Trích nội dung chương
1. The Nature of the Will––Underlying Cosmic Purpose. — 1. Bản Chất của Ý Chí––Thiên Ý Vũ Trụ Nền Tảng. But all this determination is in most cases simply the expression of a fixed and united desire. It is not the organised use of the will. The secret of the will lies in the recognition of the divine nature of man. Only this can evoke the true expression of the will. It has in fact to be evoked by the soul, as it dominates the human mind and controls the personality. The secret of the will is also closely tied in with the recognition of the unconquerable nature of goodness and the inevitability of the ultimate triumph of good. This is not…
1. The Nature of the Will––Underlying Cosmic Purpose. — 1. Bản Chất của Ý Chí––Thiên Ý Vũ Trụ Nền Tảng.
But all this determination is in most cases simply the expression of a fixed and united desire. It is not the organised use of the will. The secret of the will lies in the recognition of the divine nature of man. Only this can evoke the true expression of the will. It has in fact to be evoked by the soul, as it dominates the human mind and controls the personality. The secret of the will is also closely tied in with the recognition of the unconquerable nature of goodness and the inevitability of the ultimate triumph of good. This is not determination; it is not whipping up and stimulating desire so that it can be transmuted into will; it is not an implacable, unshakable, immovable focussing of all energies in the need to triumph (the enemies of the Forces of Light are adept at that). Victory for the allies did lie in the effort to produce this focussing with better effect than the enemy. The use of the will is not expressed by an iron fixation to stand steady and not yield to evil forces. Determination, the focussing of energy and the demonstration of an all-out effort towards victory were only (where the allies are concerned) the expression of a one-pointed desire for peace and for an ending of [581] the trouble. This type of effort is something which the masses can give and which they did give on both sides in this conflict.
Nhưng trong phần lớn các trường hợp, toàn bộ quyết tâm này chỉ đơn giản là biểu hiện của một dục vọng cố định và hợp nhất. Nó không phải là việc sử dụng ý chí một cách có tổ chức. Bí mật của ý chí nằm trong sự nhận biết bản chất thiêng liêng của con người. Chỉ điều này mới có thể gợi lên sự biểu lộ chân chính của ý chí. Thực ra, nó phải được linh hồn gợi lên, khi linh hồn thống trị trí tuệ con người và kiểm soát phàm ngã. Bí mật của ý chí cũng gắn bó chặt chẽ với sự nhận biết bản chất bất khả chinh phục của điều thiện và tính tất yếu của chiến thắng tối hậu của điều thiện. Đây không phải là quyết tâm; đây không phải là việc khơi dậy và kích thích dục vọng để nó có thể được chuyển hoá thành ý chí; đây không phải là sự tập trung không khoan nhượng, không lay chuyển, bất lay chuyển của mọi năng lượng vào nhu cầu chiến thắng (kẻ thù của các Mãnh Lực Ánh Sáng rất thành thạo việc đó). Chiến thắng của phe Đồng minh quả thật nằm trong nỗ lực tạo ra sự tập trung này với hiệu quả tốt hơn kẻ thù. Việc sử dụng ý chí không được biểu lộ bằng một sự cố định sắt đá để đứng vững và không nhượng bộ các lực ác. Quyết tâm, sự tập trung năng lượng và sự biểu lộ một nỗ lực toàn lực hướng tới chiến thắng chỉ là (xét nơi phe Đồng minh) biểu hiện của một dục vọng nhất tâm hướng tới hòa bình và hướng tới sự chấm dứt của [581] rối loạn. Loại nỗ lực này là điều mà quần chúng có thể cống hiến và họ đã cống hiến ở cả hai phía trong cuộc xung đột này.
There is, however, a plus, a something else, which swung the tide of victory on to the side of the Allies. It came through an unrealized effort to understand and express the quality of spiritual Will; it was the manifestation of that divine energy which made the first divine aspect of will or power what it is; it is that which is the distinctive feature of the Shamballa force; it is that peculiar and distinctive quality of divinity which is so different that even Christ Himself was unable to express it with facility and understanding. Hence we have the episode in Gethsemane. It is not easy for me to express its significance in words. Two thousand years have gone since Gethsemane and since Christ made His initial contact with the Shamballa force and by this means, and on behalf of humanity, established a relationship which even at the close of twenty centuries is but a thin frail line of connecting energy.
Tuy nhiên, có một yếu tố cộng thêm, một điều gì khác nữa, đã xoay chuyển dòng chiến thắng về phía phe Đồng minh. Nó đến qua một nỗ lực chưa được nhận ra nhằm thấu hiểu và biểu lộ phẩm tính của Ý chí tinh thần; đó là sự biểu lộ của năng lượng thiêng liêng đã làm cho phương diện thiêng liêng thứ nhất của ý chí hay quyền năng trở thành chính nó; đó là điều tạo nên đặc tính phân biệt của mãnh lực Shamballa; đó là phẩm tính đặc thù và khác biệt của thiên tính, khác biệt đến mức ngay cả chính Đức Christ cũng không thể biểu lộ nó một cách dễ dàng và thấu hiểu. Vì thế chúng ta có sự kiện ở Gethsemane. Đối với Tôi, việc diễn đạt thâm nghĩa của nó bằng lời không phải là điều dễ dàng. Hai ngàn năm đã trôi qua kể từ Gethsemane và kể từ khi Đức Christ thực hiện sự tiếp xúc ban đầu của Ngài với mãnh lực Shamballa và bằng phương tiện này, thay mặt cho nhân loại, thiết lập một mối liên hệ mà ngay cả vào lúc kết thúc hai mươi thế kỷ vẫn chỉ là một đường nối năng lượng mỏng manh yếu ớt.
This Shamballa force is nevertheless available for right usage but the power to express it lies in its understanding (as far as may be possible at this midway point in human evolution) and its group use. It is a unifying, synthetic force, but can be used as a regimenting, standardising force. May I repeat those two key words to the use of the Shamballa energy: Group Use and Understanding.
Tuy nhiên, mãnh lực Shamballa này sẵn có cho việc sử dụng đúng đắn, nhưng quyền năng biểu lộ nó nằm trong sự thấu hiểu nó (trong mức có thể ở điểm ở giữa này của tiến hoá nhân loại) và trong việc sử dụng nó theo nhóm. Nó là một mãnh lực hợp nhất, tổng hợp, nhưng có thể được dùng như một mãnh lực điều động theo đội ngũ, tiêu chuẩn hóa. Xin cho phép Tôi lặp lại hai từ khóa ấy đối với việc sử dụng năng lượng Shamballa: Sử Dụng Theo Nhóm và Thấu Hiểu.
Mankind has had much difficulty in comprehending the significance of Love. If that is so, their problem in relation to the Will will naturally be still more difficult. For the vast majority of men, true love is still only a theory. Love (as we usually interpret it) works out as kindness but it is kindness to the form side of life, to the personalities of those around us, and fulfils itself usually in a desire to carry [582] out our obligations and not to obstruct in any way those activities and relationships which tend to the well-being of our fellowmen. It expresses itself in a desire to end abuses and to bring about happier, material, world conditions; it shows itself in mother love, in love among friends, but seldom as yet as love among groups and nations. It is the theme of the Christian teaching, just as Will, divinely expressed, will be the theme of the coming world religion and has been the impulse lying behind much of the good work done in the fields of philanthropy and human welfare, but, factually, love has never yet been expressed—except by the Christ.
Nhân loại đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc hiểu thâm nghĩa của Bác ái. Nếu đúng như vậy, thì vấn đề của họ liên quan đến Ý chí dĩ nhiên còn khó hơn nữa. Đối với đại đa số con người, bác ái chân chính vẫn chỉ là một lý thuyết. Bác ái (như chúng ta thường diễn giải) được thể hiện thành lòng tử tế, nhưng đó là lòng tử tế đối với phương diện hình tướng của sự sống, đối với phàm ngã của những người quanh ta, và thường hoàn tất chính nó trong một ước muốn thực hiện [582] các nghĩa vụ của chúng ta và không cản trở bằng bất cứ cách nào những hoạt động và những mối liên hệ có khuynh hướng đem lại phúc lợi cho đồng loại. Nó biểu lộ trong ước muốn chấm dứt những lạm dụng và tạo ra những điều kiện vật chất của thế giới hạnh phúc hơn; nó biểu lộ trong tình mẹ, trong tình bạn, nhưng cho đến nay hiếm khi là bác ái giữa các nhóm và các quốc gia. Đó là chủ đề của giáo huấn Kitô giáo, cũng như Ý chí, được biểu lộ một cách thiêng liêng, sẽ là chủ đề của tôn giáo thế giới sắp đến. Bác ái đã là xung lực nằm sau phần lớn công việc tốt đẹp được thực hiện trong các lĩnh vực từ thiện và phúc lợi nhân loại, nhưng trên thực tế, bác ái chưa bao giờ được biểu lộ—ngoại trừ bởi Đức Christ.
You might ask, why, if this is so, do you emphasise this highest divine aspect? Why not wait until we know more about love and how to manifest it in our environment? Because, in its true expression, the Will today is needed as a propelling, expulsive force, and also as a clarifying, purifying agent.
Các bạn có thể hỏi, tại sao, nếu đúng như vậy, thầy lại nhấn mạnh phương diện thiêng liêng cao nhất này? Tại sao không chờ cho đến khi chúng ta biết nhiều hơn về bác ái và cách biểu lộ nó trong môi trường của mình? Bởi vì, trong biểu hiện chân chính của nó, Ý chí ngày nay cần thiết như một mãnh lực thúc đẩy, trục xuất, và cũng như một tác nhân làm sáng tỏ, thanh lọc.
The first recorded utterance of the Christ was spoken to His mother (the symbol of the substance aspect of divinity) when He said: “Wist ye not that I must be about My Father’s business?” That business, related by Him to the first divine aspect, the Monad or Father aspect, was the fulfilment of purpose and the carrying out of the intention, the will and the purpose of God. His second utterance came at the time of the Baptism in Jordan when He said to John, the Baptist: “Suffer it to be so now, for thus it becometh us to fulfil all righteousness.” Here, in this second initiation—which symbolises the conquest of desire—He passes on into the realm of fulfilment, of the completion of planned righteous activity. For His Own personal desire (necessarily of the very highest order on account of His high point in evolution) He substitutes the divine Will. Again at [583] the close of His life, in the Gethsemane experience, He cries out: “Father, not my will but Thine be done.” Even then and even for Him, the achievement of the full expression of will seemed well-nigh impossible; He was conscious still of the inherent dualism of His position and of the contrast between His will and God’s will. In these three utterances, He demonstrates His recognition of the three emerging aspects of the Shamballa life, quality and energy:
Lời phát biểu đầu tiên được ghi lại của Đức Christ đã được nói với mẹ Ngài (biểu tượng của phương diện chất liệu của thiên tính) khi Ngài nói: “Các người há chẳng biết rằng Ta phải lo công việc của Cha Ta sao?” Công việc ấy, được Ngài liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện Chân Thần hay phương diện Cha, là sự hoàn thành mục đích và việc thực hiện ý định, ý chí và mục đích của Thượng đế. Lời phát biểu thứ hai của Ngài đến vào lúc Lễ Rửa Tội tại sông Jordan khi Ngài nói với John, người làm phép rửa: “Hãy cứ để như vậy bây giờ, vì như thế chúng ta nên làm trọn mọi sự công chính.” Ở đây, trong lần điểm đạo thứ hai này—biểu tượng cho sự chinh phục dục vọng—Ngài bước vào lĩnh vực của sự hoàn thành, của việc hoàn tất hoạt động công chính đã được hoạch định. Thay cho dục vọng riêng của Ngài (tất yếu thuộc trật tự rất cao do điểm tiến hoá cao của Ngài), Ngài thay thế bằng Ý Chí thiêng liêng. Rồi một lần nữa, vào [583] cuối đời Ngài, trong kinh nghiệm Gethsemane, Ngài kêu lên: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo ý Cha.” Ngay cả khi ấy và ngay cả đối với Ngài, việc đạt được sự biểu lộ trọn vẹn của ý chí dường như gần như bất khả. Ngài vẫn còn ý thức về tính nhị nguyên cố hữu trong vị thế của mình và về sự tương phản giữa ý chí của Ngài và ý chí của Thượng đế. Trong ba lời phát biểu này, Ngài chứng minh sự nhận biết của mình về ba phương diện đang xuất hiện của sự sống, phẩm tính và năng lượng Shamballa:
1. The Will which conditions the life aspect.
1. Ý chí điều kiện hóa phương diện sự sống.
2. The Will which brings fulfilment of right human relations.
2. Ý chí đem lại sự hoàn thành các tương quan nhân loại đúng đắn.
3. The Will which finally conquers death.
3. Ý chí cuối cùng chinh phục cái chết.
These three aspects are all related to the three divine expressions of spirit, soul and body, of life, consciousness and form, of life, quality and appearance. This phase of Christ’s life expression has never been properly studied, yet even a little grasp and understanding of it would aid humanity to drive evil (individual, group and planetary) back to the place from whence it came and would aid in the release of humanity from the terror which is today stalking abroad, defying God and man.
Ba phương diện này đều liên hệ với ba biểu hiện thiêng liêng của tinh thần, linh hồn và thân thể, của sự sống, tâm thức và hình tướng, của sự sống, phẩm tính và vẻ ngoài. Giai đoạn này trong sự biểu lộ đời sống của Đức Christ chưa bao giờ được nghiên cứu đúng mức, tuy nhiên chỉ cần nắm bắt và thấu hiểu đôi chút về nó cũng sẽ giúp nhân loại đẩy lùi điều ác (cá nhân, nhóm và hành tinh) trở về nơi nó đã đến và sẽ giúp giải thoát nhân loại khỏi nỗi kinh hoàng đang lang thang khắp nơi ngày nay, thách thức Thượng đế và con người.
The Shamballa energy is, therefore, that which is related to the livingness (through consciousness and form) of humanity; we need not consider its relation to the rest of the manifested world; it concerns the establishing of right human relations and is that condition of being which eventually negates the power of death. It is, therefore, incentive and not impulse; it is realised purpose and not the expression of desire. Desire works from and through the material form upwards; Will works downwards into form, bending form consciously to divine purpose. The one [584] is invocative and the other is evocative. Desire, when massed and focussed, can invoke will; will, when evoked, ends desire and becomes an immanent, propulsive, driving force, stabilising, clarifying, and—among other things—finally destroying. It is much more than this, but this is all that man can grasp at this time and all for which he has, as yet, the mechanism of comprehension. It is this will—aroused by invocation—which must be focussed in the light of the soul, and dedicated to the purposes of light and for the purpose of establishing right human relations which must be used (in love) to destroy all that is hindering the free flow of human life and that is bringing death (spiritual and real) to humanity. This Will must be invoked and evoked.
Do đó, năng lượng Shamballa là điều liên hệ đến tính sống động (qua tâm thức và hình tướng) của nhân loại; chúng ta không cần xét đến mối liên hệ của nó với phần còn lại của thế giới biểu hiện; nó liên quan đến việc thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn và là trạng thái hiện hữu cuối cùng phủ nhận quyền năng của cái chết. Vì vậy, nó là động cơ thúc đẩy chứ không phải xung lực; nó là mục đích được chứng nghiệm chứ không phải biểu hiện của dục vọng. Dục vọng hoạt động từ và qua hình tướng vật chất đi lên; Ý chí hoạt động đi xuống vào hình tướng, uốn nắn hình tướng một cách có ý thức theo mục đích thiêng liêng. Cái này [584] có tính khẩn cầu và cái kia có tính gợi lên. Dục vọng, khi được tập hợp và tập trung, có thể khẩn cầu ý chí; ý chí, khi được gợi lên, chấm dứt dục vọng và trở thành một mãnh lực nội tại, thúc đẩy, đẩy mạnh, làm ổn định, làm sáng tỏ, và—trong số những điều khác—cuối cùng hủy diệt. Nó còn hơn thế nhiều, nhưng đây là tất cả những gì con người có thể nắm bắt vào lúc này và là tất cả những gì mà cho đến nay con người có bộ máy để hiểu. Chính ý chí này—được khơi dậy bởi khẩn cầu—phải được tập trung trong ánh sáng của linh hồn, và được hiến dâng cho các mục đích của ánh sáng và cho mục đích thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn; nó phải được dùng (trong bác ái) để hủy diệt mọi điều đang cản trở dòng chảy tự do của sự sống nhân loại và đang đem lại cái chết (tinh thần và thực sự) cho nhân loại. Ý chí này phải được khẩn cầu và gợi lên.
I am not referring here to the use of either of the two Great Invocations or to the third which has lately been given. I refer to the focussed consciousness of the men and women of goodwill, whose lives are conditioned by the will to carry forward the purposes of God in love, who seek selflessly to understand those purposes, and who are fearless of death.
Ở đây Tôi không nói đến việc sử dụng một trong hai Đại Khấn Nguyện hay lời khẩn cầu thứ ba mới được trao ra gần đây. Tôi nói đến tâm thức tập trung của những người nam và nữ thiện chí, những người mà đời sống được điều kiện hóa bởi ý chí xúc tiến các mục đích của Thượng đế trong bác ái, những người vô ngã tìm cách thấu hiểu các mục đích ấy, và những người không sợ cái chết.
There are two great handicaps to the free expression of the Shamballa force in its true nature. One is the sensitivity of the lower nature to its impact and its consequent prostitution to selfish ends, as in the case of the sensitive, negative German people and its use by the Axis nations for material objectives. The second is the blocking, hindering, muddled but massed opposition of the well-meaning people of the world who talk vaguely and beautifully about love, but refuse to consider the techniques of the will of God in operation. According to them, that will is something with which they personally have naught to do; they refuse to recognise that God works out His will through men, just [585] as He is ever seeking to express His love through men; they will not believe that that will could possibly express itself through the destruction of evil with all the material consequences of that evil. They cannot believe that a God of Love could possibly employ the first divine aspect to destroy the forms which are obstructing the free play of the divine spirit; that will must not infringe upon their interpretation of love. Such people are individually of small moment and of no importance but their massed negativity was a real detriment to the ending of this war, just as the massed negativity of the German people and their inability to take right action when Hitler’s purposes were disclosed made possible the great inflow of ancient and focussed evil which has brought the present catastrophe to man. Such people are like a millstone around the neck of humanity, crippling true effort, murmuring “Let us love God and each other,” but doing nothing but murmuring prayers and platitudes whilst humanity is dying.
Có hai trở ngại lớn đối với sự biểu lộ tự do của mãnh lực Shamballa trong bản chất chân thật của nó. Một là sự nhạy cảm của bản chất thấp đối với tác động của nó và hậu quả là sự làm đồi bại nó vào các mục đích ích kỷ, như trong trường hợp dân tộc Đức nhạy cảm, thụ động và việc các quốc gia phe Trục sử dụng nó cho các mục tiêu vật chất. Trở ngại thứ hai là sự chống đối ngăn trở, cản trở, rối rắm nhưng tập thể của những người thiện chí trên thế giới, những người nói một cách mơ hồ và đẹp đẽ về bác ái, nhưng từ chối xem xét các kỹ thuật của ý chí của Thượng đế đang vận hành. Theo họ, ý chí ấy là điều mà cá nhân họ không có gì phải làm; họ từ chối nhận ra rằng Thượng đế thực hiện ý chí của Ngài qua con người, cũng [585] như Ngài luôn tìm cách biểu lộ bác ái của Ngài qua con người; họ không chịu tin rằng ý chí ấy có thể biểu lộ qua sự hủy diệt điều ác với tất cả những hậu quả vật chất của điều ác ấy. Họ không thể tin rằng một Thượng đế của Bác ái lại có thể sử dụng phương diện thiêng liêng thứ nhất để hủy diệt những hình tướng đang cản trở sự vận hành tự do của tinh thần thiêng liêng; ý chí ấy không được phép xâm phạm cách diễn giải của họ về bác ái. Từng cá nhân như thế thì ít quan trọng và không có ý nghĩa gì, nhưng tính thụ động tập thể của họ là một sự cản trở thực sự đối với việc chấm dứt cuộc chiến này, cũng như tính thụ động tập thể của dân tộc Đức và sự bất lực của họ trong việc hành động đúng đắn khi các mục đích của Hitler bị phơi bày đã làm cho dòng tuôn đổ lớn của điều ác cổ xưa và tập trung trở nên khả hữu, điều đã đem thảm họa hiện tại đến cho con người. Những người như thế giống như cối đá buộc quanh cổ nhân loại, làm tê liệt nỗ lực chân chính, lẩm bẩm “Chúng ta hãy yêu Thượng đế và yêu nhau,” nhưng chẳng làm gì ngoài việc lẩm bẩm những lời cầu nguyện và những câu sáo rỗng trong khi nhân loại đang chết dần.
You can easily appreciate the fact that the evocation of the energy of the will and its effect upon the unprepared, materialistically minded person might and would prove a disaster. It would simply serve to focus and strengthen the lower self-will, which is the name we give to realised and determined desire. It could then create such a driving force, directed to selfish ends, that the person might become a monster of wickedness. In the history of the race, one or two advanced personalities have done this with dire results both to themselves and to the people of their time. One such figure in ancient times was Nero; the modern example is Hitler. What, however, has made the latter so dangerous an enemy of the human family is that during the last two thousand years mankind has advanced to a point where it can also be responsive to certain aspects of this first ray [586] force. Hitler, therefore, found associates and cooperators who added their receptivity to his so that an entire group became the responsive agents of the destructive energy, expressing itself in its lowest aspect. This is what enabled them to work ruthlessly, powerfully, selfishly, cruelly and successfully at the destruction of all that attempted to impede their projects and desires.
Các bạn có thể dễ dàng hiểu rằng việc gợi lên năng lượng của ý chí và ảnh hưởng của nó lên người chưa chuẩn bị, có đầu óc duy vật, có thể và sẽ chứng tỏ là một tai họa. Nó chỉ đơn giản phục vụ cho việc tập trung và tăng cường ý chí ích kỷ thấp kém, là tên gọi chúng ta dành cho dục vọng đã được nhận biết rõ và kiên quyết theo đuổi. Khi ấy nó có thể tạo ra một mãnh lực thúc đẩy như thế, hướng đến các mục đích ích kỷ, đến nỗi con người ấy có thể trở thành một quái vật của sự gian ác. Trong lịch sử nhân loại, một hay hai phàm ngã tiến bộ đã làm điều này với những hậu quả khủng khiếp cho chính họ và cho dân chúng cùng thời của họ. Một nhân vật như thế trong thời cổ là Nero; ví dụ hiện đại là Hitler. Tuy nhiên, điều đã làm cho kẻ sau trở thành một kẻ thù nguy hiểm đến thế của gia đình nhân loại là trong hai ngàn năm qua, nhân loại đã tiến bộ đến một điểm mà nó cũng có thể đáp ứng với một số phương diện của mãnh lực [586] cung một này. Vì vậy, Hitler đã tìm thấy những cộng sự viên và những kẻ hợp tác, những người đã thêm tính tiếp nhận của họ vào tính tiếp nhận của hắn, đến nỗi cả một nhóm trở thành những tác nhân đáp ứng của năng lượng hủy diệt, biểu lộ trong phương diện thấp nhất của nó. Chính điều này đã giúp họ hoạt động một cách tàn nhẫn, mạnh mẽ, ích kỷ, độc ác và thành công trong việc hủy diệt mọi điều cố gắng cản trở các dự án và dục vọng của họ.
There is only one way in which focussed evil will, with its responsiveness to the Shamballa force, can be overcome and that is by the opposition of an equally focussed spiritual will, displayed by responsive men and women of goodwill who can train themselves to be sensitive to this type of new incoming energy and can learn how to invoke and evoke it.
Chỉ có một cách mà ý chí ác tập trung, với khả năng đáp ứng của nó đối với mãnh lực Shamballa, có thể bị vượt qua, và đó là bằng sự đối kháng của một ý chí tinh thần tập trung tương đương, được biểu lộ bởi những người nam và nữ thiện chí có khả năng tự huấn luyện để trở nên nhạy cảm với loại năng lượng mới đang đi vào này và có thể học cách khẩn cầu và gợi lên nó.
You can consequently see why there was more than the casual use of a current word in my mind when the terms of goodwill and of the will-to-good were discussed. All the time, I had in my thoughts not just kindness and good intention, but the focussed will-to-good which can and must evoke the Shamballa energy and use it for the arresting of the forces of evil.
Do đó, các bạn có thể thấy tại sao trong tâm trí Tôi có nhiều hơn là việc dùng ngẫu nhiên một từ thông dụng khi các thuật ngữ thiện chí và ý chí-hướng thiện được bàn đến. Suốt mọi lúc, trong tư tưởng của Tôi không chỉ có lòng tử tế và thiện ý, mà là ý chí-hướng thiện tập trung, điều có thể và phải gợi lên năng lượng Shamballa và sử dụng nó để ngăn chặn các lực ác.
This, I realise, is a relatively new idea to many of you; to others of you it will mean little or nothing; others again may have faint glimmerings of this new approach to God and service which—again I say—can and must remake, rebuild, and rehabilitate the world. I would like here to point out that the will aspect can be contacted only from the mental plane and only those, therefore, who are working with and through the mind can begin to appropriate this energy. Those who seek to evoke the Shamballa force are approaching close to the energy of fire. Fire is the symbol and the quality of the mental plane. Fire is an aspect of the divine nature. Fire was an outstanding aspect [587] of the war. Fire is produced by physical means and the aid of the mineral kingdom and this was the great menacing and chosen means of destruction in this war. This is a fulfilment of the ancient prophecy that the attempt to destroy the Aryan race will be by means of fire, just as ancient Atlantis was destroyed by water. But, fiery goodwill and the conscious focussed use of the Shamballa force can counter fire by fire and this must be done.
Điều này, Tôi nhận ra, là một ý tưởng tương đối mới đối với nhiều người trong các bạn; đối với những người khác trong các bạn, nó sẽ có ít hoặc không có ý nghĩa gì; lại có những người khác nữa có thể có những thoáng linh cảm mờ nhạt về cách tiếp cận mới này đối với Thượng đế và sự phụng sự, điều mà—Tôi lại nói lần nữa—có thể và phải tái tạo, tái thiết và phục hồi thế giới. Ở đây Tôi muốn chỉ ra rằng phương diện ý chí chỉ có thể được tiếp xúc từ cõi trí và vì vậy chỉ những ai đang hoạt động với và thông qua trí tuệ mới có thể bắt đầu chiếm hữu năng lượng này. Những ai tìm cách gợi lên mãnh lực Shamballa đang tiến rất gần đến năng lượng của lửa. Lửa là biểu tượng và là phẩm tính của cõi trí. Lửa là một phương diện của bản chất thiêng liêng. Lửa là một phương diện nổi bật [587] của cuộc chiến. Lửa được tạo ra bằng các phương tiện hồng trần và với sự trợ giúp của giới kim thạch, và đó là phương tiện hủy diệt lớn lao, đe dọa và được lựa chọn trong cuộc chiến này. Đây là sự ứng nghiệm của lời tiên tri cổ xưa rằng nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya sẽ được thực hiện bằng lửa, cũng như Atlantis cổ xưa đã bị hủy diệt bởi nước. Nhưng thiện chí rực lửa và việc sử dụng có ý thức, tập trung mãnh lực Shamballa có thể chống lửa bằng lửa và điều này phải được thực hiện.
I cannot give you more upon this subject until you have given time to its consideration and have sought to understand the use of the will, its nature, purpose and its relation to what you understand by the human will. You must ponder upon how it should be employed and in what manner aspirants and disciples who are mentally polarised can focus that will and safely shoulder the responsibility for its wise use. Later when you know more about it, I can give you further knowledge upon the matter. I would however like to make one practical suggestion. Might there not be organised a group who would take this subject as the theme of their meditation and who would try to fit themselves—by right understanding —to contact and use the Shamballa energy? Would it not be possible gradually to elaborate this theme of the revelation of the divine will so that the general subject may be ready for presentation to the thinking public when peace truly comes? There is much to be considered in this connection. There is the demonstration of the three aspects of the will as enumerated above; there is the preparation of the individual for the expression of this energy; there is a mature consideration to be given to the relation of the Hierarchy to Shamballa, carried forward as the Masters attempt to work out divine purpose and to be the distributing Agents of the will energy. There is the effort to be made to comprehend somewhat the nature of [588] the direct impact of the first aspect upon the human consciousness, apart from the hierarchical centre altogether—an impact made without any of the absorbing and stepping-down process to which the Hierarchy subjects it. I have referred to this direct contact elsewhere; it can be more direct and complete when there is greater safety brought about by a more understanding human approach.
Tôi không thể cho các bạn biết thêm về chủ đề này cho đến khi các bạn đã dành thời gian để suy xét nó và đã tìm cách thấu hiểu việc sử dụng ý chí, bản chất, mục đích của nó và mối liên hệ của nó với điều các bạn hiểu là ý chí con người. Các bạn phải suy ngẫm về cách nó nên được sử dụng và theo phương thức nào mà những người chí nguyện và các đệ tử phân cực trí tuệ có thể tập trung ý chí đó và an toàn gánh vác trách nhiệm về việc sử dụng nó một cách minh triết. Về sau, khi các bạn biết nhiều hơn về nó, Tôi có thể cho các bạn thêm tri thức về vấn đề này. Tuy nhiên, Tôi muốn đưa ra một gợi ý thực tiễn. Chẳng lẽ không thể tổ chức một nhóm lấy chủ đề này làm đề tài tham thiền của họ và cố gắng tự thích nghi—bằng sự thấu hiểu đúng đắn—để tiếp xúc và sử dụng năng lượng Shamballa sao? Chẳng lẽ không thể dần dần khai triển chủ đề này về sự mặc khải của ý chí thiêng liêng để chủ đề tổng quát ấy có thể sẵn sàng được trình bày cho công chúng biết suy nghĩ khi hòa bình thực sự đến sao? Có nhiều điều cần được xem xét trong mối liên hệ này. Có sự biểu lộ của ba phương diện của ý chí như đã được liệt kê ở trên; có sự chuẩn bị của cá nhân cho việc biểu lộ năng lượng này; có sự suy xét chín chắn cần được dành cho mối liên hệ của Thánh Đoàn với Shamballa, được xúc tiến khi các Chân sư cố gắng triển khai Thiên Ý và làm các Tác Nhân phân phối năng lượng ý chí. Có nỗ lực cần được thực hiện để phần nào hiểu được bản chất của [588] sự tác động trực tiếp của phương diện thứ nhất lên tâm thức con người, hoàn toàn tách khỏi trung tâm Thánh đoàn—một tác động được tạo ra mà không có bất kỳ tiến trình hấp thu và giảm hạ nào mà Thánh Đoàn áp dụng cho nó. Tôi đã đề cập đến sự tiếp xúc trực tiếp này ở nơi khác; nó có thể trực tiếp và trọn vẹn hơn khi có sự an toàn lớn hơn được tạo ra bởi một cách tiếp cận hiểu biết hơn của nhân loại.
One of the causes lying behind World War II is to be found in a premature contact—a contact made by certain selfish minds of a relatively high quality, aided by the Black Lodge. To offset this and eventually bring about the elimination of the influence of the dark forces from our planet must come the active, conscious use of the Shamballa force by the White Lodge, aided by the men and women whose will-to-good is strong enough to safeguard them from personal peril in their work and from being deflected on to wrong and dangerous lines. This aid necessitates a certain definite and planned contact and interplay between the two centres: Humanity and Hierarchy. When this is better established, there can be organised and known cooperation and the members of both great centres can “stand together with massed intent.” This massed intent will be the correspondence upon the mental plane of the massed intent of the general public who stand with the power of appeal upon their lips and in their hearts. To this appeal must be added the focussed will of the world thinkers and intuitives who will use their minds and brains in the affirmation of right.
Một trong những nguyên nhân nằm sau Thế Chiến II có thể được tìm thấy trong một sự tiếp xúc quá sớm—một sự tiếp xúc được thực hiện bởi một số trí tuệ ích kỷ có phẩm chất tương đối cao, được Hắc đoàn trợ giúp. Để hóa giải điều này và cuối cùng mang lại sự loại trừ ảnh hưởng của các mãnh lực tối tăm khỏi hành tinh của chúng ta, phải có việc sử dụng tích cực, có ý thức mãnh lực Shamballa bởi Thánh đoàn, được trợ giúp bởi những người nam và nữ có Ý Chí-hướng Thiện đủ mạnh để bảo vệ họ khỏi hiểm nguy cá nhân trong công việc của họ và khỏi bị lệch sang những đường lối sai lầm và nguy hiểm. Sự trợ giúp này đòi hỏi một sự tiếp xúc và tương tác nhất định, rõ ràng và có kế hoạch giữa hai trung tâm: Nhân loại và Thánh Đoàn. Khi điều này được thiết lập tốt hơn, có thể có sự hợp tác được tổ chức và được biết đến, và các thành viên của cả hai trung tâm lớn có thể “đứng cùng nhau với ý hướng tập thể.” Ý hướng tập thể này sẽ là sự tương ứng trên cõi trí của ý hướng tập thể của công chúng nói chung, những người đứng với quyền năng khẩn cầu trên môi và trong tim họ. Vào lời khẩn cầu này phải được thêm vào ý chí tập trung của các nhà tư tưởng và những người trực giác của thế giới, những người sẽ sử dụng trí tuệ và bộ não của họ trong sự khẳng định điều đúng.
It was for the reason that the will aspect was involved that I made our last point in our consideration of the seven rays to be a consideration of the Rays, Constellations and Planets, as given in Tabulation X. The inter-relation there given concerns the first aspect of the will, as I have [589] here indicated. The analysis of this tabulation will complete our consideration of esoteric astrology.
Chính vì phương diện ý chí có liên quan mà Tôi đã làm cho điểm cuối cùng của chúng ta trong việc xem xét bảy Cung trở thành một sự xem xét về các Cung, các Chòm sao và các Hành tinh, như được nêu trong Bảng X. Mối tương quan được nêu ở đó liên quan đến phương diện thứ nhất của ý chí, như Tôi đã [589] chỉ ra ở đây. Việc phân tích bảng này sẽ hoàn tất sự xem xét của chúng ta về Chiêm Tinh Học Nội Môn.
The seven stars of the Great Bear are the originating sources of the seven rays of our solar system. The seven Rishis of the Great Bear express Themselves through the medium of the seven planetary Logoi Who are Their Representatives and to whom they stand in the relation of Prototype. These seven planetary Spirits manifest through the medium of the seven sacred planets.
Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh là các nguồn khởi nguyên của bảy Cung trong hệ mặt trời của chúng ta. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh biểu lộ Chính Các Ngài qua trung gian của bảy Hành Tinh Thượng Đế, các Đấng là Đại Diện của Các Ngài và đối với các Đấng ấy Các Ngài đứng trong mối liên hệ của Nguyên Mẫu. Bảy Thánh Linh hành tinh này biểu lộ qua trung gian của bảy hành tinh thiêng liêng.
Each of these seven rays, coming from the Great Bear, are transmitted into our solar system through the medium of three constellations and their ruling planets. The following tabulation will make this clear, but must be interpreted only in terms of the present turn of the great zodiacal wheel of 25,000 years.
Mỗi một trong bảy Cung này, đến từ Đại Hùng Tinh, được truyền vào hệ mặt trời của chúng ta qua trung gian của ba chòm sao và các hành tinh cai quản của chúng. Bảng sau đây sẽ làm rõ điều này, nhưng chỉ phải được diễn giải theo chu kỳ hiện tại của bánh xe hoàng đạo lớn 25.000 năm.
2. Various Aspects of the Will — 2. Các Phương diện Khác nhau của Ý Chí
We have now the difficult task of considering an aspect of divine manifestation which is as yet so little apparent upon the physical plane that we lack the exact word with which to express it and those words available are likewise misleading. I can, however, attempt to give you certain concepts, relationships and parallels which may serve to close this section on astrology and lay a foundation for future teaching around the year 2025. That is the mode whereby all revelation comes. A thought is given; a symbol described; an idea portrayed. Then, as the minds of men ponder upon it and the intuitives of the world pick up the thought, it serves as a seed thought which eventually comes to fruition with the presentation and the unfolding of a revelation which serves to lead the race of men nearer to their goal. [590]
Giờ đây chúng ta có nhiệm vụ khó khăn là xem xét một phương diện của biểu lộ thiêng liêng mà cho đến nay còn ít hiển lộ trên cõi hồng trần đến nỗi chúng ta thiếu từ ngữ chính xác để diễn đạt nó, và những từ ngữ hiện có cũng đều dễ gây hiểu lầm. Tuy nhiên, Tôi có thể cố gắng đưa cho các bạn một số khái niệm, tương quan và song hành có thể giúp khép lại phần này về chiêm tinh học và đặt nền tảng cho giáo huấn tương lai vào khoảng năm 2025. Đó là phương thức mà mọi sự mặc khải đều đến. Một tư tưởng được trao ra; một biểu tượng được mô tả; một ý tưởng được phác họa. Rồi khi trí tuệ con người suy ngẫm về nó và những người trực giác của thế giới nắm bắt tư tưởng ấy, nó phục vụ như một Tư tưởng hạt giống mà cuối cùng đi đến kết quả với sự trình bày và khai mở của một sự mặc khải, điều giúp dẫn dắt nhân loại đến gần mục tiêu của mình hơn. [590]
TABULATION X
BẢNG X
cung
Các chòm sao
Các hành tinh chính thống
Các hành tinh nội môn
Ray
Constellations
Planets Orthodox
Planets Esoteric
I.
Ý chí hay Quyền năng
Bạch Dương.
Con Cừu....
Sao Hỏa.....
Sao Thủy
Will or Power
Aries.
The Ram....
Mars.....
Mercury
Sư Tử.
Sư Tử....
Mặt Trời..
Mặt Trời
Leo.
The Lion....
The Sun..
The Sun
Ma Kết.
Con Dê....
Sao Thổ....
Sao Thổ
Capricorn.
The Goat....
Saturn....
Saturn
II.
Bác Ái – Minh Triết
Song Tử.
Cặp Song Sinh...
Sao Thủy..
Sao Kim
Love-Wisdom
Gemini.
The Twins...
Mercury..
Venus
Xử Nữ.
Trinh Nữ...
Sao Thủy..
Mặt Trăng
Virgo.
The Virgin...
Mercury..
The Moon
Song Ngư.
Các Loài Cá...
Sao Mộc....
Sao Diêm Vương
Pisces.
The Fishes...
Jupiter....
Pluto
III.
Trí thông tuệ năng động
Cự Giải.
Con Cua....
Mặt Trăng.
Sao Hải Vương
Active Intelligence
Cancer.
The Crab....
The Moon.
Neptune
Thiên Bình.
Cán Cân...
Sao Kim....
Sao Thiên Vương
Libra.
The Scales...
Venus....
Uranus
Ma Kết.
Con Dê....
Sao Thổ....
Sao Thổ
Capricorn.
The Goat....
Saturn....
Saturn
IV.
Hài hòa thông qua
Kim Ngưu.
Con Bò....
Sao Kim....
Vulcan
Harmony through
Taurus.
The Bull....
Venus....
Vulcan
Xung đột
Hổ Cáp.
Con Bọ Cạp.
Sao Hỏa.....
Sao Hỏa
Conflict
Scorpio.
The Scorpion.
Mars.....
Mars
Nhân Mã.
Người Bắn Cung...
Sao Mộc....
Trái Đất
Sagittarius.
The Archer...
Jupiter....
The Earth
V.
Khoa học cụ thể
Sư Tử.
Sư Tử....
Mặt Trời..
Mặt Trời
Concrete Science
Leo.
The Lion....
The Sun..
The Sun
Nhân Mã.
Người Bắn Cung...
Sao Mộc....
Trái Đất
Sagittarius.
The Archer...
Jupiter....
The Earth
Bảo Bình.
Người Mang
Aquarius.
The Water
Nước......
Sao Thiên Vương...
Sao Mộc
Carrier......
Uranus...
Jupiter
VI.
Sùng tín. Chủ nghĩa lý tưởng
Xử Nữ.
Trinh Nữ...
Sao Thủy..
Mặt Trăng
Devotion. Idealism
Virgo.
The Virgin...
Mercury..
The Moon
Nhân Mã.
Người Bắn Cung...
Sao Mộc....
Trái Đất
Sagittarius.
The Archer...
Jupiter....
The Earth
Song Ngư.
Các Loài Cá...
Sao Mộc....
Sao Diêm Vương
Pisces.
The Fishes...
Jupiter....
Pluto
VII.
Trật tự Nghi lễ
Bạch Dương.
Con Cừu....
Sao Hỏa.....
Sao Thủy
Ceremonial Order
Aries.
The Ram....
Mars.....
Mercury
Cự Giải.
Con Cua....
Mặt Trăng.
Sao Hải Vương
Cancer.
The Crab....
The Moon.
Neptune
Ma Kết.
Con Dê....
Sao Thổ....
Sao Thổ
Capricorn.
The Goat....
Saturn....
Saturn
We are considering the expression of the Shamballa force in terms of Will, i.e., of divine purpose, latent in the mind of God since the beginning of time and the dawn of creation. In God’s mind, that idea is seen whole and complete. In manifestation it is a gradual, self-revealing evolutionary and demonstrated activity. We know somewhat of the intelligence aspect of God. It is revealed in the living activity of substance. Of the love of that Great Thinker, we are learning slowly and its revelation has reached the stage where the human mind can contrast its [591] mode of living activity with the visioned and sensed love of Deity, expressed as yet by the desire for right human relations and right treatment of all that is non-human. Of the will and purpose of God, humanity knows nothing, for the individual will or the collective human will which could act as interpreter, revealer and also serve as a mode of contact, is dedicated to selfishness and blind to the higher reaches of divine expression. Mankind’s so-called acquiescence in the will of God is based on his wish life, on his negativity and on the visions of the saints. Their keynote was submission and their highest point of spiritual contact was still tinged with dualism and still conditioned by modes of human interpretation.
Chúng ta đang xem xét sự biểu lộ của mãnh lực Shamballa xét về Ý Chí, tức là Thiên Ý, tiềm tàng trong trí tuệ của Thượng đế từ thuở ban đầu của thời gian và bình minh của sáng tạo. Trong trí tuệ của Thượng đế, ý tưởng đó được thấy như một toàn thể và hoàn chỉnh. Trong biểu lộ, nó là một hoạt động tiến hoá, tự mặc khải và được chứng minh một cách dần dần. Chúng ta biết phần nào về phương diện trí tuệ của Thượng đế. Nó được mặc khải trong hoạt động sống động của chất liệu. Về tình thương của Đấng Tư Tưởng Vĩ Đại ấy, chúng ta đang học hỏi một cách chậm chạp, và sự mặc khải của nó đã đạt đến giai đoạn mà trí tuệ con người có thể đối chiếu phương thức [591] hoạt động sống của mình với tình thương được linh thị và cảm nhận của Thượng đế, hiện còn được biểu lộ như khát vọng về những tương quan nhân loại đúng đắn và sự đối xử đúng đắn với mọi điều không phải con người. Về ý chí và mục đích của Thượng đế, nhân loại không biết gì cả, vì ý chí cá nhân hay ý chí tập thể của con người, vốn có thể hành động như kẻ diễn giải, kẻ mặc khải và cũng phục vụ như một phương thức tiếp xúc, lại được hiến dâng cho tính ích kỷ và mù lòa trước những tầm cao hơn của biểu lộ thiêng liêng. Sự cam chịu cái gọi là theo ý muốn của Thượng đế của loài người dựa trên đời sống ham muốn của mình, trên tính thụ động của mình và trên các linh ảnh của các vị thánh. Chủ âm của họ là sự quy phục, và điểm tiếp xúc tinh thần cao nhất của họ vẫn còn nhuốm màu nhị nguyên tính và vẫn còn bị điều kiện hóa bởi các phương thức diễn giải của con người.
Under the occult method, we must begin with the universal and the whole; in time the individual and the particular will stand revealed, but in relation to the whole. It should be possible, through a study of the seven rays and their related constellations and their transmitting agents, the planets, to gain some general idea of the pouring through of the Shamballa energy as emerging purpose on the physical plane.
Theo phương pháp huyền bí học, chúng ta phải bắt đầu với cái phổ quát và cái toàn thể; theo thời gian, cái cá nhân và cái riêng biệt sẽ được mặc khải, nhưng trong tương quan với cái toàn thể. Phải có thể, qua việc nghiên cứu bảy Cung và các chòm sao liên hệ của chúng cùng các tác nhân truyền dẫn của chúng là các hành tinh, đạt được một ý niệm tổng quát nào đó về sự tuôn đổ xuyên qua của năng lượng Shamballa như mục đích đang xuất hiện trên cõi hồng trần.
I have earlier referred to three major expressions of the will aspect. There is will, as the conditioner of the life aspect. This refers not to events, happenings and occurrence, but to the nature of the life manifestations in any cycle, through any nation or race, where humanity is concerned. This refers also to the broad and general lines which at any time upon the planet are setting the pace for the evolution of forms and which basically concerns the force and endurance of the life as it manifests through and creates those external conditions which are qualified and expressed in terms of life, of quality and appearance. The word “life” in this triplicity of terms refers to life as [592] humanity understands it. The word “life” to which I here refer is the life to which H.P.B. refers as that which synthesises spirit, soul and body. (See The Secret Doctrine, I. 81). It is in reality that fourth something which hovers behind all manifestation and behind all objects, all qualified expressions of divinity and which is hinted at in the Bhagavad Gita in the words: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain.”
Trước đây Tôi đã đề cập đến ba biểu lộ chính của phương diện ý chí. Có ý chí, như yếu tố điều kiện hóa phương diện sự sống. Điều này không nói đến các biến cố, sự kiện và diễn tiến, mà nói đến bản chất của các biểu lộ sự sống trong bất kỳ chu kỳ nào, qua bất kỳ quốc gia hay nhân loại nào, nơi nhân loại có liên quan. Điều này cũng nói đến những đường nét rộng lớn và tổng quát mà vào bất kỳ lúc nào trên hành tinh đang định nhịp cho sự tiến hoá của các hình tướng, và về căn bản liên quan đến mãnh lực và sức bền của sự sống khi nó biểu lộ xuyên qua và tạo ra những điều kiện bên ngoài ấy, những điều kiện được định tính và biểu lộ qua sự sống, phẩm tính và hiện tướng. Từ “sự sống” trong bộ ba thuật ngữ này nói đến sự sống như [592] nhân loại hiểu nó. Từ “sự sống” mà Tôi nói đến ở đây là sự sống mà H.P.B. đề cập như cái tổng hợp tinh thần, linh hồn và thân thể. (Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, I. 81). Thực ra, đó là cái gì đó thứ tư lơ lửng phía sau mọi biểu lộ và phía sau mọi đối tượng, mọi biểu lộ định tính của thiên tính, và được ám chỉ trong Bhagavad Gita qua những lời: “Sau khi thấm nhập toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn còn tồn tại.”
There is next the will which brings fulfilment. This is the basis of all relationships and all processes of inter-relation in our solar system and (as far as humanity is concerned) in the planet. It is the prime factor in bringing about the inevitability of the divine consummation; it is the cause of all fruition of all forms on all planes and of divine intention; it is that which lies back of consciousness itself. I know not how else to express this in words and having done so they prove wholly inadequate. There is a faint, dim, uncertain reflection of this will-fulfilment in the joy of achievement as registered by a human being who finds his heart’s desire. Long processes of evolution precede this fulfilment and long experience of the living activity of the will of God as Life. This concentrated evolutionary effort, this undeviating purpose has called forth more than desire and more than the will-to-be-active. There is a realised achievement from the very start for this is the divine will-to-completion which precedes the creative effort. It is the synthesis of creation, or persistent endeavour, adherence to vision and complete sacrifice, and all of these in terms of divine experienced experiment, if I might so formulate the idea. Remember, therefore, that all through these experiences of the divine will runs the thread of a fulfilled synthesis. This is more than cohesion in time and space; it is more [593] than the principle of privation about which H.P.B. speaks, and more than self-imposed limitation. It is the end seen from the beginning; it is alpha and omega producing the completed whole and the perfect fruition of the divine will.
Kế đến là ý chí mang lại sự hoàn tất. Đây là nền tảng của mọi tương quan và mọi tiến trình tương quan trong hệ mặt trời của chúng ta và (trong chừng mực nhân loại có liên quan) trên hành tinh. Nó là yếu tố chính yếu trong việc mang lại tính tất yếu của sự viên mãn thiêng liêng; nó là nguyên nhân của mọi kết quả viên mãn của mọi hình tướng trên mọi cõi và của ý định thiêng liêng; nó là cái nằm phía sau chính tâm thức. Tôi không biết phải diễn đạt điều này bằng lời cách nào khác, và khi đã làm như vậy thì những lời ấy vẫn hoàn toàn bất cập. Có một phản chiếu mờ nhạt, lờ mờ, không chắc chắn của ý chí-hoàn tất này trong niềm vui thành tựu như được ghi nhận bởi một con người tìm thấy điều lòng mình mong muốn. Những tiến trình tiến hoá dài lâu đi trước sự hoàn tất này và kinh nghiệm dài lâu về hoạt động sống của ý chí Thượng đế như Sự sống. Nỗ lực tiến hoá tập trung này, mục đích không chệch hướng này đã gọi ra nhiều hơn ham muốn và nhiều hơn ý chí-hướng-hoạt động. Có một thành tựu được chứng nghiệm ngay từ khởi đầu vì đây là ý chí-thiêng-liêng-hướng-đến-hoàn-tất đi trước nỗ lực sáng tạo. Nó là sự tổng hợp của sáng tạo, hay nỗ lực bền bỉ, sự bám giữ vào linh ảnh và sự hi sinh trọn vẹn, và tất cả những điều này theo thuật ngữ thực nghiệm đã được kinh nghiệm của thiêng liêng, nếu Tôi có thể diễn đạt ý tưởng như vậy. Vì vậy, hãy nhớ rằng xuyên suốt các kinh nghiệm này của ý chí thiêng liêng có chạy qua sợi chỉ của một sự tổng hợp đã được hoàn tất. Điều này còn hơn sự kết dính trong thời gian và không gian; nó còn hơn [593] nguyên lý thiếu thốn mà H.P.B. nói đến, và hơn cả sự tự áp đặt giới hạn. Đó là cứu cánh được thấy từ khởi đầu; đó là alpha và omega tạo ra toàn thể hoàn chỉnh và sự viên mãn trọn vẹn của ý chí thiêng liêng.
It is, finally, the will which conquers death. This again must not be interpreted in terms of death as it affects the form nature of manifestation. The note of synthesis and triumph—realised and complete—persists behind all that we can recognise as death. This will is the principle of victory, of the ultimate goal of life when fruition is achieved; it is the final united success or unified conformity to a long foreseen purpose of spirit-matter, life-form, plus that something which is the dream and goal of the highest initiates in the Hierarchy to contact—the secret revelation of Shamballa itself. More it is not possible to say. If Christ Himself is striving towards that knowledge, it is not possible for us to do more than speculate.
Sau cùng, đó là ý chí chiến thắng cái chết. Một lần nữa, điều này không được diễn giải theo nghĩa cái chết như nó tác động đến bản chất hình tướng của biểu lộ. Âm điệu của tổng hợp và chiến thắng—được chứng nghiệm và trọn vẹn—vẫn tồn tại phía sau mọi điều mà chúng ta có thể nhận ra là cái chết. Ý chí này là nguyên lý của chiến thắng, của mục tiêu tối hậu của sự sống khi sự viên mãn đạt được; nó là thành công hợp nhất cuối cùng hay sự phù hợp hợp nhất với một mục đích đã được thấy trước từ lâu của tinh thần-vật chất, sự sống-hình tướng, cộng với cái gì đó là giấc mơ và mục tiêu của các điểm đạo đồ cao nhất trong Thánh Đoàn đang tìm cách tiếp xúc—sự mặc khải bí mật của chính Shamballa. Không thể nói thêm được nữa. Nếu chính Đức Christ cũng đang phấn đấu hướng tới tri thức đó, thì chúng ta không thể làm gì hơn ngoài suy đoán.
In these few words, I have sought to convey an idea of a vast subjective realisation. What I am hinting at in reality is the objective of that “endless Way of which Nirvana itself is but the open door”—the Way to the higher evolution for which our evolutionary process prepares mankind. I am indicating what is the goal of all hierarchical endeavour. Mankind is so preoccupied with the attitude and effort of the Hierarchy as regards human welfare and guidance that the goal of the efforts of the Masters of the Wisdom is naturally overlooked. It is in reality no concern of man. Nevertheless, the picture of the divine Plan so oft emphasised in occult books and by occult teachers is distorted unless it is realised that just as humanity strives towards the Hierarchy, so that Hierarchy itself strives towards Shamballa. As the Old Commentary has it:
Trong vài lời này, Tôi đã tìm cách truyền đạt một ý niệm về một sự chứng nghiệm chủ quan bao la. Điều mà thực ra Tôi đang ám chỉ là mục tiêu của “Con Đường vô tận mà chính Niết Bàn chỉ là cánh cửa mở”—Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu mà tiến trình tiến hoá của chúng ta chuẩn bị cho nhân loại. Tôi đang chỉ ra điều gì là mục tiêu của mọi nỗ lực của Thánh đoàn. Nhân loại quá bận tâm với thái độ và nỗ lực của Thánh Đoàn đối với phúc lợi và sự hướng dẫn của con người đến nỗi mục tiêu của những nỗ lực của các Chân sư Minh Triết tự nhiên bị bỏ qua. Thực ra, đó không phải là mối quan tâm của con người. Tuy nhiên, bức tranh về Thiên Cơ thiêng liêng vốn thường được nhấn mạnh trong các sách huyền bí học và bởi các huấn sư huyền bí học sẽ bị bóp méo trừ phi người ta nhận ra rằng cũng như nhân loại phấn đấu hướng tới Thánh Đoàn, thì chính Thánh Đoàn cũng phấn đấu hướng tới Shamballa. Như Cổ Luận đã nói:
[594]
[594]
“He who sees in the dark light of Shamballa penetrates to that which lies beyond our little sphere to that which can be sensed behind the holy triangle (Venus, Mercury, the Earth, A.A.B.). There is to be found the point of radiant fire which shines within the eye (Taurus), which burns upon the mountain-top (Capricorn) and which the water cannot quench (Aquarius). These are the holiest three.”
“Người nhìn thấy trong ánh sáng tối của Shamballa xuyên thấu đến điều nằm bên kia khối cầu nhỏ bé của chúng ta, đến điều có thể được cảm nhận phía sau tam giác thiêng liêng (Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất, A.A.B.). Ở đó có thể tìm thấy điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt (Kim Ngưu), bừng cháy trên đỉnh núi (Ma Kết), và nước không thể dập tắt (Bảo Bình). Đó là ba điều thiêng liêng nhất.”
As we consider the seven rays as outlined in Tabulation X, I would have you bear in mind that we are viewing them as expressions of this threefold will. We have studied them in some detail in my other books from the angle of consciousness and from the point of view as producing changes and expansions of consciousness in man, in nations and in races. Now, as far as may be possible, we are going to consider these rays as they express the pure, living activity of Deity as it fulfils Itself in manifestation as pure incentive, directed impersonal energy, divine instinct which latter is a blend of instinctual force and intuitive energy. It might be pointed out to those of you who have some measure of occult perception that this synthetic Life, being cosmic, emerges from cosmic planes and not systemic. Hence the difficulty in comprehending it.
Khi chúng ta xem xét bảy Cung như được phác họa trong Bảng X, Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng chúng ta đang nhìn chúng như những biểu lộ của ý chí tam phân này. Chúng ta đã nghiên cứu chúng khá chi tiết trong các sách khác của Tôi từ góc độ tâm thức và từ quan điểm xem chúng như tạo ra những thay đổi và mở rộng tâm thức nơi con người, nơi các quốc gia và nơi các giống dân. Giờ đây, trong chừng mực có thể, chúng ta sẽ xem xét các Cung này khi chúng biểu lộ hoạt động thuần túy, sống động của Thượng đế khi Ngài tự hoàn tất trong biểu lộ như động lực thuần túy, năng lượng vô ngã được định hướng, bản năng thiêng liêng mà yếu tố sau cùng này là sự pha trộn của mãnh lực bản năng và năng lượng trực giác. Có thể chỉ ra cho những ai trong các bạn có một mức độ tri giác huyền bí học nào đó rằng Sự sống tổng hợp này, vì là vũ trụ, xuất hiện từ các cõi vũ trụ chứ không phải các cõi thái dương hệ. Do đó mới có khó khăn trong việc hiểu nó.
1. The conditioning will is the synthesis of the life of the cosmic physical plane of which our seven planes are the seven subplanes. Until, therefore, the human consciousness is far more expanded than it is, it is not possible for man to understand this synthetic realisation.
1. Ý chí điều kiện hóa là sự tổng hợp của sự sống của cõi hồng trần vũ trụ mà bảy cõi của chúng ta là bảy cõi phụ của nó. Vì vậy, cho đến khi tâm thức con người được mở rộng hơn rất nhiều so với hiện nay, con người không thể hiểu được sự chứng nghiệm tổng hợp này.
2. The will which brings fulfilment is the divine incentive [595] (impulse is not the correct term) coming from the cosmic astral plane.
2. Ý chí mang lại sự hoàn tất là động lực thiêng liêng [595] (xung lực không phải là thuật ngữ đúng) đến từ cõi cảm dục vũ trụ.
3. The will which conquers death is an outpouring from the cosmic mental plane.
3. Ý chí chiến thắng cái chết là một lần tuôn đổ từ cõi trí vũ trụ.
From these three cosmic planes (embracing the sacred personality of the Logoi, solar and planetary) come the united energies of the three constellations which control and energise our solar system: The Great Bear, the Pleiades and Sirius; these work through the medium of the seven rays and these in turn express themselves through the twelve constellations which form the great zodiacal wheel. The Lords or ruling Powers of these twelve sources of light and life “step down” the potency of these three major energies so that our solar Logos can absorb them; they “tune out” those aspects of these three Potencies which are not suited to our systemic life at this point in the evolutionary process, just as the Hierarchy upon our little planet tunes out or steps down the energies from Shamballa. These three major energies in a mysterious manner express themselves through the seven rays just as all triplicities subdivide into septenates, yet preserve their identity. These seven energies, emanating from the major three and transmitted via the twelve constellations, are embodied in the seven sacred planets and are represented on our Earth by the seven Spirits before the throne of God (the symbol of synthesis). This tremendous inter-relation is embodied in one great process of: Transmission. Reception. Absorption. Relation and Living Activity. The method is one of Invocation and Evocation. In these two sentences, you have one of the most important clues to the whole evolutionary process; the key to the mystery of time and space, and the solution of [596] all problems. But the factor which is of major importance is that the whole matter is an expression of focussed Will.
Từ ba cõi vũ trụ này (bao gồm phàm ngã thiêng liêng của các Thượng đế, thái dương và hành tinh) đến các năng lượng hợp nhất của ba chòm sao kiểm soát và tiếp sinh lực cho hệ mặt trời của chúng ta: Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh và Sirius; các năng lượng này hoạt động qua trung gian của bảy Cung, và đến lượt chúng biểu lộ qua mười hai chòm sao tạo thành bánh xe hoàng đạo lớn. Các Chúa Tể hay các Quyền Năng cai quản của mười hai nguồn sáng và sự sống này “giảm hạ” tiềm lực của ba năng lượng chính yếu ấy để Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể hấp thu chúng; Các Ngài “điều chỉnh loại bỏ” những phương diện của ba Quyền Năng này không thích hợp với sự sống thái dương hệ của chúng ta ở điểm này trong tiến trình tiến hoá, cũng như Thánh Đoàn trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta điều chỉnh loại bỏ hay giảm hạ các năng lượng từ Shamballa. Ba năng lượng chính yếu này theo một cách huyền nhiệm biểu lộ qua bảy Cung cũng như mọi bộ ba đều phân chia thành các bộ bảy mà vẫn giữ được bản sắc của chúng. Bảy năng lượng này, phát ra từ bộ ba chính yếu và được truyền qua mười hai chòm sao, được nhập thể trong bảy hành tinh thiêng liêng và được đại diện trên Trái Đất của chúng ta bởi Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế (biểu tượng của tổng hợp). Mối tương quan to lớn này được nhập thể trong một tiến trình lớn của: Truyền dẫn. Tiếp nhận. Hấp thu. Tương quan và Hoạt động Sống động. Phương pháp là Khẩn Cầu và Gợi Lên. Trong hai câu này, các bạn có một trong những đầu mối quan trọng nhất cho toàn bộ tiến trình tiến hoá; chìa khóa cho huyền nhiệm của thời gian và không gian, và lời giải của [596] mọi vấn đề. Nhưng yếu tố có tầm quan trọng chủ yếu là toàn bộ vấn đề này là một biểu lộ của Ý Chí tập trung.
In considering this process, I would have you study Tabulation X, for it is a symbolic form, embodying what I seek to convey. I would point out that the will aspect—as it is embodied in the rays and transmitted by the constellations—works out destructively when concentrated through an orthodox planet and constructively when concentrated through an esoteric planet. Here you have the secret guide to the significance of death and immortality. This is something which the average astrologer will be unable to prove because the cycles involved are too long; intuitively he can however grasp the probability of my proposition. May I again remind you that our theme is the divine plan, purpose and will; it is not the evolution of consciousness, or of the second aspect of divinity. It concerns spirit and not soul. We are attempting in some measure to formulate the life of the Father, the will of the Monad and the purpose of Spirit. In all these (the three aspects of the will) lies germinating the seed of the next solar system, the third, and the fruition of the Personality Manifestation of the Logos. We need, therefore, to formulate the interpretation of the seven rays in terms of will and not of love or consciousness. This we will now attempt to do.
Khi xem xét tiến trình này, Tôi muốn các bạn nghiên cứu Bảng X, vì đó là một hình thức biểu tượng, hàm chứa điều Tôi tìm cách truyền đạt. Tôi muốn chỉ ra rằng phương diện ý chí—như nó được nhập thể trong các Cung và được truyền bởi các chòm sao—sẽ vận hành theo cách hủy diệt khi được tập trung qua một hành tinh chính thống và theo cách kiến tạo khi được tập trung qua một hành tinh nội môn. Ở đây các bạn có chìa khóa bí mật dẫn đến ý nghĩa của cái chết và sự bất tử. Đây là điều mà nhà chiêm tinh trung bình sẽ không thể chứng minh được vì các chu kỳ liên quan quá dài; tuy nhiên bằng trực giác, ông ta có thể nắm được tính khả hữu của mệnh đề Tôi đưa ra. Xin cho phép Tôi nhắc lại rằng chủ đề của chúng ta là Thiên Cơ, mục đích và ý chí thiêng liêng; không phải là sự tiến hoá của tâm thức, hay của phương diện thứ hai của thiên tính. Nó liên quan đến tinh thần chứ không phải linh hồn. Chúng ta đang cố gắng ở một mức độ nào đó diễn đạt sự sống của Đức Cha, ý chí của Chân Thần và mục đích của Tinh thần. Trong tất cả những điều này (ba phương diện của ý chí) có nảy mầm hạt giống của hệ mặt trời kế tiếp, hệ thứ ba, và sự viên mãn của Biểu Lộ Phàm Ngã của Thượng đế. Vì vậy, chúng ta cần hình thành sự diễn giải bảy Cung xét theo ý chí chứ không phải tình thương hay tâm thức. Giờ đây chúng ta sẽ cố gắng làm điều đó.
RAY I.—The energy of Will or Power. This ray is outstandingly related to that aspect of will which conquers death. It is nevertheless the Ray of the Destroyer. In this connection, I would remind you that the human attitude that death is the destroyer presents a limited and erroneous point of view. The first ray destroys death because in reality there is no such thing; the concept is all part of the Great Illusion, is a limitation of [597] the human consciousness, and is basically connected with the brain and not with the heart, strange as that may seem to you. It is in a very true sense “a figment of the imagination.” Ponder on this. The abolition of death and of the destruction of form is a manifestation of Ray I, for it brings about in reality the death of negation and the inauguration of true activity. It is the energy which can be called “divine incentive”; it is the life in the seed which destroys successively all forms in order that realised fruition may eventuate. That is the clue to Ray I. It is the Will which initiates.
CUNG I.—Năng lượng của Ý Chí hay Quyền năng. Cung này nổi bật liên hệ với phương diện của ý chí chiến thắng cái chết. Tuy nhiên, nó vẫn là Cung của Đấng Hủy Diệt. Trong mối liên hệ này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng thái độ của con người cho rằng cái chết là kẻ hủy diệt là một quan điểm hạn hẹp và sai lầm. Cung một hủy diệt cái chết vì thực ra không có cái gọi là như vậy; khái niệm ấy hoàn toàn là một phần của Đại Ảo Tưởng, là một giới hạn của [597] tâm thức con người, và về căn bản liên hệ với bộ não chứ không phải với tim, dù điều đó có vẻ lạ lùng đối với các bạn. Theo một ý nghĩa rất chân thực, nó là “một sản phẩm của sự tưởng tượng.” Hãy suy ngẫm về điều này. Sự xóa bỏ cái chết cũng như sự xóa bỏ việc hủy diệt hình tướng là một biểu lộ của Cung I, vì nó thực sự mang lại cái chết của sự phủ định và sự khai mở của hoạt động chân thực. Đó là năng lượng có thể được gọi là “động lực thiêng liêng”; đó là sự sống trong hạt giống, cái lần lượt hủy diệt mọi hình tướng để sự viên mãn được chứng nghiệm có thể xảy ra. Đó là đầu mối của Cung I. Nó là Ý Chí khởi xướng.
Today, as regards humanity, its highest realisation is initiation.
Ngày nay, xét về nhân loại, sự chứng nghiệm cao nhất của nó là điểm đạo.
RAY II.—The energy of Love-Wisdom. This basic energy is the will to unify, to synthesise, to produce coherence and mutual attraction and to establish relationships, but—remember this—relationships which are entirely apart from the consciousness of relation or the realisation of unity. It is the fact of unification as seen from the beginning and as existing ever and forever in the Mind of God Whose will embraces past, present and future and Whose mind does not think in terms of evolution or of process. The process is inherent in the seed; the evolutionary urge is the inevitable accompaniment of life in manifestation. It is the Will to unification.
CUNG II.—Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng căn bản này là ý chí hợp nhất, tổng hợp, tạo ra sự kết dính và hấp dẫn hỗ tương, và thiết lập các tương quan, nhưng—hãy nhớ điều này—những tương quan hoàn toàn tách biệt khỏi tâm thức về tương quan hay sự chứng nghiệm về hợp nhất. Đó là sự kiện hợp nhất như được thấy từ khởi đầu và như tồn tại mãi mãi trong Trí Tuệ của Thượng đế, Đấng mà ý chí bao trùm quá khứ, hiện tại và tương lai, và Đấng mà trí tuệ không suy nghĩ theo cách tiến hoá hay tiến trình. Tiến trình vốn tiềm ẩn trong hạt giống; thôi thúc tiến hoá là bạn đồng hành tất yếu của sự sống trong biểu lộ. Nó là Ý Chí hướng đến hợp nhất.
Today, as regards humanity, its highest expression is the mystical vision.
Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là linh ảnh thần bí.
RAY III.—The energy of Active Intelligence. This is the will of conditioned purpose. The factors which are working out through its medium are the forceful carrying forward of the recognised plan with a goal intelligently [598] conceived and an active incentive which carries the process intelligently forward on the strength of its own momentum. Again I would remind you that I am dealing not with human consciousness but with the sum total of that undertaking which makes matter subservient to and adaptable to the basic idea in the mind of God. And no human being is as yet able to conceive of that idea. No one knows what is the will of God or what is the nature of His intelligent purpose. It is the Will to evolution.
CUNG III.—Năng lượng của Trí Tuệ Hoạt Động. Đây là ý chí của mục đích được điều kiện hóa. Các yếu tố đang vận hành qua trung gian của nó là sự xúc tiến mạnh mẽ của kế hoạch đã được nhận biết với một mục tiêu được [598] quan niệm một cách thông minh và một động lực hoạt động mang tiến trình tiến lên một cách thông minh bằng sức mạnh của chính đà tiến của nó. Một lần nữa Tôi muốn nhắc các bạn rằng Tôi không bàn đến tâm thức con người mà đến tổng thể của công cuộc khiến vật chất trở nên phục tùng và thích ứng với ý tưởng căn bản trong trí tuệ của Thượng đế. Và chưa có con người nào có thể quan niệm được ý tưởng ấy. Không ai biết ý chí của Thượng đế là gì hay bản chất của mục đích thông minh của Ngài là gì. Nó là Ý Chí hướng đến tiến hoá.
Today, as regards humanity, its highest expression is education, or progressive development through experience.
Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là giáo dục, hay sự phát triển tiến bộ qua kinh nghiệm.
RAY IV.—The energy of Harmony through Conflict. This is fundamentally the will to destroy limitation. This is not the same thing as the will to destroy negation as in the case of Ray I, but is an allied aspect of that. I am not referring to the consciousness aspect which recognises and profits by such struggle. I am referring to the energy, inherent in all forms and peculiarly strong in humanity (because man is self-conscious), which produces inevitably and unavoidably the struggle between life and that which it has chosen as a limitation; this eventually shatters or breaks up that limitation the moment that a point of real harmony or at-one-ment has been reached. Esoterically it might be said that the moment that form (limitation) and life balance each other a rift immediately appears and through it flows a fresh outpouring of the will. Christ had to die because He had achieved harmony with the will of God and then “the veil of the Temple was rent in twain from the top to the bottom.” The significance of this fresh [599] inflow of the Will will now appear; the stage is set anew for a fresh and renewed activity of the living principle. As far as humanity is concerned the “seeds of death” emerge through the medium of this Ray and the Grim Reaper, Death, is but an aspect of this will, conditioned by the fourth ray and emerging from the fourth plane. Death is an act of the intuition, transmitted by the soul to the personality and then acted upon in conformity to the divine will by the individual will. This is the Will to harmonisation.
CUNG IV.—Năng lượng của Hài Hòa qua Xung Đột. Về căn bản, đây là ý chí hủy diệt giới hạn. Điều này không giống với ý chí hủy diệt sự phủ định như trong trường hợp của Cung I, nhưng là một phương diện liên hệ của điều đó. Tôi không nói đến phương diện tâm thức vốn nhận biết và hưởng lợi từ cuộc đấu tranh như vậy. Tôi nói đến năng lượng vốn tiềm ẩn trong mọi hình tướng và đặc biệt mạnh nơi nhân loại (vì con người có ngã thức), cái tất yếu và không thể tránh khỏi tạo ra cuộc đấu tranh giữa sự sống và điều mà nó đã chọn làm giới hạn; điều này cuối cùng làm tan vỡ hay phá vỡ giới hạn ấy ngay khi một điểm hài hòa thực sự hay hợp nhất đạt được. Theo huyền bí học, có thể nói rằng ngay khi hình tướng (giới hạn) và sự sống cân bằng nhau thì một khe nứt lập tức xuất hiện và qua đó một lần tuôn đổ mới của ý chí chảy vào. Đức Christ đã phải chết vì Ngài đã đạt được sự hài hòa với ý chí của Thượng đế và rồi “bức màn của Đền Thờ bị xé làm hai từ trên xuống dưới.” Ý nghĩa của sự tuôn vào mới mẻ [599] này của Ý Chí giờ đây sẽ trở nên rõ ràng; sân khấu lại được dọn sẵn cho một hoạt động mới và được đổi mới của nguyên khí sống. Trong chừng mực nhân loại có liên quan, “các hạt giống của cái chết” xuất hiện qua trung gian của Cung này, và Tử Thần, Kẻ Gặt Hái Nghiệt Ngã, chỉ là một phương diện của ý chí này, được điều kiện hóa bởi cung bốn và xuất hiện từ cõi thứ tư. Cái chết là một hành động của trực giác, được linh hồn truyền cho phàm ngã và rồi được ý chí cá nhân thực hiện theo sự phù hợp với ý chí thiêng liêng. Đây là Ý Chí hướng đến hài hòa hóa.
Today, its highest expression as regards humanity is the intuition, as it works out through group activity. Death always releases the individual into the group.
Ngày nay, biểu lộ cao nhất của nó xét về nhân loại là trực giác, khi nó vận hành qua hoạt động nhóm. Cái chết luôn giải phóng cá nhân vào trong nhóm.
RAY V.—The energy of Concrete Science or Knowledge. To understand this expression of the divine will, the student should bear in mind the occult aphorism that “matter is spirit at its lowest point of manifestation and spirit is matter at its highest.” Basically this is the will which produces concretion and yet at the same time constitutes the point at which spirit and matter are balanced and co-equal. That is the reason why human perfection is carried forward consciously upon the mental plane, the fifth plane; this is brought about by the fifth ray and upon this plane liberation takes place at the time of the fifth initiation. This is the will which is inherent in substance and which actuates all atoms of which all forms are made. It is closely related to the first solar system even whilst liberating members of the human family who will constitute the nucleus around which the third solar system is constructed. The energy of this ray is intelligence; it is the seed of consciousness but not of consciousness as we understand it; it is the inherent [600] life of matter and the will to work intelligently; it is that living something for which we have no name which was the product of the first solar system. It is one of the major assets of God, the Father and also of the human Monad. This is the Will to Action.
CUNG V.—Năng lượng của Khoa Học Cụ Thể hay Tri Thức. Để hiểu biểu lộ này của ý chí thiêng liêng, đạo sinh nên ghi nhớ châm ngôn huyền bí rằng “vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của biểu lộ và tinh thần là vật chất ở điểm cao nhất của nó.” Về căn bản, đây là ý chí tạo ra sự kết tinh cụ thể, nhưng đồng thời cũng cấu thành điểm mà tại đó tinh thần và vật chất cân bằng và đồng đẳng. Đó là lý do vì sao sự hoàn thiện của con người được xúc tiến một cách có ý thức trên cõi trí, cõi thứ năm; điều này được mang lại bởi cung năm và trên cõi này sự giải thoát diễn ra vào thời điểm của lần điểm đạo thứ năm. Đây là ý chí vốn tiềm ẩn trong chất liệu và thúc đẩy mọi nguyên tử mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành. Nó liên hệ chặt chẽ với hệ mặt trời thứ nhất ngay cả khi giải thoát các thành viên của gia đình nhân loại, những người sẽ cấu thành hạt nhân chung quanh đó hệ mặt trời thứ ba được xây dựng. Năng lượng của Cung này là trí tuệ; nó là hạt giống của tâm thức nhưng không phải của tâm thức như chúng ta hiểu; nó là sự sống vốn có [600] của vật chất và ý chí làm việc một cách thông minh; nó là cái gì đó sống động mà chúng ta không có tên gọi, vốn là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất. Nó là một trong những tài sản chính yếu của Thượng đế, Đức Cha, và cũng của Chân Thần con người. Đây là Ý Chí hướng đến Hành động.
Today, as regards humanity, its highest expression is liberation—through death or initiation.
Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là giải thoát—qua cái chết hay điểm đạo.
RAY VI.—The energy of Devotion or of Idealism. This is the will which embodies God’s idea. It provides the motive power behind the working out of whatever may be the purpose of creation. What that purpose is we have not as yet the faintest idea. An ideal is related to the consciousness aspect as far as human beings are concerned. An idea is related to the will aspect. This ray embodies a dominant potency. It expresses God’s desire and is the basic energy emanating from the cosmic astral plane. It conceals the mystery which is to be found in the relationship of the will and desire. Desire is related to consciousness. Will is not. We are not, however, dealing with consciousness but with that impersonal force which drives forward through all the seven planes of our solar system and which makes the idea of God a consummated fact in the Eternal Now. Does that statement mean much to you? I would surmise that it means but little; it is a basic statement of occult fact anent energy as it expresses itself through humanity in a manner which is unique and peculiar. I would here remind you of a statement in The Secret Doctrine that “an Idea is a Being incorporeal which has no subsistence by itself but gives figure and form unto shapeless matter and becomes the cause of the manifestation.” This statement takes you straight back to God [601] the Father, to the Monad, to the One. It is related, consequently, to the Will and not to consciousness. Consciousness is per se the recognition of a progressive plan. The Will is the cause, the energising Principle, Life, Being. This is the Will to Causation.
CUNG VI.—Năng lượng của Sùng tín hay Lý tưởng. Đây là ý chí nhập thể ý tưởng của Thượng đế. Nó cung cấp động lực phía sau sự triển khai của bất cứ điều gì có thể là mục đích của sáng tạo. Mục đích ấy là gì thì chúng ta cho đến nay vẫn chưa có lấy một ý niệm mờ nhạt nhất. Một lý tưởng liên hệ với phương diện tâm thức trong chừng mực con người có liên quan. Một ý tưởng liên hệ với phương diện ý chí. Cung này nhập thể một tiềm lực chi phối. Nó biểu lộ ham muốn của Thượng đế và là năng lượng căn bản phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ. Nó che giấu huyền nhiệm được tìm thấy trong mối liên hệ giữa ý chí và ham muốn. Ham muốn liên hệ với tâm thức. Ý chí thì không. Tuy nhiên, chúng ta không bàn đến tâm thức mà đến mãnh lực vô ngã thúc đẩy xuyên qua cả bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta và làm cho ý tưởng của Thượng đế trở thành một sự kiện viên mãn trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. Câu phát biểu đó có ý nghĩa nhiều đối với các bạn không? Tôi đoán rằng nó có rất ít ý nghĩa; đó là một phát biểu căn bản của sự kiện huyền bí học liên quan đến năng lượng khi nó biểu lộ qua nhân loại theo một cách độc đáo và đặc thù. Ở đây Tôi muốn nhắc các bạn về một phát biểu trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng “một Ý Tưởng là một Hữu Thể vô hình thể, không có sự tồn tại tự thân nhưng ban hình dáng và hình tướng cho vật chất vô dạng và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.” Phát biểu này đưa các bạn trở thẳng về với Thượng đế [601] Đức Cha, với Chân Thần, với Đấng Duy Nhất. Vì vậy, nó liên hệ với Ý Chí chứ không phải với tâm thức. Tâm thức tự thân là sự nhận biết một kế hoạch tiến triển. Ý Chí là nguyên nhân, là Nguyên khí tiếp năng lượng, là Sự sống, là Hữu thể. Đây là Ý Chí hướng đến Nhân quả.
Today, as regards humanity, its highest expression is idealism, the incentive and cause of human activity.
Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là lý tưởng, động lực và nguyên nhân của hoạt động con người.
RAY VII.—This is the energy of Ceremonial Order. It is an expression of the will which drives through into outer manifestation; it is that which embodies both the periphery and the point at the centre. It is the will to “ritualistic synthesis,” if I might so word it. It is Necessity which is the prime conditioning factor of the divine nature—the necessity to express itself; the necessity to manifest in an orderly rhythmic manner; the necessity to embrace “that which is above and that which is below” and, through the medium of this activity, to produce beauty, order, perfect wholes and right relationships. It is the driving energy which Being emanates as It appears and takes form and lives. It is the Will towards Expression.
CUNG VII.—Đây là năng lượng của Trật Tự Nghi Lễ. Nó là một biểu lộ của ý chí thúc đẩy đi vào biểu lộ bên ngoài; nó là cái nhập thể cả chu vi lẫn điểm ở trung tâm. Đó là ý chí hướng đến “tổng hợp nghi lễ,” nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Đó là Tất Yếu, yếu tố điều kiện hóa chủ yếu của bản chất thiêng liêng—sự tất yếu phải biểu lộ chính mình; sự tất yếu phải biểu lộ theo cách có trật tự và nhịp điệu; sự tất yếu phải bao gồm “điều ở trên và điều ở dưới” và, qua trung gian của hoạt động này, tạo ra vẻ đẹp, trật tự, các toàn thể hoàn hảo và những tương quan đúng đắn. Đó là năng lượng thúc đẩy mà Hữu Thể phát ra khi Nó xuất hiện, nhận lấy hình tướng và sống. Nó là Ý Chí hướng đến Biểu lộ.
Today, as regards humanity, its highest expression is organisation.
Ngày nay, xét về nhân loại, biểu lộ cao nhất của nó là tổ chức.
In the above statements anent the rays, you can see that the full circle of their activity is complete from the angle of God the Father; the will to initiate manifestation and its attendant progressive expression meets the will towards full achievement and the energy of Being itself arrives—in time and space today (in the mind of God) at full consummation.
Trong các phát biểu trên liên quan đến các Cung, các bạn có thể thấy rằng vòng tròn trọn vẹn của hoạt động của chúng được hoàn tất từ góc độ của Thượng đế Đức Cha; ý chí khởi xướng biểu lộ và sự biểu lộ tiến triển đi kèm của nó gặp gỡ ý chí hướng đến thành tựu trọn vẹn, và năng lượng của chính Hữu Thể đạt đến—trong thời gian và không gian ngày nay (trong trí tuệ của Thượng đế)—sự viên mãn hoàn toàn.
3. The Keynotes of the Seven Rays and the Will Aspect. — 3. Các Chủ Âm của Bảy Cung và Phương diện Ý Chí.
[602]
[602]
The keynotes of these seven Rays are, therefore, as they constitute the revelation of seven Great Beings:
Vì vậy, các chủ âm của bảy Cung này, khi chúng cấu thành sự mặc khải của bảy Sinh Mệnh Vĩ Đại, là:
Initiation. Unification. Evolution. Harmonisation. Action. Causation. Expression.
Khởi xướng. Hợp nhất. Tiến hoá. Hài hòa hóa. Hành động. Nhân quả. Biểu lộ.
These are the keynotes for humanity at its present point of evolutionary development; as these seven energies play upon the human consciousness in an effort to produce and evoke the Will aspect in advanced man they produce:
Đó là các chủ âm dành cho nhân loại ở điểm phát triển tiến hoá hiện nay của mình; khi bảy năng lượng này tác động lên tâm thức con người trong nỗ lực tạo ra và gợi lên phương diện Ý Chí nơi con người tiến bộ, chúng tạo ra:
Initiation. Vision. Education. Intuition. Liberation. Idealism. Organisation.
Điểm đạo. Linh ảnh. Giáo dục. Trực giác. Giải thoát. Lý tưởng. Tổ chức.
A close study of these seven major rays and seven minor keynotes will reveal these truths and their promise. At the close of the Aquarian Age, these keynotes will vary somewhat because the recognition of the Will (leading to understanding cooperation) will produce major changes in human polarisation and human objectives—realised objectives.
Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng bảy Cung chính yếu này và bảy chủ âm phụ sẽ mặc khải các chân lý này và lời hứa của chúng. Vào cuối Kỷ Nguyên Bảo Bình, các chủ âm này sẽ thay đổi phần nào vì sự nhận biết Ý Chí (dẫn đến sự hợp tác có hiểu biết) sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong sự phân cực của con người và trong các mục tiêu của con người—những mục tiêu đã đạt được.
Let us now see how these basic ray energies will work out in man’s planetary and zodiacal relationships and why certain constellations and planets are related to certain rays and transmit into the centre which we call humanity definite and specific influences. These produce certain tendencies in humanity, evoke certain attitudes of the will, and lead consequently to certain unavoidable events as well as to definite and determined forms of Being.
Giờ đây chúng ta hãy xem các năng lượng cung căn bản này sẽ vận hành như thế nào trong các mối liên hệ hành tinh và hoàng đạo của con người, và vì sao một số chòm sao và hành tinh lại liên hệ với một số Cung nhất định và truyền vào trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại những ảnh hưởng xác định và đặc thù. Những ảnh hưởng này tạo ra một số khuynh hướng nhất định trong nhân loại, gợi lên một số thái độ nhất định của ý chí, và do đó dẫn đến một số biến cố không thể tránh khỏi cũng như những hình thức Hữu Thể xác định và nhất định.
As we proceed with our consideration of Tabulation X, there are certain fundamental ideas which must be carefully borne in mind. Let me list them for your helping:
Khi chúng ta tiếp tục xem xét Bảng X, có một số ý tưởng căn bản phải được ghi nhớ cẩn thận. Hãy để Tôi liệt kê chúng để giúp các bạn:
1. We are dealing with the effect of the seven ray energies, as they pour forth from one or other of the seven stars of the Great Bear into our solar system. These energies [603] are the life-quality of the seven great Beings Who are the Prototypes of the planetary Logoi of the sacred planets, seven in number. These latter are Their reflections in time and space, as the soul is the reflector of the Monad where human beings are concerned.
1. Chúng ta đang bàn đến hiệu quả của bảy năng lượng cung, khi chúng tuôn ra từ ngôi sao này hay ngôi sao kia trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh vào hệ mặt trời của chúng ta. Những năng lượng này [603] là phẩm tính sự sống của bảy Đấng Vĩ Đại, các Đấng là Nguyên Mẫu của các Hành Tinh Thượng Đế của các hành tinh thiêng liêng, gồm bảy vị. Các Đấng sau này là các phản chiếu của Các Ngài trong thời gian và không gian, cũng như linh hồn là kẻ phản chiếu của Chân Thần trong trường hợp con người.
2. The seven rays express themselves, each through three of the zodiacal constellations. The analogy (but not the correspondence) is that these three constellations are to the life of one of these ray Beings what the three aspects of monad-soul-body are to a man. Again, it is only analogy. Forget not that analogy and correspondence are not the same. In the first case there is resemblance but not in detail. In the second, there is practically identical expression, usually on a lower level.
2. Bảy Cung biểu lộ, mỗi Cung qua ba chòm sao hoàng đạo. Sự tương đồng (nhưng không phải tương ứng) là ba chòm sao này đối với sự sống của một trong các Hữu Thể cung ấy cũng như ba phương diện chân thần-linh hồn-thân thể đối với một con người. Một lần nữa, đó chỉ là tương đồng. Đừng quên rằng tương đồng và tương ứng không phải là một. Trong trường hợp thứ nhất có sự giống nhau nhưng không phải trong chi tiết. Trong trường hợp thứ hai, có sự biểu lộ gần như đồng nhất, thường ở một cấp độ thấp hơn.
3. These seven great Beings express Themselves in our solar system as the custodians or the exponents of the Will aspect of Deity. Their effect, therefore, is ever to convey into our solar system and eventually into our planetary life, the energy of the Will, in its planmaking, form-building nature. Esoteric books and esoteric teaching have necessarily laid the emphasis upon consciousness as it expresses quality. That is as it should be. But behind all quality lies That of which the quality is the expression and behind that is to be found the dynamic “out-going” (if I might so express it) which is the motivation of both the quality or consciousness and the life or appearance, the precipitation of will and quality.
3. Bảy Đấng Vĩ Đại này biểu lộ trong hệ mặt trời của chúng ta như những vị gìn giữ hay những vị biểu giải phương diện Ý Chí của Thượng đế. Vì vậy, hiệu quả của Các Ngài luôn là chuyển tải vào hệ mặt trời của chúng ta và cuối cùng vào sự sống hành tinh của chúng ta năng lượng của Ý Chí, trong bản chất lập kế hoạch và xây dựng hình tướng của nó. Các sách huyền bí học và giáo huấn huyền bí học tất yếu đã nhấn mạnh vào tâm thức khi nó biểu lộ phẩm tính. Điều đó là đúng như phải vậy. Nhưng phía sau mọi phẩm tính có Cái mà phẩm tính là biểu lộ của nó, và phía sau đó có thể tìm thấy sự “xuất phát” năng động (nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy), là động cơ của cả phẩm tính hay tâm thức lẫn sự sống hay vẻ ngoài, sự ngưng tụ của ý chí và phẩm tính.
4. The nature of the will is as yet undefinable for only the Monad responds to its impact, and only after the third initiation does man somewhat grasp the nature of the will. All that is possible to understand in this brief summation is the effect of the will as it makes its presence [604] felt and the result of its expression, emphasised through the three constellations.
4. Bản chất của ý chí cho đến nay vẫn không thể định nghĩa được vì chỉ Chân Thần mới đáp ứng với tác động của nó, và chỉ sau lần điểm đạo thứ ba con người mới phần nào nắm được bản chất của ý chí. Tất cả những gì có thể hiểu được trong phần tổng kết ngắn này là hiệu quả của ý chí khi nó làm cho sự hiện diện của mình [604] được cảm nhận và kết quả của biểu lộ của nó, được nhấn mạnh qua ba chòm sao.
5. The constellations in groups of three transmit the seven influences of the seven rays to our planet, via the Sun, and the relationships which I am here indicating are only those in connection with our Earth. They do not apply in relation to others of the planets in our solar system, where the configuration of the relationship is different. This is dependent upon the nature of the etheric web through which all transmission of energies takes place. The lines of approach might be indicated as follows:
5. Các chòm sao theo nhóm ba truyền bảy ảnh hưởng của bảy Cung đến hành tinh của chúng ta, qua Mặt Trời, và các mối liên hệ mà Tôi đang chỉ ra ở đây chỉ là những mối liên hệ liên quan đến Trái Đất của chúng ta. Chúng không áp dụng trong tương quan với các hành tinh khác trong hệ mặt trời của chúng ta, nơi cấu hình của mối liên hệ là khác. Điều này tùy thuộc vào bản chất của mạng dĩ thái mà qua đó mọi sự truyền dẫn năng lượng diễn ra. Các đường tiếp cận có thể được chỉ ra như sau:
DIAGRAM ONE
SƠ ĐỒ MỘT
An illustration of this in line with our tabulation would be:
Một minh họa cho điều này phù hợp với bảng của chúng ta sẽ là:
DIAGRAM TWO
SƠ ĐỒ HAI