← Esoteric Healing (A Treatise on the Seven Rays Book 4)

RULE TWO — QUY LUẬT HAI

Trích nội dung chương

All that is at present possible in reference to this statement is to turn the patient’s attention (if he is capable of responding to suggestions) towards the soul, and help him, with simplicity to hold his consciousness as close to the soul as he can. This will aid in clearing the channels down which energy can flow, and also along which energy can be automatically withdrawn. because energy follows thought. Hiện nay, tất cả những gì có thể làm liên quan đến phát biểu này là hướng sự chú ý của bệnh nhân (nếu người ấy có khả năng đáp ứng với các gợi ý) về phía linh hồn, và giúp người ấy, một cách đơn giản, giữ tâm thức của mình gần với linh…


All that is at present possible in reference to this statement is to turn the patient’s attention (if he is capable of responding to suggestions) towards the soul, and help him, with simplicity to hold his consciousness as close to the soul as he can. This will aid in clearing the channels down which energy can flow, and also along which energy can be automatically withdrawn. because energy follows thought.

Hiện nay, tất cả những gì có thể làm liên quan đến phát biểu này là hướng sự chú ý của bệnh nhân (nếu người ấy có khả năng đáp ứng với các gợi ý) về phía linh hồn, và giúp người ấy, một cách đơn giản, giữ tâm thức của mình gần với linh hồn nhất có thể. Điều này sẽ giúp khai thông các kênh mà qua đó năng lượng có thể tuôn xuống, và cũng là các kênh mà dọc theo đó năng lượng có thể tự động được rút lui, bởi vì năng lượng đi theo tư tưởng.

In the last analysis, true esoteric healing is a simple matter in comparison with the intricate and complex detail [575] anent the human mechanism and its diseases with which the modern physician has to cope. The spiritual healer concerns himself with the area in which the disease is to be found, with its controlling etheric centre and its higher correspondence, and with the three energies coming from the soul which are responsible for producing the point or points of friction. The remainder of his work involves the use the creative imagination, the power to visualise and a knowledge of scientific thinking, based upon the fundamental and universal law that “energy follows thought.” This visualisation and this scientific thinking do not (where healing is concerned) involve the construction of thoughtforms. It involves the ability to move and direct energy currents.

Xét cho cùng, chữa lành nội môn chân chính là một vấn đề đơn giản so với chi tiết phức tạp và rắc rối [575] liên quan đến bộ máy con người và các bệnh tật của nó mà vị y sĩ hiện đại phải đối phó. Nhà chữa lành tinh thần quan tâm đến khu vực nơi bệnh tật được tìm thấy, đến trung tâm dĩ thái kiểm soát nó và đối ứng cao hơn của trung tâm ấy, và đến ba năng lượng đến từ linh hồn chịu trách nhiệm tạo ra điểm hay các điểm ma sát. Phần còn lại trong công việc của y liên quan đến việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, năng lực hình dung và tri thức về tư duy khoa học, dựa trên định luật căn bản và phổ quát rằng “năng lượng đi theo tư tưởng.” Sự hình dung này và tư duy khoa học này không liên quan (trong trường hợp chữa lành) đến việc xây dựng các Hình tư tưởng. Nó liên quan đến khả năng di chuyển và định hướng các dòng năng lượng.

5. The third eye then directs the healing force, and all is well.

5. Khi ấy con mắt thứ ba điều khiển mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều ổn thỏa.

The third eye referred to here is that of the healer and not that of the average patient; this the healer uses in conjunction with the eye of the soul. In the case of the healing of a very advanced person who is consciously able to cooperate, the third eye of the patient can also be active, and by this means two very potent streams of directed energy can penetrate into the area where the point of friction is located. In ordinary cases, however, and where no occult knowledge is present on the part of the patient, the healer does all the work, and this is desirable. The cooperation of the unskilled and those emotionally involved in their trouble is of no true assistance.

Con mắt thứ ba được nói đến ở đây là của nhà chữa lành chứ không phải của bệnh nhân trung bình; nhà chữa lành sử dụng nó kết hợp với con mắt của linh hồn. Trong trường hợp chữa lành cho một người rất tiến bộ, có khả năng hợp tác một cách hữu thức, con mắt thứ ba của bệnh nhân cũng có thể hoạt động, và bằng phương tiện này hai dòng năng lượng được định hướng rất mạnh có thể xuyên vào khu vực nơi điểm ma sát tọa lạc. Tuy nhiên, trong các trường hợp thông thường, và nơi bệnh nhân không có tri thức huyền bí học, nhà chữa lành làm toàn bộ công việc, và điều này là đáng mong muốn. Sự hợp tác của người không được huấn luyện và của những người bị cuốn cảm xúc vào rắc rối của mình không phải là sự trợ giúp thực sự.

The few hints given in the analysis of the sentences composing Law IV will provide much food for thought, and we will now proceed to consider the rule connected with this law.

Vài gợi ý được đưa ra trong sự phân tích các câu cấu thành Định luật IV sẽ cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm, và giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục xem xét quy luật liên hệ với định luật này.

It should be remembered, as we study these laws and rules, that the laws are imposed upon the healer and provide [576] the unalterable conditions under which he must work; he may not and cannot evade them. The rules, however, he imposes upon himself, and they constitute the conditions which he is advised to follow if he seeks success. Much depends upon his understanding of the rules and on his ability to interpret them correctly. They are a translation or an adaptation of the ancient rules which have, since time began, conditioned all occult healers, working under hierarchical impression. In the early days of their use they were submitted to and accepted by members of the Hierarchy at that time—the time or age of ancient Lemuria—and had then to be interpreted differently to the modern interpretation; the modern meaning is only now in process of emerging. It might be said that:

Khi nghiên cứu các định luật và quy luật này, cần nhớ rằng các định luật được áp đặt lên nhà chữa lành và cung cấp [576] những điều kiện bất biến mà dưới đó y phải làm việc; y không được và không thể né tránh chúng. Tuy nhiên, các quy luật thì do chính y áp đặt lên mình, và chúng cấu thành những điều kiện mà y được khuyên nên tuân theo nếu muốn thành công. Rất nhiều điều tùy thuộc vào sự thấu hiểu của y về các quy luật và vào khả năng diễn giải chúng một cách đúng đắn. Chúng là bản dịch hay sự thích ứng của các quy luật cổ xưa vốn, từ thuở ban đầu, đã tác động lên mọi nhà chữa lành huyền bí học làm việc dưới sự cảm ứng của Thánh đoàn. Trong những ngày đầu được sử dụng, chúng đã được tuân theo và chấp nhận bởi các thành viên của Thánh đoàn vào thời đó—thời đại Lemuria cổ xưa—và khi ấy phải được diễn giải khác với cách diễn giải hiện đại; ý nghĩa hiện đại chỉ mới đang trong tiến trình xuất hiện. Có thể nói rằng:

1. In Lemurian times these rules were accepted by members of the Hierarchy. Unless you were a member you could not ascertain them or work with them.

1. Trong thời Lemuria các quy luật này được các thành viên của Thánh đoàn chấp nhận. Trừ phi bạn là một thành viên, bạn không thể biết được chúng hay làm việc với chúng.

2. In Atlantean times they were externalised to the extent that disciples who were not yet initiates or who had taken only the first initiation were given them and permitted to use them. It is their Atlantean interpretation which largely colours the modern approach to their comprehension, but it is not adequate to the opportunity and the more mental type of human being.

2. Trong thời Atlantis chúng đã được ngoại hiện đến mức các đệ tử chưa phải là điểm đạo đồ hoặc mới chỉ trải qua lần điểm đạo thứ nhất đã được trao cho và được phép sử dụng chúng. Chính cách diễn giải Atlantis của chúng phần lớn nhuốm màu cách tiếp cận hiện đại đối với việc hiểu chúng, nhưng nó không thích hợp với cơ hội hiện nay và với kiểu người trí tuệ hơn.

3. Today, in our Aryan race, a new significance is emerging, and it is that significance and the new interpretation which I shall endeavour to impart.

3. Ngày nay, trong giống dân Arya của chúng ta, một ý nghĩa mới đang xuất hiện, và chính ý nghĩa ấy cùng cách diễn giải mới ấy mà tôi sẽ cố gắng truyền đạt.

Rule I was not subjected to the new interpretation because it was so obviously modern in its implications. In fact, the first rule was not part of the original ancient text from which these important rules have been taken, but is relatively very modern, being formulated early in the Christian [577] era. It is a clear and concise rule and implies what should be the nature of the healer’s thinking.

Quy luật I đã không được đặt dưới cách diễn giải mới vì nó quá hiển nhiên là hiện đại trong các hàm ý của nó. Thực ra, quy luật thứ nhất không phải là một phần của bản văn cổ nguyên thủy mà từ đó các quy luật quan trọng này đã được rút ra, mà tương đối rất hiện đại, được hình thành vào đầu [577] kỷ nguyên Cơ Đốc. Đó là một quy luật rõ ràng và súc tích và hàm ý điều nên là bản chất của tư duy của nhà chữa lành.

1. He must know the type of thought which conditions the patient.

1. Y phải biết loại tư tưởng nào tác động lên bệnh nhân.

2. He must be able to penetrate to the source of the difficulty, or to its psychological background; therefore, he must use thought power.

2. Y phải có khả năng xuyên thấu đến nguồn gốc của khó khăn, hay đến bối cảnh tâm lý của nó; vì vậy, y phải sử dụng quyền năng tư tưởng.

3. He must be able to relate cause and effect; the relating agent is ever the mind.

3. Y phải có khả năng liên hệ nguyên nhân và kết quả; tác nhân liên hệ luôn luôn là thể trí.

In old Lemuria and Atlantis the mind was practically entirely quiescent and not really functioning at all; it is only in this present race that the mental nature of man is becoming dominant, and therefore the new and modern interpretation of these rules (based on the mind principle) is now in order, and with this we shall proceed to deal.

Trong Lemuria và Atlantis cổ xưa, thể trí hầu như hoàn toàn tĩnh lặng và thực sự không hoạt động chút nào; chỉ trong giống dân hiện nay này mà bản chất trí tuệ của con người mới đang trở nên trội vượt, và vì vậy cách diễn giải mới và hiện đại của các quy luật này (dựa trên nguyên khí trí tuệ) nay là thích hợp, và với điều này chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến.

RULE TWO — QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established the radiation then goes forth.

Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính thông qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được sự chói rạng có sức xua tan, vốn biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các luân xa trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ sẽ phát ra.

The East has ever emphasised magnetic purity but has totally ignored physical purity as the Occident understands it; the West has emphasised external physical purity but knows nothing about magnetic purity; this latter is largely based (somewhat erroneously though not entirely so) on the effect

Phương Đông luôn nhấn mạnh sự thanh khiết từ tính nhưng hoàn toàn bỏ qua sự thanh khiết thể xác như phương Tây hiểu; phương Tây đã nhấn mạnh sự thanh khiết thể xác bên ngoài nhưng không biết gì về sự thanh khiết từ tính; sự thanh khiết từ tính này phần lớn dựa (hơi sai lầm dù không hoàn toàn như vậy) trên hiệu quả

of the auric emanation and its purity or non-purity. The healer, in this rule, is advised to:

của phát xạ hào quang và sự thanh khiết hay không thanh khiết của nó. Trong quy luật này, nhà chữa lành được khuyên:

1. Achieve magnetic purity through purity of life.

1. Đạt được sự thanh khiết từ tính qua sự thanh khiết của đời sống.

2. Attain a dispelling radiance through linking the centres in the head.

2. Đạt tới bức xạ làm tiêu tan qua việc nối kết các trung tâm trong đầu.

[578]

[578]

3. Establish a magnetic field through the utilisation of this magnetic field.

3. Thiết lập một từ trường qua việc sử dụng từ trường này.

Result: RADIATION.

Kết quả: BỨC XẠ.

The interesting part of this rule is its linking the two possible forms of spiritual healing—radiatory and magnetic—into one activity. The true healer automatically blends both modes of healing and uses both methods simultaneously and automatically because he works through the magnetic area, contained within the radius of influence of the three head centres, or within the triangle which is formed by so linking them.

Phần thú vị của quy luật này là nó nối kết hai hình thức chữa lành tinh thần khả dĩ—bằng bức xạ và bằng từ tính—thành một hoạt động. Nhà chữa lành chân chính tự động hòa trộn cả hai phương thức chữa lành và sử dụng đồng thời và tự động cả hai phương pháp bởi vì y làm việc qua khu vực từ tính, được chứa trong bán kính ảnh hưởng của ba trung tâm đầu, hay trong tam giác được hình thành bằng cách nối kết chúng như thế.

In Lemurian days, the healer achieved his ends by the use of drastic physical disciplines, thus gaining the needed purity. The goal, as you know, of hierarchical effort in those days was to teach primitive man the uses and purpose of the physical body and its intelligent control; the man who mastered the body and was in control of it as a machine, was then in was then regarded as an initiate. Today, it is mastering the personality which makes a man an initiate. Celibacy, careful modes of eating, and bodily cleanliness, plus the rudiments of Hatha Yoga (embryonic physical, athletic control—muscular control primarily) were strictly emphasised. This achieved, so-called purity permitted the free flow of the pranic currents from the healer to the patient, via the sacral centre and the throat centre—the spiritual healer working through the throat centre, and the point of reception in the patient being the sacral centre; neither the heart nor the head centres were used. Prana, to define it for your purposes, is the vitality of the planet, its vital emanation; it is this prana which is distributed or transferred by a natural healer (one without any training, without much essential knowledge or with little, if any, spiritual [579] orientation). He heals but does not know how or why; prana simply flows through him in the form of a strong current of animal vitality, usually from the splenic centre and not from any of the seven centres.

Trong thời Lemuria, nhà chữa lành đạt mục đích của mình bằng cách sử dụng các kỷ luật thể xác nghiêm khắc, nhờ đó đạt được sự thanh khiết cần thiết. Như bạn biết, mục tiêu của nỗ lực của Thánh đoàn trong những ngày ấy là dạy con người nguyên thủy về công dụng và mục đích của thể xác và sự kiểm soát thông minh đối với nó; người nào làm chủ được thân thể và kiểm soát nó như một cỗ máy thì khi ấy được xem là một điểm đạo đồ. Ngày nay, chính việc làm chủ phàm ngã mới khiến một người trở thành điểm đạo đồ. Độc thân, cách ăn uống cẩn trọng, và sự sạch sẽ thân thể, cộng với những sơ đẳng của Hatha Yoga (sự kiểm soát thể chất phôi thai, mang tính vận động—chủ yếu là kiểm soát cơ bắp) đã được nhấn mạnh nghiêm ngặt. Khi đạt được điều này, cái gọi là sự thanh khiết cho phép các dòng prana tự do chảy từ nhà chữa lành sang bệnh nhân, qua trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng—nhà chữa lành tinh thần làm việc qua trung tâm cổ họng, và điểm tiếp nhận nơi bệnh nhân là trung tâm xương cùng; cả trung tâm tim lẫn trung tâm đầu đều không được dùng. Để định nghĩa prana cho mục đích của bạn, đó là sinh lực của hành tinh, phát xạ sinh lực của nó; chính prana này được phân phối hay chuyển dịch bởi một nhà chữa lành tự nhiên (người không có bất kỳ huấn luyện nào, không có nhiều tri thức cốt yếu hoặc có rất ít, nếu có, định hướng tinh thần [579]). Y chữa lành nhưng không biết bằng cách nào hay tại sao; prana đơn giản chảy qua y dưới hình thức một dòng mạnh của sinh lực động vật, thường từ trung tâm lá lách chứ không từ bất kỳ trung tâm nào trong bảy trung tâm.

These drastic physical disciplines are often attempted today by well-intentioned aspirants; they practice celibacy, strict vegetarianism, relaxation exercises and many kinds of physical exercises, in the hope of bringing the body under control. These forms of discipline would be very good for the undeveloped and the lowest type of human being, but they are not the methods which should be employed by the average man or the practising aspirant. Concentration upon the physical body only serves to enhance its potency and to feed its appetites and bring to the surface of consciousness that which should be securely secluded below the threshold of consciousness. The true aspirant should be occupied with emotional, not physical, control and ‘with the effort to focus himself upon the mental plane prior to achieving a stabilised contact with the soul.

Những kỷ luật thể xác nghiêm khắc này ngày nay thường được các người chí nguyện thiện chí thử áp dụng; họ thực hành độc thân, ăn chay nghiêm ngặt, các bài tập thư giãn và nhiều loại bài tập thể chất, với hy vọng đưa thể xác vào dưới sự kiểm soát. Những hình thức kỷ luật này sẽ rất tốt cho người chưa phát triển và kiểu người thấp nhất, nhưng chúng không phải là những phương pháp nên được dùng bởi người trung bình hay người chí nguyện đang thực hành. Sự tập trung chỉ vào thể xác chỉ phục vụ cho việc tăng cường sức mạnh của nó và nuôi dưỡng các ham muốn của nó, đồng thời đưa lên bề mặt tâm thức điều lẽ ra phải được giữ kín an toàn bên dưới ngưỡng tâm thức. Người chí nguyện chân chính nên bận tâm đến sự kiểm soát cảm xúc, chứ không phải thể xác, và với nỗ lực tập trung mình trên cõi trí trước khi đạt được sự tiếp xúc ổn định với linh hồn.

In Atlantean times, the shift of the attention from the dense physical body to the emotional vehicle began slowly to be made. The initiate of that time began to teach his disciples that the physical body was in reality only an automaton, and that it was the desire body, and the nature and quality of their habitual desires which should be considered if purity was to be attained. It was in this race, therefore, that personal magnetism first began slowly to show itself. The early and the primitive Lemurian was not in the least magnetic as we understand the word, but in Atlantean days a certain measure of magnetic radiation showed itself, though not to the extent which is now frequent and possible. The first dim outline of the halo could be seen around the heads of advanced Atlanteans. Magnetic purity became a possibility and a goal, but was dependent upon emotional [580] control and the purification of the desire nature; this produced automatically a much greater measure of purity in the dense physical vehicle than the Lemurian initiate ever achieved. Diseases of the body became both subtle and complex, and the first psychological diseases appeared and the various ills which are definitely based upon the emotions. With this type of difficulty we have dealt in an earlier part of this treatise. The healer in those days worked through the solar plexus centre and (if an initiate) through the heart. There was still no magnetic area or field of energy in the head.

Trong thời Atlantis, sự chuyển dịch chú ý từ thể xác đậm đặc sang vận cụ cảm xúc bắt đầu được thực hiện một cách chậm chạp. Điểm đạo đồ thời ấy bắt đầu dạy các đệ tử của mình rằng thể xác thực ra chỉ là một tự động cơ, và rằng chính thể cảm dục, cùng bản chất và phẩm tính của những ham muốn thường xuyên của họ, mới là điều cần được xem xét nếu muốn đạt được sự thanh khiết. Vì vậy, chính trong giống dân này mà từ lực cá nhân lần đầu tiên bắt đầu chậm rãi biểu lộ. Người Lemuria sơ khai và nguyên thủy hoàn toàn không có từ tính như chúng ta hiểu từ này, nhưng trong thời Atlantis một mức độ bức xạ từ tính nào đó đã biểu lộ, dù không đến mức hiện nay là thường thấy và có thể có. Nét phác mờ đầu tiên của hào quang có thể được thấy quanh đầu những người Atlantis tiến bộ. Sự thanh khiết từ tính trở thành một khả năng và một mục tiêu, nhưng phụ thuộc vào [580] sự kiểm soát cảm xúc và sự thanh lọc bản chất ham muốn; điều này tự động tạo ra một mức độ thanh khiết lớn hơn nhiều trong vận cụ hồng trần đậm đặc so với điều mà điểm đạo đồ Lemuria từng đạt được. Các bệnh của thể xác trở nên vừa vi tế vừa phức tạp, và những bệnh tâm lý đầu tiên xuất hiện cùng các chứng bệnh khác nhau chắc chắn dựa trên cảm xúc. Với loại khó khăn này chúng ta đã bàn đến trong phần trước của bộ luận này. Nhà chữa lành trong những ngày ấy làm việc qua trung tâm tùng thái dương và (nếu là điểm đạo đồ) qua tim. Vẫn chưa có khu vực từ tính hay trường năng lượng nào trong đầu.

Today, in our Aryan race, magnetic purity is not dependent upon the physical disciplines; it is still—for the mass of the people—dependent upon emotional disciplines, but in the case of the true healer in the New Age it is dependent upon the “lighted magnetic area in the head.” This provides a field of activity for the soul, working through the head centres and focussing itself in the magnetic field which they enclose. When all the powers of the body and the directed attention of the healer are centered in the head, and when the astral body is quiescent and the mind is active as a transmitter of soul energy to the three head centres, you then have an established radiance, or energy emanation which is a potent force in healing. The radiation is intense, not so much from the familiar aspect of light, but from the extent of its emanating rays of active energy which can reach the patient and energise the needed centre. All the centres in the body of the patient can be receptive to this energy, and not just one, as in the previous two types of healing.

Ngày nay, trong giống dân Arya của chúng ta, sự thanh khiết từ tính không phụ thuộc vào các kỷ luật thể xác; nó vẫn còn—đối với quần chúng—phụ thuộc vào các kỷ luật cảm xúc, nhưng trong trường hợp của nhà chữa lành chân chính trong Kỷ Nguyên Mới, nó phụ thuộc vào “khu vực từ tính được soi sáng trong đầu.” Điều này cung cấp một trường hoạt động cho linh hồn, hoạt động qua các trung tâm đầu và tự tập trung trong từ trường mà chúng bao bọc. Khi mọi quyền năng của thân thể và sự chú ý được định hướng của nhà chữa lành đều tập trung trong đầu, và khi thể cảm dục tĩnh lặng còn thể trí hoạt động như một tác nhân truyền dẫn năng lượng linh hồn đến ba trung tâm đầu, thì khi ấy bạn có một bức xạ được thiết lập, hay một phát xạ năng lượng là một mãnh lực mạnh mẽ trong việc chữa lành. Bức xạ này mãnh liệt, không hẳn từ phương diện quen thuộc của ánh sáng, mà từ mức độ các tia năng lượng hoạt động phát ra của nó có thể vươn tới bệnh nhân và tiếp sinh lực cho trung tâm cần thiết. Tất cả các trung tâm trong thân thể của bệnh nhân đều có thể tiếp nhận năng lượng này, chứ không chỉ một trung tâm như trong hai loại chữa lành trước.

When the karma or life-pattern of the patient permits, these energy rays (emanating from the magnetic field in the healer’s head) become what is called a “dispelling radiance”; they can drive away the forces which create or [581] aggravate the disease. When this dispelling radiance is unable (because of the destiny of the patient) to bring about a physical cure, it can nevertheless be turned to the dispelling of subtler difficulties, such as fear in some form or other, emotional imbalance and certain psychological difficulties which greatly enhance the problem with which the patient is faced.

Khi nghiệp quả hay mô hình đời sống của bệnh nhân cho phép, các tia năng lượng này (phát ra từ từ trường trong đầu nhà chữa lành) trở thành điều được gọi là “bức xạ làm tiêu tan”; chúng có thể xua tan các lực tạo ra hay [581] làm trầm trọng thêm bệnh tật. Khi bức xạ làm tiêu tan này không thể (do số mệnh của bệnh nhân) mang lại sự chữa lành thể xác, nó vẫn có thể được chuyển sang việc làm tiêu tan những khó khăn vi tế hơn, như sợ hãi dưới hình thức này hay hình thức khác, mất quân bình cảm xúc và một số khó khăn tâm lý làm tăng mạnh vấn đề mà bệnh nhân đang đối diện.

Healers would do well to remember that when the three centres in the head are linked up and the magnetic field is therefore set up and the radiance is present, the healer can then use the ajna centre as the directing agent for this “dispelling radiance.” It is interesting to note that the two major centres in the head (corresponding to atma-buddhi, or the soul) are the head centre and the alta major centre, and that these correspond esoterically to the distributing agents of the right and the left eyes, as do the two glands in the head: the pineal gland and the pituitary body. You have, therefore, in the head

Các nhà chữa lành nên nhớ rằng khi ba trung tâm trong đầu được nối kết và từ trường do đó được thiết lập và bức xạ hiện diện, thì nhà chữa lành khi ấy có thể sử dụng trung tâm ajna như tác nhân định hướng cho “bức xạ làm tiêu tan” này. Điều đáng chú ý là hai trung tâm lớn trong đầu (tương ứng với atma-buddhi, hay linh hồn) là trung tâm đầu và trung tâm alta major, và rằng chúng tương ứng về mặt nội môn với các tác nhân phân phối của mắt phải và mắt trái, cũng như hai tuyến trong đầu: tuyến tùng và tuyến yên. Vì vậy, trong đầu bạn có

three triangles, of which two are distributors of energy and the third is a distributor of force.

ba tam giác, trong đó hai tam giác là các bộ phân phối năng lượng và tam giác thứ ba là một bộ phân phối mãnh lực.

[582]

[582]

It is with these triangles that the trained healer eventually works and which he consciously employs. The time when this will be possible still lies very far ahead. At present the healer must work through visualisation and the power of the creative imagination. As he imagines, through visualisation, the relationship of these interlaced triangles, superimposing them the one upon the others, beginning with the first, he is doing a definite work of creative placing, then of creative vitalising and finally of creative directing. In these three words: placing, vitalising, directing, you have the results indicated as to what obedience to this rule will enable the healer to accomplish. The attention is placed; the magnetic field is spiritually vitalised; the generated vital radiance is then distributed and directed correctly through the medium of the third triangle. This sounds a somewhat complicated procedure but after a little practice this healing exercise of placing, vitalising and directing becomes an almost instantaneous and automatic accomplishment.

Chính với các tam giác này mà nhà chữa lành được huấn luyện cuối cùng sẽ làm việc và sử dụng một cách hữu thức. Thời điểm khi điều này có thể thực hiện vẫn còn ở rất xa phía trước. Hiện nay nhà chữa lành phải làm việc qua sự hình dung và quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo. Khi y hình dung, qua sự hình dung, mối liên hệ của các tam giác đan xen này, chồng chúng lên nhau, bắt đầu với tam giác thứ nhất, thì y đang làm một công việc xác định vị trí một cách sáng tạo, rồi tiếp sinh lực một cách sáng tạo và cuối cùng là định hướng một cách sáng tạo. Trong ba từ này: xác định vị trí, tiếp sinh lực, định hướng, bạn có các kết quả được chỉ ra về điều mà sự tuân thủ quy luật này sẽ cho phép nhà chữa lành hoàn thành. Sự chú ý được đặt vào; từ trường được tiếp sinh lực một cách tinh thần; bức xạ sinh lực được tạo ra sau đó được phân phối và định hướng đúng đắn qua môi giới của tam giác thứ ba. Điều này nghe có vẻ là một thủ tục hơi phức tạp nhưng sau một ít thực hành, bài tập chữa lành gồm xác định vị trí, tiếp sinh lực và định hướng này trở thành một thành tựu gần như tức thời và tự động.

We come now to the consideration of a long and somewhat complicated law and one which attempts to cover so much ground that at first reading it is apt to be confusing.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một định luật dài và phần nào phức tạp, một định luật cố gắng bao quát quá nhiều lãnh vực đến nỗi khi đọc lần đầu rất dễ gây lẫn lộn.

LAW V — ĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is Life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central point of contact. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountaintop is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain which seek release in death. The two, the five and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth law of healing within the world of form.

Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng Đế là Sự Sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, có thể tìm thấy một Điểm tiếp xúc ở trung tâm. Sự xung đột giữa những năng lượng này với các mãnh lực, và giữa các mãnh lực với nhau, tạo ra những bệnh tật trong thân thể con người. Sự xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu và đau đớn thân thể vốn tìm sự giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cùng với điều chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là Định luật Chữa Lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

[583]

[583]

It has been impossible hitherto to give the subject-matter of this rule because it is only today that teaching anent LIFE (and life as energy) has been possible. Also the teaching anent the five and the two energies which meet in man have only lately been given out by me, for the first time in any detail, although they were hinted at in The Secret Doctrine. I wonder sometimes if any of you realise the epoch-making importance of the teaching which I have given out anent the seven rays as manifesting energies. Speculations as to the nature of the divine Trinity have ever been present in the discussions and thinking of advanced men—and that since time began and the Hierarchy started its agelong task of influencing and stimulating the human consciousness but information anent the seven Spirits before the Throne of the Trinity has not been so usual and only a few writers, ancient or modern, have touched upon the nature of these Beings. Now, with all that I have given you concerning the seven rays and the seven Ray Lords, much more can be discovered; these seven great Lives can be seen and known as the informing essences and the active energies in all that is manifested and tangible upon the physical plane as well as on all the planes of divine expression; in saying this, I include not only the cosmic physical plane (composed of our seven systemic planes) but the cosmic astral and the cosmic mental planes also.

Cho đến nay, không thể trình bày nội dung của quy luật này vì chỉ đến ngày nay giáo huấn về SỰ SỐNG (và sự sống như năng lượng) mới có thể được truyền dạy. Ngoài ra, giáo huấn về năm và hai năng lượng gặp nhau trong con người cũng chỉ mới gần đây được tôi công bố, lần đầu tiên với một mức độ chi tiết nào đó, dù chúng đã được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Đôi khi tôi tự hỏi liệu có ai trong các bạn nhận ra tầm quan trọng mang tính mở kỷ nguyên của giáo huấn mà tôi đã truyền ra về bảy cung như những năng lượng biểu hiện hay không. Những suy đoán về bản chất của Tam Vị thiêng liêng luôn hiện diện trong các cuộc thảo luận và tư duy của những người tiến bộ—và điều đó đã có từ thuở ban đầu khi Thánh đoàn khởi sự công việc lâu đời của mình là ảnh hưởng và kích thích tâm thức nhân loại; nhưng thông tin về Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Tam Vị thì không phổ biến như vậy, và chỉ có một số ít tác giả, cổ hay kim, chạm đến bản chất của các Đấng này. Giờ đây, với tất cả những gì tôi đã trao cho các bạn về bảy cung và bảy Đấng Chúa Tể Cung, còn nhiều điều hơn nữa có thể được khám phá; bảy Sự Sống vĩ đại này có thể được nhìn thấy và biết đến như những tinh chất thấm nhuần và những năng lượng hoạt động trong mọi điều được biểu hiện và hữu hình trên cõi hồng trần cũng như trên mọi cõi của sự biểu lộ thiêng liêng; khi nói điều này, tôi không chỉ bao gồm cõi hồng trần vũ trụ (gồm bảy cõi thái dương hệ của chúng ta) mà cả cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ nữa.

In this rule the healer is expected to accept certain basic ideas which will serve to develop his understanding; certain broad and general axioms are laid down which will form a sound foundation for all future work. The main point to bear in mind is that this rule relates entirely to the physical plane (dense and etheric) and to the effects which the conflict between the energies and the forces produces within the physical body. The forces are those energies which are limited and imprisoned within a form of any kind—a body, [584] a plane, an organ, a centre; the energies are those streams of directed energy which make impact upon these imprisoned forces (if I may so call them) from within a greater or more inclusive form, from a subtler plane, thus making contact with a grosser vibratory force. An energy is subtler and more potent than the force upon which it makes impact or establishes contact; the force is less potent but it is anchored. In these last two words you have the key to the problem of the relationship of energies. Free energy, from the angle of the anchored point of contact, is in some ways less effective (within a limited sphere) than the energy already anchored there. It is essentially more potent but not effective. Ponder on this and let me illustrate my point. In the life of the aspirant, the energy of the solar plexus centre (from long use, centralisation and habit) is more potent in its effect upon the life of the aspirant than is the energy of the heart centre, which is only slowly, very slowly, coming into effective action. To illustrate further: the energies of the personality are far more potent in conditioning the life of the average man than is the energy of the soul, which for aeons has tried to grasp effectively its point of manifestation, the personality, but has failed until very late in the cycle of incarnations. Yet, in the last analysis, heart energy and soul energy are infinitely more potent than those of the solar plexus centre or the personality. For aeons, however, the energy of the heart centre and the energy of the soul have lacked responsive vehicles in the three worlds.

Trong quy luật này, người chữa lành được mong đợi chấp nhận một số ý tưởng căn bản sẽ giúp phát triển sự thấu hiểu của mình; một số tiên đề rộng lớn và tổng quát được nêu ra, tạo thành nền tảng vững chắc cho mọi công việc tương lai. Điểm chính cần ghi nhớ là quy luật này hoàn toàn liên hệ đến cõi hồng trần (đậm đặc và dĩ thái) và đến những hiệu quả mà sự xung đột giữa các năng lượng và các mãnh lực tạo ra trong thể xác. Các mãnh lực là những năng lượng bị giới hạn và bị giam giữ trong một hình tướng thuộc bất kỳ loại nào—một thân thể, [584] một cõi, một cơ quan, một trung tâm; còn các năng lượng là những dòng năng lượng được định hướng tác động lên các mãnh lực bị giam giữ này (nếu tôi có thể gọi chúng như vậy) từ bên trong một hình tướng lớn hơn hay bao gồm hơn, từ một cõi vi tế hơn, nhờ đó tiếp xúc với một mãnh lực rung động thô nặng hơn. Một năng lượng vi tế hơn và mạnh hơn mãnh lực mà nó tác động hay thiết lập tiếp xúc; mãnh lực thì kém mạnh hơn nhưng nó lại được neo giữ. Trong hai từ cuối này, các bạn có chìa khóa cho vấn đề về mối liên hệ của các năng lượng. Năng lượng tự do, xét từ góc độ của điểm tiếp xúc đã được neo giữ, theo một số phương diện lại kém hiệu quả hơn (trong một phạm vi giới hạn) so với năng lượng đã được neo giữ tại đó. Về bản chất, nó mạnh hơn nhiều nhưng không hiệu quả. Hãy suy ngẫm điều này và để tôi minh họa ý của mình. Trong đời sống của người chí nguyện, năng lượng của trung tâm tùng thái dương (do được sử dụng lâu dài, tập trung hóa và thói quen) có hiệu lực đối với đời sống của người chí nguyện mạnh hơn năng lượng của trung tâm tim, vốn chỉ đang từ từ, rất từ từ, đi vào hoạt động hữu hiệu. Để minh họa thêm: các năng lượng của phàm ngã có sức mạnh tác động lên đời sống của con người trung bình lớn hơn nhiều so với năng lượng của linh hồn, vốn qua nhiều đại kiếp đã cố gắng nắm lấy một cách hữu hiệu điểm biểu hiện của nó là phàm ngã, nhưng đã thất bại cho đến rất muộn trong chu kỳ các lần nhập thể. Tuy nhiên, xét đến cùng, năng lượng tim và năng lượng linh hồn mạnh hơn vô hạn so với năng lượng của trung tâm tùng thái dương hay của phàm ngã. Nhưng qua nhiều đại kiếp, năng lượng của trung tâm tim và năng lượng của linh hồn đã thiếu những vận cụ đáp ứng trong ba cõi giới.

In a way, this simplifies the problem of the healer, because the first thing he has to decide is whether soul energy or personality energy is in control; that is a matter very simply discovered. The life trend of the patient, his mode of living or of service, the character he displays, are all indicative of the potencies which control his manifested expression. If the man is a true aspirant and is aiming [585] consciously to tread the Path of Discipleship, he will aid the discovery by frank admission; however, if there is no response from the personality forces to the soul impact of the healer, the personality will remain unaware of the opportunity and quite unconscious of the impact. These conditions the healer can therefore easily ascertain.

Theo một nghĩa nào đó, điều này đơn giản hóa vấn đề của người chữa lành, vì điều đầu tiên y phải quyết định là năng lượng linh hồn hay năng lượng phàm ngã đang kiểm soát; đó là điều có thể được khám phá rất đơn giản. Khuynh hướng đời sống của bệnh nhân, cách sống hay cách phụng sự của y, tính cách mà y biểu lộ, tất cả đều cho thấy những tiềm lực nào đang kiểm soát sự biểu hiện của y. Nếu người ấy là một người chí nguyện chân chính và đang [585] có ý thức nhắm đến việc bước đi trên Con Đường Đệ Tử, y sẽ giúp cho việc khám phá ấy bằng sự thừa nhận thẳng thắn; tuy nhiên, nếu không có sự đáp ứng nào từ các mãnh lực phàm ngã đối với tác động của linh hồn từ người chữa lành, thì phàm ngã sẽ vẫn không nhận biết cơ hội ấy và hoàn toàn không ý thức về tác động đó. Vì vậy, người chữa lành có thể dễ dàng xác định các điều kiện này.

This rule is a long one and contains statements of major importance. It would be profitable for us, in the interests of our subject, to study them with the utmost care and so become aware of their significance and true meaning; this understanding must be from the standpoint of the initiate-consciousness, and not from the angle of vision of the average or unillumined man. We will, therefore, take each sentence by itself and seek its meaning. There are seven statements contained in this rule, and much of their import is exoterically familiar to you, but can be restated in relation to the healing art.

Quy luật này dài và chứa đựng những phát biểu có tầm quan trọng lớn. Vì lợi ích của đề tài chúng ta, sẽ hữu ích nếu nghiên cứu chúng với sự cẩn trọng tối đa để nhờ đó nhận biết thâm nghĩa và ý nghĩa chân thực của chúng; sự thấu hiểu này phải xuất phát từ lập trường của tâm thức điểm đạo đồ, chứ không phải từ góc nhìn của con người trung bình hay chưa được soi sáng. Vì vậy, chúng ta sẽ xét từng câu riêng biệt và tìm kiếm ý nghĩa của nó. Có bảy phát biểu trong quy luật này, và phần lớn nội dung của chúng đã quen thuộc với các bạn trên phương diện ngoại môn, nhưng có thể được trình bày lại trong liên hệ với nghệ thuật chữa lành.

1. There is naught but energy, for God is Life.

1. Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng Đế là Sự Sống.

This is a broad generalisation which may convey much to the initiate but assuredly conveys very little to the average thinker, to whom life means essentially and simply that which calls into manifestation a form, which sustains it in being and constantly demonstrates its presence by activity of some kind or another—an activity which demonstrates its livingness. We, however, erroneously apply the term living to the ability of a form to manifest and express its quality and nature. Yet livingness and quality exist apart from form and often come into major expression and usefulness through the application of the Law of Death.

Đây là một khái quát rộng lớn có thể truyền đạt nhiều điều cho điểm đạo đồ nhưng chắc chắn truyền đạt rất ít cho nhà tư tưởng trung bình, đối với người ấy sự sống về căn bản và đơn giản chỉ có nghĩa là điều gọi một hình tướng vào biểu hiện, duy trì nó trong hiện hữu và liên tục chứng tỏ sự hiện diện của nó bằng một loại hoạt động nào đó—một hoạt động chứng minh tính sống động của nó. Tuy nhiên, chúng ta lại sai lầm khi áp dụng từ sống cho khả năng của một hình tướng trong việc biểu lộ và diễn đạt phẩm tính và bản chất của nó. Thế nhưng tính sống động và phẩm tính tồn tại tách biệt khỏi hình tướng và thường đi vào biểu hiện lớn lao cùng sự hữu dụng thông qua việc áp dụng Định luật Chết.

The fact of divinity and of divine origin is proved by the fact of life. This is oft overlooked, and the emphasis is put upon the concept that life evokes and supports a form [586] which anchors the life-essence and proves the reality of its existence.

Sự kiện về thiên tính và nguồn gốc thiêng liêng được chứng minh bởi sự kiện của sự sống. Điều này thường bị bỏ qua, và sự nhấn mạnh được đặt vào quan niệm rằng sự sống khơi gọi và nâng đỡ một hình tướng [586] vốn neo giữ tinh chất sự sống và chứng minh thực tại của sự hiện hữu của nó.

It is the life of the One Source of all manifesting forms which creates relationships and essential qualities, and though this has been affirmed ceaselessly it still remains a meaningless platitude. As men, however, begin to recognise God as energy and themselves as aspects of that energy, as they begin consciously to work with energies and recognise the distinction in time and space between energies and forces, and then as the soul comes into greater functioning activity, the fact of life will be recognised in a new and almost formidable manner. It should be remembered that the soul is a secondary energy, which proves the existence of the primary energy and is responsible for the appearance of the third form of energy—the tangible and the objective. Life will eventually be known as capable of being invoked by the soul in the interests of the form. Here lies a clue to our general theme.

Chính sự sống của Nguồn Cội Duy Nhất của mọi hình tướng biểu hiện tạo ra các mối liên hệ và các phẩm tính cốt yếu, và dù điều này đã được khẳng định không ngừng, nó vẫn còn là một sáo ngữ vô nghĩa. Tuy nhiên, khi con người bắt đầu nhận ra Thượng đế là năng lượng và chính mình là các phương diện của năng lượng đó, khi họ bắt đầu làm việc một cách có ý thức với các năng lượng và nhận ra sự khác biệt trong thời gian và không gian giữa năng lượng và mãnh lực, rồi khi linh hồn đi vào hoạt động chức năng lớn hơn, thì sự kiện của sự sống sẽ được nhận biết theo một cách mới mẻ và gần như đáng kinh ngạc. Cần nhớ rằng linh hồn là một năng lượng thứ cấp, chứng minh sự hiện hữu của năng lượng sơ cấp và chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của hình thức năng lượng thứ ba—cái hữu hình và khách quan. Cuối cùng, sự sống sẽ được biết là có thể được linh hồn khẩn cầu vì lợi ích của hình tướng. Chính trong điều này có một đầu mối cho chủ đề tổng quát của chúng ta.

Up till now the mechanism of approach to the life aspect—the antahkarana and the agent, the spiritual will—has not been understood in any useful sense. Today, the first faint hints as to the use of the antahkarana, and its purpose in relation to the personality and the Spiritual Triad, are being studied by a few students in the world, and their numbers will steadily increase as both personality and soul establish contact and fusion and more people take initiation. The purpose, consequently, for the very existence of the fourth kingdom in nature (as a transmitting agent for the higher spiritual energies to the three lower kingdoms) will begin to appear, and men, in group formation, will consciously begin this work of “saving”—in the esoteric sense, needless to say—these other grouped lives. The Macrocosm with its purpose and incentives will for the first time begin to reflect itself into the human kingdom in a new-[587] and more potent manner, and this in its turn will become the macrocosm of the three lesser states of conscious lives—the animal, the vegetable and the mineral kingdoms.

Cho đến nay, cơ chế tiếp cận phương diện sự sống—antahkarana và tác nhân của nó là ý chí tinh thần—vẫn chưa được hiểu theo bất kỳ ý nghĩa hữu dụng nào. Ngày nay, những gợi ý mờ nhạt đầu tiên về việc sử dụng antahkarana, và mục đích của nó trong liên hệ với phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần, đang được một số ít đạo sinh trên thế giới nghiên cứu, và số lượng của họ sẽ tăng đều khi cả phàm ngã lẫn linh hồn thiết lập tiếp xúc và sự dung hợp, và ngày càng nhiều người đạt điểm đạo. Do đó, mục đích của chính sự hiện hữu của giới thứ tư trong thiên nhiên (như một tác nhân truyền dẫn các năng lượng tinh thần cao hơn đến ba giới thấp) sẽ bắt đầu xuất hiện, và con người, trong sự hình thành nhóm, sẽ bắt đầu một cách có ý thức công việc “cứu rỗi” này—dĩ nhiên theo nghĩa nội môn—đối với các sự sống nhóm khác này. Đại thiên địa với mục đích và các động lực của nó lần đầu tiên sẽ bắt đầu phản chiếu chính nó vào giới nhân loại theo một cách mới[587] và mạnh mẽ hơn, và đến lượt nó, điều này sẽ trở thành đại thiên địa của ba trạng thái nhỏ hơn của các sự sống hữu thức—giới động vật, giới thực vật và giới kim thạch.

All this is a deep mystery, but has remained so only on account of the lack of development of the fourth kingdom. There had been a deviation from the original intent. Its function and field of service could, however, be realised and expressed only when this highest aspect, the will aspect, had been brought into conscious expression in mankind through the building and the utilisation of the antahkarana. Along the rainbow bridge the life aspect can flow, and it is to this that the Christ referred when He states that He had come so that there might be present upon the Earth, “life more abundantly.” Always there has been life, but when the Christ consciousness is radiantly present (as is the case today, though on a small scale) and the numbers of those expressing it are vast indeed, the inference is that the antahkarana is firmly established; the rainbow bridge can then be traversed and crossed, and life in abundance and in a new and impelling sense, and a fresh impulsing sense can also flow through humanity into the subhuman kingdoms in nature. This is evidence of divinity, and outstanding testimony of man’s divine origin, and the hope, the saving hope, of the world.

Tất cả điều này là một huyền nhiệm sâu xa, nhưng nó chỉ còn như vậy vì sự thiếu phát triển của giới thứ tư. Đã có một sự lệch khỏi ý định ban đầu. Tuy nhiên, chức năng và lĩnh vực phụng sự của nó chỉ có thể được nhận ra và biểu lộ khi phương diện cao nhất này, phương diện ý chí, được đưa vào biểu hiện có ý thức trong nhân loại thông qua việc xây dựng và sử dụng antahkarana. Dọc theo Cây cầu vồng, phương diện sự sống có thể tuôn chảy, và chính điều này mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài tuyên bố rằng Ngài đến để trên Trái Đất có thể hiện diện “sự sống dồi dào hơn.” Sự sống luôn luôn hiện hữu, nhưng khi tâm thức Christ hiện diện một cách rạng ngời (như trường hợp ngày nay, dù trên quy mô nhỏ) và số người biểu lộ nó thật sự rất lớn, thì suy luận là antahkarana đã được thiết lập vững chắc; khi ấy Cây cầu vồng có thể được đi qua và vượt qua, và sự sống dồi dào theo một ý nghĩa mới mẻ và thúc đẩy, cùng một cảm thức thúc đẩy mới mẻ, cũng có thể tuôn qua nhân loại vào các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên. Đây là bằng chứng của thiên tính, và là chứng từ nổi bật về nguồn gốc thiêng liêng của con người, và là niềm hy vọng, niềm hy vọng cứu rỗi, của thế giới.

The energy and the forces constitute the sumtotal of all that is. This is another basic truism or platitude upon which the science of occultism is built and which the healing art must recognise. There is, in manifestation, nothing else of any kind whatsoever. Disease itself is a form of active energy, demonstrating in forces which destroy or produce death. Therefore, if our basic premise is correct, disease is also a form of divine expression, for what we know to be evil is also the reverse side of that which we call good. Shall we belittle the subject or cause a false impression [588] if we regard evil (at least as far as disease is concerned) as misplaced or maladjusted good? Will you misunderstand if I say that disease is energy which is not functioning as desired or according to plan? Inpouring energies are brought into relation with forces, and good health, strong and adequate forms and vital activity result; the same inpouring energies can, however, be brought into relation with the same forces and a point of friction be set up, producing a diseased area, pain, suffering and perhaps death. The energies and the forces remain of the same essentially divine nature, but the relationship established has produced the problem. If this sentence is studied it will be obvious that a definition such as that can be used to cover all forms of difficulty, and that the ultimate producer of the situation (either good or evil) is the relationship aspect. This statement is of major importance in all your thinking.

Năng lượng và các mãnh lực cấu thành tổng thể của mọi cái đang hiện hữu. Đây là một chân lý căn bản khác hay một sáo ngữ khác mà trên đó khoa học huyền bí học được xây dựng và mà nghệ thuật chữa lành phải thừa nhận. Trong biểu hiện, không có gì khác thuộc bất kỳ loại nào. Chính bệnh tật cũng là một hình thức năng lượng hoạt động, biểu lộ trong các mãnh lực hủy diệt hoặc tạo ra cái chết. Vì vậy, nếu tiền đề căn bản của chúng ta là đúng, thì bệnh tật cũng là một hình thức biểu lộ thiêng liêng, vì điều mà chúng ta biết là ác cũng là mặt trái của điều mà chúng ta gọi là thiện. Liệu chúng ta có làm giảm giá trị của đề tài hay gây ra một ấn tượng sai lầm [588] nếu xem điều ác (ít nhất là trong chừng mực liên quan đến bệnh tật) như điều thiện bị đặt sai chỗ hay điều chỉnh sai lệch chăng? Các bạn có hiểu lầm không nếu tôi nói rằng bệnh tật là năng lượng không vận hành như mong muốn hay theo Thiên Cơ? Các năng lượng tuôn vào được đưa vào liên hệ với các mãnh lực, và kết quả là sức khỏe tốt, các hình tướng mạnh mẽ và thích đáng, cùng hoạt động sinh động; tuy nhiên, cũng chính các năng lượng tuôn vào ấy có thể được đưa vào liên hệ với cùng các mãnh lực đó và một điểm ma sát được thiết lập, tạo ra một vùng bệnh hoạn, đau đớn, khổ sở và có lẽ là cái chết. Các năng lượng và các mãnh lực vẫn giữ nguyên cùng một bản chất thiêng liêng cốt yếu, nhưng mối liên hệ được thiết lập đã tạo ra vấn đề. Nếu câu này được nghiên cứu, sẽ hiển nhiên rằng một định nghĩa như thế có thể được dùng để bao quát mọi hình thức khó khăn, và rằng tác nhân tối hậu tạo ra tình huống (dù thiện hay ác) là phương diện liên hệ. Phát biểu này có tầm quan trọng lớn trong toàn bộ tư duy của các bạn.

2. Two energies meet in man but other five are present. For each is to be found a central point of contact.

2. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, có thể tìm thấy một Điểm tiếp xúc ở trung tâm.

The two energies which meet in man are the two aspects of the monad, of the One in manifestation; the monad manifests essentially as a duality: it expresses itself as will and love, as atma-buddhi and these two energies when brought into relation with the point of mind, with the third aspect of divinity, produce the soul and then the tangible manifested world: then there is demonstrated in the planet will, love, and mind or intelligence: or atma-buddhi-manas.

Hai năng lượng gặp nhau trong con người là hai phương diện của chân thần, của Đấng Duy Nhất trong biểu hiện; chân thần biểu lộ về bản chất như một nhị nguyên tính: nó diễn đạt chính mình như ý chí và bác ái, như atma-buddhi, và hai năng lượng này khi được đưa vào liên hệ với điểm trí tuệ, với phương diện thứ ba của thiên tính, sẽ tạo ra linh hồn và rồi thế giới biểu hiện hữu hình; khi ấy trên hành tinh sẽ biểu lộ ý chí, bác ái và trí tuệ hay thông tuệ: tức atma-buddhi-manas.

As the soul anchors itself as consciousness and life within the human being, that human being contributes the third something which is latent or karmically present in all substance, manas or mind; this is inherited or held in solution in substance from a previous solar system. In that system intelligence was unfolded and was retained within substance [589] in order to form the basis of the evolutionary development of this, the second solar system. Forget not that the seven planes of our solar system constitute the seven subplanes of the cosmic physical plane and that, therefore, spirit is matter at its highest point of expression, and matter is spirit at its lowest. Life differentiates itself into will and love, into great impulsing energies which underlie the entire evolutionary process and motivate its inevitable consummation.

Khi linh hồn neo chính nó như tâm thức và sự sống trong con người, thì con người ấy đóng góp yếu tố thứ ba vốn tiềm ẩn hay hiện diện theo nghiệp quả trong mọi chất liệu, đó là manas hay trí tuệ; điều này được thừa hưởng hay được giữ trong trạng thái hòa tan trong chất liệu từ một hệ mặt trời trước đây. Trong hệ ấy, trí tuệ đã được khai mở và được giữ lại trong chất liệu [589] để hình thành nền tảng cho sự phát triển tiến hoá của hệ này, tức hệ mặt trời thứ hai. Đừng quên rằng bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta cấu thành bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ và do đó, tinh thần là vật chất ở điểm biểu lộ cao nhất của nó, còn vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó. Sự sống tự biến phân thành ý chí và bác ái, thành những năng lượng thúc đẩy lớn lao làm nền cho toàn bộ tiến trình tiến hoá và thúc đẩy sự hoàn tất tất yếu của nó.

Atma-buddhi, as energies, anchor themselves in the soul vehicle, in the egoic lotus, and their fused activity evokes a response from the substance of the mental plane which then makes its own contribution. Its reaction produces what we call the higher mind, which is of so subtle a nature and so tenuous an emanation that it must perforce relate itself to the two higher aspects and become part of the Spiritual Triad. The vortex of forces established under the impact of the divine will, expressing divine purpose and unified with Being (as identity and not as a quality), produces the egoic lotus, the vehicle of that “identified soul” which has been swept into expression by the third result of the atmic-buddhic impact on the three worlds; the concrete mind and the human intellect come into expression. There is, therefore, a curious resemblance between the three divine aspects in manifestation and the spiritual man upon the mental plane. The correspondence is as follows:

Atma-buddhi, như những năng lượng, neo chính chúng trong vận cụ linh hồn, trong Hoa Sen Chân Ngã, và hoạt động dung hợp của chúng khơi dậy một đáp ứng từ chất liệu của cõi trí, rồi chất liệu này đóng góp phần riêng của nó. Phản ứng của nó tạo ra điều mà chúng ta gọi là thượng trí, vốn có bản chất vi tế đến mức và là một phát xạ mỏng nhẹ đến mức nó tất yếu phải liên hệ với hai phương diện cao hơn và trở thành một phần của Tam Nguyên Tinh Thần. Vòng xoáy các mãnh lực được thiết lập dưới tác động của ý chí thiêng liêng, biểu lộ Thiên Ý và hợp nhất với Bản Thể (như bản sắc chứ không phải như một phẩm tính), tạo ra Hoa Sen Chân Ngã, vận cụ của “linh hồn đã đồng nhất” ấy, vốn đã bị cuốn vào biểu hiện bởi kết quả thứ ba của tác động atmic-buddhic lên ba cõi giới; trí cụ thể và trí năng con người đi vào biểu hiện. Vì vậy, có một sự tương tự kỳ lạ giữa ba phương diện thiêng liêng trong biểu hiện và con người tinh thần trên cõi trí. Sự tương ứng như sau:

The monad.......Abstract mind.

Chân thần.......Trí trừu tượng.

The soul......... Egoic lotus.

Linh hồn......... Hoa Sen Chân Ngã.

The personality... Lower or concrete mind.

Phàm ngã... Hạ trí hay trí cụ thể.

That vague abstraction, the monad, for aeons of time seems unrelated in any way to the soul and the personality; these two have been and are occupied with the task of establishing, in due time and under the evolutionary urge, a close fusion [590] or at-one-ment. The abstract mind remains also for aeons of time something inconceivable and outside the modes of expression and of thinking of the man who is kama-manasic for emotion and lower mind) and then finally soul and concrete mind (or the illuminator and the transmitter of illumination). These correspondences can be found most enlightening if due consideration is given to them.

Sự trừu tượng mơ hồ đó, chân thần, trong nhiều đại kiếp dường như không có liên hệ nào với linh hồn và phàm ngã; hai phương diện này đã và đang bận rộn với nhiệm vụ thiết lập, vào thời điểm thích hợp và dưới thúc đẩy tiến hoá, một sự dung hợp chặt chẽ [590] hay sự hợp nhất. Trí trừu tượng cũng trong nhiều đại kiếp vẫn là điều không thể quan niệm được và nằm ngoài các phương thức biểu đạt cũng như tư duy của con người vốn là trí-cảm (tức cảm xúc và hạ trí), và rồi cuối cùng là linh hồn và trí cụ thể (hay là đấng soi sáng và là kẻ truyền đạt sự soi sáng). Những sự tương ứng này có thể mang lại nhiều điều soi sáng nếu được suy xét đúng mức.

In the human being you have, therefore, two major energies anchored; one unrealised, to which we give the name of the PRESENCE, the other realised, to which we give the name of the Angel of the PRESENCE. These are the soul (the solar angel) and the monad. One embodies the monadic ray and the other the soul ray, and both of these energies actively or subtly condition the personality.

Trong con người, vì vậy, các bạn có hai năng lượng chính được neo giữ; một năng lượng chưa được nhận ra, mà chúng ta gọi là HIỆN DIỆN, năng lượng kia đã được nhận ra, mà chúng ta gọi là Thiên Thần của HIỆN DIỆN. Đó là linh hồn (Thái dương Thiên Thần) và chân thần. Một năng lượng thể hiện cung chân thần và năng lượng kia thể hiện cung linh hồn, và cả hai năng lượng này đều tích cực hay vi tế tác động lên phàm ngã.

The other five energies Which are present are the ray of the mind or the conditioning force of the mental body; the ray of the emotional nature, and the ray of the physical body, plus a fourth ray which is that of the personality. The ray of the physical body esoterically “ascends upward towards juncture, whereas the others all move down,” to quote an ancient writing. The ray of the personality is a consequence or result of the vast cycle of incarnations. You have therefore:

Năm năng lượng khác hiện diện là cung của thể trí hay mãnh lực điều kiện hóa của thể trí; cung của bản chất cảm xúc, và cung của thể xác, cộng với cung thứ tư là cung của phàm ngã. Cung của thể xác theo nghĩa nội môn “đi lên trên hướng tới chỗ nối kết, trong khi tất cả các cung khác đều đi xuống,” để trích một trước tác cổ. Cung của phàm ngã là hệ quả hay kết quả của chu kỳ nhập thể rộng lớn. Vì vậy, các bạn có:

1. The monadic ray.

1. Cung chân thần.

2. The soul ray.

2. Cung linh hồn.

3. Ray of the mind.

3. Cung của thể trí.

4. Ray of the emotions.

4. Cung của cảm xúc.

5. Ray of the physical body.

5. Cung của thể xác.

6. Ray of the personality.

6. Cung của phàm ngã.

7. The planetary ray.

7. Cung hành tinh.

The planetary ray is always the third Ray of Active Intelligence because it conditions our Earth and is of great potency, enabling the human being to “transact his business in the [591] world of planetary physical life.”

Cung hành tinh luôn luôn là cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động vì nó điều kiện hóa Trái Đất của chúng ta và có mãnh lực rất lớn, giúp con người “xử lý công việc của mình trong [591] thế giới của đời sống hồng trần hành tinh.”

I have made only casual reference to these rays elsewhere and have said little anent the planetary ray; I have laid the emphasis upon another analysis of the conditioning rays, and in this analysis recognised only five rays for practical usefulness to the man. These are:

Ở nơi khác, tôi chỉ nhắc sơ qua đến các cung này và nói rất ít về cung hành tinh; tôi đã nhấn mạnh vào một cách phân tích khác về các cung điều kiện hóa, và trong cách phân tích ấy chỉ công nhận năm cung là hữu dụng thực tiễn cho con người. Đó là:

1. The soul ray.

1. Cung linh hồn.

2. The personality ray.

2. Cung phàm ngã.

3. The mental ray.

3. Cung thể trí.

4. The astral ray.

4. Cung thể cảm dục.

5. The ray of the physical body.

5. Cung của thể xác.

However, with the creation and development of the antahkarana, the ray of the monad must also be brought into line, and then that which is its polar opposite, the planetary “livingness,” the third ray, will have to be recognised. I have here imparted a point of much importance to you. All these energies play an active part in the life cycle of every man and cannot be totally ignored by the healer, even though the information may be relatively useless at this time.

Tuy nhiên, với việc tạo dựng và phát triển antahkarana, cung của chân thần cũng phải được đưa vào sự chỉnh hợp, và khi đó điều là đối cực của nó, “tính sống” hành tinh, tức cung ba, sẽ phải được thừa nhận. Ở đây tôi đã truyền đạt cho các bạn một điểm rất quan trọng. Tất cả các năng lượng này đều đóng một vai trò tích cực trong chu kỳ đời sống của mỗi người và không thể bị người chữa lành hoàn toàn bỏ qua, dù thông tin này hiện nay có thể tương đối vô dụng.

3. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves produce the bodily ills of man.

3. Sự xung đột giữa những năng lượng này với các mãnh lực, và giữa các mãnh lực với nhau, tạo ra những bệnh tật trong thân thể con người.

You will note here that diseases are produced, according to this law, in two ways:

Ở đây các bạn sẽ lưu ý rằng bệnh tật được tạo ra, theo định luật này, theo hai cách:

1. By the conflict of energies with forces.

1. Bởi sự xung đột của các năng lượng với các mãnh lực.

2. By the conflict of the forces twixt themselves.

2. Bởi sự xung đột của các mãnh lực với nhau.

It will be apparent on the surface that this dual warfare is to be expected. Under the first category there is the warfare which takes place in the personality life when the soul definitely turns its attention to its vehicles and attempts to take [592] control. The more determined the person is to submit his personality to soul control, the more intense will be the conflict, with consequent physical conditions of a serious kind as a result. Under this category would come the majority of the diseases of disciples and mystics, largely of a nervous nature and often affecting the heart or the blood stream. They will, in the majority of cases, be confined to the area above the diaphragm, and therefore to those areas conditioned by the head, the throat and the heart centres. A number of what we might call “borderline” cases come under this heading also, but these are confined to the transfer of energies (under soul impact) from the solar plexus centre to the heart, and the “line” involved is simply the diaphragm.

Thoạt nhìn, hiển nhiên là cuộc chiến kép này phải được trông đợi. Dưới loại thứ nhất là cuộc chiến diễn ra trong đời sống phàm ngã khi linh hồn dứt khoát hướng sự chú ý của nó đến các vận cụ của nó và cố gắng nắm quyền [592] kiểm soát. Người ấy càng quyết tâm quy phục phàm ngã của mình dưới sự kiểm soát của linh hồn, thì sự xung đột sẽ càng mãnh liệt, và kết quả là các tình trạng hồng trần nghiêm trọng. Dưới loại này sẽ thuộc về phần lớn các bệnh của các đệ tử và các nhà thần bí, phần nhiều có tính chất thần kinh và thường ảnh hưởng đến tim hay dòng máu. Trong đa số trường hợp, chúng sẽ bị giới hạn ở vùng phía trên cơ hoành, và do đó ở những vùng được điều kiện hóa bởi các trung tâm đầu, cổ họng và tim. Một số trường hợp mà chúng ta có thể gọi là “ranh giới” cũng thuộc đề mục này, nhưng chúng chỉ giới hạn trong việc chuyển dịch các năng lượng (dưới tác động của linh hồn) từ trung tâm tùng thái dương lên tim, và “ranh giới” liên quan đơn giản là cơ hoành.

Under this first category also would come those difficulties which are brought about, for instance, when the energy of the astral body makes its impact upon the forces of the etheric vehicle, setting up an emotional turmoil, and thus producing serious solar plexus difficulty with resultant gastric, intestinal and liver disturbances. These are all the result of the conflict between energy and forces. All I can do at this point is to give indication of the type of problem which is related to one or other of these two categories; the subject is unsuitable for the brief handling which I purpose here to give.

Dưới loại thứ nhất này cũng sẽ thuộc về những khó khăn được gây ra, chẳng hạn, khi năng lượng của thể cảm dục tác động lên các mãnh lực của vận cụ dĩ thái, tạo nên một cơn xáo trộn cảm xúc, và do đó gây ra khó khăn nghiêm trọng ở tùng thái dương với hậu quả là các rối loạn dạ dày, ruột và gan. Tất cả những điều này đều là kết quả của sự xung đột giữa năng lượng và các mãnh lực. Tại điểm này, tất cả những gì tôi có thể làm là chỉ ra loại vấn đề liên hệ đến một hay loại kia trong hai loại này; đề tài này không thích hợp cho cách xử lý ngắn gọn mà tôi dự định trình bày ở đây.

Under the second category, which concerns the conflict between forces and forces, you have the etheric body involved, and the forces concerned are those to be found in the major and the minor centres, involving their relation to each other and their internal reaction to the impact of energies coming from without the etheric body. These forces and their interplay produce the common ills of man and control the disturbances in the physical organs and the areas of the physical body which are found around these centres. [593] These in reality constitute the major conditioning factors for the mass of human beings for long aeons or until such time as the soul “pays attention” to the appropriation in full control of its mechanism in the three worlds. These secondary difficulties, due to the interplay between the centres, fall into three categories, and these should be carefully noted:

Dưới loại thứ hai, liên quan đến sự xung đột giữa mãnh lực với mãnh lực, thể dĩ thái có liên quan, và các mãnh lực liên hệ là những mãnh lực được tìm thấy trong các trung tâm chính và phụ, bao gồm mối liên hệ của chúng với nhau và phản ứng nội tại của chúng đối với tác động của các năng lượng đến từ bên ngoài thể dĩ thái. Các mãnh lực này và sự tương tác của chúng tạo ra những đau yếu thông thường của con người và kiểm soát các rối loạn trong các cơ quan hồng trần và các vùng của thể xác được tìm thấy quanh các trung tâm này. [593] Thực ra, đây là những yếu tố điều kiện hóa chính đối với đại đa số nhân loại trong nhiều đại kiếp hoặc cho đến khi linh hồn “chú ý” đến việc chiếm hữu trọn vẹn bộ máy của nó trong ba cõi giới dưới sự kiểm soát hoàn toàn. Những khó khăn thứ yếu này, do sự tương tác giữa các trung tâm, rơi vào ba loại, và cần được ghi nhận cẩn thận:

1. The interplay between:

1. Sự tương tác giữa:

a. The centres above the diaphragm, i.e., the head, the throat and the heart, and very occasionally the ajna centre.

a. Các trung tâm phía trên cơ hoành, tức là đầu, cổ họng và tim, và rất hiếm khi là trung tâm ajna.

b. The centres below the diaphragm and their relation to each other.

b. Các trung tâm phía dưới cơ hoành và mối liên hệ của chúng với nhau.

2. The relation of certain centres to each other, such as takes place under the Law of Transmutation, or the process of lifting up of the forces from one centre to another:

2. Mối liên hệ của một số trung tâm với nhau, như diễn ra dưới Định luật Chuyển Hoá, hay tiến trình nâng các mãnh lực từ trung tâm này lên trung tâm khác:

a. From the sacral centre to the throat centre.

a. Từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng.

b. From the solar plexus centre to the heart centre.

b. Từ trung tâm tùng thái dương lên trung tâm tim.

c. From the centre at the base of the spine to the head centre.

c. Từ trung tâm ở đáy cột sống lên trung tâm đầu.

3. The impact of the “energy” (note the technical accuracy of my phrasing) of the centres above the diaphragm on those below the diaphragm.

3. Tác động của “năng lượng” (hãy lưu ý tính chính xác kỹ thuật trong cách diễn đạt của tôi) của các trung tâm phía trên cơ hoành lên các trung tâm phía dưới cơ hoành.

This is a reverse process to that which takes place when the forces below the diaphragm are raised to the centres above the diaphragm. In this third type of relation you have the exercise of the potency of magnetism, and in the other you have the expression of radiation. These two are closely allied at a certain stage of unfoldment.

Đây là một tiến trình ngược lại với tiến trình diễn ra khi các mãnh lực phía dưới cơ hoành được nâng lên các trung tâm phía trên cơ hoành. Trong loại liên hệ thứ ba này, các bạn có sự vận dụng tiềm lực của từ tính, còn trong loại kia các bạn có sự biểu lộ của bức xạ. Hai điều này liên hệ rất mật thiết với nhau ở một giai đoạn khai mở nhất định.

[594]

[594]

Under all these relationships there are possibilities of difficulties, resulting in an undesirable effect upon the physical organs found within the area involved. In the early stages of the relation of the centres above the diaphragm to those below, the man is usually quite unaware of what is going on and is then simply the victim of the stimulation applied by the centre emanating energy to the centre which receives its impact; or he is the victim of devitalisation (producing consequently many forms of physical ills) as the centres respond to the stimulation. It is all a question of balance or of equilibrium, and it is for this that the intelligent man and the aspirant must strive.

Dưới tất cả các mối liên hệ này đều có những khả năng gây khó khăn, dẫn đến một hiệu quả không mong muốn trên các cơ quan hồng trần nằm trong vùng liên hệ. Trong các giai đoạn đầu của mối liên hệ giữa các trung tâm phía trên cơ hoành với các trung tâm phía dưới, con người thường hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra và khi ấy chỉ đơn giản là nạn nhân của sự kích thích do trung tâm phát ra năng lượng áp dụng lên trung tâm tiếp nhận tác động của nó; hoặc y là nạn nhân của sự mất sinh lực (do đó tạo ra nhiều hình thức đau yếu hồng trần) khi các trung tâm đáp ứng với sự kích thích. Tất cả đều là vấn đề cân bằng hay quân bình, và chính vì điều này mà con người thông minh và người chí nguyện phải phấn đấu.

We come now to a very ambiguous statement and one that is purposely meant to be so:

Giờ đây chúng ta đến với một phát biểu rất mơ hồ và cố ý được làm cho như vậy:

4. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top.

4. Sự xung đột giữa cái thứ nhất và cái thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đạt tới đỉnh núi—đỉnh núi lớn đầu tiên.

This refers vaguely (and again purposely so) to the conflict between the energies above the diaphragm—which normally come from the soul on its own plane—and the forces below the diaphragm. This is a major and persistent conflict; it begins when the solar plexus centre becomes dominant and powerful, producing crises as in Atlantean days. As the mass of men are still Atlantean in consciousness, being swayed mainly by their emotional natures, these crises arise today. Eventually, and metaphysically speaking, the solar plexus centre begins to have a radiatory effect in response to the magnetic “call” of the heart centre. When the first initiation is taken the first great interplay is set up between the two and the first coordinated activity is established. “That which is above is now related to that which is below, but that which is below loses its identity in that which is above,” as the Old Commentary expresses it. The [595] mother is lost to sight because the Christ-Child assumed the place of interest. The soul is taking control and leading the aspirant from mountain top to mountain top. At the first initiation, and increasingly at all initiations, energy is brought into a major conflict with the forces; soul energy sweeps into the etheric body and all the centres become “fighting areas,” with one centre being emphasised more than the others. The nature of the battle is no longer that “twixt the forces and each other,” but is now between the energies and the forces, and it is this which creates the acuteness of the tests for initiation; it is this which produces so many physical ills among those who have taken or are preparing to take the first and second initiations. And it accounts for the diseases of the saints!

Điều này ám chỉ một cách mơ hồ (và lại cố ý như vậy) đến sự xung đột giữa các năng lượng phía trên cơ hoành—vốn thông thường đến từ linh hồn trên cõi riêng của nó—và các mãnh lực phía dưới cơ hoành. Đây là một xung đột lớn và dai dẳng; nó bắt đầu khi trung tâm tùng thái dương trở nên chi phối và mạnh mẽ, tạo ra các khủng hoảng như trong thời Atlantis. Vì đại đa số con người vẫn còn là Atlantis trong tâm thức, chủ yếu bị bản chất cảm xúc của mình chi phối, nên các khủng hoảng này phát sinh ngày nay. Cuối cùng, nói theo siêu hình học, trung tâm tùng thái dương bắt đầu có hiệu quả bức xạ để đáp ứng với “tiếng gọi” từ tính của trung tâm tim. Khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận thì sự tương tác lớn đầu tiên được thiết lập giữa hai trung tâm này và hoạt động phối hợp đầu tiên được xác lập. “Điều ở trên nay đã liên hệ với điều ở dưới, nhưng điều ở dưới mất bản sắc của nó trong điều ở trên,” như Cổ Luận diễn tả. [595] Người mẹ mất khỏi tầm mắt vì Hài Nhi Christ đã chiếm lấy vị trí được quan tâm. Linh hồn đang nắm quyền kiểm soát và dẫn dắt người chí nguyện từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Ở lần điểm đạo thứ nhất, và ngày càng nhiều hơn ở mọi lần điểm đạo, năng lượng được đưa vào một cuộc xung đột lớn với các mãnh lực; năng lượng linh hồn tràn vào thể dĩ thái và mọi trung tâm trở thành “những vùng chiến đấu,” với một trung tâm được nhấn mạnh hơn các trung tâm khác. Bản chất của cuộc chiến không còn là cuộc chiến “giữa các mãnh lực với nhau,” mà nay là giữa các năng lượng và các mãnh lực, và chính điều này tạo ra tính gay gắt của các thử thách điểm đạo; chính điều này tạo ra quá nhiều bệnh tật hồng trần nơi những người đã tiếp nhận hay đang chuẩn bị tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Và điều đó giải thích các bệnh tật của các vị thánh!

A great science of the centres will some day emerge, and this will clarify the entire complex problem; the time, however, is not yet. At present, if this science were taught openly, the result would be that the thoughts of men would be turned to the fact of the centres and to the areas which they control, and not to the energies which pour through them. There would be an unwholesome and undesirable stimulation or devitalisation of the substance of the centres, with consequent acute disease. The law forever holds good that “energy follows thought,” and that energy can be either radiatory or magnetic, but must not be statically contained within a centre. The true science of the centres will only be permitted free circulation when—and only when—men know the rudiments at least of thought direction and the control of energy impacts.

Một khoa học lớn về các trung tâm rồi đây sẽ xuất hiện, và điều này sẽ làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề phức tạp; tuy nhiên, thời điểm ấy vẫn chưa đến. Hiện nay, nếu khoa học này được dạy công khai, kết quả sẽ là tư tưởng của con người bị hướng đến sự kiện về các trung tâm và đến các vùng mà chúng kiểm soát, chứ không phải đến các năng lượng tuôn qua chúng. Sẽ có một sự kích thích hay mất sinh lực không lành mạnh và không mong muốn đối với chất liệu của các trung tâm, với hậu quả là bệnh tật cấp tính. Quy luật “năng lượng đi theo tư tưởng” luôn luôn đúng, và năng lượng có thể là bức xạ hoặc từ tính, nhưng không được bị giữ tĩnh tại trong một trung tâm. Khoa học chân chính về các trung tâm sẽ chỉ được phép lưu hành tự do khi—và chỉ khi—con người biết ít nhất những điều sơ đẳng về sự định hướng tư tưởng và sự kiểm soát các tác động năng lượng.

5. The fight between the forces produces all disease, all ills, and bodily pains which seek release through death.

5. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu, và đau đớn thân thể vốn tìm sự giải thoát qua cái chết.

[596]

[596]

There is here an interesting distinction which should be noted. Death, when it comes, is the result of two things:

Ở đây có một sự phân biệt thú vị cần được lưu ý. Cái chết, khi đến, là kết quả của hai điều:

1. The fight between the forces, and not between energy and the forces. The area of conflict is the etheric body and the physical body, and no energies are coming in from without because the man is too ill.

1. Cuộc chiến giữa các mãnh lực, chứ không phải giữa năng lượng và các mãnh lực. Vùng xung đột là thể dĩ thái và thể xác, và không có năng lượng nào từ bên ngoài đi vào vì người ấy quá bệnh.

2. The loss of the will-to-live. The patient has given in; the internal fight is too much for him; he can bring in no outside energy to combat the warring forces, and he has reached the point where he does not want to do so.

2. Sự mất đi Ý Chí-hướng Sống. Bệnh nhân đã đầu hàng; cuộc chiến nội tại là quá sức đối với y; y không thể đưa vào bất kỳ năng lượng bên ngoài nào để chống lại các mãnh lực đang giao chiến, và y đã đạt đến điểm mà y không còn muốn làm như vậy nữa.

These two phases of the process of dying are indicative of the destiny of the patient, and should be immediately noted by the healer who (when he finds them present) will then apply his skill in aiding the man to die and will not attempt to effect a cure. The door of entry for the life-giving energies is sealed; nothing can enter to aid the healer in his work, and the conflict between the forces-of a general nature or confined to a bitter fight in a particular area-produces so much friction that there is no hope anywhere, except in death. In this sentence, it might be pointed out that disease refers to the point of friction or of acute trouble; all ills has reference to the general reaction of the man to the area of difficulty and to the general disability produced by the disease, whilst bodily pain refers to the discomfort of the area where the disease is located and which is indicative of its nature. All words in these rules are most carefully chosen, and even if inadequate from the translator’s point of view, are not redundant but express different meanings.

Hai giai đoạn này của tiến trình chết cho thấy số phận của bệnh nhân, và cần được người chữa lành ghi nhận ngay; khi thấy chúng hiện diện, y sẽ vận dụng kỹ năng của mình để giúp người ấy chết và sẽ không cố gắng chữa khỏi. Cánh cửa đi vào của các năng lượng ban sự sống đã bị niêm phong; không gì có thể đi vào để hỗ trợ người chữa lành trong công việc của y, và sự xung đột giữa các mãnh lực—mang tính tổng quát hoặc giới hạn trong một cuộc chiến dữ dội ở một vùng cụ thể—tạo ra quá nhiều ma sát đến nỗi không còn hy vọng nào ở đâu cả, ngoại trừ trong cái chết. Trong câu này, có thể chỉ ra rằng bệnh tật nói đến điểm ma sát hay điểm rối loạn cấp tính; mọi đau yếu nói đến phản ứng tổng quát của con người đối với vùng khó khăn và đến tình trạng suy nhược chung do bệnh tật tạo ra, trong khi đau đớn thân thể nói đến sự khó chịu của vùng nơi bệnh khu trú và là dấu hiệu cho thấy bản chất của nó. Mọi từ trong các quy luật này đều được chọn lựa hết sức cẩn thận, và dù có thể không đầy đủ theo quan điểm của người dịch, chúng không thừa mà diễn đạt những ý nghĩa khác nhau.

6. The two, the five and then the seven, plus that which they produce, possess the secret.

6. Hai, năm, rồi bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật.

[597]

[597]

The enumeration is in the nature of a summation of what has been previously given, and its most superficial meaning and the one of the most use to the healer could be simply expressed as follows:

Sự liệt kê này có tính chất tổng kết những gì đã được trình bày trước đó, và ý nghĩa bề mặt nhất của nó, cũng là ý nghĩa hữu ích nhất cho người chữa lành, có thể được diễn đạt đơn giản như sau:

The healer must bear in mind the fact of the two major energies which are present in every personality; the soul and the personality rays. He must then bear in mind that to these two he must add three conditioning rays, making the five above mentioned: the mind ray, the ray of the astral body and the ray of the physical body.

Người chữa lành phải ghi nhớ sự kiện về hai năng lượng chính hiện diện trong mọi phàm ngã; cung linh hồn và cung phàm ngã. Sau đó y phải ghi nhớ rằng vào hai cung này y phải cộng thêm ba cung điều kiện hóa, tạo thành năm cung vừa nêu: cung thể trí, cung của thể cảm dục và cung của thể xác.

This enumeration will usually prove adequate for all ordinary or average people. If, however, the patient is a very advanced person, another form of enumeration will be in order; it will be necessary to add two more energies which will then be present in real potency: the ray of the monad and the ray of the planet, which is the third ray. This planetary ray when very active (as is the case with very advanced persons and those who have attained a high point of general integration) has a potent effect; planetary prana comes in powerfully on the planetary ray, and this can be used to bring about a cure. One reason why the general health of all very advanced people is usually good is that pranic energy from the planet has a free flow through the mechanism. It is this energy which the Master, working through a relatively perfect body, depends upon to keep it in good health. This is a somewhat new piece of information and one which—when recognised—will appear both simple and reasonable. “That which they produce” in this case, and to the healer, means the outer tangible form; there are other significances, but with these we need not here deal.

Sự liệt kê này thường sẽ tỏ ra đầy đủ đối với mọi người bình thường hay trung bình. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân là một người rất tiến bộ, thì một hình thức liệt kê khác sẽ thích hợp; cần phải cộng thêm hai năng lượng nữa, khi ấy sẽ hiện diện với tiềm lực thực sự: cung của chân thần và cung của hành tinh, tức cung ba. Cung hành tinh này khi rất hoạt động (như trường hợp nơi những người rất tiến bộ và những người đã đạt đến một điểm cao của sự tích hợp tổng quát) có một hiệu quả mạnh mẽ; prana hành tinh đi vào mạnh mẽ trên cung hành tinh, và điều này có thể được dùng để tạo ra sự chữa lành. Một lý do khiến sức khỏe tổng quát của mọi người rất tiến bộ thường tốt là vì năng lượng prana từ hành tinh có một dòng chảy tự do qua bộ máy. Chính năng lượng này mà Chân sư, làm việc qua một thân thể tương đối hoàn hảo, nương vào để giữ cho nó được khỏe mạnh. Đây là một mẩu thông tin phần nào mới mẻ và khi được nhận ra, sẽ có vẻ vừa đơn giản vừa hợp lý. “Điều mà chúng tạo ra” trong trường hợp này, và đối với người chữa lành, có nghĩa là hình tướng hữu hình bên ngoài; còn có những thâm nghĩa khác, nhưng ở đây chúng ta không cần bàn đến.

The “secret” referred to is the revelation of the manner in which good health may be preserved. It is not the secret [598] of how to cure the physical vehicle when “bodily ills” are present. But there is a secret of good health which is known to all initiates above the third initiation; and this they can simply employ, if they so choose. However, they may not so choose always unless they are working with other parts of the Plan which have nothing to do with humanity. If them are among those who are occupied with the unfolding consciousness in man and who are workers for and in the human kingdom, they may know the secret but may, at the same time, choose not to profit by it because of the need they feel to be completely identified with mankind; they therefore choose to share consciously all human experience and to die along lines which are common to the rest of men. The entire question of identification lies behind all manifestation; it is identification with or of spirit and matter which is the secret of divine appearance; one of the main causes of disease, as well you know, is the facility with which men identify themselves with the form aspect (with the many localised forces—localised within the personality ring-pass-not). Man neglects to identify himself with the producer of the form, the true spiritual man, and with the energies which he seeks to direct, and which—later in the evolutionary cycle—he is insistent upon directing.

“Bí mật” được nói đến là sự mặc khải về cách thức mà sức khỏe tốt có thể được duy trì. Đó không phải là bí mật [598] về cách chữa lành vận cụ hồng trần khi “các đau yếu thân thể” hiện diện. Nhưng có một bí mật của sức khỏe tốt mà mọi điểm đạo đồ trên lần điểm đạo thứ ba đều biết; và các vị có thể đơn giản sử dụng nó, nếu các vị chọn như vậy. Tuy nhiên, các vị có thể không phải lúc nào cũng chọn như vậy trừ phi các vị đang làm việc với những phần khác của Thiên Cơ vốn không liên quan gì đến nhân loại. Nếu các vị thuộc số những người đang bận tâm đến sự khai mở tâm thức trong con người và là những người hoạt động cho và trong giới nhân loại, các vị có thể biết bí mật ấy nhưng đồng thời có thể chọn không hưởng lợi từ nó vì nhu cầu mà các vị cảm thấy là phải hoàn toàn đồng nhất với nhân loại; do đó các vị chọn chia sẻ một cách có ý thức mọi kinh nghiệm của con người và chết theo những đường lối vốn phổ biến đối với phần còn lại của nhân loại. Toàn bộ vấn đề đồng nhất nằm phía sau mọi biểu hiện; chính sự đồng nhất của hay với tinh thần và vật chất là bí mật của sắc tướng thiêng liêng; như các bạn biết rõ, một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật là sự dễ dàng mà con người đồng nhất chính mình với phương diện hình tướng (với nhiều mãnh lực khu trú—được khu trú trong vòng-giới-hạn của phàm ngã). Con người sao lãng việc đồng nhất chính mình với tác nhân tạo ra hình tướng, con người tinh thần chân thực, và với các năng lượng mà y tìm cách định hướng, và về sau trong chu kỳ tiến hoá, y kiên quyết định hướng.

There is also a secret meaning here which relates to the seven rays as they express themselves in the human kingdom; the knowledge of this secret enables a Master to control epidemics and widespread diseases; with this you are not at this time concerned. Incidentally, the relative freedom from the plagues and epidemics which usually follow in the wake of war has been partly due to the use of this sevenfold knowledge by the Hierarchy, plus the scientific knowledge of humanity itself.

Ở đây cũng có một ý nghĩa bí mật liên hệ đến bảy cung khi chúng biểu lộ trong giới nhân loại; tri thức về bí mật này giúp một Chân sư kiểm soát các dịch bệnh và các bệnh lan rộng; hiện nay các bạn chưa cần quan tâm đến điều đó. Nhân tiện, sự tương đối vắng mặt của các bệnh dịch và dịch hạch thường theo sau chiến tranh một phần là nhờ việc Thánh đoàn sử dụng tri thức thất phân này, cộng với tri thức khoa học của chính nhân loại.

In this connection also (and I mention it simply from the angle of its interest) there are two hierarchical officials—[599] the Mahachohan and His Representative upon the seventh ray—Who are today in possession of this secret in its entirety, and They are aided by five other Masters in applying the gained knowledge. These five Masters are working primarily with the deva evolution, and this is, as you know, connected with form, and in this particular case with the healing devas. These seven Members of the Hierarchy are aided in Their turn by one of the Buddhas of Activity, and also by the representative of the Spirit of the Earth. This again makes the two, the five, and then the seven—a different enumeration, and one which when brought together equals nine, which is the number of initiation. This numerical relationship brings man to the point where he is “initiated into the realm of perfection and knows no further aches or pains, and his mind is thus deflected from that which is below to that which is above.”

Trong mối liên hệ này cũng vậy (và tôi chỉ nêu ra từ góc độ thú vị của nó), có hai vị chức sắc của Thánh đoàn—[599] Đức Mahachohan và Đại diện của Ngài trên cung bảy—là những Đấng ngày nay nắm giữ trọn vẹn bí mật này, và Các Ngài được năm Chân sư khác trợ giúp trong việc áp dụng tri thức đã đạt được. Năm Chân sư này chủ yếu làm việc với tiến hoá thiên thần, và điều này, như các bạn biết, có liên hệ với hình tướng, và trong trường hợp đặc biệt này là với các thiên thần chữa lành. Bảy Thành Viên này của Thánh đoàn đến lượt mình được một trong các Đức Phật Hoạt Động trợ giúp, và cũng bởi đại diện của Tinh Linh Địa Cầu. Điều này lại tạo thành hai, năm, rồi bảy—một cách liệt kê khác, và khi cộng lại thành chín, là con số của điểm đạo. Mối liên hệ số học này đưa con người đến điểm mà y “được điểm đạo vào cõi giới của sự hoàn hảo và không còn biết thêm đau nhức hay đau đớn nào nữa, và do đó trí tuệ của y được chuyển khỏi điều ở dưới sang điều ở trên.”

I have mentioned this phase of mankind’s relation to the subject of health so as to show you how subtle and esoteric are the matters with which we are dealing, and so give to the individual patient a sense of proportion, where his bodily ills or even his death are concerned.

Tôi đã đề cập đến phương diện này của mối liên hệ của nhân loại với đề tài sức khỏe để cho các bạn thấy những vấn đề mà chúng ta đang bàn đến tinh tế và mang tính nội môn đến mức nào, và nhờ đó đem lại cho bệnh nhân cá nhân một Ý thức về tỉ lệ, khi liên quan đến các đau yếu thân thể hay ngay cả cái chết của y.

7. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

7. Đây là Định luật Chữa Lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

This fifth law is primarily concerned with the fifth principle of mind or manas; it is this principle which makes a human being what he is; it is this principle which makes him a prisoner within the form and upon the planet, and thus makes him vulnerable and open to attacks upon the form aspect; these constitute part of the agelong action of evil versus good. It is this fifth principle, when controlled and used by the Son of Mind, Who is a Son of God, which will enable the spiritual man to free himself from form of every kind, and therefore from disease and death.

Định luật thứ năm này chủ yếu liên hệ đến nguyên khí thứ năm là trí tuệ hay manas; chính nguyên khí này làm cho con người là điều mà y là; chính nguyên khí này làm cho y thành một tù nhân trong hình tướng và trên hành tinh, và do đó làm cho y dễ bị tổn thương và dễ bị tấn công vào phương diện hình tướng; những điều này cấu thành một phần của hoạt động lâu đời của ác đối kháng với thiện. Chính nguyên khí thứ năm này, khi được Con của Trí Tuệ, Đấng là Con của Thượng đế, kiểm soát và sử dụng, sẽ giúp con người tinh thần giải thoát chính mình khỏi mọi loại hình tướng, và do đó khỏi bệnh tật và cái chết.

[600]

[600]

It will be obvious that the healer, as he trains himself in the healing art, has to grasp clearly and candidly certain exceedingly simple yet esoteric facts:

Hiển nhiên là người chữa lành, khi tự huấn luyện mình trong nghệ thuật chữa lành, phải nắm bắt rõ ràng và thẳng thắn một số sự kiện cực kỳ đơn giản nhưng mang tính nội môn:

1. That healing is simply and essentially the manipulation of energies.

1. Rằng chữa lành đơn giản và cốt yếu là sự vận dụng các năng lượng.

2. That he must carefully differentiate between energies and forces.

2. Rằng y phải cẩn thận phân biệt giữa năng lượng và mãnh lực.

3. That if he seeks real success, he must learn to place the patient as accurately as possible upon the correct rung of the ladder of evolution.

3. Rằng nếu tìm kiếm thành công thực sự, y phải học cách đặt bệnh nhân càng chính xác càng tốt trên nấc thang đúng của chiếc thang tiến hoá.

4. That knowledge of the centres is imperative.

4. Rằng tri thức về các trung tâm là điều bắt buộc.

5. That he himself must work as a soul through his personality.

5. Rằng chính y phải làm việc như một linh hồn thông qua phàm ngã của mình.

6. That his relation to the patient (unless the latter is highly evolved) is a personality one.

6. Rằng mối liên hệ của y với bệnh nhân (trừ phi bệnh nhân ấy là một người rất tiến hoá) là một mối liên hệ phàm ngã.

7. That he must locate the centre controlling the area which involves the point of friction.

7. Rằng y phải xác định trung tâm kiểm soát vùng liên quan đến điểm ma sát.

8. That, as with all else in the occult sciences, disease and healing are both of them aspects of the great “relationship” system which governs all manifestation.

8. Rằng, cũng như với mọi điều khác trong các khoa học huyền bí, bệnh tật và chữa lành cả hai đều là những phương diện của hệ thống lớn về “liên hệ” vốn chi phối mọi biểu hiện.

If the healer will take these eight points and reflect and brood upon them, he will lay a sound foundation for all work to be done; their relative simplicity is such that it will be obvious that anyone can be a healer if he so chooses and is willing to conform to the requirements. The current idea that a person is a “born” healer, and therefore unique, in reality indicates only that it is one of his main directed interests. Therefore, because of this interest, his attention has been turned towards the healing art and consequently towards contact with patients; owing to the inevitable working of the law which governs thought, he discovers that energy follows his thought and flows through him to the [601] patient. When he does this with deliberation, a healing will often follow. Any man or woman—given real interest and prompted by the incentive to serve—who thinks and loves, can be a healer, and it is time that people grasped that fact. The entire process of healing is thought-directed; it concerns the direction of energy currents or their abstraction, and this is another way of speaking about radiation and magnetism. Every initiate is a healer, and the more advanced the initiate the less is he occupied with the intricacies of centres and forces, energies and their direction. He heals automatically, as was the case with the initiate, Peter; of him we read that “the shadow of Peter passing by healed everyone of them.”

Nếu nhà chữa lành tiếp nhận tám điểm này và suy tư và nghiền ngẫm về chúng, y sẽ đặt được một nền tảng vững chắc cho mọi công việc cần làm; tính tương đối đơn giản của chúng khiến hiển nhiên rằng bất cứ ai cũng có thể là một nhà chữa lành nếu y chọn như vậy và sẵn lòng tuân theo các đòi hỏi. Quan niệm hiện nay cho rằng một người là nhà chữa lành “bẩm sinh”, và vì thế là độc nhất, trên thực tế chỉ cho thấy rằng đó là một trong những mối quan tâm có định hướng chính của y. Vì vậy, do mối quan tâm này, sự chú ý của y đã được hướng về nghệ thuật chữa lành và do đó hướng về sự tiếp xúc với các bệnh nhân; do sự vận hành tất yếu của định luật chi phối tư tưởng, y khám phá ra rằng năng lượng đi theo tư tưởng của y và tuôn qua y đến bệnh nhân [601]. Khi y làm điều này một cách có chủ ý, sự chữa lành thường sẽ theo sau. Bất kỳ người nam hay người nữ nào—nếu có mối quan tâm chân thật và được thúc đẩy bởi động cơ phụng sự—biết suy nghĩ và biết yêu thương, đều có thể là một nhà chữa lành, và đã đến lúc người ta phải nắm được sự kiện đó. Toàn bộ tiến trình chữa lành được tư tưởng định hướng; nó liên quan đến việc định hướng các dòng năng lượng hoặc sự rút chúng đi, và đây là một cách khác để nói về bức xạ và từ tính. Mọi điểm đạo đồ đều là một nhà chữa lành, và điểm đạo đồ càng tiến bộ thì Ngài càng ít bận tâm đến những phức tạp của các trung tâm và các mãnh lực, các năng lượng và sự định hướng của chúng. Ngài chữa lành một cách tự động, như trường hợp của điểm đạo đồ Peter; về ông, chúng ta đọc rằng “cái bóng của Peter đi ngang qua đã chữa lành tất cả họ.”

The major difference to be seen in the interim (an interim of many, many thousands of years) between the type of healing mentioned above and the work of a less advanced healer, will be that those healers who are trained physicians and accredited medical men as well as spiritual healers will have a great advantage over the untrained healer, because their diagnosis of the disease will be more apt to be correct and their powers of visualisation will be greater, owing to their trained familiarity with the structure of the body and their knowledge of morbid pathology. It will be wise, for a very long time to come, for the spiritual healer to work always in collaboration with a trained physician. The healer will provide the required occult knowledge. The time when any nice, kindly and spiritually minded person sets up as a healer should be well-nigh over; any healing practice should be preceded by years of careful study anent the nature of energy, of the ray types, of the centres; a minimum of at least three years should be given to this; when to this is added the science of the trained medical man, graduating from our best medical colleges, you will then have a new and much better treatment of the human vehicle than is now [602] the case. Then the healer’s orthodox and occult knowledge, his visualising capacity and his power of thought direction will be real and practically effective.

Sự khác biệt chính có thể thấy trong giai đoạn chuyển tiếp này (một giai đoạn chuyển tiếp kéo dài rất, rất nhiều ngàn năm) giữa loại chữa lành được nhắc đến ở trên và công việc của một nhà chữa lành kém tiến bộ hơn, sẽ là ở chỗ những nhà chữa lành nào vừa là bác sĩ được đào tạo và là y sĩ được công nhận, đồng thời cũng là nhà chữa lành tinh thần, sẽ có một lợi thế lớn hơn nhà chữa lành không được đào tạo, bởi vì chẩn đoán bệnh của họ có nhiều khả năng đúng hơn và năng lực hình dung của họ sẽ lớn hơn, nhờ sự quen thuộc được huấn luyện của họ với cấu trúc của thể xác và kiến thức của họ về bệnh lý học. Trong một thời gian rất dài sắp tới, sẽ là khôn ngoan nếu nhà chữa lành tinh thần luôn làm việc trong sự cộng tác với một bác sĩ được đào tạo. Nhà chữa lành sẽ cung cấp tri thức huyền bí học cần thiết. Thời kỳ mà bất kỳ người tử tế, tốt bụng và có khuynh hướng tinh thần nào cũng tự đứng ra làm nhà chữa lành hẳn phải gần như chấm dứt; bất kỳ việc hành nghề chữa lành nào cũng nên được đi trước bởi nhiều năm nghiên cứu cẩn trọng về bản chất của năng lượng, các loại cung, các trung tâm; tối thiểu ít nhất ba năm nên được dành cho việc này; khi cộng thêm vào đó khoa học của người thầy thuốc được đào tạo, tốt nghiệp từ các trường y khoa tốt nhất của chúng ta, khi ấy các bạn sẽ có một phương pháp điều trị mới và tốt hơn nhiều đối với vận cụ con người so với hiện nay [602]. Khi đó tri thức chính thống và huyền bí học của nhà chữa lành, năng lực hình dung và quyền năng định hướng tư tưởng của y sẽ là thực sự và có hiệu quả thực tiễn.

The rule connected with Law V makes clear the need for this occult knowledge, for it states very definitely certain fundamental injunctions.

Quy luật liên kết với Định luật V làm rõ nhu cầu về tri thức huyền bí học này, vì nó nêu ra rất dứt khoát một số huấn lệnh căn bản.

RULE THREE — QUY LUẬT BA

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre. Let the centre correspond to the centre which has need. Let the two synchronise and together augment force. Thus shall the waiting form he balanced in its work. Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Hãy để nhà trị liệu tập trung năng lượng cần thiết vào luân xa thích hợp. Hãy để trung tâm ấy tương ứng với trung tâm đang cần. Hãy để hai luân xa đồng bộ và cùng nhau tăng cường mãnh lực. Như thế hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó. Nhờ đó, hai và một, dưới sự chỉ đạo đúng đắn, sẽ chữa lành.

This rule presupposes a knowledge of the centres, and this knowledge is, as you well know, still embryonic; all that is known in most cases is the location of a centre. This, however, especially with untrained healers, is sufficient. Too detailed a knowledge of the formation, condition and responsiveness of a centre would handicap the healer, for his thought would be deflected to the detail of the form and away from the energy and its movements.

Quy luật này giả định có tri thức về các trung tâm, và như các bạn biết rõ, tri thức này vẫn còn ở giai đoạn phôi thai; trong đa số trường hợp, tất cả những gì được biết chỉ là vị trí của một trung tâm. Tuy nhiên, điều này, đặc biệt với các nhà chữa lành không được đào tạo, là đủ. Một tri thức quá chi tiết về sự hình thành, tình trạng và tính đáp ứng của một trung tâm sẽ làm trở ngại nhà chữa lành, vì tư tưởng của y sẽ bị lệch sang chi tiết của hình tướng và rời xa năng lượng cùng các chuyển động của nó.

The rule here requires that the healer, having aligned himself with the soul and “tapped” soul energy (thereby making himself a channel for spiritual force), directs this energy into that one of his own centres which corresponds to the centre conditioning the area of the point of friction. If the disease or physical trouble is stomachic, for instance, or related to the liver, the healer will direct his soul energy into the solar plexus centre, situated in the etheric spinal column. If the patient should be suffering from difficulty in the heart or the lungs the healer will use the heart centre, employing the throat centre for diseases of the bronchial tract, the throat, the mouth or the ears.

Quy luật ở đây đòi hỏi rằng nhà chữa lành, sau khi đã chỉnh hợp chính mình với linh hồn và “khai thác” năng lượng linh hồn (nhờ đó làm cho mình thành một kênh dẫn cho mãnh lực tinh thần), phải định hướng năng lượng này vào một trong các trung tâm của chính y, trung tâm tương ứng với trung tâm đang tác động lên khu vực của điểm ma sát. Chẳng hạn, nếu bệnh hay rối loạn hồng trần là ở dạ dày, hoặc liên quan đến gan, nhà chữa lành sẽ định hướng năng lượng linh hồn của y vào trung tâm tùng thái dương, nằm trong cột sống dĩ thái. Nếu bệnh nhân đang chịu đau khổ vì khó khăn ở tim hay phổi, nhà chữa lành sẽ dùng trung tâm tim, dùng trung tâm cổ họng cho các bệnh của đường phế quản, cổ họng, miệng hay tai.

[603]

[603]

Two things, therefore, become of importance in connection with the healer himself:

Vì vậy, có hai điều trở nên quan trọng liên quan đến chính nhà chữa lành:

1. He must know as accurately as possible his own point of development, for that will indicate to him capacity or non-capacity to work with any or with all the centres. In order to use any of his centres in the healing work, the healer must have awakened them in some measure and be able, consciously and by the power of thought, under the agency of the will, to focus energy in whichever centre he chooses. This does not mean that all the centres are awakened and truly functioning. It should, however, mean (if he is to heal at all) that he is not confined to the sole use of the centres below the diaphragm but that, by an effort of the spiritual will, thought can be channelled into the higher centres. Many aspirants can do this with greater facility than they believe.

1. Y phải biết càng chính xác càng tốt điểm phát triển của chính mình, vì điều đó sẽ chỉ cho y biết năng lực hay vô năng lực để làm việc với bất kỳ hay với tất cả các trung tâm. Để sử dụng bất kỳ trung tâm nào của mình trong công việc chữa lành, nhà chữa lành phải đã đánh thức chúng ở một mức độ nào đó và có thể, một cách hữu thức và bằng quyền năng của tư tưởng, dưới tác động của ý chí, tập trung năng lượng vào bất cứ trung tâm nào y chọn. Điều này không có nghĩa là tất cả các trung tâm đều đã được đánh thức và thực sự hoạt động. Tuy nhiên, điều đó nên có nghĩa (nếu y thật sự chữa lành) rằng y không bị giới hạn vào việc chỉ sử dụng các trung tâm dưới cơ hoành mà, bằng một nỗ lực của ý chí tinh thần, tư tưởng có thể được dẫn vào các trung tâm cao hơn. Nhiều người chí nguyện có thể làm điều này dễ dàng hơn họ tưởng.

2. The healer, as he channels energy into some centre, prior to directing it to a centre in the patient’s body, must run no risk of his personal overstimulation. This is a very important point. So much disease and physical difficulty among ordinary people is abdominal, necessitating the constant use of the solar plexus centre by the healer; this could bring about a grave condition of overemotionalism and even acute astralism on the part of the healer. He would then be the victim of his good intentions and of his spiritual service, for the consequences would all the same be bad; energy is an impersonal force and a purely impersonal agency. Purity of intention, selfless service and goodwill are no true protection, in spite of the platitudes of the sentimental occultist. In fact, the presence of these desirable conditions only increases the difficulty, for soul energy will pour in with [604] great force. An understanding of the risks involved, a sane appraisal of possibility and a scientific and technical understanding of protective measures will be given to the healer towards the latter end of his training. For the present, and because the danger is not at this time so great (owing to lack of potency in people’s thinking and their inability to direct thought) the major protective measure consists in the ability of the healer to hold his consciousness steady in the head centre with the “eye of direction” turned to the needed centre. This involves a dual focus, and for the ability to do this the healer must strive.

2. Nhà chữa lành, khi dẫn năng lượng vào một trung tâm nào đó, trước khi định hướng nó đến một trung tâm trong thân thể của bệnh nhân, không được để xảy ra bất kỳ nguy cơ nào về sự kích thích quá mức nơi cá nhân y. Đây là một điểm rất quan trọng. Quá nhiều bệnh tật và khó khăn hồng trần nơi người thường là ở vùng bụng, đòi hỏi nhà chữa lành phải liên tục sử dụng trung tâm tùng thái dương; điều này có thể gây ra một tình trạng nghiêm trọng của sự quá cảm xúc và thậm chí cảm dục tính cấp tính nơi nhà chữa lành. Khi đó y sẽ là nạn nhân của những ý định tốt đẹp và sự phụng sự tinh thần của chính mình, vì các hậu quả vẫn sẽ là xấu; năng lượng là một mãnh lực vô ngã và là một tác nhân thuần túy vô ngã. Sự thanh khiết của ý định, sự phụng sự vô ngã và thiện chí không phải là sự bảo vệ đích thực, bất chấp những lời sáo rỗng của nhà huyền bí học đa cảm. Thật ra, sự hiện diện của những điều kiện đáng mong muốn này chỉ làm tăng thêm khó khăn, vì năng lượng linh hồn sẽ tuôn vào với [604] mãnh lực lớn. Sự thấu hiểu các nguy cơ liên quan, một sự lượng định lành mạnh về khả năng, và một sự hiểu biết khoa học và kỹ thuật về các biện pháp bảo vệ sẽ được trao cho nhà chữa lành vào giai đoạn cuối của quá trình huấn luyện của y. Hiện nay, và bởi vì nguy hiểm lúc này chưa lớn đến thế (do sự thiếu mãnh lực trong tư tưởng của con người và sự bất lực của họ trong việc định hướng tư tưởng), biện pháp bảo vệ chính yếu nằm ở khả năng của nhà chữa lành giữ tâm thức của mình ổn định trong trung tâm đầu với “con mắt định hướng” quay về trung tâm cần thiết. Điều này bao hàm một sự tập trung kép, và để có khả năng làm được điều này nhà chữa lành phải nỗ lực.

It is here that the healer distinguishes between the processes of radiation and magnetisation. Having concentrated soul energy in the appropriate centre, through the power of direction from the head (the seat of soul energy) and by the potency of thought, the process of radiation ends. This radiation has passed through two stages:

Chính ở đây nhà chữa lành phân biệt giữa các tiến trình bức xạ và từ hóa. Sau khi đã tập trung năng lượng linh hồn trong trung tâm thích hợp, nhờ quyền năng định hướng từ đầu (nơi ngự của năng lượng linh hồn) và bởi mãnh lực của tư tưởng, tiến trình bức xạ chấm dứt. Sự bức xạ này đã đi qua hai giai đoạn:

1. The stage wherein the soul radiated energy into the head centre.

1. Giai đoạn trong đó linh hồn bức xạ năng lượng vào trung tâm đầu.

2. The stage wherein the healer directs a ray of that energy from the head centre into the “needed centre”; it is there focussed and held steady.

2. Giai đoạn trong đó nhà chữa lành định hướng một tia của năng lượng ấy từ trung tâm đầu vào “trung tâm cần thiết”; tại đó nó được tập trung và giữ ổn định.

From that appropriate centre the stage of synchronisation with the corresponding centre in the patient’s body is established; this is done, not by the healer sending a ray into that centre, but because the potency of the healer’s centre evokes response from that of the patient; it acts like a magnet, drawing forth a definite radiation from the patient. This radiation, esoterically, “lights up” the point of friction in the surrounding area and—were the healer clairvoyant would thus enable him to see more clearly the seat of the [605] trouble and, therefore, to arrive at a more accurate diagnosis. Ordinarily, the spiritual healer is depending upon the diagnosis of the medical man in attendance, if he is not one himself.

Từ trung tâm thích hợp đó, giai đoạn đồng bộ với trung tâm tương ứng trong thân thể bệnh nhân được thiết lập; điều này được thực hiện không phải bằng việc nhà chữa lành gửi một tia vào trung tâm ấy, mà bởi vì mãnh lực của trung tâm nơi nhà chữa lành gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm của bệnh nhân; nó hoạt động như một nam châm, kéo ra một bức xạ xác định từ bệnh nhân. Về mặt nội môn, bức xạ này “thắp sáng” điểm ma sát trong khu vực chung quanh và—nếu nhà chữa lành là nhà thông nhãn—nhờ đó sẽ cho phép y thấy rõ hơn vị trí của [605] rối loạn và vì thế đi đến một chẩn đoán chính xác hơn. Thông thường, nhà chữa lành tinh thần dựa vào chẩn đoán của người thầy thuốc đang điều trị, nếu chính y không phải là thầy thuốc.

The interplay is now established between the healer and the patient and upon etheric levels. The energy of their two synchronised centres is now en rapport, and the healer has at this point to determine whether the treatment requires an expulsive technique or a stimulating one. He has therefore to ascertain whether the patient’s centre is overstimulated and if some of the surplus energy should consequently be driven out or abstracted, or whether there is a condition of devitalisation and the energy of the centre involved requires a deliberate augmenting.

Sự tương tác nay đã được thiết lập giữa nhà chữa lành và bệnh nhân trên các cấp độ dĩ thái. Năng lượng của hai trung tâm đã đồng bộ của họ nay đã tương thông, và tại điểm này nhà chữa lành phải xác định liệu việc điều trị đòi hỏi một kỹ thuật tống xuất hay một kỹ thuật kích thích. Vì vậy y phải xác định xem trung tâm của bệnh nhân có bị kích thích quá mức hay không và do đó có nên đẩy ra hay rút đi một phần năng lượng dư thừa, hoặc liệu có một tình trạng mất sinh lực và năng lượng của trung tâm liên quan cần được tăng cường một cách có chủ ý hay không.

There is, however, a third possibility mentioned here which is slower, but in practically every case is more desirable; it is the attainment of that balance of energies (between the healer and the patient) which will hold the energy in the area of the point of friction and permit nature itself to bring about an unassisted cure. This is possible only when the rapport between the patient and the healer is complete. Then the sole task of the healer is to hold the situation steady, give the patient confidence in the powers inherent within him, and encourage a period of patient waiting. The cure then is more lasting, and there is no sense or period of psychic shock, which can be the case if sudden stimulation or drastic expulsion is employed.

Tuy nhiên, ở đây còn có một khả năng thứ ba được nhắc đến, chậm hơn, nhưng trên thực tế trong hầu như mọi trường hợp lại đáng mong muốn hơn; đó là đạt được sự quân bình năng lượng ấy (giữa nhà chữa lành và bệnh nhân), sự quân bình sẽ giữ năng lượng trong khu vực của điểm ma sát và cho phép chính tự nhiên mang lại một sự chữa lành không cần trợ giúp. Điều này chỉ có thể khi sự tương thông giữa bệnh nhân và nhà chữa lành là trọn vẹn. Khi đó nhiệm vụ duy nhất của nhà chữa lành là giữ tình huống ổn định, đem lại cho bệnh nhân sự tin tưởng vào các quyền năng vốn có bên trong y, và khuyến khích một thời kỳ chờ đợi kiên nhẫn. Khi ấy sự chữa lành sẽ bền vững hơn, và không có cảm giác hay giai đoạn chấn động thông linh, điều có thể xảy ra nếu dùng sự kích thích đột ngột hoặc sự tống xuất mạnh bạo.

We have noted here, as you see, three modes whereby the healer employs the force focussed, by direction, in his centres:

Như các bạn thấy, ở đây chúng ta đã ghi nhận ba phương thức mà qua đó nhà chữa lành sử dụng mãnh lực được tập trung, bằng sự định hướng, trong các trung tâm của y:

1. For the expulsion of surplus energy in an overstimulated centre. [606]

1. Để tống xuất năng lượng dư thừa trong một trung tâm bị kích thích quá mức. [606]

2. For definite processes of stimulation of the patient’s centres.

2. Để thực hiện các tiến trình kích thích xác định đối với các trung tâm của bệnh nhân.

3. To preserve a state of equilibrium wherein natural healing can take place.

3. Để duy trì một trạng thái quân bình trong đó sự chữa lành tự nhiên có thể diễn ra.

In the first case, the healer deliberately increases the potency of the energy stored in his centre, so that it becomes exceedingly magnetic and abstracts the oversupply of energy in the patient’s centre; in the second case, the healer sends a powerful ray of his own energy into the corresponding centre in the patient’s body. This is an act of radiation and is very effective; in the third case, an interplay is set up which preserves balance, and furthers steady and normal activity in the centre controlling the area of trouble.

Trong trường hợp thứ nhất, nhà chữa lành cố ý gia tăng mãnh lực của năng lượng được tích trữ trong trung tâm của y, đến mức nó trở nên cực kỳ từ tính và rút đi lượng năng lượng dư thừa trong trung tâm của bệnh nhân; trong trường hợp thứ hai, nhà chữa lành gửi một tia năng lượng mạnh mẽ của chính y vào trung tâm tương ứng trong thân thể bệnh nhân. Đây là một hành động bức xạ và rất hiệu quả; trong trường hợp thứ ba, một sự tương tác được thiết lập để duy trì quân bình, và thúc đẩy hoạt động ổn định và bình thường trong trung tâm kiểm soát khu vực rối loạn.

You will note also how all these processes (and they are relatively simple when grasped) are dependent upon the decision of the healer. It is here that mistakes can be made, and the man who is seeking to work along the lines I indicate would be well-advised to move slowly and with due caution even at the expense of being ineffectual and unsuccessful. It is better to have no effect upon the patient and his condition than by the potency of one’s unwise decision, the power of one’s thought and the focus of one’s direction, to hasten the patient’s death by the sudden abstraction of needed energy or by the stimulation of a centre already overstimulated and overactive.

Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng mọi tiến trình này (và chúng tương đối đơn giản khi đã được nắm bắt) đều tùy thuộc vào quyết định của nhà chữa lành. Chính ở đây các sai lầm có thể xảy ra, và người đang tìm cách làm việc theo những đường lối tôi chỉ ra nên được khuyên là hãy tiến chậm và hết sức thận trọng, ngay cả với cái giá là không hiệu quả và không thành công. Tốt hơn là không gây tác động nào lên bệnh nhân và tình trạng của y còn hơn là, bằng mãnh lực của quyết định thiếu khôn ngoan của mình, quyền năng của tư tưởng mình và tiêu điểm định hướng của mình, đẩy nhanh cái chết của bệnh nhân bằng sự rút đi đột ngột năng lượng cần thiết hoặc bằng sự kích thích một trung tâm vốn đã bị kích thích quá mức và hoạt động quá mạnh.

In the last analysis the aim in the three modes of aiding the patient by direct work with the centres involved, is to bring about a balanced and wholesome activity. This is more easily achieved in the case of an advanced person than in the case of the individual in whom the centre is normally inactive and unawakened and where the difficulty is more apt to be due to the action of some of the twenty-one minor centres situated in the body than to that of the seven major [607] centres. In these cases, the patient can far more easily be helped by orthodox medicine and surgery than by any processes of spiritual healing. It is for this reason that the spiritual header is only now becoming important and his work in any way possible. This is owing to the rapid spiritual development of humanity, which enables men, for the first time and on any substantial scale, to take advantage of these laws and rules.

Xét đến cùng, mục tiêu trong ba phương thức trợ giúp bệnh nhân bằng công việc trực tiếp với các trung tâm liên quan là mang lại một hoạt động quân bình và lành mạnh. Điều này đạt được dễ hơn trong trường hợp một người tiến bộ hơn là trong trường hợp cá nhân mà trung tâm thường bất hoạt và chưa được đánh thức, và nơi khó khăn có nhiều khả năng là do tác động của một trong hai mươi mốt trung tâm phụ nằm trong thân thể hơn là do bảy trung tâm chính [607]. Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể được giúp dễ dàng hơn nhiều bằng y học và phẫu thuật chính thống hơn là bằng bất kỳ tiến trình chữa lành tinh thần nào. Chính vì lý do này mà nhà chữa lành tinh thần chỉ mới nay trở nên quan trọng và công việc của y mới có thể thực hiện được theo bất kỳ cách nào. Điều này là do sự phát triển tinh thần nhanh chóng của nhân loại, điều cho phép con người, lần đầu tiên và trên một quy mô đáng kể, tận dụng các định luật và quy luật này.

In the last sentence in Rule Three, the meaning of the two and the one is that the combined energy within the healer—soul energy focussed in the head centre and the energy of the “needed centre,” plus the energy of the centre which controls the point of friction in the patient’s body is responsible for the healing, providing it is the destiny of the patient to be healed.

Trong câu cuối của Quy luật Ba, ý nghĩa của hai và một là năng lượng kết hợp bên trong nhà chữa lành—năng lượng linh hồn được tập trung trong trung tâm đầu và năng lượng của “trung tâm cần thiết,” cộng với năng lượng của trung tâm kiểm soát điểm ma sát trong thân thể bệnh nhân—chịu trách nhiệm cho sự chữa lành, miễn là số mệnh của bệnh nhân là được chữa lành.

LAW VI — ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower. Personal self, then you have disease and ill health and death.

Khi những năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thân thể, sẽ có sức khỏe, sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng, theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết.

This is a most interesting law, because it deals basically with causes, primarily with causes over which the average person has no conscious control, and because it occultly gives a picture in miniature or microcosmically of the universal or macrocosmic situation. It deals with the entire problem of evil, or pain and suffering (the great mysteries of our little planet) in a few sentences, but they are sentences conveying vast implications. The very simplicity of this great natural law veils the far-reaching significances of its normal working. It says the following things quite simply, and I enumerate them because the breaking down of a paragraph [608] into its clear and simple statements is a sound way to arrive at understanding:

Đây là một định luật rất thú vị, vì về căn bản nó bàn đến các nguyên nhân, chủ yếu là các nguyên nhân mà người trung bình không có sự kiểm soát hữu thức, và vì về mặt huyền bí học nó đưa ra một bức tranh thu nhỏ hay vi mô về tình huống phổ quát hay vĩ mô. Nó bàn đến toàn bộ vấn đề của điều ác, hay đau đớn và đau khổ (những huyền nhiệm lớn của hành tinh nhỏ bé của chúng ta) chỉ trong vài câu, nhưng đó là những câu chuyển tải những hàm ý bao la. Chính sự đơn giản của định luật tự nhiên lớn lao này che phủ những thâm nghĩa sâu rộng của sự vận hành bình thường của nó. Nó nói những điều sau đây một cách rất đơn giản, và tôi liệt kê chúng vì việc phân tách một đoạn văn [608] thành những phát biểu rõ ràng và đơn giản của nó là một cách đúng đắn để đi đến thấu hiểu:

1. When the soul controls the form involved, there is health.

1. Khi linh hồn kiểm soát hình tướng liên quan, có sức khỏe.

2. The soul is the builder of the form, the constructive force in manifestation.

2. Linh hồn là đấng kiến tạo của hình tướng, là mãnh lực kiến tạo trong biểu hiện.

3. This is true of both the microcosm and the macrocosm.

3. Điều này đúng cho cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.

4. The results are wholeness, right relation and correct activity.

4. Kết quả là sự toàn vẹn, tương quan đúng đắn và hoạt động chính xác.

5. When the soul is not in control, and the forces of the form nature are therefore the controlling factors, there will be ill health.

5. Khi linh hồn không kiểm soát, và do đó các mãnh lực của bản chất hình tướng là các yếu tố kiểm soát, sẽ có sức khỏe kém.

6. The builders of the form are the “lunar lords,” the physical, astral and mental elementals.

6. Các đấng kiến tạo của hình tướng là các “nguyệt tinh quân,” các hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ.

7. These, in their triple totality, compose the personality.

7. Ba loại này, trong tổng thể tam phân của chúng, hợp thành phàm ngã.

8. They are occultly under the direction of the moon, the symbol of form, called often the “mother of the form.”

8. Về mặt huyền bí học, chúng ở dưới sự chỉ đạo của mặt trăng, biểu tượng của hình tướng, thường được gọi là “mẹ của hình tướng.”

9. The emanation coming from the moon has in it the seeds of death and disease, because the moon is a “dead planet.”

9. Xuất lộ đến từ mặt trăng mang trong nó các hạt giống của cái chết và bệnh tật, bởi vì mặt trăng là một “hành tinh chết.”

It all comes back again, as you will note, to the source of the major energy controlling the body. Though the soul is the source of all life and consciousness, for aeons all the soul does is to preserve the form in life and in consciousness, until such time that it has reached the stage in evolution where it is a useful and suitable instrument i and will become increasingly so) for the soul to employ as a medium of expression and service. Karma determines then the quality and nature of the physical body. It can be healthy because it has not been misused in the particular life or lives conditioning a particular incarnation, or unhealthy because it is paying the price of error. Good health is not necessarily dependent upon conscious soul contact. [609] That can and does produce good health, but it is also dependent, in the majority of average cases, upon the life and intentions of the personality—in this life and in previous lives; it is not until the will of the personality is towards spiritual betterment and a cleaner, purer life that the soul can be of real assistance.

Như các bạn sẽ lưu ý, mọi điều lại quay trở về nguồn của năng lượng chính kiểm soát thân thể. Dù linh hồn là nguồn của mọi sự sống và tâm thức, trong nhiều đại kiếp tất cả những gì linh hồn làm chỉ là giữ cho hình tướng sống và có tâm thức, cho đến khi nó đạt đến giai đoạn trong tiến hoá mà ở đó nó là một công cụ hữu ích và thích hợp (và sẽ ngày càng trở nên như vậy) để linh hồn sử dụng như một trung gian biểu lộ và phụng sự. Khi đó nghiệp quả quyết định phẩm tính và bản chất của thể xác. Nó có thể khỏe mạnh vì đã không bị lạm dụng trong đời sống đặc thù hay các đời sống tác động lên một lần nhập thể đặc thù, hoặc không khỏe mạnh vì nó đang trả giá cho sai lầm. Sức khỏe tốt không nhất thiết tùy thuộc vào sự tiếp xúc hữu thức với linh hồn. [609] Điều đó có thể và thực sự tạo ra sức khỏe tốt, nhưng trong đa số trường hợp trung bình, nó cũng tùy thuộc vào đời sống và các ý định của phàm ngã—trong đời này và trong các đời trước; mãi cho đến khi ý chí của phàm ngã hướng về sự cải thiện tinh thần và một đời sống sạch hơn, thanh khiết hơn, linh hồn mới có thể thực sự trợ giúp.