← Esoteric Healing (A Treatise on the Seven Rays Book 4)

RULE THREE — QUY LUẬT BA

RULE THREE — QUY LUẬT BA

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre. Let the centre correspond to the centre which has need. Let the two synchronise and together augment force. Thus shall the waiting form he balanced in its work. Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Hãy để nhà chữa lành tập trung năng lượng cần thiết trong trung tâm cần thiết. Hãy để trung tâm ấy tương ứng với trung tâm đang cần. Hãy để hai trung tâm đồng bộ và cùng nhau tăng cường mãnh lực. Như thế hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó. Như thế hai và một, dưới sự định hướng đúng đắn, sẽ chữa lành.

This rule presupposes a knowledge of the centres, and this knowledge is, as you well know, still embryonic; all that is known in most cases is the location of a centre. This, however, especially with untrained healers, is sufficient. Too detailed a knowledge of the formation, condition and responsiveness of a centre would handicap the healer, for his thought would be deflected to the detail of the form and away from the energy and its movements.

Quy luật này giả định có tri thức về các trung tâm, và như các bạn biết rõ, tri thức này vẫn còn ở giai đoạn phôi thai; trong đa số trường hợp, tất cả những gì được biết chỉ là vị trí của một trung tâm. Tuy nhiên, điều này, đặc biệt với các nhà chữa lành không được đào tạo, là đủ. Một tri thức quá chi tiết về sự hình thành, tình trạng và tính đáp ứng của một trung tâm sẽ làm trở ngại nhà chữa lành, vì tư tưởng của y sẽ bị lệch sang chi tiết của hình tướng và rời xa năng lượng cùng các chuyển động của nó.

The rule here requires that the healer, having aligned himself with the soul and “tapped” soul energy (thereby making himself a channel for spiritual force), directs this energy into that one of his own centres which corresponds to the centre conditioning the area of the point of friction. If the disease or physical trouble is stomachic, for instance, or related to the liver, the healer will direct his soul energy into the solar plexus centre, situated in the etheric spinal column. If the patient should be suffering from difficulty in the heart or the lungs the healer will use the heart centre, employing the throat centre for diseases of the bronchial tract, the throat, the mouth or the ears.

Quy luật ở đây đòi hỏi rằng nhà chữa lành, sau khi đã chỉnh hợp chính mình với linh hồn và “khai thác” năng lượng linh hồn (nhờ đó làm cho mình thành một kênh dẫn cho mãnh lực tinh thần), phải định hướng năng lượng này vào một trong các trung tâm của chính y, trung tâm tương ứng với trung tâm đang tác động lên khu vực của điểm ma sát. Chẳng hạn, nếu bệnh hay rối loạn hồng trần là ở dạ dày, hoặc liên quan đến gan, nhà chữa lành sẽ định hướng năng lượng linh hồn của y vào trung tâm tùng thái dương, nằm trong cột sống dĩ thái. Nếu bệnh nhân đang chịu đau khổ vì khó khăn ở tim hay phổi, nhà chữa lành sẽ dùng trung tâm tim, dùng trung tâm cổ họng cho các bệnh của đường phế quản, cổ họng, miệng hay tai.

[603]

[603]

Two things, therefore, become of importance in connection with the healer himself:

Vì vậy, có hai điều trở nên quan trọng liên quan đến chính nhà chữa lành:

1. He must know as accurately as possible his own point of development, for that will indicate to him capacity or non-capacity to work with any or with all the centres. In order to use any of his centres in the healing work, the healer must have awakened them in some measure and be able, consciously and by the power of thought, under the agency of the will, to focus energy in whichever centre he chooses. This does not mean that all the centres are awakened and truly functioning. It should, however, mean (if he is to heal at all) that he is not confined to the sole use of the centres below the diaphragm but that, by an effort of the spiritual will, thought can be channelled into the higher centres. Many aspirants can do this with greater facility than they believe.

1. Y phải biết càng chính xác càng tốt điểm phát triển của chính mình, vì điều đó sẽ chỉ cho y biết năng lực hay vô năng lực để làm việc với bất kỳ hay với tất cả các trung tâm. Để sử dụng bất kỳ trung tâm nào của mình trong công việc chữa lành, nhà chữa lành phải đã đánh thức chúng ở một mức độ nào đó và có thể, một cách hữu thức và bằng quyền năng của tư tưởng, dưới tác động của ý chí, tập trung năng lượng vào bất cứ trung tâm nào y chọn. Điều này không có nghĩa là tất cả các trung tâm đều đã được đánh thức và thực sự hoạt động. Tuy nhiên, điều đó nên có nghĩa (nếu y thật sự chữa lành) rằng y không bị giới hạn vào việc chỉ sử dụng các trung tâm dưới cơ hoành mà, bằng một nỗ lực của ý chí tinh thần, tư tưởng có thể được dẫn vào các trung tâm cao hơn. Nhiều người chí nguyện có thể làm điều này dễ dàng hơn họ tưởng.

2. The healer, as he channels energy into some centre, prior to directing it to a centre in the patient’s body, must run no risk of his personal overstimulation. This is a very important point. So much disease and physical difficulty among ordinary people is abdominal, necessitating the constant use of the solar plexus centre by the healer; this could bring about a grave condition of overemotionalism and even acute astralism on the part of the healer. He would then be the victim of his good intentions and of his spiritual service, for the consequences would all the same be bad; energy is an impersonal force and a purely impersonal agency. Purity of intention, selfless service and goodwill are no true protection, in spite of the platitudes of the sentimental occultist. In fact, the presence of these desirable conditions only increases the difficulty, for soul energy will pour in with [604] great force. An understanding of the risks involved, a sane appraisal of possibility and a scientific and technical understanding of protective measures will be given to the healer towards the latter end of his training. For the present, and because the danger is not at this time so great (owing to lack of potency in people’s thinking and their inability to direct thought) the major protective measure consists in the ability of the healer to hold his consciousness steady in the head centre with the “eye of direction” turned to the needed centre. This involves a dual focus, and for the ability to do this the healer must strive.

2. Nhà chữa lành, khi dẫn năng lượng vào một trung tâm nào đó, trước khi định hướng nó đến một trung tâm trong thể của bệnh nhân, không được để xảy ra bất kỳ nguy cơ nào về sự kích thích quá mức nơi cá nhân y. Đây là một điểm rất quan trọng. Quá nhiều bệnh tật và khó khăn hồng trần nơi người thường là ở vùng bụng, đòi hỏi nhà chữa lành phải liên tục sử dụng trung tâm tùng thái dương; điều này có thể gây ra một tình trạng nghiêm trọng của sự quá cảm xúc và thậm chí cảm dục tính cấp tính nơi nhà chữa lành. Khi đó y sẽ là nạn nhân của những ý định tốt đẹp và sự phụng sự tinh thần của chính mình, vì các hậu quả vẫn sẽ là xấu; năng lượng là một mãnh lực vô ngã và là một tác nhân thuần túy vô ngã. Sự thanh khiết của ý định, sự phụng sự vô ngã và thiện chí không phải là sự bảo vệ đích thực, bất chấp những lời sáo rỗng của nhà huyền bí học đa cảm. Thật ra, sự hiện diện của những điều kiện đáng mong muốn này chỉ làm tăng thêm khó khăn, vì năng lượng linh hồn sẽ tuôn vào với [604] mãnh lực lớn. Sự thấu hiểu các nguy cơ liên quan, một sự lượng định lành mạnh về khả năng, và một sự hiểu biết khoa học và kỹ thuật về các biện pháp bảo vệ sẽ được trao cho nhà chữa lành vào giai đoạn cuối của quá trình huấn luyện của y. Hiện nay, và bởi vì nguy hiểm lúc này chưa lớn đến thế (do sự thiếu mãnh lực trong tư tưởng của con người và sự bất lực của họ trong việc định hướng tư tưởng), biện pháp bảo vệ chính yếu nằm ở khả năng của nhà chữa lành giữ tâm thức của mình ổn định trong trung tâm đầu với “con mắt định hướng” quay về trung tâm cần thiết. Điều này bao hàm một sự tập trung kép, và để có khả năng làm được điều này nhà chữa lành phải nỗ lực.

It is here that the healer distinguishes between the processes of radiation and magnetisation. Having concentrated soul energy in the appropriate centre, through the power of direction from the head (the seat of soul energy) and by the potency of thought, the process of radiation ends. This radiation has passed through two stages:

Chính ở đây nhà chữa lành phân biệt giữa các tiến trình bức xạ và từ hóa. Sau khi đã tập trung năng lượng linh hồn trong trung tâm thích hợp, nhờ quyền năng định hướng từ đầu (nơi ngự của năng lượng linh hồn) và bởi mãnh lực của tư tưởng, tiến trình bức xạ chấm dứt. Sự bức xạ này đã đi qua hai giai đoạn:

1. The stage wherein the soul radiated energy into the head centre.

1. Giai đoạn trong đó linh hồn bức xạ năng lượng vào trung tâm đầu.

2. The stage wherein the healer directs a ray of that energy from the head centre into the “needed centre”; it is there focussed and held steady.

2. Giai đoạn trong đó nhà chữa lành định hướng một tia của năng lượng ấy từ trung tâm đầu vào “trung tâm cần thiết”; tại đó nó được tập trung và giữ ổn định.

From that appropriate centre the stage of synchronisation with the corresponding centre in the patient’s body is established; this is done, not by the healer sending a ray into that centre, but because the potency of the healer’s centre evokes response from that of the patient; it acts like a magnet, drawing forth a definite radiation from the patient. This radiation, esoterically, “lights up” the point of friction in the surrounding area and—were the healer clairvoyant would thus enable him to see more clearly the seat of the [605] trouble and, therefore, to arrive at a more accurate diagnosis. Ordinarily, the spiritual healer is depending upon the diagnosis of the medical man in attendance, if he is not one himself.

Từ trung tâm thích hợp đó, giai đoạn đồng bộ với trung tâm tương ứng trong thể bệnh nhân được thiết lập; điều này được thực hiện không phải bằng việc nhà chữa lành gửi một tia vào trung tâm ấy, mà bởi vì mãnh lực của trung tâm nơi nhà chữa lành gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm của bệnh nhân; nó hoạt động như một nam châm, kéo ra một bức xạ xác định từ bệnh nhân. Về mặt huyền bí học, bức xạ này “thắp sáng” điểm ma sát trong khu vực chung quanh và—nếu nhà chữa lành là nhà thông nhãn—nhờ đó sẽ cho phép y thấy rõ hơn chỗ ngồi của [605] rối loạn và vì thế đi đến một chẩn đoán chính xác hơn. Thông thường, nhà chữa lành tinh thần dựa vào chẩn đoán của người thầy thuốc đang điều trị, nếu chính y không phải là thầy thuốc.

The interplay is now established between the healer and the patient and upon etheric levels. The energy of their two synchronised centres is now en rapport, and the healer has at this point to determine whether the treatment requires an expulsive technique or a stimulating one. He has therefore to ascertain whether the patient’s centre is overstimulated and if some of the surplus energy should consequently be driven out or abstracted, or whether there is a condition of devitalisation and the energy of the centre involved requires a deliberate augmenting.

Sự tương tác nay đã được thiết lập giữa nhà chữa lành và bệnh nhân trên các cấp độ dĩ thái. Năng lượng của hai trung tâm đã đồng bộ của họ nay đã tương thông, và tại điểm này nhà chữa lành phải xác định liệu việc điều trị đòi hỏi một kỹ thuật tống xuất hay một kỹ thuật kích thích. Vì vậy y phải xác định xem trung tâm của bệnh nhân có bị kích thích quá mức hay không và do đó có nên đẩy ra hay rút đi một phần năng lượng dư thừa, hoặc liệu có một tình trạng mất sinh lực và năng lượng của trung tâm liên quan cần được tăng cường một cách có chủ ý hay không.

There is, however, a third possibility mentioned here which is slower, but in practically every case is more desirable; it is the attainment of that balance of energies (between the healer and the patient) which will hold the energy in the area of the point of friction and permit nature itself to bring about an unassisted cure. This is possible only when the rapport between the patient and the healer is complete. Then the sole task of the healer is to hold the situation steady, give the patient confidence in the powers inherent within him, and encourage a period of patient waiting. The cure then is more lasting, and there is no sense or period of psychic shock, which can be the case if sudden stimulation or drastic expulsion is employed.

Tuy nhiên, ở đây còn có một khả năng thứ ba được nhắc đến, chậm hơn, nhưng trên thực tế trong hầu như mọi trường hợp lại đáng mong muốn hơn; đó là đạt được sự quân bình năng lượng ấy (giữa nhà chữa lành và bệnh nhân), sự quân bình sẽ giữ năng lượng trong khu vực của điểm ma sát và cho phép chính bản chất tự mang lại một sự chữa lành không cần trợ giúp. Điều này chỉ có thể khi sự tương thông giữa bệnh nhân và nhà chữa lành là trọn vẹn. Khi đó nhiệm vụ duy nhất của nhà chữa lành là giữ tình huống ổn định, đem lại cho bệnh nhân sự tin tưởng vào các quyền năng vốn có bên trong y, và khuyến khích một thời kỳ chờ đợi kiên nhẫn. Khi ấy sự chữa lành sẽ bền vững hơn, và không có cảm giác hay giai đoạn chấn động thông linh, điều có thể xảy ra nếu dùng sự kích thích đột ngột hoặc sự tống xuất mạnh bạo.

We have noted here, as you see, three modes whereby the healer employs the force focussed, by direction, in his centres:

Như các bạn thấy, ở đây chúng ta đã ghi nhận ba phương thức mà qua đó nhà chữa lành sử dụng mãnh lực được tập trung, bằng sự định hướng, trong các trung tâm của y:

1. For the expulsion of surplus energy in an overstimulated centre. [606]

1. Để tống xuất năng lượng dư thừa trong một trung tâm bị kích thích quá mức. [606]

2. For definite processes of stimulation of the patient’s centres.

2. Để thực hiện các tiến trình kích thích xác định đối với các trung tâm của bệnh nhân.

3. To preserve a state of equilibrium wherein natural healing can take place.

3. Để duy trì một trạng thái quân bình trong đó sự chữa lành tự nhiên có thể diễn ra.

In the first case, the healer deliberately increases the potency of the energy stored in his centre, so that it becomes exceedingly magnetic and abstracts the oversupply of energy in the patient’s centre; in the second case, the healer sends a powerful ray of his own energy into the corresponding centre in the patient’s body. This is an act of radiation and is very effective; in the third case, an interplay is set up which preserves balance, and furthers steady and normal activity in the centre controlling the area of trouble.

Trong trường hợp thứ nhất, nhà chữa lành cố ý gia tăng mãnh lực của năng lượng được tích trữ trong trung tâm của y, đến mức nó trở nên cực kỳ từ tính và rút đi lượng năng lượng dư thừa trong trung tâm của bệnh nhân; trong trường hợp thứ hai, nhà chữa lành gửi một tia năng lượng mạnh mẽ của chính y vào trung tâm tương ứng trong thể bệnh nhân. Đây là một hành động bức xạ và rất hiệu quả; trong trường hợp thứ ba, một sự tương tác được thiết lập để duy trì quân bình, và thúc đẩy hoạt động ổn định và bình thường trong trung tâm kiểm soát khu vực rối loạn.

You will note also how all these processes (and they are relatively simple when grasped) are dependent upon the decision of the healer. It is here that mistakes can be made, and the man who is seeking to work along the lines I indicate would be well-advised to move slowly and with due caution even at the expense of being ineffectual and unsuccessful. It is better to have no effect upon the patient and his condition than by the potency of one’s unwise decision, the power of one’s thought and the focus of one’s direction, to hasten the patient’s death by the sudden abstraction of needed energy or by the stimulation of a centre already overstimulated and overactive.

Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng mọi tiến trình này (và chúng tương đối đơn giản khi đã được nắm bắt) đều tùy thuộc vào quyết định của nhà chữa lành. Chính ở đây các sai lầm có thể xảy ra, và người đang tìm cách làm việc theo những đường lối tôi chỉ ra nên được khuyên là hãy tiến chậm và hết sức thận trọng, ngay cả với cái giá là không hiệu quả và không thành công. Tốt hơn là không gây tác động nào lên bệnh nhân và tình trạng của y còn hơn là, bằng mãnh lực của quyết định thiếu khôn ngoan của mình, quyền năng của tư tưởng mình và tiêu điểm định hướng của mình, đẩy nhanh cái chết của bệnh nhân bằng sự rút đi đột ngột năng lượng cần thiết hoặc bằng sự kích thích một trung tâm vốn đã bị kích thích quá mức và hoạt động quá mạnh.

In the last analysis the aim in the three modes of aiding the patient by direct work with the centres involved, is to bring about a balanced and wholesome activity. This is more easily achieved in the case of an advanced person than in the case of the individual in whom the centre is normally inactive and unawakened and where the difficulty is more apt to be due to the action of some of the twenty-one minor centres situated in the body than to that of the seven major [607] centres. In these cases, the patient can far more easily be helped by orthodox medicine and surgery than by any processes of spiritual healing. It is for this reason that the spiritual header is only now becoming important and his work in any way possible. This is owing to the rapid spiritual development of humanity, which enables men, for the first time and on any substantial scale, to take advantage of these laws and rules.

Xét đến cùng, mục tiêu trong ba phương thức trợ giúp bệnh nhân bằng công việc trực tiếp với các trung tâm liên quan là mang lại một hoạt động quân bình và lành mạnh. Điều này đạt được dễ hơn trong trường hợp một người tiến bộ hơn là trong trường hợp cá nhân mà trung tâm thường bất hoạt và chưa được đánh thức, và nơi khó khăn có nhiều khả năng là do tác động của một trong hai mươi mốt trung tâm phụ nằm trong thể hơn là do bảy trung tâm chính [607]. Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể được giúp dễ dàng hơn nhiều bằng y học và phẫu thuật chính thống hơn là bằng bất kỳ tiến trình chữa lành tinh thần nào. Chính vì lý do này mà nhà chữa lành tinh thần chỉ mới nay trở nên quan trọng và công việc của y mới có thể thực hiện được theo bất kỳ cách nào. Điều này là do sự phát triển tinh thần nhanh chóng của nhân loại, điều cho phép những người nam và nữ, lần đầu tiên và trên một quy mô đáng kể, tận dụng các định luật và quy luật này.

In the last sentence in Rule Three, the meaning of the two and the one is that the combined energy within the healer—soul energy focussed in the head centre and the energy of the “needed centre,” plus the energy of the centre which controls the point of friction in the patient’s body is responsible for the healing, providing it is the destiny of the patient to be healed.

Trong câu cuối của Quy luật Ba, ý nghĩa của hai và một là năng lượng kết hợp bên trong nhà chữa lành—năng lượng linh hồn được tập trung trong trung tâm đầu và năng lượng của “trung tâm cần thiết,” cộng với năng lượng của trung tâm kiểm soát điểm ma sát trong thể bệnh nhân—chịu trách nhiệm cho sự chữa lành, miễn là số mệnh của bệnh nhân là được chữa lành.

LAW VI — ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower. Personal self, then you have disease and ill health and death.

Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, khi ấy có sức khỏe, sự tương tác thanh sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những kẻ làm việc dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, khi ấy các bạn có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết.

This is a most interesting law, because it deals basically with causes, primarily with causes over which the average person has no conscious control, and because it occultly gives a picture in miniature or microcosmically of the universal or macrocosmic situation. It deals with the entire problem of evil, or pain and suffering (the great mysteries of our little planet) in a few sentences, but they are sentences conveying vast implications. The very simplicity of this great natural law veils the far-reaching significances of its normal working. It says the following things quite simply, and I enumerate them because the breaking down of a paragraph [608] into its clear and simple statements is a sound way to arrive at understanding:

Đây là một định luật rất thú vị, vì về căn bản nó bàn đến các nguyên nhân, chủ yếu là các nguyên nhân mà người trung bình không có sự kiểm soát hữu thức, và vì về mặt huyền bí học nó đưa ra một bức tranh thu nhỏ hay vi mô về tình huống phổ quát hay vĩ mô. Nó bàn đến toàn bộ vấn đề của điều ác, hay đau đớn và đau khổ (những huyền nhiệm lớn của hành tinh nhỏ bé của chúng ta) chỉ trong vài câu, nhưng đó là những câu chuyển tải những hàm ý bao la. Chính sự đơn giản của định luật tự nhiên lớn lao này che phủ những thâm nghĩa sâu rộng của sự vận hành bình thường của nó. Nó nói những điều sau đây một cách rất đơn giản, và tôi liệt kê chúng vì việc phân tách một đoạn văn [608] thành những phát biểu rõ ràng và đơn giản của nó là một cách đúng đắn để đi đến thấu hiểu:

1. When the soul controls the form involved, there is health.

1. Khi linh hồn kiểm soát hình tướng liên quan, có sức khỏe.

2. The soul is the builder of the form, the constructive force in manifestation.

2. Linh hồn là đấng kiến tạo của hình tướng, là mãnh lực kiến tạo trong biểu hiện.

3. This is true of both the microcosm and the macrocosm.

3. Điều này đúng cho cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.

4. The results are wholeness, right relation and correct activity.

4. Kết quả là sự toàn vẹn, tương quan đúng đắn và hoạt động chính xác.

5. When the soul is not in control, and the forces of the form nature are therefore the controlling factors, there will be ill health.

5. Khi linh hồn không kiểm soát, và do đó các mãnh lực của bản chất hình tướng là các yếu tố kiểm soát, sẽ có sức khỏe kém.

6. The builders of the form are the “lunar lords,” the physical, astral and mental elementals.

6. Các đấng kiến tạo của hình tướng là các “nguyệt tinh quân,” các hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ.

7. These, in their triple totality, compose the personality.

7. Ba loại này, trong tổng thể tam phân của chúng, hợp thành phàm ngã.

8. They are occultly under the direction of the moon, the symbol of form, called often the “mother of the form.”

8. Về mặt huyền bí học, chúng ở dưới sự chỉ đạo của mặt trăng, biểu tượng của hình tướng, thường được gọi là “mẹ của hình tướng.”

9. The emanation coming from the moon has in it the seeds of death and disease, because the moon is a “dead planet.”

9. Xuất lộ đến từ mặt trăng mang trong nó các hạt giống của cái chết và bệnh tật, bởi vì mặt trăng là một “hành tinh chết.”

It all comes back again, as you will note, to the source of the major energy controlling the body. Though the soul is the source of all life and consciousness, for aeons all the soul does is to preserve the form in life and in consciousness, until such time that it has reached the stage in evolution where it is a useful and suitable instrument i and will become increasingly so) for the soul to employ as a medium of expression and service. Karma determines then the quality and nature of the physical body. It can be healthy because it has not been misused in the particular life or lives conditioning a particular incarnation, or unhealthy because it is paying the price of error. Good health is not necessarily dependent upon conscious soul contact. [609] That can and does produce good health, but it is also dependent, in the majority of average cases, upon the life and intentions of the personality—in this life and in previous lives; it is not until the will of the personality is towards spiritual betterment and a cleaner, purer life that the soul can be of real assistance.

Như các bạn sẽ lưu ý, mọi điều lại quay trở về nguồn của năng lượng chính kiểm soát thể. Dù linh hồn là nguồn của mọi sự sống và tâm thức, trong nhiều đại kiếp tất cả những gì linh hồn làm chỉ là giữ cho hình tướng sống và có tâm thức, cho đến khi nó đạt đến giai đoạn trong tiến hoá mà ở đó nó là một công cụ hữu ích và thích hợp (và sẽ ngày càng trở nên như vậy) để linh hồn sử dụng như một trung gian biểu lộ và phụng sự. Khi đó nghiệp quả quyết định phẩm tính và bản chất của thể xác. Nó có thể khỏe mạnh vì đã không bị lạm dụng trong đời sống đặc thù hay các đời sống tác động lên một lần nhập thể đặc thù, hoặc không khỏe mạnh vì nó đang trả giá cho sai lầm. Sức khỏe tốt không nhất thiết tùy thuộc vào sự tiếp xúc hữu thức với linh hồn. [609] Điều đó có thể và thực sự tạo ra sức khỏe tốt, nhưng trong đa số trường hợp trung bình, nó cũng tùy thuộc vào đời sống và các ý định của phàm ngã—trong đời này và trong các đời trước; mãi cho đến khi ý chí của phàm ngã hướng về sự cải thiện tinh thần và một đời sống sạch hơn, thanh khiết hơn, linh hồn mới có thể thực sự trợ giúp.

This law carries also the implications of that basic relation which makes the threefold form of the man an integral part of the macrocosmic whole. All forms in all kingdoms are built by the lunar lords under an impulse emanating from the planetary Logos, working in cooperation with the Spirit of the Earth—the sumtotal of all the lunar lords and of the three types of energised substance which go to the creation of the physical, astral and mental bodies. The relation of the planetary Logos to this Spirit of the Earth (the relation of an evolutionary Being to an involutionary entity) is a reflection (distorted and under the influence of glamour) in the three worlds of the relation of the soul to the personality elemental. It is most useful for the healer to realise that in handling disease he is in reality handling involutionary lives and attempting to work with elementals. The natural trend of these elemental lives, all of them upon the involutionary arc, is to block and to frustrate his efforts and the efforts of the soul, and this—for them—is their way of evolution; it is that which will eventually bring them on to the evolutionary are.

Định luật này cũng mang theo những hàm ý của mối liên hệ căn bản khiến hình tướng tam phân của con người là một phần toàn vẹn của tổng thể vĩ mô. Mọi hình tướng trong mọi giới đều được các nguyệt tinh quân xây dựng dưới một xung lực phát ra từ Hành Tinh Thượng đế, hoạt động trong sự hợp tác với Tinh Linh Địa Cầu—tổng số của mọi nguyệt tinh quân và của ba loại chất liệu được tiếp sinh lực đi vào việc tạo nên các thể hồng trần, cảm dục và trí tuệ. Mối liên hệ của Hành Tinh Thượng đế với Tinh Linh Địa Cầu này (mối liên hệ của một Hữu thể thăng thượng tiến hoá với một thực thể giáng hạ tiến hoá) là một phản ánh (bị bóp méo và dưới ảnh hưởng của ảo cảm) trong ba cõi thấp của mối liên hệ giữa linh hồn và hành khí phàm ngã. Điều rất hữu ích cho nhà chữa lành là nhận ra rằng khi xử lý bệnh tật, trên thực tế y đang xử lý các sự sống giáng hạ tiến hoá và đang cố gắng làm việc với các hành khí. Khuynh hướng tự nhiên của các sự sống hành khí này, tất cả đều ở trên cung giáng hạ tiến hoá, là ngăn chặn và làm thất bại các nỗ lực của y và các nỗ lực của linh hồn, và điều này—đối với chúng—là con đường tiến hoá của chúng; chính điều đó cuối cùng sẽ đưa chúng lên cung thăng thượng tiến hoá.

When the time comes that the soul can assume conscious control within and over the form, and can eventually create a form which is adequate to its spiritual needs, it will be because the elementals which are the sumtotal of the personality elemental have reached a point in their development where they are ready to move on to the path of return. The work of the soul is never the purely selfish one of having a medium of expression in the three worlds, as might sometimes [610] appear to the casual and superficial thinker. That is entirely incidental from the angle of the soul; it is a needed activity, but it involves also the sacrificial work of salvaging substance and forwarding the evolution of matter. As the Old Commentary expresses it: “The Mother (substance-matter) is saved by the birth of her Son (the Christ within, the spiritual consciousness).” This is true of the macrocosm as well as of the microcosm.

Khi thời điểm đến mà linh hồn có thể đảm nhận sự kiểm soát hữu thức bên trong và trên hình tướng, và cuối cùng có thể tạo ra một hình tướng thích hợp với các nhu cầu tinh thần của nó, thì đó sẽ là vì các hành khí là tổng số của hành khí phàm ngã đã đạt đến một điểm trong sự phát triển của chúng mà ở đó chúng sẵn sàng tiến lên Con Đường Trở Về. Công việc của linh hồn không bao giờ chỉ là công việc ích kỷ thuần túy nhằm có một trung gian biểu lộ trong ba cõi giới, như đôi khi [610] có thể có vẻ như vậy đối với người suy nghĩ hời hợt và nông cạn. Từ góc độ của linh hồn, điều đó hoàn toàn chỉ là thứ yếu; đó là một hoạt động cần thiết, nhưng nó cũng bao hàm công việc hi sinh là cứu vớt chất liệu và thúc đẩy sự tiến hoá của vật chất. Như Cổ Luận diễn tả: “Người Mẹ (chất liệu-vật chất) được cứu bởi sự ra đời của Con của bà (Đức Christ bên trong, tâm thức tinh thần).” Điều này đúng cho đại thiên địa cũng như cho tiểu thiên địa.

Here lies the secret of planetary suffering and of death. Our planetary Logos (viewing the truth from the angle of the macrocosm) is, as you know, one of the “imperfect Gods” of The Secret Doctrine, although perfect past our human comprehension—the comprehension of a unit in one of the kingdoms which constitute His body of manifestation. There is still no true balance between spirit and matter, though the point of balance has almost been achieved; the involutionary forces are still potent and the spiritual energies are still frustrated, though far less so than earlier in human history; the next great human race, following on our present one, will see a point of balance reached which will usher in the so-called golden age. Points of friction will then be far fewer upon the planet and therefore in individual man; areas of frustration and of futile activity will die out. This can be seen working out in the body of an advanced person or an initiate to a great extent and for long periods in their incarnations; paralleling correspondences are as a general rule accurate.

Chính trong đây có bí mật của đau khổ hành tinh và của cái chết. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (xét chân lý từ góc độ đại thiên địa) như các bạn biết, là một trong những “Thượng đế bất toàn” của Giáo Lý Bí Nhiệm, dù hoàn hảo vượt quá sự hiểu biết của con người chúng ta—sự hiểu biết của một đơn vị trong một trong các giới cấu thành thể biểu hiện của Ngài. Vẫn chưa có sự quân bình đích thực giữa tinh thần và vật chất, dù điểm quân bình gần như đã đạt được; các mãnh lực giáng hạ tiến hoá vẫn còn mạnh và các năng lượng tinh thần vẫn còn bị cản trở, dù ít hơn rất nhiều so với trước đây trong lịch sử nhân loại; nhân loại lớn tiếp theo sau nhân loại hiện nay của chúng ta sẽ chứng kiến một điểm quân bình đạt được, điểm này sẽ mở ra cái gọi là thời đại hoàng kim. Khi đó các điểm ma sát sẽ ít hơn rất nhiều trên hành tinh và do đó trong từng con người; các khu vực bị cản trở và hoạt động vô ích sẽ biến mất. Điều này có thể được thấy đang diễn ra trong thể của một người tiến bộ hay một điểm đạo đồ ở mức độ lớn và trong những thời kỳ dài trong các lần lâm phàm của họ; các tương ứng song hành, như một quy luật chung, là chính xác.

This law gives an amazing picture, and one too which is full of hope, particularly if one considers certain facts which are present in the world today and compares them with conditions hundreds of years ago. The consciousness of humanity is awakened everywhere; the most undeveloped races are in process of achieving education, involving necessarily the discovery of the mind; goodwill is being recognised [611] as necessary to world unfoldment, and men are finding that “no man liveth unto himself”—or any nation either; they are registering the fact that it is simply commonsense and the part of wisdom to better conditions for all men everywhere. This is a new attitude and a fresh and most hopeful approach. Men are learning to know and understand each other; nations are arriving at a closer contact with one another; statesmen of all nations are wrestling together and in joint conclave with the problem of bettering human living conditions; everywhere there is thought, there is appraisal, and there is the struggle for freedom and for the truer values. What is all this but the effort of the soul of humanity to kill out disease, restore unhealthy areas to health and eliminate points of friction? Is not this what the spiritual man who is ill is seeking to bring about in his own body, and what the healer is attempting to aid him to do?

Định luật này đưa ra một bức tranh đáng kinh ngạc, và cũng là một bức tranh đầy hy vọng, đặc biệt nếu người ta xét đến một số sự kiện hiện diện trong thế giới ngày nay và so sánh chúng với các điều kiện của hàng trăm năm trước. Tâm thức của nhân loại đang được đánh thức ở khắp nơi; các nhân loại kém phát triển nhất đang trong tiến trình đạt được giáo dục, điều tất yếu bao hàm sự khám phá trí tuệ; thiện chí đang được nhìn nhận [611] là cần thiết cho sự khai mở của thế giới, và những người nam và nữ đang nhận ra rằng “không ai sống cho riêng mình”—và không quốc gia nào cũng vậy; họ đang ghi nhận sự kiện rằng cải thiện điều kiện cho mọi người ở khắp nơi đơn giản là lẽ thường và là phần việc của minh triết. Đây là một thái độ mới và một cách tiếp cận mới mẻ, đầy hy vọng. Những người nam và nữ đang học cách biết và thấu hiểu nhau; các quốc gia đang đi đến một sự tiếp xúc gần gũi hơn với nhau; các chính khách của mọi quốc gia đang cùng nhau vật lộn và trong đại mật nghị chung với vấn đề cải thiện điều kiện sống của con người; ở khắp nơi đều có tư tưởng, có sự lượng định, và có cuộc đấu tranh cho tự do và cho các giá trị chân thực hơn. Tất cả điều này là gì nếu không phải là nỗ lực của linh hồn nhân loại nhằm tiêu diệt bệnh tật, phục hồi các khu vực không lành mạnh về trạng thái khỏe mạnh và loại bỏ các điểm ma sát? Chẳng phải đây là điều mà con người tinh thần đang đau yếu tìm cách mang lại trong chính thể của mình, và là điều mà nhà chữa lành đang cố gắng trợ giúp y thực hiện sao?

In so doing, the “lunar lords” and the forces of substance must eventually yield to the energy of the soul, and are benefited, whether they are microcosmic forces or macrocosmic.

Khi làm như vậy, các “nguyệt tinh quân” và các mãnh lực của chất liệu cuối cùng phải nhường bước trước năng lượng của linh hồn, và được lợi ích, dù chúng là các mãnh lực vi mô hay vĩ mô.

One of the things which frequently puzzle students is the statement that the dense physical body is not a principle. H.P.B. states this fact with emphasis; people are apt to think (unless they are theosophical fanatics) that he was incorrect or was intentionally misleading students. One of the points, little understood, is the nature of a principle. Yet only by understanding what a principle is can the beauty and accuracy of his statement be grasped. What, in the last analysis, is a principle? A principle is that which, macrocosmically speaking, is being developed upon each plane of our seven planes—the seven subplanes of the cosmic physical plane. It is the germ or the seed on each subplane which embodies some aspect of the divine unfolding consciousness; [612] it is that which is fundamentally related to some form of sensitivity; it is that to which the bodies, as they evolve, find that they can respond. A principle is a germ of awareness, carrying all the potentiality of full consciousness on some particular level of divine activity. It is that which makes knowledge and conscious response to environment possible; it is that which connotes a sequential and “unrolling” sensitive activity, resulting in divine understanding, possible and inevitable.

Một trong những điều thường làm các đạo sinh bối rối là phát biểu cho rằng thể xác đậm đặc không phải là một nguyên khí. H.P.B. đã nhấn mạnh sự kiện này; người ta có khuynh hướng nghĩ (trừ khi họ là những người cuồng tín Thông Thiên Học) rằng bà đã sai hoặc cố ý đánh lạc hướng các đạo sinh. Một trong những điểm ít được hiểu là bản chất của một nguyên khí. Tuy nhiên, chỉ bằng cách hiểu nguyên khí là gì thì vẻ đẹp và tính chính xác trong phát biểu của bà mới có thể được nắm bắt. Xét đến cùng, nguyên khí là gì? Một nguyên khí là cái mà, nói theo nghĩa đại thiên địa, đang được phát triển trên mỗi cõi của bảy cõi của chúng ta—bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Nó là mầm hay hạt giống trên mỗi cõi phụ, hiện thân cho một phương diện nào đó của tâm thức thiêng liêng đang khai mở; [612] nó là cái có liên hệ căn bản với một hình thức nhạy cảm nào đó; nó là cái mà các thể, khi tiến hoá, nhận ra rằng chúng có thể đáp ứng. Một nguyên khí là một mầm của sự nhận biết, mang trong nó toàn bộ tiềm năng của tâm thức trọn vẹn trên một cấp độ đặc thù nào đó của hoạt động thiêng liêng. Nó là cái làm cho tri thức và sự đáp ứng hữu thức với môi trường trở nên khả hữu; nó là cái hàm ý một hoạt động nhạy cảm tuần tự và “mở cuộn,” dẫn đến sự thấu hiểu thiêng liêng, vừa khả hữu vừa tất yếu.

The physical body, and to a far less extent the astral and mental bodies, are automatic in their activity as aspects of a divine response apparatus, of a mechanism which enables the Heavenly Man, the planetary Logos and the spiritual man to register conscious response to that which is to be contacted under the divine plan and through the medium of a mechanism. At present, the physical body is the only one which is as yet so fully developed that it has in this planetary scheme of ours no further evolutionary development, except in so far as the spiritual man can affect stand most of the effect is produced in the etheric body and not in the dense physical. This is a point little grasped but of major importance.

Thể xác, và ở mức độ thấp hơn rất nhiều là thể cảm dục và thể trí, hoạt động một cách tự động như các phương diện của một bộ máy đáp ứng thiêng liêng, của một cơ chế cho phép Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế và con người tinh thần ghi nhận sự đáp ứng hữu thức đối với điều phải được tiếp xúc theo Thiên Cơ và qua trung gian của một cơ chế. Hiện nay, thể xác là thể duy nhất đã phát triển đầy đủ đến mức trong hệ hành tinh này của chúng ta nó không còn sự phát triển tiến hoá nào nữa, ngoại trừ trong chừng mực con người tinh thần có thể tác động đến nó—và phần lớn tác động được tạo ra trong thể dĩ thái chứ không phải trong thể xác đậm đặc. Đây là một điểm ít được nắm bắt nhưng có tầm quan trọng lớn lao.

The dense physical body reached its high point of development and of interest (from the angle of mental attention and of hierarchical action) in the previous solar system. It was then the divine goal of the entire evolutionary process. This is not an easy point for humanity today to grasp. It is not possible or advisable for me to indicate the evolutionary stages through which this divine mechanism passed in preparation for the task to be undertaken in the present solar system. In this divine incarnation of our planetary Logos through the medium of this little planet, the Earth, the physical body is not a goal, but simply something which exists and must be accepted, and which must be adapted and [613] incorporated into the general evolutionary plan. That plan has to do entirely with consciousness. The physical body is simply (no more and no less) the vehicle of consciousness upon the physical plane, but the emphasis of attention is the etheric body as an expression of the subtler vehicles and their state of embodied consciousness. The physical body is important because it has to house and respond to every type of conscious response, from that of the lowest type of human being up to and inclusive of the consciousness of an initiate of the third degree. The bodies and forms of the indwelling conscious life in the three subhuman kingdoms have an analogous but less difficult problem; I am here, however, considering only the physical body of a human being, which is not a principle because it is not in any way a goal; it is not the seed or germ of anything. Any changes wrought in the physical body are secondary to the goal of conscious response to the revelation of an emerging divinity. I have felt it necessary to emphasise this because of the confusion in men’s minds anent the subject. To sum up: the physical body is not a principle; it is not a main object of attention of the aspirant; it automatically responds to the slowly unfolding consciousness in all the kingdoms of nature: it constantly remains that which is worked upon and not that which has an innate influence of its own; it is not important in the active process, for it is a recipient and not that which initiates activity. That which is important is the unfolding consciousness, the response of the indwelling spiritual man to life, circumstances, events and environment. The physical body responds. When the physical body becomes, in error, the object of attention, retrogression is indicated; and this is why all profound attention to the physical disciplines, to vegetarianism, to diet and to fasting, and to the present modes of (so-called) mental and divine healing, are undesirable [614] and not in line with the projected plan. Therefore undue consideration and excessive emphasis upon the physical body is reactionary and is like the worship of the golden calf by the children of Israel; it is reversion to that which at one time was of importance but today should be relegated to a minor position and below the threshold of consciousness.

Thể xác đậm đặc đã đạt đến đỉnh cao phát triển và tầm quan trọng của nó (xét từ góc độ chú ý trí tuệ và hoạt động của Thánh đoàn) trong hệ mặt trời trước. Khi ấy nó là mục tiêu thiêng liêng của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Đây không phải là một điểm dễ để nhân loại ngày nay nắm bắt. Tôi không thể và cũng không nên chỉ ra các giai đoạn tiến hoá mà qua đó cơ chế thiêng liêng này đã đi qua để chuẩn bị cho nhiệm vụ sẽ được đảm nhận trong hệ mặt trời hiện nay. Trong lần lâm phàm thiêng liêng này của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta qua trung gian của hành tinh nhỏ bé này, Trái Đất, thể xác không phải là một mục tiêu, mà chỉ đơn giản là một cái gì đó hiện hữu và phải được chấp nhận, và phải được thích nghi và [613] kết hợp vào kế hoạch tiến hoá chung. Kế hoạch đó hoàn toàn liên quan đến tâm thức. Thể xác chỉ đơn giản (không hơn không kém) là vận cụ của tâm thức trên cõi hồng trần, nhưng trọng tâm của sự chú ý là thể dĩ thái như một biểu hiện của các vận cụ vi tế hơn và trạng thái tâm thức nhập thể của chúng. Thể xác quan trọng vì nó phải chứa đựng và đáp ứng với mọi loại đáp ứng hữu thức, từ loại thấp nhất của con người cho đến và bao gồm cả tâm thức của một điểm đạo đồ cấp ba. Các thể và hình tướng của sự sống hữu thức nội tại trong ba giới dưới nhân loại có một vấn đề tương tự nhưng ít khó khăn hơn; tuy nhiên ở đây tôi chỉ xét đến thể xác của một con người, thể này không phải là một nguyên khí vì nó không phải là một mục tiêu theo bất kỳ cách nào; nó không phải là hạt giống hay mầm mống của bất cứ điều gì. Mọi thay đổi được tạo ra trong thể xác đều là thứ yếu so với mục tiêu là sự đáp ứng hữu thức đối với sự mặc khải của một thiên tính đang xuất hiện. Tôi thấy cần phải nhấn mạnh điều này vì sự lẫn lộn trong tâm trí con người về chủ đề này. Tóm lại: thể xác không phải là một nguyên khí; nó không phải là đối tượng chú ý chính của người chí nguyện; nó tự động đáp ứng với tâm thức đang từ từ khai mở trong mọi giới của bản chất: nó luôn luôn vẫn là cái bị tác động lên chứ không phải cái có ảnh hưởng nội tại của riêng nó; nó không quan trọng trong tiến trình hoạt động, vì nó là kẻ tiếp nhận chứ không phải cái khởi xướng hoạt động. Điều quan trọng là tâm thức đang khai mở, là sự đáp ứng của con người tinh thần nội tại đối với sự sống, hoàn cảnh, biến cố và môi trường. Thể xác đáp ứng. Khi thể xác, do sai lầm, trở thành đối tượng của sự chú ý, thì sự thoái bộ được chỉ ra; và đây là lý do vì sao mọi sự chú ý sâu xa đến các kỷ luật hồng trần, đến việc ăn chay, chế độ ăn uống và nhịn ăn, và đến các phương thức hiện nay của sự chữa lành (được gọi là) trí tuệ và thiêng liêng, đều là không đáng mong muốn [614] và không phù hợp với kế hoạch được phóng chiếu. Vì vậy, sự quan tâm quá mức và nhấn mạnh thái quá vào thể xác là phản động và giống như sự thờ phụng con bê vàng của con cái Israel; đó là sự quay trở lại với cái đã từng quan trọng vào một thời điểm nào đó nhưng ngày nay nên được đẩy xuống một vị trí thứ yếu và dưới ngưỡng của tâm thức.

I have dealt with this here because in Law VII the fact of the endocrine glands is brought to our attention, and it is necessary that we approach this subject from the right point of view. The endocrine glands are a tangible part of the physical body; they are therefore a part of that created manifestation which is not regarded as a principle. They are, however, effective and potent and may not be ignored. It is essential that students regard these glands as effects and not causes of events and happenings and conditions in the body. The physical body—no matter what its victims may believe and declare—is always conditioned by inner causes; it is never, intrinsically, itself a cause. It is, in this solar system and on our planet, automatic and affected by causes generated on the inner planes or by the action of the soul. Please note the importance of this statement. The physical body has no true life of its own, but is simply—in this cycle—responsive to impulses emanating from elsewhere. Its achievement and its triumph is that it is an automaton. If you can grasp this adequately, we can safely proceed to the consideration of Law VII and Rule Four.

Tôi đã bàn đến điều này ở đây vì trong Định luật VII, sự kiện về các tuyến nội tiết được đưa ra trước sự chú ý của chúng ta, và cần thiết là chúng ta phải tiếp cận chủ đề này từ quan điểm đúng đắn. Các tuyến nội tiết là một phần hữu hình của thể xác; vì vậy chúng là một phần của biểu hiện được tạo ra mà không được xem là một nguyên khí. Tuy nhiên, chúng hữu hiệu và mạnh mẽ và không thể bị bỏ qua. Điều cốt yếu là các đạo sinh phải xem các tuyến này như các kết quả chứ không phải nguyên nhân của các biến cố, diễn tiến và tình trạng trong thể. Thể xác—bất kể các nạn nhân của nó có thể tin và tuyên bố điều gì—luôn luôn bị tác động bởi các nguyên nhân bên trong; tự bản chất, nó không bao giờ là một nguyên nhân. Trong hệ mặt trời này và trên hành tinh của chúng ta, nó là tự động và bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân được tạo ra trên các cõi bên trong hoặc bởi hoạt động của linh hồn. Xin lưu ý tầm quan trọng của phát biểu này. Thể xác không có sự sống đích thực của riêng nó, mà chỉ đơn giản—trong chu kỳ này—đáp ứng với các xung lực phát ra từ nơi khác. Thành tựu và chiến thắng của nó là ở chỗ nó là một cỗ máy tự động. Nếu các bạn có thể nắm được điều này một cách đầy đủ, chúng ta có thể an toàn tiến tới việc xem xét Định luật VII và Quy luật Bốn.

LAW VII — ĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị cản trở và dưới sự định hướng đúng đắn đến sự ngưng tụ của nó (tuyến liên hệ), khi ấy hình tướng đáp ứng và sức khỏe kém biến mất.

One of the interesting factors which students should note is the doctrine of intermediaries which is to be found [615] in such rich abundance and is regarded as of such vital importance in all occult teaching. It has been emphasised (though erroneously interpreted) in the Christian teaching anent the Christ; Christianity has presented Him as acting as the intermediary between an angry God and a pitiful and ignorant humanity. Such was by no means the intent of His coming or of His work, but into the real meaning I need not enter here. I have dealt with this theme elsewhere in connection with the New world Religion. (The Problems of Humanity, Chapter VI. & The Reappearance of the Christ, Chapter V.)

Một trong những yếu tố thú vị mà các đạo sinh nên lưu ý là giáo lý về các trung gian, được tìm thấy [615] phong phú đến như vậy và được xem là có tầm quan trọng sống còn trong mọi giáo huấn huyền bí học. Nó cũng đã được nhấn mạnh (dù bị diễn giải sai) trong giáo huấn Cơ Đốc giáo liên quan đến Đức Christ; Cơ Đốc giáo đã trình bày Ngài như hành động như một trung gian giữa một Thượng đế giận dữ và một nhân loại đáng thương, vô minh. Tuyệt nhiên đó không phải là mục đích của sự giáng lâm của Ngài hay của công việc của Ngài, nhưng tôi không cần đi vào ý nghĩa thực sự ở đây. Tôi đã bàn đến chủ đề này ở nơi khác liên quan đến Tôn giáo Thế giới Mới. (The Problems of Humanity, Chapter VI. & The Reappearance of the Christ, Chapter V.)

It has been taught also in the esoteric presentation (and this is closely allied with the Christian doctrines) that the soul is the intermediary between the monad and the personality; the same idea is also found in many other religious presentations, i.e., the Buddha is shown as the intermediary between Shamballa and the Hierarchy, acting in this capacity once a year; the Hierarchy itself is the intermediary between Shamballa and Humanity; the etheric plane (and by this I mean the cosmic, planetary and individual etheric vehicles) is the intermediary between the higher planes and the dense physical body. The whole system of occult or esoteric revelation is based on this wonderful doctrine of interdependence, of a planned and arranged conscious linking, and of the transmission of energy from one aspect of divine manifestation to another; everywhere and through everything is circulation, transmission, and modes of passing energy from one form to another form, and always through an appropriate mechanism. This is true in the involutionary sense, in the evolutionary sense, and in a spiritual sense also; this latter is slightly different to the other two, as all initiates of the higher degrees know well. An entire thesis upon transmitting agencies could be written, and it would include, finally, the doctrine of Avatars. An Avatar is one [616] who has a peculiar facility or capacity (besides a self -initiated task and a preordained destiny) to work with energies, transmitted via the etheric body of a planet or of the solar system; this, however, is a deep mystery. It was demonstrated in a peculiar manner, and in relation to cosmic energy, by the Christ Who, for the first time in planetary history, transmitted the cosmic energy of love directly to the physical plane of our planet, and also in a peculiar manner to the fourth kingdom in nature, the human. This should indicate to you that though the love energy is the second aspect of divinity, the Christ embodied and transmitted four qualities of this aspect to humanity, and consequently to the other kingdoms in nature—the only four which humanity could absorb. Only one of these four is as yet beginning to express itself —the quality of goodwill. The other three will later be revealed, and one is related in a peculiar sense to the healing quality of love. According to The New Testament, this quality was called by the Christ “virtue” (a somewhat inaccurate translation of the word originally used); Christ employed it when healing force had been taken from Him and He said “virtue has gone out of me.”

Nó cũng đã được dạy trong cách trình bày bí truyền (và điều này liên hệ chặt chẽ với các giáo lý Cơ Đốc giáo) rằng linh hồn là trung gian giữa chân thần và phàm ngã; cùng một ý tưởng cũng được tìm thấy trong nhiều cách trình bày tôn giáo khác, tức là Đức Phật được cho thấy như trung gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn, hành động trong tư cách này mỗi năm một lần; chính Thánh Đoàn là trung gian giữa Shamballa và Nhân loại; cõi dĩ thái (và bởi điều này tôi muốn nói đến các vận cụ dĩ thái vũ trụ, hành tinh và cá nhân) là trung gian giữa các cõi cao hơn và thể xác đậm đặc. Toàn bộ hệ thống mặc khải huyền bí học hay bí truyền học được đặt nền trên giáo lý kỳ diệu này về sự phụ thuộc lẫn nhau, về một sự liên kết hữu thức được hoạch định và sắp xếp, và về sự truyền dẫn năng lượng từ một phương diện của biểu hiện thiêng liêng sang một phương diện khác; ở khắp nơi và xuyên qua mọi sự đều có sự tuần hoàn, sự truyền dẫn, và các phương thức chuyển năng lượng từ hình tướng này sang hình tướng khác, và luôn luôn qua một cơ chế thích hợp. Điều này đúng theo nghĩa giáng hạ tiến hoá, theo nghĩa thăng thượng tiến hoá, và cả theo nghĩa tinh thần nữa; nghĩa sau này hơi khác với hai nghĩa kia, như mọi điểm đạo đồ ở các cấp cao đều biết rõ. Có thể viết cả một luận văn về các tác nhân truyền dẫn, và cuối cùng nó sẽ bao gồm giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Một Đấng Hoá Thân là Đấng [616] có một khả năng hay năng lực đặc biệt (ngoài một nhiệm vụ do chính mình khởi xướng và một số mệnh đã được tiền định) để làm việc với các năng lượng, được truyền qua thể dĩ thái của một hành tinh hay của hệ mặt trời; tuy nhiên, đây là một huyền nhiệm sâu xa. Điều này đã được biểu lộ theo một cách đặc biệt, và liên quan đến năng lượng vũ trụ, bởi Đức Christ, Đấng lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh đã truyền năng lượng vũ trụ của tình thương trực tiếp đến cõi hồng trần của hành tinh chúng ta, và cũng theo một cách đặc biệt đến giới thứ tư trong bản chất, giới nhân loại. Điều này nên chỉ cho các bạn thấy rằng dù năng lượng tình thương là phương diện thứ hai của thiên tính, Đức Christ đã hiện thân và truyền bốn phẩm tính của phương diện này đến nhân loại, và do đó đến các giới khác trong bản chất—chỉ bốn phẩm tính mà nhân loại có thể hấp thụ. Chỉ một trong bốn phẩm tính này hiện mới bắt đầu biểu lộ—phẩm tính thiện chí. Ba phẩm tính kia sẽ được mặc khải về sau, và một trong số đó liên hệ theo một ý nghĩa đặc biệt với phẩm tính chữa lành của tình thương. Theo Tân Ước, phẩm tính này đã được Đức Christ gọi là “đức hạnh” (một bản dịch hơi không chính xác của từ được dùng nguyên thủy); Đức Christ đã dùng nó khi mãnh lực chữa lành đã được rút ra khỏi Ngài và Ngài nói “đức hạnh đã ra khỏi ta.”

I have called this to your attention because this truth is directly related to this seventh law. We have seen, in connection with all the healing processes, that the dense physical body is regarded esoterically as simply an automaton; it is only a recipient of transmitted energies. We have seen that the etheric body in or “substanding” every form is itself a structure for the transmission of energies coming from some source or another—the source being primarily the point where the life within the form lays its basic emphasis. For the average human being, this is usually the astral body, from which astral or emotional energy emanates and finds anchorage, prior to transmission into the [617] etheric body. There will be, however, in the majority of cases, a greater or less admixture of mental energy. Later, soul energy, reinforced (if I may use such a word) by the purified mind and transmitted through the personality, will condition the etheric body and control, consequently, the activities of the physical vehicle.

Tôi đã lưu ý các bạn đến điều này vì chân lý này liên hệ trực tiếp với định luật thứ bảy này. Chúng ta đã thấy, liên quan đến mọi tiến trình chữa lành, rằng thể xác đậm đặc được xem về mặt huyền bí học chỉ như một cỗ máy tự động; nó chỉ là kẻ tiếp nhận các năng lượng được truyền dẫn. Chúng ta đã thấy rằng thể dĩ thái ở trong hay “nâng đỡ” mọi hình tướng tự nó là một cấu trúc để truyền dẫn các năng lượng đến từ một nguồn này hay nguồn khác—nguồn ấy chủ yếu là điểm mà sự sống bên trong hình tướng đặt trọng tâm căn bản của nó. Đối với con người trung bình, điều này thường là thể cảm dục, từ đó năng lượng cảm dục hay cảm xúc phát ra và tìm được điểm neo giữ, trước khi truyền vào [617] thể dĩ thái. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp sẽ có một sự pha trộn nhiều hay ít của năng lượng trí tuệ. Về sau, năng lượng linh hồn, được tăng cường (nếu tôi có thể dùng một từ như vậy) bởi trí tuệ đã được thanh lọc và được truyền qua phàm ngã, sẽ tác động lên thể dĩ thái và do đó kiểm soát các hoạt động của vận cụ hồng trần.

This law brings to our attention the fact that the dense physical body, under the impact of subjective energies, in its turn produces a “structure for transmission” and automatically repeats the activity of the etheric body. It creates (in response to the inflow of energies from the etheric body, via the seven major centres) a dense physical interlocking structure, to which we have given the name “the endocrine glandular system.” These glands—in their turn and in response to the inflaming energy from the etheric body—produce a secretion which is called a secretion of hormones, and this the glands transmit directly into the blood stream.

Định luật này đưa ra trước sự chú ý của chúng ta sự kiện rằng thể xác đậm đặc, dưới tác động của các năng lượng chủ quan, đến lượt nó tạo ra một “cấu trúc để truyền dẫn” và tự động lặp lại hoạt động của thể dĩ thái. Nó tạo ra (để đáp ứng với dòng năng lượng chảy vào từ thể dĩ thái, qua bảy trung tâm chính) một cấu trúc đậm đặc hồng trần đan kết với nhau, mà chúng ta đã đặt tên là “hệ thống tuyến nội tiết.” Đến lượt mình, các tuyến này, để đáp ứng với năng lượng bốc cháy từ thể dĩ thái, tạo ra một sự tiết ra được gọi là sự tiết hormone, và các tuyến truyền trực tiếp chất tiết này vào dòng máu.

It is not my intention to be overtechnical in my consideration of this subject; I write for the lay reader, and not for the medical profession, who are frank to admit how little they know, as yet, anent this subject. The medical research worker knows little anent the relation of the endocrine glands to the blood and to the total physiology of the human being; he knows little anent the relation of the various glands to each other; these constitute an interlocking directorate of vital importance, linked and united, animated and directed by the seven etheric centres. This is a factor naturally overlooked by the orthodox scientist in this field, and until he recognises that which produces the endocrine glands he will remain totally at sea as to cause and true results. The glands are direct precipitations of the seven types of energy flowing through the seven etheric centres. They control all the areas of the body. In their creation [618] you have a definite expression of the radiatory and the magnetic activity of all energies, for they are produced by radiation from the seven centres, but their effect—individual and combined—is magnetic. The radiation abstracts dense physical atoms and focusses them in the correct area in the physical body, so that they can act as distributors into the blood stream, and therefore into the dense physical body, of one aspect of the inflaming energy. I would have you note that only one aspect of the energy is thus distributed—that which corresponds to the third aspect of active intelligent substance; the other two latent aspects are distributed as pure energy, affecting areas but not affecting any localised focal point. A gland is such a localised focal point. I am anxious for this subject of the glands and their relation to the centres to be correctly understood. The entire subject is closely related to the art of healing; one of the effects of the application of the healing energy (through the medium of any centre conditioning the area wherein the point of friction is located) is the stimulation of the related gland and its increased activity. The glands are intermediaries, in the last analysis, between the healer and the patient, between the centre and the dense physical body, and between the etheric body and its automaton, the receiving dense physical vehicle.

Tôi không có ý định trở nên quá kỹ thuật trong việc xem xét chủ đề này; tôi viết cho độc giả phổ thông, chứ không phải cho giới y khoa, những người thành thật thừa nhận rằng cho đến nay họ biết rất ít về chủ đề này. Nhà nghiên cứu y học biết rất ít về mối liên hệ của các tuyến nội tiết với máu và với toàn bộ sinh lý học của con người; ông biết rất ít về mối liên hệ của các tuyến khác nhau với nhau; các tuyến này tạo thành một ban điều hành đan kết có tầm quan trọng sống còn, được liên kết và hợp nhất, được tiếp sinh lực và được định hướng bởi bảy trung tâm dĩ thái. Đây dĩ nhiên là một yếu tố bị nhà khoa học chính thống trong lĩnh vực này bỏ qua, và cho đến khi ông nhận ra cái tạo ra các tuyến nội tiết, ông sẽ vẫn hoàn toàn lạc lối về nguyên nhân và các kết quả chân thực. Các tuyến là những sự ngưng tụ trực tiếp của bảy loại năng lượng tuôn qua bảy trung tâm dĩ thái. Chúng kiểm soát mọi khu vực của thể. Trong sự tạo thành của chúng [618] các bạn có một biểu hiện xác định của hoạt động bức xạ và từ tính của mọi năng lượng, vì chúng được tạo ra bởi bức xạ từ bảy trung tâm, nhưng tác động của chúng—cá biệt và kết hợp—là từ tính. Bức xạ rút các nguyên tử hồng trần đậm đặc ra và tập trung chúng vào đúng khu vực trong thể hồng trần, để chúng có thể hoạt động như những bộ phân phối vào dòng máu, và do đó vào thể xác đậm đặc, của một phương diện của năng lượng bốc cháy. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng chỉ một phương diện của năng lượng được phân phối theo cách này—phương diện tương ứng với phương diện thứ ba của chất liệu thông tuệ hoạt động; hai phương diện tiềm ẩn kia được phân phối như năng lượng thuần túy, tác động lên các khu vực nhưng không tác động lên bất kỳ tiêu điểm khu trú nào. Một tuyến là một tiêu điểm khu trú như vậy. Tôi tha thiết mong chủ đề về các tuyến và mối liên hệ của chúng với các trung tâm được hiểu một cách đúng đắn. Toàn bộ chủ đề này liên hệ chặt chẽ với nghệ thuật chữa lành; một trong những tác động của việc áp dụng năng lượng chữa lành (qua trung gian của bất kỳ trung tâm nào tác động lên khu vực nơi điểm ma sát tọa lạc) là sự kích thích tuyến liên hệ và sự gia tăng hoạt động của nó. Xét đến cùng, các tuyến là những trung gian giữa nhà chữa lành và bệnh nhân, giữa trung tâm và thể xác đậm đặc, và giữa thể dĩ thái với cỗ máy tự động của nó, vận cụ hồng trần đậm đặc tiếp nhận.

In continuing our consideration of the immediate transmitting agency of the centres into the blood stream (the endocrine glands) I would like to point out that the centres work through this endocrine system through direct impact, through a ray or stream of energy, emanating from the central point within the centre. Through this medium they condition and control entire areas of the body and they do this through those aspects of the centres which we symbolically call the “petals of the lotus.” In a point at the very centre of the lotus the life force is focussed, and as [619] it passes outward into the related gland, it takes on the quality of the energy for which the centre is responsible, because life force is essentially unqualified. The ray of life, if one may call it so, which is found at the heart of each centre, is identified monadically with its source, and possesses (when brought in contact with its petals) one major innate quality of attractive energy; all energy emanating from the one source in this solar system, is related to the energy which we call Love, and this energy is magnetic attraction. The petals of the lotus, and the area of surrounding energy which constitutes the form of the lotus, are qualified by one of the seven subsidiary types of energy; these emanate from the seven Rays which emerge out of the one Source, as Representatives of the manifold Creator.

Khi tiếp tục xem xét tác nhân truyền dẫn trực tiếp tức thời của các trung tâm vào dòng máu (các tuyến nội tiết), tôi muốn chỉ ra rằng các trung tâm hoạt động qua hệ nội tiết này bằng tác động trực tiếp, qua một tia hay dòng năng lượng, phát ra từ điểm trung tâm bên trong trung tâm. Qua trung gian này, chúng tác động và kiểm soát toàn bộ các vùng của thể xác, và chúng làm điều đó qua những phương diện của các trung tâm mà chúng ta gọi một cách biểu tượng là “các cánh hoa sen.” Tại một điểm ở chính trung tâm của hoa sen, lực sự sống được tập trung, và khi [619] nó đi ra ngoài vào tuyến liên hệ, nó mang lấy phẩm tính của năng lượng mà trung tâm chịu trách nhiệm, bởi vì lực sự sống về bản chất là không có phẩm tính. Tia sự sống, nếu có thể gọi như vậy, được tìm thấy nơi tim của mỗi trung tâm, được đồng hoá về mặt chân thần với cội nguồn của nó, và sở hữu (khi được đưa vào tiếp xúc với các cánh hoa của nó) một phẩm tính bẩm sinh chủ yếu của năng lượng hấp dẫn; mọi năng lượng phát ra từ nguồn duy nhất trong hệ mặt trời này đều liên hệ với năng lượng mà chúng ta gọi là Tình thương/Bác ái, và năng lượng này là sự hấp dẫn từ tính. Các cánh hoa sen, và vùng năng lượng bao quanh cấu thành hình tướng của hoa sen, được quy định bởi một trong bảy loại năng lượng phụ; các loại này phát ra từ bảy cung xuất hiện từ Nguồn duy nhất, như những Đấng Đại Diện của Đấng Sáng Tạo đa diện.

Within the solar system, as you know, are to be found the seven sacred planets, which are the custodians or the expression of these seven rays, of these seven qualities of divinity. within our planet, the Earth (which is not a sacred planet), there are likewise seven centres which become, as evolution proceeds, the recipients of the seven ray qualities from the seven sacred planets, thus providing

Trong hệ mặt trời, như bạn biết, có bảy hành tinh thiêng liêng, là những vị gìn giữ hay biểu hiện của bảy cung này, của bảy phẩm tính thiên tính này. Trong hành tinh của chúng ta, Trái Đất (vốn không phải là một hành tinh thiêng liêng), cũng có bảy trung tâm, và khi tiến hoá diễn ra, chúng trở thành những nơi tiếp nhận bảy phẩm tính cung từ bảy hành tinh thiêng liêng, nhờ đó cung cấp

(within the solar ring-pass-not) a vast interlocking system of energies. Three of these centres, representing the three major rays, are well known to you:

(trong vòng-giới-hạn mặt trời) một hệ thống năng lượng khổng lồ đan xen nhau. Ba trong số các trung tâm này, tượng trưng cho ba cung chính, các bạn đã biết rõ:

1.

Shamballa

The ray of power or purpose. The first aspect. The energy of will.

2.

The Hierarchy

The ray of love-wisdom. The second aspect. The energy of love.

3.

Humanity

The ray of active intelligence. The third aspect. The energy of mind or thought.

[620] There are four other centres, and these, with the above three, constitute the seven centres, or the seven planetary focal points of energy, which condition the bodily manifestation of our planetary Logos. Through them the Lord of the World, working from His Own level on a cosmic plane and through His divine Personality, Sanat Kumara, carries out His purposes upon our planet.

[620] Có bốn trung tâm khác, và chúng, cùng với ba trung tâm trên, cấu thành bảy trung tâm, hay bảy tiêu điểm năng lượng hành tinh, vốn tác động lên biểu hiện thể xác của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Qua chúng, Đức Chúa Tể Thế Giới, hoạt động từ cấp độ riêng của Ngài trên một cõi vũ trụ và qua phàm ngã thiêng liêng của Ngài, Đức Sanat Kumara, thực hiện các mục đích của Ngài trên hành tinh chúng ta.

Similarly, within the microcosm, man, the correspondences to these seven centres are to be found. Therein likewise are seven major centres, and they are the recipients of the energy emanating from the seven planetary centres, the custodians of the seven aspects of ray force; these seven energies—at various stages of potency—condition the man’s expression in the three worlds, make him what he is at any given moment whilst in incarnation, and indicate (by their effect or lack of effect upon the centres) his point in evolution.

Tương tự như vậy, trong tiểu thiên địa, con người, cũng có thể tìm thấy các đối ứng với bảy trung tâm này. Ở đó cũng có bảy trung tâm chính, và chúng là những nơi tiếp nhận năng lượng phát ra từ bảy trung tâm hành tinh, những vị gìn giữ bảy phương diện của lực cung; bảy năng lượng này—ở những giai đoạn mãnh lực khác nhau—tác động lên sự biểu lộ của con người trong ba cõi giới, làm cho y là chính y ở bất kỳ thời điểm nào khi đang lâm phàm, và cho biết (qua tác động hay sự thiếu tác động của chúng lên các trung tâm) điểm tiến hoá của y.

Two of these centres in the human being are to be found in the head, and the other five are to be found up the spinal column. This spinal column is the physical symbol of that essential alignment which is the immediate goal of directed relationships, carried forward in consciousness by the spiritual man and brought about as a result of right meditation.

Hai trong số các trung tâm này nơi con người nằm trong đầu, và năm trung tâm kia nằm dọc theo cột sống. Cột sống này là biểu tượng hồng trần của sự chỉnh hợp thiết yếu mà đó là mục tiêu tức thời của các mối liên hệ có định hướng, được con người tinh thần thực hiện trong tâm thức và được mang lại như kết quả của sự tham thiền đúng đắn.

Meditation is a technique of the mind which eventually produces correct, unimpeded relationship; this is another name for alignment. It is therefore the establishment of a direct channel, not only between the one source, the monad, and its expression, the purified and controlled personality, but also between the seven centres in the human etheric vehicle. This is—perhaps astonishingly to you-putting the results of meditation on the basis of physical, or rather of etheric, effects, and may be regarded by you as indicating the very lowest phase of such results. This is due to the [621] fact that you lay the emphasis upon your mental reaction to the produced alignment, on the satisfaction you acquire from such an alignment, in which you register a new world or worlds of phenomena, and on the new concepts and ideas which consequently impinge upon your mind. But the true results (as divine and as esoterically desirable) are correct alignment, right relationship, and clear channels for the seven energies in the microcosmic system, thereby bringing about eventually a full expression of divinity. All the seven centres in the etheric vehicle of the Christ were rightly adjusted, correctly aligned, truly awakened and functioning, and properly receptive of all the seven streams of energy coming from the seven planetary centres; these put Him en rapport, therefore, and in full realised contact, with the One in Whom He lived and moved and had His being. The physiological result of this complete “esoteric surrender of the seven” (as it is sometimes called) to the incoming spiritual energies, in their right order and rhythm, was the appearance in the Christ of a perfect endocrine system. All His glands (both major and minor) were functioning correctly; this produced a “perfect man”—physically perfect, emotionally stable and mentally controlled. In modern terms, the “pattern of the behaviour” of the Christ—due to the perfection of His glandular system, as an effect of correctly awakened and energised centres—made Him an expression of divine perfection to the entire world; He was the first of our humanity to arrive at this point in evolution, and “the Eldest in a great family of brothers,” as St. Paul expresses it. The current pictures of the Christ testify to their own complete inaccuracy, for they bear no witness to any glandular perfection; they are full of weakness and sweetness, but show little strength, alert power and aliveness. And the promise has gone forth that as He is, so may we be in this world.

Tham thiền là một kỹ thuật của trí tuệ, cuối cùng tạo ra mối liên hệ đúng đắn, không bị ngăn trở; đó là một tên gọi khác của sự chỉnh hợp. Vì vậy, đó là việc thiết lập một kênh trực tiếp, không chỉ giữa nguồn duy nhất là chân thần và biểu hiện của nó là phàm ngã đã được thanh luyện và kiểm soát, mà còn giữa bảy trung tâm trong hiện thể dĩ thái của con người. Điều này—có lẽ làm các bạn ngạc nhiên—đặt các kết quả của tham thiền trên cơ sở các hiệu quả hồng trần, hay đúng hơn là dĩ thái, và các bạn có thể xem đó là chỉ ra giai đoạn thấp nhất của các kết quả ấy. Điều này là do sự [621] kiện rằng các bạn nhấn mạnh vào phản ứng trí tuệ của mình đối với sự chỉnh hợp đã được tạo ra, vào sự thoả mãn mà các bạn đạt được từ sự chỉnh hợp như thế, trong đó các bạn ghi nhận một thế giới hay những thế giới hiện tượng mới, và vào các khái niệm và ý tưởng mới do đó tác động lên trí tuệ các bạn. Nhưng các kết quả chân thực (vừa thiêng liêng vừa đáng mong muốn một cách huyền bí) là sự chỉnh hợp đúng đắn, mối liên hệ đúng đắn, và các kênh thông suốt cho bảy năng lượng trong hệ thống tiểu thiên địa, nhờ đó cuối cùng mang lại sự biểu lộ trọn vẹn của thiên tính. Tất cả bảy trung tâm trong hiện thể dĩ thái của Đức Christ đều được điều chỉnh đúng đắn, chỉnh hợp chính xác, thực sự thức tỉnh và hoạt động, và tiếp nhận thích đáng mọi bảy dòng năng lượng đến từ bảy trung tâm hành tinh; vì vậy, những điều này đặt Ngài vào sự tương thông và tiếp xúc hoàn toàn được chứng nghiệm với Đấng mà trong Ngài, Ngài sống, vận động và hiện hữu. Kết quả sinh lý của sự “quy phục huyền bí của bảy” hoàn toàn này (như đôi khi được gọi vậy) đối với các năng lượng tinh thần đi vào, theo đúng trật tự và nhịp điệu của chúng, là sự xuất hiện nơi Đức Christ của một hệ nội tiết hoàn hảo. Mọi tuyến của Ngài (cả chính lẫn phụ) đều hoạt động đúng đắn; điều này tạo ra một “con người hoàn hảo”—hoàn hảo về thể chất, ổn định về cảm xúc và được kiểm soát về trí tuệ. Theo thuật ngữ hiện đại, “mô hình hành vi” của Đức Christ—do sự hoàn hảo của hệ tuyến của Ngài, như một hiệu quả của các trung tâm được thức tỉnh và tiếp sinh lực đúng đắn—đã làm cho Ngài trở thành một biểu hiện của sự hoàn hảo thiêng liêng đối với toàn thế giới; Ngài là người đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt đến điểm này trong tiến hoá, và là “Người Anh Cả trong một đại gia đình huynh đệ,” như Thánh Paul diễn tả. Những hình ảnh hiện nay về Đức Christ tự chứng tỏ sự thiếu chính xác hoàn toàn của chúng, vì chúng không làm chứng cho bất kỳ sự hoàn hảo tuyến nội tiết nào; chúng đầy vẻ yếu đuối và ngọt ngào, nhưng cho thấy rất ít sức mạnh, quyền năng tỉnh thức và sinh động. Và lời hứa đã được ban ra rằng Ngài thế nào, chúng ta cũng có thể thế ấy trong thế gian này.

[622]

[622]

This is a promise which lies behind the right understanding of the science of the centres; the factual reality of the centres will be proven to all men when the centres are gradually brought under control of the soul, are correctly and scientifically energised and brought to a condition of true “livingness,” and begin to condition the entire area of the body in which a centre is found, and—between them—bringing every part of the human body under their radiatory and magnetic influence.

Đây là một lời hứa nằm sau sự thấu hiểu đúng đắn về khoa học các trung tâm; thực tại sự kiện của các trung tâm sẽ được chứng minh cho mọi người nam và nữ khi các trung tâm dần dần được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, được tiếp sinh lực một cách đúng đắn và khoa học, được đưa đến trạng thái “sống động” chân thực, và bắt đầu tác động lên toàn bộ vùng của thể xác nơi một trung tâm được tìm thấy, và—giữa chúng với nhau—đưa mọi phần của thể xác con người vào dưới ảnh hưởng bức xạ và từ tính của chúng.

It is the centres which hold the body together and make it a coherent, energised and active whole. As you know, when death takes place, the consciousness thread withdraws from the head centre and the life thread withdraws from the heart centre. What has not been emphasised is that this dual withdrawal has an effect upon every centre in the body. The consciousness thread, anchored in the head centre, qualifies the petals of the lotus called in the oriental literature the “thousand-petalled lotus,” and the petals of that lotus have a relationship and a definitely qualifying effect (both radiatory and magnetic) upon the petals in every one of the other major centres within the etheric body; the head centre preserves them in qualifying activity, and when this quality of conscious response is withdrawn from the head centre an immediate effect is felt in all the petals of all the centres; the qualifying energy is withdrawn, leaving the body via the head centre. The same general technique is true of the life thread which is anchored in the heart, after passing (in alliance with the consciousness thread) into and through the head centre. As long as the life thread is anchored in the heart it energises and preserves in livingness all the centres in the body, sending out its threads of life into a point which is found at the exact centre of the lotus, or at the heart of the centre. This is sometimes called “the jewel in the lotus,” though the phrase [623] is more frequently applied to the monadic point at the heart of the egoic lotus on its own plane. When death takes place and the life thread is gathered up by the soul and withdrawn from the heart into the head and from thence back into the soul body, it carries with it the life of each centre in the body; therefore, the body dies and disintegrates, and no longer forms a coherent, conscious, living whole.

Chính các trung tâm giữ cho thể xác gắn kết lại với nhau và làm cho nó thành một toàn thể cố kết, được tiếp sinh lực và hoạt động. Như bạn biết, khi cái chết xảy ra, Sợi dây Tâm thức rút khỏi trung tâm đầu và Sợi dây Sự Sống/sinh mệnh tuyến rút khỏi trung tâm tim. Điều chưa được nhấn mạnh là sự rút lui kép này có ảnh hưởng lên mọi trung tâm trong thể xác. Sợi dây Tâm thức, được neo trong trung tâm đầu, quy định các cánh hoa của hoa sen được gọi trong văn liệu phương Đông là “hoa sen ngàn cánh,” và các cánh hoa của hoa sen ấy có một mối liên hệ và một tác động quy định rõ rệt (cả bức xạ lẫn từ tính) lên các cánh hoa trong từng trung tâm chính khác trong thể dĩ thái; trung tâm đầu duy trì chúng trong hoạt động có phẩm tính, và khi phẩm tính đáp ứng có ý thức này bị rút khỏi trung tâm đầu thì một tác động tức thời được cảm nhận trong mọi cánh hoa của mọi trung tâm; năng lượng quy định bị rút đi, rời khỏi thể xác qua trung tâm đầu. Kỹ thuật tổng quát tương tự cũng đúng với Sinh Mệnh Tuyến được neo trong tim, sau khi đi vào và đi qua trung tâm đầu (liên kết với Sợi dây Tâm thức). Chừng nào Sinh Mệnh Tuyến còn được neo trong tim, nó tiếp sinh lực và duy trì tính sống động trong mọi trung tâm của thể xác, gửi ra các sợi sự sống của nó vào một điểm nằm đúng nơi trung tâm của hoa sen, hay nơi tim của trung tâm. Điều này đôi khi được gọi là “ngọc trong hoa sen,” mặc dù cụm từ [623] này thường được áp dụng hơn cho điểm chân thần nơi tim của Hoa Sen Chân Ngã trên cõi riêng của nó. Khi cái chết xảy ra và Sinh Mệnh Tuyến được linh hồn thu lại, rút từ tim lên đầu và từ đó trở về thể linh hồn, nó mang theo sự sống của từng trung tâm trong thể xác; vì vậy, thể xác chết và tan rã, không còn tạo thành một toàn thể cố kết, có tâm thức và sống động nữa.

Related to these centres, and reacting in strict unison with them, is the endocrine or glandular system, through which system—during incarnation—life or energy flows unimpeded and under right direction in the case of the highly developed man, or impeded and imperfectly directed in the case of the average or undeveloped human being; through this system of glandular control, the human form responds or does not respond to the surrounding world energies. In connection with our present theme of healing, a man can be sick and ill or well and strong, according to the state of the centres and their precipitation, the glands. It must ever be remembered that the centres are the major agency upon the physical plane through which the soul works, expresses life and quality, according to the point reached under the evolutionary process, and that the glandular system is simply an effect—inevitable and unavoidable of the centres through which the soul is working. The glands therefore express fully the point in evolution of the man, and according to that point are responsible for defects and limitations or for assets and achieved perfections. The man’s conduct and behaviour upon the physical plane is conditioned, controlled and determined by the nature of his glands, and these are conditioned, controlled and determined by the nature, the quality and the livingness of the centres; these, in their turn are conditioned, controlled and determined by the soul, in increasing effectiveness as evolution proceeds. Prior to soul control, they are conditioned, qualified [624] and controlled by the astral body, and later by the mind. The goal of the evolutionary cycle is to bring about this control, this conditioning, and this determining process by the soul; human beings are today at every imaginable stage of development within this process.

Liên hệ với các trung tâm này, và phản ứng trong sự nhất trí nghiêm ngặt với chúng, là hệ nội tiết hay hệ tuyến, qua hệ này—trong khi lâm phàm—sự sống hay năng lượng chảy không bị ngăn trở và dưới sự định hướng đúng đắn trong trường hợp con người phát triển cao, hoặc bị ngăn trở và được định hướng không hoàn hảo trong trường hợp con người trung bình hay chưa phát triển; qua hệ thống kiểm soát tuyến này, hình tướng con người đáp ứng hay không đáp ứng với các năng lượng thế giới xung quanh. Liên quan đến chủ đề trị liệu hiện nay của chúng ta, một người có thể bệnh tật và đau yếu hoặc khoẻ mạnh và cường tráng, tuỳ theo trạng thái của các trung tâm và sự ngưng tụ của chúng là các tuyến. Phải luôn ghi nhớ rằng các trung tâm là tác nhân chính trên cõi hồng trần qua đó linh hồn hoạt động, biểu lộ sự sống và phẩm tính, tuỳ theo điểm đạt được trong tiến trình tiến hoá, và rằng hệ tuyến chỉ đơn giản là một hiệu quả—tất yếu và không thể tránh—của các trung tâm qua đó linh hồn đang hoạt động. Vì vậy, các tuyến biểu lộ đầy đủ điểm tiến hoá của con người, và theo điểm đó mà chịu trách nhiệm về các khiếm khuyết và giới hạn hoặc về các ưu điểm và những sự hoàn thiện đã đạt được. Hành vi và cách ứng xử của con người trên cõi hồng trần được tác động, kiểm soát và quyết định bởi bản chất các tuyến của y, và các tuyến này được tác động, kiểm soát và quyết định bởi bản chất, phẩm tính và tính sống động của các trung tâm; đến lượt chúng, các trung tâm được tác động, kiểm soát và quyết định bởi linh hồn, với hiệu quả ngày càng tăng khi tiến hoá diễn ra. Trước khi có sự kiểm soát của linh hồn, chúng được tác động, quy định [624] và kiểm soát bởi thể cảm dục, và về sau bởi trí tuệ. Mục tiêu của chu kỳ tiến hoá là mang lại sự kiểm soát này, sự tác động này, và tiến trình quyết định này bởi linh hồn; ngày nay con người đang ở mọi giai đoạn phát triển có thể hình dung được trong tiến trình này.

I realise that much of the above is well known and in the nature of repetition. But I have felt it essential to repeat the story so that there may be a fresh clarity in your thinking.

Tôi nhận ra rằng phần lớn điều trên đây đã được biết rõ và có tính chất lặp lại. Nhưng tôi cảm thấy việc lặp lại câu chuyện này là thiết yếu để có thể có một sự sáng tỏ mới mẻ trong tư tưởng của các bạn.

It will be apparent to you also that the karmic process in any individual life must therefore work out through the medium of the glands, which condition the reaction of the person to circumstance and events. The results of all previous lives and of all activities carried on during those lives have been registered by the Lords of Karma; karmic law works in close cooperation with the lunar Lords, who build and construct the bodies which constitute the personality; later, the law works in an even closer cooperation with the soul purpose. The whole problem is necessarily most intricate and difficult. All I can do is to give certain indications.

Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng tiến trình nghiệp quả trong bất kỳ đời sống cá nhân nào vì thế phải vận hành qua trung gian các tuyến, vốn tác động lên phản ứng của con người đối với hoàn cảnh và biến cố. Kết quả của mọi kiếp sống trước và của mọi hoạt động được tiến hành trong các kiếp ấy đã được các Đấng Nghiệp Quả ghi nhận; luật nghiệp quả hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với các nguyệt tinh quân, những vị xây dựng và cấu tạo các thể tạo thành phàm ngã; về sau, luật này hoạt động trong một sự hợp tác còn chặt chẽ hơn với mục đích của linh hồn. Toàn bộ vấn đề này tất yếu là cực kỳ phức tạp và khó khăn. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra một số chỉ dẫn.

It is with this system of centres and their externalised effects, the glands, that the healer has to work and which he has to take into most careful consideration; all stimulation which he may be able, for instance, to convey to a centre in the patient’s body, or all abstraction of energy from a centre, will have a most definite effect upon the allied or related gland, and therefore upon the secretion which that gland is in the habit of pouring into the blood stream.

Chính với hệ thống các trung tâm này và các hiệu quả ngoại hiện của chúng là các tuyến mà nhà trị liệu phải làm việc và phải hết sức cẩn trọng xem xét; chẳng hạn, mọi sự kích thích mà y có thể truyền đến một trung tâm trong thể xác bệnh nhân, hoặc mọi sự rút bớt năng lượng khỏi một trung tâm, sẽ có một tác động rất xác định lên tuyến đồng minh hay liên hệ, và do đó lên sự bài tiết mà tuyến ấy thường đổ vào dòng máu.

As again you know, the seven major centres and their allied glands are as follows:

Như các bạn lại biết, bảy trung tâm chính và các tuyến liên hệ của chúng như sau:

1.

The head centre

The pineal gland.

2.

The ajna centre

The pituitary gland.

3.

The throat centre

The thyroid gland.

4.

The heart centre

The thymus gland.

5.

The solar plexus centre

The pancreas.

6.

The sacral centre

The gonads.

7.

The centre at base of spine

The adrenal glands.

[625]There are also other centres and many other glands in the body, but these are the seven with which the healer works; the minor or subsidiary glands are conditioned by the centre controlling the area in which they are located. The healer, however, refuses to complicate his thinking with the multiplicity and detail of the other lesser glandular system and with the intricacies of lesser interior relationships. The above list gives also the centres and glands which basically determine the state of health-good, indifferent or bad-and the psychological equipment of a man. Students should bear in mind that the primary effect of the activity of the glands and of their secretions is psychological. A man is, upon the physical plane, emotionally and mentally what his glandular system makes him, and incidentally what they makes him physically, because that is frequently determined by his psychological state of mind and emotions. The emphasis of the self-centred ordinary man is largely upon the physical vehicle, and he pays little or no attention to the balance or the imbalance of his endocrine system or setup (if I may use that word) from the angle of its determining his psychological effect upon his fellow men. It is not my intention to analyse the various glands, noting how they respond to the awakened or the unawakened condition of the centres, or how they limit or implement the responsiveness of the man to his environment or determine his interpretation of life and the passivity or the activity of his daily reactions to events and circumstance. A man, it may emphatically be stated, is what his glands make him, but they, in their turn, are only the effects of certain inner potent [626] sources of energy. Again, as you see, I repeat this vital truth.

[625] Cũng còn có các trung tâm khác và nhiều tuyến khác trong thể xác, nhưng đây là bảy trung tâm mà nhà trị liệu làm việc; các tuyến nhỏ hay phụ được tác động bởi trung tâm kiểm soát vùng nơi chúng tọa lạc. Tuy nhiên, nhà trị liệu từ chối làm phức tạp tư tưởng của mình bằng tính đa tạp và chi tiết của hệ tuyến nhỏ khác và bằng những phức tạp của các mối liên hệ nội tại nhỏ hơn. Danh sách trên cũng đưa ra các trung tâm và các tuyến vốn về căn bản quyết định tình trạng sức khoẻ—tốt, trung bình hay xấu—và trang bị tâm lý của một người. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng hiệu quả chủ yếu của hoạt động các tuyến và các chất bài tiết của chúng là về mặt tâm lý. Một người, trên cõi hồng trần, về mặt cảm xúc và trí tuệ là như hệ tuyến của y làm cho y như thế, và ngẫu nhiên cũng là như chúng làm cho y về mặt thể chất, bởi vì điều đó thường được quyết định bởi trạng thái tâm lý của trí tuệ và cảm xúc của y. Sự nhấn mạnh của con người bình thường tập trung vào bản thân phần lớn đặt trên hiện thể vật chất, và y ít hoặc không chú ý gì đến sự quân bình hay mất quân bình của hệ nội tiết hay cơ cấu nội tiết của mình (nếu tôi có thể dùng từ đó) từ góc độ nó quyết định hiệu quả tâm lý của y lên những người đồng loại. Ý định của tôi không phải là phân tích các tuyến khác nhau, ghi nhận cách chúng đáp ứng với tình trạng thức tỉnh hay chưa thức tỉnh của các trung tâm, hoặc cách chúng giới hạn hay tăng cường khả năng đáp ứng của con người đối với môi trường của y, hay quyết định sự diễn giải của y về đời sống và tính thụ động hay tính hoạt động của các phản ứng hằng ngày của y đối với biến cố và hoàn cảnh. Có thể nhấn mạnh rằng một người là như các tuyến của y làm cho y như thế, nhưng đến lượt chúng, chúng chỉ là các hiệu quả của những nguồn năng lượng nội tại mãnh liệt nào đó. Một lần nữa, như các bạn thấy, tôi lặp lại chân lý thiết yếu này.

It is for this reason that medical science will eventually find the truth (and already they are sensing it) that it is impossible to fundamentally change the personality and the physical equipment of a man through treating the glands themselves; little real progress has been made along this line during the thirty or forty years during which the endocrinologists have considered and investigated this subject. Certain things have been found out; certain results of the activity or the inactivity of the glands have been noted; certain types of people have been recognised as illustrative of glandular activity or passivity; ameliorative measures have been applied and the action of a gland has been stimulated or retarded (with good or bad effects) through various methods and types of medication. Beyond this little is known, and the best minds in this particular field are conscious of the fact that they are face to face with a terra incognita. This situation will remain as it is until modern medical science recognises that the world of causes (as far as the endocrine glands are concerned) is the etheric body with its seven centres; they will then register the fact that all work in relation to the glands must be shifted away from the seven effects or precipitations of the centres on to the centres themselves.

Chính vì lý do này mà khoa học y học cuối cùng sẽ tìm ra chân lý (và họ đã đang cảm nhận điều đó) rằng không thể thay đổi một cách căn bản phàm ngã và trang bị thể chất của một người bằng cách điều trị chính các tuyến; rất ít tiến bộ thực sự đã được thực hiện theo đường hướng này trong ba mươi hay bốn mươi năm mà các nhà nội tiết học đã xem xét và nghiên cứu đề tài này. Một số điều đã được phát hiện; một số kết quả của hoạt động hay sự bất hoạt của các tuyến đã được ghi nhận; một số loại người đã được nhận ra như minh hoạ cho hoạt động hay tính thụ động của tuyến; các biện pháp cải thiện đã được áp dụng và hoạt động của một tuyến đã được kích thích hay làm chậm lại (với hiệu quả tốt hay xấu) bằng nhiều phương pháp và loại thuốc khác nhau. Ngoài ra, người ta biết rất ít, và những trí tuệ ưu tú nhất trong lĩnh vực đặc biệt này ý thức được sự kiện rằng họ đang đối diện với một miền đất chưa biết. Tình trạng này sẽ vẫn như vậy cho đến khi khoa học y học hiện đại nhận ra rằng thế giới nguyên nhân (xét về các tuyến nội tiết) là thể dĩ thái với bảy trung tâm của nó; khi đó họ sẽ ghi nhận sự kiện rằng mọi công việc liên quan đến các tuyến phải được chuyển khỏi bảy hiệu quả hay sự ngưng tụ của các trung tâm sang chính các trung tâm.

The healer, therefore, ignores the gland involved and deals directly with the centre which conditions the “point of friction” and controls the area under its influence; this necessarily includes the gland which the centre has created, formed or precipitated and energised.

Vì vậy, nhà trị liệu bỏ qua tuyến liên quan và trực tiếp đề cập đến trung tâm tác động lên “điểm ma sát” và kiểm soát vùng nằm dưới ảnh hưởng của nó; điều này tất yếu bao gồm tuyến mà trung tâm đã tạo ra, hình thành hay ngưng tụ và tiếp sinh lực.

The concept in the mind of the healer should be, as this law indicates, that an unimpeded channel or a clear passage must be formed along which health-giving life may flow from the “needed centre” in the healer’s etheric body [627] to the allied centre in the body of the patient and from thence into the blood stream, via the related gland. Forget not, the truth remains eternally right that the “blood is the life”‘—even if as yet inexplicable in its implications from the angle of the esotericist as well as from the angle of medical science.

Khái niệm trong trí tuệ của nhà trị liệu nên là, như quy luật này chỉ ra, rằng phải hình thành một kênh không bị ngăn trở hay một lối thông suốt dọc theo đó sự sống ban sức khoẻ có thể chảy từ “trung tâm cần thiết” trong thể dĩ thái của nhà trị liệu [627] đến trung tâm liên hệ trong thể của bệnh nhân và từ đó vào dòng máu, qua tuyến tương ứng. Đừng quên, chân lý vẫn mãi mãi đúng rằng “máu là sự sống”—dù cho các hàm ý của nó từ góc độ của nhà bí truyền học cũng như từ góc độ của khoa học y học vẫn chưa thể giải thích được.

Healers have to learn to work with the life principle, and not with some vague energy which is set in motion by the power of thought or by the potency of love, as is the case presented today by the various healing systems of the world which mankind has evolved. This life principle is contacted and set in motion by the mode of clearing certain etheric channels within the etheric structure which underlies every part of the patient’s body. This clearance is not brought about by thinking health or by affirming divinity or by eliminating “error” in the mental approach, but by the much more prosaic method of directing streams of energy via certain centres, and thus affecting certain glands in the area of the physical body which is diseased and the seat of trouble, pain and distress.

Các nhà trị liệu phải học cách làm việc với nguyên khí sự sống, chứ không phải với một năng lượng mơ hồ nào đó được khởi động bởi quyền năng của tư tưởng hay bởi mãnh lực của tình thương, như trường hợp được trình bày ngày nay bởi các hệ thống trị liệu khác nhau của thế giới mà nhân loại đã phát triển. Nguyên khí sự sống này được tiếp xúc và được khởi động bằng phương thức khai thông một số kênh dĩ thái nhất định trong cấu trúc dĩ thái nằm bên dưới mọi phần của thể xác bệnh nhân. Sự khai thông này không được mang lại bằng cách nghĩ đến sức khoẻ hay khẳng định thiên tính hay loại bỏ “sai lầm” trong cách tiếp cận trí tuệ, mà bằng phương pháp thực tế hơn nhiều là định hướng các dòng năng lượng qua một số trung tâm nhất định, và như vậy tác động đến một số tuyến nhất định trong vùng thể xác đang bệnh và là nơi của rối loạn, đau đớn và khổ sở.

That thought or correct thinking is involved is necessarily true; the healer has to think clearly before he can bring about the desired results, but the energy poured into the patient’s vehicle is not mental energy, but one of the seven forms of pranic or life energy. This travels along the line of force or the channel which relates and links all the centres and connects those centres with the glands. Forget not that this constitutes an interlinking and interlocking directorate of the following systems, and that-from the point of view of the esotericist—these systems are symbols of great cosmic processes:

Rằng tư tưởng hay tư duy đúng đắn có liên quan là điều tất nhiên đúng; nhà trị liệu phải suy nghĩ rõ ràng trước khi y có thể mang lại các kết quả mong muốn, nhưng năng lượng được tuôn vào hiện thể của bệnh nhân không phải là năng lượng trí tuệ, mà là một trong bảy dạng năng lượng prana hay năng lượng sự sống. Năng lượng này di chuyển dọc theo đường lực hay kênh liên hệ và nối kết tất cả các trung tâm và nối các trung tâm ấy với các tuyến. Đừng quên rằng điều này cấu thành một ban điều hành liên kết và đan xen của các hệ thống sau đây, và rằng—từ quan điểm của nhà bí truyền học—các hệ thống này là những biểu tượng của các tiến trình vũ trụ vĩ đại:

1. The etheric body, as a whole, with its channels and communicating lines of energy which underlie every part [628] of the human body.

1. Thể dĩ thái như một toàn thể, với các kênh và các đường truyền thông năng lượng của nó nằm bên dưới mọi phần [628] của thể xác con người.

2. The seven related centres, each specifically qualified and each in touch, via the etheric fibres or threads of force, with each and every centre.

2. Bảy trung tâm liên hệ, mỗi trung tâm được quy định một cách đặc thù và mỗi trung tâm tiếp xúc, qua các sợi dĩ thái hay các sợi lực, với từng và mọi trung tâm.

3. The nadis, that system of slightly denser etheric channels or tiny threads of force which underlie the entire nervous system; they underlie every type of nerve and every type of nerve plexus.

3. Các nadi, hệ thống những kênh dĩ thái hơi đậm đặc hơn hay những sợi lực nhỏ bé nằm bên dưới toàn bộ hệ thần kinh; chúng nằm bên dưới mọi loại dây thần kinh và mọi loại đám rối thần kinh.

4. The nervous system itself, which is found extending its radius of influence throughout the entire body of a man.

4. Chính hệ thần kinh, được thấy đang mở rộng bán kính ảnh hưởng của nó khắp toàn thể cơ thể con người.

5. The endocrine or glandular system.

5. Hệ nội tiết hay hệ tuyến.

6. The blood stream, the recipient of streams of living energy from the endocrine system, via what are called the hormones.

6. Dòng máu, nơi tiếp nhận các dòng năng lượng sống từ hệ nội tiết, qua cái được gọi là các hormone.

7. The interrelated sumtotal, which is the divine manifestation of the spiritual man in any incarnation and at any point in evolution.

7. Tổng thể liên hệ lẫn nhau, là biểu hiện thiêng liêng của con người tinh thần trong bất kỳ lần lâm phàm nào và ở bất kỳ điểm tiến hoá nào.

Therefore, two great streams of energy permeate and animate this entire aggregation of systems: the life stream and the consciousness stream. One works through the nervous system (the consciousness stream) and the other through the blood stream. Both are in fact so closely related and allied that, in action, it is not easy for the ordinary man to differentiate between them.

Vì vậy, hai dòng năng lượng lớn thấm nhập và làm sinh động toàn bộ tập hợp các hệ thống này: dòng sự sống và dòng tâm thức. Một dòng hoạt động qua hệ thần kinh (dòng tâm thức) và dòng kia qua dòng máu. Thực ra cả hai liên hệ và gắn bó chặt chẽ đến mức, trong hoạt động, con người bình thường không dễ phân biệt giữa chúng.

The healer, however, does not work with the consciousness aspect; he works entirely with the life aspect; the perfect healer (something at present nonexistent) works through the closed and sealed point within the centre (the very heart of the centre). There the point of life is to be found. From this point within the centre, life rays out into the petals of the lotus, and the combination of the life at the centre and the consciousness, inherent in the petals, is the source of the living, breathing, sensitive human [629] being-from the physical angle-and this the healer must recognise.

Tuy nhiên, nhà trị liệu không làm việc với phương diện tâm thức; y hoàn toàn làm việc với phương diện sự sống; nhà trị liệu hoàn hảo (điều hiện nay chưa tồn tại) làm việc qua điểm khép kín và niêm phong bên trong trung tâm (chính tim của trung tâm). Ở đó có thể tìm thấy điểm sự sống. Từ điểm này bên trong trung tâm, sự sống toả ra vào các cánh hoa sen, và sự kết hợp của sự sống ở trung tâm với tâm thức vốn có trong các cánh hoa là nguồn gốc của con người sống động, hô hấp, nhạy cảm [629]—xét từ góc độ thể chất—và điều này nhà trị liệu phải nhận ra.

Behind this livingness and this consciousness is the Being, the spiritual man, the actor, the one who feels (in varying degrees), and the thinker. The simplicity of the above statement is somewhat misleading, as there are other factors and relationships and other energies which must be considered, but it is nevertheless basically true, and upon this truth the healer can act.

Đằng sau tính sống động này và tâm thức này là Bản Thể, con người tinh thần, tác nhân, kẻ cảm nhận (ở những mức độ khác nhau), và người suy tư. Tính đơn giản của phát biểu trên phần nào gây hiểu lầm, vì còn có những yếu tố và mối liên hệ khác cùng những năng lượng khác phải được xem xét, nhưng tuy vậy về căn bản nó vẫn đúng, và trên chân lý này nhà trị liệu có thể hành động.

It is interesting to point out that the Great Invocation now being distributed in the world is based upon this same fundamental concept of great systems, conditioning humanity as a whole, which can be energised by the inflow of streams of energy, bringing new life and health to the entire body of humanity via the planetary centres of divine livingness and consciousness.

Điều thú vị là Đại Khấn Nguyện hiện đang được phân phối trên thế giới được đặt nền trên cùng khái niệm căn bản này về các hệ thống lớn tác động lên toàn thể nhân loại, những hệ thống có thể được tiếp sinh lực bởi sự tuôn vào của các dòng năng lượng, mang lại sự sống và sức khoẻ mới cho toàn bộ thể nhân loại qua các trung tâm hành tinh của tính sống động và tâm thức thiêng liêng.

Rule Four which accompanies Law VII is of major importance. This is because of its extreme simplicity, and because, if comprehended and followed, it forms a bridging rule between the subjective and the objective methods of handling disease. The law which we have just considered was also exceedingly simple and direct, and in its implications related to the subjective nature and the objective form. Students should not be deceived by simplicity and by plain, direct statements. There is a tendency to regard esoteric teaching as necessarily abstruse and indirect, requiring always the use of the “esoteric sense” (whatever is meant by that) in order to arrive at understanding. Yet the more advanced the teaching, very frequently the more simply is it expressed. Abstruseness is related to the ignorance of the student-not to the mode of presentation of the teacher. This rule runs as follows: [630]

Quy luật Bốn đi kèm với Định luật VII có tầm quan trọng lớn. Điều này là vì tính đơn giản cực độ của nó, và vì nếu được thấu hiểu và tuân theo, nó tạo thành một quy luật bắt cầu giữa các phương pháp chủ quan và khách quan trong việc xử lý bệnh tật. Định luật mà chúng ta vừa xem xét cũng cực kỳ đơn giản và trực tiếp, và trong các hàm ý của nó có liên hệ với bản chất chủ quan và hình tướng khách quan. Các đạo sinh không nên bị đánh lừa bởi tính đơn giản và bởi những phát biểu rõ ràng, trực tiếp. Có một khuynh hướng xem giáo huấn huyền bí học là tất yếu tối nghĩa và gián tiếp, luôn luôn đòi hỏi phải sử dụng “giác quan huyền bí” (dù điều đó có nghĩa là gì) để đi đến thấu hiểu. Tuy nhiên, giáo huấn càng cao siêu thì rất thường khi lại càng được diễn đạt đơn giản hơn. Sự tối nghĩa liên hệ với sự vô minh của đạo sinh—không phải với cách trình bày của huấn sư. Quy luật này như sau: [630]

RULE FOUR — QUY LUẬT BỐN

A careful diagnosis of disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent-that once the organ involved is known, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.

Một sự chẩn đoán cẩn trọng về bệnh tật, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hoá đến mức này—rằng một khi cơ quan bị liên hệ đã được biết, thì trung tâm trong thể dĩ thái có liên hệ gần nhất với nó sẽ được áp dụng các phương pháp trị liệu huyền bí, mặc dù các phương pháp cải thiện thông thường, y khoa hay phẫu thuật sẽ không bị loại bỏ.

This rule requires little elucidation, for it is composed of clear, concise instructions. Let us list these instructions:

Quy luật này đòi hỏi rất ít sự làm sáng tỏ, vì nó gồm những chỉ dẫn rõ ràng, súc tích. Chúng ta hãy liệt kê các chỉ dẫn này:

1. There must be careful diagnosis, based on the ascertained outer symptoms.

1. Phải có sự chẩn đoán cẩn trọng, dựa trên các triệu chứng bên ngoài đã được xác định.

2. The organ which is the seat of the trouble must be located. Both these activities concern the dense physical body.

2. Phải xác định cơ quan là nơi phát sinh rối loạn. Cả hai hoạt động này đều liên quan đến thể xác đậm đặc.

3. The centre in the etheric body closest to the area of the trouble will next receive attention.

3. Kế đó, trung tâm trong thể dĩ thái gần nhất với vùng rối loạn sẽ được chú ý.

4. Methods of occult healing are then employed, directed to the stimulation, or the reverse, of the centre involved.

4. Khi ấy, các phương pháp trị liệu huyền bí được sử dụng, hướng đến việc kích thích, hoặc ngược lại, trung tâm liên hệ.

5. Simultaneously, all outer orthodox methods are employed.

5. Đồng thời, mọi phương pháp chính thống bên ngoài đều được sử dụng.

It is on this question of careful diagnosis that most modern so-called healers go astray. They do not know enough about the physical body, about the pathology of disease, about the primary or secondary symptoms, to determine the nature of the difficulty. this is because the usual healer has not had medical training, and at the same time he is not psychically equipped to arrive at a true diagnosis in an occult manner. He therefore falls back on the general assumption that the patient is sick, that the seat of the trouble appears to be in such or such an area of the physical body, that the patient complains of certain pains and aches, and that if the patient can be rendered acquiescent enough, [631] if he can grasp (along with the healer) the fact of his divinity-and who can, my brother?—then if he has faith in the healer, he can assuredly be healed.

Chính ở vấn đề chẩn đoán cẩn trọng này mà phần lớn những người được gọi là nhà trị liệu hiện đại đi sai đường. Họ không biết đủ về thể xác, về bệnh lý học của bệnh tật, về các triệu chứng nguyên phát hay thứ phát, để xác định bản chất của khó khăn. Điều này là vì nhà trị liệu thông thường chưa được đào tạo y khoa, đồng thời y cũng không được trang bị thông linh để đi đến một chẩn đoán chân thực theo cách huyền bí. Vì vậy, y quay về với giả định chung rằng bệnh nhân đang bệnh, rằng chỗ rối loạn dường như nằm ở vùng này hay vùng kia của thể xác, rằng bệnh nhân than phiền về một số cơn đau nhức, và rằng nếu bệnh nhân có thể được làm cho đủ mức thuận phục, [631] nếu y có thể nắm bắt (cùng với nhà trị liệu) sự kiện về thiên tính của mình—và ai có thể làm được điều đó, Huynh đệ của Tôi?—thì nếu y có đức tin nơi nhà trị liệu, chắc chắn y có thể được chữa lành.

The outstanding thing usually to note is the ignorance of both the patient and the healer; the thing to be deplored is the assumption of the healer that, if a healing does follow, it is due entirely to the healing methods followed, whereas the patient would, in all probability, have recovered in any case. The healing may have been hastened by the factor of faith, and faith is simply the focussing of the patient’s energy in line with the injunction of the healer, and a consequent “display” of that energy in the diseased area in obedience to the law that “energy follows thought.” The “explosion” (if I may use so forcible a word) of the energy of faith on the part of the two people involved-the healer and the patient-occultly and occasionally produces sufficient energy stimulation to bring about a cure where a cure in any case was inevitable. It has simply been a hastening process. This is not, however, a true occult healing and no true occult healing methods were employed or involved. Psychologically, the same thing can be seen taking place in the case of a “conversion,” as the Fundamentalist School of Christianity calls it. The faith of the person and the faith of the evangelist, plus the faith of the audience (where there is one) bring about a psychological healing along the line of resolving cleavages, or produce an at-one-ment, even if only of a temporary nature.

Điều nổi bật thường cần ghi nhận là sự vô minh của cả bệnh nhân lẫn nhà trị liệu; điều đáng tiếc là giả định của nhà trị liệu rằng, nếu việc chữa lành thực sự xảy ra, thì hoàn toàn là do các phương pháp trị liệu đã được áp dụng, trong khi rất có thể bệnh nhân dù sao cũng đã hồi phục. Việc chữa lành có thể đã được thúc đẩy bởi yếu tố đức tin, và đức tin chỉ đơn giản là sự tập trung năng lượng của bệnh nhân phù hợp với chỉ dẫn của nhà trị liệu, và là sự “biểu lộ” tiếp theo của năng lượng ấy trong vùng bệnh theo sự tuân phục định luật rằng “năng lượng đi theo tư tưởng.” “Sự bùng nổ” (nếu tôi có thể dùng một từ mạnh như vậy) của năng lượng đức tin nơi hai người liên hệ—nhà trị liệu và bệnh nhân—về mặt huyền bí và đôi khi tạo ra đủ sự kích thích năng lượng để mang lại một sự chữa lành trong trường hợp mà dù sao sự chữa lành cũng là điều tất yếu. Điều đó chỉ đơn giản là một tiến trình thúc đẩy nhanh hơn. Tuy nhiên, đây không phải là trị liệu huyền bí chân chính và không có phương pháp trị liệu huyền bí chân chính nào được sử dụng hay liên quan. Về mặt tâm lý, có thể thấy cùng một điều xảy ra trong trường hợp một “sự cải đạo,” như Trường phái Cơ Đốc giáo Căn Bản gọi vậy. Đức tin của người ấy và đức tin của nhà truyền giáo, cộng với đức tin của thính giả (nếu có), mang lại một sự chữa lành tâm lý theo đường hướng giải quyết các chia cắt, hay tạo ra một sự hợp nhất, dù chỉ có tính tạm thời.

It must be increasingly borne in mind that there is nothing in the created world but energy in motion, and that every thought directs some aspects of that energy, though always within the sphere of influence of some greater thinking, directing energy. The healer’s faith and the patient’s faith are both examples of energy in motion, and at present usually the only energies employed in every case [632] of healing. Orthodox medicine also works with the same energies, supplementing its orthodox methods with the patient’s faith in the physician and in his scientific knowledge.

Phải ngày càng ghi nhớ rằng trong thế giới được tạo thành không có gì ngoài năng lượng đang vận động, và rằng mọi tư tưởng đều định hướng một số phương diện của năng lượng ấy, dù luôn luôn ở trong phạm vi ảnh hưởng của một năng lượng tư tưởng chỉ đạo lớn hơn nào đó. Đức tin của nhà trị liệu và đức tin của bệnh nhân đều là những ví dụ về năng lượng đang vận động, và hiện nay thường là những năng lượng duy nhất được sử dụng trong mọi trường hợp [632] trị liệu. Y học chính thống cũng làm việc với cùng những năng lượng ấy, bổ sung các phương pháp chính thống của mình bằng đức tin của bệnh nhân nơi vị thầy thuốc và nơi tri thức khoa học của ông.

I am not here going to enlarge further on the injunction to use medical and surgical methods whenever possible. I have touched upon this subject several times in the course of this teaching upon healing. It is essential that people should realise that the ascertained knowledges of medicine and surgery are just as much an expression of divine experience and understanding as the hopeful, assertive, yet fumbling methods of so-called divine healing-if not more so at present. Though much of the orthodox methods remain experimental, they are less so than the methods of the modern healers, and much of their scientific knowledge is proven and real. It should be used, and confidence can be expressed in it. The perfect healing combination is that of the medical man and the spiritual healer, each working in his own field, and both having faith in each other; this is not now the case. There is no need to call in divine aid to set bones which the surgeon is well equipped to do, or to clear up infection which the physician knows well how to handle. The healer can help and can hasten the healing process, but the orthodox physician can also hasten the work of the healer. Both groups need each other.

Ở đây tôi sẽ không nói thêm về chỉ dẫn phải sử dụng các phương pháp y khoa và phẫu thuật bất cứ khi nào có thể. Tôi đã đề cập đến chủ đề này nhiều lần trong tiến trình giáo huấn này về trị liệu. Điều thiết yếu là mọi người phải nhận ra rằng các tri thức đã được xác lập của y học và phẫu thuật cũng là một biểu hiện của kinh nghiệm và sự thấu hiểu thiêng liêng chẳng kém gì những phương pháp đầy hy vọng, quả quyết nhưng còn vụng về của cái gọi là trị liệu thiêng liêng—nếu không muốn nói là hiện nay còn hơn thế. Dù phần lớn các phương pháp chính thống vẫn còn mang tính thực nghiệm, chúng ít mang tính thực nghiệm hơn các phương pháp của các nhà trị liệu hiện đại, và phần lớn tri thức khoa học của họ là đã được chứng minh và có thật. Nó nên được sử dụng, và có thể đặt niềm tin nơi đó. Sự kết hợp trị liệu hoàn hảo là sự kết hợp giữa vị y sĩ và nhà trị liệu tinh thần, mỗi người làm việc trong lĩnh vực riêng của mình, và cả hai đều có đức tin nơi nhau; hiện nay điều này chưa phải vậy. Không cần phải kêu gọi sự trợ giúp thiêng liêng để nắn xương mà bác sĩ phẫu thuật hoàn toàn có đủ khả năng làm, hoặc để làm sạch nhiễm trùng mà vị thầy thuốc biết rõ cách xử lý. Nhà trị liệu có thể giúp đỡ và có thể thúc đẩy tiến trình chữa lành, nhưng vị thầy thuốc chính thống cũng có thể thúc đẩy công việc của nhà trị liệu. Cả hai nhóm đều cần nhau.

I realise that what I have said here will please neither the spiritual healer nor the orthodox medical man. It is time, however, that they learn to appreciate each other and to work in cooperation. In the last analysis, the spiritual healer and the new modes of mental healing have relatively little to contribute in comparison with the work and the knowledge of the member of the orthodox profession. The debt of the world to its doctors and surgeons is very great. The debt to healers is decidedly not so great; they oft also poison the channel by bitterness and constant [633] criticism of the physician and of orthodox medicine. Surety of knowledge and experience prevents a similar attitude in the orthodox group, plus the realisation that even the spiritual healer will call in the doctor in times of emergency.

Tôi nhận ra rằng điều tôi nói ở đây sẽ không làm hài lòng cả nhà trị liệu tinh thần lẫn vị y sĩ chính thống. Tuy nhiên, đã đến lúc họ phải học cách trân trọng nhau và làm việc trong hợp tác. Xét cho cùng, nhà trị liệu tinh thần và các phương thức trị liệu trí tuệ mới có tương đối ít điều để đóng góp so với công việc và tri thức của thành viên ngành chính thống. Món nợ của thế giới đối với các bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật là rất lớn. Món nợ đối với các nhà trị liệu thì rõ ràng không lớn đến thế; họ cũng thường đầu độc kênh dẫn bằng sự cay đắng và sự [633] chỉ trích liên tục đối với vị thầy thuốc và đối với y học chính thống. Sự chắc chắn của tri thức và kinh nghiệm ngăn cản một thái độ tương tự trong nhóm chính thống, cộng với sự nhận thức rằng ngay cả nhà trị liệu tinh thần cũng sẽ gọi bác sĩ đến trong những lúc khẩn cấp.

The law and the rule now to be considered will carry us into realms of real abstraction; it will not be easy for you to understand much of what I may say. This Law VIII takes us back to the very source of all phenomena as far as the human being is concerned-the will of the immortal soul to incarnate on earth or to withdraw from incarnation. It involves also the consideration of the factor of the Will in producing disease as the direct means of bringing about that withdrawal. So little is as yet understood anent the Will that it is particularly hard to explain.

Định luật và quy luật giờ đây sẽ được xem xét sẽ đưa chúng ta vào những lĩnh vực của sự trừu tượng thực sự; các bạn sẽ không dễ hiểu được nhiều điều tôi có thể nói. Định luật VIII này đưa chúng ta trở lại chính nguồn gốc của mọi hiện tượng xét theo con người—ý chí của linh hồn bất tử muốn lâm phàm trên trần gian hay rút khỏi lâm phàm. Nó cũng bao hàm việc xem xét yếu tố Ý Chí trong việc tạo ra bệnh tật như phương tiện trực tiếp để mang lại sự rút lui đó. Hiện nay người ta còn hiểu quá ít về Ý Chí nên đặc biệt khó giải thích.

LAW VIII — ĐỊNH LUẬT VIII

Disease and death are the result of two active forces. One is the will of the soul, which says to its instrument: “I draw the essence back.” The other is the magnetic power of the planetary life, which says to the life within the atomic structure: “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.” Thus, under cyclic law, do all forms act.

Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực hoạt động. Một là ý chí của linh hồn, nói với khí cụ của nó: “Ta rút tinh chất trở lại.” Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.” Như vậy, dưới định luật chu kỳ, mọi hình tướng đều hành động.

Two aspects in the nature of the divine Will are called into play where disease and death are concerned: one is the will of the soul to being an incarnation to an end; another is the will of the spirit of the earth (the basic elemental force) to draw back into itself the released and temporarily isolated substance of which the soul had availed itself during the cycle of incarnation.

Hai phương diện trong bản chất của Ý Chí thiêng liêng được đưa vào hoạt động khi liên quan đến bệnh tật và cái chết: một là ý chí của linh hồn muốn chấm dứt một lần lâm phàm; phương diện kia là ý chí của tinh linh địa cầu (mãnh lực hành khí căn bản) muốn rút trở lại vào chính nó chất liệu đã được giải phóng và tạm thời cô lập mà linh hồn đã sử dụng trong chu kỳ lâm phàm.

The factor of time, the factor of the interplay between the point of will which is that of the soul, and the diffused ever present will of the elemental spirit of substance are involved, plus their cyclic relation. These we shall attempt to consider.

Yếu tố thời gian, yếu tố tương tác giữa điểm ý chí là của linh hồn, và ý chí khuếch tán luôn hiện diện của tinh linh hành khí của chất liệu đều có liên quan, cùng với mối liên hệ chu kỳ của chúng. Chúng ta sẽ cố gắng xem xét những điều này.

[634]

[634]

What I have here to say is of major importance and will throw a new and strange light upon the entire subject of disease. I will deal, first of all, with the second half of the law, which refers to the “magnetic power of the planetary life,” which says to the life within the atomic structure: “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.”

Điều tôi phải nói ở đây có tầm quan trọng lớn và sẽ rọi một ánh sáng mới lạ và kỳ lạ lên toàn bộ chủ đề bệnh tật. Trước hết, tôi sẽ bàn đến nửa sau của định luật, phần nói đến “quyền năng từ tính của sự sống hành tinh,” vốn nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.”

To understand the reference, I would remind you that a human being is a spiritual entity, occupying or informing (which is the occult word I prefer) a dense physical vehicle. This dense physical body is part of the general structure of the entire planet, composed of living atoms which are under the control of, and are part of the life of the planetary entity. This dense physical vehicle is released into a temporary and directed freedom by the will of the informing soul, but remains at the same time an intrinsic part of the sumtotal of all atomic substance. This physical vehicle-having its own life and having a measure of intelligence which we call its instinctual nature-is called by esotericists the physical elemental. During incarnated life, it is the coherent force or agency by means of which the physical body preserves its particular form, under the impact of etheric livingness; this affects all the living atoms and brings them into relation with each other. The physical body is the great symbol (within the one Life) of the many of which it is constituted; it is the demonstrated fact of innate coherency, of unity, of synthesis and of relationship. Physical or planetary prana (the lowest form of pranic energy) is the life of the sumtotal of the atoms (of which all outer forms are composed) as they are brought into relation to the separated atomic structure of the dense physical body of an individual informing soul in any kingdom of nature-particularly, from our point of study, the human kingdom. What is true in this connection of the individual or of [635] man, the microcosm, is true also of the planet, which—like man—is a coherent whole. This wholeness is due to the relation of two aspects of life: the life of the planetary Logos and the life of the spirit of the earth, which is the life of the sumtotal of all the atoms which compose all forms. To this sumtotal of living substance, of elemental life, man’s dense physical body conforms and is therefore the symbol. These two lives, functioning microcosmically and also macrocosmically, create that living pranic energy which circulates throughout the etheric bodies of all forms, which produces coherency or a synthetic holding-together and which can be discerned when the densest aspect of the etheric body is seen, creating thus the health aura in plants, trees, sea life, animals and man. Other energies and potencies circulate through and condition the etheric vehicle, but I refer here only to the lowest physical aspect. This is indicative of the life of the elemental of our planet, the spirit of the earth—a divine life, making its own progress upon the involutionary are of manifestation.

Để hiểu lời ám chỉ này, tôi xin nhắc các bạn rằng một con người là một thực thể tinh thần, đang chiếm giữ hay phú linh (đó là từ huyền bí mà tôi thích dùng hơn) một hiện thể hồng trần đậm đặc. Thể xác đậm đặc này là một phần của cấu trúc chung của toàn bộ hành tinh, được cấu thành bởi các nguyên tử sống nằm dưới sự kiểm soát của, và là một phần của sự sống của, Thực Thể Hành Tinh. Hiện thể hồng trần đậm đặc này được giải phóng vào một sự tự do tạm thời và có định hướng bởi ý chí của linh hồn phú linh, nhưng đồng thời vẫn là một phần nội tại của tổng thể toàn bộ chất liệu nguyên tử. Hiện thể hồng trần này—có sự sống riêng của nó và có một mức độ trí tuệ mà chúng ta gọi là bản chất bản năng của nó—được các nhà bí truyền học gọi là tinh linh thể xác. Trong đời sống lâm phàm, nó là mãnh lực hay tác nhân cố kết nhờ đó thể xác duy trì hình tướng riêng biệt của nó dưới tác động của tính sống động dĩ thái; điều này ảnh hưởng đến mọi nguyên tử sống và đưa chúng vào mối liên hệ với nhau. Thể xác là biểu tượng lớn (trong Sự sống duy nhất) của cái nhiều mà nó được cấu thành; nó là sự kiện được biểu lộ của tính cố kết bẩm sinh, của hợp nhất, của tổng hợp và của liên hệ. Prana hồng trần hay hành tinh (dạng thấp nhất của năng lượng prana) là sự sống của tổng thể các nguyên tử (mà mọi hình tướng bên ngoài đều được cấu thành từ đó) khi chúng được đưa vào liên hệ với cấu trúc nguyên tử biệt lập của thể xác đậm đặc của một linh hồn phú linh cá biệt trong bất kỳ giới nào của bản chất—đặc biệt, từ điểm nghiên cứu của chúng ta, là giới nhân loại. Điều đúng trong mối liên hệ này đối với cá nhân hay đối với [635] con người, tiểu thiên địa, cũng đúng đối với hành tinh, vốn—giống như con người—là một toàn thể cố kết. Tính toàn thể này là do mối liên hệ của hai phương diện sự sống: sự sống của Hành Tinh Thượng đế và sự sống của tinh linh địa cầu, vốn là sự sống của tổng thể mọi nguyên tử cấu thành mọi hình tướng. Với tổng thể chất liệu sống này, của sự sống hành khí này, thể xác đậm đặc của con người phù hợp và vì thế là biểu tượng. Hai sự sống này, hoạt động ở cấp tiểu thiên địa và cả đại thiên địa, tạo ra năng lượng prana sống động lưu chuyển khắp các thể dĩ thái của mọi hình tướng, tạo ra sự cố kết hay sự gắn kết tổng hợp, và có thể được phân biện khi phương diện đậm đặc nhất của thể dĩ thái được nhìn thấy, nhờ đó tạo ra hào quang sức khoẻ nơi cây cỏ, cây lớn, sinh vật biển, động vật và con người. Những năng lượng và mãnh lực khác lưu chuyển qua và tác động lên hiện thể dĩ thái, nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến phương diện hồng trần thấp nhất. Điều này biểu thị sự sống của hành khí của hành tinh chúng ta, tinh linh địa cầu—một sự sống thiêng liêng, đang tự mình tiến bước trên cung giáng hạ tiến hoá của biểu hiện.

This spirit of the earth preserves its hold upon the atomic structures of which all forms are made, including the physical body of man; it gathers them together again eventually and reabsorbs those elements of its life which were temporarily isolated from it during any incarnated experience of any soul in any of the kingdoms in nature. These atoms, it must be noted, are imbued or conditioned by two factors for which the spirit of the earth is solely responsible:

Tinh linh địa cầu này duy trì sự nắm giữ của nó trên các cấu trúc nguyên tử mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành, kể cả thể xác của con người; cuối cùng nó lại tập hợp chúng và tái hấp thu những yếu tố sự sống của nó vốn đã tạm thời bị tách khỏi nó trong bất kỳ kinh nghiệm lâm phàm nào của bất kỳ linh hồn nào trong bất kỳ giới nào của bản chất. Cần lưu ý rằng các nguyên tử này được thấm nhuần hay được tác động bởi hai yếu tố mà tinh linh địa cầu hoàn toàn chịu trách nhiệm:

1. The factor of the Karma of the life of the elemental of the planet. This is an involutionary, precipitating karma, entirely different to that of the planetary Logos, Who is a spiritual Life upon the evolutionary arc. This involutionary karma, therefore, conditions the life experience [636] from the purely physical angle of all forms composed of atomic substance.

1. Yếu tố nghiệp quả của sự sống của hành khí của hành tinh. Đây là một nghiệp quả giáng hạ tiến hoá, ngưng tụ, hoàn toàn khác với nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế, Đấng là một Sự sống tinh thần trên cung tiến hoá. Vì vậy, nghiệp quả giáng hạ tiến hoá này tác động lên kinh nghiệm sống [636] từ góc độ thuần hồng trần của mọi hình tướng được cấu thành từ tinh chất hành khí nguyên tử này.

2. The factor of limitation. Apart from the karma, resulting in physical events, affecting all physical forms composed of this elemental essence, the physical vehicles of all lives in all the kingdoms of nature are also conditioned by the point in time of the cyclic influence of the planetary spirit and by its point in evolution. This involutionary spirit has not yet attained a point of perfection, but is progressing towards a specific goal which will be attained when the evolutionary arc of experience is reached. This lies very far ahead. Our planetary Logos, that great divine Life in Whom we live and move and have our being, is one of the “imperfect Gods” as yet, from the point of view of the goal set before all planetary Logoi. His body of expression, our planet, the Earth, is not yet a sacred planet. The spirit of the earth is yet very far from even the relative perfection of which a conscious human being is aware.

2. Yếu tố giới hạn. Ngoài nghiệp quả, vốn dẫn đến các biến cố hồng trần ảnh hưởng đến mọi hình tướng hồng trần được cấu thành từ tinh chất hành khí này, các hiện thể hồng trần của mọi sự sống trong mọi giới của bản chất cũng còn bị tác động bởi điểm thời gian của ảnh hưởng chu kỳ của tinh linh hành tinh và bởi điểm tiến hoá của nó. Tinh linh giáng hạ tiến hoá này chưa đạt đến một điểm hoàn hảo, nhưng đang tiến tới một mục tiêu xác định sẽ đạt được khi cung tiến hoá của kinh nghiệm được chạm đến. Điều này còn ở rất xa phía trước. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Sự sống thiêng liêng vĩ đại mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, vẫn là một trong những “các Thượng đế bất toàn,” xét từ quan điểm của mục tiêu được đặt ra trước mọi Hành Tinh Thượng đế. Thể biểu lộ của Ngài, hành tinh chúng ta là Trái Đất, vẫn chưa phải là một hành tinh thiêng liêng. Tinh linh địa cầu còn rất xa mới đạt đến ngay cả sự hoàn hảo tương đối mà một con người có ý thức nhận biết được.

The point in evolution of the spirit of the earth affects every atom in his body—the body of an involutionary entity. The result of this imperfection, which is not that of the planetary Logos but that of the spirit of the earth, shows itself in the presence of disease in all forms in all the kingdoms of nature. Minerals are subject to disease and decay; even the “fatigue” of metals is a registered scientific fact; plants and animals all react to disease within the structure of their forms, and disease and death are inherent in the atom of which all organisms are composed. Man is not exempt. Disease, therefore, is not brought about by wrong thinking, as oft I have told you, or by any failure to affirm divinity. It is inherent in the form nature itself, being indicative of the imperfections from which the spirit of the earth suffers; [637] it is the mode par excellence whereby this elemental life retains integrity and the capacity to reabsorb that which is his but which has been brought under other direction by the attractive potency of the life of that which informs every other kingdom in nature during a cycle of incarnation. This will give you surely a new idea anent disease. Man creates, under soul impulsion and the will to incarnate, a form which is composed of substance already subjected to conditioning; it is already impregnated with the life impulses of the spirit of the earth. Man, in so doing, assumes responsibility for that elemental form but—at the same time—limits himself definitely by the nature of the atoms of which that form is composed. The atomic substance through which the spirit of the earth expresses itself has in it ever the “seeds of return,” permitting a reabsorption. This substance is also composed of all grades and qualities of matter, from the very coarsest up to the very finest, as for instance the quality of the substance which makes the appearance of the Buddha or of the Christ possible. The Lord of the Earth, the planetary Logos, cannot find substance animated by the spirit of the earth of a quality and nature pure enough; He cannot, therefore, materialise or make an appearance, as can the Buddha or the Christ. Few of Those who form the Council Chamber at Shamballa can find the needed or adequate substance by means of which to appear; They cannot take a dense physical body, and have to be content with an etheric vehicle. There are therefore three types of life, affecting the dense appearance of a human being during his restricted manifestation or incarnation:

Điểm tiến hoá của tinh linh địa cầu ảnh hưởng đến mọi nguyên tử trong thể của y—thể của một thực thể giáng hạ tiến hoá. Kết quả của sự bất toàn này, vốn không phải là của Hành Tinh Thượng đế mà là của tinh linh địa cầu, biểu lộ trong sự hiện diện của bệnh tật nơi mọi hình tướng trong mọi giới của bản chất. Khoáng vật chịu bệnh tật và phân rã; ngay cả “sự mỏi mệt” của kim loại cũng là một sự kiện đã được khoa học ghi nhận; thực vật và động vật đều phản ứng với bệnh tật trong cấu trúc hình tướng của chúng, và bệnh tật cùng cái chết vốn cố hữu trong nguyên tử mà từ đó mọi cơ thể được cấu thành. Con người cũng không được miễn trừ. Vì vậy, bệnh tật không do tư tưởng sai lầm gây ra, như tôi thường nói với các bạn, cũng không do bất kỳ sự thất bại nào trong việc khẳng định thiên tính. Nó vốn cố hữu trong chính bản chất hình tướng, là dấu hiệu cho những bất toàn mà tinh linh địa cầu đang chịu đựng; [637] đó là phương thức ưu việt nhất nhờ đó sự sống hành khí này duy trì tính toàn vẹn và khả năng tái hấp thu điều vốn là của y nhưng đã bị đặt dưới sự điều hướng khác bởi tiềm lực hấp dẫn của sự sống của cái đang thấm nhuần mọi giới khác trong bản chất trong một chu kỳ lâm phàm. Điều này chắc chắn sẽ đem lại cho các bạn một ý niệm mới liên quan đến bệnh tật. Con người tạo ra, dưới sự thúc đẩy của linh hồn và ý chí lâm phàm, một hình tướng được cấu thành từ chất liệu đã chịu sự tác động định hình; nó đã được thấm đẫm những xung lực sự sống của tinh linh địa cầu. Khi làm như vậy, con người nhận lấy trách nhiệm đối với hình tướng hành khí đó nhưng—đồng thời—cũng tự giới hạn mình một cách rõ rệt bởi bản chất của các nguyên tử mà từ đó hình tướng ấy được cấu thành. Chất liệu nguyên tử mà qua đó tinh linh địa cầu biểu lộ chính mình luôn chứa trong nó “những hạt giống của sự trở về,” cho phép một sự tái hấp thu. Chất liệu này cũng được cấu thành từ mọi cấp độ và phẩm tính của vật chất, từ thô nhất đến tinh tế nhất, như chẳng hạn phẩm tính của chất liệu làm cho sắc tướng của Đức Phật hay của Đức Christ trở nên khả hữu. Đức Chúa Tể của Địa Cầu, Hành Tinh Thượng đế, không thể tìm được chất liệu được tinh linh địa cầu linh hoạt hóa có phẩm tính và bản chất đủ thuần khiết; vì vậy, Ngài không thể hiện hình hay xuất hiện như Đức Phật hoặc Đức Christ có thể làm. Chỉ ít vị trong số Những Đấng tạo thành Phòng Hội Đồng tại Shamballa có thể tìm được chất liệu cần thiết hay thích đáng để xuất hiện; Các Ngài không thể mang một thể xác hồng trần đậm đặc, và phải bằng lòng với một vận cụ dĩ thái. Vì vậy có ba loại sự sống ảnh hưởng đến sắc tướng đậm đặc của một con người trong sự biểu hiện hạn định hay sự lâm phàm của y:

1. The life of the spiritual man himself, transmitted from the Monad, via the soul for the greater part of manifested existence. [638]

1. Sự sống của chính con người tinh thần, được truyền từ chân thần, qua linh hồn trong phần lớn thời kỳ tồn tại biểu hiện. [638]

2. The life of that sumtotal which is the elemental life of the fourth kingdom in nature, the human; this life is still an aspect (under the Law of Isolation or Limitation) of the life of the spirit of the earth.

2. Sự sống của tổng thể vốn là sự sống hành khí của giới thứ tư trong bản chất, tức giới nhân loại; sự sống này vẫn còn là một phương diện (dưới Định luật Cô Lập hay Giới Hạn) của sự sống của tinh linh địa cầu.

3. The sumtotal of the life which is innate in atomic substance itself-the substance out of which all forms are made. This is the life of the spirit of the earth.

3. Tổng thể sự sống vốn bẩm sinh trong chính chất liệu nguyên tử—chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo nên. Đây là sự sống của tinh linh địa cầu.

We are not here referring to the soul in an atom or the soul of any form, great or small; we are referring exclusively to the life or first aspect. This expresses itself as the will-to-be; it is only active, though ever present, during form life or the phase of created manifestation. It is here that the Will factor makes its appearance and the relation between will, form and incarnation is to be found.

Ở đây chúng ta không nói đến linh hồn trong một nguyên tử hay linh hồn của bất kỳ hình tướng nào, lớn hay nhỏ; chúng ta chỉ nói riêng đến sự sống hay phương diện thứ nhất. Nó biểu lộ như ý chí-tồn tại; nó chỉ hoạt động, dù luôn hiện diện, trong đời sống hình tướng hay giai đoạn biểu hiện được tạo ra. Chính ở đây yếu tố Ý chí xuất hiện và mối liên hệ giữa ý chí, hình tướng và lâm phàm được tìm thấy.

One of the factors governing incarnation is the presence of what is called the will-to-live; when that is to be found, and when it is powerful in man, he is strongly anchored upon the physical plane: when that is not strongly present or is withdrawn, the man dies. Life in the physical body is preserved, technically and occultly, under the impulse of the powerful will-to-be of the incarnated spiritual man upon the magnetic power of the planetary life, inherent in every atom of the form nature; by means of these atoms-isolated and held by the Law of Attraction in form-he has come into being upon the physical plane. This magnetic power is the expression of the will (if such a word can be applied to the sense of coherency which distinguishes the spirit of the earth) of the planetary entity. It is a projection of his peculiar state of consciousness into an isolated form, created, occupied and indwelt by a soul, by a living man.

Một trong những yếu tố chi phối sự lâm phàm là sự hiện diện của cái được gọi là ý chí-sống; khi điều đó hiện diện, và khi nó mạnh nơi con người, y được neo rất chặt trên cõi hồng trần: khi nó không hiện diện mạnh mẽ hoặc bị rút đi, con người chết. Sự sống trong thể xác được duy trì, về mặt kỹ thuật và huyền bí học, dưới xung lực của ý chí-tồn tại mạnh mẽ của con người tinh thần đang lâm phàm tác động lên quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, vốn cố hữu trong mọi nguyên tử của bản chất hình tướng; nhờ các nguyên tử này—được cô lập và được giữ trong hình tướng bởi Định luật Hấp Dẫn—y đã hiện hữu trên cõi hồng trần. Quyền năng từ tính này là biểu hiện của ý chí (nếu có thể dùng từ như vậy cho cảm thức cố kết vốn phân biệt tinh linh địa cầu) của thực thể hành tinh. Nó là một sự phóng chiếu trạng thái tâm thức đặc thù của y vào một hình tướng cô lập, được tạo ra, được chiếm giữ và được một linh hồn, một con người sống, cư ngụ.

[639]

[639]

I have several times used the expression “isolated form,” for it is this peculiar aspect of isolation which conditions the physical body of a man (or of any living form, for that matter), rendering it detached, coherent and temporarily living its own life in response to the imposition of the livingness of the incarnating soul. Temporarily, the united power of the segregated and isolated atoms—particularly the planetary structure of the spirit of the earth—is in abeyance as regards individual reaction to the planetary life. Only the coherent, magnetic qualities persist in any form of activity and in conjunction with the will-to-live of the spiritual man or of any ensouling entity. This creates a coherent form, held together by two aspects of livingness: that of the spirit of the earth and that of the spiritual man. Therefore-to use words in an effort to arrive at understanding—two aspects of life and two forms of will or purpose are brought together. The higher is evolutionary; the lower is involutionary in nature. It is this which creates the conflict. One type of energy is evolutionary and the other is involutionary. It is these conflicting forces which present the problem of dualism—a dualism of the higher and the lower at many differing and varying stages. The final phase of the conflict is fought out, or rather wrought out, when the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence face each other. It is in that consummating event that the pull or conflict between the involutionary life and the evolutionary life, between the inchoate, magnetic will of the elemental forces (inherent in the atoms of which all three bodies of the personality are made) and the will of the spiritual man, on the verge of liberation from the magnetic control of substance, is brought to the issue. The spirit of the earth has its correspondence in the created expression of the spiritual man; it is to be found in the existence of the personality elemental; this personality [640] elemental can be and frequently is an inchoate force, swayed entirely by desire, and no true personality integration is present; it can, however, be a highly organised and potent factor, producing what is called a high grade personality and an effective instrument for the spiritual man in the three worlds of his evolution. This is followed later by the conflicts upon the Path of Discipleship and the Path of Initiation. Then the livingness of the spiritual man, and his will to manifest divinely, dominate to such an extent that the death of the personality is brought about; this culminates at the time of the third initiation. At that experience the monadic will comes in with such dynamic potency that the will of the elemental lives of the threefold personality is completely negated.

Tôi đã nhiều lần dùng cụm từ “hình tướng cô lập,” vì chính phương diện cô lập đặc thù này tác động định hình thể xác của một con người (hay của bất kỳ hình tướng sống nào, nếu nói cho đúng), khiến nó tách rời, cố kết và tạm thời sống đời sống riêng của nó để đáp ứng với sự áp đặt của sinh động lực của linh hồn đang nhập thể. Tạm thời, quyền năng hợp nhất của các nguyên tử bị phân tách và cô lập—đặc biệt là cấu trúc hành tinh của tinh linh địa cầu—ở trong trạng thái đình chỉ xét về phản ứng cá nhân đối với sự sống hành tinh. Chỉ các phẩm tính cố kết, từ tính còn tồn tại trong bất kỳ hình thức hoạt động nào và kết hợp với ý chí-sống của con người tinh thần hay của bất kỳ thực thể phú linh nào. Điều này tạo ra một hình tướng cố kết, được giữ lại với nhau bởi hai phương diện của sinh động lực: của tinh linh địa cầu và của con người tinh thần. Vì vậy—dùng ngôn từ để cố đạt đến sự thấu hiểu—hai phương diện của sự sống và hai hình thức của ý chí hay mục đích được đưa lại với nhau. Cái cao hơn thì thăng thượng tiến hoá; cái thấp hơn thì có bản chất giáng hạ tiến hoá. Chính điều này tạo ra xung đột. Một loại năng lượng là thăng thượng tiến hoá và loại kia là giáng hạ tiến hoá. Chính các mãnh lực xung đột này tạo ra vấn đề nhị nguyên tính—một nhị nguyên tính của cái cao và cái thấp ở nhiều giai đoạn khác nhau và biến đổi. Giai đoạn cuối cùng của cuộc xung đột được chiến đấu, hay đúng hơn được giải quyết, khi Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện đối diện nhau. Chính trong biến cố hoàn tất đó mà lực kéo hay xung đột giữa sự sống giáng hạ tiến hoá và sự sống thăng thượng tiến hoá, giữa ý chí từ tính sơ khai của các mãnh lực hành khí (cố hữu trong các nguyên tử mà từ đó cả ba thể của phàm ngã được tạo nên) và ý chí của con người tinh thần, đang ở ngưỡng giải thoát khỏi sự kiểm soát từ tính của chất liệu, được đưa đến chỗ quyết định. Tinh linh địa cầu có sự tương ứng của nó trong biểu hiện được tạo ra của con người tinh thần; nó được tìm thấy trong sự hiện hữu của hành khí phàm ngã; hành khí phàm ngã này [640] có thể là, và thường là, một mãnh lực sơ khai, hoàn toàn bị dục vọng chi phối, và không có sự tích hợp phàm ngã chân chính nào hiện diện; tuy nhiên, nó cũng có thể là một yếu tố được tổ chức cao và đầy tiềm lực, tạo ra cái được gọi là một phàm ngã cao cấp và một công cụ hữu hiệu cho con người tinh thần trong ba cõi thấp của sự tiến hoá của y. Tiếp theo đó về sau là các xung đột trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo. Khi ấy sinh động lực của con người tinh thần, và ý chí của y muốn biểu hiện một cách thiêng liêng, chi phối đến mức cái chết của phàm ngã được mang lại; điều này đạt cực điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. Trong kinh nghiệm đó, ý chí chân thần đi vào với tiềm lực năng động đến nỗi ý chí của các sự sống hành khí của phàm ngã tam phân bị phủ định hoàn toàn.

But (to return to our theme) the atomic substance, impregnated with the life of the spirit of the earth and with the driving force of its inchoate will, demonstrates as magnetic power and is constantly in conflict, within the body of manifestation of the informing soul, with the life of the soul. This conflict or friction is the main cause of what you call disease.

Nhưng (để trở lại chủ đề của chúng ta), chất liệu nguyên tử, được thấm đẫm sự sống của tinh linh địa cầu và mãnh lực thúc đẩy của ý chí sơ khai của nó, biểu lộ thành quyền năng từ tính và luôn luôn xung đột, bên trong thể biểu hiện của linh hồn đang thấm nhuần, với sự sống của linh hồn. Xung đột hay ma sát này là nguyên nhân chính của điều các bạn gọi là bệnh tật.

Disease is inharmony; it is the fault of fire by friction; diseased areas are areas of friction wherein the atomic substance is temporarily asserting its own type of livingness and responding (sometimes to the point of death) to the magnetic pull of the will of the spirit of the earth. If that pull proves adequately strong, the friction within the atomic structure, localised in the area of some etheric centre, will be of such a nature that the quality of the disease increases, the life of the spiritual man is slowly or rapidly withdrawn; the desire for existence, the spiritual will-to-he is not then as strong as the will to be reabsorbed—the will of the atoms constituting the physical body; the man, therefore, dies, in the usual sense of the term.

Bệnh tật là sự bất hoà; đó là lỗi của lửa ma sát; những vùng bệnh là những vùng ma sát trong đó chất liệu nguyên tử tạm thời đang khẳng định loại sinh động lực riêng của nó và đáp ứng (đôi khi đến mức chết) với lực kéo từ tính của ý chí của tinh linh địa cầu. Nếu lực kéo đó tỏ ra đủ mạnh, ma sát trong cấu trúc nguyên tử, được định vị trong khu vực của một trung tâm dĩ thái nào đó, sẽ có bản chất đến mức phẩm tính của bệnh gia tăng, sự sống của con người tinh thần bị rút đi chậm hay nhanh; dục vọng hiện hữu, ý chí-tồn tại tinh thần khi ấy không mạnh bằng ý chí được tái hấp thu—ý chí của các nguyên tử cấu thành thể xác; vì vậy, con người chết, theo nghĩa thông thường của từ này.

[641]

[641]

The planetary life says, “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.” The urge to return is at present the dominant note in the substance of the bodies of humanity; it is responsible for the universal ill health which distinguishes the mass of human beings; this tendency has been dominant for centuries; the attitude is, however, slowly changing, and the time will eventually come when the atoms of the bodies, or the elemental forces, will be sent back along the path of reabsorption only at the will of the spiritual man and in response to his express command, and not in response to the magnetic power of the spirit of the earth.

Sự sống hành tinh nói: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.” Hiện nay, xung lực trở về là âm điệu chủ đạo trong chất liệu của các thể của nhân loại; nó chịu trách nhiệm cho tình trạng sức khỏe kém phổ quát vốn phân biệt quần chúng nhân loại; khuynh hướng này đã chiếm ưu thế trong nhiều thế kỷ; tuy nhiên, thái độ ấy đang chậm rãi thay đổi, và rồi sẽ đến lúc các nguyên tử của các thể, hay các mãnh lực hành khí, sẽ chỉ được gửi trở lại theo con đường tái hấp thu theo ý chí của con người tinh thần và để đáp ứng mệnh lệnh minh nhiên của y, chứ không phải để đáp ứng quyền năng từ tính của tinh linh địa cầu.

We have seen—as we considered the Laws and Rules to date—that fundamentally, disease and death are due to the withdrawal of solar life (the energy of the soul, sometimes called solar fire) either from some particular area of the physical body or from the entire body. This fact should remind students of the need to distinguish between the force or life of the “lunar lords,” inherent in every atom of which all organs and forms are made, and the energy of the soul which permeates the entire body as an integrating factor. Speaking symbolically, therefore, there are times in which the life of these lunar lords are so dominant that the life of the soul is overpowered in some particular area, and the consequent withdrawal of the solar life produces disease; or-putting it another way-the friction which ensues when the lunar lords are not compliant produces disease. Yet death is not indicative of a full victory of the lunar lords, but rather that under the plan of the soul, and because the life cycle is complete, the energy of the soul is entirely withdrawn, leaving the lunar lords alone. At times (because it is also in the planning of the soul) the lunar lords temporarily are the victors, though death does not follow; convalescence is significant of the gradual re-entry of soul energy and its subsequent control [642] of the lunar lords. This aspect of soul energy is not that of those energies which represent and lead to the expression of soul quality. It is life energy, coming from the Monad which passes through the soul as a channel and medium of contact; its direct channel is, needless to say, the sutratma. It is not the antahkarana, or the creative thread or the thread of consciousness. These are frequently rendered inactive when acute disease is present, and the life aspect is weakening or rapidly or slowly withdrawing itself.

Như chúng ta đã thấy—khi xem xét các Định luật và quy luật cho đến nay—về căn bản, bệnh tật và cái chết là do sự rút lui của sự sống thái dương (năng lượng của linh hồn, đôi khi được gọi là lửa thái dương) hoặc khỏi một khu vực đặc thù nào đó của thể xác hoặc khỏi toàn thể. Sự kiện này nên nhắc các đạo sinh về nhu cầu phải phân biệt giữa mãnh lực hay sự sống của các nguyệt tinh quân, vốn cố hữu trong mọi nguyên tử mà từ đó mọi cơ quan và hình tướng được tạo nên, và năng lượng của linh hồn vốn thấm nhuần toàn thể như một yếu tố tích hợp. Nói một cách biểu tượng, vì vậy, có những lúc sự sống của các nguyệt tinh quân này chiếm ưu thế đến nỗi sự sống của linh hồn bị áp đảo trong một khu vực đặc thù nào đó, và sự rút lui tiếp theo của sự sống thái dương tạo ra bệnh tật; hoặc—nói cách khác—ma sát phát sinh khi các nguyệt tinh quân không thuận phục tạo ra bệnh tật. Tuy nhiên, cái chết không cho thấy một chiến thắng trọn vẹn của các nguyệt tinh quân, mà đúng hơn là dưới Thiên Cơ của linh hồn, và vì chu kỳ sự sống đã hoàn tất, năng lượng của linh hồn được rút đi hoàn toàn, để lại các nguyệt tinh quân một mình. Đôi khi (vì điều đó cũng nằm trong sự hoạch định của linh hồn) các nguyệt tinh quân tạm thời là kẻ chiến thắng, dù cái chết không theo sau; sự hồi phục là dấu hiệu của sự tái nhập dần dần của năng lượng linh hồn và sự kiểm soát tiếp theo [642] của nó đối với các nguyệt tinh quân. Phương diện này của năng lượng linh hồn không phải là phương diện của những năng lượng biểu thị và dẫn đến sự biểu lộ phẩm tính linh hồn. Đó là năng lượng sự sống, đến từ chân thần, đi qua linh hồn như một kênh và trung gian tiếp xúc; kênh trực tiếp của nó, không cần phải nói, là sutratma. Nó không phải là antahkarana, hay sợi dây sáng tạo hoặc Sợi dây Tâm thức/thức tuyến. Những sợi dây này thường trở nên bất hoạt khi có bệnh cấp tính, và phương diện sự sống đang suy yếu hoặc đang rút lui nhanh hay chậm.

You can see, therefore, why it is that those who have succeeded in building the antahkarana, the rainbow bridge between the Monad and the personality, have established a contact (nonexistent in the average man) between the Monad, the Source of Life, and the personality—the expression of that Life in objectivity. The Monad then, and not the soul, controls the cycles of outward expression, and the initiate then dies at will and according to plan or the necessities of the work. This, of course, refers only to initiates of high degree. I felt these points to be interesting and also useful for you to know. Another point, growing out of all the above, indicates the all-inclusiveness of the divine Life, for the lunar lords are aspects of that Life as much as is the energy of the soul.

Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao những ai đã thành công trong việc xây dựng antahkarana, Cây cầu vồng giữa chân thần và phàm ngã, đã thiết lập một tiếp xúc (không hiện hữu nơi con người trung bình) giữa chân thần, Nguồn Sự Sống, và phàm ngã—biểu hiện của Sự sống đó trong tính khách quan. Khi ấy chân thần, chứ không phải linh hồn, kiểm soát các chu kỳ biểu hiện ra bên ngoài, và điểm đạo đồ khi ấy chết theo ý muốn và theo kế hoạch hoặc theo các nhu cầu của công việc. Dĩ nhiên, điều này chỉ nói đến các điểm đạo đồ cấp cao. Tôi cảm thấy những điểm này vừa lý thú vừa hữu ích để các bạn biết. Một điểm khác, phát sinh từ tất cả những điều trên, cho thấy tính bao gồm tất cả của Sự sống thiêng liêng, vì các nguyệt tinh quân cũng là những phương diện của Sự sống đó không kém gì năng lượng của linh hồn.

It is therefore of prime importance that cremation should be encouraged, and not the present method of burial. Cremation returns the life of the lunar lords more rapidly to the central reservoir of life than any other method, for “our God is a consuming Fire” and all fires have affinity with the central Fire.

Vì vậy, điều tối quan trọng là nên khuyến khích hỏa táng, chứ không phải phương pháp chôn cất hiện nay. Hỏa táng đưa sự sống của các nguyệt tinh quân trở về kho chứa sự sống trung tâm nhanh hơn bất kỳ phương pháp nào khác, vì “Thượng đế của chúng ta là một Lửa thiêu đốt” và mọi ngọn lửa đều có sự tương hợp với Lửa trung tâm.

Let us now study the rule which goes with Law VIII.

Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu quy luật đi kèm với Định luật VIII.

RULE FIVE — QUY LUẬT NĂM

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures [643] disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ đó y có thể tuôn mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa [643] bệnh hoặc làm tăng tình trạng xấu, tùy theo tri thức của nhà chữa lành.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến hai bàn tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng qua sự đáp ứng của hào quang của y đối với bức xạ của hào quang nhà chữa lành, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

From just casually reading this Rule it will be obvious that its significance is vital to all successful healing work. It sums up the two modes of healing, based on two capacities of the healer, founded on two groups of related aspects in the healer’s personality, and indicating two different points in evolution on the part of the healer. An analysis of this Rule will convey a still greater idea of its importance, for it indicates not only the lines along which the healer must train himself, but also certain interior relationships must be present, and these are dependent upon the point in evolution of the healer. Again, in one case the patient’s physical body is the objective of the healing art, whilst in the other it is the patient’s soul which feels the effect of the healing energy. In the first case the healer works with the prana or vital planetary fluid, and in the other with soul energy.

Chỉ cần đọc lướt qua Quy luật này, sẽ hiển nhiên rằng thâm nghĩa của nó có tính sống còn đối với mọi công việc chữa lành thành công. Nó tóm lược hai phương thức chữa lành, dựa trên hai năng lực của nhà chữa lành, đặt nền trên hai nhóm phương diện liên hệ trong phàm ngã của nhà chữa lành, và chỉ ra hai điểm tiến hoá khác nhau nơi nhà chữa lành. Một sự phân tích Quy luật này sẽ truyền đạt một ý niệm còn lớn hơn về tầm quan trọng của nó, vì nó không những chỉ ra các đường hướng mà nhà chữa lành phải tự huấn luyện, mà còn cho thấy một số tương quan nội tại phải hiện diện, và những tương quan này tùy thuộc vào điểm tiến hoá của nhà chữa lành. Lại nữa, trong một trường hợp, thể xác của bệnh nhân là mục tiêu của nghệ thuật chữa lành, trong khi ở trường hợp kia chính linh hồn của bệnh nhân cảm nhận hiệu quả của năng lượng chữa lành. Trong trường hợp thứ nhất, nhà chữa lành làm việc với prana hay lưu chất sinh lực hành tinh, còn trong trường hợp kia với năng lượng linh hồn.

We can therefore, on the basis of this Rule, divide healers into two groups: one group wielding the vital etheric fluid which we call prana, and the second group working on a much higher level and employing an ability to draw down soul energy into the body (or rather, the personality) of the healer and—from the required centre—to send it forth again into the appropriate centre in the patient’s body, but this time through the stimulation of the patient’s aura controlled by the patient’s soul. The two types of energy are of a widely different quality, for one is purely of the personality and is sometimes called animal magnetism, [644] and the other is of the soul, involving a type of work called radiation.

Vì vậy, trên cơ sở của Quy luật này, chúng ta có thể chia các nhà chữa lành thành hai nhóm: một nhóm vận dụng lưu chất dĩ thái sinh lực mà chúng ta gọi là prana, và nhóm thứ hai làm việc ở một cấp độ cao hơn nhiều và sử dụng khả năng kéo năng lượng linh hồn xuống thể (hay đúng hơn là phàm ngã) của nhà chữa lành và—từ trung tâm cần thiết—gửi nó ra lần nữa vào trung tâm thích hợp trong thể bệnh nhân, nhưng lần này thông qua sự kích thích hào quang của bệnh nhân do linh hồn bệnh nhân kiểm soát. Hai loại năng lượng này có phẩm tính rất khác nhau, vì một loại hoàn toàn thuộc về phàm ngã và đôi khi được gọi là từ điện động vật, [644] còn loại kia thuộc về linh hồn, bao hàm một loại công việc được gọi là bức xạ.

It should be noted here that in reality we have three types of healers:

Ở đây cần lưu ý rằng trên thực tế chúng ta có ba loại nhà chữa lành:

1. The healer who works purely through magnetism and brings to bear the healing vital life of the planetary etheric body as it uses his individual etheric body as a channel whereby prana can pour into the vital body of the patient.

1. Nhà chữa lành làm việc hoàn toàn qua từ điện và vận dụng sự sống sinh lực chữa lành của thể dĩ thái hành tinh khi nó dùng thể dĩ thái cá nhân của y như một kênh để prana có thể tuôn vào thể sinh lực của bệnh nhân.

2. The healer who works on a higher level, and necessarily therefore with a higher type of patient; he uses the energy of his own overshadowing soul in conjunction with the energy of his individualised soul, and thereby radiates it forth into the soul of the patient, via both of the auras.

2. Nhà chữa lành làm việc ở cấp độ cao hơn, và do đó tất yếu với một loại bệnh nhân cao hơn; y sử dụng năng lượng của linh hồn phủ bóng của chính mình kết hợp với năng lượng của linh hồn biệt ngã hóa của mình, và nhờ đó bức xạ nó vào linh hồn của bệnh nhân, qua cả hai hào quang.

3. The healer who can employ both techniques and whose range of contacts and possibilities of usefulness are far greater than the other two. He can employ with equal facility the energy of the soul or the vital pranic force, and has therefore mastered the two techniques which govern the two sets of related faculties. This class of healer is much rarer than the other two.

3. Nhà chữa lành có thể sử dụng cả hai kỹ thuật và có phạm vi tiếp xúc cùng khả năng hữu dụng lớn hơn nhiều so với hai loại kia. Y có thể sử dụng với sự dễ dàng ngang nhau năng lượng linh hồn hoặc mãnh lực prana sinh lực, và vì vậy đã làm chủ hai kỹ thuật chi phối hai bộ năng lực liên hệ. Loại nhà chữa lành này hiếm hơn nhiều so với hai loại kia.

At present, in the modern world, there is no true system of spiritual healing taught to would-be healers. There is instead an effort to base the whole procedure, plus the techniques employed, on purely mental levels, on systems of affirmation, modes of prayer, stimulation of the patient’s will-to-live, and occasionally the use of magnetic or hypnotic passes in relation to the etheric body: various forms of applied subjective thinking are taught, but no true formula for an intelligent and expected cure, only the vague faith of the healer and of the patient and a blind autosuggestion [645] as to what the recognition and affirmation of divinity ought to produce.

Hiện nay, trong thế giới hiện đại, không có hệ thống chữa lành tinh thần chân chính nào được dạy cho những người muốn trở thành nhà chữa lành. Thay vào đó là một nỗ lực đặt toàn bộ tiến trình, cùng các kỹ thuật được sử dụng, trên các cấp độ thuần trí tuệ, trên các hệ thống khẳng định, các phương thức cầu nguyện, sự kích thích ý chí-sống của bệnh nhân, và đôi khi là việc dùng các động tác từ tính hay thôi miên liên quan đến thể dĩ thái: nhiều hình thức tư tưởng chủ quan được áp dụng được giảng dạy, nhưng không có công thức chân chính nào cho một sự chữa lành thông minh và có thể trông đợi, mà chỉ có niềm tin mơ hồ của nhà chữa lành và của bệnh nhân cùng một sự tự ám thị mù quáng [645] về điều mà sự nhận biết và khẳng định thiên tính lẽ ra phải tạo ra.

True healing, however, is based on certain broad principles which require definite mental acceptance; the methods, nevertheless, which are employed are as definitely physical, using the etheric currents and the centres in the etheric body, as the laying on of hands and the establishing of relations which affect the physical body, and which are not at all of a mental nature and do not require to be appropriated and held by the mind of the patient. The etheric body is physical in nature, and this must not be forgotten and needs frequent reiteration. As we have earlier seen, there are three basic principles, affirmed and believed by the healer who is greatly aided if the patient accepts them also:

Tuy nhiên, sự chữa lành chân chính dựa trên một số nguyên lý rộng lớn đòi hỏi sự chấp nhận trí tuệ rõ rệt; tuy vậy, các phương pháp được sử dụng lại rõ rệt là hồng trần, dùng các dòng dĩ thái và các trung tâm trong thể dĩ thái, cũng như việc đặt tay và thiết lập các mối liên hệ ảnh hưởng đến thể xác, và hoàn toàn không có bản chất trí tuệ cũng không đòi hỏi phải được thể trí của bệnh nhân tiếp nhận và giữ lấy. Thể dĩ thái có bản chất hồng trần, và điều này không được quên và cần được nhắc lại thường xuyên. Như chúng ta đã thấy trước đây, có ba nguyên lý căn bản, được nhà chữa lành khẳng định và tin tưởng, và y được trợ giúp rất nhiều nếu bệnh nhân cũng chấp nhận chúng:

1. There is no reality in separation. The planetary etheric body is a whole, unbroken and continuous; of this etheric body, those of the healer and the patient are integral, intrinsic parts.

1. Không có thực tại nào trong sự phân ly. Thể dĩ thái hành tinh là một toàn thể, không đứt đoạn và liên tục; trong thể dĩ thái này, thể của nhà chữa lành và của bệnh nhân là những phần toàn vẹn, nội tại.

2. There is an unbreakable (though probably unrealised) relationship between the healer’s etheric body and that of the patient, which can be used when once contact has been induced, for a definite circulation of energies.

2. Có một mối liên hệ không thể phá vỡ (dù có lẽ không được nhận biết) giữa thể dĩ thái của nhà chữa lành và của bệnh nhân, có thể được sử dụng một khi tiếp xúc đã được tạo ra, cho một sự lưu chuyển năng lượng xác định.

3. The channels of relationship can be conductors of many different types of energy, transmitted by the healer to the patient. In this fact lies both hope and danger.

3. Các kênh liên hệ có thể là những vật dẫn của nhiều loại năng lượng khác nhau, được nhà chữa lành truyền cho bệnh nhân. Chính trong sự kiện này có cả hy vọng lẫn nguy hiểm.

There are other principles, but in connection with this Rule these three are essential and explanatory. Much consequently depends upon the knowledge, the understanding and the perceptiveness of the healer. The danger in both radiatory healing and magnetic healing consists in the fact that [646] where there is no trained healer, the amount of prana brought in or of soul energy distributed may produce death, as well as life. A healer may charge his etheric body with so much prana and project it so violently into the etheric body of the patient that he may do far more harm than good. Only long practice can teach the healer the right amount of energy to emit, and to learn this he would do well to use as little energy as possible, gradually increasing the quantity as he attains skill in action. Speaking in a broad and general way, and with the reminder that there are many exceptions to all rules, the magnetic healer will work with less developed people than will the spiritual healer using soul radiation, and he will deal primarily with those diseases which are found below the diaphragm. Spiritual healers work primarily with the upper part of the body, through the centres above the diaphragm and with the head centre, thereby controlling all centres in the entire body. Their work is most delicate and subtle and involves far greater risks. The true healer who is an initiate employs both methods with equal facility.

Còn có những nguyên lý khác, nhưng liên quan đến Quy luật này thì ba nguyên lý này là thiết yếu và có tính giải thích. Do đó, nhiều điều tùy thuộc vào tri thức, sự thấu hiểu và khả năng cảm nhận tinh tế của nhà chữa lành. Mối nguy trong cả chữa lành bằng bức xạ lẫn chữa lành bằng từ tính nằm ở chỗ [646] khi không có nhà chữa lành được huấn luyện, lượng prana được đưa vào hay năng lượng linh hồn được phân phối có thể gây ra cái chết cũng như sự sống. Một nhà chữa lành có thể nạp vào thể dĩ thái của mình quá nhiều prana và phóng chiếu nó quá mãnh liệt vào thể dĩ thái của bệnh nhân đến nỗi y có thể gây hại nhiều hơn lợi. Chỉ có thực hành lâu dài mới có thể dạy nhà chữa lành lượng năng lượng đúng cần phát ra, và để học điều này, y nên dùng càng ít năng lượng càng tốt, rồi dần dần tăng số lượng khi đạt được kỹ năng trong hành động. Nói một cách rộng và tổng quát, và xin nhắc rằng có nhiều ngoại lệ đối với mọi quy luật, nhà chữa lành từ tính sẽ làm việc với những người kém phát triển hơn so với nhà chữa lành tinh thần dùng bức xạ linh hồn, và y sẽ chủ yếu đề cập đến những bệnh được tìm thấy bên dưới cơ hoành. Các nhà chữa lành tinh thần chủ yếu làm việc với phần trên của thể, qua các trung tâm phía trên cơ hoành và với trung tâm đầu, nhờ đó kiểm soát mọi trung tâm trong toàn thể. Công việc của họ tinh tế và vi tế hơn nhiều và bao hàm những rủi ro lớn hơn nhiều. Nhà chữa lành chân chính là một điểm đạo đồ sử dụng cả hai phương pháp với sự dễ dàng ngang nhau.

It is interesting, though not particularly useful to you, to point out that there are two other classes of healers who are sometimes found. They work quite differently to either of the methods mentioned above. They are:

Thật lý thú, dù không đặc biệt hữu ích cho các bạn, khi chỉ ra rằng còn có hai loại nhà chữa lành khác đôi khi được tìm thấy. Họ làm việc hoàn toàn khác với cả hai phương pháp đã nêu trên. Họ là:

1. Certain healers—few and far between—who have set up a relation with the spirit of the earth, the Ruler of all the lunar lords. Under certain formulas and given a certain amount of practice, these healers can invoke his aid and—in fact—command it. I do not advise any interested student to ponder overmuch along this line or to endeavour to set up a contact or to invoke his aid. Only initiates of high degree can deal safely with this powerful involutionary Elemental; they do so [647] only in connection with epidemics and international catastrophes such as the world war, in which thousands and thousands of bodies were involved. An individual not highly developed who endeavoured to establish rapport would probably only succeed in stimulating the lunar lords of his own little system to such an extent that his lower nature would be unduly energised—sometimes even to the point of death.

1. Một số nhà chữa lành—rất hiếm—đã thiết lập được một mối liên hệ với tinh linh địa cầu, Đấng cai quản mọi nguyệt tinh quân. Dưới những công thức nhất định và với một mức độ thực hành nào đó, các nhà chữa lành này có thể khẩn cầu sự trợ giúp của y và—thực ra—ra lệnh cho nó. Tôi không khuyên bất kỳ đạo sinh quan tâm nào suy ngẫm quá nhiều theo đường hướng này hay cố gắng thiết lập tiếp xúc hoặc khẩn cầu sự trợ giúp của y. Chỉ các điểm đạo đồ cấp cao mới có thể xử lý an toàn Hành khí giáng hạ tiến hoá đầy quyền năng này; Các Ngài làm như vậy [647] chỉ liên quan đến các dịch bệnh và các thảm họa quốc tế như chiến tranh thế giới, trong đó hàng ngàn và hàng ngàn thể xác có liên quan. Một cá nhân không phát triển cao mà cố gắng thiết lập sự giao cảm có lẽ chỉ thành công trong việc kích thích các nguyệt tinh quân của hệ nhỏ bé riêng của mình đến mức bản chất thấp của y bị tiếp sinh lực quá mức—đôi khi thậm chí đến mức chết.

2. Other healers, not as few as in the above group but relatively few, work in cooperation with a healing deva. Such devas exist and have the power of bestowing life. They are to the involutionary lunar lords what the great Lives at Shamballa are to us. They are not a menace to humanity but are not readily reached, except at a certain stage upon the Path where, symbolically speaking, a door or point of contact exists between the two evolutions, for the devas are not upon the involutionary arc. Relations are established through affinity, but this can be brought about only by the deva and not by the healer. If the healer is very advanced, his Master may instruct one of the serving devas to aid him. Only healers of great purity and of completely selfless motive can attract these angels, and when they do, the potency of their healing is much greater; they make fewer mistakes. They do not, for instance, attempt to heal patients for whom there is no healing possibility. The Angel of Death (and this time I am not speaking symbolically but am referring to an existing deva) will not permit a healing deva to collaborate: they are only permitted to approach where healing is indicated.

2. Những nhà chữa lành khác, không hiếm như nhóm trên nhưng tương đối ít, làm việc trong sự hợp tác với một thiên thần chữa lành. Những thiên thần như vậy có tồn tại và có quyền năng ban phát sự sống. Đối với các nguyệt tinh quân giáng hạ tiến hoá, họ cũng như các Sự sống vĩ đại tại Shamballa đối với chúng ta. Họ không phải là mối đe dọa cho nhân loại nhưng không dễ tiếp cận, ngoại trừ ở một giai đoạn nào đó trên Con Đường, nơi—nói một cách biểu tượng—có một cánh cửa hay điểm tiếp xúc tồn tại giữa hai cuộc tiến hoá, vì các thiên thần không ở trên cung giáng hạ tiến hoá. Các mối liên hệ được thiết lập qua sự tương hợp, nhưng điều này chỉ có thể được mang lại bởi thiên thần chứ không phải bởi nhà chữa lành. Nếu nhà chữa lành rất tiến bộ, Chân sư của y có thể chỉ thị cho một trong các thiên thần phụng sự trợ giúp y. Chỉ những nhà chữa lành có sự thanh khiết lớn lao và động cơ hoàn toàn vô ngã mới có thể thu hút các thiên thần này, và khi họ làm được như vậy, tiềm lực chữa lành của họ lớn hơn nhiều; họ phạm ít sai lầm hơn. Chẳng hạn, họ không cố chữa cho những bệnh nhân mà đối với họ không có khả năng chữa lành. Thiên Thần của Cái Chết (và lần này tôi không nói theo biểu tượng mà đang nói đến một thiên thần hiện hữu) sẽ không cho phép một thiên thần chữa lành cộng tác: họ chỉ được phép đến gần nơi nào việc chữa lành được chỉ định.

We might now take the sentences in this Rule and study their meaning, as there are more significances in them than appear upon the surface. The first sentence in each [648] paragraph of this Rule starts with an important injunction to the healer:

Bây giờ chúng ta có thể lấy các câu trong Quy luật này và nghiên cứu ý nghĩa của chúng, vì trong đó có nhiều thâm nghĩa hơn là vẻ ngoài biểu lộ. Câu đầu tiên trong mỗi [648] đoạn của Quy luật này bắt đầu bằng một huấn lệnh quan trọng dành cho nhà chữa lành:

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient.

Nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ đó y có thể tuôn mãnh lực chữa lành sinh lực lên bệnh nhân.

This is the technique of the lowest type of true spiritual healer, and for this reason two of the aspects of the dense physical body are included: the brain and the hands. The healer works, therefore, through a triangle and two lines of energy. The situation can be depicted in the following diagram:

Đây là kỹ thuật của loại nhà chữa lành tinh thần chân chính thấp nhất, và vì lý do này mà hai phương diện của thể xác đậm đặc được bao gồm: bộ não và hai bàn tay. Vì vậy, nhà chữa lành làm việc qua một tam giác và hai đường năng lượng. Tình huống này có thể được mô tả trong sơ đồ sau: