Trích nội dung chương
All that I have to say here is still in the nature of introductory remarks. Please bear this in mind. I am anxious, however, to lay a sound foundation for our future discussions on the building of the antahkarana, so that we can work intelligently, but not critically. It is essential that as we start our work it should be based on that which is today in existence. Nature works without any gaps, and this is so even when (from the standpoint of academic science) there is an apparent hiatus between facts and known species. In transitional periods some of the bridging forms have disappeared and the gap appears to be there. But it is not so in…
Theory, Methods and Goals – Lý Thuyết, Phương Pháp và Mục Tiêu
All that I have to say here is still in the nature of introductory remarks. Please bear this in mind. I am anxious, however, to lay a sound foundation for our future discussions on the building of the antahkarana, so that we can work intelligently, but not critically. It is essential that as we start our work it should be based on that which is today in existence. Nature works without any gaps, and this is so even when (from the standpoint of academic science) there is an apparent hiatus between facts and known species. In transitional periods some of the bridging forms have disappeared and the gap appears to be there. But it is not so in fact. We have not yet discovered all that is to be found in the world of phenomenal appearances. We are passing through one of the great natural transitional periods at this time. We are laying the foundation for the emergence of a new species of human being—a more highly evolved unit within the human family—hence much of our problem, and much of the present failure to meet the demands [15] of the race, and to measure up to human need for development.
Tất cả những gì Tôi phải nói ở đây vẫn mang bản chất của những nhận xét nhập đề. Xin hãy ghi nhớ điều này. Tuy nhiên, Tôi nóng lòng đặt một nền tảng vững chắc cho các cuộc thảo luận tương lai của chúng ta về việc xây dựng antahkarana, để chúng ta có thể làm việc một cách thông minh, nhưng không phê phán. Điều thiết yếu là khi chúng ta bắt đầu công việc, nó phải đặt nền trên cái đang hiện hữu ngày nay. Thiên nhiên làm việc không có bất kỳ khoảng trống nào, và điều này vẫn đúng ngay cả khi, từ lập trường của khoa học hàn lâm, có một khoảng gián đoạn biểu kiến giữa các sự kiện và các loài đã biết. Trong các thời kỳ chuyển tiếp, một số hình tướng bắt cầu đã biến mất và khoảng cách dường như có đó. Nhưng sự thật không phải như vậy. Chúng ta vẫn chưa khám phá tất cả những gì có thể được tìm thấy trong thế giới của các sắc tướng hiện tượng. Vào lúc này, chúng ta đang đi qua một trong những thời kỳ chuyển tiếp tự nhiên vĩ đại. Chúng ta đang đặt nền tảng cho sự xuất hiện của một loài mới trong nhân loại — một đơn vị tiến hoá cao hơn trong gia đình nhân loại — do đó có nhiều vấn đề của chúng ta, và nhiều thất bại hiện nay trong việc đáp ứng các đòi hỏi [15] của nhân loại, cũng như trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của con người.
We have, in the world, a general theory as to education, and certain basic methods are universally employed. Countries vary greatly in the application of methods, and systems differ very considerably. All, however, teach these same fundamental things; they teach the youth of the country to read and write and to attain a fair measure of ability to deal with figures through instruction in elementary arithmetic. These three are curiously symbolic of the whole evolutionary unfoldment of the race.
Trong thế giới, chúng ta có một lý thuyết tổng quát về giáo dục, và một số phương pháp căn bản được sử dụng phổ quát. Các quốc gia khác nhau rất nhiều trong việc áp dụng các phương pháp, và các hệ thống khác biệt đáng kể. Tuy nhiên, tất cả đều dạy những điều nền tảng giống nhau; chúng dạy thanh thiếu niên của quốc gia biết đọc, biết viết và đạt được một mức khả năng khá trong việc xử lý các con số qua sự hướng dẫn về số học sơ đẳng. Ba điều này, kỳ lạ thay, là biểu tượng của toàn bộ sự khai mở tiến hoá của nhân loại.
Reading has to do with the clothing of ideas with form and is related to the first step in the creative process, wherein Deity, governed and impelled by an idea (embodying God's purpose and plan), converted that idea into the desired substance and clothed it with the needed outer appearance. Writing symbolises the method whereby the process is carried on, but it is of course far more personal in its implications. Reading is concerned essentially with the realisation of a clothed idea of some kind, whereas writing is, curiously enough, concerned with the individual's conscious self-relation to ideas, and his use of words in writing is the measure of the grasp he may have of these universal ideas. Arithmetic (and the power to add, to subtract, and to multiply) is related also to the creative process and concerns the production of those forms upon the physical plane which will adequately produce the idea and bring it to manifestation.
Việc đọc liên quan đến việc khoác hình tướng cho các ý tưởng, và liên hệ với bước đầu trong tiến trình sáng tạo, trong đó Thượng đế, được chi phối và thúc đẩy bởi một ý tưởng vốn hàm chứa mục đích và Thiên Cơ của Thượng đế, đã chuyển ý tưởng ấy thành chất liệu mong muốn và khoác cho nó sắc tướng bên ngoài cần thiết. Việc viết tượng trưng cho phương pháp nhờ đó tiến trình được tiếp tục, nhưng dĩ nhiên nó mang hàm ý cá nhân hơn nhiều. Việc đọc cốt yếu liên quan đến sự nhận biết một ý tưởng đã được khoác hình thức nào đó, trong khi việc viết, kỳ lạ thay, liên quan đến mối tự liên hệ có ý thức của cá nhân với các ý tưởng, và việc y dùng các từ trong khi viết là thước đo mức độ nắm bắt của y đối với các ý tưởng phổ quát này. Số học, cùng quyền năng cộng, trừ và nhân, cũng liên hệ với tiến trình sáng tạo và liên quan đến việc tạo ra những hình tướng trên cõi hồng trần sẽ biểu hiện đầy đủ ý tưởng và đưa nó vào sự biểu lộ.
Vision might be regarded as concerning itself with the higher levels of the mental plane, whereon the idea is sensed and seen. Writing has a more definite relation to the concrete levels of the mental plane and to the ability of the man to bring through and express these visioned ideas in his own particular form. Arithmetic has a definite relation to subsequent aspects of the process and to the emergence of the idea into some correlated form upon the [16] physical plane. The visioning of the thoughtform is a process which must be succeeded by the appropriation of as much energy by the idea as is needed to make it effective or "apparent" (esoterically speaking). Of this the symbolism of arithmetic is the expression.
Tầm nhìn có thể được xem là liên quan đến các cấp độ cao hơn của cõi trí, nơi ý tưởng được cảm nhận và nhìn thấy. Việc viết có mối liên hệ xác định hơn với các cấp độ cụ thể của cõi trí và với khả năng của con người trong việc đưa xuyên qua và diễn đạt các ý tưởng đã được nhìn thấy này trong hình thức đặc thù của chính y. Số học có mối liên hệ xác định với các phương diện kế tiếp của tiến trình và với sự xuất hiện của ý tưởng trong một hình thức liên hệ nào đó trên [16] cõi hồng trần. Việc hình dung hình tư tưởng là một tiến trình phải được tiếp nối bằng việc ý tưởng thu hút lấy lượng năng lượng cần thiết để làm cho nó hữu hiệu hay “hiển hiện” theo nghĩa nội môn. Biểu tượng học của số học là sự biểu hiện của điều này.
From another angle, man reads his destiny in the heavens and writes out that destiny in his life upon the earth; he reduces, knowingly or unknowingly, the idea of his soul to due and proper form, so that each life adds, subtracts and multiplies, until the sum of each soul's experiencing is complete. Thus, symbolically, the three basic ideas are held in elementary education, though their true meaning is divorced from reality and the right significance is entirely lost. All that we have, however, emerging slowly and definitely through the medium of world education, is built upon this unrealised scaffolding. The fundamental necessity which today confronts the educational world is the need to relate the process of unfolding the human mentality to the world of meaning, and not to the world of objective phenomena. Until the aim of education is to orient a man to this inner world of realities, we shall have the misplaced emphasis of the present time. Until we can arrive in our educational objectives at the bridging of the gap between the three lower aspects of man and the soul (a bridging which must take place upon the mental levels of consciousness), we shall make but little progress in right directions and all interim activity will be inadequate to the modern need. Until the fact of the higher mind is recognised, and the place which the lower concrete mind should fill as the servant of the higher is likewise recognised, we shall have the overdevelopment of the concrete materialising faculty—with its aptitude to memorise, to correlate facts and to produce that which will meet man's lower desire—but we shall not have a humanity which can truly think. As yet, the mind reflects the lower desire nature and does not attempt to cognise the higher. [17]
Từ một góc độ khác, con người đọc vận mệnh của mình trên các tầng trời và viết ra vận mệnh ấy trong đời sống của y trên Trái Đất; y chuyển ý tưởng của linh hồn mình thành hình thức thích đáng và đúng đắn, dù biết hay không biết, để mỗi đời sống cộng thêm, trừ bớt và nhân lên, cho đến khi tổng số kinh nghiệm của mỗi linh hồn được hoàn tất. Như vậy, theo nghĩa biểu tượng, ba ý tưởng căn bản được giữ trong giáo dục sơ đẳng, dù ý nghĩa đích thực của chúng bị tách khỏi thực tại và thâm nghĩa đúng đắn hoàn toàn bị mất. Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta có, đang xuất hiện chậm rãi và rõ rệt qua phương tiện giáo dục thế giới, đều được xây dựng trên giàn giáo chưa được nhận biết này. Nhu cầu nền tảng đang đối diện với thế giới giáo dục ngày nay là cần liên hệ tiến trình khai mở trí tuệ con người với thế giới của ý nghĩa, chứ không phải với thế giới của các hiện tượng khách quan. Cho đến khi mục tiêu của giáo dục là định hướng con người về thế giới nội tại của các thực tại này, chúng ta sẽ vẫn có sự nhấn mạnh đặt sai chỗ của thời hiện tại. Cho đến khi trong các mục tiêu giáo dục của mình, chúng ta có thể đạt đến việc bắt cầu khoảng cách giữa ba phương diện thấp của con người và linh hồn, một sự bắt cầu phải diễn ra trên các cấp độ trí của tâm thức, chúng ta sẽ chỉ tiến bộ rất ít theo các hướng đúng đắn, và mọi hoạt động tạm thời sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu hiện đại. Cho đến khi sự kiện về thượng trí được công nhận, và vị trí mà hạ trí cụ thể phải đảm nhiệm như kẻ phụng sự của thượng trí cũng được công nhận, chúng ta sẽ có sự phát triển quá mức của năng lực cụ thể hoá và vật chất hoá — với khả năng ghi nhớ, liên hệ các sự kiện và tạo ra cái đáp ứng dục vọng thấp của con người — nhưng chúng ta sẽ không có một nhân loại có thể thật sự suy nghĩ. Cho đến nay, thể trí phản chiếu bản chất dục vọng thấp và không cố gắng nhận thức cái cao hơn. [17]
When the right method of training is instituted, the mind will be developed into a reflector or agent of the soul and so sensitised to the world of true values that the lower nature—emotional, mental and physical or vital—will become simply the automatic servant of the soul. The soul will then function on earth through the medium of the mind, thereby controlling its instrument, the lower mind. Yet at the same time, the mind will remain the recorder and reflector of all information coming to it from the world of the senses, from the emotional body, and will register also the thoughts and the ideas current in its environment. At present, it is alas true, the trained mind is regarded as the highest expression of which humanity is capable; it is viewed entirely as a personality, and the possibility of there being something which can use the mind, as the mind in its turn uses the physical brain, is overlooked.
Khi phương pháp huấn luyện đúng đắn được thiết lập, thể trí sẽ được phát triển thành một vật phản chiếu hay tác nhân của linh hồn, và trở nên nhạy cảm với thế giới của các giá trị chân thật đến mức bản chất thấp — cảm xúc, trí tuệ và hồng trần hay sinh lực — sẽ chỉ trở thành kẻ phụng sự tự động của linh hồn. Khi ấy linh hồn sẽ hoạt động trên Trái Đất qua phương tiện thể trí, nhờ đó kiểm soát công cụ của nó là hạ trí. Tuy nhiên, đồng thời, thể trí vẫn sẽ là bộ ghi nhận và phản chiếu mọi thông tin đến với nó từ thế giới giác quan, từ thể cảm dục, và cũng sẽ ghi nhận các tư tưởng và ý tưởng đang lưu hành trong môi trường của nó. Hiện nay, than ôi, đúng là thể trí được huấn luyện được xem là biểu hiện cao nhất mà nhân loại có khả năng đạt được; nó được nhìn hoàn toàn như một phàm ngã, và người ta bỏ qua khả năng có một cái gì đó có thể sử dụng thể trí, cũng như thể trí đến lượt nó sử dụng bộ não thể xác.
One of the things which we shall seek to do in our studies together is to grasp the relation of the world of meaning to the world of expression; we shall attempt to study the technique whereby this world of quality (which expresses itself through the world of meaning) can be entered and understood by the integrated consciousness of the intelligent human being.
Một trong những điều chúng ta sẽ tìm cách làm trong các nghiên cứu chung là nắm bắt mối liên hệ của thế giới ý nghĩa với thế giới biểu hiện; chúng ta sẽ cố gắng nghiên cứu kỹ thuật nhờ đó thế giới phẩm tính này, vốn tự biểu hiện qua thế giới ý nghĩa, có thể được bước vào và thấu hiểu bởi tâm thức tích hợp của con người thông minh.
Certain words will recur again and again as we work and study together; such words as meaning, quality, value—all of which stand revealed in their vital spiritual significance when man learns to grasp the fact of the higher realities and bridges the gap between his higher and his lower consciousness. The significance also of creative activity and the right understanding of what we call genius will likewise be made clearer, and in this way creative work will no longer be regarded as unique and manifesting sporadically as is now the case but will become the subject of trained attention, and so assume its normal place in man's unfoldment. It might be added here that creative activity in the field of art becomes possible when the first aspect of [18] the bridging energy of man can function and the soul (manifesting its third or lowest aspect) can begin to work. Creative work can be carried forward when two of the "knowledge petals" of the egoic lotus are unfolded. The man can produce, through knowledge and creative energy, something upon the physical plane which will be expressive of the soul's creative power. When two of the "love petals" are also unfolded, then a genius makes his appearance. This is a technical piece of information for those students who are studying the science of the Ageless Wisdom, but it is of no value to those who do not recognise symbology, or the fact of the higher ego or soul.
Một số từ sẽ lặp đi lặp lại khi chúng ta cùng làm việc và học hỏi; những từ như ý nghĩa, phẩm tính, giá trị — tất cả đều được mặc khải trong thâm nghĩa tinh thần sống động của chúng khi con người học cách nắm bắt sự kiện về các thực tại cao hơn và bắt cầu khoảng cách giữa tâm thức cao và thấp của y. Thâm nghĩa của hoạt động sáng tạo và sự thấu hiểu đúng về điều chúng ta gọi là thiên tài cũng sẽ trở nên rõ ràng hơn; và theo cách này, công việc sáng tạo sẽ không còn được xem là độc nhất và biểu lộ rải rác như hiện nay, mà sẽ trở thành đối tượng của sự chú ý được huấn luyện, và nhờ đó đảm nhận vị trí bình thường của nó trong sự khai mở của con người. Ở đây có thể thêm rằng hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật trở nên khả hữu khi phương diện thứ nhất của [18] năng lượng bắt cầu nơi con người có thể hoạt động, và linh hồn, biểu lộ phương diện thứ ba hay thấp nhất của nó, có thể bắt đầu làm việc. Công việc sáng tạo có thể được tiến hành khi hai “cánh hoa tri thức” của Hoa Sen Chân Ngã được khai mở. Con người có thể tạo ra, qua tri thức và năng lượng sáng tạo, một điều gì đó trên cõi hồng trần, vốn sẽ diễn đạt quyền năng sáng tạo của linh hồn. Khi hai “cánh hoa bác ái” cũng được khai mở, khi ấy một thiên tài xuất hiện. Đây là một mẩu thông tin kỹ thuật dành cho những môn sinh đang nghiên cứu khoa học của Minh Triết Ngàn Đời, nhưng nó không có giá trị đối với những ai không công nhận biểu tượng học, hay sự kiện về chân ngã cao hơn hoặc linh hồn.
It might be of value here if I clarified my use of the words "higher ego." As you know, if you have read A Treatise on the Seven Rays, Vols. I and II (Esoteric Psychology), the soul is an aspect of the divine energy in time and space. We are told that the Solar Logos circumscribed for His use and for the meeting of His desire, a certain measure of the substance of space and informed it with His life and consciousness. He did this for His good purposes and in conformity with His self-realised plan and intent. Thus He submitted Himself to limitation. The human monad followed the same procedure and—in time and space—limited itself in a similar manner. On the physical plane and in the physical body, this phenomenal and transient entity controls its phenomenal appearance through the two aspects of life and consciousness. The life principle—the flow of divine energy through all forms—is temporarily seated in the heart, while the consciousness principle, the soul of all things, is located (temporarily as far as the form nature of a particular human unit is concerned) within the brain. As again you know, the life principle controls the mechanism through the medium of the blood stream, for "the blood is the life," and uses the heart as its central organ; whilst the consciousness principle [19] uses the nervous system as its instrument, with the intricate extensions of the organ of sensitivity, the spinal column.
Ở đây có thể hữu ích nếu Tôi làm rõ cách Tôi dùng các từ “chân ngã cao hơn”. Như các bạn biết, nếu các bạn đã đọc Luận về Bảy Cung, quyển I và II, tức Tâm Lý Học Nội Môn, linh hồn là một phương diện của năng lượng thiêng liêng trong thời gian và không gian. Chúng ta được bảo rằng Thái dương Thượng đế đã khoanh định để Ngài sử dụng và để đáp ứng dục vọng của Ngài một lượng nhất định chất liệu của không gian, rồi thấm nhuần nó bằng sự sống và tâm thức của Ngài. Ngài làm điều này vì các mục đích tốt lành của Ngài và phù hợp với Thiên Cơ cùng ý định mà Ngài tự chứng nghiệm. Như vậy, Ngài tự đặt mình vào giới hạn. Chân thần nhân loại đã theo cùng thủ tục ấy và — trong thời gian và không gian — tự giới hạn chính nó theo một cách tương tự. Trên cõi hồng trần và trong thể xác, thực thể hiện tượng và thoáng qua này kiểm soát sắc tướng hiện tượng của nó qua hai phương diện sự sống và tâm thức. Nguyên khí sự sống — dòng năng lượng thiêng liêng tuôn chảy qua mọi hình tướng — tạm thời an trú trong tim, trong khi nguyên khí tâm thức, linh hồn của muôn vật, được đặt, tạm thời xét theo bản chất hình tướng của một đơn vị nhân loại đặc thù, trong bộ não. Như các bạn cũng biết, nguyên khí sự sống kiểm soát bộ máy qua phương tiện dòng máu, vì “máu là sự sống”, và sử dụng tim như cơ quan trung tâm của nó; trong khi nguyên khí tâm thức [19] sử dụng hệ thần kinh làm công cụ của nó, với các phần mở rộng phức tạp của cơ quan nhạy cảm là cột sống.
The objective of education should therefore be the training of the mechanism to respond to the life of the soul. The higher Self or Soul is the sumtotal of the consciousness of the Monad, again in time and space. The lower self or soul is, for our purposes, as much of that sumtotal as any one person in any one life can use and express. This activity is dependent upon the type and quality of the body nature, the mechanism produced by soul activity in other lives, and the effect of reaction to environing conditions. The increasing of soul awareness, the deepening of the flow of consciousness, and the development of an inner continuity of awareness, plus the evocation of soul attributes and aspects upon the physical plane through the medium of its triple mechanism, constitute the objective of all education. These aspects are, as you well know:
Do đó, mục tiêu của giáo dục phải là huấn luyện bộ máy đáp ứng với sự sống của linh hồn. Bản Ngã Cao Siêu hay Linh Hồn là tổng số tâm thức của Chân thần, cũng trong thời gian và không gian. Phàm ngã hay linh hồn thấp, đối với các mục đích của chúng ta, là phần của tổng số ấy mà bất kỳ một người nào trong bất kỳ một đời sống nào có thể sử dụng và biểu hiện. Hoạt động này tùy thuộc vào kiểu loại và phẩm tính của bản chất thân thể, bộ máy được tạo ra bởi hoạt động linh hồn trong các đời sống khác, và tác động của phản ứng đối với các điều kiện chung quanh. Sự gia tăng nhận thức linh hồn, sự đào sâu dòng chảy tâm thức, và sự phát triển của một tính liên tục nội tại của nhận thức, cộng với việc gợi lên các thuộc tính và phương diện của linh hồn trên cõi hồng trần qua phương tiện bộ máy tam phân của nó, cấu thành mục tiêu của mọi nền giáo dục. Các phương diện này, như các bạn biết rõ, là:
1. Will or purpose. This, through education, should be developed to the point where the manifested life is governed by conscious spiritual purpose and the life tendency is correctly oriented towards reality.
1. Ý chí hay mục đích. Điều này, qua giáo dục, phải được phát triển đến mức đời sống biểu lộ được chi phối bởi mục đích tinh thần có ý thức và khuynh hướng đời sống được định hướng đúng đắn về thực tại.
The right direction of the will should be one of the major concerns of all true educators. The will-to-good, the will-to-beauty, and the will-to-serve must be cultivated.
Sự định hướng đúng đắn của ý chí phải là một trong những mối quan tâm chính yếu của mọi nhà giáo dục chân chính. Ý Chí-hướng Thiện, Ý Chí-hướng về Vẻ Đẹp và Ý Chí-Phụng sự phải được vun bồi.
2. Love-wisdom. This is essentially the unfolding of the consciousness of the whole. We call it group consciousness. Its first development is self-consciousness, which is the realisation by the soul that (in the three worlds of human evolution) man is the Three in One and One in Three. He can therefore react to the associated groups of lives which constitute his own little phenomenal appearance; self-consciousness [20] is, therefore, a stage on the way to group consciousness and is the consciousness of the Immediate.
2. Bác Ái – Minh Triết. Về bản chất, đây là sự khai mở tâm thức của toàn thể. Chúng ta gọi đó là tâm thức nhóm. Sự phát triển đầu tiên của nó là ngã thức, tức sự nhận biết của linh hồn rằng trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, con người là Ba trong Một và Một trong Ba. Do đó, y có thể phản ứng với các nhóm sự sống liên kết vốn cấu thành sắc tướng hiện tượng nhỏ bé của chính y; vì vậy, ngã thức [20] là một giai đoạn trên đường đi đến tâm thức nhóm và là tâm thức của cái Trực Tiếp.
Through education, this self-consciousness must be unfolded until the man recognises that his consciousness is a corporate part of a greater whole. He blends then with the group interests, activities and objectives. They are eventually his and he becomes group conscious. This is love. It leads to wisdom, which is love in manifested activity. Self-interest becomes group interest. Such should be the major objective of all true educational endeavour. Love of self (self-consciousness), love of those around us (group-consciousness), become eventually love of the whole (God consciousness). Such are the steps.
Qua giáo dục, ngã thức này phải được khai mở cho đến khi con người nhận ra rằng tâm thức của y là một phần hợp nhất của một toàn thể lớn hơn. Khi ấy y hòa nhập với các lợi ích, hoạt động và mục tiêu của nhóm. Cuối cùng chúng trở thành của y và y trở nên có tâm thức nhóm. Đây là tình thương. Nó dẫn đến minh triết, tức tình thương trong hoạt động biểu lộ. Lợi ích bản thân trở thành lợi ích nhóm. Đó phải là mục tiêu chính yếu của mọi nỗ lực giáo dục chân chính. Tình thương bản thân, tức ngã thức, tình thương đối với những người quanh chúng ta, tức tâm thức nhóm, cuối cùng trở thành tình thương đối với toàn thể, tức tâm thức Thượng đế. Đó là các bước.
3. Active Intelligence. This concerns the unfolding of the creative nature of the conscious, spiritual man. It takes place through right use of the mind, with its power to intuit ideas, to respond to impact, to translate, analyse, and to construct forms for revelation. Thus the soul of man creates. This creative process can be described, as far as its steps are concerned, as follows:
3. Trí Tuệ Hoạt Động. Điều này liên quan đến sự khai mở bản chất sáng tạo của con người tinh thần có ý thức. Nó diễn ra qua việc sử dụng đúng thể trí, với quyền năng trực giác các ý tưởng, đáp ứng với va chạm, chuyển dịch, phân tích và kiến tạo các hình tướng cho sự mặc khải. Như vậy linh hồn của con người sáng tạo. Tiến trình sáng tạo này, xét theo các bước của nó, có thể được mô tả như sau:
a. The soul creates its physical body, its phenomenal appearance, its outer form.
a. Linh hồn sáng tạo thể xác của nó, sắc tướng hiện tượng của nó, hình tướng bên ngoài của nó.
b. The soul creates, in time and space, in line with its desires. Thus the secondary world of phenomenal things comes into being and our modern civilisation is the result of this creative activity of the soul's desire nature, limited by form. Ponder on this.
b. Linh hồn sáng tạo trong thời gian và không gian, phù hợp với các dục vọng của nó. Như vậy, thế giới thứ yếu của các sự vật hiện tượng đi vào hiện hữu, và nền văn minh hiện đại của chúng ta là kết quả của hoạt động sáng tạo này của bản chất dục vọng nơi linh hồn, bị giới hạn bởi hình tướng. Hãy suy ngẫm về điều này.
c. The soul creates through the direct agency of the lower mind and hence the appearance of the world of symbols which fill our united lives with interest, concepts, ideas and beauty, through the written word, the spoken word, and the creative [21] arts. These are the products of the thought of the thinkers of the race.
c. Linh hồn sáng tạo qua tác nhân trực tiếp của hạ trí, và từ đó có sự xuất hiện của thế giới biểu tượng, vốn làm đầy đời sống chung của chúng ta bằng hứng thú, quan niệm, ý tưởng và vẻ đẹp, qua chữ viết, lời nói và các nghệ thuật [21] sáng tạo. Đây là những sản phẩm của tư tưởng nơi các nhà tư tưởng của nhân loại.
The right direction of this already developed tendency is the aim of all true education. The nature of ideas, the modes of intuiting them, and the laws which should govern all creative work are its goals and objectives. Thus we come to the world of attributes which supplement the activity of the three aspects, in the same way that the three major rays are enhanced and aided by the work of the four minor rays. These four attributive unfoldments in man, through the activity of the soul in manifestation, are:
Sự định hướng đúng đắn của khuynh hướng đã phát triển này là mục đích của mọi nền giáo dục chân chính. Bản chất của các ý tưởng, các phương thức trực giác chúng, và các định luật phải chi phối mọi công việc sáng tạo là các mục tiêu và đích nhắm của nó. Như vậy, chúng ta đi đến thế giới của các thuộc tính, vốn bổ sung cho hoạt động của ba phương diện, giống như ba cung chính được tăng cường và trợ giúp bởi công việc của bốn cung phụ. Bốn sự khai mở thuộc tính này nơi con người, qua hoạt động của linh hồn trong biểu lộ, là:
4. The attribute of harmony, produced through conflict. This leads to release and to the eventual power to create. This is one of the attributes which education should deal with from the angle of the intuition and should hold before its exponents as personality and group objectives. It is the attribute latent in all forms and is that innate urge or discontent which leads man to struggle and progress and evolve in order finally to make atonement and union with his soul. It is the lowest aspect of that higher spiritual and monadic triad which reflects itself in the soul. It is the consciousness of harmony and beauty which drives the human unit along the path of evolution to an eventual return to his emanating Source.
4. Thuộc tính của sự hài hòa, được tạo ra qua xung đột. Điều này dẫn đến sự giải thoát và đến quyền năng sau cùng để sáng tạo. Đây là một trong các thuộc tính mà giáo dục phải xử lý từ góc độ trực giác, và phải đặt trước những người thực hiện nó như các mục tiêu của phàm ngã và của nhóm. Đó là thuộc tính tiềm ẩn trong mọi hình tướng, và là thôi thúc hay sự bất mãn bẩm sinh dẫn con người đến đấu tranh, tiến bộ và tiến hoá, để sau cùng tạo nên sự nhất như và hợp nhất với linh hồn của y. Đó là phương diện thấp nhất của tam nguyên tinh thần và chân thần cao hơn, vốn phản chiếu chính nó trong linh hồn. Đó là tâm thức về sự hài hòa và vẻ đẹp, thúc đẩy đơn vị nhân loại đi dọc theo con đường tiến hoá đến sự trở về sau cùng với Nguồn phát xuất của y.
Education must work, therefore, with this dissatisfaction and interpret it to those who are taught, so that they can understand themselves and work intelligently.
Vì vậy, giáo dục phải làm việc với sự bất mãn này và diễn giải nó cho những người được dạy, để họ có thể thấu hiểu chính mình và làm việc một cách thông minh.
5. The attribute of concrete knowledge whereby man is enabled to concretise his concepts and so build thoughtforms whereby he materialises his visions and his dreams and brings his ideas into being. This he does through the activity of the lower concrete mind. [22]
5. Thuộc tính của tri thức cụ thể, nhờ đó con người có khả năng cụ thể hoá các quan niệm của mình và xây dựng các hình tư tưởng, qua đó y hiện hình các tầm nhìn và ước mơ của mình, đồng thời đưa các ý tưởng của mình vào hiện hữu. Y làm điều này qua hoạt động của hạ trí cụ thể. [22]
The true work of education is to train the lower man in right discrimination and true sensitivity to the vision, so that he can build true to the purpose of his soul and produce upon the earth that which will be his contribution to the whole. It is right here that the work of modern education has to begin. Not yet can man work with intelligence in the world of ideas and of patterns; not yet is he sensitive to the true spiritual values. This is the goal for the disciple, even though the masses cannot yet function on these levels. The first thing that must be done is to train the child in the correct use of the discriminating faculty and in the power of choice and of directed purpose. He must be brought to a truer understanding of the underlying purpose of being, and be led to work with wisdom in the field of creative activity, which means, in the last analysis, in the right use of the "mind stuff" (the chitta of Patanjali). Thus and only thus, can he be released from the control of his lower nature.
Công việc đích thực của giáo dục là huấn luyện phàm nhân trong sự phân biện đúng và sự nhạy cảm chân thật đối với tầm nhìn, để y có thể xây dựng đúng theo mục đích của linh hồn mình và tạo ra trên Trái Đất điều sẽ là sự đóng góp của y cho toàn thể. Chính ở đây công việc của nền giáo dục hiện đại phải bắt đầu. Con người chưa thể làm việc với trí tuệ trong thế giới ý tưởng và mô hình; y chưa nhạy cảm với các giá trị tinh thần chân thật. Đây là mục tiêu dành cho đệ tử, dù quần chúng chưa thể hoạt động trên các cấp độ này. Điều đầu tiên phải làm là huấn luyện đứa trẻ trong việc sử dụng đúng năng lực phân biện và trong quyền năng chọn lựa cùng mục đích được định hướng. Nó phải được đưa đến một sự thấu hiểu chân thật hơn về mục đích nền tảng của hiện tồn, và được dẫn dắt để làm việc với minh triết trong lĩnh vực hoạt động sáng tạo; rốt cuộc, điều này có nghĩa là sử dụng đúng “chất liệu trí” (chitta của Patanjali). Như vậy, và chỉ như vậy, y mới có thể được giải thoát khỏi sự kiểm soát của bản chất thấp.
6. The attribute of devotion is the next to be considered. Devotion grows out of and is the fruit of dissatisfaction, plus the use of the faculty of choice. According to the depths of a man's discontent, and of his power to see clearly, he passes from one point of temporary satisfaction to another, each time demonstrating his devotion to a desire, to a personality, to an ideal, and to a vision, until he finally unifies himself with the ideal which is the highest possible to man. This is, first of all, the soul; and then the Oversoul or God.
6. Thuộc tính của sùng tín là điều kế tiếp cần được xem xét. Sùng tín phát triển từ, và là quả của, sự bất mãn cộng với việc sử dụng năng lực chọn lựa. Tùy theo chiều sâu của sự bất mãn nơi một người, và quyền năng thấy rõ của y, y chuyển từ điểm thỏa mãn tạm thời này sang điểm khác, mỗi lần biểu lộ sự sùng tín của mình đối với một dục vọng, một phàm ngã, một lý tưởng và một tầm nhìn, cho đến khi sau cùng y hợp nhất chính mình với lý tưởng cao nhất mà con người có thể đạt được. Trước hết, đó là linh hồn; rồi sau đó là Đại Hồn hay Thượng đế.
Educators are therefore faced with the opportunity of dealing intelligently with the innate idealism to be found in any child, and with the interesting task of leading the youth of the world on from one realised goal to another. But this they must do in the future from the angle of the ultimate [23] soul objective and not, as in the past, from the angle of a particular standard of national education. This is an important point, for it will mark the shift of attention from the nonessential to the essential.
Vì vậy, các nhà giáo dục đứng trước cơ hội xử lý một cách thông minh chủ nghĩa lý tưởng bẩm sinh có thể tìm thấy trong bất kỳ đứa trẻ nào, và trước nhiệm vụ thú vị là dẫn dắt thanh niên thế giới đi từ một mục tiêu đã đạt được sang một mục tiêu khác. Nhưng trong tương lai, họ phải làm điều này từ góc độ mục tiêu [23] tối hậu của linh hồn, chứ không, như trong quá khứ, từ góc độ của một tiêu chuẩn giáo dục quốc gia đặc thù. Đây là một điểm quan trọng, vì nó sẽ đánh dấu sự chuyển dịch chú ý từ cái không thiết yếu sang cái thiết yếu.
7. Finally the attribute of order, and the imposition of an established rhythm through the development of innate faculty to function under directed purpose and ritual. This particular attribute of divinity is now highly developed in one aspect, so that we have today much standardisation of humanity, and the autocratic imposition of a ritualistic rhythm upon public life in a large number of countries. It can be seen to perfection in the life in our public schools—but it is an undesirable perfection. This is partly due to the recognition that the unit or individual is only a part of a greater whole (a recognition which is much needed) and a part of the evolutionary unfoldment of the race. Owing, however, to our faulty application of any new truth it means as yet the submergence of that unit in the group, leaving him little opportunity for the free play of the individual will, intelligence, purpose and soul technique. Educators will have to work with this principle of innate attribute and this instinct to ordered rhythm, making it more creatively constructive and so providing, through it, a field for the unfoldment of soul powers.
7. Sau cùng là thuộc tính của trật tự, và sự áp đặt một nhịp điệu đã được thiết lập qua việc phát triển năng lực bẩm sinh để hoạt động dưới mục đích và nghi lễ được định hướng. Thuộc tính đặc thù này của thiên tính hiện nay đã được phát triển cao trong một phương diện, đến nỗi ngày nay chúng ta có nhiều sự tiêu chuẩn hoá nhân loại, và sự áp đặt độc đoán một nhịp điệu nghi lễ lên đời sống công cộng trong rất nhiều quốc gia. Nó có thể được thấy ở mức hoàn hảo trong đời sống tại các trường công của chúng ta — nhưng đó là một sự hoàn hảo không đáng mong muốn. Điều này một phần là do sự công nhận rằng đơn vị hay cá nhân chỉ là một phần của một toàn thể lớn hơn, một sự công nhận rất cần thiết, và là một phần của sự khai mở tiến hoá của nhân loại. Tuy nhiên, do việc áp dụng sai lầm của chúng ta đối với bất kỳ chân lý mới nào, điều đó hiện nay vẫn có nghĩa là sự chìm khuất của đơn vị ấy trong nhóm, khiến y có rất ít cơ hội cho sự vận hành tự do của ý chí, trí tuệ, mục đích và kỹ thuật linh hồn cá nhân. Các nhà giáo dục sẽ phải làm việc với nguyên khí của thuộc tính bẩm sinh này và với bản năng hướng đến nhịp điệu có trật tự này, làm cho nó mang tính kiến tạo sáng tạo hơn, và nhờ đó cung cấp qua nó một lĩnh vực cho sự khai mở các quyền năng của linh hồn.
I have digressed thus far so as to instill certain of the basic ideas which should underlie the educational tendencies. These thoughts, coupled with those already given, constitute a statement of the objectives before the educators of the world which you would find it of value to consider. Earlier I suggested the goal. I now link that goal up with possibilities, for I have here touched upon the [24] equipment (aspects and attributes) which is found, in some stage of development, in every human being. It is with these hidden traits and instincts that the future educational systems must work. They must not work, as they do today, with the brain apparatus and with the lowest aspects of the mind; nor must they lay their emphasis upon the effort to impress upon that brain and mind the facts, so-called, of the evolutionary process and of physical plane investigation.
Tôi đã đi ra ngoài đề tài đến mức này để gieo vào một số ý tưởng căn bản phải nằm dưới các khuynh hướng giáo dục. Những tư tưởng này, kết hợp với những điều đã được trao, cấu thành một phát biểu về các mục tiêu trước mắt những nhà giáo dục của thế giới, mà các bạn sẽ thấy là đáng để suy xét. Trước đây Tôi đã đề nghị mục tiêu. Bây giờ Tôi liên kết mục tiêu ấy với các khả năng, vì ở đây Tôi đã chạm đến [24] trang bị, tức các phương diện và thuộc tính, được tìm thấy ở một giai đoạn phát triển nào đó trong mọi con người. Chính với các nét tính cách và bản năng ẩn tàng này mà các hệ thống giáo dục tương lai phải làm việc. Chúng không được làm việc, như hiện nay, với bộ máy não bộ và với các phương diện thấp nhất của thể trí; cũng không được đặt trọng tâm vào nỗ lực in sâu vào bộ não và thể trí ấy những sự kiện gọi là của tiến trình tiến hoá và của sự khảo sát trên cõi hồng trần.
The above remarks will serve to show you that the true educator should be working with energies in a world of energy; that these energies are tinged and qualified by distinctive divine attributes, and that each human being therefore can be regarded as an aggregate of energies, dominated by some one particular type of energy which serves to make him distinctive among his fellows, and which produces the differences among human beings. If it is true that there are seven major types of energy qualifying all forms, and that these in their turn are subdivided into forty-nine types of qualified energy, the complexity of the problem emerges clearly. If it is true that all these distinctive energies play constantly upon energy-substance (spirit-matter), producing "the myriad forms which make up the form of God" (Bhagavad Gita, XI), and that each child is the microcosmical representation (at some stage of development) of the Macrocosm, the magnitude of the problem becomes evident, and the extent of our demanded service will call forth to the utmost the powers which any human being can express at any given moment in time and space.
Những nhận xét trên sẽ giúp các bạn thấy rằng nhà giáo dục chân chính phải làm việc với các năng lượng trong một thế giới năng lượng; rằng các năng lượng này được nhuộm màu và định tính bởi các thuộc tính thiêng liêng riêng biệt; và do đó mỗi con người có thể được xem như một tổng hợp các năng lượng, bị chi phối bởi một loại năng lượng đặc thù nào đó, vốn khiến y trở nên khác biệt giữa các đồng loại và tạo ra những khác biệt giữa các con người. Nếu đúng là có bảy loại năng lượng chính định tính mọi hình tướng, và đến lượt chúng lại được chia nhỏ thành bốn mươi chín loại năng lượng đã được định tính, thì sự phức tạp của vấn đề hiện ra rõ ràng. Nếu đúng là tất cả những năng lượng riêng biệt này không ngừng tác động lên chất liệu-năng lượng, tức tinh thần-vật chất, tạo ra “vô số hình tướng hợp thành hình tướng của Thượng đế” (Bhagavad Gita, XI), và mỗi đứa trẻ là sự biểu hiện tiểu thiên địa, ở một giai đoạn phát triển nào đó, của Đại thiên địa, thì tầm vóc của vấn đề trở nên hiển nhiên, và phạm vi phụng sự được đòi hỏi nơi chúng ta sẽ kêu gọi đến mức tối đa các quyền năng mà bất kỳ con người nào có thể biểu hiện tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian và không gian.
You will note that these words "in time and space" have repeatedly recurred in this instruction. Why is this? Because it must constantly be remembered that we are living in the world of illusion—an illusion which is temporary and transient and which will some day disappear, taking with it the illusion of appearance, the illusion of evolutionary [25] unfoldment, the illusion of separativeness, and the illusion of distinctive identity—that illusion which makes us say "I am." The educator of the future will start his service to the child with the recognition of this ephemeral and transient misconception of the soul, and will deal primarily with the mind aspect, and not with the imposition of as much imparted organised knowledge concerning phenomenal existence as the memory of the child is capable of grasping. How can I illustrate this changed attitude to you in the simplest form? Perhaps by pointing out that, whereas today parents and guardians of the child spend much of their time in answering or evading questions posed by the awakening consciousness of the child, in time to come the situation will be reversed. Parents will ceaselessly meet the demands of the emerging intelligence of the child by always enquiring of the child, Why? Why ask this? Why is it thus?—and so throwing always the responsibility of answering the questions upon the child, yet at the same time dropping the solution of the question subtly into the child's mind.
Các bạn sẽ lưu ý rằng những từ “trong thời gian và không gian” đã lặp đi lặp lại trong huấn thị này. Tại sao vậy? Bởi vì cần luôn ghi nhớ rằng chúng ta đang sống trong thế giới của ảo tưởng — một ảo tưởng tạm thời và thoáng qua, một ngày kia sẽ biến mất, mang theo nó ảo tưởng về sắc tướng, ảo tưởng về sự khai mở [25] tiến hoá, ảo tưởng về sự chia rẽ, và ảo tưởng về bản sắc riêng biệt — ảo tưởng khiến chúng ta nói “Tôi là.” Nhà giáo dục của tương lai sẽ bắt đầu sự phụng sự của mình đối với đứa trẻ bằng sự công nhận quan niệm sai lầm phù du và thoáng qua này của linh hồn, và sẽ chủ yếu xử lý phương diện trí tuệ, chứ không áp đặt càng nhiều tri thức có tổ chức được truyền đạt về sự hiện hữu hiện tượng càng tốt, theo mức trí nhớ của đứa trẻ có thể nắm bắt. Làm thế nào Tôi có thể minh họa thái độ đã thay đổi này cho các bạn dưới hình thức đơn giản nhất? Có lẽ bằng cách chỉ ra rằng, trong khi ngày nay cha mẹ và người giám hộ của đứa trẻ dành nhiều thời gian để trả lời hoặc né tránh các câu hỏi do tâm thức đang thức tỉnh của đứa trẻ nêu ra, thì trong thời gian tới tình thế sẽ đảo ngược. Cha mẹ sẽ không ngừng đáp ứng các đòi hỏi của trí tuệ đang xuất hiện nơi đứa trẻ bằng cách luôn hỏi đứa trẻ: Tại sao? Tại sao hỏi điều này? Tại sao lại như vậy? — và như thế luôn đặt trách nhiệm trả lời các câu hỏi lên đứa trẻ, nhưng đồng thời khéo léo gieo lời giải của câu hỏi vào thể trí của đứa trẻ.
This process will begin in the fifth year of the child's life; the seeking intelligence (which is the child itself) will always be forced by the teacher into the position of inward search, not outer demand for a reply which can be memorised and which rests upon the authority of the older person. If this seems to you as yet impossible, remember that the children who will or have come into incarnation, after the period of increased stimulation found between the years 1935 and 1942, will normally and naturally respond to this evocation of the mind element.
Tiến trình này sẽ bắt đầu vào năm thứ năm của đời sống đứa trẻ; trí tuệ tìm kiếm — chính là đứa trẻ — sẽ luôn được huấn sư đưa vào vị thế tìm kiếm bên trong, chứ không phải đòi hỏi bên ngoài một câu trả lời có thể học thuộc lòng và đặt nền trên uy quyền của người lớn tuổi hơn. Nếu điều này hiện nay đối với các bạn dường như chưa thể thực hiện, hãy nhớ rằng những đứa trẻ sẽ hoặc đã lâm phàm sau thời kỳ kích thích gia tăng trong những năm từ 1935 đến 1942, thông thường và tự nhiên sẽ đáp ứng với sự gợi lên yếu tố trí tuệ này.
One of the major functions of those who train the infant minds of the race will be to determine, as early as possible in life, which of the seven determining energies are controlling in each case. The technique to be later applied will then be built upon this important initial decision—hence again, the growing responsibility of the [26] educator. A child's note and quality will be early determined, and his whole planned training will grow out of this basic recognition. This is not yet possible, but will shortly be so, when the quality and nature of any individual etheric body can be scientifically discovered. This development is not as distant as might be supposed or anticipated.
Một trong những chức năng chính yếu của những người huấn luyện các thể trí thơ ấu của nhân loại sẽ là xác định, càng sớm càng tốt trong đời sống, năng lượng nào trong bảy năng lượng quyết định đang kiểm soát trong từng trường hợp. Kỹ thuật sẽ được áp dụng về sau khi ấy sẽ được xây dựng trên quyết định ban đầu quan trọng này — do đó, một lần nữa, trách nhiệm ngày càng lớn của nhà giáo dục [26]. Âm điệu và phẩm tính của một đứa trẻ sẽ sớm được xác định, và toàn bộ sự huấn luyện được hoạch định cho nó sẽ phát sinh từ sự nhận biết căn bản này. Điều này hiện chưa thể thực hiện, nhưng chẳng bao lâu nữa sẽ có thể, khi phẩm tính và bản chất của bất kỳ thể dĩ thái cá nhân nào cũng có thể được khám phá một cách khoa học. Sự phát triển này không xa xôi như người ta có thể giả định hay dự đoán.
It is not my intention to deal with the details of this process, nor to elaborate the methods whereby the children of the race can be trained. Our objective is to deal with the more universal and immediate necessity of bridging the gap between the different aspects of the lower self, so that an integrated personality emerges; and then of bridging the gap between the soul and the spiritual triad, so that there can be the free play of consciousness and complete identification with the One Life, thus leading to the loss of the sense of separateness and to the merging of the part with the Whole, with no loss of identity but with no recognition of self-identification.
Tôi không có ý định đề cập đến các chi tiết của tiến trình này, cũng không triển khai các phương pháp nhờ đó con cái của nhân loại có thể được huấn luyện. Mục tiêu của chúng ta là bàn đến nhu cầu phổ quát hơn và cấp thiết hơn: bắt cầu qua khoảng cách giữa các phương diện khác nhau của phàm ngã, để một phàm ngã tích hợp xuất hiện; rồi bắt cầu qua khoảng cách giữa linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần, để có thể có sự vận hành tự do của tâm thức và sự đồng hóa hoàn toàn với Sự Sống Duy Nhất, nhờ đó dẫn đến sự mất đi cảm thức chia cách và sự hòa nhập của phần vào Toàn Thể, không mất bản sắc nhưng cũng không còn sự nhận biết về sự đồng hóa với bản ngã.
Here an interesting point should be carefully noted. It holds the key to future racial unfoldment. For it the new science of psychology, which has developed so remarkably during the past thirty years, is preparing us. Students should train themselves to distinguish between the sutratma and the antahkarana, between the life thread and the thread of consciousness. One thread is the basis of immortality and the other the basis of continuity. Herein lies a fine distinction for the investigator. One thread (the sutratma) links and vivifies all forms into one functioning whole and embodies in itself the will and the purpose of the expressing entity, be it man, God or a crystal. The other thread (the antahkarana) embodies the response of the consciousness within the form to a steadily expanding range of contacts within the environing whole.
Ở đây cần cẩn thận lưu ý một điểm thú vị. Điểm ấy nắm giữ chìa khóa cho sự khai mở tương lai của nhân loại. Khoa học mới về tâm lý học, vốn đã phát triển đáng kể trong ba mươi năm qua, đang chuẩn bị chúng ta cho điều đó. Các đạo sinh nên tự rèn luyện để phân biệt giữa sutratma và antahkarana, giữa sinh mệnh tuyến và sợi dây tâm thức. Một sợi dây là nền tảng của sự bất tử, còn sợi kia là nền tảng của tính liên tục. Chính trong đó có một phân biệt tinh tế dành cho nhà khảo cứu. Một sợi dây — sutratma — liên kết và làm sinh động mọi hình tướng thành một toàn thể vận hành duy nhất, và tự nó hiện thân ý chí cùng mục đích của thực thể đang biểu lộ, dù là con người, Thượng đế hay một tinh thể. Sợi dây kia — antahkarana — hiện thân sự đáp ứng của tâm thức bên trong hình tướng đối với một phạm vi tiếp xúc ngày càng mở rộng trong toàn thể bao quanh.
The sutratma is the direct stream of life, unbroken and immutable, which can be regarded symbolically as a direct stream of living energy flowing from the centre to the periphery, [27] and from the source to the outer expression or the phenomenal appearance. It is the life. It produces the individual process and the evolutionary unfoldment of all forms. It is, therefore, the path of life, which reaches from the monad to the personality, via the soul. This is the thread soul and it is one and indivisible. It conveys the energy of life and finds its final anchor in the centre of the human heart and at some central focal point in all forms of divine expression. Naught is and naught remains but life.
Sutratma là dòng trực tiếp của sự sống, không đứt đoạn và bất biến, có thể được xem một cách biểu tượng như một dòng năng lượng sống trực tiếp chảy từ trung tâm ra ngoại vi, [27] và từ nguồn đến biểu hiện bên ngoài hay sắc tướng hiện tượng. Nó là sự sống. Nó tạo ra tiến trình cá nhân và sự khai mở tiến hóa của mọi hình tướng. Do đó, nó là con đường của sự sống, vươn từ chân thần đến phàm ngã, qua linh hồn. Đây là sợi dây linh hồn, và nó là một, không thể phân chia. Nó truyền dẫn năng lượng của sự sống và tìm được điểm neo cuối cùng trong trung tâm tim của con người, cũng như tại một điểm tập trung trung tâm nào đó trong mọi hình tướng biểu lộ thiêng liêng. Không có gì hiện hữu và không có gì còn lại ngoài sự sống.
The consciousness thread (antahkarana) is the result of the union of life and substance or of the basic energies which constitute the first differentiation in time and space; this produces something different, which only emerges as a third divine manifestation, after the union of the basic dualities has taken place. It is the thread which is woven as a result of the appearance of life in form upon the physical plane. Speaking again symbolically, it might be said that the sutratma works from above downward and is the precipitation of life into the outer manifestation. The antahkarana is woven, evolved, and created as the result of this primary creation, and works from below upwards, from the without to the within, from the world of exoteric phenomena into the world of subjective realities and of meaning.
Sợi dây tâm thức — antahkarana — là kết quả của sự hợp nhất giữa sự sống và chất liệu, hay giữa các năng lượng căn bản cấu thành sự biến phân đầu tiên trong thời gian và không gian; điều này tạo ra một điều khác biệt, vốn chỉ xuất hiện như biểu lộ thiêng liêng thứ ba sau khi sự hợp nhất của các nhị nguyên căn bản đã diễn ra. Đó là sợi dây được dệt nên như kết quả của sự xuất hiện của sự sống trong hình tướng trên cõi hồng trần. Lại nói theo biểu tượng, có thể nói rằng sutratma hoạt động từ trên xuống dưới và là sự ngưng tụ của sự sống vào biểu lộ bên ngoài. Antahkarana được dệt nên, tiến hóa và được sáng tạo như kết quả của sự sáng tạo sơ khởi này, và hoạt động từ dưới lên trên, từ bên ngoài vào bên trong, từ thế giới của các hiện tượng ngoại môn vào thế giới của các thực tại nội tại và của ý nghĩa.
This "Path of Return," by means of which the race is withdrawn from outer emphasis and begins to recognise and register those inner conscious knowledges of that which is not phenomenal, has already (through the evolutionary process) reached a point of development wherein some human beings can follow along this path from the physical consciousness to the emotional, and from the emotional to the mental. That part of the work is already accomplished in many thousands of cases and what is now required is facility and right use of this power. This thread of energy, coloured by conscious sentient response, is later [28] coloured by the discriminating consciousness of the mind, and this produces that inner integration which makes man eventually an efficient thinking being. At first, this thread is used purely for lower selfish interests; it steadily gets stronger and more potent as time goes on, until it is a definite, clear, strong thread reaching from the outer physical life, from a point within the brain, straight through to the inner mechanism. This thread, however, is not identified with the mechanism, but with the consciousness in man. Through the means of this thread a man becomes aware of his emotional life in its many forms (note this phraseology), and through it he becomes aware of the world of thought; he learns to think and begins to function consciously on the mental plane, in which the thinkers of the race—a steadily increasing number—live and move and have their being. Increasingly he learns to tread this path of consciousness, and thereby ceases to be identified with the animal outer form and learns to identify himself with the inner qualities and attributes. He lives first the life of dreams, and then the life of thought. Then the time comes when this lower aspect of the antahkarana is completed, and the first great conscious unity is consummated. The man is an integrated, conscious, living personality. The thread of continuity between the three lower aspects of the man is established and can be used. It stretches, if such a term can be used (my intent being entirely pictorial), from the centre of the head to the mind, which is in its turn a centre of energy in the world of thought. At the same time, this antahkarana is interwoven with the thread of life or the sutratma which emerges from the heart centre. The objective of evolution in form is now relatively complete.
“Con Đường Trở Về” này, nhờ đó nhân loại được rút khỏi sự nhấn mạnh bên ngoài và bắt đầu nhận biết cũng như ghi nhận những tri thức có ý thức bên trong về điều không thuộc hiện tượng, đã — qua tiến trình tiến hóa — đạt đến một điểm phát triển trong đó một số con người có thể đi theo con đường này từ tâm thức hồng trần đến tâm thức cảm dục, và từ tâm thức cảm dục đến tâm thức trí. Phần công việc ấy đã hoàn tất trong nhiều nghìn trường hợp, và điều hiện nay cần đến là sự thành thạo cùng cách sử dụng đúng quyền năng này. Sợi dây năng lượng này, được nhuộm màu bởi sự đáp ứng hữu cảm có ý thức, về sau [28] được nhuộm màu bởi tâm thức phân biện của thể trí, và điều này tạo ra sự tích hợp bên trong khiến con người cuối cùng trở thành một sinh linh tư duy hữu hiệu. Ban đầu, sợi dây này được sử dụng thuần túy cho các lợi ích ích kỷ thấp kém; nó dần dần trở nên mạnh hơn và quyền năng hơn theo thời gian, cho đến khi nó là một sợi dây xác định, rõ ràng, mạnh mẽ, vươn từ đời sống hồng trần bên ngoài, từ một điểm trong bộ não, thẳng đến bộ máy bên trong. Tuy nhiên, sợi dây này không đồng hóa với bộ máy, mà với tâm thức trong con người. Nhờ sợi dây này, con người nhận biết đời sống cảm xúc của mình dưới nhiều hình thức — hãy lưu ý cách diễn đạt này — và nhờ nó y nhận biết thế giới tư tưởng; y học suy nghĩ và bắt đầu hoạt động một cách có ý thức trên cõi trí, nơi các nhà tư tưởng của nhân loại — một số lượng ngày càng gia tăng — sống, vận động và hiện tồn. Càng ngày y càng học cách bước đi trên con đường tâm thức này, và nhờ đó chấm dứt đồng hóa với hình tướng thú tính bên ngoài, đồng thời học đồng hóa mình với các phẩm tính và thuộc tính bên trong. Trước hết y sống đời sống của mộng tưởng, rồi đến đời sống của tư tưởng. Sau đó đến lúc phương diện thấp này của antahkarana được hoàn tất, và sự hợp nhất có ý thức vĩ đại đầu tiên được viên mãn. Con người là một phàm ngã tích hợp, có ý thức và sống động. Sợi dây liên tục giữa ba phương diện thấp của con người được thiết lập và có thể được sử dụng. Nó vươn, nếu có thể dùng một thuật ngữ như vậy — ý định của Tôi hoàn toàn mang tính hình ảnh — từ trung tâm đầu đến thể trí, vốn đến lượt nó là một trung tâm năng lượng trong thế giới tư tưởng. Đồng thời, antahkarana này được đan xen với sợi dây sự sống hay sutratma vốn xuất lộ từ trung tâm tim. Mục tiêu của tiến hóa trong hình tướng giờ đây đã tương đối hoàn tất.
When this stage has been reached, the sensitive feeling-out into the environing universe still continues. Man weaves a thread which is like the thread the spider weaves so amazingly. He reaches out still further into his possible [29] environment and then discovers an aspect of himself of which he had little dreamt in the early stages of his development. He discovers the soul and then passes through the illusion of duality. This is a necessary but not a permanent stage. It is one which characterises the aspirant of this world cycle, perhaps I should say this manvantara or world period. He seeks to merge himself with the soul, to identify himself, the conscious personality, with that overshadowing soul. It is at this point, technically speaking, that the true building of the antahkarana must be begun. It is the bridge between the personality and the soul.
Khi giai đoạn này đã đạt được, sự dò tìm nhạy cảm vào vũ trụ bao quanh vẫn tiếp tục. Con người dệt một sợi dây giống như sợi dây mà con nhện dệt một cách kỳ diệu. Y vươn xa hơn nữa vào môi trường khả hữu [29] của mình, rồi khám phá một phương diện của chính mình mà trong các giai đoạn đầu của sự phát triển, y hầu như chưa từng mơ tới. Y khám phá linh hồn rồi đi qua ảo tưởng của nhị nguyên. Đây là một giai đoạn cần thiết nhưng không thường tồn. Đó là giai đoạn đặc trưng cho người chí nguyện của chu kỳ thế giới này, có lẽ Tôi nên nói là của giai kỳ sinh hóa này hay thời kỳ thế giới này. Y tìm cách hòa nhập mình với linh hồn, đồng hóa chính mình, phàm ngã có ý thức, với linh hồn đang phủ bóng ấy. Chính tại điểm này, nói theo kỹ thuật, việc xây dựng antahkarana thật sự phải được bắt đầu. Nó là cây cầu giữa phàm ngã và linh hồn.
The recognition of this constitutes the problem with which the modern educator is faced. It is a problem that has always existed but it has concerned the individual hitherto more than the group. Now it concerns the group, for so many of the sons of men are ready for this building. Down the ages individuals have built their individual bridges between the higher and the lower, but so successful has been the evolutionary process that today the time has come for a group understanding of this emerging technique, for a group bridging, leading to a consequent or subsequent group revelation. This provides the modern opportunity in the field of education. It indicates the responsibility of the educator and points out the necessity for a new unfoldment in educational methods. The "group aspirant" must be met and the group antahkarana must be built. This, however, when rightly understood, will not negate individual effort. That always must be met; but the group understanding will increasingly aid the individual.
Sự nhận biết điều này cấu thành vấn đề mà nhà giáo dục hiện đại đang đối diện. Đó là một vấn đề luôn luôn tồn tại, nhưng cho đến nay nó liên quan đến cá nhân nhiều hơn là nhóm. Giờ đây nó liên quan đến nhóm, vì rất nhiều người con của nhân loại đã sẵn sàng cho việc xây dựng này. Qua các thời đại, các cá nhân đã xây dựng những cây cầu riêng của họ giữa cái cao và cái thấp, nhưng tiến trình tiến hóa đã thành công đến mức hôm nay thời điểm đã đến cho một sự thấu hiểu nhóm về kỹ thuật đang xuất hiện này, cho một sự bắt cầu nhóm, dẫn đến một sự mặc khải nhóm kế tiếp hay hệ quả. Điều này đem lại cơ hội hiện đại trong lĩnh vực giáo dục. Nó chỉ ra trách nhiệm của nhà giáo dục và nêu rõ sự cần thiết của một sự khai mở mới trong các phương pháp giáo dục. “Người chí nguyện nhóm” phải được đáp ứng và antahkarana nhóm phải được xây dựng. Tuy nhiên, khi được thấu hiểu đúng, điều này sẽ không phủ nhận nỗ lực cá nhân. Nỗ lực ấy luôn luôn phải được đáp ứng; nhưng sự thấu hiểu nhóm sẽ ngày càng trợ giúp cá nhân.
Coordination and Integration – Sự Điều Hợp và Sự Tích Hợp
Thus far we have been occupied with generalisations as to the educational processes later to be applied, with the mental apparatus which comes under definite and planned training, and which is subjectively and superconsciously [30] influenced during the process. I am presuming that you already grasp the necessity for the building of the antahkarana and for this bridging work. It is wise also to accept the fact that we are in a position to begin the definite process of constructing the link or bridge between the various aspects of man's nature, so that instead of differentiation there will be unity, and instead of a fluid, moving attention, directed here and there into the field of material living and emotional relationships, we shall learn to control the mind and to bridge the divisions, and so can direct at will the lower attention in any desired manner. Thus all aspects of man, spiritual and natural, can be focussed where needed.
Cho đến đây, chúng ta đã bận tâm với những khái quát về các tiến trình giáo dục sẽ được áp dụng về sau, với bộ máy trí tuệ vốn được đưa vào sự huấn luyện xác định và có kế hoạch, và vốn chịu ảnh hưởng chủ quan cũng như siêu thức [30] trong tiến trình ấy. Tôi giả định rằng các bạn đã nắm được sự cần thiết của việc xây dựng antahkarana và của công việc bắt cầu này. Cũng là khôn ngoan khi chấp nhận sự kiện rằng chúng ta đang ở vị thế bắt đầu tiến trình xác định nhằm kiến tạo mối liên kết hay cây cầu giữa các phương diện khác nhau của bản chất con người, để thay vì biến phân sẽ có sự hợp nhất, và thay vì một sự chú ý linh động, chuyển động, hướng chỗ này chỗ kia vào lĩnh vực đời sống vật chất và các quan hệ cảm xúc, chúng ta sẽ học kiểm soát thể trí và bắt cầu qua các phân chia, nhờ đó có thể tùy ý hướng sự chú ý thấp theo bất kỳ cách nào mong muốn. Như vậy, mọi phương diện của con người, tinh thần và tự nhiên, có thể được tập trung nơi cần thiết.
This bridging work has in part already been done. Humanity has as a whole already bridged the gap between the emotional astral nature and the physical man. As I said elsewhere:
Công việc bắt cầu này một phần đã được thực hiện. Nhân loại nói chung đã bắt cầu qua khoảng cách giữa bản chất cảm dục cảm xúc và con người hồng trần. Như Tôi đã nói ở nơi khác:
We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers, tapping the resources of dynamic energy in the three worlds:
Chúng ta có thể khái quát theo cách sau về các giai đoạn tăng trưởng và khả năng hệ quả để trở thành tác nhân của các quyền năng ngày càng gia tăng, khai thác các nguồn năng lượng năng động trong ba cõi giới:
Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body.
Các kiểu người thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái.
Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional.
Những người trung bình hầu như hoàn toàn sử dụng phần sutratma đi qua cõi cảm dục. Các phản ứng của họ phần lớn đặt nền trên dục vọng và mang tính cảm xúc.
Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections. Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases.
Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các cấp thấp của cõi trí, xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó. Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi thể trí chứ không bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước.
Aspirants of the physical plane use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the [31] abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antahkarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt.
Những người chí nguyện trên cõi hồng trần sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các cấp trừu tượng [31] thuộc cõi trí, và dần dần bắt đầu xây dựng antahkarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã. Quyền năng của Chân ngã có thể bắt đầu được cảm nhận.
Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antahkarana, employing them as a unit. The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man's thought forms. The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process.
Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma lẫn antahkarana, vận dụng chúng như một đơn vị. Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn chảy qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực ở mức ngày càng gia tăng cho các hình tư tưởng của con người. Chìa khóa để hình thành Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng tiến trình này.
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PP. 959-960.
LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ, TR. 959-960.
It should be noted here that the bridging has to be done in the consciousness aspect, and concerns the continuity of man's awareness of life in all his various aspects. The energy which is used in connecting, in consciousness, the physical man and the astral body is focussed in the solar plexus. Speaking in symbolical terms, many today are carrying that bridge forward and linking the mind with the two aspects already linked. This thread of energy emanates from, or is anchored in, the head. A few people are steadily linking the soul and the mind, which in its turn is linked with the other two aspects. The soul energy, when linked with the other threads, has its anchor in the heart. A very few people (the initiates of the world) having effected all the lower syntheses, are now occupied with bringing about a still higher union with that triple Reality which uses the soul as its medium of expression, just as the soul in its turn is endeavouring to use its shadow, the threefold lower man.
Ở đây cần lưu ý rằng việc bắt cầu phải được thực hiện trong phương diện tâm thức, và liên quan đến tính liên tục của sự nhận biết của con người về sự sống trong mọi phương diện khác nhau của y. Năng lượng được sử dụng để liên kết, trong tâm thức, con người hồng trần và thể cảm dục được tập trung trong tùng thái dương. Nói theo ngôn ngữ biểu tượng, ngày nay nhiều người đang đưa cây cầu ấy tiến xa hơn và liên kết thể trí với hai phương diện đã được liên kết. Sợi dây năng lượng này xuất lộ từ, hay được neo trong, đầu. Một số ít người đang đều đặn liên kết linh hồn và thể trí, vốn đến lượt nó được liên kết với hai phương diện kia. Năng lượng linh hồn, khi liên kết với các sợi dây khác, có điểm neo trong tim. Một số rất ít người — các điểm đạo đồ của thế giới — sau khi đã thực hiện tất cả các tổng hợp thấp, hiện đang bận tâm với việc đem lại một sự hợp nhất còn cao hơn với Thực Tại tam phân ấy, vốn sử dụng linh hồn như phương tiện biểu lộ của nó, cũng như linh hồn đến lượt mình đang nỗ lực sử dụng bóng của nó, tức phàm nhân tam phân.
These distinctions and unifications are matters of form, [32] symbols in speech, and are used to express events and happenings in the world of energies and forces in connection with which man is definitely implicated. It is to these unifications that we refer when the subject of initiation is under consideration.
Những phân biệt và hợp nhất này là các vấn đề của hình tướng, [32] là những biểu tượng trong lời nói, và được dùng để diễn đạt các biến cố và diễn tiến trong thế giới của các năng lượng và mãnh lực, mà con người chắc chắn có liên hệ. Chính các sự hợp nhất này là điều chúng ta nói đến khi chủ đề điểm đạo được xem xét.
The life thread, the silver cord or the sutratma, is, as far as man is concerned, dual in nature. The life thread proper, which is one of the two threads which constitute the antahkarana, is anchored in the heart, whilst the other thread which embodies the principle of consciousness, is anchored in the head. This you already know, but this I feel the need constantly to reiterate. In the work of the evolutionary cycle, however, man has to repeat what God has already done. He must himself create, in both the world of consciousness and of life. Like a spider, man spins connecting threads, and thus bridges and makes contact with his environment, thereby gaining experience and sustenance. The spider symbol is often used in the ancient occult books and the scriptures of India in connection with this activity of the human being. The threads which man creates are triple and with the two basic threads which have been created by the soul, constitute the five types of energy which make man a conscious human being. The triple threads created by man are anchored in the solar plexus, the head and the heart. When the astral body and the mind nature are beginning to function as a unit, and the soul also is consciously connected (do not forget that it is always unconsciously linked), an extension of this fivefold thread—the basic two and the human three—is carried to the throat centre; when that occurs man can become a conscious creator on the physical plane. From these major lines of energy lesser lines can radiate at will. It is upon this knowledge that all future intelligent psychic unfoldment must be based.
Sợi dây sự sống, ngân tuyến hay sutratma, xét theo con người, có bản chất kép. Sợi dây sự sống đúng nghĩa, vốn là một trong hai sợi dây cấu thành antahkarana, được neo trong tim, trong khi sợi dây kia, hiện thân nguyên khí tâm thức, được neo trong đầu. Điều này các bạn đã biết, nhưng Tôi cảm thấy cần liên tục nhắc lại. Tuy nhiên, trong công việc của chu kỳ tiến hóa, con người phải lặp lại điều Thượng đế đã làm. Chính y phải sáng tạo, trong cả thế giới tâm thức lẫn thế giới sự sống. Như con nhện, con người kéo ra các sợi dây liên kết, và nhờ vậy bắt cầu cũng như tiếp xúc với môi trường của mình, qua đó đạt được kinh nghiệm và dưỡng chất. Biểu tượng con nhện thường được dùng trong các sách huyền môn cổ và thánh thư Ấn Độ liên quan đến hoạt động này của con người. Các sợi dây mà con người tạo ra có tính tam phân và, cùng với hai sợi dây căn bản do linh hồn tạo ra, cấu thành năm loại năng lượng làm cho con người trở thành một con người có ý thức. Các sợi dây tam phân do con người tạo ra được neo trong tùng thái dương, đầu và tim. Khi thể cảm dục và bản chất trí tuệ bắt đầu hoạt động như một đơn vị, và linh hồn cũng được liên kết một cách có ý thức — đừng quên rằng nó luôn luôn được liên kết một cách vô thức — một sự mở rộng của sợi dây ngũ phân này, tức hai sợi căn bản và ba sợi của con người, được đưa đến trung tâm cổ họng; khi điều đó xảy ra, con người có thể trở thành một nhà sáng tạo có ý thức trên cõi hồng trần. Từ các đường năng lượng chính này, những đường phụ có thể tỏa ra tùy ý. Chính trên tri thức này mà mọi sự khai mở thông linh có trí tuệ trong tương lai phải được đặt nền.
In the above paragraph and its implications you have a brief and inadequate statement as to the Science of the [33] Antahkarana. I have endeavoured to express this in terms, symbolic if you will, which will convey some general idea of the process to your minds. We can learn much through the use of the pictorial and visual imagination. Many aspirants have already established the following links of the bridging antahkarana:
Trong đoạn trên và các hàm ý của nó, các bạn có một trình bày ngắn gọn và chưa đầy đủ về Khoa Học [33] Antahkarana. Tôi đã cố gắng diễn đạt điều này bằng những thuật ngữ, có thể nói là biểu tượng, nhằm truyền đạt cho thể trí các bạn một ý niệm tổng quát nào đó về tiến trình. Chúng ta có thể học được nhiều qua việc sử dụng sự tưởng tượng bằng hình ảnh và thị giác. Nhiều người chí nguyện đã thiết lập các liên kết sau đây của antahkarana bắt cầu:
1. From the physical to the vital or etheric body. This is really an extension of the life thread between the heart and the spleen.
1. Từ thể xác đến thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây thật ra là một sự mở rộng của sợi dây sự sống giữa tim và lá lách.
2. From the physical and the vital, regarding them as a unity, to the astral or emotional vehicle. This thread emanates from, or is anchored in, the solar plexus, and is carried upward by means of the aspiration till it anchors itself in the love petals of the egoic lotus.
2. Từ thể xác và thể sinh lực, được xem như một nhất thể, đến vận cụ cảm dục hay cảm xúc. Sợi dây này xuất lộ từ, hay được neo trong, tùng thái dương, và được đưa lên trên nhờ khát vọng cho đến khi nó tự neo trong các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã.
3. From the physical and astral vehicles to the mental body. One terminal is anchored in the head, and the other in the knowledge petals of the egoic lotus, being carried forward by an act of the will.
3. Từ các vận cụ hồng trần và cảm dục đến thể trí. Một đầu mút được neo trong đầu, và đầu kia trong các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, được đưa tiến tới bằng một hành động của ý chí.
Many, too, are in process of linking the three lower aspects, which we call the personality, with the soul itself, through meditation, discipline, service and directed attention. When this has been accomplished, a definite relation is established between the sacrifice or will petals of the egoic lotus and the head and heart centres, thus producing a synthesis between consciousness, the soul and the life principle. The process of establishing this interlinking and interrelation, and the strengthening of the bridge thus constructed, goes on until the third initiation. The lines of force are then so interrelated that the soul and its mechanism of expression are a unity. A higher blending and fusing can then go on.
Nhiều người cũng đang trong tiến trình liên kết ba phương diện thấp, mà chúng ta gọi là phàm ngã, với chính linh hồn, qua tham thiền, kỷ luật, phụng sự và sự chú ý có định hướng. Khi điều này đã được hoàn thành, một quan hệ xác định được thiết lập giữa các cánh hoa hy sinh hay ý chí của Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm đầu cùng tim, nhờ đó tạo ra một tổng hợp giữa tâm thức, linh hồn và nguyên khí sự sống. Tiến trình thiết lập sự liên kết và tương quan này, cùng việc củng cố cây cầu đã được kiến tạo như thế, tiếp diễn cho đến lần điểm đạo thứ ba. Khi ấy, các đường mãnh lực tương quan với nhau đến mức linh hồn và bộ máy biểu lộ của nó là một nhất thể. Một sự hòa trộn và dung hợp cao hơn khi ấy có thể tiếp diễn.
It is necessary for me to stop at this point and indicate that all the above are simply word pictures of a process of [34] energy interrelations, and have a definite value if they can introduce and make real to you the fact of the indicated processes. Some aspirants and students have the mystical consciousness highly developed, and are therefore apt to resent and regard as unnecessary the more technical and intellectual presentation of a truth which they sense and know, but which remains a truth yet undefined. It is my purpose to assist you towards a greater definiteness of realisation and expression; this should in no way detract from the wonder and the beauty of what you sense, but should increase your power to know and also to make available to others the knowledge which you have gained. In the past the mystic expressed his realisation through love and practical kindness, expressing it on the physical plane through charitable deeds and self-sacrifice, and on emotional levels by his aspiration, his vision, and his ability to express the love of God to the world. The mystic today continues with the same process, but under the evolutionary urge becomes capable of more than this. He should be able to formulate his knowledge intelligently and to express his awareness clearly, in order that he may share it with the public which is steadily growing in intelligence, but greatly needs the vision. I therefore beg of you not to resent the technical formulation of truth, for if education means anything at all, and if we are to consider the ways in which education is to be applied to bring about this bridging and synthesis, it is essential that we avoid that mental laziness and mystical inertia which are characteristic of so many mystics and the line of least resistance for many would-be disciples.
Tôi cần dừng lại ở điểm này và chỉ ra rằng tất cả những điều trên chỉ là các hình ảnh bằng lời về một tiến trình [34] tương quan năng lượng, và chúng có giá trị xác định nếu có thể giới thiệu và làm cho các bạn thấy thực tế của các tiến trình được nêu ra. Một số người chí nguyện và đạo sinh có tâm thức thần bí phát triển cao, và vì vậy dễ bực bội cũng như xem là không cần thiết cách trình bày chân lý có tính kỹ thuật và trí thức hơn — một chân lý mà họ cảm nhận và biết, nhưng vẫn còn là chân lý chưa được định nghĩa. Mục đích của Tôi là trợ giúp các bạn đạt đến sự xác định lớn hơn trong chứng nghiệm và biểu đạt; điều này tuyệt nhiên không nên làm giảm đi sự kỳ diệu và vẻ đẹp của điều các bạn cảm nhận, mà phải gia tăng quyền năng biết của các bạn, cũng như khả năng làm cho tri thức mà các bạn đã đạt được trở nên hữu ích cho người khác. Trong quá khứ, nhà thần bí biểu đạt sự chứng nghiệm của mình qua tình thương và lòng nhân ái thực tiễn, biểu lộ nó trên cõi hồng trần qua các việc bác ái và sự hy sinh bản thân, và trên các cấp độ cảm dục qua khát vọng, tầm nhìn, và khả năng biểu đạt tình thương của Thượng đế đối với thế giới. Nhà thần bí ngày nay vẫn tiếp tục cùng tiến trình ấy, nhưng dưới thúc đẩy tiến hóa, y trở nên có khả năng làm nhiều hơn thế. Y phải có thể hình thành tri thức của mình một cách thông minh và biểu đạt sự nhận biết của mình một cách rõ ràng, để có thể chia sẻ nó với công chúng vốn đang ngày càng phát triển về trí tuệ nhưng rất cần tầm nhìn. Vì vậy, Tôi xin các bạn đừng bực bội trước việc hình thức hóa chân lý theo kỹ thuật, vì nếu giáo dục có bất kỳ ý nghĩa nào, và nếu chúng ta phải xem xét những cách thức giáo dục cần được áp dụng để đem lại sự bắt cầu và tổng hợp này, thì điều thiết yếu là chúng ta tránh sự lười biếng trí tuệ và Quán tính thần bí vốn đặc trưng cho rất nhiều nhà thần bí và là con đường ít trở ngại nhất đối với nhiều người muốn làm đệ tử.
It is necessary therefore that we grasp the facts that:
Do đó, chúng ta cần nắm vững các sự kiện rằng:
1. The new education will primarily be concerned with the scientific and conscious bridging between the various aspects of the human being, thus producing coordination and synthesis and an increased [35] expansion of consciousness through the establishing of right lines of energy.
1. Nền giáo dục mới trước hết sẽ liên quan đến việc bắt cầu một cách khoa học và có ý thức giữa các phương diện khác nhau của con người, nhờ đó tạo ra sự điều hợp và tổng hợp cùng một sự mở rộng [35] tâm thức gia tăng qua việc thiết lập các đường năng lượng đúng.
2. The task of the new education is therefore the coordination of the personality, eventually bringing about its at-one-ment with the soul.
2. Vì vậy, nhiệm vụ của nền giáo dục mới là sự điều hợp phàm ngã, cuối cùng đem lại sự nhất thể hóa của nó với linh hồn.
3. The new education will deal with, analyse and interpret the laws of thought, because the mind will be regarded as the link between the soul and the brain. These laws are the means whereby:
3. Nền giáo dục mới sẽ đề cập đến, phân tích và diễn giải các định luật của tư tưởng, bởi vì thể trí sẽ được xem như mối liên kết giữa linh hồn và bộ não. Các định luật này là phương tiện nhờ đó:
a. Ideas are intuited.
a. Các ý tưởng được trực nhận.
b. Ideals are promulgated.
b. Các lý tưởng được truyền bá.
c. Mental concepts or thoughtforms are constructed which in due time will make their impact telepathically upon the minds of men.
c. Các khái niệm trí tuệ hay hình tư tưởng được kiến tạo, và đúng thời sẽ tạo ấn tượng viễn cảm lên thể trí của con người.
4. The new education will organise and develop the lower concrete mind.
4. Nền giáo dục mới sẽ tổ chức và phát triển hạ trí cụ thể.
5. It will teach the human being to think from universals to particulars, as well as to undertake the analysis of particulars. There will consequently be less emphasis in future schools upon the training of the memory. Interest will greatly aid the will to recall.
5. Nó sẽ dạy con người suy nghĩ từ cái phổ quát đến cái đặc thù, cũng như tiến hành phân tích các cái đặc thù. Do đó, trong các trường học tương lai sẽ ít nhấn mạnh hơn vào việc huấn luyện ký ức. Sự quan tâm sẽ trợ giúp rất nhiều cho ý chí hồi tưởng.
6. The new education will make a man a good citizen by developing the rational aspects of his consciousness and life, teaching him to use his inherited, acquired and endowed equipment for the evidencing of the social consciousness and attitudes.
6. Nền giáo dục mới sẽ làm cho con người trở thành một công dân tốt bằng cách phát triển các phương diện lý trí của tâm thức và đời sống của y, dạy y sử dụng trang bị thừa hưởng, thu đạt và được ban cho của mình để biểu lộ tâm thức và thái độ xã hội.
7. Above all else, the educators in the new age will endeavour to teach man the science of unifying the three aspects of himself which are covered by the general title of mental aspects:
7. Trên hết mọi điều, các nhà giáo dục trong kỷ nguyên mới sẽ nỗ lực dạy con người khoa học hợp nhất ba phương diện của chính y, vốn được bao gồm dưới danh xưng chung là các phương diện trí tuệ:
a. The lower concrete mind.
a. Hạ trí cụ thể.
b. The Son of Mind, the Soul, the Self.
b. Con của Trí Tuệ, Linh hồn, Bản Ngã.
c. The higher, abstract or intuitional mind.
c. Thượng trí, trí trừu tượng hay trí trực giác.
or:
hay:
a. The receptive mind or common-sense. [36]
a. Trí tiếp nhận hay lương tri. [36]
b. The individualised mind.
b. Trí đã biệt ngã hóa.
c. The illuminating mind.
c. Trí soi sáng.
8. The educators in the new age will deal with the processes or methods to be employed in bridging the gaps in consciousness between the different aspects. Thus the Science of the Antahkarana will be brought definitely to the attention of the public.
8. Các nhà giáo dục trong kỷ nguyên mới sẽ đề cập đến các tiến trình hay phương pháp được sử dụng để bắt cầu qua các khoảng cách trong tâm thức giữa các phương diện khác nhau. Như vậy, Khoa Học Antahkarana sẽ được đưa một cách xác định đến sự chú ý của công chúng.
9. The extension of this concept of bridging will be developed to include not only the internal history of man, but also the bridging between him and his fellowmen on all levels.
9. Sự mở rộng của khái niệm bắt cầu này sẽ được phát triển để bao gồm không chỉ lịch sử nội tại của con người, mà còn cả sự bắt cầu giữa y và đồng loại của y trên mọi cấp độ.
10. It will include also the training of the human mechanism to respond to life impacts, and to the soul. This soul is essentially intelligence, vitally used on each plane. It functions as the discriminating mind on the mental plane, as the sensitive consciousness on the emotional plane, and as the active participator in physical life. This intelligent activity is always used from the wisdom angle.
10. Nó cũng sẽ bao gồm việc huấn luyện bộ máy con người để đáp ứng với các tác động của sự sống và với linh hồn. Linh hồn này về bản chất là trí tuệ, được sử dụng một cách sống động trên mỗi cõi. Nó hoạt động như thể trí phân biện trên cõi trí, như tâm thức nhạy cảm trên cõi cảm dục, và như người tham dự tích cực trong đời sống hồng trần. Hoạt động trí tuệ này luôn luôn được sử dụng từ góc độ minh triết.
11. The new education will take into consideration:
11. Nền giáo dục mới sẽ xét đến:
a. The mind and its relation to the energy body, the etheric body, which underlies the nervous system and which galvanises the physical body into activity.
a. Thể trí và mối quan hệ của nó với thể năng lượng, tức thể dĩ thái, vốn nằm bên dưới hệ thần kinh và kích hoạt thể xác đi vào hoạt động.
b. The mind and its relation to the brain.
b. Thể trí và mối quan hệ của nó với bộ não.
c. The mind and its relation to the seven centres of force in the etheric body, and their externalisation and utilisation through the medium of the major nerve plexi to be found in the human body, and their relation (which will become increasingly obvious) to the endocrine glands.
c. Thể trí và mối quan hệ của nó với bảy trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái, cũng như sự ngoại hiện và việc sử dụng chúng qua trung gian của các đám rối thần kinh chính được tìm thấy trong cơ thể con người, và mối quan hệ của chúng — vốn sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên — với các tuyến nội tiết.
d. The brain as the coordinating factor in the dense body, and its capacity to direct the activities of the man through the medium of the nervous system. [37]
d. Bộ não như yếu tố điều hợp trong thể đậm đặc, và khả năng của nó trong việc điều khiển các hoạt động của con người qua trung gian hệ thần kinh. [37]
In the above statements you will see how large is our theme, and yet it is one which I intend to cover with the utmost brevity, writing only a fundamental textbook which will serve as a signpost for the production of the new culture which will distinguish the Aquarian Age. Other disciples will later elaborate my theme, but the subject is as yet so little understood that much that could be said would be meaningless, even to the most intelligent.
Trong các phát biểu trên, các bạn sẽ thấy chủ đề của chúng ta rộng lớn biết bao, nhưng đó là một chủ đề mà Tôi dự định trình bày hết sức ngắn gọn, chỉ viết một sách giáo khoa căn bản sẽ đóng vai trò như cột chỉ đường cho việc sản sinh nền văn hóa mới vốn sẽ phân biệt Kỷ Nguyên Bảo Bình. Các đệ tử khác về sau sẽ triển khai chủ đề của Tôi, nhưng đề tài này hiện vẫn còn được thấu hiểu quá ít đến nỗi nhiều điều có thể nói ra sẽ vô nghĩa, ngay cả đối với những người thông minh nhất.
Modern education is beginning to give some attention to the nature of the mind and to the laws of thought. In this connection we owe much to psychology and philosophy. There is also an increasing interest in the Science of Endocrinology as a material means of producing changes, usually in deficient children and morons. Nevertheless, until modern educators begin to admit the possibility that there are central units in man which underlie the tangible and visible mechanism, and will also admit the possibility of a central powerhouse of energy behind the mind, progress in education will be relatively at a standstill; the child will not receive the initial training and the foundational ideas which will enable him to become a self-directed, intelligent human being. Psychology, with its emphasis upon the three aspects of man—thought, emotional feeling, and the bodily organism—has already made a vital contribution and is doing much to bring about radical changes in our educational systems. Much remains to be done. The interpretation of men in terms of energy and the grasping of the seven types of energy which determine a man and his activities, will bring about immediate changes.
Giáo dục hiện đại đang bắt đầu dành một ít chú ý cho bản chất của thể trí và các định luật tư tưởng. Trong mối liên hệ này, chúng ta chịu ơn nhiều đối với tâm lý học và triết học. Cũng có một sự quan tâm ngày càng tăng đối với Khoa Học Nội Tiết như một phương tiện vật chất để tạo ra những thay đổi, thường nơi trẻ em khiếm khuyết và những người thiểu năng trí tuệ. Tuy nhiên, cho đến khi các nhà giáo dục hiện đại bắt đầu thừa nhận khả năng rằng có những đơn vị trung tâm trong con người nằm bên dưới bộ máy hữu hình và có thể chạm thấy, đồng thời cũng thừa nhận khả năng có một trạm năng lượng trung tâm phía sau thể trí, thì tiến bộ trong giáo dục sẽ tương đối đình trệ; đứa trẻ sẽ không nhận được sự huấn luyện ban đầu và các ý tưởng nền tảng giúp nó trở thành một con người thông minh, tự định hướng. Tâm lý học, với sự nhấn mạnh vào ba phương diện của con người — tư tưởng, cảm xúc, và cơ cấu thân xác — đã có một đóng góp thiết yếu và đang làm nhiều việc để đem lại những thay đổi căn bản trong các hệ thống giáo dục của chúng ta. Vẫn còn nhiều điều phải làm. Việc diễn giải con người theo năng lượng và việc nắm bắt bảy loại năng lượng quyết định một con người và các hoạt động của y sẽ đem lại những thay đổi tức thời.
CHAPTER II - The Cultural Unfoldment of the Race – CHƯƠNG II - Sự Khai Mở Văn Hóa của Nhân Loại
Civilisation and Culture – Văn Minh và Văn Hóa
[38] Much emphasis is being laid today upon education—coordinating, relational, psychological, vocational and equipping. To this must be added the old method of memory training and the attempt either to infuse religion into the mind of the child or to omit it with decision and with purpose. Modern education has been primarily competitive, nationalistic and, therefore, separative. It has trained the child to regard the material values as of major importance, to believe that his particular nation is also of major importance and that every other nation is secondary; it has fed pride and fostered the belief that he, his group and his nation are infinitely superior to other people and peoples. He is taught consequently to be a one-sided person with his world values wrongly adjusted and his attitudes to life distinguished by bias and prejudice. The rudiments of the arts are taught him in order to enable him to function with the needed efficiency in a competitive setting and in his particular vocational environment. To read, to write and to be able to add and do elementary arithmetic are regarded as the minimum requirement; to know something of past events—historical, geographical, literary, philosophical and scientific—are likewise added in many countries and for certain classes of people. Some of the literature of the world is also brought to his attention. [39]
[38] Ngày nay, người ta đang đặt nhiều nhấn mạnh lên giáo dục — điều hợp, quan hệ, tâm lý, nghề nghiệp và trang bị. Vào đó phải thêm phương pháp cũ về huấn luyện ký ức và nỗ lực hoặc truyền tôn giáo vào thể trí đứa trẻ, hoặc loại bỏ nó một cách dứt khoát và có chủ đích. Giáo dục hiện đại về căn bản mang tính cạnh tranh, quốc gia chủ nghĩa và vì thế chia rẽ. Nó đã huấn luyện đứa trẻ xem các giá trị vật chất là quan trọng bậc nhất, tin rằng quốc gia riêng của nó cũng quan trọng bậc nhất và mọi quốc gia khác đều thứ yếu; nó đã nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh và bồi đắp niềm tin rằng nó, nhóm của nó và quốc gia của nó vượt trội vô hạn so với những người và các dân tộc khác. Do đó, nó được dạy trở thành một con người phiến diện, với các giá trị thế giới của nó bị điều chỉnh sai lệch và thái độ của nó đối với đời sống mang dấu ấn của thiên kiến và thành kiến. Những yếu tố sơ đẳng của nghệ thuật được dạy cho nó để giúp nó hoạt động với hiệu quả cần thiết trong một bối cảnh cạnh tranh và trong môi trường nghề nghiệp riêng của nó. Biết đọc, biết viết, có thể cộng và làm số học sơ đẳng được xem là yêu cầu tối thiểu; biết đôi điều về các biến cố quá khứ — lịch sử, địa lý, văn học, triết học và khoa học — cũng được thêm vào tại nhiều quốc gia và cho một số tầng lớp người. Một phần văn học thế giới cũng được đưa đến sự chú ý của nó. [39]
The general level of world information is high but usually biassed, influenced either by national or religious prejudices, serving thus to make a man a citizen of his own country but not a human being with world relations. World citizenship is not emphasised. The teaching imparted stimulates the latent mass consciousness of the child, and evokes the memory (racial and individual) through the impartation of facts—uncorrelated facts—most of them unrelated to daily living. These facts could serve (if used as seed thoughts in meditation and technically employed) to recover from that race consciousness and racial memory, not only national history but past history as well. I mention this in order to emphasise the danger of such undue emphasis upon the past, for if this were done on a large scale it would prove disastrous; it would put a premium on racial and national ideals and objectives and would lead rapidly to racial crystallisation and senility—metaphorically speaking. An example of an effort in this direction was seen going on in Germany, and in a lesser way in Italy; it culminated in the Axis. Fortunately, the tide of life in the youth of any nation can be trusted to swing the thought of the race into a better direction than the evocation of past glory, so-called, and the emphasising of the things which should be left behind.
Mức độ thông tin chung của thế giới là cao nhưng thường thiên lệch, chịu ảnh hưởng hoặc bởi thành kiến quốc gia hoặc bởi thành kiến tôn giáo, do đó phục vụ cho việc làm cho con người trở thành công dân của đất nước mình nhưng không phải là một con người có quan hệ thế giới. Tư cách công dân thế giới không được nhấn mạnh. Việc giảng dạy được truyền đạt kích thích tâm thức quần chúng tiềm ẩn của đứa trẻ, và gợi lên ký ức — của nhân loại và của cá nhân — qua việc truyền đạt các sự kiện: những sự kiện không được liên kết với nhau, phần lớn không liên quan đến đời sống hằng ngày. Những sự kiện này có thể phục vụ — nếu được sử dụng như các tư tưởng hạt giống trong tham thiền và được vận dụng theo kỹ thuật — để khôi phục từ tâm thức nhân loại và ký ức nhân loại ấy không chỉ lịch sử quốc gia mà cả lịch sử quá khứ nữa. Tôi đề cập điều này để nhấn mạnh nguy cơ của sự nhấn mạnh quá mức như vậy vào quá khứ, vì nếu việc này được thực hiện trên quy mô lớn, nó sẽ chứng tỏ là tai hại; nó sẽ đề cao các lý tưởng và mục tiêu chủng tộc cũng như quốc gia, và sẽ nhanh chóng dẫn đến sự kết tinh và già cỗi của nhân loại — nói theo ẩn dụ. Một ví dụ về nỗ lực theo hướng này đã được thấy đang diễn ra ở Đức, và ở mức độ nhỏ hơn tại Ý; nó đạt đến đỉnh điểm trong phe Trục. May thay, dòng triều sự sống nơi tuổi trẻ của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể được tin cậy sẽ xoay chuyển tư tưởng của nhân loại theo một hướng tốt đẹp hơn việc gợi lại cái gọi là vinh quang quá khứ và nhấn mạnh những điều nên để lại phía sau.
I would like here to enlarge somewhat upon the interpretation of the much used words (frequently also misused): culture and civilisation. For it is the production of some form of culture—material or spiritual, or material and spiritual—which is the objective of all education. Education is the major agent in the world.
Ở đây Tôi muốn mở rộng đôi chút về cách diễn giải hai từ được sử dụng rất nhiều — và thường cũng bị sử dụng sai — là văn hóa và văn minh. Bởi vì việc sản sinh một hình thức văn hóa nào đó — vật chất hay tinh thần, hoặc vật chất và tinh thần — là mục tiêu của mọi nền giáo dục. Giáo dục là tác nhân chính yếu trên thế giới.
Civilisation is the reaction of humanity to the purpose of any particular world period. In each age, some idea must be expressed in the current racial idealism. In Atlantean times, the idea that predominated was basically sensory religious idealism or mysticism, expressing itself in terms of approach to a felt but unseen deity, an expression of the [40] way of feeling. Yet there were highly sensitive races, composed of nations and groups who laboured over the development of the feeling nature, consciously sometimes, but mostly unconsciously. Their attitude to each other, as individuals or nations, was primarily sensitive and emotional—a state of consciousness (I cannot say state of mind) most difficult for the modern Aryan race to grasp, or even intuit, for with us the mind is beginning to function. Their attitude to the deity was equally sensitive, and their religious activities were mystical and devotional, devoid of any mental understanding. They were significantly emotional in reactions to beauty, to the terror evoked by divinity and to the emotional characteristics of God, to the sense of light and to wonder. The mysterious, the sense of awe, the following blindly of some recognised "sensitive" of a higher order than the ordinary human being, and the interpretation of God and nature in terms of feeling-perception—these laid the basis of that ancient civilisation and have largely coloured our present racial attitudes, at least up until the advent of Christ, Who wrought great changes in the human consciousness and ushered in a new civilisation. Children are still largely Atlantean in their consciousness; it is with them a form of recapitulation, analogous to the prenatal stage; the same recapitulation goes forward upon the Path when a man develops the mystical consciousness anew, after he has evoked his mental nature and prior to unfolding true occult awareness or knowledge and the reactions of the higher mind. The problem before Education is to take the Atlantean consciousness of the child and make it Aryan or mental. The Atlanteans had no educational system as we understand the term. The kings and priests intuited; the masses obeyed.
Văn minh là phản ứng của nhân loại đối với mục đích của bất kỳ thời kỳ thế giới đặc thù nào. Trong mỗi thời đại, một ý tưởng nào đó phải được biểu đạt trong lý tưởng của nhân loại đương thời. Vào thời Atlantis, ý tưởng chiếm ưu thế về căn bản là chủ nghĩa lý tưởng tôn giáo cảm giác hay thần bí học, biểu lộ qua cách tiếp cận một Thượng đế được cảm nhận nhưng vô hình, một biểu hiện của [40] con đường cảm xúc. Tuy nhiên, đã có những giống dân rất nhạy cảm, gồm các quốc gia và nhóm đã lao động cho sự phát triển bản chất cảm xúc, đôi khi một cách có ý thức, nhưng phần lớn là vô thức. Thái độ của họ đối với nhau, với tư cách cá nhân hay quốc gia, chủ yếu là nhạy cảm và cảm xúc — một trạng thái tâm thức, Tôi không thể nói là trạng thái trí tuệ, rất khó để giống dân Arya hiện đại nắm bắt, hay thậm chí trực nhận, vì nơi chúng ta thể trí đang bắt đầu hoạt động. Thái độ của họ đối với Thượng đế cũng nhạy cảm như vậy, và các hoạt động tôn giáo của họ mang tính thần bí và sùng tín, thiếu mọi thấu hiểu trí tuệ. Họ có phản ứng nổi bật về cảm xúc trước cái đẹp, trước nỗi kinh sợ do thiên tính gợi lên và trước các đặc tính cảm xúc của Thượng đế, trước cảm thức về ánh sáng và sự kỳ diệu. Cái huyền nhiệm, cảm thức kính sợ, việc đi theo một cách mù quáng một “người nhạy cảm” được công nhận thuộc một cấp bậc cao hơn con người thông thường, và việc diễn giải Thượng đế cùng thiên nhiên theo cảm nhận bằng cảm xúc — những điều này đã đặt nền tảng cho nền văn minh cổ xưa ấy và phần lớn đã nhuộm màu các thái độ hiện tại của nhân loại chúng ta, ít nhất cho đến khi Đức Christ xuất hiện, Đấng đã tạo ra những thay đổi lớn trong tâm thức nhân loại và khai mở một nền văn minh mới. Trẻ em vẫn phần lớn mang tâm thức Atlantis; nơi chúng, đó là một hình thức tóm lược lại, tương tự như giai đoạn tiền sinh; cùng sự tóm lược ấy cũng tiếp diễn trên Đường Đạo khi con người phát triển lại tâm thức thần bí, sau khi y đã gợi lên bản chất trí tuệ của mình và trước khi khai mở sự nhận biết hay tri thức huyền môn đích thực cùng các phản ứng của thượng trí. Vấn đề trước Giáo dục là lấy tâm thức Atlantis của đứa trẻ và làm cho nó trở thành Arya hay trí tuệ. Người Atlantis không có hệ thống giáo dục như chúng ta hiểu thuật ngữ này. Các vua và tu sĩ trực nhận; quần chúng vâng phục.
In the present race a different civilised attitude is emerging and is nearing its consummation. In each age, some idea functions and expresses itself in both racial and national idealisms. Its basic trend down the centuries has [41] produced our modern world and this has been strictly materialistic. A nation today is regarded as civilised when it is awakened to mental values and at the same time it is demanding material values; and when the mind (the lower mind)—in its memory aspect, its discriminating and separative aspects, its analysing functions, and its ability to formulate concrete ideas based on material perception, material desire and material purposes—is receiving the training which will make a material civilisation, and has made our material civilisation what it is today. With the emphasis shifting away from feeling-perception to mental attitudes towards life, with the desire to make the material life of the citizen of every nation the dominant factor in the national thought, with the mind unfoldment consecrated to material living, and with science definitely committed to the enunciation only of the provable and concerned only with the energies of material effect, is it any wonder that the major consideration of our modern civilisation lies in the field of the economic life? We are occupied with material conditions, with the object of increasing possessions, with bettering worldly situations, elaborating physical plane living, and substituting the tangible for the intangible, the concrete for the spiritual, and physical values for the subjective values. However, these latter must some day emerge into expression.
Trong nhân loại hiện nay, một thái độ văn minh khác đang xuất hiện và đang tiến gần đến sự viên mãn. Trong mỗi thời đại, một ý tưởng nào đó hoạt động và tự biểu đạt trong cả lý tưởng của nhân loại lẫn lý tưởng quốc gia. Khuynh hướng căn bản của nó qua nhiều thế kỷ [41] đã tạo ra thế giới hiện đại của chúng ta, và thế giới này hoàn toàn mang tính duy vật. Ngày nay, một quốc gia được xem là văn minh khi nó thức tỉnh trước các giá trị trí tuệ và đồng thời đòi hỏi các giá trị vật chất; và khi thể trí — hạ trí — trong phương diện ký ức của nó, các phương diện phân biện và chia rẽ của nó, các chức năng phân tích của nó, và khả năng hình thành các ý tưởng cụ thể dựa trên nhận thức vật chất, dục vọng vật chất và mục đích vật chất, đang nhận được sự huấn luyện sẽ tạo nên một nền văn minh vật chất, và đã làm cho nền văn minh vật chất của chúng ta thành như ngày nay. Khi trọng tâm chuyển khỏi cảm nhận bằng cảm xúc sang các thái độ trí tuệ đối với đời sống, khi có ước muốn làm cho đời sống vật chất của công dân mỗi quốc gia trở thành yếu tố chi phối trong tư tưởng quốc gia, khi sự khai mở thể trí được thánh hiến cho đời sống vật chất, và khi khoa học dứt khoát cam kết chỉ phát biểu điều có thể chứng minh và chỉ quan tâm đến các năng lượng của hiệu quả vật chất, thì có gì đáng ngạc nhiên khi mối quan tâm chính của nền văn minh hiện đại chúng ta nằm trong lĩnh vực đời sống kinh tế? Chúng ta bận tâm với các điều kiện vật chất, với mục tiêu gia tăng tài sản, cải thiện hoàn cảnh thế gian, mở rộng đời sống trên cõi hồng trần, và thay thế cái vô hình bằng cái hữu hình, cái tinh thần bằng cái cụ thể, và các giá trị chủ quan bằng các giá trị hồng trần. Tuy nhiên, một ngày nào đó các giá trị sau này phải xuất hiện trong biểu đạt.
The above statement is superficial and of so general a character that it does not deal with the relatively small minority who do sense these larger values and are working to bring about their emergence into the racial life. These people are the custodians for the advance ideals of the current civilisation, but the energy which they release works out frequently in the establishment, temporarily, of the more concrete values. My remarks are only partial, and the facts equally so. I exaggerate perhaps; yet maybe I do not. Nevertheless, the fact remains that the two great civilisations about which we can really know anything—the Aryan [42] and the Atlantean—present two extreme objectives or positions towards which the humanity of the two periods directed and still direct their attention.
Phát biểu trên là hời hợt và có tính tổng quát đến mức nó không đề cập đến thiểu số tương đối nhỏ những người thật sự cảm nhận các giá trị lớn lao hơn này và đang làm việc để đem lại sự xuất hiện của chúng trong đời sống nhân loại. Những người này là các vị giữ gìn những lý tưởng tiến bộ của nền văn minh hiện thời, nhưng năng lượng mà họ phóng thích thường biểu lộ qua việc tạm thời thiết lập các giá trị cụ thể hơn. Những nhận xét của Tôi chỉ là từng phần, và các sự kiện cũng vậy. Có lẽ Tôi phóng đại; nhưng cũng có thể không. Tuy nhiên, sự kiện vẫn còn đó rằng hai nền văn minh lớn mà về chúng chúng ta thật sự có thể biết điều gì đó — Arya [42] và Atlantis — trình bày hai mục tiêu hay vị trí cực đoan mà nhân loại của hai thời kỳ đã và vẫn đang hướng sự chú ý đến.
The Atlantean civilisation was definitely religious in its attitudes; religion was the commonplace of life and the raison d'être of all that was. The world after death was the subject of interest and unwavering, unquestioning belief. The subtle influences emanating from the unseen realms, the forces of nature and man's relation to them through a keen sensitivity, and the entire gamut of his emotional attitudes constituted the life of the race, and coloured all that there was or might have been of embryo thought. The result of all this, inherited by us when history as we now have it arose (from the time of the flood, whenever that might have been), can be expressed by such words as animism, spiritualism, lower psychism and feeling. The sense of God, the sense of immortality, the sense of subtler inner relationships, the sense of worship and the undue sensitivity of modern man is our outstanding heritage from the civilisations which existed upon old Atlantis.
Nền văn minh Atlantis chắc chắn mang tính tôn giáo trong các thái độ của nó; tôn giáo là điều thường nhật của đời sống và là lý do tồn tại của mọi sự. Thế giới sau khi chết là đối tượng quan tâm và là niềm tin không lay chuyển, không chất vấn. Những ảnh hưởng tinh tế xuất lộ từ các cõi vô hình, các mãnh lực của thiên nhiên và quan hệ của con người với chúng qua một sự nhạy cảm sắc bén, cùng toàn bộ thang bậc thái độ cảm xúc của y đã cấu thành đời sống của nhân loại ấy, và nhuộm màu tất cả những gì đã có hoặc có thể đã có của tư tưởng phôi thai. Kết quả của tất cả điều này, được chúng ta thừa hưởng khi lịch sử như hiện nay chúng ta có đã phát sinh — từ thời trận lụt, bất kể thời điểm ấy là khi nào — có thể được diễn đạt bằng những từ như thuyết vật linh, thần linh học, thông linh thấp và cảm xúc. Cảm thức về Thượng đế, cảm thức về sự bất tử, cảm thức về các quan hệ nội tại tinh tế hơn, cảm thức thờ phụng và sự nhạy cảm quá mức của con người hiện đại là di sản nổi bật của chúng ta từ các nền văn minh đã tồn tại trên Atlantis cổ xưa.
Upon all this basic structure the exact opposite is being imposed today, and in the reaction—normal, right and developing—man is laying a superstructure in which the emphasis is increasingly upon the tangible, the material, the seen, and upon that which can be proved, diagnosed, analysed, and utilised for the improving of man's outer life and his material position upon the planet. Both civilisations have gone too far, and in the swing of the pendulum we shall inevitably return to a middle position, to the "noble middle path." This middle way, utilising the best and the highest ideals which the two preceding civilisations have produced, will characterise the coming Aquarian Age and its civilisations. Such an expression of the material and the immaterial, of the seen and the unseen, of the tangible and the spiritual has ever been the goal and the objective of those who comprehend the true meaning of culture. In [43] the last analysis, and for the purposes of our theme, civilisation concerns the masses and the racial consciousness, while culture concerns the individual and the unseen spiritual man. Therefore a civilisation which is a full expression of true culture lies far ahead in the development of the race.
Ngày nay, trên toàn bộ cấu trúc căn bản này, điều hoàn toàn đối lập đang được áp đặt; và trong phản ứng — bình thường, đúng đắn và đang phát triển — con người đang dựng lên một thượng tầng trong đó sự nhấn mạnh ngày càng đặt vào cái có thể chạm thấy, cái vật chất, cái được thấy, và vào những gì có thể được chứng minh, chẩn đoán, phân tích và sử dụng để cải thiện đời sống bên ngoài của con người cũng như vị trí vật chất của y trên hành tinh. Cả hai nền văn minh đều đã đi quá xa, và trong sự dao động của quả lắc, chắc chắn chúng ta sẽ trở về một vị trí trung đạo, “con đường trung đạo cao quý.” Con đường trung đạo này, sử dụng những lý tưởng tốt đẹp nhất và cao cả nhất mà hai nền văn minh trước đã tạo ra, sẽ đặc trưng cho Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp đến và các nền văn minh của nó. Một sự biểu đạt như vậy của cái vật chất và cái phi vật chất, cái hữu hình và cái vô hình, cái có thể chạm thấy và cái tinh thần, luôn luôn là mục tiêu và đối tượng của những người thấu hiểu ý nghĩa chân thật của văn hóa. Rốt ráo [43] và vì mục đích của chủ đề chúng ta, văn minh liên quan đến quần chúng và tâm thức nhân loại, trong khi văn hóa liên quan đến cá nhân và con người tinh thần vô hình. Vì vậy, một nền văn minh là biểu hiện trọn vẹn của văn hóa chân chính vẫn còn ở rất xa phía trước trong sự phát triển của nhân loại.
Culture is the approximation of the two ways—feeling and mind; of two worlds—sensitivity and thought; and of the attitudes, relational in nature, which will enable a man to live as an intelligent, subjective being in a tangible physical world. The man of culture relates the world of meaning to the world of appearances and regards them in his mind (thus recognising them with his brain, an indication of an established link or relationship) as constituting one world with two aspects. He moves with equal freedom in both worlds, and with simultaneity as far as his consciousness or his sense of awareness is concerned. Even in Atlantean times there were those who comprehended the significance of culture as an outgrowth of civilisation.
Văn hóa là sự tiệm cận của hai con đường — cảm xúc và trí tuệ; của hai thế giới — sự nhạy cảm và tư tưởng; và của các thái độ có bản chất quan hệ, vốn sẽ giúp con người sống như một sinh linh chủ quan thông minh trong một thế giới hồng trần hữu hình. Con người có văn hóa liên hệ thế giới của ý nghĩa với thế giới của sắc tướng, và trong thể trí y xem chúng — do đó nhận biết chúng bằng bộ não, một dấu hiệu của một mối liên kết hay quan hệ đã được thiết lập — như cấu thành một thế giới với hai phương diện. Y vận động với sự tự do ngang nhau trong cả hai thế giới, và đồng thời xét theo tâm thức hay cảm thức nhận biết của y. Ngay cả vào thời Atlantis cũng đã có những người thấu hiểu thâm nghĩa của văn hóa như một kết quả phát sinh từ văn minh.
The masses must be civilised as a step towards giving them that culture which will make of them true and significant human beings. A human being has perforce to be a man, capable of living in the world of external realities, and at the same time capable of recognising himself as living in an inner world, as a mind and a soul. He then expresses an inner subjective life of such potency that it controls and dominates the physical plane life, motivating it and giving it true direction. This attitude of the human being and the task of bringing this condition of consciousness to fruition, have been regarded for centuries as the task of organised religion, whereas it is essentially and necessarily that of education. It is true that the Church in ancient days was the educator of the time, but the emphasis was laid upon the inner and subjective life, and as a rule no attempt was made to fuse and blend the two—outer material well-being and inner spiritual existence. Education is the task of the outstanding [44] thinkers of the race and the responsibility of all governments, one however that they seldom recognise.
Quần chúng phải được văn minh hóa như một bước tiến đến việc ban cho họ nền văn hóa sẽ làm cho họ trở thành những con người chân thật và có thâm nghĩa. Một con người tất yếu phải là một người có khả năng sống trong thế giới của các thực tại bên ngoài, đồng thời có khả năng nhận biết chính mình như đang sống trong một thế giới bên trong, như một thể trí và một linh hồn. Khi ấy y biểu đạt một đời sống chủ quan bên trong có quyền năng đến mức nó kiểm soát và chi phối đời sống trên cõi hồng trần, thúc đẩy nó và ban cho nó hướng đi chân thật. Thái độ này của con người và nhiệm vụ đưa tình trạng tâm thức này đến chỗ thành tựu đã được xem trong nhiều thế kỷ là nhiệm vụ của tôn giáo có tổ chức, trong khi về bản chất và tất yếu đó là nhiệm vụ của giáo dục. Đúng là Giáo hội trong thời cổ là nhà giáo dục của thời ấy, nhưng sự nhấn mạnh được đặt vào đời sống bên trong và chủ quan, và thông thường không có nỗ lực nào nhằm dung hợp và hòa trộn hai điều — an lạc vật chất bên ngoài và hiện hữu tinh thần bên trong. Giáo dục là nhiệm vụ của các nhà tư tưởng nổi bật [44] của nhân loại và là trách nhiệm của mọi chính phủ, tuy nhiên đó là điều họ hiếm khi nhận ra.
Finally, we shall seek to see what are the basic ideas (beginning with the recognised instincts) which have led man, step by step, to his present struggle for world betterment, group elevation and natural self-determination with a view—unconscious for the most part—of providing a better organ of expression within the living organism, humanity.
Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm cách thấy đâu là các ý tưởng căn bản — bắt đầu từ các bản năng được nhận biết — đã dẫn con người, từng bước một, đến cuộc đấu tranh hiện nay của y cho sự cải thiện thế giới, sự nâng cao nhóm và quyền tự quyết tự nhiên, với mục đích — phần lớn là vô thức — cung cấp một cơ quan biểu đạt tốt hơn bên trong cơ cấu sống động là nhân loại.
It is therefore a platitude and truism to state that humanity is today passing through a crisis of immense proportions. The causes of this crisis must be sought in many factors. They lie in the past, in the growth through evolution of certain basic tendencies in man; in past mistakes, present opportunities and the powerful activity of the Hierarchy of Love.* The future is of great promise, provided man can learn the lessons of the present which have been clearly presented to him; he must accept them and understand clearly the nature of his problem and of the crisis with its many ramifications and various implications.
Vì vậy, nói rằng nhân loại ngày nay đang trải qua một cuộc khủng hoảng có tầm vóc rộng lớn là một điều quá quen thuộc và hiển nhiên. Các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này phải được tìm trong nhiều yếu tố. Chúng nằm trong quá khứ, trong sự tăng trưởng qua tiến hóa của một số khuynh hướng căn bản nơi con người; trong những sai lầm quá khứ, những cơ hội hiện tại và hoạt động mạnh mẽ của Thánh Đoàn Bác Ái.* Tương lai đầy hứa hẹn, miễn là con người có thể học các bài học của hiện tại đã được trình bày rõ ràng cho y; y phải chấp nhận chúng và thấu hiểu rõ bản chất vấn đề của mình cũng như bản chất của cuộc khủng hoảng với nhiều phân nhánh và các hàm ý khác nhau của nó.