn mươi mốt tuổi, bên cạnh việc thảo luận về những điểm mạnh của linh hồn, các thôi thúc bẩm sinh và các tiền kiếp, Cayce khen ngợi người phụ nữ vì sự truy cầu tri thức mà bà đã thực hiện chủ yếu “để có khả năng lớn hơn trong việc giúp đỡ, hỗ trợ người khác.” Bài đọc bàn rằng linh hồn của bà có khả năng trải nghiệm một phát triển lớn trong hiện tại, điều sẽ cho phép bà “trong kinh nghiệm kế tiếp [sẽ] đem lại cho thực thể một giai đoạn biểu lộ khi ít ai có thể vượt trội thực thể này cả về đời sống trí tuệ, vật chất hay tinh thần” (872-1).

In 1934, a sixty-eight-year-old Ph.D. and housewife was told that each soul incarnated in each experience as an opportunity for achieving a more consistent alignment with the Creative Forces. To be sure, sometimes a soul went backward in its development because of losses in a particular experience, but the goal was ever advancement. She was told to keep in mind that anything done for the aggrandizement of self would “come to naught” and that anything done for the glorification of the Creator would “come to fruition.” The long-term goal was “that the soul, for its own development, may become one with the universal forces or Creative Energies, or God” (708-1).

Năm 1934, một phụ nữ sáu mươi tám tuổi có học vị Ph.D. và là nội trợ được cho biết rằng mỗi linh hồn nhập thể trong mỗi kinh nghiệm như một cơ hội để đạt tới một sự chỉnh hợp nhất quán hơn với Các Mãnh Lực Sáng Tạo. Chắc chắn, đôi khi linh hồn thụt lùi trong phát triển của mình do những mất mát trong một kinh nghiệm cụ thể, nhưng mục tiêu bao giờ cũng là tiến bộ. Bà được nhắc ghi nhớ rằng bất cứ điều gì làm vì phóng đại bản ngã sẽ “chẳng đến đâu” và bất cứ điều gì làm vì tôn vinh Đấng Tạo Hóa sẽ “đơm hoa kết trái.” Mục tiêu dài hạn là “để linh hồn, vì sự phát triển của chính nó, có thể trở nên một với các lực phổ quát hay Năng lượng Sáng Tạo, hay Thượng đế” (708-1).

Because of Cayce’s frequent emphasis on the Creator, the Creative Forces, or God, it may be instructive to point out that the readings never focused on the importance of one’s religion. From the readings’ perspective, any religion which taught the parenthood of the Creator and the brother/sisterhood of all humanity could be helpful in soul growth. In Cayce’s cosmology no one is automatically destined for “heaven,” and no one is ever relegated to “hell.” Ultimately, all souls will receive the same reward: an awareness of their individuality and their oneness with God.

Vì Cayce thường xuyên nhấn mạnh đến Đấng Tạo Hóa, Các Mãnh Lực Sáng Tạo hay Thượng đế, có lẽ hữu ích khi chỉ ra rằng các bài đọc không bao giờ tập trung vào tầm quan trọng của tôn giáo của một người. Theo quan điểm các bài đọc, bất kỳ tôn giáo nào dạy về tình cha mẹ của Đấng Tạo Hóa và tình huynh muội của toàn nhân loại đều có thể hữu ích cho sự tăng trưởng của linh hồn. Trong vũ trụ luận của Cayce, không ai tự động được định đoạt cho “thiên đàng,” và không ai bao giờ bị đày xuống “địa ngục.” Sau cùng, mọi linh hồn sẽ nhận được cùng một phần thưởng: một nhận biết về cá tính của họ và về sự hợp nhất của họ với Thượng đế.

Because of the dynamics of reincarnation, in all likelihood we have all been Christian, we have all been Muslim, we have all been Jewish, we have all been Hindu, Buddhist, atheist, and agnostic. As a means of discovering our connectedness with one another, the readings recommend a comparative study which will lead to the realization that there is but one God and we are each His children:

Do động lực của luân hồi, rất có thể tất cả chúng ta đều đã từng là Kitô hữu, đều đã từng là người Hồi giáo, đều đã từng là người Do Thái, đều đã từng là người Ấn giáo, Phật tử, người vô thần và người bất khả tri. Như một phương cách khám phá sự nối kết của chúng ta với nhau, các bài đọc đề nghị một sự học hỏi so sánh sẽ dẫn đến nhận thức rằng chỉ có một Thượng đế và mỗi chúng ta đều là con cái của Ngài:

... COORDINATE the teachings, the philosophies of the east and the west, the oriental and the occidental, the new truths and the old... Correlate not the differences, but where all religions meet— THERE IS ONE GOD! “Know, O Israel, the Lord thy God is ONE!”

... HÃY PHỐI HỢP các giáo huấn, các triết lý của phương Đông và phương Tây, Đông phương và Tây phương, những chân lý mới và những chân lý xưa... Đừng tương quan hóa những dị biệt, mà hãy xem nơi mọi tôn giáo gặp nhau— Ở ĐÓ CHỈ CÓ MỘT THƯỢNG ĐẾ! “Hỡi Israel, hãy biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi là Đấng DUY NHẤT!”

991-1

991-1

For Cayce, the importance of life was not a matter of one’s religion; rather, it was a matter of whether or not an individual could grow in his or her awareness of the living spirit. Heaven was not so much a place as it was a state of being which all souls would eventually manifest. As one individual was told, “For you grow to heaven, you don’t go to heaven. It is within thine own consciousness that ye grow there” ( 3409-1).

Với Cayce, tầm quan trọng của đời sống không nằm ở tôn giáo của một người; đúng hơn, đó là việc liệu cá nhân có thể tăng trưởng trong nhận biết về linh khí sống động hay không. Thiên đàng không hẳn là một nơi chốn mà là một trạng thái hiện hữu mà mọi linh hồn sẽ rốt cuộc biểu lộ. Như một cá nhân được cho biết, “Vì bạn lớn lên với thiên đàng, chứ không phải đi đến thiên đàng. Chính trong tâm thức của chính ngươi mà ngươi lớn lên tới đó” ( 3409-1).

Throughout the Depression and World War II, Edgar Cayce gave a number of readings which dealt with international relations and activities occurring within various countries and the response individuals might make in their own lives in the face of great hardship and a world at war. Most of these “World Affairs” readings focused on the events of the day, but some gave precognitive insights into humanity’s collective future.

Trong suốt thời kỳ Đại Khủng Hoảng và Thế chiến II, Edgar Cayce đã cho một số bài đọc đề cập đến quan hệ quốc tế và các hoạt động diễn ra trong nhiều quốc gia, cùng với phản ứng mà cá nhân có thể thực hiện trong đời mình khi đối diện với gian khó lớn lao và một thế giới đang chiến tranh. Phần lớn các bài đọc “Tình hình Thế giới” này tập trung vào các sự kiện đương thời, nhưng một số đã đưa những minh sát tiên tri về tương lai tập thể của nhân loại.

Cayce foresaw a promising Aquarian Age which he described as “the Age of the Lily.” The readings depict this collective future as an age of purity when individuals, at long last, will come to understand their true relationship to the Creator. It will be a time in the history of the world when each individual realizes her or his responsibility toward all others. Regardless of the standing of any particular nation, there will “be the greater consideration of each individual, each soul being his brother’s keeper” ( 3976-18). That consideration will lead to what Cayce called a “leveling” in which humanity will understand that all are equal, and that “each man will live for his fellow man!” ( 3976-29).

Cayce đã thấy trước một Kỷ nguyên Bảo Bình đầy hứa hẹn mà ông mô tả là “Kỷ nguyên của Hoa Huệ.” Các bài đọc phác họa tương lai tập thể này như một thời đại thanh khiết khi con người, sau cùng, sẽ thấu hiểu mối quan hệ chân thật của mình với Đấng Tạo Hóa. Đó sẽ là một thời trong lịch sử thế giới khi mỗi cá nhân nhận ra trách nhiệm của mình đối với tất cả những người khác. Bất kể địa vị của một quốc gia nào, sẽ “có sự quan tâm lớn hơn đến từng cá nhân, mỗi linh hồn là người gìn giữ anh em mình” ( 3976-1 8). Sự quan tâm ấy sẽ dẫn đến điều Cayce gọi là một sự “san bằng,” trong đó nhân loại sẽ hiểu rằng mọi người đều bình đẳng, và rằng “mỗi người sẽ sống vì đồng loại của mình!” ( 3976-2 9).

The difference between the future that Cayce could see unfolding in the Akashic Records and the present condition of the world had to do with humanity’s search for power rather than the soul’s desire to evolve. In our sojourn through space and time we apparently have forgotten our spiritual essence, we have forgotten our true relationship with God:

Sự khác biệt giữa tương lai mà Cayce có thể thấy đang mở ra trong Hồ sơ Akasha và tình trạng hiện tại của thế giới liên quan tới việc nhân loại truy cầu quyền lực thay vì khát vọng tiến hóa của linh hồn. Trong cuộc du hành qua không gian và thời gian, có vẻ chúng ta đã quên bản thể tinh thần của mình, chúng ta quên mối quan hệ chân thật của mình với Thượng đế:

Man’s answer to everything has been POWER— Power of money, Power of position, Power of wealth, Power of this, that or the other. This has NEVER been GOD’S way, will never be God’s way. Rather little by little, line upon line, here a little, there a little, each thinking rather of the other...

Câu trả lời của con người cho mọi thứ đã là QUYỀN LỰC— Quyền lực của tiền bạc, Quyền lực của địa vị, Quyền lực của sự giàu có, Quyền lực của thứ này, thứ kia hay thứ khác. Đó CHƯA BAO GIỜ là đường lối của THƯỢNG ĐẾ, sẽ không bao giờ là đường lối của Thượng đế. Đúng hơn, từng chút một, dòng nối dòng, chỗ này một ít, chỗ kia một ít, mỗi người nghĩ đến người khác nhiều hơn...

3976-8

3976-8

As to how to bring about this inevitable transformation? In 1939 Cayce provided the prescription:

Vậy làm sao đem lại cuộc chuyển hóa tất yếu này? Năm 1939 Cayce đưa toa thuốc:

Then, there needs be that not so much be set as to this ritual, or this form, or the other, for any given peoples or any nation, but rather that the individuals in each nation, EVERYWHERE, are to turn again TO the God of the fathers and not in self-indulgence, self-aggrandizement, but more and more of self-effacement.

Vậy, không cần phải ấn định quá nhiều về nghi lễ này, hay hình thức kia, hay điều khác, cho bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào, mà đúng hơn là từng cá nhân trong mỗi quốc gia, Ở KHẮP MỌI NƠI, phải quay trở lại với Thượng đế của các tổ phụ và không buông thả bản thân, không tự phóng đại, mà ngày càng tự xóa mình đi.

For as the people of each nation pray, AND then live that prayer, so must the Spirit work.

Vì khi dân mỗi nước cầu nguyện, RỒI sống theo lời cầu nguyện ấy, thì Linh Khí ắt phải hành động.

Then—each of you here—GIVE GOD A CHANCE to show what great blessings He will give to those who love Him. This does not mean that ye, or ANYONE, would condone persecutions anywhere or in any form. For, know ye, His laws fail not—“As ye sow, so shall ye reap.”

Vậy thì—mỗi người trong các bạn ở đây—HÃY CHO THƯỢNG ĐẾ CƠ HỘI để Ngài cho thấy những phước lành lớn lao Ngài sẽ ban cho những ai yêu mến Ngài. Điều này không có nghĩa là các bạn, hay BẤT CỨ AI, sẽ dung túng sự bức hại ở đâu hay dưới hình thức nào. Vì, hãy biết, các định luật của Ngài không hề sai—“Gieo gì, gặt nấy.”

Man can only begin, then, within himself. 3976-23

Con người chỉ có thể bắt đầu, vậy thì, từ chính bên trong mình. 3976-2 3

Inevitably when an individual looks at the world situation, it is all too easy to feel helpless in regard to whether or not he or she can have the smallest effect upon the future of the planet. In the face of such insurmountable difficulties, what can one person possibly do? And yet, the Cayce readings make it extremely clear that wherever individuals find themselves, they have a work to be done. It is a work which is defined by their previous experiences and skills. It is a work which is no more (and no less) important than any other work. And finally, it is a work that the Creator wishes to have accomplished in an effort to bring about the eventual transformation of every single soul in the earth. As Cayce told one man:

Tất yếu khi cá nhân nhìn vào tình hình thế giới, thật quá dễ cảm thấy bất lực về việc liệu mình có thể tạo được dù chỉ là tác động nhỏ nhất lên tương lai của hành tinh hay không. Trước những khó khăn tưởng như không thể vượt qua, một người duy nhất có thể làm gì? Thế nhưng, các bài đọc của Cayce khẳng định một cách hết sức rõ ràng rằng ở bất cứ nơi đâu cá nhân thấy mình hiện diện, họ đều có một công việc phải làm. Đó là một công việc được định nghĩa bởi những kinh nghiệm và kỹ năng trước đây của họ. Đó là một công việc không hơn (và không kém) quan trọng so với bất kỳ công việc nào khác. Và sau cùng, đó là một công việc mà Đấng Tạo Hóa mong muốn được hoàn tất, nhằm nỗ lực mang lại sự chuyển hóa rốt ráo của từng linh hồn trong cõi trần. Như Cayce nói với một người đàn ông:

... in whatever place or position an individual may be—whether in a place of authority, a place of confidence, a place of security or of whatever nature the activity may be—no individual is in such a position but that he has merited same for the opportunities of manifesting IN SUCH POSITION the glory of the Father through his activities with his fellowmen!

... ở bất cứ nơi chốn hay địa vị nào mà một cá nhân có thể ở—dù ở một địa vị có thẩm quyền, một vị trí được tín nhiệm, một chỗ an toàn, hay bất kể bản chất hoạt động là gì—không ai ở vào một địa vị như vậy mà không xứng với nó cho những cơ hội biểu lộ TRONG ĐỊA VỊ ẤY vinh quang của Cha qua những hoạt động của người ấy với đồng loại mình!

1650-1

1650-1

In May 1943, a sixty-one-year-old widow was told that, as far as the records were concerned, she still possessed a future as a writer and would find a channel for her capabilities in Washington, D.C. Initially, she could find work as “a critic, as a reviewer.” She was encouraged to move forward with the talent she felt innately. She was told she would eventually be able to share with others the spiritual truths she had found within herself. There was still much that her life could be about.

Vào tháng Năm năm 1943, một góa phụ sáu mươi mốt tuổi được cho biết rằng, xét theo các hồ sơ, bà vẫn còn một tương lai như một nhà văn và sẽ tìm được một kênh cho năng lực của mình ở Washington, D.C. Ban đầu, bà có thể tìm việc như “một nhà phê bình, một người viết điểm sách.” Bà được khích lệ tiến bước với tài năng bà cảm thấy một cách bẩm sinh. Bà được cho biết rằng sau cùng bà sẽ có thể chia sẻ với người khác những chân lý tinh thần mà bà đã tìm thấy trong chính mình. Đời bà vẫn còn nhiều điều để hướng đến.

In looking for further guidance, the woman asked, “How can I discipline myself at my age to do what is mine to do?” Cayce responded, “Repeat three times every day, and then listen: ‘LORD, WHAT WOULD THOU HAVE ME DO TODAY?’ Have this not as rote. Mean it!” During the course of her reading, she was also reminded that each soul had a particular mission to perform, and she was encouraged to ask herself whether or not she was working on that mission full time or just now and then. Regardless of her age, life was a continuous experience. The reading told her:

Khi tìm kiếm hướng dẫn thêm, người phụ nữ hỏi, “Làm sao tôi có thể tự rèn mình ở tuổi này để làm điều thuộc về tôi phải làm?” Cayce đáp, “Lặp lại ba lần mỗi ngày, rồi lắng nghe: ‘LẠY CHÚA, HÔM NAY NGÀI MUỐN CON LÀM GÌ?’ Đừng biến điều này thành máy móc. Hãy thật sự muốn như vậy!” Trong suốt bài đọc, bà cũng được nhắc rằng mỗi linh hồn có một sứ mệnh đặc biệt để thi hành, và bà được khuyến khích tự hỏi liệu bà đang làm trọn thời giờ cho sứ mệnh ấy hay chỉ làm khi có hứng. Bất kể tuổi tác, đời sống là một kinh nghiệm liên tục. Bài đọc nói với bà:

As has been experienced in the mental self, there is as much reason to dwell upon the thought from whence the soul came, as it is upon whence the soul goeth. For, if the soul is eternal, it always has been—if it is always to be. And that is the basis, or the thought of Creative Force, or God. He ever was, He ever will be. And individuals, as His children, are a part of that consciousness...

Như đã được trải nghiệm trong tự ngã trí, có bao nhiêu lý do để chiêm nghiệm về nơi linh hồn phát xuất, thì cũng bấy nhiêu để chiêm nghiệm về nơi linh hồn sẽ đi. Vì, nếu linh hồn là vĩnh cửu, nó luôn luôn đã hiện hữu—nếu nó sẽ luôn luôn còn mãi. Và đó là nền tảng, là tư tưởng của Lực Sáng Tạo, hay Thượng đế. Ngài hằng có, Ngài hằng sẽ còn. Và cá nhân, như con cái của Ngài, là một phần của tâm thức đó...

Thus the purpose of manifestation in the material plane; that we may apply here a little, there a little, line upon line, precept upon precept, that we may become like Him.

Vậy nên mục đích của sự biểu lộ trong cõi vật chất là: để chúng ta có thể áp dụng chỗ này một ít, chỗ kia một ít, dòng nối dòng, giềng mối nối giềng mối, hầu chúng ta có thể trở nên giống Ngài.

3003-1

3003-1

The suggestion that the soul’s destiny is to become like its Creator is not at all surprising if we are, in fact, His children. The purpose of a lifetime of experiences is primarily to lead individuals to the growing awareness that without their spiritual essence, they would cease to exist. The physical world is essentially a classroom that enables the soul to experience the dynamics of freedom of choice in relationship to cause and effect. From Cayce’s perspective, we are not physical bodies with souls, but are souls who happen to be having a learning experience in the earth. The success of our collective education is inevitable. The Akashic Records have so integrally connected themselves with our lives that ultimately we cannot fail. However, the readings believe that this growth in our awareness will only be possible as we reach out to one another and allow the Creator to work through us. The focus is always upon others. The focus is never upon self.

Gợi ý rằng định mệnh của linh hồn là trở nên giống Đấng Tạo Hóa của mình không hề đáng ngạc nhiên nếu quả thật chúng ta là con cái của Ngài. Mục đích của một đời những kinh nghiệm cốt yếu là dẫn dắt cá nhân đến nhận biết ngày càng tăng rằng nếu không có bản thể tinh thần của mình, họ sẽ không còn tồn tại. Thế giới vật chất chủ yếu là một lớp học cho phép linh hồn trải nghiệm động học của tự do chọn lựa trong mối quan hệ giữa nhân và quả. Theo quan điểm của Cayce, chúng ta không phải là những thân thể vật chất có linh hồn, mà là những linh hồn tình cờ đang có một kinh nghiệm học hỏi nơi cõi trần. Sự thành công của nền giáo dục tập thể của chúng ta là tất yếu. Hồ sơ Akasha đã kết nối vào đời sống chúng ta một cách nội tại đến mức sau cùng chúng ta không thể thất bại. Tuy nhiên, các bài đọc tin rằng sự tăng trưởng trong nhận biết của chúng ta chỉ có thể có khi chúng ta vươn đến nhau và cho phép Đấng Tạo Hóa hành động qua chúng ta. Trọng tâm luôn hướng về người khác. Trọng tâm không bao giờ hướng về tự ngã.

Then, as there has been and is the passage of a soul through time and space, through this and that experience, it has been and is for the purpose of giving more and more opportunities to express that which justifies man in his relationships one with another; in mercy, love, patience, long-suffering, brotherly love.

Vậy thì, khi linh hồn đã và đang đi qua thời gian và không gian, qua kinh nghiệm này và kinh nghiệm kia, điều đó đã và đang là nhằm mục đích ban cho ngày càng nhiều cơ hội để biểu lộ cái biện minh cho con người trong những mối quan hệ với nhau; trong lòng thương xót, tình yêu, nhẫn nại, chịu đựng bền bỉ, tình huynh đệ.

938-1

938-1

Life is an ongoing adventure of purposeful experiences and relationships, enabling individuals to find their true selves. Deep within each soul there is an impelling force guiding that individual to discover who am I? In essence, we are all seekers, seeking our true identity and our relationship to the Whole. All too often, we have sought meaning to our lives through all manner of escape, acquisition, addiction, and confusion. And yet, the time will come in the history of the world when individuals everywhere finally realize that—throughout our sojourns through space and time—we have simply been seeking our connection to spirit, our connection to the Creative Forces, our connection to God.

Đời sống là một cuộc phiêu lưu tiếp diễn của những kinh nghiệm và mối quan hệ đầy mục đích, cho phép cá nhân tìm ra chân ngã của mình. Sâu thẳm trong mỗi linh hồn có một sức thúc đẩy dẫn dắt cá nhân khám phá tôi là ai? Về bản chất, tất cả chúng ta đều là những người tìm kiếm, tìm kiếm căn tính chân thật và mối liên hệ của mình với Toàn Thể. Quá thường xuyên, chúng ta tìm kiếm ý nghĩa đời mình qua đủ mọi dạng né tránh, tích lũy, nghiện ngập và rối bời. Thế nhưng, sẽ đến lúc trong lịch sử thế giới khi con người khắp nơi cuối cùng nhận ra rằng—xuyên suốt những cuộc hành trình của chúng ta qua không gian và thời gian—chúng ta đơn giản vẫn đang tìm kiếm sự kết nối của mình với linh khí, sự nối kết của mình với Các Mãnh Lực Sáng Tạo, sự nối kết của mình với Thượng đế.

What does the future have in store for us? Each of our futures contains those very relationships we have found challenging, the unfinished business we have continued to put off until tomorrow, and the same difficulties we have repeatedly overlooked or refused to deal with. At the same time, our future will include the almost unfathomable realization of our deep connection to God. Even now, the Akashic Records are continually molding and shaping our enfolding tomorrows so that these things come to pass. With complete objectivity and flawless precision, the universe’s supercomputer system is in the process of downloading those very circumstances and events which will perfectly enable all individuals to arrive at their destiny. It’s simply a matter of our free will how long it will take us to get there.

Tương lai chứa đựng điều gì cho chúng ta? Mỗi tương lai của chúng ta chứa đựng chính những mối quan hệ mà chúng ta thấy là thách thức, những việc chưa hoàn tất mà chúng ta tiếp tục hoãn đến ngày mai, và những khó khăn mà chúng ta đã nhiều lần lướt qua hoặc từ chối đối diện. Đồng thời, tương lai của chúng ta sẽ bao gồm nhận thức gần như không dò thấu về sự nối kết sâu xa của chúng ta với Thượng đế. Ngay bây giờ, Hồ sơ Akasha đang liên tục nắn hình và uốn gọt những ngày mai mở ra của chúng ta để những điều đó thành tựu. Với sự khách quan trọn vẹn và chính xác không tì vết, hệ thống siêu máy tính của vũ trụ đang tiến hành “tải xuống” chính những hoàn cảnh và sự kiện sẽ hoàn hảo giúp mọi người đạt tới định mệnh của mình. Chỉ còn là vấn đề của tự do ý chí chúng ta sẽ mất bao lâu để tới đó.

Personal Future Reverie

Miên tưởng về Tương lai Cá nhân

Note: A reverie is best done with another person (reading the reverie like a script), or with oneself first narrating the reverie on a tape and then playing it back in order to experience the exercise. Although any future time period might be chosen, this reverie will let your imagination examine your life seven years from now. Reveries are generally narrated at about one-third the normal rate of speech.

Ghi chú: Một bài miên tưởng tốt nhất được thực hiện với một người khác (đọc bài miên tưởng như một kịch bản), hoặc với chính mình đọc bài miên tưởng vào băng trước rồi phát lại để trải nghiệm bài tập. Dù có thể chọn bất kỳ khoảng thời gian tương lai nào, bài miên tưởng này sẽ để trí tưởng tượng của bạn khảo sát đời bạn bảy năm kể từ bây giờ. Các bài miên tưởng thường được đọc chậm khoảng một phần ba tốc độ nói bình thường.

NARRATION:

LỜI DẪN:

Get comfortable in your chair (or on a couch) and close your eyes. Take a deep breath, and relax... Take another deep breath—breathing in relaxation and calm. Exhale slowly and completely... Breathe in deep once again and tell yourself to relax. Continue breathing slowly and completely, all the while listening to the sound of my voice... This is an experience you want... You are completely safe... The whole time you will be in complete control... Breathe deeply and relax...

Hãy ngồi thoải mái trên ghế (hoặc trên ghế dài) và nhắm mắt lại. Hít một hơi thật sâu, và thư giãn... Hít một hơi sâu nữa—hít vào sự thư giãn và bình an. Thở ra thật chậm và trọn vẹn... Lại hít sâu một lần nữa và bảo bản thân hãy thư giãn. Tiếp tục thở chậm và trọn vẹn, đồng thời lắng nghe âm thanh giọng nói của tôi... Đây là một trải nghiệm bạn mong muốn... Bạn hoàn toàn an toàn... Suốt thời gian bạn sẽ hoàn toàn làm chủ... Hít sâu và thư giãn...

Now, I want you to imagine a scene seven years in the future. This is a scene of your life that you’ve helped to create. For seven years now, you’ve focused on discovering your true mission in life... You’ve worked on improving and deepening your relationships with all the individuals around you... You’ve worked on discovering a closer relationship to the Creator... In seven years, your life has undergone some profound and positive changes— and now you’re going to see the results. You are going to see only those things which are positive and helpful...

Giờ, tôi muốn bạn hình dung một cảnh tượng bảy năm trong tương lai. Đây là một cảnh về đời sống của bạn mà bạn đã góp phần tạo dựng. Trong bảy năm qua, bạn đã tập trung vào việc khám phá sứ mệnh chân thật của mình trong đời... Bạn đã nỗ lực cải thiện và làm sâu sắc các mối quan hệ với tất cả những người xung quanh... Bạn đã nỗ lực khám phá mối quan hệ gần gũi hơn với Đấng Tạo Hóa... Trong bảy năm, đời bạn đã trải qua một số thay đổi sâu xa và tích cực—và bây giờ bạn sẽ nhìn thấy kết quả. Bạn sẽ chỉ nhìn thấy những điều tích cực và hữu ích...

Imagine it is seven years from now. It is Monday morning 10:00 a.m. You are seeing the picture of a life you’ve helped to create... Where are you...? What are you doing...? Who are you with...? Take it all in... [pause for 10 seconds]

Hãy tưởng tượng bảy năm đã trôi qua. Hôm nay là sáng thứ Hai, 10:00 sáng. Bạn đang nhìn bức tranh về một đời sống mà bạn đã góp phần tạo dựng... Bạn đang ở đâu...? Bạn đang làm gì...? Bạn đang ở với ai...? Hãy đón nhận tất cả... [tạm dừng 10 giây]

It’s Monday morning, how do you spend the course of each weekday...? Even in the midst of your busy life, how do you stay in touch with your spiritual connection...?

Là sáng thứ Hai, bạn dành thời gian mỗi ngày trong tuần như thế nào...? Ngay giữa một đời sống bận rộn, bạn giữ mối nối kết tinh thần của mình như thế nào...?

It’s a Monday, seven years from now... This is the future that you long wished for. This is the tomorrow that you helped to create. How do you feel about this place and your life...? [pause] What is your underlying attitude about your life and the people in it? At home...? At work...? In your community...? [pause] What happened to change that challenging relationship you had seven years ago...? What mental pursuits have you become involved with...? Learning, reading, absorbing into your inner being...? What kinds of books, TV, movies, computer games, or cyberspace adventures do you enjoy being a part of? Look at everything you can see... [pause for 10 seconds]

Hôm nay là thứ Hai, bảy năm sau... Đây là tương lai mà bạn hằng mong ước. Đây là ngày mai mà bạn đã góp phần tạo dựng. Bạn cảm thấy thế nào về nơi chốn này và về đời mình...? [tạm dừng] Thái độ nền tảng của bạn về đời sống và những người trong đó là gì? Ở nhà...? Ở nơi làm việc...? Trong cộng đồng của bạn...? [tạm dừng] Điều gì đã xảy ra để thay đổi mối quan hệ đầy thách thức mà bạn có bảy năm trước...? Những theo đuổi trí tuệ nào bạn đã dấn thân...? Học hỏi, đọc, thẩm thấu vào nội thể của bạn...? Bạn thích tham gia những loại sách, TV, phim ảnh, trò chơi máy tính, hay những cuộc phiêu lưu không gian mạng nào? Hãy nhìn mọi thứ bạn có thể thấy... [tạm dừng 10 giây]

In your imagination, it’s seven years from now. From that time and place, think about a word, or a series of words, or a phrase that describes what spiritual qualities have become most manifested in your life... [pause] How do other people now describe you (such as your family, your spouse, your parents, your children, your neighbors, your co-workers)...?

Trong trí tưởng tượng của bạn, ấy là bảy năm kể từ bây giờ. Từ thời điểm và nơi chốn ấy, hãy nghĩ về một từ, hay một chuỗi từ, hay một cụm từ mô tả những phẩm chất tinh thần đã được biểu lộ rõ nhất trong đời bạn... [tạm dừng] Giờ đây người khác mô tả bạn ra sao (chẳng hạn gia đình, người bạn đời, cha mẹ, con cái, hàng xóm, đồng nghiệp)...?

What makes this new world of the future and your life in it so special...? How is it that you came to discover your mission in life...? How does it feel to be so satisfied by what you are doing...? Are people around you being helped by what you do...?

Điều gì khiến thế giới mới của tương lai và đời bạn trong đó trở nên đặc biệt...? Bằng cách nào bạn đã khám phá sứ mệnh đời mình...? Cảm giác thế nào khi được thỏa mãn sâu xa bởi điều bạn đang làm...? Những người quanh bạn có đang được giúp đỡ bởi điều bạn làm không...?

Are there special people in your life...? Can you see other individuals around you...? Have you found a better way of dealing with things that are challenging, or stressful...? In a word, or a series of words, can you sum up your life seven years in the future and how you feel about it...? [pause for 10 seconds]

Có những người đặc biệt nào trong đời bạn không...? Bạn có thấy những cá nhân khác xung quanh mình...? Bạn đã tìm thấy một cách tốt hơn để xử lý những điều đầy thách thức, hay căng thẳng chưa...? Bằng một từ, hay một chuỗi từ, bạn có thể tóm lược đời bạn bảy năm trong tương lai và cảm xúc của bạn về nó không...? [tạm dừng 10 giây]

If you can, in your imagination see if you can speak with the “you” seven years from now... Is there anything you would like to ask yourself...? Are there questions you have about your future, or do you wish to ask your future self for insights into your present life...? Ask whatever you desire, and then listen... [pause for 20 seconds]

Nếu có thể, trong tưởng tượng, hãy xem bạn có thể nói chuyện với “bạn” bảy năm sau không... Có điều gì bạn muốn hỏi chính mình không...? Bạn có những câu hỏi về tương lai không, hay bạn muốn xin “bạn của tương lai” cho những minh sát về đời sống hiện tại của bạn không...? Hãy hỏi điều gì bạn mong muốn, rồi lắng nghe... [tạm dừng 20 giây]

Now, gather everything that you’ve seen together... And when you’ve collected these images of what your life will be like in the future, I want you to think back to the present... Imagine it is today, the same day you began this experience... See yourself in this time and this place, sitting in your room (or on your couch)... It’s the present, and you’re firmly grounded in this present time, in this present place, right now...

Giờ, hãy gom tất cả những gì bạn đã thấy... Và khi bạn đã thu góp những hình ảnh về đời bạn sẽ như thế nào trong tương lai, tôi muốn bạn nghĩ trở lại hiện tại... Hãy tưởng tượng là hôm nay, đúng ngày bạn bắt đầu trải nghiệm này... Thấy mình trong thời điểm và nơi chốn này, đang ngồi trong phòng của bạn (hoặc trên ghế dài)... Ấy là hiện tại, và bạn đang neo vững trong thời gian hiện tại này, trong nơi chốn hiện tại này, ngay bây giờ...

Take a deep breath, exhale, and when you are fully centered in the present, you can open your eyes.Please note:You may wish to record your experience somewhere while it is still fresh in your mind.

Hít một hơi thật sâu, thở ra, và khi bạn hoàn toàn quy tâm vào hiện tại, bạn có thể mở mắt. Xin lưu ý: Bạn có thể muốn ghi lại trải nghiệm của mình ở đâu đó khi nó vẫn còn tươi mới trong tâm trí.

Conclusion—Kết luận

For more than forty years of his adult life, Edgar Cayce was able to put himself into some kind of trance state and provide individuals with accurate information, called readings, in response to virtually any question. In this state he was able to perceive a source of information which he called the Akashic Records, or “God’s Book of Remembrance.” As he gave a reading, Cayce described the procedure as one in which he became a portion of the records themselves. It was while being connected to these records that all manner of information became available to him. Also called the Book of Life, this source was the compilation of every thought, word, and deed that had occurred in space and time since the dawn of creation. And it enabled Cayce to just as easily provide answers into the nature of the universe as he could give insights into an individual’s mission in life or a longstanding problem.

Suốt hơn bốn mươi năm đời trưởng thành của mình, Edgar Cayce có thể đưa bản thân vào một trạng thái xuất thần nào đó và cung cấp cho mọi người những thông tin chính xác, gọi là các bài đọc, để đáp ứng hầu như bất kỳ câu hỏi nào. Trong trạng thái ấy, ông có thể tri nhận một nguồn thông tin mà ông gọi là Hồ sơ Akasha, hay “Sổ Ký Ức của Thượng đế.” Khi đang cho bài đọc, Cayce mô tả tiến trình như một tiến trình trong đó ông trở thành một phần của chính các hồ sơ. Chính trong lúc được nối kết với các hồ sơ này, mọi dạng thông tin trở nên sẵn có cho ông. Cũng được gọi là Sách Sự Sống, nguồn này là bản tổng hợp của mọi tư tưởng, lời nói và hành động đã xảy ra trong không gian và thời gian kể từ buổi bình minh của công cuộc sáng thế. Và nó cho phép Cayce dễ dàng cung cấp các câu trả lời về bản tính của vũ trụ cũng như những minh sát về sứ mệnh đời người hay một vấn đề kéo dài.

Rather than being simply a place, the readings emphasized that these records were everywhere. From Cayce’s perspective, individuals could literally see the “shadows” of the records in how they spoke, how they thought, and how they interacted with all others. Everything from an individual’s qualities and imperfections to past lives and present conditions were somehow accessible. These same records were accessible by the subconscious mind, through dreams, through reveries, and through intuitive and esoteric exercises. The records contained an everevolving blueprint of the soul’s individuality that repeatedly manifested in every aspect of a person’s life. Not only do the Akashic Records store, track, and compile everything about every person in the history of the world, but they continually attempt to guide, educate, and transform everyone to eventually become the very best that they can be.

Không chỉ đơn giản là một nơi chốn, các bài đọc nhấn mạnh rằng những hồ sơ này ở khắp mọi nơi. Theo quan điểm của Cayce, con người có thể thực sự thấy “cái bóng” của các hồ sơ trong cách họ nói, cách họ nghĩ và cách họ tương tác với mọi người khác. Từ các phẩm tính và bất toàn của cá nhân đến tiền kiếp và hiện trạng đều có thể truy cập theo cách nào đó. Cùng những hồ sơ ấy có thể được tiềm thức tiếp cận, qua giấc mơ, qua miên tưởng, và qua những bài tập trực giác và huyền môn. Các hồ sơ chứa đựng một bản thiết kế luôn-tiến-hóa của cá tính linh hồn, liên tục biểu lộ trong mọi phương diện đời sống của một người. Hồ sơ Akasha không chỉ lưu trữ, theo dõi và tổng hợp mọi điều về mọi người trong lịch sử thế giới, mà chúng còn liên tục cố gắng hướng dẫn, giáo dục và chuyển hóa mọi người để rốt cuộc trở thành điều tốt nhất mà họ có thể trở thành.

In 1934 Cayce gave a lecture in which he emphasized the reality of the Akashic Records. He told his audience, “Don’t ever think that your life isn’t being written in the Book of Life! I found it! I have seen it! It is being written; YOU are the writer!” That same year one of the readings discussed the fact that these records are inscribed on some kind of “etheric energy,” similar in nature to the energy of thought. Because these records are literally impressed upon energy, Cayce stated that it would eventually be possible to create a machine that could analyze this energy and subsequently “read” what the records contain (443-5). Although the readings suggested that such a machine would eventually be a reality, even now there are ways in which individuals can get in touch with the records of their soul’s history.

Năm 1934 Cayce đã có một bài diễn thuyết nhấn mạnh tính hiện thực của Hồ sơ Akasha. Ông nói với thính giả, “Đừng bao giờ nghĩ rằng đời bạn không được chép trong Sách Sự Sống! Tôi đã tìm thấy nó! Tôi đã thấy nó! Nó đang được chép; CHÍNH BẠN là người chép!” Cùng năm ấy, một bài đọc nói rằng các hồ sơ này được ghi trên một dạng “năng lượng dĩ thái” nào đó, tương tự về bản chất với năng lượng của tư tưởng. Bởi các hồ sơ thực sự được ấn khắc lên năng lượng, Cayce nói rằng rốt cuộc sẽ có thể tạo ra một cỗ máy có thể phân tích năng lượng này và rồi “đọc” những gì các hồ sơ chứa đựng (443-5). Dù các bài đọc gợi ý rằng một cỗ máy như vậy rốt cuộc sẽ trở thành hiện thực, ngay bây giờ vẫn có những cách thức để cá nhân có thể chạm tới các hồ sơ của lịch sử linh hồn mình.

Those records which deal with one’s past are the accumulation of a soul’s talents, experiences, inclinations, and desires. The continuity of this information resides at a soul level and must be dealt with by an individual in the present—for it resides in the form of memory, or “karma.” It’s not that this karma belongs to another person from another period in history; rather this memory belongs to one’s self and therefore must eventually be dealt with individually. In the language of the readings, “Thus the records of each entity are a part of the universal consciousness... Not that the individuals in the various appearances are different, for—though they bore different names, different characteristics—they are one... ” ( 2246-1)

Những hồ sơ liên quan tới quá khứ của một người là sự tích lũy các tài năng, kinh nghiệm, khuynh hướng và ước muốn của linh hồn. Tính liên tục của thông tin này ngụ tại cấp độ linh hồn và phải được cá nhân xử lý trong hiện tại—vì nó hiện hữu dưới dạng ký ức, hay “nghiệp quả.” Không phải nghiệp quả này thuộc về một người nào khác từ một thời kỳ khác trong lịch sử; đúng hơn ký ức này thuộc về chính mình và do vậy rồi phải được cá nhân tự thân xử lý. Theo ngôn ngữ của các bài đọc, “Vậy hồ sơ của mỗi thực thể là một phần của tâm thức phổ quát... Không phải rằng các cá nhân trong những lần xuất hiện khác nhau là khác biệt, vì—dù họ mang các tên khác nhau, đặc trưng khác nhau—họ là một... ” ( 2246-1)

In the present, the Akashic Records contain the sum total of all we have ever been. They attempt to mold and shape levels of human consciousness. They draw individuals to experiences and other people as a means of giving them the opportunity to learn from one another. As far as Cayce was concerned, wherever an individual finds him- or herself in the present, that very situation has the potential to be a purposeful one. Each soul enters each experience for a reason, “For, a birth into materiality is not by chance, but that the will of the Creative Forces may make manifest in the experience” (2073-2). Whether or not an individual decides to use the present as a positive, learning experience remains a matter of free will.

Trong hiện tại, Hồ sơ Akasha chứa đựng tổng số tất cả những gì chúng ta từng là. Chúng tìm cách nắn khuôn và định hình các cấp độ tâm thức con người. Chúng kéo con người đến với những kinh nghiệm và những người khác như một phương tiện trao cho họ cơ hội học hỏi lẫn nhau. Với Cayce, bất cứ nơi đâu cá nhân thấy mình trong hiện tại, chính tình huống ấy có tiềm năng là một tình huống đầy mục đích. Mỗi linh hồn bước vào mỗi kinh nghiệm vì một lý do, “Vì, một cuộc sinh vào cõi vật chất không do ngẫu nhiên, mà là để ý chí của Các Mãnh Lực Sáng Tạo có thể biểu lộ trong kinh nghiệm” (2073-2). Việc cá nhân có quyết định dùng hiện tại như một kinh nghiệm tích cực, mang tính học hỏi hay không vẫn là vấn đề của tự do ý chí.

The Akashic Records of the future embody an everchanging array of possibilities and potentials. They are the shadows of things which may be, totally dependent upon what one does in the present with what he or she has learned from the past. They draw together probable events and situations which will best enable each individual to come to know one’s self. Ever-changeable, they are integrally connected to the will and what an individual does with her or his present opportunities: “... for the destiny of each soul is in what the entity does about the application of creative influences and forces in its own experience in any environ” (820-1). One’s future is dependent not upon what one knows, but on how well one applies what one knows.

Những Hồ sơ Akasha của tương lai thể hiện một chuỗi khả thể và tiềm năng luôn đổi thay. Chúng là bóng hình của những điều có thể xảy ra, hoàn toàn tùy thuộc vào việc mỗi người làm gì trong hiện tại với những gì người ấy đã học được từ quá khứ. Chúng kết tụ các sự kiện và tình huống có xác suất xảy ra cao nhất, vốn sẽ tạo điều kiện tốt nhất để mỗi cá nhân đến chỗ tự tri. Luôn đổi biến, chúng gắn kết mật thiết với ý chí và với việc một cá nhân sử dụng các cơ hội hiện tại ra sao: “... vì định mệnh của mỗi linh hồn nằm ở chỗ thực thể ấy làm gì với việc ứng dụng các ảnh hưởng và mãnh lực sáng tạo vào chính kinh nghiệm của nó trong bất kỳ môi trường nào” (820-1). Tương lai của một người không tùy thuộc vào những gì người ấy biết, mà vào mức độ người ấy vận dụng những gì mình biết tốt đến đâu.

Beginning in 1933 Cayce gave a series of twenty-three readings to members of an ecumenical prayer group in which he discussed the connection between the Akashic Records and the Book of Revelation. According to Cayce, the Book of Revelation—which was written by St. John when he was in exile on the isle of Patmos—was actually a first-person account of an individual’s experience in awakening consciousness. As John meditated, the “seals” of the Book of Life were somehow opened to him and he began to see evidence of his own heightened awareness. In the same manner that the Akashic Records had to be interpreted, the vision experienced by John was rich with symbolism. From Cayce’s perspective, the seven candlesticks, the seven seals, the seven churches, and the seven stars were all connected to seven spiritual centers or “chakras” within the human body. These chakras maintain an awareness of the soul’s history through space and time and will be awakened as individuals grow in their awareness that they are fundamentally spiritual beings, children of the one God. This personal awakening and growth in consciousness is destined to occur for every individual in the earth.

Bắt đầu từ năm 1933, Cayce đã đưa ra một loạt hai mươi ba bài đọc cho các thành viên của một nhóm cầu nguyện đại kết, trong đó Ông bàn về mối liên hệ giữa Hồ sơ Akasha và Sách Khải Huyền. Theo Cayce, Sách Khải Huyền—được Thánh Gioan viết khi Ông bị lưu đày trên đảo Patmos—thực ra là một tường thuật ngôi thứ nhất về kinh nghiệm đánh thức tâm thức của một cá nhân. Khi Gioan tham thiền, các “ấn” của Sách Sự Sống bằng cách nào đó đã được mở ra cho Ông và Ông bắt đầu thấy những bằng chứng về ý thức gia tăng của chính mình. Tương tự như cách Hồ sơ Akasha phải được giải thích, thị kiến mà Gioan trải nghiệm rất giàu biểu tượng. Từ viễn kiến của Cayce, bảy chân đèn, bảy ấn, bảy giáo hội và bảy ngôi sao đều liên hệ với bảy trung tâm tinh thần hay “luân xa” trong thân thể con người. Các luân xa này duy trì một nhận biết về lịch sử của linh hồn xuyên suốt không gian và thời gian và sẽ được đánh thức khi các cá nhân tăng trưởng trong nhận biết rằng họ căn bản là những hữu thể tinh thần, con cái của Thượng đế duy nhất. Sự thức tỉnh cá nhân và tăng trưởng trong tâm thức này được định sẵn sẽ xảy ra cho mọi người trên trần thế.

Hence the purposes for each soul’s experience in materiality are that the Book of Remembrance may be opened that the soul may know its relationship to its Maker.

Vì thế, mục đích của kinh nghiệm mỗi linh hồn trong vật chất là để Sách Tưởng Niệm được mở ra hầu linh hồn biết mối tương quan của mình với Đấng Tạo Hóa.

1215-4

1215-4

Edgar Cayce believed that each of us writes the story of our lives through our thoughts, our deeds, and our interactions with those around us. The accumulation of this data is stored in the universe’s computer system, the Akashic Records. These records are a portion of the Creative Forces. They have been the source for dreams and inspiration. They have been the substance of archetypes and myth and are deeply interwoven with patterns of human behavior and experience. Containing a repository of our past experiences, these records constantly influence our present situations and circumstance. The ways in which we continually deal with our lives sets in motion potentials and probabilities which are drawn to us from the same records. For that reason, Edgar Cayce believed that any insights we might gain from the Akashic Records themselves can provide us with information about the nature of who we are and our true relationship to the rest of creation—the very information contained in The Real Book of Life.

Edgar Cayce tin rằng mỗi người trong chúng ta viết nên câu chuyện đời mình qua tư tưởng, hành vi và tương giao với những người quanh ta. Sự tích lũy của các dữ liệu này được lưu trữ trong “hệ thống máy tính” của vũ trụ, tức Hồ sơ Akasha. Những hồ sơ này là một phần của các Mãnh Lực Sáng Tạo. Chúng đã là nguồn mạch của những giấc mơ và cảm hứng. Chúng đã là chất liệu của các nguyên mẫu và huyền thoại, và đan cài sâu xa với các mô thức hành vi và kinh nghiệm của con người. Chứa đựng một kho lưu trữ các kinh nghiệm quá khứ của chúng ta, những hồ sơ này liên tục ảnh hưởng đến các tình huống và hoàn cảnh hiện tại của chúng ta. Cách chúng ta không ngừng ứng xử với đời sống của mình khởi động các tiềm năng và xác suất, vốn được lôi kéo đến với chúng ta từ chính những hồ sơ ấy. Vì lý do đó, Edgar Cayce tin rằng mọi minh triết chúng ta có thể lĩnh hội từ chính Hồ sơ Akasha có thể cung cấp cho chúng ta thông tin về bản chất con người chúng ta là ai và mối liên hệ chân thực của chúng ta với phần còn lại của công cuộc sáng tạo—chính là thông tin được chứa trong Cuốn Sách Sự Sống Đích Thực.

A.R.E. PRESS

A.R.E. PRESS

The A.R.E. Press publishes books, videos, and audiotapes meant to improve the quality of our readers’ lives—personally, professionally, and spiritually. We hope our products support your endeavors to realize your career potential, to enhance your relationships, to improve your health, and to encourage you to make the changes necessary to live a loving, joyful, and fulfilling life.

A.R.E. Press xuất bản sách, video và băng ghi âm nhằm nâng cao chất lượng đời sống của độc giả—trong phương diện cá nhân, nghề nghiệp và tinh thần. Mong rằng các sản phẩm của chúng tôi hỗ trợ nỗ lực của bạn để nhận ra tiềm năng sự nghiệp, tăng cường các mối quan hệ, cải thiện sức khỏe, và khích lệ bạn thực hiện những thay đổi cần thiết để sống một cuộc đời yêu thương, hân hoan và viên mãn.

For more information or to receive a free catalog, call: 1-800-723-1112

Để biết thêm thông tin hoặc nhận một catalô miễn phí, vui lòng gọi: 1-800-723-1112

Or write:

Hoặc viết thư đến:

A.R.E. Press

A.R.E. Press

215 67th Street

215 67th Street

DISCOVER HOW THE EDGAR CAYCE MATERIAL CAN HELP YOU!

KHÁM PHÁ CÁCH NHỮNG TÀI LIỆU CỦA EDGAR CAYCE CÓ THỂ GIÚP BẠN!

The Association for Research and Enlightenment, Inc. (A.R.E.®), was founded in 1931 by Edgar Cayce. Its international headquarters are in Virginia Beach, Virginia, where thousands of visitors come year-round. Many more are helped and inspired by A.R.E.’s local activities in their own hometowns or by contact via mail (and now the Internet!) with A.R.E. headquarters.

Hiệp hội Nghiên cứu và Giác ngộ (The Association for Research and Enlightenment, Inc. - A.R.E.®) được Edgar Cayce sáng lập vào năm 1931. Trụ sở quốc tế đặt tại Virginia Beach, Virginia, nơi có hàng ngàn lượt khách ghé thăm quanh năm. Còn nhiều người nữa được trợ giúp và truyền cảm hứng nhờ các hoạt động địa phương của A.R.E. ngay tại quê nhà của họ hoặc qua liên lạc bằng thư (và nay là Internet!) với trụ sở A.R.E.

People from all walks of life, all around the world, have discovered meaningful and life-transforming insights in the A.R.E. programs and materials, which focus on such areas as personal spirituality, holistic health, dreams, family life, finding your best vocation, reincarnation, ESP, meditation, and soul growth in small-group settings. Call us today at our toll-free number:

Những người từ mọi tầng lớp, khắp thế giới, đã khám phá những nhận thức giàu ý nghĩa và có khả năng chuyển hóa đời sống trong các chương trình và tài liệu của A.R.E., vốn tập trung vào các lĩnh vực như đời sống tinh thần cá nhân, sức khỏe toàn diện, giấc mơ, đời sống gia đình, tìm ra thiên hướng nghề nghiệp tốt nhất, luân hồi, ngoại cảm, tham thiền, và tăng trưởng linh hồn trong các bối cảnh nhóm nhỏ. Hãy gọi số điện thoại miễn cước của chúng tôi hôm nay:

1-800-333-4499

1-800-333-4499

or

hoặc

Explore our electronic visitors center on the Internet: http://www.edgarcayce.org.

Khám phá trung tâm khách truy cập điện tử của chúng tôi trên Internet: http://www.edgarcayce.org.

We’ll be happy to tell you more about how the work of the A.R.E. can help you!

Rất hân hạnh được chia sẻ thêm về cách công việc của A.R.E. có thể giúp bạn!

A.R.E.

A.R.E.

215 67th Street

215 67th Street