Trích nội dung chương
PREFACE - Educational Trends in a World Crisis – LỜI TỰA - Các Khuynh Hướng Giáo Dục trong Một Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới 10 CHAPTER III - The Next Step in the Mental Development of Humanity – CHƯƠNG III - Bước Kế Tiếp trong Sự Phát Triển Trí Tuệ của Nhân Loại 98
Table of Contents – Mục Lục
Table of Contents – Mục Lục 2
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG 6
THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN 8
PREFACE - Educational Trends in a World Crisis – LỜI TỰA - Các Khuynh Hướng Giáo Dục trong Một Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới 10
CHAPTER I - The Objective of the New Education – CHƯƠNG I - Mục Tiêu của Nền Giáo Dục Mới 20
Introductory Statements – Các Phát Biểu Dẫn Nhập 20
Some Questions Answered – Một Số Câu Hỏi Được Giải Đáp 27
Theory, Methods and Goals – Lý Thuyết, Phương Pháp và Mục Tiêu 35
Coordination and Integration – Sự Điều Hợp và Sự Tích Hợp 52
CHAPTER II - The Cultural Unfoldment of the Race – CHƯƠNG II - Sự Khai Mở Văn Hóa của Nhân Loại 62
Civilisation and Culture – Văn Minh và Văn Hóa 62
The Process of Unfoldment – Tiến Trình Khai Mở 78
The Nature of Esotericism – Bản Chất của Huyền Bí Học 86
CHAPTER III - The Next Step in the Mental Development of Humanity – CHƯƠNG III - Bước Kế Tiếp trong Sự Phát Triển Trí Tuệ của Nhân Loại 98
The Present Transition Period – Thời Kỳ Chuyển Tiếp Hiện Nay 98
The Aquarian Age – Thời Đại Bảo Bình 127
CHAPTER IV - The Culture of the Individual – CHƯƠNG IV - Văn Hóa của Cá Nhân 132
The Angle of Citizenship – Góc Độ Quyền Công Dân 133
The World Situation and Ideologies – Tình Hình Thế Giới và Các Hệ Tư Tưởng 142
Reasons for the Present World Unrest – Những Nguyên Nhân của Tình Trạng Bất Ổn Thế Giới Hiện Nay 152
The Angle of Parenthood – Góc Độ Làm Cha Mẹ 162
Trends Indicative of Future Developments – Những Khuynh Hướng Chỉ Dấu Các Phát Triển Tương Lai 171
The Angle of Personality Control – Góc Độ Kiểm Soát Phàm Ngã 178
CHAPTER V - The Science of the Antahkarana – CHƯƠNG V - Khoa Học Antahkarana 181
SYNOPSIS – TÓM LƯỢC 188
ARCANE SCHOOL TRAINING – HUẤN LUYỆN CỦA TRƯỜNG ARCANE 192
INDEX – MỤC LỤC TRA CỨU 193
EDUCATION
GIÁO DỤC
IN THE
TRONG
NEW AGE
KỶ NGUYÊN MỚI
by
của
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
INDEX EDITION
ẤN BẢN CÓ MỤC LỤC
BOOKS BY ALICE A. BAILEY
CÁC TÁC PHẨM CỦA ALICE A. BAILEY
Initiation, Human and Solar
Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương
Letters on Occult Meditation
Thư Về Tham thiền Huyền môn
The Consciousness of the Atom
Tâm Thức của Nguyên Tử
A Treatise on Cosmic Fire
Luận về Lửa Vũ Trụ
The Light of the Soul
Ánh Sáng của Linh Hồn
The Soul and its Mechanism
Linh Hồn và Bộ Máy của Nó
From Intellect to Intuition
Từ Trí Năng đến Trực Giác
A Treatise on White Magic
Luận về Chánh Thuật
From Bethlehem to Calvary
Từ Bethlehem đến Calvary
Discipleship in the New Age–Vol. I
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển I
Discipleship in the New Age–Vol. II
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển II
Problems of Humanity
Các Vấn Đề của Nhân Loại
The Reappearance of the Christ
Sự Tái Lâm của Đức Christ
The Destiny of the Nations
Định Mệnh của Các Quốc Gia
Glamour: A World Problem
Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới
Telepathy and the Etheric Vehicle
Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái
The Unfinished Autobiography
Tự Truyện Chưa Hoàn Tất
Education in the New Age
Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới
The Externalisation of the Hierarchy
Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn
A Treatise on the Seven Rays:
Luận về Bảy Cung:
Vol. I–Esoteric Psychology
Quyển I–Tâm Lý Học Nội Môn
Vol. II–Esoteric Psychology
Quyển II–Tâm Lý Học Nội Môn
Vol. III–Esoteric Astrology
Quyển III–Chiêm Tinh Học Nội Môn
Vol. IV–Esoteric Healing
Quyển IV–Trị Liệu Huyền Môn
Vol. V–The Rays and the Initiations
Quyển V–Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các huấn sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.
Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với vẻ hết sức kính cẩn) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.
AUGUST 1934
THÁNG TÁM 1934
THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”
ALICE A. BAILEY
PREFACE - Educational Trends in a World Crisis – LỜI TỰA - Các Khuynh Hướng Giáo Dục trong Một Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới
[v] This book on educational philosophy comes at a time of crisis, for the theme that runs through critical thinking in the field of educational theory today is characterized by deep concern over both the preservation and the enrichment of human values. Can we maintain our democratic individualism in the face of the standardizing forces of the Western machine civilization which may also engulf the Eastern world? Can we offset the totalitarianisms which deify the materialism of an increasingly industrial culture?
[v] Cuốn sách này về triết học giáo dục xuất hiện vào một thời điểm khủng hoảng, vì chủ đề xuyên suốt tư duy phê phán trong lĩnh vực lý thuyết giáo dục ngày nay được đặc trưng bởi mối quan tâm sâu sắc đến cả việc bảo tồn lẫn làm phong phú các giá trị nhân văn. Chúng ta có thể duy trì chủ nghĩa cá nhân dân chủ của mình trước các mãnh lực chuẩn hóa của nền văn minh máy móc phương Tây, vốn cũng có thể nuốt chửng thế giới phương Đông, hay không? Chúng ta có thể hóa giải những chế độ toàn trị đang thần thánh hóa chủ nghĩa duy vật của một nền văn hóa ngày càng công nghiệp hóa hay không?
In May of this year (1953) I attended a two-day seminar in Chicago, sponsored by The Center for the Study of Liberal Education for Adults, a subdivision of the Ford Foundation, created to express the growing concern of our times for the spiritual basis of our civilization. In the statement of the problem which our group was to study, Education in a Democratic Society, we were informed as follows:
Vào tháng Năm năm nay (1953), Tôi tham dự một hội thảo hai ngày tại Chicago, do Trung Tâm Nghiên Cứu Giáo Dục Khai Phóng cho Người Lớn, một phân bộ của Quỹ Ford, bảo trợ; trung tâm này được thành lập để diễn đạt mối quan tâm ngày càng lớn của thời đại chúng ta đối với nền tảng tinh thần của nền văn minh chúng ta. Trong bản trình bày vấn đề mà nhóm chúng tôi sẽ nghiên cứu, Giáo Dục trong Một Xã Hội Dân Chủ, chúng tôi được thông báo như sau:
"Education must meet the needs of the human spirit. It must assist persons to develop a satisfactory personal philosophy and sense of values, to cultivate tastes for literature, music and the arts; to grow in ability to analyze problems and arrive at thoughtful conclusions."
“Giáo dục phải đáp ứng các nhu cầu của tinh thần con người. Nó phải trợ giúp con người phát triển một triết lý cá nhân và ý thức về giá trị thỏa đáng, nuôi dưỡng thị hiếu đối với văn học, âm nhạc và nghệ thuật; phát triển khả năng phân tích các vấn đề và đi đến những kết luận chín chắn.”
This statement demands a re-examination of our educational theory and practice. A survey of current developments proves that, at long last, the professional educators are clarifying a common philosophy and are consciously striving to delineate a theory of education adequate to the new world that is emerging. In such a philosophy three fundamental needs must be met: (l) a psychological theory of the human person to be "educated"; (2) a social theory of the kind of [vi] society one is trying to create or preserve as a suitable home for the cultural ideals promulgated; and (3) a world view or cosmology, a theory of man's place in the universe in which man is spectator and actor.
Phát biểu này đòi hỏi phải xem xét lại lý thuyết và thực hành giáo dục của chúng ta. Một cuộc khảo sát các phát triển hiện nay chứng minh rằng, rốt cuộc, các nhà giáo dục chuyên nghiệp đang làm sáng tỏ một triết lý chung và đang nỗ lực một cách có ý thức để phác họa một lý thuyết giáo dục tương xứng với thế giới mới đang xuất hiện. Trong một triết lý như vậy, ba nhu cầu căn bản phải được đáp ứng: (1) một lý thuyết tâm lý về con người sẽ được “giáo dục”; (2) một lý thuyết xã hội về loại [vi] xã hội mà người ta đang cố gắng tạo dựng hoặc bảo tồn như một mái nhà thích hợp cho các lý tưởng văn hóa được truyền bá; và (3) một thế giới quan hay vũ trụ luận, một lý thuyết về vị trí của con người trong vũ trụ, trong đó con người vừa là khán giả vừa là diễn viên.
Our problem is to attain the kind of overall synthesis that Marxism and neo-Scholasticism provide for their followers, but to get this by the freely chosen cooperative methods that Dewey advocated. In the broadest terms such a world-view will make possible a planetary civilization by integrating whatever trans-temporal and trans-spatial truths about man and the universe we can extract from all regional cultures in their local times and places. These universal principles will then provide the norms for Education in the New Age, as the Tibetan terms it.
Vấn đề của chúng ta là đạt tới loại tổng hợp toàn diện mà chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Kinh viện mới cung cấp cho các tín đồ của chúng, nhưng đạt được điều này bằng các phương pháp hợp tác được tự do lựa chọn mà Dewey đã chủ trương. Theo nghĩa rộng nhất, một thế giới quan như vậy sẽ làm cho một nền văn minh hành tinh trở nên khả hữu bằng cách tích hợp bất cứ chân lý nào vượt thời gian và vượt không gian về con người và vũ trụ mà chúng ta có thể rút ra từ mọi nền văn hóa khu vực trong thời gian và địa điểm địa phương của chúng. Khi đó, các nguyên lý phổ quát này sẽ cung cấp các chuẩn mực cho Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới, như Chân sư Tây Tạng gọi.
The world today suffers from a cultural provincialism based on the dualism of an outward-looking, objective attitude of the Western world, and an inwardness or subjectivity of Oriental societies. Each of these civilizations, in its extreme form, is over-balanced in its own direction. In harmonious living, man must integrate both ideals to achieve wholeness for himself and his world. This, it seems to me, is one important theme of the present work.
Thế giới ngày nay đang chịu khổ vì một chủ nghĩa địa phương văn hóa dựa trên nhị nguyên giữa thái độ khách quan, hướng ra bên ngoài của thế giới phương Tây, và tính hướng nội hay tính chủ quan của các xã hội phương Đông. Mỗi nền văn minh này, trong hình thức cực đoan của nó, đều mất quân bình theo hướng riêng của mình. Trong đời sống hài hòa, con người phải tích hợp cả hai lý tưởng để đạt được sự toàn vẹn cho bản thân và cho thế giới của mình. Theo Tôi, đây là một chủ đề quan trọng của tác phẩm hiện tại.
For the future, the remedy for the social schisms and psychological fissions that have handicapped and obstructed our modern efforts to overcome the divisions of humanity, lies in a restoration of unity of principles upon which an integration of human values and achievements can be attempted. The educational implications of this development are clear. As the Tibetan indicates, on subjective levels we must provide for the resynthesis of human personality and for the overcoming of the double consciousness that has resulted from the cultural fission which made the "self-negation" of the peaceful civilization of the Orient the overpowering concept of its culture, and the aggressive "individualism" of the Occident the ideal of Western man. Accordingly, we need not only the political synthesis of a [vii] World Federation in which the Eastern and Western hemispheres function like the right and left lobes of man's brain, with the seat of the World Brain serving as the point of decussation of the planetary nerves, but we need also a planetary way of life, a planetary ethics, and a planetary way of feeling to supply the powerful drive we shall require for the great tasks that lie ahead of us.
Đối với tương lai, phương thuốc cho các rạn nứt xã hội và các phân liệt tâm lý vốn đã làm què quặt và cản trở các nỗ lực hiện đại của chúng ta nhằm vượt qua những chia rẽ của nhân loại, nằm trong việc phục hồi sự thống nhất của các nguyên lý, trên đó có thể thử thực hiện một sự tích hợp các giá trị và thành tựu của con người. Các hàm ý giáo dục của sự phát triển này rất rõ ràng. Như Chân sư Tây Tạng chỉ ra, trên các cấp độ chủ quan, chúng ta phải cung cấp phương tiện cho sự tái tổng hợp phàm ngã con người và cho việc vượt qua tâm thức kép đã phát sinh từ sự phân liệt văn hóa, vốn đã biến “sự phủ nhận bản ngã” của nền văn minh hòa bình phương Đông thành quan niệm áp đảo trong văn hóa của nó, và biến “chủ nghĩa cá nhân” hiếu thắng của phương Tây thành lý tưởng của con người phương Tây. Theo đó, chúng ta không chỉ cần sự tổng hợp chính trị của một [vii] Liên Bang Thế Giới, trong đó các bán cầu Đông và Tây vận hành như các thùy phải và trái của bộ não con người, với vị trí của Bộ Não Thế Giới đóng vai trò điểm bắt chéo của các dây thần kinh hành tinh, mà chúng ta còn cần một lối sống hành tinh, một đạo đức hành tinh, và một cách cảm nhận hành tinh để cung cấp động lực mạnh mẽ mà chúng ta sẽ cần cho các nhiệm vụ vĩ đại đang nằm phía trước.
The time to resynthesize the objective and subjective, the extrovert and the introvert civilizations and to achieve a great orchestration of culture is now. Japan was not aggressive until the country learned the trick from the West. Before her doors were forced, her arts and philosophy were in tune with oriental tradition. When she adopted Western technology, she threw overboard her ancient culture. What happened in Japan can happen in the rest of the Orient, but whereas Japan was a relatively small country, China, India and their neighbors are vast and populous. Heaven help us if they re-enact the history of Japan. Our activity in the resynthesizing of the world must include, through our own efforts to understand and appreciate, an appeal to the Orient to preserve and develop the fundamental values in its regional cultures. While the West is seeking the principles upon which peaceful and fruitful living can be founded, the East may provide us with the counter-balance to our aggressive materialism.
Thời điểm để tái tổng hợp cái khách quan và cái chủ quan, các nền văn minh hướng ngoại và hướng nội, và đạt tới một sự phối khí vĩ đại của văn hóa là bây giờ. Nhật Bản đã không hiếu chiến cho đến khi quốc gia này học được mưu mẹo ấy từ phương Tây. Trước khi các cánh cửa của Nhật Bản bị cưỡng bức mở ra, nghệ thuật và triết học của Nhật Bản hòa điệu với truyền thống phương Đông. Khi Nhật Bản tiếp nhận kỹ thuật phương Tây, quốc gia này đã ném bỏ nền văn hóa cổ xưa của mình. Điều đã xảy ra ở Nhật Bản có thể xảy ra ở phần còn lại của phương Đông; nhưng trong khi Nhật Bản là một quốc gia tương đối nhỏ, thì Trung Quốc, Ấn Độ và các láng giềng của họ lại rộng lớn và đông dân. Xin Trời giúp chúng ta nếu họ tái diễn lịch sử của Nhật Bản. Hoạt động của chúng ta trong việc tái tổng hợp thế giới phải bao gồm, qua những nỗ lực của chính chúng ta nhằm thấu hiểu và trân trọng, một lời kêu gọi phương Đông bảo tồn và phát triển các giá trị căn bản trong những nền văn hóa khu vực của mình. Trong khi phương Tây đang tìm kiếm những nguyên lý mà trên đó đời sống hòa bình và phong phú có thể được đặt nền, phương Đông có thể cung cấp cho chúng ta đối trọng đối với chủ nghĩa duy vật hiếu thắng của chúng ta.
If this new synthesis is to restore cultural and spiritual unity in mankind, the Occidental world will have to acquire humility when it turns to the Orient. The Oriental world will not, because of its inherent nature, generate the physical energy to go to the West. We Westerners went into the East in search of markets—outlets for the products of our mechanical power—and we must return to our own world, magnetized by the subjective energies of the East and conscious of it. Our aggressive commercial penetration of Oriental lands and peoples has had the end result of bringing the literature, the philosophy and the arts of the East into the [viii] West as uncalculated dividends. We can, if we choose, make use of the vast heritage of Oriental culture available to us, even in our neighborhood libraries.
Nếu sự tổng hợp mới này phải phục hồi sự thống nhất văn hóa và tinh thần trong nhân loại, thế giới phương Tây sẽ phải có được sự khiêm nhường khi quay sang phương Đông. Thế giới phương Đông, do bản chất cố hữu của mình, sẽ không tạo ra năng lượng hồng trần để đi về phía phương Tây. Chúng ta, những người phương Tây, đã đi vào phương Đông để tìm thị trường—những nơi tiêu thụ sản phẩm của quyền năng cơ giới của chúng ta—và chúng ta phải trở về thế giới của chính mình, được các năng lượng chủ quan của phương Đông từ hóa và có ý thức về điều đó. Sự xâm nhập thương mại hiếu thắng của chúng ta vào các vùng đất và dân tộc phương Đông đã có kết quả cuối cùng là đưa văn học, triết học và nghệ thuật của phương Đông vào [viii] phương Tây như những cổ tức không được tính trước. Nếu chọn, chúng ta có thể sử dụng di sản rộng lớn của văn hóa phương Đông đang sẵn có cho chúng ta, ngay cả trong các thư viện khu phố của mình.
Our main hope of survival in this highly polarized world lies in a prodigious effort at synthesis of the two cultures while there is still time. Should the Orient deny us that time and decide to meet us merely on our own grounds, then this might write finis to the story for all of us, East and West.
Hy vọng chính yếu để sống còn của chúng ta trong thế giới phân cực cao độ này nằm trong một nỗ lực tổng hợp phi thường hai nền văn hóa khi vẫn còn thời gian. Nếu phương Đông khước từ chúng ta khoảng thời gian ấy và quyết định chỉ gặp chúng ta trên chính địa bàn của chúng ta, thì điều này có thể viết nên đoạn kết cho câu chuyện của tất cả chúng ta, Đông cũng như Tây.
During our industrial and expansionist age there have been increasing evidences of the permeating power of Oriental thought in the fields of science, philosophy and the arts of the West. Psychosomatic medicine, parapsychology, Jung's analytical psychology are only a few indications of contemporary inwardly-oriented researches. The re-entry of the spiritual factor in life and education is something more than a recrudescence of some earlier forms of Christian ideology.
Trong thời đại công nghiệp và bành trướng của chúng ta, ngày càng có nhiều bằng chứng về quyền năng thấm nhập của tư tưởng phương Đông trong các lĩnh vực khoa học, triết học và nghệ thuật của phương Tây. Y học tâm-thân, cận tâm lý học, tâm lý học phân tích của Jung chỉ là vài dấu hiệu của các nghiên cứu đương đại hướng vào bên trong. Sự tái nhập của yếu tố tinh thần vào đời sống và giáo dục là điều gì đó hơn hẳn sự hồi phát của một số hình thức hệ tư tưởng Cơ Đốc giáo trước kia.
In this education for the New Age, the type of East-West philosophy presented by the Tibetan will find its proper setting. Here we have the elements of a complete theory, as follows:
Trong nền giáo dục cho Kỷ Nguyên Mới này, loại triết học Đông-Tây do Chân sư Tây Tạng trình bày sẽ tìm thấy bối cảnh thích hợp của nó. Ở đây chúng ta có các yếu tố của một lý thuyết hoàn chỉnh, như sau:
(a) Subjective Planning; a theory of the creative self-development of the individual.
(a) Hoạch Định Chủ Quan; một lý thuyết về sự tự phát triển sáng tạo của cá nhân.
(b) Objective Planning; a theory of the good society for human persons to live in.
(b) Hoạch Định Khách Quan; một lý thuyết về xã hội tốt đẹp cho con người sống trong đó.
The psychological and social implications of the education for the New Age must be stated as explicitly as possible. The next step is to test the validity of the principles in concrete applications. The testing must be done in terms of operational techniques relevant to the Hindu psychology, rather than by Western positivistic procedures. Until this program has been given a fair trial, it is a waste of time to attempt to prejudge the issue. Yet it is not necessary to consider the ancient East and the modern West approaches [ix] as two mutually exclusive alternatives. In some instances the approaches are merely two "languages" for stating universal truths about human nature and we are not faced with an either-or antithesis. Intertranslation may reduce the strangeness of terminology. For example, the Tibetan's view that "meditation is thinking things through" is good Dewey doctrine. As the elements of unfamiliarity diminish, understanding is facilitated.
Các hàm ý tâm lý và xã hội của nền giáo dục cho Kỷ Nguyên Mới phải được trình bày rõ ràng hết mức có thể. Bước tiếp theo là kiểm chứng giá trị của các nguyên lý trong những ứng dụng cụ thể. Việc kiểm chứng phải được thực hiện theo các kỹ thuật vận hành liên quan đến tâm lý học Ấn Độ, thay vì theo các thủ tục thực chứng của phương Tây. Cho đến khi chương trình này được thử nghiệm công bằng, việc cố gắng phán đoán trước vấn đề là lãng phí thời gian. Tuy nhiên, không cần phải xem các lối tiếp cận của phương Đông cổ xưa và phương Tây hiện đại [ix] như hai lựa chọn loại trừ lẫn nhau. Trong một số trường hợp, các lối tiếp cận chỉ là hai “ngôn ngữ” để trình bày các chân lý phổ quát về bản chất con người, và chúng ta không đứng trước một phản đề hoặc cái này hoặc cái kia. Việc chuyển dịch qua lại có thể làm giảm tính xa lạ của thuật ngữ. Chẳng hạn, quan điểm của Chân sư Tây Tạng rằng “tham thiền là suy nghĩ thấu đáo mọi sự” là giáo lý Dewey rất tốt. Khi các yếu tố xa lạ giảm bớt, sự thấu hiểu được tạo điều kiện thuận lợi.
That the research project so briefly sketched is not some vague philosophical phantasy but an urgent and immediate need is indicated by a document drawn up by the Department for Cultural Activities of UNESCO which formulated the theme for discussion in these terms: "The Concept of Man and the Philosophy of Education in East and West." Here it is stated:
Việc dự án nghiên cứu được phác họa quá vắn tắt này không phải là một ảo tưởng triết học mơ hồ nào đó mà là một nhu cầu cấp bách và tức thời, được chỉ ra bởi một văn kiện do Ban Hoạt Động Văn Hóa của UNESCO soạn thảo, trong đó chủ đề thảo luận được trình bày như sau: “Quan Niệm về Con Người và Triết Học Giáo Dục ở Đông và Tây.” Ở đây có nêu:
"Unesco could not remain indifferent to this problem (of East and West); it was bound to face it squarely in the present circumstances of the world, brought about by the increasingly rapid process of unification, the reduction of distances, the growing importance of technology, the gradual attainment by all peoples of political independence and international responsibility and, above all, the disquiet and perplexity prevailing among the two great civilizations of yesterday, ready to give birth to the one civilization of tomorrow but cowering under the threat of a world crisis far beyond their capacity to control."
“UNESCO không thể thờ ơ với vấn đề này của Đông và Tây; tổ chức này buộc phải đối diện trực diện với nó trong các hoàn cảnh hiện nay của thế giới, do tiến trình thống nhất ngày càng nhanh, sự thu hẹp khoảng cách, tầm quan trọng ngày càng lớn của kỹ thuật, sự đạt tới dần dần nền độc lập chính trị và trách nhiệm quốc tế của mọi dân tộc, và trên hết là nỗi bất an và bối rối đang thịnh hành giữa hai nền văn minh lớn của ngày hôm qua, sẵn sàng sinh ra một nền văn minh duy nhất của ngày mai nhưng đang co rúm dưới mối đe dọa của một cuộc khủng hoảng thế giới vượt xa khả năng kiểm soát của họ.”
In an article on Our Goal Is Unity in The Free World of October, 1944, Dr. Albert Einstein regretfully took note of "an odious materialistic attitude toward life which leads to the predominance of an unrestrained selfishness." But how shall this materialism and selfishness of our culture be corrected? By geodesies in the space-time manifold of relativity theory? This would be cold comfort from a warm heart and Einstein does not offer this way out. Indeed, Einstein offers no clear solution. The simple truth is that the only counterweight to "materialism" is "idealism" and this must come out [x] of the very heart of science, as an evolutionary development. Researchers who know the data of science must take our knowledge about nature and synthesize it into a body of integrated principles to establish the Pythagorean-Platonic-Bruno cosmology, a world picture similar to the pantheism of Eastern thought, wherein man can reverence nature because nature is worthy of awe and reverence. A humanism that is exclusively anthropocentric is over-balanced and is in need of a world philosophy in which the infinite and eternal cosmos yields the other pivot for the axis around which the new synthesis can move and grow.
Trong một bài viết về Mục Tiêu của Chúng Ta Là Sự Thống Nhất trong Thế Giới Tự Do vào tháng Mười năm 1944, Tiến sĩ Albert Einstein đã tiếc nuối ghi nhận “một thái độ duy vật đáng ghê tởm đối với đời sống, dẫn đến sự thống trị của một chủ nghĩa ích kỷ không kiềm chế.” Nhưng chủ nghĩa duy vật và tính ích kỷ này của nền văn hóa chúng ta sẽ được sửa chữa như thế nào? Bằng các đường trắc địa trong đa tạp không-thời gian của thuyết tương đối ư? Điều này sẽ là một niềm an ủi lạnh lẽo từ một trái tim ấm áp, và Einstein không đưa ra lối thoát này. Thật vậy, Einstein không đưa ra giải pháp rõ ràng nào. Chân lý giản dị là đối trọng duy nhất với “chủ nghĩa duy vật” là “chủ nghĩa duy tâm”, và điều này phải phát sinh [x] từ chính trái tim của khoa học, như một sự phát triển tiến hoá. Những nhà nghiên cứu biết các dữ kiện của khoa học phải lấy tri thức của chúng ta về thiên nhiên và tổng hợp nó thành một khối các nguyên lý tích hợp để thiết lập vũ trụ luận Pythagoras-Plato-Bruno, một bức tranh thế giới tương tự như thuyết phiếm thần của tư tưởng phương Đông, trong đó con người có thể tôn kính thiên nhiên vì thiên nhiên xứng đáng với sự kính sợ và tôn kính. Một chủ nghĩa nhân văn lấy con người làm trung tâm một cách độc hữu thì mất quân bình và cần một triết học thế giới trong đó vũ trụ vô hạn và vĩnh cửu cung cấp điểm tựa kia cho trục mà quanh đó sự tổng hợp mới có thể chuyển động và tăng trưởng.
There is a remedy for "the sickness of modern man" and many of its constituents are found in this book on the education of the future. The implementation of the principles involved is the work of humanity itself. That its theories are not beyond the need and grasp of contemporary educationists is borne out by the fact that steps are already taken in several places for the setting up of experiments in education which are to express the need for synthesis. As an example of this development there is the "self-survey" project financed by the Ford Foundation out of which has come a proposal for a Department of Integrating Studies in the University of Pittsburgh. Part of the statement presenting this experiment reads as follows:
Có một phương thuốc cho “căn bệnh của con người hiện đại”, và nhiều thành tố của nó được tìm thấy trong cuốn sách này về nền giáo dục của tương lai. Việc thực thi các nguyên lý liên quan là công việc của chính nhân loại. Sự kiện các lý thuyết của nó không vượt quá nhu cầu và tầm nắm bắt của các nhà giáo dục đương đại được chứng thực bởi thực tế rằng ở nhiều nơi, người ta đã thực hiện các bước để thiết lập những thí nghiệm trong giáo dục nhằm diễn đạt nhu cầu tổng hợp. Như một ví dụ về sự phát triển này, có dự án “tự khảo sát” do Quỹ Ford tài trợ, từ đó đã xuất hiện một đề nghị thành lập Khoa Nghiên Cứu Tích Hợp tại Đại học Pittsburgh. Một phần của tuyên bố trình bày thí nghiệm này viết như sau:
"It has been proposed that a new department, outside the present three distribution fields of the Humanities, the Social Sciences and the Natural Sciences, and different from the departments within existing distribution fields, be established at the University of Pittsburgh. This new department shall be termed the Department of Unified Studies. It shall be concerned with seeking the interrelationships between various subject matter disciplines already available in the offerings of the University. The main objective is to cultivate the habit of reflective synthesis and find or create a body of wisdom for human evolution and personal self-development. [xi]
“Đã có đề nghị rằng một khoa mới, nằm bên ngoài ba lĩnh vực phân phối hiện nay là Nhân Văn, Khoa Học Xã Hội và Khoa Học Tự Nhiên, và khác với các khoa bên trong những lĩnh vực phân phối hiện hữu, nên được thành lập tại Đại học Pittsburgh. Khoa mới này sẽ được gọi là Khoa Nghiên Cứu Hợp Nhất. Khoa này sẽ quan tâm đến việc tìm kiếm các mối tương quan giữa những bộ môn chủ đề khác nhau đã có sẵn trong các chương trình của Đại học. Mục tiêu chính là nuôi dưỡng thói quen tổng hợp phản tư và tìm kiếm hoặc tạo ra một khối minh triết cho tiến hoá nhân loại và sự tự phát triển cá nhân. [xi]
"Since unified interpretation and understanding is not a science in its own right but a synoptic comprehension of antecedent bodies of concepts and principles, this department shall not offer degrees in its own area or 'field.' The Department of Unified Studies is primarily a service department to the students and faculty members carrying on their primary (but not more important) activities in the more specialized areas of study.
“Vì sự diễn giải và thấu hiểu hợp nhất không phải là một khoa học độc lập, mà là một sự thông hiểu tổng quát về các khối khái niệm và nguyên lý có trước, khoa này sẽ không cấp bằng trong lĩnh vực hay ‘ngành’ riêng của mình. Khoa Nghiên Cứu Hợp Nhất chủ yếu là một khoa phục vụ cho các sinh viên và giảng viên đang tiến hành các hoạt động chính yếu, nhưng không quan trọng hơn, của họ trong những lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt hơn.
"Until contemporary times, there has been little need for such an adjunct to our institutions of higher learning. But with the increase in size of our specialized bodies of knowledge —to the point where we are burying ourselves under the mountains of information and data—the time has come to take seriously the problem of finding out what all this knowledge means. If the University cannot synthesize the overall implications of modern learning it will abdicate its historic role of providing universal principles for enlightened individuals seeking the benefits of the good life. This urgent need here requires explicit statement and recognition, if we are consciously to design a solution to the problem.
“Cho đến thời hiện đại, rất ít có nhu cầu về một phần phụ trợ như vậy cho các cơ sở giáo dục bậc cao của chúng ta. Nhưng với sự gia tăng về quy mô của các khối tri thức chuyên môn hóa của chúng ta —đến mức chúng ta đang chôn vùi chính mình dưới những núi thông tin và dữ kiện—đã đến lúc phải nghiêm túc xem xét vấn đề tìm ra toàn bộ tri thức này có ý nghĩa gì. Nếu Đại học không thể tổng hợp các hàm ý toàn diện của học thuật hiện đại, nó sẽ thoái thác vai trò lịch sử của mình là cung cấp các nguyên lý phổ quát cho những cá nhân được soi sáng đang tìm kiếm các lợi ích của đời sống tốt đẹp. Nhu cầu cấp bách này ở đây đòi hỏi phải được trình bày và thừa nhận rõ ràng, nếu chúng ta muốn thiết kế một cách có ý thức một giải pháp cho vấn đề.
"The broad purpose of the Advancement of Learning (to use Bacon's phrase) is to throw light on four basic questions of human existence:
“Mục đích rộng lớn của Sự Tiến Bộ của Học Thuật, dùng cụm từ của Bacon, là soi sáng bốn câu hỏi căn bản của sự hiện hữu con người:
(1) What is man?
(1) Con người là gì?
(2) What kind of physical universe (cosmos) is it that man inhabits?
(2) Con người cư ngụ trong loại vũ trụ hồng trần nào?
(3) By what processes of evolution did the human species emerge from the matrix of nature so that man could become the self-conscious and creative individual he now is?
(3) Qua những tiến trình tiến hoá nào mà loài người đã xuất hiện từ lòng mẹ thiên nhiên để con người có thể trở thành cá nhân tự ý thức và sáng tạo như hiện nay?
(4) Knowing something about the cosmos and about human nature, what is the best kind of society for man's progressive self-evolution?
(4) Khi biết được điều gì đó về vũ trụ và về bản chất con người, loại xã hội tốt đẹp nhất cho sự tự tiến hoá tiến bộ của con người là gì?
"In seeking answers to these questions and providing students with the stimuli and data necessary to the formulation [xii] of their own answers, the instructors in the Department of Unified Studies will not pose as experts in integration. Along with interested students, the faculty members will be seekers after synthesis. To illustrate the type of courses contemplated, the following possibilities are suggested:
“Trong khi tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi này và cung cấp cho sinh viên các kích thích và dữ kiện cần thiết để hình thành [xii] các câu trả lời của chính họ, các giảng viên trong Khoa Nghiên Cứu Hợp Nhất sẽ không tự đặt mình như những chuyên gia về tích hợp. Cùng với các sinh viên quan tâm, các giảng viên sẽ là những người tìm kiếm sự tổng hợp. Để minh họa loại khóa học được dự tính, các khả năng sau đây được đề nghị:
1. The Sociology of Knowledge.
1. Xã Hội Học về Tri Thức.
2. The Interrelationships of Religion, Philosophy, Science and Art.
2. Các Mối Tương Quan giữa Tôn Giáo, Triết Học, Khoa Học và Nghệ Thuật.
3. Information Theory, Cybernetics and Semantics.
3. Lý Thuyết Thông Tin, Điều Khiển Học và Ngữ Nghĩa Học.
4. The History and Philosophy of Science.
4. Lịch Sử và Triết Học của Khoa Học.
5. The History and Presuppositions of the Democratic Theory of Government (Ideology).
5. Lịch Sử và Các Tiền Giả Định của Lý Thuyết Dân Chủ về Chính Quyền (Hệ Tư Tưởng).
6. Contributions of Biology, Sociology and Psychiatry to Human Welfare and Progress.
6. Những Đóng Góp của Sinh Học, Xã Hội Học và Tâm Thần Học cho Phúc Lợi và Tiến Bộ của Con Người.
7. The Unity of Knowledge.
7. Sự Thống Nhất của Tri Thức.
8. The Evolution of Value Systems from Primitive Culture to Modern Industrial Civilization.
8. Sự Tiến Hoá của Các Hệ Thống Giá Trị từ Văn Hóa Nguyên Thủy đến Nền Văn Minh Công Nghiệp Hiện Đại.
"The first prerequisites of all such courses is that they shall interrelate not less than three so-called departments of study. Thus the students and faculty will be encouraged to search for vision—'seeing life steadily and as a whole.'
“Điều kiện tiên quyết đầu tiên của tất cả những khóa học như vậy là chúng phải liên hệ lẫn nhau không ít hơn ba cái gọi là khoa nghiên cứu. Như vậy, sinh viên và giảng viên sẽ được khuyến khích tìm kiếm tầm nhìn—‘nhìn đời sống một cách vững vàng và như một toàn thể.’
The Tibetan's seed-principles will find prepared soil in such experimental fields.
Các nguyên lý hạt giống của Chân sư Tây Tạng sẽ tìm thấy mảnh đất đã được chuẩn bị trong những lĩnh vực thí nghiệm như vậy.
OLIVER L. REISER
OLIVER L. REISER
DEPARTMENT OF PHILOSOPHY
KHOA TRIẾT HỌC
UNIVERSITY OF PITTSBURGH
ĐẠI HỌC PITTSBURGH
PITTSBURGH, PENNSYLVANIA
PITTSBURGH, PENNSYLVANIA
U.S.A.
Hoa Kỳ.
CHAPTER I - The Objective of the New Education – CHƯƠNG I - Mục Tiêu của Nền Giáo Dục Mới
Introductory Statements – Các Phát Biểu Dẫn Nhập
[1] This presentation might be regarded as concerning itself with three different aspects of one general theme, which is that of the new and coming educational methods and ideas. The objective is to elucidate the cultural unfoldment of the race and to consider the next step to be taken in the mental development of humanity. Teaching, if true, must be in line with the past and must provide scope for endeavour in the present and must also hold out further enlightenment for those who have succeeded or are succeeding in attaining the indicated goals. There must be a spiritual future indicated. It is that which is required now.
[1] Bài trình bày này có thể được xem như liên quan đến ba phương diện khác nhau của một chủ đề tổng quát, đó là các phương pháp và ý tưởng giáo dục mới đang đến. Mục tiêu là làm sáng tỏ sự khai mở văn hóa của nhân loại và xem xét bước kế tiếp cần được thực hiện trong sự phát triển trí tuệ của nhân loại. Giáo huấn, nếu chân thật, phải phù hợp với quá khứ, phải cung cấp phạm vi cho nỗ lực trong hiện tại, và cũng phải mở ra sự giác ngộ xa hơn cho những người đã thành công hoặc đang thành công trong việc đạt tới các mục tiêu đã chỉ ra. Phải có một tương lai tinh thần được nêu rõ. Đó là điều hiện nay đang cần.
The word "spiritual" does not refer to religious matters, so-called. All activity which drives the human being forward towards some form of development—physical, emotional, mental, intuitional, social—if it is in advance of his present state is essentially spiritual in nature and is indicative of the livingness of the inner divine entity. The spirit of man is undying; it forever endures, progressing from point to point and stage to stage upon the Path of Evolution, unfolding steadily and sequentially the divine attributes and aspects.
Từ “tinh thần” không ám chỉ những vấn đề được gọi là tôn giáo. Mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến tới một hình thức phát triển nào đó—hồng trần, cảm xúc, trí tuệ, trực giác, xã hội—nếu nó đi trước trạng thái hiện tại của y, thì về bản chất là tinh thần và biểu thị sức sống của thực thể thiêng liêng bên trong. Tinh thần của con người là bất diệt; nó mãi mãi trường tồn, tiến từ điểm này sang điểm khác và từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trên Con Đường Tiến Hoá, tuần tự và đều đặn khai mở các thuộc tính và phương diện thiêng liêng.
[2] The three points of our general theme are:
[2] Ba điểm trong chủ đề tổng quát của chúng ta là:
1. The Technique of the Education of the Future.
1. Kỹ Thuật của Nền Giáo Dục Tương Lai.
2. The Science of the Antahkarana. This deals with the mode of bridging the gap which exists in man's consciousness between the world of ordinary human experience, the threefold world of physical-emotional-mental functioning, and the higher levels of so-called spiritual development which is the world of ideas, of intuitive perception, of spiritual insight and understanding.
2. Khoa Học về Antahkarana. Điều này đề cập đến phương thức bắt cầu qua khoảng cách hiện hữu trong tâm thức con người giữa thế giới kinh nghiệm nhân loại thông thường, thế giới tam phân của sự vận hành hồng trần-cảm xúc-trí tuệ, và các cấp độ cao hơn của sự phát triển gọi là tinh thần, vốn là thế giới của các ý tưởng, của nhận thức trực giác, của sự thấu hiểu và cái nhìn sâu sắc tinh thần.
3. Methods of Building the Antahkarana. This leads to the overcoming of the limitations—physical and psychological—which restrict man's free expression of his innate divinity. Here we can only prepare the ground for this third point because the subject involves advanced meditation practices which must be approached gradually. I have dealt with meditation in my other books.
3. Các Phương Pháp Xây Dựng Antahkarana. Điều này dẫn đến việc vượt qua các giới hạn—hồng trần và tâm lý—vốn hạn chế sự biểu lộ tự do của thiên tính bẩm sinh nơi con người. Ở đây chúng ta chỉ có thể chuẩn bị nền tảng cho điểm thứ ba này, vì đề tài liên quan đến các thực hành tham thiền nâng cao, vốn phải được tiếp cận dần dần. Tôi đã bàn đến tham thiền trong các sách khác của Tôi.
The question might here be asked, why it is of value to consider giving time to that which lies as yet in the future. I would reply by reminding you that "As a man thinketh, so is he." This is a truism and a platitude of occultism. Therefore, what is true of the individual is also true of the group and as a group thinks, so does it eventually react. As the group thought-waves penetrate into the mental atmosphere of humanity, men become impressed and the inaugurating of the new ways of living and of developing proceeds with increased facility. Here I seek only to give you some brief and general ideas which will serve to indicate to you the trend of my thought and the purpose which I have in mind. Perhaps the easiest way for me to do this is to formulate certain propositions which are of interest and which can carry illumination.
Ở đây có thể nêu câu hỏi rằng tại sao việc cân nhắc dành thời gian cho điều còn nằm trong tương lai lại có giá trị. Tôi xin đáp bằng cách nhắc các bạn rằng “Con người nghĩ thế nào, y là như thế ấy.” Đây là một chân lý hiển nhiên và một câu nói quen thuộc của huyền bí học. Vì vậy, điều đúng với cá nhân cũng đúng với nhóm, và khi một nhóm suy nghĩ thế nào, rốt cuộc nhóm ấy sẽ phản ứng như thế. Khi các làn sóng tư tưởng nhóm thâm nhập vào bầu khí quyển trí của nhân loại, con người được gây ấn tượng và việc khai mở những lối sống và phát triển mới tiến hành với sự dễ dàng gia tăng. Ở đây, Tôi chỉ tìm cách trao cho các bạn một vài ý tưởng ngắn gọn và tổng quát, những ý tưởng sẽ giúp chỉ cho các bạn khuynh hướng tư tưởng của Tôi và mục đích Tôi đang có trong trí. Có lẽ cách dễ nhất để Tôi làm điều này là phát biểu một số mệnh đề đáng quan tâm và có thể mang lại sự soi sáng.
I. Education, up to the present time, has been occupied with the art of synthesising past history, past achievement [3] in all departments of human thought and with the attainments to date of human knowledge. It has dealt with those forms of science which the past has evolved. It is primarily backward-looking and not forward-looking. I would remind you that I am here generalising, and that there are many and notable small exceptions to this attitude.
I. Giáo dục, cho đến hiện nay, đã bận tâm với nghệ thuật tổng hợp lịch sử quá khứ, thành tựu quá khứ [3] trong mọi ngành tư tưởng nhân loại và các thành quả cho đến nay của tri thức nhân loại. Nó đã đề cập đến những hình thức khoa học mà quá khứ đã tiến hoá nên. Về căn bản, nó nhìn về phía sau chứ không nhìn về phía trước. Tôi xin nhắc các bạn rằng ở đây Tôi đang khái quát hóa, và có nhiều ngoại lệ nhỏ nhưng đáng chú ý đối với thái độ này.
II. Education has concerned itself primarily with the organising of the lower mind, and a child's calibre has been largely gauged by its reaction to accumulated information (where education is concerned), collated and collected data, sequentially handed out, digested and arranged so as to equip the child to compete with the information which other people possess.
II. Giáo dục chủ yếu đã quan tâm đến việc tổ chức hạ trí, và năng lực của một đứa trẻ phần lớn được đo lường bằng phản ứng của nó đối với thông tin tích lũy, xét về mặt giáo dục, với các dữ kiện được đối chiếu và thu thập, được trao truyền tuần tự, được tiêu hóa và sắp xếp nhằm trang bị cho đứa trẻ khả năng cạnh tranh với thông tin mà những người khác sở hữu.
III. Education to date has been largely memory training, though there is now emerging the recognition that this attitude must end. The child has to assimilate the facts that the race believes to be true, has tested in the past and found adequate. But each age has a differing standard of adequacy. The Piscean Age dealt with the detail of the endeavour to measure up to a sensed ideal. Hence we have a history which covers the method whereby tribes acquired national status through aggression, war and conquest. That has been indicative of racial achievement.
III. Giáo dục cho đến nay phần lớn là sự rèn luyện trí nhớ, dù hiện nay đang xuất hiện sự nhận thức rằng thái độ này phải chấm dứt. Đứa trẻ phải đồng hóa các sự kiện mà nhân loại tin là chân thật, đã thử nghiệm trong quá khứ và thấy là đầy đủ. Nhưng mỗi thời đại có một tiêu chuẩn khác nhau về sự đầy đủ. Kỷ Nguyên Song Ngư đã xử lý chi tiết của nỗ lực vươn tới một lý tưởng được cảm nhận. Do đó, chúng ta có một lịch sử bao quát phương pháp theo đó các bộ lạc đạt được địa vị quốc gia qua xâm lược, chiến tranh và chinh phục. Điều đó đã biểu thị thành tựu của nhân loại.
Geography has been based on a similar reaction to an idea of expansion, and through it the child learns how men, driven by economic and other necessities, have conquered territory and absorbed lands. This too has been regarded, and rightly so, as a racial achievement. The various branches of science are also regarded as constituting the conquest of areas of territory, and this again is acclaimed as racial achievement. The conquests of science, the conquests of nations, and the conquests of territory are all indicative of the Piscean method, with its idealism, its militancy, and its separativeness in all fields—religious, political and economic. But the age of synthesis, of inclusiveness and of understanding is upon us, and the new education of the [4] Aquarian Age must begin very gently to penetrate the human aura.
Địa lý đã dựa trên một phản ứng tương tự đối với một ý tưởng về bành trướng, và qua đó đứa trẻ học cách con người, bị thúc đẩy bởi các nhu cầu kinh tế và các nhu cầu khác, đã chinh phục lãnh thổ và sáp nhập các vùng đất. Điều này cũng đã được xem, và đúng như vậy, là một thành tựu của nhân loại. Các ngành khoa học khác nhau cũng được xem như tạo thành sự chinh phục các vùng lãnh thổ, và điều này một lần nữa được tán dương như thành tựu của nhân loại. Những cuộc chinh phục của khoa học, những cuộc chinh phục của các quốc gia, và những cuộc chinh phục lãnh thổ đều biểu thị phương pháp Song Ngư, với chủ nghĩa lý tưởng, tính hiếu chiến và tính chia rẽ của nó trong mọi lĩnh vực—tôn giáo, chính trị và kinh tế. Nhưng thời đại của tổng hợp, của tính bao gồm và của sự thấu hiểu đang ở trước chúng ta, và nền giáo dục mới của [4] Kỷ Nguyên Bảo Bình phải bắt đầu thâm nhập rất nhẹ nhàng vào hào quang nhân loại.
IV. Education is more than memory training and more than informing a child or student as to the past and its achievements. Those factors have their place, and the past must be understood and studied, for out of it must grow that which is new, its flower and its fruit. Education involves more than the investigation of a subject and the forming of subsequent conclusions leading to hypotheses which, in their own turn, lead to still more investigation and conclusions. Education is more than a sincere effort to fit a child or adult to be a good citizen, an intelligent parent and no charge upon the state. It has a far wider application than producing a human being who will be a commercial asset and not a commercial liability. Education has other objectives than rendering life enjoyable and so enabling men and women to achieve a culture which will permit them to participate with interest in all that transpires in the three worlds of human affairs. It is all the above, but should also be much more.
IV. Giáo dục còn hơn sự rèn luyện trí nhớ và hơn việc thông báo cho một đứa trẻ hay học sinh về quá khứ và các thành tựu của nó. Những yếu tố ấy có vị trí của chúng, và quá khứ phải được thấu hiểu và nghiên cứu, vì từ đó điều mới mẻ, hoa và quả của nó, phải lớn lên. Giáo dục bao hàm nhiều hơn việc khảo sát một chủ đề và hình thành các kết luận tiếp theo dẫn đến các giả thuyết, rồi chính các giả thuyết ấy lại dẫn đến nhiều khảo sát và kết luận hơn nữa. Giáo dục còn hơn một nỗ lực chân thành nhằm làm cho một đứa trẻ hay người trưởng thành thích hợp để trở thành một công dân tốt, một phụ huynh thông minh và không là gánh nặng cho nhà nước. Nó có phạm vi áp dụng rộng hơn rất nhiều so với việc tạo ra một con người sẽ là một tài sản thương mại chứ không phải một khoản nợ thương mại. Giáo dục có những mục tiêu khác ngoài việc làm cho đời sống trở nên thú vị và nhờ vậy giúp những người nam và nữ đạt được một nền văn hóa cho phép họ tham gia với sự quan tâm vào tất cả những gì diễn ra trong ba cõi giới của các sự việc nhân loại. Nó là tất cả những điều trên, nhưng cũng phải là nhiều hơn thế.
V. Education has three major objectives, from the angle of human development:
V. Giáo dục có ba mục tiêu chính, xét từ góc độ phát triển con người:
First, as has been grasped by many, it must make a man an intelligent citizen, a wise parent, and a controlled personality; it must enable him to play his part in the work of the world and fit him for living peaceably and helpfully and in harmony with his neighbours.
Trước hết, như nhiều người đã nắm bắt, nó phải làm cho con người thành một công dân thông minh, một phụ huynh minh triết, và một phàm ngã được kiểm soát; nó phải giúp y đóng vai trò của mình trong công việc của thế giới và làm cho y thích hợp để sống hòa bình, hữu ích và hòa hợp với những người láng giềng của mình.
Second, it must enable him to bridge the gap between the various aspects of his own mental nature, and herein lies the major emphasis of the instructions which I am now purposing to give you.
Thứ hai, nó phải giúp y bắt cầu qua khoảng cách giữa các phương diện khác nhau của bản chất trí tuệ nơi chính y, và chính trong điều này có trọng tâm chính của các huấn thị mà hiện nay Tôi dự định trao cho các bạn.
In the esoteric philosophy we are taught, as well you know, that on the mental plane there are three aspects of the mind, or of that mental creature we call a man. These three aspects constitute the most important part of his nature: [5]
Trong triết học nội môn, như các bạn biết rõ, chúng ta được dạy rằng trên cõi trí có ba phương diện của trí tuệ, hay của sinh vật trí tuệ mà chúng ta gọi là con người. Ba phương diện này tạo thành phần quan trọng nhất trong bản chất của y: [5]
1. His lower concrete mind, the reasoning principle. It is with this aspect of the man that our educational processes profess to deal.
1. Hạ trí cụ thể của y, nguyên khí lý luận. Chính với phương diện này của con người mà các tiến trình giáo dục của chúng ta tự nhận là xử lý.
2. That Son of Mind, which we call the Ego or Soul. This is the intelligence principle, and is called by many names in the esoteric literature, such as the Solar Angel, the Agnishvattas, the Christ principle, etc. With this, religion in the past has professed to deal.
2. Con của Trí Tuệ ấy, mà chúng ta gọi là Chân ngã hay Linh hồn. Đây là nguyên khí trí tuệ, và được gọi bằng nhiều danh xưng trong văn học nội môn, như Thái dương Thiên Thần, các Agnishvatta, nguyên khí Christ, v.v. Chính với điều này mà tôn giáo trong quá khứ đã tự nhận là xử lý.
3. The higher abstract mind, the custodian of ideas, and that which is the conveyor of illumination to the lower mind, once that lower mind is en rapport with the soul. With this world of ideas philosophy has professed to deal.
3. Thượng trí trừu tượng, người gìn giữ các ý tưởng, và là cái truyền dẫn sự soi sáng đến hạ trí, một khi hạ trí ấy có quan hệ hòa hợp với linh hồn. Chính với thế giới các ý tưởng này mà triết học đã tự nhận là xử lý.
We might call these three aspects:
Chúng ta có thể gọi ba phương diện này là:
The receptive mind, the mind as dealt with by the psychologists.
Trí tiếp nhận, tức trí như được các nhà tâm lý học xử lý.
The individualised mind, the Son of Mind.
Trí đã biệt ngã hóa, Con của Trí Tuệ.
The illuminating mind, the higher mind.
Trí soi sáng, thượng trí.
Third, the gap between the lower mind and the soul has to be bridged, and curiously enough humanity has always realised this and has talked therefore in terms of "achieving unity" or "making the at-one-ment" or "attaining alignment." These are all attempts to express this intuitively realised truth.
Thứ ba, khoảng cách giữa hạ trí và linh hồn phải được bắt cầu; và kỳ lạ thay, nhân loại luôn luôn nhận biết điều này, nên đã nói bằng những thuật ngữ như “đạt đến hợp nhất”, “tạo nên sự nhất như” hay “đạt đến sự chỉnh hợp”. Tất cả những cách nói này đều là những nỗ lực nhằm diễn đạt chân lý đã được trực giác nhận biết ấy.
VI. Education also should concern itself during the new age with the bridging of this gap between the three aspects of the mind nature: between the soul and the lower mind, thus producing at-one-ment between soul and personality; between the lower mind, the soul and the higher mind. For this the race is now ready, and for the first time in the career of humanity the bridging work can go forward on a relatively large scale. On this I need not enlarge, for it concerns the technicalities of the Ancient Wisdom, on which I have given you much in my other books. [6]
VI. Giáo dục trong kỷ nguyên mới cũng phải quan tâm đến việc bắt cầu khoảng cách này giữa ba phương diện của bản chất trí tuệ: giữa linh hồn và hạ trí, nhờ đó tạo nên sự nhất như giữa linh hồn và phàm ngã; giữa hạ trí, linh hồn và thượng trí. Nhân loại hiện nay đã sẵn sàng cho điều này, và lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, công việc bắt cầu có thể tiến hành trên một quy mô tương đối rộng lớn. Tôi không cần nói thêm về điều này, vì nó liên quan đến các chi tiết kỹ thuật của Minh Triết Ngàn Đời, về điều mà Tôi đã trao cho các bạn nhiều trong các sách khác của Tôi. [6]
VII. Education is therefore the Science of the Antahkarana. This science and this term is the esoteric way of expressing the truth of this bridging necessity. The antahkarana is the bridge the man builds—through meditation, understanding and the magical creative work of the soul—between the three aspects of his mind nature. Therefore the primary objectives of the coming education will be:
VII. Vì vậy, giáo dục là Khoa Học về Antahkarana. Khoa học này và thuật ngữ này là cách nội môn để diễn đạt chân lý về nhu cầu bắt cầu ấy. Antahkarana là cây cầu mà con người xây dựng — qua tham thiền, sự thấu hiểu và công việc sáng tạo huyền thuật của linh hồn — giữa ba phương diện của bản chất trí tuệ nơi y. Vì vậy, những mục tiêu chính yếu của nền giáo dục sắp đến sẽ là:
1. To produce alignment between mind and brain through a correct understanding of the inner constitution of man, particularly of the etheric body and the force centres.
1. Tạo nên sự chỉnh hợp giữa thể trí và bộ não thông qua một sự thấu hiểu đúng đắn về cấu tạo bên trong của con người, đặc biệt là thể dĩ thái và các trung tâm mãnh lực.
2. To build or construct a bridge between the brain-mind-soul, thus producing an integrated personality which is a steady developing expression of the in-dwelling soul.
2. Xây dựng hay kiến tạo một cây cầu giữa bộ não-thể trí-linh hồn, nhờ đó tạo nên một phàm ngã tích hợp, vốn là biểu hiện đang phát triển vững chắc của linh hồn nội tại.
3. To build the bridge between the lower mind, soul, higher mind, so that the illumination of the personality becomes possible.
3. Xây dựng cây cầu giữa hạ trí, linh hồn và thượng trí, để sự soi sáng của phàm ngã trở nên khả hữu.
VIII. The true education is consequently the science of linking up the integral parts of man, and also of linking him up in turn with his immediate environment, and then with the greater whole in which he has to play his part. Each aspect, regarded as a lower aspect, can ever be simply the expression of the next higher. In this phrase I have expressed a fundamental truth which embodies not only the objective, but also indicates the problem before all interested in education. This problem is to gauge rightly the centre or the focus of a man's attention and to note where the consciousness is primarily centered. Then he must be trained in such a way that a shift of that focus into a higher vehicle becomes possible. We can also express this idea in an equally true manner by saying that the vehicle which seems of paramount importance can become and should become of secondary importance as it becomes simply the instrument of that which is higher than itself. [7] If the astral (emotional) body is the centre of the personality life, then the objective of the educational process imposed upon the subject will be to make the mind nature the dominating factor, and the astral body then becomes that which is impressed by, and is sensitive to, environing conditions, but is under the control of the mind. If the mind is the centre of personality attention, then the soul activity must be brought into fuller expression; and so on and on the work proceeds, progress being made from point to point until the top of the ladder has been reached.
VIII. Do đó, giáo dục đích thực là khoa học liên kết các phần cấu thành của con người, đồng thời lần lượt liên kết y với môi trường trực tiếp của y, rồi với toàn thể rộng lớn hơn trong đó y phải đóng vai trò của mình. Mỗi phương diện, khi được xem như một phương diện thấp hơn, bao giờ cũng có thể chỉ là sự biểu hiện của phương diện kế tiếp cao hơn. Trong cụm từ này, Tôi đã diễn đạt một chân lý nền tảng, không chỉ hàm chứa mục tiêu mà còn chỉ ra vấn đề trước mắt tất cả những ai quan tâm đến giáo dục. Vấn đề này là đo lường đúng trung tâm hay tiêu điểm chú ý của một người, và ghi nhận nơi tâm thức chủ yếu được tập trung. Khi ấy, y phải được huấn luyện theo cách sao cho việc chuyển dịch tiêu điểm ấy vào một vận cụ cao hơn trở nên khả hữu. Chúng ta cũng có thể diễn đạt ý tưởng này theo một cách đúng không kém, bằng cách nói rằng vận cụ nào dường như có tầm quan trọng tối thượng thì có thể, và phải, trở nên có tầm quan trọng thứ yếu khi nó chỉ còn là công cụ của cái cao hơn chính nó. [7] Nếu thể cảm dục hay cảm xúc là trung tâm của đời sống phàm ngã, thì mục tiêu của tiến trình giáo dục được áp đặt lên đối tượng sẽ là làm cho bản chất trí tuệ trở thành yếu tố chi phối; khi ấy thể cảm dục trở thành cái chịu ấn tượng bởi, và nhạy cảm với, các điều kiện chung quanh, nhưng ở dưới sự kiểm soát của thể trí. Nếu thể trí là trung tâm chú ý của phàm ngã, thì hoạt động của linh hồn phải được đưa vào sự biểu hiện đầy đủ hơn; và cứ như thế công việc tiếp diễn, tiến bộ được thực hiện từ điểm này sang điểm khác cho đến khi đạt tới đỉnh của chiếc thang.
It might be noted here that this entire exegesis of the mind and of the needed bridge building is but the practical demonstration of the truth of the occult aphorism that "before a man can tread the Path he must become that Path itself." The antahkarana is the Path symbolically. This is one of the paradoxes of the esoteric science. Step by step and stage by stage, we construct that Path just as the spider spins its thread. It is that "way back" which we evolve out of ourselves; it is that Way which we also find and tread.
Ở đây có thể lưu ý rằng toàn bộ phần diễn giải này về thể trí và về việc xây cầu cần thiết chỉ là sự minh chứng thực tiễn cho chân lý của châm ngôn huyền môn rằng “trước khi một người có thể bước trên Đường Đạo, y phải trở thành chính Đường Đạo ấy”. Antahkarana là Đường Đạo theo nghĩa biểu tượng. Đây là một trong những nghịch lý của khoa học nội môn. Từng bước một và từng giai đoạn một, chúng ta kiến tạo Đường Đạo ấy giống như con nhện se sợi tơ của nó. Đó là “con đường trở về” mà chúng ta tiến hoá ra từ chính mình; đó cũng là Con Đường mà chúng ta tìm thấy và bước đi.
Some Questions Answered – Một Số Câu Hỏi Được Giải Đáp
I will now attempt to deal somewhat with three questions on education asked by one of the students. I can but indicate the ideal, and in so doing I run the risk of producing an effect of being so visionary that any approach under our present system might be regarded as impossible.
Bây giờ Tôi sẽ cố gắng đề cập phần nào đến ba câu hỏi về giáo dục do một trong các môn sinh nêu ra. Tôi chỉ có thể chỉ ra lý tưởng; và khi làm như vậy, Tôi có nguy cơ tạo ra ấn tượng rằng mình quá viển vông đến nỗi mọi cách tiếp cận trong hệ thống hiện nay của chúng ta có thể bị xem là bất khả thi.
In answer to the first question, the prime function of all educators is twofold:
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, chức năng chính yếu của mọi nhà giáo dục là nhị phân:
1. To train the brain to respond intelligently to impressions coming to it via the sense apparatus and so carrying information about the outer tangible world.
1. Huấn luyện bộ não đáp ứng một cách thông minh với các ấn tượng đến với nó qua bộ máy giác quan, nhờ đó mang thông tin về thế giới hữu hình bên ngoài.
2. To train the mind so that it can fulfill three duties:
2. Huấn luyện thể trí để nó có thể hoàn thành ba nhiệm vụ:
a. Deal intelligently with information relayed to it by the brain. [8]
a. Xử lý một cách thông minh thông tin được bộ não chuyển đến cho nó. [8]
b. Create thoughtforms in response to impulses emanating from the physical planes; to emotional reactions set in motion by the feeling-desire nature; to the thought world, in which the man's environment is found.
b. Tạo ra các hình tư tưởng để đáp ứng với những xung động xuất phát từ các cõi hồng trần; với những phản ứng cảm xúc được khơi động bởi bản chất cảm xúc-dục vọng; với thế giới tư tưởng, trong đó môi trường của con người được tìm thấy.
c. Orient itself to the subjective spiritual self, so that, from a condition of potentiality, the self may emerge into active government.
c. Định hướng chính nó về bản ngã tinh thần chủ quan, để từ một trạng thái tiềm năng, bản ngã có thể xuất hiện trong quyền cai quản tích cực.
In this formulation of the function of the apparatus with which all educators have to deal (the mind and the brain), I have indicated the answer to the second question asked, which was:
Trong cách trình bày này về chức năng của bộ máy mà mọi nhà giáo dục phải xử lý, tức thể trí và bộ não, Tôi đã chỉ ra câu trả lời cho câu hỏi thứ hai được nêu, đó là:
"Are there definite types of activities, changing with the growing years and based on the phases of the growth process in the individual, that make for his best all-around development?"
“Có những loại hoạt động xác định nào, thay đổi theo những năm tháng trưởng thành và đặt nền trên các giai đoạn của tiến trình tăng trưởng nơi cá nhân, giúp cho sự phát triển toàn diện tốt nhất của y hay không?”
I differ somewhat concerning the periods indicated by such occult teachers as Steiner, for though the seven year cycles have their place, the division is apt to be over-applied. I would also suggest ten year cycles of development, divided into two parts: seven of learning and three of application.
Tôi có phần khác biệt trong quan điểm về các thời kỳ do những huấn sư huyền môn như Steiner nêu ra, vì dù các chu kỳ bảy năm có vị trí của chúng, sự phân chia ấy dễ bị áp dụng quá mức. Tôi cũng đề nghị các chu kỳ phát triển mười năm, chia làm hai phần: bảy năm học hỏi và ba năm áp dụng.
In the first ten years of a child's life he is taught to deal intelligently with information coming to him via the five senses to the brain. Observation, rapid response, and physical coordination as the result of intention, must be emphasised. The child must be taught to hear and see, to make contacts and to use judgment; and his fingers must then respond to creative impulses to make and produce what he sees and hears. Thus are laid the elements of the arts and crafts, of drawing and of music.
Trong mười năm đầu đời của một đứa trẻ, nó được dạy cách xử lý một cách thông minh những thông tin đến với nó qua năm giác quan vào bộ não. Cần nhấn mạnh sự quan sát, sự đáp ứng nhanh và sự phối hợp thể xác như kết quả của chủ định. Đứa trẻ phải được dạy nghe và thấy, tạo các tiếp xúc và sử dụng phán đoán; rồi các ngón tay của nó phải đáp ứng với những xung động sáng tạo để làm ra và tạo nên những gì nó thấy và nghe. Như vậy, các yếu tố của nghệ thuật và thủ công, của hội họa và âm nhạc được đặt nền.
In the next ten years the mind is definitely trained to become dominant. The child is taught to rationalise his emotional and desire impulses, and to discriminate the right from the wrong, the desirable from the undesirable, and the essential from the nonessential. This can be taught him [9] through the medium of history and the intellectual training which the cycle of his life makes compulsory under the laws of the country in which he lives. A sense of values and of right standards is thus established. He is taught the distinction between memory training and thinking; between bodies of facts, ascertained by thinkers and tabulated in books, and their application to the events of objective existence, plus (and here lies a thought of real importance) their subjective cause and their relation to the world of reality of which the phenomenal world is but the symbol.
Trong mười năm kế tiếp, thể trí được huấn luyện một cách rõ rệt để trở nên chi phối. Đứa trẻ được dạy cách lý giải các xung động cảm xúc và dục vọng của nó, và phân biện điều đúng với điều sai, điều đáng mong muốn với điều không đáng mong muốn, điều thiết yếu với điều không thiết yếu. Điều này có thể được dạy cho nó [9] qua phương tiện lịch sử và sự huấn luyện trí tuệ mà chu kỳ đời sống của nó khiến trở nên bắt buộc theo luật pháp của quốc gia nơi nó sống. Nhờ vậy, một ý thức về các giá trị và các chuẩn mực đúng đắn được thiết lập. Nó được dạy sự phân biệt giữa việc rèn luyện trí nhớ và việc suy nghĩ; giữa các khối sự kiện do các nhà tư tưởng xác minh và ghi thành bảng trong sách vở, với việc áp dụng chúng vào các biến cố của đời sống khách quan, cộng thêm — và chính ở đây có một tư tưởng thật sự quan trọng — nguyên nhân chủ quan của chúng và mối liên hệ của chúng với thế giới thực tại mà thế giới hiện tượng chỉ là biểu tượng.
At the age of seventeen the study of psychology will be added to the rest of the curriculum and the nature of the soul and its relation to the World Soul will be investigated. Meditation along suitable lines will be part of the curriculum. It should be noted here, however, that the religious implications of meditation are needless. Meditation is the process whereby the objective tendencies and outgoing impulses of the mind are thwarted, and it begins to be subjective, to focus and to intuit. This can be taught through the medium of deep thinking on any subject—mathematics, biology, and so forth.
Ở tuổi mười bảy, môn tâm lý học sẽ được thêm vào phần còn lại của chương trình học, và bản chất của linh hồn cùng mối liên hệ của nó với Linh Hồn Thế Giới sẽ được khảo sát. Tham thiền theo những đường lối thích hợp sẽ là một phần của chương trình học. Tuy nhiên, cần lưu ý ở đây rằng những hàm ý tôn giáo của tham thiền là không cần thiết. Tham thiền là tiến trình nhờ đó các khuynh hướng khách quan và các xung động hướng ngoại của thể trí bị ngăn lại, và nó bắt đầu trở nên chủ quan, tập trung và trực giác. Điều này có thể được dạy qua phương tiện suy nghĩ sâu sắc về bất kỳ đề tài nào — toán học, sinh học, vân vân.
The tendency of the newer education should be to make the subject of the educational experiment the conscious possessor of his equipment; it should leave him standing clear-eyed before life, with open doors ahead of him into the world of objective phenomena and relationships; it should have brought him to the knowledge of a door leading into the world of Reality and through which he may pass at will and there assume and work out his relation to other souls.
Khuynh hướng của nền giáo dục mới hơn phải là làm cho đối tượng của thí nghiệm giáo dục trở thành người sở hữu có ý thức đối với trang bị của mình; nó phải để y đứng trước đời sống với đôi mắt sáng rõ, với những cánh cửa mở ra phía trước y vào thế giới của các hiện tượng và các mối liên hệ khách quan; nó phải đưa y đến sự hiểu biết về một cánh cửa dẫn vào thế giới Thực Tại, qua đó y có thể đi vào tùy ý, và tại đó đảm nhận cũng như thực hiện mối liên hệ của mình với các linh hồn khác.
This second question—relating to the type of experience which would aid the child to round out his development and be supplementary to the compulsory state curriculum—is well-nigh impossible to answer, owing to the wide differences in human beings and the practical impossibility of finding those teachers who work as souls and as minds. [10]
Câu hỏi thứ hai này — liên quan đến loại kinh nghiệm sẽ giúp đứa trẻ hoàn thiện sự phát triển của nó và bổ sung cho chương trình bắt buộc của nhà nước — gần như không thể trả lời, do những khác biệt rất rộng lớn giữa các con người và sự bất khả thi về mặt thực tiễn trong việc tìm ra những huấn sư làm việc như các linh hồn và như các thể trí. [10]
Every child should be studied in three directions. First, to ascertain the natural trend of his impulses: Are they towards physical expression, towards manual labor, in which one would include such a wide range of opportunity as that of the mechanical factory worker and the trained skill of the electrician? Is there a latent capacity for one or other of the arts, a reaction to colour and form, or a response to music and rhythm? Is the intellectual calibre one that should warrant a definitely mental training in analysis, deduction, mathematics or logic? Then perhaps as life goes on our young people will be graded into two groups: the mystical, under which heading one would group those with religious, artistic and the more impractical tendencies; and the occult, which would include the intellectual, scientific and mental types. By the time a child is seventeen the training given should have enabled him to strike his note clearly, and should have indicated the pattern into which his life impulses will most probably run. In the first fourteen years, opportunity should be given to experiment in many fields of opportunity. Pure vocational training should not be emphasised until the later years of the educational process.
Mỗi đứa trẻ nên được nghiên cứu theo ba hướng. Thứ nhất, để xác định khuynh hướng tự nhiên của các xung động nơi nó: Chúng hướng về biểu hiện thể xác, về lao động tay chân, trong đó người ta sẽ bao gồm một phạm vi cơ hội rộng lớn như công nhân nhà máy cơ khí và kỹ năng được đào tạo của người thợ điện chăng? Có năng lực tiềm ẩn đối với một hay nhiều nghệ thuật, một phản ứng với màu sắc và hình tướng, hay một đáp ứng với âm nhạc và nhịp điệu chăng? Tầm vóc trí tuệ có phải là loại biện minh cho một sự huấn luyện trí tuệ rõ rệt về phân tích, suy diễn, toán học hay luận lý chăng? Khi ấy, có lẽ khi đời sống tiếp diễn, lớp trẻ của chúng ta sẽ được phân loại thành hai nhóm: nhóm thần bí, dưới tiêu đề này người ta sẽ nhóm những người có các khuynh hướng tôn giáo, nghệ thuật và thiên về tính ít thực tiễn hơn; và nhóm huyền môn, bao gồm các kiểu người trí thức, khoa học và trí tuệ. Đến khi một đứa trẻ được mười bảy tuổi, sự huấn luyện được trao nên đã giúp nó xướng rõ âm điệu của mình, và nên đã chỉ ra mô hình mà các xung động đời sống của nó rất có thể sẽ đi theo. Trong mười bốn năm đầu, phải trao cơ hội để thử nghiệm trong nhiều lĩnh vực cơ hội. Huấn luyện nghề nghiệp thuần túy không nên được nhấn mạnh cho đến những năm sau của tiến trình giáo dục.
The time is coming when all children will be studied in the following directions:
Thời kỳ đang đến khi mọi trẻ em sẽ được nghiên cứu theo các hướng sau:
1. Astrologically, to determine the life tendencies and the peculiar problem of the soul.
1. Về mặt chiêm tinh, để xác định các khuynh hướng đời sống và vấn đề đặc thù của linh hồn.
2. Psychologically, supplementing the best of modern psychology with a knowledge of the Seven Ray types, which colours eastern psychology (see pages 18-23).
2. Về mặt tâm lý, bổ sung những gì tốt nhất của tâm lý học hiện đại bằng tri thức về bảy kiểu cung, điều vốn nhuộm màu tâm lý học phương Đông (xem các trang 18–23).
3. Medically, with special attention to the endocrine system, plus the usual modern methods in relation to eyes, teeth and other physiological defects. The nature of the response apparatus will be carefully studied and developed.
3. Về mặt y học, với sự chú ý đặc biệt đến hệ nội tiết, cộng với các phương pháp hiện đại thông thường liên quan đến mắt, răng và các khiếm khuyết sinh lý khác. Bản chất của bộ máy đáp ứng sẽ được nghiên cứu và phát triển cẩn thận.
4. Vocationally, so as to place them later in life where their gifts and capacities may find fullest expression [11] and enable them thus to fulfill their group obligations.
4. Về mặt nghề nghiệp, để về sau trong đời đặt chúng vào nơi mà các thiên tư và năng lực của chúng có thể tìm được sự biểu hiện đầy đủ nhất [11] và nhờ đó giúp chúng hoàn thành các bổn phận nhóm của mình.
5. Spiritually. By this I mean that the apparent age of the soul under consideration will be studied, and the place on the ladder of evolution will be approximately noted; mystical and introspective tendencies will be considered and their apparent lack noted. Coordination between:
5. Về mặt tinh thần. Qua điều này, Tôi muốn nói rằng tuổi biểu kiến của linh hồn đang được xét đến sẽ được nghiên cứu, và vị trí trên chiếc thang tiến hoá sẽ được ghi nhận một cách xấp xỉ; các khuynh hướng thần bí và nội quan sẽ được xem xét, và sự thiếu vắng biểu kiến của chúng cũng được ghi nhận. Sự phối hợp giữa:
a. Brain and the response apparatus in the outer world of phenomena,
a. Bộ não và bộ máy đáp ứng trong thế giới hiện tượng bên ngoài,
b. Brain and desire impulses, plus emotional reactions,
b. Bộ não và các xung động dục vọng, cộng với các phản ứng cảm xúc,
c. Brain and mind and the world of thought,
c. Bộ não và thể trí cùng thế giới tư tưởng,
d. Brain, mind and soul,
d. Bộ não, thể trí và linh hồn,
will be carefully investigated so as to bring the entire equipment of the child, latent or developed, into functioning activity and to unify it into a whole.
sẽ được khảo sát cẩn thận để đưa toàn bộ trang bị của đứa trẻ, dù tiềm ẩn hay đã phát triển, vào hoạt động chức năng và hợp nhất nó thành một toàn thể.
The third question asks:
Câu hỏi thứ ba nêu lên:
"What is the process of the unfoldment of the intellect in man? How does the higher mind manifest, if at all, in the growing years?"
“Tiến trình khai mở của trí năng nơi con người là gì? Thượng trí biểu lộ như thế nào, nếu quả có biểu lộ, trong những năm tháng trưởng thành?”
It is not possible in the short time at our command to deal here with the history of the progress of mental development. A study of its racial growth will reveal much, for every child is an epitome of the whole. A study, for instance, of the growth of the God-idea in the human consciousness would prove a profitable illustration of the phenomena of thought development. A sequence of growth might most inadequately and briefly be tabulated as follows, based upon the process of unfoldment in a human being:
Trong thời gian ngắn ngủi mà chúng ta có, không thể ở đây bàn đến lịch sử tiến bộ của sự phát triển trí tuệ. Việc nghiên cứu sự tăng trưởng của nó trong nhân loại sẽ mặc khải nhiều điều, vì mỗi đứa trẻ là hình ảnh thu nhỏ của toàn thể. Chẳng hạn, việc nghiên cứu sự tăng trưởng của ý tưởng về Thượng đế trong tâm thức nhân loại sẽ là một minh họa hữu ích về các hiện tượng của sự phát triển tư tưởng. Một chuỗi tăng trưởng có thể được lập bảng một cách rất không đầy đủ và ngắn gọn như sau, dựa trên tiến trình khai mở nơi một con người:
1. Response to impact, the infant's sense awakened. He begins to hear and see.
1. Đáp ứng với va chạm, giác quan của trẻ sơ sinh được đánh thức. Nó bắt đầu nghe và thấy.
2. Response to possession and to acquisitiveness. The child begins to appropriate, becomes self-conscious and grasps for the personal self. [12]
2. Đáp ứng với sự sở hữu và với tính chiếm hữu. Đứa trẻ bắt đầu chiếm lấy, trở nên tự ý thức và nắm bắt cho bản ngã cá nhân. [12]
3. Response to the instinct governing the animal and desire nature, and to human tendencies.
3. Đáp ứng với bản năng chi phối bản chất động vật và dục vọng, cũng như với các khuynh hướng nhân loại.
4. Response to the group. The child becomes aware of his environment and that he is an integral part of a whole.
4. Đáp ứng với nhóm. Đứa trẻ trở nên ý thức về môi trường của nó và về việc nó là một phần cấu thành của một toàn thể.
5. Response to knowledge. This begins with the impartation of informative facts, and so to the registration, through the memory, of these facts; thus are developed interest, correlation, synthesis and application to the exigencies of the life.
5. Đáp ứng với tri thức. Điều này bắt đầu bằng việc truyền đạt các sự kiện thông tin, rồi đến việc ghi nhận các sự kiện ấy qua trí nhớ; nhờ đó phát triển hứng thú, sự liên hệ, tổng hợp và áp dụng vào các đòi hỏi cấp bách của đời sống.
6. Response to the innate need to search. This leads to experiment on the physical plane, to introspection on the emotional plane, and to intellectual study and a love of reading or of listening, thus bringing the mind into some condition of activity.
6. Đáp ứng với nhu cầu bẩm sinh phải tìm kiếm. Điều này dẫn đến thử nghiệm trên cõi hồng trần, đến nội quan trên cõi cảm dục, và đến nghiên cứu trí tuệ cùng tình yêu đọc sách hay lắng nghe, nhờ đó đưa thể trí vào một trạng thái hoạt động nào đó.
7. Response to economic and sex pressure or to the law of survival. This forces him to use his equipment and knowledge and so take his place as a factor in the group life, and to promote group welfare by some aspect of active work and by the perpetuation of the species.
7. Đáp ứng với áp lực kinh tế và tính dục, hay với định luật sinh tồn. Điều này buộc y sử dụng trang bị và tri thức của mình, nhờ đó đảm nhận vị trí như một yếu tố trong đời sống nhóm, và thúc đẩy phúc lợi nhóm bằng một phương diện nào đó của công việc tích cực và bằng sự duy trì nòi giống.
8. Response to pure intellectual awareness. This leads to a conscious free use of the mind, to individual thinking, to the creation of thoughtforms, and eventually to the steady orientation of the mind to a wider and wider field of realisation and awareness. These expansions of consciousness finally bring a new factor into the field of experience.
8. Đáp ứng với nhận thức trí tuệ thuần túy. Điều này dẫn đến việc sử dụng thể trí một cách tự do và có ý thức, đến tư duy cá nhân, đến việc tạo ra các hình tư tưởng, và cuối cùng đến sự định hướng vững chắc của thể trí vào một lĩnh vực chứng nghiệm và nhận thức ngày càng rộng lớn hơn. Những mở rộng tâm thức này sau cùng đưa một yếu tố mới vào lĩnh vực kinh nghiệm.
9. Response to the Thinker or the soul. With the registration of this response, the man enters into his kingdom. The above and the below become as one. The objective and the subjective worlds are unified. Soul and its mechanism function as a unit.
9. Đáp ứng với Chủ Thể Tư Tưởng hay linh hồn. Khi sự đáp ứng này được ghi nhận, con người bước vào giới của y. Cái trên và cái dưới trở nên như một. Các thế giới khách quan và chủ quan được hợp nhất. Linh hồn và bộ máy của nó hoạt động như một đơn vị.
Towards this consummation all education should tend. Practically speaking, except in rare and highly evolved souls, [13] the higher mind does not manifest in children, any more than it did in infant humanity. It can only truly make its presence felt when soul and mind and brain are aligned and coordinated. Flashes of insight and vision when seen in the young, are frequently the reaction of their very sensitive response apparatus to group ideas and the dominant thoughts of their time and age, or of someone in their environment.
Mọi nền giáo dục nên hướng đến sự viên mãn này. Nói một cách thực tiễn, ngoại trừ nơi những linh hồn hiếm hoi và tiến hoá cao, [13] thượng trí không biểu lộ nơi trẻ em, cũng như nó đã không biểu lộ nơi nhân loại sơ khai. Nó chỉ thật sự có thể làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận khi linh hồn, thể trí và bộ não được chỉnh hợp và phối hợp. Những lóe sáng của minh sát và tầm nhìn khi xuất hiện nơi người trẻ thường là phản ứng của bộ máy đáp ứng rất nhạy cảm của họ đối với các ý tưởng nhóm và các tư tưởng chi phối của thời đại họ, hoặc của một người nào đó trong môi trường của họ.
Let me now deal briefly with the points raised concerning the attitude of the teacher, particularly towards adult aspirants.
Bây giờ Tôi xin đề cập ngắn gọn đến những điểm được nêu liên quan đến thái độ của huấn sư, đặc biệt đối với những người chí nguyện trưởng thành.
The true teacher must deal in truth and in sincerity with all seekers. His time (in so far as he is held by the time equation on the physical plane) is too valuable to waste in social politeness or in refraining from making critical comment where a good purpose would be served. He must depend thoroughly upon the sincerity of those whom he teaches. Nevertheless, criticism and the pointing out of faults and errors does not always prove helpful; it may but increase responsibility, evoke antagonism or unbelief, or produce depression—three of the most undesirable results of the use of the critical faculty.
Huấn sư chân chính phải xử lý mọi người tìm kiếm bằng chân lý và sự thành thật. Thời gian của y, trong chừng mực y bị ràng buộc bởi phương trình thời gian trên cõi hồng trần, quá quý giá để lãng phí vào lịch sự xã giao hay vào việc kiềm chế không đưa ra nhận xét phê bình khi một mục đích tốt đẹp sẽ được phục vụ. Y phải hoàn toàn dựa vào sự thành thật của những người mà y dạy. Tuy nhiên, sự phê bình và việc chỉ ra các khuyết điểm, sai lầm không phải lúc nào cũng tỏ ra hữu ích; nó có thể chỉ làm tăng trách nhiệm, gợi lên sự đối kháng hay hoài nghi, hoặc tạo ra sự chán nản — ba kết quả bất lợi nhất của việc sử dụng năng lực phê bình.
By stimulating their interest, by producing a subjective synthesis in the group he is teaching, and by fanning the flame of their spiritual aspiration, the group may arrive at a right discrimination as to their joint quality and necessities, and thus they will render the ordinary faultfinding attitude of the teacher unnecessary.
Bằng cách kích thích sự quan tâm của họ, tạo ra một tổng hợp chủ quan trong nhóm mà y đang dạy, và thổi bùng ngọn lửa khát vọng tinh thần của họ, nhóm có thể đạt đến sự phân biện đúng đắn về phẩm tính và nhu cầu chung của họ, và như thế họ sẽ khiến thái độ thường tình hay tìm lỗi của huấn sư trở nên không cần thiết.
Those upon the teaching ray will learn to teach by teaching. There is no surer method, provided it is accompanied by a deep love, personal yet at the same time impersonal, for those who are to be taught. Above everything else, I would enjoin upon you the inculcation of the group spirit, for that is the first expression of true love. Two points only would I make:
Những ai thuộc cung giảng dạy sẽ học cách giảng dạy bằng chính việc giảng dạy. Không có phương pháp nào chắc chắn hơn, miễn là nó đi kèm với một tình thương sâu xa, có tính cá nhân nhưng đồng thời vô ngã, dành cho những người sẽ được dạy. Trên hết mọi điều, Tôi muốn khuyên các bạn gieo trồng tinh thần nhóm, vì đó là biểu hiện đầu tiên của tình thương chân chính. Tôi chỉ muốn nêu hai điểm:
First of all, in teaching children up to fourteen years of age, it is necessary to bear in mind that they are emotionally [14] focussed. They need to feel, and rightly to feel beauty, strength and wisdom. They must not be expected to rationalise before that time, even if they show evidence of the power so to do. After fourteen years and during adolescence their mental response to truth should be drawn out and counted upon to deal with presented problems. Even if it is not there, an effort should be made to evoke it.
Trước hết, khi dạy trẻ em cho đến mười bốn tuổi, cần ghi nhớ rằng chúng được tập trung về mặt cảm xúc. [14] Chúng cần cảm nhận, và cảm nhận đúng về vẻ đẹp, sức mạnh và minh triết. Không nên kỳ vọng chúng lý giải trước thời điểm ấy, dù chúng có cho thấy bằng chứng về khả năng làm như vậy. Sau mười bốn tuổi và trong thời kỳ thiếu niên, sự đáp ứng trí tuệ của chúng đối với chân lý nên được gợi mở và được trông cậy để xử lý các vấn đề được trình bày. Ngay cả nếu nó chưa có đó, cũng nên nỗ lực để gợi lên nó.
Secondly, an attempt should be made to approximate the child's place upon the ladder of evolution by a study of his background, his physical equipment, the nature of his response apparatus with its varied reactions, and his major interests. This enquiry sets up a subjective rapport with the child which is far more potent in its results than would be months and months of strenuously used words in the effort to convey an idea.
Thứ hai, nên cố gắng ước định vị trí của đứa trẻ trên chiếc thang tiến hoá bằng cách nghiên cứu bối cảnh của nó, trang bị thể xác của nó, bản chất của bộ máy đáp ứng nơi nó với các phản ứng đa dạng, và các mối quan tâm chính của nó. Sự khảo sát này thiết lập một mối liên hệ chủ quan với đứa trẻ, mạnh mẽ hơn rất nhiều trong kết quả so với nhiều tháng nhiều tháng dùng lời lẽ một cách căng thẳng nhằm cố truyền đạt một ý tưởng.