LAW I — ĐỊNH LUẬT I
All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form,
Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu nằm ở việc giải phóng linh hồn để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tổng thể các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào,
[539]
[539]
This law indicates that, owing to the fact that the threefold lower man is not under control of his soul, disease can destroy him. Because the free flow of the energy pouring from the soul is inhibited and limited, disease can find place in the physical body. The physical organism is correctly supplied with the creative regenerating energy of the true man, the soul on its own plane. Where there is complete unobstructed inflow from the soul to the seven vitalising centres, you have the perfect health which the initiate of the fourth degree demonstrates, unless some disciplinary, experimental or initiating karma is being tried out in his case. However, as a general rule apart from these or planetary conditions, an initiate of high degree needs no healer; there is nothing in him requiring healing.
Định luật này chỉ ra rằng, do con người thấp tam phân không nằm dưới sự kiểm soát của linh hồn mình, bệnh tật có thể hủy hoại y. Bởi vì dòng chảy tự do của năng lượng tuôn đổ từ linh hồn bị ngăn trở và giới hạn, bệnh tật có thể tìm được chỗ trong thể xác. Cơ cấu hồng trần được cung ứng đúng đắn bằng năng lượng sáng tạo tái sinh của con người chân thực, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. Nơi nào có dòng tuôn vào hoàn toàn không bị cản trở từ linh hồn đến bảy trung tâm tiếp sinh lực, nơi đó có sức khỏe hoàn hảo mà điểm đạo đồ cấp bốn biểu lộ, trừ phi trong trường hợp của y đang phải trải qua một nghiệp quả có tính kỷ luật, thực nghiệm hay điểm đạo nào đó. Tuy nhiên, như một quy luật chung, ngoài các điều kiện ấy hay các điều kiện hành tinh, một điểm đạo đồ cấp cao không cần nhà trị liệu; không có gì trong y cần được chữa lành.
What must the healer do when, faced with a patient, he realises the inhibited condition which the disease evidences? Does he, under the law, work with the soul of the patient? Does he seek to get that soul (on its own plane) to affect definitely the man, superintending the transfer of energy from the soul to the mind, and from the mind to the astral body, and from thence to the etheric vehicle? By no means. In cases of real and serious illness, the condition of the patient is usually such that it is not possible for him to make the needed response to such attempted ministrations of the healer, either consciously or unconsciously. Any mental exertion is quite beyond his power, and he could not, therefore, cooperate with the effort of his soul to transfer energy; the activity of his astral body is usually concentrated in the formulation of a great desire to live and to get rid of the disease, unless the illness is so acute that the patient has reached the stage where he simply does not care and the will-to-live is rapidly leaving him. To these difficulties must be added the fact that very few people are so completely integrated that they can function as whole personalities, in [540] response to soul stimulation. They are usually polarised in one or another of their three bodies, and this fact again presents a potent limiting condition to the healer. Again, and very frequently, the man is so intensely preoccupied with discomfort and pain present in the dense physical body, that the higher impressions which might come through from mind or soul bodies are quite unable to do so. What then must the trained and instructed healer do?
Nhà trị liệu phải làm gì khi, đối diện với một bệnh nhân, y nhận ra tình trạng bị ngăn trở mà bệnh tật biểu lộ? Theo định luật này, y có làm việc với linh hồn của bệnh nhân không? Y có tìm cách khiến linh hồn ấy (trên cõi riêng của nó) tác động rõ rệt lên con người, giám sát sự chuyển dịch năng lượng từ linh hồn đến trí tuệ, và từ trí tuệ đến thể cảm dục, rồi từ đó đến vận cụ dĩ thái không? Hoàn toàn không phải vậy. Trong những trường hợp bệnh thật sự và nghiêm trọng, tình trạng của bệnh nhân thường là như thế khiến y không thể có được sự đáp ứng cần thiết đối với những nỗ lực phụng sự như vậy của nhà trị liệu, dù là có ý thức hay vô thức. Bất kỳ nỗ lực trí tuệ nào cũng hoàn toàn vượt quá khả năng của y, và vì thế y không thể cộng tác với nỗ lực của linh hồn mình trong việc chuyển dịch năng lượng; hoạt động của thể cảm dục của y thường tập trung vào việc hình thành một dục vọng mạnh mẽ muốn sống và muốn thoát khỏi bệnh tật, trừ phi cơn bệnh quá cấp tính đến nỗi bệnh nhân đã đạt đến giai đoạn mà y đơn giản là không còn quan tâm nữa và ý chí muốn sống đang nhanh chóng rời bỏ y. Vào những khó khăn này còn phải thêm sự kiện rằng rất ít người được tích hợp hoàn toàn đến mức họ có thể hoạt động như những phàm ngã toàn vẹn, trong [540] sự đáp ứng với kích thích của linh hồn. Họ thường phân cực trong một hay một thể nào khác trong ba thể của mình, và sự kiện này lại tạo nên một điều kiện giới hạn mạnh mẽ đối với nhà trị liệu. Hơn nữa, và rất thường xuyên, con người bị bận tâm quá mãnh liệt với sự khó chịu và đau đớn hiện diện trong thể xác đậm đặc đến nỗi các ấn tượng cao hơn có thể đến từ thể trí hay các thể linh hồn hoàn toàn không thể đi qua. Vậy thì nhà trị liệu đã được huấn luyện và chỉ dạy phải làm gì?
He must realise, first of all, that the etheric body is the factor of major importance and the main vehicle with which he must deal. He therefore concentrates upon that body of energy. This involves the necessity of ascertaining certain facts, and then making certain points of contact effectively useful.
Trước hết, y phải nhận ra rằng thể dĩ thái là yếu tố quan trọng chủ yếu và là vận cụ chính mà y phải đề cập đến. Vì vậy y tập trung vào thể năng lượng ấy. Điều này bao hàm sự cần thiết phải xác định một số sự kiện, rồi làm cho một số điểm tiếp xúc trở nên hữu hiệu một cách hiệu quả.
The first fact to be ascertained is the potency with which the soul has gripped and is still gripping its personality. The healer is aware that because the patient is still alive, the soul is definitely present through the medium of the head and heart centres of the etheric body, thus anchoring both the consciousness and the life principles. If the patient is unconscious, the difficulties of the healer are greatly increased in some cases, though lightened in others. If the principle of consciousness is withdrawn from the head centre in the vital body, then the healer knows that death may supervene and his way is this much clearer, particularly if there is a dimming of the light of life in the heart. If consciousness is still powerfully present, he realises that there is still the possibility of cure, and can then, with greater confidence, proceed with the work to be done. In this statement, I am dealing with the average person. In the case of initiates, it is somewhat different, because they frequently remain fully conscious through the death process.
Sự kiện đầu tiên cần được xác định là mức độ mạnh mẽ mà linh hồn đã nắm giữ và vẫn đang nắm giữ phàm ngã của nó. Nhà trị liệu biết rằng vì bệnh nhân vẫn còn sống, linh hồn chắc chắn hiện diện thông qua trung tâm đầu và trung tâm tim của thể dĩ thái, nhờ đó neo giữ cả nguyên khí tâm thức lẫn nguyên khí sự sống. Nếu bệnh nhân bất tỉnh, trong một số trường hợp khó khăn của nhà trị liệu tăng lên rất nhiều, dù trong những trường hợp khác lại được giảm nhẹ. Nếu nguyên khí tâm thức đã rút khỏi trung tâm đầu trong thể sinh lực, khi đó nhà trị liệu biết rằng cái chết có thể xảy đến và con đường của y nhờ vậy rõ ràng hơn nhiều, đặc biệt nếu có sự mờ đi của ánh sáng sự sống trong tim. Nếu tâm thức vẫn còn hiện diện mạnh mẽ, y nhận ra rằng vẫn còn khả năng chữa lành, và khi đó có thể tiến hành công việc cần làm với sự tin tưởng lớn hơn. Trong phát biểu này, tôi đang đề cập đến con người trung bình. Trong trường hợp các điểm đạo đồ thì có phần khác, vì họ thường vẫn hoàn toàn tỉnh thức trong suốt tiến trình chết.
You will, therefore, realise the basic necessity for the healer in the New Age to be either clairvoyant or—far better [541] still—to have true spiritual perception with its quality of infallibility. His first task is to investigate or “occultly see” the etheric body of the patient, and thus arrive at the following knowledge:
Vì vậy, bạn sẽ nhận ra sự cần thiết căn bản đối với nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới là phải hoặc thông nhãn hoặc—tốt hơn nhiều [541] nữa—phải có linh thị tinh thần chân chính với phẩm tính bất khả ngộ của nó. Nhiệm vụ đầu tiên của y là khảo sát hay “thấy một cách huyền bí” thể dĩ thái của bệnh nhân, và nhờ đó đi đến tri thức sau đây:
1. The potency with which the soul influences its etheric body. This is indicated by the point of light in the head centre and the area which it irradiates.
1. Mức độ mạnh mẽ mà linh hồn ảnh hưởng đến thể dĩ thái của nó. Điều này được chỉ ra bởi điểm sáng trong trung tâm đầu và khu vực mà nó chiếu rọi.
2. The condition of the etheric centre which controls or governs the area within which the physical trouble is to be found.
2. Tình trạng của trung tâm dĩ thái kiểm soát hay chi phối khu vực trong đó rắc rối hồng trần được tìm thấy.
3. The relation of the centres above the diaphragm to those below, because this will give him a general indication of the point in evolution of the man to be healed.
3. Mối liên hệ của các trung tâm phía trên cơ hoành với các trung tâm phía dưới, vì điều này sẽ cho y một chỉ dẫn tổng quát về điểm tiến hoá của con người cần được chữa lành.
Having ascertained these points to the best of his ability, he will then, under the law of “inhibited soul life,” seek by the power of his own soul (working on the higher levels of the mental plane and through his head centre) to stimulate the point of soul life in the etheric body of the patient. He will do this with a view of attracting, if possible, a fuller inflow of the soul energy of the patient into the head centre, in order that the life thread may carry a fuller supply of life to the heart. In this manner, the patient’s own “livingness” will bring about the desired cure; he will be healed apparently by nature itself, or by the natural and normal way of adequate vitality, and so enabled to throw off the disease.
Sau khi đã xác định những điểm này tốt nhất trong khả năng của mình, khi đó, dưới định luật về “sự sống linh hồn bị ngăn trở,” y sẽ tìm cách bằng quyền năng của chính linh hồn mình (hoạt động trên các cấp cao của cõi trí và qua trung tâm đầu của mình) kích thích điểm sự sống linh hồn trong thể dĩ thái của bệnh nhân. Y sẽ làm điều này với mục đích, nếu có thể, thu hút một dòng tuôn vào đầy đủ hơn của năng lượng linh hồn của bệnh nhân vào trung tâm đầu, để sinh mệnh tuyến có thể mang một nguồn cung sự sống dồi dào hơn đến tim. Theo cách này, chính “sức sống” của bệnh nhân sẽ mang lại sự chữa lành mong muốn; dường như y sẽ được chữa lành bởi chính bản chất tự nhiên, hay bởi con đường tự nhiên và bình thường của sinh lực đầy đủ, và nhờ đó có thể loại bỏ bệnh tật.
When the healer, therefore, recognises and works with this law, the following points of contact are recognised and used:
Vì vậy, khi nhà trị liệu nhận ra và làm việc với định luật này, các điểm tiếp xúc sau đây được nhận biết và sử dụng:
1. The soul of the patient, anchored within his etheric body. [542]
1. Linh hồn của bệnh nhân, được neo giữ trong thể dĩ thái của y. [542]
2. The soul of the healer, occupied with the stimulation of that point of soul contact, via the following triangle of energy:
2. Linh hồn của nhà trị liệu, bận tâm với việc kích thích điểm tiếp xúc linh hồn ấy, thông qua tam giác năng lượng sau đây:
This relates the vital body of the healer to that of the patient, via both their head centres and the heart of the patient, because there the life principle is focussed and is closely involved and affected by whatever occurs.
Điều này liên hệ thể sinh lực của nhà trị liệu với thể sinh lực của bệnh nhân, thông qua cả hai trung tâm đầu của họ và tim của bệnh nhân, bởi vì tại đó nguyên khí sự sống được tập trung và có liên hệ chặt chẽ với, cũng như bị ảnh hưởng bởi, bất cứ điều gì xảy ra.
3. When this triangle of energy is functioning smoothly and a measure of response is coming from the head centre of the patient, evoking greater soul contact and producing a resultant inflow of soul energy into the head centre and from thence to the heart centre, then—by an act of the will and the use of an invocative mantram—the healer will seek to implement this increased flow of life, via the heart, to the diseased area, using the centre which controls that area of the physical body, whichever this may be. This has to be done with the greatest possible care, so that the flow is not too sudden, and therefore destructive in its effects; particular care has also to be evidenced in the cases of disease of the heart: embolisms, for instance, which prove fatal are frequently due to a violent expression on the part of the patient of the will-to-live, bringing on a flooding inflow of the life principle. This makes its impact too suddenly upon the heart, causing equally sudden movement in the blood stream, and thus of the embolism, producing death. I am putting this into entirely untechnical terms [543] and laying myself open to expert criticism, but I am doing so in order to convey to the lay reader a general idea of the risks involved, and thus produce caution in the enthusiast.
3. Khi tam giác năng lượng này đang hoạt động trơn tru và một mức độ đáp ứng nào đó đang đến từ trung tâm đầu của bệnh nhân, gợi lên sự tiếp xúc linh hồn lớn hơn và tạo ra một dòng tuôn vào kết quả của năng lượng linh hồn vào trung tâm đầu và từ đó đến trung tâm tim, khi ấy—bằng một hành vi của ý chí và việc sử dụng một mantram khẩn cầu—nhà trị liệu sẽ tìm cách thực hiện dòng chảy sự sống gia tăng này, qua tim, đến khu vực bệnh tật, sử dụng trung tâm kiểm soát khu vực ấy của thể xác, bất kể đó là trung tâm nào. Điều này phải được thực hiện với sự cẩn trọng lớn nhất có thể, để dòng chảy không quá đột ngột và do đó gây hủy hoại trong các hiệu quả của nó; sự cẩn trọng đặc biệt cũng phải được biểu lộ trong các trường hợp bệnh tim: chẳng hạn, các chứng tắc mạch gây tử vong thường là do nơi bệnh nhân có một biểu hiện dữ dội của ý chí muốn sống, kéo theo một dòng tuôn vào ngập tràn của nguyên khí sự sống. Điều này tạo tác động quá đột ngột lên tim, gây ra sự chuyển động cũng đột ngột như vậy trong dòng máu, và do đó gây ra tắc mạch, dẫn đến cái chết. Tôi đang trình bày điều này bằng những thuật ngữ hoàn toàn không chuyên môn [543] và tự đặt mình trước sự phê phán của các chuyên gia, nhưng tôi làm như vậy để truyền đạt cho độc giả phổ thông một ý niệm tổng quát về những nguy cơ liên quan, và nhờ đó tạo ra sự thận trọng nơi người nhiệt thành.
This law covers certain fundamental premises, and there is little more than I can profitably say anent its implications. Much will be learnt by accepting the premises and working upon their implications. What I have said is very far from being what I could have said, but I have here given the student a simple and working understanding of certain essential and basic concepts. We will now pass on to a consideration of the second Law and of Rule One.
Định luật này bao trùm một số tiền đề căn bản, và tôi hầu như không thể nói thêm điều gì có ích liên quan đến các hàm ý của nó. Nhiều điều sẽ được học hỏi bằng cách chấp nhận các tiền đề và làm việc trên các hàm ý của chúng. Điều tôi đã nói còn rất xa so với điều tôi có thể đã nói, nhưng ở đây tôi đã trao cho đạo sinh một sự thấu hiểu đơn giản và có thể vận dụng được về một số khái niệm cốt yếu và căn bản. Giờ đây chúng ta sẽ chuyển sang xem xét Định luật thứ hai và Quy luật Một.
LAW II — ĐỊNH LUẬT II
Disease is the product of and subject to three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called the “Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to the new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God has made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.
Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ; thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc tập thể; thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày kia điều này phải nhường chỗ cho “Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.
This Law is most comprehensive in its statements and really constitutes a summation of two laws, one of which is controlling at this time and one which will eventually control. Let us, for the sake of clarity, and because people usually read so carelessly, divide this law up into its various statements, and thus gain a better idea of its implications:
Định luật này có tính bao quát rất lớn trong các phát biểu của nó và thực sự cấu thành một sự tổng kết của hai định luật, một định luật hiện đang chi phối và một định luật cuối cùng sẽ chi phối. Vì mục đích làm sáng tỏ, và bởi vì con người thường đọc quá cẩu thả, chúng ta hãy chia định luật này thành các phát biểu khác nhau của nó, và nhờ đó có được một ý niệm rõ hơn về các hàm ý của nó:
1. Disease is a product of and subject to three influences: [544]
1. Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng: [544]
a. A man’s past, wherein he pays the price of ancient error.
a. Quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ.
b. His inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin.
b. Di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc tập thể.
c. His sharing with all natural forms that which the Lord of Life imposes on His body.
c. Sự chia sẻ của y với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài.
2. These three types of energy are called the “Ancient Law of Evil Sharing.”
2. Ba loại năng lượng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.”
3. The “Law of Ancient Dominating Good” lies behind all that God has made.
3. “Định luật về Điều Thiện Cổ xưa Chi phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra.
4. This law will some day supersede the “Ancient Law of Evil Sharing.”
4. Một ngày kia định luật này sẽ thay thế “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.”
5. It will be brought into activity by the spiritual will of man.
5. Nó sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.
This law throws a man in his thinking back to the basic law of karma which, as you know, there is no avoiding, and which the modern healer in the present healing cults and organisations consistently overlooks. With these influences and predisposing causes we have already dealt, and there is no need further to elaborate them here, beyond remarking that one of the most helpful things for a patient to remember and for the healer to bear in mind is that disease has its roots in the past (a group past or an individual past) and may, in the last analysis, be a beneficent way of paying off ancient debts. This induces in the patient a constructive attitude of acquiescence—not an acquiescence which leads to non-action, but one which produces a sense of responsibility for right action. This right action will lead either to full payment of the penalty through the well-known process of death or to the success of the steps taken to induce health. In the case of the healer, it will lead to a recognition of potent forces working through the patient and a willingness.[545] for the destined fate to take place; in both cases the feverish anxiety so often present will not intervene between the healer’s intention and the patient, preventing sound happenings.
Định luật này đưa con người trong tư duy của mình trở lại định luật căn bản về nghiệp quả mà, như bạn biết, không thể tránh né, và điều mà nhà trị liệu hiện đại trong các giáo phái và tổ chức trị liệu hiện nay luôn luôn bỏ qua. Chúng ta đã đề cập đến các ảnh hưởng và nguyên nhân tiền định này rồi, và không cần phải khai triển thêm ở đây, ngoài việc nhận xét rằng một trong những điều hữu ích nhất để bệnh nhân ghi nhớ và để nhà trị liệu lưu tâm là bệnh tật có gốc rễ trong quá khứ (một quá khứ tập thể hay một quá khứ cá nhân) và xét đến cùng có thể là một cách có lợi để trả những món nợ xưa cũ. Điều này tạo ra nơi bệnh nhân một thái độ chấp nhận có tính xây dựng—không phải một sự chấp nhận dẫn đến bất động, mà là một sự chấp nhận tạo ra ý thức trách nhiệm đối với hành động đúng đắn. Hành động đúng đắn này sẽ dẫn hoặc đến việc trả trọn hình phạt qua tiến trình quen thuộc là cái chết, hoặc đến sự thành công của các bước được thực hiện để tạo ra sức khỏe. Trong trường hợp của nhà trị liệu, nó sẽ dẫn đến sự nhận biết những mãnh lực mạnh mẽ đang hoạt động qua bệnh nhân và một sự sẵn lòng.[545] để số phận đã định xảy ra; trong cả hai trường hợp, sự lo âu sốt sắng thường hiện diện sẽ không xen vào giữa ý định của nhà trị liệu và bệnh nhân, ngăn cản những diễn biến lành mạnh.
The second important thing is for the patient to remember, if his condition permits, that what he is enduring is the fate and the lot of the majority, and that he is not alone. A right handling of ill health is a major factor in breaking down separateness and a sense of aloneness and isolation; that is why the effects of bad health, when rightly handled, lead to a sweetening of the disposition and a broadening of the sympathies. Sharing and a sense of general participation has usually to be learnt the hard way—such again is the law. In this law we have the clue to that which will ultimately sweep disease from the earth. Let me put it quite simply. When the majority of the inhabitants of the earth are being rapidly oriented towards good, towards righteousness, as the Bible expresses it, and when the bulk of human beings are inclined towards goodwill (the second major expression of soul contact and influence in the individual’s life and in the life of mankind—the first being the sense of responsibility), then ill health will persistently, even if only gradually, disappear and die out and finally be nonexistent. Slowly, very slowly, this is already happening—not yet in the disappearance of disease, but in the bringing about of a more correct orientation. What this really means is that the channel of contact between the individual and his soul and the soul of humanity is becoming more direct and unimpeded. Alignment is being brought about. You can see again, therefore, why the emphasis in the life of the healer must be laid upon contact and alignment, and why so few succeed. There is little if any contact to be found among healers today, and little direct consciousness of the necessity, [546] and no real understanding of the techniques to be followed. It is wise to grasp this important point, for it will negate disappointment. Disease is not going to disappear miraculously and suddenly from a world in the immediate period, heralding the New Age. If it did, the implications would be that the Law of Karma no longer controlled, and this is not the case.
Điều quan trọng thứ hai là để bệnh nhân ghi nhớ, nếu tình trạng của y cho phép, rằng điều y đang chịu đựng là số phận và phần số của đa số, và rằng y không đơn độc. Việc xử lý đúng đắn tình trạng bất an là một yếu tố lớn trong việc phá vỡ tính chia cách và cảm giác cô đơn, cô lập; đó là lý do vì sao các hiệu quả của sức khỏe xấu, khi được xử lý đúng, dẫn đến sự dịu ngọt của tính khí và sự mở rộng của lòng cảm thông. Sự chia sẻ và ý thức tham dự chung thường phải được học bằng con đường khó khăn—đó lại chính là định luật. Trong định luật này, chúng ta có manh mối cho điều cuối cùng sẽ quét sạch bệnh tật khỏi trái đất. Hãy để tôi nói điều đó thật đơn giản. Khi đa số cư dân trên trái đất đang nhanh chóng được định hướng về điều thiện, về sự chính trực như Kinh Thánh diễn tả, và khi phần lớn nhân loại nghiêng về thiện chí (biểu hiện lớn thứ hai của tiếp xúc và ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống cá nhân và trong đời sống nhân loại—biểu hiện thứ nhất là ý thức trách nhiệm), thì tình trạng bất an sẽ liên tục, dù chỉ dần dần, biến mất và tàn lụi, và cuối cùng sẽ không còn tồn tại. Chậm chạp, rất chậm chạp, điều này đã đang xảy ra—chưa phải trong sự biến mất của bệnh tật, mà trong việc tạo ra một định hướng đúng đắn hơn. Điều này thực sự có nghĩa là kênh tiếp xúc giữa cá nhân với linh hồn của y và với linh hồn của nhân loại đang trở nên trực tiếp hơn và ít bị cản trở hơn. Sự chỉnh hợp đang được tạo ra. Vì vậy, bạn lại có thể thấy vì sao sự nhấn mạnh trong đời sống của nhà trị liệu phải được đặt trên tiếp xúc và chỉnh hợp, và vì sao rất ít người thành công. Hiện nay hầu như không có tiếp xúc nào được tìm thấy nơi các nhà trị liệu, và cũng rất ít tâm thức trực tiếp về sự cần thiết ấy, [546] và không có sự thấu hiểu thực sự nào về các kỹ thuật phải được tuân theo. Thật khôn ngoan khi nắm vững điểm quan trọng này, vì nó sẽ loại bỏ sự thất vọng. Bệnh tật sẽ không biến mất một cách kỳ diệu và đột ngột khỏi thế giới trong giai đoạn trước mắt, như một dấu hiệu báo trước Kỷ Nguyên Mới. Nếu điều đó xảy ra, hàm ý sẽ là Định luật Nghiệp quả không còn chi phối nữa, và điều đó không phải vậy.
The final sentence of this second law gives a basic indication of the time period: the Law of Dominating Good will be brought into activity by the spiritual will of man. What does this mean? It means that only when truly large numbers of men are controlled by the Spiritual Triad, have built the antahkarana and can therefore use the spiritual will, can disease be stamped out and only good control. It will of course be a gradual process, and in the early stages almost imperceptible. Again, why is this? Because evil crime and disease are the result of the great heresy of separateness, and because hate and not love controls. Forget not that he who loveth not his brother is a murderer—ever the symbol of hate. As yet, the sense of universality and of identity with all is not to be found, except in advanced disciples and initiates; the mass consciousness and the demonstration of the herd instinct must not be confounded with the sense of Oneness which marks the right oriented person. In the New Age, teaching anent the antahkarana and the constitution of man, principally from the angle of the “three periodical bodies,” and not so much from that of the lower threefold man, will be emphasised, particularly in the higher schools of learning, thereby laying a sound foundation for the esoteric schools which will be slowly emerging. A new perspective upon humanity will be thereby attained. The nature of the spiritual will will be taught in contradistinction to that of the selfish personal will; [547] by its means tremendous new potencies will be released, and safely released, into daily life.
Câu cuối cùng của định luật thứ hai này đưa ra một chỉ dẫn căn bản về thời kỳ: Định luật Thiện Lành Chi Phối sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người. Điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là chỉ khi nào những số lượng thật lớn người nam và nữ được Tam Nguyên Tinh Thần kiểm soát, đã xây dựng antahkarana và do đó có thể sử dụng ý chí tinh thần, thì bệnh tật mới có thể bị quét sạch và chỉ điều thiện mới kiểm soát. Dĩ nhiên, đó sẽ là một tiến trình dần dần, và trong các giai đoạn đầu hầu như không thể nhận thấy. Một lần nữa, tại sao lại như vậy? Bởi vì tội ác, tội phạm và bệnh tật là kết quả của Đại Tà thuyết về sự phân ly, và bởi vì hận thù chứ không phải tình thương đang kiểm soát. Đừng quên rằng kẻ nào không yêu thương huynh đệ mình là một kẻ sát nhân—luôn luôn là biểu tượng của hận thù. Hiện nay, ý thức về tính phổ quát và về sự đồng nhất với tất cả vẫn chưa được tìm thấy, ngoại trừ nơi các đệ tử và các điểm đạo đồ tiến bộ; tâm thức quần chúng và sự biểu lộ của bản năng bầy đàn không được lẫn lộn với ý thức về Nhất Thể vốn đánh dấu con người được định hướng đúng đắn. Trong Kỷ Nguyên Mới, giáo huấn về antahkarana và về cấu tạo của con người, chủ yếu từ góc độ của “ba thể chu kỳ,” chứ không quá nhiều từ góc độ của con người tam phân thấp, sẽ được nhấn mạnh, đặc biệt trong các trường học cao cấp, nhờ đó đặt nền tảng vững chắc cho các trường nội môn sẽ từ từ xuất hiện. Nhờ đó, một viễn tượng mới về nhân loại sẽ đạt được. Bản chất của ý chí tinh thần sẽ được giảng dạy đối lập với ý chí cá nhân ích kỷ; [547] nhờ phương tiện đó, những tiềm lực mới to lớn sẽ được giải phóng, và được giải phóng một cách an toàn, vào đời sống hằng ngày.
Up to the present time, even disciples have little idea of the exceeding power of the triadal will. It might be here affirmed that those healers who have triadal consciousness and can exercise the potency of the monadic life and will, via the Spiritual Triad, will always be successful healers; they will make no mistakes, for they will have accurate spiritual perception; this will give them knowledge as to the possibility of cure, and by the use of the will they can then work safely and with power on the head centre of the patient. They will necessarily confine their healing powers to those who live focussed in the head. They will stimulate the soul, there anchored, into effective activity, thus promoting a true self-healing.
Cho đến hiện nay, ngay cả các đệ tử cũng ít có ý niệm về quyền năng vô cùng lớn lao của ý chí tam nguyên tinh thần. Ở đây có thể khẳng định rằng những nhà chữa lành nào có tâm thức tam nguyên tinh thần và có thể vận dụng tiềm lực của sự sống và ý chí chân thần, thông qua Tam Nguyên Tinh Thần, sẽ luôn luôn là những nhà chữa lành thành công; họ sẽ không phạm sai lầm nào, vì họ sẽ có tri giác tinh thần chính xác; điều này sẽ cho họ tri thức về khả năng chữa khỏi, và bằng việc sử dụng ý chí, khi đó họ có thể làm việc một cách an toàn và đầy quyền năng trên trung tâm đầu của bệnh nhân. Tất yếu, họ sẽ giới hạn quyền năng chữa lành của mình vào những người sống tập trung trong đầu. Họ sẽ kích thích linh hồn, được neo ở đó, vào hoạt động hữu hiệu, nhờ vậy thúc đẩy một sự tự chữa lành chân chính.
You will note from all the above how relatively simple these Laws are when carefully considered, and how beautifully they are related to each other. The mastering and grasping of one facilitates the understanding of the next.
Từ tất cả những điều trên, bạn sẽ nhận thấy các Định luật này tương đối đơn giản biết bao khi được xem xét cẩn thận, và chúng liên hệ với nhau đẹp đẽ biết bao. Việc làm chủ và nắm vững một định luật sẽ tạo thuận lợi cho việc thấu hiểu định luật kế tiếp.
Forget not that the head centre is the one through which the will works, and with this in your mind, relate the information given you anent Law One in the early part of this instruction to that which I have here given you. If these laws are studied deeply by those who seek to learn to heal spiritually, and if the healer endeavours to make his life conform to the rules, a definite pattern of healing and an emerging technique will take shape in his mind and greatly increase his effective service. You will note also that I am not giving rules and laws which deal with specific diseases. This, I fear, will greatly disappoint many earnest workers. They would like me to indicate what should be done, for instance, to cure cancer of the liver, or pneumonia or gastric ulcer or forms of heart disease. This I do not intend to do. My work is far more basic than that. I am concerned [548] with causes, and primarily with the etheric body as the distributor of energies or as the withholder of these energies when transformed into forces; I deal with the state of consciousness of the healer and with the theories which he should embrace, with his understanding of the relationship of the soul to its vehicles of expression (particularly, in the case of healing, to the vital body), and with the controlling fact of the centres found in every area of the body, either freely distributing energy and preserving the body in good health or—through undevelopment and inhibited activity—bringing about those conditions in which disease becomes possible and probable.
Đừng quên rằng trung tâm đầu là trung tâm mà qua đó ý chí hoạt động, và với điều này trong tâm trí, hãy liên hệ thông tin đã được trao cho bạn về Định luật Một trong phần đầu của huấn thị này với điều tôi đã trao cho bạn ở đây. Nếu các định luật này được nghiên cứu sâu sắc bởi những ai tìm cách học chữa lành một cách tinh thần, và nếu nhà chữa lành nỗ lực làm cho đời sống của mình phù hợp với các quy luật, thì một mô hình chữa lành xác định và một kỹ thuật đang xuất hiện sẽ thành hình trong trí tuệ của y và làm gia tăng rất nhiều sự phụng sự hữu hiệu của y. Bạn cũng sẽ nhận thấy rằng tôi không đưa ra các quy luật và định luật bàn đến những bệnh cụ thể. Tôi e rằng điều này sẽ làm nhiều người hoạt động chân thành thất vọng sâu sắc. Họ muốn tôi chỉ ra cần phải làm gì, chẳng hạn, để chữa ung thư gan, hay viêm phổi hoặc loét dạ dày hay các dạng bệnh tim. Điều này tôi không có ý định làm. Công việc của tôi căn bản hơn nhiều so với thế. Tôi quan tâm [548] đến các nguyên nhân, và trước hết là đến thể dĩ thái như là bộ phân phối các năng lượng hoặc như là cái giữ lại các năng lượng này khi chúng được chuyển đổi thành các mãnh lực; tôi bàn đến trạng thái tâm thức của nhà chữa lành và các lý thuyết mà y nên chấp nhận, đến sự thấu hiểu của y về mối liên hệ của linh hồn với các vận cụ biểu đạt của nó (đặc biệt, trong trường hợp chữa lành, là với thể sinh lực/thể dĩ thái), và đến sự kiện chi phối của các trung tâm được tìm thấy trong mọi vùng của cơ thể, hoặc tự do phân phối năng lượng và giữ cho cơ thể được khỏe mạnh, hoặc—do sự kém phát triển và hoạt động bị ức chế—mang lại những điều kiện trong đó bệnh tật trở nên có thể và có xác suất xảy ra.
You can see, therefore, how the healing process is simplified when we recognise causes and realise that they are responsible for the functioning of the body on the outer plane. The healer has always to remember the following sequence of facts:
Do đó, bạn có thể thấy tiến trình chữa lành được đơn giản hóa như thế nào khi chúng ta nhận ra các nguyên nhân và chứng nghiệm rằng chúng chịu trách nhiệm cho sự vận hành của cơ thể trên cõi bên ngoài. Nhà chữa lành luôn luôn phải ghi nhớ chuỗi sự kiện sau đây:
1. The fact of the soul, working through
1. Sự kiện về linh hồn, hoạt động thông qua
2. The mind and the astral body, whose energies condition
2. Thể trí và thể cảm dục, mà các năng lượng của chúng tác động lên
3. The etheric vehicle, a vortex of energies focussed through numerous centres, both major and minor.
3. thể dĩ thái, một xoáy năng lượng được tập trung qua nhiều trung tâm, cả chính lẫn phụ.
4. The seven major centres, controlling definite areas of the body via
4. Bảy trung tâm chính, kiểm soát những vùng xác định của cơ thể thông qua
a. The nadis
a. các nadis
b. The nerves.
b. các dây thần kinh.
c. The endocrine system
c. hệ nội tiết
d. The blood stream.
d. dòng máu.
These four groups of conditioned aspects of the man concern life and consciousness, or the two major aspects of the soul when in manifestation upon the physical plane.
Bốn nhóm phương diện bị tác động này của con người liên quan đến sự sống và tâm thức, hay hai phương diện chính của linh hồn khi biểu hiện trên cõi hồng trần.
[549]
[549]
Orthodox medicine has been to date necessarily confined to the objective symptoms and their immediate apparent cause, and therefore to effects and not to real causes. The healing with which I am concerned is directed towards the reorganising and the revitalising of the etheric body, with the intent of getting behind the outer formal indications of wrong conditions to that vehicle of energies which—if correctly functioning and in right alignment—will preserve the physical body in good condition and keep it free from disease. The knowledge required by the healer in the New Age is therefore more basic and less detailed. He deals with areas and not with organs; he is concerned with energies and their distributing points, and not with the details of the physical body, with the construction of the organs and their malfunctioning. He will deal with the seven etheric centres, with the nadis through which they affect and stimulate (apart from radiation) the nervous system; he will watch with care the nervous system and the blood stream which the centres affect through radiation on to and through the hormones there to be found. But the keynote of all his work will be directed distribution, and the centre of his attention will be the channels of this distribution—the entire system of etheric centres.
Cho đến nay, y học chính thống tất yếu bị giới hạn vào các triệu chứng khách quan và nguyên nhân biểu kiến trực tiếp của chúng, và do đó vào các hậu quả chứ không phải các nguyên nhân thực sự. Sự chữa lành mà tôi quan tâm hướng đến việc tái tổ chức và tiếp sinh lực cho thể dĩ thái, với mục đích đi ra phía sau những dấu hiệu hình tướng bên ngoài của các tình trạng sai lệch để đến với vận cụ năng lượng ấy, vốn—nếu vận hành đúng đắn và được chỉnh hợp đúng—sẽ giữ cho thể xác ở trong tình trạng tốt và không bệnh tật. Vì vậy, tri thức mà nhà chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới cần có thì căn bản hơn và ít chi tiết hơn. Y xử lý các vùng chứ không phải các cơ quan; y quan tâm đến các năng lượng và các điểm phân phối của chúng, chứ không phải các chi tiết của thể xác, cấu tạo của các cơ quan và sự trục trặc của chúng. Y sẽ xử lý bảy trung tâm dĩ thái, các nadis mà qua đó chúng tác động và kích thích (ngoài sự bức xạ) hệ thần kinh; y sẽ quan sát cẩn thận hệ thần kinh và dòng máu mà các trung tâm tác động thông qua sự bức xạ lên và xuyên qua các hormone được tìm thấy ở đó. Nhưng chủ âm của toàn bộ công việc của y sẽ là sự phân phối có định hướng, và trung tâm chú ý của y sẽ là các kênh của sự phân phối này—toàn bộ hệ thống các trung tâm dĩ thái.
I would beg you to reflect upon all this information with studious care. The keynote to good health, esoterically speaking, is sharing or distribution, just as it is the keynote to the general well-being of humanity. The economic ills of mankind closely correspond to disease in the individual. There is lack of a free flow of the necessities of life to the points of distribution; these points of distribution are idle: the direction of the distribution is faulty, and only through a sane and worldwide grasp of the New Age principle of sharing will human ills be cured; only by the right distribution of energy will the ills of the physical body of individual [550] man also be cured. This is a fundamental (I would say the fundamental principle) of all spiritual healing. In the last analysis also this presupposes an eventual and scientific recognition of the etheric body of the planet, and consequently of man.
Tôi muốn cầu xin bạn suy ngẫm về tất cả thông tin này với sự cẩn trọng của một môn sinh. Chủ âm của sức khỏe tốt, nói theo huyền bí học, là sự chia sẻ hay sự phân phối, cũng như đó là chủ âm của phúc lợi chung của nhân loại. Những căn bệnh kinh tế của nhân loại tương ứng chặt chẽ với bệnh tật nơi cá nhân. Có sự thiếu vắng một dòng chảy tự do của các nhu yếu phẩm của sự sống đến các điểm phân phối; các điểm phân phối này thì nhàn rỗi; sự định hướng của việc phân phối thì sai lầm, và chỉ thông qua một sự nắm bắt lành mạnh và toàn cầu về nguyên lý chia sẻ của Kỷ Nguyên Mới thì các tai họa của nhân loại mới được chữa lành; chỉ bằng sự phân phối đúng đắn năng lượng thì các bệnh tật của thể xác của cá nhân [550] con người cũng mới được chữa lành. Đây là một nguyên lý căn bản (tôi muốn nói là nguyên lý căn bản) của mọi sự chữa lành tinh thần. Rốt cuộc, điều này cũng giả định sự công nhận cuối cùng và có tính khoa học về thể dĩ thái của hành tinh, và do đó của con người.
We come now to a consideration of Rule One.
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét Quy luật Một.
RULE ONE — QUY LUẬT MỘT
Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from whence the trouble comes. Let him relate the cause and the effect and know the point exact through which relief must come.
Hãy để nhà chữa lành tự rèn luyện mình để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay của dục vọng của người tìm kiếm sự giúp đỡ của y. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân và hậu quả và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải tỏa phải đến.
It will be apparent to you that the first rule which the healer has to master must necessarily be important. It is basic and essential in its implications if a cure is to be effected or if the healer is not to waste time in attempting the impossible. There are four injunctions in this rule:
Bạn sẽ thấy rõ rằng quy luật đầu tiên mà nhà chữa lành phải làm chủ tất yếu phải quan trọng. Nó căn bản và thiết yếu trong các hàm ý của nó nếu muốn việc chữa khỏi được thực hiện hoặc nếu nhà chữa lành không muốn lãng phí thời gian trong việc cố gắng làm điều bất khả. Có bốn mệnh lệnh trong quy luật này:
1. The healer must train himself to know whether the patient is mentally or astrally (emotionally) focussed.
1. Nhà chữa lành phải tự rèn luyện để biết liệu bệnh nhân được tập trung nơi trí tuệ hay nơi cảm dục (cảm xúc).
2. He can and must, therefore, ascertain the psychological basis of the existent trouble.
2. Do đó, y có thể và phải xác định cơ sở tâm lý của rắc rối hiện hữu.
3. He will be able then to ascertain the location of the effect (the disease) through perception of the underlying cause.
3. Khi đó y sẽ có thể xác định vị trí của hậu quả (bệnh tật) thông qua tri giác về nguyên nhân nền tảng.
4. This will enable him to know
4. Điều này sẽ giúp y biết
a. The area affected.
a. vùng bị ảnh hưởng.
b. The centre in the etheric body controlling that area.
b. trung tâm trong thể dĩ thái kiểm soát vùng đó.
You will also realise why I started my analysis of disease and healing by a presentation of the psychological causes. [551] This first rule is related to that entire section of the teaching and is, as you can see, intensely practical.
Bạn cũng sẽ nhận ra tại sao tôi đã bắt đầu việc phân tích bệnh tật và chữa lành bằng cách trình bày các nguyên nhân tâm lý. [551] Quy luật đầu tiên này liên hệ với toàn bộ phần giáo huấn ấy và, như bạn có thể thấy, cực kỳ thực tiễn.
When the personality polarisation is known, two major facts emerge: the point of approach will be either through the head centre or the heart centre if the patient is highly developed—which presumably the healer can be supposed to know from character indications and the effectiveness of his life. Or the approach can be through the throat centre or the solar plexus centre if the patient is an ordinary and average advanced person; if he is quite undeveloped and relatively a low grade human being, the exact point through which relief will come will be the solar plexus centre or the sacral centre. It is interesting to note that when a man is so low in the evolutionary scale that he must be etherically reached via the sacral centre, he is often quite easily cured and will respond more rapidly to what is oft called “etheric manipulation” than will other types. One reason for this is that his mind and his emotions present no real obstacles, and all available energies can be directed unimpeded to the diseased area.
Khi sự phân cực của phàm ngã được biết, hai sự kiện chính xuất hiện: điểm tiếp cận sẽ hoặc là qua trung tâm đầu hoặc trung tâm tim nếu bệnh nhân phát triển cao—điều mà có thể giả định là nhà chữa lành biết được từ các dấu hiệu tính cách và hiệu quả của đời sống y. Hoặc sự tiếp cận có thể là qua trung tâm cổ họng hoặc trung tâm tùng thái dương nếu bệnh nhân là một người bình thường và trung bình nhưng tiến bộ; nếu y hoàn toàn kém phát triển và tương đối là một con người ở cấp thấp, thì điểm chính xác mà qua đó sự giải tỏa sẽ đến sẽ là trung tâm tùng thái dương hoặc trung tâm xương cùng. Thật thú vị khi lưu ý rằng khi một người ở thấp đến mức trên thang tiến hoá đến nỗi phải được tiếp cận về mặt dĩ thái qua trung tâm xương cùng, thì y thường được chữa khá dễ dàng và sẽ đáp ứng nhanh hơn với điều thường được gọi là “thao tác dĩ thái” so với các loại người khác. Một lý do cho điều này là trí tuệ và cảm xúc của y không tạo ra trở ngại thực sự nào, và mọi năng lượng sẵn có đều có thể được hướng đến vùng bệnh mà không bị cản trở.
If the healer is clairvoyant, he can with facility ascertain the point of entry of the healing forces, because the “entering light” will then be the brightest, the light of the centre itself will convey the needed information. If he is a very advanced healer, he will not use any form of psychic perception but will react immediately upon contact to an impression so powerful, coming from the patient, that it cannot be denied and is probably entirely correct and to be depended upon. It must be remembered, however, that owing to the integrity of the human soul, and to the fact that every soul is in its own nature a Master, there will be always a margin of error where the healer is concerned, even if he is an initiate—healer; there will be evidence to him of a point where the spiritual man (of which the patient is only [552] a reflection) controls, and beyond which—except as a soul on an equal basis with the patient’s soul—he cannot and dare not go. There are conditions, for instance, in which an advanced disciple or a high initiate (for definite purpose of vacating his physical vehicle) may be permitting the forces of disintegration, of limitation and of destruction to be breaking down and destroying his physical outer form. When this is the case, the healer may not be aware of the intention; he will, however, be aware of opposition and will be forced to desist from his efforts to heal.
Nếu nhà chữa lành là người thông nhãn, y có thể dễ dàng xác định điểm đi vào của các mãnh lực chữa lành, bởi vì “ánh sáng đi vào” khi đó sẽ sáng nhất, ánh sáng của chính trung tâm sẽ truyền đạt thông tin cần thiết. Nếu y là một nhà chữa lành rất tiến bộ, y sẽ không sử dụng bất kỳ hình thức tri giác thông linh nào mà sẽ đáp ứng ngay khi tiếp xúc với một ấn tượng mạnh mẽ đến từ bệnh nhân, mạnh đến mức không thể phủ nhận và có lẽ hoàn toàn đúng đắn và có thể tin cậy được. Tuy nhiên, phải nhớ rằng do tính toàn vẹn của linh hồn con người, và do sự kiện rằng mọi linh hồn trong bản chất riêng của nó là một Chân sư, nên luôn luôn sẽ có một biên độ sai số đối với nhà chữa lành, ngay cả khi y là một điểm đạo đồ—nhà chữa lành; đối với y sẽ có bằng chứng về một điểm mà con người tinh thần (mà bệnh nhân chỉ là [552] một phản ánh) kiểm soát, và vượt quá điểm đó—ngoại trừ như một linh hồn trên cơ sở bình đẳng với linh hồn của bệnh nhân—y không thể và không dám đi xa hơn. Chẳng hạn, có những tình trạng trong đó một đệ tử tiến bộ hoặc một điểm đạo đồ cao cấp (với mục đích xác định là rời bỏ vận cụ hồng trần của mình) có thể đang cho phép các mãnh lực phân rã, giới hạn và hủy diệt phá vỡ và hủy hoại hình tướng bên ngoài hồng trần của mình. Khi điều này xảy ra, nhà chữa lành có thể không nhận biết được ý định ấy; tuy nhiên, y sẽ nhận biết được sự chống đối và sẽ buộc phải ngừng các nỗ lực chữa lành của mình.
When the patient is a strictly mental type, and the approach to the healing process must be through a higher centre, the head centre, the healer will be wise to gain the conscious cooperation of the patient so that their two wills will function in unison; this will entail a positive relationship between the two. When the patient is not so highly developed, the healer will have to strive for a spirit of hopeful acquiescence in the man; the emotional nature will be stronger in this case than in the more advanced type and the task of the healer consequently harder. He will have, very frequently, to combat anxiety, emotional reactions of diverse kinds, fear and forebodings. The psychological condition will therefore be fluid, and the healer will have much to do to aid the patient to preserve a constancy of emotional reaction and to become calm and quiescent. This quiet reaction has to be attained if the healing energies are to pass effectively to the right centre and its controlled area. This can be brought about by the establishing of a harmonious rapport between the healer and the patient, prior to any healing process. Healers in the New Age will also establish their own clientele, just as physicians do today, and so learn to know the constitution and the temperament of those they may be called upon to help; they will also educate them in certain healing processes and techniques [553] in preparation for their use later, if needed; this time, however, still lies far ahead.
Khi bệnh nhân là một loại người thuần trí tuệ, và sự tiếp cận đến tiến trình chữa lành phải qua một trung tâm cao hơn, trung tâm đầu, thì nhà chữa lành sẽ khôn ngoan nếu giành được sự hợp tác có ý thức của bệnh nhân để hai ý chí của họ hoạt động đồng nhất; điều này sẽ đòi hỏi một mối liên hệ tích cực giữa hai người. Khi bệnh nhân không phát triển cao như vậy, nhà chữa lành sẽ phải cố gắng tạo ra nơi người ấy một tinh thần chấp thuận đầy hy vọng; trong trường hợp này bản chất cảm xúc sẽ mạnh hơn so với loại người tiến bộ hơn và do đó nhiệm vụ của nhà chữa lành sẽ khó hơn. Rất thường xuyên, y sẽ phải chống lại sự lo âu, các phản ứng cảm xúc đủ loại, nỗi sợ hãi và những linh cảm xấu. Vì vậy, tình trạng tâm lý sẽ linh động, và nhà chữa lành sẽ phải làm nhiều việc để giúp bệnh nhân giữ được sự ổn định trong phản ứng cảm xúc và trở nên bình tĩnh và yên lặng. Phản ứng yên tĩnh này phải đạt được nếu các năng lượng chữa lành muốn đi qua một cách hữu hiệu đến đúng trung tâm và vùng do nó kiểm soát. Điều này có thể được mang lại bằng cách thiết lập một sự tương giao hài hòa giữa nhà chữa lành và bệnh nhân trước bất kỳ tiến trình chữa lành nào. Các nhà chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới cũng sẽ thiết lập nhóm bệnh nhân riêng của mình, giống như các thầy thuốc ngày nay, và nhờ đó học biết cấu tạo và khí chất của những người mà họ có thể được kêu gọi giúp đỡ; họ cũng sẽ giáo dục những người ấy về một số tiến trình và kỹ thuật chữa lành [553] để chuẩn bị cho việc sử dụng chúng về sau, nếu cần; tuy nhiên, thời điểm ấy vẫn còn rất xa phía trước.
When the patient is an undeveloped human being and low down in the evolutionary scale, he will be controlled psychologically by the consecrated personality of the healer and by the imposition of the healers’ will upon the etheric body of the patient. This does not mean the imposition of the energy of the will upon a negative person, thereby impelling the patient to action and imperilling even the very small measure of freewill which he possesses; it means the imposition of the authority of knowledge and of spiritual stabilisation upon the patient, thereby instilling confidence and a willingness to be obedient.
Khi bệnh nhân là một con người kém phát triển và ở thấp trên thang tiến hoá, y sẽ được kiểm soát về mặt tâm lý bởi phàm ngã đã được thánh hiến của nhà chữa lành và bởi sự áp đặt ý chí của nhà chữa lành lên thể dĩ thái của bệnh nhân. Điều này không có nghĩa là áp đặt năng lượng của ý chí lên một người tiêu cực, do đó thúc đẩy bệnh nhân hành động và gây nguy hiểm ngay cả cho mức độ tự do ý chí rất nhỏ mà y sở hữu; nó có nghĩa là áp đặt thẩm quyền của tri thức và của sự ổn định tinh thần lên bệnh nhân, nhờ đó gieo vào lòng tin và sự sẵn lòng vâng phục.
You have here the first steps which the healer must take in dealing with the patient and with the psyche, the lower psyche of the patient. They are three in number:
Ở đây bạn có những bước đầu tiên mà nhà chữa lành phải thực hiện khi xử lý bệnh nhân và với psyche, tức hạ psyche của bệnh nhân. Chúng có ba bước:
1. Gaining the cooperation of the personality of the advanced man; it is only the personality which requires healing.
1. Giành được sự hợp tác của phàm ngã nơi người tiến bộ; chỉ có phàm ngã là cần được chữa lành.
2. Bringing about a condition of hopeful acquiescence on the part of the personality of the average man; he is not as yet capable of intelligent cooperation, but he can so handle himself that he reduces personality hindrances to a minimum.
2. Mang lại một tình trạng chấp thuận đầy hy vọng nơi phàm ngã của người trung bình; y chưa có khả năng hợp tác một cách thông minh, nhưng y có thể tự xử sự sao cho giảm thiểu các cản trở của phàm ngã đến mức thấp nhất.
3. Inducing confident obedience to the suggestions of the healer. This is all that the undeveloped man can do.
3. Gây ra sự vâng phục đầy tin cậy đối với các gợi ý của nhà chữa lành. Đó là tất cả những gì người kém phát triển có thể làm.
It will be obvious to you that broad generalisations such as the above do not cover every type of man and the many intermediate types and stages. The healer will need to be a true lover of his fellowmen and a trained psychologist as well; this means that he will have to practice as a soul and also as a perceptive mind.
Bạn sẽ thấy rõ rằng những khái quát rộng như trên không bao quát mọi loại người và nhiều loại cùng giai đoạn trung gian. Nhà chữa lành sẽ cần phải là một người thực sự yêu thương đồng loại của mình và đồng thời là một nhà tâm lý học được đào luyện; điều này có nghĩa là y sẽ phải thực hành như một linh hồn và cũng như một trí tuệ có tri giác.
[554]
[554]
Another point should here be noted. One problem which the healer will have to face with mental types will be the tendency to preserve all energies coming from the soul either in the head, or at least above the diaphragm; this does not mean that all the areas of the body below the diaphragm are not habitually supplied with the needed energies, but that there the functioning is largely automatic and the man is not in the habit of consciously directing energy to the centre and the area it controls, when below the diaphragm. It may be necessary to instruct him so to do, if he is attempting to collaborate with the healer and seeks to bring about a cure. His mental focus and the activity of the head centre will be a great help, provided he accepts instruction in the art of energy direction. This he can usually do if not too ill or too preoccupied with the preservation of a conscious contact with his body. When he is unable to focus his attention, either through pain or through lack of physical consciousness or profound weakness, the healer will have to work primarily as soul with soul, and trust that the rapport between the patient’s soul and the etheric body will be adequate to promote a cure, if that is the destiny of the man.
Một điểm khác cũng nên được lưu ý ở đây. Một vấn đề mà nhà chữa lành sẽ phải đối diện với các loại người trí tuệ sẽ là khuynh hướng giữ tất cả các năng lượng đến từ linh hồn hoặc trong đầu, hoặc ít nhất là phía trên cơ hoành; điều này không có nghĩa là mọi vùng của cơ thể dưới cơ hoành không thường xuyên được cung cấp các năng lượng cần thiết, mà là ở đó sự vận hành phần lớn là tự động và con người không có thói quen có ý thức hướng năng lượng đến trung tâm và vùng mà nó kiểm soát, khi ở dưới cơ hoành. Có thể cần phải hướng dẫn y làm như vậy, nếu y đang cố gắng cộng tác với nhà chữa lành và tìm cách mang lại sự chữa khỏi. Sự tập trung trí tuệ của y và hoạt động của trung tâm đầu sẽ là một trợ giúp lớn, miễn là y chấp nhận sự hướng dẫn trong nghệ thuật định hướng năng lượng. Điều này y thường có thể làm được nếu không quá bệnh hoặc không quá bận tâm với việc duy trì sự tiếp xúc có ý thức với cơ thể mình. Khi y không thể tập trung sự chú ý, hoặc vì đau đớn hoặc vì thiếu tâm thức hồng trần hay vì quá suy yếu, nhà chữa lành sẽ phải làm việc chủ yếu như linh hồn với linh hồn, và tin tưởng rằng sự tương giao giữa linh hồn của bệnh nhân và thể dĩ thái sẽ đủ để thúc đẩy sự chữa khỏi, nếu đó là số mệnh của người ấy.
Where the source of the trouble lies in the emotional or astral body, the task of the healer is not so easy; he has then to work, focussed as a soul in his head centre, but directing the needed energy and controlling the patient’s emotional nature via his correctly oriented solar plexus centre. I refer here to the healer’s solar plexus centre, which is one which he does not as a general rule employ as a point of focus or attention in his own life. The healer has a gained facility in the use of all his centres at will, regarding them as distributing points of directed energy. This directed energy, I would have you note, is now directed towards healing, but is the soul energy of the healer directed towards [555] bringing some centre in the patient’s body under control, owing to the emotionalism which the patient displays, and towards reorganising it as a centre for reception of the healing energies emanating from the patient’s soul—a very different matter and one which must be most carefully borne in mind.
Khi nguồn gốc của rắc rối nằm trong thể cảm dục hay thể cảm xúc, nhiệm vụ của nhà chữa lành không dễ dàng như vậy; khi đó y phải làm việc, tập trung như một linh hồn trong trung tâm đầu của mình, nhưng định hướng năng lượng cần thiết và kiểm soát bản chất cảm xúc của bệnh nhân thông qua trung tâm tùng thái dương được định hướng đúng đắn của mình. Ở đây tôi nói đến trung tâm tùng thái dương của nhà chữa lành, vốn là một trung tâm mà theo quy luật chung y không dùng như một điểm tập trung hay chú ý trong đời sống riêng của mình. Nhà chữa lành đã đạt được sự thành thạo trong việc sử dụng tất cả các trung tâm của mình theo ý muốn, xem chúng như những điểm phân phối của năng lượng được định hướng. Tôi muốn bạn lưu ý rằng năng lượng được định hướng này hiện nay được định hướng đến việc chữa lành, nhưng đó là năng lượng linh hồn của nhà chữa lành được định hướng đến [555] việc đưa một trung tâm nào đó trong cơ thể bệnh nhân vào vòng kiểm soát, do tính cảm xúc mà bệnh nhân biểu lộ, và đến việc tái tổ chức nó như một trung tâm để tiếp nhận các năng lượng chữa lành phát ra từ linh hồn của bệnh nhân—một vấn đề rất khác và phải được ghi nhớ hết sức cẩn thận.
The healer, therefore, uses two centres, normally speaking: his own head centre and that centre in his own body which corresponds to the area which is diseased and its controlling centre. There has to be in every successful healing the establishing of a sympathetic relationship. As an ancient book in the Masters’ Archives puts it: “Soul to soul, the two are one; point to point, together must they suffer; place to place, they find themselves allied, and thus the dual stream of energy results in cure.”
Vì vậy, nói chung nhà chữa lành sử dụng hai trung tâm: trung tâm đầu của chính mình và trung tâm trong chính cơ thể mình tương ứng với vùng bị bệnh và trung tâm kiểm soát vùng ấy. Trong mọi sự chữa lành thành công phải có sự thiết lập một mối liên hệ cảm thông. Như một cuốn sách cổ trong Văn Khố của các Chân sư đã nói: “Linh hồn với linh hồn, cả hai là một; điểm với điểm, cùng nhau họ phải chịu đau khổ; chỗ với chỗ, họ thấy mình liên kết, và như vậy dòng năng lượng kép mang lại sự chữa lành.”
One of the major difficulties with which the healer is faced, particularly if relatively inexperienced, is the result of this established sympathetic relation. There is apt to occur what we might call “transference.” The healer takes on or takes over the condition of disease or discomfort, not in fact but symptomatically. This can incapacitate him or at least intercept the free activity of the healing process. It is a glamour and an illusion and is based on the healer’s achieved capacity to identify himself with his patient; it also is founded on his anxiety and great desire to bring relief. The healer has become so preoccupied with the patient’s need, and so decentralised from his own identified and positive consciousness, that inadvertently he has become negative and temporarily unprotected. The cure for this, if the healer discovers in himself this tendency, is to work through the heart centre as well as the head centre, and thus keep a steady flow of the positive energy of love pouring out towards the patient. This will insulate him from the disease, but not from the patient. He can do this by working [556] through the heart centre within the brahmarandra (the head centre) and greatly increase the potency of his healing work; however, it presupposes a high degree of development on the healer’s part. The average spiritual healer will have to link up head and heart centres by a definite act of the will. He will then realise that the love pouring from him to the patient will prevent any return of the undesirable emanations from the patient which have been flowing towards him; this because if such a flow existed, it would militate against the patient being healed.
Một trong những khó khăn lớn mà nhà chữa lành phải đối diện, đặc biệt nếu còn tương đối thiếu kinh nghiệm, là kết quả của mối liên hệ cảm thông đã được thiết lập này. Điều mà chúng ta có thể gọi là “sự chuyển giao” rất dễ xảy ra. Nhà chữa lành tiếp nhận hay gánh lấy tình trạng bệnh tật hoặc khó chịu, không phải trên thực tế mà về mặt triệu chứng. Điều này có thể làm y mất khả năng hoạt động hoặc ít nhất ngăn chặn hoạt động tự do của tiến trình chữa lành. Đó là một ảo cảm và một ảo tưởng, và dựa trên năng lực đã đạt được của nhà chữa lành trong việc đồng hoá với bệnh nhân của mình; nó cũng dựa trên sự lo âu và ước muốn lớn lao của y là mang lại sự giải tỏa. Nhà chữa lành đã trở nên quá bận tâm với nhu cầu của bệnh nhân, và quá phi tập trung vào bản thân khỏi tâm thức đồng nhất và tích cực của chính mình, đến nỗi vô tình y đã trở nên tiêu cực và tạm thời không được bảo vệ. Phương thuốc cho điều này, nếu nhà chữa lành phát hiện nơi mình khuynh hướng ấy, là làm việc qua trung tâm tim cũng như trung tâm đầu, và nhờ đó giữ một dòng chảy ổn định của năng lượng tích cực của tình thương tuôn ra hướng về bệnh nhân. Điều này sẽ cách ly y khỏi bệnh tật, nhưng không khỏi bệnh nhân. Y có thể làm điều này bằng cách làm việc [556] qua trung tâm tim bên trong brahmarandra (trung tâm đầu) và gia tăng rất nhiều hiệu lực của công việc chữa lành của mình; tuy nhiên, điều đó giả định một mức độ phát triển cao nơi nhà chữa lành. Nhà chữa lành tinh thần trung bình sẽ phải nối kết trung tâm đầu và trung tâm tim bằng một hành vi xác định của ý chí. Khi đó y sẽ nhận ra rằng tình thương tuôn ra từ y đến bệnh nhân sẽ ngăn chặn bất kỳ sự quay trở lại nào của những phát xạ không mong muốn từ bệnh nhân đã chảy về phía y; điều này là vì nếu có một dòng chảy như vậy, nó sẽ cản trở việc bệnh nhân được chữa lành.
The healer who responds to the inner urge to heal will face, as you can see, a very severe course of training before his own equipment—personality, etheric body and its centres—are brought into such submission to the soul that they offer no obstruction to the healing art. He has therefore to learn in connection with himself:
Như bạn có thể thấy, nhà chữa lành đáp ứng với thôi thúc bên trong để chữa lành sẽ phải đối diện với một khóa huấn luyện rất nghiêm khắc trước khi chính bộ máy của y—phàm ngã, thể dĩ thái và các trung tâm của nó—được đưa vào sự phục tùng đối với linh hồn đến mức chúng không gây cản trở nào cho nghệ thuật chữa lành. Vì vậy, liên quan đến chính mình, y phải học:
1. Rapid alignment between soul, mind, head centre and physical brain.
1. Sự chỉnh hợp nhanh chóng giữa linh hồn, trí tuệ, trung tâm đầu và bộ não hồng trần.
2. The use of the mind, illumined by the soul, in the psychological diagnosis of the causes of the disease which he proposes to handle.
2. Việc sử dụng trí tuệ, được linh hồn soi sáng, trong chẩn đoán tâm lý các nguyên nhân của bệnh mà y dự định xử lý.
3. Methods for establishing a sympathetic rapport with the patient.
3. Các phương pháp thiết lập một sự tương giao cảm thông với bệnh nhân.
4. Modes of protecting himself from any transference brought about through this rapport.
4. Các cách tự bảo vệ mình khỏi bất kỳ sự chuyển giao nào được mang lại qua sự tương giao này.
5. The establishing of a right relation with the patient of either cooperation, acquiescence or spiritual control.
5. Việc thiết lập một mối liên hệ đúng đắn với bệnh nhân theo kiểu hợp tác, chấp thuận hay kiểm soát tinh thần.
6. Physical diagnosis and the locating of the area to which relief must come, via the controlling centre.
6. Chẩn đoán hồng trần và xác định vùng mà sự giải tỏa phải đến, thông qua trung tâm kiểm soát.
7. The art of cooperation with the patient’s soul so that his etheric body focusses all its inflaming energies in order to bring relief to the diseased area. This involves the direct activity of the healer’s etheric body in connection [557] with a renewed activity on the part of the patient’s etheric body.
7. Nghệ thuật hợp tác với linh hồn của bệnh nhân để thể dĩ thái của y tập trung tất cả các năng lượng gây viêm của nó nhằm mang lại sự giải tỏa cho vùng bị bệnh. Điều này bao hàm hoạt động trực tiếp của thể dĩ thái của nhà chữa lành trong mối liên hệ [557] với một hoạt động được đổi mới nơi thể dĩ thái của bệnh nhân.
8. The technique of withdrawing his healing power when that of the patient is adequate to the undertaking.
8. Kỹ thuật rút lại quyền năng chữa lành của mình khi quyền năng của bệnh nhân đã đủ cho công việc ấy.
I feel that I have here given you all that you need for immediate study and reflection. I have shown you that the healing art is not a vague mystical process, or wishful thinking and simple good intentions. I have indicated that it presupposes the mastering of the science of soul contact, first of all: the constant practice of alignment, and the comprehension of the Science of the Centres, or—literally—a modern form of Laya-Yoga. Healers in the future will undergo years of drastic training, and this need cause no surprise, for the ordinary medical profession calls for years of hard study and work. Many healers in the New Age will combine orthodox study and knowledge with the art of spiritual healing.
Tôi cảm thấy rằng ở đây tôi đã trao cho bạn tất cả những gì bạn cần để nghiên cứu và suy ngẫm ngay lúc này. Tôi đã chỉ cho bạn thấy rằng nghệ thuật chữa lành không phải là một tiến trình thần bí mơ hồ, hay sự mong ước viển vông và những thiện ý đơn giản. Tôi đã chỉ ra rằng nó giả định trước hết việc làm chủ khoa học tiếp xúc linh hồn: sự thực hành chỉnh hợp liên tục, và sự thấu hiểu Khoa Học về các Trung Tâm, hay—nói theo nghĩa đen—một hình thức hiện đại của Laya-Yoga. Các nhà chữa lành trong tương lai sẽ trải qua nhiều năm huấn luyện nghiêm khắc, và điều này không cần gây ngạc nhiên, vì ngành y thông thường đòi hỏi nhiều năm học tập và làm việc gian khổ. Nhiều nhà chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới sẽ kết hợp việc học tập và tri thức chính thống với nghệ thuật chữa lành tinh thần.
When trained healers, with perception, with a full working knowledge of the etheric body, with an understanding of the energies which compose it or which it does or can transmit, of the subtle constitution of man and of the methods of directing energies from one point and location to another, can work with full medical knowledge or in full collaboration with the orthodox physician or surgeon, then tremendous changes will be brought about. Great enlightenment will reach the race of man.
Khi những nhà chữa lành được đào luyện, có tri giác, có tri thức thực hành đầy đủ về thể dĩ thái, có sự thấu hiểu các năng lượng cấu thành nó hoặc những năng lượng mà nó đang hay có thể truyền dẫn, về cấu tạo vi tế của con người và về các phương pháp định hướng năng lượng từ điểm và vị trí này sang điểm và vị trí khác, có thể làm việc với đầy đủ tri thức y học hoặc trong sự cộng tác trọn vẹn với thầy thuốc hay phẫu thuật gia chính thống, thì những thay đổi to lớn sẽ được mang lại. Sự soi sáng lớn lao sẽ đến với nhân loại.
It is for this that we must prepare—not primarily for the healing of the physical body, but because of the expansion of the consciousness of the race that this new and esoteric study will bring about.
Chính cho điều này mà chúng ta phải chuẩn bị—không phải chủ yếu cho việc chữa lành thể xác, mà bởi vì sự mở rộng tâm thức của nhân loại mà môn nghiên cứu mới và huyền bí này sẽ mang lại.
We have dealt with a number of fundamental realities which it is essential that all healers—endeavouring to work with the new type of esoteric healing—must master; what [558] I said, therefore, is of major importance. Each point made by me could form the basis of prolonged discussion, but (in this treatise) that is not possible, for I seek only to give indication of future possibilities. I seek also to foment distrust in the present approach of the metaphysical world to this subject of disease and its cure, and to undermine—if I may use so drastic an expression—the confidence of the public in the so-called New Age modes of healing, in the methods of the Christian Scientist, of Mental Science, and of all those schools of thought which deal with healing from the angle of affirmation—affirmation of man’s divinity and the claim that that inherent and innate divinity guarantees his healing. This claim is a glamour and a delusion, as I have oft sought to show.
Chúng ta đã bàn đến một số thực tại căn bản mà điều thiết yếu là mọi nhà chữa lành—đang nỗ lực làm việc với loại chữa lành nội môn mới—phải làm chủ; vì thế, điều [558] tôi đã nói có tầm quan trọng lớn lao. Mỗi điểm tôi nêu ra đều có thể làm cơ sở cho một cuộc thảo luận kéo dài, nhưng (trong bộ luận này) điều đó là không thể, vì tôi chỉ tìm cách đưa ra chỉ dẫn về những khả năng tương lai. Tôi cũng tìm cách khơi dậy sự ngờ vực đối với cách tiếp cận hiện nay của thế giới siêu hình học đối với chủ đề bệnh tật và sự chữa trị của nó, và làm suy yếu—nếu tôi có thể dùng một cách diễn đạt mạnh như vậy—niềm tin của công chúng vào những phương thức chữa lành được gọi là của Kỷ Nguyên Mới, vào các phương pháp của Christian Scientist, của Mental Science, và của tất cả những trường phái tư tưởng xử lý việc chữa lành từ góc độ khẳng định—khẳng định thiên tính của con người và tuyên bố rằng thiên tính cố hữu và bẩm sinh ấy bảo đảm cho sự chữa lành của y. Tuyên bố này là một ảo cảm và một ảo tưởng, như tôi đã thường tìm cách chỉ ra.
Today we deal with a law which (if properly under stood) proves home inadequate is the approach of the modern metaphysician to this subject and—though it puts our instructions on healing on a sound basis—it postpones the era of truly occult healing quite definitely to a more distant time. This third law runs as follows:
Hôm nay chúng ta bàn đến một định luật mà (nếu được thấu hiểu đúng đắn) chứng minh rõ cách tiếp cận của nhà siêu hình học hiện đại đối với chủ đề này là thiếu sót biết bao và—dù nó đặt các huấn thị của chúng ta về chữa lành trên một nền tảng vững chắc—nó lại dời thời đại của sự chữa lành thực sự huyền bí học đến một thời điểm xa hơn một cách rất rõ rệt. Định luật thứ ba này như sau:
LAW III — ĐỊNH LUẬT III
Disease is an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the Plane whereon those energies are focussed proceed those determining conditions which produce ill health. These, therefore, work out as disease or as freedom from disease.
Bệnh tật là một hậu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của một người. Từ Cõi mà trên đó các năng lượng ấy được tập trung phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra tình trạng sức khỏe xấu. Vì vậy, những điều kiện này biểu hiện thành bệnh tật hoặc thành sự không bệnh tật.
This law indicates that one of the primary determinations at which the healer must arrive is that of the level of consciousness from which the predominating energy in the etheric body emanates. I would remind you here that in The Secret Doctrine, H.P.B. states that a plane and a state of consciousness are synonymous terms, and entirely interchangeable; in all my writing I seek to emphasise not [559] the level of matter or substance (a plane, as it is called), but the consciousness which expresses itself in that environing area of conscious substance.
Định luật này chỉ ra rằng một trong những xác định sơ khởi mà nhà chữa lành phải đạt đến là xác định cấp độ tâm thức mà từ đó năng lượng chi phối trong thể dĩ thái phát ra. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng trong Giáo Lý Bí Nhiệm, H.P.B. phát biểu rằng một cõi và một trạng thái tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa, và hoàn toàn có thể thay thế cho nhau; trong tất cả các trước tác của tôi, tôi tìm cách nhấn mạnh không phải [559] cấp độ của vật chất hay chất liệu (một cõi, như nó được gọi), mà là tâm thức tự biểu lộ trong vùng chất liệu hữu thức bao quanh ấy.
We are assured in this ancient law that disease is an elect of the basic centralisation of a man’s life energy. This life energy is not the same as the energy or force of consciousness, but consciousness is ever the directing factor in every expression of the indwelling life, for there is basically only one major energy—life energy. Where the consciousness of the man is focussed, there the life energy will gather its forces. If the consciousness is focussed on the mental plane or upon the astral plane, the life energy will not be so strongly focussed and anchored in the heart centre (the centre where the life principle is found), but only a part of its vital energy will find its way into the physical body, via the etheric vehicle. The greater part will be retained (to use an inadequate word) upon the plane where the consciousness is predominantly functioning or—to word it otherwise—it will be conditioned in expression by the state of consciousness, corresponding to that level of awareness or place of contact with the divine Whole or the divine Consciousness which the point in evolution of the man makes possible.
Trong định luật cổ xưa này, chúng ta được bảo đảm rằng bệnh tật là một hậu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của một người. Năng lượng sự sống này không giống với năng lượng hay mãnh lực của tâm thức, nhưng tâm thức luôn luôn là yếu tố định hướng trong mọi biểu hiện của sự sống nội tại, vì về căn bản chỉ có một năng lượng chính—năng lượng sự sống. Tâm thức của con người được tập trung ở đâu, ở đó năng lượng sự sống sẽ tập hợp các mãnh lực của nó. Nếu tâm thức được tập trung trên cõi trí hay trên cõi cảm dục, thì năng lượng sự sống sẽ không được tập trung và neo giữ mạnh mẽ như vậy trong trung tâm tim (trung tâm nơi nguyên khí sự sống được tìm thấy), mà chỉ một phần năng lượng sinh lực của nó sẽ tìm đường đi vào thể xác, thông qua vận cụ dĩ thái. Phần lớn hơn sẽ được giữ lại (dùng một từ không đầy đủ) trên cõi mà ở đó tâm thức đang hoạt động chủ yếu hoặc—nói cách khác—sẽ được điều kiện hóa trong biểu hiện bởi trạng thái tâm thức tương ứng với cấp độ nhận biết ấy hay nơi tiếp xúc với Toàn Thể thiêng liêng hoặc Tâm Thức thiêng liêng mà điểm tiến hoá của con người làm cho có thể.
The task of the healer is therefore to find out where this focus of consciousness is to be found; this brings us back to a point I made anent the patient being essentially either a mental or an emotional type, and very, very rarely indeed purely physical in his consciousness. Where the consciousness is stabilised in that of the soul, there will be little disease present and the physical difficulties of the highly developed patient will then be associated with the impact of the soul energy upon an unready physical vehicle; at that stage only certain of the major diseases will affect him. He will not be susceptible to the little complaints and the [560] constant small infections which render the life of the average man or of the undeveloped man so trying and difficult. He may suffer from heart trouble, from nervous diseases, and from complaints affecting the upper part of the body and those areas which are controlled by the centres above the diaphragm; however, the difficulties brought about through the minor etheric centres (of which there are many), or by the centres below the diaphragm, will not usually be present—unless (as can be the case in a very advanced disciple) he is deliberately taking on conditions engendered by his world service for men.
Vì vậy, nhiệm vụ của nhà chữa lành là tìm ra nơi nào có thể tìm thấy tiêu điểm tâm thức này; điều này đưa chúng ta trở lại điểm tôi đã nêu về việc bệnh nhân về bản chất hoặc là loại người trí tuệ hoặc là loại người cảm xúc, và rất, rất hiếm khi thuần túy hồng trần trong tâm thức của mình. Khi tâm thức được ổn định trong tâm thức của linh hồn, sẽ có rất ít bệnh tật hiện diện và những khó khăn hồng trần của bệnh nhân phát triển cao khi đó sẽ gắn liền với tác động của năng lượng linh hồn lên một vận cụ hồng trần chưa sẵn sàng; ở giai đoạn đó chỉ một số bệnh lớn mới ảnh hưởng đến y. Y sẽ không dễ bị những chứng bệnh nhỏ và những nhiễm trùng lặt vặt thường xuyên [560] vốn làm cho đời sống của người trung bình hay của người kém phát triển trở nên quá nhọc nhằn và khó khăn. Y có thể chịu đựng bệnh tim, các bệnh thần kinh, và những chứng bệnh ảnh hưởng đến phần trên của cơ thể và những vùng được kiểm soát bởi các trung tâm phía trên cơ hoành; tuy nhiên, những khó khăn do các trung tâm dĩ thái phụ (mà có rất nhiều) hoặc do các trung tâm dưới cơ hoành gây ra thường sẽ không hiện diện—trừ phi (như có thể xảy ra nơi một đệ tử rất tiến bộ) y đang cố ý gánh lấy những tình trạng được tạo ra bởi sự phụng sự thế gian của mình cho nhân loại.
As the majority of human beings are at this time centralised on the astral plane (or in the astral body), a clue to one of the greatest sources of disease immediately becomes apparent. When the consciousness of the race shifts on to the mental plane—and this is slowly taking place—then the more widely known and prevalent diseases will die out and only the diseases of mental types or the diseases of disciples will remain to disturb the peace of individual man. With these I have dealt in an earlier volume of this treatise. (A Treatise on the Seven Rays, Vol. II, Page 520-625)
Vì đa số nhân loại hiện nay được tập trung trên cõi cảm dục (hay trong thể cảm dục), nên một đầu mối về một trong những nguồn gốc lớn nhất của bệnh tật lập tức trở nên rõ ràng. Khi tâm thức của nhân loại chuyển sang cõi trí—và điều này đang từ từ diễn ra—thì những bệnh tật được biết đến rộng rãi hơn và phổ biến hơn sẽ biến mất và chỉ còn lại những bệnh của các loại người trí tuệ hay những bệnh của các đệ tử làm xáo trộn sự bình an của cá nhân con người. Tôi đã bàn đến những điều này trong một tập trước của bộ luận này. (Luận về Bảy Cung, Tập II, Trang 520-625)
Mental Science is right in its recognition that it is the emotions of men (as expressed in that feeble imitation of reality which they call thought) which are responsible for much disease. They are right in their effort to make the patient change his emotional attitudes and to react to life and circumstances and people along a different line. But they are hopelessly wrong in believing that that is sufficient; in their ignoring of all scientific procedures connected with the etheric body, they have nothing which relates the emotional nature to the physical vehicle, and therefore there is a gap in their reasoning and a consequent fault in their [561] technique. This renders their activities futile, except from the character angle. When they do bring about a healing, it is because in any case the patient was predestined to recover, but they have served a useful purpose in correcting a character condition in which he was in constant danger of disease. They have not brought a cure, and in claiming it both the healer and the patient are deceived. All deception is dangerous and hindering.
Mental Science đúng trong sự công nhận của họ rằng chính các cảm xúc của con người (như được biểu lộ trong sự bắt chước yếu ớt thực tại mà họ gọi là tư tưởng) chịu trách nhiệm cho nhiều bệnh tật. Họ đúng trong nỗ lực làm cho bệnh nhân thay đổi các thái độ cảm xúc của mình và đáp ứng với đời sống, hoàn cảnh và con người theo một đường hướng khác. Nhưng họ sai lầm một cách tuyệt vọng khi tin rằng như thế là đủ; trong việc họ bỏ qua mọi thủ tục khoa học liên quan đến thể dĩ thái, họ không có gì nối kết bản chất cảm xúc với vận cụ hồng trần, và do đó có một khoảng trống trong lý luận của họ và một sai sót kéo theo trong kỹ thuật của họ. Điều này làm cho các hoạt động của họ trở nên vô hiệu, ngoại trừ từ góc độ tính cách. Khi họ thực sự mang lại một sự chữa lành, đó là vì trong bất kỳ trường hợp nào bệnh nhân đã được tiền định là sẽ hồi phục, nhưng họ đã phục vụ một mục đích hữu ích trong việc sửa chữa một tình trạng tính cách mà trong đó y luôn luôn có nguy cơ mắc bệnh. Họ đã không mang lại một sự chữa khỏi, và khi tuyên bố như vậy thì cả nhà chữa lành lẫn bệnh nhân đều bị lừa dối. Mọi sự lừa dối đều nguy hiểm và gây cản trở.
It might be of service here if I indicate along broad and general lines some of the types of disease which a centralisation of the life force upon the astral plane, for instance, could produce. I shall but list them; I will not deal with them in any detail for until the modern healer recognises the fact of the etheric body, and works scientifically and intelligently with it and its controlling centres of force, anything I could say of procedure would be futile. I am endeavouring at this time to promote certain basic acceptances—such as the fact of the existence of the etheric body.
Ở đây có thể hữu ích nếu tôi chỉ ra theo những nét rộng và tổng quát một số loại bệnh mà chẳng hạn sự tập trung của lực sự sống trên cõi cảm dục có thể tạo ra. Tôi sẽ chỉ liệt kê chúng; tôi sẽ không bàn đến chúng chi tiết, vì cho đến khi nhà chữa lành hiện đại công nhận sự kiện về thể dĩ thái, và làm việc một cách khoa học và thông minh với nó cùng các trung tâm mãnh lực kiểm soát của nó, thì bất cứ điều gì tôi có thể nói về thủ tục đều sẽ vô ích. Hiện nay tôi đang cố gắng thúc đẩy một số sự chấp nhận căn bản—chẳng hạn như sự kiện về sự tồn tại của thể dĩ thái.
1. Constant introspection, all forms of morbid suppression and a too drastically enforced silence where fundamental emotions are concerned can lead to serious liver trouble, to constant gastric difficulties and to cancer.
1. Sự tự xét mình liên tục, mọi hình thức dồn nén bệnh hoạn và một sự im lặng bị cưỡng ép quá mức khi các cảm xúc căn bản có liên quan có thể dẫn đến những rắc rối nghiêm trọng về gan, đến những khó khăn dạ dày thường xuyên và đến ung thư.
3. Where hatreds and deep dislike are present in the consciousness, or where the man lives in a constant state of irritation against a person or a group, or again where the sense of being abused is present, there is a real possibility that the blood stream will be affected: the man then will be susceptible to constant infections, to boils, to running sores and to the various blood conditions which are definitely septic in nature.
3. Khi hận thù và ác cảm sâu sắc hiện diện trong tâm thức, hoặc khi con người sống trong một trạng thái kích động thường xuyên chống lại một người hay một nhóm người, hoặc nữa khi có cảm giác bị ngược đãi, thì có một khả năng thực sự là dòng máu sẽ bị ảnh hưởng: khi đó người ấy sẽ dễ bị nhiễm trùng thường xuyên, mụn nhọt, các vết loét chảy mủ và các tình trạng khác nhau của máu vốn rõ ràng có bản chất nhiễm trùng.
3. An irritable nature and one which is always in a state of fussiness, of bad temper, one which reacts furiously when things do not go as desired, may lead to disastrous [562] explosions which can be diagnosed as brain difficulties and temporary insanities; they may lead to constant headaches which undermine the constitution and bring about an inevitably debilitated condition.
3. Một bản chất dễ cáu kỉnh và luôn ở trong trạng thái bực bội, nóng nảy, một bản chất phản ứng dữ dội khi mọi việc không diễn ra như mong muốn, có thể dẫn đến những [562] cơn bùng nổ tai hại có thể được chẩn đoán là các rối loạn não và những cơn điên loạn tạm thời; chúng có thể dẫn đến những cơn đau đầu thường xuyên làm suy yếu thể chất và mang lại một tình trạng suy nhược không thể tránh khỏi.
4. A frustrated sex life or a state wherein an unmarried person has had no normal expression of a natural and universal process, and to whom therefore sex remains a mystery (and at the same time a constant inner unrecorded subject of thought) will lead:
4. Một đời sống tính dục bị ngăn trở hoặc một tình trạng trong đó một người chưa kết hôn không có được sự biểu lộ bình thường của một tiến trình tự nhiên và phổ quát, và do đó đối với người ấy tính dục vẫn là một điều bí ẩn (đồng thời là một chủ đề tư tưởng nội tâm thường xuyên nhưng không được ghi nhận) sẽ dẫn đến:
a. To a condition of great devitalisation with a consequent and unavoidable ill health which attends that type of person—the so-called obvious old maid or bachelor. Needless to remark, there are many such unmarried people who face life wholesomely and do not come under this category.
a. Một tình trạng mất sinh lực lớn với hậu quả là sức khỏe xấu không thể tránh khỏi đi kèm loại người đó—người được gọi là bà cô già hay ông độc thân rõ rệt. Không cần nói thêm, có nhiều người chưa kết hôn như vậy đối diện với đời sống một cách lành mạnh và không thuộc loại này.
b. To a constant effort to attract the attention of the opposite sex until it reaches a point where it becomes a nervous and most unwholesome tendency.
b. Một nỗ lực thường xuyên nhằm thu hút sự chú ý của người khác phái cho đến khi nó đạt đến một mức mà ở đó nó trở thành một khuynh hướng thần kinh và hết sức không lành mạnh.
c. To the development of homosexual habits or to those perversions which warp the life of many intelligent people.
c. Sự phát triển của các thói quen đồng tính luyến ái hoặc những lệch lạc làm méo mó đời sống của nhiều người thông minh.
d. To the tumours—malignant or otherwise—which attack the organs of generation and which frequently make the subject an operative case.
d. Những khối u—ác tính hay không—tấn công các cơ quan sinh sản và thường khiến đối tượng trở thành một ca phẫu thuật.
There are other possible developments but upon them I do not propose to dwell. I have here indicated enough to show the danger of a sense of frustration and a morbid (even if at the time an unrecognised) interest in sex. This can evidence itself also in a dream life which links the brain, the mind and the organs of generation closely together and proves the fact of astral desire evoking the physical appetite; this demonstrates my contention that the physical body automatically responds—[563] even when unconscious in the hours of sleep—to astral control. The cure, as you of course know, is a full creative outer life, particularly one which is of benefit to one’s fellowmen and is not simply a transmutation of the sex urge into some form of creative thinking which simply remains thinking, but takes no shape or form on the outer plane of human life.
Còn có những phát triển khả dĩ khác nhưng tôi không định dừng lại ở chúng. Ở đây tôi đã chỉ ra đủ để cho thấy sự nguy hiểm của cảm giác bị ngăn trở và một sự quan tâm bệnh hoạn (ngay cả khi lúc đó không được nhận biết) đối với tính dục. Điều này cũng có thể biểu lộ trong đời sống mộng mị, vốn nối kết bộ não, trí tuệ và các cơ quan sinh sản một cách chặt chẽ và chứng minh sự kiện rằng dục vọng cảm dục khơi dậy sự thèm muốn hồng trần; điều này chứng minh luận điểm của tôi rằng thể xác tự động đáp ứng—[563] ngay cả khi vô thức trong những giờ ngủ—đối với sự kiểm soát cảm dục. Phương thuốc, dĩ nhiên như bạn biết, là một đời sống bên ngoài sáng tạo trọn vẹn, đặc biệt là một đời sống mang lại lợi ích cho đồng loại của mình và không chỉ đơn thuần là một sự chuyển hoá xung lực tính dục thành một hình thức tư duy sáng tạo nào đó mà chỉ vẫn là tư duy, nhưng không mang lấy hình dạng hay hình tướng nào trên cõi bên ngoài của đời sống con người.
5. Self-pity, so prevalent a trouble, leads to acute indigestion, to intestinal trouble, to catarrh and head colds in the average person, whilst in the more advanced man it leads to chronic bronchial difficulties, gastric ulcers and unhealthy conditions connected with the teeth and the ears.
5. Sự tự thương hại, một rắc rối rất phổ biến, dẫn đến chứng khó tiêu cấp tính, các rối loạn đường ruột, chứng viêm niêm mạc và cảm lạnh ở đầu nơi người trung bình, trong khi nơi người tiến bộ hơn nó dẫn đến các khó khăn phế quản mãn tính, loét dạ dày và các tình trạng không lành mạnh liên quan đến răng và tai.
I could go on enumerating other emotional conditions which produce disease in the person where these conditions are present but this will suffice to give the experimenting healer a clue to certain possibilities which are responsible for the physical difficulties with which he is called upon to deal. We will have also (as I have pointed out elsewhere) to bear in mind conditions which have been inherited from previous incarnations or developed as a result of environing group, national or planetary karma.
Tôi có thể tiếp tục liệt kê những tình trạng cảm xúc khác tạo ra bệnh tật nơi người có những tình trạng ấy, nhưng như thế cũng đủ để cung cấp cho nhà chữa lành đang thử nghiệm một đầu mối về một số khả năng chịu trách nhiệm cho những khó khăn hồng trần mà y được kêu gọi xử lý. Chúng ta cũng sẽ phải ghi nhớ (như tôi đã chỉ ra ở nơi khác) những tình trạng đã được thừa hưởng từ các lần nhập thể trước hoặc phát triển như là kết quả của nghiệp quả nhóm, quốc gia hay hành tinh của môi trường xung quanh.
There is no rule connected with this law because we are still dealing with the definition of causes producing the objective disease; these have to be grasped and accepted as working theories before the healer can efficiently deal with the situation.
Không có quy luật nào gắn với định luật này bởi vì chúng ta vẫn đang xử lý việc định nghĩa các nguyên nhân tạo ra bệnh khách quan; những nguyên nhân này phải được nắm vững và chấp nhận như những giả thuyết làm việc trước khi nhà chữa lành có thể xử lý tình huống một cách hữu hiệu.
We come now to the consideration of a law which is so inclusive in its significance and in its defining power that it might be regarded as stating the reason for all disease of any nature and at any time in the life history of the race or of individual man. It is stated here and is only regarded as Law IV because of the necessity for the main contentions [564] of the three preceding laws being admitted, considered and studied; also because it is the major law conditioning the appearance of disease in the fourth kingdom in nature, the human kingdom. It is essentially a law related to the fourth Creative Hierarchy, and it was definitely imposed and recognised as a law, governing humanity predominantly, by initiates working in the fourth rootrace, the Atlantean. Curiously enough also when humanity can function with its consciousness centred upon the fourth or buddhic plane, disease will die out and the fourth Creative Hierarchy will finally be freed from that great limitation.
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một định luật bao quát đến mức trong thâm nghĩa và trong năng lực định nghĩa của nó đến nỗi nó có thể được xem như nêu ra lý do cho mọi bệnh tật thuộc bất kỳ bản chất nào và vào bất kỳ lúc nào trong lịch sử đời sống của nhân loại hay của cá nhân con người. Nó được nêu ra ở đây và chỉ được xem là Định luật IV vì sự cần thiết phải thừa nhận, xem xét và nghiên cứu những khẳng định chính [564] của ba định luật trước; cũng bởi vì đó là định luật chính tác động lên sự xuất hiện của bệnh tật trong giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại. Về bản chất, đó là một định luật liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và nó đã được các điểm đạo đồ hoạt động trong giống dân gốc thứ tư, Atlantis, xác định áp đặt và công nhận như một định luật chi phối nhân loại một cách nổi trội. Thật kỳ lạ, khi nhân loại có thể hoạt động với tâm thức của mình được tập trung trên cõi thứ tư hay cõi Bồ đề, bệnh tật sẽ biến mất và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư cuối cùng sẽ được giải thoát khỏi giới hạn lớn lao ấy.
LAW IV — ĐỊNH LUẬT IV
Disease, both Physical and Psychological, has its roots in the good, the beautiful, and the true. It is but a distorted reflection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces—within the substance of its sheaths—a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.
Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có cội rễ trong điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật. Nó chỉ là sự phản chiếu méo mó của các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, đang tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra—trong chất liệu của các thể vỏ của nó—một điểm ma sát. Trên điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung vào, và điều này dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà chữa lành liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành chân chính bên trong hình tướng. Khi ấy con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần sẽ điều khiển mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều ổn thỏa.
This law starts off with the statement of one of the paradoxes of the occult teaching: that good and evil are one and the same thing, though in reverse, or constituting the opposite sides of the one Reality.
Định luật này mở đầu bằng việc phát biểu một trong những nghịch lý của giáo huấn huyền bí học: rằng thiện và ác là một và cùng một sự vật, chỉ khác ở chiều ngược lại, hay cấu thành hai mặt đối nghịch của một Thực Tại duy nhất.
Because man is a soul, and is spiritually determined to function as a soul, a state of friction is established between soul and personality; this friction is a major cause (if it is not the major cause) of all disease. Here is a clue to the understanding of the phrase, “fire by friction,” the third aspect of the divine “fiery nature” of God, for “our God is a consuming fire’. His nature, we are told also, is expressed [565] through electric fire, through solar fire and through fire by friction. These three fires I dealt with at length in A Treatise on Cosmic Fire and hinted at earlier in The Secret Doctrine.
Bởi vì con người là một linh hồn, và được xác định một cách tinh thần để hoạt động như một linh hồn, nên một trạng thái ma sát được thiết lập giữa linh hồn và phàm ngã; sự ma sát này là một nguyên nhân lớn (nếu không phải là nguyên nhân lớn nhất) của mọi bệnh tật. Ở đây có một đầu mối để hiểu cụm từ “Lửa ma sát”, phương diện thứ ba của “bản chất rực lửa” thiêng liêng của Thượng đế, vì “Thượng đế của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt”. Chúng ta cũng được bảo rằng bản chất của Ngài được biểu lộ [565] qua Lửa Điện, qua Lửa Thái dương và qua Lửa ma sát. Ba ngọn lửa này tôi đã bàn rất dài trong Luận về Lửa Vũ Trụ và đã gợi ý trước đó trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
This law states that because man is divine, the urge to divinity produces resistance in the vehicles of expression; this resistance will localise itself in the area of the physical body and produce a point of friction; this friction, in its turn, produces a condition or an area of inflammation. This eventually leads to disease of some kind or another. It is possible, is it not, that you have here another clue—a clue to a problem which has caused so much concern in the metaphysical world: Why do advanced people, spiritual leaders and those oriented to the spiritual life, suffer so frequently from physical difficulties? It is probably because they are at the stage where the energy of the soul, pouring through the physical body, meets resistance from that body of a correspondingly intense kind. This friction set up is so acute that disease is promptly the result. This is not true of disciples who have taken the second initiation; their problem of ill health is otherwise developed.
Định luật này nói rằng bởi vì con người là thiêng liêng, nên sự thôi thúc hướng tới thiên tính tạo ra sự kháng cự trong các vận cụ biểu lộ; sự kháng cự này sẽ khu trú trong khu vực của thể xác và tạo ra một điểm ma sát; đến lượt nó, sự ma sát này tạo ra một tình trạng hay một vùng viêm nhiễm. Cuối cùng điều này dẫn đến một loại bệnh nào đó. Có thể chăng, ở đây bạn lại có thêm một đầu mối—một đầu mối cho một vấn đề đã gây quá nhiều bận tâm trong thế giới siêu hình học: Tại sao những người tiến bộ, các nhà lãnh đạo tinh thần và những người định hướng về đời sống tinh thần lại thường xuyên chịu đựng những khó khăn thể xác? Có lẽ là vì họ đang ở giai đoạn mà năng lượng của linh hồn, tuôn qua thể xác, gặp phải sự kháng cự từ chính thể xác ấy với cường độ tương ứng. Sự ma sát được thiết lập như thế quá gay gắt đến nỗi bệnh tật lập tức là kết quả. Điều này không đúng với các đệ tử đã trải qua lần điểm đạo thứ hai; vấn đề sức khỏe kém của họ phát triển theo cách khác.
Let us take this fourth law sentence by sentence and attempt somewhat to analyse the meaning:
Chúng ta hãy xét định luật thứ tư này từng câu một và cố gắng phần nào phân tích ý nghĩa của nó:
1. Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. This is but a distorted reflection of divine possibilities.
1. Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có cội rễ trong điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật. Đây chỉ là sự phản chiếu méo mó của các khả năng thiêng liêng.
I have shown that disease is fundamentally psychological in nature. there are, however, diseases which are inherent in the resistance of the dense physical body (and not only the subtler bodies) to the impact of the higher energies, or which are inherent in the planetary substance or matter of the Earth itself. Forget not that the physical body is constructed of such matter. This first clause of the fourth [566] law tells us that three aspects of divinity produce disease. This sounds impossible upon first reading the statement, but a careful study will reveal its essential truthfulness. How can the good, the beautiful and the true, cause disease of any kind? Let us see.
Tôi đã chỉ ra rằng bệnh tật về căn bản có bản chất tâm lý. Tuy nhiên, có những bệnh vốn nằm sẵn trong sự kháng cự của thể xác đậm đặc (chứ không chỉ các thể vi tế hơn) đối với tác động của các năng lượng cao hơn, hoặc vốn nằm sẵn trong chất liệu hay vật chất hành tinh của chính Trái Đất. Đừng quên rằng thể xác được cấu tạo từ chính loại vật chất ấy. Mệnh đề đầu tiên này của định luật thứ tư [566] cho chúng ta biết rằng ba phương diện của thiên tính tạo ra bệnh tật. Điều này nghe có vẻ bất khả khi mới đọc phát biểu ấy, nhưng một sự nghiên cứu cẩn thận sẽ bộc lộ tính chân thực cốt yếu của nó. Làm sao điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật lại có thể gây ra bất kỳ loại bệnh nào? Hãy xem.
a. The Good. What is the good? Is it not the expression of the will-to-good? Does not and should not this will-to-good work out on the physical plane in what we call goodwill among men? Is it not possible that the soul, seeking constantly (on its own plane) to conform to the Plan which implements the divine will-to-good, endeavours to impel its threefold expression, the personality, to express goodwill-doing this at the right stage of evolutionary unfoldment and when it is active and functioning? Yet, because of the resistance of the form nature, as yet inadequate to the desired divine expression, friction immediately set up and disease eventuates. I think that even a brief consideration of the above questions will demonstrate to you how probable it is that the soul’s inclination to “the good” can bring about resistance upon the physical plane so that the turmoil thus engendered in the consciousness of man can and does produce disease. This type of disease is responsible for many of the difficulties of advanced people, aspirants and disciples. This “friction” produces then a secondary reaction and leads to those psychological conditions to which we give the name “depression, an inferiority complex, and the sense of failure.” This particular source of disease, “the Good,” is one that primarily affects the mental types.
a. Điều Thiện. Điều thiện là gì? Chẳng phải đó là sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện sao? Và chẳng phải ý chí hướng thiện này có thể và nên được triển khai trên cõi hồng trần thành điều mà chúng ta gọi là thiện chí giữa những người nam và nữ sao? Có thể chăng linh hồn, luôn luôn tìm cách (trên cõi riêng của nó) phù hợp với Thiên Cơ vốn thực thi Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng, cố gắng thúc đẩy biểu lộ tam phân của nó là phàm ngã biểu lộ thiện chí—làm điều này ở đúng giai đoạn khai mở tiến hoá và khi nó đang hoạt động và vận hành? Tuy nhiên, vì sự kháng cự của bản chất hình tướng, vốn còn chưa đủ để đáp ứng sự biểu lộ thiêng liêng mong muốn, nên ma sát lập tức được thiết lập và bệnh tật phát sinh. Tôi nghĩ rằng chỉ cần suy xét ngắn gọn các câu hỏi trên cũng sẽ cho bạn thấy điều rất có thể là khuynh hướng của linh hồn hướng về “điều thiện” có thể gây ra sự kháng cự trên cõi hồng trần, đến nỗi sự xáo trộn do đó phát sinh trong tâm thức con người có thể và thực sự tạo ra bệnh tật. Loại bệnh này chịu trách nhiệm cho nhiều khó khăn của những người tiến bộ, những người chí nguyện và các đệ tử. “Sự ma sát” này khi đó tạo ra một phản ứng thứ cấp và dẫn đến những trạng thái tâm lý mà chúng ta gọi là “trầm cảm, mặc cảm tự ti, và cảm giác thất bại.” Nguồn bệnh đặc biệt này, “Điều Thiện,” chủ yếu ảnh hưởng đến các kiểu người trí tuệ.
b. The Beautiful. Here you have a word qualifying the desire of all men for what they consider a desirable objective for their life pattern and that for which they [567] choose to struggle. The beautiful, from the angle of a divine aspect, concerns the quality of life. 1 would refer you here to our initial definition in the first volume of this treatise of the words spirit-soul-body; we defined them as life-quality-appearance. Life is the energy in expression of the divine will-to-good; quality is the energy in expression of the soul, and this energy works at this time predominantly through the desire life and the determination of all men at every stage in evolution to possess, own and enjoy that which they regard as the beautiful. A definition of “the beautiful” and the range of man’s desires are widely different and dependent upon the point in evolution; it is all dependent however, upon the outlook on life of the one who is desiring and the place where he stands upon the ladder of evolution. The inability of man to achieve at any time what he considers “the beautiful” determines his predisposition to disease, based upon the internal friction thus produced. At the present point in racial development, the majority of people are swept into diseased conditions as a result of the friction brought about by their striving after “the beautiful”—a striving enforced as an evolutionary urge because they are souls and under the influence of the quality of the second divine aspect.
b. Điều Mỹ Lệ. Ở đây bạn có một từ mô tả khát vọng của mọi người đối với điều mà họ xem là một mục tiêu đáng mong muốn cho mô hình đời sống của mình và là điều mà vì nó họ [567] chọn để đấu tranh. Điều mỹ lệ, xét từ góc độ của một phương diện thiêng liêng, liên quan đến phẩm tính của sự sống. Ở đây tôi muốn nhắc bạn nhớ đến định nghĩa ban đầu của chúng ta trong quyển đầu của bộ luận này về các từ tinh thần-linh hồn-thể; chúng ta đã định nghĩa chúng là sự sống-phẩm tính-sắc tướng. Sự sống là năng lượng biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng; phẩm tính là năng lượng biểu lộ của linh hồn, và năng lượng này hiện nay hoạt động chủ yếu qua đời sống ham muốn và qua quyết tâm của mọi người ở mọi giai đoạn tiến hoá muốn chiếm hữu, sở hữu và hưởng thụ điều mà họ xem là mỹ lệ. Định nghĩa về “điều mỹ lệ” và phạm vi ham muốn của con người rất khác nhau và tùy thuộc vào điểm tiến hoá; tuy nhiên tất cả đều tùy thuộc vào quan điểm sống của người đang ham muốn và vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá. Việc con người không thể đạt được vào bất cứ lúc nào điều mà y xem là “mỹ lệ” quyết định khuynh hướng dễ mắc bệnh của y, dựa trên sự ma sát nội tại được tạo ra như thế. Ở điểm phát triển nhân loại hiện nay, đa số người ta bị cuốn vào các trạng thái bệnh hoạn do sự ma sát phát sinh từ nỗ lực của họ nhằm đạt tới “điều mỹ lệ”—một nỗ lực được áp đặt như một thôi thúc tiến hoá bởi vì họ là các linh hồn và đang ở dưới ảnh hưởng của phẩm tính của phương diện thiêng liêng thứ hai.
c. The True. It has been said that the true or the truth is that much of the divine expression as any man can demonstrate at his particular point in evolution and at any given stage in his incarnated history. This expression of the truth presupposes that behind what he does manage to express there is much that he is unable to manifest; of this his soul remains persistently aware. This inability to live up to the highest ideal of which the man—at his particular level—is aware and can conceive, in his clearest and best moments, produces inevitably [568] a point of friction, even if the man remains unaware of it. One of the major manifestations of this particular friction and the diseased condition which it brings about is rheumatism; this is widespread today and has been for centuries; from the medical standpoint, there is no ascertained or attributable cause for it, though there are many speculations and conclusions among the orthodox. It affects primarily the bony structure and is in reality the result or the inability of the soul to produce an expression of “the true” within the man, the instrument of the soul in the three worlds. The man, in his turn, no matter how low his position on the ladder of evolution, is conscious ever of the unattainable; he is constantly aware of an urge to betterment. These urges are not related to the expression of the will-to-good or to “the beautiful” (though he may be conscious of them also to a greater or less degree), but they are definitely related to the expression of something closer to the man’s ideal as he sees it, and upon the physical plane. Friction, therefore, takes place and disease of some kind follows.
c. Điều Chân Thật. Người ta đã nói rằng điều chân thật hay chân lý là chừng ấy biểu lộ thiêng liêng mà bất kỳ ai cũng có thể chứng tỏ ở điểm tiến hoá riêng của mình và ở bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử nhập thể của mình. Sự biểu lộ chân lý này giả định rằng đằng sau điều mà y thực sự biểu lộ được còn có rất nhiều điều mà y không thể biểu hiện; linh hồn của y vẫn luôn kiên trì nhận biết điều đó. Sự bất lực này trong việc sống đúng với lý tưởng cao nhất mà con người—ở cấp độ riêng của mình—nhận biết được và có thể hình dung trong những khoảnh khắc sáng suốt và tốt đẹp nhất của mình, tất yếu tạo ra [568] một điểm ma sát, ngay cả khi con người không nhận biết điều đó. Một trong những biểu hiện chính của loại ma sát đặc biệt này và tình trạng bệnh hoạn mà nó gây ra là bệnh thấp khớp; ngày nay bệnh này rất phổ biến và đã như vậy suốt nhiều thế kỷ; theo quan điểm y học, không có nguyên nhân nào được xác định hay quy cho nó, dù trong giới chính thống có nhiều suy đoán và kết luận. Nó chủ yếu ảnh hưởng đến cấu trúc xương và thực ra là kết quả của sự bất lực của linh hồn trong việc tạo ra một biểu lộ của “điều chân thật” bên trong con người, công cụ của linh hồn trong ba cõi giới. Đến lượt mình, con người, dù vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá có thấp đến đâu, vẫn luôn ý thức về điều không thể đạt tới; y luôn luôn nhận biết một thôi thúc hướng tới sự cải thiện. Những thôi thúc này không liên hệ đến sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện hay đến “điều mỹ lệ” (dù y cũng có thể ý thức về chúng ở mức độ nhiều hay ít), nhưng chúng chắc chắn liên hệ đến sự biểu lộ của một điều gì đó gần với lý tưởng của con người hơn như y thấy nó, và trên cõi hồng trần. Vì vậy, ma sát xảy ra và một loại bệnh nào đó tiếp theo.
It is interesting to note that this inability to express “the true” or to “be the Truth” is the real cause of death among men who are below the stage of discipleship and who have not yet taken the first initiation. The soul tires of the frictional response of its instrument and determines to end the experiment of that particular incarnation. Death, therefore, supervenes as a result of the friction engendered.
Điều đáng chú ý là sự bất lực này trong việc biểu lộ “điều chân thật” hay “là Chân Lý” chính là nguyên nhân thực sự của cái chết nơi những người còn dưới giai đoạn địa vị đệ tử và chưa trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Linh hồn mệt mỏi vì phản ứng ma sát của công cụ của nó và quyết định chấm dứt cuộc thử nghiệm của kiếp lâm phàm đặc biệt ấy. Vì vậy, cái chết xảy đến như một kết quả của sự ma sát được tạo ra.
In studying these ideas, it should be remembered that:
Khi nghiên cứu các ý tưởng này, cần nhớ rằng:
a. The good controls the man, via the head centre, and the friction engendered is due to the inactivity of the centre at the base of the spine. This centre controls the expression [569] of the first divine aspect in a man by its interplay with the head centre. This interplay only takes place when the man has reached the stage of disciple or initiate.
a. Điều thiện kiểm soát con người qua trung tâm đầu, và sự ma sát được tạo ra là do sự bất hoạt của trung tâm ở đáy cột sống. Trung tâm này kiểm soát sự biểu lộ [569] của phương diện thiêng liêng thứ nhất trong con người bằng sự tương tác của nó với trung tâm đầu. Sự tương tác này chỉ diễn ra khi con người đã đạt đến giai đoạn đệ tử hay điểm đạo đồ.
b. The beautiful controls, via the heart centre, and friction is brought about by the failure of the solar plexus centre to respond. A condition of friction is therefore set up. The ending of this condition and the evocation of the right response from the solar plexus come when the forces of the solar plexus centre are raised and blended with the energy of the heart centre.
b. Điều mỹ lệ kiểm soát qua trung tâm tim, và ma sát được tạo ra bởi sự thất bại của trung tâm tùng thái dương trong việc đáp ứng. Vì vậy một tình trạng ma sát được thiết lập. Sự chấm dứt tình trạng này và việc gợi lên đáp ứng đúng từ tùng thái dương đến khi các lực của trung tâm tùng thái dương được nâng lên và hòa trộn với năng lượng của trung tâm tim.
c. The true, as an expression of the divine, finds its point of centralisation in the throat centre; the failure of the personality to respond, and its inability to express the true, is to be seen in the relation of the sacral centre to the throat centre. This relation, when lacking, produces friction. There will be no real expression of “the true” until the forces of the creative centre below the diaphragm are raised to the creative centre of the throat. Then “the Word,” which is man essentially, “will be made flesh” and a true expression of the soul upon the physical plane will be seen.
c. Điều chân thật, như một biểu lộ của thiêng liêng, tìm thấy điểm tập trung của nó trong trung tâm cổ họng; sự thất bại của phàm ngã trong việc đáp ứng, và sự bất lực của nó trong việc biểu lộ điều chân thật, được thấy trong mối liên hệ của trung tâm xương cùng với trung tâm cổ họng. Mối liên hệ này, khi thiếu vắng, tạo ra ma sát. Sẽ không có sự biểu lộ thực sự nào của “điều chân thật” cho đến khi các lực của trung tâm sáng tạo bên dưới cơ hoành được nâng lên trung tâm sáng tạo ở cổ họng. Khi đó “Linh từ”, vốn là con người trong bản chất, “sẽ thành nhục thể” và một biểu lộ chân chính của linh hồn trên cõi hồng trần sẽ được thấy.
2. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction.
2. Linh hồn bị ngăn trở, đang tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể vỏ của nó một điểm ma sát.
Much of this statement I have covered above. I would, however, call your attention to the fact that in this sentence the emphasis is laid upon the fact that it is the soul which is responsible for producing the friction. In the analysis of the previous sentence, the emphasis was laid upon the personality, because its failure to respond produced the friction and consequent disease. Is it not possible that in this sentence [570] we have the clue to the entire purpose of pain, of distress, and even of war? I would commend this to your careful and, if possible, illumined thinking.
Phần lớn phát biểu này tôi đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý bạn đến sự kiện là trong câu này trọng tâm được đặt vào việc chính linh hồn chịu trách nhiệm tạo ra ma sát. Trong sự phân tích câu trước, trọng tâm được đặt vào phàm ngã, bởi vì sự thất bại của nó trong việc đáp ứng đã tạo ra ma sát và bệnh tật tiếp theo. Có thể chăng trong câu này [570] chúng ta có đầu mối cho toàn bộ mục đích của đau đớn, khổ sở, và ngay cả chiến tranh? Tôi xin giao điều này cho sự suy nghĩ cẩn trọng và, nếu có thể, được soi sáng của bạn.
3. Upon this point, the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease.
3. Trên điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung vào, và điều này dẫn đến bệnh tật.
We have here a most interesting hint as to the medium of force direction. The occult significance of the eye and the nature of its symbolism are little understood. The reference here has nothing to do in reality with eyes in the physical body. Here the words, “the eyes of the personality,” refer to the focussed attention of the personality, emanating from the mental and astral bodies which are essentially the two eyes of the soul in incarnation. The use of these two windows or eyes of the soul leads to a concentration of energy (in this case strictly personality energy) in the etheric vehicle. This energy is then directed to the area of discomfort, and therefore to the point of friction. This friction is sustained and increased by the forces which are focussed upon it. People have little idea how much—objectively speaking—they increase the potency of the disease by the constantly directed thought which they expend upon it and by the attention they pay to that area wherein the trouble is located. Energies, mental and emotional, are brought to bear upon the diseased area, and the “eyes of the personality” are a potent factor in sustaining the disease.
Ở đây chúng ta có một gợi ý rất thú vị về môi giới định hướng mãnh lực. Ý nghĩa huyền bí của con mắt và bản chất của biểu tượng học của nó ít được thấu hiểu. Sự quy chiếu ở đây thực ra không liên quan gì đến đôi mắt trong thể xác. Ở đây, các từ “mắt của phàm ngã” chỉ sự chú ý tập trung của phàm ngã, phát ra từ thể trí và thể cảm dục, vốn về bản chất là hai con mắt của linh hồn trong khi nhập thể. Việc sử dụng hai cửa sổ hay hai con mắt này của linh hồn dẫn đến sự tập trung năng lượng (trong trường hợp này hoàn toàn là năng lượng phàm ngã) trong vận cụ dĩ thái. Năng lượng này sau đó được hướng đến vùng khó chịu, và do đó đến điểm ma sát. Sự ma sát này được duy trì và gia tăng bởi các lực được tập trung vào nó. Người ta ít hình dung được rằng—xét một cách khách quan—họ làm tăng sức mạnh của bệnh tật đến mức nào bằng tư tưởng liên tục hướng vào nó mà họ tiêu phí và bằng sự chú ý họ dành cho khu vực nơi rắc rối tọa lạc. Các năng lượng trí tuệ và cảm xúc được đưa tác động lên vùng bệnh, và “mắt của phàm ngã” là một yếu tố mạnh mẽ trong việc duy trì bệnh tật.
In this sentence you have, moreover, a clear and unequivocal expression of the fact that mental and emotional conditions lead to disease. The activity of the soul and the impact of soul energy have to penetrate into the physical body, via the subtler bodies, and the point of friction (the outcome of resistance) is found first of all in the mental body, then is repeated even more potently in the astral body, and is reflected into the physical body; these (and this is [571] the a b c of occultism but is sometimes forgotten) constitute the personality, and the friction is necessarily to be found throughout.
Hơn nữa, trong câu này bạn có một phát biểu rõ ràng và dứt khoát về sự kiện rằng các trạng thái trí tuệ và cảm xúc dẫn đến bệnh tật. Hoạt động của linh hồn và tác động của năng lượng linh hồn phải xuyên vào thể xác qua các thể vi tế hơn, và điểm ma sát (kết quả của sự kháng cự) trước hết được tìm thấy trong thể trí, rồi được lặp lại còn mạnh hơn trong thể cảm dục, và được phản chiếu vào thể xác; những thể này (và đây là [571] a b c của huyền bí học nhưng đôi khi bị quên mất) cấu thành phàm ngã, và vì thế ma sát tất yếu phải được tìm thấy xuyên suốt.
It might be of interest to you to correlate what I have said in my other writing anent the eyes with the point made above. As you well know, and as stated in The Secret Doctrine, the right eye is the “eye of buddhi” and the left eye is the “eye of manas”—this (when in relation to buddhi) referring to the higher mind and to man as he finally will appear. In the average human being, and before reaching perfection, the right eye transmits the energy of the astral body when directed consciously towards an object of attention, and the left eye directs the energy of the lower mind. In between these two directing eyes is to be found the ajna centre, which is like a third eye or directing agent for the blended and fused energies of the personality; related to this third eye as it awakens and comes into functioning activity is what we call “the eye of the soul”; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. This esoteric relationship is only set up when the soul is dominating its instrument, the personality, and is bringing all the lower activities upon the physical plane under soul direction.
Có lẽ bạn sẽ thấy thú vị nếu liên hệ điều tôi đã nói trong các trước tác khác của tôi về đôi mắt với điểm vừa nêu trên. Như bạn đã biết rõ, và như đã được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm, mắt phải là “con mắt của Bồ đề” và mắt trái là “con mắt của manas”—điều này (khi liên hệ với Bồ đề) ám chỉ thượng trí và con người như cuối cùng y sẽ xuất hiện. Ở con người trung bình, và trước khi đạt đến hoàn thiện, mắt phải truyền dẫn năng lượng của thể cảm dục khi được hướng một cách hữu thức đến một đối tượng chú ý, và mắt trái định hướng năng lượng của hạ trí. Ở giữa hai con mắt định hướng này là trung tâm ajna, giống như một con mắt thứ ba hay tác nhân định hướng cho các năng lượng hòa trộn và dung hợp của phàm ngã; liên hệ với con mắt thứ ba này khi nó thức tỉnh và đi vào hoạt động chức năng là điều mà chúng ta gọi là “con mắt của linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Con mắt của linh hồn này có thể và thực sự truyền năng lượng đến trung tâm ajna và chính nó là tác nhân (trước lần điểm đạo thứ tư) của năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần. Mối liên hệ huyền bí này chỉ được thiết lập khi linh hồn đang chi phối công cụ của nó là phàm ngã, và đang đưa mọi hoạt động thấp hơn trên cõi hồng trần vào dưới sự định hướng của linh hồn.
In the perfected man, there is to be found, therefore, the following distributors or distributing agents of energy:
Vì vậy, trong con người hoàn thiện, có thể tìm thấy các bộ phân phối hay các tác nhân phân phối năng lượng sau đây:
1. The eye of the soul.. agent of the Spiritual Triad.. Will.
1. Con mắt của linh hồn.. tác nhân của Tam Nguyên Tinh Thần.. Ý chí.
2. The third eye.. agent of the soul.. Love.
2. Con mắt thứ ba.. tác nhân của linh hồn.. Bác ái.
3. The right eye.. distributor of buddhic energy.
3. Mắt phải.. bộ phân phối năng lượng Bồ đề.
4. The left eye.. conveyor of pure manasic energy.
4. Mắt trái.. kênh chuyển tải năng lượng manas thuần túy.
5. The ajna centre.. focussing and directing point for all these energies.
5. Trung tâm ajna.. điểm tập trung và định hướng cho tất cả các năng lượng này.
[572]
[572]
In the disciple and the man who is beginning to function as a soul, you will have:
Trong đệ tử và con người đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn, bạn sẽ có:
1. The third eye...distributor of soul energy.
1. Con mắt thứ ba...bộ phân phối năng lượng linh hồn.
2. The right eye...agent for astral energy.
2. Mắt phải...tác nhân cho năng lượng cảm dục.
3. The left eye...agent for lower mental energy.
3. Mắt trái...tác nhân cho năng lượng hạ trí.
4. The ajna centre...focussing point of these three energies.
4. Trung tâm ajna...điểm tập trung của ba năng lượng này.
In the average man, the situation will be as follows:
Trong con người trung bình, tình hình sẽ như sau:
1. The right eye...agent for astral energy.
1. Mắt phải...tác nhân cho năng lượng cảm dục.
2. The left eye...agent for mental energy.
2. Mắt trái...tác nhân cho năng lượng trí tuệ.
3. The ajna centre...distributing station.
3. Trung tâm ajna...trạm phân phối.
As occult knowledge increases a whole science of energy distribution will be built up around the eyes and their symbolic function, and their esoteric use will be understood. The time has not yet arrived for this, though already the power of the human eye when focussed on a person, for instance, is known to attract attention. One hint I can give you: the optic nerve is a symbol of the antahkarana, and the entire structure of the eye ball is one of the most beautiful symbols of the threefold deity and the threefold man.
Khi tri thức huyền bí học gia tăng, cả một khoa học về phân phối năng lượng sẽ được xây dựng quanh đôi mắt và chức năng biểu tượng của chúng, và công dụng huyền bí của chúng sẽ được thấu hiểu. Thời điểm cho điều này vẫn chưa đến, dù ngay từ bây giờ quyền năng của mắt người khi tập trung vào một người chẳng hạn, đã được biết là có thể thu hút sự chú ý. Tôi có thể cho bạn một gợi ý: dây thần kinh thị giác là một biểu tượng của antahkarana, và toàn bộ cấu trúc của nhãn cầu là một trong những biểu tượng đẹp nhất của Thượng đế tam phân và con người tam phân.
4. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true healer within the form.
4. Nghệ thuật của nhà chữa lành liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng chữa lành chân chính bên trong hình tướng.
In its most obvious and lowest connotation this phrase simply says that the healer must help the patient to look away from himself, that he must aid him to raise and reorient the directed energy so that the “point of friction” is no longer the object of attention and a new preoccupation is presented. This has long been the attempted practice of all healers but it has a far more esoteric meaning than [573] they have realised and one which I find it somewhat difficult to explain.
Theo nghĩa hiển nhiên nhất và thấp nhất của nó, cụm từ này chỉ đơn giản nói rằng nhà chữa lành phải giúp bệnh nhân nhìn ra khỏi chính mình, rằng y phải giúp người ấy nâng lên và tái định hướng năng lượng đang được hướng đi để “điểm ma sát” không còn là đối tượng chú ý nữa và một mối bận tâm mới được đưa ra. Đây từ lâu đã là thực hành được cố gắng áp dụng của mọi nhà chữa lành, nhưng nó có một ý nghĩa huyền bí hơn nhiều [573] so với điều họ đã nhận ra, và là điều mà tôi thấy hơi khó giải thích.
We have seen that the point of friction (responsible for the disease) has been caused by the good, the beautiful and the true in conflict with the forces of the lower man. This, we have also seen, is a fundamental law and one which he knows he must accept and with which he must intelligently work. How, therefore, can he apply this law and produce the results for which he is striving?
Chúng ta đã thấy rằng điểm ma sát (chịu trách nhiệm về bệnh tật) đã được gây ra bởi điều thiện, điều mỹ lệ và điều chân thật trong xung đột với các lực của phàm nhân thấp hơn. Chúng ta cũng đã thấy rằng đây là một định luật căn bản và là điều mà y biết mình phải chấp nhận và phải làm việc với nó một cách thông minh. Vậy thì, làm sao y có thể áp dụng định luật này và tạo ra những kết quả mà y đang phấn đấu đạt tới?
These downpouring energies of the soul enter the physical body, via the etheric vehicle, and are responsible for the frictional trouble and its consequence, disease; they have “descended into contact” via the sutratma and are anchored in three main centres, major centres, as you well know. From these, according to a man’s nature, ray, development and weaknesses and limitations, they are distributed to the various areas of the physical body and either cause points of friction or manifest themselves as divine qualities. Where friction and resultant disease are present, and the patient is fortunate to have a trained occult healer available (either an initiate or an advanced disciple), these energies will be sent back—either with or without the cooperation of the patient—to their distributing points, the three higher centres, and this according to the type of energy which is producing the trouble. They cannot be sent out of the body altogether, via the head centre, for in that case the man would die; but they can be esoterically “driven to their point of emanation, from the point of friction, but not to their Source,” as an ancient book on healing states.
Các năng lượng tuôn đổ này của linh hồn đi vào thể xác qua vận cụ dĩ thái, và chịu trách nhiệm cho rắc rối do ma sát và hậu quả của nó là bệnh tật; chúng đã “giáng xuống để tiếp xúc” qua sutratma và được neo giữ trong ba trung tâm chính, các trung tâm lớn, như bạn đã biết rõ. Từ đó, tùy theo bản chất, cung, sự phát triển, các nhược điểm và giới hạn của một người, chúng được phân phối đến các khu vực khác nhau của thể xác và hoặc gây ra các điểm ma sát hoặc biểu lộ như các phẩm tính thiêng liêng. Nơi nào có ma sát và bệnh tật phát sinh hiện diện, và bệnh nhân may mắn có được một nhà chữa lành huyền bí học được huấn luyện sẵn có (hoặc là một điểm đạo đồ hoặc một đệ tử tiến bộ), thì các năng lượng này sẽ được gửi trở lại—có hoặc không có sự hợp tác của bệnh nhân—về các điểm phân phối của chúng, là ba trung tâm cao hơn, và điều này tùy theo loại năng lượng đang gây ra rắc rối. Chúng không thể bị đưa ra khỏi thể hoàn toàn qua trung tâm đầu, vì trong trường hợp đó con người sẽ chết; nhưng chúng có thể được “đẩy về điểm xuất lộ của chúng, từ điểm ma sát, nhưng không về Nguồn của chúng” theo cách huyền bí, như một sách cổ về chữa lành đã nói.
The energy is sent from the infected area (to use an unsuitable word but we lack the correct words for these new sciences) into the point of friction and from thence to the centre which controls that area and by means of which soul energy entered the dense physical body. The [574] healer is therefore working with the two aspects of the physical body simultaneously—the dense and the etheric. From that centre, the energy involved is gathered up and returned to one or other of the three major centres, or (if one of these higher centres is itself involved) the energy is gathered up and driven into the head centre and there retained. It must therefore be borne in mind that this phase of the healer’s work falls into two parts:
Năng lượng được gửi từ vùng bị nhiễm bệnh (dùng một từ không thích hợp nhưng chúng ta thiếu những từ đúng cho các khoa học mới này) vào điểm ma sát và từ đó đến trung tâm kiểm soát vùng ấy và là phương tiện qua đó năng lượng linh hồn đi vào thể xác đậm đặc. Vì thế [574] nhà chữa lành đang làm việc đồng thời với hai phương diện của thể xác—thể đậm đặc và thể dĩ thái. Từ trung tâm đó, năng lượng liên quan được thu gom lại và trả về một trong ba trung tâm lớn, hoặc (nếu chính một trong các trung tâm cao hơn này có liên quan) năng lượng được thu gom lại và đẩy vào trung tâm đầu rồi được giữ ở đó. Vì vậy cần ghi nhớ rằng giai đoạn công việc này của nhà chữa lành chia thành hai phần:
1. The stage of esoteric “lifting up” or “driving forth.” This itself falls into two phases:
1. Giai đoạn huyền bí của việc “nâng lên” hay “đẩy ra”. Bản thân nó lại chia thành hai pha:
a. The phase of gathering the energy.
a. Pha thu gom năng lượng.
b. The phase of refocussing it in its distributing centre.
b. Pha tái tập trung nó vào trung tâm phân phối của nó.
2. The stage after the healer’s work has been accomplished and the patient is either better or the work has not been successful. In this stage, the energy which has been “driven forth” is returned to the centre and the locality where the point of friction had been.
2. Giai đoạn sau khi công việc của nhà chữa lành đã hoàn tất và bệnh nhân hoặc khá hơn hoặc công việc đã không thành công. Trong giai đoạn này, năng lượng đã được “đẩy ra” được trả về trung tâm và địa điểm nơi điểm ma sát đã từng hiện diện.
It will be obvious to you that this form of healing work is possible only to the highly trained person, and it is therefore needless for me to elaborate further on this technique. It is useful nevertheless to see at times the distant goals.
Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng hình thức công việc chữa lành này chỉ có thể thực hiện được đối với người được huấn luyện rất cao, và vì vậy tôi không cần thiết phải khai triển thêm về kỹ thuật này. Tuy nhiên, đôi khi việc thấy được những mục tiêu xa xôi vẫn hữu ích.
All that is at present possible in reference to this statement is to turn the patient’s attention (if he is capable of responding to suggestions) towards the soul, and help him, with simplicity to hold his consciousness as close to the soul as he can. This will aid in clearing the channels down which energy can flow, and also along which energy can be automatically withdrawn. because energy follows thought.
Hiện nay, tất cả những gì có thể làm liên quan đến phát biểu này là hướng sự chú ý của bệnh nhân (nếu người ấy có khả năng đáp ứng với các gợi ý) về phía linh hồn, và giúp người ấy, một cách đơn giản, giữ tâm thức của mình gần với linh hồn nhất có thể. Điều này sẽ giúp khai thông các kênh mà qua đó năng lượng có thể tuôn xuống, và cũng là các kênh mà dọc theo đó năng lượng có thể tự động được rút lui, bởi vì năng lượng đi theo tư tưởng.
In the last analysis, true esoteric healing is a simple matter in comparison with the intricate and complex detail [575] anent the human mechanism and its diseases with which the modern physician has to cope. The spiritual healer concerns himself with the area in which the disease is to be found, with its controlling etheric centre and its higher correspondence, and with the three energies coming from the soul which are responsible for producing the point or points of friction. The remainder of his work involves the use the creative imagination, the power to visualise and a knowledge of scientific thinking, based upon the fundamental and universal law that “energy follows thought.” This visualisation and this scientific thinking do not (where healing is concerned) involve the construction of thoughtforms. It involves the ability to move and direct energy currents.
Xét cho cùng, chữa lành huyền bí học chân chính là một vấn đề đơn giản so với chi tiết phức tạp và rắc rối [575] liên quan đến bộ máy con người và các bệnh tật của nó mà vị y sĩ hiện đại phải đối phó. Nhà chữa lành tinh thần quan tâm đến khu vực nơi bệnh tật được tìm thấy, đến trung tâm dĩ thái kiểm soát nó và đối ứng cao hơn của trung tâm ấy, và đến ba năng lượng đến từ linh hồn chịu trách nhiệm tạo ra điểm hay các điểm ma sát. Phần còn lại trong công việc của y liên quan đến việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, năng lực hình dung và tri thức về tư duy khoa học, dựa trên định luật căn bản và phổ quát rằng “năng lượng đi theo tư tưởng.” Sự hình dung này và tư duy khoa học này không liên quan (trong trường hợp chữa lành) đến việc xây dựng các Hình tư tưởng. Nó liên quan đến khả năng di chuyển và định hướng các dòng năng lượng.
5. The third eye then directs the healing force, and all is well.
5. Khi ấy con mắt thứ ba điều khiển mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều ổn thỏa.
The third eye referred to here is that of the healer and not that of the average patient; this the healer uses in conjunction with the eye of the soul. In the case of the healing of a very advanced person who is consciously able to cooperate, the third eye of the patient can also be active, and by this means two very potent streams of directed energy can penetrate into the area where the point of friction is located. In ordinary cases, however, and where no occult knowledge is present on the part of the patient, the healer does all the work, and this is desirable. The cooperation of the unskilled and those emotionally involved in their trouble is of no true assistance.
Con mắt thứ ba được nói đến ở đây là của nhà chữa lành chứ không phải của bệnh nhân trung bình; nhà chữa lành sử dụng nó kết hợp với con mắt của linh hồn. Trong trường hợp chữa lành cho một người rất tiến bộ, có khả năng hợp tác một cách hữu thức, con mắt thứ ba của bệnh nhân cũng có thể hoạt động, và bằng phương tiện này hai dòng năng lượng được định hướng rất mạnh có thể xuyên vào khu vực nơi điểm ma sát tọa lạc. Tuy nhiên, trong các trường hợp thông thường, và nơi bệnh nhân không có tri thức huyền bí học, nhà chữa lành làm toàn bộ công việc, và điều này là đáng mong muốn. Sự hợp tác của người không được huấn luyện và của những người bị cuốn cảm xúc vào rắc rối của mình không phải là sự trợ giúp thực sự.
The few hints given in the analysis of the sentences composing Law IV will provide much food for thought, and we will now proceed to consider the rule connected with this law.
Vài gợi ý được đưa ra trong sự phân tích các câu cấu thành Định luật IV sẽ cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm, và giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục xem xét quy luật liên hệ với định luật này.
It should be remembered, as we study these laws and rules, that the laws are imposed upon the healer and provide [576] the unalterable conditions under which he must work; he may not and cannot evade them. The rules, however, he imposes upon himself, and they constitute the conditions which he is advised to follow if he seeks success. Much depends upon his understanding of the rules and on his ability to interpret them correctly. They are a translation or an adaptation of the ancient rules which have, since time began, conditioned all occult healers, working under hierarchical impression. In the early days of their use they were submitted to and accepted by members of the Hierarchy at that time—the time or age of ancient Lemuria—and had then to be interpreted differently to the modern interpretation; the modern meaning is only now in process of emerging. It might be said that:
Khi nghiên cứu các định luật và quy luật này, cần nhớ rằng các định luật được áp đặt lên nhà chữa lành và cung cấp [576] những điều kiện bất biến mà dưới đó y phải làm việc; y không được và không thể né tránh chúng. Tuy nhiên, các quy luật thì do chính y áp đặt lên mình, và chúng cấu thành những điều kiện mà y được khuyên nên tuân theo nếu muốn thành công. Rất nhiều điều tùy thuộc vào sự thấu hiểu của y về các quy luật và vào khả năng diễn giải chúng một cách đúng đắn. Chúng là bản dịch hay sự thích ứng của các quy luật cổ xưa vốn, từ thuở ban đầu, đã tác động lên mọi nhà chữa lành huyền bí học làm việc dưới sự cảm ứng của Thánh đoàn. Trong những ngày đầu được sử dụng, chúng đã được trình lên và được chấp nhận bởi các thành viên của Thánh đoàn vào thời đó—thời đại Lemuria cổ xưa—và khi ấy phải được diễn giải khác với cách diễn giải hiện đại; ý nghĩa hiện đại chỉ mới đang trong tiến trình xuất hiện. Có thể nói rằng:
1. In Lemurian times these rules were accepted by members of the Hierarchy. Unless you were a member you could not ascertain them or work with them.
1. Trong thời Lemuria các quy luật này được các thành viên của Thánh đoàn chấp nhận. Trừ phi bạn là một thành viên, bạn không thể biết được chúng hay làm việc với chúng.
2. In Atlantean times they were externalised to the extent that disciples who were not yet initiates or who had taken only the first initiation were given them and permitted to use them. It is their Atlantean interpretation which largely colours the modern approach to their comprehension, but it is not adequate to the opportunity and the more mental type of human being.
2. Trong thời Atlantis chúng đã được ngoại hiện đến mức các đệ tử chưa phải là điểm đạo đồ hoặc mới chỉ trải qua lần điểm đạo thứ nhất đã được trao cho và được phép sử dụng chúng. Chính cách diễn giải Atlantis của chúng phần lớn nhuốm màu cách tiếp cận hiện đại đối với việc hiểu chúng, nhưng nó không thích hợp với cơ hội hiện nay và với kiểu người trí tuệ hơn.
3. Today, in our Aryan race, a new significance is emerging, and it is that significance and the new interpretation which I shall endeavour to impart.
3. Ngày nay, trong nhân loại Arya của chúng ta, một ý nghĩa mới đang xuất hiện, và chính ý nghĩa ấy cùng cách diễn giải mới ấy mà tôi sẽ cố gắng truyền đạt.
Rule I was not subjected to the new interpretation because it was so obviously modern in its implications. In fact, the first rule was not part of the original ancient text from which these important rules have been taken, but is relatively very modern, being formulated early in the Christian [577] era. It is a clear and concise rule and implies what should be the nature of the healer’s thinking.
Quy luật I đã không được đặt dưới cách diễn giải mới vì nó quá hiển nhiên là hiện đại trong các hàm ý của nó. Thực ra, quy luật thứ nhất không phải là một phần của bản văn cổ nguyên thủy mà từ đó các quy luật quan trọng này đã được rút ra, mà tương đối rất hiện đại, được hình thành vào đầu [577] kỷ nguyên Cơ Đốc. Đó là một quy luật rõ ràng và súc tích và hàm ý điều nên là bản chất của tư duy của nhà chữa lành.
1. He must know the type of thought which conditions the patient.
1. Y phải biết loại tư tưởng nào tác động lên bệnh nhân.
2. He must be able to penetrate to the source of the difficulty, or to its psychological background; therefore, he must use thought power.
2. Y phải có khả năng xuyên thấu đến nguồn gốc của khó khăn, hay đến bối cảnh tâm lý của nó; vì vậy, y phải sử dụng quyền năng tư tưởng.
3. He must be able to relate cause and effect; the relating agent is ever the mind.
3. Y phải có khả năng liên hệ nguyên nhân và kết quả; tác nhân liên hệ luôn luôn là trí tuệ.
In old Lemuria and Atlantis the mind was practically entirely quiescent and not really functioning at all; it is only in this present race that the mental nature of man is becoming dominant, and therefore the new and modern interpretation of these rules (based on the mind principle) is now in order, and with this we shall proceed to deal.
Trong Lemuria và Atlantis cổ xưa, trí tuệ hầu như hoàn toàn tĩnh lặng và thực sự không hoạt động chút nào; chỉ trong nhân loại hiện nay này mà bản chất trí tuệ của con người mới đang trở nên trội vượt, và vì vậy cách diễn giải mới và hiện đại của các quy luật này (dựa trên nguyên khí trí tuệ) nay là thích hợp, và với điều này chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến.
RULE TWO — QUY LUẬT HAI
The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established the radiation then goes forth.
Nhà chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính, qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt tới bức xạ làm tiêu tan, bức xạ tự biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi từ trường này được thiết lập thì bức xạ khi ấy phát ra.
The East has ever emphasised magnetic purity but has totally ignored physical purity as the Occident understands it; the West has emphasised external physical purity but knows nothing about magnetic purity; this latter is largely based (somewhat erroneously though not entirely so) on the effect
Phương Đông luôn nhấn mạnh sự thanh khiết từ tính nhưng hoàn toàn bỏ qua sự thanh khiết thể xác như phương Tây hiểu; phương Tây đã nhấn mạnh sự thanh khiết thể xác bên ngoài nhưng không biết gì về sự thanh khiết từ tính; điều sau này phần lớn dựa (hơi sai lầm dù không hoàn toàn như vậy) trên hiệu quả
of the auric emanation and its purity or non-purity. The healer, in this rule, is advised to:
của phát xạ hào quang và sự thanh khiết hay không thanh khiết của nó. Trong quy luật này, nhà chữa lành được khuyên:
1. Achieve magnetic purity through purity of life.
1. Đạt được sự thanh khiết từ tính qua sự thanh khiết của đời sống.
2. Attain a dispelling radiance through linking the centres in the head.
2. Đạt tới bức xạ làm tiêu tan qua việc nối kết các trung tâm trong đầu.
[578]
[578]
3. Establish a magnetic field through the utilisation of this magnetic field.
3. Thiết lập một từ trường qua việc sử dụng từ trường này.
Result: RADIATION.
Kết quả: BỨC XẠ.
The interesting part of this rule is its linking the two possible forms of spiritual healing—radiatory and magnetic—into one activity. The true healer automatically blends both modes of healing and uses both methods simultaneously and automatically because he works through the magnetic area, contained within the radius of influence of the three head centres, or within the triangle which is formed by so linking them.
Phần thú vị của quy luật này là nó nối kết hai hình thức chữa lành tinh thần khả dĩ—bằng bức xạ và bằng từ tính—thành một hoạt động. Nhà chữa lành chân chính tự động hòa trộn cả hai phương thức chữa lành và sử dụng đồng thời và tự động cả hai phương pháp bởi vì y làm việc qua khu vực từ tính, được chứa trong bán kính ảnh hưởng của ba trung tâm đầu, hay trong tam giác được hình thành bằng cách nối kết chúng như thế.
In Lemurian days, the healer achieved his ends by the use of drastic physical disciplines, thus gaining the needed purity. The goal, as you know, of hierarchical effort in those days was to teach primitive man the uses and purpose of the physical body and its intelligent control; the man who mastered the body and was in control of it as a machine, was then in was then regarded as an initiate. Today, it is mastering the personality which makes a man an initiate. Celibacy, careful modes of eating, and bodily cleanliness, plus the rudiments of Hatha Yoga (embryonic physical, athletic control—muscular control primarily) were strictly emphasised. This achieved, so-called purity permitted the free flow of the pranic currents from the healer to the patient, via the sacral centre and the throat centre—the spiritual healer working through the throat centre, and the point of reception in the patient being the sacral centre; neither the heart nor the head centres were used. Prana, to define it for your purposes, is the vitality of the planet, its vital emanation; it is this prana which is distributed or transferred by a natural healer (one without any training, without much essential knowledge or with little, if any, spiritual [579] orientation). He heals but does not know how or why; prana simply flows through him in the form of a strong current of animal vitality, usually from the splenic centre and not from any of the seven centres.
Trong thời Lemuria, nhà chữa lành đạt mục đích của mình bằng cách sử dụng các kỷ luật thể xác nghiêm khắc, nhờ đó đạt được sự thanh khiết cần thiết. Như bạn biết, mục tiêu của nỗ lực của Thánh đoàn trong những ngày ấy là dạy con người nguyên thủy về công dụng và mục đích của thể xác và sự kiểm soát thông minh đối với nó; người nào làm chủ được thể và kiểm soát nó như một cỗ máy thì khi ấy được xem là một điểm đạo đồ. Ngày nay, chính việc làm chủ phàm ngã mới khiến một người trở thành điểm đạo đồ. Độc thân, cách ăn uống cẩn trọng, và sự sạch sẽ thân thể, cộng với những sơ đẳng của Hatha Yoga (sự kiểm soát thể chất phôi thai, mang tính vận động—chủ yếu là kiểm soát cơ bắp) đã được nhấn mạnh nghiêm ngặt. Khi đạt được điều này, cái gọi là sự thanh khiết cho phép các dòng prana tự do chảy từ nhà chữa lành sang bệnh nhân, qua trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng—nhà chữa lành tinh thần làm việc qua trung tâm cổ họng, và điểm tiếp nhận nơi bệnh nhân là trung tâm xương cùng; cả trung tâm tim lẫn trung tâm đầu đều không được dùng. Để định nghĩa prana cho mục đích của bạn, đó là sinh lực của hành tinh, phát xạ sinh lực của nó; chính prana này được phân phối hay chuyển dịch bởi một nhà chữa lành tự nhiên (người không có bất kỳ huấn luyện nào, không có nhiều tri thức cốt yếu hoặc có rất ít, nếu có, định hướng tinh thần [579]). Y chữa lành nhưng không biết bằng cách nào hay tại sao; prana đơn giản chảy qua y dưới hình thức một dòng mạnh của sinh lực động vật, thường từ trung tâm lá lách chứ không từ bất kỳ trung tâm nào trong bảy trung tâm.
These drastic physical disciplines are often attempted today by well-intentioned aspirants; they practice celibacy, strict vegetarianism, relaxation exercises and many kinds of physical exercises, in the hope of bringing the body under control. These forms of discipline would be very good for the undeveloped and the lowest type of human being, but they are not the methods which should be employed by the average man or the practising aspirant. Concentration upon the physical body only serves to enhance its potency and to feed its appetites and bring to the surface of consciousness that which should be securely secluded below the threshold of consciousness. The true aspirant should be occupied with emotional, not physical, control and ‘with the effort to focus himself upon the mental plane prior to achieving a stabilised contact with the soul.
Những kỷ luật thể xác nghiêm khắc này ngày nay thường được các người chí nguyện thiện chí thử áp dụng; họ thực hành độc thân, ăn chay nghiêm ngặt, các bài tập thư giãn và nhiều loại bài tập thể chất, với hy vọng đưa thể xác vào dưới sự kiểm soát. Những hình thức kỷ luật này sẽ rất tốt cho người chưa phát triển và kiểu người thấp nhất, nhưng chúng không phải là những phương pháp nên được dùng bởi người trung bình hay người chí nguyện đang thực hành. Sự tập trung chỉ vào thể xác chỉ phục vụ cho việc tăng cường sức mạnh của nó và nuôi dưỡng các ham muốn của nó, đồng thời đưa lên bề mặt tâm thức điều lẽ ra phải được giữ kín an toàn bên dưới ngưỡng tâm thức. Người chí nguyện chân chính nên bận tâm đến sự kiểm soát cảm xúc, chứ không phải thể xác, và với nỗ lực tập trung mình trên cõi trí trước khi đạt được sự tiếp xúc ổn định với linh hồn.
In Atlantean times, the shift of the attention from the dense physical body to the emotional vehicle began slowly to be made. The initiate of that time began to teach his disciples that the physical body was in reality only an automaton, and that it was the desire body, and the nature and quality of their habitual desires which should be considered if purity was to be attained. It was in this race, therefore, that personal magnetism first began slowly to show itself. The early and the primitive Lemurian was not in the least magnetic as we understand the word, but in Atlantean days a certain measure of magnetic radiation showed itself, though not to the extent which is now frequent and possible. The first dim outline of the halo could be seen around the heads of advanced Atlanteans. Magnetic purity became a possibility and a goal, but was dependent upon emotional [580] control and the purification of the desire nature; this produced automatically a much greater measure of purity in the dense physical vehicle than the Lemurian initiate ever achieved. Diseases of the body became both subtle and complex, and the first psychological diseases appeared and the various ills which are definitely based upon the emotions. With this type of difficulty we have dealt in an earlier part of this treatise. The healer in those days worked through the solar plexus centre and (if an initiate) through the heart. There was still no magnetic area or field of energy in the head.
Trong thời Atlantis, sự chuyển dịch chú ý từ thể xác đậm đặc sang vận cụ cảm xúc bắt đầu được thực hiện một cách chậm chạp. Điểm đạo đồ thời ấy bắt đầu dạy các đệ tử của mình rằng thể xác thực ra chỉ là một tự động cơ, và rằng chính thể ham muốn, cùng bản chất và phẩm tính của những ham muốn thường xuyên của họ, mới là điều cần được xem xét nếu muốn đạt được sự thanh khiết. Vì vậy, chính trong nhân loại này mà từ lực cá nhân lần đầu tiên bắt đầu chậm rãi biểu lộ. Người Lemuria sơ khai và nguyên thủy hoàn toàn không có từ tính như chúng ta hiểu từ này, nhưng trong thời Atlantis một mức độ bức xạ từ tính nào đó đã biểu lộ, dù không đến mức hiện nay là thường thấy và có thể có. Nét phác mờ đầu tiên của hào quang có thể được thấy quanh đầu những người Atlantis tiến bộ. Sự thanh khiết từ tính trở thành một khả năng và một mục tiêu, nhưng phụ thuộc vào [580] sự kiểm soát cảm xúc và sự thanh lọc bản chất ham muốn; điều này tự động tạo ra một mức độ thanh khiết lớn hơn nhiều trong vận cụ hồng trần đậm đặc so với điều mà điểm đạo đồ Lemuria từng đạt được. Các bệnh của thể xác trở nên vừa vi tế vừa phức tạp, và những bệnh tâm lý đầu tiên xuất hiện cùng các chứng bệnh khác nhau chắc chắn dựa trên cảm xúc. Với loại khó khăn này chúng ta đã bàn đến trong phần trước của bộ luận này. Nhà chữa lành trong những ngày ấy làm việc qua trung tâm tùng thái dương và (nếu là điểm đạo đồ) qua tim. Vẫn chưa có khu vực từ tính hay trường năng lượng nào trong đầu.
Today, in our Aryan race, magnetic purity is not dependent upon the physical disciplines; it is still—for the mass of the people—dependent upon emotional disciplines, but in the case of the true healer in the New Age it is dependent upon the “lighted magnetic area in the head.” This provides a field of activity for the soul, working through the head centres and focussing itself in the magnetic field which they enclose. When all the powers of the body and the directed attention of the healer are centered in the head, and when the astral body is quiescent and the mind is active as a transmitter of soul energy to the three head centres, you then have an established radiance, or energy emanation which is a potent force in healing. The radiation is intense, not so much from the familiar aspect of light, but from the extent of its emanating rays of active energy which can reach the patient and energise the needed centre. All the centres in the body of the patient can be receptive to this energy, and not just one, as in the previous two types of healing.
Ngày nay, trong nhân loại Arya của chúng ta, sự thanh khiết từ tính không phụ thuộc vào các kỷ luật thể xác; nó vẫn còn—đối với quần chúng—phụ thuộc vào các kỷ luật cảm xúc, nhưng trong trường hợp của nhà chữa lành chân chính trong Kỷ Nguyên Mới, nó phụ thuộc vào “khu vực từ tính được soi sáng trong đầu.” Điều này cung cấp một trường hoạt động cho linh hồn, hoạt động qua các trung tâm đầu và tự tập trung trong từ trường mà chúng bao bọc. Khi mọi quyền năng của thể và sự chú ý được định hướng của nhà chữa lành đều tập trung trong đầu, và khi thể cảm dục tĩnh lặng còn trí tuệ hoạt động như một tác nhân truyền dẫn năng lượng linh hồn đến ba trung tâm đầu, thì khi ấy bạn có một bức xạ được thiết lập, hay một phát xạ năng lượng là một mãnh lực mạnh mẽ trong việc chữa lành. Bức xạ này mãnh liệt, không hẳn từ phương diện quen thuộc của ánh sáng, mà từ mức độ các tia năng lượng hoạt động phát ra của nó có thể vươn tới bệnh nhân và tiếp sinh lực cho trung tâm cần thiết. Tất cả các trung tâm trong thể của bệnh nhân đều có thể tiếp nhận năng lượng này, chứ không chỉ một trung tâm như trong hai loại chữa lành trước.
When the karma or life-pattern of the patient permits, these energy rays (emanating from the magnetic field in the healer’s head) become what is called a “dispelling radiance”; they can drive away the forces which create or [581] aggravate the disease. When this dispelling radiance is unable (because of the destiny of the patient) to bring about a physical cure, it can nevertheless be turned to the dispelling of subtler difficulties, such as fear in some form or other, emotional imbalance and certain psychological difficulties which greatly enhance the problem with which the patient is faced.
Khi nghiệp quả hay mô hình đời sống của bệnh nhân cho phép, các tia năng lượng này (phát ra từ từ trường trong đầu nhà chữa lành) trở thành điều được gọi là “bức xạ làm tiêu tan”; chúng có thể xua tan các lực tạo ra hay [581] làm trầm trọng thêm bệnh tật. Khi bức xạ làm tiêu tan này không thể (do số mệnh của bệnh nhân) mang lại sự chữa lành thể xác, nó vẫn có thể được chuyển sang việc làm tiêu tan những khó khăn vi tế hơn, như sợ hãi dưới hình thức này hay hình thức khác, mất quân bình cảm xúc và một số khó khăn tâm lý làm tăng mạnh vấn đề mà bệnh nhân đang đối diện.
Healers would do well to remember that when the three centres in the head are linked up and the magnetic field is therefore set up and the radiance is present, the healer can then use the ajna centre as the directing agent for this “dispelling radiance.” It is interesting to note that the two major centres in the head (corresponding to atma-buddhi, or the soul) are the head centre and the alta major centre, and that these correspond esoterically to the distributing agents of the right and the left eyes, as do the two glands in the head: the pineal gland and the pituitary body. You have, therefore, in the head
Các nhà chữa lành nên nhớ rằng khi ba trung tâm trong đầu được nối kết và từ trường do đó được thiết lập và bức xạ hiện diện, thì nhà chữa lành khi ấy có thể sử dụng trung tâm ajna như tác nhân định hướng cho “bức xạ làm tiêu tan” này. Điều đáng chú ý là hai trung tâm lớn trong đầu (tương ứng với atma-buddhi, hay linh hồn) là trung tâm đầu và trung tâm alta major, và rằng chúng tương ứng một cách huyền bí với các tác nhân phân phối của mắt phải và mắt trái, cũng như hai tuyến trong đầu: tuyến tùng và tuyến yên. Vì vậy, trong đầu bạn có
three triangles, of which two are distributors of energy and the third is a distributor of force.
ba tam giác, trong đó hai tam giác là các bộ phân phối năng lượng và tam giác thứ ba là một bộ phân phối mãnh lực.
[582]
[582]
It is with these triangles that the trained healer eventually works and which he consciously employs. The time when this will be possible still lies very far ahead. At present the healer must work through visualisation and the power of the creative imagination. As he imagines, through visualisation, the relationship of these interlaced triangles, superimposing them the one upon the others, beginning with the first, he is doing a definite work of creative placing, then of creative vitalising and finally of creative directing. In these three words: placing, vitalising, directing, you have the results indicated as to what obedience to this rule will enable the healer to accomplish. The attention is placed; the magnetic field is spiritually vitalised; the generated vital radiance is then distributed and directed correctly through the medium of the third triangle. This sounds a somewhat complicated procedure but after a little practice this healing exercise of placing, vitalising and directing becomes an almost instantaneous and automatic accomplishment.
Chính với các tam giác này mà nhà chữa lành được huấn luyện cuối cùng sẽ làm việc và sử dụng một cách hữu thức. Thời điểm khi điều này có thể thực hiện vẫn còn ở rất xa phía trước. Hiện nay nhà chữa lành phải làm việc qua sự hình dung và quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo. Khi y hình dung, qua sự hình dung, mối liên hệ của các tam giác đan xen này, chồng chúng lên nhau, bắt đầu với tam giác thứ nhất, thì y đang làm một công việc xác định vị trí một cách sáng tạo, rồi tiếp sinh lực một cách sáng tạo và cuối cùng là định hướng một cách sáng tạo. Trong ba từ này: xác định vị trí, tiếp sinh lực, định hướng, bạn có các kết quả được chỉ ra về điều mà sự tuân thủ quy luật này sẽ cho phép nhà chữa lành hoàn thành. Sự chú ý được đặt vào; từ trường được tiếp sinh lực một cách tinh thần; bức xạ sinh lực được tạo ra sau đó được phân phối và định hướng đúng đắn qua môi giới của tam giác thứ ba. Điều này nghe có vẻ là một thủ tục hơi phức tạp nhưng sau một ít thực hành, bài tập chữa lành gồm xác định vị trí, tiếp sinh lực và định hướng này trở thành một thành tựu gần như tức thời và tự động.
We come now to the consideration of a long and somewhat complicated law and one which attempts to cover so much ground that at first reading it is apt to be confusing.
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một định luật dài và phần nào phức tạp, một định luật cố gắng bao quát quá nhiều lãnh vực đến nỗi khi đọc lần đầu rất dễ gây lẫn lộn.
LAW V — ĐỊNH LUẬT V
There is naught but energy, for God is Life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central point of contact. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountaintop is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain which seek release in death. The two, the five and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth law of healing within the world of form.
Chẳng có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là Sự sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, đều có thể tìm thấy một điểm tiếp xúc trung tâm. Sự xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau tạo ra các bệnh tật thân thể của con người. Sự xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu và đau đớn thân thể vốn tìm sự giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là định luật chữa lành thứ năm trong thế giới hình tướng.
[583]
[583]
It has been impossible hitherto to give the subject-matter of this rule because it is only today that teaching anent LIFE (and life as energy) has been possible. Also the teaching anent the five and the two energies which meet in man have only lately been given out by me, for the first time in any detail, although they were hinted at in The Secret Doctrine. I wonder sometimes if any of you realise the epoch-making importance of the teaching which I have given out anent the seven rays as manifesting energies. Speculations as to the nature of the divine Trinity have ever been present in the discussions and thinking of advanced men—and that since time began and the Hierarchy started its agelong task of influencing and stimulating the human consciousness but information anent the seven Spirits before the Throne of the Trinity has not been so usual and only a few writers, ancient or modern, have touched upon the nature of these Beings. Now, with all that I have given you concerning the seven rays and the seven Ray Lords, much more can be discovered; these seven great Lives can be seen and known as the informing essences and the active energies in all that is manifested and tangible upon the physical plane as well as on all the planes of divine expression; in saying this, I include not only the cosmic physical plane (composed of our seven systemic planes) but the cosmic astral and the cosmic mental planes also.
Cho đến nay, không thể trình bày nội dung của quy luật này vì chỉ đến ngày nay giáo huấn về SỰ SỐNG (và sự sống như năng lượng) mới có thể được truyền dạy. Ngoài ra, giáo huấn về năm và hai năng lượng gặp nhau trong con người cũng chỉ mới gần đây được tôi công bố, lần đầu tiên với một mức độ chi tiết nào đó, dù chúng đã được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Đôi khi tôi tự hỏi liệu có ai trong các bạn nhận ra tầm quan trọng mang tính mở kỷ nguyên của giáo huấn mà tôi đã truyền ra về bảy cung như những năng lượng biểu hiện hay không. Những suy đoán về bản chất của Tam Vị thiêng liêng luôn hiện diện trong các cuộc thảo luận và tư duy của những người tiến bộ—và điều đó đã có từ thuở ban đầu khi Thánh đoàn khởi sự công việc lâu đời của mình là ảnh hưởng và kích thích tâm thức nhân loại; nhưng thông tin về Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Tam Vị thì không phổ biến như vậy, và chỉ có một số ít tác giả, cổ hay kim, chạm đến bản chất của các Đấng này. Giờ đây, với tất cả những gì tôi đã trao cho các bạn về bảy cung và bảy Đấng Chúa Tể Cung, còn nhiều điều hơn nữa có thể được khám phá; bảy Sự Sống vĩ đại này có thể được nhìn thấy và biết đến như những tinh chất thấm nhuần và những năng lượng hoạt động trong mọi điều được biểu hiện và hữu hình trên cõi hồng trần cũng như trên mọi cõi của sự biểu lộ thiêng liêng; khi nói điều này, tôi không chỉ bao gồm cõi hồng trần vũ trụ (gồm bảy cõi hệ thống của chúng ta) mà cả cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ nữa.
In this rule the healer is expected to accept certain basic ideas which will serve to develop his understanding; certain broad and general axioms are laid down which will form a sound foundation for all future work. The main point to bear in mind is that this rule relates entirely to the physical plane (dense and etheric) and to the effects which the conflict between the energies and the forces produces within the physical body. The forces are those energies which are limited and imprisoned within a form of any kind—a body, [584] a plane, an organ, a centre; the energies are those streams of directed energy which make impact upon these imprisoned forces (if I may so call them) from within a greater or more inclusive form, from a subtler plane, thus making contact with a grosser vibratory force. An energy is subtler and more potent than the force upon which it makes impact or establishes contact; the force is less potent but it is anchored. In these last two words you have the key to the problem of the relationship of energies. Free energy, from the angle of the anchored point of contact, is in some ways less effective (within a limited sphere) than the energy already anchored there. It is essentially more potent but not effective. Ponder on this and let me illustrate my point. In the life of the aspirant, the energy of the solar plexus centre (from long use, centralisation and habit) is more potent in its effect upon the life of the aspirant than is the energy of the heart centre, which is only slowly, very slowly, coming into effective action. To illustrate further: the energies of the personality are far more potent in conditioning the life of the average man than is the energy of the soul, which for aeons has tried to grasp effectively its point of manifestation, the personality, but has failed until very late in the cycle of incarnations. Yet, in the last analysis, heart energy and soul energy are infinitely more potent than those of the solar plexus centre or the personality. For aeons, however, the energy of the heart centre and the energy of the soul have lacked responsive vehicles in the three worlds.
Trong quy luật này, người chữa lành được mong đợi chấp nhận một số ý tưởng căn bản sẽ giúp phát triển sự thấu hiểu của mình; một số tiên đề rộng lớn và tổng quát được nêu ra, tạo thành nền tảng vững chắc cho mọi công việc tương lai. Điểm chính cần ghi nhớ là quy luật này hoàn toàn liên hệ đến cõi hồng trần (đậm đặc và dĩ thái) và đến những hiệu quả mà sự xung đột giữa các năng lượng và các mãnh lực tạo ra trong thể xác. Các mãnh lực là những năng lượng bị giới hạn và bị giam giữ trong một hình tướng thuộc bất kỳ loại nào—một thể, [584] một cõi, một cơ quan, một trung tâm; còn các năng lượng là những dòng năng lượng được định hướng tác động lên các mãnh lực bị giam giữ này (nếu tôi có thể gọi chúng như vậy) từ bên trong một hình tướng lớn hơn hay bao gồm hơn, từ một cõi vi tế hơn, nhờ đó tiếp xúc với một mãnh lực rung động thô nặng hơn. Một năng lượng vi tế hơn và mạnh hơn mãnh lực mà nó tác động hay thiết lập tiếp xúc; mãnh lực thì kém mạnh hơn nhưng nó lại được neo giữ. Trong hai từ cuối này, các bạn có chìa khóa cho vấn đề về mối liên hệ của các năng lượng. Năng lượng tự do, xét từ góc độ của điểm tiếp xúc đã được neo giữ, theo một số phương diện lại kém hiệu quả hơn (trong một phạm vi giới hạn) so với năng lượng đã được neo giữ tại đó. Về bản chất, nó mạnh hơn nhiều nhưng không hiệu quả. Hãy suy ngẫm điều này và để tôi minh họa ý của mình. Trong đời sống của người chí nguyện, năng lượng của trung tâm tùng thái dương (do được sử dụng lâu dài, tập trung hóa và thói quen) có hiệu lực đối với đời sống của người chí nguyện mạnh hơn năng lượng của trung tâm tim, vốn chỉ đang từ từ, rất từ từ, đi vào hoạt động hữu hiệu. Để minh họa thêm: các năng lượng của phàm ngã có sức mạnh tác động lên đời sống của con người trung bình lớn hơn nhiều so với năng lượng của linh hồn, vốn qua nhiều đại kiếp đã cố gắng nắm lấy một cách hữu hiệu điểm biểu hiện của nó là phàm ngã, nhưng đã thất bại cho đến rất muộn trong chu kỳ các lần nhập thể. Tuy nhiên, xét đến cùng, năng lượng tim và năng lượng linh hồn mạnh hơn vô hạn so với năng lượng của trung tâm tùng thái dương hay của phàm ngã. Nhưng qua nhiều đại kiếp, năng lượng của trung tâm tim và năng lượng của linh hồn đã thiếu những vận cụ đáp ứng trong ba cõi giới.
In a way, this simplifies the problem of the healer, because the first thing he has to decide is whether soul energy or personality energy is in control; that is a matter very simply discovered. The life trend of the patient, his mode of living or of service, the character he displays, are all indicative of the potencies which control his manifested expression. If the man is a true aspirant and is aiming [585] consciously to tread the Path of Discipleship, he will aid the discovery by frank admission; however, if there is no response from the personality forces to the soul impact of the healer, the personality will remain unaware of the opportunity and quite unconscious of the impact. These conditions the healer can therefore easily ascertain.
Theo một nghĩa nào đó, điều này đơn giản hóa vấn đề của người chữa lành, vì điều đầu tiên y phải quyết định là năng lượng linh hồn hay năng lượng phàm ngã đang kiểm soát; đó là điều có thể được khám phá rất đơn giản. Khuynh hướng đời sống của bệnh nhân, cách sống hay cách phụng sự của y, tính cách mà y biểu lộ, tất cả đều cho thấy những tiềm lực nào đang kiểm soát sự biểu hiện của y. Nếu người ấy là một người chí nguyện chân chính và đang [585] có ý thức nhắm đến việc bước đi trên Con Đường Đệ Tử, y sẽ giúp cho việc khám phá ấy bằng sự thừa nhận thẳng thắn; tuy nhiên, nếu không có sự đáp ứng nào từ các mãnh lực phàm ngã đối với tác động của linh hồn từ người chữa lành, thì phàm ngã sẽ vẫn không nhận biết cơ hội ấy và hoàn toàn vô thức trước tác động đó. Vì vậy, người chữa lành có thể dễ dàng xác định các điều kiện này.
This rule is a long one and contains statements of major importance. It would be profitable for us, in the interests of our subject, to study them with the utmost care and so become aware of their significance and true meaning; this understanding must be from the standpoint of the initiate-consciousness, and not from the angle of vision of the average or unillumined man. We will, therefore, take each sentence by itself and seek its meaning. There are seven statements contained in this rule, and much of their import is exoterically familiar to you, but can be restated in relation to the healing art.
Quy luật này dài và chứa đựng những phát biểu có tầm quan trọng lớn. Vì lợi ích của đề tài chúng ta, sẽ hữu ích nếu nghiên cứu chúng với sự cẩn trọng tối đa để nhờ đó nhận biết thâm nghĩa và ý nghĩa chân thực của chúng; sự thấu hiểu này phải xuất phát từ lập trường của tâm thức điểm đạo đồ, chứ không phải từ góc nhìn của con người trung bình hay chưa được soi sáng. Vì vậy, chúng ta sẽ xét từng câu riêng biệt và tìm kiếm ý nghĩa của nó. Có bảy phát biểu trong quy luật này, và phần lớn nội dung của chúng đã quen thuộc với các bạn trên phương diện ngoại môn, nhưng có thể được trình bày lại trong liên hệ với nghệ thuật chữa lành.
1. There is naught but energy, for God is Life.
1. Chẳng có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là Sự sống.
This is a broad generalisation which may convey much to the initiate but assuredly conveys very little to the average thinker, to whom life means essentially and simply that which calls into manifestation a form, which sustains it in being and constantly demonstrates its presence by activity of some kind or another—an activity which demonstrates its livingness. We, however, erroneously apply the term living to the ability of a form to manifest and express its quality and nature. Yet livingness and quality exist apart from form and often come into major expression and usefulness through the application of the Law of Death.
Đây là một khái quát rộng lớn có thể truyền đạt nhiều điều cho điểm đạo đồ nhưng chắc chắn truyền đạt rất ít cho nhà tư tưởng trung bình, đối với người ấy sự sống về căn bản và đơn giản chỉ có nghĩa là điều gọi một hình tướng vào biểu hiện, duy trì nó trong hiện hữu và liên tục chứng tỏ sự hiện diện của nó bằng một loại hoạt động nào đó—một hoạt động chứng minh tính sống động của nó. Tuy nhiên, chúng ta lại sai lầm khi áp dụng từ sống cho khả năng của một hình tướng trong việc biểu lộ và diễn đạt phẩm tính và bản chất của nó. Thế nhưng tính sống động và phẩm tính tồn tại tách biệt khỏi hình tướng và thường đi vào biểu hiện lớn lao cùng sự hữu dụng thông qua việc áp dụng Định luật Chết.
The fact of divinity and of divine origin is proved by the fact of life. This is oft overlooked, and the emphasis is put upon the concept that life evokes and supports a form [586] which anchors the life-essence and proves the reality of its existence.
Sự kiện về thiên tính và nguồn gốc thiêng liêng được chứng minh bởi sự kiện của sự sống. Điều này thường bị bỏ qua, và sự nhấn mạnh được đặt vào quan niệm rằng sự sống khơi gọi và nâng đỡ một hình tướng [586] vốn neo giữ tinh chất sự sống và chứng minh thực tại của sự hiện hữu của nó.
It is the life of the One Source of all manifesting forms which creates relationships and essential qualities, and though this has been affirmed ceaselessly it still remains a meaningless platitude. As men, however, begin to recognise God as energy and themselves as aspects of that energy, as they begin consciously to work with energies and recognise the distinction in time and space between energies and forces, and then as the soul comes into greater functioning activity, the fact of life will be recognised in a new and almost formidable manner. It should be remembered that the soul is a secondary energy, which proves the existence of the primary energy and is responsible for the appearance of the third form of energy—the tangible and the objective. Life will eventually be known as capable of being invoked by the soul in the interests of the form. Here lies a clue to our general theme.
Chính sự sống của Nguồn Cội Duy Nhất của mọi hình tướng biểu hiện tạo ra các mối liên hệ và các phẩm tính cốt yếu, và dù điều này đã được khẳng định không ngừng, nó vẫn còn là một sáo ngữ vô nghĩa. Tuy nhiên, khi con người bắt đầu nhận ra Thượng đế là năng lượng và chính mình là các phương diện của năng lượng đó, khi họ bắt đầu làm việc một cách có ý thức với các năng lượng và nhận ra sự khác biệt trong thời gian và không gian giữa năng lượng và mãnh lực, rồi khi linh hồn đi vào hoạt động chức năng lớn hơn, thì sự kiện của sự sống sẽ được nhận biết theo một cách mới mẻ và gần như đáng kinh ngạc. Cần nhớ rằng linh hồn là một năng lượng thứ cấp, chứng minh sự hiện hữu của năng lượng sơ cấp và chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của hình thức năng lượng thứ ba—cái hữu hình và khách quan. Cuối cùng, sự sống sẽ được biết là có thể được linh hồn khẩn cầu vì lợi ích của hình tướng. Chính trong điều này có một đầu mối cho chủ đề tổng quát của chúng ta.
Up till now the mechanism of approach to the life aspect—the antahkarana and the agent, the spiritual will—has not been understood in any useful sense. Today, the first faint hints as to the use of the antahkarana, and its purpose in relation to the personality and the Spiritual Triad, are being studied by a few students in the world, and their numbers will steadily increase as both personality and soul establish contact and fusion and more people take initiation. The purpose, consequently, for the very existence of the fourth kingdom in nature (as a transmitting agent for the higher spiritual energies to the three lower kingdoms) will begin to appear, and men, in group formation, will consciously begin this work of “saving”—in the esoteric sense, needless to say—these other grouped lives. The Macrocosm with its purpose and incentives will for the first time begin to reflect itself into the human kingdom in a new-[587] and more potent manner, and this in its turn will become the macrocosm of the three lesser states of conscious lives—the animal, the vegetable and the mineral kingdoms.
Cho đến nay, cơ chế tiếp cận phương diện sự sống—antahkarana và tác nhân của nó là ý chí tinh thần—vẫn chưa được hiểu theo bất kỳ ý nghĩa hữu dụng nào. Ngày nay, những gợi ý mờ nhạt đầu tiên về việc sử dụng antahkarana, và mục đích của nó trong liên hệ với phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần, đang được một số ít đạo sinh trên thế giới nghiên cứu, và số lượng của họ sẽ tăng đều khi cả phàm ngã lẫn linh hồn thiết lập tiếp xúc và sự dung hợp, và ngày càng nhiều người đạt điểm đạo. Do đó, mục đích của chính sự hiện hữu của giới thứ tư trong thiên nhiên (như một tác nhân truyền dẫn các năng lượng tinh thần cao hơn đến ba giới thấp) sẽ bắt đầu xuất hiện, và con người, trong sự hình thành nhóm, sẽ bắt đầu một cách có ý thức công việc “cứu rỗi” này—dĩ nhiên theo nghĩa huyền bí—đối với các sự sống nhóm khác này. Đại thiên địa với mục đích và các động lực của nó lần đầu tiên sẽ bắt đầu phản chiếu chính nó vào giới nhân loại theo một cách mới[587] và mạnh mẽ hơn, và đến lượt nó, điều này sẽ trở thành đại thiên địa của ba trạng thái nhỏ hơn của các sự sống có tâm thức—giới động vật, giới thực vật và giới kim thạch.
All this is a deep mystery, but has remained so only on account of the lack of development of the fourth kingdom. There had been a deviation from the original intent. Its function and field of service could, however, be realised and expressed only when this highest aspect, the will aspect, had been brought into conscious expression in mankind through the building and the utilisation of the antahkarana. Along the rainbow bridge the life aspect can flow, and it is to this that the Christ referred when He states that He had come so that there might be present upon the Earth, “life more abundantly.” Always there has been life, but when the Christ consciousness is radiantly present (as is the case today, though on a small scale) and the numbers of those expressing it are vast indeed, the inference is that the antahkarana is firmly established; the rainbow bridge can then be traversed and crossed, and life in abundance and in a new and impelling sense, and a fresh impulsing sense can also flow through humanity into the subhuman kingdoms in nature. This is evidence of divinity, and outstanding testimony of man’s divine origin, and the hope, the saving hope, of the world.
Tất cả điều này là một huyền nhiệm sâu xa, nhưng nó chỉ còn như vậy vì sự thiếu phát triển của giới thứ tư. Đã có một sự lệch khỏi ý định ban đầu. Tuy nhiên, chức năng và lĩnh vực phụng sự của nó chỉ có thể được nhận ra và biểu lộ khi phương diện cao nhất này, phương diện ý chí, được đưa vào biểu hiện có ý thức trong nhân loại thông qua việc xây dựng và sử dụng antahkarana. Dọc theo Cây cầu vồng, phương diện sự sống có thể tuôn chảy, và chính điều này mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài tuyên bố rằng Ngài đến để trên Trái Đất có thể hiện diện “sự sống dồi dào hơn.” Sự sống luôn luôn hiện hữu, nhưng khi tâm thức Christ hiện diện một cách rạng ngời (như trường hợp ngày nay, dù trên quy mô nhỏ) và số người biểu lộ nó thật sự rất lớn, thì suy luận là antahkarana đã được thiết lập vững chắc; khi ấy Cây cầu vồng có thể được đi qua và vượt qua, và sự sống dồi dào theo một ý nghĩa mới mẻ và thúc đẩy, cùng một cảm thức thúc đẩy mới mẻ, cũng có thể tuôn qua nhân loại vào các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên. Đây là bằng chứng của thiên tính, và là chứng từ nổi bật về nguồn gốc thiêng liêng của con người, và là niềm hy vọng, niềm hy vọng cứu rỗi, của thế giới.
The energy and the forces constitute the sumtotal of all that is. This is another basic truism or platitude upon which the science of occultism is built and which the healing art must recognise. There is, in manifestation, nothing else of any kind whatsoever. Disease itself is a form of active energy, demonstrating in forces which destroy or produce death. Therefore, if our basic premise is correct, disease is also a form of divine expression, for what we know to be evil is also the reverse side of that which we call good. Shall we belittle the subject or cause a false impression [588] if we regard evil (at least as far as disease is concerned) as misplaced or maladjusted good? Will you misunderstand if I say that disease is energy which is not functioning as desired or according to plan? Inpouring energies are brought into relation with forces, and good health, strong and adequate forms and vital activity result; the same inpouring energies can, however, be brought into relation with the same forces and a point of friction be set up, producing a diseased area, pain, suffering and perhaps death. The energies and the forces remain of the same essentially divine nature, but the relationship established has produced the problem. If this sentence is studied it will be obvious that a definition such as that can be used to cover all forms of difficulty, and that the ultimate producer of the situation (either good or evil) is the relationship aspect. This statement is of major importance in all your thinking.
Năng lượng và các mãnh lực cấu thành tổng thể của mọi cái đang hiện hữu. Đây là một chân lý căn bản khác hay một sáo ngữ khác mà trên đó khoa học huyền bí học được xây dựng và mà nghệ thuật chữa lành phải thừa nhận. Trong biểu hiện, không có gì khác thuộc bất kỳ loại nào. Chính bệnh tật cũng là một hình thức năng lượng hoạt động, biểu lộ trong các mãnh lực hủy diệt hoặc tạo ra cái chết. Vì vậy, nếu tiền đề căn bản của chúng ta là đúng, thì bệnh tật cũng là một hình thức biểu lộ thiêng liêng, vì điều mà chúng ta biết là ác cũng là mặt trái của điều mà chúng ta gọi là thiện. Liệu chúng ta có làm giảm giá trị của đề tài hay gây ra một ấn tượng sai lầm [588] nếu xem điều ác (ít nhất là trong chừng mực liên quan đến bệnh tật) như điều thiện bị đặt sai chỗ hay điều chỉnh sai lệch chăng? Các bạn có hiểu lầm không nếu tôi nói rằng bệnh tật là năng lượng không vận hành như mong muốn hay theo Thiên Cơ? Các năng lượng tuôn vào được đưa vào liên hệ với các mãnh lực, và kết quả là sức khỏe tốt, các hình tướng mạnh mẽ và thích đáng, cùng hoạt động sinh động; tuy nhiên, cũng chính các năng lượng tuôn vào ấy có thể được đưa vào liên hệ với cùng các mãnh lực đó và một điểm ma sát được thiết lập, tạo ra một vùng bệnh hoạn, đau đớn, khổ sở và có lẽ là cái chết. Các năng lượng và các mãnh lực vẫn giữ nguyên cùng một bản chất thiêng liêng cốt yếu, nhưng mối liên hệ được thiết lập đã tạo ra vấn đề. Nếu câu này được nghiên cứu, sẽ hiển nhiên rằng một định nghĩa như thế có thể được dùng để bao quát mọi hình thức khó khăn, và rằng tác nhân tối hậu tạo ra tình huống (dù thiện hay ác) là phương diện liên hệ. Phát biểu này có tầm quan trọng lớn trong toàn bộ tư duy của các bạn.
2. Two energies meet in man but other five are present. For each is to be found a central point of contact.
2. Hai năng lượng gặp nhau trong con người nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, đều có thể tìm thấy một điểm tiếp xúc trung tâm.
The two energies which meet in man are the two aspects of the monad, of the One in manifestation; the monad manifests essentially as a duality: it expresses itself as will and love, as atma-buddhi and these two energies when brought into relation with the point of mind, with the third aspect of divinity, produce the soul and then the tangible manifested world: then there is demonstrated in the planet will, love, and mind or intelligence: or atma-buddhi-manas.
Hai năng lượng gặp nhau trong con người là hai phương diện của chân thần, của Đấng Duy Nhất trong biểu hiện; chân thần biểu lộ về bản chất như một nhị nguyên tính: nó diễn đạt chính mình như ý chí và bác ái, như atma-buddhi, và hai năng lượng này khi được đưa vào liên hệ với điểm trí tuệ, với phương diện thứ ba của thiên tính, sẽ tạo ra linh hồn và rồi thế giới biểu hiện hữu hình; khi ấy trên hành tinh sẽ biểu lộ ý chí, bác ái và trí tuệ hay thông tuệ: tức atma-buddhi-manas.
As the soul anchors itself as consciousness and life within the human being, that human being contributes the third something which is latent or karmically present in all substance, manas or mind; this is inherited or held in solution in substance from a previous solar system. In that system intelligence was unfolded and was retained within substance [589] in order to form the basis of the evolutionary development of this, the second solar system. Forget not that the seven planes of our solar system constitute the seven subplanes of the cosmic physical plane and that, therefore, spirit is matter at its highest point of expression, and matter is spirit at its lowest. Life differentiates itself into will and love, into great impulsing energies which underlie the entire evolutionary process and motivate its inevitable consummation.
Khi linh hồn neo chính nó như tâm thức và sự sống trong con người, thì con người ấy đóng góp yếu tố thứ ba vốn tiềm ẩn hay hiện diện theo nghiệp quả trong mọi chất liệu, đó là manas hay trí tuệ; điều này được thừa hưởng hay được giữ trong trạng thái hòa tan trong chất liệu từ một hệ mặt trời trước đây. Trong hệ ấy, trí tuệ đã được khai mở và được giữ lại trong chất liệu [589] để hình thành nền tảng cho sự phát triển tiến hoá của hệ này, tức hệ mặt trời thứ hai. Đừng quên rằng bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta cấu thành bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ và do đó, tinh thần là vật chất ở điểm biểu lộ cao nhất của nó, còn vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó. Sự sống tự biến phân thành ý chí và bác ái, thành những năng lượng thúc đẩy lớn lao làm nền cho toàn bộ tiến trình tiến hoá và thúc đẩy sự hoàn tất tất yếu của nó.
Atma-buddhi, as energies, anchor themselves in the soul vehicle, in the egoic lotus, and their fused activity evokes a response from the substance of the mental plane which then makes its own contribution. Its reaction produces what we call the higher mind, which is of so subtle a nature and so tenuous an emanation that it must perforce relate itself to the two higher aspects and become part of the Spiritual Triad. The vortex of forces established under the impact of the divine will, expressing divine purpose and unified with Being (as identity and not as a quality), produces the egoic lotus, the vehicle of that “identified soul” which has been swept into expression by the third result of the atmic-buddhic impact on the three worlds; the concrete mind and the human intellect come into expression. There is, therefore, a curious resemblance between the three divine aspects in manifestation and the spiritual man upon the mental plane. The correspondence is as follows:
Atma-buddhi, như những năng lượng, neo chính chúng trong vận cụ linh hồn, trong Hoa Sen Chân Ngã, và hoạt động dung hợp của chúng khơi dậy một đáp ứng từ chất liệu của cõi trí, rồi chất liệu này đóng góp phần riêng của nó. Phản ứng của nó tạo ra điều mà chúng ta gọi là thượng trí, vốn có bản chất vi tế đến mức và là một phát xạ mỏng nhẹ đến mức nó tất yếu phải liên hệ với hai phương diện cao hơn và trở thành một phần của Tam Nguyên Tinh Thần. Vòng xoáy các mãnh lực được thiết lập dưới tác động của ý chí thiêng liêng, biểu lộ Thiên Ý và hợp nhất với Bản Thể (như bản sắc chứ không phải như một phẩm tính), tạo ra Hoa Sen Chân Ngã, vận cụ của “linh hồn đã đồng nhất” ấy, vốn đã bị cuốn vào biểu hiện bởi kết quả thứ ba của tác động atmic-buddhic lên ba cõi giới; trí cụ thể và trí năng con người đi vào biểu hiện. Vì vậy, có một sự tương tự kỳ lạ giữa ba phương diện thiêng liêng trong biểu hiện và con người tinh thần trên cõi trí. Sự tương ứng như sau:
The monad.......Abstract mind.
Chân thần.......Trí trừu tượng.
The soul......... Egoic lotus.
Linh hồn......... Hoa Sen Chân Ngã.
The personality... Lower or concrete mind.
Phàm ngã... Hạ trí hay trí cụ thể.
That vague abstraction, the monad, for aeons of time seems unrelated in any way to the soul and the personality; these two have been and are occupied with the task of establishing, in due time and under the evolutionary urge, a close fusion [590] or at-one-ment. The abstract mind remains also for aeons of time something inconceivable and outside the modes of expression and of thinking of the man who is kama-manasic for emotion and lower mind) and then finally soul and concrete mind (or the illuminator and the transmitter of illumination). These correspondences can be found most enlightening if due consideration is given to them.
Sự trừu tượng mơ hồ đó, chân thần, trong nhiều đại kiếp dường như không có liên hệ nào với linh hồn và phàm ngã; hai phương diện này đã và đang bận rộn với nhiệm vụ thiết lập, vào thời điểm thích hợp và dưới thúc đẩy tiến hoá, một sự dung hợp chặt chẽ [590] hay sự hợp nhất. Trí trừu tượng cũng trong nhiều đại kiếp vẫn là điều không thể quan niệm được và nằm ngoài các phương thức biểu đạt cũng như tư duy của con người vốn là trí-cảm (tức cảm xúc và hạ trí), và rồi cuối cùng là linh hồn và trí cụ thể (hay là đấng soi sáng và là kẻ truyền đạt sự soi sáng). Những sự tương ứng này có thể mang lại nhiều điều soi sáng nếu được suy xét đúng mức.
In the human being you have, therefore, two major energies anchored; one unrealised, to which we give the name of the PRESENCE, the other realised, to which we give the name of the Angel of the PRESENCE. These are the soul (the solar angel) and the monad. One embodies the monadic ray and the other the soul ray, and both of these energies actively or subtly condition the personality.
Trong con người, vì vậy, các bạn có hai năng lượng chính được neo giữ; một năng lượng chưa được nhận ra, mà chúng ta gọi là HIỆN DIỆN, năng lượng kia đã được nhận ra, mà chúng ta gọi là Thiên Thần của HIỆN DIỆN. Đó là linh hồn (Thái dương Thiên Thần) và chân thần. Một năng lượng thể hiện cung chân thần và năng lượng kia thể hiện cung linh hồn, và cả hai năng lượng này đều tích cực hay vi tế tác động lên phàm ngã.
The other five energies Which are present are the ray of the mind or the conditioning force of the mental body; the ray of the emotional nature, and the ray of the physical body, plus a fourth ray which is that of the personality. The ray of the physical body esoterically “ascends upward towards juncture, whereas the others all move down,” to quote an ancient writing. The ray of the personality is a consequence or result of the vast cycle of incarnations. You have therefore:
Năm năng lượng khác hiện diện là cung của trí tuệ hay mãnh lực điều kiện hóa của thể trí; cung của bản chất cảm xúc, và cung của thể xác, cộng với cung thứ tư là cung của phàm ngã. Cung của thể xác một cách huyền bí “đi lên trên hướng tới chỗ nối kết, trong khi tất cả các cung khác đều đi xuống,” để trích một trước tác cổ. Cung của phàm ngã là hệ quả hay kết quả của chu kỳ nhập thể rộng lớn. Vì vậy, các bạn có:
1. The monadic ray.
1. Cung chân thần.
2. The soul ray.
2. Cung linh hồn.
3. Ray of the mind.
3. Cung của trí tuệ.
4. Ray of the emotions.
4. Cung của cảm xúc.
5. Ray of the physical body.
5. Cung của thể xác.
6. Ray of the personality.
6. Cung của phàm ngã.
7. The planetary ray.
7. Cung hành tinh.
The planetary ray is always the third Ray of Active Intelligence because it conditions our Earth and is of great potency, enabling the human being to “transact his business in the [591] world of planetary physical life.”
Cung hành tinh luôn luôn là cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động vì nó điều kiện hóa Trái Đất của chúng ta và có mãnh lực rất lớn, giúp con người “xử lý công việc của mình trong [591] thế giới của đời sống hồng trần hành tinh.”
I have made only casual reference to these rays elsewhere and have said little anent the planetary ray; I have laid the emphasis upon another analysis of the conditioning rays, and in this analysis recognised only five rays for practical usefulness to the man. These are:
Ở nơi khác, tôi chỉ tình cờ nhắc đến các cung này và nói rất ít về cung hành tinh; tôi đã nhấn mạnh vào một cách phân tích khác về các cung điều kiện hóa, và trong cách phân tích ấy chỉ công nhận năm cung là hữu dụng thực tiễn cho con người. Đó là:
1. The soul ray.
1. Cung linh hồn.
2. The personality ray.
2. Cung phàm ngã.
3. The mental ray.
3. Cung thể trí.
4. The astral ray.
4. Cung thể cảm dục.
5. The ray of the physical body.
5. Cung của thể xác.
However, with the creation and development of the antahkarana, the ray of the monad must also be brought into line, and then that which is its polar opposite, the planetary “livingness,” the third ray, will have to be recognised. I have here imparted a point of much importance to you. All these energies play an active part in the life cycle of every man and cannot be totally ignored by the healer, even though the information may be relatively useless at this time.
Tuy nhiên, với việc tạo dựng và phát triển antahkarana, cung của chân thần cũng phải được đưa vào hàng ngũ, và khi đó điều là đối cực phân cực của nó, “tính sống” hành tinh, tức cung ba, sẽ phải được thừa nhận. Ở đây tôi đã truyền đạt cho các bạn một điểm rất quan trọng. Tất cả các năng lượng này đều đóng một vai trò tích cực trong chu kỳ đời sống của mỗi người và không thể bị người chữa lành hoàn toàn bỏ qua, dù thông tin này hiện nay có thể tương đối vô dụng.
3. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves produce the bodily ills of man.
3. Sự xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau tạo ra các bệnh tật thân thể của con người.
You will note here that diseases are produced, according to this law, in two ways:
Ở đây các bạn sẽ lưu ý rằng bệnh tật được tạo ra, theo định luật này, theo hai cách:
1. By the conflict of energies with forces.
1. Bởi sự xung đột của các năng lượng với các mãnh lực.
2. By the conflict of the forces twixt themselves.
2. Bởi sự xung đột của các mãnh lực với nhau.
It will be apparent on the surface that this dual warfare is to be expected. Under the first category there is the warfare which takes place in the personality life when the soul definitely turns its attention to its vehicles and attempts to take [592] control. The more determined the person is to submit his personality to soul control, the more intense will be the conflict, with consequent physical conditions of a serious kind as a result. Under this category would come the majority of the diseases of disciples and mystics, largely of a nervous nature and often affecting the heart or the blood stream. They will, in the majority of cases, be confined to the area above the diaphragm, and therefore to those areas conditioned by the head, the throat and the heart centres. A number of what we might call “borderline” cases come under this heading also, but these are confined to the transfer of energies (under soul impact) from the solar plexus centre to the heart, and the “line” involved is simply the diaphragm.
Thoạt nhìn, hiển nhiên là cuộc chiến kép này phải được trông đợi. Dưới loại thứ nhất là cuộc chiến diễn ra trong đời sống phàm ngã khi linh hồn dứt khoát hướng sự chú ý của nó đến các vận cụ của nó và cố gắng nắm quyền [592] kiểm soát. Người ấy càng quyết tâm quy phục phàm ngã của mình dưới sự kiểm soát của linh hồn, thì sự xung đột sẽ càng mãnh liệt, và kết quả là các tình trạng hồng trần nghiêm trọng. Dưới loại này sẽ thuộc về phần lớn các bệnh của các đệ tử và các nhà thần bí, phần nhiều có tính chất thần kinh và thường ảnh hưởng đến tim hay dòng máu. Trong đa số trường hợp, chúng sẽ bị giới hạn ở vùng phía trên cơ hoành, và do đó ở những vùng được điều kiện hóa bởi các trung tâm đầu, cổ họng và tim. Một số trường hợp mà chúng ta có thể gọi là “ranh giới” cũng thuộc đề mục này, nhưng chúng chỉ giới hạn trong việc chuyển dịch các năng lượng (dưới tác động của linh hồn) từ trung tâm tùng thái dương lên tim, và “ranh giới” liên quan đơn giản là cơ hoành.
Under this first category also would come those difficulties which are brought about, for instance, when the energy of the astral body makes its impact upon the forces of the etheric vehicle, setting up an emotional turmoil, and thus producing serious solar plexus difficulty with resultant gastric, intestinal and liver disturbances. These are all the result of the conflict between energy and forces. All I can do at this point is to give indication of the type of problem which is related to one or other of these two categories; the subject is unsuitable for the brief handling which I purpose here to give.
Dưới loại thứ nhất này cũng sẽ thuộc về những khó khăn được gây ra, chẳng hạn, khi năng lượng của thể cảm dục tác động lên các mãnh lực của vận cụ dĩ thái, tạo nên một cơn xáo trộn cảm xúc, và do đó gây ra khó khăn nghiêm trọng ở tùng thái dương với hậu quả là các rối loạn dạ dày, ruột và gan. Tất cả những điều này đều là kết quả của sự xung đột giữa năng lượng và các mãnh lực. Tại điểm này, tất cả những gì tôi có thể làm là chỉ ra loại vấn đề liên hệ đến một hay loại kia trong hai loại này; đề tài này không thích hợp cho cách xử lý ngắn gọn mà tôi dự định trình bày ở đây.
Under the second category, which concerns the conflict between forces and forces, you have the etheric body involved, and the forces concerned are those to be found in the major and the minor centres, involving their relation to each other and their internal reaction to the impact of energies coming from without the etheric body. These forces and their interplay produce the common ills of man and control the disturbances in the physical organs and the areas of the physical body which are found around these centres. [593] These in reality constitute the major conditioning factors for the mass of human beings for long aeons or until such time as the soul “pays attention” to the appropriation in full control of its mechanism in the three worlds. These secondary difficulties, due to the interplay between the centres, fall into three categories, and these should be carefully noted:
Dưới loại thứ hai, liên quan đến sự xung đột giữa mãnh lực với mãnh lực, các bạn có thể dĩ thái bị liên can, và các mãnh lực liên hệ là những mãnh lực được tìm thấy trong các trung tâm chính và phụ, bao gồm mối liên hệ của chúng với nhau và phản ứng nội tại của chúng đối với tác động của các năng lượng đến từ bên ngoài thể dĩ thái. Các mãnh lực này và sự tương tác của chúng tạo ra những đau yếu thông thường của con người và kiểm soát các rối loạn trong các cơ quan hồng trần và các vùng của thể xác được tìm thấy quanh các trung tâm này. [593] Thực ra, đây là những yếu tố điều kiện hóa chính đối với đại đa số nhân loại trong nhiều đại kiếp hoặc cho đến khi linh hồn “chú ý” đến việc chiếm hữu trọn vẹn bộ máy của nó trong ba cõi giới dưới sự kiểm soát hoàn toàn. Những khó khăn thứ yếu này, do sự tương tác giữa các trung tâm, rơi vào ba loại, và cần được ghi nhận cẩn thận:
1. The interplay between:
1. Sự tương tác giữa:
a. The centres above the diaphragm, i.e., the head, the throat and the heart, and very occasionally the ajna centre.
a. Các trung tâm phía trên cơ hoành, tức là đầu, cổ họng và tim, và rất hiếm khi là trung tâm ajna.
b. The centres below the diaphragm and their relation to each other.
b. Các trung tâm phía dưới cơ hoành và mối liên hệ của chúng với nhau.
2. The relation of certain centres to each other, such as takes place under the Law of Transmutation, or the process of lifting up of the forces from one centre to another:
2. Mối liên hệ của một số trung tâm với nhau, như diễn ra dưới Định luật Chuyển Hoá, hay tiến trình nâng các mãnh lực từ trung tâm này lên trung tâm khác:
a. From the sacral centre to the throat centre.
a. Từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng.
b. From the solar plexus centre to the heart centre.
b. Từ trung tâm tùng thái dương lên trung tâm tim.
c. From the centre at the base of the spine to the head centre.
c. Từ trung tâm ở đáy cột sống lên trung tâm đầu.
3. The impact of the “energy” (note the technical accuracy of my phrasing) of the centres above the diaphragm on those below the diaphragm.
3. Tác động của “năng lượng” (hãy lưu ý tính chính xác kỹ thuật trong cách diễn đạt của tôi) của các trung tâm phía trên cơ hoành lên các trung tâm phía dưới cơ hoành.
This is a reverse process to that which takes place when the forces below the diaphragm are raised to the centres above the diaphragm. In this third type of relation you have the exercise of the potency of magnetism, and in the other you have the expression of radiation. These two are closely allied at a certain stage of unfoldment.
Đây là một tiến trình ngược lại với tiến trình diễn ra khi các mãnh lực phía dưới cơ hoành được nâng lên các trung tâm phía trên cơ hoành. Trong loại liên hệ thứ ba này, các bạn có sự vận dụng tiềm lực của từ điện, còn trong loại kia các bạn có sự biểu lộ của bức xạ. Hai điều này liên hệ rất mật thiết với nhau ở một giai đoạn khai mở nhất định.
[594]
[594]
Under all these relationships there are possibilities of difficulties, resulting in an undesirable effect upon the physical organs found within the area involved. In the early stages of the relation of the centres above the diaphragm to those below, the man is usually quite unaware of what is going on and is then simply the victim of the stimulation applied by the centre emanating energy to the centre which receives its impact; or he is the victim of devitalisation (producing consequently many forms of physical ills) as the centres respond to the stimulation. It is all a question of balance or of equilibrium, and it is for this that the intelligent man and the aspirant must strive.
Dưới tất cả các mối liên hệ này đều có những khả năng gây khó khăn, dẫn đến một hiệu quả không mong muốn trên các cơ quan hồng trần nằm trong vùng liên hệ. Trong các giai đoạn đầu của mối liên hệ giữa các trung tâm phía trên cơ hoành với các trung tâm phía dưới, con người thường hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra và khi ấy chỉ đơn giản là nạn nhân của sự kích thích do trung tâm phát ra năng lượng áp dụng lên trung tâm tiếp nhận tác động của nó; hoặc y là nạn nhân của sự mất sinh lực (do đó tạo ra nhiều hình thức đau yếu hồng trần) khi các trung tâm đáp ứng với sự kích thích. Tất cả đều là vấn đề cân bằng hay quân bình, và chính vì điều này mà con người thông minh và người chí nguyện phải phấn đấu.
We come now to a very ambiguous statement and one that is purposely meant to be so:
Giờ đây chúng ta đến với một phát biểu rất mơ hồ và cố ý được làm cho như vậy:
4. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top.
4. Sự xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên.
This refers vaguely (and again purposely so) to the conflict between the energies above the diaphragm—which normally come from the soul on its own plane—and the forces below the diaphragm. This is a major and persistent conflict; it begins when the solar plexus centre becomes dominant and powerful, producing crises as in Atlantean days. As the mass of men are still Atlantean in consciousness, being swayed mainly by their emotional natures, these crises arise today. Eventually, and metaphysically speaking, the solar plexus centre begins to have a radiatory effect in response to the magnetic “call” of the heart centre. When the first initiation is taken the first great interplay is set up between the two and the first coordinated activity is established. “That which is above is now related to that which is below, but that which is below loses its identity in that which is above,” as the Old Commentary expresses it. The [595] mother is lost to sight because the Christ-Child assumed the place of interest. The soul is taking control and leading the aspirant from mountain top to mountain top. At the first initiation, and increasingly at all initiations, energy is brought into a major conflict with the forces; soul energy sweeps into the etheric body and all the centres become “fighting areas,” with one centre being emphasised more than the others. The nature of the battle is no longer that “twixt the forces and each other,” but is now between the energies and the forces, and it is this which creates the acuteness of the tests for initiation; it is this which produces so many physical ills among those who have taken or are preparing to take the first and second initiations. And it accounts for the diseases of the saints!
Điều này ám chỉ một cách mơ hồ (và lại cố ý như vậy) đến sự xung đột giữa các năng lượng phía trên cơ hoành—vốn thông thường đến từ linh hồn trên cõi riêng của nó—và các mãnh lực phía dưới cơ hoành. Đây là một xung đột lớn và dai dẳng; nó bắt đầu khi trung tâm tùng thái dương trở nên chi phối và mạnh mẽ, tạo ra các khủng hoảng như trong thời Atlantis. Vì đại đa số con người vẫn còn là Atlantis trong tâm thức, chủ yếu bị bản chất cảm xúc của mình chi phối, nên các khủng hoảng này phát sinh ngày nay. Cuối cùng, nói theo siêu hình học, trung tâm tùng thái dương bắt đầu có hiệu quả bức xạ để đáp ứng với “tiếng gọi” từ tính của trung tâm tim. Khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận thì sự tương tác lớn đầu tiên được thiết lập giữa hai trung tâm này và hoạt động phối hợp đầu tiên được xác lập. “Điều ở trên nay đã liên hệ với điều ở dưới, nhưng điều ở dưới mất bản sắc của nó trong điều ở trên,” như Cổ Luận diễn tả. Người mẹ mất khỏi tầm mắt vì Hài Nhi Christ đã chiếm lấy vị trí được quan tâm. Linh hồn đang nắm quyền kiểm soát và dẫn dắt người chí nguyện từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Ở lần điểm đạo thứ nhất, và ngày càng nhiều hơn ở mọi lần điểm đạo, năng lượng được đưa vào một cuộc xung đột lớn với các mãnh lực; năng lượng linh hồn tràn vào thể dĩ thái và mọi trung tâm trở thành “những vùng chiến đấu,” với một trung tâm được nhấn mạnh hơn các trung tâm khác. Bản chất của cuộc chiến không còn là cuộc chiến “giữa các mãnh lực với nhau,” mà nay là giữa các năng lượng và các mãnh lực, và chính điều này tạo ra tính gay gắt của các thử thách điểm đạo; chính điều này tạo ra quá nhiều bệnh tật hồng trần nơi những người đã tiếp nhận hay đang chuẩn bị tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Và điều đó giải thích các bệnh tật của các vị thánh!
A great science of the centres will some day emerge, and this will clarify the entire complex problem; the time, however, is not yet. At present, if this science were taught openly, the result would be that the thoughts of men would be turned to the fact of the centres and to the areas which they control, and not to the energies which pour through them. There would be an unwholesome and undesirable stimulation or devitalisation of the substance of the centres, with consequent acute disease. The law forever holds good that “energy follows thought,” and that energy can be either radiatory or magnetic, but must not be statically contained within a centre. The true science of the centres will only be permitted free circulation when—and only when—men know the rudiments at least of thought direction and the control of energy impacts.
Một khoa học lớn về các trung tâm rồi đây sẽ xuất hiện, và điều này sẽ làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề phức tạp; tuy nhiên, thời điểm ấy vẫn chưa đến. Hiện nay, nếu khoa học này được dạy công khai, kết quả sẽ là tư tưởng của con người bị hướng đến sự kiện về các trung tâm và đến các vùng mà chúng kiểm soát, chứ không phải đến các năng lượng tuôn qua chúng. Sẽ có một sự kích thích hay mất sinh lực không lành mạnh và không mong muốn đối với chất liệu của các trung tâm, với hậu quả là bệnh tật cấp tính. Quy luật “năng lượng đi theo tư tưởng” luôn luôn đúng, và năng lượng có thể là bức xạ hoặc từ tính, nhưng không được bị giữ tĩnh tại trong một trung tâm. Khoa học chân chính về các trung tâm sẽ chỉ được phép lưu hành tự do khi—và chỉ khi—con người biết ít nhất những điều sơ đẳng về sự định hướng tư tưởng và sự kiểm soát các tác động năng lượng.
5. The fight between the forces produces all disease, all ills, and bodily pains which seek release through death.
5. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu, và đau đớn thân thể vốn tìm sự giải thoát qua cái chết.
[596]
[596]
There is here an interesting distinction which should be noted. Death, when it comes, is the result of two things:
Ở đây có một sự phân biệt thú vị cần được lưu ý. Cái chết, khi đến, là kết quả của hai điều:
1. The fight between the forces, and not between energy and the forces. The area of conflict is the etheric body and the physical body, and no energies are coming in from without because the man is too ill.
1. Cuộc chiến giữa các mãnh lực, chứ không phải giữa năng lượng và các mãnh lực. Vùng xung đột là thể dĩ thái và thể xác, và không có năng lượng nào từ bên ngoài đi vào vì người ấy quá bệnh.
2. The loss of the will-to-live. The patient has given in; the internal fight is too much for him; he can bring in no outside energy to combat the warring forces, and he has reached the point where he does not want to do so.
2. Sự mất đi Ý Chí-hướng Sống. Bệnh nhân đã đầu hàng; cuộc chiến nội tại là quá sức đối với y; y không thể đưa vào bất kỳ năng lượng bên ngoài nào để chống lại các mãnh lực đang giao chiến, và y đã đạt đến điểm mà y không còn muốn làm như vậy nữa.
These two phases of the process of dying are indicative of the destiny of the patient, and should be immediately noted by the healer who (when he finds them present) will then apply his skill in aiding the man to die and will not attempt to effect a cure. The door of entry for the life-giving energies is sealed; nothing can enter to aid the healer in his work, and the conflict between the forces-of a general nature or confined to a bitter fight in a particular area-produces so much friction that there is no hope anywhere, except in death. In this sentence, it might be pointed out that disease refers to the point of friction or of acute trouble; all ills has reference to the general reaction of the man to the area of difficulty and to the general disability produced by the disease, whilst bodily pain refers to the discomfort of the area where the disease is located and which is indicative of its nature. All words in these rules are most carefully chosen, and even if inadequate from the translator’s point of view, are not redundant but express different meanings.
Hai giai đoạn này của tiến trình chết cho thấy số phận của bệnh nhân, và cần được người chữa lành ghi nhận ngay; khi thấy chúng hiện diện, y sẽ vận dụng kỹ năng của mình để giúp người ấy chết và sẽ không cố gắng chữa khỏi. Cánh cửa đi vào của các năng lượng ban sự sống đã bị niêm phong; không gì có thể đi vào để hỗ trợ người chữa lành trong công việc của y, và sự xung đột giữa các mãnh lực—mang tính tổng quát hoặc giới hạn trong một cuộc chiến dữ dội ở một vùng cụ thể—tạo ra quá nhiều ma sát đến nỗi không còn hy vọng nào ở đâu cả, ngoại trừ trong cái chết. Trong câu này, có thể chỉ ra rằng bệnh tật nói đến điểm ma sát hay điểm rối loạn cấp tính; mọi đau yếu nói đến phản ứng tổng quát của con người đối với vùng khó khăn và đến tình trạng suy nhược chung do bệnh tật tạo ra, trong khi đau đớn thân thể nói đến sự khó chịu của vùng nơi bệnh khu trú và là dấu hiệu cho thấy bản chất của nó. Mọi từ trong các quy luật này đều được chọn lựa hết sức cẩn thận, và dù có thể không đầy đủ theo quan điểm của người dịch, chúng không thừa mà diễn đạt những ý nghĩa khác nhau.
6. The two, the five and then the seven, plus that which they produce, possess the secret.
6. Hai, năm, rồi bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật.
[597]
[597]
The enumeration is in the nature of a summation of what has been previously given, and its most superficial meaning and the one of the most use to the healer could be simply expressed as follows:
Sự liệt kê này có tính chất tổng kết những gì đã được trình bày trước đó, và ý nghĩa bề mặt nhất của nó, cũng là ý nghĩa hữu ích nhất cho người chữa lành, có thể được diễn đạt đơn giản như sau:
The healer must bear in mind the fact of the two major energies which are present in every personality; the soul and the personality rays. He must then bear in mind that to these two he must add three conditioning rays, making the five above mentioned: the mind ray, the ray of the astral body and the ray of the physical body.
Người chữa lành phải ghi nhớ sự kiện về hai năng lượng chính hiện diện trong mọi phàm ngã; cung linh hồn và cung phàm ngã. Sau đó y phải ghi nhớ rằng vào hai cung này y phải cộng thêm ba cung điều kiện hóa, tạo thành năm cung vừa nêu: cung thể trí, cung của thể cảm dục và cung của thể xác.
This enumeration will usually prove adequate for all ordinary or average people. If, however, the patient is a very advanced person, another form of enumeration will be in order; it will be necessary to add two more energies which will then be present in real potency: the ray of the monad and the ray of the planet, which is the third ray. This planetary ray when very active (as is the case with very advanced persons and those who have attained a high point of general integration) has a potent effect; planetary prana comes in powerfully on the planetary ray, and this can be used to bring about a cure. One reason why the general health of all very advanced people is usually good is that pranic energy from the planet has a free flow through the mechanism. It is this energy which the Master, working through a relatively perfect body, depends upon to keep it in good health. This is a somewhat new piece of information and one which—when recognised—will appear both simple and reasonable. “That which they produce” in this case, and to the healer, means the outer tangible form; there are other significances, but with these we need not here deal.
Sự liệt kê này thường sẽ tỏ ra đầy đủ đối với mọi người bình thường hay trung bình. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân là một người rất tiến bộ, thì một hình thức liệt kê khác sẽ thích hợp; cần phải cộng thêm hai năng lượng nữa, khi ấy sẽ hiện diện với tiềm lực thực sự: cung của chân thần và cung của hành tinh, tức cung ba. Cung hành tinh này khi rất hoạt động (như trường hợp nơi những người rất tiến bộ và những người đã đạt đến một điểm cao của sự tích hợp tổng quát) có một hiệu quả mạnh mẽ; prana hành tinh đi vào mạnh mẽ trên cung hành tinh, và điều này có thể được dùng để tạo ra sự chữa lành. Một lý do khiến sức khỏe tổng quát của mọi người rất tiến bộ thường tốt là vì năng lượng prana từ hành tinh có một dòng chảy tự do qua bộ máy. Chính năng lượng này mà Chân sư, làm việc qua một thể tương đối hoàn hảo, nương vào để giữ cho nó được khỏe mạnh. Đây là một mẩu thông tin phần nào mới mẻ và khi được nhận ra, sẽ có vẻ vừa đơn giản vừa hợp lý. “Điều mà chúng tạo ra” trong trường hợp này, và đối với người chữa lành, có nghĩa là hình tướng hữu hình bên ngoài; còn có những thâm nghĩa khác, nhưng ở đây chúng ta không cần bàn đến.
The “secret” referred to is the revelation of the manner in which good health may be preserved. It is not the secret [598] of how to cure the physical vehicle when “bodily ills” are present. But there is a secret of good health which is known to all initiates above the third initiation; and this they can simply employ, if they so choose. However, they may not so choose always unless they are working with other parts of the Plan which have nothing to do with humanity. If them are among those who are occupied with the unfolding consciousness in man and who are workers for and in the human kingdom, they may know the secret but may, at the same time, choose not to profit by it because of the need they feel to be completely identified with mankind; they therefore choose to share consciously all human experience and to die along lines which are common to the rest of men. The entire question of identification lies behind all manifestation; it is identification with or of spirit and matter which is the secret of divine appearance; one of the main causes of disease, as well you know, is the facility with which men identify themselves with the form aspect (with the many localised forces—localised within the personality ring-pass-not). Man neglects to identify himself with the producer of the form, the true spiritual man, and with the energies which he seeks to direct, and which—later in the evolutionary cycle—he is insistent upon directing.
“Bí mật” được nói đến là sự mặc khải về cách thức mà sức khỏe tốt có thể được duy trì. Đó không phải là bí mật [598] về cách chữa lành vận cụ hồng trần khi “các đau yếu thân thể” hiện diện. Nhưng có một bí mật của sức khỏe tốt mà mọi điểm đạo đồ trên lần điểm đạo thứ ba đều biết; và các vị có thể đơn giản sử dụng nó, nếu các vị chọn như vậy. Tuy nhiên, các vị có thể không phải lúc nào cũng chọn như vậy trừ phi các vị đang làm việc với những phần khác của Thiên Cơ vốn không liên quan gì đến nhân loại. Nếu các vị thuộc số những người đang bận tâm đến sự khai mở tâm thức trong con người và là những người hoạt động cho và trong giới nhân loại, các vị có thể biết bí mật ấy nhưng đồng thời có thể chọn không hưởng lợi từ nó vì nhu cầu mà các vị cảm thấy là phải hoàn toàn đồng nhất với nhân loại; do đó các vị chọn chia sẻ một cách có ý thức mọi kinh nghiệm của con người và chết theo những đường lối vốn phổ biến đối với phần còn lại của nhân loại. Toàn bộ vấn đề đồng nhất nằm phía sau mọi biểu hiện; chính sự đồng nhất của hay với tinh thần và vật chất là bí mật của sắc tướng thiêng liêng; như các bạn biết rõ, một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật là sự dễ dàng mà con người đồng nhất chính mình với phương diện hình tướng (với nhiều mãnh lực khu trú—được khu trú trong vòng-giới-hạn của phàm ngã). Con người sao lãng việc đồng nhất chính mình với tác nhân tạo ra hình tướng, con người tinh thần chân thực, và với các năng lượng mà y tìm cách định hướng, và về sau trong chu kỳ tiến hoá, y kiên quyết định hướng.
There is also a secret meaning here which relates to the seven rays as they express themselves in the human kingdom; the knowledge of this secret enables a Master to control epidemics and widespread diseases; with this you are not at this time concerned. Incidentally, the relative freedom from the plagues and epidemics which usually follow in the wake of war has been partly due to the use of this sevenfold knowledge by the Hierarchy, plus the scientific knowledge of humanity itself.
Ở đây cũng có một ý nghĩa bí mật liên hệ đến bảy cung khi chúng biểu lộ trong giới nhân loại; tri thức về bí mật này giúp một Chân sư kiểm soát các dịch bệnh và các bệnh lan rộng; hiện nay các bạn chưa cần quan tâm đến điều đó. Nhân tiện, sự tương đối vắng mặt của các bệnh dịch và dịch hạch thường theo sau chiến tranh một phần là nhờ việc Thánh đoàn sử dụng tri thức thất phân này, cộng với tri thức khoa học của chính nhân loại.
In this connection also (and I mention it simply from the angle of its interest) there are two hierarchical officials—[599] the Mahachohan and His Representative upon the seventh ray—Who are today in possession of this secret in its entirety, and They are aided by five other Masters in applying the gained knowledge. These five Masters are working primarily with the deva evolution, and this is, as you know, connected with form, and in this particular case with the healing devas. These seven Members of the Hierarchy are aided in Their turn by one of the Buddhas of Activity, and also by the representative of the Spirit of the Earth. This again makes the two, the five, and then the seven—a different enumeration, and one which when brought together equals nine, which is the number of initiation. This numerical relationship brings man to the point where he is “initiated into the realm of perfection and knows no further aches or pains, and his mind is thus deflected from that which is below to that which is above.”
Trong mối liên hệ này cũng vậy (và tôi chỉ nêu ra từ góc độ thú vị của nó), có hai vị chức sắc của Thánh đoàn—[599] Đức Mahachohan và Đại diện của Ngài trên cung bảy—là những Đấng ngày nay nắm giữ trọn vẹn bí mật này, và Các Ngài được năm Chân sư khác trợ giúp trong việc áp dụng tri thức đã đạt được. Năm Chân sư này chủ yếu làm việc với tiến hoá thiên thần, và điều này, như các bạn biết, có liên hệ với hình tướng, và trong trường hợp đặc biệt này là với các thiên thần chữa lành. Bảy Thành Viên này của Thánh đoàn đến lượt mình được một trong các Đức Phật Hoạt Động trợ giúp, và cũng bởi đại diện của Tinh Linh Địa Cầu. Điều này lại tạo thành hai, năm, rồi bảy—một cách liệt kê khác, và khi cộng lại thành chín, là con số của điểm đạo. Mối liên hệ số học này đưa con người đến điểm mà y “được điểm đạo vào cõi giới của sự hoàn hảo và không còn biết thêm đau nhức hay đau đớn nào nữa, và do đó trí tuệ của y được chuyển khỏi điều ở dưới sang điều ở trên.”
I have mentioned this phase of mankind’s relation to the subject of health so as to show you how subtle and esoteric are the matters with which we are dealing, and so give to the individual patient a sense of proportion, where his bodily ills or even his death are concerned.
Tôi đã đề cập đến phương diện này của mối liên hệ của nhân loại với đề tài sức khỏe để cho các bạn thấy những vấn đề mà chúng ta đang bàn đến tinh tế và huyền bí đến mức nào, và nhờ đó đem lại cho bệnh nhân cá nhân một Ý thức về tỉ lệ, khi liên quan đến các đau yếu thân thể hay ngay cả cái chết của y.
7. This is the fifth Law of Healing within the world of form.
7. Đây là định luật chữa lành thứ năm trong thế giới hình tướng.
This fifth law is primarily concerned with the fifth principle of mind or manas; it is this principle which makes a human being what he is; it is this principle which makes him a prisoner within the form and upon the planet, and thus makes him vulnerable and open to attacks upon the form aspect; these constitute part of the agelong action of evil versus good. It is this fifth principle, when controlled and used by the Son of Mind, Who is a Son of God, which will enable the spiritual man to free himself from form of every kind, and therefore from disease and death.
Định luật thứ năm này chủ yếu liên hệ đến nguyên khí thứ năm là trí tuệ hay manas; chính nguyên khí này làm cho con người là điều mà y là; chính nguyên khí này làm cho y thành một tù nhân trong hình tướng và trên hành tinh, và do đó làm cho y dễ bị tổn thương và dễ bị tấn công vào phương diện hình tướng; những điều này cấu thành một phần của hoạt động lâu đời của ác đối kháng với thiện. Chính nguyên khí thứ năm này, khi được Con của Trí Tuệ, Đấng là Con của Thượng đế, kiểm soát và sử dụng, sẽ giúp con người tinh thần giải thoát chính mình khỏi mọi loại hình tướng, và do đó khỏi bệnh tật và cái chết.
[600]
[600]
It will be obvious that the healer, as he trains himself in the healing art, has to grasp clearly and candidly certain exceedingly simple yet esoteric facts:
Hiển nhiên là người chữa lành, khi tự huấn luyện mình trong nghệ thuật chữa lành, phải nắm bắt rõ ràng và thẳng thắn một số sự kiện cực kỳ đơn giản nhưng huyền bí:
1. That healing is simply and essentially the manipulation of energies.
1. Rằng chữa lành đơn giản và cốt yếu là sự vận dụng các năng lượng.
2. That he must carefully differentiate between energies and forces.
2. Rằng y phải cẩn thận phân biệt giữa năng lượng và mãnh lực.
3. That if he seeks real success, he must learn to place the patient as accurately as possible upon the correct rung of the ladder of evolution.
3. Rằng nếu tìm kiếm thành công thực sự, y phải học cách đặt bệnh nhân càng chính xác càng tốt trên nấc thang đúng của chiếc thang tiến hoá.
4. That knowledge of the centres is imperative.
4. Rằng tri thức về các trung tâm là điều bắt buộc.
5. That he himself must work as a soul through his personality.
5. Rằng chính y phải làm việc như một linh hồn thông qua phàm ngã của mình.
6. That his relation to the patient (unless the latter is highly evolved) is a personality one.
6. Rằng mối liên hệ của y với bệnh nhân (trừ phi người sau là một người rất tiến hoá) là một mối liên hệ phàm ngã.
7. That he must locate the centre controlling the area which involves the point of friction.
7. Rằng y phải xác định trung tâm kiểm soát vùng liên quan đến điểm ma sát.
8. That, as with all else in the occult sciences, disease and healing are both of them aspects of the great “relationship” system which governs all manifestation.
8. Rằng, cũng như với mọi điều khác trong các khoa học huyền bí, bệnh tật và chữa lành cả hai đều là những phương diện của hệ thống lớn về “liên hệ” vốn chi phối mọi biểu hiện.
If the healer will take these eight points and reflect and brood upon them, he will lay a sound foundation for all work to be done; their relative simplicity is such that it will be obvious that anyone can be a healer if he so chooses and is willing to conform to the requirements. The current idea that a person is a “born” healer, and therefore unique, in reality indicates only that it is one of his main directed interests. Therefore, because of this interest, his attention has been turned towards the healing art and consequently towards contact with patients; owing to the inevitable working of the law which governs thought, he discovers that energy follows his thought and flows through him to the [601] patient. When he does this with deliberation, a healing will often follow. Any man or woman—given real interest and prompted by the incentive to serve—who thinks and loves, can be a healer, and it is time that people grasped that fact. The entire process of healing is thought-directed; it concerns the direction of energy currents or their abstraction, and this is another way of speaking about radiation and magnetism. Every initiate is a healer, and the more advanced the initiate the less is he occupied with the intricacies of centres and forces, energies and their direction. He heals automatically, as was the case with the initiate, Peter; of him we read that “the shadow of Peter passing by healed everyone of them.”
Nếu nhà chữa lành tiếp nhận tám điểm này và suy tư, chiêm ngưỡng về chúng, y sẽ đặt được một nền tảng vững chắc cho mọi công việc cần làm; tính tương đối đơn giản của chúng khiến hiển nhiên rằng bất cứ ai cũng có thể là một nhà chữa lành nếu y chọn như vậy và sẵn lòng tuân theo các đòi hỏi. Quan niệm hiện nay cho rằng một người là nhà chữa lành “bẩm sinh”, và vì thế là độc nhất, trên thực tế chỉ cho thấy rằng đó là một trong những mối quan tâm có định hướng chính của y. Vì vậy, do mối quan tâm này, sự chú ý của y đã được hướng về nghệ thuật chữa lành và do đó hướng về sự tiếp xúc với các bệnh nhân; do sự vận hành tất yếu của định luật chi phối tư tưởng, y khám phá ra rằng năng lượng đi theo tư tưởng của y và tuôn qua y đến bệnh nhân [601]. Khi y làm điều này một cách có chủ ý, sự chữa lành thường sẽ theo sau. Bất kỳ người nam hay người nữ nào—nếu có mối quan tâm chân thật và được thúc đẩy bởi động cơ phụng sự—biết suy nghĩ và biết yêu thương, đều có thể là một nhà chữa lành, và đã đến lúc người ta phải nắm được sự kiện đó. Toàn bộ tiến trình chữa lành được tư tưởng định hướng; nó liên quan đến việc định hướng các dòng năng lượng hoặc sự rút chúng đi, và đây là một cách khác để nói về bức xạ và từ điện. Mọi điểm đạo đồ đều là một nhà chữa lành, và điểm đạo đồ càng tiến bộ thì Ngài càng ít bận tâm đến những phức tạp của các trung tâm và các mãnh lực, các năng lượng và sự định hướng của chúng. Ngài chữa lành một cách tự động, như trường hợp của điểm đạo đồ Peter; về ông, chúng ta đọc rằng “cái bóng của Peter đi ngang qua đã chữa lành tất cả họ.”
The major difference to be seen in the interim (an interim of many, many thousands of years) between the type of healing mentioned above and the work of a less advanced healer, will be that those healers who are trained physicians and accredited medical men as well as spiritual healers will have a great advantage over the untrained healer, because their diagnosis of the disease will be more apt to be correct and their powers of visualisation will be greater, owing to their trained familiarity with the structure of the body and their knowledge of morbid pathology. It will be wise, for a very long time to come, for the spiritual healer to work always in collaboration with a trained physician. The healer will provide the required occult knowledge. The time when any nice, kindly and spiritually minded person sets up as a healer should be well-nigh over; any healing practice should be preceded by years of careful study anent the nature of energy, of the ray types, of the centres; a minimum of at least three years should be given to this; when to this is added the science of the trained medical man, graduating from our best medical colleges, you will then have a new and much better treatment of the human vehicle than is now [602] the case. Then the healer’s orthodox and occult knowledge, his visualising capacity and his power of thought direction will be real and practically effective.
Sự khác biệt chính có thể thấy trong giai đoạn chuyển tiếp này (một giai đoạn chuyển tiếp kéo dài rất, rất nhiều ngàn năm) giữa loại chữa lành được nhắc đến ở trên và công việc của một nhà chữa lành kém tiến bộ hơn, sẽ là ở chỗ những nhà chữa lành nào vừa là bác sĩ được đào tạo và là y sĩ được công nhận, đồng thời cũng là nhà chữa lành tinh thần, sẽ có một lợi thế lớn hơn nhà chữa lành không được đào tạo, bởi vì chẩn đoán bệnh của họ có nhiều khả năng đúng hơn và năng lực hình dung của họ sẽ lớn hơn, nhờ sự quen thuộc được huấn luyện của họ với cấu trúc của thể xác và kiến thức của họ về bệnh lý học. Trong một thời gian rất dài sắp tới, sẽ là khôn ngoan nếu nhà chữa lành tinh thần luôn làm việc trong sự cộng tác với một bác sĩ được đào tạo. Nhà chữa lành sẽ cung cấp tri thức huyền bí học cần thiết. Thời kỳ mà bất kỳ người tử tế, tốt bụng và có khuynh hướng tinh thần nào cũng tự đứng ra làm nhà chữa lành hẳn phải gần như chấm dứt; bất kỳ việc hành nghề chữa lành nào cũng nên được đi trước bởi nhiều năm nghiên cứu cẩn trọng về bản chất của năng lượng, các loại cung, các trung tâm; tối thiểu ít nhất ba năm nên được dành cho việc này; khi cộng thêm vào đó khoa học của người thầy thuốc được đào tạo, tốt nghiệp từ các trường y khoa tốt nhất của chúng ta, khi ấy các bạn sẽ có một phương pháp điều trị mới và tốt hơn nhiều đối với vận cụ con người so với hiện nay [602]. Khi đó tri thức chính thống và huyền bí học của nhà chữa lành, năng lực hình dung và quyền năng định hướng tư tưởng của y sẽ là thực sự và có hiệu quả thực tiễn.
The rule connected with Law V makes clear the need for this occult knowledge, for it states very definitely certain fundamental injunctions.
Quy luật liên kết với Định luật V làm rõ nhu cầu về tri thức huyền bí học này, vì nó nêu ra rất dứt khoát một số huấn lệnh căn bản.