Trích nội dung chương
[540] The energies poured out, therefore, will be felt primarily in those aspects of human living which are influenced by the rulers of certain houses. [540] Vì vậy, các năng lượng được tuôn đổ ra sẽ được cảm nhận trước hết trong những phương diện của đời sống con người chịu ảnh hưởng của các chủ tinh của một số nhà nhất định.
[540] The energies poured out, therefore, will be felt primarily in those aspects of human living which are influenced by the rulers of certain houses.
[540] Vì vậy, các năng lượng được tuôn đổ ra sẽ được cảm nhận trước hết trong những phương diện của đời sống con người chịu ảnh hưởng của các chủ tinh của một số nhà nhất định.
The seventh Ray of Ceremonial Order or Organisation is felt in the house of relationships, of organisations and of mutual effort and of aspiration (either towards good or evil). The forces of this ray work out on the seventh or physical plane—the plane whereon major changes in all forms are made and on which the disciple must firmly stand as he takes initiation.
Cung bảy về Trật tự hay Tổ chức Nghi lễ được cảm nhận trong nhà của các mối liên hệ, của các tổ chức và của nỗ lực hỗ tương và khát vọng (hoặc hướng thiện hoặc hướng ác). Các mãnh lực của cung này được triển khai trên cõi thứ bảy hay cõi hồng trần—cõi mà trên đó những thay đổi lớn trong mọi hình tướng được thực hiện và trên đó đệ tử phải đứng vững khi y nhận điểm đạo.
This seventh ray sweeps into organised and directed activity the world of forces upon the outer sphere of manifestation, and produces the precipitation of Karma, which, in this case leads to:
Cung bảy này cuốn thế giới các mãnh lực vào hoạt động có tổ chức và có định hướng trên lĩnh vực biểu lộ bên ngoài, và tạo ra sự ngưng tụ của nghiệp quả, trong trường hợp này dẫn đến:
1. The working out into expression of all the subjective evil of the life of humanity, thus producing the world war.
1. Sự triển khai vào biểu lộ của toàn bộ điều ác chủ quan trong đời sống nhân loại, do đó tạo ra chiến tranh thế giới.
2. The initiation of the planetary Logos and—with Him—of all who take their stand upon the side of the Forces of Light. This takes various forms as far as humanity is concerned:
2. Điểm đạo của Hành Tinh Thượng Đế và—cùng với Ngài—của tất cả những ai đứng về phía các Mãnh Lực của Ánh sáng. Điều này mang nhiều hình thức khác nhau xét theo phương diện nhân loại:
a. The initiation of the consciousness of the masses of men into the Aquarian Age, bringing them under the new influences and potencies, and enabling them to make a response of which they would not otherwise be capable.
a. Điểm đạo tâm thức của quần chúng nhân loại vào Kỷ Nguyên Bảo Bình, đưa họ vào dưới các ảnh hưởng và năng lực mới, và giúp họ có thể đáp ứng theo cách mà nếu không thì họ đã không thể làm được.
b. The initiation of the aspirants of the world on to the Path of Accepted Discipleship.
b. Điểm đạo các người chí nguyện của thế giới lên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận.
c. The bringing about of certain major initiations in the case of those world disciples who are ready enough and strong enough to take them.
c. Việc tạo ra một số lần điểm đạo lớn trong trường hợp những đệ tử thế gian nào đã đủ sẵn sàng và đủ mạnh để tiếp nhận chúng.
[541]
[541]
In spite of the vast destruction everywhere, the work of the seventh ray is being increasingly felt; the destruction of the forces of evil is going on even though at great cost to the Forces of Light; simultaneously there is a regrouping and a rearrangement of human attitudes and thought; this is brought about as a result of the tremendous demand upon the world thinkers for direction and guidance. Thus the nebulous structure and the dim outlines of the New Age civilisation can already be seen.
Mặc cho sự tàn phá to lớn ở khắp nơi, công việc của cung bảy đang ngày càng được cảm nhận rõ hơn; sự hủy diệt các lực lượng của điều ác đang tiếp diễn dù phải trả giá rất lớn cho các Mãnh Lực của Ánh sáng; đồng thời đang có một sự tái tập hợp và tái sắp xếp các thái độ và tư tưởng của nhân loại; điều này được mang lại do nhu cầu to lớn đặt lên các nhà tư tưởng của thế giới về sự định hướng và hướng dẫn. Vì vậy, cấu trúc còn mơ hồ và những đường nét lờ mờ của nền văn minh Kỷ Nguyên Mới đã có thể được nhìn thấy.
The underlying spirit of freedom will triumph as it is organised into revolt against slavery. To this end, the seventh ray will increasingly make contribution.
Tinh thần tự do nền tảng sẽ chiến thắng khi nó được tổ chức thành cuộc nổi dậy chống lại ách nô lệ. Nhằm mục đích này, cung bảy sẽ ngày càng đóng góp nhiều hơn.
Leo, the constellation in which the keynote is full self-consciousness, is becoming increasingly dominant. The issues involved in today’s situation are becoming clearer in the minds of the masses of the people; they can and will act with full awareness and intentional conscious purpose when the right time comes and will understand the implications and the price involved in a manner not hitherto possible. Hence the meaning back of my reiterated statement that the issues and determinations of the present situation are in the hands of humanity itself. The “stars in their courses” will aid humanity or bring destruction, according to human determinations. Men can achieve liberty and organise for the New Age with its unique civilisation and constructive synthesis, or they can commit suicide (if I may speak symbolically) and hand over their immediate future to the forces of evil and of death. These work for the death of all the true values and of all for which the human spirit has fought.
Sư Tử, chòm sao mà chủ âm của nó là ngã thức trọn vẹn, đang ngày càng trở nên chi phối. Những vấn đề bao hàm trong tình hình ngày nay đang trở nên rõ ràng hơn trong tâm trí quần chúng; họ có thể và sẽ hành động với sự nhận biết đầy đủ và mục đích hữu thức có chủ ý khi thời điểm thích hợp đến, và sẽ hiểu các hàm ý cùng cái giá phải trả theo một cách mà trước đây chưa thể có. Do đó, đây là ý nghĩa đằng sau lời tuyên bố Tôi lặp đi lặp lại rằng các vấn đề và các quyết định của tình hình hiện tại nằm trong chính tay nhân loại. “Các vì sao trong quỹ đạo của chúng” sẽ trợ giúp nhân loại hoặc mang đến hủy diệt, tùy theo các quyết định của con người. Con người có thể đạt được tự do và tổ chức cho Kỷ Nguyên Mới với nền văn minh độc đáo và sự tổng hợp có tính xây dựng của nó, hoặc họ có thể tự sát (nếu Tôi được phép nói theo biểu tượng) và trao tương lai gần của mình cho các lực lượng của điều ác và của sự chết. Những lực lượng này hoạt động cho cái chết của mọi giá trị chân chính và của tất cả những gì mà tinh thần nhân loại đã chiến đấu để bảo vệ.
The self-consciousness aspect of the human being is [542] being steadily expanded under this major interplay and through the forces transmitted by Uranus, via the eleventh house, and will ultimately give place to group consciousness and group relationships and group work. Hence the trend towards amalgamation today, towards federation, spheres of action and the many groups which distinguish increasingly human intercourse. The group spirit and the forms through which it will express itself are being increasingly demonstrated and this constitutes a veritable initiation for the race. It is the emergence of the glory of the human spirit in a more definite and arresting way and involves an orientation towards freedom which will later stand in the historical records as the outstanding characteristic of this age of major conflict. Humanity is today participating in the preparatory tests for initiation, the initiation of the world disciple. Great is your privilege to be taking part in this. Forget not that eleven is the number of the Initiate and that today it is the eleventh house which is so dominant; forget not that Aquarius, the eleventh sign, is the sign of universal relationships, interplay and consciousness. For all this, the combination of signs— Leo, Capricorn and Pisces—is preparing the race.
Phương diện ngã thức của con người [542] đang được mở rộng đều đặn dưới sự tương tác lớn lao này và qua các lực lượng được truyền dẫn bởi Sao Thiên Vương, qua nhà thứ mười một, và rốt cuộc sẽ nhường chỗ cho tâm thức nhóm, các liên hệ nhóm và công việc nhóm. Do đó mới có xu hướng ngày nay hướng tới sự hợp nhất, hướng tới liên bang, các phạm vi hoạt động và nhiều nhóm ngày càng trở thành đặc trưng của sự giao tiếp giữa con người. Tinh thần nhóm và các hình thức mà qua đó nó sẽ biểu lộ đang ngày càng được chứng minh, và điều này tạo thành một cuộc điểm đạo thực sự cho nhân loại. Đó là sự xuất hiện của vinh quang tinh thần nhân loại theo một cách xác định và gây ấn tượng hơn, và bao hàm một sự định hướng hướng tới tự do mà về sau sẽ được ghi trong lịch sử như đặc tính nổi bật của thời đại xung đột lớn này. Nhân loại ngày nay đang tham dự vào các thử nghiệm chuẩn bị cho điểm đạo, điểm đạo của đệ tử thế gian. Đặc ân của các bạn thật lớn lao khi được tham gia vào điều này. Đừng quên rằng mười một là con số của điểm đạo đồ và rằng ngày nay chính nhà thứ mười một đang rất chi phối; đừng quên rằng Bảo Bình, dấu hiệu thứ mười một, là dấu hiệu của các liên hệ phổ quát, sự tương tác và tâm thức. Đối với tất cả điều này, sự kết hợp các dấu hiệu—Sư Tử, Ma Kết và Song Ngư—đang chuẩn bị cho nhân loại.
The evil men who guided the destiny of Germany talked of world groups and of the European Order of Nations but it was a grouping around Germany as the centre and for the selfish interests of Germany. The grouping which is a part of the divine Plan is not around any one nation but a grouping based on the ideal of brotherhood, on the will-to-good and on the freedom of the whole. One expresses a selfish materialistic distortion and the other a spiritual objective.
Những kẻ ác đã dẫn dắt vận mệnh nước Đức từng nói về các nhóm thế giới và về Trật Tự Các Quốc Gia Âu Châu, nhưng đó là một sự tập hợp quanh nước Đức như trung tâm và vì các quyền lợi ích kỷ của nước Đức. Sự tập hợp là một phần của Thiên Cơ thiêng liêng thì không xoay quanh bất kỳ quốc gia nào, mà là một sự tập hợp dựa trên lý tưởng huynh đệ, trên Ý Chí-hướng Thiện và trên tự do của toàn thể. Một bên biểu lộ một sự bóp méo ích kỷ duy vật, còn bên kia là một mục tiêu tinh thần.
Capricorn is related, as you have been told, to initiation; [543] it is also the sign of the coming world Saviour and these higher aspects of the Capricornian influences can be potently demonstrated if humanity so wills it and will take advantage of the Venusian influence to use the mind as the reflector of soul purpose. If this does not take place, the present situation will turn into something far worse—a situation wherein the mass of men will be “re-initiated into the Earth and forced to turn their backs upon the dawning light.” A dark period of civilisation will ensue. Instead of the dark cave of initiation wherein the light of the initiate’s own nature illumines the darkness and so demonstrates his command of light, the dark cave of materialism and of physical, animal control will take the place of the “lighted Way.” The earthy aspect of Capricorn, the lowest concrete aspect of the mind and an increased control by the Taurian spirit in its worst form will take the place of the divine possibility of entrance into greater light, the manifestation of the soul nature and the recognition of the “light which is found in the eye of the Bull.”
Ma Kết có liên hệ, như các bạn đã được cho biết, với điểm đạo; [543] nó cũng là dấu hiệu của Đấng Cứu Thế thế giới đang đến, và các phương diện cao hơn này của những ảnh hưởng Ma Kết có thể được biểu lộ mạnh mẽ nếu nhân loại thực sự muốn như vậy và biết tận dụng ảnh hưởng của Sao Kim để dùng trí tuệ như tấm phản chiếu của mục đích linh hồn. Nếu điều này không xảy ra, tình hình hiện tại sẽ chuyển thành một điều còn tệ hại hơn nhiều—một tình hình trong đó quần chúng sẽ bị “điểm đạo trở lại vào Trái Đất và bị buộc phải quay lưng với ánh sáng đang rạng lên.” Một thời kỳ đen tối của văn minh sẽ tiếp theo. Thay vì hang động tối của điểm đạo, nơi ánh sáng của chính bản chất điểm đạo đồ soi sáng bóng tối và nhờ đó chứng tỏ sự làm chủ ánh sáng của y, thì hang động tối của chủ nghĩa duy vật và của sự kiểm soát thể xác, thú tính sẽ thay thế “Con Đường được Soi Sáng.” Phương diện trần thế của Ma Kết, phương diện cụ thể thấp nhất của trí tuệ, và sự kiểm soát gia tăng bởi tinh thần Kim Ngưu trong hình thức tệ hại nhất của nó sẽ thay thế khả năng thiêng liêng là bước vào ánh sáng lớn hơn, sự biểu lộ bản chất linh hồn và sự nhận biết “ánh sáng được tìm thấy trong mắt của Con Bò Đực.”
Such are the possibilities confronting the world of men today; the issue is dependent upon the final triumph of the Forces of Light (working through the Allied nations) or on the control of the forces of materialism. Germany represented materialism in the West and Japan in the East. I would also add that those who in both nations (and there are many such) represent the “lighted Way” were so imprisoned in their environment and so dominated in their personalities by the thoughtform of their powerful rulers that for them right action was impossible. It is this thought which prompts the Hierarchy to renewed effort. The Forces of Light recognise and work for the spiritual good of all people, irrespective of their national relations. They are [544] working for the release of Germany from the glamour which descended upon her people. The Hierarchy makes a distinction between the bewildered mass, the wrongly educated youth and the obsessed leaders in all branches of the government. The latter are “shells,” obsessed by evil entities and hence their dynamic, one-pointed potency, hence also their extreme skill and cunning, based on very ancient evil experience and hence also the well-nigh ludicrous falsity of their propaganda. They are the spirit of materialism embodied, devoid of all true feeling and perception, lacking the light of love and understanding, but powerfully animated by the energy of substance itself. It is time that men woke up to the nature of these beings who sought (under the present grouping of constellations) to enslave the race. The earthly influence of Capricorn made their activity possible; they themselves have been evoked out of their evil past by the material side of humanity itself and the potency of the massed selfishness of mankind. In like manner, the Forces of Light can be evoked in tremendous potency but only by the massed aspiration and spiritual desires of the peoples of the Earth. Of this evocation, there are already signs.
Đó là những khả năng đang đối diện thế giới loài người ngày nay; kết quả tùy thuộc vào chiến thắng cuối cùng của các Mãnh Lực của Ánh sáng (hoạt động qua các quốc gia Đồng Minh) hay vào sự kiểm soát của các lực lượng duy vật. Đức đại diện cho chủ nghĩa duy vật ở phương Tây và Nhật Bản ở phương Đông. Tôi cũng muốn nói thêm rằng những ai trong cả hai quốc gia ấy (và có nhiều người như vậy) đại diện cho “Con Đường được Soi Sáng” đã bị giam hãm quá chặt trong môi trường của họ và bị hình tư tưởng của những kẻ cai trị đầy quyền lực chi phối phàm ngã của họ đến mức đối với họ, hành động đúng là điều không thể. Chính ý nghĩ này thúc đẩy Thánh Đoàn nỗ lực trở lại. Các Mãnh Lực của Ánh sáng nhận biết và hoạt động vì thiện ích tinh thần của mọi dân tộc, bất kể quan hệ quốc gia của họ. Các Ngài đang [544] hoạt động để giải thoát nước Đức khỏi ảo cảm đã giáng xuống dân tộc ấy. Thánh Đoàn phân biệt giữa quần chúng hoang mang, lớp thanh niên được giáo dục sai lầm, và các nhà lãnh đạo bị ám nhập trong mọi ngành của chính quyền. Những kẻ sau là “vỏ rỗng,” bị các thực thể ác ám nhập, và do đó mới có năng lực năng động, nhất tâm của họ; do đó cũng có kỹ năng và sự xảo quyệt cực độ của họ, dựa trên kinh nghiệm ác xưa cũ; và do đó nữa có tính giả dối gần như lố bịch trong tuyên truyền của họ. Họ là tinh thần của chủ nghĩa duy vật được hiện thân, không có mọi cảm nhận và tri giác chân chính, thiếu ánh sáng của bác ái và thấu hiểu, nhưng lại được hoạt hóa mạnh mẽ bởi chính năng lượng của chất liệu. Đã đến lúc con người phải thức tỉnh trước bản chất của những hữu thể này, những kẻ đã tìm cách (dưới sự tập hợp hiện tại của các chòm sao) nô dịch nhân loại. Ảnh hưởng trần thế của Ma Kết đã khiến hoạt động của họ trở nên khả hữu; chính họ đã được gợi lên từ quá khứ ác của mình bởi mặt vật chất của chính nhân loại và bởi sức mạnh của tính ích kỷ tập thể của loài người. Cũng theo cách ấy, các Mãnh Lực của Ánh sáng có thể được gợi lên với uy lực to lớn, nhưng chỉ bởi khát vọng tập thể và những ước muốn tinh thần của các dân tộc trên Trái Đất. Về sự gợi lên này, đã có những dấu hiệu.
The Venusian influence—as you will have noted—brings in likewise the influences of Libra. You find today a cycle wherein an appropriate balance or point of equilibrium has been brought about which is a correspondence to the great point of balance on the Path of Involution when spirit and matter balanced each other, making the upward arc of evolution the next possible step. This time the balancing is on mental levels; in the earlier crisis, it was on the physical plane. This point of equilibrium is to humanity, to the Sons of Mind, what the earlier point of crisis was to the planetary [545] Logos. This is a fact to be remembered and given due place in your thinking. The problem to be solved is: Which aspect of humanity will finally triumph and so disturb the balance by achieving dominance—spirit or matter, soul or personality? Such is the nature of these points of crisis. As in the planetary crisis, if spirit should triumph, a new feature, function or quality of divinity will begin to manifest—the highest mind. In the human crisis, the same thing is possible. If the spirit of man triumphs, then the aspect of true love in its divine nature and with its group emphasis will be possible. Such are the issues involved.
Ảnh hưởng của Sao Kim—như các bạn hẳn đã nhận thấy—cũng mang vào các ảnh hưởng của Thiên Bình. Các bạn thấy ngày nay một chu kỳ trong đó một sự quân bình thích hợp hay một điểm cân bằng đã được tạo ra, tương ứng với điểm quân bình lớn trên Con Đường giáng hạ tiến hoá khi tinh thần và vật chất cân bằng nhau, khiến vòng cung đi lên của tiến hoá trở thành bước kế tiếp khả hữu. Lần này sự quân bình diễn ra trên các cấp độ trí tuệ; trong cuộc khủng hoảng trước kia, nó diễn ra trên cõi hồng trần. Điểm cân bằng này đối với nhân loại, đối với các Con của Trí Tuệ, cũng giống như điểm khủng hoảng trước kia đối với Hành Tinh Thượng Đế [545]. Đây là một sự kiện cần được ghi nhớ và dành cho vị trí thích đáng trong tư tưởng của các bạn. Vấn đề cần giải quyết là: phương diện nào của nhân loại rốt cuộc sẽ chiến thắng và do đó phá vỡ thế quân bình bằng cách đạt được ưu thế—tinh thần hay vật chất, linh hồn hay phàm ngã? Đó là bản chất của những điểm khủng hoảng này. Cũng như trong cuộc khủng hoảng hành tinh, nếu tinh thần chiến thắng, một đặc điểm, chức năng hay phẩm tính mới của thiên tính sẽ bắt đầu biểu lộ—thượng trí. Trong cuộc khủng hoảng của con người, điều tương tự cũng có thể xảy ra. Nếu tinh thần của con người chiến thắng, thì phương diện của bác ái chân chính trong bản chất thiêng liêng của nó và với sự nhấn mạnh vào nhóm sẽ trở nên khả hữu. Đó là những vấn đề được bao hàm.
To bring about the full presentation of the choice and to indicate the mode whereby the spirit of man can triumph, the influence of Pisces was called in or rather evoked. It is conditions which evoke, aided at times by voiced Words of Power on the part of the Hierarchy. Pisces, through its ruler, Pluto (ruling both the mass and the disciples esoterically), necessitated the triumph of death—not necessarily physical death—leading to the dissolution of the form of man. It is frequently the death or ending of old forms of civilisations which cyclically come and go; of religious teaching when it does not serve the need of the spiritual nature of the people (as is today the case); of educational processes which fail to educate the developing nature of man and serve only to delude and imprison. When I say this, I mean not the death of religion or of forms of thought. I refer here to death as the Great Releaser, which shatters the forms which are bringing death to that which is embodied. It is to this philosophic death in its lowest aspect that Germany has responded. The destruction of religion which Germany sought to bring about is not a prelude to the establishment of a better approach to divinity but the effort [546] to evoke the ancient gods, to deify the forms of matter and to make the state the supreme end of men’s lives; the spirit of love and of individual right relations are not known—those relations which are so basically characteristic of the Kingdom of God.
Để mang lại sự trình bày đầy đủ về sự lựa chọn và để chỉ ra phương thức nhờ đó tinh thần con người có thể chiến thắng, ảnh hưởng của Song Ngư đã được gọi vào, hay đúng hơn là được gợi lên. Chính các điều kiện gợi lên, đôi khi được trợ giúp bởi các Quyền năng từ được xướng lên từ phía Thánh Đoàn. Song Ngư, qua chủ tinh của nó là Sao Diêm Vương (cai quản cả quần chúng lẫn các đệ tử về mặt nội môn), đòi hỏi sự chiến thắng của cái chết—không nhất thiết là cái chết thể xác—dẫn đến sự tan rã của hình tướng con người. Thường đó là cái chết hay sự chấm dứt của các hình thức văn minh cũ vốn theo chu kỳ mà đến rồi đi; của giáo huấn tôn giáo khi nó không phục vụ nhu cầu của bản chất tinh thần nơi con người nữa (như trường hợp ngày nay); của các tiến trình giáo dục không giáo dục được bản chất đang phát triển của con người mà chỉ dùng để mê hoặc và giam hãm. Khi Tôi nói điều này, Tôi không có ý nói cái chết của tôn giáo hay của các hình thức tư tưởng. Ở đây Tôi nói đến cái chết như Đấng Giải Thoát Vĩ Đại, đập tan những hình thức đang mang cái chết đến cho điều được hiện thân. Chính với cái chết triết học này trong phương diện thấp nhất của nó mà nước Đức đã đáp ứng. Sự hủy diệt tôn giáo mà nước Đức tìm cách mang lại không phải là khúc dạo đầu cho việc thiết lập một cách tiếp cận tốt đẹp hơn đối với thiên tính, mà là nỗ lực [546] gợi lên các vị thần cổ xưa, thần thánh hóa các hình thức vật chất và biến nhà nước thành cứu cánh tối thượng của đời sống con người; tinh thần bác ái và các tương quan đúng đắn cá nhân thì không được biết đến—những tương quan vốn là đặc tính nền tảng của Thiên Giới.
The completely atheistic approach of Russia to the problem of religion at the time of, and during the period of, the revolution is much more sound than the German approach. The spirit of man in its essential divinity can be trusted to arise unhurt from the experience in answer to the call of the undying spirit. This call can sound forth clearly in a void and be evoked by time and circumstance—unopposed if the only difficulty with which it is confronted is the spirit of agnosticism and an attitude of questioning. But the imposition of the ancient myths in an effort to still the demand for truth and the carefully planned attack upon the Christ of the world is dangerous, evil, and will cause retrogression. Of these, the rulers of Germany were guilty. They did not succeed in quenching the spiritual life of the nation because religion in Germany was not corrupt as it was in Russia and needed not such a drastic purification. These are points which thinkers would do well to remember. In mystical Russia, the seeds of the spiritual life are emerging to fresh beauty and a triumphant religious ideal is on its way to manifest; in Germany, ancient crystallised forms of belief are met with something more ancient still and the combination of world dislike and decadent forms will make the lot of the German people one of great tragedy. In the consequent struggle for that which is spiritually alive and in the effort to regain belief in the realities of divine revelation, and in the determination to right the evil wrought by her rulers to the world, Germany may some day regain the expression of soul life. To this end, she must be first released [547] from evil rule and then aided to regain her spiritual standing.
Cách tiếp cận hoàn toàn vô thần của nước Nga đối với vấn đề tôn giáo vào thời điểm và trong giai đoạn cách mạng thì lành mạnh hơn nhiều so với cách tiếp cận của nước Đức. Tinh thần của con người trong thiên tính cốt yếu của nó có thể được tin tưởng là sẽ trỗi dậy không bị tổn hại từ kinh nghiệm ấy để đáp lại tiếng gọi của tinh thần bất diệt. Tiếng gọi này có thể vang lên rõ ràng trong khoảng trống và được gợi lên bởi thời gian và hoàn cảnh—không bị chống đối nếu khó khăn duy nhất mà nó phải đối diện chỉ là tinh thần bất khả tri và một thái độ tra vấn. Nhưng việc áp đặt các huyền thoại cổ xưa trong nỗ lực làm im tiếng đòi hỏi chân lý và cuộc tấn công được hoạch định cẩn thận vào Đức Christ của thế giới thì nguy hiểm, xấu ác, và sẽ gây ra sự thoái bộ. Về những điều này, những kẻ cai trị nước Đức đã phạm tội. Họ đã không thành công trong việc dập tắt đời sống tinh thần của quốc gia, vì tôn giáo ở Đức không suy đồi như ở Nga và không cần một sự thanh lọc quyết liệt đến thế. Đây là những điểm mà các nhà tư tưởng nên ghi nhớ. Trong nước Nga thần bí, những hạt giống của đời sống tinh thần đang xuất hiện với vẻ đẹp mới mẻ và một lý tưởng tôn giáo chiến thắng đang trên đường biểu lộ; tại Đức, những hình thức tín ngưỡng cổ xưa đã kết tinh lại gặp phải một điều còn cổ xưa hơn nữa, và sự kết hợp giữa ác cảm của thế giới với các hình thức suy đồi sẽ khiến số phận của dân tộc Đức trở thành một bi kịch lớn lao. Trong cuộc đấu tranh tiếp theo cho điều gì còn sống động về mặt tinh thần và trong nỗ lực lấy lại niềm tin vào các thực tại của mặc khải thiêng liêng, cũng như trong quyết tâm sửa chữa điều ác mà những kẻ cai trị của mình đã gây ra cho thế giới, một ngày nào đó nước Đức có thể lấy lại sự biểu lộ của đời sống linh hồn. Nhằm mục đích ấy, trước hết nước này phải được giải thoát [547] khỏi sự cai trị của điều ác, rồi sau đó được trợ giúp để lấy lại vị thế tinh thần của mình.
Pluto, therefore, comes into full force and expression in order to stage the testings of the world disciple and to this end brings in the potency of Scorpio, the sign of discipleship. Under these influences, the death of forms must eventuate leaving the disciple free; the dissolution of old group structures of thought, embodying worn-out ideas and ideals must necessarily supervene; crystallised old forms must dissolve and disappear, but in their place the undying spirit—impressed by revelation and sensitive to the emerging new concepts of truth—will create the needed new forms of appropriate expression.
Vì vậy, Sao Diêm Vương đi vào đầy đủ mãnh lực và biểu lộ để dàn dựng các thử thách của đệ tử thế gian, và nhằm mục đích này mang vào uy lực của Hổ Cáp, dấu hiệu của địa vị đệ tử. Dưới các ảnh hưởng này, cái chết của các hình thức tất phải xảy ra, để lại đệ tử được tự do; sự tan rã của các cấu trúc tư tưởng nhóm cũ, hiện thân cho những ý tưởng và lý tưởng đã hao mòn, tất phải tiếp theo; các hình thức cũ đã kết tinh phải tan biến và biến mất, nhưng thay vào đó tinh thần bất diệt—được ghi dấu bởi mặc khải và nhạy cảm với các khái niệm chân lý mới đang xuất hiện—sẽ tạo ra những hình thức mới cần thiết cho sự biểu lộ thích hợp.
Such are the influences which today are dominating the world, finding expression according to the type of vehicle which reacts to their impact. The type of conscious response and resultant activity is—as the occultist well knows—dependent upon the quality of the vehicle which is receptive to the approach of any type of energy. The interplay of the energy and the vehicle then produces consciousness of some kind. This is a basic and unalterable law.
Đó là những ảnh hưởng hiện đang chi phối thế giới, tìm được sự biểu lộ tùy theo loại vận cụ phản ứng với tác động của chúng. Loại đáp ứng hữu thức và hoạt động phát sinh—như nhà huyền bí học hiểu rõ—phụ thuộc vào phẩm tính của vận cụ tiếp nhận sự tiếp cận của bất kỳ loại năng lượng nào. Sự tương tác giữa năng lượng và vận cụ khi ấy tạo ra một loại tâm thức nào đó. Đây là một định luật căn bản và bất biến.
In the few things which I have been able to say anent these constellations and their relation to our planet at this time, I trust I have made clear and practical something which esoteric astrologers need unceasingly to grasp—the fact that once it has been established which constellations are at any one time influencing our Earth, which planets—exoteric and esoteric—are transmitting their influence and which rays are consequently active, it should be possible to prove then the fact of these distributed energies by the appearance upon Earth and among men of their appropriate results, and the expected response. [548]
Trong ít điều mà Tôi có thể nói liên quan đến các chòm sao này và mối liên hệ của chúng với hành tinh chúng ta vào thời điểm này, Tôi tin rằng Tôi đã làm sáng tỏ và thực tiễn hóa một điều mà các nhà chiêm tinh học nội môn cần phải nắm bắt không ngừng—sự kiện rằng một khi đã xác lập được những chòm sao nào vào một thời điểm nào đó đang ảnh hưởng đến Trái Đất chúng ta, những hành tinh nào—ngoại môn và nội môn—đang truyền dẫn ảnh hưởng của chúng, và do đó những Cung nào đang hoạt động, thì khi ấy phải có thể chứng minh sự kiện của các năng lượng được phân phối này bằng sự xuất hiện trên Trái Đất và giữa loài người của các kết quả thích hợp của chúng, cùng sự đáp ứng được mong đợi. [548]
2. Three major planetary influences today. — 2. Ba ảnh hưởng hành tinh lớn ngày nay.
Within the solar system itself, three of the sacred planets are peculiarly active. They are:
Trong chính hệ mặt trời, ba hành tinh thiêng liêng đang hoạt động một cách đặc biệt. Chúng là:
1. Uranus. This planet is the exoteric ruler of Aquarius; it is also the esoteric ruler of Libra and the hierarchical ruler of Aries. It is peculiarly active at this time and brings in the energy of the seventh ray. The circulating of its energies can be portrayed by the following symbol or diagram:
1. Sao Thiên Vương. Hành tinh này là chủ tinh ngoại môn của Bảo Bình; nó cũng là chủ tinh nội môn của Thiên Bình và chủ tinh huyền giai của Bạch Dương. Nó đặc biệt hoạt động vào lúc này và mang vào năng lượng của cung bảy. Sự lưu chuyển các năng lượng của nó có thể được mô tả bằng biểu tượng hay sơ đồ sau đây:
This triple inflow of seventh ray energy, coloured by the force of three great constellations, is potent to effect major changes in our little planet. It is interesting to realise that Aries, the Inaugurator, is rendered effective on the Earth through the organising potency of Uranus. Aries is the source, the beginning and the initiator of the New Age and its coming civilisations, of the appearance of the kingdom of God on earth and also of the individual initiate into the Mysteries. Aquarius is the present Determiner of the future. That which is now initiated in Aries will become manifested in Aquarius, and Libra will enforce the achievement of a point of balance or (esoterically speaking) of the “escape from opposing forces at the midway point between the source and the goal.”
Dòng tuôn vào tam phân này của năng lượng cung bảy, được nhuốm màu bởi lực của ba chòm sao lớn, có uy lực tạo ra những thay đổi lớn trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta. Thật thú vị khi nhận ra rằng Bạch Dương, Đấng Khai Mở, được làm cho hữu hiệu trên Trái Đất qua uy lực tổ chức của Sao Thiên Vương. Bạch Dương là nguồn, là khởi đầu và là đấng khởi xướng của Kỷ Nguyên Mới và các nền văn minh sắp đến của nó, của sự xuất hiện của Thiên Giới trên trần gian và cũng của điểm đạo đồ cá nhân vào các Huyền Nhiệm. Bảo Bình là Đấng Quy Định hiện tại của tương lai. Điều hiện đang được khởi xướng trong Bạch Dương sẽ trở nên biểu lộ trong Bảo Bình, và Thiên Bình sẽ cưỡng bách việc đạt đến một điểm quân bình hay (nói theo nội môn) “sự thoát khỏi các lực đối kháng tại điểm ở giữa giữa nguồn và mục tiêu.”
2. Mercury is the expression of fourth ray energy and this is, as you know, peculiarly related to the fourth [549] kingdom in nature, the human kingdom. It is the esoteric ruler of Aries (hence it “leads into the mysteries”) and is also the exoteric ruler of Gemini, which is the sign of the major opposites as far as humanity is concerned, because it signifies soul and personality, consciousness and form; it is also the exoteric ruler of Virgo, the Mother of the Christ-Child, or the form and that which indwells the form. It is, finally, the hierarchical ruler of Scorpio, which is the sign of discipleship.
2. Sao Thủy là biểu lộ của năng lượng cung bốn, và như các bạn biết, điều này có liên hệ đặc biệt với giới thứ tư [549] trong thiên nhiên, giới nhân loại. Nó là chủ tinh nội môn của Bạch Dương (do đó nó “dẫn vào các huyền nhiệm”) và cũng là chủ tinh ngoại môn của Song Tử, là dấu hiệu của các đối cực lớn xét theo phương diện nhân loại, vì nó biểu thị linh hồn và phàm ngã, tâm thức và hình tướng; nó cũng là chủ tinh ngoại môn của Xử Nữ, Mẹ của Christ-Hài Đồng, hay hình tướng và điều ngự bên trong hình tướng. Cuối cùng, nó là chủ tinh huyền giai của Hổ Cáp, là dấu hiệu của địa vị đệ tử.
This, therefore, brings into a close relation four great constellations, each of which has a peculiar relation to the dualities with which man has a definite evolutionary concern. These are expressed in a unique manner for humanity through Aries, Gemini, Virgo, and Scorpio and the following diagram is descriptive of the nature of that relation:
Vì vậy, điều này đưa vào mối liên hệ chặt chẽ bốn chòm sao lớn, mỗi chòm sao đều có một liên hệ đặc biệt với các nhị nguyên tính mà con người có một mối quan tâm tiến hoá xác định. Những điều này được biểu lộ theo một cách độc đáo cho nhân loại qua Bạch Dương, Song Tử, Xử Nữ và Hổ Cáp, và sơ đồ sau đây mô tả bản chất của mối liên hệ đó:
When visualising these diagrams, the symbol should be seen in rapid revolution. Mercury, the Messenger of the Gods, carries to humanity a certain type of force and this precipitates a point of crisis; it brings about the next great revolution which will lead mankind on to new experience, and to the revelation of the divinity which it is the destiny of man to reveal.
Khi hình dung các sơ đồ này, biểu tượng nên được thấy trong sự quay nhanh. Sao Thủy, Sứ Giả của các vị thần, mang đến cho nhân loại một loại mãnh lực nhất định và điều này gây ra một điểm khủng hoảng; nó mang lại cuộc cách mạng lớn tiếp theo sẽ dẫn dắt nhân loại đến kinh nghiệm mới, và đến sự mặc khải về thiên tính mà số phận của con người là phải biểu lộ.
3. Saturn. This planet applies the tests and is so chosen or invoked because the third ray is not only its particular ray but is also the ray of our planet, the Earth. The two notes synchronise. Saturn is also the hierarchical ruler [550] of Libra and, therefore, it brings to the manifestation of mankind and to the various hierarchies involved, a point of crisis to which the clue and the outcome lies in the recognition of balance. As Saturn also controls Capricorn in two of its three expressions or fields of influence, it is powerful in the three fields—exoteric, esoteric and hierarchical—and if you will relate what I here say to what I have said in an earlier part of this treatise re Capricorn, you will see how the sign of initiation hovers over our planet as well as over the destiny of the individual disciple. You have therefore an expression of the third ray force which the following diagram makes clear:
3. Sao Thổ. Hành tinh này áp dụng các thử thách và được chọn hay được khẩn cầu như vậy vì cung ba không chỉ là cung đặc thù của nó mà còn là cung của hành tinh chúng ta, Trái Đất. Hai âm điệu ấy đồng bộ. Sao Thổ cũng là chủ tinh huyền giai [550] của Thiên Bình, và vì vậy nó mang đến cho sự biểu lộ của nhân loại và cho các huyền giai khác nhau được bao hàm, một điểm khủng hoảng mà đầu mối và kết quả nằm trong sự nhận biết sự quân bình. Vì Sao Thổ cũng kiểm soát Ma Kết trong hai trong ba biểu lộ hay lĩnh vực ảnh hưởng của nó, nên nó có uy lực trong ba lĩnh vực—ngoại môn, nội môn và huyền giai—và nếu các bạn liên hệ điều Tôi nói ở đây với điều Tôi đã nói trong phần trước của bộ luận này về Ma Kết, các bạn sẽ thấy dấu hiệu của điểm đạo đang lơ lửng trên hành tinh chúng ta cũng như trên vận mệnh của đệ tử cá nhân. Do đó các bạn có một biểu lộ của mãnh lực cung ba mà sơ đồ sau đây làm sáng tỏ:
Saturn rules one of the decantes of Aquarius
Sao Thổ cai quản một trong các thập độ của Bảo Bình
This makes factual and clear that at this time, the signs of balance and of initiation can be intelligently used to produce effects on our Earth and this they will immutably do.
Điều này làm cho rõ ràng và thực tế rằng vào lúc này, các dấu hiệu của sự quân bình và của điểm đạo có thể được sử dụng một cách thông minh để tạo ra các hiệu quả trên Trái Đất chúng ta, và điều này chúng sẽ làm một cách bất biến.
These statements conclude what I feel it necessary to say at this time. Initiation—characterised by self-initiation—is the demand of man today. The stars declare it and decree it. The Hierarchy therefore intentionally collaborates. The crying demand and aspirations of man indicate appreciation of the opportunity and recognised understanding of the proved necessity. The Spirit of Life enforces this.
Những phát biểu này kết thúc điều mà Tôi cảm thấy cần phải nói vào lúc này. Điểm đạo—được đặc trưng bởi tự điểm đạo—là đòi hỏi của con người ngày nay. Các vì sao tuyên bố điều đó và sắc định điều đó. Vì vậy, Thánh Đoàn cố ý cộng tác. Tiếng kêu đòi và khát vọng của con người cho thấy sự đánh giá đúng cơ hội và sự thấu hiểu được nhận biết về nhu cầu đã được chứng minh. Đấng Tinh thần của Sự sống cưỡng bách điều này.
CHAPTER VI - The Three Crosses — CHƯƠNG VI - Ba Thập Giá
[553]
[553]
I shall not be able to handle the subject of the three zodiacal Crosses—the Mutable, Fixed and Cardinal Crosses—in any detail, owing to the fact that they are concerned with the wholes or with the syntheses of manifestation and with the unified experience of an incarnating entity, be it God or man. They can, therefore, be truly comprehended only by those with an inclusive consciousness, i.e., with an initiate-awareness. Some general comments can, however, be made.
Tôi sẽ không thể xử lý chủ đề về ba Thập Giá hoàng đạo—Thập Giá Biến đổi, Thập Giá Cố Định và Thập Giá Chủ Yếu—một cách chi tiết, vì chúng liên quan đến các toàn thể hay đến các tổng hợp của biểu lộ và đến kinh nghiệm hợp nhất của một thực thể đang nhập thể, dù là Thượng đế hay con người. Vì vậy, chúng chỉ có thể được thấu hiểu thật sự bởi những ai có tâm thức bao gồm, tức là với nhận biết của điểm đạo đồ. Tuy nhiên, vẫn có thể đưa ra một vài nhận xét tổng quát.
These three Crosses are as you know:
Ba Thập Giá này, như các bạn biết, là:
1. The Cross of the Hidden Christ—The Mutable Cross.
1. Thập Giá của Đức Christ Ẩn Tàng—Thập Giá Biến đổi.
a. This is the Cross of the four major energies which produce the conditioning circumstances which transform animal man into an aspirant.
a. Đây là Thập Giá của bốn năng lượng lớn tạo ra các hoàn cảnh điều kiện hóa, những hoàn cảnh chuyển đổi người thú thành một người chí nguyện.
b. It is, therefore, the Cross of the personality or of the steadily developing and finally integrating human being. This takes place at first in response to circumstance and later to soul inclination.
b. Vì vậy, đây là Thập Giá của phàm ngã hay của con người đang phát triển đều đặn và cuối cùng tích hợp. Điều này lúc đầu diễn ra để đáp ứng hoàn cảnh và về sau để đáp ứng khuynh hướng của linh hồn.
c. It is the Cross of temporal and temporary change, of fluidity and of those constantly altering environments which drive the soul within the form from one extreme of experience to another, so that the life shuttles between the pairs of opposites. [554]
c. Đây là Thập Giá của sự thay đổi theo thời gian và tạm thời, của tính linh động và của những môi trường luôn luôn biến đổi, những môi trường thúc đẩy linh hồn bên trong hình tướng từ cực đoan kinh nghiệm này sang cực đoan khác, khiến sự sống dao động giữa các cặp đối cực. [554]
d. It is the Cross of the responsive form, nurturing and developing the life of the indwelling Christ, the hidden Soul or Lord of Being.
d. Đây là Thập Giá của hình tướng đáp ứng, nuôi dưỡng và phát triển sự sống của Đức Christ ngự bên trong, Linh Hồn ẩn tàng hay Chúa Tể của Bản Thể.
The four arms of this Cross are Gemini—Virgo—Sagittarius—Pisces. It is sometimes called the Common Cross because it conditions the common herd, the mass of humanity.
Bốn cánh tay của Thập Giá này là Song Tử—Xử Nữ—Nhân Mã—Song Ngư. Đôi khi nó được gọi là Thập Giá Thông Thường vì nó điều kiện hóa đàn người thông thường, quần chúng nhân loại.
2. The Cross of the Crucified Christ—The Fixed Cross.
2. Thập Giá của Đức Christ Bị Đóng Đinh—Thập Giá Cố Định.
a. This is the Cross composed of the four energies which condition the life of the man who is first a probationary disciple and then an accepted or pledged disciple.
a. Đây là Thập Giá được cấu thành bởi bốn năng lượng điều kiện hóa đời sống của con người, trước hết là một đệ tử dự bị rồi sau đó là một đệ tử được chấp nhận hay đã phát nguyện.
b. It is outstandingly the Cross of the soul. The man who is upon the Fixed Cross is becoming increasingly aware of its direction and influences and does not respond as blindly as does the man upon the Mutable Cross. He does not “mount this Cross of Right Direction” in a technical sense until he has attained some measure of soul contact and has had some touch of illumination and of spiritual intuition—no matter how fleeting that touch may have been.
b. Đây nổi bật là Thập Giá của linh hồn. Con người ở trên Thập Giá Cố Định ngày càng ý thức hơn về định hướng và các ảnh hưởng của nó, và không đáp ứng một cách mù quáng như con người ở trên Thập Giá Biến đổi. Y không “bước lên Thập Giá của Định Hướng Đúng” này theo nghĩa kỹ thuật cho đến khi y đã đạt được một mức độ tiếp xúc linh hồn nào đó và đã có một chạm của soi sáng và của trực giác tinh thần—dù sự chạm ấy có thoáng qua đến đâu.
c. It is the Cross of “fixed vision and of that immovable intent which draws the man from points of light to blazing solar radiance.” The man upon the Fixed Cross says: “I am the soul and here I stand. Naught shall remove my feet from off the narrow place whereon I stand. I face the light. I am the Light and in that light shall I see Light.”
c. Đây là Thập Giá của “tầm nhìn cố định và của ý định bất lay chuyển kéo con người từ những điểm sáng đến bức xạ thái dương rực cháy.” Con người trên Thập Giá Cố Định nói: “Ta là linh hồn và ta đứng đây. Không gì sẽ dời chân ta khỏi nơi chật hẹp mà ta đang đứng. Ta đối diện ánh sáng. Ta là Ánh sáng và trong ánh sáng ấy ta sẽ thấy Ánh sáng.”
d. It is the Cross whose four energies blend with [555] and transmit the energies of the solar system itself. This it can do because the man upon the Fixed Cross is becoming increasingly conscious of issues which are larger than himself, more engrossing than his previous interests and which concern humanity in its relation to the solar forces and not just to the planetary forces. He is becoming sensitive to a larger whole.
d. Đây là Thập Giá mà bốn năng lượng của nó hòa trộn với [555] và truyền dẫn các năng lượng của chính hệ mặt trời. Nó có thể làm điều này vì con người trên Thập Giá Cố Định ngày càng ý thức hơn về những vấn đề lớn hơn bản thân mình, hấp dẫn hơn các mối quan tâm trước đây của mình, và liên quan đến nhân loại trong mối liên hệ với các lực thái dương chứ không chỉ với các lực hành tinh. Y đang trở nên nhạy cảm với một toàn thể lớn hơn.
e. The energies of this Cross continue to evoke response until the time of the third initiation.
e. Các năng lượng của Thập Giá này tiếp tục gợi lên sự đáp ứng cho đến thời điểm của lần điểm đạo thứ ba.
The four arms of this Cross are Taurus—Leo—Scorpio—Aquarius. It is called the Fixed Cross because the man is stretched upon it by the directed choice and immovable intent of his soul. From that decision there is no turning back.
Bốn cánh tay của Thập Giá này là Kim Ngưu—Sư Tử—Hổ Cáp—Bảo Bình. Nó được gọi là Thập Giá Cố Định vì con người bị căng trên đó bởi sự lựa chọn có định hướng và ý định bất lay chuyển của linh hồn mình. Từ quyết định ấy không có quay lui.
3. The Cross of the Risen Christ—The Cardinal Cross.
3. Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh—Thập Giá Chủ Yếu.
a. This is the Cross whereon, under the occult paradox and in time and space, the Spirit is crucified. Its four energies govern and direct the soul as it moves forward upon the Path of Initiation. Necessarily, as it deals with so exalted a state of consciousness, there is but little I can say anent this Cross except the vaguest generalities.
a. Đây là Thập Giá mà trên đó, dưới nghịch lý huyền bí và trong thời gian cùng không gian, Tinh thần bị đóng đinh. Bốn năng lượng của nó cai quản và định hướng linh hồn khi linh hồn tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo. Tất nhiên, vì nó liên quan đến một trạng thái tâm thức cao siêu như thế, nên Tôi chỉ có thể nói rất ít về Thập Giá này ngoài những khái quát mơ hồ nhất.
b. It is, therefore, pre-eminently the Cross of Initiation and of “beginnings.” It concerns fundamentally “the beginning of the endless Way of Revelation” which starts when Nirvana is entered and for which all the previous stages of the Path of Evolution have been but preparatory.
b. Vì vậy, đây nổi bật là Thập Giá của Điểm đạo và của “những khởi đầu.” Về căn bản, nó liên quan đến “sự khởi đầu của Con Đường Mặc Khải vô tận,” bắt đầu khi Niết Bàn được bước vào, và đối với con đường ấy mọi giai đoạn trước đó của Con Đường Tiến Hoá chỉ mới là sự chuẩn bị.
The following quotation may carry understanding and help to illumine this most difficult [556] subject, indicating the significance of this Cardinal Cross as a consummating influence and revealing that which lies ahead of those who attain hierarchical standing:
Đoạn trích dẫn sau đây có thể mang lại sự thấu hiểu và giúp soi sáng chủ đề cực kỳ khó khăn [556] này, chỉ ra ý nghĩa của Thập Giá Chủ Yếu này như một ảnh hưởng hoàn tất và tiết lộ điều đang ở phía trước những ai đạt được vị thế trong Thánh Đoàn:
“All beauty, all goodness, all that makes for the eradication of sorrow and ignorance upon the Earth must be devoted to the Great Consummation. Then when the Lords of Compassion shall have spiritually civilised the Earth and made of it a Heaven, there shall be revealed to the Pilgrims the Endless Path which reaches to the Heart of the Universe. Man, then no longer man, will transcend nature and impersonally, yet consciously, in at-one-ment with all Enlightened Ones, help to fulfil the Law of the Higher Evolution, of which Nirvana is but the beginning,” (Tibetan Yoga and Secret Doctrines. Page 12.)
“Mọi vẻ đẹp, mọi điều thiện, mọi điều góp phần xóa bỏ đau khổ và vô minh trên Trái Đất đều phải được hiến dâng cho Sự Hoàn Tất Vĩ Đại. Rồi khi các Đấng Chúa Tể của Lòng Từ Bi đã văn minh hóa Trái Đất về mặt tinh thần và biến nó thành một Thiên Đàng, thì Con Đường Vô Tận vươn tới Trái Tim của Vũ Trụ sẽ được mặc khải cho những Người Hành Hương. Khi ấy con người, không còn là con người nữa, sẽ vượt lên trên thiên nhiên và một cách vô ngã nhưng hữu thức, trong sự hợp nhất với tất cả các Đấng Giác Ngộ, sẽ giúp hoàn thành Định luật Tiến Hóa Cao Siêu, mà Niết Bàn chỉ mới là sự khởi đầu,” (Tibetan Yoga and Secret Doctrines. Trang 12.)
c. It is the Cross of the “widespread arms, the open heart and the higher mind,” for those who lie upon this Cross know and enjoy the significances underlying the words: Omnipresence and Omniscience, and are in process of unfolding the higher phases of Being which we inadequately cover by the word, Omnipotence.
c. Đây là Thập Giá của “những cánh tay dang rộng, trái tim rộng mở và thượng trí,” vì những ai nằm trên Thập Giá này biết và hưởng được các ý nghĩa nằm dưới những từ: Hiện Diện Khắp Nơi và Toàn Tri, và đang trong tiến trình khai mở các giai đoạn cao hơn của Bản Thể mà chúng ta chỉ có thể gọi một cách không đầy đủ bằng từ Toàn Năng.
d. The energies of the Cardinal Cross blend with the energies to which we can give no greater name than cosmic energy even though that word is meaningless. They carry the quality of the One about Whom Naught may be Said and are “tinctured with the Light of the seven solar systems” of which our solar system is one.
d. Các năng lượng của Thập Giá Chủ Yếu hòa trộn với các năng lượng mà chúng ta không thể gọi bằng tên nào lớn hơn là năng lượng vũ trụ, dù từ ấy vô nghĩa. Chúng mang phẩm tính của Đấng Bất Khả Tư Nghị và “được nhuốm Ánh sáng của bảy hệ mặt trời” mà hệ mặt trời của chúng ta là một trong số đó.
e. The scope and cycle of its influence in the life of the initiate is utterly unknown even to our planetary [557] Logos Who is Himself stretched upon its “widespread arms.”
e. Phạm vi và chu kỳ ảnh hưởng của nó trong đời sống của điểm đạo đồ hoàn toàn không được biết đến ngay cả đối với Hành Tinh Thượng Đế [557] của chúng ta, Đấng chính Ngài cũng đang bị căng trên “những cánh tay dang rộng” của nó.
1. The Cross of the Hidden Christ. — 1. Thập Giá của Đức Christ Ẩn Tàng.
Speaking generally, therefore, the Mutable Cross governs the form or body nature, controls the whole life cycle of the individual soul through the stages of the lower experiences of humanity, the strictly human stages, and the integrating processes of personality development until the man stands forth as an aligned person, slowly reorienting himself to a higher vision, a wider horizontal and vertical grasp of reality and thus becomes the aspirant. This Cross governs the lower triad in manifestation and rules in the three worlds of human evolution. The Fixed Cross governs the soul which is now conscious within the human form and in the three worlds, but controls throughout what is called “the five worlds of human attainment”—the three strictly human levels of activity and the two superhuman, i.e., the lower trinity and the Spiritual Triad. It deals with the entire life of soul experience and expression after the Mutable Cross has effectively forced the man on to the Path of Purification and of Discipleship. It is concerned with the integration of soul and personality and their complete blending or fusion. The Cardinal Cross governs the manifestation of the Monad in all its glory and beauty, and this cycle of influence falls into two stages: the one in which the Monad expresses itself upon the six planes of manifestation in “wisdom, strength and beauty” through the medium of the integrated soul and personality. This is a relatively brief stage. Second, the stage wherein—withdrawn and abstracted from those forms of Being—”the ONE proceeds upon the higher Way and passes on to [558] realms unknown e’en to the highest of the Sons of God upon our Earth.”
Nói một cách tổng quát, vì vậy, Thập Giá Biến đổi cai quản bản chất hình tướng hay thân thể, kiểm soát toàn bộ chu kỳ sống của linh hồn cá nhân qua các giai đoạn kinh nghiệm thấp của nhân loại, các giai đoạn thuần túy nhân loại, và các tiến trình tích hợp của sự phát triển phàm ngã cho đến khi con người xuất hiện như một con người đã chỉnh hợp, chậm rãi tự tái định hướng mình tới một tầm nhìn cao hơn, một sự nắm bắt thực tại rộng hơn theo chiều ngang và chiều dọc, và nhờ đó trở thành người chí nguyện. Thập Giá này cai quản tam nguyên thấp trong biểu lộ và cai trị trong ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại. Thập Giá Cố Định cai quản linh hồn, hiện nay đã hữu thức bên trong hình tướng con người và trong ba cõi thấp, nhưng kiểm soát xuyên suốt điều được gọi là “năm cõi của thành tựu nhân loại”—ba cấp độ hoạt động thuần túy nhân loại và hai cấp độ siêu nhân loại, tức là bộ ba thấp và Tam Nguyên Tinh Thần. Nó đề cập đến toàn bộ đời sống kinh nghiệm và biểu lộ của linh hồn sau khi Thập Giá Biến đổi đã hữu hiệu cưỡng bách con người bước lên Con Đường Thanh Luyện và Con Đường Đệ Tử. Nó liên quan đến sự tích hợp của linh hồn và phàm ngã cùng sự hòa trộn hay dung hợp hoàn toàn của chúng. Thập Giá Chủ Yếu cai quản sự biểu lộ của Chân Thần trong toàn bộ vinh quang và vẻ đẹp của nó, và chu kỳ ảnh hưởng này rơi vào hai giai đoạn: một là giai đoạn trong đó Chân Thần biểu lộ chính nó trên sáu cõi biểu lộ trong “minh triết, sức mạnh và vẻ đẹp” qua trung gian của linh hồn và phàm ngã đã tích hợp. Đây là một giai đoạn tương đối ngắn. Thứ hai là giai đoạn trong đó—được rút ra và trừu xuất khỏi những hình thức Bản Thể ấy—“ĐẤNG DUY NHẤT tiến bước trên Con Đường cao hơn và đi tới [558] những cõi giới không ai biết, ngay cả đối với những Con của Thượng đế cao nhất trên Trái Đất chúng ta.”
It might be added that the Mutable Cross is the conditioning influence in that great planetary centre which we call the human; that the Fixed Cross is paramountly the major controlling set of energies governing, and being transmitted by, the centre which we call the planetary Hierarchy; whilst the Cardinal Cross rules and conditions (in a manner unknown to men) that great planetary centre to which we give the name Shamballa.
Có thể nói thêm rằng Thập Giá Biến đổi là ảnh hưởng điều kiện hóa trong trung tâm hành tinh lớn mà chúng ta gọi là nhân loại; rằng Thập Giá Cố Định là tập hợp năng lượng kiểm soát lớn chủ yếu cai quản và được truyền dẫn bởi trung tâm mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn hành tinh; trong khi Thập Giá Chủ Yếu cai quản và điều kiện hóa (theo một cách mà con người không biết) trung tâm hành tinh lớn mà chúng ta gọi là Shamballa.
You will see, therefore, how stupendous is my theme. Only those, may I again repeat, who can think in terms of one or other of the three above Wholes, will know whereof I speak; lesser minds will get a general picture or vision of transcendental possibilities which will aid them to an expansion of consciousness, but what I say will remain far-off in the realm of the (temporarily) unattainable.
Vì vậy, các bạn sẽ thấy chủ đề của Tôi vĩ đại đến mức nào. Chỉ những ai, xin cho phép Tôi lặp lại lần nữa, có thể suy nghĩ theo một trong ba Toàn Thể nói trên, mới biết Tôi đang nói về điều gì; những trí tuệ nhỏ hơn sẽ có được một bức tranh hay tầm nhìn tổng quát về các khả năng siêu việt, điều này sẽ giúp họ mở rộng tâm thức, nhưng điều Tôi nói sẽ vẫn còn xa vời trong lĩnh vực của cái (tạm thời) không thể đạt tới.
Will it clarify the subject technically and academically if I point out that—
Liệu chủ đề này có được làm sáng tỏ về mặt kỹ thuật và học thuật nếu Tôi chỉ ra rằng—
1. The Mutable Cross is the Cross of the Holy Spirit, of the third Person of the Christian Trinity, as it organises substance and evokes sensitive response from substance itself.
1. Thập Giá Biến đổi là Thập Giá của Chúa Thánh Thần, của Ngôi thứ ba trong Tam Vị Kitô giáo, khi Ngài tổ chức chất liệu và gợi lên sự đáp ứng nhạy cảm từ chính chất liệu.
2. The Fixed Cross is the Cross of the Son of God, of the second Person of the Trinity, driven through love to incarnate in matter and to be consciously crucified upon the Cross of matter.
2. Thập Giá Cố Định là Thập Giá của Con của Thượng đế, của Ngôi thứ hai trong Tam Vị, bị thúc đẩy bởi bác ái để nhập thể vào vật chất và bị đóng đinh một cách hữu thức trên Thập Giá của vật chất.
3. The Cardinal Cross is the Cross of the Father, the first aspect of the sacred Trinity, Who sent forth the Holy Spirit (the Breath) because the Mind of God visioned a destiny for matter which had been long in coming. [559] Now that the “time was at hand,” the Son fulfilled the law in cooperation with the Holy Spirit and this in response to the fiat of the Father.
3. Thập Giá Chủ Yếu là Thập Giá của Đức Cha, phương diện thứ nhất của Tam Vị thiêng liêng, Đấng đã phóng xuất Chúa Thánh Thần (Hơi Thở) vì Trí Tuệ của Thượng đế đã linh thị một vận mệnh cho vật chất vốn đã chậm đến từ lâu. [559] Nay khi “thời điểm đã đến gần,” Người Con đã hoàn thành định luật trong sự hợp tác với Chúa Thánh Thần và điều này là để đáp ứng sắc lệnh của Đức Cha.
These three Crosses are, in their totality of manifestation, related to the three basic energies which brought the solar system into being; they constitute the three major and synthetic expressions of the supernal Will, motivated by love and expressed through activity. Upon these Crosses, the ability to see the Whole, purpose-motive-expression, life-quality- appearance, shifts and changes. Upon the Mutable Cross, the crucified man sees naught of the picture. He suffers, agonises, desires, strives, is the apparent victim of circumstances, and is distinguished by a veiled vision and inchoate longings. These gradually take shape until he reaches the stage of acquiescence and aspiration. Then he finds himself upon the Fixed Cross and begins to grasp the whole of the purpose of experience upon the Mutable Cross (as far as humanity is concerned) and to realise that there is a hierarchical purpose which can only be grasped by the man who is willing to be crucified upon that Cross. He reaches the stage of responsibility, self-awareness and right direction. His orientation is now “the spiritually vertical which involves the inclusive horizontal.” At this stage, the Plan of the Logos begins to take shape in his consciousness. Upon the Cardinal Cross, the purpose and the unified consummations of the two earlier crucifixions become almost blindingly apparent and a vision of the unified intent of the three Persons of the underlying Trinity (each upon His Own Cross) emerges with clarity.
Ba Thập Giá này, trong toàn thể biểu lộ của chúng, có liên hệ với ba năng lượng căn bản đã đưa hệ mặt trời vào hiện hữu; chúng cấu thành ba biểu lộ lớn và tổng hợp của Ý Chí thiên thượng, được thúc đẩy bởi bác ái và được biểu lộ qua hoạt động. Trên các Thập Giá này, khả năng nhìn thấy Toàn Thể, mục đích-động cơ-biểu lộ, sự sống-phẩm tính-diện mạo, thay đổi và chuyển dịch. Trên Thập Giá Biến đổi, con người bị đóng đinh không thấy gì của bức tranh. Y đau khổ, quằn quại, ham muốn, phấn đấu, là nạn nhân bề ngoài của hoàn cảnh, và được phân biệt bởi một tầm nhìn bị che khuất và những khát vọng còn mơ hồ. Những điều này dần dần thành hình cho đến khi y đạt tới giai đoạn thuận phục và khát vọng. Khi ấy y thấy mình ở trên Thập Giá Cố Định và bắt đầu nắm được toàn bộ mục đích của kinh nghiệm trên Thập Giá Biến đổi (xét theo phương diện nhân loại) và nhận ra rằng có một mục đích của Thánh Đoàn chỉ có thể được nắm bắt bởi con người sẵn lòng bị đóng đinh trên Thập Giá ấy. Y đạt tới giai đoạn trách nhiệm, tự nhận biết và định hướng đúng. Sự định hướng của y giờ đây là “chiều thẳng đứng tinh thần bao hàm chiều ngang bao gồm.” Ở giai đoạn này, Thiên Cơ của Thượng đế bắt đầu thành hình trong tâm thức y. Trên Thập Giá Chủ Yếu, mục đích và những hoàn tất hợp nhất của hai cuộc đóng đinh trước đó trở nên gần như hiển nhiên đến chói lòa, và một linh ảnh về ý định hợp nhất của ba Ngôi Vị của Tam Vị nền tảng (mỗi Ngài trên Thập Giá Riêng của Ngài) hiện ra rõ ràng.
Perhaps the simplicity of the following three symbols may serve somewhat to clarify that which I have tried to impart. [560]
Có lẽ tính đơn giản của ba biểu tượng sau đây có thể phần nào làm sáng tỏ điều mà Tôi đã cố gắng truyền đạt. [560]
The Mutable Cross of material change and constant movement can be depicted by the swastika.
Thập Giá Biến đổi của sự thay đổi vật chất và chuyển động không ngừng có thể được mô tả bằng chữ vạn.
The man is unconscious of the nature of the four entering energies and interprets little in terms of the soul. The energies make their impact upon him and drive him into material activity. This Cross of the personality dedicates the man who is crucified thereon to material ends in order that he may learn eventually their divine use. It is in the lower aspect of this Cross that the Nazis chose this symbol as theirs; they were expressing, at the close of the material cycle of human existence, the false and evil use of matter, of which separativeness, cruelty and selfishness is the key. The misuse of substance and the prostitution of matter and form to evil ends is the sin against the Holy Spirit. It might be said that the swastika “drives into danger dire and into evil ways, those whose greed is great and who see no beauty in the dawning light and who know no love of human lives.” To those who respond not to the lower aspects and effects of the whirling Cross (as it is sometimes called) “the swastika flings them from itself and far afield until they come to rest upon the Cross of chosen crucifixion,” the Fixed Cross of the pledged disciple.
Con người không ý thức về bản chất của bốn năng lượng đi vào và diễn giải rất ít theo phương diện linh hồn. Các năng lượng tác động lên y và thúc đẩy y vào hoạt động vật chất. Thập Giá của phàm ngã này hiến dâng con người bị đóng đinh trên đó cho các mục đích vật chất để cuối cùng y có thể học được cách sử dụng thiêng liêng của chúng. Chính trong phương diện thấp của Thập Giá này mà Đức Quốc Xã đã chọn biểu tượng này làm của mình; họ đang biểu lộ, vào lúc kết thúc chu kỳ vật chất của sự tồn tại nhân loại, việc sử dụng sai lầm và xấu ác vật chất, mà chìa khóa của nó là tính chia rẽ, tàn nhẫn và ích kỷ. Việc lạm dụng chất liệu và việc biến vật chất cùng hình tướng thành công cụ phục vụ các mục đích xấu ác là tội chống lại Chúa Thánh Thần. Có thể nói rằng chữ vạn “đẩy vào hiểm nguy khủng khiếp và vào những con đường ác, những kẻ có lòng tham lớn và không thấy vẻ đẹp trong ánh sáng đang rạng lên và không biết tình thương đối với sinh mạng con người.” Đối với những ai không đáp ứng với các phương diện và hiệu quả thấp của Thập Giá xoáy chuyển (như đôi khi nó được gọi), thì “chữ vạn ném họ ra khỏi chính nó và ra xa cho đến khi họ đến nghỉ trên Thập Giá của sự đóng đinh được chọn lựa,” Thập Giá Cố Định của đệ tử đã phát nguyện.
The symbol of the Fixed Cross (as far as humanity is concerned) might be depicted thus:
Biểu tượng của Thập Giá Cố Định (xét theo phương diện nhân loại) có thể được mô tả như sau:
Here you have the [561] Cross of Humanity. On this Cross, the man is illumined and conscious of the effects of the completed cycle (indicated by the circle) of the four energies to which he was subjected upon the Mutable Cross.
Ở đây các bạn có [561] Thập Giá của Nhân Loại. Trên Thập Giá này, con người được soi sáng và ý thức về các hiệu quả của chu kỳ hoàn tất (được chỉ ra bằng vòng tròn) của bốn năng lượng mà y đã chịu trên Thập Giá Biến đổi.
The symbol for the Cardinal Cross is more complicated and can be portrayed thus:
Biểu tượng của Thập Giá Chủ Yếu thì phức tạp hơn và có thể được mô tả như sau:
Here you have the triangle of manifested Monad, plus the three cycles of four energies, focussed and blended in unity; you have also the line of evolution (the evolution of consciousness) going down deep into, and becoming inclusive of matter and at the same time reaching out into the “Spaces of Divinity.”
Ở đây các bạn có tam giác của Chân Thần biểu lộ, cộng với ba chu kỳ của bốn năng lượng, được tập trung và hòa trộn trong hợp nhất; các bạn cũng có đường tiến hoá (sự tiến hoá của tâm thức) đi sâu xuống vào vật chất và trở nên bao gồm vật chất, đồng thời vươn ra vào “Những Không Gian của Thiêng Tính.”
Much that can be said anent the three Crosses has been already covered in scattered form when dealing separately with each of the twelve signs of the zodiac; it need not here be repeated. This Treatise, like The Secret Doctrine, is designed to instigate research and the power to delve and seek, because that process has a definite effect upon the cells of the brain and leads to a needed stimulation. In the study of the Crosses, the true meaning of their influence will only appear as you begin to think in terms of synthesis or of the relation of the four streams of energy, flowing unitedly upon and through any form of divine manifestation. This is by no means an easy thing to do, for the ability to think synthetically is only just beginning to appear in the foremost minds of the race. It can be illustrated, and then only analytically (which ever negates synthesis) by remarking in connection with the Mutable Cross, for instance, that the [562] synthesis of evolution, its problem and its goal all appear in a united, whole presentation when the influences are viewed as follows:
Nhiều điều có thể nói liên quan đến ba Thập Giá đã được đề cập rải rác khi bàn riêng về từng dấu hiệu trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo; ở đây không cần lặp lại. Bộ Luận này, cũng như Giáo Lý Bí Nhiệm, được thiết kế để khơi dậy sự nghiên cứu và năng lực đào sâu tìm kiếm, vì tiến trình đó có một tác động xác định lên các tế bào não và dẫn đến một sự kích thích cần thiết. Trong việc nghiên cứu các Thập Giá, ý nghĩa chân thực của ảnh hưởng của chúng sẽ chỉ xuất hiện khi các bạn bắt đầu suy nghĩ theo phương diện tổng hợp hay theo mối liên hệ của bốn dòng năng lượng, cùng chảy hợp nhất trên và xuyên qua bất kỳ hình thức biểu lộ thiêng liêng nào. Đây hoàn toàn không phải là điều dễ làm, vì khả năng suy nghĩ tổng hợp chỉ mới bắt đầu xuất hiện nơi những trí tuệ hàng đầu của nhân loại. Điều đó có thể được minh họa, và ngay cả như vậy cũng chỉ theo lối phân tích (mà điều này luôn phủ nhận tổng hợp), bằng cách nhận xét chẳng hạn liên quan đến Thập Giá Biến đổi, rằng sự [562] tổng hợp của tiến hoá, vấn đề của nó và mục tiêu của nó đều xuất hiện trong một sự trình bày hợp nhất, toàn vẹn khi các ảnh hưởng được nhìn như sau:
1. Gemini—the presentation of duality.
1. Song Tử—sự trình bày của nhị nguyên tính.
2. Virgo—the presentation of blending life and form.
2. Xử Nữ—sự trình bày của sự hòa trộn giữa sự sống và hình tướng.
3. Sagittarius—the presentation of focussed energy.
3. Nhân Mã—sự trình bày của năng lượng được tập trung.
4. Pisces—the presentation of a blended radiance.
4. Song Ngư—sự trình bày của một bức xạ hòa trộn.
This culminating radiance is the result of the focus of life, intention, and energy into a “radiant point of power.” You have been told that in connection with the Mutable Cross at this time the sign Pisces is the most potent and when the work of the Mutable Cross has been accomplished, the acquiescing disciple passes onto the Fixed Cross and prepares for the tests and trials of initiation. This is expressed for us in the occult symbology of the Old Commentary as follows:
Bức xạ hoàn tất này là kết quả của sự tập trung sự sống, ý định và năng lượng vào một “điểm quyền năng rạng ngời.” Các bạn đã được nói rằng liên quan đến Thập Giá Biến đổi vào lúc này, dấu hiệu Song Ngư là mạnh nhất, và khi công việc của Thập Giá Biến đổi đã được hoàn tất, đệ tử thuận phục bước sang Thập Giá Cố Định và chuẩn bị cho các thử thách và khảo nghiệm của điểm đạo. Điều này được diễn tả cho chúng ta trong biểu tượng huyền bí của Cổ Luận như sau:
“The Light shines forth because the greater light and the lesser light approach and then invoke each other. Their blended lights, though not yet one radiant sun, are merging fast. These blended lights reveal the Lighted Way.
“Ánh sáng tỏa ra vì ánh sáng lớn hơn và ánh sáng nhỏ hơn tiến lại gần rồi khẩn cầu lẫn nhau. Các ánh sáng hòa trộn của chúng, tuy chưa phải là một mặt trời rạng ngời duy nhất, đang mau chóng hòa nhập. Các ánh sáng hòa trộn này tiết lộ Con Đường được Soi Sáng.
The man beholds himself taking this other Way, the Way of lighted wholes; this leads from form to soul, from dark to light and thus around the Wheel. Retracing thus his steps and backward moving on the Way (the reversed wheel of the zodiac, A.A.B.) he forward moves.
Con người thấy mình đang đi theo Con Đường kia, Con Đường của những toàn thể được soi sáng; con đường này dẫn từ hình tướng đến linh hồn, từ tối tăm đến ánh sáng và như thế quanh Bánh Xe. Lần theo lại bước chân mình và đi lùi trên Con Đường (bánh xe hoàng đạo đảo ngược, A.A.B.) y lại tiến về phía trước.
A new light enters in. The Seven Sisters play their part (the Pleiades are in Taurus, the first sign of the Fixed Cross) and then three lights shine forth. And thus one radiant sun appears.”
Một ánh sáng mới đi vào. Bảy Chị Em đóng vai trò của mình (Thất Nữ Tinh ở trong Kim Ngưu, dấu hiệu đầu tiên của Thập Giá Cố Định) và rồi ba ánh sáng tỏa ra. Và như thế một mặt trời rạng ngời xuất hiện.”
[563]
[563]
The theme of all three Crosses is fusion and integration. The fusion of the personality into one functioning whole; the fusion of soul and personality consciously; the fusion of the threefold expression of divinity—Monad, ego and personality—so that there is an appearance of the blended energies. The keynote of their influences is the power to include and the full expression simultaneously, in time and space, of the vertical and the horizontal life.
Chủ đề của cả ba Thập Giá là sự dung hợp và sự tích hợp. Sự dung hợp của phàm ngã thành một toàn thể hoạt động; sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã một cách hữu thức; sự dung hợp của biểu lộ tam phân của thiên tính—Chân Thần, chân ngã và phàm ngã—đến mức có một biểu lộ của các năng lượng hòa trộn. Chủ âm của các ảnh hưởng của chúng là năng lực bao gồm và sự biểu lộ trọn vẹn đồng thời, trong thời gian và không gian, của đời sống chiều dọc và chiều ngang.
It should be noted that there are seven forms of light, related to the substance of the seven planes. These are stimulated and enhanced by the twelve forms of light of the twelve Creative Hierarchies, related each of them to one or other of the twelve signs of the zodiac. On this I may not enlarge as it concerns the mysteries of the higher initiations. I simply make the statement so that it may be appreciated by you as an occult fact to the proof of which you may not yet have access. A paralleling statement would be that the light of the seven centres in man (when enhanced by the light of the seven planetary centres) and the five kingdoms in nature (7+5=12), plus the twelve lights of the zodiac will produce a consummation of “light” effectiveness which will make possible the expression of the whole. This, through the medium of humanity. This is a basic statement which means little to you as yet but which will—in the next century—form a seed thought or “key sound” for the next revelation of the Ageless Wisdom.
Cần lưu ý rằng có bảy hình thức ánh sáng, liên hệ với chất liệu của bảy cõi. Những ánh sáng này được kích thích và tăng cường bởi mười hai hình thức ánh sáng của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, mỗi hình thức liên hệ với một trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Về điều này Tôi không thể nói rộng hơn vì nó liên quan đến các huyền nhiệm của các lần điểm đạo cao hơn. Tôi chỉ nêu ra điều ấy để các bạn có thể đánh giá nó như một sự kiện huyền bí mà các bạn có thể chưa tiếp cận được sự chứng minh. Một phát biểu song hành sẽ là: ánh sáng của bảy trung tâm trong con người (khi được tăng cường bởi ánh sáng của bảy trung tâm hành tinh) và năm giới trong thiên nhiên (7+5=12), cộng với mười hai ánh sáng của hoàng đạo, sẽ tạo ra một sự hoàn tất về hiệu quả của “ánh sáng” khiến sự biểu lộ của toàn thể trở nên khả hữu. Điều này, qua trung gian của nhân loại. Đây là một phát biểu căn bản hiện còn có ít ý nghĩa đối với các bạn, nhưng trong thế kỷ tới sẽ hình thành một tư tưởng hạt giống hay “âm thanh chủ chốt” cho sự mặc khải tiếp theo của Minh Triết Ngàn Đời.
Until the significance of the three Crosses is understood more fully and synthetically by astrologers and astrological investigators, it is almost impossible to find the needed words which will convey clearly the intended meaning. There has been no real attempt as yet on the part of astrologers (even the most advanced) to arrive at a general or synthetic understanding of the effect of the Crosses [564] upon humanity. All that has as yet been conveyed is the effect of one arm of the Cross upon the subject born in a particular sign. But there is a fusion of energies to be noted when, esoterically speaking, man “stands at the midway point where the four energies meet.” The man whose Sun sign is in Gemini, for instance, is subjected to the forces flowing through the Cross as whole, unless he is a very low grade human being; he will be sensitive to the influences of the other three signs when they sweep into power as the lesser zodiac of the year plays its part. Later, when the practical value of esoteric astrology is better understood, men will avail themselves of the three energies of the three other signs of the Cross in which the Sun sign finds a place. This is a future development of the science of esoteric astrology. Putting it into the simplest terms and thereby necessarily limiting significances, a man will endeavour, when in Sagittarius, to practise one-pointedness along some one line; when in Virgo, he will know that opportunity to bring the form more under the influence of the hidden Christ is possible and that, in Pisces, sensitivity to the higher impression is his right and privilege. All these four possibilities, in regard to the advanced initiate are beautifully demonstrated for us in the life of Jesus, the Master on the sixth ray.
Cho đến khi thâm nghĩa của ba Thập Giá được các nhà chiêm tinh và các nhà khảo cứu chiêm tinh thấu hiểu đầy đủ hơn và một cách tổng hợp hơn, thì hầu như không thể tìm ra những từ ngữ cần thiết để chuyển đạt rõ ràng ý nghĩa được dự định. Cho đến nay, phía các nhà chiêm tinh (ngay cả những người tiến bộ nhất) vẫn chưa có nỗ lực thực sự nào nhằm đạt tới một sự hiểu biết tổng quát hay tổng hợp về ảnh hưởng của các Thập Giá [564] đối với nhân loại. Tất cả những gì cho đến nay đã được truyền đạt chỉ là ảnh hưởng của một cánh tay của Thập Giá lên chủ thể sinh trong một dấu hiệu đặc biệt. Nhưng có một sự dung hợp của các năng lượng cần được ghi nhận khi, nói theo nghĩa huyền bí, con người “đứng tại điểm ở giữa nơi bốn năng lượng gặp nhau.” Chẳng hạn, người có dấu hiệu mặt trời ở Song Tử phải chịu các lực tuôn qua toàn thể Thập Giá, trừ phi người ấy là một con người ở trình độ rất thấp; người ấy sẽ nhạy cảm với các ảnh hưởng của ba dấu hiệu kia khi chúng bắt đầu phát huy mạnh mẽ ảnh hưởng lúc vòng hoàng đạo nhỏ của năm đóng vai trò của nó. Về sau, khi giá trị thực tiễn của Chiêm Tinh Học Nội Môn được hiểu rõ hơn, con người sẽ tận dụng ba năng lượng của ba dấu hiệu kia của Thập Giá mà trong đó dấu hiệu mặt trời có chỗ đứng. Đây là một sự phát triển tương lai của khoa học chiêm tinh học nội môn. Nói theo những từ ngữ đơn giản nhất, và do đó tất yếu giới hạn các thâm nghĩa, một người sẽ cố gắng, khi ở Nhân Mã, thực hành tính nhất tâm theo một đường lối nào đó; khi ở Xử Nữ, người ấy sẽ biết rằng cơ hội đưa hình tướng dưới ảnh hưởng của Đức Christ ẩn tàng nhiều hơn là điều có thể; và rằng, ở Song Ngư, sự nhạy cảm đối với ấn tượng cao hơn là quyền lợi và đặc ân của mình. Tất cả bốn khả năng này, liên quan đến điểm đạo đồ tiến bộ, được biểu lộ thật đẹp đẽ cho chúng ta trong cuộc đời của Đức Jesus, Chân sư cung sáu.
The Gemini aspect of His life is shown in the perfect fusion of the basic duality found in humanity: the human and the divine.
Phương diện Song Tử trong cuộc đời của Ngài được biểu lộ trong sự dung hợp hoàn hảo của tính nhị nguyên căn bản được tìm thấy trong nhân loại: nhân tính và thiên tính.
The Virgo aspect came into expression in His twelfth year when He said: “Wist ye not that I must be about My Father’s business,” thereby indicating the subordination of the form life to the will of the indwelling Christ; this was consummated when “divinity descended upon Him” at the Baptism.
Phương diện Xử Nữ đã đi vào biểu hiện vào năm mười hai tuổi của Ngài khi Ngài nói: “Các người há chẳng biết rằng Ta phải lo công việc của Cha Ta sao,” qua đó chỉ ra sự lệ thuộc của đời sống hình tướng vào ý chí của Đức Christ ngự bên trong; điều này được hoàn tất khi “thiên tính giáng xuống trên Ngài” lúc Lễ Rửa Tội.
[565]
[565]
The Sagittarian energy enabled Him to say, when confronted with full knowledge of the imminent sacrifice which He would have to make: “I must go up to Jerusalem,” and, we read, He then “set His face” and trod the Path of the Saviour, leading to the liberation of humanity.
Năng lượng Nhân Mã đã giúp Ngài có thể nói, khi đối diện với sự hiểu biết trọn vẹn về sự hi sinh sắp xảy đến mà Ngài sẽ phải thực hiện: “Ta phải lên Jerusalem,” và chúng ta đọc thấy rằng khi ấy Ngài “đã quyết chí” và bước đi trên Con Đường của Đấng Cứu Thế, dẫn đến sự giải thoát nhân loại.
The Piscean aspect in its highest expression is demonstrated by His sensitivity to immediate and unbroken contact with His “Father in Heaven”; He was in constant communication with the Monad, thereby proving to the world that He was initiated into states of consciousness of which the third initiation is but the beginning.
Phương diện Song Ngư trong biểu hiện cao nhất của nó được chứng minh bởi sự nhạy cảm của Ngài đối với sự tiếp xúc trực tiếp và không gián đoạn với “Cha trên Trời” của Ngài; Ngài ở trong sự giao tiếp liên tục với Chân Thần, nhờ đó chứng minh cho thế gian thấy rằng Ngài đã được điểm đạo vào những trạng thái tâm thức mà lần điểm đạo thứ ba chỉ mới là khởi đầu.
All the three Crosses are shown as functioning simultaneously in His life—a thing hitherto unknown in the perfection which He displayed—a perfection of perfect responsiveness and perfect demonstration of result as well, giving us a manifestation and an example of the fusion of the twelve energies in one divine Personality (expressing Individuality) on the physical plane. Let me briefly complete the demonstration of this truth—the truth that in the initiate of the higher degrees, all the twelve zodiacal energies can focus simultaneously and produce a complete exhibition of divinity, as it is intended eventually to express itself through humanity on this planet. I have given you the expression of the Mutable Cross. We will take the other two, in connection with the Christ and with the Cosmic Christ.
Cả ba Thập Giá đều được cho thấy là đang hoạt động đồng thời trong cuộc đời của Ngài—một điều từ trước đến nay chưa từng được biết đến trong sự toàn hảo mà Ngài đã biểu lộ—một sự toàn hảo của khả năng đáp ứng hoàn hảo và cũng là sự biểu lộ hoàn hảo của kết quả, đem lại cho chúng ta một biểu hiện và một tấm gương về sự dung hợp của mười hai năng lượng trong một phàm ngã thiêng liêng duy nhất (biểu lộ Cá Thể tính) trên cõi hồng trần. Hãy để Tôi ngắn gọn hoàn tất sự minh chứng cho chân lý này—chân lý rằng nơi điểm đạo đồ của các cấp cao hơn, cả mười hai năng lượng hoàng đạo có thể hội tụ đồng thời và tạo ra một sự biểu lộ trọn vẹn của thiên tính, như điều cuối cùng được dự định sẽ biểu hiện qua nhân loại trên hành tinh này. Tôi đã trao cho các bạn sự biểu lộ của Thập Giá Biến đổi. Chúng ta sẽ xét hai Thập Giá kia, liên hệ với Đức Christ và với Đức Christ Vũ Trụ.
THE FIXED CROSS
THẬP GIÁ CỐ ĐỊNH
Taurus.—Christ said (as have all the Sons of God Who know the true significance of the Fixed Cross), “I am the Light of the world,” and he added, “if thine eye be single thy whole body shall he full of light.” Taurus is, as you have heard, the Mother of Illumination, and [566] the “eye of the Bull” is the symbol of the eye to which Christ made reference.
Kim Ngưu.—Đức Christ đã nói (cũng như mọi Con của Thượng đế biết thâm nghĩa thật sự của Thập Giá Cố Định): “Ta là Ánh sáng của thế gian,” và Ngài thêm rằng, “nếu mắt ngươi đơn nhất thì toàn thân ngươi sẽ đầy ánh sáng.” Kim Ngưu, như các bạn đã nghe, là Mẹ của Sự Soi Sáng, và [566] “mắt của Con Bò Đực” là biểu tượng của con mắt mà Đức Christ đã nhắc đến.
Leo.—This is the sign of self-conscious identity. This is testified to by Christ in the words He spoke to His disciples: “What shall it profit a man if he gain the whole world and lose his soul?” or his own centre of self-consciousness—that significant point of attainment which must precede all the more inclusive states of consciousness.
Sư Tử.—Đây là dấu hiệu của bản sắc ngã thức. Điều này được Đức Christ xác nhận trong những lời Ngài nói với các đệ tử của mình: “Người ta được ích gì nếu được cả thế gian mà mất linh hồn mình?” hay mất chính trung tâm ngã thức của mình—điểm thành tựu đầy ý nghĩa ấy, vốn phải đi trước mọi trạng thái tâm thức bao gồm hơn.
Scorpio.—The significance of this sign in the life of Christ has been deleted from The New Testament, but has been preserved for us in the ancient Christian legend that—in the cradle itself—Christ killed or strangled two serpents, thus referring to the pairs of opposites which could no longer control Him.
Hổ Cáp.—Thâm nghĩa của dấu hiệu này trong cuộc đời Đức Christ đã bị loại khỏi Tân Ước, nhưng đã được lưu giữ cho chúng ta trong truyền thuyết Kitô giáo cổ rằng—ngay trong chiếc nôi—Đức Christ đã giết hay bóp chết hai con rắn, như thế ám chỉ các cặp đối cực vốn không còn có thể kiểm soát Ngài nữa.
Aquarius.—The expression of this influence has been beautifully given to us in the story of the Last Supper. Christ sent His disciples into the city to find the man “bearing a pitcher of water” upon his shoulder. This is the symbol of the sign Aquarius—the sign in which the universality of the water of life will become a factor in human consciousness; then we shall indeed all sit down eventually to the communion of bread and wine. He referred indirectly to the same idea when He spoke of Himself as the “water of life,” assuaging the thirst of humanity.
Bảo Bình.—Sự biểu lộ của ảnh hưởng này đã được trao cho chúng ta thật đẹp đẽ trong câu chuyện về Bữa Tiệc Ly. Đức Christ sai các đệ tử vào thành để tìm người đàn ông “mang một vò nước” trên vai. Đây là biểu tượng của dấu hiệu Bảo Bình—dấu hiệu trong đó tính phổ quát của nước sự sống sẽ trở thành một yếu tố trong tâm thức nhân loại; khi ấy quả thật tất cả chúng ta cuối cùng sẽ cùng ngồi xuống trong sự hiệp thông của bánh và rượu. Ngài cũng gián tiếp nhắc đến cùng một ý tưởng khi nói về chính mình như là “nước sự sống,” làm dịu cơn khát của nhân loại.
Thus, through the use of the energies of these four signs of the Fixed Cross, Christ demonstrated perfection. [567]
Như vậy, qua việc sử dụng các năng lượng của bốn dấu hiệu này của Thập Giá Cố Định, Đức Christ đã biểu lộ sự toàn hảo. [567]
THE CARDINAL CROSS
THẬP GIÁ CHỦ YẾU
In the four signs of this Cross we find Him also manifesting their energies in their highest forms (from the angle of human understanding), though these are more by implication than by direct statement.
Trong bốn dấu hiệu của Thập Giá này, chúng ta cũng thấy Ngài biểu lộ các năng lượng của chúng trong những hình thức cao nhất của chúng (xét từ góc độ hiểu biết của con người), dù điều này được hàm ý nhiều hơn là được phát biểu trực tiếp.
Aries.—This sign, which is the sign of beginnings, provided the impulse and energy which enabled Him to inaugurate the Christian era; it initiated, through Him, the “age of Love” which is only now beginning to take form, and its potency is now so great that it has brought about (paradoxically) the present world cleavage.
Bạch Dương.—Dấu hiệu này, là dấu hiệu của những khởi đầu, đã cung cấp xung lực và năng lượng giúp Ngài có thể khai mở kỷ nguyên Kitô giáo; qua Ngài, nó đã khởi xướng “kỷ nguyên của Bác ái,” kỷ nguyên mà chỉ nay mới bắt đầu thành hình, và tiềm lực của nó hiện nay lớn đến mức đã gây ra (một cách nghịch lý) sự phân rẽ thế giới hiện tại.
Cancer.—The potency of this sign is expressed for us by Christ in the oft misinterpreted words: “Other sheep I have which are not of this fold, them also I must bring.” This refers to the mass consciousness in contradistinction to the initiate consciousness of His disciples. Cancer is a mass sign.
Cự Giải.—Tiềm lực của dấu hiệu này được Đức Christ biểu lộ cho chúng ta qua những lời thường bị hiểu sai: “Ta còn có những con chiên khác không thuộc về bầy này, Ta cũng phải đem chúng về.” Điều này ám chỉ tâm thức quần chúng đối lập với tâm thức điểm đạo của các đệ tử Ngài. Cự Giải là một dấu hiệu quần chúng.
Libra.—Christ stood at the point of balance in human evolution; He stood between the old world and the new, between the East and the West. In the Christian era comes a “point of balance” or that “crisis of equilibrium” in the human kingdom.
Thiên Bình.—Đức Christ đứng tại điểm quân bình trong tiến hoá nhân loại; Ngài đứng giữa thế giới cũ và thế giới mới, giữa Đông phương và Tây phương. Trong kỷ nguyên Kitô giáo xuất hiện một “điểm quân bình” hay “cuộc khủng hoảng của sự cân bằng” ấy trong giới nhân loại.
Capricorn.—This sign marks the point of concretion and of crystallisation which results eventually in the death of the form. This we see happening today. In His triumph over death and in His resurrection into life, Christ indicated the deep mystery of Capricorn.
Ma Kết.—Dấu hiệu này đánh dấu điểm của sự cô đọng và kết tinh, cuối cùng dẫn đến cái chết của hình tướng. Đây là điều chúng ta thấy đang xảy ra ngày nay. Trong sự chiến thắng của Ngài trước cái chết và trong sự phục sinh vào sự sống, Đức Christ đã chỉ ra huyền nhiệm sâu xa của Ma Kết.
[568]
[568]
A study of these few suggestions anent the life of Christ will bring to light and livingness this whole subject of the three Crosses. It is needless for me to remind you at this point that on Mount Golgotha, these three Crosses are portrayed:
Một sự nghiên cứu về vài gợi ý này liên quan đến cuộc đời Đức Christ sẽ làm sáng tỏ và làm sống động toàn bộ chủ đề về ba Thập Giá. Tôi không cần phải nhắc các bạn tại điểm này rằng trên Núi Golgotha, ba Thập Giá này được mô tả:
1. The Mutable Cross—the unrepentant thief. Humanity.
1. Thập Giá Biến đổi—tên trộm không ăn năn. Nhân loại.
2. The Fixed Cross—the repentant thief. Hierarchy.
2. Thập Giá Cố Định—tên trộm ăn năn. Thánh Đoàn.
3. The Cardinal Cross—the Cross of Christ. Shamballa.
3. Thập Giá Chủ Yếu—Thập Giá của Đức Christ. Shamballa.
2. The Cross of the Crucified Christ. — 2. Thập Giá của Đức Christ bị Đóng Đinh.
For those who read this treatise, the Cross which is of prime importance is the Fixed Cross of the Heavens. Aspirants to the Mysteries are steadily increasing in numbers at this time and this involves their re-orientation towards the Light, their conscious reversal upon the wheel of the zodiac, and their comprehension of the objectives of the processes to which they have given themselves upon the Fixed Cross. Disciples are apt to think that the fact of their taking their place upon that Cross and demonstrating their willingness to be tested and to show unalterable stability is the major factor involved. This is by no means so in reality. Each of these Crosses makes its presence felt as a fourfold sphere of influence or a potent centre of energy through the medium of an “invoking sound.” This sound goes up from each of the Crosses and produces a result and a response from some source. It is this new fact anent the Crosses which is of importance and upon which I seek briefly to touch. Only when the influence of all the four arms of each Cross has produced an effect in the subject is a transition in consciousness made from one Cross to another—each transition marking a point of crisis, both in [569] the individual and in the larger whole. Then a process of invocation is instituted—at first unconsciously, in which case it is in the nature of a diffused call, and, later, consciously, when it takes the form of a focussed appeal.
Đối với những ai đọc bộ luận này, Thập Giá có tầm quan trọng hàng đầu là Thập Giá Cố Định của các tầng trời. Những người chí nguyện hướng đến các Huyền Nhiệm hiện đang tăng lên đều đặn về số lượng, và điều này bao hàm sự tái định hướng của họ về phía Ánh sáng, sự đảo chiều có ý thức của họ trên bánh xe hoàng đạo, và sự hiểu biết của họ về các mục tiêu của những tiến trình mà họ đã hiến mình cho trên Thập Giá Cố Định. Các đệ tử có khuynh hướng nghĩ rằng việc họ chiếm chỗ của mình trên Thập Giá ấy và biểu lộ sự sẵn lòng được thử thách và cho thấy sự ổn định không thay đổi là yếu tố chính liên hệ ở đây. Thực ra hoàn toàn không phải vậy. Mỗi Thập Giá này làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận như một phạm vi ảnh hưởng tứ phân hay một trung tâm năng lượng mạnh mẽ qua trung gian của một “âm thanh khẩn cầu.” Âm thanh này phát lên từ mỗi Thập Giá và tạo ra một kết quả cùng một sự đáp ứng từ một nguồn nào đó. Chính sự kiện mới này liên quan đến các Thập Giá là điều quan trọng và là điều Tôi muốn ngắn gọn đề cập đến. Chỉ khi ảnh hưởng của cả bốn cánh tay của mỗi Thập Giá đã tạo ra một hiệu quả nơi chủ thể thì mới có một sự chuyển tiếp trong tâm thức từ Thập Giá này sang Thập Giá khác—mỗi sự chuyển tiếp đánh dấu một điểm khủng hoảng, cả trong [569] cá nhân lẫn trong toàn thể lớn hơn. Khi ấy một tiến trình khẩn cầu được thiết lập—lúc đầu là vô thức, trong trường hợp đó nó có tính chất của một tiếng gọi lan tỏa, và về sau là có ý thức, khi nó mang hình thức của một lời thỉnh cầu tập trung.
When the time of transition from the Mutable Cross on to the Fixed Cross arrives, three things occur:
Khi thời điểm chuyển tiếp từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định đến, ba điều xảy ra:
1. The influence of the four energies of the Mutable Cross have brought about a vast experience of life in form.
1. Ảnh hưởng của bốn năng lượng của Thập Giá Biến đổi đã đem lại một kinh nghiệm rộng lớn về đời sống trong hình tướng.
2. There is now a gradually growing and profound dissatisfaction awakening in the consciousness of the man making the transition. He has exhausted material desire to a very great extent and is no longer attracted by the Path of outgoing into matter; the needs of the physical nature no longer dominate him; he is afraid of the impulses, emanating from the astral plane; he is awake and active mentally and as a functioning personality. But he remains unsatisfied and is uncomfortably aware of it.
2. Giờ đây có một sự bất mãn ngày càng tăng và sâu sắc đang thức tỉnh trong tâm thức của người đang thực hiện sự chuyển tiếp. Người ấy đã làm cạn kiệt dục vọng vật chất đến một mức rất lớn và không còn bị hấp dẫn bởi Con Đường hướng ngoại vào vật chất nữa; các nhu cầu của bản chất thể xác không còn thống trị người ấy; người ấy sợ các xung lực phát ra từ cõi cảm dục; người ấy thức tỉnh và hoạt động về mặt trí tuệ và như một phàm ngã đang vận hành. Nhưng người ấy vẫn không thỏa mãn và khó chịu vì nhận biết điều đó.
3. He turns to invocation. This process of invocation falls into two stages:
3. Người ấy quay sang khẩn cầu. Tiến trình khẩn cầu này rơi vào hai giai đoạn:
a. The stage of aspiration, irregular and vague but gradually assuming power.
a. Giai đoạn khát vọng, thất thường và mơ hồ nhưng dần dần trở nên mạnh mẽ.
b. The stage of mysticism, merging into occultism (the study of that which is hidden). Duality is now consciously and uncomfortably recognised and the higher way and the spiritual vision is contacted. Desire gives place to the vague promptings of what might be called love. This is the movement in the personality of that divine emerging aspect. It is this that he seeks to invoke. When this is adequately strong then true evocation [570] takes place and the disciple (for such the man now is) mounts the Fixed Cross.
b. Giai đoạn thần bí học, hòa nhập vào huyền bí học (sự nghiên cứu điều bị che giấu). Nhị nguyên tính giờ đây được nhận biết một cách có ý thức và đầy khó chịu, và con đường cao hơn cùng linh ảnh tinh thần được tiếp xúc. Dục vọng nhường chỗ cho những thôi thúc mơ hồ của điều có thể gọi là bác ái. Đây là sự vận động trong phàm ngã của phương diện thiêng liêng đang xuất hiện ấy. Chính điều này mà người ấy tìm cách khẩn cầu. Khi điều này đủ mạnh thì sự gợi lên chân chính [570] diễn ra và đệ tử (vì giờ đây con người ấy là như vậy) bước lên Thập Giá Cố Định.
The above is true of the individual disciple and also today of humanity as a whole, and—as I have oft told you—it is this process of invocation which is taking place in the human family. This produces the present dire crisis. The two stages above outlined are present today in a general and potent sense in mankind.
Điều trên là đúng đối với đệ tử cá nhân và cũng đúng ngày nay đối với toàn thể nhân loại, và—như Tôi đã thường nói với các bạn—chính tiến trình khẩn cầu này đang diễn ra trong gia đình nhân loại. Điều này tạo ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hiện nay. Hai giai đoạn được phác họa ở trên hiện diện ngày nay trong nhân loại theo một ý nghĩa tổng quát và mạnh mẽ.
It was the recognition of these two stages in humanity which led me, under instruction from the Hierarchy, to give out—at widely separated points in time—two stanzas of a great occult mantram. The first stanza, used in 1936, referred to the vague general aspiration of the mass of the people in the world, which is today more pronounced than ever before and becoming more focussed towards true well-being.
Chính sự nhận biết hai giai đoạn này trong nhân loại đã khiến Tôi, dưới sự chỉ thị của Thánh Đoàn, công bố—vào những thời điểm cách xa nhau—hai bài kệ của một mantram huyền bí vĩ đại. Bài kệ thứ nhất, được dùng vào năm 1936, liên hệ đến khát vọng tổng quát mơ hồ của quần chúng trên thế giới, điều ngày nay rõ rệt hơn bao giờ hết và đang trở nên tập trung hơn vào phúc lợi chân chính.
THE GREAT INVOCATION
ĐẠI KHẤN NGUYỆN
Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
Cầu xin các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.
Let the Spirit of Peace be spread abroad.
Cầu xin Tinh thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi.
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
Nguyện cho sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này.
Let power attend the efforts of the Great Ones.
Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
So let it be, and help us to do our part.
Cầu xin điều ấy được thành tựu, và xin giúp chúng con làm phần việc của mình.
The use of this first stanza was immediately successful and met with a full response from those good and well-meaning people whose focus is predominantly astral and aspirational, and whose aim is peace and quiet. This peace and quiet provides the “area of consciousness” in which aspiration can flourish, physical and emotional comfort can be attained and the recognition of the mystical vision becomes possible.
Việc sử dụng bài kệ thứ nhất này đã thành công ngay tức khắc và nhận được sự đáp ứng trọn vẹn từ những người tốt lành và thiện ý, những người mà trọng tâm của họ chủ yếu là cảm dục và khát vọng, và mục tiêu của họ là hòa bình và yên ổn. Sự hòa bình và yên ổn này cung cấp “lãnh vực tâm thức” trong đó khát vọng có thể nở rộ, sự thoải mái về thể xác và cảm xúc có thể đạt được, và sự nhận biết linh ảnh thần bí trở nên khả hữu.
[571]
[571]
The second stanza was given out later and was intended to be a test and a “decision point in a time of crisis.”
Bài kệ thứ hai được công bố về sau và được dự định như một phép thử và một “điểm quyết định trong thời kỳ khủng hoảng.”
Let the Lords of Liberation issue forth.
Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.
Let Them bring succour to the sons of men.
Cầu xin Các Ngài đem cứu trợ đến cho những người con của nhân loại.
Let the Rider from the Secret Place come forth,
Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Ẩn Mật xuất hiện,
And coming, save.
Và khi đến, hãy cứu độ.
Come forth, O Mighty One.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
Let the souls of men awaken to the Light,
Cầu xin linh hồn của mọi người thức tỉnh trước Ánh Sáng,
And may they stand with massed intent.
Và cầu mong họ đứng vững với ý hướng hợp nhất.
Let the fiat of the Lord go forth:
Cầu xin sắc lệnh của Chúa Tể được ban ra:
The end of woe has come!
Thời đau khổ đã chấm dứt!
Come forth, O Mighty One.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
The hour of service of the saving force has now arrived.
Giờ phụng sự của mãnh lực cứu độ nay đã đến.
Let it be spread abroad, O Mighty One.
Cầu xin mãnh lực ấy lan tỏa khắp nơi, hỡi Đấng Đại Hùng.
Let Light and Love and Power and Death
Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương, Quyền Năng và Cái Chết
Fulfil the purpose of the Coming One.
Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.
The WILL to save is here.
Ý CHÍ cứu độ hiện diện nơi đây.
The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.
TÌNH THƯƠNG để thực hiện công việc đang lan tỏa khắp nơi.
The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.
SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng hiện diện nơi đây.
Come forth, O mighty One, and blend these three.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hợp nhất ba điều này.
Construct a great defending wall.
Hãy dựng nên một bức tường bảo vệ vĩ đại.
The rule of evil NOW must end.
Sự thống trị của điều ác nay phải chấm dứt.
It was offered, under this test, to the masses, but was intended primarily for the use of those aspirants and disciples who are not only mystics but who have made at least some small progress in their attempt to tread the occult way. They are mentally focussed in their attitude; the higher way is recognised by them; the vision has been seen and they are now ready for something closer and more real. The last stanza given is primarily, therefore, for the use of those who have mounted, or are in process of mounting, the Fixed Cross.
Nó được trao ra, dưới phép thử này, cho quần chúng, nhưng chủ yếu được dự định cho việc sử dụng của những người chí nguyện và các đệ tử, những người không chỉ là các nhà thần bí mà còn đã đạt được ít nhất một tiến bộ nhỏ trong nỗ lực bước đi trên con đường huyền bí học. Họ được tập trung về mặt trí tuệ trong thái độ của mình; con đường cao hơn được họ nhận biết; linh ảnh đã được thấy và giờ đây họ sẵn sàng cho một điều gì gần gũi hơn và thực hơn. Vì vậy, bài kệ cuối cùng được trao ra chủ yếu để những ai đã bước lên, hoặc đang trong tiến trình bước lên, Thập Giá Cố Định sử dụng.
It is for this reason that the use of the second part of [572] the Great Invocation was relatively limited. It was repudiated (almost violently sometimes) by the emotional type of person who could see no further than the beauty of peace—the goal of expression upon the astral plane. Their vision of the greater whole and of the evocation of the will-to-good (which is not the will-to-peace) was exceedingly limited and this through no fault of their own. It simply indicated their place upon the ladder of evolution and marked a relatively useful point of service, but one which is in process of being transcended. The people in the world today are coming to realise (through suffering and its consequent reflection) that there is something greater than peace and that is the good of the whole, and not just individual, peaceful conditions or national peace. This re-orientation of the human consciousness is brought about by the determined attitude of the souls of men, massed and blended, organised and focussed by the vision of the general welfare of humanity.
Chính vì lý do này mà việc sử dụng phần thứ hai của [572] Đại Khấn Nguyện tương đối bị giới hạn. Nó đã bị kiểu người cảm xúc bác bỏ (đôi khi gần như dữ dội), những người không thể thấy xa hơn vẻ đẹp của hòa bình—mục tiêu biểu lộ trên cõi cảm dục. Tầm nhìn của họ về toàn thể lớn hơn và về sự gợi lên ý chí-hướng thiện (điều không phải là ý chí-hướng hòa bình) hết sức hạn chế, và điều này không phải do lỗi của riêng họ. Nó chỉ đơn giản cho thấy vị trí của họ trên chiếc thang tiến hoá và đánh dấu một điểm phụng sự tương đối hữu ích, nhưng là điểm đang được vượt qua. Con người trên thế giới ngày nay đang đi đến chỗ nhận ra (qua đau khổ và sự suy tư do đó mà có) rằng có một điều gì lớn hơn hòa bình, và đó là điều thiện của toàn thể, chứ không chỉ là những điều kiện yên ổn cá nhân hay hòa bình quốc gia. Sự tái định hướng này của tâm thức nhân loại được đem lại bởi thái độ kiên quyết của các linh hồn của nhân loại, được tập hợp và hòa trộn, được tổ chức và tập trung bởi linh ảnh về phúc lợi chung của nhân loại.
It was, however, essential that these distinctions in attitude should appear in their clarity and, therefore, we gave out the two stanzas of the Great Invocation separately and at different times. You learnt thereby the difference of attitude between the mass of well-meaning people in the world, and the correctly oriented attitudes of the intelligent aspirants and disciples. This was necessary before wider action could later take place. I would pause here and remind you that both groups are necessary: the first group—emotional and idealistic—have a part to play in focussing the mass fluid aspiration. Their responsibility is to the general public. The other group of trained thinkers and people who are animated primarily by the will-to-good (which is of more importance in this world cycle than the will-to-peace) have a function to carry out in evoking hierarchical response in [573] reply to the aspiration of the first group. They focus this aspiration on the mental plane, create a thoughtform embodying the objective and project the “call” which may reach the ears of the Lords of Liberation.
Tuy nhiên, điều thiết yếu là những sự phân biệt trong thái độ này phải xuất hiện một cách rõ ràng và, vì vậy, chúng tôi đã công bố hai bài kệ của Đại Khấn Nguyện một cách riêng biệt và vào những thời điểm khác nhau. Qua đó các bạn đã học được sự khác biệt về thái độ giữa quần chúng thiện chí trên thế giới, và những thái độ được định hướng đúng đắn của những người chí nguyện và các đệ tử thông minh. Điều này là cần thiết trước khi về sau có thể diễn ra hành động rộng lớn hơn. Tôi muốn dừng lại ở đây và nhắc các bạn rằng cả hai nhóm đều cần thiết: nhóm thứ nhất—cảm xúc và lý tưởng—có phần việc phải làm trong việc tập trung khát vọng linh động của quần chúng. Trách nhiệm của họ là đối với công chúng nói chung. Nhóm kia gồm những nhà tư tưởng được huấn luyện và những người chủ yếu được sinh động bởi ý chí-hướng thiện (điều quan trọng hơn trong chu kỳ thế giới này so với ý chí-hướng hòa bình) có một chức năng phải thực hiện là gợi lên sự đáp ứng của Thánh Đoàn để [573] đáp lại khát vọng của nhóm thứ nhất. Họ tập trung khát vọng này trên cõi trí, tạo ra một hình tư tưởng hiện thân cho mục tiêu và phóng chiếu “tiếng gọi” có thể đến tai các Đấng Giải Thoát.
The blended invocation and the united call from the different levels of the human consciousness will bring a mighty appeal to bear upon the hidden Centres of the “Saving Force.” It is this united appeal which you must now organise. Thus the mass of humanity will be stimulated to move off the Mutable Cross on to the Fixed Cross and the new world cycle, beginning in Aquarius (one arm of the Fixed Cross) will be definitely inaugurated by humanity itself.
Sự khẩn cầu hòa trộn và tiếng gọi hợp nhất từ những cấp độ khác nhau của tâm thức nhân loại sẽ đem một lời thỉnh cầu mạnh mẽ tác động lên các Trung Tâm ẩn kín của “Mãnh Lực Cứu Rỗi.” Chính lời thỉnh cầu hợp nhất này mà giờ đây các bạn phải tổ chức. Như vậy quần chúng nhân loại sẽ được kích thích để rời khỏi Thập Giá Biến đổi mà bước sang Thập Giá Cố Định, và chu kỳ thế giới mới, bắt đầu trong Bảo Bình (một cánh tay của Thập Giá Cố Định), sẽ được chính nhân loại khai mở một cách dứt khoát.
It might be said, therefore, that the Great Invocation as first given out was for the use of those who are crucified upon the Mutable Cross, the Cross of change, whilst the second invocation is for the use of those who are crucified upon the Fixed Cross, the Cross of right orientation. It is for the use of those men and women whose aim is the will-to-good, who think in terms of world service and who are oriented towards light—the light of knowledge, the light of wisdom and understanding and the light of life itself.
Do đó, có thể nói rằng Đại Khấn Nguyện như đã được công bố lần đầu là để những ai bị đóng đinh trên Thập Giá Biến đổi, Thập Giá của sự thay đổi, sử dụng; trong khi lời khẩn cầu thứ hai là để những ai bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định, Thập Giá của sự định hướng đúng đắn, sử dụng. Nó dành cho những người nam và nữ mà mục tiêu là ý chí-hướng thiện, những người suy nghĩ theo hướng phụng sự thế giới và được định hướng về phía ánh sáng—ánh sáng của tri thức, ánh sáng của minh triết và thấu hiểu, và ánh sáng của chính sự sống.
Upon the Fixed Cross, the united influence of its four streams of energy, when expressing themselves fully through an individual disciple and through the Hierarchy, produces likewise three emerging conditions:
Trên Thập Giá Cố Định, ảnh hưởng hợp nhất của bốn dòng năng lượng của nó, khi biểu lộ đầy đủ qua một đệ tử cá nhân và qua Thánh Đoàn, cũng tạo ra ba điều kiện đang xuất hiện:
1. There is a vast experience of group life, group activity and group awareness. The self-conscious man in Leo becomes the group conscious man in Aquarius.
1. Có một kinh nghiệm rộng lớn về đời sống nhóm, hoạt động nhóm và nhận biết nhóm. Con người ngã thức trong Sư Tử trở thành con người có tâm thức nhóm trong Bảo Bình.
2. There arises in the consciousness of the disciple a vision of the “endless Way of which Nirvana is but the beginning.” [574]
2. Trong tâm thức của đệ tử nảy sinh một linh ảnh về “Con Đường vô tận mà Niết Bàn chỉ mới là khởi đầu.” [574]
3. He recognises his task of mediatorship which is the major task of the Hierarchy, mediating between Shamballa and Humanity. He knows that he must carry forward the dual task of invocation and evocation simultaneously—the evocation (through right invocation) of the will-to-good of the world thinkers and aspirants, and also the will-to-save of the Shamballa Lords, via the Hierarchy, which he is in a position directly to approach. I touch here on grave mysteries.
3. Người ấy nhận ra nhiệm vụ trung gian của mình, là nhiệm vụ chính của Thánh Đoàn, làm trung gian giữa Shamballa và Nhân Loại. Người ấy biết rằng mình phải đồng thời xúc tiến nhiệm vụ kép là khẩn cầu và gợi lên—sự gợi lên (qua khẩn cầu đúng đắn) ý chí-hướng thiện của các nhà tư tưởng và người chí nguyện trên thế giới, và cả ý chí-cứu độ của các Đấng Shamballa, thông qua Thánh Đoàn, mà người ấy ở vào vị thế có thể trực tiếp tiếp cận. Ở đây Tôi đang chạm đến những huyền nhiệm trọng đại.
There awakens in him, therefore, a vague determination at first which gives place in time to an evocation of the will in himself. This eventually puts him en rapport with the will aspect of Deity as it emanates and is stepped down from Shamballa, via the Hierarchy, into which spiritual organisation he is being gradually integrated through experience upon the Fixed Cross. It might here be pointed out that:
Vì vậy, trong người ấy lúc đầu thức dậy một quyết tâm mơ hồ, rồi theo thời gian nhường chỗ cho sự gợi lên ý chí trong chính mình. Điều này cuối cùng đặt người ấy vào mối tương quan với phương diện ý chí của Thượng đế khi nó phát xuất và được giảm hạ từ Shamballa, qua Thánh Đoàn, tổ chức tinh thần mà người ấy đang dần dần được tích hợp vào qua kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định. Ở đây có thể chỉ ra rằng:
a. Experience upon the Mutable Cross integrates a man into the centre which we call Humanity.
a. Kinh nghiệm trên Thập Giá Biến đổi tích hợp một người vào trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân Loại.
b. Experience upon the Fixed Cross integrates the disciple into the second planetary Centre which we call the Hierarchy.
b. Kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định tích hợp đệ tử vào Trung Tâm hành tinh thứ hai mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn.
c. Experience upon the Cardinal Cross integrates the initiate into the primary planetary Centre to which we give the name Shamballa.
c. Kinh nghiệm trên Thập Giá Chủ Yếu tích hợp điểm đạo đồ vào Trung Tâm hành tinh chính yếu mà chúng ta gọi là Shamballa.
He eventually becomes a radiating centre of spiritual will, affecting humanity and evoking its will-to-good; he blends this into the Hierarchy as far as he can, fusing this human will into hierarchical activity in an effort to evoke response from Shamballa. [575]
Cuối cùng người ấy trở thành một trung tâm bức xạ của ý chí tinh thần, ảnh hưởng đến nhân loại và gợi lên ý chí-hướng thiện của nó; người ấy hòa trộn điều này vào Thánh Đoàn trong mức có thể, dung hợp ý chí nhân loại này vào hoạt động của Thánh Đoàn trong một nỗ lực gợi lên sự đáp ứng từ Shamballa. [575]
3. The Cross of the Risen Christ. — 3. Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh.
More upon this subject I may not give to you, nor will it profit for me to enlarge upon the conditions which emerge in the consciousness of the initiate upon the Cardinal Cross. My words would be meaningless. Most of you are in the transition state wherein you are stabilising your individual will, and are attempting increasingly to express it in the will-to-good. I would have you deeply realise that if the will-to-peace is conditioning you, then you are still working on emotional levels and your work will then have to be with the first stanza of the Great Invocation and with its distribution to the masses. If it is the will-to-good which influences and directs you, then to the awakening of mass aspiration you must add the task of evoking the response to world need in the thinkers and aspirants through the medium of the second stanza, blending the two approaches in an effort to evoke—via the Hierarchy—the will-to-save of Shamballa.
Tôi không thể trao cho các bạn thêm gì nữa về chủ đề này, và việc Tôi khai triển thêm về những điều kiện xuất hiện trong tâm thức của điểm đạo đồ trên Thập Giá Chủ Yếu cũng sẽ không ích lợi gì. Lời Tôi sẽ vô nghĩa. Phần lớn các bạn đang ở trong trạng thái chuyển tiếp, trong đó các bạn đang ổn định ý chí cá nhân của mình, và đang ngày càng cố gắng biểu lộ nó trong ý chí-hướng thiện. Tôi muốn các bạn nhận ra sâu sắc rằng nếu ý chí-hướng hòa bình đang điều kiện hóa các bạn, thì các bạn vẫn còn đang hoạt động trên các cấp độ cảm xúc và khi ấy công việc của các bạn sẽ phải là với bài kệ thứ nhất của Đại Khấn Nguyện và với việc phân phối nó cho quần chúng. Nếu chính ý chí-hướng thiện ảnh hưởng và chỉ đạo các bạn, thì vào việc đánh thức khát vọng của quần chúng, các bạn phải thêm nhiệm vụ gợi lên sự đáp ứng đối với nhu cầu thế giới nơi các nhà tư tưởng và người chí nguyện qua trung gian của bài kệ thứ hai, hòa trộn hai cách tiếp cận trong một nỗ lực gợi lên—thông qua Thánh Đoàn—ý chí-cứu độ của Shamballa.
CHAPTER VII - The Rays, Constellations and Planets — CHƯƠNG VII - Các Cung, các Chòm Sao và các Hành Tinh
(As per Tabulation X)
(Theo Bảng X)
[579]
[579]
We come now to our last discussion upon the zodiac and its relation to the seven rays. We have been occupied with the signs and their effects, and with the new and deeply esoteric astrology which will gradually supersede the present mundane astrology. By the end of this century, it will have won its rightful place in human thought. One thing you must constantly bear in mind. Now that the war is over, and that time of acute trial and tribulation has come to an end, a great spiritual awakening (of a quality and a nature quite unpredictable today) will arrive. The war will have taught humanity many lessons and have torn the veil of self away from many eyes. Values which have been hitherto expressed and understood only by those whose “eyes are on God” will be the goal and the desire of untold thousands; true understanding between men and between nations will be a longed for objective. What humanity determines to have, it ever succeeds in achieving. This is an occult law, for desire is as yet the strongest force in the world; organised, unified desire was the basic reason for the appalling early successes of the Axis. The only factor which can successfully oppose desire is Will, using the word in its spiritual connotation and as an expression of the first great divine aspect. There was little of that organised, spiritual will shown by the [580] allies; they were animated naturally by desire for victory, desire for the arrival of the end of this all-engulfing world cataclysm, by desire for peace and the return of stability, the desire to end war once and for all and to break its constantly recurring cycle, and a steadily mounting desire to bring to a finish the terrible toll of suffering, of cruelty, of death, of starvation and of fear which is gripping humanity by the throat in the attempt to strangle out its life.
Giờ đây chúng ta đi đến cuộc thảo luận cuối cùng về hoàng đạo và mối liên hệ của nó với bảy Cung. Chúng ta đã bận tâm với các dấu hiệu và các hiệu quả của chúng, và với chiêm tinh học mới mẻ và sâu sắc huyền bí, vốn sẽ dần dần thay thế chiêm tinh học thế tục hiện nay. Vào cuối thế kỷ này, nó sẽ giành được vị trí chính đáng của mình trong tư tưởng nhân loại. Có một điều các bạn phải luôn luôn ghi nhớ. Giờ đây khi chiến tranh đã chấm dứt, và thời kỳ thử thách và hoạn nạn gay gắt ấy đã đi đến hồi kết, một sự thức tỉnh tinh thần lớn lao (với một phẩm tính và bản chất hoàn toàn không thể tiên đoán ngày nay) sẽ đến. Chiến tranh sẽ dạy cho nhân loại nhiều bài học và sẽ xé toang bức màn của bản ngã khỏi nhiều đôi mắt. Những giá trị mà cho đến nay chỉ được biểu lộ và thấu hiểu bởi những ai “đặt mắt mình nơi Thượng đế” sẽ trở thành mục tiêu và khát vọng của hàng ngàn hàng vạn người; sự thấu hiểu chân chính giữa người với người và giữa quốc gia với quốc gia sẽ là một mục tiêu được mong mỏi. Điều gì nhân loại quyết tâm có được, họ luôn thành công trong việc đạt được. Đây là một định luật huyền bí, vì dục vọng cho đến nay vẫn là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới; dục vọng được tổ chức, hợp nhất là lý do căn bản cho những thành công ban đầu khủng khiếp của phe Trục. Yếu tố duy nhất có thể chống lại dục vọng một cách thành công là Ý chí, dùng từ này theo hàm nghĩa tinh thần của nó và như một biểu hiện của phương diện thiêng liêng lớn lao thứ nhất. Có rất ít ý chí tinh thần được tổ chức như thế được phe [580] Đồng minh biểu lộ; dĩ nhiên họ được sinh động bởi dục vọng chiến thắng, dục vọng mong ngày kết thúc cơn đại thảm họa thế giới bao trùm tất cả này, bởi dục vọng hòa bình và sự trở lại của ổn định, dục vọng chấm dứt chiến tranh một lần cho mãi mãi và phá vỡ chu kỳ tái diễn liên tục của nó, và một dục vọng ngày càng tăng nhằm chấm dứt cái giá khủng khiếp của đau khổ, tàn bạo, chết chóc, đói khát và sợ hãi đang bóp nghẹt cổ họng nhân loại trong nỗ lực siết chết sự sống của nó.