The triangle is completed when the healing work is done and the energy is withdrawn from the hands to the brain again and from thence returned by an act of the will to the soul. When the healer (through practiced alignment) has linked up with his soul, he then draws the soul energy down into his heart centre, from whence he transfers it to the brain, where it is definitely focussed using the ajna centre as a distributing centre, he then uses his hands as the agency through which the directed energy can reach that area in the patient’s body where the seat of the trouble is to be found. He passes the energy into the patient’s approximate centre which governs the distressed area, from which it [649] permeates the surrounding part of the body, penetrating both to the centre of the trouble and to the limits of the distressed area.
Tam giác được hoàn tất khi công việc chữa lành được thực hiện và năng lượng được rút từ hai bàn tay trở lại bộ não và từ đó được trả về linh hồn bằng một hành vi của ý chí. Khi nhà chữa lành (qua sự chỉnh hợp đã được thực hành) đã liên kết với linh hồn của mình, y kéo năng lượng linh hồn xuống trung tâm tim, từ đó y chuyển nó đến bộ não, nơi nó được tập trung rõ rệt bằng cách dùng trung tâm ajna như một trung tâm phân phối; rồi y dùng hai bàn tay như tác nhân mà qua đó năng lượng được định hướng có thể đến khu vực trong thể bệnh nhân nơi chỗ ngồi của sự rối loạn được tìm thấy. Y truyền năng lượng vào trung tâm gần đúng của bệnh nhân đang chi phối khu vực đau yếu, từ đó nó [649] thấm khắp phần chung quanh của thể, xuyên vào cả trung tâm của sự rối loạn lẫn các giới hạn của khu vực đau yếu.
There are two ways in which he uses his hands, and two methods which he employs:
Có hai cách y dùng hai bàn tay, và hai phương pháp y sử dụng:
1. The laying on of hands. This method is employed when the diseased area is strictly localised. The hands are laid on the centre in spine or head which may govern that area—the right hand being laid upon the spinal centre and the left hand on the part of the body immediately in front of the special area and over the part of the abdomen, chest or head in which the patient complains of distress. They are held in this position as long as the healer can hold the triangle of soul, heart and brain clearly in consciousness.
1. Đặt tay lên. Phương pháp này được dùng khi khu vực bệnh được định vị chặt chẽ. Hai bàn tay được đặt lên trung tâm ở cột sống hay đầu có thể chi phối khu vực đó—bàn tay phải đặt lên trung tâm cột sống và bàn tay trái đặt lên phần của thể ngay phía trước khu vực đặc thù ấy và trên phần bụng, ngực hay đầu nơi bệnh nhân than phiền đau đớn. Chúng được giữ ở vị trí này chừng nào nhà chữa lành còn có thể giữ tam giác linh hồn, tim và bộ não rõ ràng trong tâm thức.
2. The use of the hands in action. Here the healer, having ascertained the difficulty and then located the needed centre up the spine or in the head, creates a circulation of energy (through the action of his hands) through the centre in the patient’s body controlling the distressed area, and thence outwards through that area towards himself. He uses the right hand first, holding it momentarily over the diseased organ or area and slowly withdraws it towards himself; he follows this rapidly with the left hand which works in the same manner. Both hands, you will note, are now being used positively. No part or aspect of the healer’s body or bodies is ever permitted to be negative, and the fiction that the right hand is positive and the left hand is negative will have to be discarded. If one hand was negative, the healer would be liable to absorb into himself those diseased atoms which, when successful, he draws out of the area of distress. These do not respond to the action of his [650] hands through the medium of the centre in the patient’s body nearest to the seat of trouble, but are drawn out through the area which has responded to the disease.
2. Dùng hai bàn tay trong hành động. Ở đây nhà chữa lành, sau khi đã xác định khó khăn và rồi định vị trung tâm cần thiết dọc cột sống hay trong đầu, tạo ra một sự lưu chuyển năng lượng (qua hành động của hai bàn tay) xuyên qua trung tâm trong thể bệnh nhân đang kiểm soát khu vực đau yếu, và từ đó đi ra ngoài qua khu vực ấy hướng về phía mình. Trước hết y dùng bàn tay phải, giữ nó trong chốc lát trên cơ quan hay khu vực bị bệnh rồi chậm rãi rút nó về phía mình; tiếp đó y nhanh chóng dùng bàn tay trái, bàn tay này làm việc theo cùng một cách. Các bạn sẽ lưu ý rằng giờ đây cả hai bàn tay đều được dùng một cách tích cực. Không phần nào hay phương diện nào của thể hay các thể của nhà chữa lành bao giờ được phép là tiêu cực, và điều hư cấu rằng bàn tay phải là tích cực còn bàn tay trái là tiêu cực sẽ phải bị loại bỏ. Nếu một bàn tay là tiêu cực, nhà chữa lành sẽ có nguy cơ hấp thu vào mình những nguyên tử bệnh hoạn mà, khi thành công, y kéo ra khỏi khu vực đau yếu. Những nguyên tử này không đáp ứng với hành động của [650] hai bàn tay của y qua trung tâm trong thể bệnh nhân gần nhất với chỗ ngồi của sự rối loạn, mà bị kéo ra qua khu vực đã đáp ứng với bệnh.
In the first case, through the laying on of hands, of silent hands, of quiet hands, the energy flow is between the two hands, back and forth within the diseased area; the spinal centre is used all the time, and the activity set up, when successful, burns up and absorbs the forces causing the trouble without penetrating the body of the healer. In the second case, the forces are withdrawn by the action of the energy passing through the hands, applied one after the other in a regular time rhythm. They pass through the hands, but are unable to focus themselves there, owing to the concentration of the healing energies within the hands.
Trong trường hợp thứ nhất, qua việc đặt tay lên, của những bàn tay im lặng, của những bàn tay tĩnh tại, dòng năng lượng đi giữa hai bàn tay, qua lại trong khu vực bệnh; trung tâm cột sống được dùng suốt thời gian, và hoạt động được thiết lập, khi thành công, sẽ thiêu hủy và hấp thu các mãnh lực gây ra sự rối loạn mà không xuyên vào thể của nhà chữa lành. Trong trường hợp thứ hai, các mãnh lực được rút ra bởi tác động của năng lượng đi qua hai bàn tay, được áp dụng lần lượt theo một nhịp điệu thời gian đều đặn. Chúng đi qua hai bàn tay, nhưng không thể tự tập trung ở đó, do sự tập trung của các năng lượng chữa lành bên trong hai bàn tay.
Healers on the second, third and fifth rays use more generally the mode of laying on of hands or magnetic healing. This term applies to the direct act of laying on of hands upon the patient’s physical body, and not to the action of the hands in the second method, when the hands are immersed in the etheric body of the patient and are definitely working in etheric matter. Healers on the first, fourth and seventh rays use the mode of “hand immersion,” as it is sometimes called. The sixth ray healer is rare and is successful only when highly developed; he will then use both methods interchangeably. All spiritually advanced healers use both hands. Healers are, however, advised first of all to ascertain their ray, and then to perfect themselves in the type or mode of healing best suited to that ray; then, when adequately efficient and able to use facility and skill, they can add the mode of healing which is not so adaptable to their ray type. People on the sixth ray are advised to abstain from the healing art until they have arrived (consciously) at the [651] initiate stage. When both modes of magnetic healing have been mastered, the healer may employ both alternately in the act of healing, or he may use the mode of magnetic passes first so as to set up a changed activity in the diseased area, and then finally use a definite laying on of hands.
Các nhà chữa lành thuộc cung hai, cung ba và cung năm thường dùng phương thức đặt tay lên hay chữa lành từ tính. Thuật ngữ này áp dụng cho hành động trực tiếp đặt tay lên thể xác của bệnh nhân, chứ không phải cho hành động của hai bàn tay trong phương pháp thứ hai, khi hai bàn tay được nhúng vào thể dĩ thái của bệnh nhân và rõ rệt đang làm việc trong vật chất dĩ thái. Các nhà chữa lành thuộc cung một, cung bốn và cung bảy dùng phương thức “nhúng tay,” như đôi khi nó được gọi. Nhà chữa lành cung sáu thì hiếm và chỉ thành công khi phát triển cao; khi ấy y sẽ dùng cả hai phương pháp thay thế cho nhau. Mọi nhà chữa lành tiến bộ về tinh thần đều dùng cả hai bàn tay. Tuy nhiên, trước hết các nhà chữa lành được khuyên nên xác định cung của mình, rồi hoàn thiện bản thân trong loại hay phương thức chữa lành thích hợp nhất với cung đó; sau đó, khi đã đủ hiệu quả và có thể sử dụng sự dễ dàng cùng kỹ năng, họ có thể thêm phương thức chữa lành không thích hợp bằng với loại cung của mình. Những người thuộc cung sáu được khuyên nên tránh nghệ thuật chữa lành cho đến khi họ đã đạt tới (một cách hữu thức) giai đoạn [651] điểm đạo đồ. Khi cả hai phương thức chữa lành từ tính đã được làm chủ, nhà chữa lành có thể dùng cả hai luân phiên trong hành động chữa lành, hoặc y có thể dùng phương thức các động tác từ tính trước để thiết lập một hoạt động đã thay đổi trong khu vực bệnh, rồi cuối cùng dùng một sự đặt tay rõ rệt.
At the close of the healing period the “sealing of the triangle” takes place. The energy, hitherto passing into the hands through the ajna centre from the brain, is withdrawn into the ajna centre, and from thence directed—by an act of the will—to the soul. The healing force is literally “turned off” and redirected; it is no longer available.
Vào cuối thời kỳ chữa lành, việc “niêm phong tam giác” diễn ra. Năng lượng, cho đến lúc đó đi vào hai bàn tay qua trung tâm ajna từ bộ não, được rút vào trung tâm ajna, và từ đó được định hướng—bằng một hành vi của ý chí—đến linh hồn. Mãnh lực chữa lành theo nghĩa đen được “tắt đi” và tái định hướng; nó không còn sẵn dùng nữa.
During the entire period of healing the healer says nothing. He is making no affirmation and uses no healing mantram. The process outlined here is that of the effect of energy or soul potency playing upon force. This is a point to be emphasised. The task of the healer is to preserve an attitude of intense concentration upon the triangle “existing in living lines of energy” (as it has been called) within his own fourfold aura-health aura, etheric body, astral body and mental body. This he must preserve intact and stable for the entire period of healing. Soul-heart-brain must be linked in such a “lighted” manner that a true clairvoyant would see a brilliant triangle in the healer’s aura; the highest point of the triangle (that of the soul) he might fail to see unless he were himself highly developed, but he could not fail to see the signs of it in the inflaming energy to the heart and from the heart to the brain. The work done is silent work. There is therefore no loss of power at any time, as there always is through the spoken word or affirmation. It is not possible to hold the triangle geometrically correct and magnetically polarised if there is any sound made by the healer. This presupposes an advanced stage of alignment and of concentration and will [652] indicate to you some of the lines along which the healer’s training should go.
Trong suốt toàn bộ thời kỳ chữa lành, nhà chữa lành không nói gì. Y không đưa ra sự khẳng định nào và không dùng mantram chữa lành nào. Tiến trình được phác họa ở đây là tiến trình của hiệu quả của năng lượng hay tiềm lực linh hồn tác động lên mãnh lực. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh. Nhiệm vụ của nhà chữa lành là duy trì một thái độ tập trung mãnh liệt vào tam giác “hiện hữu trong những đường năng lượng sống động” (như nó đã được gọi) bên trong hào quang tứ phân của chính y—hào quang sức khỏe, thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí. Y phải giữ điều này nguyên vẹn và ổn định trong suốt toàn bộ thời kỳ chữa lành. Linh hồn-tim-bộ não phải được liên kết theo một cách “được soi sáng” đến nỗi một nhà thông nhãn chân chính sẽ thấy một tam giác rực sáng trong hào quang của nhà chữa lành; điểm cao nhất của tam giác (điểm của linh hồn) có thể ông không thấy được trừ khi chính ông phát triển cao, nhưng ông không thể không thấy các dấu hiệu của nó trong năng lượng bốc cháy đến tim và từ tim đến bộ não. Công việc được thực hiện là công việc im lặng. Vì vậy, không có sự mất mát quyền năng vào bất kỳ lúc nào, như luôn luôn có qua lời nói hay sự khẳng định được phát ra. Không thể giữ tam giác đúng về mặt hình học và được phân cực từ tính nếu nhà chữa lành phát ra bất kỳ âm thanh nào. Điều này giả định một giai đoạn chỉnh hợp, tập trung và ý chí tiến bộ, và sẽ [652] chỉ cho các bạn một số đường hướng mà sự huấn luyện của nhà chữa lành nên đi theo.
This mode of healing “cures disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.” In some respects (though this is a stage of healing which is not the highest) it is nevertheless the one most responsible because, in the case of radiatory healing, the soul of the patient is working in cooperation with the healer and it is the soul then which has the major responsibility. In magnetic healing, the healer needs to cooperate closely with the patient’s physician or surgeon dealing with the case; he will supply the technical knowledge, and thus prevent the healer from making mistakes.
Phương thức chữa lành này “chữa bệnh hoặc làm tăng tình trạng xấu, tùy theo tri thức của nhà chữa lành.” Ở một số phương diện (dù đây là một giai đoạn chữa lành không phải là cao nhất), tuy nhiên nó lại là giai đoạn chịu trách nhiệm nhiều nhất bởi vì, trong trường hợp chữa lành bằng bức xạ, linh hồn của bệnh nhân đang làm việc hợp tác với nhà chữa lành và khi ấy chính linh hồn giữ trách nhiệm chủ yếu. Trong chữa lành từ tính, nhà chữa lành cần hợp tác chặt chẽ với bác sĩ hay phẫu thuật viên của bệnh nhân đang xử lý ca bệnh; người này sẽ cung cấp tri thức kỹ thuật, và nhờ đó ngăn nhà chữa lành phạm sai lầm.
Where death is definitely indicated and the “signs of death” are noted by both the doctor and the healer, the healer has not need to stop his work. By continuing it, he may increase the evil condition, but will nevertheless be aiding the patient by hastening normally the act of dying. The old proverb is basically not true in all cases, that “where there is life there is hope.” Life can and often is prolonged alter the will of the soul is towards the withdrawal of the soul life; the life of the atoms of the lunar lords can be fostered for a long time, and this greatly distresses the spiritual man who is aware of the process and the intent of his soul. What is kept alive is the physical body, but the interest of the true man is no longer focussed there.
Khi cái chết được chỉ định rõ rệt và “các dấu hiệu của cái chết” được cả bác sĩ lẫn nhà chữa lành ghi nhận, nhà chữa lành không cần phải ngừng công việc của mình. Bằng cách tiếp tục nó, y có thể làm tăng tình trạng xấu, nhưng dù vậy vẫn sẽ trợ giúp bệnh nhân bằng cách đẩy nhanh một cách bình thường hành động chết đi. Câu tục ngữ xưa về căn bản không đúng trong mọi trường hợp rằng “còn sống là còn hy vọng.” Sự sống có thể và thường được kéo dài sau khi ý chí của linh hồn hướng về việc rút lui sự sống linh hồn; sự sống của các nguyên tử của các nguyệt tinh quân có thể được nuôi dưỡng trong một thời gian dài, và điều này gây đau khổ lớn cho con người tinh thần, là người ý thức được tiến trình và ý định của linh hồn mình. Điều được giữ sống là thể xác, nhưng mối quan tâm của con người chân chính không còn tập trung ở đó nữa.
There inevitably comes a point, for instance in the case of malignant disease, where the physician knows that it simply is a question of time, and the spiritual healer can learn to recognise the same signs. Then, instead of the present silence on the part of both healer and doctor, where the patient is concerned, this remaining time will be employed (if the patient’s faculties permit) with due preparation or the “beneficent and happy withdrawal” of the soul; the patient’s [653] family and friends will share in the preparation. In the early stages of the new world religion, this attitude towards death will be inculcated. An entirely new concept of death, with the emphasis upon conscious withdrawal, will be taught, and funeral services, or rather the crematory services, will be joyous events because their emphasis will be upon release and return.
Chẳng hạn, tất yếu sẽ đến một điểm, trong trường hợp bệnh ác tính, khi bác sĩ biết rằng đơn giản chỉ còn là vấn đề thời gian, và nhà chữa lành tinh thần có thể học cách nhận ra cùng những dấu hiệu ấy. Khi đó, thay vì sự im lặng hiện nay của cả nhà chữa lành lẫn bác sĩ đối với bệnh nhân, khoảng thời gian còn lại này sẽ được dùng (nếu các năng lực của bệnh nhân cho phép) để chuẩn bị thích đáng cho “sự rút lui đầy ân phúc và hạnh phúc” của linh hồn; gia đình và bạn bè của bệnh nhân sẽ cùng tham gia sự chuẩn bị. Trong các giai đoạn đầu của tôn giáo thế giới mới, thái độ này đối với cái chết sẽ được truyền dạy. Một quan niệm hoàn toàn mới về cái chết, nhấn mạnh vào sự rút lui hữu thức, sẽ được giảng dạy, và các lễ tang, hay đúng hơn là các nghi lễ hỏa táng, sẽ là những sự kiện vui tươi vì trọng tâm của chúng sẽ đặt vào sự giải thoát và trở về.
The magnetic work, however, will cure if the patient’s destiny indicates it, if the soul intends to prolong the life cycle unexpectedly in order to fulfill some duty, or if the patient is very far advanced spiritually and the Hierarchy requires his services for a longer term.
Tuy nhiên, công việc từ tính sẽ chữa lành nếu số mệnh của bệnh nhân chỉ ra điều đó, nếu linh hồn có ý định kéo dài chu kỳ sự sống một cách bất ngờ để hoàn thành một bổn phận nào đó, hoặc nếu bệnh nhân đã tiến bộ rất xa về tinh thần và Thánh Đoàn cần sự phụng sự của y trong một thời gian lâu hơn.
Let us now consider radiatory healing.
Bây giờ chúng ta hãy xét đến chữa lành bằng bức xạ.
We shall now be dealing with a very different situation than that of the one we have just been considering. In radiatory healing, the patient (either consciously or unconsciously) is working with the healer and is cooperating with him. The basic premise in radiatory healing is that the patient is a person who has, at least to some degree, established rapport with his soul. This having been brought about, the healer knows that a channel of contact can be counted upon and that the soul interest can be evoked in its representative, the man upon the physical plane. He knows also that success in radiatory healing is dependent, to a great extent, upon the ability of his own soul to establish a firm relation with the soul of the patient. When the patient is conscious and able to cooperate, the work is greatly helped; according to the healer’s capacity to avail himself of alignment and recognised contact will be the quality of the aid he will be able to give to the one who needs his assistance. When the patient is unconscious, even that provides no real hindrance, provided the healer can bring his soul and the patient’s soul into relationship; in [654] fact in some cases the unconsciousness of the patient can be a help, for too earnest, emphatic and impatient help can offset the work—quiet, silent and controlled-by the healer.
Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến một tình huống rất khác với tình huống mà chúng ta vừa xem xét. Trong chữa lành bằng bức xạ, bệnh nhân (dù hữu thức hay vô thức) đang làm việc với nhà chữa lành và đang hợp tác với y. Tiền đề căn bản trong chữa lành bằng bức xạ là bệnh nhân là một người đã, ít nhất ở một mức độ nào đó, thiết lập được sự giao cảm với linh hồn của mình. Khi điều này đã được mang lại, nhà chữa lành biết rằng có thể trông cậy vào một kênh tiếp xúc và rằng mối quan tâm của linh hồn có thể được gợi lên nơi đại diện của nó, tức con người trên cõi hồng trần. Y cũng biết rằng thành công trong chữa lành bằng bức xạ tùy thuộc, ở mức độ lớn, vào khả năng của chính linh hồn y trong việc thiết lập một mối liên hệ vững chắc với linh hồn của bệnh nhân. Khi bệnh nhân hữu thức và có thể hợp tác, công việc được trợ giúp rất nhiều; tùy theo năng lực của nhà chữa lành trong việc tận dụng sự chỉnh hợp và tiếp xúc đã được nhận biết mà phẩm tính của sự trợ giúp y có thể đem lại cho người cần sự hỗ trợ của y sẽ như thế nào. Khi bệnh nhân vô thức, ngay cả điều đó cũng không tạo ra trở ngại thực sự nào, miễn là nhà chữa lành có thể đưa linh hồn mình và linh hồn bệnh nhân vào mối liên hệ; thật ra, trong một số trường hợp, sự vô thức của bệnh nhân có thể là một trợ giúp, vì sự trợ giúp quá sốt sắng, quá nhấn mạnh và thiếu kiên nhẫn có thể hóa giải công việc—tĩnh lặng, im lặng và được kiểm soát—do nhà chữa lành thực hiện.
Once, however, the rapport is established, the work of the healer simply consists in holding the relationship steady; no interference must be permitted in the work being done by the patient’s soul, set in motion by the aid of the healer. The Master Jesus on the Cross could not respond to any saving process (even had He desired to do so) because the soul body—as is always the case at the fourth initiation-was destroyed; there was nothing to respond to the evocative power of an outside person, interested or loving. As an adept and as one in whom monadic consciousness was firmly established, the powers then available to Jesus could not be used in the saving of His physical body. At the same time, it must be remembered that He would have no desire to save it, because He now possessed the power (demonstrated later in the Gospel story) to create a body at will in order to meet His needs. The subtle and subjective sin of the apostles was that they were not interested in evoking the living activity of the Master on His Own behalf (even though He would never do so; this they did not know), but were entirely preoccupied with their own grief. The evocation, had they attempted it, would have been useless, but the good that might have come to them and the revelation they might have received as to the deathlessness of the soul would have greatly illuminated them and might have produced a Christianity built around a living Christ and not around a dead Christ.
Tuy nhiên, một khi sự giao cảm đã được thiết lập, công việc của nhà chữa lành chỉ đơn giản là giữ mối liên hệ ấy vững vàng; không được cho phép có sự can thiệp nào vào công việc đang được linh hồn của bệnh nhân thực hiện, vốn đã được khởi động nhờ sự trợ giúp của nhà chữa lành. Đức Jesus Chân sư trên Thập Giá không thể đáp ứng với bất kỳ tiến trình cứu rỗi nào (ngay cả nếu Ngài muốn làm vậy) bởi vì thể linh hồn—như luôn luôn xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư—đã bị hủy diệt; không còn gì để đáp ứng với quyền năng gợi lên của một người bên ngoài, dù quan tâm hay yêu thương. Là một chân sư và là một Đấng mà tâm thức chân thần đã được thiết lập vững chắc, các quyền năng khi ấy sẵn có cho Đức Jesus không thể được dùng để cứu thể xác của Ngài. Đồng thời, cần nhớ rằng Ngài sẽ không có mong muốn cứu nó, bởi vì giờ đây Ngài sở hữu quyền năng (được chứng minh về sau trong câu chuyện Phúc Âm) để tạo ra một thể theo ý muốn nhằm đáp ứng nhu cầu của Ngài. Tội lỗi vi tế và chủ quan của các tông đồ là ở chỗ họ không quan tâm đến việc gợi lên hoạt động sống động của Chân sư vì lợi ích của Chính Ngài (dù Ngài sẽ không bao giờ làm như vậy; điều này họ không biết), mà hoàn toàn bận tâm với nỗi đau buồn của chính họ. Sự gợi lên, nếu họ đã cố thực hiện, sẽ vô ích, nhưng điều tốt lành có thể đến với họ và sự mặc khải họ có thể nhận được về tính bất tử của linh hồn hẳn đã soi sáng họ rất nhiều và có thể đã tạo ra một Cơ Đốc giáo được xây dựng quanh một Đức Christ sống chứ không phải quanh một Đức Christ đã chết.
In radiatory healing, we are told that “the healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation.” You will note two points connected with this particular instruction which differ from that given in the case of magnetic healing: [655]
Trong chữa lành bằng bức xạ, chúng ta được bảo rằng “nhà chữa lành phải tìm cách liên kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình.” Các bạn sẽ lưu ý hai điểm liên quan đến chỉ dẫn đặc thù này khác với chỉ dẫn được đưa ra trong trường hợp chữa lành từ tính: [655]
1. The order of the triangle of energies created is different.
1. Trật tự của tam giác năng lượng được tạo ra là khác.
2. The means of contact are subtle and not tangible.
2. Phương tiện tiếp xúc thì vi tế chứ không hữu hình.
The energy released follows a direct line of contact with the brain, and the healer starts with a closed triangle and not with an open one, as in the case of magnetic healing. The triangle created is a simple one, and there is no physical contact and outlet as in magnetic healing:
Năng lượng được giải phóng đi theo một đường tiếp xúc trực tiếp với bộ não, và nhà trị liệu bắt đầu với một tam giác khép kín chứ không phải với một tam giác mở, như trong trường hợp trị liệu từ tính. Tam giác được tạo ra là một tam giác đơn giản, và không có sự tiếp xúc hồng trần hay lối thoát nào như trong trị liệu từ tính:
The brain of the healer is involved, but there is no physical contact of any kind with the patient. The result is a constant circulation of force from the soul back again to the soul. This causes necessarily an augmenting and an energising of the threefold personality of the healer, and therefore of his auric emanation. His aura would be seen by a clairvoyant as greatly extended, in rapid motion, and energised by light from his own soul, but with all its radiation turned in the direction of the patient. By this means the healing force of the healer stimulates all the three personality vehicles of the patient; the patient’s soul is aided in the work it has to do. The healer will consequently find it necessary to stand at that side of the patient in which the trouble is located, so that the radiation of his aura can more easily penetrate. This is the easiest way, but not the most effective. Where the patient’s vitality is strong, he [656] should lie on the side, and the healer should stand behind the patient so that the energy pouring through, which the healer may be using and which is potently energising his aura with soul energy, may affect the patient’s aura and thus facilitate the entry of the healing radiation, which the healer is contributing, to the centre or centres needed. Where the patient is very highly developed, the healer should stand at the patient’s head. His personal effect is not then so great, but that does not matter because it is not needed; the soul of the patient will be adequate to the task. All that is needed is that the aura of the healer, blending with that of the patient, creates a tone of quiet rhythmic activity around the head centre. No physical contact by the hands is now required, and the healer must on no account touch the patient.
Bộ não của nhà trị liệu có tham dự, nhưng không có bất kỳ sự tiếp xúc hồng trần nào với bệnh nhân. Kết quả là một sự tuần hoàn mãnh lực liên tục từ linh hồn rồi trở lại linh hồn. Điều này tất yếu gây nên sự gia tăng và tiếp sinh lực cho phàm ngã tam phân của nhà trị liệu, và do đó cho sự phát xạ hào quang của y. Hào quang của y sẽ được một nhà thông nhãn nhìn thấy là mở rộng rất lớn, chuyển động nhanh, và được tiếp năng lượng bởi ánh sáng từ chính linh hồn của y, nhưng toàn bộ bức xạ của nó đều hướng về phía bệnh nhân. Bằng phương tiện này, mãnh lực trị liệu của nhà trị liệu kích thích cả ba vận cụ phàm ngã của bệnh nhân; linh hồn của bệnh nhân được trợ giúp trong công việc mà nó phải làm. Do đó, nhà trị liệu sẽ thấy cần phải đứng ở phía bệnh nhân nơi có chỗ rối loạn, để bức xạ của hào quang y có thể xuyên thấu dễ dàng hơn. Đây là cách dễ nhất, nhưng không phải là cách hữu hiệu nhất. Khi sinh lực của bệnh nhân mạnh, y [656] nên nằm nghiêng, và nhà trị liệu nên đứng phía sau bệnh nhân để năng lượng tuôn qua, mà nhà trị liệu có thể đang sử dụng và đang tiếp năng lượng mạnh mẽ cho hào quang của y bằng năng lượng linh hồn, có thể tác động đến hào quang của bệnh nhân và nhờ đó tạo thuận lợi cho sự đi vào của bức xạ trị liệu mà nhà trị liệu đang đóng góp, đến trung tâm hay các trung tâm cần thiết. Khi bệnh nhân phát triển rất cao, nhà trị liệu nên đứng ở đầu bệnh nhân. Khi ấy tác động cá nhân của y không lớn lắm, nhưng điều đó không quan trọng vì không cần đến nó; linh hồn của bệnh nhân sẽ đủ sức đảm đương nhiệm vụ. Tất cả những gì cần thiết là hào quang của nhà trị liệu, hòa lẫn với hào quang của bệnh nhân, tạo ra một âm điệu hoạt động nhịp nhàng yên tĩnh quanh trung tâm đầu. Lúc này không cần sự tiếp xúc hồng trần bằng tay, và nhà trị liệu tuyệt đối không được chạm vào bệnh nhân.
The situation is summed up for us in the words: “Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not.”
Tình huống này được tóm lược cho chúng ta trong những lời sau: “Như thế sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc của bức xạ. Không cần đến đôi tay.”
Speaking symbolically, it is almost as if a great vortex of power were set up by the contact between the two auras and by their high vibration: by its means the soul of the patient can work more easily. An initiate, if present, would see a golden stream of energy pouring straight down through the energised bodies of the patient’s personality into the centre nearest to the area of trouble. Approach is made via the head centre directly to the point of difficulty, and towards this point the aura of the healer is also directed. The mental attitude of the patient is strengthened and clarified by the mental emanation of the healer’s aura; his emotional reaction, often very powerful, is equally aided to attain dispassion and quiet, and the etheric and health auras have a definite effect upon the corresponding aspects of the patient’s aura.
Nói theo biểu tượng, gần như thể một xoáy lực lớn được thiết lập bởi sự tiếp xúc giữa hai hào quang và bởi rung động cao của chúng: nhờ đó linh hồn của bệnh nhân có thể hoạt động dễ dàng hơn. Một điểm đạo đồ, nếu có mặt, sẽ thấy một dòng năng lượng màu vàng kim tuôn thẳng xuống qua các thể được tiếp năng lượng của phàm ngã bệnh nhân vào trung tâm gần nhất với vùng rối loạn. Sự tiếp cận được thực hiện qua trung tâm đầu trực tiếp đến điểm khó khăn, và về phía điểm này hào quang của nhà trị liệu cũng được hướng tới. Thái độ trí tuệ của bệnh nhân được tăng cường và làm sáng tỏ bởi sự phát xạ trí tuệ từ hào quang của nhà trị liệu; phản ứng cảm xúc của y, thường rất mạnh, cũng được trợ giúp tương tự để đạt tới sự vô tư và yên tĩnh, và các hào quang dĩ thái và sức khỏe có một tác động rõ rệt lên các phương diện tương ứng trong hào quang của bệnh nhân.
[657]
[657]
Radiatory healing is brought about by the mingling of the two auras, both of them responsive to soul contact; the soul aspect of both persons (under control of the soul) is then directed towards some area of the patient’s physical body. This produces a tremendous effect upon the diseased area, and the centre in that same locality becomes exceedingly energised. The work of the healer during this process is one of intense quiescence. Having made his contact, he simply waits and has nothing more to do but to hold his soul alignment steady and permit nothing to disturb his personality vehicles. His task was accomplished when he made his own soul contact and then reached out and contacted the patient’s soul. This he could do because he knows all souls are one: eventually the art of healing will be one of the demonstrating factors in proving the unity of all souls.
Trị liệu bằng bức xạ được thực hiện nhờ sự hòa trộn của hai hào quang, cả hai đều đáp ứng với tiếp xúc linh hồn; khi ấy phương diện linh hồn của cả hai người (dưới sự kiểm soát của linh hồn) được hướng về một vùng nào đó trong thể xác của bệnh nhân. Điều này tạo ra một tác động to lớn lên vùng bị bệnh, và trung tâm ở cùng khu vực đó trở nên được tiếp năng lượng cực kỳ mạnh. Công việc của nhà trị liệu trong tiến trình này là một trạng thái tĩnh lặng mãnh liệt. Sau khi đã tạo được tiếp xúc, y chỉ đơn giản chờ đợi và không còn gì phải làm ngoài việc giữ vững sự chỉnh hợp linh hồn của mình và không cho phép bất cứ điều gì làm xáo trộn các vận cụ phàm ngã của y. Nhiệm vụ của y đã hoàn tất khi y tạo được tiếp xúc với chính linh hồn mình rồi vươn ra và tiếp xúc với linh hồn của bệnh nhân. Y có thể làm điều này vì y biết mọi linh hồn là một: cuối cùng nghệ thuật trị liệu sẽ là một trong những yếu tố chứng minh sự hợp nhất của mọi linh hồn.
This rule, therefore, concludes with the words: “The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, Flooded with soul energy.” It is consequently a question of the soul energy of both parties meeting on all three levels of human awareness. The expression “the soul” is here in the singular because unity (if only for a moment) has been reached. The soul of the patient recognises this unity by the “occult quickening” of his own aura and by its responsiveness to the entering radiations from the healer’s aura. This flooding with soul energy through the medium of related auras is, all of it, directed as one unified effort towards the area of disease in the patient’s body. You can see, therefore, that-consciously or unconsciously-the work can go forward and produce either healing or that “quickening of atoms which leads by soul direction unto release,” as the Old commentary calls the act of dying.
Vì vậy, quy luật này kết thúc bằng những lời: “Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang y đối với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập năng lượng linh hồn.” Do đó, đây là vấn đề năng lượng linh hồn của cả hai bên gặp nhau trên cả ba cấp độ nhận biết của con người. Cụm từ “linh hồn” ở đây ở số ít vì sự hợp nhất (dù chỉ trong chốc lát) đã đạt được. Linh hồn của bệnh nhân nhận ra sự hợp nhất này nhờ “sự làm sinh động huyền bí” của chính hào quang y và nhờ sự đáp ứng của nó đối với các bức xạ đi vào từ hào quang của nhà trị liệu. Sự tràn ngập năng lượng linh hồn này qua trung gian của các hào quang có liên hệ, toàn bộ đều được hướng như một nỗ lực hợp nhất duy nhất về phía vùng bệnh trong thể của bệnh nhân. Vì vậy, bạn có thể thấy rằng—một cách hữu thức hay vô thức—công việc có thể tiến hành và tạo ra hoặc sự chữa lành hoặc “sự làm sinh động các nguyên tử dẫn, dưới sự chỉ đạo của linh hồn, đến giải thoát,” như Cổ Luận gọi hành động chết.
When it becomes evident that it is the patient’s destiny to die, the technique of the healer alters somewhat. He [658] then takes his place at the patient’s head, and from that point deflects all his own radiations to the seat of the disease, causing necessarily a great acceleration of vibratory activity. The patient, in the meantime, consciously through brain recognition or unconsciously under soul direction, begins the process of withdrawing all consciousness from the body. This is why so many people are in a coma prior to death. When this act of the withdrawal of consciousness has been started, the work of the healer ends. He “shuts off” his soul contact and reassumes control of his aura as a medium of his own spiritual expression; it becomes no longer an instrument for healing by radiatory activity, and leaves the patient alone automatically to complete the withdrawal of the consciousness thread and the life thread, from the head and heart centres.
Khi trở nên hiển nhiên rằng số mệnh của bệnh nhân là phải chết, kỹ thuật của nhà trị liệu thay đổi đôi chút. Khi ấy y [658] đứng vào vị trí ở đầu bệnh nhân, và từ điểm đó làm lệch tất cả các bức xạ của chính mình về chỗ ngồi của bệnh, tất yếu gây nên một sự gia tốc lớn của hoạt động rung động. Trong khi đó, bệnh nhân, một cách hữu thức qua sự nhận biết của bộ não hoặc vô thức dưới sự chỉ đạo của linh hồn, bắt đầu tiến trình rút toàn bộ tâm thức ra khỏi thể. Đây là lý do tại sao rất nhiều người ở trong trạng thái hôn mê trước khi chết. Khi hành động rút tâm thức này đã bắt đầu, công việc của nhà trị liệu chấm dứt. Y “ngắt” tiếp xúc linh hồn của mình và lấy lại quyền kiểm soát hào quang của mình như một trung gian cho sự biểu lộ tinh thần riêng của y; nó không còn là một công cụ để trị liệu bằng hoạt động bức xạ nữa, và tự động để bệnh nhân một mình hoàn tất việc rút sợi dây tâm thức và sợi dây sự sống ra khỏi các trung tâm đầu và tim.
This is a broad and general outline of the processes followed in magnetic and radiatory healing. I have here given you the skeleton structure of the idea, but not the details; more can be inferred and given when we study the seven methods of healing with their ray implications.
Đây là một phác thảo rộng và tổng quát về các tiến trình được theo trong trị liệu từ tính và trị liệu bằng bức xạ. Ở đây tôi đã trao cho các bạn bộ khung của ý tưởng, chứ không phải các chi tiết; có thể suy ra và trình bày thêm khi chúng ta nghiên cứu bảy phương pháp trị liệu cùng với các hàm ý về cung của chúng.
This teaching has been given in such a manner that the student will have to hunt through its pages and gather together the facts needed, and thus formulate the first stage of the procedure of spiritual healing; unless he is himself a spiritual healer and ready to read between the lines and to distinguish between symbolism and fact, he will be misled and his work rendered useless. This is intended; for the healing art—when perfectly applied under correct formulas—can be dangerous. It must be remembered that although energy is thought, it is also, from a higher point of view, fire. The entire technique, procedure, and formulas will have to be discovered, subjected to experiment and the results noted before the true spiritual healing can take place; [659] by the time this investigation has been completed, it will be a safer matter than it is today. In the meantime, much good can be accomplished and a great deal learnt if those interested read, study, meditate, carefully experiment, and thus gradually build up this much needed science as a co-partner in the medical science of modern times.
Giáo huấn này đã được trao theo cách mà đạo sinh sẽ phải tìm kiếm trong các trang của nó và gom lại những dữ kiện cần thiết, rồi nhờ đó hình thành giai đoạn đầu của thủ tục trị liệu tinh thần; trừ phi chính y là một nhà trị liệu tinh thần và sẵn sàng đọc giữa các dòng cũng như phân biệt giữa biểu tượng và sự kiện, y sẽ bị dẫn lạc và công việc của y trở nên vô dụng. Điều này là có chủ ý; vì nghệ thuật trị liệu—khi được áp dụng hoàn hảo dưới các công thức đúng—có thể nguy hiểm. Cần nhớ rằng tuy năng lượng là tư tưởng, nhưng từ một quan điểm cao hơn, nó cũng là lửa. Toàn bộ kỹ thuật, thủ tục và các công thức sẽ phải được khám phá, đem ra thử nghiệm và ghi nhận kết quả trước khi sự trị liệu tinh thần chân chính có thể diễn ra; [659] đến khi cuộc khảo cứu này hoàn tất, việc ấy sẽ an toàn hơn hiện nay. Trong khi đó, có thể đạt được nhiều điều tốt đẹp và học được rất nhiều nếu những ai quan tâm đọc, nghiên cứu, tham thiền, thử nghiệm cẩn trọng, và nhờ đó dần dần xây dựng khoa học rất cần thiết này như một đối tác đồng hành với y học của thời hiện đại.
Let us now consider Law IX.
Bây giờ chúng ta hãy xét đến Định luật IX.
In Law IX and Rule Six we shall be dealing with such basic fundamentals that our problem will be to formulate the teaching in such a concise manner that vast themes may be briefly handled, and at the same time appear clear and simple. This law is in reality a definition of the Law of Evolution, but given from the spiritual angle. The Law of Evolution—as commonly understood—concerns the evolution of the form aspect as it is gradually fitted to be an exponent or an expression of soul energy, and later of monadic energy.
Trong Định luật IX và Quy luật Sáu, chúng ta sẽ bàn đến những nền tảng căn bản đến mức vấn đề của chúng ta sẽ là trình bày giáo huấn theo cách thật súc tích để những chủ đề bao la có thể được xử lý ngắn gọn, đồng thời vẫn hiện ra rõ ràng và đơn giản. Định luật này thực ra là một định nghĩa của Định luật Tiến hoá, nhưng được đưa ra từ góc độ tinh thần. Định luật Tiến hoá—như thường được hiểu—liên quan đến sự tiến hoá của phương diện hình tướng khi nó dần dần được thích nghi để trở thành một tác nhân biểu lộ hay một biểu hiện của năng lượng linh hồn, và về sau là của năng lượng chân thần.
This law, which might be termed the Law of Perfection, deals with the interior energies which are responsible for the working of the Law of Evolution. It is the higher aspect or the determining cause of the lower; the laws subsidiary to the Law of Perfection are loosely called (by the neophyte the spiritual laws, but of these he knows little and unifies them all in his mind under the general idea that they are an expression of the love aspect of Deity. That is essentially true, from the quality angle, if it is recognised at the same time that the love aspect is essentially pure reason and not an emotional sentiment expressing itself through kind actions.
Định luật này, có thể được gọi là Định luật Toàn Thiện, bàn đến các năng lượng nội tại chịu trách nhiệm cho sự vận hành của Định luật Tiến hoá. Nó là phương diện cao hơn hay nguyên nhân quyết định của phương diện thấp hơn; các định luật phụ thuộc vào Định luật Toàn Thiện được người sơ cơ gọi một cách lỏng lẻo là các định luật tinh thần, nhưng về chúng y biết rất ít và hợp nhất tất cả trong trí y dưới ý niệm chung rằng chúng là một biểu hiện của phương diện bác ái của Thượng đế. Điều đó về căn bản là đúng, xét từ góc độ phẩm tính, nếu đồng thời nhận ra rằng phương diện bác ái về bản chất là lý trí thuần túy chứ không phải một tình cảm cảm xúc biểu lộ qua những hành động tử tế.
The rule which accompanies this law deals with the relation of love and will, and is consequently of high importance to the initiate. I would remind you here that the [660] only true healer is the initiate, and therefore the last two laws (Law IX and Law X) can only be truly understood by the initiated disciple. They are, however, profoundly interesting intellectually to the beginner, the enquirer and the aspirant, because (theoretically at least) he can grasp some of their meaning, though he is as yet quite incapable of “keeping the law”—spiritually understood.
Quy luật đi kèm với định luật này bàn đến mối liên hệ giữa bác ái và ý chí, và do đó có tầm quan trọng cao đối với điểm đạo đồ. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng [660] nhà trị liệu chân chính duy nhất là điểm đạo đồ, và vì vậy hai định luật cuối cùng (Định luật IX và Định luật X) chỉ có thể được đệ tử được điểm đạo thực sự thấu hiểu. Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chúng cực kỳ lý thú đối với người mới bắt đầu, người tìm hiểu và người chí nguyện, vì (ít nhất về mặt lý thuyết) y có thể nắm được phần nào ý nghĩa của chúng, dù hiện giờ y hoàn toàn chưa có khả năng “giữ quy luật”—theo nghĩa tinh thần.
LAW IX — ĐỊNH LUẬT IX
Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good, is “perfect harmlessness”. This is not negativity, but Perfect Poise, a completed point of view, and divine understanding.
Toàn thiện gọi bất toàn lên bề mặt. Điều thiện đẩy điều ác ra khỏi hình tướng của con người trong thời gian và không gian. Phương pháp được Đấng Toàn Thiện sử dụng và phương pháp mà Điều Thiện dùng là “tính vô tổn hại hoàn hảo”. Đây không phải là tính tiêu cực, mà là Sự Quân Bình Hoàn Hảo, một quan điểm đã hoàn tất, và sự thấu hiểu thiêng liêng.
This law is profoundly simple and means exactly what it says. It can be interpreted in two ways:
Định luật này sâu sắc mà đơn giản, và có nghĩa đúng như những gì nó nói. Nó có thể được diễn giải theo hai cách:
1. It concerns the spiritual development of man through the medium of form, and the mode or law whereby the latent hold of matter—impregnated by selfishness and by all that is recognised as evil—is removed, and man stands free.
1. Nó liên quan đến sự phát triển tinh thần của con người qua trung gian hình tướng, và phương thức hay định luật nhờ đó sự bám giữ tiềm ẩn của vật chất—được thấm nhiễm bởi tính ích kỷ và bởi mọi điều được nhận biết là ác—được loại bỏ, và con người đứng tự do.
2. It can also be interpreted in terms of healer and patient. Oft the effect of the activity and knowledge of the true healer is to bring to the surface (in an acute form) the evil (disease) within the form. The result of this can either be the elimination of the disease and the securing of health, or the form will succumb to the increase of the difficulty and the probability is that the patient will die. It is therefore fortunate that the average healer is so futile that such a dire possibility is not present!
2. Nó cũng có thể được diễn giải theo nghĩa nhà trị liệu và bệnh nhân. Thường thì tác động của hoạt động và tri thức của nhà trị liệu chân chính là đưa lên bề mặt (dưới một hình thức cấp tính) điều ác (bệnh tật) ở bên trong hình tướng. Kết quả của điều này hoặc là sự loại bỏ bệnh tật và đạt được sức khỏe, hoặc hình tướng sẽ khuất phục trước sự gia tăng của khó khăn và rất có thể bệnh nhân sẽ chết. Vì vậy thật may là nhà trị liệu trung bình lại bất lực đến mức khả năng nghiêm trọng như thế không hiện diện!
The method employed under the Law of Perfection is called “perfect harmlessness,” and that was ever the method used [661] by the Christ, the Perfect One. It is not the harmlessness enjoined so often by me as I speak to aspirants, but a harmlessness imposed by the spiritual man and by his natural destiny. It is an ignoring of the effect or the result upon the form nature. Frequently I have told you that the Hierarchy works only with the spiritual nature or with the soul of humanity, and that—to the Master—the form is regarded as relatively of no importance. Release from the threefold form is ever regarded by the spiritual man as the greatest possible good, provided it comes to him under law, as the result of his spiritual destiny and of karmic decision: it must not come as an arbitrary act, or as an escape from life and its consequences upon the physical plane, or as self-imposed. Of this strange working of the Law of Perfection (strange to man’s limited point of view), the war (1914-1945) was a striking instance. Millions died; more millions suffered cruelly in their form nature, and many more millions underwent (and are still undergoing) the mental agony of insecurity, suspense and poverty. Nevertheless, two major results of a spiritual nature, working under the Law of Perfection, resulted:
Phương pháp được dùng dưới Định luật Toàn Thiện được gọi là “tính vô tổn hại hoàn hảo,” và đó luôn luôn là phương pháp được [661] Đức Christ, Đấng Toàn Thiện, sử dụng. Đó không phải là tính vô tổn hại mà tôi thường khuyên nhủ khi nói với những người chí nguyện, mà là một tính vô tổn hại do con người tinh thần áp đặt và do số mệnh tự nhiên của y. Đó là sự không lưu tâm đến tác động hay kết quả trên bản chất hình tướng. Tôi đã thường nói với các bạn rằng Thánh đoàn chỉ hoạt động với bản chất tinh thần hay với linh hồn của nhân loại, và rằng—đối với Chân sư—hình tướng được xem là tương đối không quan trọng. Sự giải thoát khỏi hình tướng tam phân luôn luôn được con người tinh thần xem là điều thiện lớn lao nhất có thể có, miễn là nó đến với y theo định luật, như kết quả của số mệnh tinh thần của y và của quyết định nghiệp quả: nó không được đến như một hành động tùy tiện, hay như một sự trốn chạy khỏi cuộc sống và các hậu quả của nó trên cõi hồng trần, hoặc do chính mình áp đặt. Về sự vận hành kỳ lạ này của Định luật Toàn Thiện (kỳ lạ đối với quan điểm hạn hẹp của con người), chiến tranh (1914-1945) là một ví dụ nổi bật. Hàng triệu người đã chết; nhiều triệu người khác đau khổ tàn nhẫn trong bản chất hình tướng của họ, và còn nhiều triệu người nữa đã trải qua (và vẫn đang trải qua) nỗi thống khổ trí tuệ của sự bất an, căng thẳng và nghèo đói. Tuy nhiên, hai kết quả lớn có bản chất tinh thần, vận hành dưới Định luật Toàn Thiện, đã xuất hiện:
1. Souls were released from a backward and decaying civilisation—for such is your vaunted civilisation from the angle of the Hierarchy—and will return in better bodies to a civilisation and a culture more in conformity with the needs of the spiritual man. The main reason why there has been such a complete destruction of the old forms (physical, emotional and mental) is that they constituted a complete imprisonment of the soul and negated all true growth for the masses of men.
1. Các linh hồn đã được giải thoát khỏi một nền văn minh lạc hậu và suy tàn—vì đó chính là nền văn minh mà các bạn vẫn tự hào, xét từ góc độ của Thánh đoàn—và sẽ trở lại trong những thể tốt hơn vào một nền văn minh và một nền văn hóa phù hợp hơn với nhu cầu của con người tinh thần. Lý do chính khiến có sự hủy diệt hoàn toàn như vậy đối với các hình tướng cũ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) là vì chúng tạo thành một sự giam cầm hoàn toàn đối với linh hồn và phủ nhận mọi sự tăng trưởng chân chính của quần chúng nhân loại.
2. From the rich to the poor, from the intelligent to the ignorant, one thing is now clearly grasped and will increasingly colour human thinking: happiness and [662] success are not dependent upon the possession of things or upon material good. That idea is the mistake of organised labour as it fights and strikes for more money in order to live more richly; it is also the mistake of the general public as it reacts to the action of labour, for it rebels against the curtailment of the steady inflow of material goods. Humanity has made this mistake for untold ages, and has erred grievously in its emphasis upon that which benefits the form. This is the good in the Russian position as it wars on capitalism and lays an emphasis upon education. However, its ruthlessness and cruelty and (above all else) its suppression of the rights of the individual citizen to certain of the essential freedoms may eventually negate the beauty and the hope of the initial idealism. Russia is right in her idealism, but terribly and basically wrong in her techniques. The United States and Great Britain are at a midway point. They have a vision but know not how to materialise it and make it true, for they favour not (and rightly) a totalitarian regime. The capitalistic spirit and the latent fascism of the United States are at this time a definite menace to world peace, and the capitalists are blocking the efforts of the men of goodwill. Great Britain is at present impotent, financially ruined, her old imperialistic policies entirely in the discard, and her people discouraged: she is therefore so preoccupied with the struggle to live (and she will live) that there is little time, interest or energy left to make the vision true.
2. Từ người giàu đến người nghèo, từ người thông minh đến người ngu dốt, hiện nay có một điều được nắm bắt rõ ràng và sẽ ngày càng nhuộm màu tư tưởng nhân loại: hạnh phúc và [662] thành công không tùy thuộc vào việc sở hữu đồ vật hay của cải vật chất. Ý tưởng đó là sai lầm của lao động có tổ chức khi nó đấu tranh và đình công để có nhiều tiền hơn nhằm sống sung túc hơn; đó cũng là sai lầm của công chúng nói chung khi họ phản ứng với hành động của giới lao động, vì họ nổi loạn chống lại sự cắt giảm dòng chảy đều đặn của hàng hóa vật chất. Nhân loại đã phạm sai lầm này từ những thời đại không thể đếm được, và đã lầm lạc nghiêm trọng trong việc nhấn mạnh vào điều có lợi cho hình tướng. Đây là điều tốt trong lập trường của nước Nga khi nước này chống lại chủ nghĩa tư bản và nhấn mạnh vào giáo dục. Tuy nhiên, sự tàn nhẫn và độc ác của nó và (trên hết) việc đàn áp quyền của công dân cá nhân đối với một số tự do thiết yếu có thể cuối cùng phủ nhận vẻ đẹp và hy vọng của chủ nghĩa lý tưởng ban đầu. Nước Nga đúng trong chủ nghĩa lý tưởng của mình, nhưng sai lầm khủng khiếp và căn bản trong các kỹ thuật của mình. Hoa Kỳ và Anh Quốc đang ở một điểm ở giữa. Họ có một tầm nhìn nhưng không biết làm thế nào để hiện hình nó và làm cho nó thành sự thật, vì họ không ủng hộ (và đúng như vậy) một chế độ toàn trị. Tinh thần tư bản và chủ nghĩa phát xít tiềm ẩn của Hoa Kỳ hiện nay là một mối đe dọa rõ rệt đối với hòa bình thế giới, và các nhà tư bản đang ngăn cản những nỗ lực của những người thiện chí. Hiện nay Anh Quốc bất lực, kiệt quệ về tài chính, các chính sách đế quốc cũ của mình hoàn toàn bị loại bỏ, và dân chúng của nước này chán nản: vì vậy họ quá bận tâm với cuộc đấu tranh để sống còn (và họ sẽ sống) đến nỗi còn rất ít thời gian, quan tâm hay năng lượng để biến tầm nhìn thành hiện thực.
There is, as you know, always a correspondence between the individual man and the world of men as a whole. Just as today practically every human being has something wrong with him physically—eyes, ears, teeth or bodily ills of some [663] nature—so humanity is sick and awaiting healing. The healing will be brought about through the medium of the New Group of World Servers and by the men of goodwill, aided by the Hierarchy, from which planetary centre the healing energies will be drawn. Imperfection has been drawn to the surface; the evils to be eliminated are known to everybody, and this has all taken place under the influence of the Law of Perfection. I am dealing here with the general situation rather than with the individual relation between the healer and a patient. I do so for the simple reason that only an initiate of experience and of understanding can keep this law or obey this rule, and of such there are only a very few on earth today. The sickness of humanity as a race, and as a result of aeons of wrong living, of selfish purpose and of greed, has produced a mass of physical ills; today millions of children are born either openly diseased or with the seed of disease in them. When the evil which has made its presence felt, and when the imperfections which have been drawn to the surface have been cured or driven back to their own place, then—and only then—will physical disease come to an end or yield easily to treatment.
Như các bạn biết, luôn luôn có một sự tương ứng giữa con người cá nhân và thế giới loài người nói chung. Cũng như ngày nay thực tế mọi con người đều có điều gì đó không ổn về mặt hồng trần—mắt, tai, răng hay những bệnh tật thân thể nào đó—thì nhân loại cũng đang bệnh hoạn và chờ được chữa lành. Sự chữa lành sẽ được mang lại qua trung gian của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và bởi những người thiện chí, được Thánh đoàn trợ giúp, từ trung tâm hành tinh đó các năng lượng chữa lành sẽ được rút ra. Bất toàn đã được kéo lên bề mặt; những điều ác cần được loại bỏ ai cũng biết, và tất cả điều này đã diễn ra dưới ảnh hưởng của Định luật Toàn Thiện. Ở đây tôi đang bàn đến tình hình chung hơn là mối liên hệ cá nhân giữa nhà trị liệu và một bệnh nhân. Tôi làm vậy vì lý do đơn giản là chỉ một điểm đạo đồ có kinh nghiệm và thấu hiểu mới có thể giữ định luật này hay tuân theo quy luật này, và hiện nay trên Trái Đất chỉ có rất ít người như thế. Bệnh tật của nhân loại như một nhân loại, và như kết quả của những đại kiếp sống sai lầm, mục đích ích kỷ và lòng tham, đã tạo ra một khối lượng bệnh tật hồng trần; ngày nay hàng triệu trẻ em sinh ra hoặc công khai mang bệnh hoặc mang trong mình mầm bệnh. Khi điều ác đã làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và khi những bất toàn đã được kéo lên bề mặt được chữa lành hoặc bị đẩy lui về đúng chỗ của chúng, thì—và chỉ khi ấy—bệnh tật hồng trần mới chấm dứt hoặc dễ dàng khuất phục trước sự điều trị.
In considering the general subject of imperfection and of evil, we are dealing here with causes (and this the initiate must ever do); when these causes are themselves removed, then the effects will also disappear. Christian Science and Unity are therefore right in their general theory and premises, but totally wrong in their emphases and methods. In the long run, all the work they do today is relatively futile, except in so far that they preserve and enunciate the Law of Perfection, even though they do so in a muddled manner and their teaching is tainted with the universal selfishness.
Khi xét đến chủ đề chung về bất toàn và điều ác, ở đây chúng ta đang bàn đến các nguyên nhân (và điểm đạo đồ luôn luôn phải làm điều này); khi chính các nguyên nhân ấy được loại bỏ, thì các kết quả cũng sẽ biến mất. Vì vậy, Christian Science và Unity đúng trong lý thuyết và tiền đề chung của họ, nhưng hoàn toàn sai trong các điểm nhấn và phương pháp của họ. Về lâu dài, toàn bộ công việc họ làm ngày nay tương đối vô ích, ngoại trừ ở chỗ họ duy trì và công bố Định luật Toàn Thiện, dù họ làm điều đó một cách rối rắm và giáo huấn của họ bị nhuốm màu tính ích kỷ phổ quát.
[664]
[664]
You have oft been told that there are two modes of achievement; the long hard way of evolution, in which aeons are taken to arrive at relatively small results, or the short, still harder but much more rapid way of initiation. For ages it remained a question (a moot point, do you not call it?) whether the world of men would choose (and had better choose) the slow but safe method. It is a method in which imperfection is only very gradually eliminated, without much strain and with small effort on the part of man. It is a mode whereby good is only slowly realised and evil only slowly, very slowly, driven out. The will-to-good of Shamballa is, under the usual evolutionary system, only faintly present, and many, many aeons would still lie. ahead of humanity before even the present point of human development could have been attained.
Các bạn đã thường được bảo rằng có hai phương thức thành tựu; con đường dài khó nhọc của tiến hoá, trong đó phải mất những đại kiếp mới đạt được những kết quả tương đối nhỏ, hoặc con đường ngắn hơn, vẫn khó hơn nhưng nhanh hơn nhiều, của điểm đạo. Trong nhiều thời đại, vẫn còn là một câu hỏi (một điểm còn tranh luận, chẳng phải các bạn gọi thế sao?) liệu thế giới loài người có chọn (và tốt hơn là nên chọn) phương pháp chậm nhưng an toàn hay không. Đó là một phương pháp trong đó bất toàn chỉ được loại bỏ rất dần dần, không có nhiều căng thẳng và với ít nỗ lực từ phía con người. Đó là một phương thức nhờ đó điều thiện chỉ được chứng nghiệm chậm chạp và điều ác chỉ bị đẩy ra chậm chạp, rất chậm chạp. Ý Chí-hướng Thiện của Shamballa, dưới hệ thống tiến hoá thông thường, chỉ hiện diện mờ nhạt, và còn rất, rất nhiều đại kiếp nữa sẽ vẫn còn ở phía trước nhân loại trước khi ngay cả điểm phát triển hiện nay của con người có thể đạt được.
But something happened which had not been foreseen even by the Hierarchy. During the past two hundred years the entire picture has been altered. Individual men, in adequate numbers, achieved initiation and entered the Ashrams of the Masters, and through the decision of these successful aspirants, and subject to their continued activity, it was decided by them but for humanity that the rapid hard way was to be tried. Since that time three factors have been present:
Nhưng đã xảy ra một điều mà ngay cả Thánh đoàn cũng không tiên liệu. Trong hai trăm năm qua, toàn bộ bức tranh đã thay đổi. Những con người cá nhân, với số lượng đủ lớn, đã đạt điểm đạo và đi vào các ashram của các Chân sư, và qua quyết định của những người chí nguyện thành công này, và tùy thuộc vào hoạt động tiếp tục của họ, họ đã quyết định thay cho nhân loại rằng con đường nhanh và khó sẽ được thử nghiệm. Kể từ đó, ba yếu tố đã hiện diện:
1. The factor of tremendous progress in raising the consciousness of mankind, en masse, to much higher intellectual levels. To this the growth of education, the discoveries of science and the control of the material plane and of the air bear testimony.
1. Yếu tố của sự tiến bộ to lớn trong việc nâng tâm thức của nhân loại, xét như một khối, lên những cấp độ trí tuệ cao hơn nhiều. Sự phát triển của giáo dục, những khám phá của khoa học và sự kiểm soát cõi hồng trần và không khí là bằng chứng cho điều này.
2. The factor of worldwide distress, of economic disaster, of world wars, of natural cataclysms and of the myriad occurrences and difficulties which make individual life, national life and planetary life so hard these days. No one is exempt and there is no distinction shown. [665]
2. Yếu tố của khổ đau toàn cầu, của thảm họa kinh tế, của các cuộc chiến tranh thế giới, của các tai biến thiên nhiên và của vô số biến cố và khó khăn khiến đời sống cá nhân, đời sống quốc gia và đời sống hành tinh trở nên quá khó khăn trong những ngày này. Không ai được miễn trừ và không có sự phân biệt nào được thể hiện. [665]
3. The factor of the growth of knowledge anent the Hierarchy and, above all else, of the spiritual Plan. This has necessitated the presentation of a goal to man by the working aspirants and disciples, plus the outlining of the techniques of the Path whereby that goal can be reached. This has not been accomplished by the religious church groups throughout the world, but by members of the Ashrams. All that the churches have done is to preserve in the public mind the fact of God Transcendent, whilst ignoring the fact of God Immanent, to testify to the existence of the Christ whilst travestying His teaching, and to teach the fact of immortality, whilst ignoring the Law of Rebirth.
3. Yếu tố của sự tăng trưởng tri thức liên quan đến Thánh đoàn và, trên hết, liên quan đến Thiên Cơ tinh thần. Điều này đã đòi hỏi phải trình bày cho con người một mục tiêu bởi những người chí nguyện và đệ tử đang hoạt động, cộng với việc phác họa các kỹ thuật của Con Đường nhờ đó mục tiêu ấy có thể đạt tới. Điều này không được thực hiện bởi các nhóm giáo hội tôn giáo trên khắp thế giới, mà bởi các thành viên của các ashram. Tất cả những gì các giáo hội đã làm là duy trì trong tâm trí công chúng sự kiện về Thượng đế Siêu Việt, trong khi bỏ qua sự kiện về Thượng đế Nội Tại, làm chứng cho sự hiện hữu của Đức Christ trong khi xuyên tạc giáo huấn của Ngài, và dạy về sự kiện bất tử trong khi bỏ qua Định luật Tái Sinh.
Humanity is, therefore, progressing rapidly upon the Upward Way, and two things can be looked for as a consequence: first, that the imperfections and evil (one latent and the other active though retreating) will become increasingly apparent to intelligent man, and secondly, that the mode of their elimination will also become known.
Vì vậy, nhân loại đang tiến nhanh trên Con Đường Đi Lên, và có thể trông đợi hai điều như một hệ quả: thứ nhất, rằng những bất toàn và điều ác (một cái tiềm ẩn và cái kia đang hoạt động dù đang rút lui) sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên đối với con người thông minh, và thứ hai, rằng phương thức loại bỏ chúng cũng sẽ được biết đến.
I deal not here with the nature of imperfection or the purpose of evil. Do I need to point out to any of my readers how inescapably both are present? I might point out that imperfection is inherent in the nature of matter itself and constitutes an inheritance from a previous solar system. I might indicate that evil emanates from that hierarchy of evil Forces which are the material correspondence to the spiritual Hierarchy; this is related to the fact that all our planes are composed of substance of the cosmic physical plane. It might also be stated that when the imperfection of matter is realised and corrected, and when the interest and emphasis of humanity is turned away from material conditions, then the Forces of Evil will have nothing in the three worlds (the three lower levels of the cosmic physical plane) [666] upon which to work; there will be nothing they can influence, and no mode of influencing man will then exist as far as evil is concerned. I cannot expect you at this time to comprehend the meaning of my words. They are, however, related to the words in the Great Invocation which say, “and seal the door where evil dwells.” There is a door into an evil realm and into blackness, just as there is a door into a world of goodness and light; the devil is to man who is dedicated and consecrated to evil what the Dweller on the Threshold is to the spiritual aspirant.
Ở đây tôi không bàn đến bản chất của bất toàn hay mục đích của điều ác. Tôi có cần chỉ ra cho bất kỳ độc giả nào của tôi thấy rằng cả hai hiện diện không thể tránh khỏi như thế nào không? Tôi có thể chỉ ra rằng bất toàn vốn có trong chính bản chất của vật chất và tạo thành một di sản từ một hệ mặt trời trước. Tôi có thể nêu rằng điều ác phát xuất từ huyền giai các Mãnh Lực ác, là đối ứng vật chất của Huyền Giai Tinh Thần; điều này liên hệ đến sự kiện rằng tất cả các cõi của chúng ta đều được cấu tạo bằng chất liệu của cõi hồng trần vũ trụ. Cũng có thể nói rằng khi sự bất toàn của vật chất được nhận ra và sửa chữa, và khi mối quan tâm và sự nhấn mạnh của nhân loại được chuyển khỏi các điều kiện vật chất, thì các Mãnh Lực Ác sẽ không còn gì trong ba cõi giới (ba cấp độ thấp của cõi hồng trần vũ trụ) [666] để hoạt động; sẽ không còn gì mà chúng có thể ảnh hưởng, và sẽ không còn phương thức nào để ảnh hưởng đến con người trong chừng mực điều ác có liên quan. Tôi không thể mong các bạn vào lúc này hiểu được ý nghĩa lời tôi nói. Tuy nhiên, chúng liên hệ đến những lời trong Đại Khấn Nguyện nói rằng, “và niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị.” Có một cánh cửa đi vào một cõi ác và vào bóng tối, cũng như có một cánh cửa đi vào một thế giới của điều thiện và ánh sáng; quỷ dữ đối với con người tận hiến và thánh hiến cho điều ác cũng như Kẻ Chận Ngõ đối với người chí nguyện tinh thần.
The main task of the spiritual Hierarchy has ever been to stand between the Forces of Evil and humanity, to bring imperfection into the light so that evil can “find no place” for action, and to keep the door open into the spiritual realm. This the Hierarchy has done, with small help from humanity; this situation is now changed and the world war was the symbol and the guarantee of that change; in it the Forces of Light, the massed United Nations, fought the Forces of Evil upon the physical plane and routed them. There has been a far greater spiritual significance to the war than has yet been realised. It marked a world turning point; it reoriented humanity towards the good; it drove back the Forces of Evil and made definitely clear (and this was new and needed) the true distinction between good and evil, and this not in a theological sense-as stated by the church commentators—but practically and obviously. It is evidenced by the disastrous economic situation and by the greed of prominent men in every country. The world of men (through the obviousness of the distinction between good and evil) has awakened to the fact of materialistic exploitation, to the lack of real freedom and to the rights, as yet unclaimed, of the individual. Man’s ability to resist slavery has become apparent everywhere. That the strugglers towards freedom are employing wrong methods and are endeavouring [667] oft to fight evil with evil is entirely true, but this indicates only transitional techniques and a temporary phase; it is temporary from the point of view of the Hierarchy (though possibly long from the angle of men in the three worlds), but it need not necessarily be long today.
Nhiệm vụ chính của Huyền Giai Tinh Thần luôn luôn là đứng giữa các Mãnh Lực Ác và nhân loại, đưa sự bất toàn ra ánh sáng để điều ác có thể “không tìm thấy chỗ” cho hành động, và giữ cánh cửa mở vào cõi tinh thần. Điều này Thánh đoàn đã làm, với rất ít sự trợ giúp từ nhân loại; tình hình này nay đã thay đổi và chiến tranh thế giới là biểu tượng và sự bảo đảm của sự thay đổi đó; trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng, tức khối Liên Hiệp Quốc, đã chiến đấu với các Mãnh Lực Ác trên cõi hồng trần và đánh tan chúng. Chiến tranh có một ý nghĩa tinh thần lớn lao hơn nhiều so với điều đã được nhận ra cho đến nay. Nó đánh dấu một bước ngoặt thế giới; nó tái định hướng nhân loại về phía điều thiện; nó đẩy lùi các Mãnh Lực Ác và làm sáng tỏ dứt khoát (và điều này là mới mẻ và cần thiết) sự phân biệt chân thực giữa thiện và ác, và điều này không theo nghĩa thần học—như các nhà bình luận giáo hội đã phát biểu—mà theo cách thực tiễn và hiển nhiên. Điều đó được chứng minh bởi tình hình kinh tế tai hại và bởi lòng tham của những người nổi bật ở mọi quốc gia. Thế giới loài người (nhờ tính hiển nhiên của sự phân biệt giữa thiện và ác) đã thức tỉnh trước sự kiện bóc lột vật chất, trước sự thiếu vắng tự do chân chính và trước những quyền của cá nhân mà cho đến nay vẫn chưa được đòi hỏi. Khả năng chống lại chế độ nô lệ của con người đã trở nên hiển nhiên ở khắp nơi. Việc những người đấu tranh hướng tới tự do đang dùng những phương pháp sai lầm và thường [667] cố gắng chiến đấu với điều ác bằng điều ác là hoàn toàn đúng, nhưng điều này chỉ cho thấy các kỹ thuật chuyển tiếp và một giai đoạn tạm thời; nó là tạm thời theo quan điểm của Thánh đoàn (dù có thể dài theo góc nhìn của con người trong ba cõi giới), nhưng ngày nay nó không nhất thiết phải kéo dài.
So great has been the progress of man during the past two hundred years that the Council Chamber at Shamballa was forced to take notice. As a result of this attention by the Great Lives around Sanat Kumara and Their interest in the affairs of men, two things happened:
Sự tiến bộ của con người trong hai trăm năm qua đã lớn đến mức Phòng Hội Đồng tại Shamballa buộc phải chú ý. Kết quả của sự chú ý này từ các Đấng Sự Sống Vĩ Đại quanh Đức Sanat Kumara và sự quan tâm của Các Ngài đến công việc của loài người là hai điều đã xảy ra:
1. The will aspect of divinity made its first definite and direct contact with the human mind. The impact was direct and not deflected-as had hitherto been the case-to the Hierarchy and from thence to humanity. According to the type of man or group who responded or reacted to this contact, so were the results; they were very good or exceedingly bad. Great and good men appeared and enunciated the truths needed for the New Age, and of these Lincoln, Roosevelt, Browning, Briand and a host of lesser men could be cited. Evil and pernicious men also emerged, such as Hitler and the group he gathered around him, bringing much evil upon the Earth.
1. Phương diện ý chí của thiên tính đã tạo ra tiếp xúc đầu tiên rõ rệt và trực tiếp với trí tuệ con người. Tác động là trực tiếp chứ không bị chuyển hướng—như trước đây vẫn thế—đến Thánh đoàn rồi từ đó đến nhân loại. Tùy theo loại người hay nhóm nào đáp ứng hoặc phản ứng với tiếp xúc này mà kết quả xuất hiện; chúng rất tốt hoặc cực kỳ xấu. Những con người vĩ đại và tốt lành đã xuất hiện và công bố những chân lý cần thiết cho Kỷ Nguyên Mới, và trong số đó có thể kể Lincoln, Roosevelt, Browning, Briand và vô số người kém nổi bật hơn. Những con người ác độc và tai hại cũng nổi lên, như Hitler và nhóm mà hắn tập hợp quanh mình, mang lại nhiều điều ác cho Trái Đất.
2. At the same time, the will-to-good from Shamballa evoked the latent goodwill in man, so that today and increasingly over the past one hundred years, goodness of heart, kindness in action, consideration for others and mass action to promote human welfare have spread over the Earth.
2. Đồng thời, Ý Chí-hướng Thiện từ Shamballa đã gợi lên thiện chí tiềm ẩn trong con người, đến nỗi ngày nay và ngày càng tăng trong suốt một trăm năm qua, lòng tốt, sự tử tế trong hành động, sự quan tâm đến người khác và hành động tập thể nhằm thúc đẩy phúc lợi nhân loại đã lan rộng khắp Trái Đất.
The emergence of imperfection and the planned effort of evil have been paralleled by the appearance of the New Group of World Servers and by the preparation which the Hierarchy is making towards its externalisation upon the [668] physical plane. The Hierarchy is at this time exceedingly powerful; its Ashrams are full of initiates and disciples, and its periphery or magnetic field is drawing countless thousands of aspirants towards it. The war struck a mortal blow to material evil, and its hold on humanity is greatly weakened.
Sự xuất hiện của bất toàn và nỗ lực có kế hoạch của điều ác đã song hành với sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và với sự chuẩn bị mà Thánh đoàn đang thực hiện hướng tới sự ngoại hiện của mình trên [668] cõi hồng trần. Hiện nay Thánh đoàn cực kỳ hùng mạnh; các ashram của nó đầy những điểm đạo đồ và đệ tử, và chu vi hay từ trường của nó đang thu hút vô số hàng ngàn người chí nguyện về phía nó. Chiến tranh đã giáng một đòn chí tử vào điều ác vật chất, và sự bám giữ của nó đối với nhân loại đã suy yếu rất nhiều.
Confound not evil with the activities of the gangster or the criminal. Criminals and gangsters are the result of the emerging massed imperfections: they are the victims of ignorance, mishandling when children and misunderstanding down the ages of right human relations; the Law of Rebirth will eventually lead them on the way to good. Those men are truly evil who seek to enforce a return to the bad old ways, who endeavour to keep their fellowmen in slavery of some kind or another, who block the expression of one or all of the Four Freedoms, who gain material riches at the expense of the exploited, or who seek to hold for themselves and for gain the produce of the earth, and thus make the cost of life’s necessities prohibitive to those not richly endowed. Those who thus work, think and plan are to be found in every nation, and are usually of prominence because of their riches and influence; however, they sin against light and not through ignorance; their goals are material and not spiritual. They are relatively few compared to the countless millions of men, but are exceedingly powerful; they are highly intelligent but unscrupulous, and it is through them that the Forces of Evil work, holding back progress, promoting poverty, breeding hatred and class distinctions, fostering racial differences for their own ends, and keeping ignorance in power. Their sin is great and it is hard for them to change, because power and the will-to-power (as it militates against the will-to-good) is a dominant all-controlling factor in their lives; these men are today working against the unity of the United Nations, [669] through their greed, their determination to own the resources of the earth (such as oil, mineral wealth and food) and thus keep the people weak and with inadequate food. These men, who are found in every nation, thoroughly understand each other and are working together in great combines to exploit the riches of the earth at the expense of humanity.
Đừng nhầm lẫn điều ác với các hoạt động của bọn du đãng hay tội phạm. Tội phạm và du đãng là kết quả của những bất toàn tập thể đang nổi lên: họ là nạn nhân của vô minh, của sự xử lý sai lầm khi còn nhỏ và của sự hiểu sai về những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người qua nhiều thời đại; Định luật Tái Sinh cuối cùng sẽ dẫn họ đi trên con đường hướng thiện. Những người thực sự ác là những kẻ tìm cách áp đặt sự quay trở lại những lối cũ xấu xa, cố giữ đồng loại của mình trong một loại nô lệ nào đó, ngăn chặn sự biểu lộ của một hay tất cả Bốn Tự Do, thu lợi vật chất bằng cái giá của những người bị bóc lột, hoặc tìm cách giữ cho riêng mình và vì lợi lộc sản vật của trái đất, và do đó làm cho chi phí của những nhu yếu phẩm cuộc sống trở nên quá đắt đối với những người không được ưu đãi giàu có. Những kẻ làm việc, suy nghĩ và hoạch định như thế có mặt ở mọi quốc gia, và thường nổi bật vì sự giàu có và ảnh hưởng của họ; tuy nhiên, họ phạm tội chống lại ánh sáng chứ không phải vì vô minh; mục tiêu của họ là vật chất chứ không phải tinh thần. Họ tương đối ít so với vô số hàng triệu con người, nhưng cực kỳ quyền lực; họ rất thông minh nhưng vô lương tâm, và chính qua họ mà các Mãnh Lực Ác hoạt động, kìm hãm tiến bộ, thúc đẩy nghèo đói, gây sinh hận thù và phân biệt giai cấp, nuôi dưỡng khác biệt chủng tộc vì mục đích riêng của họ, và giữ cho vô minh nắm quyền. Tội lỗi của họ rất lớn và họ khó thay đổi, vì quyền lực và ý chí-quyền lực (khi nó chống lại Ý Chí-hướng Thiện) là một yếu tố thống trị, kiểm soát toàn bộ trong đời sống của họ; ngày nay những người này đang hoạt động chống lại sự hợp nhất của Liên Hiệp Quốc, [669] qua lòng tham của họ, qua quyết tâm sở hữu các tài nguyên của trái đất (như dầu mỏ, khoáng sản và lương thực) và do đó giữ cho dân chúng yếu đuối và thiếu ăn. Những người này, có mặt ở mọi quốc gia, hiểu nhau rất rõ và đang cùng nhau hoạt động trong những tổ hợp lớn để khai thác sự giàu có của trái đất với cái giá phải trả của nhân loại.
Russia is today singularly free of such men, so I refer not here to that vast country, as many of her enemies might surmise. Russia is making great mistakes, but they are the mistakes of a fanatical ideologist or of a gangster who sins because of ignorance, through immaturity or in fury at the evil things with which he is surrounded. This is something totally different to the evil with which I have been dealing, and it will not last, because Russia will learn; these others do not learn.
Ngày nay nước Nga đặc biệt không có những người như thế, vì vậy ở đây tôi không nói đến quốc gia rộng lớn ấy, như nhiều kẻ thù của nước này có thể suy đoán. Nước Nga đang phạm những sai lầm lớn, nhưng đó là những sai lầm của một nhà ý thức hệ cuồng tín hoặc của một tên du đãng phạm tội vì vô minh, do non nớt hoặc trong cơn giận dữ trước những điều ác bao quanh hắn. Điều này hoàn toàn khác với điều ác mà tôi đang bàn đến, và nó sẽ không kéo dài, vì nước Nga sẽ học hỏi; còn những kẻ kia thì không học.
I have used the above illustration so as to make my theme somewhat clearer. The whole problem of evil is, however, too vast to contemplate here, nor is it advisable or wise to discuss the source of evil (not of imperfection), the Black Lodge. Energy follows thought, and the spoken word can be potently evocative: therefore, until one is a member of the Great White Lodge, it is the part of wisdom to avoid consideration of forces potent enough intelligently to use the latent imperfection in humanity and to impose the vast evil of war, with all its results and far-reaching effects, upon humanity. The Black Lodge is the problem of the White Lodge, and not the problem of humanity. For aeons the Hierarchy has handled this problem, and is now in process of solving it. It is essentially, however, the main consideration and problem of Shamballa, for it is connected with the will aspect, and only the will-to-good will suffice to blot out and annihilate the will-to-evil. Goodwill will not suffice, though the united and invocative appeal of the [670] men of goodwill throughout the world-increasingly voiced through the Great Invocation-will serve “to seal the door where evil dwells.”
Tôi đã dùng minh họa trên để làm cho chủ đề của tôi phần nào rõ hơn. Tuy nhiên, toàn bộ vấn đề điều ác quá rộng lớn để chiêm ngưỡng ở đây, và cũng không thích hợp hay khôn ngoan khi bàn đến nguồn gốc của điều ác (không phải của bất toàn), tức Hắc đoàn. Năng lượng đi theo tư tưởng, và lời nói ra có thể gợi lên một cách mạnh mẽ: vì vậy, cho đến khi một người là thành viên của Thánh đoàn, thì phần minh triết là tránh xét đến những mãnh lực đủ mạnh để sử dụng một cách thông minh sự bất toàn tiềm ẩn trong nhân loại và áp đặt điều ác to lớn của chiến tranh, cùng với mọi kết quả và ảnh hưởng sâu rộng của nó, lên nhân loại. Hắc đoàn là vấn đề của Thánh đoàn, chứ không phải vấn đề của nhân loại. Trong nhiều đại kiếp, Thánh đoàn đã xử lý vấn đề này, và hiện nay đang trong tiến trình giải quyết nó. Tuy nhiên, về bản chất, đó là mối quan tâm và vấn đề chính của Shamballa, vì nó liên hệ đến phương diện ý chí, và chỉ Ý Chí-hướng Thiện mới đủ để xóa bỏ và hủy diệt ý chí-hướng ác. Thiện chí sẽ không đủ, dù lời kêu gọi hợp nhất và khẩn cầu của [670] những người thiện chí trên khắp thế giới—ngày càng được cất lên qua Đại Khấn Nguyện—sẽ giúp “niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị.”
It is behind that door and in dealing with the forces there concealed (and mobilised) that the Hierarchy is effective; the methods and modes whereby They protect humanity from mobilised evil, and are gradually driving the evil back, would not be understood by you who have not yet passed through the door which leads to the Way of the Higher Evolution.
Chính ở phía sau cánh cửa đó và trong việc đối phó với các mãnh lực bị che giấu (và được huy động) ở đó mà Thánh đoàn tỏ ra hữu hiệu; các phương pháp và cách thức nhờ đó Các Ngài bảo vệ nhân loại khỏi điều ác đã được huy động, và đang dần dần đẩy lùi điều ác, sẽ không được các bạn hiểu, những người chưa đi qua cánh cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
What shall I say concerning harmlessness? It is not easy for me to show or prove to you the effectiveness of the higher aspect, spiral or phase of harmlessness as employed by the Hierarchy, under the direction of the Perfect One, the Christ. The harmlessness with which I have earlier dealt has relation to the imperfections with which humanity is wrestling, and is difficult for you to apply in and under all circumstances, as well you know. The harmlessness to which I refer in connection with you is not negative, or sweet or kindly activity, as so many believe; it is a state of mind and one which in no way negates firm or even drastic action; it concerns motive and involves the determination that the motive behind all activity is goodwill. That motive might lead to positive and sometimes disagreeable action or speech, but as harmlessness and goodwill condition the mental approach, nothing can eventuate but good.
Tôi sẽ nói gì về tính vô tổn hại? Đối với tôi không dễ để chỉ ra hay chứng minh cho các bạn hiệu quả của phương diện cao hơn, vòng xoắn hay giai đoạn của tính vô tổn hại như được Thánh đoàn sử dụng, dưới sự chỉ đạo của Đấng Toàn Thiện, Đức Christ. Tính vô tổn hại mà tôi đã bàn đến trước đây có liên hệ với những bất toàn mà nhân loại đang vật lộn, và như các bạn biết rõ, thật khó để các bạn áp dụng nó trong và dưới mọi hoàn cảnh. Tính vô tổn hại mà tôi nói đến liên hệ với các bạn không phải là tính tiêu cực, hay hoạt động ngọt ngào hoặc tử tế, như nhiều người tin; đó là một trạng thái trí tuệ và không hề phủ nhận hành động cứng rắn hay thậm chí quyết liệt; nó liên quan đến động cơ và bao hàm quyết tâm rằng động cơ đằng sau mọi hoạt động là thiện chí. Động cơ ấy có thể dẫn đến hành động hay lời nói tích cực và đôi khi khó chịu, nhưng vì tính vô tổn hại và thiện chí tác động lên cách tiếp cận trí tuệ, nên không gì có thể xảy ra ngoài điều thiện.
On a higher turn of the spiral, the Hierarchy also employs harmlessness, but it is related to the will-to-good and involves the use of dynamic, electric energy under intuitive direction; this type of energy is never brought into activity by man; it is energy which he cannot yet handle. This type of harmlessness is based on complete self-sacrifice, wherein the will-to-sacrifice, the will-to-good and the will-to-power (three phases of the will aspect, as expressed through the [671] Spiritual Triad) are all fused into one dynamic energy of a deeply spiritual nature. This energy is the epitome of complete or perfect harmlessness, where humanity and the subsidiary kingdoms in nature are concerned, but it is expulsive in its effect and dynamic in its annihilating impact, where the Forces of Evil are concerned.
Ở một vòng xoắn cao hơn, Thánh đoàn cũng sử dụng tính vô tổn hại, nhưng nó liên hệ với Ý Chí-hướng Thiện và bao hàm việc sử dụng năng lượng điện động dưới sự chỉ đạo trực giác; loại năng lượng này không bao giờ được con người đưa vào hoạt động; đó là năng lượng mà y chưa thể xử lý. Loại tính vô tổn hại này dựa trên sự hy sinh bản thân hoàn toàn, trong đó ý chí-hi sinh, Ý Chí-hướng Thiện và ý chí-quyền lực (ba giai đoạn của phương diện ý chí, như được biểu lộ qua [671] Tam Nguyên Tinh Thần) đều được dung hợp thành một năng lượng động duy nhất có bản chất tinh thần sâu xa. Năng lượng này là tinh hoa của tính vô tổn hại trọn vẹn hay hoàn hảo, xét về nhân loại và các giới phụ thuộc trong thiên nhiên, nhưng nó có tác dụng trục xuất và có tác động hủy diệt đầy năng động đối với các Mãnh Lực Ác.
A close but esoteric study of the three temptations of the Christ will reveal three major occasions when the Perfect One, expressing this higher harmlessness, forced the exponent of evil to retreat. This triple episode is symbolically related, but is factual in nature. Little thought has ever been given to what would have been the worldwide effect down the centuries if the Christ had not reacted as He did; speculation is of little use, but it might be stated that the entire course of history and of the evolutionary progress of humanity would have been altered, and in a dire and awful manner. But the dynamic harmlessness, the expression of the will-to-good and the demonstration of the will-to-power (forcing evil to leave Him) marked a most important crisis in the life of the Christ. The Gospel story (with its resume of the five initiations) concerns the progress and triumph of the Master Jesus; the story of the three temptations indicated the taking of a still higher initiation, the sixth, by the Christ; this conferred on Him complete mastery over evil, and not mastery over imperfection; it was because He was the “Perfect One” that He could take this initiation.
Một nghiên cứu gần gũi nhưng huyền bí về ba cám dỗ của Đức Christ sẽ cho thấy ba dịp lớn khi Đấng Toàn Thiện, biểu lộ tính vô tổn hại cao hơn này, đã buộc kẻ đại diện cho điều ác phải rút lui. Giai đoạn tam phân này có liên hệ biểu tượng, nhưng có bản chất sự kiện. Ít ai từng suy nghĩ về ảnh hưởng toàn cầu qua nhiều thế kỷ sẽ ra sao nếu Đức Christ đã không phản ứng như Ngài đã làm; suy đoán ít có ích, nhưng có thể nói rằng toàn bộ tiến trình lịch sử và sự tiến bộ tiến hoá của nhân loại đã bị thay đổi, và theo một cách khủng khiếp, tai hại. Nhưng tính vô tổn hại năng động, sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện và sự chứng minh của ý chí-quyền lực (buộc điều ác rời khỏi Ngài) đã đánh dấu một cuộc khủng hoảng cực kỳ quan trọng trong đời sống của Đức Christ. Câu chuyện Phúc Âm (với phần tóm lược năm lần điểm đạo) liên quan đến sự tiến bộ và chiến thắng của Chân sư Jesus; câu chuyện về ba cám dỗ cho thấy việc Đức Christ tiếp nhận một điểm đạo còn cao hơn nữa, lần thứ sáu; điều này ban cho Ngài quyền làm chủ hoàn toàn đối với điều ác, chứ không phải quyền làm chủ đối với bất toàn; chính vì Ngài là “Đấng Toàn Thiện” mà Ngài có thể tiếp nhận điểm đạo này.
I have given you much for mature consideration and thrown some light upon an initiation of which little, naturally, can be known. I would call your attention also to the three fundamental requirements for a successful approach to this initiation: perfect poise, a completed point of view and divine understanding. You would find it of interest to see how these three qualities work out in relation to the [672] three temptations; in so doing much light would be thrown on the life, nature and character of the Christ.
Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều để suy xét chín chắn và đã soi sáng phần nào về một điểm đạo mà dĩ nhiên ít điều có thể được biết đến. Tôi cũng muốn lưu ý các bạn đến ba yêu cầu căn bản để tiếp cận thành công điểm đạo này: sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm đã hoàn tất và sự thấu hiểu thiêng liêng. Các bạn sẽ thấy thú vị khi xem ba phẩm tính này vận hành như thế nào trong liên hệ với [672] ba cám dỗ; khi làm như vậy, nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào đời sống, bản chất và tính cách của Đức Christ.
Under the Law of Perfection we are given the key to the civilisation and cycle of evolution which He inaugurated—the ideal of which is not lost, though the application of the teaching He gave has been neglected by the churches and by mankind. You will note also that one temptation takes place on the summit of a high mountain; from that elevation both time and space are totally negated, for the vision of Christ ranged from the past, through the present and on into the future. This state of awareness (I cannot call it consciousness, and awareness is almost as inaccurate a word) is only possible after the fifth initiation, reaching a high point of expression at the sixth initiation.
Dưới Định luật Toàn Thiện, chúng ta được trao chiếc chìa khóa cho nền văn minh và chu kỳ tiến hoá mà Ngài đã khai mở—lý tưởng của nó không bị mất đi, dù việc áp dụng giáo huấn mà Ngài đã trao đã bị các giáo hội và nhân loại bỏ bê. Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng một cám dỗ diễn ra trên đỉnh một ngọn núi cao; từ độ cao đó cả thời gian lẫn không gian đều hoàn toàn bị phủ nhận, vì linh thị của Đức Christ trải dài từ quá khứ, xuyên qua hiện tại và đi vào tương lai. Trạng thái nhận biết này (tôi không thể gọi nó là tâm thức, và nhận biết cũng gần như là một từ không chính xác) chỉ có thể có sau lần điểm đạo thứ năm, đạt đến một điểm biểu lộ cao ở lần điểm đạo thứ sáu.
I would like to consider with you the nature of the three requirements presented as essential for a certain initiation, because they provide the link between Law IX and Rule Six. The rule is so clear and concise that it needs but little explanation, emphasising, as it does, energy which must be used and that which must not. It says:
Tôi muốn cùng các bạn xét đến bản chất của ba yêu cầu được trình bày là thiết yếu cho một điểm đạo nhất định, vì chúng cung cấp mối liên kết giữa Định luật IX và Quy luật Sáu. Quy luật này rõ ràng và súc tích đến mức chỉ cần rất ít giải thích, vì nó nhấn mạnh năng lượng nào phải được sử dụng và năng lượng nào không được sử dụng. Nó nói:
RULE SIX — QUY LUẬT SÁU
The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will which must be used, but love.
Nhà trị liệu hay nhóm trị liệu phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Không phải ý chí phải được sử dụng, mà là bác ái.
These three basic requirements concern attainment on various planes of the universe; though I dealt with them in connection with the approach to the sixth initiation, they have— on a lower turn of the spiral—their correspondences, and are therefore of practical application by the initiated disciple, particularly one who has taken the third initiation. Let us take them, one by one, into our thinking:
Ba yêu cầu căn bản này liên quan đến thành tựu trên nhiều cõi khác nhau của vũ trụ; dù tôi đã bàn đến chúng trong liên hệ với việc tiếp cận lần điểm đạo thứ sáu, chúng vẫn có—ở một vòng xoắn thấp hơn—những đối ứng của chúng, và do đó có thể được đệ tử được điểm đạo áp dụng một cách thực tiễn, đặc biệt là người đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba. Chúng ta hãy lần lượt đưa chúng vào tư tưởng của mình:
Perfect Poise indicates complete control of the astral body, so that emotional upheavals are overcome, or at [673] least are greatly minimised in the life of the disciple. It indicates also, on the higher turn of the spiral, an ability to function freely on buddhic levels, owing to complete liberation (and consequent poise) from all the influences and impulses which are motived from the three worlds. This type or quality of poise connotes-if you will think deeply-an abstract state of mind; nothing which is regarded as nonperfection can create disturbance. You can realise surely that, if you were entirely free from all emotional reactions, your clarity of mind and your ability to think clearly would be enormously increased, with all that that involves
Sự Quân Bình Hoàn Hảo biểu thị sự kiểm soát hoàn toàn thể cảm dục, để những xáo trộn cảm xúc được vượt qua, hoặc ít [673] nhất được giảm thiểu rất nhiều trong đời sống của đệ tử. Nó cũng biểu thị, ở vòng xoắn cao hơn, một khả năng hoạt động tự do trên các cấp độ Bồ đề, nhờ sự giải thoát hoàn toàn (và do đó là sự quân bình) khỏi mọi ảnh hưởng và xung lực được thúc đẩy từ ba cõi giới. Loại hay phẩm tính quân bình này hàm ý—nếu các bạn suy nghĩ sâu sắc—một trạng thái trí tuệ trừu tượng; không điều gì được xem là bất toàn có thể tạo ra xáo trộn. Chắc hẳn các bạn có thể nhận ra rằng, nếu các bạn hoàn toàn thoát khỏi mọi phản ứng cảm xúc, thì sự sáng suốt của trí tuệ và khả năng suy nghĩ rõ ràng của các bạn sẽ tăng lên vô cùng, cùng với tất cả những gì điều đó bao hàm.
Naturally, the perfect poise of an initiated disciple and that of the initiated Master are different, for one concerns the effect of the three worlds or their non-effect, and the other concerns adaptability to the rhythm of the Spiritual Triad; nevertheless, the earlier type of poise must precede the later achievement, hence my consideration of the subject. This perfect poise (which is a possible achievement for you who read) is arrived at by ruling out the pulls, the urges, impulses and attractions of the astral or emotional nature, and also by the practice of what I have earlier mentioned: Divine Indifference.
Dĩ nhiên, sự quân bình hoàn hảo của một đệ tử được điểm đạo và của một Chân sư được điểm đạo là khác nhau, vì một bên liên quan đến tác động của ba cõi giới hay sự không tác động của chúng, còn bên kia liên quan đến khả năng thích ứng với nhịp điệu của Tam Nguyên Tinh Thần; tuy nhiên, loại quân bình trước phải đi trước thành tựu sau, do đó tôi mới xét đến chủ đề này. Sự quân bình hoàn hảo này (là một thành tựu có thể có đối với các bạn đang đọc) đạt được bằng cách loại trừ những sức kéo, những thôi thúc, xung lực và hấp lực của bản chất cảm dục hay cảm xúc, và cũng bằng việc thực hành điều mà trước đây tôi đã đề cập: Điềm nhiên thiêng liêng.
A Completed Point of View. This necessarily and primarily refers to the universal outlook of the Monad, and therefore to an initiate of the higher degrees. It can, however, be interpreted on a lower rung of the ladder of evolution and refers to the function of the soul as an Observer in the three worlds and the completed all-round picture such an observer gradually attains. This is brought about by the development of the two qualities of detachment and discrimination. These two qualities, [674] when expressed on the Way to the Higher Evolution, become Abstraction and the Will-to-good.
Một Quan Điểm Hoàn Chỉnh. Điều này tất yếu và trước hết ám chỉ quan điểm phổ quát của chân thần, và vì thế ám chỉ một điểm đạo đồ ở các cấp cao. Tuy nhiên, nó có thể được diễn giải ở một nấc thấp hơn trên chiếc thang tiến hoá và ám chỉ chức năng của linh hồn như một Đấng Quan Sát trong ba cõi giới và bức tranh toàn diện hoàn chỉnh mà một đấng quan sát như thế dần dần đạt được. Điều này được mang lại nhờ sự phát triển của hai phẩm tính là tách rời và phân biện. Hai phẩm tính này, [674] khi được biểu lộ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, trở thành Sự Trừu Xuất và Ý Chí-hướng Thiện.
A completed point of view-as experienced on soul levels—indicates the removal of all barriers and the freedom of the disciple from the great heresy of separateness; he has therefore created an unclogged channel for the inflow of pure love. Perfect poise, viewed from the same level, has removed all impediments and those emotional factors which have hitherto blocked the channel, thus preparing the way for the Observer to see truly; the disciple then functions as a clear channel for love.
Một quan điểm hoàn chỉnh—như được kinh nghiệm trên các cấp độ linh hồn—cho thấy sự loại bỏ mọi rào cản và sự giải thoát của đệ tử khỏi Đại Tà thuyết về tính tách biệt; vì thế y đã tạo ra một kênh thông suốt cho dòng bác ái thuần khiết tuôn vào. Sự quân bình hoàn hảo, khi được nhìn từ cùng cấp độ ấy, đã loại bỏ mọi chướng ngại và những yếu tố cảm xúc từ trước đến nay đã ngăn chặn kênh này, nhờ đó chuẩn bị con đường để Đấng Quan Sát thấy đúng thật; khi ấy đệ tử hoạt động như một kênh trong sáng cho bác ái.
Divine Understanding must also be studied from two points of view. As a soul quality, it indicates a mind which can be held steady in the light, and can therefore reflect the pure reason (pure love) which qualifies the reflections of the Son of Mind, the soul on its own plane. On the higher Way of the Master, it relates to that identification which supersedes the individualistic consciousness; all barriers have gone, and the initiate sees things as they are; he knows the causes of which all phenomena are the ephemeral effects. This, consequently, enables Him to understand the Purpose, as it emanates from Shamballa, just as the lesser initiate understands the Plan as it is formulated by the Hierarchy.
Sự Thấu Hiểu thiêng liêng cũng phải được nghiên cứu từ hai quan điểm. Với tư cách là một phẩm tính của linh hồn, nó cho thấy một trí tuệ có thể được giữ vững trong ánh sáng, và vì thế có thể phản chiếu lý trí thuần khiết (bác ái thuần khiết), vốn tạo phẩm tính cho những phản chiếu của Con của Trí Tuệ, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. Trên Con đường cao hơn của Chân sư, nó liên hệ đến sự đồng hoá vượt lên trên tâm thức cá nhân chủ nghĩa; mọi rào cản đều đã biến mất, và điểm đạo đồ thấy sự vật đúng như chúng là; y biết các nguyên nhân mà mọi hiện tượng chỉ là những hiệu quả phù du của chúng. Do đó, điều này giúp Ngài thấu hiểu Thiên Ý, như nó xuất lộ từ Shamballa, cũng như điểm đạo đồ thấp hơn thấu hiểu Thiên Cơ như nó được Thánh Đoàn hoạch định.
All three of these divine attributes are, in some measure, essential in the development of the initiate-healer; he must work at their unfoldment as part of his necessary equipment; he must know that all reactions of an emotional nature create a wall or barrier between the free flow of healing force and the patient, and that the barrier is created by him and not by the patient. The emotions of the [675] patient should have no effect upon the healer and should fail to deviate him from the intense concentration needed for his work; these emotions of the patient cannot in themselves create a barrier strong enough to deflect the healing force.
Cả ba thuộc tính thiêng liêng này, ở một mức độ nào đó, đều thiết yếu cho sự phát triển của điểm đạo đồ chữa lành; y phải nỗ lực khai mở chúng như một phần trong trang bị cần thiết của mình; y phải biết rằng mọi phản ứng có bản chất cảm xúc đều tạo ra một bức tường hay rào cản giữa dòng chảy tự do của mãnh lực chữa lành và bệnh nhân, và rằng rào cản ấy do chính y tạo ra chứ không phải do bệnh nhân. Những cảm xúc của [675] bệnh nhân không nên có ảnh hưởng nào lên người chữa lành và không được làm y lệch khỏi sự tập trung mãnh liệt cần thiết cho công việc của mình; tự bản thân những cảm xúc ấy của bệnh nhân không thể tạo ra một rào cản đủ mạnh để làm chệch hướng mãnh lực chữa lành.
A completed point of view involves at least the attempt by the disciple to penetrate into the world of causes, and thus learn (if possible) what it is that is responsible for the disease of the patient. This need not involve penetration into previous incarnations, nor is that essential, in spite of what some modern and generally fraudulent healers may claim. There is usually enough psychological evidence, or indications of inherited tendencies, to give the healer his clue and to enable him to get a somewhat complete picture of the situation. It is obvious that this “penetration” into the causes of the trouble will only be possible if the healer loves enough; because he loves, he has achieved a poise which brings negation to the world of illusion and of glamour. Divine understanding is simply the application of the principle of pure love (pure reason) to all men and to all circumstances, plus right interpretation of the existing difficulties of the patient, or of those which may exist between patient and healer.
Một quan điểm hoàn chỉnh ít nhất bao hàm nỗ lực của đệ tử nhằm thâm nhập vào thế giới của các nguyên nhân, và nhờ đó học biết (nếu có thể) điều gì chịu trách nhiệm về bệnh tật của bệnh nhân. Điều này không nhất thiết bao hàm việc thâm nhập vào các kiếp trước, và điều đó cũng không thiết yếu, bất chấp điều mà một số người chữa lành hiện đại và nói chung là giả trá có thể tuyên bố. Thường thường có đủ bằng chứng tâm lý học, hoặc những dấu hiệu về các khuynh hướng di truyền, để cho người chữa lành đầu mối của mình và giúp y có được một bức tranh phần nào hoàn chỉnh về tình huống. Hiển nhiên là sự “thâm nhập” vào các nguyên nhân của rắc rối này sẽ chỉ có thể nếu người chữa lành yêu thương đủ nhiều; bởi vì y yêu thương, y đã đạt được một sự quân bình mang lại sự phủ định cho thế giới của ảo tưởng và ảo cảm. Sự thấu hiểu thiêng liêng đơn giản là việc áp dụng nguyên khí của bác ái thuần khiết (lý trí thuần khiết) cho mọi người và mọi hoàn cảnh, cộng với sự diễn giải đúng đắn những khó khăn hiện có của bệnh nhân, hoặc của những khó khăn có thể tồn tại giữa bệnh nhân và người chữa lành.
To these requirements I would like to add another factor: that of the doctor, physician or surgeon who is physically responsible for the patient. In the coming new era, the healer will work always with the scientific aid of the trained medical man; this is a factor which causes bewilderment, at present, to the average modern healer belonging to some cult or expressing some unorthodox phase of healing.
Vào những đòi hỏi này, tôi muốn thêm một yếu tố khác: đó là bác sĩ, y sĩ hay phẫu thuật viên chịu trách nhiệm về mặt thể xác đối với bệnh nhân. Trong kỷ nguyên mới đang đến, người chữa lành sẽ luôn luôn làm việc với sự trợ giúp khoa học của nhà y khoa được đào tạo; hiện nay, đây là một yếu tố gây bối rối cho người chữa lành hiện đại trung bình thuộc một giáo phái nào đó hoặc biểu lộ một phương diện chữa lành không chính thống nào đó.
It will therefore be apparent how these three divine requirements (when stepped down for the use of the disciple in the modern world) indicate a line of training or of self-discipline [676] to which all should apply themselves. When they have mastered even some of the earliest phases of this triple achievement, they will find that they can apply Rule Six with ease.
Do đó, sẽ thấy rõ ba đòi hỏi thiêng liêng này (khi được hạ xuống để đệ tử trong thế giới hiện đại sử dụng) cho thấy một đường lối huấn luyện hay tự kỷ luật [676] mà tất cả nên áp dụng cho chính mình. Khi họ đã làm chủ được dù chỉ một vài giai đoạn sớm nhất của thành tựu tam phân này, họ sẽ thấy rằng họ có thể áp dụng quy luật Sáu một cách dễ dàng.
What is meant by the words “to keep the will in leash”? The will aspect here considered is not that of the will-to-good and its lower expression goodwill. The will-to-good signifies the stable, immovable orientation of the initiated disciple, whilst goodwill can be regarded as its expression in daily service. The will-to-good, as expressed by a higher initiate, is a dynamic energy having predominantly a group effect; for this reason, the higher initiates seldom concern themselves with the healing of an individual. Their work is too potent and too important to permit them to do so, and the will energy, embodying as it does divine Purpose, might prove destructive in its effects upon an individual. The patient would not be able to receive or absorb it. It is, however, assumed that goodwill colours the entire attitude and thinking of the healing disciple.
Những lời “giữ ý chí trong vòng kiềm chế” có nghĩa là gì? Phương diện ý chí được xét ở đây không phải là phương diện của Ý Chí-hướng Thiện và biểu hiện thấp hơn của nó là thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện biểu thị sự định hướng ổn định, bất lay chuyển của đệ tử được điểm đạo, trong khi thiện chí có thể được xem như biểu hiện của nó trong phụng sự hằng ngày. Ý Chí-hướng Thiện, như được biểu lộ bởi một điểm đạo đồ cao hơn, là một năng lượng năng động có tác động chủ yếu lên nhóm; vì lý do này, các điểm đạo đồ cao hiếm khi bận tâm đến việc chữa lành cho một cá nhân. Công việc của Các Ngài quá mạnh mẽ và quá quan trọng để cho phép Các Ngài làm như vậy, và năng lượng ý chí, vì nó hiện thân cho Thiên Ý, có thể tỏ ra có tác động hủy diệt đối với một cá nhân. Bệnh nhân sẽ không thể tiếp nhận hay hấp thụ nó. Tuy nhiên, giả định rằng thiện chí nhuốm màu toàn bộ thái độ và tư tưởng của đệ tử chữa lành.
The will which must be kept in leash is the will of the personality which, in the case of the initiated disciple, is of a very high order. It also relates to the will of the soul, emanating from the petals of sacrifice in the egoic lotus. All true healers have to create a healing thoughtform, and through this they consciously or unconsciously work. It is this thoughtform which must be kept free from a too powerful use of the will, for it can (unless held in leash, stepped down, modified or, if needed, eliminated altogether) destroy not only the thoughtform created by the healer, but it can also build a barrier between healer and patient; the initial rapport is thus broken. Only a Christ can heal by the use of the will, and He seldom in reality healed at all; in the cases where He is reported to have done so, His reason was to prove the possibility of healing; but-as you will [677] note if you are familiar with the Gospel story—He gave no instructions to His disciples upon the art of healing. This is significant.
Ý chí phải được giữ trong vòng kiềm chế là ý chí của phàm ngã, mà trong trường hợp của đệ tử được điểm đạo, thuộc một trật tự rất cao. Nó cũng liên hệ đến ý chí của linh hồn, phát ra từ các cánh hoa hi sinh trong Hoa Sen Chân Ngã. Mọi người chữa lành chân chính đều phải tạo ra một Hình tư tưởng chữa lành, và thông qua đó họ làm việc một cách hữu thức hay vô thức. Chính Hình tư tưởng này phải được giữ cho khỏi bị sử dụng ý chí quá mạnh, vì nó có thể (trừ phi được kiềm chế, hạ xuống, điều chỉnh hoặc, nếu cần, loại bỏ hoàn toàn) hủy diệt không chỉ Hình tư tưởng do người chữa lành tạo ra, mà còn có thể dựng nên một rào cản giữa người chữa lành và bệnh nhân; do đó sự giao cảm ban đầu bị phá vỡ. Chỉ một Đức Christ mới có thể chữa lành bằng việc sử dụng ý chí, và trên thực tế Ngài hiếm khi chữa lành chút nào; trong những trường hợp có ghi lại rằng Ngài đã làm như vậy, lý do của Ngài là để chứng minh khả năng chữa lành; nhưng—như bạn sẽ [677] lưu ý nếu bạn quen thuộc với câu chuyện Phúc Âm—Ngài không đưa ra chỉ dẫn nào cho các đệ tử của Ngài về nghệ thuật chữa lành. Điều này đầy ý nghĩa.
The self-will (no matter of how high a quality) of the healer, and his determined effort to heal the patient, create a tension in the healer which can seriously deflect the healing current of energy. When this type of will is present, as it frequently is in the inexperienced healer or the non-initiated healer, the healer is apt to absorb the patient’s difficulty and will experience symptoms of the trouble and the pain. His willful determination to be of help acts like a boomerang and he suffers, whilst the patient is not really helped.
Ý chí cá nhân (dù có phẩm tính cao đến đâu) của người chữa lành, và nỗ lực cương quyết của y nhằm chữa lành bệnh nhân, tạo ra một sự căng thẳng nơi người chữa lành có thể làm chệch hướng nghiêm trọng dòng năng lượng chữa lành. Khi loại ý chí này hiện diện, như thường xảy ra nơi người chữa lành thiếu kinh nghiệm hoặc người chữa lành chưa được điểm đạo, người chữa lành dễ hấp thụ khó khăn của bệnh nhân và sẽ kinh nghiệm các triệu chứng của bệnh và cơn đau. Sự quyết tâm đầy ý chí của y muốn giúp đỡ hoạt động như một chiếc boomerang và y phải chịu đau khổ, trong khi bệnh nhân thực sự không được giúp đỡ.
So the instruction is to use love, and here a major difficulty emerges. How can the healer use love, freed from its emotional or lower quality, and bring it through in its pure state for the healing of the patient? Only as the healer has cultivated the three requirements, and has therefore developed himself as a pure channel. He is apt to be so preoccupied with himself, with the definition of love, and with the determination to heal the patient that the three requirements are neglected. Then both he and the patient are wasting each other’s time. He need not brood or worry about the nature of pure love, or endeavour too ardently to understand how pure reason and pure love are synonymous terms, or whether he can show sufficient love to effect a healing. Let him ponder on the three requirements, particularly the first, and let him fulfill within himself these three requirements as far as in him lies and his point in evolution permits. He will then become a pure channel and the hindrances to the inflow of pure love will be automatically removed for “as a man thinketh in his heart so is he”; then, without obstruction or difficulty pure love will pour through him and the patient will be healed—if such is the law for him.
Vì vậy, chỉ dẫn là hãy dùng bác ái, và ở đây một khó khăn lớn xuất hiện. Làm sao người chữa lành có thể dùng bác ái, được giải thoát khỏi phẩm tính cảm xúc hay thấp của nó, và chuyển nó qua trong trạng thái thuần khiết để chữa lành bệnh nhân? Chỉ khi người chữa lành đã vun bồi ba đòi hỏi ấy, và vì thế đã phát triển chính mình thành một kênh thuần khiết. Y dễ bị bận tâm quá mức về chính mình, về định nghĩa của bác ái, và về quyết tâm chữa lành bệnh nhân đến nỗi ba đòi hỏi ấy bị sao lãng. Khi đó cả y lẫn bệnh nhân đều đang lãng phí thời gian của nhau. Y không cần phải trầm tư hay lo lắng về bản chất của bác ái thuần khiết, hoặc cố gắng quá mức để hiểu cách nào lý trí thuần khiết và bác ái thuần khiết là những thuật ngữ đồng nghĩa, hay liệu y có thể biểu lộ đủ bác ái để tạo ra một sự chữa lành hay không. Hãy để y suy ngẫm về ba đòi hỏi ấy, đặc biệt là đòi hỏi thứ nhất, và hãy để y hoàn thành trong chính mình ba đòi hỏi này xa đến mức khả năng của y và điểm tiến hoá của y cho phép. Khi ấy y sẽ trở thành một kênh thuần khiết và những chướng ngại đối với dòng bác ái thuần khiết tuôn vào sẽ tự động được loại bỏ vì “con người nghĩ trong tim mình thế nào thì y là thế ấy”; khi đó, không có cản trở hay khó khăn, bác ái thuần khiết sẽ tuôn qua y và bệnh nhân sẽ được chữa lành—nếu đó là định luật đối với y.
[678]
[678]
We come now to the final and the most mysterious law of all that I have given you. I called your attention to it earlier, and there pointed out that this “last law is an enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death, and which has reference only to those found upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.” By these later stages I refer to the period after the second initiation and prior to taking the third. This law does not apply in any way as long as the emotional nature can disturb the clear rhythm of the personality as it responds to the impact of soul energy, and later to monadic. There is not, therefore, a great deal that I can make clear to you as regards the full working of this law, but I can indicate certain most interesting ideas and correspondences; these will foster in you constructive speculative thinking, yet at the same time they embody proven facts for those of us who are initiated disciples of the Christ or of Sanat Kumara.
Giờ đây chúng ta đi đến định luật cuối cùng và huyền nhiệm nhất trong tất cả những định luật mà tôi đã trao cho các bạn. Tôi đã lưu ý các bạn đến nó từ trước, và ở đó đã chỉ ra rằng “định luật cuối cùng này là sự phát biểu của một định luật mới được thay thế cho Định luật Tử Vong, và chỉ liên quan đến những ai ở trên các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.” Bởi các giai đoạn sau này, tôi muốn nói đến thời kỳ sau lần điểm đạo thứ hai và trước khi nhận lần điểm đạo thứ ba. Định luật này hoàn toàn không áp dụng chừng nào bản chất cảm xúc còn có thể làm xáo trộn nhịp điệu rõ ràng của phàm ngã khi nó đáp ứng với tác động của năng lượng linh hồn, và về sau là năng lượng chân thần. Vì vậy, không có nhiều điều tôi có thể làm sáng tỏ cho các bạn liên quan đến sự vận hành đầy đủ của định luật này, nhưng tôi có thể chỉ ra một số ý tưởng và tương ứng rất lý thú; những điều này sẽ nuôi dưỡng trong các bạn tư duy suy đoán có tính xây dựng, đồng thời chúng hiện thân cho những sự kiện đã được chứng minh đối với những người như chúng tôi là các đệ tử được điểm đạo của Đức Christ hay của Đức Sanat Kumara.
LAW X — ĐỊNH LUẬT X
Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind then organises itself and then repeats the Word: The waiting form responds and drops away. The soul stands free.
Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi đến từ Người Con gửi đến Người Mẹ, rồi hãy tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự xong mục đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ: Hình tướng đang chờ đáp ứng và rơi rụng đi. Linh hồn đứng tự do.
Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.
Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi đến trong khối cầu của nghĩa vụ; hãy nhận biết tiếng gọi, xuất hiện từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống, và nhờ đó cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết. Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và hoa trái của mọi kinh nghiệm. Đó là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp lại.
[679]
[679]
This Law X is the forerunner of many new laws concerning the relation of soul to form or of spirit to matter; this one is given first for two reasons:
Định luật X này là tiền thân của nhiều định luật mới liên quan đến mối quan hệ giữa linh hồn và hình tướng hay giữa tinh thần và vật chất; định luật này được đưa ra trước tiên vì hai lý do:
1. It can be applied by disciples and thus proven to be true to the mass of men, and above all, to the scientific world.
1. Nó có thể được các đệ tử áp dụng và nhờ đó được chứng minh là chân thật đối với quần chúng, và trên hết là đối với thế giới khoa học.
2. In the mass of testimony and in the type of death (called at this stage “transference”) the fact of the Hierarchy and of Shamballa can be established.
2. Trong khối lượng chứng cứ và trong loại tử vong (ở giai đoạn này được gọi là “chuyển dịch”), sự kiện về Thánh Đoàn và về Shamballa có thể được xác lập.
There are three sources of the abstraction which we call “death” if we exclude accident (which may be incident to other people’s karma), war (which involves planetary karma) and natural catastrophes (which are connected entirely with the body of manifestation of the One in Whom we live and move and have our being).
Có ba nguồn của sự trừ xuất mà chúng ta gọi là “cái chết” nếu loại trừ tai nạn (có thể là do nghiệp quả của người khác), chiến tranh (liên quan đến nghiệp quả hành tinh) và các thảm họa thiên nhiên (hoàn toàn gắn với thể biểu hiện của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu).
I might pause here at this thought and make somewhat clearer to you the distinction between this “unknown God,” who expresses himself through the planet as a whole, and Sanat Kumara in His high place at Shamballa. Sanat Kumara is in Himself the essential Identity, responsible for the manifested worlds, but so great is His command of energies and forces—owing to His cosmic unfoldment that He requires the entire planet through which to express all that He is. Having the full consciousness of the cosmic astral plane and of the cosmic mental plane, He can apply energies and forces-under cosmic law—which create, sustain and utilise, for the ends of His divine Purpose, the entire planet. He animates the planet with His life; He sustains the planet and all that is in or on it through His soul quality, which He imparts in varying measure to every form; He creates continuously the new forms needed to express the “life more abundantly” and the “increasing purpose of His will” which the progress of the ages makes [680] cyclically possible. We live at this time in a cycle wherein His intense activity is utilising the technique of divine destruction for the release of the spiritual life, and He is simultaneously creating the new structure of civilisation which will express more fully the evolutionary attainment of the planet and the kingdoms in nature, leading eventually to the perfect expression of His divine life and purpose.
Tôi có thể dừng lại ở đây nơi tư tưởng này và làm cho các bạn hiểu rõ hơn phần nào sự phân biệt giữa “Thượng đế vô danh” này, Đấng biểu lộ chính mình qua toàn thể hành tinh, và Đức Sanat Kumara ở địa vị cao cả của Ngài tại Shamballa. Đức Sanat Kumara tự thân là Bản Sắc cốt yếu, chịu trách nhiệm về các thế giới biểu hiện, nhưng quyền năng của Ngài đối với các năng lượng và mãnh lực lớn lao đến mức—do sự khai mở vũ trụ của Ngài—Ngài cần đến toàn thể hành tinh để biểu lộ tất cả những gì Ngài là. Với tâm thức trọn vẹn của cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ, Ngài có thể vận dụng các năng lượng và mãnh lực—dưới định luật vũ trụ—những thứ tạo ra, duy trì và sử dụng, cho các mục đích của Thiên Ý của Ngài, toàn thể hành tinh. Ngài làm sinh động hành tinh bằng sự sống của Ngài; Ngài duy trì hành tinh và mọi sự trong hay trên đó qua phẩm tính linh hồn của Ngài, điều mà Ngài truyền đạt với mức độ khác nhau cho mọi hình tướng; Ngài liên tục tạo ra những hình tướng mới cần thiết để biểu lộ “sự sống dồi dào hơn” và “mục đích ngày càng tăng của ý chí Ngài” mà sự tiến bộ của các thời đại làm cho [680] có thể theo chu kỳ. Hiện nay chúng ta đang sống trong một chu kỳ mà hoạt động mãnh liệt của Ngài đang sử dụng kỹ thuật hủy diệt thiêng liêng để giải phóng sự sống tinh thần, đồng thời Ngài đang tạo ra cấu trúc mới của nền văn minh sẽ biểu lộ đầy đủ hơn thành tựu tiến hoá của hành tinh và các giới trong thiên nhiên, cuối cùng dẫn đến sự biểu lộ hoàn hảo của sự sống và mục đích thiêng liêng của Ngài.
It would perhaps be wise if we took this tenth Law somewhat in detail, where possible, so as to arrive at the synthesis which it is intended to convey: we will thus gain some realisation that death itself is a part of the creative process of synthesising. It is essential that new ideas and a new approach to the entire problem of dying are inaugurated.
Có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta xét định luật thứ mười này phần nào chi tiết, ở nơi nào có thể, để đi đến sự tổng hợp mà nó được dự định truyền đạt: nhờ đó chúng ta sẽ đạt được một sự chứng nghiệm nào đó rằng chính cái chết là một phần của tiến trình sáng tạo mang tính tổng hợp. Điều thiết yếu là những ý tưởng mới và một cách tiếp cận mới đối với toàn bộ vấn đề chết phải được khởi xướng.
Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey.
Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi đến từ Người Con gửi đến Người Mẹ, rồi hãy tuân theo.
Even whilst we realise from the context that this refers to the discarding of the physical body, it is useful to remember that this form of wording can signify much more than that. It can be interpreted to mean the entire relation of soul and personality, and to involve the prompt obedience of the Mother (the personality) to the Son (the soul). Without his prompt obedience, involving as it does the recognition of the informing Voice, the personality will remain deaf to the call of the soul to relinquish the body. No habitual response has been developed. I would ask you to ponder on the implications.
Ngay cả khi chúng ta nhận ra từ văn cảnh rằng điều này ám chỉ việc bỏ đi thể xác, vẫn hữu ích khi nhớ rằng cách diễn đạt này có thể hàm ý nhiều hơn thế. Nó có thể được diễn giải là toàn bộ mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, và bao hàm sự tuân phục mau lẹ của Người Mẹ (phàm ngã) đối với Người Con (linh hồn). Nếu không có sự tuân phục mau lẹ ấy, vốn bao hàm sự nhận biết Tiếng Nói đang thấm nhuần, phàm ngã sẽ vẫn điếc trước tiếng gọi của linh hồn yêu cầu từ bỏ thể xác. Chưa có sự đáp ứng theo thói quen nào được phát triển. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về những hàm ý này.
I am, I know, recapitulating when I point out that the Mother aspect is the material aspect and the soul—on its own plane—is the Son. This injunction, therefore, concerns the relation of matter and soul, and thus lays the foundation for all the relationships which the disciple has to learn to recognise. Obedience is not here enforced; [681] it is contingent upon hearing; then obedience follows as the next development. This is an easier process, little as you may think it. This distinction, relative to the process of obedience, is interesting because the process of learning by hearing is always slow and is one of the qualities or aspects of the stage of orientation. Learning by sight is definitely connected with the Path of Discipleship, and any who wish to become wise and true workers must learn to distinguish between the hearers and those who see. A realisation of the difference would lead to basic changes in technique. In the one case, you are working with those who are definitely under the influence and control of the Mother, and who need to be trained to see. In the other, you are dealing with those who have heard and who are developing the spiritual correspondence of sight. They are therefore susceptible to the vision.
Tôi biết rằng tôi đang nhắc lại khi chỉ ra rằng phương diện Mẹ là phương diện vật chất và linh hồn—trên cõi riêng của nó—là Người Con. Vì vậy, mệnh lệnh này liên quan đến mối quan hệ giữa vật chất và linh hồn, và nhờ đó đặt nền tảng cho mọi mối quan hệ mà đệ tử phải học để nhận biết. Sự tuân phục ở đây không bị cưỡng bách; [681] nó tùy thuộc vào việc nghe thấy; rồi sự tuân phục theo sau như bước phát triển kế tiếp. Đây là một tiến trình dễ hơn, dù bạn có thể nghĩ ít như thế nào đi nữa. Sự phân biệt này, liên quan đến tiến trình tuân phục, thật lý thú vì tiến trình học bằng nghe luôn luôn chậm và là một trong những phẩm tính hay phương diện của giai đoạn định hướng. Học bằng thấy rõ ràng gắn với Con Đường Đệ Tử, và bất kỳ ai muốn trở thành người hoạt động khôn ngoan và chân chính đều phải học cách phân biệt giữa những người nghe và những người thấy. Sự nhận ra khác biệt ấy sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản trong kỹ thuật. Trong trường hợp thứ nhất, bạn đang làm việc với những người rõ ràng còn ở dưới ảnh hưởng và sự kiểm soát của Người Mẹ, và cần được huấn luyện để thấy. Trong trường hợp thứ hai, bạn đang xử lý những người đã nghe và đang phát triển sự tương ứng tinh thần của thị giác. Vì thế họ dễ tiếp nhận linh ảnh.
The Word goes forth that form has served its purpose.
Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự xong mục đích của nó.
This word, or this “spiritual proclamation” of the soul, may have a twofold purpose: it may produce death, or it may simply result in a withdrawal of the soul from its instrument, the threefold personality. This might consequently result in leaving the form uninformed and without any dweller in the body. When this happens the personality (and by this I mean the physical, astral and mental man) will continue to function. If it is of a high grade quality, very few people will realise that the soul is absent. This frequently happens in old age or serious illness, and it may persist for years. It sometimes happens where infants are concerned, and you then have either death or imbecility, as there has been no time to train the lower personality vehicles. A little thinking along the lines of this “forthgoing Word” will throw much light on circumstances which are [682] regarded as baffling, and on states of consciousness which have hitherto constituted almost insoluble problems.
Linh từ này, hay “sự tuyên cáo tinh thần” này của linh hồn, có thể có mục đích nhị phân: nó có thể tạo ra cái chết, hoặc chỉ đơn giản dẫn đến sự rút lui của linh hồn khỏi công cụ của nó, tức phàm ngã tam phân. Do đó, điều này có thể dẫn đến việc để lại hình tướng không được thấm nhuần và không có người cư ngụ trong thể. Khi điều này xảy ra, phàm ngã (và bởi điều này tôi muốn nói con người hồng trần, cảm dục và trí tuệ) sẽ tiếp tục hoạt động. Nếu nó có phẩm tính cao, rất ít người sẽ nhận ra rằng linh hồn vắng mặt. Điều này thường xảy ra trong tuổi già hoặc bệnh nặng, và có thể kéo dài nhiều năm. Đôi khi điều này xảy ra nơi trẻ sơ sinh, và khi ấy bạn có hoặc cái chết hoặc sự đần độn, vì chưa có thời gian để huấn luyện các vận cụ phàm ngã thấp. Một chút suy nghĩ theo đường hướng của “Linh từ phát ra” này sẽ soi sáng nhiều hoàn cảnh vốn [682] được xem là khó hiểu, và những trạng thái tâm thức từ trước đến nay gần như tạo thành những vấn đề không thể giải quyết.
The principle of mind then organises itself and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away.
Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đáp ứng và rơi rụng đi.
In the aspect of death here dealt with it is the mind which acts as the agent of authority, transmitting to the brain (where the thread of consciousness is located) the instructions to vacate. This is then passed on by the man in the body to the heart (where the life thread is anchored), and then—as you well know—the process of withdrawal begins. What transpires in those timeless moments prior to death no one as yet knows, for no one has returned to tell us. If they had done so, the question is: Would they have been believed? The probability is that they would not.
Trong phương diện của cái chết được bàn đến ở đây, chính trí tuệ hoạt động như tác nhân của thẩm quyền, truyền đến bộ não (nơi sợi dây tâm thức tọa lạc) chỉ thị phải rời bỏ. Điều này sau đó được con người trong thể chuyển đến tim (nơi Sinh Mệnh Tuyến được neo giữ), và rồi—như các bạn đều biết rõ—tiến trình rút lui bắt đầu. Điều gì xảy ra trong những khoảnh khắc phi thời gian trước cái chết thì cho đến nay chưa ai biết, vì chưa ai quay lại để kể cho chúng ta. Nếu họ đã làm như vậy, câu hỏi là: liệu họ có được tin không? Khả năng là không.
The first paragraph of this Law X deals with the passing out from the body (meaning the form aspect of the threefold lower man) of the average intelligent aspirant, looking at this law from one of its lowest correspondences; however, under the same Law of Correspondences, the death of all men, from the lowest type of man up to and inclusive of the aspirant, is basically distinguished by the same identical process; the difference exists in the degree of consciousness evidenced—consciousness of process and intention. The result is the same in all cases:
Đoạn đầu tiên của Định luật X này bàn về việc ra khỏi thể (nghĩa là phương diện hình tướng của phàm nhân tam phân thấp) của người chí nguyện thông minh trung bình, khi nhìn định luật này từ một trong những tương ứng thấp nhất của nó; tuy nhiên, theo cùng định luật tương ứng, cái chết của mọi người, từ loại người thấp nhất cho đến và bao gồm cả người chí nguyện, về căn bản được phân biệt bởi cùng một tiến trình y hệt; sự khác biệt nằm ở mức độ tâm thức được biểu lộ—tâm thức về tiến trình và ý định. Kết quả là như nhau trong mọi trường hợp:
The soul stands free.
Linh hồn đứng tự do.
This moment of true freedom can be brief and fleeting as in the case of the undeveloped man, or it can be of long duration, according to the usefulness of the aspirant upon the inner planes; with this I have earlier dealt and have no need to repeat myself here. Progressively, as the urges and influences of the three lower levels of consciousness [683] weaken their hold, the period of dissociation becomes longer and longer, and is characterised by a developing clarity of thought and by a recognition of essential being, and this in progressive stages. This clarity and progress may not be brought through into full realisation or expression when rebirth again takes place, for the limitations imposed by the dense physical body are excessive; nevertheless, each life sees a steady growth in sensitivity, and also the storing up of esoteric information, using the word “esoteric” to signify all that does not concern normal form life or the average consciousness of man in the three worlds.
Khoảnh khắc tự do đích thực này có thể ngắn ngủi và thoáng qua như trong trường hợp của người chưa phát triển, hoặc có thể kéo dài lâu, tùy theo mức độ hữu dụng của người chí nguyện trên các cõi bên trong; điều này tôi đã bàn đến trước đây và không cần lặp lại ở đây. Dần dần, khi các thúc đẩy và ảnh hưởng của ba cấp độ tâm thức thấp [683] suy yếu sự nắm giữ của chúng, thời kỳ phân ly trở nên ngày càng dài hơn, và được đặc trưng bởi sự sáng tỏ tư tưởng ngày càng phát triển cùng với sự nhận biết bản thể cốt yếu, và điều này theo các giai đoạn tiến triển. Sự sáng tỏ và tiến bộ này có thể không được mang vào sự chứng nghiệm hay biểu lộ đầy đủ khi tái sinh lại diễn ra, vì những giới hạn do thể xác đậm đặc áp đặt là quá lớn; tuy nhiên, mỗi kiếp sống đều chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn về tính nhạy cảm, và cả sự tích lũy thông tin huyền bí, dùng từ “huyền bí” để chỉ tất cả những gì không liên quan đến đời sống hình tướng bình thường hay tâm thức trung bình của con người trong ba cõi giới.
Esoteric living (as it develops) falls into three stages, broadly speaking; these are carried forward within the consciousness of the man and parallel the recognition and ordinary aspects of form life on the three levels of experience:
Đời sống huyền bí (khi nó phát triển) rơi vào ba giai đoạn, nói một cách khái quát; những giai đoạn này được tiến hành trong tâm thức của con người và song hành với sự nhận biết và các phương diện thông thường của đời sống hình tướng trên ba cấp độ kinh nghiệm:
1. The stage of reception of concepts, of ideas and of principles, thus gradually asserting the existence of the abstract mind.
1. Giai đoạn tiếp nhận các khái niệm, các ý tưởng và các nguyên khí, nhờ đó dần dần khẳng định sự hiện hữu của trí trừu tượng.
2. The stage of “light reception,” or that period when spiritual insight is developed, when the vision is seen and accepted as true, and when the intuition or “buddhic perception” is unfolded. This carries with it the assertion as to the existence of the Hierarchy.
2. Giai đoạn “tiếp nhận ánh sáng,” hay thời kỳ khi linh thị tinh thần được phát triển, khi linh ảnh được thấy và được chấp nhận là chân thật, và khi trực giác hay “tri giác Bồ đề” được khai mở. Điều này kéo theo sự khẳng định về sự hiện hữu của Thánh Đoàn.
3. The stage of abstraction, or the period wherein complete orientation is brought about, the way into the Ashram is made clear, and the disciple begins to build the antahkarana between the personality and the Spiritual Triad. It is in this stage that the nature of the will is dimly seen, carrying with its recognition the implication that there is a “centre where the will of God is known.”
3. Giai đoạn trừ xuất, hay thời kỳ trong đó sự định hướng hoàn chỉnh được mang lại, con đường vào ashram được làm cho rõ ràng, và đệ tử bắt đầu xây dựng antahkarana giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần. Chính trong giai đoạn này mà bản chất của ý chí được thấy mờ nhạt, và cùng với sự nhận biết ấy là hàm ý rằng có một “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến.”
[684]
[684]
Students are apt to think that death ends things, whereas from the angle of termination we are dealing with values which are persistent, with which there is no interference, nor can there be any, and which hold within themselves the seeds of immortality. I would have you ponder on this and know that everything that is of true spiritual value is persistent, ageless, immortal and eternal. Only that dies which is valueless, and—from the standpoint of humanity—that means those factors which emphasise and assume importance where the form is concerned. But those values which are based on principle and not upon the detail of appearance have in them that undying principle which leads a man from the “gates of nativity, through the gates of perception, to the gates of purpose”—as the Old Commentary expresses it.
Đạo sinh dễ nghĩ rằng cái chết chấm dứt mọi sự, trong khi từ góc độ của sự chấm dứt chúng ta đang bàn đến những giá trị bền vững, không bị can thiệp, cũng không thể bị can thiệp, và tự chúng chứa đựng những hạt giống của sự bất tử. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này và biết rằng mọi thứ có giá trị tinh thần chân thật đều bền vững, không tuổi, bất tử và vĩnh cửu. Chỉ cái gì vô giá trị mới chết, và—từ quan điểm của nhân loại—điều đó có nghĩa là những yếu tố nhấn mạnh và mang tầm quan trọng khi hình tướng được xét đến. Nhưng những giá trị dựa trên nguyên khí chứ không dựa trên chi tiết của sắc tướng thì có trong chúng nguyên khí bất tử dẫn dắt con người từ “các cổng sinh ra, qua các cổng tri giác, đến các cổng mục đích”—như Cổ Luận diễn tả.
I have endeavoured to show you how the first part of this Law X has a simple application to mankind, as well as an abstract and abstruse meaning for esotericists.
Tôi đã cố gắng chỉ cho các bạn thấy phần đầu của Định luật X này có một ứng dụng đơn giản đối với nhân loại, cũng như một ý nghĩa trừu tượng và khó hiểu đối với các nhà bí truyền học.
The last paragraph in this Law X cannot be interpreted in this same manner nor applied in this way. it concerns only the “passing over” or the “discarding of hindrances” by very advanced disciples and initiates. This is made clear by the use of the words, “O Rising One”—a term applied only to those who have taken the fourth initiation and who are therefore held by no aspect whatsoever of the form nature, even so high or transcendental a form as the soul in its own vehicle, the causal body or the egoic lotus. Yet again, facility in response to this law must be and is developed in the earlier stages of discipleship, where listening, responsiveness and occult obedience are developed and have their extensions in the higher levels of spiritual experience.
Đoạn cuối trong Định luật X này không thể được diễn giải theo cùng cách ấy cũng không thể được áp dụng theo cách ấy. Nó chỉ liên quan đến việc “vượt qua” hay “vứt bỏ các chướng ngại” của những đệ tử và điểm đạo đồ rất cao cấp. Điều này được làm rõ bởi việc dùng những lời “hỡi Đấng Đang Vươn Lên”—một thuật ngữ chỉ áp dụng cho những ai đã nhận lần điểm đạo thứ tư và vì thế không còn bị bất kỳ phương diện nào của bản chất hình tướng giữ lại, ngay cả một hình tướng cao hay siêu việt như linh hồn trong vận cụ riêng của nó, thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng dễ dàng với định luật này phải được và thực sự được phát triển trong các giai đoạn sớm hơn của địa vị đệ tử, nơi sự lắng nghe, tính đáp ứng và sự tuân phục huyền bí được phát triển và có những mở rộng của chúng trên các cấp độ cao hơn của kinh nghiệm tinh thần.
Here we must again consider words and phrases if we are to understand their true meaning. [685]
Ở đây chúng ta lại phải xét đến các từ ngữ và cụm từ nếu muốn hiểu ý nghĩa chân thật của chúng. [685]
Respond, O Rising One, to the call which comes forth from the sphere of obligation.
Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi phát ra từ khối cầu của nghĩa vụ.
What is this sphere of obligation to which the initiate of high standing must pay attention? The whole of life experience, from the sphere of nativity up to the highest limits of spiritual possibility, are covered by four words, applicable at various stages of evolution. They are: Instinct, Duty, Dharma, Obligation; an understanding of the differences serves to bring illumination, and consequently, right action.
Khối cầu của nghĩa vụ này là gì mà điểm đạo đồ cao cấp phải chú ý đến? Toàn bộ kinh nghiệm sống, từ khối cầu sinh ra cho đến những giới hạn cao nhất của khả năng tinh thần, được bao trùm bởi bốn từ, áp dụng ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau. Đó là: Bản năng, Bổn phận, Dharma, Nghĩa vụ; sự thấu hiểu các khác biệt này giúp mang lại soi sáng, và do đó, hành động đúng đắn.
1. The sphere of instinct. This refers to the fulfillment, under the influence of simple animal instinct, of the obligations which any assumed responsibility brings, even when assumed with no true understanding. An illustration of this is the instinctual care of a mother for her offspring or the relation of male and female. With this we need not deal in any detail, as it is well recognised and understood, at least by those who have passed out of the sphere of elementary instinctual obligations. To them no particular calls come, but this instinctual world of give and take is superseded by a higher sphere of responsibility eventually.
1. Khối cầu của bản năng. Điều này ám chỉ việc hoàn thành, dưới ảnh hưởng của bản năng động vật đơn giản, những nghĩa vụ mà bất kỳ trách nhiệm nào đã nhận lấy đều mang theo, ngay cả khi được nhận lấy mà không có sự hiểu biết chân thật. Một minh họa cho điều này là sự chăm sóc theo bản năng của người mẹ đối với con cái mình hay mối quan hệ giữa nam và nữ. Chúng ta không cần bàn chi tiết về điều này, vì nó đã được nhận biết và thấu hiểu rõ, ít nhất là bởi những ai đã vượt ra khỏi khối cầu của các nghĩa vụ bản năng sơ đẳng. Đối với họ không có những tiếng gọi đặc biệt nào đến, nhưng thế giới bản năng của cho và nhận này cuối cùng được thay thế bởi một khối cầu trách nhiệm cao hơn.
2. The sphere of duty. The call that comes from this sphere comes from a realm of consciousness which is more strictly human and not so predominantly animal as is the instinctual realm. It sweeps into its field of activity all classes of human beings and demands from them—life after life—the strict fulfillment of duty. The “doing of one’s duty,” for which one gets small praise and little appreciation, is the first step towards the unfoldment of that divine principle which we call the sense of responsibility, and which—when unfolded—indicates a steadily growing soul control. The fulfillment [686] of duty, the sense of responsibility, and the desire to serve are three aspects of one and the same thing: discipleship in its embryonic stage. This is a hard saying for those who are caught in the seemingly hopeless toils of duty fulfillment; it is hard for them to realise that this duty which seems to keep them chained to the humdrum, apparently meaningless and thankless duties of daily life, is a scientific process leading them to higher phases of experience, and eventually into the Master’s Ashram.
2. Khối cầu của bổn phận. Tiếng gọi đến từ khối cầu này phát ra từ một lĩnh vực tâm thức nghiêm ngặt là nhân loại hơn và không quá thiên về động vật như lĩnh vực bản năng. Nó cuốn vào trường hoạt động của mình mọi tầng lớp người và đòi hỏi nơi họ—kiếp này qua kiếp khác—sự hoàn thành nghiêm ngặt bổn phận. “Làm tròn bổn phận của mình,” điều mà người ta nhận được rất ít lời khen và ít sự trân trọng, là bước đầu tiên hướng tới sự khai mở nguyên khí thiêng liêng mà chúng ta gọi là ý thức về trách nhiệm, và nguyên khí này—khi được khai mở—cho thấy sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Việc hoàn thành [686] bổn phận, ý thức về trách nhiệm, và ước muốn phụng sự là ba phương diện của cùng một điều: địa vị đệ tử trong giai đoạn phôi thai của nó. Đây là một lời khó nghe đối với những ai bị mắc kẹt trong những lưới bổn phận dường như vô vọng; đối với họ thật khó nhận ra rằng chính bổn phận dường như trói buộc họ vào những công việc thường nhật đơn điệu, bề ngoài vô nghĩa và vô ơn ấy, lại là một tiến trình khoa học dẫn họ đến những giai đoạn kinh nghiệm cao hơn, và cuối cùng vào ashram của Chân sư.
3. The Sphere of Dharma. This is the outcome of the two previous stages; it is that in which the disciple recognises, for the first time with clarity, his part in the whole process of world events and his inescapable share in world development. Dharma is that aspect of karma which dignifies any particular world cycle and the lives of those implicated in its working out. The disciple begins to see that if he shoulders his phase or part in this cyclic dharma and works understandingly at its right fulfillment, he is beginning to comprehend group work (as the Masters comprehend it) and to do his just share in lifting the world karma, working out in cyclic dharma. Instinctual service, the fulfillment of all duty, and a sharing in group dharma are all blended in his consciousness and become one great act of living faithful service; he is then at the point of moving forward upon the Path of Discipleship, in which the Path of Probation is completely lost to sight.
3. Khối Cầu của Dharma. Đây là kết quả của hai giai đoạn trước; đó là giai đoạn trong đó đệ tử lần đầu tiên nhận ra một cách rõ ràng phần của mình trong toàn bộ tiến trình của các biến cố thế giới và phần chia không thể tránh khỏi của mình trong sự phát triển của thế giới. Dharma là phương diện của nghiệp quả làm cho bất kỳ chu kỳ thế giới đặc thù nào và đời sống của những ai liên can đến sự triển khai của nó trở nên cao quý. Đệ tử bắt đầu thấy rằng nếu y gánh vác giai đoạn hay phần việc của mình trong dharma theo chu kỳ này và làm việc một cách thấu hiểu để hoàn thành đúng đắn nó, thì y đang bắt đầu hiểu công việc nhóm (như các Chân sư hiểu) và làm phần chia chính đáng của mình trong việc nâng đỡ nghiệp quả thế giới, đang được triển khai trong dharma theo chu kỳ. Phụng sự theo bản năng, việc hoàn thành mọi bổn phận, và sự chia sẻ trong dharma nhóm đều được hòa trộn trong tâm thức của y và trở thành một hành vi lớn lao duy nhất của đời sống phụng sự trung tín; khi ấy y ở vào điểm tiến lên trên Con Đường Đệ Tử, trong đó Con Đường Dự Bị hoàn toàn khuất khỏi tầm nhìn.
These three aspects of living activity are the embryonic expression in the life of the disciple of the three divine aspects:
Ba phương diện của hoạt động sống này là biểu hiện phôi thai trong đời sống của đệ tử của ba phương diện thiêng liêng:
a. Instinctual living.... intelligent application.
a. Sống theo bản năng.... sự áp dụng thông minh.
b. Duty..............responsible love. [687]
b. Bổn phận.............. bác ái có trách nhiệm. [687]
c. Dharma........... will, expressed through the Plan.
c. Dharma........... ý chí, được biểu lộ qua Thiên Cơ.
4. The sphere of obligation. The initiate, having learnt the nature of the three other spheres of right action, and-through the activity of those spheres—having unfolded the divine aspects, passes now into the sphere of obligation. This sphere, which can be entered only after a large measure of liberation has been achieved, directs the reactions of the initiate in two phases of his life:
4. Khối cầu của nghĩa vụ. Điểm đạo đồ, sau khi đã học được bản chất của ba khối cầu hành động đúng đắn kia, và—qua hoạt động của những khối cầu ấy—đã khai mở các phương diện thiêng liêng, giờ đây đi vào khối cầu của nghĩa vụ. Khối cầu này, chỉ có thể được bước vào sau khi đã đạt được một mức độ giải thoát lớn, định hướng các phản ứng của điểm đạo đồ trong hai giai đoạn của đời sống y:
a. In the Ashram, where he is governed by the Plan; this Plan is recognised by him as expressing his major obligation to life. I use the word “life” in its deepest esoteric sense.
a. Trong ashram, nơi y được Thiên Cơ chi phối; Thiên Cơ này được y nhận ra là biểu lộ nghĩa vụ lớn lao của y đối với sự sống. Tôi dùng từ “sự sống” theo nghĩa huyền bí sâu xa nhất của nó.
b. In Shamballa, where the emerging Purpose of Sanat Kumara (of which the Plan is an interpretation in time and space) begins to have meaning and significance according to his point in evolution and his approach to the Way of the Higher Evolution.
b. Trong Shamballa, nơi Mục Đích đang xuất hiện của Đức Sanat Kumara (mà Thiên Cơ là một sự diễn giải trong thời gian và không gian) bắt đầu có ý nghĩa và thâm nghĩa tùy theo điểm tiến hoá của y và sự tiếp cận của y đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
In the Ashram, the life of the Spiritual Triad gradually supersedes the life of the soul-controlled personality. In the Council Chamber at Shamballa, the life of the Monad supersedes all other expressions of the essential Reality. More I may not say.
Trong ashram, sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần dần dần thay thế sự sống của phàm ngã do linh hồn kiểm soát. Trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, sự sống của chân thần thay thế mọi biểu hiện khác của Thực Tại cốt yếu. Tôi không thể nói thêm.
Recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself.
Hãy nhận biết tiếng gọi, xuất hiện từ ashram hay từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi.
Here again we come up against the whole underlying, evolutionary theme of Invocation and Evocation. Here, it is the two higher centres of the divine Existence which are invoking ceaselessly the lower centre; one of the factors governing the whole creative process is dependent upon the [688] skill of the Great Lives in evoking response from the human and subhuman kingdoms or grouped lives within the three worlds of form life. Men are so pre-occupied with their own problems that they are apt to think that-in the long run—what happens is entirely due to their behaviour, conduct, and invocative powers. There is, however, another side to the picture; this involves the skill in action, the understanding hearts and the clear unimpeded will of both the Hierarchy and Shamballa.
Ở đây một lần nữa chúng ta chạm đến toàn bộ chủ đề nền tảng, mang tính tiến hoá của Khẩn Cầu và Gợi Lên. Ở đây, chính hai trung tâm cao hơn của Sự Tồn Tại thiêng liêng đang không ngừng khẩn cầu trung tâm thấp hơn; một trong những yếu tố chi phối toàn bộ tiến trình sáng tạo phụ thuộc vào [688] kỹ năng của các Sự Sống Vĩ Đại trong việc gợi lên sự đáp ứng từ các giới nhân loại và dưới nhân loại hay các sự sống được nhóm lại trong ba cõi giới của đời sống hình tướng. Con người quá bận tâm với những vấn đề của riêng mình đến nỗi họ dễ nghĩ rằng—xét cho cùng—điều gì xảy ra hoàn toàn là do hành vi, cách cư xử và năng lực khẩn cầu của họ. Tuy nhiên, còn có một mặt khác của bức tranh; điều này bao hàm kỹ năng trong hành động, những trái tim thấu hiểu và ý chí sáng tỏ không bị cản trở của cả Thánh Đoàn lẫn Shamballa.
It will be apparent to you, therefore, how essential it is that all disciples and initiates should know exactly where they stand on the Path, the final aspect of the ladder of evolution; otherwise, they will misinterpret the call and fail to recognise the source of the outgoing sound. How easily this can happen becomes apparent to every advanced teacher of occultism and esotericism when he perceives bow easily unimportant people and beginners interpret calls and messages they hear or receive as coming to them from some high and elevated source, Whereas they are in all probability hearing that which emanates from their own subconscious, from their own souls, or from some teacher (not a Master) who is attempting to help them.
Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ việc mọi đệ tử và điểm đạo đồ phải biết chính xác mình đang đứng ở đâu trên Con Đường, phương diện cuối cùng của chiếc thang tiến hoá, là điều thiết yếu biết bao; nếu không, họ sẽ diễn giải sai tiếng gọi và không nhận ra nguồn của âm thanh phát ra. Điều này có thể xảy ra dễ dàng đến mức nào trở nên hiển nhiên đối với mọi huấn sư cao cấp của huyền bí học và bí truyền học khi ông nhận thấy những người không quan trọng và những người mới bắt đầu dễ dàng diễn giải các tiếng gọi và thông điệp mà họ nghe hay nhận được như đến với họ từ một nguồn cao cả và siêu việt nào đó, trong khi rất có thể họ đang nghe điều phát ra từ chính tiềm thức của mình, từ chính linh hồn của mình, hoặc từ một huấn sư nào đó (không phải một Chân sư) đang cố gắng giúp họ.
The call referred to here, however, comes from the highest possible sources and must not be confused with the little voices of little men.
Tuy nhiên, tiếng gọi được nói đến ở đây đến từ những nguồn cao nhất có thể có và không được nhầm lẫn với những tiếng nói nhỏ bé của những con người nhỏ bé.
The SOUND goes forth.
ÂM THANH phát ra.
It is not my intention here to deal with the creative sound, beyond calling to your attention the fact that it is creative. The Sound which was the first indication of the activity of the planetary Logos is not a word, but a full reverberating sound, holding within itself all other sounds, all chords and certain musical tones (which have been given the name of the “music of the spheres”) and dissonances, [689] unknown as yet to the modern ear. It is this Sound which the “Rising One” must learn to recognise, and to which he must respond not only by means of the sense of hearing and its higher correspondences, but through a response from every part and aspect of the form nature in the three worlds. I would remind you also that from the angle of the fourth initiation even the egoic vehicle, the soul body, is regarded and treated as a part of the form nature.
Ở đây tôi không có ý định bàn về âm thanh sáng tạo, ngoài việc lưu ý các bạn đến sự kiện rằng nó có tính sáng tạo. Âm Thanh là dấu hiệu đầu tiên của hoạt động của Hành Tinh Thượng đế không phải là một lời, mà là một âm thanh vang dội trọn vẹn, tự nó chứa đựng mọi âm thanh khác, mọi hợp âm và một số âm điệu âm nhạc (đã được gọi là “âm nhạc của các khối cầu”) cùng những nghịch âm, [689] cho đến nay tai hiện đại vẫn chưa biết. Chính Âm Thanh này mà “Đấng Đang Vươn Lên” phải học để nhận ra, và y phải đáp ứng với nó không chỉ bằng giác quan nghe và các tương ứng cao hơn của nó, mà còn bằng sự đáp ứng từ mọi phần và mọi phương diện của bản chất hình tướng trong ba cõi giới. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng từ góc độ của lần điểm đạo thứ tư, ngay cả vận cụ chân ngã, thể linh hồn, cũng được xem và được xử lý như một phần của bản chất hình tướng.
Though the “shattering of the Temple of Solomon” takes place at the time of the fourth initiation, those qualities of which it was composed have been absorbed into the vehicles which the initiate is using for all His contacts in the three worlds. He is now essentially the essence of all His bodies, and—from His point of view and technical understanding—it must be borne in mind that the entire mental plane is one of the three planes which constitute the cosmic dense physical plane; this is a point oft forgotten by students, who almost invariably place the soul body and the mental permanent atom outside the form limits and what they call the three worlds. Technically and from higher angles, this is not so, and this fact definitely changes and conditions the thinking and work of the initiate of the fourth and higher degrees. It accounts also for the need for the egoic body to disappear.
Mặc dù “sự phá vỡ Đền thờ Solomon” diễn ra vào lúc lần điểm đạo thứ tư, những phẩm tính mà nó được cấu thành đã được hấp thụ vào các vận cụ mà điểm đạo đồ đang sử dụng cho mọi tiếp xúc của Ngài trong ba cõi giới. Giờ đây Ngài về bản chất là tinh túy của mọi thể của Ngài, và—từ quan điểm cùng sự thấu hiểu kỹ thuật của Ngài—cần phải ghi nhớ rằng toàn bộ cõi trí là một trong ba cõi cấu thành cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ; đây là một điểm mà đạo sinh thường quên, vì họ hầu như luôn đặt thể linh hồn và nguyên tử trường tồn trí tuệ ra ngoài các giới hạn của hình tướng và cái mà họ gọi là ba cõi giới. Về mặt kỹ thuật và từ các góc nhìn cao hơn, điều này không đúng, và sự kiện này rõ ràng làm thay đổi và tác động lên tư tưởng cùng công việc của điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ tư và cao hơn. Nó cũng giải thích nhu cầu thể chân ngã phải biến mất.
The Sound reverberates throughout the four higher subplanes of the cosmic physical plane; these are the higher correspondence of the four etheric levels of the physical plane in the three worlds—the three dense physical and the four etheric planes. It must be remembered, therefore, that our planes, with which we are so familiar, are the cosmic physical, and that the one we know the best is the densest of the seven—hence so much of our struggle and difficulty.
Âm Thanh vang dội khắp bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ; đó là tương ứng cao hơn của bốn cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần trong ba cõi giới—ba cõi hồng trần đậm đặc và bốn cõi dĩ thái. Vì vậy, cần nhớ rằng các cõi của chúng ta, vốn quá quen thuộc với chúng ta, là cõi hồng trần vũ trụ, và cõi mà chúng ta biết rõ nhất là cõi đậm đặc nhất trong bảy cõi—do đó mới có quá nhiều đấu tranh và khó khăn của chúng ta.
[690]
[690]
From “the silence which is sound, the reverberating note of Shamballa,” the sound focusses itself either in the Spiritual Triad or in the Ashram, according to the status of the initiate and whether he is high in the ashramic circles, or still higher, in the circles through which radiates the light from the Council Chamber. In the first case, it will be the heart centre which responds to the sound, and from thence the whole body; in the second case, consciousness has been superseded by a still higher type of spiritual recognition, to which we have given the inadequate name of identification. Where the sound has been registered in the heart of the initiate, he has unfolded all possible types of knowledge which the form nature—soul and body—can make possible; when the registration is in the head, identification has produced such complete unity with all spiritual expressions of life, the word “more” (meaning increased) must perforce give way to the word “deep,” in the sense of penetration. Having said this, brother of mine, how much have you comprehended?
Từ “sự im lặng vốn là âm thanh, âm điệu vang dội của Shamballa,” âm thanh tự tập trung hoặc trong Tam Nguyên Tinh Thần hoặc trong ashram, tùy theo địa vị của điểm đạo đồ và liệu y ở cao trong các vòng tròn ashram, hay còn cao hơn nữa, trong các vòng tròn mà qua đó ánh sáng từ Phòng Hội Đồng tỏa chiếu. Trong trường hợp thứ nhất, chính trung tâm tim sẽ đáp ứng với âm thanh, và từ đó toàn thể thể; trong trường hợp thứ hai, tâm thức đã được thay thế bởi một loại nhận biết tinh thần còn cao hơn nữa, mà chúng ta đã đặt cho cái tên không đầy đủ là sự đồng hoá. Nơi âm thanh đã được ghi nhận trong tim của điểm đạo đồ, y đã khai mở mọi loại tri thức khả hữu mà bản chất hình tướng—linh hồn và thể—có thể làm cho có thể; khi sự ghi nhận ở trong đầu, sự đồng hoá đã tạo ra sự hợp nhất trọn vẹn đến mức với mọi biểu hiện tinh thần của sự sống, từ “nhiều hơn” (nghĩa là gia tăng) buộc phải nhường chỗ cho từ “sâu,” theo nghĩa thâm nhập. Sau khi nói điều này, huynh đệ của tôi, bạn đã thấu hiểu được bao nhiêu?
It is at this point that the initiate is confronted for the first time with the Seven Paths, because each Path constitutes a mode of penetrating into realms of realisation beyond our planet altogether.
Chính tại điểm này mà điểm đạo đồ lần đầu tiên đối diện với Bảy Con Đường, bởi vì mỗi Con Đường cấu thành một phương thức thâm nhập vào những lĩnh vực chứng nghiệm vượt hẳn ngoài hành tinh của chúng ta.
In order to do this, the initiate has to demonstrate his mastery of the Law of Differentiation and arrive at a knowledge of the Seven Paths through differentiating the seven sounds which make up the one Sound, but which are not related to the seven sounds which compose the threefold AUM.
Để làm được điều này, điểm đạo đồ phải chứng tỏ sự làm chủ của mình đối với Định luật Biến Phân và đi đến tri thức về Bảy Con Đường bằng cách phân biệt bảy âm thanh hợp thành một Âm Thanh duy nhất, nhưng không liên hệ với bảy âm thanh cấu thành AUM tam phân.
Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection.
Cả linh hồn lẫn hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống, và nhờ đó cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết.
[691]
[691]
You can see here why I emphasised the fact that the initiate is the recipient of the essential quality or qualities which form has revealed and developed, and which the soul has absorbed. At this particular crisis, the initiate within the Ashram or “on His way of glory to the Place where dwells the Lord” (Shamballa) summarises or contains within himself all the essential good which was stored in the soul prior to its destruction at the fourth initiation. He epitomises in himself the knowledge and the wisdom of aeons of struggle and of patient endurance. Nothing further is to be gained by adhering either to the soul or to the form. He has taken all they had to give which throws light on the spiritual Law of Sacrifice. It is interesting to note how the soul becomes at this point simply the intermediary between the personality and the initiate of high degree. But now there is nothing more to relate, to report or to transmit, and—as the Sound reverberates—the soul disappears, as testimony of response. It is now but an empty shell, but its substance is of so high an order that it becomes an integral part of the buddhic level, and its function there is etheric. The principle of life is renounced and returns to the reservoir of universal life.
Ở đây các bạn có thể thấy vì sao tôi nhấn mạnh sự kiện rằng điểm đạo đồ là người tiếp nhận phẩm tính hay các phẩm tính cốt yếu mà hình tướng đã bộc lộ và phát triển, và linh hồn đã hấp thụ. Trong cuộc khủng hoảng đặc biệt này, điểm đạo đồ trong ashram hay “trên con đường vinh quang của Ngài đến Nơi Chúa Tể ngự trị” (Shamballa) tóm kết hay chứa đựng trong chính mình mọi điều thiện cốt yếu đã được tích trữ trong linh hồn trước khi nó bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư. Ngài là hiện thân thu gọn trong chính mình của tri thức và minh triết của các đại kiếp đấu tranh và nhẫn nại chịu đựng. Không còn gì để đạt được thêm bằng cách bám vào linh hồn hay hình tướng. Ngài đã nhận lấy tất cả những gì chúng có thể trao, điều này soi sáng Định luật Hi Sinh tinh thần. Thật lý thú khi lưu ý cách linh hồn ở điểm này đơn giản trở thành trung gian giữa phàm ngã và điểm đạo đồ cao cấp. Nhưng giờ đây không còn gì để liên hệ, để báo cáo hay để truyền đạt nữa, và—khi Âm Thanh vang dội—linh hồn biến mất, như bằng chứng của sự đáp ứng. Giờ đây nó chỉ còn là một vỏ rỗng, nhưng chất liệu của nó thuộc một trật tự cao đến mức nó trở thành một phần không thể tách rời của cấp độ Bồ đề, và chức năng của nó ở đó là dĩ thái. Nguyên khí sự sống được từ bỏ và trở về hồ chứa của sự sống phổ quát.
I would have you take notice of the importance of form activity. It is the Form which shatters the connection (the usually despised, belittled, frustrated form is that which performs the final act), bringing complete liberation. The “Lunar Lord” of the personality has achieved his goal, and those elements which have composed his three vehicles (physical, astral, mental), together with the life principle, will constitute the atomic substance of the first body of manifestation of some soul seeking incarnation for the first time. This is closely related to the abstruse subject of the permanent atoms. It marks a moment of high initiation for this Lunar Lord when he shatters the connection [692] and severs all relation with the hitherto informing soul. He is no longer just a shadow, but has now those qualities which make him “substantial” (in the esoteric sense) and a new factor in time and space.
Tôi muốn bạn lưu ý đến tầm quan trọng của hoạt động của hình tướng. Chính Hình tướng làm tan vỡ sự nối kết (hình tướng thường bị khinh miệt, xem nhẹ, làm cho thất vọng ấy chính là cái thực hiện hành vi cuối cùng), đem lại sự giải thoát hoàn toàn. “Nguyệt tinh quân” của phàm ngã đã đạt được mục tiêu của y, và những yếu tố đã cấu thành ba vận cụ của y (hồng trần, cảm dục, trí tuệ), cùng với nguyên khí sự sống, sẽ tạo thành chất liệu nguyên tử của thể biểu hiện đầu tiên của một linh hồn đang tìm cách nhập thể lần đầu tiên. Điều này liên hệ chặt chẽ với chủ đề huyền nhiệm về các nguyên tử trường tồn. Nó đánh dấu một khoảnh khắc điểm đạo cao đối với nguyệt tinh quân này khi y làm tan vỡ sự nối kết [692] và cắt đứt mọi liên hệ với linh hồn vốn từ trước đến nay đã thấm nhuần y. Y không còn chỉ là một cái bóng nữa, mà giờ đây có được những phẩm tính khiến y trở nên “thực chất” (theo nghĩa huyền bí) và là một yếu tố mới trong thời gian và không gian.
The remaining words of this law need no explanation and mark a fitting finish for this section of our studies:
Những lời còn lại của định luật này không cần giải thích và đánh dấu một kết thúc thích hợp cho phần nghiên cứu này của chúng ta:
Life is now liberated, owning the qualities of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.
Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu những phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng kết hợp.
CHAPTER IX - The Seven Modes of Healing — CHƯƠNG IX - Bảy Phương Thức Trị Liệu
[694]
[694]
IT WILL BE OBVIOUS to you that even if the techniques or the seven modes of healing-relating as they do to the energies of the seven rays-were exactly imparted to you, it would be rare indeed to find a healer who was competent to use them in this interim period in world affairs. We are passing out of one age into another, and this necessarily creates difficulties which have hitherto not been recognised. This is the first time in human history wherein humanity is intelligent enough to register understanding of the implications of this happening, and far-sighted enough to be able to vision, imagine and plan for the new future. For another thing, the soul ray of the average aspirant is seldom in control to such an extent that it can bring adequate illumination and ray potency; until it is in control, these ray methods and techniques, determining the use and direction of the ray energies, are useless. This should not bring to you disappointment, but simply an attitude of expectancy, particularly where the younger students and readers are concerned. All things considered, this hiatus between expectancy and possibility is exceedingly good.
RÕ RÀNG với bạn rằng ngay cả nếu các kỹ thuật hay bảy phương thức trị liệu—vì chúng liên hệ đến các năng lượng của bảy cung—được truyền đạt chính xác cho bạn, thì cũng thật hiếm có thể tìm được một nhà trị liệu đủ năng lực để sử dụng chúng trong giai đoạn chuyển tiếp này của tình hình thế giới. Chúng ta đang đi ra khỏi một kỷ nguyên để bước vào một kỷ nguyên khác, và điều này tất yếu tạo ra những khó khăn mà từ trước đến nay chưa được nhận ra. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà nhân loại đủ thông minh để ghi nhận sự thấu hiểu về những hàm ý của biến cố này, và đủ tầm nhìn xa để có thể linh thị, hình dung và hoạch định cho tương lai mới. Hơn nữa, cung linh hồn của người chí nguyện trung bình hiếm khi kiểm soát đến mức có thể mang lại sự soi sáng đầy đủ và năng lực cung; cho đến khi nó nắm quyền kiểm soát, các phương pháp và kỹ thuật cung này, vốn quyết định việc sử dụng và định hướng các năng lượng cung, đều vô dụng. Điều này không nên khiến bạn thất vọng, mà chỉ nên tạo ra một thái độ mong đợi, đặc biệt đối với các đạo sinh và độc giả trẻ tuổi hơn. Xét mọi mặt, khoảng gián đoạn giữa sự mong đợi và khả năng này là cực kỳ tốt.
There has been so much given out during the past century along the lines of magical work, that more at this time would not be wise; so many mantrams and Words of Power have been communicated, and so wide a use of the [694] OM has prevailed, that a great deal of damage might be looked for as a result. Such damage has not, however, occurred. The relatively low point in evolution of the average student and experimenter has served as a protection, and little has been set in motion—either good or bad—by what they have attempted to do. Healings have frequently taken place (at least temporary healings), owing largely to the susceptibility of the patient to suggestion and his confidence in the healer. None of these healings can be traced esoterically to the scientific methods of occultism. In spite of this protection, or rather because of it, I am communicating no Ray Words at this time, such as the trained initiate employs when engaged in the healing work. These Words have to he accompanied by a trained use of the spiritual will, and (where the ordinary man and healer is concerned) even the lowest aspect of the will remains as yet undeveloped, and only self-will (which is determined, selfish desire) is expressed. It would therefore be a waste of my time to give instruction along these lines. I have felt it necessary to explain this, so that there will be no undue expectancy that I shall impart the mysterious and the hitherto unknown. I seek only to lay the foundation for a future structure of knowledge, when it will be safe, wise and right to convey those “focussing Points,” those “organising Words,” and those “expressed Intentions” of the correctly trained occult healer. I seek to generate in you also a wise and searching expectancy which will use the little that I am able to impart, and the symbolic words I may dictate, and so prepare for a greater understanding later.
Trong thế kỷ qua đã có quá nhiều điều được truyền ra theo đường lối công việc huyền thuật, đến nỗi vào lúc này truyền thêm nữa sẽ không khôn ngoan; quá nhiều mantram và Quyền năng từ đã được truyền đạt, và việc sử dụng [694] OM đã lan rộng đến mức người ta có thể chờ đợi rất nhiều tổn hại xảy ra như một kết quả. Tuy nhiên, tổn hại như thế đã không xảy ra. Điểm tiến hoá tương đối thấp của đạo sinh và người thực nghiệm trung bình đã đóng vai trò như một sự bảo vệ, và rất ít điều—dù tốt hay xấu—đã được khởi động bởi những gì họ cố gắng làm. Việc trị lành thường đã xảy ra (ít nhất là những sự trị lành tạm thời), phần lớn do bệnh nhân dễ tiếp nhận sự ám thị và do sự tin tưởng của y nơi nhà trị liệu. Không một sự trị lành nào trong số này có thể được truy nguyên một cách huyền bí đến các phương pháp khoa học của huyền bí học. Bất chấp sự bảo vệ này, hay đúng hơn là vì nó, hiện nay tôi không truyền đạt các Linh từ Cung như điểm đạo đồ lão luyện sử dụng khi dấn thân vào công việc trị liệu. Những Linh từ này phải được đi kèm với việc sử dụng được huấn luyện của ý chí tinh thần, và (đối với con người bình thường và nhà trị liệu bình thường) ngay cả phương diện thấp nhất của ý chí vẫn còn chưa phát triển, và chỉ có ý chí vị kỷ (là dục vọng ích kỷ có tính quyết đoán) được biểu lộ. Vì vậy, sẽ là lãng phí thời gian của tôi nếu đưa ra chỉ dẫn theo các đường lối này. Tôi thấy cần phải giải thích điều này, để sẽ không có sự mong đợi quá mức rằng tôi sẽ truyền đạt điều huyền bí và điều từ trước đến nay chưa được biết đến. Tôi chỉ tìm cách đặt nền móng cho một cấu trúc tri thức trong tương lai, khi việc truyền đạt những “Điểm hội tụ”, những “Linh từ tổ chức”, và những “Ý định được phát biểu” của nhà huyền bí học trị liệu được huấn luyện đúng đắn sẽ là an toàn, khôn ngoan và đúng đắn. Tôi cũng tìm cách khơi dậy nơi bạn một sự mong đợi khôn ngoan và truy xét, biết sử dụng chút ít mà tôi có thể truyền đạt, cùng những lời biểu tượng mà tôi có thể đọc cho bạn, và nhờ đó chuẩn bị cho một sự thấu hiểu lớn hơn về sau.
In the meantime there are certain things I can teach you which will be profitable. They may perchance enhance the visioned and realised difficulties, but may nevertheless prove useful in indicating the ground which must still be [695] covered before the healer arrives at correct and sustained healing.
Trong lúc này có một số điều tôi có thể dạy bạn mà sẽ hữu ích. Có thể chúng sẽ làm tăng thêm những khó khăn đã được linh thị và chứng nghiệm, nhưng tuy vậy vẫn có thể tỏ ra hữu dụng trong việc chỉ ra phần đất còn phải được [695] đi qua trước khi nhà trị liệu đạt đến sự trị lành đúng đắn và bền vững.
This section will be very short indeed, compared with the rest of this volume; it will consist simply of a series of summarised and condensed statements which will provide a textbook for the healer, a reference book for guidance to which he can refer. These statements will be under three classifications:
Phần này quả thật sẽ rất ngắn so với phần còn lại của tập sách này; nó sẽ chỉ gồm một loạt các phát biểu tóm lược và cô đọng, cung cấp một sách giáo khoa cho nhà trị liệu, một sách tham khảo để hướng dẫn mà y có thể tra cứu. Những phát biểu này sẽ nằm dưới ba phân loại:
I. The Seven Ray Energies.
I. Bảy Năng Lượng Cung.
II. The Rays of the Healer and the Patient.
II. Các Cung của Nhà Trị Liệu và của Bệnh Nhân.
III. The Seven Healing Techniques.
III. Bảy Kỹ Thuật Trị Liệu.
These statements will complete Volume IV of A Treatise on the Seven Rays and will carry much information to the initiated disciple, and even in part to the intelligent aspirant; they should make their healing work more effectual, even though only the preliminary work and elementary rules are given. Needless to add, the healer has to perfect himself in this initial activity and—as he works—he may himself (alone and unaided) penetrate into the deeper meanings of this phase of the Ageless Wisdom.
Những phát biểu này sẽ hoàn tất Tập IV của bộ Luận về Bảy Cung và sẽ mang nhiều thông tin đến cho đệ tử được điểm đạo, và thậm chí phần nào cho người chí nguyện thông minh; chúng sẽ làm cho công việc trị liệu của họ hữu hiệu hơn, dù chỉ có công việc sơ bộ và các quy luật căn bản được đưa ra. Không cần nói thêm, nhà trị liệu phải tự hoàn thiện mình trong hoạt động khởi đầu này và—khi y làm việc—chính y có thể tự mình (một mình và không được trợ giúp) thâm nhập vào những ý nghĩa sâu xa hơn của giai đoạn này của Minh Triết Ngàn Đời.
THE SEVEN RAY ENERGIES — BẢY NĂNG LƯỢNG CUNG
Fifteen Statements.
Mười lăm phát biểu.
1. The seven rays embody and express the totality of energies which circulate throughout our planetary form.
1. Bảy cung thể hiện và biểu lộ tổng thể các năng lượng đang lưu chuyển khắp hình tướng hành tinh của chúng ta.
2. These seven ray energies are the seven forces which unitedly compose the primary Ray of Love-Wisdom. This is the second ray of our solar system and the dominating ray in every planetary expression within the solar system. The seven rays are, all of them, subsidiary rays of this great cosmic ray. [696]
2. Bảy năng lượng cung này là bảy mãnh lực cùng nhau hợp thành Cung Bác Ái – Minh Triết nguyên thủy. Đây là cung hai của hệ mặt trời chúng ta và là cung chi phối trong mọi biểu hiện hành tinh bên trong hệ mặt trời. Cả bảy cung đều là những cung phụ của cung vũ trụ vĩ đại này. [696]
3. No matter upon which ray the healer may be found, he must always work through the second subray of that ray—the ray of love-wisdom in each ray. By means of this, he becomes connected with or related to the governing soul and personality rays. The second ray has the capacity of all-inclusiveness.
3. Dù nhà trị liệu có thể thuộc cung nào đi nữa, y luôn luôn phải làm việc qua cung phụ thứ hai của cung đó—cung bác ái-minh triết trong mỗi cung. Nhờ phương tiện này, y trở nên được nối kết với hay liên hệ với các cung linh hồn và phàm ngã chi phối. Cung hai có năng lực bao gồm tất cả.
4. The second ray and the second subray on all rays are themselves dual in expression. The healer must learn to work through the love aspect and not through the wisdom aspect. This takes much training in the practice of spiritual differentiation.
4. Cung hai và cung phụ thứ hai trên mọi cung tự chúng có biểu hiện nhị phân. Nhà trị liệu phải học cách làm việc qua phương diện bác ái chứ không qua phương diện minh triết. Điều này đòi hỏi nhiều huấn luyện trong việc thực hành sự biến phân tinh thần.
5. Those vehicles in the form nature which are on the line of 2-4-6 must be used by the healer when practicing the healing art. If he has no vehicles or bodies on this line of basic energy, he will not be able to heal. This is seldom realised. It is rare, however, to find an equipment lacking all second ray energy outlets.
5. Những vận cụ trong bản chất hình tướng thuộc đường 2-4-6 phải được nhà trị liệu sử dụng khi thực hành nghệ thuật trị liệu. Nếu y không có vận cụ hay thể nào trên đường năng lượng căn bản này, y sẽ không thể trị liệu. Điều này hiếm khi được nhận ra. Tuy nhiên, hiếm có một cơ cấu nào lại thiếu hoàn toàn mọi lối thoát năng lượng cung hai.
6. Those healers who are on the second ray, or who are equipped with a powerful second ray vehicle, are usually great healers. The Christ, being the truest exponent of the second ray ever known on earth, was greatest of all the healing sons of God.
6. Những nhà trị liệu thuộc cung hai, hoặc được trang bị một vận cụ cung hai mạnh mẽ, thường là những nhà trị liệu vĩ đại. Đức Christ, là hiện thân chân thực nhất của cung hai từng được biết đến trên Trái Đất, là vĩ đại nhất trong tất cả các Con của Thượng đế có năng lực trị liệu.
7. The ray of the soul conditions and determines the technique to be employed. The ray in the personality vehicles most closely related to the second ray (for which all the subrays act as channels) is the one through which the healing energy must flow.
7. Cung của linh hồn tác động và quyết định kỹ thuật phải được sử dụng. Cung trong các vận cụ phàm ngã có liên hệ gần nhất với cung hai (mà mọi cung phụ đều hoạt động như những kênh dẫn cho nó) là cung mà qua đó năng lượng trị liệu phải tuôn chảy.
8. The second subray of the soul ray determines the approach to the healing problem immediately confronting the healer; this energy is transmuted into healing force when passing through the appropriate personality vehicle. To be appropriate it must be on the line of 2-4-6. [697]
8. Cung phụ thứ hai của cung linh hồn quyết định cách tiếp cận đối với vấn đề trị liệu đang trực tiếp đối diện nhà trị liệu; năng lượng này được chuyển hoá thành mãnh lực trị liệu khi đi qua vận cụ phàm ngã thích hợp. Để là thích hợp, nó phải ở trên đường 2-4-6. [697]
9. The appropriate vehicle can be either the mental body or the emotional body. With the mass of men being centred in the astral nature, the healing will usually be most successful if the healer’s channel of transmission is that body also.
9. Vận cụ thích hợp có thể là thể trí hoặc thể cảm xúc. Vì đại đa số những người nam và nữ đều được đặt trung tâm trong bản chất cảm dục, việc trị liệu thường sẽ thành công nhất nếu kênh truyền dẫn của nhà trị liệu cũng là thể đó.
10. A triangle of energies is therefore formed; it is composed of:
10. Vì vậy, một tam giác năng lượng được hình thành; nó gồm có:
a. The energy of the soul.
a. Năng lượng của linh hồn.
b. The appropriate vehicle.
b. Vận cụ thích hợp.
c. The etheric body, through either the heart or the solar plexus centre.
c. Thể dĩ thái, qua trung tâm tim hoặc trung tâm tùng thái dương.
11. Within the etheric body, a secondary triangle is formed for the circulation of energy between:
11. Bên trong thể dĩ thái, một tam giác thứ yếu được hình thành để năng lượng lưu chuyển giữa:
a. The head centre, the centre of reception.
a. Trung tâm đầu, trung tâm tiếp nhận.
b. The ajna centre, the centre for directed distribution.
b. Trung tâm ajna, trung tâm để phân phối có định hướng.
c. The centre which registers—as the line of least resistance—the energy of the soul ray, whichever of the seven rays that may be.
c. Trung tâm ghi nhận—như con đường ít trở ngại nhất—năng lượng của cung linh hồn, bất kể đó có thể là cung nào trong bảy cung.
12. This secondary triangle is related to the primary triangle by an “act of deliberation.” This is a part of the technique which I am withholding.
12. Tam giác thứ yếu này liên hệ với tam giác chính bằng một “hành vi cân nhắc có chủ ý”. Đây là một phần của kỹ thuật mà tôi đang giữ lại.
13. The healer who is sincere and experienced can (in default of the esoteric formula producing connection between the two triangles) do much to bring about some definite relation by a deliberate act of faith and by the firm statement of his fixed intention.
13. Nhà trị liệu chân thành và có kinh nghiệm có thể (khi thiếu công thức huyền bí tạo ra sự nối kết giữa hai tam giác) làm được nhiều điều để tạo ra một mối liên hệ xác định nào đó bằng một hành vi đức tin có chủ ý và bằng sự phát biểu vững chắc về ý định cố định của y.
14. The greater triangle is that which affects the healer and makes him a transmitting agent; the lesser triangle is the one which produces the effect upon the patient and through which the healer—on the physical plane—works.
14. Tam giác lớn là tam giác tác động lên nhà trị liệu và làm cho y trở thành một tác nhân truyền dẫn; tam giác nhỏ là tam giác tạo ra hiệu quả nơi bệnh nhân và qua đó nhà trị liệu—trên cõi hồng trần—làm việc.
15. The procedure of the healer will therefore fall into three parts, prior to the conscious act of healing: [698]
15. Vì vậy, thủ tục của nhà trị liệu sẽ rơi vào ba phần, trước hành vi trị liệu hữu thức: [698]
Process One.
Tiến trình Một.
a. The healer will definitely and consciously link up with his own soul.
a. Nhà trị liệu sẽ dứt khoát và hữu thức nối kết với linh hồn của chính mình.
b. He will then determine which of his personality vehicles is to be used; this will be based upon its reaction to energies, channeling along the line 2-4-6.
b. Sau đó y sẽ xác định vận cụ phàm ngã nào của mình sẽ được sử dụng; điều này sẽ dựa trên phản ứng của nó đối với các năng lượng, dẫn truyền theo đường 2-4-6.
c. By an act of the will he will then relate the soul energy, via the desired vehicle, with the appropriate centre in the etheric body; the heart or the solar plexus, always preferably the former.
c. Bằng một hành vi của ý chí, sau đó y sẽ liên hệ năng lượng linh hồn, qua vận cụ mong muốn, với trung tâm thích hợp trong thể dĩ thái; tim hoặc tùng thái dương, nhưng luôn luôn tốt hơn là trung tâm trước.
Process two.
Tiến trình Hai.
a. He will next create the secondary triangle by focussing his attention in the centre of reception, the head centre.
a. Tiếp theo y sẽ tạo ra tam giác thứ yếu bằng cách tập trung sự chú ý của mình vào trung tâm tiếp nhận, tức trung tâm đầu.
b. He will then connect this head centre, through the power of the creative imagination, with the centre between the eyebrows, and will hold the energy there because it is the directing agency.
b. Sau đó y sẽ nối kết trung tâm đầu này, bằng quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, với trung tâm giữa hai chân mày, và sẽ giữ năng lượng ở đó vì đó là tác nhân định hướng.
c. He will endeavour to gather into this ajna centre the energy of that centre within his etheric body which is related to his soul ray.
c. Y sẽ cố gắng tập hợp vào trung tâm ajna này năng lượng của trung tâm trong thể dĩ thái của mình có liên hệ với cung linh hồn của y.
Process Three.
Tiến trình Ba.
He then, with deliberation, performs the act of linking the two triangles; once this is done, he is ready for the healing action.
Sau đó, với sự cân nhắc có chủ ý, y thực hiện hành vi nối kết hai tam giác; một khi điều này được thực hiện, y đã sẵn sàng cho hành động trị liệu.