ESOTERIC HEALING
TRỊ LIỆU HUYỀN MÔN
Volume IV
Tập IV
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS
LUẬN VỀ BẢY CUNG
by
của
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
Index Edition
Ấn bản Chỉ mục
Published by the Lucis Publishing Companies
Xuất bản bởi các công ty xuất bản Lucis
The first and only publisher of the
Nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất của
24 books of Alice A. Bailey
24 cuốn sách của Alice A. Bailey
www.lucistrust.org/books
www.lucistrust.org/books
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN — TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người nam và nữ khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (xét theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi những nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) biết tôi dưới một tên gọi và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai tên của tôi.
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.
Tôi là một huynh đệ của bạn, người đã đi trên Con Đường lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, xét theo tuổi tác giữa các huấn sư, nhưng tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với bạn nhiều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng không nói với bạn điều gì có thể khiến bạn dành cho tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng kính ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y còn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng kính cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—không phải đối với Chân sư.
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.
Những cuốn sách mà tôi đã viết được gửi ra mà không đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thực và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự vận dụng trực giác là phần việc của bạn. Cả tôi lẫn A.A.B. đều hoàn toàn không quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc có ai đó nói về chúng (với hơi thở nín lại) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được cống hiến trong các giáo huấn thế gian, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà tại đó có thể tìm thấy các Chân sư) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế gian, và mang lại sự bừng sáng của trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo huấn đó. Nhưng không phải cách khác. Nếu các phát biểu ấy gặp được sự xác nhận về sau, hoặc được xem là đúng dưới phép thử của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt đẹp. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận điều được nói ra.
AUGUST 1934
AUGUST 1934
THE GREAT INVOCATION — ĐẠI KHẤN NGUYỆN
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
INTRODUCTORY REMARKS — NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
[1]
[1]
The entire subject of healing is as old as the ages themselves, and has ever been the subject of investigation and experiment. But as to the right use of the healing faculty and forces, the knowledge is in its infancy. Only in this age and generation is it at last possible to impart the laws of magnetic healing, and to indicate the causes of those diseases—originating in the three inner bodies—which today devastate the human frame, cause endless suffering and pain, and usher man through the portal which leads to the world of bodiless existence. Only today is man at the point in the evolution of his consciousness where he can begin to realise the power of the subjective worlds, and the new and vast science of psychology is his response to this growing interest. Processes of adjustment, of elimination and of cure engage the minds of all thoughtful people as well as of all suffering people. We have much to do, and I ask therefore for patience on your part.
Toàn bộ đề tài trị liệu xưa như chính các thời đại, và luôn luôn là đối tượng của sự khảo cứu và thử nghiệm. Nhưng về việc sử dụng đúng đắn năng lực và các mãnh lực trị liệu thì tri thức vẫn còn ở thời kỳ ấu trĩ. Chỉ trong thời đại và thế hệ này, cuối cùng mới có thể truyền đạt các định luật của trị liệu từ tính, và chỉ ra các nguyên nhân của những bệnh tật đó—phát sinh trong ba thể bên trong—mà ngày nay tàn phá cơ thể con người, gây ra đau khổ và đau đớn vô tận, và đưa con người đi qua cánh cổng dẫn đến thế giới tồn tại không thân xác. Chỉ ngày nay con người mới ở vào điểm tiến hoá trong tâm thức của mình mà tại đó y có thể bắt đầu chứng nghiệm quyền năng của các thế giới chủ quan, và khoa học mới mẻ và bao la về tâm lý học là sự đáp ứng của y đối với mối quan tâm đang lớn dần này. Các tiến trình điều chỉnh, loại bỏ và chữa trị đang thu hút trí óc của mọi người biết suy nghĩ cũng như của mọi người đang đau khổ. Chúng ta còn nhiều việc phải làm, và vì vậy tôi yêu cầu nơi bạn sự kiên nhẫn.
When one enters the realm of healing, one enters a world of much esoteric knowledge, and of an infinity of conclusions, and one is faced with the formulations of many minds, who, through the ages, have sought to heal and to help. The why and the wherefore of disease have been the subject of endless investigations and speculations, and much definite deduction has been made as to the cures of such complaints; there has been also much formulation of methods, of techniques, of formulae, of prescription, of varied manipulations and of [2] theories. All these serve to fill the mind with many ideas—some correct, some erroneous—and this makes it most difficult for new ideas to enter and for the student to assimilate the hitherto unknown.
Khi một người bước vào lĩnh vực trị liệu, người ấy bước vào một thế giới của nhiều tri thức huyền bí và của vô số kết luận, và phải đối diện với những công thức của nhiều trí tuệ, những người qua các thời đại đã tìm cách chữa lành và giúp đỡ. Nguyên nhân và nguồn gốc của bệnh tật đã là đối tượng của vô số cuộc khảo cứu và suy đoán, và nhiều suy luận xác định đã được đưa ra về cách chữa những chứng bệnh như thế; cũng đã có nhiều sự hình thành các phương pháp, kỹ thuật, công thức, toa thuốc, những thao tác đa dạng và các [2] lý thuyết. Tất cả những điều này làm đầy trí óc bằng nhiều ý tưởng—một số đúng, một số sai—và điều này khiến cho các ý tưởng mới rất khó đi vào và khiến đạo sinh khó đồng hoá điều từ trước đến nay chưa biết.
Aspirants lose much by refusing to let go of that which the lower mind cherishes. When they do succeed in being entirely open minded and are ready to accept the new theories and hypotheses, they discover that the old and dearly held truth is not really lost, but only relegated to its rightful place in a larger scheme.
Người chí nguyện mất mát nhiều khi từ chối buông bỏ điều mà hạ trí trân quý. Khi họ thực sự thành công trong việc hoàn toàn cởi mở và sẵn sàng chấp nhận các lý thuyết và giả thuyết mới, họ khám phá rằng chân lý cũ từng được gìn giữ tha thiết không thật sự mất đi, mà chỉ được đặt vào đúng vị trí của nó trong một hệ thống lớn hơn.
All initiates of the Ageless Wisdom are necessarily healers, though all may not heal the physical body. The reason for this is that all souls that have achieved any measure of true liberation are transmitters of spiritual energy. This automatically affects some aspect of the mechanism which is used by the souls they contact. When I employ the word “mechanism” in these instructions I refer to different aspects of the instrument, the body or form nature, through which all souls seek manifestation. I refer, therefore, to:
Mọi điểm đạo đồ của Minh Triết Ngàn Đời tất yếu đều là những người chữa lành, dù không phải tất cả đều chữa lành thể xác. Lý do là mọi linh hồn đã đạt được một mức độ giải thoát chân thực nào đó đều là những kẻ truyền dẫn năng lượng tinh thần. Điều này tự động ảnh hưởng đến một phương diện nào đó của bộ máy được các linh hồn mà họ tiếp xúc sử dụng. Khi tôi dùng từ “bộ máy” trong các chỉ dẫn này, tôi muốn nói đến những phương diện khác nhau của công cụ, của thể hay bản chất hình tướng, qua đó mọi linh hồn tìm cách biểu hiện. Vì vậy, tôi muốn nói đến:
1. The dense physical body, which is the sumtotal of all the organisms which compose it; these possess the varying functions which enable the soul to express itself on the physical or objective plane as part of a greater and more inclusive organism. The physical body is the response apparatus of the indwelling spiritual man and serves to put that spiritual entity en rapport with the response apparatus of the planetary Logos, the Life in which we live and move and have our being.
1. Thể xác đậm đặc, là tổng thể của mọi cơ quan cấu thành nên nó; chúng có những chức năng khác nhau giúp linh hồn biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần hay cõi khách quan như một phần của một cơ thể lớn hơn và bao gồm hơn. Thể xác là bộ máy đáp ứng của con người tinh thần nội tại và dùng để đặt thực thể tinh thần đó vào mối tương quan với bộ máy đáp ứng của Hành Tinh Thượng đế, Sự sống mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu.
2. The etheric body, which has one main objective. This is to vitalise and energise the physical body and thus integrate it into the energy body of the Earth and of the solar system. It is a web of energy streams, of lines of force and of light. It constitutes part of the vast network [3] of energies which underlies all forms whether great or small (microcosmic or macrocosmic). Along these lines of energy the cosmic forces flow, as the blood flows through the veins and arteries. This constant, individual—human, planetary and solar—circulation of life-forces through the etheric bodies of all forms is the basis of all manifested life, and the expression of the essential non-separateness of all life.
2. Thể dĩ thái, có một mục tiêu chính. Đó là tiếp sinh lực và cấp năng lượng cho thể xác và nhờ đó tích hợp nó vào thể năng lượng của Trái Đất và của hệ mặt trời. Nó là một mạng lưới các dòng năng lượng, các đường mãnh lực và ánh sáng. Nó cấu thành một phần của mạng lưới bao la [3] các năng lượng làm nền cho mọi hình tướng dù lớn hay nhỏ (tiểu thiên địa hay đại thiên địa). Dọc theo các đường năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ lưu chuyển, như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch. Sự tuần hoàn liên tục, riêng biệt—nhân loại, hành tinh và thái dương—của các mãnh lực sự sống qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng là nền tảng của mọi sự sống biểu hiện, và là biểu hiện của tính bất khả phân ly cốt yếu của mọi sự sống.
3. The astral or desire body (sometimes called the emotional body) is the effect of the interplay of desire and of sentient response upon the self at the centre, and the resultant effect—in that body—is experienced as emotion and as pain and pleasure and the other pairs of opposites. In these two bodies, the etheric and astral bodies, ninety percent of the causes of physical disease and troubles is to be found.
3. Thể cảm dục hay thể dục vọng (đôi khi được gọi là thể cảm xúc) là hiệu quả của sự tương tác giữa dục vọng và sự đáp ứng cảm giác lên cái ngã ở trung tâm, và hiệu quả phát sinh—trong thể đó—được kinh nghiệm như cảm xúc, như đau đớn và khoái lạc cùng các cặp đối đãi khác. Trong hai thể này, thể dĩ thái và thể cảm dục, có thể tìm thấy chín mươi phần trăm các nguyên nhân của bệnh tật và rối loạn thể xác.
4. The mental body, or that much of the chitta or mind stuff which an individual human unit can use and impress, constitutes the fourth of the series of mechanisms at the disposal of the soul. At the same time let it not be forgotten that these four constitute one mechanism. Five percent of all modern disease originates in this body or state of consciousness, and here I wish to enunciate the truth that the constant reiteration by certain schools of healers that the mind is the cause of all sickness is not as yet a fact. A million years hence, when the focus of human attention has shifted from the emotional nature to the mind, and when men are essentially mental as today they are essentially emotional, then the causes of disease must be sought in the mind realm. They are today to be found (except in a few rare cases) in lack of vitality or in too much stimulation, and in the realm of feeling, of desires (thwarted or over-indulged) and in the moods, suppressions, or expressions of the deep-seated [4] longings, irritations, secret delights and the many hidden impulses which emanate from the desire life of the subject.
4. Thể trí, hay phần chitta hoặc chất liệu trí tuệ mà một đơn vị nhân loại cá biệt có thể sử dụng và gây ấn tượng lên, cấu thành cơ chế thứ tư trong chuỗi các cơ chế sẵn có cho linh hồn. Đồng thời, đừng quên rằng bốn thể này cấu thành một cơ chế duy nhất. Năm phần trăm mọi bệnh tật hiện đại phát sinh trong thể này hay trong trạng thái tâm thức này, và ở đây tôi muốn tuyên bố chân lý rằng việc một số trường phái trị liệu liên tục lặp đi lặp lại rằng trí tuệ là nguyên nhân của mọi bệnh tật hiện vẫn chưa phải là sự thật. Một triệu năm nữa, khi tiêu điểm chú ý của nhân loại đã chuyển từ bản chất cảm xúc sang trí tuệ, và khi con người về bản chất là trí tuệ như ngày nay họ về bản chất là cảm xúc, thì khi ấy các nguyên nhân của bệnh tật phải được tìm trong lĩnh vực trí tuệ. Ngày nay chúng được tìm thấy (trừ một vài trường hợp hiếm hoi) trong sự thiếu sinh lực hoặc trong sự kích thích quá mức, và trong lĩnh vực cảm giác, dục vọng (bị ngăn trở hoặc được nuông chiều quá độ) và trong các tâm trạng, các sự dồn nén, hay các biểu lộ của những [4] khát vọng sâu kín, những bực bội, những khoái lạc bí mật và nhiều xung lực ẩn giấu phát ra từ đời sống dục vọng của chủ thể.
This urge to be and to have has first of all built, and is building, the outer physical response apparatus, and is today forcing a mechanism that has been constructed essentially for physical ends, to serve more subjective purposes. This again produces trouble, and only when man realises that within the outer physical sheath there exist other bodies which serve more subtle response purposes will we see the gradual readjustment and health of the physical body. With these more subtle sheaths we shall later deal.
Sự thôi thúc được hiện hữu và được sở hữu này trước hết đã xây dựng, và đang xây dựng, bộ máy đáp ứng thể xác bên ngoài, và ngày nay đang buộc một cơ chế vốn được kiến tạo chủ yếu cho các mục đích thể xác phải phục vụ những mục đích chủ quan hơn. Điều này lại gây ra rắc rối, và chỉ khi con người chứng nghiệm rằng bên trong lớp vỏ thể xác bên ngoài còn có những thể khác phục vụ các mục đích đáp ứng tinh tế hơn, chúng ta mới thấy sự điều chỉnh dần dần và sức khỏe của thể xác. Với những lớp vỏ tinh tế hơn này, chúng ta sẽ bàn đến sau.
You naturally ask here: What is the general plan which I shall seek to follow as I instruct you in the laws of healing, those laws which guide the initiates and must gradually supersede the more physical methods of the present art of healing? You naturally also seek to know what is the special technique which you—as healers—must learn to employ, both as regards yourselves and as regards those you seek to heal. I will briefly outline the teaching I shall endeavour to give and point out where you must lay the emphasis, as you commence the study of this subject.
Tại đây, dĩ nhiên bạn hỏi: Kế hoạch tổng quát mà tôi sẽ cố gắng theo đuổi khi chỉ dạy bạn về các định luật trị liệu, những định luật hướng dẫn các điểm đạo đồ và phải dần dần thay thế các phương pháp thiên về thể xác hơn của nghệ thuật trị liệu hiện nay là gì? Dĩ nhiên bạn cũng muốn biết kỹ thuật đặc biệt nào mà bạn—với tư cách những người chữa lành—phải học để sử dụng, cả đối với chính mình lẫn đối với những người mà bạn tìm cách chữa lành. Tôi sẽ phác thảo ngắn gọn giáo huấn mà tôi sẽ cố gắng truyền đạt và chỉ ra nơi bạn phải đặt trọng tâm khi bắt đầu nghiên cứu đề tài này.
I shall endeavour first of all to touch upon the causes of disease, for the occult student must ever begin in the world of origins and not in the world of effects.
Trước hết, tôi sẽ cố gắng đề cập đến các nguyên nhân của bệnh tật, vì đạo sinh huyền bí học phải luôn luôn bắt đầu trong thế giới của các nguyên nhân chứ không phải trong thế giới của các hiệu quả.
In the second place, I shall elaborate the seven methods of healing which govern the “work of restitution” (as it is called in the occult terminology) as practiced by the initiates of the world. These determine the techniques which must be employed. You will note that these methods and techniques are conditioned by the rays (of which I have written in A Treatise on the Seven Rays Vol I & Vol II) and that therefore the healer has to take into [5] consideration not only his own ray but also the ray of the patient. There are therefore seven ray techniques, and these require elucidation before they can be applied intelligently.
Thứ hai, tôi sẽ khai triển bảy phương pháp trị liệu chi phối “công việc hoàn nguyên” (như nó được gọi trong thuật ngữ huyền bí học) như được các điểm đạo đồ của thế giới thực hành. Chúng quyết định các kỹ thuật phải được sử dụng. Bạn sẽ lưu ý rằng các phương pháp và kỹ thuật này được các cung quy định (mà tôi đã viết trong Luận về Bảy Cung Tập I & Tập II) và vì vậy người chữa lành phải xét đến [5] không chỉ cung của chính mình mà còn cả cung của bệnh nhân. Do đó có bảy kỹ thuật cung, và chúng cần được làm sáng tỏ trước khi có thể được áp dụng một cách thông minh.
In the third place, I shall lay emphasis upon psychological healing and upon the need to deal with the patient in his inner life, for the basic law underlying all occult healing may be stated to be as follows:
Thứ ba, tôi sẽ nhấn mạnh đến trị liệu tâm lý và đến nhu cầu phải đề cập đến bệnh nhân trong đời sống bên trong của y, vì định luật căn bản làm nền cho mọi trị liệu huyền bí có thể được phát biểu như sau:
LAW I
ĐỊNH LUẬT I
All disease is the result of inhibited soul life, and that is true of all forms in all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul, so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.
Mọi bệnh tật đều là kết quả của đời sống linh hồn bị ngăn trở, và điều đó đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của người chữa lành nằm ở việc giải phóng linh hồn, để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tập hợp các cơ quan cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào.
It is interesting to note that the attempt of the scientist to release the energy of the atom is of the same general nature as the work of the esotericist when he endeavours to release the energy of the soul. In this release the nature of the true art of healing is hidden. Herein lies an occult hint.
Điều đáng chú ý là nỗ lực của nhà khoa học nhằm giải phóng năng lượng của nguyên tử có cùng bản chất tổng quát với công việc của nhà bí truyền học khi y cố gắng giải phóng năng lượng của linh hồn. Trong sự giải phóng này, bản chất của nghệ thuật trị liệu chân chính được ẩn giấu. Chính trong đó có một gợi ý huyền bí.
In the fourth place, we will consider the physical body, its diseases and ills, but only after we have studied that part of man which lies behind and surrounding the dense physical body. In that way we shall work from the world of inner causes to the world of outer happenings. We shall see that all that concerns the health of man originates from:
Thứ tư, chúng ta sẽ xem xét thể xác, các bệnh tật và đau yếu của nó, nhưng chỉ sau khi chúng ta đã nghiên cứu phần con người nằm phía sau và bao quanh thể xác đậm đặc. Bằng cách đó, chúng ta sẽ làm việc từ thế giới của các nguyên nhân bên trong đến thế giới của các biến cố bên ngoài. Chúng ta sẽ thấy rằng mọi điều liên quan đến sức khỏe của con người đều phát sinh từ:
1. The sumtotal of forces, feelings, desires and occasional mental processes which characterises the three subtler bodies and determines the life and experience of the physical body.
1. Tổng số các mãnh lực, cảm giác, dục vọng và những tiến trình trí tuệ thỉnh thoảng xuất hiện, vốn đặc trưng cho ba thể tinh tế hơn và quyết định đời sống cùng kinh nghiệm của thể xác.
2. The effect upon the physical body of the condition of humanity as a whole. A human being is an integral part of humanity, an organism in a greater organism. Conditions existing in the whole will be reflected in [6] the unit self, and many of the ills from which man suffers today are the effect upon him of conditions existing in the fourth kingdom in nature as a whole. For these he is not held responsible.
2. Hiệu quả lên thể xác của tình trạng của nhân loại như một toàn thể. Một con người là một phần không thể tách rời của nhân loại, một cơ thể trong một cơ thể lớn hơn. Những điều kiện hiện hữu trong toàn thể sẽ được phản ánh trong bản ngã đơn vị, và nhiều chứng bệnh mà con người đang chịu đựng ngày nay là hiệu quả nơi y của những điều kiện hiện hữu trong toàn bộ giới thứ tư trong thiên nhiên. Về những điều này, y không phải chịu trách nhiệm.
3. The effect upon his physical body of the planetary life, which is the expression of the life of the planetary Logos, Who is an evolving entity. The implications of this are largely beyond our ken, but the effects are discernible.
3. Hiệu quả lên thể xác của y của sự sống hành tinh, vốn là biểu hiện của sự sống của Hành Tinh Thượng đế, Đấng là một thực thể đang tiến hoá. Những hàm ý của điều này phần lớn vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, nhưng các hiệu quả thì có thể nhận thấy.
I am not interested primarily in training individuals in order to make them more efficient healers. It is group healing at which I aim, and it is the work which is done in formation which interests me at this time. But no group of people can work as a unit unless they love and serve each other. The healing energy of the spiritual Hierarchy cannot flow through the group if there is disharmony and criticism. The first work, therefore, of any group of healers, is to establish themselves in love and to work towards group unity and understanding.
Mối quan tâm chính của tôi không phải là huấn luyện các cá nhân để làm cho họ thành những người chữa lành hữu hiệu hơn. Điều tôi nhắm đến là trị liệu nhóm, và điều khiến tôi quan tâm vào lúc này là công việc được thực hiện trong sự hình thành. Nhưng không một nhóm người nào có thể hoạt động như một đơn vị trừ phi họ yêu thương và phụng sự lẫn nhau. Năng lượng trị liệu của Huyền Giai Tinh Thần không thể tuôn chảy qua nhóm nếu có bất hòa và chỉ trích. Vì vậy, công việc đầu tiên của bất kỳ nhóm chữa lành nào là thiết lập chính mình trong tình thương và hướng đến sự hợp nhất cùng thấu hiểu nhóm.
I would like to point out here the need for patience as a healing group integrates and the auras of the group members blend. It takes a little time for people to learn to work together in perfect understanding and impersonality, and at the same time to achieve, during their work, a one-pointedness which will produce the needed group rhythm—a rhythm of such unity and intensity that the work can synchronise internally. Aspirants and students as they work along these lines must train themselves to think as a group, and to give to the group (without a niggardly or reticent spirit) the best that is in them, and also the fruit of their meditation upon these matters.
Tôi muốn chỉ ra ở đây nhu cầu về sự kiên nhẫn khi một nhóm chữa lành tích hợp và các hào quang của các thành viên trong nhóm hòa trộn với nhau. Cần một ít thời gian để con người học cách làm việc cùng nhau trong sự thấu hiểu và vô ngã hoàn hảo, đồng thời đạt được, trong khi làm việc, một trạng thái nhất tâm sẽ tạo ra nhịp điệu nhóm cần thiết—một nhịp điệu hợp nhất và mãnh liệt đến mức công việc có thể đồng bộ hóa bên trong. Người chí nguyện và đạo sinh khi làm việc theo các đường lối này phải tự rèn luyện để suy nghĩ như một nhóm, và cống hiến cho nhóm (không với tinh thần keo kiệt hay dè dặt) điều tốt đẹp nhất nơi mình, cũng như thành quả của sự tham thiền của mình về các vấn đề này.
I might also add that these instructions must be as concise as possible. I shall have to endeavour to put much truth [7] and information into a brief space, so as to make each sentence convey some real idea and give some real light on the problems which confront a healing group. That which I have to say will fall into two parts: First, we will deal with the general work of healing and teaching, and this will involve the impartation by me of laws, of techniques and methods. Secondly, we will consider the healer and how he can perfect himself in the art of healing.
Tôi cũng có thể nói thêm rằng các chỉ dẫn này phải càng súc tích càng tốt. Tôi sẽ phải cố gắng đưa nhiều chân lý [7] và thông tin vào trong một không gian ngắn gọn, để mỗi câu truyền đạt một ý tưởng thực sự và soi sáng thực sự cho những vấn đề mà một nhóm chữa lành phải đối diện. Điều tôi phải nói sẽ chia thành hai phần: Thứ nhất, chúng ta sẽ đề cập đến công việc trị liệu và giảng dạy tổng quát, và điều này sẽ bao gồm việc tôi truyền đạt các định luật, kỹ thuật và phương pháp. Thứ hai, chúng ta sẽ xem xét người chữa lành và cách y có thể hoàn thiện chính mình trong nghệ thuật trị liệu.
Is it not true that the prime requisite of all healers is a sympathetic rapport with the patient, so that the healer achieves insight into the trouble and establishes the confidence of the patient?
Chẳng phải điều kiện tiên quyết hàng đầu của mọi người chữa lành là một mối tương giao cảm thông với bệnh nhân, để người chữa lành đạt được sự thấu suốt về chứng bệnh và thiết lập được lòng tin của bệnh nhân sao?
Two words I give you which embody the requirements of all true healers, and towards which you must work. They are Magnetism and Radiation. A healer must be magnetic above everything else, and he must attract to him:
Tôi trao cho bạn hai từ bao hàm các yêu cầu của mọi người chữa lành chân chính, và là điều mà bạn phải hướng đến. Đó là Từ điện và Bức xạ. Trên hết mọi sự, một người chữa lành phải có từ tính, và y phải thu hút về mình:
a. The power of his own soul; this involves alignment through individual meditation.
a. Quyền năng của chính linh hồn mình; điều này bao hàm sự chỉnh hợp thông qua tham thiền cá nhân.
b. Those whom he can help; this involves a decentralised attitude.
b. Những người mà y có thể giúp; điều này bao hàm một thái độ phi tập trung vào bản thân.
c. Those energies, when need arises, which will stimulate the patient to the desired activity. This involves occult knowledge and a trained mind.
c. Những năng lượng, khi nhu cầu phát sinh, sẽ kích thích bệnh nhân đến hoạt động mong muốn. Điều này bao hàm tri thức huyền bí học và một trí tuệ được rèn luyện.
The healer must understand also how to radiate, for the radiation of the soul will stimulate to activity the soul of the one to be healed and the healing process will be set in motion; the radiation of his mind will illumine the other mind and polarise the will of the patient; the radiation of his astral body, controlled and selfless, will impose a rhythm upon the agitation of the patient’s astral body, and so enable the patient to take right action, whilst the radiation of the vital body, working through the splenic centre, will aid in [8] organising the patient’s force-body and so facilitate the work of healing. Therefore, the healer has the duty of rendering himself effective, and according to what he is, so will be the effect upon the patient. When a healer works magnetically and radiates his soul force to the patient, that patient is enabled more easily to achieve the end desired—which may be complete healing, or it may be the establishing of a state of mind which will enable the patient to live with himself and with his complaint, unhandicapped by the karmic limitations of the body. Or it may be enabling the patient to achieve (with joy and facility) the right liberation from the body and, through the portal of death, to pass to complete health.
Người chữa lành cũng phải thấu hiểu cách bức xạ, vì bức xạ của linh hồn sẽ kích thích linh hồn của người được chữa lành đi vào hoạt động và tiến trình trị liệu sẽ được khởi động; bức xạ của trí tuệ y sẽ soi sáng trí tuệ kia và phân cực ý chí của bệnh nhân; bức xạ của thể cảm dục của y, được kiểm soát và vô ngã, sẽ áp đặt một nhịp điệu lên sự xáo động của thể cảm dục của bệnh nhân, và nhờ đó giúp bệnh nhân có hành động đúng đắn, trong khi bức xạ của thể sinh lực, hoạt động qua Luân xa lá lách, sẽ hỗ trợ trong việc [8] tổ chức thể lực của bệnh nhân và nhờ đó tạo thuận lợi cho công việc trị liệu. Vì vậy, người chữa lành có bổn phận làm cho mình trở nên hữu hiệu, và tùy theo y là gì, hiệu quả lên bệnh nhân sẽ như thế. Khi một người chữa lành hoạt động một cách từ tính và bức xạ mãnh lực linh hồn của mình đến bệnh nhân, bệnh nhân đó sẽ dễ dàng hơn trong việc đạt đến mục đích mong muốn—có thể là sự chữa lành hoàn toàn, hoặc có thể là việc thiết lập một trạng thái tâm trí giúp bệnh nhân sống với chính mình và với chứng bệnh của mình mà không bị cản trở bởi những giới hạn nghiệp quả của thể xác. Hoặc có thể là giúp bệnh nhân đạt được (với sự hoan hỉ và dễ dàng) sự giải thoát đúng đắn khỏi thể xác và, qua cánh cổng tử vong, đi đến sức khỏe hoàn toàn.
PART ONE - The Basic Causes of Disease — PHẦN MỘT - Những Nguyên Nhân Căn Bản của Bệnh Tật
[9]
[9]
This is the problem with which all medical practice down the ages has wrestled. In our present mechanistic age we have wandered far to the surface of things and away from the partially true point of view of earlier centuries which traced disease back of the “evil humours” bred and festering in the inner subjective life of the patient. In the evolution of knowledge on every hand we are now on the surface of things (note I do not use the word “superficial”), and the hour has struck in which knowledge can again re-enter the realm of the subjective and transmute itself into wisdom. There is today a dawning recognition on the part of the best minds in the medical and allied professions, that in the subjective and hidden attitudes of the mind and of the emotional nature, and in the life of inhibited or excessive sex expression, must be sought the causes of all disease.
Đây là vấn đề mà mọi thực hành y khoa qua các thời đại đã vật lộn. Trong thời đại cơ giới hiện nay của chúng ta, chúng ta đã đi quá xa ra bề mặt của sự vật và rời xa quan điểm phần nào đúng đắn của các thế kỷ trước, vốn truy nguyên bệnh tật về những “dịch thể xấu” được sinh ra và nung mủ trong đời sống chủ quan bên trong của bệnh nhân. Trong sự tiến hoá của tri thức ở khắp nơi, hiện nay chúng ta đang ở trên bề mặt của sự vật (xin lưu ý tôi không dùng từ “hời hợt”), và giờ đây đã đến lúc tri thức có thể một lần nữa đi vào lĩnh vực chủ quan và chuyển hoá chính nó thành minh triết. Ngày nay đang có một sự nhận biết đang ló rạng nơi những trí tuệ ưu tú nhất trong ngành y và các ngành liên hệ, rằng trong những thái độ chủ quan và ẩn kín của trí tuệ và của bản chất cảm xúc, cũng như trong đời sống biểu lộ tính dục bị ngăn trở hay quá mức, phải tìm ra các nguyên nhân của mọi bệnh tật.
From the beginning of our studies, I would like to point out that the ultimate cause of disease, even if known to me, would fail to be comprehended by you. The cause lies back in the history of the distant past of our planet, in the career (occultly understood) of the planetary Life, and that it has its roots in what is largely designated “cosmic evil.” This is a perfectly meaningless phrase, but one that is symbolically descriptive of a condition in consciousness which is that of [10] certain of the “imperfect Gods.” Given the initial premise that Deity itself is working towards a perfection past our comprehension, it may be inferred that there may exist for the Gods Themselves and for GOD (as the LIFE of the solar system), certain limitations and certain areas or states of consciousness which still await mastering. These limitations and relative imperfections may cause definite effects in Their bodies of manifestation—the various planets as expressions of Lives, and the solar system as the expression of a LIFE. Given also the hypothesis that these outer bodies of divinity, the planets, are the forms through which certain Deities express Themselves, it may be a true and logical deduction that all lives and forms within those bodies may be necessarily subject also to these limitations, and to the imperfections growing out of these unconquered areas of consciousness and these states of awareness, hitherto unrealised by the Deities, incarnated in planetary and solar form. Given the postulate that every form is a part of a still greater form, and that we do indeed “live and move and have our being” within the body of God (as St. Paul expresses it) we, as integral parts of the fourth kingdom in nature, share in this general limitation and imperfection.
Ngay từ đầu các nghiên cứu của chúng ta, tôi muốn chỉ ra rằng nguyên nhân tối hậu của bệnh tật, ngay cả nếu tôi biết, cũng sẽ không thể được bạn thấu hiểu. Nguyên nhân ấy nằm lui về trong lịch sử quá khứ xa xăm của hành tinh chúng ta, trong sự nghiệp (được hiểu theo huyền bí học) của Sự Sống hành tinh, và nó có gốc rễ trong điều phần lớn được gọi là “điều ác vũ trụ.” Đây là một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa, nhưng lại mô tả một cách biểu tượng về một tình trạng trong tâm thức vốn là tình trạng của [10] một số “Thượng đế bất toàn.” Nếu chấp nhận tiền đề ban đầu rằng chính Thượng đế cũng đang tiến đến một sự hoàn hảo vượt ngoài sự hiểu biết của chúng ta, thì có thể suy ra rằng đối với chính các Thượng đế và đối với THƯỢNG ĐẾ (với tư cách là SỰ SỐNG của hệ mặt trời), có thể tồn tại những giới hạn nhất định và những khu vực hay trạng thái tâm thức nào đó vẫn còn chờ được làm chủ. Những giới hạn và bất toàn tương đối này có thể gây ra những hiệu quả xác định trong các thể biểu hiện của Các Ngài—các hành tinh khác nhau như những biểu hiện của các Sự Sống, và hệ mặt trời như biểu hiện của một SỰ SỐNG. Nếu cũng chấp nhận giả thuyết rằng những thể bên ngoài của thiên tính này, các hành tinh, là những hình tướng qua đó một số Thượng đế biểu lộ Chính Các Ngài, thì có thể là một suy luận đúng đắn và hợp lý rằng mọi sự sống và hình tướng bên trong những thể ấy cũng tất yếu phải chịu những giới hạn này, và những bất toàn phát sinh từ các khu vực tâm thức chưa được chinh phục và các trạng thái nhận biết mà cho đến nay các Thượng đế, đang nhập thể trong hình tướng hành tinh và thái dương, vẫn chưa chứng nghiệm. Nếu chấp nhận định đề rằng mọi hình tướng là một phần của một hình tướng còn lớn hơn nữa, và rằng quả thật chúng ta “sống, vận động và hiện hữu” trong thể của Thượng đế (như Thánh Paul diễn đạt) thì chúng ta, với tư cách là những phần không thể tách rời của giới thứ tư trong thiên nhiên, cùng chia sẻ giới hạn và bất toàn chung này.
More than this general premise is beyond our powers to grasp and to express, for the general mental equipment of the average aspirant and disciple is inadequate to the task. Such terms as “cosmic evil, divine imperfection, limited areas of consciousness, the freedom of pure spirit, divine mind,” which are so freely bandied about by the mystical and occult thinkers of the time: What do they really mean? The affirmations of many schools of healing as to ultimate divine perfection, and the formulation of their beliefs in the real freedom of humanity from ordinary ills of the flesh, are they not frequently high sounding phrases, embodying an ideal, and based often on selfish desire? Do they not constitute [11] utterly meaningless sentences in their mystical implications? How can it be otherwise, when only the perfected man has any real idea of what constitutes divinity?
Ngoài tiền đề tổng quát này, mọi điều khác đều vượt ngoài khả năng nắm bắt và diễn đạt của chúng ta, vì trang bị trí tuệ tổng quát của người chí nguyện và đệ tử trung bình không đủ cho nhiệm vụ ấy. Những thuật ngữ như “ác vũ trụ, bất toàn thiêng liêng, các khu vực tâm thức bị giới hạn, sự tự do của tinh thần thuần túy, trí tuệ thiêng liêng,” vốn được các nhà tư tưởng thần bí và huyền bí học của thời đại này tung ra quá dễ dàng: chúng thực sự có nghĩa là gì? Những khẳng định của nhiều trường phái trị liệu về sự hoàn hảo thiêng liêng tối hậu, và việc hình thành các niềm tin của họ về sự tự do thực sự của nhân loại khỏi những đau yếu thông thường của xác thân, chẳng phải thường chỉ là những cụm từ kêu vang, hàm chứa một lý tưởng, và thường dựa trên dục vọng ích kỷ sao? Chẳng phải chúng cấu thành [11] những câu hoàn toàn vô nghĩa trong các hàm ý thần bí của chúng sao? Làm sao có thể khác được, khi chỉ con người hoàn hảo mới có một ý niệm thực sự về điều gì cấu thành thiên tính?
It is surely better for us to admit that it is not possible for man to understand the deep-seated causes of that which can be seen emerging in the evolution of form life. Is it not wise to face the issue and the facts, as they exist for our present realisation, and understand that just as man can enter more intelligently into the mind of God than can the lesser mind of the animal, so there may exist other and greater Minds, functioning in other and higher kingdoms in nature which will surely see life more truly and more accurately than does mankind? It is possible, is it not, that the objective of evolution (as outlined and emphasised by man) may (in the last analysis) be only that partial fragment of a greater objective than he, with his finite understanding, can grasp. The whole intent, as it lies hid in the mind of God, may be very different to what man may conceive today, and cosmic evil and cosmic good, reduced to terminologies, may lose their significance altogether, and are only to be seen through the glamour and the illusion with which man surrounds all things. The best minds of this age are only just beginning to see the first dim ray of light which is piercing this glamour, and serving first of all to reveal the fact of illusion. Through the light thus cast, the following truth may stand revealed to those who have the expectant attitude and the open mind: Deity itself is on the road towards perfection. The implications of that statement are many.
Chắc chắn tốt hơn cho chúng ta là thừa nhận rằng con người không thể thấu hiểu những nguyên nhân sâu xa của điều có thể thấy đang xuất hiện trong sự tiến hoá của đời sống hình tướng. Chẳng phải là khôn ngoan khi đối diện với vấn đề và với các sự kiện như chúng hiện hữu đối với sự chứng nghiệm hiện nay của chúng ta, và hiểu rằng cũng như con người có thể đi vào trí của Thượng đế một cách thông minh hơn so với trí tuệ thấp hơn của con vật, thì cũng có thể tồn tại những Trí Tuệ khác và lớn lao hơn, hoạt động trong những giới khác và cao hơn trong thiên nhiên, chắc chắn sẽ thấy sự sống chân thực và chính xác hơn nhân loại sao? Có thể chăng mục tiêu của tiến hoá (như được con người phác họa và nhấn mạnh) rốt cuộc chỉ là một mảnh vụn bộ phận của một mục tiêu lớn hơn mà y, với sự hiểu biết hữu hạn của mình, không thể nắm bắt. Toàn bộ ý định, như nó ẩn trong trí của Thượng đế, có thể rất khác với điều con người có thể hình dung ngày nay, và ác vũ trụ cùng thiện vũ trụ, khi bị giản lược thành thuật ngữ, có thể hoàn toàn mất đi thâm nghĩa của chúng, và chỉ được nhìn thấy qua ảo cảm và ảo tưởng mà con người bao phủ lên mọi sự. Những trí tuệ ưu tú nhất của thời đại này mới chỉ bắt đầu thấy tia sáng mờ nhạt đầu tiên đang xuyên thủng ảo cảm này, và trước hết giúp phơi bày sự kiện của ảo tưởng. Qua ánh sáng được chiếu rọi như thế, chân lý sau đây có thể được mặc khải cho những ai có thái độ chờ đợi và trí tuệ cởi mở: Chính Thượng đế cũng đang trên con đường tiến đến hoàn hảo. Những hàm ý của phát biểu đó thật nhiều.
In dealing with the causes of disease, we will take the position that the foundational and ultimate cosmic cause lies beyond our comprehension, and that only as the kingdom of God is revealed on earth shall we enter into some real understanding of the general widespread disease to be found upon our planet in all the four kingdoms in nature. A few [12] basic statements can be made, however, which will be found true eventually in the macrocosmic sense, and can already be demonstrated to be true where the microcosm is intelligently concerned.
Khi đề cập đến các nguyên nhân của bệnh tật, chúng ta sẽ giữ lập trường rằng nguyên nhân vũ trụ nền tảng và tối hậu nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta, và chỉ khi Thiên Giới được mặc khải trên trần gian thì chúng ta mới đi vào một sự thấu hiểu thực sự nào đó về bệnh tật phổ biến rộng khắp được tìm thấy trên hành tinh chúng ta trong cả bốn giới trong thiên nhiên. Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài [12] phát biểu căn bản, mà cuối cùng sẽ được thấy là đúng theo nghĩa đại thiên địa, và đã có thể được chứng minh là đúng khi tiểu thiên địa được xét đến một cách thông minh.
1. All disease (and this is a platitude) is caused by lack of harmony—a disharmony to be found existing between the form aspect and the life. That which brings together form and life, or rather, that which is the result of this intended union, we call the soul, the self where humanity is concerned, and the integrating principle where the subhuman kingdoms are concerned. Disease appears where there is a lack of alignment between these various factors, the soul and the form, the life and its expression, the subjective and the objective realities. Consequently, spirit and matter are not freely related to each other. This is one mode of interpreting Law I, and the entire thesis is intended to be an exposition of that Law.
1. Mọi bệnh tật (và đây là một điều sáo mòn) đều do thiếu hài hòa gây ra—một sự bất hòa được tìm thấy giữa phương diện hình tướng và sự sống. Điều kết hợp hình tướng và sự sống lại với nhau, hay đúng hơn, điều là kết quả của sự kết hợp được chủ định này, chúng ta gọi là linh hồn, là bản ngã trong trường hợp nhân loại, và là nguyên lý tích hợp trong trường hợp các giới dưới nhân loại. Bệnh tật xuất hiện nơi nào có sự thiếu chỉnh hợp giữa các yếu tố khác nhau này, linh hồn và hình tướng, sự sống và biểu hiện của nó, các thực tại chủ quan và khách quan. Do đó, tinh thần và vật chất không liên hệ tự do với nhau. Đây là một cách diễn giải Định luật I, và toàn bộ luận đề này nhằm trình bày định luật đó.
2. This lack of harmony, producing what we call disease, runs through all the four kingdoms in nature, and causes those conditions which produce pain (where the sentiency is exquisite and developed) and everywhere congestion, corruption and death. Ponder on these words: Inharmony, Disease, Pain, Congestion, Corruption, Death, for they are descriptive of the general condition governing the conscious life of all forms, macrocosmic and microcosmic. They are not causes.
2. Sự thiếu hài hòa này, tạo ra điều mà chúng ta gọi là bệnh tật, xuyên suốt cả bốn giới trong thiên nhiên, và gây ra những điều kiện tạo nên đau đớn (nơi cảm năng tinh tế và phát triển) và ở khắp nơi là sự tắc nghẽn, hư hoại và cái chết. Hãy suy ngẫm về những từ này: Bất hòa, Bệnh tật, Đau đớn, Tắc nghẽn, Hư hoại, Cái chết, vì chúng mô tả tình trạng chung chi phối đời sống hữu thức của mọi hình tướng, đại thiên địa và tiểu thiên địa. Chúng không phải là nguyên nhân.
3. All these conditions, however, can be regarded as purificatory in their effects, and must be so regarded by humanity if the right attitude towards disease is to be assumed. This is oft forgotten by the fanatical healer and by the radical exponent of an idea, finitely grasped and in most cases only part of a greater idea. [13]
3. Tuy nhiên, tất cả những điều kiện này có thể được xem là có tác dụng thanh lọc, và nhân loại phải xem như vậy nếu muốn có thái độ đúng đối với bệnh tật. Điều này thường bị quên lãng bởi người chữa lành cuồng tín và bởi người chủ trương cực đoan của một ý tưởng, được nắm bắt một cách hữu hạn và trong hầu hết trường hợp chỉ là một phần của một ý tưởng lớn hơn. [13]
4. Methods of healing and techniques of alleviation are peculiar to humanity and are the result of man’s mental activity. They indicate his latent power as a creator, and as one who progresses towards freedom. They indicate his discriminative ability to sense perfection, to vision the goal, and hence to work towards that ultimate liberation. His error at this time consists in:
4. Các phương pháp trị liệu và kỹ thuật làm giảm nhẹ là đặc thù của nhân loại và là kết quả của hoạt động trí tuệ của con người. Chúng chỉ ra quyền năng tiềm ẩn của y với tư cách một đấng sáng tạo, và như một kẻ đang tiến đến tự do. Chúng chỉ ra khả năng phân biện của y để cảm nhận sự hoàn hảo, để có linh ảnh về mục tiêu, và do đó để hướng đến sự giải thoát tối hậu ấy. Sai lầm của y vào lúc này nằm ở:
a. His inability to see the true uses of pain.
a. Sự bất lực của y trong việc thấy những công dụng chân thực của đau đớn.
b. His resentment at suffering.
b. Sự oán giận của y đối với đau khổ.
c. His misunderstanding of the law of nonresistance.
c. Sự hiểu sai của y về định luật không kháng cự.
d. His over-emphasis of the form nature.
d. Sự nhấn mạnh quá mức của y vào bản chất hình tướng.
e. His attitude to death, and his feeling that the disappearance of the life out of visual perception through the medium of form, and the consequent disintegration of that form, indicates disaster.
e. Thái độ của y đối với cái chết, và cảm giác của y rằng sự biến mất của sự sống khỏi nhận thức thị giác qua trung gian của hình tướng, và sự tan rã tiếp theo của hình tướng đó, là một tai họa.
5. When human thought reverses the usual ideas as to disease, and accepts disease as a fact in nature, man will begin to work with the law of liberation, with right thought, leading to nonresistance. At present, by the power of his directed thought and his intense antagonism to disease, he only tends to energise the difficulty. When he reorients his thought to truth and the soul, physical plane ills will begin to disappear. This will become apparent as we study later the method of eradication. Disease exists. Forms in all kingdoms are full of inharmony and out of alignment with the indwelling life. Disease and corruption and the tendency towards dissolution are found everywhere. I am choosing my words with care.
5. Khi tư tưởng của con người đảo ngược những quan niệm thông thường về bệnh tật, và chấp nhận bệnh tật như một sự kiện trong thiên nhiên, con người sẽ bắt đầu làm việc với định luật giải thoát, với tư tưởng đúng đắn, dẫn đến không kháng cự. Hiện nay, bằng quyền năng của tư tưởng được định hướng và sự đối kháng mãnh liệt của mình đối với bệnh tật, y chỉ có khuynh hướng tiếp năng lượng cho khó khăn mà thôi. Khi y tái định hướng tư tưởng của mình về chân lý và linh hồn, những đau yếu cõi hồng trần sẽ bắt đầu biến mất. Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi sau này chúng ta nghiên cứu phương pháp loại trừ. Bệnh tật hiện hữu. Các hình tướng trong mọi giới đều đầy bất hòa và không chỉnh hợp với sự sống nội tại. Bệnh tật, hư hoại và khuynh hướng tan rã được tìm thấy ở khắp nơi. Tôi đang chọn từ ngữ của mình một cách cẩn trọng.
6. Disease is not, therefore, the result of wrong human thought. It existed among the many forms of life long before the human family appeared on earth. If you seek verbal expression, and if you want to talk within the limits of the human mind, you can say with a measure of accuracy: God, [14] the planetary Deity, is guilty of wrong thinking. But you will not be expressing the truth, but only a tiny fraction of the cause, as it appears to your feeble finite mind, through the medium of the general world glamour and illusion.
6. Vì vậy, bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người. Nó đã tồn tại giữa nhiều hình tướng sự sống từ lâu trước khi gia đình nhân loại xuất hiện trên trần gian. Nếu bạn tìm kiếm một cách diễn đạt bằng lời, và nếu bạn muốn nói trong giới hạn của trí tuệ con người, bạn có thể nói với một mức độ chính xác nào đó: Thượng đế, [14] Hành Tinh Thượng đế, có lỗi vì tư tưởng sai lầm. Nhưng bạn sẽ không diễn đạt chân lý, mà chỉ một phần rất nhỏ của nguyên nhân, như nó hiện ra đối với trí tuệ hữu hạn yếu ớt của bạn, qua trung gian của ảo cảm và ảo tưởng chung của thế gian.
7. From one angle, disease is a process of liberation, and the enemy of that which is static and crystallised. Think not, from what I say, that therefore disease should be welcomed, and that the process of death should be cherished. Were that the case, one would cultivate disease and put a premium on suicide. Fortunately for humanity, the whole tendency of life is against disease, and the reaction of the form life upon the thought of man fosters the fear of death. This has been rightly so, for the instinct of self-preservation and the preservation of form integrity is a vital principle in matter, and the tendency to self-perpetuation of the life within the form is one of our greatest God-given capacities and will persist. But in the human family this must eventually give place to the use of death as the organised, freeing process in order to conserve force and give to the soul a better instrument of manifestation. For this liberty of action, mankind as a whole is not yet ready. The disciples and aspirants of the world should now, however, begin to grasp these newer principles of existence. The instinct to self-preservation governs the relation of spirit and matter, of life and form as long as the Deity Himself wills to incarnate within His body of manifestation—a planet, or a solar system. I have in the above statement given to you a hint as to one of the basic causes of disease, and to the endless fight between the imprisoned spirit and the imprisoning form. This fight uses for its method that innate quality which expresses itself as the urge to preserve and the urge to perpetuate—both the present form and the species. [15]
7. Từ một góc độ, bệnh tật là một tiến trình giải phóng, và là kẻ thù của điều tĩnh tại và kết tinh. Từ những gì tôi nói, đừng nghĩ rằng vì vậy bệnh tật nên được hoan nghênh, và tiến trình chết nên được trân trọng. Nếu đúng như thế, người ta sẽ nuôi dưỡng bệnh tật và treo giải thưởng cho tự sát. May thay cho nhân loại, toàn bộ khuynh hướng của sự sống là chống lại bệnh tật, và phản ứng của đời sống hình tướng đối với tư tưởng của con người nuôi dưỡng nỗi sợ cái chết. Điều này là đúng đắn, vì bản năng tự bảo tồn và bảo tồn tính toàn vẹn của hình tướng là một nguyên khí thiết yếu trong vật chất, và khuynh hướng tự duy trì của sự sống bên trong hình tướng là một trong những năng lực lớn lao nhất do Thượng đế ban cho chúng ta và sẽ còn tồn tại. Nhưng trong gia đình nhân loại, điều này cuối cùng phải nhường chỗ cho việc sử dụng cái chết như một tiến trình giải phóng có tổ chức nhằm bảo tồn mãnh lực và trao cho linh hồn một công cụ biểu hiện tốt hơn. Đối với sự tự do hành động này, toàn thể nhân loại vẫn chưa sẵn sàng. Tuy nhiên, các đệ tử và người chí nguyện của thế giới giờ đây nên bắt đầu nắm bắt những nguyên lý hiện hữu mới mẻ hơn này. Bản năng tự bảo tồn chi phối mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, giữa sự sống và hình tướng chừng nào chính Thượng đế còn muốn nhập thể trong thể biểu hiện của Ngài—một hành tinh, hay một hệ mặt trời. Trong phát biểu trên, tôi đã trao cho bạn một gợi ý về một trong những nguyên nhân căn bản của bệnh tật, và về cuộc chiến vô tận giữa tinh thần bị giam cầm và hình tướng giam cầm. Cuộc chiến này sử dụng làm phương pháp của nó phẩm tính bẩm sinh biểu lộ như sự thôi thúc bảo tồn và sự thôi thúc duy trì—cả hình tướng hiện tại lẫn loài. [15]
8. The law of cause and effect, called Karma in the East, governs all this. Karma must be regarded in reality as the effect (in the form life of our planet) of causes, deep-seated and hidden in the mind of God. The causes that we may trace in relation to disease and death are in reality only the working out of certain basic principles which govern—rightly or wrongly, who shall say?—the life of God in form, and they must ever remain incomprehensible to man until such time as he takes the great initiation which is symbolised for us in the Transfiguration. All along in our studies, we shall be dealing with secondary causes and their effects, with the phenomenal results of those subjective effects which emanate from causes too far away for us to grasp. This should be admitted and grasped. This is the best man can do with his present mental apparatus. When the intuition rarely works, and the mind is seldom illumined, why should man arrogantly expect to understand everything? Let him work at the development of his intuition and at achieving illumination. Understanding may then come his way. He will have earned the right to divine knowledge. But the above recognition will suffice for our work and will enable us to lay down those laws and principles which will indicate the way humanity may gain release from the form consciousness and consequent immunity from the victory of death and those disease-dealing conditions which govern today our planetary manifestation.
8. Định luật nhân quả, được gọi là Karma ở phương Đông, chi phối tất cả điều này. Thực ra, Karma phải được xem là hiệu quả (trong sự sống hình tướng của hành tinh chúng ta) của những nguyên nhân ăn sâu và ẩn kín trong Trí của Thượng đế. Những nguyên nhân mà chúng ta có thể truy tìm liên quan đến bệnh tật và cái chết, thực ra chỉ là sự triển khai của một số nguyên lý căn bản chi phối—đúng hay sai, ai có thể nói được?—sự sống của Thượng đế trong hình tướng, và chúng mãi mãi vẫn không thể hiểu nổi đối với con người cho đến khi y trải qua cuộc điểm đạo lớn được tượng trưng cho chúng ta trong Biến hình. Trong suốt quá trình nghiên cứu của chúng ta, chúng ta sẽ bàn đến các nguyên nhân thứ yếu và các hiệu quả của chúng, đến các kết quả hiện tượng của những hiệu quả chủ quan phát xuất từ những nguyên nhân quá xa vời để chúng ta nắm bắt. Điều này cần được thừa nhận và nắm vững. Đó là điều tốt nhất con người có thể làm với bộ máy trí tuệ hiện nay của mình. Khi trực giác hiếm khi hoạt động, và trí tuệ hiếm khi được soi sáng, tại sao con người lại kiêu ngạo mong hiểu được mọi sự? Hãy để y nỗ lực phát triển trực giác của mình và đạt đến sự soi sáng. Khi đó, sự thấu hiểu có thể đến với y. Y sẽ xứng đáng với quyền được biết tri thức thiêng liêng. Nhưng sự nhìn nhận trên đây là đủ cho công việc của chúng ta và sẽ giúp chúng ta nêu ra những định luật và nguyên lý chỉ ra con đường mà nhân loại có thể đạt được sự giải thoát khỏi tâm thức hình tướng và do đó miễn nhiễm khỏi sự chiến thắng của cái chết cùng những tình trạng gây bệnh đang chi phối sự biểu hiện hành tinh của chúng ta ngày nay.
We will divide our consideration of the causes of disease into three parts, eliminating from our quest for truth the quite understandable but equally futile desire to apprehend the mind of Deity.
Chúng ta sẽ chia việc xem xét các nguyên nhân của bệnh tật thành ba phần, loại bỏ khỏi cuộc truy tầm chân lý của mình khát vọng hoàn toàn dễ hiểu nhưng cũng hoàn toàn vô ích là nắm bắt Trí của Thượng đế.
I. The psychological causes.
I. Các nguyên nhân tâm lý.
II. Causes emanating from group life.
II. Các nguyên nhân phát xuất từ đời sống nhóm.
III. Our karmic liabilities, the karmic causes.
III. Các món nợ nghiệp quả của chúng ta, các nguyên nhân nghiệp quả.
[16]
[16]
In all this we shall but gain a general idea (all that is now possible) as to the presence of disease in the human family, and of that to be found also, in part, in the animal kingdom. When this general idea is grasped, we shall have a clearer understanding of our problem and can then proceed with our consideration of the methods which will enable us to handle the undesirable effects with greater facility. Students of the Art of Healing should likewise remember that there are three ways in which healing can be brought about, and that all three ways have their place and value, dependent upon the point in evolution of the subject being healed.
Trong tất cả điều này, chúng ta chỉ đạt được một ý niệm tổng quát (là tất cả những gì hiện nay có thể có) về sự hiện diện của bệnh tật trong gia đình nhân loại, và cả về điều cũng được tìm thấy, phần nào, trong giới động vật. Khi ý niệm tổng quát này được nắm vững, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn vấn đề của mình và khi đó có thể tiến tới xem xét các phương pháp giúp chúng ta xử lý những hiệu quả không mong muốn một cách dễ dàng hơn. Các đạo sinh của Nghệ Thuật Chữa Lành cũng nên nhớ rằng có ba cách mà sự chữa lành có thể được thực hiện, và cả ba cách đều có vị trí và giá trị của chúng, tùy thuộc vào điểm tiến hoá của đối tượng được chữa lành.
First, there is the application of those palliatives and ameliorating methods which gradually cure disease and eliminate undesirable conditions; they build up the form life and foster the vitality, so that disease can be thrown off. Of these methods the allopathic and the homeopathic schools and the various osteopathic and chiropractic and other therapeutic schools are good exponents. They have done much good and constructive work, and the debt of humanity to the wisdom, skill and unselfish attentions of the physicians is great. They are dealing all the time with urgent conditions and dangerous effects of causes which are not apparent on the surface. Under these methods, the patient is in the hands of an outside party, and should be passive, quiescent and negative.
Thứ nhất, có sự áp dụng những phương pháp làm dịu và cải thiện, dần dần chữa lành bệnh tật và loại bỏ những tình trạng không mong muốn; chúng xây dựng sự sống hình tướng và nuôi dưỡng sinh lực, để bệnh tật có thể bị loại bỏ. Trong số những phương pháp này, các trường phái đối chứng và đồng căn cùng các trường phái nắn xương, chỉnh cột sống và các trường phái trị liệu khác là những đại diện tốt. Chúng đã làm được nhiều công việc tốt đẹp và có tính xây dựng, và món nợ của nhân loại đối với minh triết, kỹ năng và sự chăm sóc vô ngã của các y sĩ là rất lớn. Họ luôn luôn xử lý những tình trạng khẩn cấp và những hiệu quả nguy hiểm của các nguyên nhân không biểu lộ trên bề mặt. Theo những phương pháp này, bệnh nhân ở trong tay một tác nhân bên ngoài, và nên thụ động, yên lặng và tiêu cực.
Secondly, there is the appearance of the work and methods of the modern psychologist, who seeks to deal with subjective conditions and to straighten out those wrong attitudes of mind, those inhibitions, psychoses, and complexes which bring about the outer states or disease, the morbid conditions and neurotic and mental disasters. Under this method, the patient is taught to cooperate as much as he can with the psychologist, so that he may arrive at a proper [17] understanding of himself, and so learn to eradicate those inner compelling situations which are responsible for the outer results. He is trained to be positive and active, and this is a great step in the right direction. The tendency to combine psychology with the outer physical treatment is sound and right.
Thứ hai, có sự xuất hiện của công việc và các phương pháp của nhà tâm lý học hiện đại, người tìm cách xử lý các tình trạng chủ quan và điều chỉnh những thái độ sai lầm của trí tuệ, những sự ức chế, loạn tâm thần và phức cảm gây ra các trạng thái bên ngoài hay bệnh tật, các tình trạng bệnh hoạn và những tai họa thần kinh và trí tuệ. Theo phương pháp này, bệnh nhân được dạy phải hợp tác tối đa với nhà tâm lý học, để y có thể đi đến một sự [17] thấu hiểu đúng đắn về chính mình, và nhờ đó học cách loại trừ những tình huống cưỡng bách bên trong vốn chịu trách nhiệm về các kết quả bên ngoài. Y được huấn luyện để tích cực và chủ động, và đây là một bước tiến lớn theo đúng hướng. Khuynh hướng kết hợp tâm lý học với việc điều trị thể xác bên ngoài là lành mạnh và đúng đắn.
Thirdly, the highest and the newest method is that of calling into positive activity a man’s own soul. The true and the future healing is brought about when the life of the soul can flow without any impediment and hindrance throughout every aspect of the form nature. It can then vitalise it with its potency, and can also eliminate those congestions and obstructions which are such a fruitful source of disease.
Thứ ba, phương pháp cao nhất và mới nhất là phương pháp kêu gọi linh hồn của chính một người vào hoạt động tích cực. Sự chữa lành chân chính và của tương lai được thực hiện khi sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy không bị cản trở hay ngăn ngại qua mọi phương diện của bản chất hình tướng. Khi đó, nó có thể tiếp sinh lực cho bản chất ấy bằng mãnh lực của mình, và cũng có thể loại bỏ những chỗ tắc nghẽn và bế tắc vốn là nguồn gốc rất phong phú của bệnh tật.
This gives you much to ponder upon. If we go slowly as regards the practical application of techniques and methods, it is because I seek to lay a sound foundation for that which I shall later impart.
Điều này cho bạn nhiều điều để suy ngẫm. Nếu chúng ta tiến chậm về phương diện áp dụng thực tiễn các kỹ thuật và phương pháp, đó là vì tôi tìm cách đặt một nền tảng vững chắc cho điều mà về sau tôi sẽ truyền đạt.
THE TRAINING OF THE HEALER
SỰ HUẤN LUYỆN CỦA NGƯỜI CHỮA LÀNH
As regards the training of the healer, I will give from time to time the six rules which govern (or should govern) his activity. Bear in mind the two words which I earlier gave. They sum up the healer’s story: MAGNETISM and RADIATION. They are different in their effects as we shall later see.
Về sự huấn luyện của người chữa lành, thỉnh thoảng tôi sẽ đưa ra sáu quy luật chi phối (hoặc nên chi phối) hoạt động của y. Hãy ghi nhớ hai từ mà trước đây tôi đã đưa ra. Chúng tóm lược toàn bộ câu chuyện của người chữa lành: TỪ ĐIỆN và BỨC XẠ. Chúng khác nhau trong các hiệu quả của chúng, như sau này chúng ta sẽ thấy.
RULE ONE
QUY LUẬT MỘT
The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease, or may increase the so-called evil state, according to the knowledge of the healer.
Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ đó y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành thiết yếu lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa lành bệnh tật, hoặc có thể làm gia tăng tình trạng được gọi là xấu xa, tùy theo tri thức của người chữa lành.
The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the [18] soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.
Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng [18] sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc của bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang y đối với bức xạ của hào quang người chữa lành, được tràn ngập năng lượng linh hồn.
In considering the Causes of Disease, I find it necessary to speak a word in connection with conditions—external and internal. It will be apparent to the casual thinker that many diseases and many causes of death are due to environing conditions for which he is in no way responsible. These range all the way from purely external occurrences to hereditary predispositions. They might be listed as follows:
Khi xem xét các Nguyên nhân của Bệnh tật, tôi thấy cần phải nói một lời liên quan đến các tình trạng—bên ngoài và bên trong. Đối với người suy nghĩ hời hợt, hiển nhiên là nhiều bệnh tật và nhiều nguyên nhân của cái chết là do các điều kiện môi trường mà y hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Chúng trải dài từ những biến cố hoàn toàn bên ngoài đến những khuynh hướng di truyền. Chúng có thể được liệt kê như sau:
1. Accidents, which may be due to personal negligence, group happenings, the carelessness of other people, and the results of fighting, as in labour strikes or war. They can also be brought about by attacks from the animal or the snake world, accidental poisonings and many other causes.
1. Tai nạn, có thể do sự bất cẩn cá nhân, các biến cố tập thể, sự cẩu thả của người khác, và kết quả của xung đột, như trong các cuộc đình công lao động hay chiến tranh. Chúng cũng có thể do sự tấn công từ giới động vật hay loài rắn, do ngộ độc ngẫu nhiên và nhiều nguyên nhân khác.
2. Infections coming to a man from outside and not as the result of his own peculiar blood condition. Such infections are the various so-called infectious and contagious diseases, and prevalent epidemics. These may come to a man in the line of duty, through his daily contacts, or through a widespread condition of disease in his environment.
2. Sự nhiễm bệnh đến với một người từ bên ngoài chứ không phải là kết quả của tình trạng máu đặc thù của chính y. Những sự nhiễm bệnh như vậy là các bệnh được gọi là truyền nhiễm và lây lan, cùng các dịch bệnh phổ biến. Chúng có thể đến với một người trong khi thi hành bổn phận, qua các tiếp xúc hằng ngày của y, hoặc qua một tình trạng bệnh lan rộng trong môi trường của y.
3. Diseases due to malnutrition, particularly when found in the young. This state of undernourishment predisposes the body to disease, lowers the resistance and the vitality, and of offsets the “fighting powers” of the man, leading to premature death.
3. Bệnh do suy dinh dưỡng, đặc biệt khi thấy ở người trẻ. Tình trạng thiếu dinh dưỡng này khiến thể xác dễ mắc bệnh, làm giảm sức đề kháng và sinh lực, và làm suy giảm “năng lực chiến đấu” của con người, dẫn đến cái chết sớm.
4. Heredity. There are, as you well know, certain forms of hereditary weaknesses, which either predispose a person to certain illnesses and consequent death, or produce in him those conditions which lead to a steady weakening [19] of his hold on life; there are also those tendencies which constitute a form of dangerous appetite, which lead to undesirable habits, a letting down of the morale, and are dangerous to the will of the person, rendering him futile to fight these predispositions. He succumbs to them and pays the price of such habits, which is disease and death.
4. Di truyền. Như các bạn đều biết rõ, có một số dạng suy yếu di truyền, hoặc khiến một người dễ mắc một số bệnh nhất định và hậu quả là cái chết, hoặc tạo ra nơi y những tình trạng dẫn đến sự suy yếu dần dần [19] của sự bám giữ vào sự sống; cũng có những khuynh hướng cấu thành một dạng ham muốn nguy hiểm, dẫn đến những thói quen không mong muốn, làm suy giảm tinh thần, và gây nguy hại cho ý chí của người ấy, khiến y bất lực trong việc chống lại những khuynh hướng này. Y khuất phục trước chúng và phải trả giá cho những thói quen ấy, mà cái giá đó là bệnh tật và cái chết.
These four types of disease and causes of death account for much that we see happening around us in people’s lives, but they are not to be classed definitely under any of the psychological causes of disease, and will only be considered, and that very briefly, under the section dealing with group life and its predisposing causes of disease. Infectious diseases are there dealt with, but such situations as arise out of an automobile or railroad accident, for instance, are not to be considered as coming under the heading of causes producing disease. That the work of the healer may be involved in these cases is quite true, but the work to be done is somewhat different to that accomplished when dealing with those diseases which have their roots in some subtle body or other, or in the results of group disease, etc. The ills growing out of malnutrition and the wrong feeding of our modern life and civilisation will not here be considered. For these no child is individually responsible. I am concerned with the diseases arising in wrong internal conditions.
Bốn loại bệnh tật và nguyên nhân của cái chết này giải thích phần lớn những gì chúng ta thấy xảy ra quanh mình trong đời sống con người, nhưng chúng không được xếp rõ ràng vào bất kỳ nguyên nhân tâm lý nào của bệnh tật, và sẽ chỉ được xét đến, mà rất ngắn gọn, trong phần bàn về đời sống nhóm và các nguyên nhân khiến dễ mắc bệnh của nó. Các bệnh truyền nhiễm được bàn đến ở đó, nhưng những tình huống phát sinh từ một tai nạn xe hơi hay xe lửa chẳng hạn, thì không được xem là thuộc đề mục các nguyên nhân gây ra bệnh tật. Đúng là công việc của người chữa lành có thể liên quan đến những trường hợp này, nhưng công việc phải làm có phần khác với công việc được thực hiện khi xử lý những bệnh có gốc rễ trong một thể vi tế nào đó, hoặc trong các kết quả của bệnh nhóm, v.v. Những chứng bệnh phát sinh từ suy dinh dưỡng và sự ăn uống sai lầm của đời sống và nền văn minh hiện đại của chúng ta sẽ không được xét ở đây. Không một đứa trẻ nào phải chịu trách nhiệm cá nhân về những điều đó. Tôi quan tâm đến những bệnh phát sinh từ các tình trạng nội tại sai lầm.
The responsibility of a child for his living conditions is practically nil, unless you admit karma as a predisposing factor, and its power to produce those re-adjustments which emerge out of the past and affect the present. I shall deal with this more fully under our third point, dealing with our karmic liabilities. I would only suggest here that the whole subject of disease could be treated from the angle of karma and be definite and conclusive in its value [20] had there been right teaching on this abstruse subject from the time that it was given out in the West. But the truth as it has come to us from the East has been as much distorted by the Eastern theologian as the doctrines of the Atonement and of the Virgin Birth have been misinterpreted and taught by the Western theologian. The real truth bears little resemblance to our modern formulations. I am, therefore, seriously handicapped when dealing with the subject of disease from the angle of karma. It is difficult for me to convey to you anything of the truth as it really exists, owing to the pre-conceived ideas as to the ancient Law of Cause and Effect which are necessarily in your mind. When I say to you that the doctrine of Emergent Evolution and the modern theories of the work of a catalyst upon two substances which—when brought into relation with each other under the effect of the catalyst produce a third and different substance—carry in them much of the truth anent karma, will you understand? I question it. When I say to you that the emphasis given to the Law of Karma as it explains apparent injustices and stresses always the appearance of pain, disease, and suffering gives only partial presentation of the basic cosmic truth, is your mind in any way clarified? When I point out that the Law of Karma, rightly understood and rightly wielded, can bring that which produces happiness, good, and freedom from pain more easily than it brings pain, with its chain of consequences, do you feel able to grasp the significance of what I am saying?
Trách nhiệm của một đứa trẻ đối với các điều kiện sống của nó thực tế là bằng không, trừ phi bạn chấp nhận nghiệp quả như một yếu tố khiến dễ mắc phải, và quyền năng của nó trong việc tạo ra những sự tái điều chỉnh phát sinh từ quá khứ và ảnh hưởng đến hiện tại. Tôi sẽ bàn đầy đủ hơn về điều này dưới điểm thứ ba của chúng ta, liên quan đến các món nợ nghiệp quả của chúng ta. Ở đây tôi chỉ muốn gợi ý rằng toàn bộ chủ đề bệnh tật có thể được xử lý từ góc độ nghiệp quả và sẽ có giá trị xác định và kết luận [20] nếu đã có giáo huấn đúng đắn về chủ đề thâm áo này từ khi nó được truyền ra ở phương Tây. Nhưng chân lý như nó đến với chúng ta từ phương Đông đã bị nhà thần học phương Đông bóp méo nhiều chẳng kém gì các giáo lý về Sự Chuộc Tội và về Sự Giáng Sinh Đồng Trinh đã bị nhà thần học phương Tây diễn giải sai và giảng dạy sai. Chân lý thực sự rất ít giống với những công thức hiện đại của chúng ta. Vì vậy, tôi bị cản trở nghiêm trọng khi bàn về chủ đề bệnh tật từ góc độ nghiệp quả. Tôi khó có thể truyền đạt cho các bạn bất cứ điều gì về chân lý như nó thực sự hiện hữu, do những ý niệm có sẵn về Định luật Nhân Quả cổ xưa vốn tất yếu có trong trí các bạn. Khi tôi nói với các bạn rằng học thuyết về tiến hoá phát sinh và các lý thuyết hiện đại về tác động của một chất xúc tác lên hai chất liệu—mà khi được đặt vào tương quan với nhau dưới tác động của chất xúc tác sẽ tạo ra một chất liệu thứ ba và khác biệt—mang trong chúng nhiều chân lý liên quan đến karma, liệu các bạn có hiểu không? Tôi nghi ngờ điều đó. Khi tôi nói với các bạn rằng sự nhấn mạnh đặt vào Định luật Karma như một lời giải thích cho những bất công bề ngoài và luôn nhấn mạnh đến sự xuất hiện của đau đớn, bệnh tật và đau khổ chỉ đưa ra một sự trình bày từng phần về chân lý vũ trụ căn bản, liệu trí các bạn có được sáng tỏ phần nào không? Khi tôi chỉ ra rằng Định luật Karma, nếu được hiểu đúng và vận dụng đúng, có thể mang lại điều tạo ra hạnh phúc, điều thiện và sự giải thoát khỏi đau đớn dễ dàng hơn là nó mang lại đau đớn cùng chuỗi hậu quả của đau đớn, liệu các bạn có cảm thấy mình có thể nắm bắt được thâm nghĩa của điều tôi đang nói không?
The world of glamour is at this time so strong and the sense of illusion so potent and vital that we fail to see these basic laws in their true significance.
Thế giới của ảo cảm hiện nay quá mạnh và cảm thức về ảo tưởng quá mãnh liệt và sống động đến nỗi chúng ta không thấy được những định luật căn bản này trong thâm nghĩa chân thực của chúng.
The Law of Karma is not the Law of Retribution, as one would surmise as one reads the current books upon the subject; that is but one aspect of the working of the Law [21] of Karma. The Law of Cause and Effect is not to be understood as we now interpret it. There is, to illustrate, a law called the Law of Gravitation, which has long imposed itself upon the minds of men; such a law exists, but it is only an aspect of a greater law, and its power can be, as we know, relatively offset, for each time that we see an aeroplane soaring overhead, we see a demonstration of the offsetting of this law by mechanical means, symbolising the ease with which it can be surmounted by human beings. If they could but realise it, they are learning the ancient technique of which the power to levitate is one of the easiest and simplest initial exercises.
Định luật Karma không phải là Định luật Báo Ứng, như người ta có thể suy ra khi đọc những sách hiện hành về chủ đề này; đó chỉ là một phương diện trong sự vận hành của [21] Định luật Karma. Định luật Nhân Quả không được hiểu theo cách chúng ta hiện đang diễn giải nó. Chẳng hạn, có một định luật gọi là Định luật Hấp Dẫn, từ lâu đã áp đặt chính nó lên trí con người; một định luật như thế quả có tồn tại, nhưng nó chỉ là một phương diện của một định luật lớn hơn, và quyền năng của nó có thể, như chúng ta biết, được hóa giải tương đối, vì mỗi khi chúng ta thấy một chiếc máy bay lượn trên đầu, chúng ta thấy một minh chứng cho việc hóa giải định luật này bằng phương tiện cơ giới, tượng trưng cho sự dễ dàng mà con người có thể vượt lên trên nó. Nếu họ chỉ có thể nhận ra điều đó, thì họ đang học kỹ thuật cổ xưa mà trong đó năng lực bay lên là một trong những bài tập khởi đầu dễ nhất và đơn giản nhất.
The Law of Consequences is not the inevitable and set affair which modern thought surmises, but is related to the Laws of Thought far more closely than has been believed; towards an understanding of this, mental science has been groping. Its orientation and purposes are right and good and hopeful of results; its conclusions and modes of work are at present woefully at fault, and most misleading.
Định luật Hệ Quả không phải là một sự việc tất yếu và cố định như tư tưởng hiện đại suy đoán, mà liên hệ với các Định luật của Tư tưởng chặt chẽ hơn nhiều so với điều người ta đã tin; khoa học trí tuệ đã lần mò hướng tới sự thấu hiểu điều này. Định hướng và mục đích của nó là đúng đắn, tốt đẹp và đầy hy vọng về kết quả; nhưng các kết luận và phương thức làm việc của nó hiện nay lại sai lầm một cách đáng buồn và rất dễ gây ngộ nhận.
I have referred to this misunderstanding of the Law of Karma as I am anxious to have you set out on this study of the Laws of Healing with a free and open mind as far as may be, realising that your understanding of these laws is limited by:
Tôi đã đề cập đến sự hiểu sai này về Định luật Karma vì tôi mong các bạn bắt đầu việc nghiên cứu các Định luật Chữa Lành này với một trí tuệ tự do và cởi mở hết mức có thể, nhận ra rằng sự hiểu biết của các bạn về những định luật này bị giới hạn bởi:
1. Old theologies, with their static, distorted, and erroneous points of view. The teaching of theology is most misleading, but is, alas, generally accepted.
1. Các nền thần học cũ, với những quan điểm tĩnh tại, bóp méo và sai lầm của chúng. Giáo huấn thần học rất dễ gây ngộ nhận, nhưng than ôi, lại thường được chấp nhận.
2. World thought, strongly tinged with the desire element, and with little in it of real thought. Men interpret these dimly sensed laws in terms of finality and from their little point of view. The idea of retribution runs through much of the teaching on Karma, for instance, because men seek a plausible explanation of things as [22] they appear to be, and are themselves fond of dealing out retribution. Yet there is far more general good karma than bad, little as you may think it when immersed in such a period as the present.
2. Tư tưởng thế gian, bị nhuốm đậm yếu tố ham muốn, và trong đó có rất ít tư tưởng thực sự. Con người diễn giải những định luật được cảm nhận mơ hồ này theo những thuật ngữ mang tính chung quyết và từ quan điểm nhỏ hẹp của mình. Chẳng hạn, ý niệm báo ứng xuyên suốt phần lớn giáo huấn về Karma, vì con người tìm kiếm một lời giải thích có vẻ hợp lý cho sự vật như [22] chúng dường như là, và bản thân họ cũng thích ban phát sự báo ứng. Tuy nhiên, nghiệp tốt nói chung nhiều hơn nghiệp xấu rất nhiều, dù bạn có thể ít nghĩ như vậy khi đang chìm trong một thời kỳ như hiện nay.
3. The world illusion and glamour, which prevents the average and ignorant man from seeing life as it truly is. Even the advanced man and the disciples are only beginning to get a fleeting and inadequate glance at a glorious reality.
3. Ảo tưởng và ảo cảm của thế gian, ngăn cản con người trung bình và vô minh thấy được sự sống như nó thực sự là. Ngay cả người tiến bộ và các đệ tử cũng chỉ mới bắt đầu có được một cái nhìn thoáng qua và chưa đầy đủ về một thực tại huy hoàng.
4. Uncontrolled minds and unreleased and unawakened brain cells also hinder man from correct realisation. This fact is often unrecognised. The apparatus of realisation is as yet inadequate. This point needs emphasising.
4. Những trí tuệ không được kiểm soát và những tế bào não chưa được giải phóng và chưa được đánh thức cũng cản trở con người đạt đến sự chứng nghiệm đúng đắn. Sự kiện này thường không được nhận ra. Bộ máy của sự chứng nghiệm vẫn còn chưa đầy đủ. Điểm này cần được nhấn mạnh.
5. National and racial temperaments, with their predisposing temperaments, and prejudices. These factors again prevent a just appreciation of these realities.
5. Các khí chất quốc gia và chủng tộc, cùng những khí chất và thành kiến khiến dễ thiên lệch của chúng. Những yếu tố này một lần nữa ngăn cản sự đánh giá công bằng về các thực tại này.
I have given enough here to indicate to you the stupidity of attempting to state that you understand these laws towards which you are groping and which you seek to understand. Nowhere in human thought is the darkness greater than in connection with the laws concerning disease and death.
Tôi đã nói đủ ở đây để chỉ cho các bạn thấy sự ngu xuẩn của việc cố tuyên bố rằng các bạn hiểu những định luật mà các bạn đang lần mò hướng tới và đang tìm cách thấu hiểu. Không nơi nào trong tư tưởng nhân loại mà bóng tối lại lớn hơn trong mối liên hệ với các định luật liên quan đến bệnh tật và cái chết.
It is necessary, therefore, to realise that, from the start, in all I have to say, under the heading The Psychological Causes of Disease, I am not dealing with those complaints or predispositions to disease which emerge out of the environment, or with those definitely physical taints which are inherited from parents who have carried in their bodies and transmitted to their children disease germs which they, in their turn, may have inherited from their parents. I would like to point out that these inherited diseases are far fewer than is at present surmised; of these, the predisposition [23] to tuberculosis, to syphilis and to cancer are the most important where our present humanity is concerned; they are inherited and also can be imparted by contact. These I will deal with under our second major heading on the diseases emanating from the group.
Vì vậy, cần phải nhận ra rằng ngay từ đầu, trong tất cả những gì tôi phải nói dưới đề mục Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật, tôi không bàn đến những chứng bệnh hay những khuynh hướng dễ mắc bệnh phát sinh từ môi trường, cũng không bàn đến những nhiễm độc rõ rệt về mặt thể xác được thừa hưởng từ cha mẹ, những người đã mang trong cơ thể mình các mầm bệnh và truyền chúng cho con cái, mà đến lượt chúng, có thể đã thừa hưởng từ cha mẹ của chúng. Tôi muốn chỉ ra rằng những bệnh di truyền này ít hơn nhiều so với điều hiện nay người ta suy đoán; trong số đó, khuynh hướng [23] mắc bệnh lao, giang mai và ung thư là quan trọng nhất đối với nhân loại hiện nay của chúng ta; chúng được di truyền và cũng có thể được truyền qua tiếp xúc. Tôi sẽ bàn đến những bệnh này dưới đề mục lớn thứ hai của chúng ta về các bệnh phát xuất từ nhóm.
CHAPTER I - The Psychological Causes of Disease — CHƯƠNG I - Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật
[24]
[24]
The point I would like to make here, before proceeding further, is that I shall seek to avoid, as far as possible, all technicalities. Our theme is the esoteric consideration of disease and its forms; it seeks to elucidate the subject of and the vital causes of such diseases, and to indicate the general laws with which the healer must work and the six rules which he must impose upon himself—and to which he gives obedience, through discipline and understanding.
Điểm tôi muốn nêu ra ở đây, trước khi đi xa hơn, là tôi sẽ cố tránh, càng nhiều càng tốt, mọi thuật ngữ chuyên môn. Chủ đề của chúng ta là sự xem xét một cách huyền bí về bệnh tật và các hình thức của nó; nó tìm cách làm sáng tỏ chủ đề này cùng các nguyên nhân thiết yếu của những bệnh như thế, và chỉ ra các định luật tổng quát mà người chữa lành phải làm việc với chúng và sáu quy luật mà y phải áp đặt lên chính mình—và tuân phục chúng bằng kỷ luật và sự thấu hiểu.
You will have noted that I listed the psychological causes under four headings:
Các bạn hẳn đã lưu ý rằng tôi đã liệt kê các nguyên nhân tâm lý dưới bốn đề mục:
1. Those arising out of the emotional-feeling nature.
1. Những nguyên nhân phát sinh từ bản chất cảm xúc-cảm giác.
2. Those which have their origin in the etheric body.
2. Những nguyên nhân bắt nguồn trong thể dĩ thái.
3. Those which are based on wrong thought.
3. Những nguyên nhân dựa trên tư tưởng sai lầm.
4. The peculiar complaints and psychological troubles of disciples.
4. Những chứng bệnh đặc thù và những rối loạn tâm lý của các đệ tử.
It may have interested you to see that I place the ills of the etheric body in the second place and not the first. The reason for this is that the group ills and diseases which have fastened upon the race, work primarily through the etheric body and find their way out into manifestation via the etheric bodies of all forms. But I have placed them second, even though they are in the last analysis the most numerous, owing to the fact that humanity cannot as yet deal with [25] these en masse. The approach has to be through individuals, and men must clear their astral or emotional bodies of those conditions which pre-dispose them to disease, as individuals. At present, the race is astrally polarised. The emotional sentient nature is all-powerful in the masses. This leads to a relatively negative etheric body which is tuned in on the entire etheric substance of the planet. This substance, which underlies all forms, is simply a transferring and transmitting agency for vital energy to the outer dense physical body. Energy sweeps through this etheric substance, free from all control by the individual human being, and quite unrealised by him because his focus of attention is astral. From the astral or emotional state of consciousness, much concerning individual physical conditions can be deduced. We must, however, eliminate those ills which are group ills and which have swept into and through all mankind from the world of etheric force, leaving him in some way depleted, or overstimulated, or in such a condition that Death naturally supervenes. It might be stated as a basic generalisation that personal physical trouble has its seat at present in the emotional body, and that that vehicle of expression is the one predominant predisposing agent in the ill health of the individual, just as group ills and the sweep of epidemics of any kind through the masses are founded in some condition in the etheric substance of the planet. Those diseases which are general, national, racial and planetary find their way to an individual via his etheric body, but are not so personal in their implications. Upon this I will later enlarge. Today I but lay down the general proposition.
Có thể các bạn thấy thú vị khi thấy tôi đặt các chứng bệnh của thể dĩ thái ở vị trí thứ hai chứ không phải thứ nhất. Lý do là vì các chứng bệnh và bệnh tật của nhóm đã bám chặt vào nhân loại, hoạt động chủ yếu qua thể dĩ thái và tìm đường đi ra biểu hiện qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng. Nhưng tôi đã đặt chúng ở vị trí thứ hai, dù xét cho cùng chúng là nhiều nhất, bởi vì nhân loại hiện chưa thể xử lý [25] chúng trên quy mô lớn. Sự tiếp cận phải thông qua các cá nhân, và con người phải thanh lọc các thể cảm dục hay cảm xúc của mình khỏi những tình trạng khiến họ dễ mắc bệnh, với tư cách cá nhân. Hiện nay, nhân loại phân cực cảm xúc. Bản chất cảm xúc cảm giác có tri giác là toàn năng trong quần chúng. Điều này dẫn đến một thể dĩ thái tương đối tiêu cực, được chỉnh hợp với toàn bộ chất liệu dĩ thái của hành tinh. Chất liệu này, vốn nằm bên dưới mọi hình tướng, đơn giản là một tác nhân chuyển giao và truyền dẫn năng lượng thiết yếu đến thể xác đậm đặc bên ngoài. Năng lượng quét qua chất liệu dĩ thái này, không hề chịu sự kiểm soát nào của cá nhân con người, và hoàn toàn không được y nhận biết vì tiêu điểm chú ý của y là cảm dục. Từ trạng thái tâm thức cảm dục hay cảm xúc, có thể suy ra nhiều điều liên quan đến các tình trạng thể xác cá nhân. Tuy nhiên, chúng ta phải loại bỏ những chứng bệnh là bệnh nhóm và đã tràn vào rồi xuyên qua toàn thể nhân loại từ thế giới của mãnh lực dĩ thái, khiến con người theo một cách nào đó bị suy kiệt, hoặc bị kích thích quá mức, hoặc ở trong một tình trạng mà Cái Chết tự nhiên xảy đến. Có thể nêu như một khái quát căn bản rằng rắc rối thể xác cá nhân hiện nay có chỗ ngồi trong thể cảm dục, và vận cụ biểu lộ ấy là tác nhân khiến dễ mắc bệnh chủ yếu trong tình trạng sức khỏe kém của cá nhân, cũng như các chứng bệnh nhóm và làn sóng dịch bệnh đủ loại quét qua quần chúng được đặt nền trên một tình trạng nào đó trong chất liệu dĩ thái của hành tinh. Những bệnh có tính tổng quát, quốc gia, chủng tộc và hành tinh tìm đường đến một cá nhân qua thể dĩ thái của y, nhưng không mang hàm ý cá nhân nhiều đến thế. Về điều này tôi sẽ khai triển thêm sau. Hôm nay tôi chỉ nêu ra mệnh đề tổng quát.
I would also like to point out that the diseases for the masses, for the average citizen, for the intelligentsia, and for the disciples of the world may, and do, differ widely—not so much in their expression as in their field of expression. [26] This is a point most difficult for the average healer to recognise; it is not easy or possible for him to grasp these distinctions and to gauge the point in evolution which a man may have reached. Some diseases must be dealt with from the mental plane, and will call in the mind of the healer; others require a concentration of emotional energy by the healing agent; and again, in other cases, the healer should seek to be only a transmitter of pranic energy to the etheric body of the patient, via his own etheric body. How many healers are really consciously aware of the focus of the consciousness or the life force in the patient with whom they may be concerned? How many realise anything of the type of healing which it is possible and necessary to apply to a disciple? How few realise that no disciple, for instance, can place himself in the hands of the average magnetic healer or radiatory worker, or psychological expert of any kind! A disciple dare not subject himself to the auric emanations of any chance healer, nor put himself in the power of the inexperienced academic psychologist, no matter how prominent he may be. He may, however, subject himself to the wise skill of the physical plane physician or surgeon, as—for him—the physical body is but an automaton. He can therefore avail himself of physical means for its benefiting. Much of the failure of the healing methods at present employed consists in the inability of the healer to:
Tôi cũng muốn chỉ ra rằng các bệnh của quần chúng, của công dân trung bình, của giới trí thức, và của các đệ tử thế gian có thể, và thực sự, khác nhau rất nhiều—không phải nhiều ở biểu hiện của chúng cho bằng ở lĩnh vực biểu hiện của chúng. [26] Đây là một điểm mà người chữa lành trung bình rất khó nhận ra; đối với y, không dễ và cũng không thể nắm bắt những khác biệt này và đánh giá điểm tiến hoá mà một người có thể đã đạt tới. Một số bệnh phải được xử lý từ cõi trí, và sẽ đòi hỏi thể trí của người chữa lành; những bệnh khác đòi hỏi tác nhân chữa lành phải tập trung năng lượng cảm xúc; và trong những trường hợp khác nữa, người chữa lành chỉ nên tìm cách là một tác nhân truyền dẫn năng lượng prana đến thể dĩ thái của bệnh nhân, qua chính thể dĩ thái của mình. Có bao nhiêu người chữa lành thực sự có ý thức về tiêu điểm của tâm thức hay của sinh lực nơi bệnh nhân mà họ có thể đang quan tâm? Có bao nhiêu người nhận ra được điều gì đó về loại chữa lành có thể và cần phải áp dụng cho một đệ tử? Có quá ít người nhận ra rằng chẳng hạn, không một đệ tử nào có thể đặt mình vào tay người chữa lành từ tính trung bình hay người hoạt động bằng bức xạ, hoặc chuyên gia tâm lý thuộc bất kỳ loại nào! Một đệ tử không dám đặt mình dưới các phát xạ hào quang của bất kỳ người chữa lành ngẫu nhiên nào, cũng không đặt mình vào quyền lực của một nhà tâm lý học hàn lâm thiếu kinh nghiệm, bất kể ông ta nổi tiếng đến đâu. Tuy nhiên, y có thể đặt mình dưới kỹ năng minh triết của vị y sĩ hay phẫu thuật gia trên cõi hồng trần, vì—đối với y—thể xác chỉ là một cỗ máy tự động. Do đó y có thể sử dụng các phương tiện thể xác để làm lợi cho nó. Phần lớn sự thất bại của các phương pháp chữa lành hiện đang được sử dụng nằm ở chỗ người chữa lành không thể:
1. Gauge the extent of the trouble, where it may be located basically, and in what body it principally arises and lies.
1. Đánh giá mức độ của rắc rối, nơi nó có thể được định vị một cách căn bản, và trong thể nào nó chủ yếu phát sinh và nằm ở đó.
2. Know where the patient stands upon the ladder of evolution, and where, therefore, he must look first for the source of the difficulty.
2. Biết bệnh nhân đang đứng ở đâu trên nấc thang tiến hoá, và do đó trước hết phải tìm nguồn gốc của khó khăn ở đâu.
3. Differentiate between the diseases which are due to inner personal conditions, or to inherited tendencies, or to group distribution. [27]
3. Phân biệt giữa những bệnh do các tình trạng nội tại cá nhân, hay do các khuynh hướng di truyền, hay do sự phân phối của nhóm. [27]
4. To know whether the disease should be handled,
4. Biết liệu bệnh ấy nên được xử lý,
a. Allopathically or homeopathically, for both can play their part at times, or through any of the other media of modern skill and science.
a. Bằng đối chứng hay đồng căn, vì cả hai đôi khi đều có thể đóng vai trò của mình, hoặc qua bất kỳ phương tiện nào khác của kỹ năng và khoa học hiện đại.
b. Through radiation or magnetisation, or both.
b. Bằng bức xạ hay từ hóa, hoặc cả hai.
c. Through right inner psychological adjustment, aided by true insight on the part of the healing agent.
c. Bằng sự điều chỉnh tâm lý bên trong đúng đắn, được hỗ trợ bởi linh thị chân chính nơi tác nhân chữa lành.
d. Through calling in the power of a man’s own soul—a thing that is not possible except to advanced people.
d. Bằng cách kêu gọi quyền năng của chính linh hồn một người—điều này không thể thực hiện ngoại trừ đối với những người tiến bộ.
e. Through definite occult means, such as forming a healing triangle of—
e. Bằng những phương tiện huyền bí xác định, như hình thành một tam giác chữa lành gồm—
This method involves much knowledge and a high point of spiritual attainment on the part of the healer;—it also presupposes the healer’s link with a Master and the Master’s group, plus the earned right to call upon that group for energy on behalf of the patient—a thing as yet rarely granted.
Phương pháp này đòi hỏi nhiều tri thức và một điểm thành tựu tinh thần cao nơi người chữa lành; nó cũng giả định sự liên kết của người chữa lành với một Chân sư và nhóm của Chân sư, cộng với quyền đã được xứng đáng để kêu gọi nhóm ấy ban năng lượng thay cho bệnh nhân—một điều hiện nay hiếm khi được cho phép.
I would like first of all to point out that my purpose and intent is not to write a medical treatise. I shall not, therefore, deal with the anatomy of the body, nor shall I discuss the symptoms of diseases, except quite incidentally. I do not intend to elaborate symptoms or consider the many [28] diseases with long names which distinguish the race at this time; all such information you can gather from the ordinary textbooks, if you so choose, and these you can study, if you care to do so. I find it personally not particularly satisfying. We will start with the premise that there is disease; that disease is an effect of inner causes; that man has made as vast strides in the understanding of the effect of these causes as they produce changes in the outer garment of man, as science has made in the understanding of the outer garment of God, the world of phenomenal nature.
Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng mục đích và ý định của tôi không phải là viết một luận văn y học. Vì vậy, tôi sẽ không bàn đến giải phẫu của thể xác, cũng không thảo luận các triệu chứng của bệnh tật, ngoại trừ rất tình cờ. Tôi không có ý định khai triển các triệu chứng hay xem xét nhiều [28] bệnh có tên dài vốn phân biệt nhân loại vào thời điểm này; mọi thông tin như thế các bạn có thể thu thập từ các sách giáo khoa thông thường, nếu các bạn muốn, và các bạn có thể nghiên cứu chúng, nếu các bạn muốn làm như vậy. Cá nhân tôi thấy điều đó không đặc biệt thỏa đáng. Chúng ta sẽ bắt đầu với tiền đề rằng có bệnh tật; rằng bệnh tật là một hiệu quả của các nguyên nhân bên trong; rằng con người đã đạt được những bước tiến lớn lao trong việc hiểu hiệu quả của những nguyên nhân này khi chúng tạo ra những thay đổi trong chiếc áo khoác bên ngoài của con người, cũng như khoa học đã đạt được trong việc hiểu chiếc áo khoác bên ngoài của Thượng đế, tức thế giới của bản chất hiện tượng.
The ameliorative and palliative and curative work of medicine and surgery are proved beyond all controversial discussion. The methods employed, such as the vivisection of animals, may rightly cause distress. In spite of all this the indebtedness of mankind to the medical profession is great, and the service rendered to humanity by the profession does largely offset the evil. That they know not everything is true; that there is a small percentage of physicians and surgeons (less than in any other profession) who are self-seeking and no credit to their craft is equally true; that they already know enough to be willing to admit how very much more there is to be known is also correct. But that it is a great and good and self-sacrificing group within the human family, is equally true. Forget this not.
Công việc cải thiện, làm dịu và chữa trị của y học và phẫu thuật đã được chứng minh vượt ngoài mọi tranh luận. Những phương pháp được sử dụng, như mổ xẻ động vật sống, có thể đúng là gây đau lòng. Dù vậy, món nợ của nhân loại đối với ngành y là rất lớn, và sự phụng sự mà ngành này cống hiến cho nhân loại phần lớn hóa giải điều xấu. Đúng là họ không biết mọi sự; cũng đúng là có một tỷ lệ nhỏ các y sĩ và phẫu thuật gia (ít hơn bất kỳ ngành nghề nào khác) là những người vụ lợi và không đem lại danh dự cho nghề nghiệp của họ; cũng đúng là họ đã biết đủ để sẵn sàng thừa nhận còn biết bao điều nữa cần phải biết. Nhưng cũng đúng không kém rằng đó là một nhóm lớn lao, tốt đẹp và đầy tinh thần hi sinh trong gia đình nhân loại. Đừng quên điều này.
I deal with the subjective aspect of man, and with the secondary causes which have their roots in man’s inner bodies and in the subjective side of nature itself. The major primary causes, as I earlier explained, are impossible for you to grasp. They lie beyond the capacity of the concrete mind. I seek to make clear what man may do to free himself increasingly from the accumulation of the past, both individually and as a group, and in so doing to clear his physical body of the germs of disease. It must, however, be borne in mind that many diseases are of a group [29] nature, and are consequently inherent in humanity itself. Just as the insect world devastates and destroys the vegetable kingdom, as any chance walker through the woods can note, so germs—individual and group—today devastate and destroy the human kingdom. They are agents of destruction and are performing a definite office and duty in the great scheme of things at present.
Tôi bàn đến phương diện chủ quan của con người, và đến các nguyên nhân thứ yếu có gốc rễ trong các thể bên trong của con người và trong chính phương diện chủ quan của bản chất. Những nguyên nhân sơ cấp lớn lao, như tôi đã giải thích trước đây, là điều các bạn không thể nắm bắt. Chúng nằm ngoài khả năng của trí cụ thể. Tôi tìm cách làm sáng tỏ điều con người có thể làm để ngày càng giải thoát mình khỏi sự tích lũy của quá khứ, cả với tư cách cá nhân lẫn nhóm, và khi làm như vậy thì thanh lọc thể xác của mình khỏi các mầm bệnh. Tuy nhiên, phải ghi nhớ rằng nhiều bệnh có bản chất [29] nhóm, và do đó vốn cố hữu trong chính nhân loại. Cũng như thế giới côn trùng tàn phá và hủy diệt giới thực vật, như bất kỳ người đi bộ nào trong rừng cũng có thể nhận thấy, thì các mầm bệnh—cá nhân và nhóm—ngày nay cũng tàn phá và hủy diệt giới nhân loại. Chúng là những tác nhân hủy diệt và hiện đang thực hiện một chức năng và bổn phận xác định trong đại kế hoạch của vạn vật.
The intent is for men to die, as every man has to die, at the demand of this own soul. When man has reached a higher stage in evolution, with deliberation and definite choice of time, he will consciously withdraw from his physical body. It will be left silent and empty of the soul; devoid of light, yet sound and whole: it will then disintegrate, under the natural process, and its constituent atoms will pass back into “the pool of waiting units,” until they are again required for the use of incarnating souls. Again, on the subjective side of life, the process is repeated, but many have already learnt to withdraw from the astral body without being subject to that “impact in the fog,” which is the symbolic way of describing the death of a man upon the astral plane. He then withdraws on to the mental level, and leaves his astral carcass to swell the fog and increase its density.
Mục đích là để con người chết, như mọi người đều phải chết, theo đòi hỏi của chính linh hồn mình. Khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cao hơn, với sự cân nhắc và lựa chọn thời điểm rõ ràng, y sẽ có ý thức rút ra khỏi thể xác của mình. Thể xác ấy sẽ được để lại im lặng và trống rỗng linh hồn; không còn ánh sáng, nhưng vẫn lành lặn và nguyên vẹn: khi đó nó sẽ tan rã theo tiến trình tự nhiên, và các nguyên tử cấu thành của nó sẽ quay trở lại “hồ các đơn vị đang chờ đợi,” cho đến khi chúng lại được cần đến để các linh hồn nhập thể sử dụng. Một lần nữa, ở phương diện chủ quan của sự sống, tiến trình ấy được lặp lại, nhưng nhiều người đã học được cách rút ra khỏi thể cảm dục mà không phải chịu “cú va chạm trong sương mù,” là cách biểu tượng để mô tả cái chết của một người trên cõi cảm dục. Khi đó y rút lên cấp độ trí tuệ, và để lại xác cảm dục của mình làm dày thêm sương mù và tăng mật độ của nó.
I seek to point out, therefore, that my avoidance of medical technicalities will be deliberate, though we shall refer often to the physical body and to the diseases of which it is a prey.
Vì vậy, tôi tìm cách chỉ ra rằng việc tôi tránh các thuật ngữ y học sẽ là có chủ ý, dù chúng ta sẽ thường xuyên đề cập đến thể xác và những bệnh mà nó là nạn nhân.
Secondly, I seek today to give you another of the Laws of Healing, as well as one of the Rules for the Healer. Study these with care.
Thứ hai, hôm nay tôi tìm cách trao cho các bạn một Định luật Chữa Lành khác, cũng như một trong các Quy luật dành cho Người Chữa Lành. Hãy nghiên cứu chúng cẩn thận.
LAW II
ĐỊNH LUẬT II
Disease is the Product of, and subject to, three influences. First, a man’s past, wherein he pays the price of [30] ancient error. Second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin. Thirdly, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called “The Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to that new Law of Ancient Dominating Good which lies behind all that God made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.
Bệnh tật là sản phẩm của, và chịu sự chi phối của, ba ảnh hưởng. Thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho [30] những sai lầm cổ xưa. Thứ hai, di sản của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm. Thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày nào đó nó phải nhường chỗ cho Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi Phối, vốn nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.
What is a law, my brother? It is the imposition (upon both the lesser and the more important) of the will and purpose of that which is superlatively great. Therefore, it lies beyond man’s ken. Man has some day to learn that all the laws of nature have their higher, spiritual counterparts, and of these we shall shortly be in search. Our laws today are but secondary laws. They are the laws of group life and they govern the kingdoms of nature and find their expression (for the human kingdom) through the medium of the mind, of the emotional nature, and through a physical plane agent. It is not my intention in this present short treatise to elucidate the primary laws. I but state them, and at a future time (dependent upon certain factors yet undeveloped) I may deal with them.
Huynh đệ của Tôi, định luật là gì? Đó là sự áp đặt (lên cả cái nhỏ hơn lẫn cái quan trọng hơn) ý chí và mục đích của cái gì đó siêu việt lớn lao. Vì vậy, nó nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Một ngày nào đó con người phải học rằng mọi định luật của bản chất đều có các đối phần cao hơn, tinh thần của chúng, và chúng ta sẽ sớm đi tìm những đối phần ấy. Các định luật của chúng ta ngày nay chỉ là những định luật thứ yếu. Chúng là những định luật của đời sống nhóm và chúng chi phối các giới trong thiên nhiên và tìm thấy biểu hiện của chúng (đối với giới nhân loại) qua trung gian của trí tuệ, của bản chất cảm xúc, và qua một tác nhân trên cõi hồng trần. Trong luận văn ngắn hiện tại này, tôi không có ý định làm sáng tỏ các định luật sơ cấp. Tôi chỉ nêu chúng ra, và vào một thời điểm tương lai (tùy thuộc vào một số yếu tố còn chưa phát triển) tôi có thể bàn đến chúng.
In this treatise, the third part of it is stated to deal with the basic laws of Healing. These deal not with the Laws referred to above, but with the practical aspects of the healing art.
Trong luận văn này, phần thứ ba của nó được nói là sẽ bàn đến các định luật căn bản của Chữa Lành. Những định luật này không bàn đến các Định luật được nhắc ở trên, mà bàn đến các phương diện thực tiễn của nghệ thuật chữa lành.
The second rule for the healer is as follows:
Quy luật thứ hai dành cho người chữa lành như sau:
RULE TWO
QUY LUẬT HAI
The healer must achieve magnetic purity through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation too goes forth. [31]
Người chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được bức xạ xua tan ấy, vốn biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi từ trường này được thiết lập, bức xạ cũng phát ra. [31]
The significance of this will be somewhat apparent to the advanced esoteric student. As you know, the magnetic field is established when the powerful vibration of the centre in front of the pituitary body, and the centre around and above the pineal gland, swing into each other’s orbit. The only controversial point in connection with the above rule (which we shall have later to consider) is how and in what manner magnetic purity is to be achieved, and how the two centres in the head can form together one magnetic field. Later, in our conclusion, which is intended to be intensely practical, I will touch upon these two points.
Ý nghĩa của điều này sẽ phần nào hiển nhiên đối với đạo sinh nội môn tiến bộ. Như các bạn biết, từ trường được thiết lập khi rung động mạnh mẽ của trung tâm ở phía trước thể tuyến yên, và trung tâm ở quanh và phía trên tuyến tùng quả, đi vào quỹ đạo của nhau. Điểm duy nhất còn có thể tranh luận liên quan đến quy luật trên (mà sau này chúng ta sẽ phải xem xét) là làm thế nào và bằng cách nào sự thanh khiết từ tính được đạt tới, và làm thế nào hai trung tâm trong đầu có thể cùng nhau tạo thành một từ trường. Sau này, trong phần kết luận của chúng ta, vốn được dự định là hết sức thực tiễn, tôi sẽ đề cập đến hai điểm này.
One of the things which should definitely emerge in our studies is the fact that disease is seldom of individual origin, unless a man misspends his life and definitely misuses his body (through drink or sexual dissipation), and that the bulk of the disease to be found in the world today is almost entirely of group origin, is inherited, is the result of infection, or the result of undernourishment. The last named cause is primarily an evil of civilisation; it is the result of economic maladjustment or the corruption of food. As I earlier pointed out, these latter causes of disease are not primarily the result of inner subtle forces, but are the pouring upwards, into the etheric body, of energies from the physical plane itself and from the outer world of forces.
Một trong những điều chắc chắn phải nổi lên trong quá trình nghiên cứu của chúng ta là sự kiện rằng bệnh tật hiếm khi có nguồn gốc cá nhân, trừ phi một người phung phí đời mình và rõ ràng lạm dụng thể xác của mình (qua rượu chè hay phóng túng tình dục), và rằng phần lớn bệnh tật hiện thấy trên thế giới ngày nay hầu như hoàn toàn có nguồn gốc nhóm, là di truyền, là kết quả của sự lây nhiễm, hoặc là kết quả của suy dinh dưỡng. Nguyên nhân được nêu sau cùng chủ yếu là một điều ác của nền văn minh; nó là kết quả của sự mất điều chỉnh kinh tế hoặc của thực phẩm bị hư hỏng. Như tôi đã chỉ ra trước đây, những nguyên nhân bệnh tật sau này không chủ yếu là kết quả của các mãnh lực vi tế bên trong, mà là sự tuôn lên, vào thể dĩ thái, của các năng lượng từ chính cõi hồng trần và từ thế giới bên ngoài của các mãnh lực.
Little attention has been paid by occult teachers to these forces which come from without, which originate upon the physical plane, and which affect the inner bodies. There are physical energy and streams of force entering into the etheric bodies of all forms, just as the world illusion and the miasmas of the astral plane oft have their causes in physical plane conditions. The energies entering into the centres of man from the subtler levels have oft been considered in occult books, but the forces which find their way into the centres from the world of physical plane life [32] are seldom realised or discussed. This is a somewhat new thought which I offer for your consideration.
Các huấn sư huyền bí học ít chú ý đến những mãnh lực đến từ bên ngoài, bắt nguồn trên cõi hồng trần, và ảnh hưởng đến các thể bên trong. Có những năng lượng hồng trần và những dòng mãnh lực đi vào các thể dĩ thái của mọi hình tướng, cũng như ảo tưởng thế gian và những chướng khí của cõi cảm dục thường có nguyên nhân trong các điều kiện của cõi hồng trần. Các năng lượng đi vào các trung tâm của con người từ các cấp độ vi tế hơn thường đã được xét đến trong các sách huyền bí học, nhưng những mãnh lực tìm đường vào các trung tâm từ thế giới của đời sống cõi hồng trần [32] thì hiếm khi được nhận ra hay thảo luận. Đây là một ý tưởng phần nào mới mẻ mà tôi đưa ra để các bạn suy xét.
I have asked A.A.B. to insert a very brief synopsis of some of the points I have already made under the heading, What is Disease? I suggest the following:
Tôi đã yêu cầu A.A.B. chèn vào đây một bản tóm lược rất ngắn về một số điểm tôi đã nêu dưới đề mục, Bệnh Tật là gì? Tôi gợi ý như sau:
1. All disease is disharmony and lack of alignment and control.
1. Mọi bệnh tật đều là sự bất hòa và thiếu chỉnh hợp cùng kiểm soát.
a. Disease is found in all the four kingdoms in nature.
a. Bệnh tật được tìm thấy trong cả bốn giới trong thiên nhiên.
b. Disease is purificatory in effect.
b. Bệnh tật có tác dụng thanh lọc.
c. Definite methods of healing are peculiar to humanity, and mental in origin.
c. Những phương pháp chữa lành xác định là đặc thù của nhân loại, và có nguồn gốc trí tuệ.
2. Disease is a fact in nature.
2. Bệnh tật là một sự kiện trong thiên nhiên.
a. Antagonism to disease simply energises it.
a. Sự đối kháng với bệnh tật chỉ tiếp năng lượng cho nó.
b. Disease is not the result of wrong human thought.
b. Bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người.
3. Disease is a process of liberation and the enemy of that which is static.
3. Bệnh tật là một tiến trình giải thoát và là kẻ thù của cái gì tĩnh tại.
4. The law of cause and effect governs disease as it governs all else in manifestation.
4. Định luật nhân quả chi phối bệnh tật cũng như nó chi phối mọi điều khác trong biểu hiện.
We found also that healing is brought about in three ways:
Chúng ta cũng đã thấy rằng sự chữa lành được thực hiện theo ba cách:
1. Through the application of the methods of the many schools of medicine and surgery, and allied groups.
1. Qua việc áp dụng các phương pháp của nhiều trường phái y học và phẫu thuật, cùng các nhóm liên hệ.
2. Through the use of psychology.
2. Qua việc sử dụng tâm lý học.
3. Through the activity of the soul.
3. Qua hoạt động của linh hồn.
I have also stated that the major causes of disease are three in number: they are psychological in nature; they are inherited through group contact; and they are karmic. Remember, however, that these are the secondary causes and with the first of these we will now deal.
Tôi cũng đã nói rằng các nguyên nhân chính của bệnh tật có ba loại: chúng có bản chất tâm lý; chúng được thừa hưởng qua tiếp xúc nhóm; và chúng có tính nghiệp quả. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng đây là những nguyên nhân thứ yếu và giờ đây chúng ta sẽ bàn đến nguyên nhân thứ nhất trong số đó.
1. CAUSES ARISING IN THE EMOTIONAL-DESIRE NATURE — 1. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG BẢN CHẤT CẢM XÚC-HAM MUỐN
[33]
[33]
In A Treatise on White Magic, I gave the world for the first time information as to the nature and the control of the astral body. This book is practically the first one ever given out to the public on this theme. Much has been given in the past on the subject of the physical body and its care, both by exoteric and esoteric science. Much of it is true, and some of it is illusion. It is illusion because it is based on false premises. Modern esotericists have dealt with the subject of the etheric body, and this too has been partially true and partially false, but it is more generally true from the occult point of view than it is exoterically. I may surprise you here if I tell you that A Treatise on White Magic is also true as far as it goes, but it is necessarily limited, and because of these limitations it is also partially incorrect. Does the above statement astonish you? Remember, how can it be entirely true when we consider the limitations of your power to comprehend? It is impossible for me to convey to you the truth, because there exist neither the terminology nor an adequate groundwork of knowledge on your part. This makes my task difficult. This teaching on healing is likewise the hardest I have yet undertaken, and this for two reasons. First (the real nature of) the phrase “subtler bodies” is somewhat meaningless, is it not? They are not bodies like the physical body. They can be regarded as centres or reservoirs of particular types of force, attached to each individual, and possessing their proper inlets and outlets. They are collections of atoms, vibrating at high speed and coloured (according to some schools of occultism) by certain definite hues; they emit a certain tone, and are at varying points of evolution. According to others, they are states of consciousness and some regard them as made in the likeness of a man. What is your definition, Brother of mine?
Trong Luận về Chánh Thuật, lần đầu tiên tôi đã cung cấp cho thế giới thông tin về bản chất và sự kiểm soát của thể cảm dục. Cuốn sách này thực tế là cuốn đầu tiên từng được công bố cho công chúng về chủ đề này. Trong quá khứ, nhiều điều đã được đưa ra về chủ đề thể xác và sự chăm sóc nó, bởi cả khoa học ngoại môn lẫn nội môn. Phần lớn trong đó là đúng, và một phần là ảo tưởng. Nó là ảo tưởng vì nó dựa trên những tiền đề sai lầm. Các nhà bí truyền học hiện đại đã bàn đến chủ đề thể dĩ thái, và điều này cũng phần nào đúng và phần nào sai, nhưng từ quan điểm huyền bí học thì nó nhìn chung đúng hơn là từ quan điểm ngoại môn. Ở đây tôi có thể làm các bạn ngạc nhiên nếu tôi nói với các bạn rằng Luận về Chánh Thuật cũng đúng trong chừng mực của nó, nhưng tất yếu là có giới hạn, và vì những giới hạn ấy nên nó cũng phần nào không chính xác. Lời phát biểu trên có làm các bạn ngạc nhiên không? Hãy nhớ, làm sao nó có thể hoàn toàn đúng khi chúng ta xét đến những giới hạn trong năng lực lĩnh hội của các bạn? Tôi không thể truyền đạt chân lý cho các bạn, vì không có sẵn thuật ngữ cũng như nền tảng tri thức đầy đủ nơi các bạn. Điều này làm cho nhiệm vụ của tôi trở nên khó khăn. Giáo huấn này về chữa lành cũng là công việc khó nhất mà tôi từng đảm nhận, và điều này vì hai lý do. Thứ nhất, cụm từ “các thể vi tế” (bản chất thực sự của nó) có phần vô nghĩa, phải không? Chúng không phải là những thể như thể xác. Chúng có thể được xem như những trung tâm hay những bể chứa của các loại mãnh lực đặc thù, gắn với mỗi cá nhân, và có những lối vào và lối ra thích hợp của chúng. Chúng là những tập hợp nguyên tử, rung động với tốc độ cao và được tô màu (theo một số trường phái huyền bí học) bằng những sắc thái xác định; chúng phát ra một âm điệu nhất định, và ở những điểm tiến hoá khác nhau. Theo những người khác, chúng là những trạng thái tâm thức và có người xem chúng được tạo ra theo hình dáng của một con người. Định nghĩa của bạn là gì, Huynh Đệ của tôi?
[34]
[34]
The astral body is, for the majority of mankind, the major determining factor to be considered. It is an outstanding cause of ill health. The reason for this is that it has a potent and predisposing effect upon the vital and etheric body. The physical body is an automaton of whichever inner body is the strongest. When you remember that the vital body is the recipient of the streams of energy, and is in fact composed and formed of such streams, and that the physical body is driven into activity by these streams, it is apparent that that stream which is the most potent is the one which will control the action of the physical body upon the physical plane. There are, however, two streams of energy which must be considered in studying the factors leading to physical plane actions. I would remind you in this connection that disease is an activity of the physical plane.
Thể cảm dục, đối với đa số nhân loại, là yếu tố quyết định chủ yếu cần được xét đến. Nó là một nguyên nhân nổi bật của tình trạng sức khỏe kém. Lý do là vì nó có một tác động mạnh mẽ và tạo khuynh hướng lên thể sinh lực và thể dĩ thái. Thể xác là một bộ máy tự động của bất cứ thể nội tại nào mạnh nhất. Khi bạn nhớ rằng thể sinh lực là cơ quan tiếp nhận các dòng năng lượng, và thực ra được cấu tạo và hình thành từ các dòng ấy, và rằng thể xác được thúc đẩy vào hoạt động bởi các dòng này, thì hiển nhiên là dòng nào mạnh nhất sẽ là dòng kiểm soát hoạt động của thể xác trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, có hai dòng năng lượng phải được xét đến khi nghiên cứu các yếu tố dẫn đến những hành động trên cõi hồng trần. Tôi muốn nhắc bạn trong mối liên hệ này rằng bệnh tật là một hoạt động của cõi hồng trần.
1. The stream of life itself, anchored in the heart, which determines the vitality of the man, his capacity for work, and the term of his existence.
1. Chính dòng sự sống, được neo trong tim, quyết định sinh lực của con người, khả năng làm việc của y, và thời hạn tồn tại của y.
2. The predominating stream of energy coming from the astral, mental or soul bodies. These control his expression upon the physical plane.
2. Dòng năng lượng trội hơn đến từ thể cảm dục, thể trí hoặc thể linh hồn. Các dòng này kiểm soát sự biểu hiện của y trên cõi hồng trần.
With the masses of people throughout the world, and those whom we call the vast unthinking public, the dominating factors are the stream of life and the stream of astral or desire energy. This can be either of a low or medium calibre.
Đối với quần chúng trên khắp thế giới, và những người mà chúng ta gọi là công chúng đông đảo không suy tư, các yếu tố chi phối là dòng sự sống và dòng năng lượng cảm dục hay dục vọng. Dòng này có thể thuộc phẩm cấp thấp hoặc trung bình.
With the thinking public, the dominating factors are these two streams, plus a steady inflowing and increasing tide of mental energy.
Đối với công chúng biết suy nghĩ, các yếu tố chi phối là hai dòng này, cộng thêm một làn sóng năng lượng trí tuệ đều đặn tuôn vào và ngày càng gia tăng.
With the intelligentsia of the world and the aspirant (those ready for, or already on, the probationary path) [35] we find the above three streams reaching a point of equilibrium, and thus producing an integrating or coordinating personality. These number amongst them also the mystics of the world and the creative workers, who are conscious of the inspiration and the spiritual contact which indicates a beginning of the inflow of soul energy.
Đối với giới trí thức của thế giới và người chí nguyện (những người đã sẵn sàng cho, hoặc đã ở trên, Con Đường Dự Bị) [35] chúng ta thấy ba dòng trên đạt đến một điểm quân bình, và do đó tạo ra một phàm ngã tích hợp hay phối hợp. Trong số họ cũng có các nhà thần bí của thế giới và những người hoạt động sáng tạo, những người có ý thức về cảm hứng và sự tiếp xúc tinh thần, điều cho thấy sự khởi đầu của dòng năng lượng linh hồn tuôn vào.
With the disciples of the world, we find a group of men and women coming under the control of soul energy, whilst the other three energies are being increasingly subordinated to this higher type of control.
Đối với các đệ tử của thế giới, chúng ta thấy một nhóm những người nam và nữ đang chịu sự kiểm soát của năng lượng linh hồn, trong khi ba năng lượng kia ngày càng bị đặt dưới loại kiểm soát cao hơn này.
It should be borne in mind that there are two other types of energy with which to reckon, when considering intelligent man.
Cần ghi nhớ rằng còn có hai loại năng lượng khác phải được tính đến khi xét con người thông minh.
1. The energy which is composed of the fused and blended forces of a coordinated personality.
1. Năng lượng được cấu thành từ các mãnh lực dung hợp và hòa trộn của một phàm ngã phối hợp.
2. The energy of the physical plane itself, which is finally identified by the aspirant or disciple, and becomes so utterly negated that eventually it constitutes one of the major factors in the release of the centres.
2. Năng lượng của chính cõi hồng trần, cuối cùng được người chí nguyện hay đệ tử đồng hoá với, và trở nên bị phủ định hoàn toàn đến nỗi rốt cuộc nó cấu thành một trong những yếu tố chủ yếu trong sự giải phóng các trung tâm.
Finally the time comes when the initiate works simply with three types of energy whilst expressing himself in incarnation: the energy of life itself, the negative energy of the personality, and the positive energy of the soul. Thus he is an expression in conscious manifestation of the three aspects of the Trinity.
Cuối cùng, thời điểm đến khi điểm đạo đồ chỉ làm việc với ba loại năng lượng trong khi biểu hiện chính mình đang lâm phàm: năng lượng của chính sự sống, năng lượng âm của phàm ngã, và năng lượng dương của linh hồn. Như vậy y là một biểu hiện trong sự hiển lộ có ý thức của ba phương diện của Ba Ngôi/Tam Vị.
Certain things should be established as occult facts in the consciousness of the healer before he is able to work constructively.
Một số điều cần được xác lập như những sự kiện huyền bí trong tâm thức của nhà chữa lành trước khi y có thể làm việc một cách xây dựng.
1. First of all, that there is nothing but energy and this energy manifests itself as many differing and varying [36] energies. Of these many energies, the universe is composed. Likewise man’s bodies or vehicles of manifestation are without exception constituted of energy units. These we call atoms, and these atomic units are held together in body form by the coherent force of more potent energies.
1. Trước hết, không có gì ngoài năng lượng và năng lượng này biểu hiện thành nhiều năng lượng khác nhau và biến thiên [36]. Vũ trụ được cấu thành từ nhiều năng lượng ấy. Tương tự như vậy, các thể hay vận cụ biểu hiện của con người, không ngoại lệ, đều được cấu thành từ các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi chúng là các nguyên tử, và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau trong hình thể nhờ mãnh lực cố kết của những năng lượng mạnh hơn.
2. The major focal point of energy to be found in human beings is that of the soul, but its potency as an agent of cohesion and of integration is as yet greater than its quality potency. In the earlier stages of human evolution, it is the coherence aspect that demonstrates. Later as man’s response apparatus, or bodies, becomes more developed, the quality aspect of the soul begins to demonstrate increasingly.
2. Tiêu điểm năng lượng chủ yếu được tìm thấy nơi con người là linh hồn, nhưng tiềm lực của nó như một tác nhân của sự cố kết và của sự tích hợp hiện vẫn lớn hơn tiềm lực phẩm tính của nó. Trong các giai đoạn đầu của tiến hoá nhân loại, chính phương diện cố kết biểu lộ. Về sau, khi bộ máy đáp ứng của con người, hay các thể của y, trở nên phát triển hơn, phương diện phẩm tính của linh hồn bắt đầu biểu lộ ngày càng nhiều.
3. Seen from the inner side where time is not, the human creature demonstrates as an amazing kaleidoscopic mutable phenomenon. Bodies, so called, or rather aggregates of atomic units, fade out and disappear, or flash again into manifestation. Streams of colours pass and repass; they twine or intertwine. Certain areas will then suddenly intensify their brightness and blaze forth with brilliance; or again they can be seen dying out and the phenomenon in certain areas will be colourless and apparently non-existent. But always there is a persistent over-shadowing light, from which a stream of lights pours down into the phenomenal man; this can be seen attaching itself in two major localities to the dense inner core of the physical man. These two points of attachment are to be found in the head and in the heart. There can also be seen, dimly at first but with increasing brightness, seven other pale disks of light which are the early evidence of the seven centres. [37]
3. Nhìn từ mặt bên trong, nơi không có thời gian, tạo vật con người biểu lộ như một hiện tượng biến đổi kỳ diệu, giống kính vạn hoa. Những cái gọi là các thể, hay đúng hơn là những tập hợp các đơn vị nguyên tử, mờ dần rồi biến mất, hoặc lại lóe lên vào sự biểu hiện. Những dòng màu sắc qua lại không ngừng; chúng quấn vào nhau hay đan xen nhau. Khi ấy, một số khu vực bỗng tăng cường độ sáng và bừng cháy rực rỡ; hoặc ngược lại, có thể thấy chúng tắt dần và hiện tượng ở một số khu vực trở nên không màu và dường như không hiện hữu. Nhưng luôn luôn có một ánh sáng phủ bóng bền bỉ, từ đó một dòng ánh sáng tuôn xuống con người hiện tượng; có thể thấy nó gắn vào lõi nội tại đậm đặc của con người hồng trần tại hai vị trí chính. Hai điểm gắn kết này nằm ở đầu và ở tim. Cũng có thể thấy, lúc đầu mờ nhạt nhưng ngày càng sáng hơn, bảy đĩa ánh sáng nhạt khác, là bằng chứng ban đầu của bảy trung tâm. [37]