← Esoteric Healing (A Treatise on the Seven Rays Book 4)

CHAPTER VI - The Art of Elimination — CHAPTER VI - Nghệ Thuật Loại Bỏ

CHAPTER VI - The Art of Elimination — CHAPTER VI - Nghệ Thuật Loại Bỏ

[486]

[486]

To take up again the thread of our instruction, we will now consider the activity of the inner spiritual man who has discarded his physical and etheric bodies and now stands within the shell of the subtle body—a body composed of astral or sentient substance and of mental substance. Owing to the strongly emotional and sentient polarisation of the average man, the idea has taken hold that man withdraws, after true death, first of all into his astral body, and then, later, into his mental vehicle. But this is not actually the case. A body constructed predominantly of astral matter is the basis of this idea. Few people are as yet so developed that the vehicle in which they find themselves after death is largely composed of mental substance. Only disciples and initiates who live mostly in their minds find themselves, after death, immediately upon the mental plane. Most people discover themselves upon the astral plane, clothed in a shell of astral matter and committed to a period of elimination within the illusory area of the astral plane.

Để tiếp tục mạch chỉ dẫn của chúng ta, giờ đây chúng ta sẽ xem xét hoạt động của con người tinh thần nội tại, kẻ đã bỏ lại thể xác và thể dĩ thái của mình và hiện đứng trong lớp vỏ của thể vi tế—một thể được cấu tạo bằng chất liệu cảm dục hay cảm nhận và bằng chất liệu trí tuệ. Do sự phân cực cảm xúc và cảm nhận rất mạnh của con người trung bình, ý tưởng đã bám rễ rằng sau cái chết thật sự, trước hết con người rút vào thể cảm dục của mình, rồi sau đó mới vào vận cụ trí tuệ. Nhưng thực ra không phải như vậy. Một thể được cấu tạo chủ yếu bằng vật chất cảm dục là nền tảng của ý tưởng này. Hiện nay còn ít người phát triển đến mức vận cụ mà họ thấy mình ở trong đó sau khi chết phần lớn được cấu tạo bằng chất liệu trí tuệ. Chỉ các đệ tử và điểm đạo đồ, những người sống phần lớn trong trí tuệ của mình, mới thấy mình sau khi chết ở ngay trên cõi trí. Đa số người ta thấy mình ở trên cõi cảm dục, khoác một lớp vỏ bằng vật chất cảm dục và bị buộc vào một thời kỳ loại bỏ trong phạm vi ảo tưởng của cõi cảm dục.

As I have earlier told you, the astral plane has no factual existence, but is an illusory creation of the human family. From now on, however (through the defeat of the forces of evil and the disastrous setback suffered by the Black Lodge), the astral plane will slowly become a dying creation, [487] and in the final period of human history (in the seventh rootrace), it will become nonexistent. Today this is not the case. The sentient substance which constitutes the astral plane is still being gathered into forms of illusion and still forms a barrier in the path of the soul seeking liberation. It still “holds prisoner” the many people who die whilst their major reaction to life is that of desire, of wishful thinking and of emotional sentiency. These are still the vast majority. In Atlantean days the astral plane came into being; the mental state of consciousness was then practically nonexistent, though the “sons of mind” had their place on what is today the higher levels of that plane. The mental permanent atom was also practically quiescent within each human form, and there was consequently no attractive “pull” from the mental plane, as is the case today. Many people are still Atlantean in consciousness, and when they pass out of the physical state of consciousness and discard their dual physical body, they are faced with the problem of elimination of the astral body, but they have little to do to release themselves from any mental prison of the soul. These are the undeveloped and average persons who, after the elimination of the kamic or desire body, have little else to do; there is no mental vehicle to draw them into a mental integration because there is no mentally focussed potency; the soul on the higher mental levels is as yet “in deep meditation” and quite unaware of its shadow in the three worlds.

Như tôi đã nói với bạn trước đây, cõi cảm dục không có sự tồn tại thực tế, mà là một sáng tạo ảo tưởng của gia đình nhân loại. Tuy nhiên, từ nay trở đi (nhờ sự thất bại của các mãnh lực xấu ác và sự thụt lùi tai hại mà Hắc đoàn phải chịu), cõi cảm dục sẽ chậm rãi trở thành một sáng tạo đang chết dần, [487] và trong thời kỳ cuối cùng của lịch sử nhân loại (ở giống dân gốc thứ bảy), nó sẽ trở nên không còn tồn tại. Ngày nay chưa phải vậy. Chất liệu cảm nhận cấu thành cõi cảm dục vẫn đang được gom lại thành những hình tướng ảo tưởng và vẫn tạo thành một rào cản trên con đường của linh hồn đang tìm kiếm sự giải thoát. Nó vẫn “giam giữ” nhiều người chết đi trong khi phản ứng chủ yếu của họ đối với cuộc sống là dục vọng, mơ tưởng ước ao và cảm nhận cảm xúc. Những người này vẫn là đại đa số. Vào thời Atlantis, cõi cảm dục đã xuất hiện; khi ấy trạng thái tâm thức trí tuệ thực tế chưa tồn tại, dù “các Con của Trí Tuệ” đã có vị trí của mình trên những cấp độ ngày nay là cao hơn của cõi ấy. Nguyên tử trường tồn trí tuệ cũng hầu như bất động trong mỗi hình tướng con người, và do đó không có “sức kéo” thu hút nào từ cõi trí như trường hợp ngày nay. Nhiều người vẫn còn là Atlantis trong tâm thức, và khi họ ra khỏi trạng thái tâm thức hồng trần và bỏ lại thể hồng trần kép của mình, họ đối diện với vấn đề loại bỏ thể cảm dục, nhưng họ có rất ít việc phải làm để giải thoát mình khỏi bất kỳ ngục tù trí tuệ nào của linh hồn. Đó là những người chưa phát triển và những người trung bình, sau khi loại bỏ thể kama hay thể dục vọng, thì hầu như không còn gì khác để làm; không có vận cụ trí tuệ nào kéo họ vào một sự tích hợp trí tuệ vì không có năng lực tập trung trí tuệ; linh hồn trên các cấp độ cao của cõi trí vẫn còn “tham thiền sâu” và hoàn toàn không biết đến cái bóng của nó trong ba cõi thấp.

The art of elimination falls, therefore, into three categories:

Vì vậy, nghệ thuật loại bỏ thuộc vào ba loại:

1. As practised by those people who are purely astral in quality and constitution. These we call “kamic” people.

1. Như được thực hành bởi những người thuần túy cảm dục về phẩm tính và cấu tạo. Chúng ta gọi họ là những người “kamic”.

2. As practised by those balanced people who are integrated personalities and who are called “kama-manasic” [488] individuals.

2. Như được thực hành bởi những người quân bình, là các phàm ngã tích hợp và được gọi là những cá nhân “trí-cảm” [488].

3. As practised by advanced people and disciples of all grades who are mainly mental in their “living focus.” These are called “manasic” subjects.

3. Như được thực hành bởi những người tiến bộ và các đệ tử ở mọi cấp, những người chủ yếu là trí tuệ trong “điểm tập trung sống” của họ. Những người này được gọi là các chủ thể “manasic”.

The same basic rules control them all, but the emphasis differs in each case. I would have you bear in mind that where there is no physical brain and where the mind is undeveloped, the inner man finds himself practically smothered in an envelope of astral matter and is for a long time immersed in what we call the astral plane. The kama-manasic person has what is called the “freedom of the dual life,” and finds himself possessed of a dual form which enables him to contact at will the higher levels of the astral plane and the lower levels of the mental plane. I would again remind you that there is no physical brain to register these contacts. Awareness of contact is dependent upon the innate activity of the inner man and his peculiar state of apprehension and of appreciation. The manasic person is possessed of a translucent mental vehicle with a light density which is in proportion to his freedom from desire and emotion.

Cùng những quy luật căn bản chi phối tất cả họ, nhưng điểm nhấn khác nhau trong từng trường hợp. Tôi muốn bạn ghi nhớ rằng ở nơi không có bộ não hồng trần và nơi trí tuệ chưa phát triển, con người nội tại thấy mình hầu như bị nghẹt thở trong một bao bọc bằng vật chất cảm dục và trong một thời gian dài bị chìm ngập trong điều chúng ta gọi là cõi cảm dục. Người trí-cảm có cái được gọi là “tự do của đời sống kép,” và thấy mình sở hữu một hình tướng kép cho phép y tiếp xúc tùy ý với các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục và các cấp độ thấp hơn của cõi trí. Tôi lại nhắc bạn rằng không có bộ não hồng trần nào để ghi nhận những tiếp xúc này. Sự nhận biết tiếp xúc tùy thuộc vào hoạt động bẩm sinh của con người nội tại và trạng thái lĩnh hội và đánh giá đặc thù của y. Người manasic sở hữu một vận cụ trí tuệ trong suốt với mật độ nhẹ tương ứng với mức độ giải thoát của y khỏi dục vọng và cảm xúc.

These three types of people all use an eliminative process of a similar nature, but employ a different technique within the process. For the sake of clarity, it might be stated that:

Ba loại người này đều sử dụng một tiến trình loại bỏ có bản chất tương tự, nhưng dùng một kỹ thuật khác nhau trong tiến trình ấy. Để cho rõ ràng, có thể nói rằng:

1. The kamic person eliminates his astral body by means of attrition, and vacates it via the astral correspondence to the solar plexus centre. This attrition is brought about because all the innate desire and inherent emotion are, at this stage, related to the animal nature and the physical body—both of which are now nonexistent.

1. Người kamic loại bỏ thể cảm dục của mình bằng phương tiện bào mòn, và rời bỏ nó qua đối phần cảm dục của trung tâm tùng thái dương. Sự bào mòn này được tạo ra vì mọi dục vọng bẩm sinh và cảm xúc cố hữu, ở giai đoạn này, đều liên hệ với bản chất thú tính và thể xác—cả hai hiện nay đều không còn tồn tại.

2. The kama-manasic individual uses two techniques. This would naturally be so because he eliminates, first of all, his astral body, and then his mental vehicle. [489]

2. Cá nhân trí-cảm sử dụng hai kỹ thuật. Điều này dĩ nhiên là như vậy vì trước hết y loại bỏ thể cảm dục của mình, rồi sau đó loại bỏ vận cụ trí tuệ. [489]

a. He eliminates the astral body by means of his growing desire for mental life. He withdraws gradually and steadily into the mind body, and the astral body esoterically “drops away” and finally disappears. This takes place usually unconsciously and may require quite a long time. Where, however, the man is above the average, and on the verge of becoming a manasic person, the disappearance is brought about suddenly and dynamically, and the man stands free in his mental body. This takes place consciously and rapidly.

a. Y loại bỏ thể cảm dục bằng phương tiện dục vọng ngày càng tăng đối với đời sống trí tuệ. Y dần dần và đều đặn rút vào thể trí, và thể cảm dục một cách huyền bí học “rơi rụng đi” rồi cuối cùng biến mất. Điều này thường diễn ra vô thức và có thể đòi hỏi một thời gian khá dài. Tuy nhiên, khi con người ấy vượt trên mức trung bình và đang ở ngưỡng trở thành một người manasic, sự biến mất được tạo ra một cách đột ngột và năng động, và con người ấy đứng tự do trong thể trí của mình. Điều này diễn ra một cách hữu thức và nhanh chóng.

b. He shatters the mental body by an act of the human will, and also because the soul is beginning to be slowly aware of its shadow. The inner man is therefore attracted towards the soul, though still only in a somewhat feeble manner. This process is relatively quick and is dependent upon the extent of the manasic influence.

b. Y phá vỡ thể trí bằng một hành động của ý chí con người, và cũng vì linh hồn đang bắt đầu chậm rãi nhận biết cái bóng của nó. Vì vậy, con người nội tại bị thu hút về phía linh hồn, dù hiện vẫn chỉ theo một cách khá yếu ớt. Tiến trình này tương đối nhanh và tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng manasic.

3. The manasic man, focussed now in his mental body, has also two things to accomplish:

3. Con người manasic, hiện tập trung trong thể trí của mình, cũng có hai việc phải hoàn thành:

a. To dissolve and rid himself of any astral sediment which may be discolouring his translucent mental body. The so-called astral body is now practically nonexistent as a factor of expression. This he does by calling in increased light from the soul. It is soul light which, at this stage, dissolves the astral substance, just as it will be the combined light of the soul of humanity (as a whole) which will dissolve finally the astral plane—again so-called.

a. Làm tan biến và loại bỏ bất kỳ cặn lắng cảm dục nào có thể đang làm đổi màu thể trí trong suốt của mình. Cái gọi là thể cảm dục giờ đây thực tế hầu như không còn tồn tại như một yếu tố biểu hiện. Điều này y làm bằng cách gọi vào ánh sáng gia tăng từ linh hồn. Chính ánh sáng linh hồn, ở giai đoạn này, làm tan biến chất liệu cảm dục, cũng như sẽ là ánh sáng kết hợp của linh hồn nhân loại (xét như một toàn thể) sẽ cuối cùng làm tan biến cõi cảm dục—một lần nữa, cái gọi là như vậy.

b. To destroy the mental body through the use of certain Words of Power. These Words are communicated to the disciple via the Ashram of his Master. They bring in soul power to a greatly enhanced extent, and produce consequently such an [490] expansion of consciousness within the mental body that is broken up and no longer constitutes a barrier to the inner man. He can now stand, a free son of mind, within the Ashram of his Master and “shall no more go out”.

b. Hủy diệt thể trí bằng cách sử dụng một số Quyền năng từ. Những Quyền năng từ này được truyền cho đệ tử thông qua ashram của Chân sư của y. Chúng đưa quyền năng linh hồn vào ở mức độ tăng cường rất lớn, và do đó tạo ra một sự [490] mở rộng tâm thức trong thể trí đến mức thể này bị phá vỡ và không còn cấu thành một rào cản đối với con người nội tại nữa. Giờ đây y có thể đứng, như một con tự do của trí tuệ, trong ashram của Chân sư của y và “sẽ không còn đi ra nữa”.

Activities Immediately After Death — Những Hoạt Động Ngay Sau Khi Chết

Immediately after death, and particularly if cremation has taken place, the man, in his kama-manasic body, is as much aware and alert to his environment as he was upon the physical plane when alive. This phrasing permits latitude as to the extent of the awareness and of observation, for a similar latitude must be allowed for those on the physical plane. People are not all equally awake or equally conscious of circumstances or immediate experience. However, as most people are more conscious emotionally than they are physically, and live to a great extent focussed in their astral vehicles, the man is quite familiar with the state of consciousness in which he finds himself. Forget not that a plane is essentially a state of consciousness and not a locality, as so many esotericists seem to think. It is recognised by the focussed reaction of the self-conscious person who—constantly and distinctly aware of himself—is sentient to the theme of his environment and of his outgoing desires, or where advanced people are concerned, functioning upon the more advanced levels of the astral plane) sentient of outgoing love and aspiration; the man is engrossed with what engrossed his attention and involved the kamic principle during his incarnated experience. May I again remind you that there is now no physical brain to respond to impacts generated by the inner man, and also that sex, as it is physically understood, is nonexistent. Spiritualists would do well to remember this and so grasp the foolishness as well as the impossibility of those spiritual [491] marriages which certain schools of thought in the movement teach and practice. The man, in his astral body, is now free from the strictly animal impulses which, upon the physical plane, are both normal and right, but which now have no meaning to him in his kamic body.

Ngay sau khi chết, và đặc biệt nếu việc hỏa táng đã diễn ra, con người, trong thể trí cảm của y, ý thức và tỉnh táo đối với môi trường quanh mình cũng nhiều như khi còn sống trên cõi hồng trần. Cách diễn đạt này cho phép một độ rộng nhất định về mức độ ý thức và quan sát, vì cũng phải cho phép một độ rộng tương tự đối với những người trên cõi hồng trần. Không phải mọi người đều tỉnh thức như nhau hay đều ý thức như nhau về hoàn cảnh hoặc kinh nghiệm trực tiếp. Tuy nhiên, vì đa số người ta ý thức về cảm xúc nhiều hơn là về thể xác, và sống phần lớn tập trung trong các vận cụ cảm dục của mình, nên con người khá quen thuộc với trạng thái tâm thức mà y thấy mình đang ở trong đó. Đừng quên rằng một cõi về bản chất là một trạng thái tâm thức chứ không phải là một địa điểm, như rất nhiều nhà bí truyền học dường như nghĩ vậy. Nó được nhận biết bởi phản ứng tập trung của con người có ngã thức, kẻ—luôn luôn và rõ rệt ý thức về chính mình—cảm nhận được chủ đề của môi trường mình và những ham muốn hướng ngoại của mình, hoặc, khi nói đến những người tiến hóa hơn, đang hoạt động trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục, cảm nhận được tình thương và khát vọng hướng ngoại; con người bị cuốn hút vào điều đã cuốn hút sự chú ý của y và đã lôi cuốn nguyên khí kama trong kinh nghiệm lâm phàm của y. Tôi xin lại nhắc bạn rằng giờ đây không còn bộ não thể xác để đáp ứng với các tác động do con người bên trong tạo ra, và cũng rằng tính dục, như được hiểu về mặt thể xác, là không hiện hữu. Các nhà thần linh học nên nhớ điều này để nắm được sự ngu xuẩn cũng như tính bất khả của những cuộc hôn nhân thần linh [491] mà một số trường phái tư tưởng trong phong trào ấy giảng dạy và thực hành. Con người, trong thể cảm dục của mình, giờ đây được giải thoát khỏi những xung lực thuần túy thú tính mà trên cõi hồng trần vừa là bình thường vừa là đúng đắn, nhưng giờ đây không còn ý nghĩa gì đối với y trong thể kama của mình.

Therefore, taking the average man, what are his first reactions and activities after the restitution of the physical body to the universal reservoir of substance? Let me enumerate some of these reactions:

Vì vậy, lấy con người trung bình làm ví dụ, những phản ứng và hoạt động đầu tiên của y là gì sau khi thể xác được hoàn nguyên vào kho chứa chất liệu phổ quát? Hãy để tôi liệt kê một vài phản ứng ấy:

1. He becomes consciously aware of himself. This involves a clarity of perception unknown to the average man whilst in physical incarnation.

1. Y trở nên ý thức một cách hữu thức về chính mình. Điều này bao hàm một sự sáng tỏ trong tri giác mà con người trung bình không biết đến khi còn đang lâm phàm trên cõi hồng trần.

2. Time (being the succession of events as registered by the physical brain) is now nonexistent as we understand the term, and—as the man turns his attention to his more clearly defined emotional self—there ensues invariably a moment of direct soul contact. This is due to the fact that even in the case of the most ignorant and undeveloped man, the moment of complete restitution does not pass unnoticed by the soul. It has a definite soul effect, something like a long and strong pull at a bell rope, if I might use so simple a simile. For a brief second the soul responds, and the nature of the response is such that the man, standing in his astral body, or rather in his kama-manasic vehicle, sees the experience of the past incarnation spread before him like a map. He records a sense of timelessness.

2. Thời gian (là sự tiếp nối của các biến cố như được bộ não thể xác ghi nhận) giờ đây không còn hiện hữu như chúng ta hiểu thuật ngữ ấy, và—khi con người hướng sự chú ý của mình vào bản ngã cảm xúc được xác định rõ ràng hơn—thì luôn luôn xảy ra một khoảnh khắc tiếp xúc trực tiếp với linh hồn. Điều này là do ngay cả trong trường hợp của người ngu dốt và kém phát triển nhất, khoảnh khắc hoàn nguyên trọn vẹn cũng không trôi qua mà linh hồn không hay biết. Nó tạo ra một hiệu quả linh hồn xác định, giống như một cú giật dài và mạnh vào dây chuông, nếu tôi có thể dùng một ẩn dụ đơn giản như vậy. Trong một giây ngắn ngủi, linh hồn đáp ứng, và bản chất của sự đáp ứng ấy khiến con người, đang đứng trong thể cảm dục của mình, hay đúng hơn trong vận cụ trí cảm của mình, thấy kinh nghiệm của kiếp lâm phàm vừa qua trải ra trước mắt như một tấm bản đồ. Y ghi nhận một cảm giác phi thời gian.

3. As a result of the recognition of these experiences, the man isolates those three which were the three major conditioning factors in the life which has gone and which also hold the keys to his future incarnation which he will next initiate. All else is forgotten, and all the lesser experiences fade out of his memory, leaving nothing in [492] his consciousness but what are esoterically called “the three seeds or germs of the future”. These three seeds are in a peculiar manner related to the permanent physical and astral atoms, and thus produce the fivefold force which will create the forms later to appear. It might be said that:

3. Do kết quả của việc nhận ra các kinh nghiệm ấy, con người tách ra ba kinh nghiệm là ba yếu tố tác động chủ yếu trong đời sống vừa qua và cũng nắm giữ các chìa khóa cho kiếp lâm phàm tương lai mà y sẽ khởi sự tiếp theo. Mọi điều khác đều bị quên đi, và mọi kinh nghiệm nhỏ hơn đều mờ dần khỏi ký ức của y, không để lại gì trong [492] tâm thức của y ngoài điều mà một cách huyền bí được gọi là “ba hạt giống hay mầm mống của tương lai”. Ba hạt giống này theo một cách đặc biệt liên hệ với nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục, và do đó tạo ra mãnh lực ngũ phân sẽ tạo nên các hình tướng sẽ xuất hiện về sau. Có thể nói rằng:

a. Seed One determines later the nature of the physical environment in which the returning man will find his place. It is related to the quality of that future environment and thus conditions the needed field or area of contact.

a. Hạt giống thứ nhất về sau quyết định bản chất của môi trường thể xác mà con người trở lại sẽ tìm thấy chỗ đứng của mình trong đó. Nó liên hệ với phẩm tính của môi trường tương lai ấy và do đó tác động lên lĩnh vực hay khu vực tiếp xúc cần thiết.

b. Seed Two determines the quality of the etheric body as a vehicle through which the ray forces can make contact with the dense physical body. It delimits the etheric structure or vital web along which the incoming energies will circulate and is related in particular to the special one of the seven centres which will be the most active and alive during the coming incarnation.

b. Hạt giống thứ hai quyết định phẩm tính của thể dĩ thái như một vận cụ qua đó các mãnh lực cung có thể tiếp xúc với thể xác đậm đặc. Nó giới hạn cấu trúc dĩ thái hay mạng sinh lực mà dọc theo đó các năng lượng đi vào sẽ lưu chuyển, và đặc biệt liên hệ với một trong bảy trung tâm sẽ hoạt động mạnh nhất và sống động nhất trong kiếp lâm phàm sắp tới.

c. Seed Three gives the key to the astral vehicle in which the man will be polarised in the next incarnation. Forget not, I am dealing here with the average man and not with the advanced human being, disciple or initiate. It is this seed which—through the forces it attracts—brings the man again into relation with those he previously loved or with whom he had close contact. It can be accepted as a fact that the group idea governs subjectively all incarnations, and that reincarnated man is brought into incarnation not only through his own desire for physical plane experience, but also under group impulse and in line with the group karma as well as with his own. This is a point which should receive more emphasis. Once this is truly grasped and understood, a great deal of the [493] fear engendered by the thought of death would disappear. The familiar and the loved will still remain the familiar and the loved, because the relation has been closely established over many incarnations and—as the Old Commentary expresses it:

c. Hạt giống thứ ba trao chìa khóa cho vận cụ cảm dục mà trong đó con người sẽ phân cực trong kiếp lâm phàm kế tiếp. Đừng quên, ở đây tôi đang bàn đến con người trung bình chứ không phải con người tiến hóa, đệ tử hay điểm đạo đồ. Chính hạt giống này—thông qua các mãnh lực mà nó thu hút—đưa con người trở lại liên hệ với những người mà trước đây y đã yêu thương hoặc đã có tiếp xúc mật thiết. Có thể chấp nhận như một sự kiện rằng ý niệm nhóm chi phối một cách chủ quan mọi kiếp lâm phàm, và rằng con người tái sinh được đưa vào lâm phàm không chỉ bởi ham muốn riêng của y đối với kinh nghiệm cõi hồng trần, mà còn dưới xung lực nhóm và phù hợp với nghiệp quả nhóm cũng như nghiệp quả riêng của y. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh nhiều hơn. Một khi điều này được nắm bắt và thấu hiểu thật sự, rất nhiều [493] nỗi sợ do ý nghĩ về cái chết gây ra sẽ biến mất. Điều quen thuộc và được yêu thương vẫn sẽ còn là điều quen thuộc và được yêu thương, bởi vì mối liên hệ ấy đã được thiết lập chặt chẽ qua nhiều kiếp lâm phàm và—như Cổ Luận diễn tả:

“These seeds of determining recognition are not unique to me and you, but also for the group; within the group they relate one to the other in time and space. Only in the lower three shall those related find their true existence. When soul knows soul and in the meeting-place within the Master’s call, these seeds shall disappear.”

“Những hạt giống của sự nhận biết có tính quyết định này không chỉ riêng cho tôi và bạn, mà còn cho cả nhóm; bên trong nhóm, chúng liên hệ người này với người kia trong thời gian và không gian. Chỉ trong ba cõi thấp những kẻ có liên hệ mới tìm thấy sự hiện hữu đích thực của mình. Khi linh hồn biết linh hồn và trong nơi gặp gỡ bên trong tiếng gọi của Chân sư, những hạt giống này sẽ biến mất.”

It will be apparent, therefore, how necessary it is to train children to recognise and profit by experience, for this, once learnt, will greatly facilitate this third activity upon the astral plane after death.

Do đó, sẽ thấy rõ việc huấn luyện trẻ em nhận biết và thu lợi từ kinh nghiệm là cần thiết biết bao, vì điều này, một khi đã học được, sẽ làm cho hoạt động thứ ba này trên cõi cảm dục sau khi chết được dễ dàng hơn rất nhiều.

4. Having completed this “isolating of experience,” the man will then seek and automatically find those whom the third seed influence indicates as possessing a constant part in the group experience of which he is an element, consciously or unconsciously. The relation once again established (if those sought have not yet eliminated the physical body), the man acts as he would on earth in the company of his intimates and according to his temperament and point in evolution. If those who are closest to him and whom he deeply loves or hates are still in physical incarnation, he will also seek them out and—just again as he did on earth—he will remain in their neighbourhood, aware of their activities, though (unless highly evolved) they will not be aware of his. I can give no detail as to reciprocal give and take or to the modes and methods of contact. Each person differs; each temperament is largely unique. I only seek to make [494] clear certain basic lines of behaviour pursued by man prior to the act or acts of elimination.

4. Sau khi hoàn tất việc “tách lọc kinh nghiệm” này, con người khi ấy sẽ tìm kiếm và tự động tìm thấy những người mà ảnh hưởng của hạt giống thứ ba chỉ ra là có một phần thường hằng trong kinh nghiệm nhóm mà y là một thành phần, dù hữu thức hay vô thức. Khi mối liên hệ được thiết lập lại một lần nữa (nếu những người được tìm kiếm ấy chưa loại bỏ thể xác), con người hành động như y đã hành động trên trần gian trong sự đồng hành của những người thân cận và tùy theo khí chất cùng điểm tiến hoá của mình. Nếu những người gần gũi nhất với y và những người mà y yêu sâu đậm hoặc ghét sâu đậm vẫn còn đang lâm phàm, y cũng sẽ tìm đến họ và—cũng như khi còn trên trần gian—y sẽ ở lại trong vùng lân cận của họ, ý thức được các hoạt động của họ, dù họ (trừ phi rất tiến hóa) sẽ không ý thức được y. Tôi không thể đưa ra chi tiết nào về sự trao đổi qua lại hay về các cách thức và phương pháp tiếp xúc. Mỗi người đều khác nhau; mỗi khí chất phần lớn là độc nhất. Tôi chỉ tìm cách làm [494] sáng tỏ một số đường lối ứng xử căn bản mà con người theo đuổi trước hành vi hay các hành vi loại bỏ.

These four activities cover varying periods of time—from the angle of “those who live below,” though there is no time recognised on the part of the man on the astral plane. Gradually the lure and glamour (of a low or high order) wears off, and the man enters into the stage where he knows—because the mind is now more incisive and dominating—that he is ready for the second death and for the entire elimination of the kamic body or of the kama-manasic vehicle.

Bốn hoạt động này bao trùm những khoảng thời gian khác nhau—xét từ góc độ của “những người sống bên dưới”, mặc dù về phía con người trên cõi cảm dục không có thời gian nào được nhận biết. Dần dần, sự quyến rũ và ảo cảm (thuộc loại thấp hay cao) phai nhạt đi, và con người bước vào giai đoạn mà y biết—vì trí tuệ giờ đây sắc bén và chi phối hơn—rằng y đã sẵn sàng cho cái chết thứ hai và cho sự loại bỏ hoàn toàn thể kama hay vận cụ trí cảm.

One of the things to remember here is that once restitution of the physical in its two aspects has taken place, the inner man is, as I have earlier said, fully conscious. The physical brain and the swirl of etheric forces (mostly somewhat disorganized in the case of the majority of men) are no longer present. These are the two factors which have led students to believe that the experiences of the man on the inner planes of the three worlds are those of a vague drifting, of a semi-conscious experience, or indicate a repetitive life, except in the case of very advanced people or disciples and initiates. But this is not the case. A man on the inner planes is not only as conscious of himself as an individual—with his own plans, life and affairs—as he was on the physical plane, but he is also conscious in the same manner of the surrounding states of consciousness. He may be glamoured by astral existence or subject to the telepathic impression of the varying thought currents emanating from the mental plane, but he is also conscious of himself and of his mind for of the measure of manasic life developed) in a far more potent manner than when he had to work through the medium of the physical brain, when the focus of his consciousness was that of the aspirant, but anchored in the [495] brain. His experience is far richer and fuller than he ever knew when in incarnation. If you will think this out for a little, you will realise that this necessarily would be so.

Một trong những điều cần ghi nhớ ở đây là một khi sự hoàn nguyên của thể xác trong hai phương diện của nó đã diễn ra, con người bên trong, như tôi đã nói trước đây, hoàn toàn hữu thức. Bộ não thể xác và vòng xoáy các mãnh lực dĩ thái (phần lớn khá vô tổ chức trong trường hợp đa số người ta) không còn hiện diện nữa. Đây là hai yếu tố đã khiến các đạo sinh tin rằng những kinh nghiệm của con người trên các cõi bên trong của ba cõi giới là những kinh nghiệm mơ hồ trôi nổi, nửa hữu thức, hoặc cho thấy một đời sống lặp đi lặp lại, ngoại trừ trong trường hợp những người rất tiến hóa hoặc các đệ tử và điểm đạo đồ. Nhưng không phải vậy. Một người trên các cõi bên trong không những hữu thức về chính mình như một cá nhân—với những kế hoạch, đời sống và công việc riêng của mình—cũng như khi còn trên cõi hồng trần, mà còn hữu thức theo cùng cách ấy về các trạng thái tâm thức chung quanh. Y có thể bị ảo cảm của sự tồn tại cảm dục che phủ hoặc chịu sự ấn tượng viễn cảm của các dòng tư tưởng khác nhau phát ra từ cõi trí, nhưng y cũng hữu thức về chính mình và về trí tuệ của mình (theo mức độ đời sống manas đã được phát triển) theo một cách mạnh mẽ hơn nhiều so với khi phải hoạt động qua trung gian của bộ não thể xác, khi tiêu điểm tâm thức của y là của người chí nguyện nhưng lại được neo trong [495] bộ não. Kinh nghiệm của y phong phú và đầy đủ hơn nhiều so với bất cứ điều gì y từng biết khi còn lâm phàm. Nếu bạn suy nghĩ điều này một chút, bạn sẽ nhận ra rằng tất yếu phải như vậy.

It may therefore be assumed that the Art of Elimination is practised more definitely and more effectively than was the restitution of the physical vehicle. Another point must also be considered. On the inner side, men know that the Law of Rebirth governs the experience-process of physical plane living, and they realise then that, prior to the elimination of the kamic, kama-manasic or manasic bodies, they are only passing through an interlude between incarnations and that they consequently face two great experiences:

Do đó có thể giả định rằng Nghệ Thuật Loại Bỏ được thực hành xác định hơn và hiệu quả hơn so với sự hoàn nguyên của vận cụ thể xác. Cũng phải xét đến một điểm khác. Ở mặt bên trong, con người biết rằng Định luật Tái Sinh chi phối tiến trình kinh nghiệm của đời sống cõi hồng trần, và khi ấy họ nhận ra rằng, trước khi loại bỏ các thể kama, trí cảm hay manas, họ chỉ đang đi qua một quãng xen giữa các kiếp lâm phàm và vì vậy họ đối diện với hai kinh nghiệm lớn:

1. A moment (long or short, according to the attained point in evolution) wherein contact will be made with the soul or with the solar angel.

1. Một khoảnh khắc (dài hay ngắn, tùy theo điểm tiến hoá đã đạt được) trong đó sự tiếp xúc sẽ được thiết lập với linh hồn hay với Thái dương Thiên Thần.

2. After that a contact, a relatively violent reorientation to earth life takes place, leading to what is called “the process of descent and calling,” wherein the man:

2. Sau đó, một sự tiếp xúc, một sự tái định hướng tương đối mãnh liệt đối với đời sống trần gian diễn ra, dẫn đến điều được gọi là “tiến trình đi xuống và kêu gọi”, trong đó con người:

a. Prepares for physical incarnation again.

a. Chuẩn bị để lại lâm phàm trên cõi hồng trần.

b. Sounds his own true note into the substance of the three worlds.

b. Xướng âm điệu chân thực của riêng mình vào trong chất liệu của ba cõi giới.

c. Revitalises the permanent atoms, which form a triangle of force within the causal body.

c. Tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn, vốn tạo thành một tam giác lực bên trong thể nguyên nhân.

d. Gathers together the needed substance to form his future bodies of manifestation.

d. Tập hợp chất liệu cần thiết để hình thành các thể biểu hiện tương lai của mình.

e. Colours them with the qualities and characteristics he has already achieved through life-experience.

e. Nhuộm màu chúng bằng các phẩm tính và đặc tính mà y đã đạt được qua kinh nghiệm sống.

f. On the etheric plane arranges the substance of his vital body so that the seven centres take shape and can become the recipients of the inner forces.

f. Trên cõi dĩ thái, sắp xếp chất liệu của thể sinh lực của mình để bảy trung tâm thành hình và có thể trở thành những cơ quan tiếp nhận các mãnh lực bên trong.

g. Makes a deliberate choice of those who will provide him with the needed dense physical covering, and then awaits the moment of incarnation. Esoteric [496] students would do well to remember that parents only donate the dense physical body. They contribute naught else save a body of a particular quality and nature which will provide the needed vehicle of contact with the environment demanded by the incarnating soul. They may also provide a measure of group relationship, where the soul experience is long and a true group relation has been established.

g. Cố ý chọn những người sẽ cung cấp cho y lớp bao bọc thể xác đậm đặc cần thiết, rồi chờ đợi khoảnh khắc lâm phàm. Các đạo sinh huyền bí [496] nên nhớ rằng cha mẹ chỉ hiến tặng thể xác đậm đặc. Họ không đóng góp gì khác ngoài một thể có phẩm tính và bản chất nhất định, sẽ cung cấp vận cụ tiếp xúc cần thiết với môi trường mà linh hồn nhập thể đòi hỏi. Họ cũng có thể cung cấp một mức độ liên hệ nhóm, nơi kinh nghiệm linh hồn đã lâu dài và một mối liên hệ nhóm chân thực đã được thiết lập.

These two critical moments are consciously faced by the discarnate man and he knows what he is doing within the limits set by his point in evolution.

Hai khoảnh khắc trọng yếu này được con người không còn thể xác đối diện một cách hữu thức và y biết mình đang làm gì trong những giới hạn do điểm tiến hoá của mình đặt ra.

The Devachan Experience — Kinh Nghiệm Devachan

I would also point out that this conscious undertaking of the art of elimination, and this awareness of process and purpose, in reality constitute the state of consciousness which has been called devachan by the orthodox theosophist. There has been a great deal of misunderstanding of this experience. The general idea has been that, after the process of ridding himself of the astral and mental bodies, the man enters into a sort of dream state wherein he reexperiences and reconsiders past events in the light of the future and undergoes a sort of rest period, a kind of digestive process, in preparation for the undertaking of renewed birth. This somewhat erroneous idea has arisen because the concept of time still governs theosophical presentations of truth. If, however, it is realised that time is not known apart from physical plane experience, the entire concept of devachan clarifies. From the moment of complete separation from the dense physical and etheric bodies, and as the eliminative process is undertaken, the man is aware of past and present; when elimination is complete and the hour of [497] soul contact eventuates and the manasic vehicle is in process of destruction, he becomes immediately aware of the future, for prediction is an asset of the soul consciousness and in this the man temporarily shares. Therefore, past, present and future are seen as one; the recognition of the Eternal Now is gradually developed from incarnation to incarnation and during the continuous process of rebirth. This constitutes a state of consciousness (characteristic of the normal state of the advanced man) which can be called devachanic.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng việc thực hiện một cách hữu thức nghệ thuật loại bỏ này, và sự ý thức về tiến trình và mục đích này, trên thực tế cấu thành trạng thái tâm thức mà nhà Thông Thiên Học chính thống gọi là devachan. Đã có rất nhiều sự hiểu lầm về kinh nghiệm này. Ý niệm chung là sau tiến trình tự giải thoát khỏi thể cảm dục và thể trí, con người đi vào một loại trạng thái mộng tưởng, trong đó y sống lại và xem xét lại các biến cố quá khứ dưới ánh sáng của tương lai và trải qua một loại thời kỳ nghỉ ngơi, một loại tiến trình tiêu hóa, để chuẩn bị đảm nhận một lần tái sinh mới. Ý niệm phần nào sai lầm này đã nảy sinh vì khái niệm thời gian vẫn còn chi phối các cách trình bày chân lý của Thông Thiên Học. Tuy nhiên, nếu nhận ra rằng thời gian không được biết đến ngoài kinh nghiệm cõi hồng trần, thì toàn bộ khái niệm về devachan sẽ trở nên sáng tỏ. Từ khoảnh khắc hoàn toàn tách khỏi thể xác đậm đặc và thể dĩ thái, và khi tiến trình loại bỏ được tiến hành, con người ý thức về quá khứ và hiện tại; khi sự loại bỏ hoàn tất và giờ phút [497] tiếp xúc linh hồn xảy đến và vận cụ manas đang trong tiến trình bị hủy diệt, y lập tức ý thức về tương lai, vì tiên tri là một tài sản của tâm thức linh hồn và trong đó con người tạm thời được chia sẻ. Do đó, quá khứ, hiện tại và tương lai được thấy như một; sự nhận biết Hiện Tại Vĩnh Cửu dần dần được phát triển từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác và trong suốt tiến trình tái sinh liên tục. Điều này cấu thành một trạng thái tâm thức (đặc trưng cho trạng thái bình thường của con người tiến hóa) có thể được gọi là devachanic.

It is not my intention to elaborate the technique of the eliminative process. Humanity is at so many different stages—intermediate between the three already outlined—that it would be impossible to be definite or concise. Attrition is relatively easy to understand; the kamic body dies out because, there being no call from physical substance, evoking desire, there is nothing with which to feed this vehicle. The astral body comes into being through the reciprocal interplay between the physical plane, which is not a principle, and the principle of desire; in the process of taking rebirth, this principle is utilised with dynamic intent by the soul in the mental vehicle to reverse the call, and matter then responds to the call of the reincarnating man. Kamic man, after a long process of attrition, is left standing free within an embryonic mental vehicle, and this period of semi-mental life is exceedingly brief and is brought to an end by the soul who suddenly “directs his eye to the waiting one,” and of the power of that directed potency instantaneously reorients the individual kamic man to the downward path of rebirth. The kama-manasic man practises a process of withdrawal and responds to the “pull” of a rapidly developing mental body. This withdrawal becomes increasingly rapid and dynamic until it reaches the state where the probationary disciple—under steadily growing soul contact—shatters the kama-manasic body, as a unit, by an act of the mental will, [498] implemented by the soul. You will note that the “devachanic” experience will necessarily be briefer in connection with this majority than with the kamic minority, because the devachanic technique of review and recognition of the implications of experience is slowly controlling the man on the physical plane so that he brings the significance of meaning and learns constantly through experience whilst incarnating. Thus you will realise also that continuity of consciousness is also being slowly developed, and the awarenesses of the inner man begin to demonstrate on the physical plane, through the medium of the physical brain at first, and then independently of that material structure. I have here conveyed a definite hint on a subject which will receive wide attention during the next two hundred years.

Tôi không có ý định khai triển kỹ thuật của tiến trình loại bỏ. Nhân loại đang ở quá nhiều giai đoạn khác nhau—trung gian giữa ba giai đoạn đã được phác họa—đến nỗi không thể nói một cách xác định hay ngắn gọn. Sự bào mòn tương đối dễ hiểu; thể kama tàn lụi vì, do không có tiếng gọi từ chất liệu thể xác khơi dậy ham muốn, nên không có gì để nuôi dưỡng vận cụ này. Thể cảm dục xuất hiện nhờ sự tương tác hỗ tương giữa cõi hồng trần, vốn không phải là một nguyên khí, và nguyên khí ham muốn; trong tiến trình tái sinh, nguyên khí này được linh hồn trong vận cụ trí sử dụng với chủ ý năng động để đảo ngược tiếng gọi, và khi ấy vật chất đáp ứng tiếng gọi của con người tái sinh. Con người kama, sau một tiến trình bào mòn lâu dài, được để lại đứng tự do trong một vận cụ trí phôi thai, và giai đoạn đời sống bán trí tuệ này cực kỳ ngắn ngủi và được chấm dứt bởi linh hồn, Đấng đột ngột “hướng mắt mình về kẻ đang chờ đợi”, và bằng quyền năng của tiềm lực được hướng ấy lập tức tái định hướng con người kama cá biệt vào con đường đi xuống của tái sinh. Con người trí cảm thực hành một tiến trình rút lui và đáp ứng với “sức kéo” của một thể trí đang phát triển nhanh chóng. Sự rút lui này ngày càng trở nên nhanh hơn và năng động hơn cho đến khi đạt tới trạng thái mà đệ tử dự bị—dưới sự tiếp xúc linh hồn ngày càng tăng—phá vỡ thể trí cảm, như một đơn vị, bằng một hành vi của ý chí trí tuệ, [498] được linh hồn thực hiện. Bạn sẽ lưu ý rằng kinh nghiệm “devachanic” tất yếu sẽ ngắn hơn nơi đa số này so với thiểu số kama, bởi vì kỹ thuật devachanic của việc duyệt xét và nhận ra các hàm ý của kinh nghiệm đang dần dần kiểm soát con người trên cõi hồng trần để y mang đến thâm nghĩa của ý nghĩa và học hỏi liên tục qua kinh nghiệm trong khi lâm phàm. Như vậy bạn cũng sẽ nhận ra rằng sự liên tục của tâm thức cũng đang được phát triển chậm rãi, và các nhận biết của con người bên trong bắt đầu biểu lộ trên cõi hồng trần, lúc đầu qua trung gian của bộ não thể xác, rồi sau đó độc lập với cấu trúc vật chất ấy. Ở đây tôi đã truyền đạt một gợi ý xác định về một chủ đề sẽ nhận được sự chú ý rộng rãi trong hai trăm năm tới.

The manasic person, the integrated personality, works, as we have seen, in two ways which are necessarily dependent upon the integration achieved. This integration will be of two kinds:

Con người manas, phàm ngã tích hợp, hoạt động, như chúng ta đã thấy, theo hai cách tất yếu tùy thuộc vào sự tích hợp đã đạt được. Sự tích hợp này sẽ thuộc hai loại:

1. That of the integrated personality focussed in the mind and achieving a constantly growing rapport with the soul.

1. Sự tích hợp của phàm ngã tích hợp tập trung trong trí tuệ và đạt được sự tương giao ngày càng tăng với linh hồn.

2. The disciple, whose integrated personality is now being rapidly integrated into and absorbed by the soul.

2. Đệ tử, mà phàm ngã tích hợp của y hiện đang nhanh chóng được tích hợp vào và được linh hồn hấp thu.

In this stage of mind development and of constant mental control (based on the fact that the man’s consciousness is now definitely focussed and permanently centered in the mental vehicle), the earlier processes of the destruction of the astral body through attrition and by “dynamic negation” are carried on whilst in physical incarnation. The incarnated man refuses to be ruled by desire; what is left of the illusory astral body is dominated now by the mind, and the urges towards the satisfaction of desire are refused with full and [499] conscious deliberation, either because of the selfish ambitions and mental intentions of the integrated personality, or under the inspiration of soul intention which subordinates the mind to its purposes. When this point in evolution is attained, the man can then dissolve the last remaining vestiges of all desire by means of illumination. In the early stages of purely manasic or mental life, this is done through the illumination which knowledge brings and involves mainly the innate light of mental substance. Later, when soul and mind are establishing a close rapport, the light of the soul hastens and supplements the process. The disciple now uses more occult methods, but upon these I may not here enlarge. The destruction of the mental body is no longer brought about by the destructive power of light itself, but is hastened by means of certain sounds, emanating from the plane of the spiritual will; these are recognised by the disciple, and permission to use them in their proper word-forms is given to him by some senior initiate within the Ashram or by the Master Himself, towards the close of the cycle of incarnation.

Trong giai đoạn phát triển trí tuệ này và của sự kiểm soát trí tuệ liên tục (dựa trên sự kiện rằng tâm thức của con người giờ đây đã được tập trung rõ rệt và thường xuyên đặt tại vận cụ trí), các tiến trình trước đó của việc hủy diệt thể cảm dục bằng sự bào mòn và bằng “sự phủ nhận năng động” được tiến hành trong khi còn lâm phàm trên cõi hồng trần. Con người nhập thể từ chối để cho ham muốn cai quản mình; những gì còn lại của thể cảm dục ảo tưởng giờ đây bị trí tuệ chi phối, và các thôi thúc hướng tới sự thỏa mãn ham muốn bị từ chối với sự cân nhắc hoàn toàn và [499] hữu thức, hoặc vì các tham vọng ích kỷ và các ý định trí tuệ của phàm ngã tích hợp, hoặc dưới cảm hứng của ý định linh hồn vốn đặt trí tuệ dưới các mục đích của nó. Khi điểm tiến hoá này đạt được, con người khi ấy có thể làm tan rã những tàn tích cuối cùng còn sót lại của mọi ham muốn bằng phương tiện sự soi sáng. Trong các giai đoạn đầu của đời sống thuần manas hay trí tuệ, điều này được thực hiện qua sự soi sáng mà tri thức mang lại và chủ yếu liên quan đến ánh sáng bẩm sinh của chất liệu trí tuệ. Về sau, khi linh hồn và trí tuệ đang thiết lập một sự tương giao mật thiết, ánh sáng của linh hồn thúc đẩy và bổ sung tiến trình ấy. Đệ tử giờ đây sử dụng những phương pháp huyền bí học hơn, nhưng về những điều này tôi không thể nói rộng ra ở đây. Sự hủy diệt thể trí không còn được tạo ra bởi quyền năng hủy diệt của chính ánh sáng nữa, mà được thúc đẩy bằng một số âm thanh nhất định, phát ra từ cõi của ý chí tinh thần; những âm thanh này được đệ tử nhận biết, và sự cho phép sử dụng chúng trong các dạng Quyền năng từ thích hợp được trao cho y bởi một điểm đạo đồ cao cấp nào đó trong ashram hoặc bởi chính Chân sư, vào lúc gần cuối chu kỳ lâm phàm.

Tenth Law of Healing — Định Luật Trị Liệu Thứ Mười

I would like now to lay down certain postulates which we shall need to consider in our study of Part Three where we take up the Fundamental Laws of Healing. These Laws and Rules, I have already given you, but I seek now to elaborate.

Giờ đây tôi muốn nêu ra một số định đề mà chúng ta sẽ cần xem xét trong khi nghiên cứu Phần Ba, nơi chúng ta bàn đến các Định Luật Căn Bản của Trị Liệu. Những Định luật và Quy luật này, tôi đã trao cho bạn rồi, nhưng giờ đây tôi tìm cách khai triển thêm.

We have studied at some length the immediate processes which take place when the principle of life withdraws or is withdrawn from the body. There is a distinction, based on evolutionary development, in these two processes. We have traced the withdrawal of the life principle, plus the consciousness, from the subtle bodies in the three worlds, and have now reached the point where we are no longer dealing [500] with average man or with undeveloped man. We shall be concerned with the conscious activity of the soul in relation to its form aspect.

Chúng ta đã nghiên cứu khá dài về các tiến trình tức thời diễn ra khi nguyên khí sự sống rút khỏi hoặc được rút khỏi thể. Có một sự phân biệt, dựa trên sự phát triển tiến hoá, trong hai tiến trình này. Chúng ta đã lần theo sự rút lui của nguyên khí sự sống, cộng với tâm thức, khỏi các thể vi tế trong ba cõi giới, và giờ đây đã đạt đến điểm mà chúng ta không còn bàn [500] đến con người trung bình hay con người kém phát triển nữa. Chúng ta sẽ quan tâm đến hoạt động hữu thức của linh hồn trong mối liên hệ với phương diện hình tướng của nó.

With the undeveloped or the average man, the soul plays a very small part in the death process, beyond the contribution of a simple soul determination to end the cycle of incarnated life, prior to another return to the physical plane. The “seeds of death” are inherent in the form nature and demonstrate as disease or as senility (using that word in its technical and not in its colloquial sense), and the soul pursues its own interests on its own plane until such time as the evolutionary process has brought about a situation wherein the integration or close relation between soul and form is so real that the soul is deeply and profoundly identified with its manifesting expression. It might be said that when this stage is reached, the soul is, for the first time, truly incarnated; it is truly “descending into manifestation” and the entire soul nature is thereby involved. This is a point little emphasised or realised.

Với người kém phát triển hay người trung bình, linh hồn đóng một vai trò rất nhỏ trong tiến trình chết, ngoài việc đóng góp một quyết định đơn giản của linh hồn nhằm chấm dứt chu kỳ đời sống lâm phàm, trước một lần trở lại khác với cõi hồng trần. “Những hạt giống của cái chết” vốn tiềm ẩn trong bản chất hình tướng và biểu lộ thành bệnh tật hoặc thành sự lão suy (dùng từ này theo nghĩa kỹ thuật chứ không theo nghĩa thông tục), và linh hồn theo đuổi những mối quan tâm riêng của nó trên cõi riêng của nó cho đến khi tiến trình tiến hoá tạo ra một tình huống trong đó sự tích hợp hay mối liên hệ mật thiết giữa linh hồn và hình tướng trở nên chân thực đến mức linh hồn được đồng hoá sâu sắc và thâm sâu với biểu hiện của nó. Có thể nói rằng khi giai đoạn này đạt tới, linh hồn lần đầu tiên thật sự nhập thể; nó thật sự “đi xuống biểu hiện” và toàn bộ bản chất linh hồn do đó bị cuốn vào. Đây là một điểm ít được nhấn mạnh hay nhận ra.

In the earlier lives of the incarnating soul and for the majority of the cycles of life experience, the soul is very slightly concerned in what is going on. The redemption of the substance of which all forms are made goes forward under natural process and the “karma of matter” is the initial governing force; this is succeeded in time by the karma generated by the fusion of soul and form, though (in the earlier stages) very little responsibility is engendered by the soul. That which occurs within the threefold soul-sheath is necessarily the result of the innate tendencies of substance itself. However, as time goes on and incarnation follows upon incarnation, the effect of the indwelling soul quality gradually evokes conscience, and—through the medium of conscience, which is the exercise of the discriminative sense, developed as the mind assumes increasing control—an [501] awakening and finally an awakened consciousness is evoked. This demonstrates in the first instance as the sense of responsibility; it is this which gradually establishes a growing identification of the soul with its vehicle, the lower triple man. The bodies become then steadily more refined; the seeds of death and of disease are not so potent; sensitivity to inner soul realisation grows until the time is reached when the initiate-disciple dies by an act of his spiritual will or in response to group karma or to national or planetary karma.

Trong các kiếp đầu của linh hồn nhập thể và trong phần lớn các chu kỳ kinh nghiệm sống, linh hồn rất ít quan tâm đến những gì đang diễn ra. Sự cứu chuộc chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành tiến triển theo tiến trình tự nhiên và “nghiệp quả của vật chất” là mãnh lực chi phối ban đầu; theo thời gian, điều này được kế tiếp bởi nghiệp quả do sự dung hợp của linh hồn và hình tướng tạo ra, mặc dù (trong các giai đoạn đầu) rất ít trách nhiệm được linh hồn tạo ra. Điều xảy ra bên trong lớp vỏ tam phân của linh hồn tất yếu là kết quả của các khuynh hướng bẩm sinh của chính chất liệu. Tuy nhiên, theo thời gian và khi kiếp lâm phàm nối tiếp kiếp lâm phàm, hiệu quả của phẩm tính linh hồn ngự bên trong dần dần khơi dậy lương tri, và—qua trung gian của lương tri, vốn là sự vận dụng cảm quan phân biện, được phát triển khi trí tuệ ngày càng nắm quyền kiểm soát—một [501] sự thức tỉnh và cuối cùng là một tâm thức đã thức tỉnh được khơi dậy. Điều này trước hết biểu lộ như ý thức trách nhiệm; chính điều này dần dần thiết lập một sự đồng hoá ngày càng tăng của linh hồn với vận cụ của nó, con người tam phân thấp. Khi ấy các thể trở nên ngày càng tinh luyện hơn; những hạt giống của cái chết và bệnh tật không còn mạnh mẽ như trước; sự nhạy cảm đối với chứng nghiệm linh hồn bên trong tăng lên cho đến khi đạt tới lúc mà đệ tử-điểm đạo đồ chết bằng một hành vi của ý chí tinh thần của mình hoặc để đáp ứng với nghiệp quả nhóm hay với nghiệp quả quốc gia hoặc hành tinh.

Disease and death are essentially conditions inherent in substance; just as long as a man identifies himself with the form aspect, so will he be conditioned by the Law of Dissolution. This law is a fundamental and natural law governing the life of the form in all the kingdoms of nature. When the disciple or the initiate is identifying himself with the soul, and when the antahkarana is built by means of the life principle, then the disciple passes out of the control of this universal, natural law and uses or discards the body at will—at the demand of the spiritual will or through recognition of the necessities of the Hierarchy or the purposes of Shamballa.

Bệnh tật và cái chết về bản chất là những trạng thái vốn có trong chất liệu; chừng nào con người còn đồng hoá mình với phương diện hình tướng, chừng đó y còn bị Định luật Tan Rã chi phối. Định luật này là một định luật căn bản và tự nhiên chi phối đời sống của hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên. Khi đệ tử hay điểm đạo đồ đang đồng hoá mình với linh hồn, và khi antahkarana được xây dựng bằng nguyên khí sự sống, khi ấy đệ tử vượt ra khỏi sự kiểm soát của định luật phổ quát, tự nhiên này và sử dụng hoặc loại bỏ thể xác theo ý muốn—theo đòi hỏi của ý chí tinh thần hoặc qua sự nhận biết các nhu cầu của Thánh đoàn hay các mục đích của Shamballa.

We come now to the enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death and which has reference only to those upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.

Giờ đây chúng ta đi đến sự tuyên bố một định luật mới được thay thế cho Định luật Chết và chỉ liên hệ đến những người ở các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.

LAW X

ĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Chela, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind (the fifth principle. A.A.B.) then organises itself, and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free.[502]

Hãy lắng nghe, hỡi đệ tử, tiếng gọi đến từ Người Con gửi tới Người Mẹ, rồi hãy tuân theo. Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng rằng hình tướng đã phụng sự xong mục đích của nó. Nguyên khí trí tuệ (nguyên khí thứ năm. A.A.B.) khi ấy tự tổ chức, rồi lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi đi. Linh hồn đứng tự do.[502]

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognize the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the Principle of life and thus Permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, với tiếng gọi đến trong khối cầu của nghĩa vụ; hãy nhận ra tiếng gọi phát ra từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ Nguyên khí sự sống và như thế cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết. Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đó là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp.

I have wished to make clear in your minds the distinction between disease and death as experienced by the average man, and certain corresponding processes of conscious dissolution as practised by the advanced disciple or initiate. These later processes involve a slowly developing technique in which (in the earlier stages) the disciple is still the victim of disease-producing tendencies of the form, as of all forms in nature. This tendency produces subsequent death, through the stages of modified disease and peaceful, consequent death, on to the other stages where death is brought about by an act of the will—the time and the mode being determined by the soul and consciously recorded and registered in the brain. Pain is demonstrated in both cases, but upon the Path of Initiation pain is largely negated, not because the initiate endeavours to avoid pain, but because the sensitivity of the form to undesirable contacts disappears, and with it pain also disappears; pain is the guardian of the form and the protector of substance; it warns of danger; it indicates certain definite stages in the evolutionary process; it is related to the principle whereby the soul identifies itself with substance. When the identification ceases, pain and disease and also death lose their hold upon the disciple; the soul is no longer subject to their requirements, and the man is free because disease and death are qualities inherent in form, and subject to the vicissitudes of form life.

Tôi đã muốn làm sáng tỏ trong tâm trí bạn sự phân biệt giữa bệnh tật và cái chết như được con người trung bình trải nghiệm, với một số tiến trình tương ứng của sự tan rã hữu thức như được đệ tử hay điểm đạo đồ tiến hóa thực hành. Những tiến trình sau này bao hàm một kỹ thuật phát triển chậm rãi, trong đó (ở các giai đoạn đầu) đệ tử vẫn còn là nạn nhân của các khuynh hướng gây bệnh của hình tướng, như mọi hình tướng trong thiên nhiên. Khuynh hướng này tạo ra cái chết tiếp theo, qua các giai đoạn bệnh tật đã được biến đổi và cái chết bình an kéo theo, cho đến các giai đoạn khác nơi cái chết được tạo ra bởi một hành vi của ý chí—thời điểm và cách thức do linh hồn quyết định và được ghi nhận, đăng ký một cách hữu thức trong bộ não. Đau đớn biểu lộ trong cả hai trường hợp, nhưng trên Con Đường Điểm Đạo đau đớn phần lớn bị phủ nhận, không phải vì điểm đạo đồ cố tránh đau đớn, mà vì sự nhạy cảm của hình tướng đối với những tiếp xúc không mong muốn biến mất, và cùng với nó đau đớn cũng biến mất; đau đớn là người canh giữ của hình tướng và là kẻ bảo vệ chất liệu; nó cảnh báo về nguy hiểm; nó chỉ ra những giai đoạn xác định trong tiến trình tiến hoá; nó liên hệ với nguyên khí nhờ đó linh hồn đồng hoá mình với chất liệu. Khi sự đồng hoá chấm dứt, đau đớn, bệnh tật và cả cái chết mất quyền chi phối đối với đệ tử; linh hồn không còn lệ thuộc vào các đòi hỏi của chúng nữa, và con người được tự do vì bệnh tật và cái chết là những phẩm tính vốn có trong hình tướng, và lệ thuộc vào những thăng trầm của đời sống hình tướng.

[503]

[503]

Death is to man exactly what the release of the atom appears to be; this the great scientific discovery of the release of atomic energy has demonstrated. The nucleus of the atom is split in two. (This wording is scientifically incorrect.) This event in the life experience of the atom releases a great light and a great potency; upon the astral plane, the phenomenon of death has a somewhat similar effect and has a close parallel in the phenomena brought about by the release of atomic energy. Every death, in all the kingdoms of nature, has to some extent this effect; it shatters and destroys substantial form and thus serves a constructive purpose; this result is largely astral or psychic and serves to dissipate some of the enveloping glamour. The wholesale destruction of forms which has been going on during the past few years of war has produced phenomenal changes upon the astral plane and has shattered an immense amount of the existing world glamour, and this is very, very good. These happenings should result in less opposition to the inflow of the new type of energy; it should facilitate the appearance of the ideas embodying the needed recognitions; the new concepts will now be seen, and their emergence into the realm of human thinking will be dependent upon the formulation of the new “lanes or channels of impression” whereby the minds of men can become sensitive to hierarchical plans and to the purposes of Shamballa.

Đối với con người, cái chết chính là điều mà sự giải phóng nguyên tử dường như là; khám phá khoa học vĩ đại về sự giải phóng năng lượng nguyên tử đã chứng minh điều này. Hạt nhân của nguyên tử bị tách làm hai. (Cách nói này không chính xác về mặt khoa học.) Biến cố này trong kinh nghiệm sống của nguyên tử giải phóng một ánh sáng lớn và một tiềm lực lớn; trên cõi cảm dục, hiện tượng chết có một hiệu quả phần nào tương tự và có một sự song hành gần gũi với các hiện tượng do sự giải phóng năng lượng nguyên tử tạo ra. Mọi cái chết, trong mọi giới của thiên nhiên, ở một mức độ nào đó đều có hiệu quả này; nó phá vỡ và hủy diệt hình tướng chất liệu và do đó phụng sự một mục đích xây dựng; kết quả này phần lớn là cảm dục hay thông linh và phụng sự để làm tiêu tan một phần ảo cảm bao phủ. Sự hủy diệt hàng loạt các hình tướng đã diễn ra trong vài năm chiến tranh vừa qua đã tạo ra những thay đổi phi thường trên cõi cảm dục và đã phá vỡ một khối lượng khổng lồ ảo cảm thế giới hiện có, và điều này rất, rất tốt. Những biến cố này sẽ dẫn đến sự chống đối ít hơn đối với dòng chảy vào của loại năng lượng mới; nó sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những ý tưởng hàm chứa các nhận biết cần thiết; các khái niệm mới giờ đây sẽ được nhìn thấy, và sự xuất hiện của chúng vào lĩnh vực tư duy của nhân loại sẽ tùy thuộc vào việc hình thành những “lối đi hay kênh ấn tượng” mới nhờ đó trí tuệ của con người có thể trở nên nhạy cảm với các kế hoạch của Thánh đoàn và với các mục đích của Shamballa.

This, however, is by the way. My proposition will serve to show you some of the relationships between death and constructive activity, and the wide usefulness of death as a process in reconstruction. It will convey to you the idea that this great Law of Death—as it governs substance in the three worlds—is a beneficent and corrective event. Without enlarging upon it, I would remind you that this Law of Death, which governs in such potency in the three worlds of human evolution, is a reflection of a cosmic purpose which [504] governs the cosmic etheric planes of our solar system, the cosmic astral plane and the cosmic mental plane. The death-dealing energy emanates as an expression of the life principle of that greater LIFE which enfolds all the seven planetary systems which in Themselves express the Life of our solar system. When, in our thinking and in our effort to understand, we enter this realm of pure abstraction, it is time to call a halt and draw our minds back to the more practical ways of planetary living and to the laws governing the fourth kingdom in nature, the human.

Tuy nhiên, đó chỉ là nói ngoài đề. Luận điểm của tôi sẽ giúp bạn thấy một số mối liên hệ giữa cái chết và hoạt động xây dựng, cũng như tính hữu dụng rộng lớn của cái chết như một tiến trình trong sự tái thiết. Nó sẽ truyền đạt cho bạn ý niệm rằng Định luật Chết vĩ đại này—khi nó chi phối chất liệu trong ba cõi giới—là một biến cố từ thiện và điều chỉnh. Không cần nói rộng thêm, tôi xin nhắc bạn rằng Định luật Chết này, vốn chi phối với quyền năng mạnh mẽ như vậy trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, là một phản ánh của một mục đích vũ trụ đang [504] chi phối các cõi dĩ thái vũ trụ của hệ mặt trời chúng ta, cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ. Năng lượng mang lại cái chết phát ra như một biểu hiện của nguyên khí sự sống của SỰ SỐNG lớn lao hơn ấy, Đấng bao trùm tất cả bảy hệ hành tinh, mà tự thân chúng biểu hiện Sự Sống của hệ mặt trời chúng ta. Khi, trong tư duy và trong nỗ lực thấu hiểu, chúng ta bước vào lĩnh vực của sự trừu tượng thuần túy này, thì đã đến lúc phải dừng lại và kéo trí tuệ mình trở về với những phương cách thực tiễn hơn của đời sống hành tinh và với các định luật chi phối giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại.

We are now in a position (after this attempt to argue from the universal to the particular, which is ever the occult way), to take up, in Part Three, the last point which deals with the Basic Requirements, and must now consider the use of the death principle by the disciple or the initiate. I would have you note my way of expressing this concept. This is dealt with under the title of The Processes of Integration.

Giờ đây chúng ta ở vào vị thế (sau nỗ lực lập luận từ cái phổ quát đến cái cá biệt này, vốn luôn là phương cách huyền bí học), để bàn đến, trong Phần Ba, điểm cuối cùng liên quan đến các Yêu Cầu Căn Bản, và giờ đây phải xem xét việc sử dụng nguyên khí chết bởi đệ tử hay điểm đạo đồ. Tôi muốn bạn lưu ý cách tôi diễn đạt khái niệm này. Điều này được bàn đến dưới nhan đề Các Tiến Trình Tích Hợp.

CHAPTER VII - The Processes of Integration — CHƯƠNG VII - Các Tiến Trình Tích Hợp

[505]

[505]

In considering this intelligently utilised event as it is employed by the soul, functioning consciously in the three worlds, we shall find it helpful to consider it under two main headings:

Khi xem xét biến cố được sử dụng một cách thông minh này như nó được linh hồn dùng đến, đang hoạt động một cách hữu thức trong ba cõi giới, chúng ta sẽ thấy hữu ích nếu xét nó dưới hai đề mục chính:

First: The processes whereby the cycle of incarnation is brought to an end through the complete integration of soul and personality. This we will approach from three points of view:

Thứ nhất: Những tiến trình nhờ đó chu kỳ lâm phàm được đưa đến chỗ kết thúc qua sự tích hợp hoàn toàn của linh hồn và phàm ngã. Chúng ta sẽ tiếp cận điều này từ ba quan điểm:

The significance of integration.

Ý nghĩa của sự tích hợp.

The state of mind of the soul.

Trạng thái trí tuệ của linh hồn.

The elimination of the thoughtform of the personality.

Sự loại bỏ hình tư tưởng của phàm ngã.

Second: The results of this:

Thứ hai: Những kết quả của điều này:

Within the Ashram of the Master, as far as the disciple is concerned.

Bên trong ashram của Chân sư, xét theo phương diện của đệ tử.

In the mode whereby the liberated disciple can now create a body for physical plane contact and for service in the three worlds—this time not under the Law of Necessity but under the Law of Service, as understood by the initiate.

Trong phương thức nhờ đó đệ tử được giải thoát giờ đây có thể tạo ra một thể để tiếp xúc trên cõi hồng trần và để phụng sự trong ba cõi giới—lần này không phải dưới Định luật Tất Yếu mà dưới Định luật Phụng sự, như được điểm đạo đồ thấu hiểu.

You will by now have realised that we have discussed the fact of death as it has affected the physical body (a most [506] familiar happening) and also the astral or mental sheaths—those aggregations of conditioned energy with which we are not so objectively familiar but which even psychology admits exist and which we believe must disintegrate or disappear with the death of the physical body. Has it, however, occurred to you that the major aspect of death with which a human being is ultimately concerned is the death of the personality? I am not here speaking in abstract terms, as do all esotericists when they work at the negation of quality or of the qualities which characterise the personal self. They speak of “killing out” this or that quality, of completely suppressing the “lower self,” and similar phrases. Here I am speaking of the literal destruction, dissolution, dissipation or final dispersal of that beloved and well-known personal self.

Đến lúc này hẳn bạn đã nhận ra rằng chúng ta đã bàn đến sự kiện chết như nó tác động lên thể xác (một biến cố hết sức [506] quen thuộc) và cả các lớp vỏ cảm dục hay trí tuệ—những tập hợp năng lượng bị tác động mà chúng ta không quen thuộc một cách khách quan bằng nhưng ngay cả tâm lý học cũng thừa nhận là hiện hữu và mà chúng ta tin rằng phải tan rã hay biến mất cùng với cái chết của thể xác. Tuy nhiên, có bao giờ bạn nghĩ rằng phương diện chủ yếu của cái chết mà một con người rốt cuộc phải quan tâm là cái chết của phàm ngã không? Ở đây tôi không nói theo những thuật ngữ trừu tượng, như mọi nhà bí truyền học vẫn làm khi họ nỗ lực phủ nhận phẩm tính hay các phẩm tính đặc trưng cho bản ngã cá nhân. Họ nói đến việc “giết chết” phẩm tính này hay phẩm tính kia, việc hoàn toàn đè nén “phàm ngã”, và những cụm từ tương tự. Ở đây tôi đang nói đến sự hủy diệt, tan rã, làm tiêu tan hay phân tán cuối cùng theo nghĩa đen của bản ngã cá nhân thân yêu và quen thuộc ấy.

It must be borne in mind that the life of a personality falls into the following stages:

Cần ghi nhớ rằng đời sống của một phàm ngã trải qua các giai đoạn sau:

1. Its slow and gradual construction over a long period of time. For many cycles of incarnations, a man is not a personality, he is just a. member of the mass.

1. Sự xây dựng chậm rãi và dần dần của nó trong một thời kỳ dài. Trong nhiều chu kỳ lâm phàm, con người không phải là một phàm ngã, y chỉ là một thành viên của quần chúng.

2. The conscious identification of the soul with the personality, this stage is practically nonexistent. The aspect of the soul which is concealed within the sheaths is for a long, long period dominated by the life of those sheaths only making its presence felt through what is called “the voice of conscience.” However, as time goes on, the active intelligent life of the person is gradually enhanced and coordinated by the energy which streams from the knowledge petals of the egoic lotus, or from the intelligent perceptive nature of the soul on its own plane. This produces eventually the integration of the three lower sheaths into one functioning whole. The man is then a personality. [507]

2. Sự đồng hoá hữu thức của linh hồn với phàm ngã, giai đoạn này hầu như không hiện hữu. Phương diện linh hồn được che giấu trong các lớp vỏ trong một thời gian rất, rất dài bị đời sống của các lớp vỏ ấy chi phối, chỉ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận qua điều được gọi là “tiếng nói của lương tri”. Tuy nhiên, theo thời gian, đời sống trí tuệ năng động của con người dần dần được tăng cường và phối hợp bởi năng lượng tuôn chảy từ các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã, hay từ bản chất tri giác thông minh của linh hồn trên cõi riêng của nó. Điều này cuối cùng tạo ra sự tích hợp của ba lớp vỏ thấp thành một toàn thể hoạt động thống nhất. Khi ấy con người là một phàm ngã. [507]

3. The personality life of the now coordinated individual persists for a large number of lives, and also falls into three phases:

3. Đời sống phàm ngã của cá nhân nay đã được phối hợp kéo dài qua một số lượng lớn kiếp sống, và cũng rơi vào ba giai đoạn:

a. The phase of a dominant aggressive personality life, basically conditioned by its ray type, selfish in nature and very individualistic.

a. Giai đoạn của một đời sống phàm ngã thống trị, xông xáo, về căn bản bị cung loại của nó tác động, ích kỷ về bản chất và rất cá nhân chủ nghĩa.

b. A transitional phase wherein a conflict rages between personality and soul. The soul begins to seek liberation from form life and yet—in the last analysis—the personality is dependent upon the life principle, conferred by the soul. Wording it otherwise, the conflict between the soul ray and the personality ray starts and the war is on between two focussed aspects of energy. This conflict terminates at the third initiation.

b. Một giai đoạn chuyển tiếp trong đó một cuộc xung đột diễn ra giữa phàm ngã và linh hồn. Linh hồn bắt đầu tìm cách giải thoát khỏi đời sống hình tướng, nhưng—xét cho cùng—phàm ngã lại lệ thuộc vào nguyên khí sự sống do linh hồn ban cho. Nói cách khác, xung đột giữa cung linh hồn và cung phàm ngã bắt đầu và cuộc chiến diễn ra giữa hai phương diện năng lượng tập trung. Cuộc xung đột này chấm dứt ở lần điểm đạo thứ ba.

c. The control by the soul is the final phase, leading, to the death and destruction of the personality. This death begins when the personality, the Dweller on the Threshold, stands before the Angel of the Presence. The light of the solar Angel then obliterates the light of matter.

c. Sự kiểm soát của linh hồn là giai đoạn cuối cùng, dẫn đến cái chết và sự hủy diệt của phàm ngã. Cái chết này bắt đầu khi phàm ngã, Kẻ Chận Ngõ, đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện. Ánh sáng của Thái dương Thiên Thần khi ấy xóa mờ ánh sáng của vật chất.

The “control” phase is conditioned by the complete identification of the personality with the soul; this is a reversal of the previous identification of the soul with the personality. This also is what we mean when speaking of the integration of these two; the two are now one. It was of this phase that St. Paul was speaking when he referred (in the Epistle to the Ephesians) to Christ making “out of two, one new man.” It is primarily the phase of the final stages of the Probationary Path (where the work consciously begins) and its carrying forward to completion upon the Path of Discipleship. It is the stage of the practical and successful server; it is that wherein the entire focus [508] and output of the life of the man is dedicated to the fulfillment of hierarchical intent. The man begins to work on and from levels not included in the three worlds of ordinary evolution, but which nevertheless have their effects and their planned objectives within those three worlds.

Giai đoạn “kiểm soát” được tác động bởi sự đồng hoá hoàn toàn của phàm ngã với linh hồn; đây là một sự đảo ngược của sự đồng hoá trước đó của linh hồn với phàm ngã. Đây cũng là điều chúng ta muốn nói khi nói về sự tích hợp của hai bên này; giờ đây cả hai là một. Chính về giai đoạn này mà Thánh Paul đã nói khi ông nhắc đến (trong Thư gửi tín hữu Ê-phê-sô) việc Đức Christ tạo nên “từ hai thành một con người mới”. Đây chủ yếu là giai đoạn của các chặng cuối của Con Đường Dự Bị (nơi công việc bắt đầu một cách hữu thức) và việc đưa nó đến hoàn tất trên Con Đường Đệ Tử. Đây là giai đoạn của người phụng sự thực tiễn và thành công; đó là giai đoạn trong đó toàn bộ tiêu điểm [508] và sự tuôn đổ của đời sống con người được hiến dâng cho việc hoàn thành ý định của Thánh đoàn. Con người bắt đầu hoạt động trên và từ những cấp độ không nằm trong ba cõi giới của tiến hoá thông thường, nhưng tuy vậy vẫn có các hiệu quả và các mục tiêu đã hoạch định của chúng bên trong ba cõi giới ấy.

The Significance of Integration — Ý Nghĩa của Sự Tích Hợp

The emphasis laid by most teachers and aspirants is upon the integration of the personality and its correct orientation towards the world of spiritual values. It should be remembered that this is an earlier stage and rightly so. The integration of the mind, the emotional nature and the brain is the major characteristic of all advanced human beings—the bad, the very bad, the good and the very good. It is, however, no sign of spiritual life, and is frequently quite the reverse. A “Hitler” or an ambitious person with a deeply selfish or cruelly directed life is a personality, with all the powers of his mind dedicated to evil purposes, with the emotional nature so constituted that it presents no obstacle to the furthering of these selfish intentions, and with a high-powered brain receptive to the plans and methods of the two vehicles, carrying out the behests of the personality.

Sự nhấn mạnh của đa số huấn sư và người chí nguyện đặt vào sự tích hợp của phàm ngã và sự định hướng đúng đắn của nó về phía thế giới các giá trị tinh thần. Cần nhớ rằng đây là một giai đoạn sớm hơn và đúng là như vậy. Sự tích hợp của trí tuệ, bản chất cảm xúc và bộ não là đặc điểm chủ yếu của mọi con người tiến hóa—kẻ xấu, kẻ rất xấu, người tốt và người rất tốt. Tuy nhiên, đó không phải là dấu hiệu của đời sống tinh thần, và thường lại hoàn toàn ngược lại. Một “Hitler” hay một kẻ đầy tham vọng với đời sống sâu sắc ích kỷ hoặc được hướng dẫn một cách tàn nhẫn là một phàm ngã, với mọi quyền năng của trí tuệ mình được hiến cho các mục đích xấu xa, với bản chất cảm xúc được cấu tạo sao cho không tạo ra chướng ngại nào cho việc thúc đẩy các ý định ích kỷ ấy, và với một bộ não đầy năng lực tiếp nhận các kế hoạch và phương pháp của hai vận cụ, thực hiện các mệnh lệnh của phàm ngã.

I would point out that the majority of people are not personalities, no matter how glibly they may talk about their personalities. For example, the initial objective before the mass of aspirants and students is, first of all, to integrate the lower threefold man, so that they may become functioning personalities, prior to becoming functioning souls; the work is dedicated to the purpose of producing a conscious personality focus, whilst avoiding that cycle of incarnations wherein the personality is dedicated to lower and selfish ends. Students who are more advanced are dedicated to the purpose of producing a still higher integration of soul and [509] personality, leading to that final integration which brings in the highest aspect of all, that of monadic life.

Tôi muốn chỉ ra rằng đa số người ta không phải là các phàm ngã, cho dù họ có nói trôi chảy đến đâu về phàm ngã của mình. Chẳng hạn, mục tiêu ban đầu trước quần chúng người chí nguyện và đạo sinh trước hết là tích hợp con người tam phân thấp, để họ có thể trở thành những phàm ngã hoạt động, trước khi trở thành những linh hồn hoạt động; công việc được hiến cho mục đích tạo ra một tiêu điểm phàm ngã hữu thức, đồng thời tránh chu kỳ lâm phàm trong đó phàm ngã được hiến cho các mục đích thấp hèn và ích kỷ. Những đạo sinh tiến bộ hơn được hiến cho mục đích tạo ra một sự tích hợp còn cao hơn nữa giữa linh hồn và [509] phàm ngã, dẫn đến sự tích hợp cuối cùng mang vào phương diện cao nhất của tất cả, đó là đời sống chân thần.

There are in the world today many truly integrated personalities. These, because soul and personality are integrated, can tread the Path of Accepted Discipleship. This is a most hopeful development, if you could but realise its implications and significance, and the question arises as to how the others who are as yet only in the process of reorientation can develop an adequate personality integration. This they will never do if they overestimate themselves or depreciate themselves. Many are apt to regard themselves as personalities because of their natural self-will, or because they are occult students. They forget that an occult student is one who is in search of that which is hidden—in their case of that hidden, integrating thread which will enable them to blend the three bodies and thus truly merit the name of personality. Some of them cannot become personalities during this life, but they can develop the mental concept of its possibility and its nature; they need to remember that “as a man thinketh in his heart, so is he.” It is not waste of time, but a very necessary process and one through which every Member of the Hierarchy has passed.

Ngày nay trên thế giới có nhiều phàm ngã tích hợp thực sự. Những người này, vì linh hồn và phàm ngã đã được tích hợp, có thể bước đi trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Đây là một sự phát triển đầy hy vọng, nếu các bạn có thể chứng nghiệm được những hàm ý và thâm nghĩa của nó; và câu hỏi được đặt ra là làm thế nào những người khác, hiện vẫn chỉ đang trong tiến trình tái định hướng, có thể phát triển một sự tích hợp phàm ngã đầy đủ. Họ sẽ không bao giờ làm được điều này nếu họ tự đánh giá mình quá cao hoặc tự hạ thấp mình. Nhiều người có khuynh hướng xem mình là các phàm ngã vì ý chí riêng tự nhiên của họ, hoặc vì họ là đạo sinh huyền bí học. Họ quên rằng một đạo sinh huyền bí học là người đang tìm kiếm điều bị che giấu—trong trường hợp của họ là sợi dây tích hợp ẩn kín ấy, sợi dây sẽ giúp họ hòa trộn ba thể và nhờ đó thực sự xứng đáng với danh xưng phàm ngã. Một số người trong họ không thể trở thành các phàm ngã trong kiếp này, nhưng họ có thể phát triển khái niệm trí tuệ về khả năng ấy và về bản chất của nó; họ cần nhớ rằng “con người nghĩ gì trong tim mình, thì y là như vậy.” Đây không phải là sự phí thời giờ, mà là một tiến trình rất cần thiết và mọi Thành Viên của Thánh Đoàn đều đã đi qua.

Study and meditation combined are the factors which all aspirants should employ if they seek to produce this needed integration and a consequent life of service. Thus the aspirant can test out both his point of integration and the extent of the serving quality produced by this integration. If aspirants would study their physical plane life with care, they would discover that they are either working automatically in response to physical plane conventional ideas of goodwill or of being kind, or they are working emotionally because they like to help, they like to be liked, they like to relieve suffering (owing to their hatred of the discomfort which suffering brings to them), they believe in following [510] the steps of the Christ Who went about doing good, or because of a natural, deep-seated life tendency. This is a hopeful and finalising unfoldment.

Học tập và tham thiền kết hợp là những yếu tố mà mọi người chí nguyện nên sử dụng nếu họ tìm cách tạo ra sự tích hợp cần thiết này và một đời sống phụng sự phát sinh từ đó. Nhờ vậy người chí nguyện có thể kiểm nghiệm cả điểm tích hợp của mình lẫn mức độ phẩm tính phụng sự do sự tích hợp này tạo ra. Nếu những người chí nguyện chịu nghiên cứu đời sống cõi hồng trần của mình một cách cẩn trọng, họ sẽ khám phá rằng hoặc là họ đang hoạt động một cách tự động để đáp ứng các ý niệm quy ước của cõi hồng trần về thiện chí hay lòng tử tế, hoặc là họ đang hoạt động về mặt cảm xúc vì họ thích giúp đỡ, họ thích được yêu mến, họ thích làm vơi bớt đau khổ (do họ ghét sự khó chịu mà đau khổ đem lại cho họ), họ tin vào việc noi theo [510] bước chân của Đức Christ, Đấng đã đi khắp nơi làm điều lành, hoặc vì một khuynh hướng sự sống tự nhiên, ăn sâu. Đây là một sự khai mở đầy hy vọng và có tính hoàn tất.

Aspirants will eventually find out (when the physical and emotional phases of the integration are over) that there follows a phase of intelligent service, motivated in the first instance by mercy, then by conviction of its essentiality, then by a stage of definitely spiritual ambition, then by a submissive following of the example of the Hierarchy, and finally by the activity of the quality of pure love; this pure love increasingly expresses itself as the higher integration of soul and personality proceeds. All these phases of intention and of techniques are right in their own place, just as long as they have teaching value, and whilst the higher next phases remain vague and nebulous. They become wrong when they are perpetuated and carried on when the next stage is clearly seen but not followed. Ponder on this. It is of value to you to realise the true significance of these varying phases of integration, carried forward—as they are—under evolutionary law.

Cuối cùng những người chí nguyện sẽ nhận ra (khi các giai đoạn tích hợp hồng trần và cảm xúc đã qua) rằng tiếp theo là một giai đoạn phụng sự thông minh, lúc đầu được thúc đẩy bởi lòng thương xót, rồi bởi sự xác tín về tính thiết yếu của nó, rồi bởi một giai đoạn tham vọng tinh thần rõ rệt, rồi bởi sự noi theo đầy thuận phục tấm gương của Thánh Đoàn, và cuối cùng bởi hoạt động của phẩm tính bác ái thuần khiết; bác ái thuần khiết này ngày càng biểu lộ khi sự tích hợp cao hơn giữa linh hồn và phàm ngã tiến triển. Tất cả các giai đoạn về ý định và kỹ thuật này đều đúng ở vị trí riêng của chúng, miễn là chúng còn có giá trị giáo huấn, và chừng nào các giai đoạn cao hơn kế tiếp vẫn còn mơ hồ và chưa rõ nét. Chúng trở nên sai khi bị kéo dài và tiếp tục trong khi giai đoạn kế tiếp đã được thấy rõ nhưng không được theo đuổi. Hãy suy ngẫm về điều này. Việc chứng nghiệm thâm nghĩa đích thực của các giai đoạn tích hợp khác nhau này là điều có giá trị đối với các bạn, vì chúng được tiến hành—đúng như vậy—dưới định luật tiến hoá.

All these steps upon the way of integration lead to that culminating stage wherein the personality—rich in experience, powerful in expression, reoriented and dedicated—becomes simply the mediator of soul life between the Hierarchy and Humanity. Again—ponder on this.

Tất cả các bước trên con đường tích hợp này đều dẫn đến giai đoạn tột đỉnh, trong đó phàm ngã—giàu kinh nghiệm, mạnh mẽ trong biểu hiện, đã được tái định hướng và hiến dâng—trở thành đơn thuần là trung gian của sự sống linh hồn giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại. Một lần nữa—hãy suy ngẫm về điều này.

The State of Mind of the Soul — Trạng thái trí tuệ của linh hồn

And whilst all these phases, stages and realisations are taking place in the life of the personality, what is the attitude of the soul upon its own plane? A consideration of this involves, first of all, a recognition of the three aspects of mind which are to be found upon what we call the mental plane: [511]

Trong khi tất cả các giai đoạn, chặng đường và sự chứng nghiệm này đang diễn ra trong đời sống của phàm ngã, thì thái độ của linh hồn trên cõi riêng của nó là gì? Việc xem xét điều này trước hết bao hàm sự nhìn nhận ba phương diện của trí tuệ được tìm thấy trên cái mà chúng ta gọi là cõi trí: [511]

1. The lower concrete mind, which is the attitude of thought held by the tiny aspect of the soul which was initially “put down” into manifestation at the time of individualisation. This—during the long cycle of incarnations—has become increasingly sensitive to its overshadowing Self. This overshadowing Self says to its incarnated aspect: “Having pervaded this entire universe with a fragment of myself, I remain.” The pull of that overshadowing “remaining Self” is what draws the little fragment back to its originating source.

1. Hạ trí cụ thể, là thái độ tư tưởng được nắm giữ bởi phương diện nhỏ bé của linh hồn đã được “đặt xuống” vào biểu hiện lúc biệt ngã hóa. Trong chu kỳ dài của các lần nhập thể, phương diện này ngày càng trở nên nhạy cảm với Bản Ngã phủ bóng của nó. Bản Ngã phủ bóng ấy nói với phương diện nhập thể của mình: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của chính ta, ta vẫn còn đó.” Sức hút của “Bản Ngã còn đó” phủ bóng ấy chính là điều kéo mảnh nhỏ trở về nguồn gốc phát sinh của nó.

2. The Son of Mind, the soul, the product of the thought of the Universal Mind, the thinking, perceiving, discriminating, analysing Identity or spiritual Entity. This aspect of the One Life is characterised by pure mind, pure reason, pure love, and pure will. A “Lord of Sacrifice” Who, through incarnating experience, integration and expression, has undertaken the task of redeeming matter, and of raising substance into Heaven! These are familiar truths and ancient platitudes, but they still remain largely theory to you. You can test their theoretical nature by asking yourself: What am I doing, as a soul (if I function as a soul at all), to raise my matter aspect, my three vehicles and the substance out of which they are made, on to higher planes of expression?

2. Con của Trí Tuệ, linh hồn, sản phẩm của tư tưởng của Vũ Trụ Trí, Bản Sắc hay Thực Thể tinh thần biết suy tư, tri giác, phân biện và phân tích. Phương diện này của Sự sống Duy Nhất được đặc trưng bởi trí tuệ thuần khiết, lý trí thuần khiết, bác ái thuần khiết và ý chí thuần khiết. Một “Chúa Tể của Hi sinh”, Đấng qua kinh nghiệm nhập thể, sự tích hợp và biểu hiện, đã đảm nhận nhiệm vụ cứu chuộc vật chất và nâng chất liệu lên Thiên giới! Đây là những chân lý quen thuộc và những lời sáo cũ xưa, nhưng đối với các bạn chúng vẫn phần lớn chỉ là lý thuyết. Các bạn có thể kiểm nghiệm tính lý thuyết của chúng bằng cách tự hỏi: Tôi đang làm gì, với tư cách là một linh hồn (nếu quả thật tôi hoạt động như một linh hồn), để nâng phương diện vật chất của tôi, ba vận cụ của tôi và chất liệu mà từ đó chúng được tạo nên, lên các cõi biểu hiện cao hơn?

3. The higher abstract mind which is to the soul what the lowest aspect of the soul, embodied in the knowledge petals, is to the concrete mind. This abstract mind is the lowest aspect of the Spiritual Triad.

3. Thượng trí trừu tượng đối với linh hồn cũng giống như phương diện thấp nhất của linh hồn, được thể hiện trong các cánh hoa tri thức, đối với trí cụ thể. Trí trừu tượng này là phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.

Once integration has taken place between the personality and the soul, then the soul—in its own body and nature and on its own plane—can begin to attend to a higher integration or linking relation which it must eventually bring about between itself and the Spiritual Triad. Accomplishment [512] upon a lower level ever makes possible accomplishment upon a higher. There is no true higher accomplishment until, step by step, the lower reflected aspect is mastered, used and recognised as an instrument for bringing about still higher activities.

Một khi sự tích hợp giữa phàm ngã và linh hồn đã diễn ra, thì linh hồn—trong thể riêng, bản chất riêng và trên cõi riêng của nó—có thể bắt đầu lưu tâm đến một sự tích hợp cao hơn hay một mối liên hệ nối kết mà cuối cùng nó phải tạo ra giữa chính nó và Tam Nguyên Tinh Thần. Thành tựu [512] ở một cấp độ thấp hơn luôn làm cho thành tựu ở một cấp độ cao hơn trở nên khả hữu. Không có thành tựu cao hơn đích thực nào cho đến khi, từng bước một, phương diện phản chiếu thấp hơn được làm chủ, được sử dụng và được nhìn nhận như một công cụ để tạo ra những hoạt động còn cao hơn nữa.

The state of mind of the soul during the processes of lower integration can be briefly summarised as follows:

Trạng thái trí tuệ của linh hồn trong các tiến trình tích hợp thấp hơn có thể được tóm tắt ngắn gọn như sau:

1. That of a complete disinterest during the earlier stages of the cycle of incarnation. Its “embedded aspect” (as it has been called) is quite adequate to the slow and tedious task of evolving the bodies, developing their characteristics and buying the bitter experience of blindness and ignorance. This period is by far the longest, and whilst it is proceeding the soul goes forward with its own life interest upon its own level of experience, upon its own ray and under the influence of the Master Who will eventually guide the thinking (through gladly accepted impression) of the developing personality. Forget not that this kingdom or this aggregate of souls is what the Christian calls the Kingdom of God and the occultist calls the spiritual Hierarchy of our planet. Remember also that the purpose of its aggregated life is to induce realisation in consciousness of the spiritual polarisation of the planetary LIFE.

1. Đó là trạng thái hoàn toàn không quan tâm trong các giai đoạn đầu của chu kỳ nhập thể. “Phương diện được cắm vào” của nó (như đã được gọi) hoàn toàn đủ sức cho nhiệm vụ chậm chạp và gian nan là tiến hóa các thể, phát triển các đặc tính của chúng và mua lấy kinh nghiệm cay đắng của sự mù quáng và vô minh. Giai đoạn này dài hơn hẳn mọi giai đoạn khác, và trong khi nó đang diễn ra, linh hồn vẫn tiến bước với mối quan tâm sự sống riêng của nó trên cấp độ kinh nghiệm riêng, trên cung riêng của nó và dưới ảnh hưởng của Chân sư, Đấng cuối cùng sẽ hướng dẫn tư duy (qua sự cảm thụ được vui lòng chấp nhận) của phàm ngã đang phát triển. Đừng quên rằng giới này hay tập hợp các linh hồn này chính là điều mà người Ki-tô giáo gọi là Thiên Giới và nhà huyền bí học gọi là Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta. Cũng hãy nhớ rằng mục đích của đời sống tập hợp của nó là khơi dậy sự chứng nghiệm trong tâm thức về sự phân cực tinh thần của SỰ SỐNG hành tinh.

2. As evolution proceeds, the three vehicles—now created and developed—become potent, and their vibration becomes strong enough to attract a measure of attention from the preoccupied soul. The first reaction is irritation. Occult irritation is not crossness, as human beings express it, but response to contact—a response which does not please. In other words, it is friction. You will, therefore, better understand the meaning of the statement that the last fetter which the Master casts off is [513] irritation. The personality no longer attracts attention; friction therefore ceases, and there is nothing left but a pure channel through which spiritual energy can pour. Irritation, as you understand it, takes place when your personal, self-will, self-esteem, ideas and plans are infringed upon by those of another person. It is not this form of irritation which the Master casts off.

2. Khi tiến hoá tiếp diễn, ba vận cụ—nay đã được tạo ra và phát triển—trở nên mạnh mẽ, và rung động của chúng đủ mạnh để thu hút một mức độ chú ý nào đó từ linh hồn vốn đang bận tâm. Phản ứng đầu tiên là sự bực ứng. Sự bực ứng huyền bí không phải là sự cáu kỉnh như con người biểu lộ, mà là sự đáp ứng với tiếp xúc—một sự đáp ứng không làm hài lòng. Nói cách khác, đó là ma sát. Vì vậy, các bạn sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa của phát biểu rằng xiềng xích cuối cùng mà Chân sư vứt bỏ là [513] sự bực ứng. Phàm ngã không còn thu hút sự chú ý nữa; do đó ma sát chấm dứt, và không còn gì ngoài một kênh thuần khiết qua đó năng lượng tinh thần có thể tuôn đổ. Sự bực ứng, theo cách các bạn hiểu, xảy ra khi ý chí riêng, lòng tự trọng, ý tưởng và kế hoạch cá nhân của các bạn bị xâm phạm bởi những điều tương tự của một người khác. Không phải hình thức bực ứng này là điều mà Chân sư vứt bỏ.

The second reaction is that of a meditation process or the generation of power, later to be used in the three worlds to enhance soul energy within the form and to create the field of knowledge, peopled by the thoughtforms into which the personality will later venture. The soul is therefore preparing for its own reorientation towards Life and its expression in the three worlds, and not to the gaining of life experience.

Phản ứng thứ hai là một tiến trình tham thiền hay sự phát sinh quyền năng, về sau sẽ được sử dụng trong ba cõi giới để tăng cường năng lượng linh hồn trong hình tướng và tạo ra trường tri thức, được cư ngụ bởi các hình tư tưởng mà về sau phàm ngã sẽ bước vào. Vì vậy linh hồn đang chuẩn bị cho sự tái định hướng của chính nó hướng về Sự sống và sự biểu hiện của Sự sống trong ba cõi giới, chứ không phải hướng tới việc thu nhận kinh nghiệm sống.

3. When the personality becomes dominant, the soul introduces a new factor into the life of its reflection, the incarnating soul. It mobilises and focusses the energy of the soul ray, and by an act of the will brings it into direct contact with the ray of the personality. This has a reflex action on the rays of the threefold lower man, stimulating them, awakening them, and conditioning the etheric body so that the centres, through which the personality rays are pouring, and the head centre which is responsive to the soul ray, can become more active. The ajna centre, through which the personality works, intensifies its activity, and two things occur:

3. Khi phàm ngã trở nên chi phối, linh hồn đưa vào đời sống của phản chiếu của nó, tức linh hồn nhập thể, một yếu tố mới. Nó huy động và tập trung năng lượng của cung linh hồn, và bằng một hành động của ý chí đưa năng lượng ấy vào tiếp xúc trực tiếp với cung của phàm ngã. Điều này tạo ra một tác động phản xạ lên các cung của phàm nhân tam phân, kích thích chúng, đánh thức chúng, và tác động lên thể dĩ thái để các trung tâm, qua đó các cung phàm ngã đang tuôn đổ, cùng trung tâm đầu vốn đáp ứng với cung linh hồn, có thể trở nên hoạt động hơn. Trung tâm ajna, qua đó phàm ngã hoạt động, tăng cường hoạt động của nó, và hai điều xảy ra:

a. The personality life becomes increasingly potent and the man develops into an intense individual.

a. Đời sống phàm ngã ngày càng mạnh mẽ và con người phát triển thành một cá nhân mãnh liệt.

b. The head centre begins to exert an influence upon the ajna centre, and slowly and gradually upon the centre at the base of the spine. Self-will grows as do all the qualities. [514]

b. Trung tâm đầu bắt đầu gây ảnh hưởng lên trung tâm ajna, và chậm rãi dần dần lên trung tâm ở đáy cột sống. Ý chí riêng tăng trưởng cũng như mọi phẩm tính khác. [514]

4. The soul is now in what esotericists call “a process of reversal.” This produces a great interest in its reflection in the three worlds, and three things then happen:

4. Giờ đây linh hồn ở trong điều mà các nhà bí truyền học gọi là “một tiến trình đảo ngược.” Điều này tạo ra một mối quan tâm lớn đối với phản chiếu của nó trong ba cõi giới, và rồi ba điều xảy ra:

a. The lower concrete mind becomes subject to illumination from the soul.

a. Hạ trí cụ thể trở nên chịu sự soi sáng từ linh hồn.

b. The energy of the soul ray increasingly pours into the personality, intensifying its conflict.

b. Năng lượng của cung linh hồn ngày càng tuôn vào phàm ngã, làm tăng cường xung đột của nó.

c. The path of the man around the zodiac from Aries via Pisces to Taurus is reversed and he then proceeds anti-clockwise.

c. Con đường của con người quanh vòng hoàng đạo từ Bạch Dương qua Song Ngư đến Kim Ngưu bị đảo ngược và khi đó y tiến hành theo chiều ngược kim đồng hồ.

All these factors produce violent conflict upon the Probationary Path, which increases as the man steps upon the Path of Discipleship. The potency of the personality, dominant and being dominated, is that which induces an intense karmic activity. Events and circumstances pile fast and furiously into the experience of the disciple. His environment is of the highest quality available in the three worlds; his experience fluctuates between the extremes; he works off his karmic obligations and pays the penalty of past mistakes with great rapidity.

Tất cả các yếu tố này tạo ra xung đột dữ dội trên Con Đường Dự Bị, và xung đột ấy gia tăng khi con người bước lên Con Đường Đệ Tử. Chính sức mạnh của phàm ngã, vừa chi phối vừa bị chi phối, là điều gây ra một hoạt động nghiệp quả mãnh liệt. Các biến cố và hoàn cảnh dồn dập, dữ dội tràn vào kinh nghiệm của đệ tử. Môi trường của y là loại cao nhất có thể có trong ba cõi giới; kinh nghiệm của y dao động giữa các cực điểm; y giải quyết các nghĩa vụ nghiệp quả của mình và trả giá cho những sai lầm quá khứ với tốc độ rất nhanh.

All this time, incarnation succeeds incarnation and the familiar process of death, intervening between cycles of experience, goes on. However, all the three deaths—physical, astral and mental—are carried out with a steadily awakening state of awareness, as the lower mind develops; the man no longer drifts—asleep and unknowing—out of the etheric, astral and mental vehicles, but each of them becomes as much an event as is physical death.

Trong suốt thời gian này, lần nhập thể nối tiếp lần nhập thể và tiến trình quen thuộc của cái chết, xen giữa các chu kỳ kinh nghiệm, vẫn tiếp diễn. Tuy nhiên, cả ba cái chết—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—đều được thực hiện với một trạng thái nhận biết ngày càng thức tỉnh, khi hạ trí phát triển; con người không còn trôi đi—trong giấc ngủ và không hay biết—ra khỏi các vận cụ dĩ thái, cảm dục và trí tuệ nữa, mà mỗi cái chết trong số đó trở thành một biến cố cũng quan trọng như cái chết hồng trần.

Finally the time comes when the disciple dies with deliberation and in full consciousness, and with real knowledge relinquishes his various vehicles. Steadily the soul takes control, and then the disciple brings about death through an act of the soul-will and knows exactly what he is doing.

Cuối cùng thời điểm đến khi đệ tử chết một cách có chủ ý và trong đầy đủ tâm thức, và với tri thức thực sự, từ bỏ các vận cụ khác nhau của mình. Dần dần linh hồn nắm quyền kiểm soát, và rồi đệ tử tạo ra cái chết bằng một hành động của ý chí linh hồn và biết chính xác mình đang làm gì.

The Elimination of the Personality Thoughtform — Sự loại bỏ hình tư tưởng của phàm ngã

[515]

[515]

In dealing with this subject (and it can only be done very briefly) two things must be borne in mind:

Khi bàn đến chủ đề này (và điều đó chỉ có thể được thực hiện rất ngắn gọn), cần ghi nhớ hai điều:

1. That we are considering solely an idea in the mind of the soul and dealing with the basic fact of the illusion which has controlled the entire cycle of incarnation and so held the soul a prisoner to form. To the soul, the personality connotes two things.

1. Rằng chúng ta chỉ đang xem xét một ý tưởng trong trí tuệ của linh hồn và đang đề cập đến sự kiện căn bản của ảo tưởng đã kiểm soát toàn bộ chu kỳ nhập thể và do đó giam giữ linh hồn làm tù nhân của hình tướng. Đối với linh hồn, phàm ngã hàm ý hai điều.

a. The soul’s capacity for identification with form; this is first of all realised by the soul when the personality is beginning to react to a measure of real integration.

a. Năng lực của linh hồn trong việc đồng hoá với hình tướng; điều này trước hết được linh hồn nhận ra khi phàm ngã bắt đầu đáp ứng với một mức độ tích hợp thực sự.

b. An opportunity for initiation.

b. Một cơ hội để điểm đạo.

2. That the elimination of the thoughtform of the personality, which is consummated at the third initiation, is a great initiation for the soul on its own plane. For this reason, the third initiation is regarded as the first major initiation, since the two previous initiations have very little effect upon the soul and only affect the incarnated soul, the “fragment” of the whole.

2. Rằng sự loại bỏ hình tư tưởng của phàm ngã, được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ ba, là một cuộc điểm đạo lớn đối với linh hồn trên cõi riêng của nó. Vì lý do này, lần điểm đạo thứ ba được xem là cuộc điểm đạo lớn đầu tiên, vì hai lần điểm đạo trước đó có rất ít tác động lên linh hồn và chỉ ảnh hưởng đến linh hồn nhập thể, “mảnh” của toàn thể.

These are facts which are little realised and seldom emphasised in any of the literature hitherto published. The emphasis up till now has been upon the initiations as they affect the disciple in the three worlds. But I am specifically dealing with the initiations as they affect or do not affect the soul, overshadowing its reflection, the personality, in the three worlds. What I have said, therefore, will have little meaning for the average reader.

Đây là những sự kiện ít được chứng nghiệm và hiếm khi được nhấn mạnh trong bất kỳ tài liệu nào đã được xuất bản cho đến nay. Sự nhấn mạnh từ trước đến nay là vào các cuộc điểm đạo khi chúng ảnh hưởng đến đệ tử trong ba cõi giới. Nhưng tôi đang đặc biệt bàn đến các cuộc điểm đạo khi chúng ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến linh hồn, vốn phủ bóng phản chiếu của nó là phàm ngã trong ba cõi giới. Vì vậy, điều tôi đã nói sẽ có rất ít ý nghĩa đối với độc giả trung bình.

From the angle of the personal self, regarding itself as the Dweller on the Threshold, the attitude or state of mind has been inadequately portrayed as one of complete obliteration in the light of the soul; the glory of the Presence, transmuted [516] by the Angel, is such that the personality completely disappears, with its demands and its aspirations. Naught is left but the shell, the sheath and the instrument through which the solar light can pour for the helping of humanity. This is true to a certain degree, but is only—in the last analysis—man’s attempt to put into words the transmuting and the transfiguring effect of the third initiation, which cannot be done.

Từ góc độ của bản ngã cá nhân, tự xem mình là Kẻ Chận Ngõ, thái độ hay trạng thái trí tuệ đã được mô tả chưa đầy đủ như là một sự xóa sạch hoàn toàn trong ánh sáng của linh hồn; vinh quang của Hiện Diện, được chuyển hoá [516] bởi Thiên Thần, lớn đến mức phàm ngã hoàn toàn biến mất, cùng với các đòi hỏi và khát vọng của nó. Không còn gì ngoài cái vỏ, cái bao và công cụ qua đó ánh sáng thái dương có thể tuôn đổ để trợ giúp nhân loại. Điều này đúng ở một mức độ nào đó, nhưng rốt cuộc chỉ là nỗ lực của con người nhằm diễn đạt bằng lời hiệu quả chuyển hoá và Biến hình của lần điểm đạo thứ ba, điều không thể làm được.

Infinitely more difficult is the attempt I am here making to depict the attitude and the reactions of the soul, the one self, the Master in the heart, as it recognises the stupendous fact of its own essential liberation and realises once and for all, that it is now incapable of responding in any way to lower vibrations of the three worlds, as transmitted to the soul by its instrument of contact, the personality form. That form is now incapable of transmission.

Khó khăn hơn vô cùng là nỗ lực mà tôi đang thực hiện ở đây để mô tả thái độ và các phản ứng của linh hồn, bản ngã duy nhất, vị Chân sư trong tim, khi nó nhận ra sự kiện phi thường về sự giải thoát cốt yếu của chính mình và chứng nghiệm một lần là mãi mãi rằng giờ đây nó không còn khả năng đáp ứng theo bất kỳ cách nào đối với các rung động thấp hơn của ba cõi giới, như được truyền đến linh hồn bởi công cụ tiếp xúc của nó là hình tướng phàm ngã. Hình tướng ấy giờ đây không còn khả năng truyền dẫn.

The second reaction of the soul, once this realisation has been focussed and admitted, is that—having achieved freedom—that freedom now conveys its own demands:

Phản ứng thứ hai của linh hồn, một khi sự chứng nghiệm này đã được tập trung và thừa nhận, là—sau khi đã đạt được tự do—sự tự do ấy giờ đây mang theo những đòi hỏi riêng của nó:

1. For a life of service in the three worlds, so familiar and now so completely transcended.

1. Một đời sống phụng sự trong ba cõi giới, vốn rất quen thuộc và nay đã được siêu vượt hoàn toàn.

2. An overshadowing sense of outgoing love towards those who are, as yet, seeking liberation.

2. Một cảm thức bác ái tuôn ra bao trùm đối với những người vẫn còn đang tìm kiếm sự giải thoát.

3. A recognition of the essential triangle which has now become the centre of the conceptual life of the soul:

3. Một sự nhận biết về tam giác cốt yếu, giờ đây đã trở thành trung tâm của đời sống khái niệm của linh hồn:

[517]

[517]

The soul now vibrates between the two points or pairs of opposites and acts as an invocative and evocative centre.

Giờ đây linh hồn rung động giữa hai điểm hay hai cặp đối cực và hoạt động như một trung tâm khẩn cầu và gợi lên.

None of the above realisations may be registered in the brain consciousness or in the mind of the illumined personality. Theoretically, some dim vision of the inherent possibilities may be sensed, but the consciousness is no longer that of the serving disciple in the three worlds, using mind, emotions and physical body to carry out behest and hierarchical intent, as far as may be. That has disappeared with the death of the personality consciousness. The consciousness is now that of the soul itself, aware of no separation, instinctively active, spiritually obsessed by the plans of the Kingdom of God, and completely free from the lure or the faintest control of matter-form; the soul is, however, still responsive to and immersed in substance-energy, and its higher correspondence is still functioning on the levels of the cosmic physical plane—the buddhic, atmic, monadic and logoic planes.

Không một chứng nghiệm nào ở trên có thể được ghi nhận trong tâm thức não bộ hay trong trí tuệ của phàm ngã được soi sáng. Về mặt lý thuyết, có thể cảm nhận được một linh ảnh mờ nhạt nào đó về các khả năng vốn có, nhưng tâm thức không còn là tâm thức của người đệ tử phụng sự trong ba cõi giới, sử dụng trí tuệ, cảm xúc và thể xác để thực hiện mệnh lệnh và ý định của Thánh Đoàn trong mức có thể. Điều đó đã biến mất cùng với cái chết của tâm thức phàm ngã. Giờ đây tâm thức là tâm thức của chính linh hồn, không nhận biết sự phân ly nào, hoạt động theo bản năng, bị ám ảnh một cách tinh thần bởi các kế hoạch của Thiên Giới, và hoàn toàn tự do khỏi sự quyến rũ hay sự kiểm soát dù mờ nhạt nhất của vật chất-hình tướng; tuy nhiên, linh hồn vẫn còn đáp ứng với và đắm mình trong năng lượng-chất liệu, và đối phần cao hơn của nó vẫn còn hoạt động trên các cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ—các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoi.

What then must take place if the life of the soul is to be full and complete and so thoroughly inclusive that the three worlds form part of its area of awareness and its field of service? The only way in which I can make clear to you what the soul must do after the third initiation is to sum it up in two ways:

Vậy thì điều gì phải diễn ra nếu đời sống của linh hồn phải viên mãn và trọn vẹn, và bao gồm đến mức ba cõi giới tạo thành một phần trong phạm vi nhận biết và lĩnh vực phụng sự của nó? Cách duy nhất để tôi có thể làm rõ cho các bạn điều linh hồn phải làm sau lần điểm đạo thứ ba là tóm lược theo hai cách:

First: The soul now becomes a conscious creator because the third aspect—developed and mastered through experience in the three worlds during the long cycle of incarnations—has reached a point of perfected activity. Putting it technically: the energy of the knowledge petals and the energy of the love petals are now so actively fused and blended that two of the inner petals, surrounding the jewel in the lotus, are no longer acting [518] as veils to that jewel. I am here speaking symbolically. Because of this happening, the death or the elimination of the personality is the first activity in the drama of conscious creation, and the first form created by the soul is a substitute for the personality. Thus an instrument for service in the three worlds is created. This time, however, it is an instrument with no life, no desire, no ambition and no power of thought of its own. It is only a sheath of substance, animated by soul life but—at the same time—responsive to and suited to the period, race and the environing conditions wherein the creating soul chooses to work. Think this statement out and emphasise the words “suited to.”

Thứ nhất: Giờ đây linh hồn trở thành một đấng sáng tạo có ý thức vì phương diện thứ ba—được phát triển và làm chủ qua kinh nghiệm trong ba cõi giới suốt chu kỳ dài của các lần nhập thể—đã đạt đến một điểm hoạt động hoàn hảo. Nói theo thuật ngữ kỹ thuật: năng lượng của các cánh hoa tri thức và năng lượng của các cánh hoa bác ái giờ đây được dung hợp và hòa trộn tích cực đến mức hai cánh hoa bên trong, bao quanh ngọc châu trong hoa sen, không còn hoạt động [518] như những tấm màn che ngọc châu ấy nữa. Ở đây tôi đang nói một cách biểu tượng. Do biến cố này, cái chết hay sự loại bỏ phàm ngã là hoạt động đầu tiên trong vở kịch của sự sáng tạo có ý thức, và hình tướng đầu tiên do linh hồn tạo ra là một vật thay thế cho phàm ngã. Như vậy một công cụ để phụng sự trong ba cõi giới được tạo ra. Tuy nhiên lần này, đó là một công cụ không có sự sống, không có ham muốn, không có tham vọng và không có năng lực tư tưởng riêng. Nó chỉ là một cái bao bằng chất liệu, được sự sống linh hồn làm sinh động nhưng—đồng thời—đáp ứng với và thích hợp với thời kỳ, nhân loại và các điều kiện môi trường mà linh hồn sáng tạo chọn để hoạt động. Hãy suy nghĩ kỹ về phát biểu này và nhấn mạnh các từ “thích hợp với.”

Second. The soul then prepares itself for the coming fourth initiation. This is basically a monadic experience and results—as you know—in the disappearance or destruction of the soul vehicle or causal body, and the establishment, therefore, of a direct relation between the monad on its own plane and the newly created personality, via the antahkarana.

Thứ hai. Khi đó linh hồn chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư sắp đến. Về căn bản đây là một kinh nghiệm chân thần và dẫn đến—như các bạn biết—sự biến mất hay hủy diệt của vận cụ linh hồn hay thể nguyên nhân, và do đó thiết lập một mối liên hệ trực tiếp giữa chân thần trên cõi riêng của nó và phàm ngã mới được tạo ra, qua antahkarana.

These two points are given to you for the first time in the sequential giving out of the occult teaching; hints have, however, prepared the way for these two facts. Information has also been given anent the mayavirupa through which the Master works and contacts the three worlds and which He deliberately creates in order to serve His purposes and plans. It is a definite substitute for the personality and can only be created when the old personality (built and developed during the cycle of incarnation) has been eliminated. I prefer the word “eliminated” to the word “destroyed.” The structure—at the time of elimination—persists, but its separative life has gone.

Hai điểm này được trao cho các bạn lần đầu tiên trong trình tự truyền ra giáo huấn huyền bí; tuy nhiên, các ám chỉ đã chuẩn bị đường cho hai sự kiện này. Thông tin cũng đã được đưa ra liên quan đến mayavirupa mà qua đó Chân sư hoạt động và tiếp xúc với ba cõi giới, và Ngài cố ý tạo ra nó để phụng sự các mục đích và kế hoạch của Ngài. Nó là một vật thay thế xác định cho phàm ngã và chỉ có thể được tạo ra khi phàm ngã cũ (được xây dựng và phát triển trong chu kỳ nhập thể) đã bị loại bỏ. Tôi thích từ “loại bỏ” hơn từ “hủy diệt.” Cấu trúc—vào lúc bị loại bỏ—vẫn tồn tại, nhưng sự sống phân ly của nó đã mất đi.

[519]

[519]

If you will think clearly about this statement, you will see that a very complete integration is now possible. The personality life has been absorbed; the personality form is still left, but it persists without any real life of its own; this means that it can now be the recipient of energies and forces needed by the working initiate or Master in order to carry on the work or salvaging humanity. Students would find it of value to study the three “appearances of the Christ” as recorded in the Gospel story:

Nếu các bạn suy nghĩ rõ ràng về phát biểu này, các bạn sẽ thấy rằng giờ đây một sự tích hợp rất hoàn chỉnh là điều khả hữu. Đời sống phàm ngã đã được hấp thu; hình tướng phàm ngã vẫn còn đó, nhưng nó tồn tại mà không có sự sống thực sự nào của riêng nó; điều này có nghĩa là giờ đây nó có thể là kẻ tiếp nhận các năng lượng và mãnh lực mà điểm đạo đồ hay Chân sư đang hoạt động cần đến để tiếp tục công việc cứu vớt nhân loại. Đạo sinh sẽ thấy có ích nếu nghiên cứu ba “sự xuất hiện của Đức Christ” như được ghi lại trong câu chuyện Phúc Âm:

1. His transfigured appearance upon the Mount of Transfiguration. That episode depicts symbolically the radiant soul, and also the three vacated bodies of the personality, and hints also at a future building of a vehicle of manifestation. St. Peter says, “Lord, let us here build three huts” or tabernacles.

1. Sắc tướng Biến hình của Ngài trên Núi Biến Hình. Biến cố đó mô tả một cách biểu tượng linh hồn rạng ngời, và cũng mô tả ba thể bị bỏ trống của phàm ngã, đồng thời cũng ám chỉ đến việc xây dựng trong tương lai một vận cụ biểu hiện. Thánh Peter nói: “Lạy Chúa, xin cho chúng con dựng ở đây ba lều” hay ba nhà tạm.

2. His appearance as truth itself (silent yet present) before the bar or judgment seat of Pilate—repudiated by the world of men but recognised by the Hierarchy.

2. Sự xuất hiện của Ngài như chính chân lý (im lặng nhưng hiện diện) trước pháp đình hay tòa xét xử của Pilate—bị thế giới loài người chối bỏ nhưng được Thánh Đoàn công nhận.

3. His radiant appearances after the resurrection initiation:

3. Những lần xuất hiện rạng ngời của Ngài sau cuộc điểm đạo phục sinh:

a. To the woman at the sepulchre—symbolising His contact with Humanity.

a. Với người phụ nữ bên mộ—biểu tượng cho sự tiếp xúc của Ngài với Nhân Loại.

b. To the two disciples on the way to Emmaus—symbolising His contact with the Hierarchy.

b. Với hai đệ tử trên đường đến Emmaus—biểu tượng cho sự tiếp xúc của Ngài với Thánh Đoàn.

c. To the twelve disciples in the upper chamber—symbolising His contact with the Council Chamber of the Lord of the World at Shamballa.

c. Với mười hai đệ tử trong phòng trên lầu—biểu tượng cho sự tiếp xúc của Ngài với Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa.

You can thus see the factual nature of the results to which I earlier referred in this instruction. The disciple who has eliminated (in the technical sense as well as in the mystical sense) the hold of the personality has now the “freedom of the Ashram,” as it is called; he can move at will among his fellow disciples and initiates. There will be nothing in his [520] vibratory life or his quality which can disturb the rhythm of the Ashram; there will be nothing to call forth the “calming intervention” of the Master, as is frequently the case during the earlier stages of discipleship; nothing can now interfere with those higher contacts and spheres of influence which have hitherto been sealed to the disciple because of the intrusion of his own personality.

Như vậy các bạn có thể thấy bản chất thực tế của các kết quả mà trước đây tôi đã đề cập trong huấn thị này. Đệ tử đã loại bỏ (theo nghĩa kỹ thuật cũng như theo nghĩa thần bí) sự kềm giữ của phàm ngã giờ đây có “tự do của Ashram”, như cách gọi; y có thể di chuyển tùy ý giữa các đệ tử đồng môn và các điểm đạo đồ của mình. Sẽ không có gì trong đời sống rung động [520] hay phẩm tính của y có thể làm xáo trộn nhịp điệu của ashram; sẽ không có gì gọi ra “sự can thiệp làm dịu” của Chân sư, như thường xảy ra trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử; giờ đây không gì có thể cản trở những tiếp xúc cao hơn và những phạm vi ảnh hưởng vốn trước đây đã bị niêm phong đối với đệ tử vì sự xâm nhập của chính phàm ngã của y.

PART THREE - The Fundamental Laws of Healing — PHẦN BA - Các Định luật Căn bản của Sự Chữa Lành

[521]

[521]

We have now completed two sections of our consideration of the art of healing. We have dealt somewhat cursorily with the causes of disease and have noted that they emanate as a whole from three main sources: the psychological state of the patient, his karmic liabilities, and those which are incurred through his group relationship, environal, national or planetary. I then dealt with certain basic requirements of conditions and attitudes which must be established between the healer and the patient, and finally I took up the subject of death. I considered it as it affected the three transitory vehicles, emphasising its divine nature and its constructive purpose. We now reach the section in which the Laws of Healing and the Rules which should condition the healing process must be briefly considered.

Giờ đây chúng ta đã hoàn tất hai phần trong việc xem xét nghệ thuật chữa lành. Chúng ta đã bàn khá sơ lược về các nguyên nhân của bệnh tật và đã lưu ý rằng xét như một toàn thể, chúng phát xuất từ ba nguồn chính: trạng thái tâm lý của bệnh nhân, các món nợ nghiệp quả của y, và những món nợ phát sinh qua mối liên hệ nhóm của y, thuộc môi trường, quốc gia hay hành tinh. Sau đó tôi đã bàn đến một số đòi hỏi căn bản về các điều kiện và thái độ phải được thiết lập giữa người chữa lành và bệnh nhân, và cuối cùng tôi đã đề cập đến chủ đề cái chết. Tôi đã xem xét nó khi nó ảnh hưởng đến ba vận cụ tạm thời, nhấn mạnh bản chất thiêng liêng và mục đích xây dựng của nó. Giờ đây chúng ta đi đến phần trong đó các Định luật Chữa lành và các quy luật cần tác động lên tiến trình chữa lành phải được xem xét ngắn gọn.

We have found that there are ten laws and six rules. The tenth law will be found too abstruse for much elucidation; it concerns the life principle, of which we as yet know nothing, and is involved with monadic purpose. All occult teaching, which emanates directly from the Hierarchy, contains within it the living seed of that which will follow later. In The Secret Doctrine, for instance, H.P.B. (under my instruction) made occasional reference, very briefly and obscurely, to the antahkarana; she thus left the seed which, [522] when full grown, will indicate the requirements for those who—having achieved the higher initiations—can enter upon the Way of the Higher Evolution. In this tenth law, therefore, I embody also the seed for a much later approach to the problems of Life and Death.

Chúng ta đã thấy rằng có mười định luật và sáu quy luật. Định luật thứ mười sẽ được thấy là quá thâm áo để có thể được làm sáng tỏ nhiều; nó liên quan đến nguyên khí sự sống, điều mà chúng ta hiện chưa biết gì, và dính líu đến mục đích chân thần. Mọi giáo huấn huyền bí, phát xuất trực tiếp từ Thánh Đoàn, đều chứa trong nó hạt giống sống động của điều sẽ đến sau này. Chẳng hạn, trong Giáo Lý Bí Nhiệm, H.P.B. (dưới sự chỉ dẫn của tôi) đôi khi có nhắc đến, rất ngắn gọn và mơ hồ, antahkarana; do đó bà đã để lại hạt giống mà, [522] khi phát triển đầy đủ, sẽ chỉ ra các đòi hỏi dành cho những ai—sau khi đã đạt được các cuộc điểm đạo cao hơn—có thể bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Vì vậy, trong định luật thứ mười này, tôi cũng hàm chứa hạt giống cho một cách tiếp cận muộn hơn rất nhiều đối với các vấn đề của Sự sống và Cái chết.

I would here remind you that a law is in reality the effect of the life of a greater entity as it encloses a lesser within its living processes. It embodies that formulated purpose or organised will of an enfolding life, against which the expressed purpose or determined will of that which is enfolded is entirely helpless. You might argue, brother of mine, that this statement negates the freewill of the individual unit thus enclosed or enfolded. It assuredly does militate against the form aspect of manifestation—that aspect, for instance, of which a human being is pre-eminently conscious. Therefore, this relationship of the higher or greater and the lower or lesser, will equally and assuredly dominate and eventually render futile the lesser laws of the form nature, those which today are called the laws of nature.

Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng một định luật thực ra là hiệu quả của sự sống của một thực thể lớn hơn khi nó bao bọc một thực thể nhỏ hơn trong các tiến trình sống của nó. Nó hiện thân cho mục đích được định thức hay ý chí được tổ chức của một sự sống bao trùm, mà trước đó mục đích được biểu lộ hay ý chí kiên định của cái được bao bọc hoàn toàn bất lực. Huynh đệ của tôi có thể lập luận rằng phát biểu này phủ nhận ý chí tự do của đơn vị cá thể được bao bọc hay bao trùm như vậy. Chắc chắn nó có tác động chống lại phương diện hình tướng của biểu hiện—chẳng hạn phương diện mà một con người nhận biết nổi bật nhất. Vì vậy, mối liên hệ này giữa cái cao hơn hay lớn hơn và cái thấp hơn hay nhỏ hơn cũng sẽ chi phối một cách chắc chắn và cuối cùng làm cho các định luật nhỏ hơn của bản chất hình tướng trở nên vô hiệu, tức những định luật ngày nay được gọi là các định luật của tự nhiên.

Equally essentially, however, the soul within all forms. is at war with those forms, and in its own integral life is conditioned by the higher laws which are the laws of its own being; these it freely obeys and follows, having no slightest wish to do otherwise. There is, therefore, no essential infringement of the freewill of the subject; there is only resistance from that which we call the “not-self” or the material aspect. This might be called the basic cause of all disease.

Tuy nhiên, cũng thiết yếu không kém là linh hồn bên trong mọi hình tướng đang ở trong tình trạng chiến tranh với các hình tướng ấy, và trong đời sống toàn vẹn riêng của nó, nó bị tác động bởi các định luật cao hơn là những định luật của chính bản thể nó; các định luật này nó tự do tuân theo và đi theo, không hề có chút mong muốn nào làm khác đi. Vì vậy, không có sự xâm phạm cốt yếu nào đối với ý chí tự do của chủ thể; chỉ có sự kháng cự từ điều mà chúng ta gọi là “phi-ngã” hay phương diện vật chất. Điều này có thể được gọi là nguyên nhân căn bản của mọi bệnh tật.

What we call the Laws of Nature were the highest phase of the divine life possible in the first solar system. They are primarily the laws inherent in the life aspect of the form and have in them, therefore, the seeds of death. The Laws of the Soul as they subordinate and render negative the Laws of Nature, are the highest laws to which humanity [523] (the highest kingdom in nature at present) can respond, and these—when fulfilled—will conclude the purpose of the second solar system. The Laws of Life itself will finally supersede the Laws of the Soul and will completely offset and negate the Laws of Nature; these laws will be distinctive of the third solar system—the last personality expression of the solar Logos through the medium of the Seven Planetary Logoi with their varying forms and soul expressions.

Điều chúng ta gọi là các Định luật của Tự nhiên là giai đoạn cao nhất của sự sống thiêng liêng có thể có trong hệ mặt trời thứ nhất. Chúng chủ yếu là các định luật vốn có trong phương diện sự sống của hình tướng và do đó chứa trong chúng các hạt giống của cái chết. Các Định luật của Linh hồn, khi chúng chế ngự và làm cho các Định luật của Tự nhiên trở nên tiêu cực, là những định luật cao nhất mà nhân loại [523] (giới cao nhất trong tự nhiên hiện nay) có thể đáp ứng, và những định luật này—khi được hoàn thành—sẽ kết thúc mục đích của hệ mặt trời thứ hai. Các Định luật của chính Sự sống cuối cùng sẽ thay thế các Định luật của Linh hồn và sẽ hoàn toàn hóa giải và phủ định các Định luật của Tự nhiên; các định luật này sẽ là đặc trưng của hệ mặt trời thứ ba—biểu hiện phàm ngã cuối cùng của Thái dương Thượng đế qua trung gian của Bảy Hành Tinh Thượng đế với các hình tướng và biểu hiện linh hồn khác nhau của Các Ngài.

Three Groups of Laws

Ba Nhóm Định luật

We have, therefore, three groups of laws which govern the expression of the living purpose in this second solar system—one developed and another developing, with the third latent and relatively quiescent.

Vì vậy, chúng ta có ba nhóm định luật chi phối sự biểu hiện của mục đích sống trong hệ mặt trời thứ hai này—một nhóm đã phát triển và một nhóm đang phát triển, còn nhóm thứ ba thì tiềm ẩn và tương đối tĩnh.

1. The Laws of Nature—the separative laws of the form nature.

1. Các Định luật của Tự nhiên—những định luật phân ly của bản chất hình tướng.

2. The Laws of the Soul—the blending laws of group integrity.

2. Các Định luật của Linh hồn—những định luật hòa trộn của tính toàn vẹn nhóm.

3. The Laws of Life—the dynamic laws of Being itself.

3. Các Định luật của Sự sống—những định luật năng động của chính Bản Thể.

It is with certain aspects of the Laws of the Soul that we shall now deal, for they concern the integrity and activity of the soul in form. This must be most carefully borne in mind. Disease is something which attacks the integrity or the harmony of the form nature which the inner spiritual man must order to make his contacts in the three worlds which constitute his environment when in incarnation. The ten laws which we shall consider might, therefore, be regarded as ten subsidiary laws of the fundamental Law of Essential Integrity. They constitute nine elaborations or aspects of that one law, and this you must have most carefully in mind. It is with these laws that the true healer must ever work.

Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến một số phương diện của các Định luật của Linh hồn, vì chúng liên quan đến tính toàn vẹn và hoạt động của linh hồn trong hình tướng. Điều này phải được ghi nhớ hết sức cẩn thận. Bệnh tật là điều tấn công vào tính toàn vẹn hay sự hài hòa của bản chất hình tướng mà con người tinh thần bên trong phải điều hành để thực hiện các tiếp xúc của mình trong ba cõi giới, vốn cấu thành môi trường của y khi đang lâm phàm. Vì vậy, mười định luật mà chúng ta sẽ xem xét có thể được coi là mười định luật phụ thuộc của Định luật Toàn vẹn Cốt yếu căn bản. Chúng cấu thành chín sự khai triển hay phương diện của một định luật ấy, và các bạn phải ghi nhớ điều này hết sức cẩn thận. Chính với các định luật này mà người chữa lành chân chính phải luôn luôn làm việc.

[524]

[524]

The six rules deal only with the application of this realised integrity to the conditions and situation with which the healer is confronted. Integrity involves focus, tension and expression (simultaneously realised, consciously generated and dynamically used).

Sáu quy luật chỉ bàn đến việc áp dụng tính toàn vẹn đã được chứng nghiệm này vào các điều kiện và tình huống mà người chữa lành phải đối diện. Tính toàn vẹn bao hàm sự tập trung, nhất tâm và biểu hiện (được chứng nghiệm đồng thời, được tạo ra một cách có ý thức và được sử dụng một cách năng động).

Qualities Required of the Healer

Những phẩm tính cần có của người chữa lành

In the laws and rules which I have given, certain necessary characteristics of the healer are mentioned and certain needed requirements are indicated. These we should register first of all as they not only present qualities and attitudes which are essential to the successful practice of the healing art, but they indicate also why—up till the present time—there has been practically no successful or systematised healing of any patient under any of the current healing schools. There has been what I might call “accidental healing,” due to the fact that the patient would have been healed anyway, for his hour to pass over had not yet arrived. Deliberate conscious healing, with full understanding, has only occurred when the healer was an initiate of high degree, patterning himself upon the life and the nature of the Christ.

Trong các định luật và quy luật mà tôi đã đưa ra, một số đặc tính cần thiết của người chữa lành được nêu lên và một số đòi hỏi cần có được chỉ rõ. Trước hết chúng ta nên ghi nhận những điều này vì chúng không những trình bày các phẩm tính và thái độ thiết yếu cho việc thực hành thành công nghệ thuật chữa lành, mà còn chỉ ra vì sao—cho đến thời điểm hiện nay—hầu như chưa có sự chữa lành thành công hay có hệ thống nào đối với bất kỳ bệnh nhân nào dưới bất kỳ trường phái chữa lành hiện hành nào. Đã có điều mà tôi có thể gọi là “sự chữa lành ngẫu nhiên”, do sự kiện là bệnh nhân dù sao cũng đã được chữa lành, vì giờ ra đi của y vẫn chưa đến. Sự chữa lành có chủ ý và có ý thức, với sự thấu hiểu đầy đủ, chỉ xảy ra khi người chữa lành là một điểm đạo đồ cấp cao, tự khuôn mình theo đời sống và bản chất của Đức Christ.

Let us now look at the indicated qualities and attitudes. I will briefly enumerate and comment.

Giờ đây chúng ta hãy xem xét các phẩm tính và thái độ đã được chỉ ra. Tôi sẽ liệt kê và bình luận ngắn gọn.

1. The power to contact and work as a soul. “The art of the healer consists in releasing the soul.” Think for a moment what this power involves. The healer is not only in immediate and conscious touch with his own soul, but through that soul contact he can easily contact the soul of his patient.

1. Quyền năng tiếp xúc và hoạt động như một linh hồn. “Nghệ thuật của người chữa lành nằm ở việc giải phóng linh hồn.” Hãy suy nghĩ một lát xem quyền năng này bao hàm điều gì. Người chữa lành không những tiếp xúc trực tiếp và có ý thức với linh hồn riêng của mình, mà qua tiếp xúc linh hồn ấy, y còn có thể dễ dàng tiếp xúc với linh hồn của bệnh nhân.

2. The power to command the spiritual will. The particular law involved in the healing act must be “brought into activity by the spiritual will.” This necessitates the capacity to make contact with the Spiritual Triad. [525] Therefore, the antahkarana must be somewhat in process of construction.

2. Quyền năng điều khiển ý chí tinh thần. Định luật đặc biệt liên quan đến hành động chữa lành phải được “đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần.” Điều này đòi hỏi năng lực tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần. [525] Vì vậy, antahkarana phải phần nào đang trong tiến trình được xây dựng.

3. The power to establish telepathic rapport. The healer must “know the inner stage of thought and of desire” of his patient.

3. Quyền năng thiết lập sự liên hệ viễn cảm. Người chữa lành phải “biết giai đoạn bên trong của tư tưởng và ham muốn” của bệnh nhân.

4. He must have exact knowledge. We read that he must “know the point exact through which relief must come.” This is a most important point and one entirely overlooked by the so-called healers in such movements as Christian Science, Unity and others. Healing does not come through an intense affirmation of divinity, or by simply pouring out love and the expression of a vague mysticism. It comes through mastering an exact science of contact, of impression, of invocation, plus an understanding of the subtle apparatus of the etheric vehicle.

4. Y phải có tri thức chính xác. Chúng ta đọc thấy rằng y phải “biết chính xác điểm mà qua đó sự giải nhẹ phải đến.” Đây là một điểm hết sức quan trọng và hoàn toàn bị bỏ qua bởi những người được gọi là người chữa lành trong các phong trào như Christian Science, Unity và những phong trào khác. Sự chữa lành không đến qua một sự khẳng định mãnh liệt về thiên tính, hay chỉ bằng cách tuôn đổ bác ái và biểu lộ một thứ thần bí học mơ hồ. Nó đến qua việc làm chủ một khoa học chính xác về tiếp xúc, cảm thụ, khẩn cầu, cộng với sự thấu hiểu bộ máy vi tế của vận cụ dĩ thái.

5. The power to reverse, reorient and “exalt” the consciousness of the patient. The healer has to “lift the downward focussed eyes unto the soul.” This refers to the eyes of the patient. This statement implies limitation, because if the patient is not at the stage in evolution where this is possible, and at the point in evolution where he can contact his own soul, the work of the healer is rendered inevitably futile. The sphere of action, therefore, of the spiritual healer is strictly limited to those who have faith. Faith, however, is the “evidence of things not seen”; that evidence is largely lacking in the majority. Faith is not wishful thinking or an engineered hope. It is evidence of a well-grounded conviction.

5. Quyền năng đảo ngược, tái định hướng và “nâng cao” tâm thức của bệnh nhân. Người chữa lành phải “nâng đôi mắt đang tập trung xuống thấp lên linh hồn.” Điều này ám chỉ đôi mắt của bệnh nhân. Phát biểu này hàm ý một giới hạn, vì nếu bệnh nhân chưa ở giai đoạn tiến hoá mà điều này là khả hữu, và chưa ở điểm tiến hoá mà y có thể tiếp xúc với linh hồn riêng của mình, thì công việc của người chữa lành tất yếu trở nên vô hiệu. Vì vậy, phạm vi hoạt động của người chữa lành tinh thần bị giới hạn nghiêm ngặt vào những người có đức tin. Tuy nhiên, đức tin là “bằng chứng của những điều không thấy”; bằng chứng ấy phần lớn còn thiếu nơi đa số. Đức tin không phải là sự mong ước viển vông hay một niềm hy vọng được tạo dựng. Nó là bằng chứng của một xác tín có nền tảng vững chắc.

6. Power to direct soul energy to the necessary area. “The spiritual or the third eye then directs the healing force.” This presupposes a scientific technique on the healer’s part and the right functioning of the mechanism of received and directed force within the head.

6. Quyền năng hướng dẫn năng lượng linh hồn đến khu vực cần thiết. “Khi đó con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba hướng dẫn mãnh lực chữa lành.” Điều này giả định nơi người chữa lành có một kỹ thuật khoa học và sự vận hành đúng đắn của bộ máy tiếp nhận và hướng dẫn mãnh lực bên trong đầu.

[526]

[526]

7. Power to express magnetic purity and the needed radiance. “The healer must achieve magnetic purity...and attain dispelling radiance.” This involves great personal discipline in the daily life, and the habit of pure living. Purity inevitably and automatically results in radiance.

7. Quyền năng biểu lộ sự thanh khiết từ tính và bức xạ cần thiết. “Người chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính... và đạt tới bức xạ làm tiêu tan.” Điều này bao hàm kỷ luật cá nhân lớn lao trong đời sống hằng ngày, và thói quen sống thanh khiết. Sự thanh khiết tất yếu và tự động dẫn đến bức xạ.

8. Power to control the activity of the mechanism of the head. The healer must have “linked the centres in the head.” The true healer has established a magnetic area within his head which presents itself or expresses itself through a definitely recognisable radiation.

8. Quyền năng kiểm soát hoạt động của bộ máy đầu. Người chữa lành phải “đã nối kết các trung tâm trong đầu.” Người chữa lành chân chính đã thiết lập một khu vực từ tính trong đầu mình, khu vực này tự trình hiện hay biểu lộ qua một bức xạ có thể nhận biết rõ ràng.

9. Power over his own centres. The healer has to “concentrate the needed energy within the needed centre.” The centre in the patient’s form which is nearest to the seat of the physical trouble has to be made receptive to the energy discharged into it by the corresponding centre in the healer’s body. It will be obvious to you, therefore, how much knowledge and energy-control is required by the true healer.

9. Quyền năng đối với các trung tâm riêng của mình. Người chữa lành phải “tập trung năng lượng cần thiết trong trung tâm cần thiết.” Trung tâm trong hình tướng của bệnh nhân gần nhất với chỗ ngồi của rối loạn hồng trần phải được làm cho tiếp nhận năng lượng được phóng vào đó bởi trung tâm tương ứng trong thể của người chữa lành. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ người chữa lành chân chính cần đến biết bao tri thức và sự kiểm soát năng lượng.

10. Power to utilise both the exoteric and esoteric methods of healing. The healer will employ “methods of occult healing though the ordinary medical and surgical methods will not be withheld.” I have constantly emphasised the God-given nature of experimental medicine—which is a phrase qualifying medicine today, and qualifying still more metaphysical healing. There is no need to call in a spiritual healer for broken bones or for those difficulties which orthodox medicine has already mastered. However, the patient’s general morale and condition can be justifiably helped whilst wise surgery and ameliorating medical knowledge are applied. This the usual so-called metaphysical healer is apt to ignore. Healers will be divided eventually into two groups: [527]

10. Quyền năng sử dụng cả các phương pháp chữa lành ngoại môn lẫn nội môn. Người chữa lành sẽ sử dụng “các phương pháp chữa lành huyền bí dù các phương pháp y khoa và phẫu thuật thông thường sẽ không bị gạt bỏ.” Tôi đã liên tục nhấn mạnh bản chất do Thượng đế ban cho của y học thực nghiệm—một cụm từ dùng để xác định y học ngày nay, và còn xác định sự chữa lành siêu hình học nhiều hơn nữa. Không cần phải gọi một người chữa lành tinh thần đến cho các xương gãy hay cho những khó khăn mà y học chính thống đã làm chủ rồi. Tuy nhiên, tinh thần chung và tình trạng của bệnh nhân có thể được trợ giúp một cách chính đáng trong khi phẫu thuật khôn ngoan và tri thức y học làm giảm nhẹ được áp dụng. Đây là điều mà người chữa lành được gọi là siêu hình học thông thường có khuynh hướng bỏ qua. Cuối cùng những người chữa lành sẽ được chia thành hai nhóm: [527]

a. Those comprising definitely trained spiritual healers.

a. Những người cấu thành các người chữa lành tinh thần được huấn luyện rõ rệt.

b. Healers with less developed power but with enough radiation and magnetism to aid in the ordinary healing process. These will usually work under the guidance of the spiritual healer.

b. Những người chữa lành có quyền năng kém phát triển hơn nhưng có đủ bức xạ và từ điện để hỗ trợ trong tiến trình chữa lành thông thường. Những người này thường sẽ làm việc dưới sự hướng dẫn của người chữa lành tinh thần.

11. Power to work magnetically. “Thus he can pour the vital healing force upon the patient.” This the healer does through a scientific coordination of his equipment, using the hands as a directing agent. In this way the disease can be healed, ameliorated or worsened, even to the point of death. The responsibility of the healer is therefore great.

11. Quyền năng làm việc một cách từ tính. “Nhờ vậy y có thể tuôn mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân.” Người chữa lành làm điều này qua một sự phối hợp khoa học của trang bị của mình, dùng đôi tay như một tác nhân hướng dẫn. Theo cách này bệnh có thể được chữa lành, làm giảm nhẹ hoặc làm nặng thêm, thậm chí đến mức tử vong. Vì vậy trách nhiệm của người chữa lành là rất lớn.

12. Power to work with radiation. “Thus can his presence feed the soul life of the patient.” This again is brought about through a system of coordination, but the agent of radiation is then the aura and not the hands.

12. Quyền năng làm việc với bức xạ. “Nhờ vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng đời sống linh hồn của bệnh nhân.” Điều này lại được thực hiện qua một hệ thống phối hợp, nhưng tác nhân bức xạ khi đó là hào quang chứ không phải đôi tay.

13. Power to practice at all times complete harmlessness. “The method used by the Perfect One...is harmlessness.” This, we are told, involves a positive expression of poise, an inclusive point of view, and divine understanding. How many healers combine these three qualities and also work through love?

13. Quyền năng thực hành tính vô tổn hại hoàn toàn vào mọi lúc. “Phương pháp được Đấng Toàn Thiện sử dụng... là tính vô tổn hại.” Chúng ta được bảo rằng điều này bao hàm một biểu hiện tích cực của sự quân bình, một quan điểm bao gồm, và sự thấu hiểu thiêng liêng. Có bao nhiêu người chữa lành kết hợp được ba phẩm tính này và còn làm việc qua bác ái?

14. Power to control the will and work through love. “The healer...must keep the will in leash.” This is one of the most difficult qualities to be developed, for the will of the healer is frequently so potent in its determination to bring about a healing that it renders the effort to apply that healing process entirely futile. From the reverse angle, frequently the sentimental and mystical desire to love the patient negates all efforts to hold the will in leash. Remember, brother of mine, the spiritual will must be present as a quiet [528] deep pool of power behind all expression of the energy of love.

14. Quyền năng kiểm soát ý chí và làm việc qua bác ái. “Người chữa lành... phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế.” Đây là một trong những phẩm tính khó phát triển nhất, vì ý chí của người chữa lành thường rất mạnh trong quyết tâm tạo ra sự chữa lành đến mức nó làm cho nỗ lực áp dụng tiến trình chữa lành ấy hoàn toàn vô hiệu. Từ góc độ ngược lại, thường thì ham muốn đầy tình cảm và thần bí muốn yêu thương bệnh nhân lại phủ định mọi nỗ lực giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Hãy nhớ, huynh đệ của tôi, ý chí tinh thần phải hiện diện như một [528] hồ sâu quyền năng tĩnh lặng phía sau mọi biểu hiện của năng lượng bác ái.

15. Power eventually to wield the Law of Life. Of this little can be said, for it can only be wielded by those who have developed or who are rapidly developing the consciousness of the Spiritual Triad—a very rare thing as yet.

15. Quyền năng cuối cùng sử dụng Định luật của Sự sống. Về điều này ít có thể nói ra, vì nó chỉ có thể được sử dụng bởi những ai đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần—một điều cho đến nay vẫn còn rất hiếm.

In the study of these requirements there is no need for discouragement. Such a study will serve to set a needed goal for all healers in the New Age. It will also explain why the various healing systems which are practiced today throughout the world (particularly in the Anglo-American countries) have hitherto notably failed, in spite of their claims. None of them—if they kept properly certified records which would be scientifically accurate (and practically none of them do)—would register more than the tiniest percentage of cures based upon pure spiritual healing. The percentage cured is less than one in a million “cures.” These cures would have recovered in any case in due time, if left to nature or to ordinary medical and surgical science.

Trong việc nghiên cứu các đòi hỏi này, không cần phải nản lòng. Việc nghiên cứu như thế sẽ giúp đặt ra một mục tiêu cần thiết cho mọi nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới. Nó cũng sẽ giải thích vì sao các hệ thống trị liệu khác nhau hiện đang được thực hành trên khắp thế giới (đặc biệt tại các quốc gia Anh-Mỹ) cho đến nay đã thất bại một cách rõ rệt, bất chấp những tuyên bố của họ. Không một hệ thống nào trong số đó—nếu họ lưu giữ hồ sơ được chứng thực đúng cách và chính xác về mặt khoa học (mà trên thực tế hầu như không hệ thống nào làm vậy)—có thể ghi nhận hơn một tỉ lệ cực nhỏ những ca chữa lành dựa trên trị liệu tinh thần thuần túy. Tỉ lệ được chữa lành là chưa đến một trên một triệu “ca chữa lành.” Những trường hợp này trong bất cứ trường hợp nào rồi cũng sẽ hồi phục đúng thời gian, nếu được để cho bản chất tự nhiên hoặc cho y học và phẫu thuật thông thường xử lý.

But today, so great is the spiritual stimulation in the world, and so vast are the numbers responding to it, that the moving forward of a large group out of the ranks of average humanity on to the Path of Discipleship is inevitable. This moving forward will provide—during the next five hundred years—many healers who will fulfill to some degree the requirements which I have listed above.

Nhưng ngày nay, sự kích thích tinh thần trong thế giới lớn lao đến mức, và số người đáp ứng với nó đông đảo đến mức, nên việc một nhóm lớn tiến lên từ hàng ngũ nhân loại trung bình để bước vào Con Đường Đệ Tử là điều không thể tránh khỏi. Sự tiến lên này sẽ cung cấp—trong năm trăm năm tới—nhiều nhà trị liệu, những người sẽ đáp ứng ở một mức độ nào đó các đòi hỏi mà tôi đã liệt kê ở trên.

The philosophies endorsed by the various systems such as Unity and Christian Science are basically sound and state the fundamental platitudes (the essential truths, nevertheless) which underlie all that I have said above. People, however, are not healed by the enunciation of platitudes, by [529] the affirmation of divinity or by the statement of abstract theories. They will be healed when the right time comes because of the ability of the healer in the New Age to express in himself and in his daily life the quality of divinity, to be spiritually capable of invoking the soul of his patient, and also to be magnetically pure, and through the power of a particular type of radiated energy to stimulate the patient to heal himself—through the medium of his own inner mechanism. The healer in the New Age will possess the ability to make the following contacts with both ease and understanding:

Các triết lý được các hệ thống khác nhau như Unity và Christian Science tán thành về căn bản là đúng đắn và nêu ra những chân lý hiển nhiên nền tảng (dẫu vậy vẫn là những chân lý cốt yếu) làm cơ sở cho tất cả những gì tôi đã nói ở trên. Tuy nhiên, con người không được chữa lành bằng việc tuyên bố những chân lý hiển nhiên, bằng [529] sự khẳng định thiên tính hay bằng việc phát biểu các lý thuyết trừu tượng. Họ sẽ được chữa lành khi thời điểm thích hợp đến, nhờ khả năng của nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới biểu lộ nơi chính mình và trong đời sống hằng ngày của mình phẩm tính của thiên tính, có đủ năng lực tinh thần để khẩn cầu linh hồn của bệnh nhân, đồng thời có sự thanh khiết từ tính, và nhờ quyền năng của một loại năng lượng bức xạ đặc thù mà kích thích bệnh nhân tự chữa lành chính mình—thông qua bộ máy bên trong của chính y. Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ có khả năng thực hiện những tiếp xúc sau đây một cách dễ dàng và với sự thấu hiểu:

1. With his own soul.

1. Với linh hồn của chính mình.

2. With the soul of the patient.

2. Với linh hồn của bệnh nhân.

3. With the particular type of energy which is to be found either in the soul or the personality ray of the patient.

3. Với loại năng lượng đặc thù có thể được tìm thấy hoặc trong cung linh hồn hoặc trong cung phàm ngã của bệnh nhân.

4. With any one of his own centres which is needed by him in order to act as a transmitting agency for energy to be sent into an area governed by some centre in the body of the patient.

4. Với bất kỳ trung tâm nào của chính mình mà y cần dùng để hoạt động như một tác nhân truyền dẫn năng lượng được gửi vào một khu vực do một trung tâm nào đó trong thể của bệnh nhân chi phối.

5. With the centre in the patient’s etheric body which controls the area where the disease is located.

5. Với trung tâm trong thể dĩ thái của bệnh nhân kiểm soát khu vực nơi bệnh tật tọa lạc.

This, as you can appreciate, connotes much technical knowledge. Added to this, the healer must also possess that spiritual perception which will enable him to intuit the “karma of the moment,” as it is esoterically called, and therefore to know if a cure is permissible, practicable, or impossible. This is a form of knowledge which no healer in the world at this time possesses, no matter what his claim may be. Again I say, this is no cause for discouragement.

Điều này, như bạn có thể nhận thấy, hàm ý rất nhiều tri thức kỹ thuật. Thêm vào đó, nhà trị liệu còn phải sở hữu linh thị tinh thần giúp y trực nhận được “nghiệp quả của khoảnh khắc,” như cách gọi trong huyền bí học, và do đó biết được liệu việc chữa lành có được phép, có khả thi hay là bất khả. Đây là một dạng tri thức mà hiện nay không một nhà trị liệu nào trên thế giới sở hữu, bất kể tuyên bố của họ là gì. Tôi lại nói rằng, đây không phải là lý do để nản lòng.

What is truly needed, and what will be brought about as the decades elapse, will be that disciples and men and women of spiritual orientation will enter the medical profession [530] and perfect themselves in the techniques of orthodox medicine and in an exoteric knowledge of physical anatomy and of pathological symptoms, plus the orthodox remedies and modes of handling disease. To this technical knowledge and understanding they will add a measure of esoteric learning, and they will then begin to combine, whilst practising their profession, both the exoteric and the esoteric wisdom which is theirs. This will at first be purely experimental, but out of the experience gained in utilising both fields of knowledge a new medical science will emerge, based upon two paramount recognised factors:

Điều thực sự cần thiết, và điều sẽ được mang lại khi các thập niên trôi qua, là các đệ tử và những người nam và nữ có định hướng tinh thần sẽ bước vào ngành y [530] và hoàn thiện mình trong các kỹ thuật của y học chính thống cũng như trong tri thức ngoại môn về giải phẫu học hồng trần và các triệu chứng bệnh lý, cùng với các phương thuốc và phương thức xử lý bệnh tật chính thống. Vào tri thức và sự thấu hiểu kỹ thuật này, họ sẽ thêm vào một mức độ học hỏi huyền bí, và rồi khi hành nghề, họ sẽ bắt đầu kết hợp cả minh triết ngoại môn lẫn nội môn vốn là của họ. Ban đầu điều này sẽ hoàn toàn có tính thực nghiệm, nhưng từ kinh nghiệm thu được trong việc sử dụng cả hai lĩnh vực tri thức, một khoa học y học mới sẽ xuất hiện, dựa trên hai yếu tố tối quan trọng đã được công nhận:

1. A cumulative mass of knowledge and information anent the dense physical vehicle. This has been accumulated by men of science down the ages and is largely proven and true.

1. Một khối lượng tri thức và thông tin tích lũy liên quan đến vận cụ hồng trần đậm đặc. Điều này đã được các nhà khoa học tích lũy qua nhiều thời đại và phần lớn đã được chứng minh là đúng và chân thực.

2. A constantly growing understanding of the nature of the etheric body, of the centres, and of the transmission and circulation of certain controlled energies.

2. Một sự thấu hiểu ngày càng tăng về bản chất của thể dĩ thái, của các trung tâm, và về sự truyền dẫn cùng lưu thông của một số năng lượng được kiểm soát.

This combination of two aspects of truth will be greatly facilitated by the increasing sensitivity and almost clairvoyant perception of developing humanity. One of the outstanding results of the recent world war will be found to be a tremendously increased capacity for nervous reaction. This nervous receptivity is at present abnormal and the results are sad. The reason for this is that the nervous apparatus of the average human being (and by that I mean his nervous system, plus the nadis which underlie it) is not yet adequate to the demands upon it. Time, however, will adjust all this.

Sự kết hợp của hai phương diện chân lý này sẽ được tạo điều kiện rất nhiều nhờ tính nhạy cảm ngày càng tăng và tri giác gần như thông nhãn của nhân loại đang phát triển. Một trong những kết quả nổi bật của cuộc thế chiến gần đây sẽ được thấy là năng lực phản ứng thần kinh tăng lên vô cùng mạnh mẽ. Hiện nay tính tiếp nhận thần kinh này là bất thường và các kết quả thì đáng buồn. Lý do là vì bộ máy thần kinh của con người trung bình (và bởi đó tôi muốn nói đến hệ thần kinh của y, cộng với các nadis làm nền cho nó) vẫn chưa đủ đáp ứng những đòi hỏi đặt lên nó. Tuy nhiên, thời gian sẽ điều chỉnh tất cả điều này.

Both metaphysical healers and orthodox medical men at this time are apt to repudiate each other with much violence. Taking it as a whole, the orthodox physician is less rabid and exclusive than the modern metaphysician. They [531] know too well the limitations of their present medical attainments. But the so-called spiritual healer recognises at present no limitations, and this definitely constitutes a weakness. Both groups, in time, must become collaborators with each other and not opponents. Both have much to learn from each other, and both must recognise that the particular fields of knowledge for which they stand are equally a divine expression and indicate the ability of the human mind to search, to record, to discover and to formulate truth, so that others may benefit thereby.

Hiện nay cả các nhà trị liệu siêu hình lẫn các bác sĩ y học chính thống đều có khuynh hướng bác bỏ nhau một cách rất quyết liệt. Xét tổng thể, vị bác sĩ chính thống ít cuồng tín và độc tôn hơn nhà siêu hình học hiện đại. Họ [531] biết quá rõ những giới hạn của thành tựu y học hiện nay của mình. Nhưng cái gọi là nhà trị liệu tinh thần hiện nay lại không thừa nhận bất kỳ giới hạn nào, và điều này rõ ràng cấu thành một nhược điểm. Theo thời gian, cả hai nhóm phải trở thành những cộng tác viên của nhau chứ không phải đối thủ của nhau. Cả hai đều có nhiều điều để học hỏi từ nhau, và cả hai phải thừa nhận rằng những lĩnh vực tri thức đặc thù mà họ đại diện đều là một biểu hiện thiêng liêng như nhau và cho thấy khả năng của trí tuệ con người trong việc tìm kiếm, ghi nhận, khám phá và hình thành chân lý để những người khác có thể nhờ đó mà được lợi ích.

I would recall to your attention the fact that both groups have much to do—the one in penetrating into the realm of the subtle and the intangible (and this is rapidly being done), and the other in descending from its vague abstractions and impractical generalisations in order to learn to recognise the facts anent the objective and the tangible; this is not as yet being done; metaphysical healing, so-called, is lost amidst a mist of words and high-sounding affirmations.

Tôi muốn nhắc bạn lưu ý đến sự kiện rằng cả hai nhóm đều còn nhiều việc phải làm—một bên là thâm nhập vào lĩnh vực của cái vi tế và vô hình tướng (và điều này đang được thực hiện nhanh chóng), còn bên kia là đi xuống khỏi những trừu tượng mơ hồ và những khái quát hóa thiếu thực tiễn của mình để học cách nhận ra các sự kiện liên quan đến cái khách quan và hữu hình; điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện; cái gọi là trị liệu siêu hình đang lạc lối giữa một màn sương của ngôn từ và những lời khẳng định khoa trương.

The sincerity of the majority of those who belong to these schools of thought is unquestioned; their motives are almost uniformly sincere and good. In both groups charlatans are to be found and also a small—a very small—minority of self-seeking and ignorant exploiters of men. Among them are numbered both physicians and metaphysicians who are commercially oriented; they are, however, a minority. In the sincere investigator and lover of humanity in both groups will be found the future hope of medical science as it seeks to meet the need of humanity—a humanity which is becoming increasingly sensitive and subjectively oriented.

Sự chân thành của đa số những người thuộc các trường phái tư tưởng này là điều không thể nghi ngờ; động cơ của họ hầu như luôn chân thành và tốt đẹp. Trong cả hai nhóm đều có thể tìm thấy những kẻ bịp bợm và cả một thiểu số nhỏ—rất nhỏ—những kẻ vụ lợi và ngu dốt bóc lột con người. Trong số đó có cả các bác sĩ lẫn các nhà siêu hình học có định hướng thương mại; tuy nhiên, họ chỉ là thiểu số. Chính nơi những nhà khảo cứu chân thành và những người yêu thương nhân loại trong cả hai nhóm mà niềm hy vọng tương lai của khoa học y học sẽ được tìm thấy, khi nó tìm cách đáp ứng nhu cầu của nhân loại—một nhân loại đang ngày càng trở nên nhạy cảm hơn và có định hướng chủ quan hơn.

CHAPTER VIII - The Laws and Rules Enumerated and Applied — CHƯƠNG VIII - Các Định luật và Quy luật được Liệt kê và Áp dụng

[532]

[532]

Note: Certain of the Rules are related to certain of the Laws and will be considered by me in their rightful relationship. I have asked A.A.B. to give here a list of the ten laws and—where a rule is related to a particular law—to give it with that law. The rules are renumbered and do not follow in the order earlier given.

Lưu ý: Một số Quy luật có liên hệ với một số Định luật và sẽ được tôi xem xét trong mối tương quan thích đáng của chúng. Tôi đã yêu cầu A.A.B. đưa vào đây một danh sách mười định luật và—ở đâu một quy luật có liên hệ với một định luật cụ thể—thì đưa nó cùng với định luật ấy. Các quy luật được đánh số lại và không theo thứ tự đã nêu trước đó.

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all Kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu nằm ở việc giải phóng linh hồn để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tổng thể các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào.

LAW II

ĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of and subject to three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called the “Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to that new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God has made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man. [533]

Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ; thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc tập thể; thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày kia điều này phải nhường chỗ cho “Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người. [533]

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from whence the trouble comes. Let him relate the cause and the effect and know the point exact through which relief must come.

Nhà trị liệu hãy tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay dục vọng của người tìm kiếm sự trợ giúp của mình. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Y hãy liên hệ nguyên nhân với kết quả và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải trừ phải đến.

LAW III

ĐỊNH LUẬT III

Disease is an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the plane whereon those energies are focussed proceed those determining conditions which produce ill health. These therefore work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là một hiệu quả của sự tập trung hóa căn bản của năng lượng sự sống của một người. Từ cõi mà trên đó các năng lượng ấy được tập trung phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra tình trạng bất an. Vì vậy, những điều này biểu hiện thành bệnh tật hoặc thành sự thoát khỏi bệnh tật.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful, and the true. It is but a distorted rejection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces, within the substance of its sheaths, a point of friction. Upon this Point the eyes of the personality are focussed and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force and all is well.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có gốc rễ trong điều thiện, điều đẹp, và điều chân thật. Nó chỉ là một sự khước từ méo mó đối với các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể bao bọc của nó một điểm ma sát. Trên Điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung và điều này dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà trị liệu liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành chân chính bên trong hình tướng. Khi đó con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba sẽ điều khiển mãnh lực chữa lành và mọi sự đều ổn thỏa.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation then goes forth.

Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính, thông qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt đến bức xạ xua tan, bức xạ tự biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ khi ấy sẽ phát ra.

LAW V

ĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is Life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central Point of contact. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves [534] produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain which seeks release in death. The two, the five and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là Sự Sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng đều có thể tìm thấy một Điểm tiếp xúc trung tâm. Sự xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau [534] tạo ra những bệnh hoạn thể xác của con người. Sự xung đột của thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu và đau đớn thể xác tìm cách giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là Định luật Chữa lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre. Let that centre correspond to the centre which has need. Let the two synchronise and together augment force. Thus shall the waiting form be balanced in its work. Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Nhà trị liệu hãy tập trung năng lượng cần thiết vào trung tâm cần thiết. Trung tâm ấy hãy tương ứng với trung tâm đang cần. Hai trung tâm ấy hãy đồng bộ và cùng nhau tăng cường mãnh lực. Như vậy hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó. Như vậy hai và một, dưới sự chỉ đạo đúng đắn, sẽ chữa lành.

LAW VI

ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower personal self, then you have disease, ill health and death.

Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, khi đó có sức khỏe, có sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp kém, khi đó bạn có bệnh tật, bất an và cái chết.

LAW VII

ĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị cản trở và dưới sự chỉ đạo đúng đắn đến sự ngưng tụ (tuyến liên hệ), khi đó hình tướng đáp ứng và bệnh tật biến mất.

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

A careful diagnosis of disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent—that once the organ involved is known and thus isolated, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary, ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.

Một sự chẩn đoán cẩn trọng về bệnh tật, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hóa đến mức này—rằng một khi cơ quan liên hệ đã được biết và do đó được cô lập, thì trung tâm trong thể dĩ thái có liên hệ gần gũi nhất với nó sẽ được áp dụng các phương pháp trị liệu huyền bí, dù các phương pháp y khoa hay phẫu thuật thông thường, có tính làm dịu, sẽ không bị loại bỏ.

LAW VIII

ĐỊNH LUẬT VIII

Disease and death are the results of two active forces. One is the will of the soul, which says to its instrument: [535] I draw the essence back. The other is the magnetic power of the planetary life, which says to the life within the atomic structure: The hour of reabsorption has arrived. Return to me. Thus, under cyclic law, do all forms act.

Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực hoạt động. Một là ý chí của linh hồn, nói với công cụ của nó: [535] Ta rút tinh chất trở về. Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta. Như vậy, dưới định luật chu kỳ, mọi hình tướng đều hành động.

RULE FIVE

QUY LUẬT NĂM

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, não và đôi tay của mình. Như vậy y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa lành bệnh tật hoặc làm tăng trạng thái xấu ác, tùy theo tri thức của nhà trị liệu.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, não, tim và phát xạ hào quang của mình. Như vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang của y đối với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

LAW IX

ĐỊNH LUẬT IX

Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good is harmlessness. This is not negativity but perfect poise, a completed point of view and divine understanding.

Sự toàn hảo gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Điều thiện đẩy điều ác ra khỏi hình tướng con người trong thời gian và không gian. Phương pháp được Đấng Toàn Hảo sử dụng và phương pháp được Điều Thiện dùng đến là tính vô tổn hại. Đây không phải là tính tiêu cực mà là sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm đã hoàn tất và sự thấu hiểu thiêng liêng.

RULE SIX

QUY LUẬT SÁU

The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used, but love.

Nhà trị liệu hay nhóm trị liệu phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Điều phải được sử dụng không phải là ý chí, mà là tình thương.

LAW X

ĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its Purpose. The principle of mind then organisms itself and then repeats that Word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi phát ra từ Người Con đến Người Mẹ, rồi hãy tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức thành cơ cấu và rồi lặp lại Linh từ ấy. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng đi. Linh hồn đứng tự do.

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord [536] of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi phát ra trong khối cầu của nghĩa vụ; hãy nhận ra tiếng gọi xuất hiện từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi Chúa Tể [536] của Sự Sống đích thân chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống và như vậy cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi đó hình tướng phá vỡ sự nối kết. Sự sống nay được giải phóng, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và hoa trái của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp.

Note: This last law is the enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death, and which has reference only to those upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.

Lưu ý: Định luật cuối cùng này là sự tuyên bố một định luật mới thay thế cho Định luật Chết, và chỉ liên hệ đến những ai ở các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.

Application of the Laws and Rules

Áp dụng các Định luật và Quy luật

In the last few pages I greatly clarified the issue of indicating—even at the risk of somewhat discouraging you—certain of the essential requirements of the healer in the New Age, and also certain of the contacts which he will have to make with facility and promptness when attempting to heal. I likewise defined for you the nature of Law. This was preliminary to a consideration of the Laws to which the healer must conform and the Rules which he will automatically and intuitively obey. We might consider these Laws and Rules in relation to the healer and also in relation to each other, for several of the Rules are closely related to a Law which controls the healer.

Trong vài trang vừa qua, tôi đã làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề khi chỉ ra—dù có nguy cơ phần nào làm bạn nản lòng—một số đòi hỏi cốt yếu của nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới, và cả một số tiếp xúc mà y sẽ phải thực hiện một cách dễ dàng và mau lẹ khi cố gắng chữa lành. Tôi cũng đã định nghĩa cho bạn bản chất của Định luật. Điều này là bước chuẩn bị cho việc xem xét các Định luật mà nhà trị liệu phải tuân theo và các Quy luật mà y sẽ tự động và trực giác vâng theo. Chúng ta có thể xem xét các Định luật và Quy luật này trong mối liên hệ với nhà trị liệu và cũng trong mối liên hệ với nhau, vì một số Quy luật có liên hệ chặt chẽ với một Định luật chi phối nhà trị liệu.

From the definition of law, as given above, it will be apparent to you that in the last analysis disease, death, untruth, falsity and despair are inherent in the planet itself, because our planetary Logos (as I earlier stated when aiding H.P.B. in writing The Secret Doctrine) is an “imperfect God.” After the present great world crisis, incident to our planetary Logos having moved forward upon the cosmic Path, and therefore having taken a cosmic initiation, His imperfections are demonstrably lessened: there will be less distress and disease on earth once the necessary planetary [537] adjustments have been made. This you yourselves will not see take place, for adjustments on such a large scale take centuries to effect. What I have, therefore, to say upon the future healing of disease will not be of practical value for a long time to come, but the theory and the indications of possibility must be considered and discussed. Also, for a long time, medical practice and surgical knowledge will play their useful parts in preventive medicine, alleviative practices and curative processes. To these increasingly will be added many psychological methods of healing, and these will go hand in hand with the two above; to these again the services of the spiritual healers will be added. In this way, a rounded-out approach to the whole man will be steadily developed, and the need for this is today recognised by forward thinking physicians everywhere. Thus, and also through the method of trial and error, much will be learnt.

Từ định nghĩa về định luật như đã nêu ở trên, bạn sẽ thấy rõ rằng xét đến cùng, bệnh tật, cái chết, sự không chân thật, giả dối và tuyệt vọng vốn có sẵn trong chính hành tinh này, bởi vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (như tôi đã nói trước đây khi trợ giúp H.P.B. viết Giáo Lý Bí Nhiệm) là một “Thượng đế bất toàn.” Sau cuộc khủng hoảng thế giới lớn lao hiện nay, gắn liền với việc Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã tiến lên trên Con đường vũ trụ, và do đó đã nhận một cuộc điểm đạo vũ trụ, những bất toàn của Ngài đã được giảm bớt một cách rõ rệt: sẽ có ít đau khổ và bệnh tật hơn trên trái đất một khi những điều chỉnh hành tinh cần thiết [537] đã được thực hiện. Chính các bạn sẽ không thấy điều này xảy ra, vì những điều chỉnh ở quy mô lớn như thế phải mất nhiều thế kỷ mới hoàn thành. Vì vậy, những gì tôi phải nói về việc chữa lành bệnh tật trong tương lai sẽ không có giá trị thực tiễn trong một thời gian dài sắp tới, nhưng lý thuyết và những chỉ dẫn về khả năng phải được xem xét và thảo luận. Đồng thời, trong một thời gian dài, thực hành y khoa và tri thức phẫu thuật sẽ tiếp tục giữ vai trò hữu ích của chúng trong y học phòng ngừa, các thực hành làm dịu và các tiến trình chữa trị. Vào đó sẽ ngày càng được thêm vào nhiều phương pháp trị liệu tâm lý, và chúng sẽ song hành với hai phương pháp trên; rồi vào đó nữa sẽ được thêm vào các dịch vụ của các nhà trị liệu tinh thần. Bằng cách này, một phương pháp tiếp cận toàn diện đối với toàn bộ con người sẽ dần dần được phát triển, và nhu cầu về điều này ngày nay đã được các bác sĩ có tư duy tiến bộ ở khắp nơi công nhận. Như vậy, và cũng thông qua phương pháp thử và sai, nhiều điều sẽ được học hỏi.

The healing processes I outline and indicate through these laws and Rules are basically new. They are not based on affirmations, as in Christian Science and other mental healing cults; they are not posited on affirmed origins and on claiming results which will only be possible when the race has reached a far higher standard of perfection than is at present seen or that is immediately capable of development. As I have several times said in this treatise, there is nothing fundamentally wrong in the claims made by these groups and organisations anent the man who has arrived at soul expression and at realisation of the Christ consciousness. What is wrong is the claim that the ordinary man (obviously not at this advanced point in evolution) can perform these miracles of healing either in himself or for others. Very few people have as yet reached this point, and the healer in these cults and organisations who has done so is a rarity indeed. The healer in the New Age will recognise limitation and conditioning circumstances, plus destiny. This predisposes the [538] development within him of knowledge-giving powers. He is also spiritually aware that the healing of the physical body is not always the highest spiritual good; the overestimation and serious, anxious care of the form life, of the physical vehicle, is not of major importance.

Các tiến trình chữa lành mà tôi phác họa và chỉ ra qua các định luật và quy luật này về căn bản là mới. Chúng không dựa trên các sự khẳng định, như trong Christian Science và các giáo phái trị liệu trí tuệ khác; chúng không được đặt nền trên những nguồn gốc được khẳng định và trên việc đòi hỏi những kết quả chỉ có thể có khi nhân loại đã đạt đến một tiêu chuẩn toàn hảo cao hơn rất nhiều so với hiện nay hoặc có thể phát triển ngay tức thì. Như tôi đã nhiều lần nói trong bộ luận này, không có gì sai lầm về căn bản trong những tuyên bố do các nhóm và tổ chức này đưa ra liên quan đến con người đã đạt đến sự biểu lộ linh hồn và sự chứng nghiệm tâm thức Christ. Điều sai lầm là lời tuyên bố rằng con người bình thường (rõ ràng chưa ở điểm tiến hoá cao này) có thể thực hiện những phép lạ chữa lành ấy nơi chính mình hoặc cho người khác. Cho đến nay rất ít người đã đạt đến điểm này, và nhà trị liệu trong các giáo phái và tổ chức ấy đã làm được điều đó quả thực là hiếm hoi. Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ thừa nhận giới hạn và các hoàn cảnh tác động, cùng với định mệnh. Điều này khiến [538] nơi y phát triển những quyền năng đem lại tri thức. Y cũng nhận biết về mặt tinh thần rằng việc chữa lành thể xác không phải lúc nào cũng là điều thiện tinh thần cao nhất; việc đánh giá quá cao và chăm lo nghiêm trọng, lo âu cho đời sống hình tướng, cho vận cụ hồng trần, không phải là điều quan trọng hàng đầu.

The healer in the New Age does not and will not work directly with the physical body at all; being an occultist, he will regard that body as not a principle. He works practically entirely with the etheric body and with the vital energies, leaving those energies to make their impact on the automaton of the physical body according to directed intent; they will then produce their effect according to the response of that body, conditioned as it will be by many factors. These energies, directed via the etheric body of the patient, or emanating from that body, may bring about a cure If the destiny of the patient permits, or they may so stimulate the area of the disease that the disease will be brought to a crisis and the patient will die. This often happens under the ministrations of cultist healers who are ignorant of the laws of healing and who base their activities on a realisation of a present (though usually unexpressed) divinity.

Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới không làm việc và sẽ không làm việc trực tiếp với thể xác chút nào; là một nhà huyền bí học, y sẽ xem thể ấy không phải là một nguyên khí. Y làm việc hầu như hoàn toàn với thể dĩ thái và với các năng lượng sinh lực, để mặc các năng lượng ấy tạo tác động của chúng lên bộ máy tự động của thể xác theo ý định được chỉ đạo; khi đó chúng sẽ tạo ra hiệu quả tùy theo sự đáp ứng của thể ấy, vốn sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố. Những năng lượng này, được chỉ đạo qua thể dĩ thái của bệnh nhân, hoặc phát ra từ thể ấy, có thể mang lại sự chữa lành nếu định mệnh của bệnh nhân cho phép, hoặc chúng có thể kích thích mạnh đến mức khu vực bệnh tật bị đẩy đến cơn khủng hoảng và bệnh nhân sẽ chết. Điều này thường xảy ra dưới sự chăm sóc của các nhà trị liệu giáo phái, những người không biết các định luật chữa lành và đặt hoạt động của mình trên một sự chứng nghiệm về một thiên tính hiện hữu (dù thường không được biểu lộ).

A much higher measure of spiritual perception and of mental understanding is required before the system I propose becomes elective. All that I give in my writings is largely of a pioneer nature, and this should be remembered.

Cần có một mức độ linh thị tinh thần và thấu hiểu trí tuệ cao hơn nhiều trước khi hệ thống tôi đề xuất trở thành điều được chọn dùng. Tất cả những gì tôi đưa ra trong các trước tác của mình phần lớn đều có tính tiên phong, và điều này cần được ghi nhớ.

Let us now study Law One; it has no Rule attached or related to it, as it is a basic statement, indicating the major underlying theory upon which the healer will work.

Giờ đây chúng ta hãy nghiên cứu Định luật Một; không có Quy luật nào gắn với hay liên hệ với nó, vì nó là một phát biểu căn bản, chỉ ra lý thuyết nền tảng chủ yếu mà nhà trị liệu sẽ làm việc dựa trên đó.