4. These centres, which constitute the quality aspects and the consciousness aspects, and whose function it is to colour the appearance or outer expression of man and use it as a response apparatus, are (during the evolutionary process) subject to three types of unfoldment.
4. Các trung tâm này, vốn cấu thành các phương diện phẩm tính và các phương diện tâm thức, và có chức năng tô màu cho sắc tướng hay biểu hiện bên ngoài của con người và dùng nó như một bộ máy đáp ứng, thì (trong tiến trình tiến hoá) chịu ba loại khai mở.
a. That unfoldment which takes place as a physical plane child grows from an infant to a man. By the time he is twenty-one, the centres should normally have reached the same quality of expression as they had attained when he passed out of life in a previous incarnation. The man then takes up life where he had previously left it off.
a. Sự khai mở diễn ra khi một đứa trẻ trên cõi hồng trần lớn lên từ trẻ sơ sinh thành người trưởng thành. Vào lúc y hai mươi mốt tuổi, các trung tâm thông thường phải đạt đến cùng phẩm tính biểu hiện như chúng đã đạt được khi y rời bỏ sự sống trong một lần nhập thể trước. Khi ấy con người tiếp tục sự sống tại chỗ trước đây y đã dừng lại.
b. The awakening of the centres through life experience. Occasionally only one centre may be dealt with in any one life; sometimes several are brought into greater functioning consciousness.
b. Sự thức tỉnh các trung tâm qua kinh nghiệm sống. Đôi khi chỉ một trung tâm được đề cập đến trong một đời sống; đôi khi vài trung tâm được đưa vào tâm thức hoạt động lớn hơn.
c. There is, finally, the awakening of these centres through the process of initiation. This of course only happens when the man is consciously upon the Path.
c. Cuối cùng là sự thức tỉnh các trung tâm này qua tiến trình điểm đạo. Dĩ nhiên điều này chỉ xảy ra khi con người có ý thức ở trên Con Đường.
5. The centres determine the man’s point of evolution as far as his phenomenal expression is concerned; they work directly upon the physical body through the medium [38] of the endocrine system. This point should be borne in mind, for the future occult healer will approach his patient with this knowledge. He will then work through those centres and glands which govern the particular area of the body wherein the disease or discomfort is located. The time, however, for this has not yet come, for man’s ignorance is great. Over-stimulation of the centres, and consequently of the glands, could easily be brought about, and the diseased condition might be stimulated also and increased, instead of dissipated or healed.
5. Các trung tâm quyết định điểm tiến hoá của con người xét theo biểu hiện hiện tượng của y; chúng tác động trực tiếp lên thể xác qua trung gian [38] của hệ nội tiết. Điểm này cần được ghi nhớ, vì nhà chữa lành huyền bí trong tương lai sẽ tiếp cận bệnh nhân của mình với tri thức này. Khi ấy y sẽ làm việc qua những trung tâm và tuyến kiểm soát khu vực đặc thù của cơ thể nơi bệnh tật hay sự khó chịu tọa lạc. Tuy nhiên, thời điểm cho việc này vẫn chưa đến, vì sự vô minh của con người còn lớn. Sự kích thích quá mức các trung tâm, và do đó các tuyến, có thể dễ dàng bị gây ra, và tình trạng bệnh cũng có thể bị kích thích và gia tăng, thay vì được làm tiêu tan hay chữa lành.
A. Uncontrolled and Ill-Regulated Emotion.
A. Cảm xúc không được kiểm soát và điều hòa kém.
Given these basic facts, it can be seen how wrong emotional attitudes and a general unhealthy condition of the astral body must be potent factors in producing discomfort and disease. This is due to the fact that the vital or etheric bodies of the masses of humanity are governed primarily and swept into activity through the action of the astral body. Agitation in that body, any violent activity under stress of temper, intense worry or prolonged irritation will pour a stream of astral energy into and through the solar plexus centre, and will galvanise that centre into a condition of intense disturbance. This next affects the stomach, the pancreas, the gall duct and bladder. Few people (and I might well ask who is exempt at this particular time in the world’s history) are free from indigestion, from undesirable gastric conditions, or from trouble connected with the gall bladder.
Với những sự kiện căn bản này, có thể thấy những thái độ cảm xúc sai lầm và tình trạng không lành mạnh nói chung của thể cảm dục hẳn phải là những yếu tố mạnh mẽ gây ra sự khó chịu và bệnh tật. Điều này là do thể sinh lực hay thể dĩ thái của quần chúng nhân loại chủ yếu bị chi phối và bị cuốn vào hoạt động qua tác động của thể cảm dục. Sự kích động trong thể ấy, bất kỳ hoạt động dữ dội nào dưới áp lực của nóng giận, lo âu mãnh liệt hay bực bội kéo dài sẽ tuôn một dòng năng lượng cảm dục vào và xuyên qua trung tâm tùng thái dương, và sẽ kích hoạt trung tâm đó vào một trạng thái xáo trộn dữ dội. Điều này tiếp theo ảnh hưởng đến dạ dày, tuyến tụy, ống mật và túi mật. Ít người nào (và tôi hoàn toàn có thể hỏi ai là người được miễn trừ vào thời điểm đặc biệt này trong lịch sử thế giới) thoát khỏi chứng khó tiêu, khỏi những tình trạng dạ dày không mong muốn, hay khỏi những rắc rối liên quan đến túi mật.
The tendency to criticism, to violent dislikes, and to hatreds based on criticism or a superiority complex, produces much of the acidity from which the majority of people suffer. I would like to add in passing that I am here generalising. So many people are prone to an inferiority complex [39] in relation to themselves, but to a superiority complex where their relation to other people is concerned! Stomachic physical plane effects are closely tied up with the desire aspect of the physical body, which finds expression in the eating and drinking of that which is desired, leading subsequently to those attacks of biliousness to which so many are prone.
Khuynh hướng chỉ trích, những ác cảm dữ dội, và những hận thù dựa trên sự chỉ trích hay mặc cảm tự cao tạo ra phần lớn chứng tăng axit mà đa số người ta phải chịu. Nhân tiện tôi muốn nói thêm rằng ở đây tôi đang khái quát hóa. Rất nhiều người có xu hướng mắc mặc cảm tự ti [39] đối với chính mình, nhưng lại mắc mặc cảm tự cao trong mối quan hệ với người khác! Những hậu quả nơi dạ dày trên cõi hồng trần gắn chặt với phương diện dục vọng của thể xác, vốn tìm thấy sự biểu hiện trong việc ăn uống những gì mình ham muốn, rồi sau đó dẫn đến những cơn rối loạn mật mà rất nhiều người dễ mắc phải.
I offer these above illustrations to demonstrate the effect of the prevalent wrong attitudes to life and people which today distinguish mankind and produce the above mentioned conditions.
Tôi đưa ra những minh họa trên để chứng minh tác động của những thái độ sai lầm phổ biến đối với sự sống và con người, những điều ngày nay phân biệt nhân loại và tạo ra các tình trạng đã nêu trên.
The ills which are based on criticism, upon hatred, and upon the capacity to judge each other (usually unkindly) work through from the throat centre to the solar plexus. This inter-relation existing between the centres is one that has never been properly considered. The centres in the etheric body pass varying kinds of energies amongst themselves, and a great deal of the energy transmitted from one centre to another is undesirable, flowing from the centres below the diaphragm to those above.
Những bệnh tật dựa trên sự chỉ trích, trên hận thù, và trên khả năng phán xét lẫn nhau (thường là thiếu thiện ý) tác động từ trung tâm cổ họng xuống tùng thái dương. Mối tương quan hiện hữu giữa các trung tâm này là điều chưa bao giờ được xem xét đúng mức. Các trung tâm trong thể dĩ thái truyền qua lại giữa chúng nhiều loại năng lượng khác nhau, và rất nhiều năng lượng được truyền từ trung tâm này sang trung tâm khác là không mong muốn, chảy từ các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm phía trên.
The physical body (etheric and dense) can be pictured as a house with two telephonic installations—one bringing in energies from without the house and the other being in the nature of a house telephone from room to room. The analogy is far more accurate than appears to the casual thinker. In every modern house, light and water and gas and telephonic interchange are brought. Light, the symbol of the soul; water, the symbol of the emotions; telephonic interchange, the symbol of mind with its intercommunication of knowledges; and gas, the symbol of the etheric nature.
Thể xác (dĩ thái và đậm đặc) có thể được hình dung như một ngôi nhà với hai hệ thống điện thoại—một hệ thống đưa năng lượng từ bên ngoài ngôi nhà vào và hệ thống kia có tính chất như điện thoại nội bộ từ phòng này sang phòng khác. Sự tương đồng này chính xác hơn nhiều so với điều mà người suy nghĩ hời hợt nhận ra. Trong mọi ngôi nhà hiện đại, ánh sáng, nước, khí đốt và sự liên lạc điện thoại đều được đưa vào. Ánh sáng, biểu tượng của linh hồn; nước, biểu tượng của cảm xúc; sự liên lạc điện thoại, biểu tượng của trí tuệ với sự truyền thông tri thức của nó; và khí đốt, biểu tượng của bản chất dĩ thái.
It is interesting and saddening to note that that which at present goes out of the average house is the refuse that is undesirable—this is the correspondence to that which is [40] selfish and sad and the demand for the satisfaction of personal needs and desires.
Thật thú vị mà cũng đáng buồn khi lưu ý rằng điều hiện nay đi ra khỏi ngôi nhà trung bình là rác thải không mong muốn—đây là sự tương ứng với điều [40] ích kỷ và buồn bã cùng với đòi hỏi thỏa mãn các nhu cầu và dục vọng cá nhân.
It can be seen, therefore, why I have so emphatically impressed the need of harmlessness upon all of you, for it is the scientific method, par excellence and esoterically speaking, of cleaning house and of purifying the centres. Its practice clears the clogged channels and permits the entrance of the higher energies.
Do đó có thể thấy vì sao tôi đã nhấn mạnh mạnh mẽ đến nhu cầu về tính vô tổn hại nơi tất cả các bạn, vì đó là phương pháp khoa học, tuyệt hảo nhất và nói theo huyền bí học, để dọn sạch ngôi nhà và thanh lọc các trung tâm. Việc thực hành nó làm thông các kênh bị tắc nghẽn và cho phép các năng lượng cao hơn đi vào.
The emotional causes of disease and the mental attitudes which produce physical discomfort are at this particular time those which are the most prevalent. When they are persisted in over a long period of time, and are carried over from life to life, they cause the more violent aspects of the conditions referred to above, and from them serious and destructive diseases can emerge, necessitating, for instance, the removal of the gall bladder or those operations incident to the appearance of chronic gastric ulcers. Other diseases grow from a constant pandering to the desire nature, though sexual diseases come under another category. It can be seen from the above how desirable it is that the true healer should combine in himself, not only a measure of esoteric knowledge, but—until he is an initiate—something of psychology, something of the work of a magnetic healer, and also be a trained medical man or surgeon.
Các nguyên nhân cảm xúc của bệnh tật và những thái độ trí tuệ tạo ra sự khó chịu nơi thể xác hiện nay là những điều phổ biến nhất. Khi chúng được duy trì trong một thời gian dài, và được mang từ đời này sang đời khác, chúng gây ra những phương diện dữ dội hơn của các tình trạng đã nói ở trên, và từ đó những bệnh nghiêm trọng và có tính hủy hoại có thể xuất hiện, chẳng hạn đòi hỏi phải cắt bỏ túi mật hoặc những cuộc phẫu thuật đi kèm với sự xuất hiện của loét dạ dày mãn tính. Những bệnh khác phát sinh từ việc liên tục nuông chiều bản chất dục vọng, dù các bệnh tình dục thuộc một loại khác. Từ những điều trên có thể thấy điều mong muốn biết bao là nhà chữa lành chân chính phải kết hợp trong chính mình không chỉ một mức độ tri thức huyền bí, mà còn—cho đến khi y là một điểm đạo đồ—một phần nào tâm lý học, một phần nào công việc của một nhà chữa lành từ tính, và đồng thời phải là một bác sĩ hay phẫu thuật gia được đào tạo.
Much of the healing now done is worse than useless, because the three above mentioned conditions are lacking. Most doctors, especially those who are called general practitioners, are good psychologists and they have also a sound knowledge of symptoms and of anatomy and of curative measures which are usually lacking in the average metaphysical healer. But they are entirely ignorant of one great field of knowledge—that concerning the energies which meet and war within the human frame and of the [41] potencies which can be set in motion if certain esoteric truths are admitted in place. Until they work with the etheric body and study the science of the centres, they can make little further progress. The esoteric healer knows much about the inner forces and energies and has some understanding of the basic causes of the exoteric diseases, but his ignorance of man’s mechanism is deplorable, and he fails to realise two things:
Phần lớn việc chữa lành hiện nay còn tệ hơn là vô ích, vì thiếu ba điều kiện nêu trên. Hầu hết các bác sĩ, đặc biệt là những người được gọi là bác sĩ đa khoa, đều là những nhà tâm lý học giỏi và họ cũng có tri thức vững chắc về triệu chứng, giải phẫu học và các biện pháp chữa trị mà nhà chữa lành siêu hình trung bình thường thiếu. Nhưng họ hoàn toàn không biết một lĩnh vực tri thức lớn—đó là lĩnh vực liên quan đến các năng lượng gặp gỡ và giao chiến trong cơ cấu con người và những [41] tiềm lực có thể được khởi động nếu một số chân lý huyền bí được chấp nhận đúng chỗ. Chừng nào họ chưa làm việc với thể dĩ thái và nghiên cứu khoa học về các trung tâm, họ còn ít có thể tiến xa hơn. Nhà chữa lành huyền bí biết nhiều về các mãnh lực và năng lượng bên trong và có phần nào thấu hiểu các nguyên nhân căn bản của các bệnh ngoại môn, nhưng sự thiếu hiểu biết của y về bộ máy của con người thật đáng tiếc, và y không nhận ra hai điều:
First, that disease is sometimes the working out into manifestation of undesirable subjective conditions. These, when externalised and brought to the surface of the human body, can then be known, dealt with and eliminated. It is well to remember also that sometimes this working out and elimination may well bring about the death of that particular body. But the soul goes on. One short life counts for very little in the long cycle of the soul, and it is counted well worthwhile if a period of ill health (even if it eventuates in death) brings about the clearing away of wrong emotional and mental conditions.
Thứ nhất, bệnh tật đôi khi là sự vận hành đi vào biểu hiện của những tình trạng chủ quan không mong muốn. Khi những tình trạng này được ngoại hiện và đưa lên bề mặt của thể người, khi ấy chúng có thể được biết đến, được xử lý và được loại bỏ. Cũng nên nhớ rằng đôi khi sự vận hành và loại bỏ này rất có thể dẫn đến cái chết của thể đặc thù ấy. Nhưng linh hồn vẫn tiếp tục. Một đời sống ngắn ngủi có giá trị rất ít trong chu kỳ dài của linh hồn, và hoàn toàn đáng giá nếu một giai đoạn sức khỏe kém (ngay cả khi kết thúc bằng cái chết) đem lại sự quét sạch những tình trạng cảm xúc và trí tuệ sai lầm.
Second, disease is sometimes incident upon and part of the process of the withdrawal of the soul from its habitation. This we call death, and it can come quickly and unexpectedly when the soul withdraws with suddenness from its body. Or death can spread itself over a long period of time, and the soul may take several months or years for its slow and gradual emergence from the body, with the body dying by inches all the time.
Thứ hai, bệnh tật đôi khi là điều đi kèm và là một phần của tiến trình linh hồn rút ra khỏi nơi cư ngụ của nó. Chúng ta gọi điều này là cái chết, và nó có thể đến nhanh chóng và bất ngờ khi linh hồn đột ngột rút khỏi thể của nó. Hoặc cái chết có thể trải ra trong một thời gian dài, và linh hồn có thể mất vài tháng hay vài năm để từ từ và dần dần thoát ra khỏi thể, trong khi thể cứ chết dần từng chút một suốt thời gian đó.
There is not sufficient knowledge yet among healers to enable them to deal with wisdom in these matters. We might therefore conclude that: [42]
Hiện nay giữa các nhà chữa lành vẫn chưa có đủ tri thức để giúp họ xử lý những vấn đề này một cách minh triết. Vì vậy chúng ta có thể kết luận rằng: [42]
1. Disease is a purificatory process, carried out in order to produce a purer expression, life aroma, influence and soul usefulness. When this is the case, a cure is possible.
1. Bệnh tật là một tiến trình thanh lọc, được thực hiện nhằm tạo ra một biểu hiện, hương thơm sự sống, ảnh hưởng và tính hữu dụng của linh hồn tinh khiết hơn. Khi là trường hợp này, việc chữa khỏi là có thể.
2. Disease can be a gradual and slow process of dying and of thus releasing the soul. A cure then will not be possible, though palliative and ameliorative measures are needed and should most certainly be used. The length of the life can be prolonged, but a permanent and final cure is out of the question. This the average mental healer fails to realise. They make a horror out of death, whereas death is a beneficent friend.
2. Bệnh tật có thể là một tiến trình chết dần dần và chậm chạp, nhờ đó giải phóng linh hồn. Khi ấy việc chữa khỏi sẽ không thể có, dù các biện pháp giảm nhẹ và cải thiện là cần thiết và chắc chắn nên được sử dụng. Thời gian sống có thể được kéo dài, nhưng một sự chữa khỏi thường trực và cuối cùng là điều không thể. Nhà chữa lành trí tuệ trung bình không nhận ra điều này. Họ biến cái chết thành một điều kinh hoàng, trong khi cái chết là một người bạn nhân từ.
3. Disease can be the sudden and final call to the body to relinquish the soul and set it free for other service.
3. Bệnh tật có thể là tiếng gọi đột ngột và cuối cùng đối với thể xác để từ bỏ linh hồn và giải thoát nó cho một sự phụng sự khác.
In all these cases everything possible should be done from the standpoint of modern medical and surgical science and the allied sciences of which there are today so many. Much too can be done from the angle of mental and spiritual healing, aided by the science of psychology. Some day there must come cooperation in these various fields and a synthesising of their efforts.
Trong mọi trường hợp này, mọi điều có thể đều nên được thực hiện từ quan điểm của khoa học y khoa và phẫu thuật hiện đại cùng các khoa học liên hệ mà ngày nay có rất nhiều. Cũng có thể làm được nhiều điều từ góc độ chữa lành bằng trí tuệ và tinh thần, được hỗ trợ bởi khoa học tâm lý học. Một ngày nào đó phải có sự hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau này và sự tổng hợp các nỗ lực của chúng.
I have earlier pointed out that the astral body is the prime motivating factor in the lives of the majority. This is caused by the fact that:
Trước đây tôi đã chỉ ra rằng thể cảm dục là yếu tố thúc đẩy chính trong đời sống của đa số người ta. Điều này là do sự kiện rằng:
1. It is the body in which the bulk of human beings are today centering their consciousness.
1. Đó là thể trong đó phần lớn nhân loại ngày nay đang tập trung tâm thức của mình.
2. It is the most developed of the bodies at this time, and therefore receives the bulk of the life energy as it comes down the life stream, from the soul, and likewise receives the energy of the stream of consciousness. [43]
2. Đó là thể phát triển nhất vào thời điểm này, và vì thế tiếp nhận phần lớn năng lượng sự sống khi nó đi xuống theo dòng sự sống từ linh hồn, đồng thời cũng tiếp nhận năng lượng của dòng tâm thức. [43]
3. It is oriented, if I may so express it, outwards or towards the plane of physical experience. That orientation shifts at times and, temporarily in the case of the aspirant, turns inwards. Just as the centres in man, the “lotuses of life,” are depicted as turned downwards and with the stalk upwards in the undeveloped man, but are turned upwards in the case of the developed, so there are conditions in the astral body analogous to this. In the case of the highly evolved man, of the initiate or the Master, the astral body is steadily oriented towards the soul. In the mystic, the aspirant and the disciple, the process of thus definitely changing the direction of the forces is going on and producing, therefore, a temporary chaos.
3. Nó được định hướng, nếu tôi có thể nói như vậy, ra bên ngoài hay hướng về cõi kinh nghiệm hồng trần. Sự định hướng ấy đôi khi thay đổi và, tạm thời trong trường hợp người chí nguyện, quay vào bên trong. Cũng như các trung tâm nơi con người, “những hoa sen của sự sống,” được mô tả là quay xuống dưới và cuống quay lên trên nơi con người chưa phát triển, nhưng lại quay lên trên trong trường hợp người đã phát triển, thì trong thể cảm dục cũng có những điều kiện tương tự như vậy. Trong trường hợp con người tiến hoá cao, điểm đạo đồ hay Chân sư, thể cảm dục được định hướng vững chắc về phía linh hồn. Trong nhà thần bí, người chí nguyện và đệ tử, tiến trình thay đổi dứt khoát hướng đi của các mãnh lực như thế đang diễn ra và vì vậy tạo ra một tình trạng hỗn loạn tạm thời.
4. The astral body of man, being the latest to develop (the physical and the etheric being the first two in order of time) is still the most alive and potent. It reached its acme of development in late Atlantean days and its potency is still great, constituting the mass potency, the mass emphasis, and the mass polarisation. This is also augmented by energies coming from the animal kingdom, which is entirely astral in its point of attainment.
4. Thể cảm dục của con người, vì là thể phát triển sau cùng (thể xác và thể dĩ thái là hai thể đầu tiên theo thứ tự thời gian), vẫn còn sống động và mạnh mẽ nhất. Nó đạt đến cực điểm phát triển vào cuối thời Atlantis và sức mạnh của nó vẫn còn lớn, cấu thành sức mạnh quần chúng, sự nhấn mạnh quần chúng, và sự phân cực quần chúng. Điều này còn được tăng cường bởi các năng lượng đến từ giới động vật, vốn hoàn toàn là cảm dục trong điểm thành tựu của nó.
I would remind you here that the use of the word “body” is most misleading and unfortunate. It produces in the consciousness the idea of a defined form and a specific shape. The astral body is an aggregate of forces, working through into the consciousness in the form of desires, impulses, longings, wishes, determinations, incentives, and projections, thus laying the basis for much of the truth of the teachings of modern psychology. Psychologists have discovered (or rather uncovered) the nature of some of these forces, and their terminology in this connection is frequently more truly occult and accurate than is that of [44] the orthodox esotericist and theosophist.
Tôi muốn nhắc bạn ở đây rằng việc dùng từ “thể” rất dễ gây hiểu lầm và đáng tiếc. Nó tạo ra trong tâm thức ý niệm về một hình thể xác định và một hình dạng đặc thù. Thể cảm dục là một tập hợp các mãnh lực, tác động vào tâm thức dưới hình thức các dục vọng, xung lực, khát khao, ước muốn, quyết tâm, động cơ thúc đẩy, và các sự phóng chiếu, nhờ đó đặt nền tảng cho phần lớn chân lý trong giáo huấn của tâm lý học hiện đại. Các nhà tâm lý học đã khám phá ra (hay đúng hơn là đã vén lộ) bản chất của một số mãnh lực này, và thuật ngữ của họ trong mối liên hệ này thường huyền bí và chính xác hơn thuật ngữ của [44] nhà bí truyền học và nhà Thông Thiên Học chính thống.
It may be of interest to you if I do two things. First of all, give you some technical information in connection with the working through of the forces from the astral plane into the physical body, and then give you the effects of that working through, as they take the form—owing to man’s wrong use of them—of disease and the many varying disorders to which man is prone. With their cure we are not at this time concerned. I am here simply laying down the structure of fact upon which we can later base our conclusions. We shall, in this connection, only consider the average man. The problems of the disciple will be dealt with under Part I.4.
Có thể bạn sẽ thấy thú vị nếu tôi làm hai việc. Trước hết, cung cấp cho bạn một số thông tin kỹ thuật liên quan đến sự tác động xuyên qua của các mãnh lực từ cõi cảm dục vào thể xác, rồi sau đó nêu ra các hiệu quả của sự tác động ấy, khi chúng mang hình thức—do con người sử dụng sai chúng—của bệnh tật và nhiều chứng rối loạn khác nhau mà con người dễ mắc phải. Hiện nay chúng ta không quan tâm đến việc chữa trị chúng. Ở đây tôi chỉ đơn giản đặt ra cấu trúc của các sự kiện mà sau này chúng ta có thể dựa vào đó để xây dựng các kết luận của mình. Trong mối liên hệ này, chúng ta sẽ chỉ xét con người trung bình. Các vấn đề của đệ tử sẽ được bàn đến trong Phần I.4.
I pointed out earlier that the three major groups of diseases for the masses are—
Trước đây tôi đã chỉ ra rằng ba nhóm bệnh chính đối với quần chúng là—
1. Tuberculosis.
1. Bệnh lao.
2. The social diseases, as they are called: the venereal diseases and syphilis.
2. Các bệnh xã hội, như chúng được gọi: các bệnh hoa liễu và giang mai.
3. Cancer.
3. Ung thư.
To these we must add two other groups of disease which predominantly affect those who are a little above the average and whose general level of intelligence is higher than that of the mass; this includes also the aspirants of the world.
Vào đó chúng ta phải thêm hai nhóm bệnh khác, chủ yếu ảnh hưởng đến những người cao hơn mức trung bình đôi chút và có trình độ thông minh chung cao hơn quần chúng; điều này cũng bao gồm những người chí nguyện của thế giới.
4. Heart diseases, but not what is called heart failure.
4. Bệnh tim, nhưng không phải điều được gọi là suy tim.
5. The nervous diseases so prevalent at this time.
5. Các bệnh thần kinh rất phổ biến vào thời điểm này.
These five groups of disease, and their various sub-divisions are responsible for the bulk of the physical ills which attack humanity. A right grasp of their preponderating causes will be of definite assistance to future medicine. How much will be accepted is at this time doubtful.
Năm nhóm bệnh này, cùng các phân nhóm khác nhau của chúng, chịu trách nhiệm cho phần lớn các bệnh tật thể xác tấn công nhân loại. Sự nắm bắt đúng đắn các nguyên nhân trội hơn của chúng sẽ là một trợ giúp rõ rệt cho y học tương lai. Hiện nay còn đáng ngờ là bao nhiêu điều trong đó sẽ được chấp nhận.
I would like to point out here that, as you well know, there are physical correspondences to the seven centres of [45] forces located in the etheric body, and fed from the astral body. These we call the endocrine glands. These glands are effects of or testifying evidence to, the centres, and are in their turn initiating causes of lesser effects in the physical body. It will be of value if we here tabulate some of the things we know, and aid comprehension.
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng, như bạn đã biết rõ, có những đối phần hồng trần với bảy trung tâm [45] mãnh lực nằm trong thể dĩ thái và được nuôi dưỡng từ thể cảm dục. Chúng ta gọi chúng là các tuyến nội tiết. Các tuyến này là những hiệu quả của, hay bằng chứng xác nhận cho, các trung tâm, và đến lượt chúng lại là những nguyên nhân khởi phát của các hiệu quả nhỏ hơn trong thể xác. Sẽ có giá trị nếu ở đây chúng ta lập bảng một số điều mình biết và hỗ trợ sự thấu hiểu.
Centre
Gland
Physical Organs
Type of Force
Origin
Body
1.
Head Brahmarandra. 1000-petalled lotus.
Pineal
Upper brain Right eye
Spiritual will. Synthetic. Dynamic.
Atma Monad via soul Will.
Causal body. Jewel in the lotus.
Occultist.
Initiate.
Master.
Dominant after 3rd Initiation.
2.
Centre between the eyes. Ajna centre
Pituitary body.
Lower brain. Left eye. Nose. Nervous system.
Soul force Love. Magnetic. Light. Intuition. Vision.
Petals of egoic lotus, as a whole.
Buddhic vehicle Causal body. Higher mental.
Aspirant.
Disciple.
Mystic.
Dominant after 2nd Initiation.
3.
Heart. Anahata.
Thymus
Heart Circulatory system. Blood. Also Vagus nerve.
Life force Group consciousness
Love petals
Higher. mental. Causal body.
All types of Spiritual People.
Dominant after 1st Initiation.
4.
Throat centre
Thyroid
Breathing apparatus. Alimentary canal
Creative energy. Sound. Self-consciousness
Knowledge petals
Mental body.
Creative Artists.
All advanced humanity.
The Intelligentsia.
5.
Solar plexus
Pancreas
Stomach. Liver. Gall bladder. Nervous system.
Astral force. Emotion. Desire. Touch.
Astral centres
Astral body.
Average humanity.
Ordinary people.
6.
Sacral centre.
Gonads
Sex organs
Life force. Physical plane force. Vital energy. Animal life
Physical plane
Etheric body.
Low grade animal type of men.
7.
Base of spine. Muladhara.
Adrenals
Kidneys Spinal column.
Will energy. Universal life. Kundalini
The Mother of the World.
[46] This tabulation is simply an outline and, like the tabulation of the principles and their correspondences, as given by H.P.B. in the third volume of The Secret Doctrine, its interpretation will be dependent upon the point of view of the student. We shall employ it later and add further columns to it and further correspondences. In all our considerations, what we have to say will have the following synthesis of structure behind it:
[46] Bảng này chỉ là một phác thảo và, giống như bảng về các nguyên khí và các đối phần của chúng do H.P.B. đưa ra trong quyển ba của Giáo Lý Bí Nhiệm, sự diễn giải nó sẽ tùy thuộc vào quan điểm của đạo sinh. Chúng ta sẽ dùng nó về sau và thêm vào đó các cột khác cùng các đối phần khác nữa. Trong mọi xem xét của chúng ta, điều chúng ta phải nói sẽ có sự tổng hợp cấu trúc sau đây ở phía sau:
1. The soul.
1. Linh hồn.
2. The subtler bodies of the mind and the emotions, which are simply qualified energy centres.
2. Các thể vi tế hơn của trí tuệ và cảm xúc, vốn chỉ đơn giản là các trung tâm năng lượng được phẩm tính hóa.
3. The vital body with its seven major centres of force.
3. Thể sinh lực với bảy trung tâm mãnh lực chính của nó.
4. The endocrine system, which is an effect of the seven centres, and the determining controlling factor in the physical body of man.
4. Hệ nội tiết, là một hiệu quả của bảy trung tâm, và là yếu tố quyết định kiểm soát trong thể xác của con người.
5. The nervous system in its three divisions.
5. Hệ thần kinh trong ba phân bộ của nó.
6. The blood stream.
6. Dòng máu.
All the subsidiary organs of man are effects; they are not pre-determining causes. The determining causes in man, and that which makes him what he is, are the glands. They are externalisations of the types of force pouring through the etheric centres from the subtler worlds of being. They express the point in evolution which the man has reached; they are vital and active or non-vital and inactive, according to the condition of the centres. They demonstrate a sufficiency, an oversufficiency or a deficiency, according to the condition of the etheric vortices.
Tất cả các cơ quan phụ thuộc của con người đều là các hiệu quả; chúng không phải là những nguyên nhân tiền quyết định. Những nguyên nhân quyết định nơi con người, và điều làm cho y là chính y, là các tuyến. Chúng là những sự ngoại hiện của các loại mãnh lực tuôn qua các trung tâm dĩ thái từ những thế giới vi tế hơn của bản thể. Chúng biểu lộ điểm tiến hoá mà con người đã đạt đến; chúng sinh động và hoạt động hoặc không sinh động và bất hoạt, tùy theo tình trạng của các trung tâm. Chúng biểu lộ sự đầy đủ, quá đầy đủ hoặc thiếu hụt, tùy theo tình trạng của các xoáy dĩ thái.
Again, the process of control may be stated to be via the nervous system; the close interlocking directorate of the nervous system, the brain and the blood stream (as a carrier of the life principle) governs the activities of the man—conscious, sub-conscious, self-conscious, and finally, [47] super-conscious. The three centres in supreme control today for the majority are:
Một lần nữa, tiến trình kiểm soát có thể được nói là diễn ra qua hệ thần kinh; sự điều hành liên kết chặt chẽ của hệ thần kinh, bộ não và dòng máu (với tư cách là vật mang nguyên khí sự sống) chi phối các hoạt động của con người—hữu thức, tiềm thức, ngã thức, và cuối cùng, [47] siêu thức. Ba trung tâm hiện nay nắm quyền kiểm soát tối cao đối với đa số là:
1. The ajna centre, the centre between the eyebrows.
1. Trung tâm ajna, trung tâm giữa hai chân mày.
2. The solar plexus.
2. Tùng thái dương.
3. The sacral centre.
3. Trung tâm xương cùng.
Eventually, when man will have “become that which he is” (that paradoxical esoteric phrase), the centres of control will be:
Cuối cùng, khi con người sẽ “trở thành điều mà y là” (cụm từ huyền bí nghịch lý ấy), các trung tâm kiểm soát sẽ là:
1. The head centre, the brahmarandra.
1. Trung tâm đầu, brahmarandra.
2. The heart centre.
2. Trung tâm tim.
3. The centre at the base of the spine.
3. Trung tâm ở đáy cột sống.
Between the present and the future, the emphasis will be laid upon a constantly shifting triplicity, and each man will be different from his fellowmen as to emphasis, as to the conditions of his centres, as to their glandular correspondences in the physical body, and therefore as to the diseases and the ills, inhibitions, and difficulties to which his flesh will fall heir. It is in this connection that it becomes obvious that the work of the physician and of the psychologist must eventually go hand in hand. The three most important aspects of all diagnoses are:
Giữa hiện tại và tương lai, sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên một bộ ba luôn luôn thay đổi, và mỗi người sẽ khác với đồng loại của mình về sự nhấn mạnh, về tình trạng các trung tâm của mình, về các đối phần tuyến của chúng trong thể xác, và do đó về các bệnh tật, sự ức chế và khó khăn mà xác thân của y sẽ thừa hưởng. Chính trong mối liên hệ này mà trở nên hiển nhiên rằng công việc của bác sĩ và của nhà tâm lý học cuối cùng phải song hành với nhau. Ba phương diện quan trọng nhất của mọi chẩn đoán là:
1. The psychological, or the gauging of the inner bodies of man from the angle of their development, their integration and the total coordination of the personality, as these subtler aspects of the human being express themselves in consciousness.
1. Tâm lý học, hay sự đánh giá các thể bên trong của con người từ góc độ sự phát triển của chúng, sự tích hợp của chúng và sự phối hợp tổng thể của phàm ngã, khi các phương diện vi tế hơn này của con người biểu lộ trong tâm thức.
2. The work of the endocrinologist, as he deals with the endocrine glands, viewing them as power stations through which energy—dynamic and illuminating—can pour through from the centres.
2. Công việc của nhà nội tiết học, khi ông xử lý các tuyến nội tiết, xem chúng như những trạm năng lượng qua đó năng lượng—năng động và soi sáng—có thể tuôn qua từ các trung tâm.
3. The physician, who, taking into consideration the conclusions of the two above experts, diagnoses the [48] disease, and treats it in collaboration with the other two.
3. Bác sĩ, người, có xét đến các kết luận của hai chuyên gia trên, chẩn đoán [48] bệnh và điều trị nó trong sự cộng tác với hai người kia.
These three may call in other experts and specialists in electro-therapy, osteopathy and chiropractic, but it is in the combination of the knowledge of the physician, the psychologist and the endocrinologist that the medical profession can take on a new expression of usefulness, and enter the new age equipped to deal with the people who will gradually assume the new types and a changing physical organism. Electricity, in relation to human ills, is as yet an infant science, but it has in it the germs of the new techniques and methods of healing. The work done by the chiropractors is good and needed but should, with osteopathy, constitute a definite subsidiary technique to that of the other three. The work of the chiropractors and of the osteopaths forms two halves of one whole, little as their practitioners may like to recognise it. The former group need a more careful and lengthy training, and a higher standard of technical knowledge should be required.
Ba người này có thể mời thêm các chuyên gia và nhà chuyên môn khác về điện trị liệu, nắn xương và chiropractic, nhưng chính trong sự kết hợp tri thức của bác sĩ, nhà tâm lý học và nhà nội tiết học mà ngành y có thể mang lấy một biểu hiện hữu dụng mới, và bước vào kỷ nguyên mới được trang bị để xử lý những con người sẽ dần dần mang những loại hình mới và một cơ thể hồng trần đang thay đổi. Điện lực, trong mối liên hệ với các bệnh tật của con người, hiện vẫn là một khoa học non trẻ, nhưng trong nó có những mầm mống của các kỹ thuật và phương pháp chữa lành mới. Công việc do các nhà chiropractic thực hiện là tốt và cần thiết nhưng, cùng với nắn xương, nên cấu thành một kỹ thuật phụ trợ xác định cho kỹ thuật của ba ngành kia. Công việc của các nhà chiropractic và của các nhà nắn xương tạo thành hai nửa của một toàn thể, dù những người hành nghề của họ có ít thích thừa nhận điều đó đến đâu. Nhóm trước cần được đào tạo cẩn thận và lâu dài hơn, và một tiêu chuẩn tri thức kỹ thuật cao hơn cần được đòi hỏi.
Medicine is entering slowly into a new usefulness. Once the cause of disease is shifted out of an organ or bodily system into a more subtle and vital realm, we shall see radical and needed changes, leading to simplification and not to a greater complexity and difficulty.
Y học đang chậm rãi bước vào một tính hữu dụng mới. Một khi nguyên nhân của bệnh tật được chuyển ra khỏi một cơ quan hay hệ thống cơ thể sang một lĩnh vực vi tế và sinh động hơn, chúng ta sẽ thấy những thay đổi triệt để và cần thiết, dẫn đến sự đơn giản hóa chứ không phải đến sự phức tạp và khó khăn lớn hơn.
From the above remarks it will be seen that disease emerges into the physical body from the world of the unseen, and from the use, or misuse, of the subtler forces on the inner planes. It must be remembered, however, that disease—as it expresses itself in man—can be generally regarded as due to the following causes, and students would do well to have this most carefully in mind as they ponder on these matters:
Từ những nhận xét trên sẽ thấy rằng bệnh tật xuất hiện vào thể xác từ thế giới vô hình, và từ việc sử dụng, hay sử dụng sai, các mãnh lực vi tế hơn trên các cõi bên trong. Tuy nhiên, cần nhớ rằng bệnh tật—khi nó biểu lộ nơi con người—nói chung có thể được xem là do các nguyên nhân sau đây, và các đạo sinh nên hết sức cẩn thận ghi nhớ điều này khi suy ngẫm về các vấn đề ấy:
1. Individual disease, due to interior conditions in a man’s own equipment, to his mental state, or to an emotional [49] condition which can produce serious ills. This is inherited from the past.
1. Bệnh cá nhân, do những điều kiện nội tại trong chính bộ máy của một người, do trạng thái trí tuệ của y, hoặc do một tình trạng cảm xúc [49] có thể tạo ra những bệnh nghiêm trọng. Điều này được thừa hưởng từ quá khứ.
2. Disease inherent in humanity as a whole. There are certain diseases to which all men are prone; the germs of these diseases are latent in the physical vehicles of the majority of men, only awaiting predisposing conditions in order to manifest. They might be regarded as group diseases.
2. Bệnh vốn có trong toàn thể nhân loại. Có những bệnh nhất định mà mọi người đều dễ mắc; mầm mống của các bệnh này tiềm ẩn trong các vận cụ hồng trần của đa số người ta, chỉ chờ những điều kiện tạo khuynh hướng để biểu lộ. Chúng có thể được xem như những bệnh nhóm.
3. Diseases which are, curiously enough, accidental. To these a man falls heir when, for instance, he succumbs to some infectious or contagious complaint.
3. Những bệnh, kỳ lạ thay, là ngẫu nhiên. Một người thừa hưởng chúng khi, chẳng hạn, y mắc phải một chứng bệnh truyền nhiễm hay lây lan nào đó.
4. Diseases inherent in the soil. Of these as yet but little is known. The soil of our earth, however, is very ancient, and is impregnated with disease germs which take their toll of the vegetable, animal and human kingdoms, manifesting differently in each, yet being due basically to the same causes.
4. Những bệnh vốn có trong đất. Về những bệnh này hiện vẫn biết rất ít. Tuy nhiên, đất của Trái Đất chúng ta rất cổ xưa, và đã thấm đầy các mầm bệnh gây tổn hại cho giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại, biểu lộ khác nhau trong mỗi giới, nhưng về căn bản đều do cùng những nguyên nhân.
5. Diseases which are the difficulties of mysticism. These are the peculiar ills and complaints which attack the disciples and aspirants of the world. These can be traced in every case to the pouring in of energy through centres which are not properly equipped, or adequately developed, to handle the force.
5. Những bệnh là các khó khăn của thần bí học. Đây là những bệnh và chứng đặc thù tấn công các đệ tử và người chí nguyện của thế giới. Trong mọi trường hợp, chúng có thể được truy nguyên về sự tuôn vào của năng lượng qua các trung tâm chưa được trang bị đúng mức, hay chưa phát triển đầy đủ, để xử lý mãnh lực.
The above is a generalisation which may be found useful.
Những điều trên là một sự khái quát hóa có thể thấy hữu ích.
The method whereby these astral forces (which are, as we know, preeminently the determining life forces for the majority of men at this time) work out into manifestation is a relatively simple matter. In the astral vehicle of expression there are, as you may realise, the correspondences of the seven centres in the etheric body. These are essentially the seven major focal points of force, and each of them is expressive of one of the seven ray energies. Let me first of all make clear which centres express these seven ray types:[50]
Phương pháp nhờ đó các mãnh lực cảm dục này (vốn, như chúng ta biết, hiện nay nổi bật là các mãnh lực sự sống quyết định đối với đa số người ta) vận hành đi vào biểu hiện là một vấn đề tương đối đơn giản. Trong vận cụ biểu hiện cảm dục có, như bạn có thể nhận ra, các đối phần của bảy trung tâm trong thể dĩ thái. Về bản chất, đây là bảy tiêu điểm mãnh lực chính, và mỗi tiêu điểm biểu lộ một trong bảy năng lượng cung. Trước hết, hãy để tôi làm rõ những trung tâm nào biểu lộ bảy loại cung này:[50]
Centre
Ray
Quality
Origin
1.
Head Centre
1st
The Divine Will.
Monadic
2.
Ajna Centre
7th
Organisation. Direction.
Atmic
3.
Heart Centre
2nd
Love-Wisdom. Group love.
Buddhic
4.
Throat Centre
5th
Creativity.
Mental
5.
Solar Plexus
6th
Emotion. Desire.
Astral
6.
Sacral Centre
3rd
Reproduction.
Etheric.
7.
Base of Spine
4th
Harmony. Union through conflict.
Physical
Note: In the fourth kingdom, the human, it is the energy of the fourth ray which, cooperating with the first ray, eventually brings synthesis. There is a close relation between the highest centre (the head centre), and that at the base of the spine. This fourth type of energy thus expresses itself in cooperation with the first type because we are still Atlantean in our polarisation, and that civilisation was the fourth in order. It is very largely the work done in our fifth civilisation, our present Aryan race, which will, in cooperation with the fifth principle of the mind, bring a shift into a higher level of consciousness. This will produce a harmonising of all the centres through an act of the will, intellectually and intelligently applied, with the objective of producing harmony. This point warrants thought.
Lưu ý: Trong giới thứ tư, giới nhân loại, chính năng lượng của cung bốn, hợp tác với cung một, cuối cùng mang lại sự tổng hợp. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa trung tâm cao nhất (trung tâm đầu), và trung tâm ở đáy cột sống. Loại năng lượng thứ tư này do đó biểu lộ trong sự hợp tác với loại thứ nhất vì chúng ta vẫn còn là Atlantis trong sự phân cực của mình, và nền văn minh ấy là nền văn minh thứ tư theo thứ tự. Chính phần lớn công việc được thực hiện trong nền văn minh thứ năm của chúng ta, nhân loại Arya hiện nay của chúng ta, sẽ, trong sự hợp tác với nguyên khí thứ năm của trí tuệ, mang lại một sự chuyển dịch lên một cấp độ tâm thức cao hơn. Điều này sẽ tạo ra sự hài hòa hóa mọi trung tâm bằng một hành động của ý chí, được áp dụng một cách trí tuệ và thông minh, với mục tiêu tạo ra sự hài hòa. Điểm này đáng để suy ngẫm.
On the astral plane there will also be found in every astral body seven corresponding focal points through which energy can enter, raying forth then into the vital centres in the etheric physical body as seven differentiated types of force. These types of force produce both bad and good effects, according to the quality of the negative dense physical body. These differ according to the type of ray or force, and it may be interesting if I here indicate to you the good and the bad effects and the corresponding diseases. [51]
Trên cõi cảm dục cũng sẽ được tìm thấy trong mỗi thể cảm dục bảy tiêu điểm tương ứng qua đó năng lượng có thể đi vào, rồi từ đó phát ra vào các trung tâm sinh lực trong thể hồng trần dĩ thái như bảy loại mãnh lực phân biệt. Các loại mãnh lực này tạo ra cả hiệu quả xấu lẫn tốt, tùy theo phẩm tính của thể hồng trần đậm đặc âm. Chúng khác nhau tùy theo loại cung hay mãnh lực, và có thể sẽ thú vị nếu ở đây tôi chỉ cho bạn các hiệu quả tốt và xấu cùng các bệnh tương ứng. [51]
Astral Force
Centre
Bad Aspect
Disease
Good Aspect
First ray. Will or Power.
Head
Self-pity. The Dramatic I
Cancer.
Sacrfice. Dedication of the I.
Second ray. Love-Wisdom.
Heart
Self-love. Personality.
Heart trouble. Stomach trouble.
Soul Love. Group Love.
Third ray. Activity.
Sacral
Sexuality. Over-activity.
Social diseases.
Parental love. Group life.
Fourth ray Harmony.
Ajna
Selfishness. Dogmatism.
Insanities.
Mysticism.
Fifth ray. Knowledge.
Throat
Lower psychism.
Wrong metabolism. Certain Cancers.
Creativity. Sensitivity. Inspiration
Sixth ray. Devotion.
Solar Plexus
Emotionalism.
Nervous diseases. Gastritis. Liver trouble.
Aspiration. Right direction.
Seventh ray. Organisation.
Base of the spine.
Self-interest. Pure selfishness. Black Magic.
Heart diseases. Tumors.
White Magic.
[52] Please remember in studying this tabulation that it is a generalisation, and only a partial listing of the types of disease which can be the result of the inflow of energy. It is only intended to be suggestive; the complexity of the human equipment and the intricacy of the ray energies are such that no hard and fast rules can be laid down. The ray forces manifest differently, according to ray type and point in evolution. There is therefore no contradiction here to the previous tabulations. If you bear in mind that every human being is basically an expression of five ray forces:
[52] Xin nhớ khi nghiên cứu bảng này rằng đó là một sự khái quát hóa, và chỉ là một danh sách từng phần các loại bệnh có thể là kết quả của dòng năng lượng tuôn vào. Nó chỉ nhằm gợi ý; sự phức tạp của bộ máy con người và tính rắc rối của các năng lượng cung là như thế nên không thể đặt ra những quy luật cứng nhắc. Các mãnh lực cung biểu lộ khác nhau, tùy theo loại cung và điểm tiến hoá. Vì vậy ở đây không có mâu thuẫn nào với các bảng trước. Nếu bạn ghi nhớ rằng mỗi con người về căn bản là một biểu hiện của năm mãnh lực cung:
1. The ray of the soul,
1. Cung của linh hồn,
2. The ray of the personality,
2. Cung của phàm ngã,
3. The ray governing the mental body,
3. Cung chi phối thể trí,
4. The ray governing the astral equipment,
4. Cung chi phối bộ máy cảm dục,
5. The ray of the physical nature,
5. Cung của bản chất hồng trần,
it will become apparent that for the average person two such tabulations would have to be drawn up.
thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng đối với người trung bình cần phải lập hai bảng như vậy.
1. There would be required the positive analysis of the astral forces as they express the personality.
1. Cần có sự phân tích dương các mãnh lực cảm dục khi chúng biểu lộ phàm ngã.
2. An analysis of the soul forces as they are faintly indicated. A negative analysis concerning what is not present in the equipment can be of little value here.
2. Một sự phân tích các mãnh lực linh hồn như chúng được chỉ ra một cách mờ nhạt. Một sự phân tích âm liên quan đến điều không hiện diện trong bộ máy thì ở đây ít có giá trị.
It will again be necessary to have an analysis of the forces, playing through into the physical body from the astral plane, which are received directly from the soul and are therefore a combination of soul-force plus the highest type of astral energy. This would be in the nature of a synthetic analysis and would only be possible in the case of a disciple or an initiate. You will therefore eventually have for each person: [53]
Một lần nữa, sẽ cần có một sự phân tích các mãnh lực tác động xuyên vào thể xác từ cõi cảm dục, được tiếp nhận trực tiếp từ linh hồn và do đó là một sự kết hợp của mãnh lực linh hồn cộng với loại năng lượng cảm dục cao nhất. Điều này sẽ có tính chất của một sự phân tích tổng hợp và chỉ có thể thực hiện trong trường hợp một đệ tử hay một điểm đạo đồ. Vì vậy cuối cùng bạn sẽ có đối với mỗi người: [53]
1. A positive analysis of the personality forces, primarily of the astral force as that is the predominating force pouring into the etheric centres.
1. Một sự phân tích dương các mãnh lực phàm ngã, chủ yếu là mãnh lực cảm dục vì đó là mãnh lực trội hơn tuôn vào các trung tâm dĩ thái.
2. A negative analysis of those aspects of soul energy which are not present.
2. Một sự phân tích âm những phương diện của năng lượng linh hồn không hiện diện.
3. A synthetic analysis, based on both the above. but combining also the record of positive soul expression.
3. Một sự phân tích tổng hợp, dựa trên cả hai điều trên, nhưng cũng kết hợp hồ sơ của sự biểu lộ linh hồn dương.
In these tabulations and statements I have given you much food for thought.
Trong các bảng và các phát biểu này tôi đã cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.
B. Desire, Inhibited or Rampant.
B. Dục vọng bị kìm hãm hoặc buông thả.
It would be of value to you here if I made clear that one of the first things a student has to remember is that—for the majority of human beings, for the huge majority—the influences and impulses which emanate from the astral plane are a predisposing factor in all matters with which the individual concerns himself, apart from those conditions which (being imposed upon him from his environment and the period in which he lives) are, for him, unavoidable. The astral plane is a centre of dynamic emanating force, which is fundamentally conditioning in its effect because of the stage of the individual consciousness at which that majority finds itself. Men are swayed by the impulse of desire of a high or low calibre. This is, of course, a broad generalisation, for that basic condition is becoming steadily modified by impulses coming from the mental plane. This necessarily complicates the problem. Influences emanating from the soul are also becoming appreciably present, and still further complicate the problem of the advanced human being. This “problem of complication” (if I might so call it) constitutes a “hard saying” for the student to understand in relation to his own physical condition or to that of any one whom he may be seeking to help.
Ở đây sẽ có giá trị cho bạn nếu tôi làm rõ rằng một trong những điều đầu tiên mà đạo sinh phải nhớ là—đối với đa số con người, đối với đại đa số—những ảnh hưởng và xung lực phát ra từ cõi cảm dục là một yếu tố tạo khuynh hướng trong mọi vấn đề mà cá nhân quan tâm đến, ngoài những điều kiện vốn được áp đặt lên y từ môi trường và thời kỳ mà y đang sống, và vì thế đối với y là không thể tránh khỏi. Cõi cảm dục là một trung tâm của mãnh lực phát xạ năng động, về căn bản có tác dụng định hình vì giai đoạn tâm thức cá nhân mà đa số ấy đang ở. Con người bị chi phối bởi xung lực của dục vọng thuộc phẩm cấp cao hay thấp. Dĩ nhiên đây là một sự khái quát rộng, vì điều kiện căn bản ấy đang đều đặn được biến đổi bởi các xung lực đến từ cõi trí. Điều này tất yếu làm vấn đề phức tạp thêm. Những ảnh hưởng phát ra từ linh hồn cũng đang hiện diện một cách đáng kể, và càng làm phức tạp thêm vấn đề của con người tiến bộ. “Vấn đề của sự phức tạp” này (nếu tôi có thể gọi như vậy) là một “lời khó hiểu” đối với đạo sinh khi tìm cách thấu hiểu nó trong mối liên hệ với tình trạng thể xác của chính mình hay của bất kỳ ai mà y có thể đang tìm cách giúp đỡ.
[54]
[54]
I should like here, in this connection, to give you the third of the Laws which govern the sacred art of healing.
Ở đây, trong mối liên hệ này, tôi muốn trao cho bạn định luật thứ ba trong các Định luật chi phối nghệ thuật thiêng liêng của sự chữa lành.
LAW III
ĐỊNH LUẬT III
Diseases are an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the Plane whereon those energies are focussed, proceed those determining conditions which produce ill health, and which, therefore, work out as disease or as freedom from disease.
Bệnh tật là một hiệu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của con người. Từ Cõi nơi các năng lượng ấy được tập chú, phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra sức khỏe kém, và vì thế biểu lộ thành bệnh tật hoặc thành sự tự do khỏi bệnh tật.
It will be apparent to you, therefore, that a shift of the inner attention (the mental attitude) of the patient can and will produce either real freedom from physical ills or an intensification of those reactions which produce discomfort, disease or death.
Do đó, hiển nhiên với bạn rằng một sự chuyển dịch của sự chú ý bên trong (thái độ trí tuệ) của bệnh nhân có thể và sẽ tạo ra hoặc sự giải thoát thực sự khỏi các bệnh tật thể xác hoặc sự tăng cường những phản ứng tạo ra khó chịu, bệnh tật hay cái chết.
In the three laws which I have given you and which you now have before you for consideration, it is obvious that the following facts emerge. These should form the basis of your reflection:
Trong ba định luật mà tôi đã trao cho bạn và hiện bạn đang có trước mắt để suy xét, rõ ràng là các sự kiện sau đây xuất hiện. Chúng nên tạo thành nền tảng cho sự suy tư của bạn:
1. Disease is the result of the blocking of the free flow of the life of the SOUL.
1. Bệnh tật là kết quả của sự ngăn chặn dòng chảy tự do của sự sống của LINH HỒN.
2. It is the product, or the result, of three influences:
2. Nó là sản phẩm, hay kết quả, của ba ảnh hưởng:
a. Ancient error, emanating from the past history of the person involved.
a. Sai lầm cổ xưa, phát ra từ lịch sử quá khứ của người liên hệ.
b. Human taints, inherited because one is a member of the human family.
b. Những ô nhiễm của nhân loại, được thừa hưởng vì người ta là một thành viên của gia đình nhân loại.
c. Planetary evil, imposed upon all forms on earth by the basic condition, and by time.
c. Điều ác hành tinh, áp đặt lên mọi hình tướng trên Trái Đất bởi điều kiện căn bản và bởi thời gian.
3. It is conditioned by the forces emanating from that plane whereon a man’s consciousness is primarily centred.
3. Nó được định hình bởi các mãnh lực phát ra từ cõi nơi tâm thức của con người chủ yếu được tập trung.
To the above statements should be added a further fact, already mentioned, that: [55]
Vào các phát biểu trên cần thêm một sự kiện nữa, đã được nhắc đến, rằng: [55]
4. There are five major groups of diseases, with their allied complaints and subsidiary diseases.
4. Có năm nhóm bệnh chính, cùng với các chứng bệnh liên hệ và các bệnh phụ thuộc của chúng.
a. Tuberculosis.
a. Lao.
b. The syphilitic diseases.
b. Các bệnh giang mai.
c. Cancer.
c. Ung thư.
d. Heart difficulties.
d. Các chứng bệnh tim.
e. Nervous diseases.
e. Các bệnh thần kinh.
I am not dividing what I have to say into organic and functional troubles, nor do I here refer to illnesses induced by epidemics or by accidents. I refer to those basic taints or predispositions that are the dubious heritage of humanity as a whole, and to those difficulties which are incident to those stages in evolutionary development which are characteristic of those upon the more advanced stages of the Path. It will be seen, therefore, that man comes into incarnation having inherited predispositions to disease which come:
Tôi không phân chia điều tôi phải nói thành các rối loạn thực thể và chức năng, cũng không đề cập ở đây đến các bệnh do dịch tễ hay do tai nạn gây ra. Tôi nói đến những ô nhiễm căn bản hay những khuynh hướng dễ mắc bệnh vốn là di sản đáng ngờ của toàn thể nhân loại, và đến những khó khăn gắn liền với các giai đoạn phát triển tiến hoá vốn là đặc trưng của những người ở các giai đoạn cao hơn trên Con Đường. Do đó, sẽ thấy rằng con người đi vào lâm phàm với những khuynh hướng dễ mắc bệnh được thừa hưởng từ:
1. From his own past; i.e., effects which are the result of causes initiated in earlier incarnations.
1. Quá khứ riêng của y; tức là các hậu quả là kết quả của những nguyên nhân đã được khởi phát trong các kiếp sống trước.
2. From the general racial heritage of humanity.
2. Di sản chủng tộc chung của nhân loại.
3. From the condition of the planetary life. These latter causes lift the whole problem out of the usual comprehension of the average man.
3. Tình trạng của sự sống hành tinh. Những nguyên nhân sau cùng này đưa toàn bộ vấn đề vượt ra ngoài sự thấu hiểu thông thường của người trung bình.
A human being is also predisposed to trouble if he has succeeded (as a result of a long evolutionary history) in awakening in some fashion, however slight, the centres above the diaphragm. The moment that that occurs he becomes subject, for a long cycle of lives, to difficulties connected with the heart or with the nervous system in its various branches. Frequently an advanced human being, such as an aspirant or a disciple, may have freed himself from the inherited taints, but will succumb to heart trouble, to nervous disorders, mental imbalance, and overstimulation. They are [56] classified occasionally as the “diseases of the Mystics.”
Một con người cũng dễ mắc rối loạn nếu y đã thành công (do kết quả của một lịch sử tiến hoá lâu dài) trong việc đánh thức theo một cách nào đó, dù rất nhẹ, các trung tâm ở phía trên cơ hoành. Ngay khi điều đó xảy ra, trong một chu kỳ dài của nhiều kiếp sống, y trở nên dễ mắc các khó khăn liên quan đến tim hoặc hệ thần kinh trong các phân nhánh khác nhau của nó. Thường thường một con người tiến bộ, như một người chí nguyện hay một đệ tử, có thể đã giải thoát mình khỏi các ô nhiễm di truyền, nhưng lại khuất phục trước bệnh tim, các rối loạn thần kinh, sự mất quân bình trí tuệ, và sự kích thích quá mức. Chúng đôi khi được [56] xếp loại là “các bệnh của các nhà thần bí.”
I would like to make it clear that it is not my intention to enter into the realm of physiological discussion, to elaborate the symptoms of disease, or to deal with the lesions, the pathological conditions, and the distressing details attendant upon the breakdown of any human organism. I am not going to write a treatise on anatomy or on the various sciences which have grown up from a study of the mechanism of the human being, connected as they are with the framework and structure, the organs, nerves, brain tissue and interrelated systems which compose that intricate piece of machinery, the human body. As far as the exoteric science is concerned, two things would successfully deter me:
Tôi muốn nói rõ rằng ý định của tôi không phải là đi vào lĩnh vực bàn luận sinh lý học, khai triển các triệu chứng của bệnh tật, hay đề cập đến các thương tổn, các tình trạng bệnh lý, và những chi tiết đau đớn đi kèm với sự suy sụp của bất kỳ cơ thể con người nào. Tôi sẽ không viết một luận thuyết về giải phẫu học hay về các khoa học khác nhau đã phát triển từ việc nghiên cứu bộ máy của con người, liên hệ như chúng vốn có với khung sườn và cấu trúc, các cơ quan, dây thần kinh, mô não và các hệ thống tương liên hợp thành cỗ máy phức tạp ấy, tức thân thể con người. Xét theo khoa học ngoại môn, có hai điều sẽ ngăn tôi làm như vậy:
1. The whole subject is marvelously dealt with in the many books which embody the literature of medicine and of surgery. There is little that I could add which would be of profit in such a discussion as this.
1. Toàn bộ chủ đề này đã được xử lý một cách kỳ diệu trong nhiều sách thuộc văn liệu y học và phẫu thuật. Tôi có rất ít điều có thể thêm vào mà lại có ích trong một cuộc bàn luận như thế này.
2. The readers of my words are not, with few exceptions, versed in the construction and constitution of the human body; and pathological details, the description of diseases, and the various unpleasant symptoms of human degeneration are unwholesome reading for the average man or woman. A little knowledge along these lines can be a most dangerous thing.
2. Những người đọc lời tôi, trừ rất ít ngoại lệ, không tinh thông về cấu tạo và cơ chế của thân thể con người; và các chi tiết bệnh lý, sự mô tả bệnh tật, cùng các triệu chứng khó chịu khác nhau của sự suy thoái nơi con người là loại đọc không lành mạnh đối với người nam hay nữ trung bình. Một ít hiểu biết theo những đường hướng này có thể là một điều cực kỳ nguy hiểm.
I seek to deal primarily with causes, with the inner sources of dis-ease and deal with those states of consciousness (I do not say states of mind only) which induce wrong functioning, and eventually wrong conditions.
Tôi chủ yếu tìm cách đề cập đến các nguyên nhân, đến các nguồn gốc bên trong của bệnh tật và đề cập đến những trạng thái tâm thức (tôi không chỉ nói các trạng thái trí tuệ) gây ra sự vận hành sai lệch, và cuối cùng là các tình trạng sai lệch.
The problem of the healer, therefore, is twofold: First, he must know whether the difficulty lies above or below the diaphragm; this takes him definitely into the realm of occult as well as of psychological knowledge. Secondly, he must [57] have a clear grasp of the patient’s inner emphasis; this last aids him in the diagnosis of the first.
Do đó, vấn đề của người chữa bệnh có hai mặt: Thứ nhất, y phải biết khó khăn nằm ở trên hay dưới cơ hoành; điều này đưa y dứt khoát vào lĩnh vực của tri thức huyền bí cũng như tri thức tâm lý học. Thứ hai, y phải [57] nắm thật rõ trọng điểm bên trong của bệnh nhân; điều sau cùng này giúp y chẩn đoán điều thứ nhất.
This statement brings me to the formulation of the third Rule for Healers.
Phát biểu này đưa tôi đến việc hình thành Quy luật thứ ba cho những người chữa bệnh.
RULE THREE
QUY LUẬT BA
Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which relief must come.
Hãy để người chữa bệnh tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay của dục vọng nơi người tìm kiếm sự giúp đỡ của mình. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rối loạn phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với hậu quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải nhẹ phải đến.
I would like to call your attention to those last few words, and would emphasise to you the fact that disease primarily is an effort on the part of the natural physical body to seek relief and achieve release from inner pressures, from subjective inhibitions and hidden retentions. Primarily, from the point of view of esotericism, all physical disease is the result of:
Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của bạn đến vài lời cuối ấy, và muốn nhấn mạnh với bạn sự kiện rằng bệnh tật trước hết là một nỗ lực từ phía thể xác tự nhiên nhằm tìm kiếm sự giải nhẹ và đạt được sự giải thoát khỏi các áp lực bên trong, khỏi các sự ức chế chủ quan và các sự giữ lại ẩn kín. Trước hết, theo quan điểm của huyền bí học, mọi bệnh tật hồng trần là kết quả của:
1. Wrong stimulation, or overstimulation, or wrongfully placed stimulation and of inner tensions in some part of the mechanism.
1. Sự kích thích sai lầm, hay kích thích quá mức, hay kích thích đặt sai chỗ và của các căng thẳng bên trong tại một phần nào đó của bộ máy.
2. Inhibitions, psychical starvation, and those accumulated subjective forces which dam the flow of the life forces.
2. Các sự ức chế, sự đói khát tâm linh, và những mãnh lực chủ quan tích lũy làm ngăn dòng chảy của các mãnh lực sự sống.
You will see, therefore, that again (in the domain of health) all problems resolve themselves into the right use and the correct handling of force, in order to effect the free flow of energy.
Do đó, bạn sẽ thấy rằng một lần nữa (trong lĩnh vực sức khỏe) mọi vấn đề đều quy về việc sử dụng đúng đắn và xử lý chính xác mãnh lực, nhằm tạo ra dòng chảy tự do của năng lượng.
The following questions will inevitably arise: From whence come these inherited taints? Is it possible to arrive at their source? The problem of the past, and the present effects of that past, is too vast for consideration, nor can any statements anent the situation possibly help humanity. [58] One generalisation I can, however, make, and even that may convey but little to your understanding.
Những câu hỏi sau đây tất yếu sẽ nảy sinh: Những ô nhiễm di truyền này đến từ đâu? Có thể truy đến nguồn gốc của chúng không? Vấn đề của quá khứ, và các hậu quả hiện tại của quá khứ ấy, quá rộng lớn để xem xét, và cũng không có phát biểu nào liên quan đến tình trạng ấy có thể giúp ích cho nhân loại. [58] Tuy nhiên, tôi có thể đưa ra một khái quát, và ngay cả điều đó cũng có thể truyền đạt rất ít đến sự thấu hiểu của bạn.
Of the three major diseases which have been inherited from the past, it might be said that the syphilitic or so-called social diseases are remainders of the excesses indulged in in Lemurian times; they are of such ancient origin that the very soil is permeated with the germs of these diseases—a fact quite unknown to modern science. Down the ages, men have suffered from these groups of infections; they have died and been buried and in their millions have contributed their quota of infection to the earth. In Lemurian times, the emphasis of the life force was upon the physical body, upon its development, its use and control, and also upon its perpetuation or reproduction. It was in Lemurian times that troubles connected with the misuse of the sex life began; this was, in a peculiar sense, the essential primeval evil, and concerning this fact, ancient legends and hints are found throughout the earliest records and writings. There is much misinterpreted testimony to this effect, and when men can read the records more correctly and with right interpretation, they will understand the way out, because they will see more clearly the underlying causes.
Về ba bệnh lớn được thừa hưởng từ quá khứ, có thể nói rằng các bệnh giang mai hay cái gọi là các bệnh xã hội là tàn dư của những sự thái quá được buông thả trong thời Lemuria; chúng có nguồn gốc cổ xưa đến mức chính đất đai cũng đã thấm đầy mầm bệnh của các bệnh này—một sự kiện hoàn toàn không được khoa học hiện đại biết đến. Qua các thời đại, con người đã chịu đựng các nhóm nhiễm bệnh này; họ đã chết và được chôn cất, và hàng triệu người trong số họ đã góp phần lây nhiễm của mình vào lòng đất. Trong thời Lemuria, trọng điểm của mãnh lực sự sống đặt trên thể xác, trên sự phát triển, việc sử dụng và kiểm soát nó, và cả trên sự duy trì hay sinh sản của nó. Chính trong thời Lemuria mà các rối loạn liên quan đến việc lạm dụng đời sống tính dục bắt đầu; theo một nghĩa đặc biệt, đây là điều ác nguyên thủy cốt yếu, và liên quan đến sự kiện này, các truyền thuyết cổ và những ám chỉ được tìm thấy khắp các biên niên và trước tác sớm nhất. Có nhiều chứng cứ bị diễn giải sai theo hướng này, và khi con người có thể đọc các biên niên một cách đúng đắn hơn và với sự giải thích chính xác, họ sẽ hiểu được lối thoát, bởi vì họ sẽ thấy rõ hơn các nguyên nhân nền tảng.
Cancer is a gift to modern man from the Atlantean humanity, and the scourge of this disease was the major factor which devastated the inhabitants of old Atlantis. The roots of this dire evil are deep-seated in the emotional or desire nature, and are grounded in the astral body. Cancer is partially the result of a reaction to the diseases connected with the sex life which became so rampant in later Lemurian times and early Atlantean days. The people of those times, seeing the fearful evils and the extent of the disease which grew up out of the fertile Lemurian life, resulting from the promiscuous sex life on every hand, for the sake of self-preservation dammed back the natural flow of desire (the [59] flow of life as it expresses itself through the centres of reproduction and procreation), and this in due time produced other evils. Cancer is primarily a disease of inhibition, just as the syphilitic diseases are those of over-expression and overuse of one aspect of the mechanism of man.
Ung thư là một món quà mà nhân loại Atlantis để lại cho con người hiện đại, và tai họa của căn bệnh này là yếu tố chính đã tàn phá cư dân của Atlantis cổ. Cội rễ của điều ác khủng khiếp này nằm sâu trong bản chất cảm xúc hay dục vọng, và được đặt nền trong thể cảm dục. Ung thư phần nào là kết quả của một phản ứng đối với các bệnh liên quan đến đời sống tính dục đã trở nên quá lan tràn trong thời kỳ Lemuria muộn và những ngày đầu Atlantis. Người của các thời ấy, khi thấy những điều ác đáng sợ và mức độ của bệnh tật phát sinh từ đời sống Lemuria sung mãn, do đời sống tính dục bừa bãi khắp nơi gây ra, vì mục đích tự bảo tồn đã ngăn chặn dòng chảy tự nhiên của dục vọng (dòng chảy [59] của sự sống khi nó biểu lộ qua các trung tâm sinh sản và truyền giống), và điều này đến lúc thích hợp đã tạo ra những điều ác khác. Ung thư trước hết là một bệnh của sự ức chế, cũng như các bệnh giang mai là những bệnh của sự biểu lộ quá mức và lạm dụng quá mức một phương diện của bộ máy con người.
Today, owing to the vast reaches of time involved and to the untold generations of those who have died upon the earth, the “germs” (so-called by the unlearned thinker) of the dread complaint of cancer are to be found in the very soil on which we live, infecting the vegetable kingdom and also the human family. A correspondence to the syphilitic complaints of man are to be found in the mineral kingdom.
Ngày nay, do khoảng thời gian bao la liên hệ và do vô số thế hệ đã chết trên mặt đất, các “mầm bệnh” (được nhà tư tưởng thiếu học gọi như vậy) của chứng bệnh ung thư đáng sợ có thể được tìm thấy ngay trong chính đất đai nơi chúng ta sống, lây nhiễm cho giới thực vật và cả gia đình nhân loại. Một sự tương ứng với các chứng bệnh giang mai của con người có thể được tìm thấy trong giới kim thạch.
Tuberculosis, which was devastatingly rampant at a certain stage in Atlantean times, is nevertheless a disease which has been generated principally in our Aryan race, and one which we are bequeathing to the animal kingdom and are sharing with them. This is beginning to be realised. So close, however, is the relation between men and animals (particularly the domestic animals) that they today share with men practically all his ailments in some form or another, sometimes recognisable and sometimes not. Curiously enough, the cause of this great white scourge is to be found in the fact of the shift of the life emphasis away from the emotional nature into that of the mind nature, producing a temporary starvation of the emotional nature. It is largely a disease of depletion. Cancer, in its turn, was based similarly on a previous shift of the life force from the physical body into that of the emotional nature, producing an overdevelopment of the cellular life, through overstimulation. I realise the difficulty of grasping these statements. I can only give you these unsubstantiated hints. Later discoveries alone can prove the truth of my suggestions. Let us here tabulate our conclusions: [60]
Bệnh lao, tuy đã lan tràn một cách tàn phá ở một giai đoạn nào đó trong thời Atlantis, nhưng nevertheless là một bệnh đã được tạo ra chủ yếu trong nhân loại Arya của chúng ta, và là một bệnh mà chúng ta đang để lại cho giới động vật và đang cùng chia sẻ với chúng. Điều này đang bắt đầu được nhận ra. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa con người và động vật (đặc biệt là các động vật nuôi trong nhà) gần gũi đến mức ngày nay chúng chia sẻ với con người hầu như mọi bệnh tật của y dưới hình thức này hay hình thức khác, đôi khi nhận ra được và đôi khi không. Điều khá lạ là nguyên nhân của tai họa trắng lớn lao này được tìm thấy trong sự chuyển dịch trọng điểm của sự sống ra khỏi bản chất cảm xúc sang bản chất trí tuệ, tạo ra một sự đói khát tạm thời nơi bản chất cảm xúc. Phần lớn đây là một bệnh của sự suy kiệt. Đến lượt mình, ung thư cũng tương tự như vậy, được đặt nền trên một sự chuyển dịch trước đó của mãnh lực sự sống từ thể xác sang bản chất cảm xúc, tạo ra sự phát triển quá mức của sự sống tế bào, do kích thích quá mức. Tôi nhận ra sự khó khăn trong việc nắm bắt các phát biểu này. Tôi chỉ có thể đưa cho bạn những gợi ý không được chứng minh này. Chỉ những khám phá về sau mới có thể chứng minh chân lý của các gợi ý của tôi. Ở đây, chúng ta hãy lập bảng các kết luận của mình: [60]
Disease
Race
Body
Kingdom
Organ
Syphilitic
Lemurian
Physical
Mineral
Sex organs. Sacral Centre.
Cancer
Atlantean
Astral
Vegetable
Solar Plexus
Tuberculosis
Aryan
Mental
Animal
Breathing apparatus. Throat centre.
In referring above to the centres I am referring to the centre for the distribution of the life force, wherein the emphasis for the mass will be found. From the above it will be apparent where the emphasis of the possible cure will have to lie. Already, and because it is the latest, and therefore the least deep-seated of the three major diseases inherited by modern man, we have learnt how to cure tuberculosis. It has been discovered (when the mind was intelligently applied to the problem) that sunshine and good food could cure, or at any rate arrest, the disease. It is an interesting item in the field of esoteric correspondence that just as the light of the soul, pouring into the mind, can be depended upon to solve any problem, so that light of the sun and its prophylactic rays can dispel the dread symptoms of tuberculosis.
Khi đề cập ở trên đến các trung tâm, tôi đang nói đến trung tâm phân phối mãnh lực sự sống, nơi sẽ tìm thấy trọng điểm đối với quần chúng. Từ điều trên, sẽ rõ nơi mà trọng điểm của sự chữa trị khả dĩ phải đặt vào. Ngay từ bây giờ, và bởi vì nó là bệnh mới nhất, do đó ít ăn sâu nhất trong ba bệnh lớn được con người hiện đại thừa hưởng, chúng ta đã học được cách chữa bệnh lao. Người ta đã khám phá ra (khi trí tuệ được áp dụng một cách thông minh vào vấn đề) rằng ánh nắng mặt trời và thực phẩm tốt có thể chữa khỏi, hay ít nhất là ngăn chặn, căn bệnh này. Đây là một chi tiết thú vị trong lĩnh vực định luật tương ứng huyền bí rằng cũng như ánh sáng của linh hồn, tuôn vào trí tuệ, có thể được tin cậy để giải quyết bất kỳ vấn đề nào, thì ánh sáng mặt trời và các tia phòng bệnh của nó cũng có thể xua tan các triệu chứng đáng sợ của bệnh lao.
Similarly, as the race develops right emotional control we shall see the gradual disappearance of the phenomena of cancer. I said right emotional control; inhibition and the suppression of the desire impulses by the force of the will is not right control. It is interesting also to note that though both men and women suffer from the disease of cancer, the general cause is not identical, though the basic cause (reaction from an over-expression of the sex life through the cultivation of the desire nature) remains the same. Women, owing to the risks they run in childbearing, through the turning of the life emphasis to the sex aspect of life, have revolted on a large scale (as did the Atlanteans) against this form of life expression, and it is along this line—the sex [61] line—that their major inhibitions are found. They do not suffer so much from the general inhibition of the emotional-desire-feeling expression. Men do suffer from this latter inhibition and have a tradition or a marked tendency to greater emotional control in the handling of life than have women. Men do not require or acquire so marked a sex control. The general field of their inhibited life tendency is therefore of greater extent, and consequently (if statistics can be trusted) more men suffer from cancer than do women, though it is a dread disease, feared by all.
Tương tự như vậy, khi nhân loại phát triển sự kiểm soát cảm xúc đúng đắn, chúng ta sẽ thấy hiện tượng ung thư dần dần biến mất. Tôi đã nói sự kiểm soát cảm xúc đúng đắn; sự ức chế và sự đè nén các xung lực dục vọng bằng sức mạnh của ý chí không phải là sự kiểm soát đúng đắn. Cũng thú vị khi lưu ý rằng dù cả nam lẫn nữ đều mắc bệnh ung thư, nguyên nhân chung không giống hệt nhau, mặc dù nguyên nhân căn bản (phản ứng từ sự biểu lộ quá mức của đời sống tính dục qua việc nuôi dưỡng bản chất dục vọng) vẫn như nhau. Phụ nữ, do những nguy cơ họ phải chịu trong việc sinh con, qua việc chuyển trọng điểm của sự sống sang phương diện tính dục của đời sống, đã phản kháng trên quy mô lớn (như người Atlantis đã làm) chống lại hình thức biểu lộ sự sống này, và chính theo đường hướng này—đường hướng tính dục [61]—mà các sự ức chế lớn nhất của họ được tìm thấy. Họ không chịu đựng nhiều đến thế sự ức chế chung của sự biểu lộ cảm xúc-dục vọng-cảm giác. Nam giới quả thật chịu đựng sự ức chế sau này và có một truyền thống hay một khuynh hướng rõ rệt hướng đến sự kiểm soát cảm xúc lớn hơn trong việc xử lý đời sống so với phụ nữ. Nam giới không cần đến hay đạt được sự kiểm soát tính dục rõ rệt đến thế. Do đó, lĩnh vực chung của khuynh hướng sống bị ức chế nơi họ rộng lớn hơn, và vì vậy (nếu có thể tin vào thống kê) số nam giới mắc ung thư nhiều hơn nữ giới, dù đây là một căn bệnh đáng sợ mà mọi người đều e ngại.
In the secret of right transmutation lies the cure of cancer, and this will eventually be realised. I am using this phrase not only symbolically but also technically and scientifically. This again will later be seen. In the secret of right rhythmic living and in a right proportional accent upon all phases of life will come (and it is rapidly coming) complete immunity from tuberculosis. In the secret of right understanding of times and cycles and of periodic reproductive creation, will come the emergence of the race from the evils of the social diseases.
Trong bí mật của sự chuyển hoá đúng đắn có phương thuốc chữa ung thư, và điều này cuối cùng sẽ được nhận ra. Tôi dùng cụm từ này không chỉ theo nghĩa biểu tượng mà còn theo nghĩa kỹ thuật và khoa học. Điều này rồi đây cũng sẽ được thấy. Trong bí mật của đời sống nhịp điệu đúng đắn và trong sự nhấn mạnh cân xứng đúng đắn trên mọi phương diện của đời sống sẽ đến (và đang đến rất nhanh) sự miễn nhiễm hoàn toàn đối với bệnh lao. Trong bí mật của sự thấu hiểu đúng đắn về thời gian và chu kỳ và về sự sáng tạo sinh sản có tính chu kỳ, sẽ đến sự xuất hiện của nhân loại thoát khỏi các tai họa của các bệnh xã hội.
It will be apparent to you, therefore, that the syphilitic diseases will be the last to disappear, just as they were the first to devastate the race. Tuberculosis is disappearing. The attention of the experts is now being given to the cure of cancer.
Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng các bệnh giang mai sẽ là những bệnh biến mất sau cùng, cũng như chúng là những bệnh đầu tiên tàn phá nhân loại. Bệnh lao đang biến mất. Sự chú ý của các chuyên gia hiện đang được dành cho việc chữa trị ung thư.
I would like to add one or two comments which will be of general or rather modern interest. I have said that these taints to which humanity is prone are found in the soil, and that their presence there is largely due to the burial, down the ages, of millions of corpses. By the increased use of the processes of cremation, this condition will be steadily improved. Gradually, very gradually, the taint will thus die out. It is therefore highly desirable that there be as much propaganda as possible for the use of this method of [62] disposing of the discarded physical vehicles of the souls who are passing out of incarnation. As the soil becomes less tainted, and as soul contact is established, we can hope to see a steady decrease in the number of those who succumb to the inherited taints. Curiously enough, the free use of salt sea bathing has a definite effect on the healthiness of the physical body. The water, incidentally absorbed through the medium of the skin and by the mouth, has a vitally prophylactic effect.
Tôi muốn thêm một hay hai nhận xét sẽ có ích chung, hay đúng hơn là có ích hiện đại. Tôi đã nói rằng những ô nhiễm mà nhân loại dễ mắc phải này được tìm thấy trong đất, và sự hiện diện của chúng ở đó phần lớn là do việc chôn cất, qua các thời đại, hàng triệu xác chết. Với việc gia tăng sử dụng các tiến trình hỏa táng, tình trạng này sẽ được cải thiện đều đặn. Dần dần, rất dần dần, ô nhiễm ấy sẽ theo đó mà chết đi. Vì vậy, rất đáng mong muốn là phải có càng nhiều sự cổ động càng tốt cho việc sử dụng phương pháp này để [62] xử lý các vận cụ hồng trần bị bỏ lại của các linh hồn đang rời khỏi lâm phàm. Khi đất đai bớt ô nhiễm hơn, và khi sự tiếp xúc linh hồn được thiết lập, chúng ta có thể hy vọng thấy số người khuất phục trước các ô nhiễm di truyền giảm đi đều đặn. Điều khá lạ là việc tự do sử dụng tắm biển mặn có một tác động rõ rệt lên tính lành mạnh của thể xác. Nước, tình cờ được hấp thụ qua da và qua miệng, có một tác dụng phòng bệnh hết sức quan trọng.
One of the major problems today to the psychologist and in a lesser degree to the medical man, is the growth of homosexuality, both female and male. Specious arguments are brought forth in order to prove that this abnormal development (and the consequent interest in this morbid tendency) is due to the fact that the race is slowly becoming androgynous in its development, and that the future hermaphroditic man or woman is gradually making its appearance. This, again, is not true. Homosexuality is what you call a “left-over” from the sexual excesses of Lemurian times, an inherited taint, if you like. Egos who individualised and incarnated in that vast period of time are the ones who today demonstrate homosexual tendencies. In those days, so urgent was the sexual appetite, the normal processes of human intercourse did not satisfy the insatiable desire of the advanced man of the period. Soul force, flowing in through the processes of individualisation, served to stimulate the lowest centres. Hence, forbidden methods were practised. Those who thus practised them are today, in great numbers, in incarnation, and the ancient habits are too strong for them. They are now far enough advanced upon the evolutionary path so that the cure lies ready at this time—if they choose to employ it. They can, with relative ease, transfer the sex impulse to the throat centre, and thus become creative in the higher sense, employing the energy [63] sensed and circulating in right and constructive ways. Many of them are beginning automatically to do this. However, it is well known that, among the so-called artistic types, homosexuality is very prevalent. I say “so-called” for the truly creative artist is not the victim of these ancient evil predisposing habits.
Một trong những vấn đề lớn ngày nay đối với nhà tâm lý học và ở mức độ thấp hơn đối với y sĩ, là sự gia tăng của đồng tính luyến ái, cả nữ lẫn nam. Những lập luận có vẻ hợp lý được đưa ra nhằm chứng minh rằng sự phát triển bất thường này (và sự quan tâm kéo theo đối với khuynh hướng bệnh hoạn này) là do nhân loại đang chậm rãi trở nên lưỡng tính trong sự phát triển của mình, và rằng người nam hay nữ lưỡng tính trong tương lai đang dần dần xuất hiện. Điều này, một lần nữa, không đúng. Đồng tính luyến ái là điều mà bạn gọi là một “tàn dư” từ những sự thái quá tính dục của thời Lemuria, một ô nhiễm di truyền, nếu bạn muốn gọi như vậy. Những chân ngã đã biệt ngã hóa và nhập thể trong giai đoạn thời gian bao la ấy là những người ngày nay biểu lộ các khuynh hướng đồng tính. Trong những ngày đó, dục vọng tính dục mãnh liệt đến mức các tiến trình giao hợp bình thường của con người không làm thỏa mãn được ham muốn vô độ của con người tiến bộ thời ấy. Mãnh lực linh hồn, tuôn vào qua các tiến trình biệt ngã hóa, đã phục vụ để kích thích các trung tâm thấp nhất. Vì thế, các phương pháp bị cấm đã được thực hành. Những ai đã thực hành như vậy ngày nay đang lâm phàm với số lượng lớn, và các thói quen cổ xưa quá mạnh đối với họ. Hiện nay họ đã tiến đủ xa trên con đường tiến hoá để phương thuốc đã sẵn có vào lúc này—nếu họ chọn sử dụng nó. Họ có thể, tương đối dễ dàng, chuyển dịch xung lực tính dục lên trung tâm cổ họng, và nhờ đó trở nên sáng tạo theo nghĩa cao hơn, sử dụng năng lượng [63] được cảm nhận và lưu chuyển theo những cách đúng đắn và có tính xây dựng. Nhiều người trong số họ đang tự động bắt đầu làm điều này. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng trong số những kiểu người được gọi là nghệ sĩ, đồng tính luyến ái rất phổ biến. Tôi nói “được gọi là” vì người nghệ sĩ thực sự sáng tạo không là nạn nhân của những thói quen cổ xưa xấu xa dễ dẫn đến này.
It might be pointed out here that homosexuality is of three kinds:
Ở đây có thể chỉ ra rằng đồng tính luyến ái có ba loại:
1. That which is the result of ancient evil habits. This is the major cause today and indicates:
1. Loại là kết quả của những thói quen xấu xa cổ xưa. Đây là nguyên nhân chính ngày nay và cho thấy:
a. Individualisation upon this planet; for those who individualised upon the moon chain are not susceptible to these dangerous characteristics.
a. Sự biệt ngã hóa trên hành tinh này; vì những ai đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng thì không dễ bị các đặc tính nguy hiểm này.
b. A relatively advanced stage upon the evolutionary path which was achieved by the Lemurian egos who succumbed to this desire-satisfaction.
b. Một giai đoạn tương đối tiến bộ trên con đường tiến hoá mà các chân ngã Lemuria đã đạt được, những người đã khuất phục trước sự thỏa mãn dục vọng này.
c. A consequent study of sex magic, plus a constant insatiable physical and sexual urge.
c. Hệ quả là sự nghiên cứu huyền thuật tính dục, cộng với một thôi thúc hồng trần và tính dục liên tục, vô độ.
2. Imitative homosexuality. A number of persons of all classes imitated their betters (if I might use so paradoxical a term) and so developed evil habits in sexual intercourse from which they might otherwise have remained free. This is one of the prevalent reasons today, among many men and women, and is based upon a too active imagination, plus a powerful physical or sex nature, and a prurient curiosity. This I say with advisement. This category accounts for many of our Sodomites and Lesbians.
2. Đồng tính luyến ái do bắt chước. Một số người thuộc mọi giai cấp đã bắt chước những người hơn mình (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ nghịch lý như vậy) và do đó phát triển những thói quen xấu trong giao hợp tính dục mà nếu không thì họ có thể đã tránh được. Đây là một trong những lý do phổ biến ngày nay nơi nhiều người nam và nữ, và được đặt nền trên một sự tưởng tượng quá hoạt động, cộng với một bản chất hồng trần hay tính dục mạnh mẽ, và một sự tò mò dâm ô. Tôi nói điều này một cách cân nhắc. Loại này giải thích cho nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ của chúng ta.
3. A few rare, very rare, cases of hermaphroditism. These people, combining in themselves both aspects of the sex life, are faced with a very real problem. It is a problem which is greatly increased by human ignorance, human refusal to face facts, wrong early training and teaching, [64] and a widespread misunderstanding. These cases are to be found in small numbers everywhere, even though their numbers, in relation to the world population, is still negligible. But that they exist is of real interest to the medical profession and a subject of deep pity and commiseration to the humanitarian and the understanding psychologist. They face a difficult situation.
3. Một vài trường hợp hiếm, rất hiếm, của lưỡng tính thật sự. Những người này, kết hợp trong chính mình cả hai phương diện của đời sống tính dục, đang đối diện với một vấn đề rất thực tế. Đó là một vấn đề bị làm tăng lên rất nhiều bởi sự thiếu hiểu biết của con người, sự từ chối đối diện sự thật của con người, sự huấn luyện và dạy dỗ sai lầm từ sớm, [64] và một sự hiểu lầm lan rộng. Những trường hợp này được tìm thấy với số lượng nhỏ ở khắp nơi, dù số lượng của họ, so với dân số thế giới, vẫn không đáng kể. Nhưng việc họ hiện hữu là điều thực sự đáng quan tâm đối với giới y khoa và là một chủ đề của lòng thương xót sâu sắc và sự cảm thông đối với nhà nhân đạo và nhà tâm lý học biết thấu hiểu. Họ đối diện với một hoàn cảnh khó khăn.
I have somewhat elaborated this matter as it is of use for you to know such facts and the information is of value to you. It serves to throw light upon a problem which an increasingly large number of people are called upon to face. Psychologists, social workers, physicians, and all those occupied with group training constantly meet with this problem, and it is just as well that some distinction is made between the types which must be considered, thus clarifying the issue. (The Problem of Sex. Pages 268-307. Esoteric Psychology Vol I)
Tôi đã khai triển phần nào vấn đề này vì việc bạn biết những sự kiện như vậy là hữu ích và thông tin này có giá trị đối với bạn. Nó giúp soi sáng một vấn đề mà ngày càng nhiều người được kêu gọi phải đối diện. Các nhà tâm lý học, nhân viên xã hội, y sĩ, và tất cả những ai bận tâm với việc huấn luyện nhóm thường xuyên gặp vấn đề này, và cũng tốt khi có một vài sự phân biệt được thực hiện giữa các loại cần được xem xét, nhờ đó làm sáng tỏ vấn đề. (Vấn Đề Tính Dục. Trang 268-307. Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I)
You will find in these instructions many hints which, though they may not be classified definitely as instructions in healing, yet fall into that category, for they will make those of you who read more efficient in understanding.
Bạn sẽ tìm thấy trong các chỉ dẫn này nhiều gợi ý mà, dù có thể không được xếp loại rõ ràng là chỉ dẫn về chữa bệnh, vẫn thuộc vào loại đó, vì chúng sẽ làm cho những ai trong các bạn đọc chúng trở nên hữu hiệu hơn trong sự thấu hiểu.
You will note also from the above how this taint, as might well be expected, has its roots in the astral or sentient body, the body of sensation. It is for this reason that I have included it. It would be an interesting experiment in analysis if these various well-known difficulties, diseases and complaints could be classified under their originating impulses. So few of them have a mental origin, in spite of all that Christian Science or Mental Science may say to the contrary. Perhaps I should say, rather, that they are not based on wrong human thought, though all evil can be aggravated and intensified by wrong thought. Many or perhaps most of the [65] complaints from which average man suffers are based upon astral causes or upon some clearly defined desire. A formulated desire is one that finds expression in some form of activity. Of these homosexuality is one of the clearest to define. The other diseases to which humanity is heir are sometimes not so easy to clarify and define. The man or woman is a victim but the cause producing the illness or difficulty—physical or psychological—lies hid in a long past which the victim (with his limited knowledge) is unable to investigate, nor can he arrive at the cause producing the effect. All that he can affirm is that, in all probability, desire was the initiating impulse. What human beings are today and what they suffer is the result of their long past, and the past presupposes long and well-established habits. Such habits are inevitably the result of one of two factors:
Bạn cũng sẽ lưu ý từ phần trên rằng ô nhiễm này, như có thể chờ đợi, có cội rễ trong thể cảm dục hay thể cảm giác, thể của cảm thọ. Chính vì lý do này mà tôi đã đưa nó vào. Sẽ là một thí nghiệm thú vị trong phân tích nếu các khó khăn, bệnh tật và chứng bệnh quen thuộc khác nhau này có thể được phân loại theo các xung lực khởi nguyên của chúng. Rất ít trong số chúng có nguồn gốc trí tuệ, bất chấp mọi điều mà Khoa Học Cơ Đốc hay Khoa Học Tinh Thần có thể nói ngược lại. Có lẽ đúng hơn tôi nên nói rằng chúng không dựa trên tư tưởng sai lầm của con người, mặc dù mọi điều ác đều có thể bị làm trầm trọng và tăng cường bởi tư tưởng sai lầm. Nhiều hay có lẽ phần lớn các [65] chứng bệnh mà con người trung bình phải chịu đựng đều dựa trên các nguyên nhân cảm dục hay trên một dục vọng được xác định rõ ràng nào đó. Một dục vọng được hình thành là dục vọng tìm được sự biểu lộ trong một hình thức hoạt động nào đó. Trong số này, đồng tính luyến ái là một trong những điều rõ ràng nhất để xác định. Các bệnh khác mà nhân loại là kẻ thừa hưởng đôi khi không dễ làm sáng tỏ và xác định đến thế. Người nam hay nữ là nạn nhân nhưng nguyên nhân tạo ra bệnh tật hay khó khăn—hồng trần hay tâm lý—lại ẩn giấu trong một quá khứ xa xưa mà nạn nhân (với tri thức hạn hẹp của mình) không thể khảo cứu, cũng không thể đi đến nguyên nhân tạo ra hậu quả. Tất cả những gì y có thể khẳng định là, rất có thể, dục vọng là xung lực khởi đầu. Con người ngày nay là gì và chịu đựng điều gì là kết quả của quá khứ lâu dài của họ, và quá khứ ấy giả định những thói quen lâu đời và đã được thiết lập vững chắc. Những thói quen như vậy tất yếu là kết quả của một trong hai yếu tố:
1. Desire, dominating and controlling action,
1. Dục vọng, chi phối và kiểm soát hành động,
or
hoặc
2. Mental control which substitutes for desire a planned campaign which will run counter in many cases to the normally sensed, defined desire.
2. Sự kiểm soát trí tuệ thay thế dục vọng bằng một chiến dịch có kế hoạch, trong nhiều trường hợp sẽ đi ngược lại dục vọng bình thường được cảm nhận và xác định.
You will note from the above that it is my wish that you grasp the importance of the emotional sentient body and its power to initiate those secondary causes which, in this life, demonstrate as disease.
Bạn sẽ lưu ý từ phần trên rằng điều tôi mong muốn là bạn nắm được tầm quan trọng của thể cảm giác cảm xúc và quyền năng của nó trong việc khởi phát những nguyên nhân thứ yếu mà, trong kiếp này, biểu lộ thành bệnh tật.
You will note consequently the emphasis I have laid upon the astral body as a promoter of wrong physical conditions, and the necessity for astral understanding and control on the part of the patient, if there is to be a true overcoming of disease. Will you understand me if I say that the true overcoming may mean an acceptance of the Way of Death as the way out, should it come normally, or of healing, if the causes [66] which are the initial impulses are exhausted? Ponder on this.
Do đó, bạn sẽ lưu ý sự nhấn mạnh mà tôi đã đặt vào thể cảm dục như một tác nhân thúc đẩy các tình trạng hồng trần sai lệch, và sự cần thiết của sự thấu hiểu và kiểm soát cảm dục nơi bệnh nhân, nếu muốn có sự vượt thắng bệnh tật chân chính. Bạn có hiểu tôi không nếu tôi nói rằng sự vượt thắng chân chính có thể có nghĩa là chấp nhận Con Đường Chết như lối thoát, nếu nó đến một cách tự nhiên, hoặc chấp nhận sự chữa lành, nếu các nguyên nhân [66] là những xung lực ban đầu đã cạn kiệt? Hãy suy ngẫm về điều này.
In all the above, even in connection with what I have said concerning homosexuality, I have considered either rampant or inhibited desire, but I have only considered it in general terms and in a broad outline. Will you misunderstand if I point out to you that where desire is inhibited (which is the case with many aspirants today) all kinds of diseases—cancer, congestion of the lungs and certain liver complaints—become possible, as well as the dread malady of tuberculosis? The diseases of inhibition are numerous and serious, as you will note from the above enumeration. It should be noted that where desire is rampant and uncontrolled and no inhibition is present, such diseases as the syphilitic disorders, homosexuality and inflammations and fevers appear. According to the temperament so will be the types of disease, and the temperament is dependent upon the ray quality. People on the different rays are predisposed to certain disorders. The psychologists are right in their basic differentiation of human beings into the two major types—extroverts and introverts. These two types produce their own qualities of disease, which demonstrate as ill health through over-expression or inhibition.
Trong tất cả phần trên, ngay cả liên quan đến điều tôi đã nói về đồng tính luyến ái, tôi đã xét đến dục vọng hoặc là bộc phát hoặc là bị ức chế, nhưng tôi chỉ xét nó theo những thuật ngữ tổng quát và trong một phác thảo rộng. Bạn có hiểu sai không nếu tôi chỉ ra với bạn rằng nơi nào dục vọng bị ức chế (điều này đúng với nhiều người chí nguyện ngày nay), thì đủ loại bệnh—ung thư, sung huyết phổi và một số chứng bệnh gan—đều có thể xảy ra, cũng như căn bệnh đáng sợ là lao? Các bệnh của sự ức chế thì nhiều và nghiêm trọng, như bạn sẽ thấy từ sự liệt kê trên. Cần lưu ý rằng nơi nào dục vọng bộc phát và không được kiểm soát và không có sự ức chế hiện diện, thì các bệnh như các rối loạn giang mai, đồng tính luyến ái, các chứng viêm và sốt sẽ xuất hiện. Tùy theo khí chất mà sẽ có các loại bệnh tương ứng, và khí chất tùy thuộc vào phẩm tính cung. Những người thuộc các cung khác nhau dễ mắc một số rối loạn nhất định. Các nhà tâm lý học đúng trong sự phân biệt căn bản của họ về con người thành hai loại chính—hướng ngoại và hướng nội. Hai loại này tạo ra những phẩm tính bệnh tật riêng của chúng, biểu lộ thành sức khỏe kém qua sự biểu lộ quá mức hoặc sự ức chế.
We have considered our second point under the healing of diseases which arise in the emotional or desire nature. Our first point deals with uncontrolled emotion. I would remind you of our premise that we would only consider the ills to which advanced humanity, the aspirants and disciples of all degrees are prone. We will not deal (in this short treatise) with the whole gamut of diseases which affect humanity as a whole, or down the ages. The more advanced the aspirant, the greater probability there is that the diseases from which he suffers will be pronounced and powerfully demonstrating, on account of the inflow to a greater [67] or less degree of the stimulating force of the soul. Subsidiary to the five major groups of diseases to which I earlier referred, and working out in connection with them in the human frame, are a group of symptoms which are loosely covered by the terms: fevers, tumors, congested areas, plus general debility and the auto-intoxication which lies behind so many symptoms. I would have you remember this with care and bear steadily in mind that I am here only generalising, but that this generalisation is basic and therefore of importance.
Chúng ta đã xem xét điểm thứ hai của mình dưới đề mục chữa trị các bệnh phát sinh trong bản chất cảm xúc hay dục vọng. Điểm thứ nhất của chúng ta đề cập đến cảm xúc không được kiểm soát. Tôi xin nhắc bạn về tiền đề của chúng ta rằng chúng ta sẽ chỉ xem xét những bệnh tật mà nhân loại tiến bộ, những người chí nguyện và các đệ tử ở mọi cấp độ dễ mắc phải. Chúng ta sẽ không đề cập (trong luận thuyết ngắn này) đến toàn bộ phổ bệnh tật ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, hay xuyên suốt các thời đại. Người chí nguyện càng tiến bộ thì xác suất các bệnh mà y mắc phải càng rõ rệt và biểu lộ mạnh mẽ hơn, do sự tuôn vào ở mức độ lớn [67] hay nhỏ của mãnh lực kích thích của linh hồn. Phụ thuộc vào năm nhóm bệnh chính mà tôi đã nói đến trước đây, và biểu lộ liên hệ với chúng trong cơ thể con người, là một nhóm triệu chứng được gọi một cách lỏng lẻo bằng các thuật ngữ: sốt, khối u, các vùng sung huyết, cộng với sự suy nhược toàn thân và sự tự nhiễm độc nằm sau rất nhiều triệu chứng. Tôi muốn bạn ghi nhớ điều này cẩn thận và luôn luôn nhớ rằng ở đây tôi chỉ đang khái quát hóa, nhưng sự khái quát hóa này là căn bản và do đó quan trọng.
C. Diseases of Worry and Irritation.
C. Các Bệnh của Lo Âu và Kích Ứng.
The third category of complaints which arise in the emotional or astral body is synthesised esoterically under the term: diseases of irritation. These are the insidious poisons which lurk behind the phenomena of disease.
Loại chứng bệnh thứ ba phát sinh trong thể cảm xúc hay cảm dục được tổng hợp một cách huyền bí dưới thuật ngữ: các bệnh của kích ứng. Đây là những chất độc ngấm ngầm ẩn sau hiện tượng bệnh tật.
It might be said that all diseases can be covered by two definitions, from the standpoint of occultism:
Có thể nói rằng mọi bệnh tật đều có thể được bao quát bởi hai định nghĩa, theo quan điểm của huyền bí học:
1. Diseases which are the result of auto-intoxication. These are the most general.
1. Các bệnh là kết quả của sự tự nhiễm độc. Đây là loại tổng quát nhất.
2. Diseases which are the result of irritation. These are very common amongst disciples.
2. Các bệnh là kết quả của sự kích ứng. Đây là loại rất phổ biến nơi các đệ tử.
We hear much today about auto-intoxication, and many efforts are made to cure this by diet and the regulation of the life in terms of rhythmic living. All this is good and of help, but it does not constitute a basic cure, as its protagonists would lead us to believe. Irritation is a basic psychological complaint and has its roots in the intensification of the astral body, which definitely produces abnormal effects upon the nervous system. It is a disease of self-interest, of self-sufficiency, and of self-satisfaction. Again I would say, ponder on these terms, for these three aspects of irritation are of general discovery. We will therefore [68] deal with irritation, “imperil,” as it is called by exponents of the first ray, such as the Master M.
Ngày nay chúng ta nghe nhiều về sự tự nhiễm độc, và nhiều nỗ lực được thực hiện để chữa trị điều này bằng chế độ ăn uống và sự điều chỉnh đời sống theo nhịp điệu sống. Tất cả điều đó đều tốt và hữu ích, nhưng không cấu thành một sự chữa trị căn bản, như những người chủ trương nó muốn chúng ta tin. Kích ứng là một chứng bệnh tâm lý căn bản và có cội rễ trong sự tăng cường của thể cảm dục, điều chắc chắn tạo ra những tác động bất thường lên hệ thần kinh. Đây là một bệnh của sự tập trung vào bản thân, của sự tự mãn tự túc, và của sự tự thỏa mãn. Một lần nữa tôi xin nói, hãy suy ngẫm về các thuật ngữ này, vì ba phương diện kích ứng này thường được phát hiện. Do đó, chúng ta sẽ [68] đề cập đến kích ứng, “imperil,” như nó được những người thuộc cung một, như Chân sư M., gọi như vậy.
We have nearly completed our first section under the heading Psychological Causes of Disease, and have very briefly, yet I believe suggestively, considered those problems which arise from the overactivity and wrong condition of the astral body. All I can do in this short treatise is to generalise, because most of the statements I may make are, in any case, so new and revolutionary (from the standpoint of orthodox medicine) that it will take time for even this first inner structure of ideas and this somewhat new formulation of truth to make its impact upon the thinkers of the race. Then, if accepted as hypothetical possibilities by the open-minded among them, a long period of time must elapse before there has been enough investigation, leading to definitely formulated conclusions, which will make the ideas of popular recognition and use. In saying this, I am not reflecting critically upon the medical profession. The money-grasping specialist and the charlatan are rare; they of course exist, as do the corrupt and the undesirable in every profession. Where are they not to be found? The closed minds are many; but again, where are they not found? The pioneers along the new lines of thought and the man who has grasped some of the New Age concepts have often equally closed minds and see nothing but the new ways, modes and methods, and throw overboard all the old, losing much thereby. The medical profession has one of the greatest and most beautiful records in the world of its purpose and field of activity, and has developed some of the greatest of the soul qualities—self-sacrifice, compassion and service. But the ways and the techniques of the New Age are hard to grasp. Much of the old ways have to be given up and much sacrificed before the new art of healing becomes possible.
Chúng ta gần như đã hoàn tất phần thứ nhất của mình dưới đề mục Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật, và đã rất ngắn gọn, nhưng tôi tin là có tính gợi mở, xem xét những vấn đề phát sinh từ sự hoạt động quá mức và tình trạng sai lệch của thể cảm dục. Tất cả những gì tôi có thể làm trong luận thuyết ngắn này là khái quát hóa, bởi vì hầu hết các phát biểu tôi có thể đưa ra, trong bất kỳ trường hợp nào, đều mới mẻ và có tính cách mạng đến mức (theo quan điểm của y học chính thống) sẽ cần thời gian để ngay cả cấu trúc nội tại đầu tiên này của các ý tưởng và sự hình thành chân lý phần nào mới mẻ này tạo được tác động lên các nhà tư tưởng của nhân loại. Rồi sau đó, nếu được những người cởi mở trong số họ chấp nhận như những khả năng giả thuyết, thì phải trải qua một thời gian dài trước khi có đủ sự khảo cứu dẫn đến những kết luận được hình thành rõ rệt, khiến các ý tưởng ấy được công nhận và sử dụng rộng rãi. Khi nói điều này, tôi không phê phán giới y khoa. Chuyên gia tham tiền và kẻ lang băm thì hiếm; dĩ nhiên họ có tồn tại, cũng như những kẻ đồi bại và không đáng mong muốn trong mọi ngành nghề. Có nơi nào mà không có họ? Những đầu óc khép kín thì nhiều; nhưng một lần nữa, có nơi nào mà không có? Những người tiên phong theo các đường lối tư tưởng mới và người đã nắm bắt được một số khái niệm của Kỷ Nguyên Mới cũng thường có những đầu óc khép kín tương tự và không thấy gì ngoài những con đường, phương thức và phương pháp mới, rồi vứt bỏ tất cả cái cũ, do đó đánh mất nhiều điều. Giới y khoa có một trong những thành tích lớn lao và đẹp đẽ nhất trên thế giới về mục đích và lĩnh vực hoạt động của mình, và đã phát triển một số phẩm tính linh hồn lớn lao nhất—hy sinh, từ bi và phụng sự. Nhưng các đường lối và kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới thì khó nắm bắt. Nhiều đường lối cũ phải được từ bỏ và nhiều điều phải được hy sinh trước khi nghệ thuật chữa bệnh mới trở nên khả hữu.
[69]
[69]
Until the fact of the subtler bodies is properly recognised by the world thinkers, and their existence is established through a right and true science of psychology and the development of the faculty of clairvoyance, the tracing of the causes of disease back to the subtler bodies is relatively meaningless. The best reaction which the most open-minded physician can (I say can and not will) produce or admit is that the psychological attitude, the mental state, and the emotional condition of the patient do either help or hinder. Many are already admitting that. That in itself is much.
Cho đến khi sự kiện về các thể vi tế hơn được các nhà tư tưởng thế giới công nhận đúng đắn, và sự hiện hữu của chúng được xác lập qua một khoa học tâm lý học đúng đắn và chân thực cùng sự phát triển của năng lực thông nhãn, thì việc truy nguyên các nguyên nhân của bệnh tật trở lại các thể vi tế hơn tương đối vô nghĩa. Phản ứng tốt nhất mà vị y sĩ cởi mở nhất có thể (tôi nói có thể chứ không phải sẽ) tạo ra hay thừa nhận là thái độ tâm lý, trạng thái trí tuệ, và tình trạng cảm xúc của bệnh nhân quả thật có giúp ích hoặc cản trở. Nhiều người đã thừa nhận điều đó. Tự thân điều ấy đã là nhiều.
When, therefore, I say that cancer, for instance, has its roots in an astral condition and began its career in Atlantean times, it means but little to the average man today. He does not realise that large numbers of people today are Atlantean in their consciousness.
Do đó, khi tôi nói rằng chẳng hạn ung thư có cội rễ trong một tình trạng cảm dục và đã bắt đầu sự nghiệp của nó trong thời Atlantis, điều đó có ý nghĩa rất ít đối với người trung bình ngày nay. Y không nhận ra rằng ngày nay có rất nhiều người mang tâm thức Atlantis.
I want briefly to touch upon the most common of all causes of trouble: Worry and Irritation. They are more prevalent at this time than ever before, and for the following reasons:
Tôi muốn ngắn gọn đề cập đến nguyên nhân phổ biến nhất của mọi rối loạn: Lo Âu và Kích Ứng. Chúng phổ biến vào lúc này hơn bao giờ hết, vì những lý do sau đây:
1. The world situation is such, the problems and uncertainty are such, that scarcely a person in the world at this time is exempt. Everyone is more or less involved in the planetary situation.
1. Tình hình thế giới là như vậy, các vấn đề và sự bất định là như vậy, đến nỗi hầu như không một ai trên thế giới vào lúc này được miễn trừ. Mọi người đều ít nhiều bị cuốn vào tình hình hành tinh.
2. The intercommunication between people has increased so much, and men live so much in massed groups—large or small—that it is inevitable that they produce an effect upon each other as never before. “If one member suffers, all the members suffer with it” is a statement of truth, ancient but new in application and today realised for the first time.
2. Sự liên lạc giữa con người đã gia tăng rất nhiều, và con người sống quá nhiều trong các nhóm quần tụ—lớn hay nhỏ—đến mức tất yếu họ tạo tác động lên nhau như chưa từng có trước đây. “Nếu một chi thể đau khổ, mọi chi thể đều cùng đau khổ với nó” là một phát biểu chân thật, cổ xưa nhưng mới trong sự áp dụng và ngày nay lần đầu tiên được nhận ra.
3. The increased sensitivity of the human mechanism is also such that men “tune in” on each other’s emotional conditions and mental attitudes in a new and more potent [70] manner. To their own engrossing concerns and worries are added those of their fellowmen with whom they may be en rapport.
3. Sự nhạy cảm gia tăng của bộ máy con người cũng đến mức con người “bắt sóng” các tình trạng cảm xúc và thái độ trí tuệ của nhau theo một cách mới và mạnh mẽ hơn [70]. Vào những mối quan tâm và lo âu vốn đã chiếm trọn họ, nay còn được thêm vào những mối lo của đồng loại mà họ có thể có sự liên hệ.
4. Telepathically, and also with a developed sense of prevision, men are today adding the difficulties that belong to someone else, or to some other group of thinkers and of people, to the difficulties that may be. It is not sure that they will be.
4. Một cách viễn cảm, và cũng với một cảm nhận tiên tri đã phát triển, ngày nay con người đang cộng thêm những khó khăn thuộc về người khác, hay thuộc về một nhóm nhà tư tưởng và con người nào khác, vào những khó khăn có thể xảy ra. Không chắc rằng chúng sẽ xảy ra.
These problems will demonstrate to you how intensely difficult it is for men to face up to life. It will be obvious that the problems of worry and irritation (called by the Master Morya “imperil”) are many and must be considered.
Những vấn đề này sẽ cho bạn thấy việc con người đối diện với đời sống khó khăn đến mức nào. Sẽ rõ ràng rằng các vấn đề của lo âu và kích ứng (được Chân sư Morya gọi là “imperil”) thì rất nhiều và phải được xem xét.
Why are these difficulties of the astral body so “perilous” and so serious? Worry and Irritation are dangerous because:
Tại sao những khó khăn của thể cảm dục này lại “nguy hiểm” và nghiêm trọng đến vậy? Lo Âu và Kích Ứng nguy hiểm vì:
1. They lower the vitality of the man to such a point that he becomes susceptible to disease. The scourge of influenza has its roots in fear and worry, and once the world settles down to freedom from the present “fearful” condition, we shall see the disease die out.
1. Chúng hạ thấp sinh lực của con người đến mức y trở nên dễ mắc bệnh. Tai họa cúm có cội rễ trong sợ hãi và lo âu, và một khi thế giới ổn định trở lại, thoát khỏi tình trạng “đầy sợ hãi” hiện nay, chúng ta sẽ thấy bệnh này biến mất.
2. They are so highly infectious from the astral point of view that they lower in a peculiar manner the astral atmosphere, and thus make it hard for people—in the astral sense—to breathe freely.
2. Chúng có tính lây nhiễm rất cao theo quan điểm cảm dục đến mức chúng làm hạ thấp bầu khí quyển cảm dục theo một cách đặc biệt, và do đó khiến con người khó “thở” tự do theo nghĩa cảm dục.
3. Because the astral conditions of fear, worry and irritation are so widespread today that they might be regarded as epidemic, in a planetary sense.
3. Bởi vì các tình trạng cảm dục của sợ hãi, lo âu và kích ứng ngày nay lan rộng đến mức chúng có thể được xem là dịch bệnh, theo nghĩa hành tinh.
4. Because irritation (I speak not here of worry) is inflammatory in its effects—and inflammation is hard to bear—and leads to much difficulty. It is interesting to note that certain forms of eye trouble are caused by this.[71]
4. Bởi vì kích ứng (ở đây tôi không nói về lo âu) có tính gây viêm trong các tác động của nó—mà viêm thì khó chịu đựng—và dẫn đến nhiều khó khăn. Thật thú vị khi lưu ý rằng một số dạng bệnh về mắt là do điều này gây ra.[71]
5. Because worry and irritation prevent true vision. They shut out the view. The man who is the victim of these conditions sees nothing but the cause of his complaints and is so submerged through self-pity, self-consideration, or in a focussed negative condition, that his vision is narrowed and his group hindered. Remember that there is group selfishness as well as individual selfishness.
5. Bởi vì lo âu và kích ứng ngăn cản linh thị chân chính. Chúng che khuất tầm nhìn. Người là nạn nhân của các tình trạng này không thấy gì ngoài nguyên nhân của những than phiền của mình và bị chìm ngập trong sự tự thương hại, sự tự lưu tâm, hay trong một tình trạng tiêu cực tập trung đến mức tầm nhìn của y bị thu hẹp và nhóm của y bị cản trở. Hãy nhớ rằng có sự ích kỷ nhóm cũng như sự ích kỷ cá nhân.
I have cited sufficient reasons for the effects of Worry and Irritation to demonstrate to you the wideness of the difficulty. It is not much use at this time to talk of the remedy. One does not say to an influenza patient (when the worst throes of the disease are upon him), “There is nothing the matter. Pay no attention. Get up and go about your business.” It is no use saying to men today, “Do not fear. Leave off worrying. All will be well.” They will not believe you, for one thing—and that is fortunate, for it is not true. Things are not well and humanity and the Planetary life are not well. This, the Hierarchy knows, and is working for the amelioration of the conditions. When the throes of the “planetary influenza” are over (and the patient will not die), then investigation can be made and effort produced which can prevent a recurrence. At present, all that can be done is to keep the patient quiet and also keep the fever down. This is the work of the New Group of World Servers and the intelligent men of goodwill. Their name is Legion.
Tôi đã nêu đủ lý do về các tác động của Lo Âu và Kích Ứng để cho bạn thấy mức độ rộng lớn của khó khăn này. Vào lúc này, nói về phương thuốc không ích lợi gì nhiều. Người ta không nói với một bệnh nhân cúm (khi cơn bệnh dữ dội nhất đang giày vò y), “Không có gì đâu. Đừng để ý. Hãy đứng dậy và đi làm việc của anh.” Cũng vô ích khi nói với con người ngày nay, “Đừng sợ. Hãy thôi lo âu. Mọi sự sẽ ổn.” Trước hết, họ sẽ không tin bạn—và điều đó là may mắn, vì điều ấy không đúng. Mọi sự không ổn và nhân loại cùng sự sống Hành tinh đều không ổn. Điều này, Thánh Đoàn biết, và đang hoạt động để cải thiện các điều kiện. Khi những cơn co giật của “bệnh cúm hành tinh” qua đi (và bệnh nhân sẽ không chết), khi ấy có thể tiến hành khảo cứu và tạo ra nỗ lực có thể ngăn ngừa sự tái phát. Hiện tại, tất cả những gì có thể làm là giữ cho bệnh nhân yên tĩnh và cũng giữ cho cơn sốt hạ xuống. Đây là công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí thông minh. Tên của họ là Legion.
2. CAUSES ARISING IN THE ETHERIC BODY — 2. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ DĨ THÁI
It will be wise for you to bear in mind that I am not here going to deal with those causes which, producing effects in the physical body, arise in the mind or in the astral body. Necessarily they pass through the etheric body. The etheric body is a transmitter of all energies to the physical body, [72] and all types of force pass through it to different parts of the physical form, producing good and bad results, negative or positive results, as the case may be. This is a fact which we accept. I am here considering the diseases, problems and physical difficulties which arise in the etheric body itself and work out in its relations to the physical body. These are quite widespread and usual. It is essential that you keep these two lines of force-activity clearly differentiated in your mind. Both pass through and from the etheric body into the physical body, but only one of them originates in or is concerned with difficulties which have an etheric origin.
Bạn nên ghi nhớ rằng ở đây tôi sẽ không đề cập đến những nguyên nhân, tuy tạo ra các hậu quả trong thể xác, nhưng phát sinh trong trí tuệ hay trong thể cảm dục. Tất yếu chúng đi qua thể dĩ thái. Thể dĩ thái là một bộ truyền dẫn mọi năng lượng đến thể xác, [72] và mọi loại mãnh lực đều đi qua nó đến các phần khác nhau của hình tướng hồng trần, tạo ra kết quả tốt hay xấu, kết quả tiêu cực hay tích cực, tùy trường hợp. Đây là một sự kiện mà chúng ta chấp nhận. Ở đây tôi đang xem xét các bệnh tật, vấn đề và khó khăn hồng trần phát sinh trong chính thể dĩ thái và biểu lộ trong các quan hệ của nó với thể xác. Những điều này khá phổ biến và thông thường. Điều cốt yếu là bạn phải giữ cho hai đường hoạt động của mãnh lực này được phân biệt rõ ràng trong trí tuệ của mình. Cả hai đều đi qua và từ thể dĩ thái vào thể xác, nhưng chỉ một trong hai phát sinh trong hoặc liên quan đến những khó khăn có nguồn gốc dĩ thái.
The etheric body is a body composed entirely of lines of force and of points where these lines of force cross each other and thus form (in crossing) centres of energy. Where many such lines of force cross each other, you have a larger centre of energy, and where great streams of energy meet and cross, as they do in the head and up the spine, you have seven major centres. There are seven such, plus twenty-one lesser centres and forty-nine smaller centres known to the esotericists. However, we will confine ourselves at this time to the etheric body as a whole and to the seven major centres. It might be of interest to you, nevertheless, to be told where the twenty-one minor centres are to be found. They can be located at the following points:
Thể dĩ thái là một thể được cấu tạo hoàn toàn bằng các đường mãnh lực và các điểm nơi những đường mãnh lực này cắt nhau và nhờ đó hình thành (trong sự giao cắt) các trung tâm năng lượng. Nơi nhiều đường mãnh lực như vậy cắt nhau, bạn có một trung tâm năng lượng lớn hơn, và nơi các dòng năng lượng lớn gặp nhau và cắt nhau, như chúng xảy ra trong đầu và dọc theo cột sống, bạn có bảy trung tâm chính. Có bảy trung tâm như vậy, cộng với hai mươi mốt trung tâm nhỏ hơn và bốn mươi chín trung tâm nhỏ hơn nữa mà các nhà bí truyền học biết đến. Tuy nhiên, vào lúc này chúng ta sẽ giới hạn vào thể dĩ thái như một toàn thể và vào bảy trung tâm chính. Dẫu vậy, có lẽ bạn sẽ thấy thú vị nếu được cho biết hai mươi mốt trung tâm phụ được tìm thấy ở đâu. Chúng có thể được định vị tại các điểm sau:
There are two of them in front of the ears close to where the jaw bones are connected.
Có hai trung tâm ở phía trước tai, gần nơi các xương hàm nối với nhau.
There are two of them just above the two breasts.
Có hai trung tâm ngay phía trên hai bầu ngực.
There is one where the breast bones meet, close to the thyroid gland. This, with the two breast centres, makes a triangle of force.
Có một trung tâm ở nơi các xương ngực gặp nhau, gần tuyến giáp. Trung tâm này cùng với hai trung tâm ngực tạo thành một tam giác mãnh lực.
There are two, one each in the palms of the hands. [73]
Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn tay một trung tâm. [73]
There are two, one each in the soles of the feet.
Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn chân một trung tâm.
There are two, just behind the eyes.
Có hai trung tâm, ngay phía sau mắt.
There are two also connected with the gonads.
Cũng có hai trung tâm liên hệ với các tuyến sinh dục.
There is one close to the liver.
Có một trung tâm ở gần gan.
There is one connected with the stomach; it is related, therefore, to the solar plexus, but is not identical with it.
Có một trung tâm liên hệ với dạ dày; vì vậy, nó có liên quan đến tùng thái dương, nhưng không đồng nhất với trung tâm ấy.
There are two connected with the spleen. These form one centre in reality, but such a centre is formed by the two being superimposed one on the other.
Có hai trung tâm liên hệ với lá lách. Thực ra, chúng tạo thành một trung tâm, nhưng một trung tâm như thế được hình thành do hai trung tâm chồng lên nhau.
There are two—one at the back of each knee.
Có hai trung tâm—một ở phía sau mỗi đầu gối.
There is one powerful centre which is closely connected with the vagus nerve. This is most potent and is regarded by some schools of occultism as a major centre; it is not in the spine, but is no great distance from the thymus gland.
Có một trung tâm mạnh mẽ liên hệ mật thiết với dây thần kinh phế vị. Trung tâm này rất mãnh liệt và được một số trường phái huyền bí học xem là một trung tâm chính; nó không ở trong cột sống, nhưng cũng không cách xa tuyến ức bao nhiêu.
There is one which is close to the solar plexus, and relates it to the centre at the base of the spine, thus making a triangle of the sacral centre, the solar plexus, and the centre at the base of the spine.
Có một trung tâm ở gần tùng thái dương, và liên hệ trung tâm này với trung tâm ở đáy cột sống, nhờ đó tạo thành một tam giác gồm trung tâm xương cùng, tùng thái dương, và trung tâm ở đáy cột sống.
The two triangles referred to in this tabulation are of real importance. One is above and the other below the diaphragm.
Hai tam giác được nhắc đến trong bảng liệt kê này thực sự quan trọng. Một ở trên và một ở dưới cơ hoành.
It is of course apparent that where there is a free flow of force through the etheric body into the dense physical body there will be less likelihood of disease or sickness. There may, however, be increased tendency to difficulties arising from overstimulation and its consequent results of overactivity of the nervous system, with all the attendant problems. These forces, seeking inlet into the dense vehicle, are emanations from three directions (if I may use such a term): [74]
Dĩ nhiên, hiển nhiên là ở đâu có sự lưu chuyển tự do của mãnh lực qua thể dĩ thái vào thể xác đậm đặc thì ở đó sẽ ít có khả năng phát sinh bệnh tật hay đau yếu hơn. Tuy nhiên, có thể có xu hướng gia tăng những khó khăn phát sinh từ sự kích thích quá mức và các hậu quả tiếp theo của nó là sự hoạt động quá độ của hệ thần kinh, cùng mọi vấn đề đi kèm. Các mãnh lực này, tìm cách đi vào vận cụ đậm đặc, là những phát xạ từ ba hướng (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy): [74]
1. From the personality vehicles—the astral and mental bodies.
1. Từ các vận cụ của phàm ngã—thể cảm dục và thể trí.
2. From the soul, if contact, recognised or unrecognised, has been established.
2. Từ linh hồn, nếu sự tiếp xúc, được nhận biết hay không được nhận biết, đã được thiết lập.
3. From the environing world to which the vehicles of the soul and of the personality have acted as “doors of entrance.” Incidentally, in connection with this last phrase, I would call your attention to a possible relation between these “doors of entrance” and the phrase “door of initiation.”
3. Từ thế giới bao quanh mà các vận cụ của linh hồn và của phàm ngã đã hoạt động như những “cửa ngõ đi vào.” Nhân đây, liên quan đến cụm từ cuối này, tôi muốn lưu ý bạn đến một mối liên hệ khả dĩ giữa những “cửa ngõ đi vào” này và cụm từ “cửa điểm đạo.”
In the case where these centres, through which the inflowing energy from these sources of supply flow, are quiescent, unawakened or only functioning partially or too slowly (as far as their vibratory rhythm is concerned), then you will have a condition of blocking. This will produce congestion in the etheric vehicle, and consequent and subsequent difficulties in the functioning of the physical body. One of the most common of these is congestion of the lungs which—though it may be exoterically traced to certain and definite physical causes—is in reality those causes, plus an inner condition of etheric congestion. It is the bringing together of the outer apparent cause and the apparent inner true cause which is responsible for the outbreak of the trouble. When these two conditions are brought into conjunction with each other, and you have a physical handicap and an etheric situation which is undesirable, then you will have disease, illness, or weakness of some kind. Every outer congestion can always be traced to these two causes—an inner and an outer cause. In these cases, the outer cause is not an effect of the individual inner cause, which is interesting. You will note, therefore, that all ills are not purely subjective or psychological in origin as far as an individual is concerned, [75] but are sometimes both exoteric and esoteric. Hence the complication of the problem.
Trong trường hợp các trung tâm này, qua đó năng lượng tuôn vào từ các nguồn cung ứng ấy lưu chuyển, lại tĩnh lặng, chưa thức tỉnh hoặc chỉ hoạt động từng phần hay quá chậm (xét về nhịp điệu rung động của chúng), thì bạn sẽ có một tình trạng bế tắc. Điều này sẽ tạo ra sự tắc nghẽn trong thể dĩ thái, và kéo theo những khó khăn tiếp diễn trong hoạt động của thể xác. Một trong những biểu hiện thông thường nhất là sự sung huyết ở phổi; tuy bề ngoài có thể truy nguyên đến những nguyên nhân hồng trần nhất định và rõ rệt, nhưng thực ra đó là những nguyên nhân ấy cộng thêm một tình trạng tắc nghẽn dĩ thái bên trong. Chính sự kết hợp giữa nguyên nhân bên ngoài biểu kiến và nguyên nhân bên trong có vẻ là chân thực mới là điều chịu trách nhiệm cho sự bộc phát của chứng bệnh. Khi hai tình trạng này kết hợp với nhau, và bạn có một khiếm khuyết hồng trần cùng một tình trạng dĩ thái không mong muốn, thì bạn sẽ có bệnh tật, đau yếu, hoặc một loại suy nhược nào đó. Mọi sự tắc nghẽn bên ngoài luôn luôn có thể truy nguyên về hai nguyên nhân này—một nguyên nhân bên trong và một nguyên nhân bên ngoài. Trong những trường hợp này, nguyên nhân bên ngoài không phải là một hiệu quả của nguyên nhân bên trong cá nhân, điều này thật đáng chú ý. Vì vậy, bạn sẽ lưu ý rằng không phải mọi bệnh tật đều hoàn toàn có nguồn gốc chủ quan hay tâm lý xét theo phương diện cá nhân, [75] mà đôi khi vừa ngoại môn vừa nội môn. Do đó, vấn đề trở nên phức tạp.
The above statement opens up the whole question of the activity of the seven centres of force in the etheric body. These can be regarded as dormant or unawakened, awakening but only as yet sluggishly alive, or functioning normally, which means that some of the energies which produce the form of the centre are moving rhythmically, and are therefore receptive to inflow, while others are still entirely inactive and unresponsive. Other centres will be fully active, and therefore predominantly attractive to any inflowing forces; still others will be only partially so. For the majority of people, the centres below the diaphragm are more active than those above the diaphragm (I am referring here to the seven major centres and not to the twenty-one minor centres). For aspirants, centres below the diaphragm are active and the heart and throat centres are slowly coming into activity, while in the case of disciples, the ajna centre, plus those centres below it in the body, are rapidly awakening. In the initiate, the head centre is coming into vibrant activity, thus swinging all the centres into real and coordinated rhythm. Each patient or human being, being on some ray, responds differently; the time factor also differs; the pattern of the unfoldment varies, and the response to the inflowing forces is slightly differentiated.
Phát biểu trên mở ra toàn bộ vấn đề về hoạt động của bảy trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Chúng có thể được xem là đang ngủ yên hay chưa thức tỉnh, đang thức tỉnh nhưng cho đến nay vẫn chỉ sống động một cách trì trệ, hoặc đang hoạt động bình thường, nghĩa là một số năng lượng tạo nên hình tướng của trung tâm đang vận động có nhịp điệu và vì vậy tiếp nhận được dòng tuôn vào, trong khi những năng lượng khác vẫn hoàn toàn bất hoạt và không đáp ứng. Những trung tâm khác sẽ hoàn toàn hoạt động, và vì vậy chủ yếu có tính hấp dẫn đối với bất kỳ mãnh lực nào tuôn vào; còn những trung tâm khác nữa thì chỉ hoạt động từng phần. Đối với đa số người, các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động mạnh hơn các trung tâm trên cơ hoành (ở đây tôi nói đến bảy trung tâm chính chứ không phải hai mươi mốt trung tâm phụ). Đối với người chí nguyện, các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động và các trung tâm tim cùng cổ họng đang chậm rãi đi vào hoạt động, trong khi ở trường hợp các đệ tử, trung tâm ajna, cùng với các trung tâm bên dưới nó trong thể, đang nhanh chóng thức tỉnh. Ở điểm đạo đồ, trung tâm đầu đang đi vào hoạt động rung động, nhờ đó đưa tất cả các trung tâm vào nhịp điệu thực sự và phối hợp. Mỗi bệnh nhân hay mỗi con người, vì thuộc một cung nào đó, đáp ứng khác nhau; yếu tố thời gian cũng khác nhau; mô hình khai mở cũng biến đổi, và sự đáp ứng đối với các mãnh lực tuôn vào cũng hơi khác biệt.
All of this we will consider with due care when we deal with Chapter IX, which concerns itself with the seven modes of healing. I simply mention it here so as to lay the foundation for what must later be considered, and thus show you how the whole question of the relation of the etheric body to the physical body is connected with the problem of healing. It will be apparent, therefore, how important it is—before real healing can take place—that the healer should know the point in evolution reached by [76] the patient, and should also know his ray type, both personality and egoic. If to this you add some knowledge of his astrological inclinations and indications, a far more accurate diagnosis can be produced. The key to all release (either through the physical cure of disease or through death) lies in the understanding of the condition of the centres in the etheric body. These determine the rate of the bodily vibratory activity and the general responsiveness of the physical body. They even condition the activity and accuracy of the instinctual nature and its relation to the outer plane life and the “wholeness” and general health of the sympathetic nervous system.
Tất cả điều này chúng ta sẽ xem xét cẩn trọng khi bàn đến Chương IX, chương đề cập đến bảy phương thức trị liệu. Tôi chỉ nhắc đến ở đây để đặt nền tảng cho điều về sau phải được xem xét, và nhờ đó cho bạn thấy toàn bộ vấn đề về mối liên hệ của thể dĩ thái với thể xác gắn liền với vấn đề trị liệu như thế nào. Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng trước khi sự trị liệu thực sự có thể diễn ra, điều quan trọng là người chữa trị phải biết điểm tiến hoá mà [76] bệnh nhân đã đạt tới, và cũng phải biết loại cung của y, cả cung phàm ngã lẫn cung chân ngã. Nếu thêm vào đó một ít hiểu biết về các khuynh hướng và chỉ dấu chiêm tinh của y, thì có thể đưa ra một chẩn đoán chính xác hơn nhiều. Chìa khóa của mọi sự giải thoát (hoặc qua việc chữa lành bệnh về thể xác hoặc qua cái chết) nằm trong sự thấu hiểu tình trạng của các trung tâm trong thể dĩ thái. Chúng quyết định tốc độ hoạt động rung động của cơ thể và khả năng đáp ứng tổng quát của thể xác. Chúng thậm chí còn tác động lên hoạt động và độ chính xác của bản chất bản năng cùng mối liên hệ của nó với đời sống cõi ngoài và với “tính toàn vẹn” cùng sức khỏe tổng quát của hệ thần kinh giao cảm.
A. Congestion.
A. Tắc nghẽn.
Much real difficulty can be traced to congestion or to the lack of the free play of the forces. In this connection it might be pointed out that the etheric body is a mechanism for intake and for outlet. There is consequently a curious and intimate relation between it and such organs as the lungs, the stomach, and the kidneys. The symbology here present, when correctly understood, will tend to show that there is a deep underlying esoteric relation between:
Nhiều khó khăn thực sự có thể truy nguyên về sự tắc nghẽn hoặc về sự thiếu vắng sự vận hành tự do của các mãnh lực. Liên quan đến điều này, có thể chỉ ra rằng thể dĩ thái là một bộ máy để tiếp nhận và để thoát ra. Do đó, có một mối liên hệ kỳ lạ và mật thiết giữa nó với những cơ quan như phổi, dạ dày và thận. Tính biểu tượng hiện diện ở đây, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ có khuynh hướng cho thấy rằng có một mối liên hệ nội môn sâu xa tiềm ẩn giữa:
1. The mind and the lungs. The process of breathing, with its stages of inhalation, the interlude, and exhalation, works out in connection with both aspects of force, mental and physical.
1. Trí tuệ và phổi. Tiến trình hô hấp, với các giai đoạn hít vào, khoảng ngừng, và thở ra, được triển khai liên hệ với cả hai phương diện của mãnh lực, trí tuệ và hồng trần.
2. The desire nature and the stomach. Here again is the process of intake, of assimilation, and of elimination.
2. Bản chất ham muốn và dạ dày. Ở đây lại có tiến trình tiếp nhận, đồng hoá, và loại bỏ.
3. The etheric body itself and the kidneys, with the processes clearly defined in both cases of absorption, chemicalisation, and transmission.
3. Chính thể dĩ thái và thận, với các tiến trình được xác định rõ ràng trong cả hai trường hợp là hấp thụ, hoá học hoá, và truyền dẫn.
There is no symbol so relatively accurate to the whole [77] creative process as the human frame.
Không có biểu tượng nào tương đối chính xác đối với toàn bộ [77] tiến trình sáng tạo bằng cơ thể con người.
Congestion in the etheric body, producing much distress in the physical body, can exist. therefore, at the point of intake from the astral body or from the astral plane (Note the phrasing and the difference.) or at the point of outlet, in relation to the centre to which the particular type of etheric force most easily flows and through which it most easily passes. Where there is no free play between the etheric body and the astral body, you will have trouble. Where there is no free play between the etheric body and the physical body, involving also the nerve ganglia and the endocrine system, you will also have trouble. The close relation between the seven major centres and the seven major glands of the physical system must never be forgotten. The two systems form one close interlocking directorate, with the glands and their functions determined by the condition of the etheric centres. These, in their turn, are conditioned by the point in evolution and gained experience of the incarnate soul, by the specific polarisation of the soul in incarnation, and by the rays (personality and soul) of the man. Forget not, that the five aspects of man (as he functions in the three worlds) are determined by certain ray forces; you have the ray of the soul, the ray of the personality, and the rays of the mental, the astral and the physical bodies. All these will, in the coming New Age, be definitely considered and discovered, and this knowledge will reveal to the healer the probable condition of the centres, the order of their awakening, and their individual and basic note or notes. The new medical science will be outstandingly built upon the science of the centres, and upon this knowledge all diagnosis and possible cure will be based. The endocrinologist is only beginning to glimpse possibilities, and much that he is now considering has in it the seeds of future truth. The “balancing of the glandular system” [78] and the relation of the glands to the blood stream, and also to character and predispositions of many kinds, are considerations of real value and worth following. Much, however, remains to be discovered before it will be really safe to work with the glands, making them a major subject of attention (as some day will be the case in all forms of illness).
Vì vậy, sự tắc nghẽn trong thể dĩ thái, gây ra nhiều đau khổ trong thể xác, có thể tồn tại tại điểm tiếp nhận từ thể cảm dục hoặc từ cõi cảm dục (Hãy lưu ý cách diễn đạt và sự khác biệt.) hoặc tại điểm thoát ra, liên hệ với trung tâm mà loại mãnh lực dĩ thái đặc thù ấy dễ dàng chảy đến nhất và dễ dàng đi qua nhất. Ở đâu không có sự vận hành tự do giữa thể dĩ thái và thể cảm dục, ở đó bạn sẽ có rắc rối. Ở đâu không có sự vận hành tự do giữa thể dĩ thái và thể xác, đồng thời liên quan cả đến các hạch thần kinh và hệ nội tiết, ở đó bạn cũng sẽ có rắc rối. Mối liên hệ mật thiết giữa bảy trung tâm chính và bảy tuyến chính của hệ thống hồng trần không bao giờ được quên. Hai hệ thống này tạo thành một ban điều hành đan kết chặt chẽ, với các tuyến và chức năng của chúng được quyết định bởi tình trạng của các trung tâm dĩ thái. Đến lượt mình, các trung tâm này được tác động bởi điểm tiến hoá và kinh nghiệm đã đạt được của linh hồn đang nhập thể, bởi sự phân cực đặc thù của linh hồn đang lâm phàm, và bởi các cung (phàm ngã và linh hồn) của con người. Đừng quên rằng năm phương diện của con người (khi y hoạt động trong ba cõi giới) được quyết định bởi những mãnh lực cung nhất định; bạn có cung của linh hồn, cung của phàm ngã, và các cung của thể trí, thể cảm dục và thể xác. Tất cả những điều này, trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến, sẽ được xem xét và khám phá một cách rõ rệt, và tri thức này sẽ tiết lộ cho người chữa trị tình trạng có thể có của các trung tâm, trật tự thức tỉnh của chúng, và âm điệu hay các âm điệu cá biệt và căn bản của chúng. Khoa học y học mới sẽ được xây dựng nổi bật trên khoa học về các trung tâm, và trên tri thức này mọi chẩn đoán và việc chữa trị khả dĩ sẽ được đặt nền. Nhà nội tiết học chỉ mới bắt đầu thoáng thấy các khả năng, và nhiều điều mà hiện nay ông đang xem xét chứa trong đó những hạt giống của chân lý tương lai. “Sự quân bình của hệ tuyến” [78] và mối liên hệ của các tuyến với dòng máu, cũng như với tính cách và các khuynh hướng thuộc nhiều loại, là những điều đáng giá thực sự và đáng được theo đuổi. Tuy nhiên, còn nhiều điều phải được khám phá trước khi thực sự an toàn để làm việc với các tuyến, biến chúng thành một đối tượng chú ý chính yếu (như một ngày kia sẽ là trường hợp trong mọi dạng bệnh tật).
Throughout this short treatise I will give many hints which will serve to guide the open minded investigator in the right direction. Before passing on to the consideration of the relation of the etheric body, as a unit, to the physical body, I would like to point out that I place the complications of congestion first upon the list of diseases arising in the etheric body, because it is at this time—and will be for a couple of centuries—the major cause of difficulty for the bulk of humanity or of those people whom we esoterically call “solar-sacral” people. This is partly due to the age-long habits of suppression and of inhibition which the race, as a whole, has developed. It is this congestion at the point of intake and of outlet in the etheric body which is responsible for the impeding of the free flow of the life force, with the results of a rapid succumbing to diseases. Hence, also, you will see how carefully assigned breathing exercises, with their subtle effects of reorganising and readjusting the subtler bodies (particularly the etheric and astral bodies) will become more and more generally used. The widespread interest in breathing today evidences a subjective recognition of this fact, though not enough is yet known about methods and effects.
Xuyên suốt chuyên luận ngắn này, tôi sẽ đưa ra nhiều gợi ý để hướng dẫn nhà nghiên cứu có đầu óc cởi mở đi đúng hướng. Trước khi chuyển sang xem xét mối liên hệ của thể dĩ thái, như một đơn vị, với thể xác, tôi muốn chỉ ra rằng tôi đặt các biến chứng của sự tắc nghẽn lên đầu danh sách các bệnh phát sinh trong thể dĩ thái, bởi vì vào lúc này—và sẽ còn như vậy trong vài thế kỷ nữa—đó là nguyên nhân chính gây khó khăn cho phần lớn nhân loại hoặc cho những người mà chúng tôi một cách huyền bí gọi là những người “thái dương-xương cùng”. Điều này một phần là do những thói quen lâu đời về sự đè nén và ức chế mà toàn thể nhân loại đã phát triển. Chính sự tắc nghẽn này tại điểm tiếp nhận và điểm thoát ra trong thể dĩ thái chịu trách nhiệm cho việc cản trở sự lưu chuyển tự do của sinh lực, với kết quả là nhanh chóng khuất phục trước bệnh tật. Vì vậy, bạn cũng sẽ thấy những bài tập thở được chỉ định cẩn thận, với các tác động vi tế của chúng trong việc tái tổ chức và tái điều chỉnh các thể vi tế hơn (đặc biệt là thể dĩ thái và thể cảm dục), sẽ ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn. Sự quan tâm lan rộng đối với hơi thở ngày nay chứng tỏ có một sự nhận biết chủ quan về sự kiện này, dù các phương pháp và tác dụng của nó vẫn chưa được biết đủ.
One other thing I would like to call to your attention is that the points of congestion may exist either in the astral body centre or in the etheric body, and this situation the healer will have to investigate. [79]
Còn một điều khác tôi muốn lưu ý bạn là các điểm tắc nghẽn có thể tồn tại hoặc trong trung tâm của thể cảm dục hoặc trong thể dĩ thái, và người chữa trị sẽ phải khảo sát tình trạng này. [79]
B. Lack of Coordination and Integration.
B. Thiếu phối hợp và tích hợp.
We come now to a brief consideration of our second point of difficulty to be found in the etheric body, which in our tabulation we have called lack of coordination or integration. This is exceedingly prevalent today and is responsible for a good deal of trouble. The etheric body is the inner “substantial” form upon which the physical body is built or constructed. It is the inner scaffolding which underlies every part of the whole outer man; it is the framework which sustains the whole; it is that upon which the outer form is patterned; and it is the network of nadis (infinitely intricate) which constitutes the counterpart or the duplicate aspect of the entire nervous system which forms such an important part of the human mechanism. It is thus definitely, with the blood stream, the instrument of the life force. If, therefore, there is weakness in the relation between this inner structure and the outer form, it will be immediately apparent to you that real difficulty is bound to supervene. This difficulty will take three forms:
Giờ đây chúng ta đi đến một sự xem xét ngắn gọn về điểm khó khăn thứ hai được tìm thấy trong thể dĩ thái, điều mà trong bảng liệt kê của chúng ta đã được gọi là thiếu phối hợp hoặc tích hợp. Điều này hiện nay cực kỳ phổ biến và chịu trách nhiệm cho khá nhiều rắc rối. Thể dĩ thái là hình tướng “chất liệu” bên trong mà trên đó thể xác được xây dựng hay cấu tạo. Nó là giàn khung bên trong làm nền cho mọi phần của toàn bộ con người bên ngoài; nó là bộ khung nâng đỡ toàn thể; nó là cái mà trên đó hình tướng bên ngoài được mô phỏng theo; và nó là mạng lưới các nadis (vô cùng phức tạp) cấu thành đối phần hay phương diện sao bản của toàn bộ hệ thần kinh, vốn tạo thành một phần rất quan trọng của bộ máy con người. Vì vậy, cùng với dòng máu, nó rõ rệt là công cụ của sinh lực. Do đó, nếu có sự yếu kém trong mối liên hệ giữa cấu trúc bên trong này và hình tướng bên ngoài, thì bạn sẽ thấy ngay rằng khó khăn thực sự chắc chắn sẽ phát sinh. Khó khăn này sẽ mang ba hình thức:
1. The physical form in its dense aspect is too loosely connected with the etheric form or counterpart. This leads to a devitalised and debilitated condition, which predisposes man to sickness or ill health.
1. Hình tướng hồng trần trong phương diện đậm đặc của nó được nối kết quá lỏng lẻo với hình tướng dĩ thái hay đối phần của nó. Điều này dẫn đến một tình trạng mất sinh lực và suy nhược, khiến con người dễ mắc bệnh hoặc sức khỏe kém.
2. The connection is poor in certain directions or aspects of the equipment. Through certain focal points or centres the life force cannot adequately flow, and therefore you have a definite weakness in some part of the physical body. For instance, impotence is such a difficulty and a tendency to laryngitis is another—to mention two widely different disorders.
2. Sự nối kết kém trong một số hướng hay phương diện của bộ máy. Qua một số tiêu điểm hay trung tâm nhất định, sinh lực không thể lưu chuyển đầy đủ, và vì vậy bạn có một sự suy yếu rõ rệt ở một phần nào đó của thể xác. Chẳng hạn, bất lực là một khó khăn như thế và khuynh hướng viêm thanh quản là một khó khăn khác—để nêu ra hai chứng rối loạn rất khác nhau.
3. The connection can also be so basically loose and poor that the soul has very little hold upon its vehicle [80] for outer manifestation, and obsession or possession is easily established. This is an extreme example of the difficulties incident to this condition. Others are certain forms of fainting or loss of consciousness and “petit mal.”
3. Sự nối kết cũng có thể lỏng lẻo và kém đến mức căn bản đến nỗi linh hồn có rất ít sự nắm giữ đối với vận cụ của mình [80] để biểu hiện ra bên ngoài, và sự ám nhập hay chiếm hữu dễ dàng được thiết lập. Đây là một ví dụ cực đoan về những khó khăn gắn liền với tình trạng này. Những biểu hiện khác là một số dạng ngất xỉu hay mất tâm thức và “petit mal.”
There are also, as will be apparent, the exactly reverse conditions when the etheric body is so closely knit or integrated with the personality—whether it is of a highly evolved nature or simply an example of an ordinary etheric body—that every part of the physical body is in a constant condition of stimulation, of galvanic effort, with a resultant activity in the nervous system which—if not correctly regulated—can lead to a great deal of distress. It is to this that I refer in the third heading, “Overstimulation of the Centres.” Too loose a connection or too close a connection leads to trouble, though the first kind of difficulty is usually more serious than the others. I have here given enough to show how interesting and how important a study of the etheric body may be. The whole theme of healing is “tied up” (to use a modern phrase which I find difficult) with the development, unfoldment and control of the seven major centres.
Cũng có, như sẽ hiển nhiên, những tình trạng hoàn toàn ngược lại khi thể dĩ thái được đan kết hay tích hợp quá chặt với phàm ngã—dù đó là một bản chất tiến hoá cao hay chỉ đơn giản là một ví dụ của một thể dĩ thái thông thường—đến mức mọi phần của thể xác đều ở trong một tình trạng kích thích liên tục, nỗ lực điện hoá, với kết quả là một hoạt động trong hệ thần kinh mà—nếu không được điều chỉnh đúng—có thể dẫn đến rất nhiều đau khổ. Chính điều này mà tôi đề cập trong tiêu đề thứ ba, “Sự kích thích quá mức của các trung tâm.” Sự nối kết quá lỏng lẻo hoặc quá chặt chẽ đều dẫn đến rắc rối, dù loại khó khăn thứ nhất thường nghiêm trọng hơn các loại khác. Ở đây tôi đã đưa ra đủ để cho thấy việc nghiên cứu thể dĩ thái có thể thú vị và quan trọng đến mức nào. Toàn bộ chủ đề trị liệu “gắn chặt” (dùng một cụm từ hiện đại mà tôi thấy khó dùng) với sự phát triển, khai mở và kiểm soát của bảy trung tâm chính.
C. Overstimulation of the Centres.
C. Sự kích thích quá mức của các trung tâm.
There is much that I could add to what I have said on the cause of disease arising in the etheric body, but in Part II (when dealing with the section on certain basic requirements) I shall elaborate the theme much further. Congestion, lack of integration and over-stimulation of the centres, are obviously fundamental causes as far as the dense physical body is concerned, but they themselves are frequently effects of subtler causes, hidden in the life of the astral and mental bodies and, in the case of overstimulation, [81] the result sometimes of soul contacts. The etheric body reacts normally, and by design, to all the conditions found in the subtler vehicles. It is essentially a transmitter and not an originator and it is only the limitations of the observer which lead him to ascribe the causes of bodily ills to the etheric body. It is a clearing house for all the forces reaching the physical body, provided the point in evolution has brought the various force centres to a condition wherein they are receptive to any particular type of force. Esoterically speaking, the centres can be in one of five conditions or states of being. These can be described in the following terms:
Còn nhiều điều tôi có thể thêm vào những gì tôi đã nói về nguyên nhân bệnh phát sinh trong thể dĩ thái, nhưng trong Phần II (khi bàn đến phần về một số yêu cầu căn bản) tôi sẽ khai triển chủ đề này xa hơn nhiều. Sự tắc nghẽn, thiếu tích hợp và sự kích thích quá mức của các trung tâm rõ ràng là những nguyên nhân căn bản xét theo phương diện thể xác đậm đặc, nhưng bản thân chúng thường lại là những hiệu quả của các nguyên nhân vi tế hơn, ẩn giấu trong đời sống của thể cảm dục và thể trí, và trong trường hợp kích thích quá mức, [81] đôi khi là kết quả của những tiếp xúc với linh hồn. Thể dĩ thái phản ứng một cách bình thường, và theo đúng thiết kế, với mọi tình trạng được tìm thấy trong các vận cụ vi tế hơn. Về bản chất, nó là một bộ truyền dẫn chứ không phải một nguồn khởi phát, và chỉ những giới hạn của người quan sát mới khiến ông quy các nguyên nhân của bệnh tật thể xác cho thể dĩ thái. Nó là một trạm phân phối cho mọi mãnh lực đi đến thể xác, miễn là điểm tiến hoá đã đưa các trung tâm mãnh lực khác nhau đến một tình trạng trong đó chúng tiếp nhận được bất kỳ loại mãnh lực đặc thù nào. Nói theo nội môn, các trung tâm có thể ở trong một trong năm tình trạng hay trạng thái hiện hữu. Chúng có thể được mô tả bằng các thuật ngữ sau:
1. Closed, still and shut, and yet with signs of life, silent and full of deep inertia.
1. Khép kín, tĩnh lặng và đóng chặt, nhưng vẫn có dấu hiệu của sự sống, im lìm và đầy quán tính sâu xa.
2. Opening, unsealed, and faintly tinged with colour; the life pulsates.
2. Đang mở ra, được tháo niêm phong, và phảng phất sắc màu; sự sống đang đập nhịp.
3. Quickened, alive, alert in two directions; the two small doors are open wide.
3. Được tiếp sinh lực, sống động, tỉnh thức theo hai hướng; hai cánh cửa nhỏ mở rộng.
4. Radiant and reaching forth with vibrant note to all related centres.
4. Rạng ngời và vươn ra với âm điệu rung động đến mọi trung tâm liên hệ.
5. Blended they are and each with each works rhythmically. The vital force flows through from all the planes. The world stands open wide.
5. Chúng được dung hợp và mỗi cái với mỗi cái hoạt động có nhịp điệu. Sinh lực tuôn chảy xuyên qua từ mọi cõi. Thế giới mở rộng thênh thang.
Related to these five stages, wherein the etheric body expands and becomes the vital livingness of all expression upon the physical plane, are the five races of men, beginning with the Lemurian race, the five planes of human and superhuman expression, the five stages of consciousness and the various other groupings of five with which you meet in the esoteric philosophy. Incidentally it might be of value and of interest to point out that the five-pointed star is not only the sign and symbol of initiation and finally perfected man, but it is also the basic symbol of the etheric [82] body and of the five centres which control perfected man—the two head centres, the heart centre, the throat centre and the centre at the base of the spine. When these centres are fully awakened and functioning in right rhythm with each other, the various quintuplets to which I have referred above form an integral part of the consciousness of the perfected man.
Liên hệ với năm giai đoạn này, trong đó thể dĩ thái mở rộng và trở thành sự sống động sinh lực của mọi biểu hiện trên cõi hồng trần, là năm nhân loại, bắt đầu với nhân loại Lemuria, năm cõi biểu hiện của con người và siêu nhân, năm giai đoạn của tâm thức và nhiều nhóm năm khác nhau mà bạn gặp trong triết học nội môn. Nhân đây, có lẽ sẽ có giá trị và thú vị nếu chỉ ra rằng ngôi sao năm cánh không chỉ là dấu hiệu và biểu tượng của điểm đạo và của con người cuối cùng được hoàn thiện, mà còn là biểu tượng căn bản của thể dĩ thái [82] và của năm trung tâm kiểm soát con người hoàn thiện—hai trung tâm đầu, trung tâm tim, trung tâm cổ họng và trung tâm ở đáy cột sống. Khi các trung tâm này hoàn toàn thức tỉnh và hoạt động trong nhịp điệu đúng đắn với nhau, thì các bộ năm khác nhau mà tôi đã nhắc đến ở trên tạo thành một phần toàn vẹn của tâm thức của con người hoàn thiện.
Though this particular piece of information is not definitely related to the Science of Healing, yet the entire subject is related to energy, and energy in some form or another is related to the causes and the effects of disease, because disease is the undesirable effect of energy upon the energy unit which we call the atom.
Dù mẩu thông tin đặc thù này không liên hệ trực tiếp với Khoa Học Trị Liệu, toàn bộ chủ đề vẫn liên hệ với năng lượng, và năng lượng dưới hình thức này hay hình thức khác thì liên hệ với các nguyên nhân và các hiệu quả của bệnh tật, bởi vì bệnh tật là hiệu quả không mong muốn của năng lượng tác động lên đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là nguyên tử.
It should be remembered that the etheric body of the human being is an integral part of the etheric body of the planetary Logos and is, therefore, related to all forms found within that body in any and all the kingdoms in nature. It is part of the substance of the universe, coordinated with planetary substance, and hence provides the scientific basis for unity.
Cần nhớ rằng thể dĩ thái của con người là một phần toàn vẹn của thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế và vì vậy có liên hệ với mọi hình tướng được tìm thấy trong thể ấy ở bất kỳ và mọi giới nào trong thiên nhiên. Nó là một phần của chất liệu của vũ trụ, được phối hợp với chất liệu hành tinh, và do đó cung cấp nền tảng khoa học cho sự hợp nhất.
If you were to ask me what, in reality, lies behind all disease, all frustrations, error and lack of divine expression in the three worlds, I would say it was separativeness which produces the major difficulties arising in the etheric body, plus the inability of the outer tangible form to respond adequately to the inner and subtler impulses. Here is found the cause (the secondary cause, as I pointed out above) of the bulk of the trouble. The etheric body of the planet does not yet freely transmit and circulate the forces which are seeking entrance into the consciousness and the expression of man upon the physical plane. These forces emanate from within himself as he functions on the subtler levels of consciousness and from the soul; they come also from associated and contacted groups, from the planetary life, [83] and eventually, in the last analysis, from the entire universe. Each of the centres can, when fully awakened and consciously and scientifically employed, serve as an open door through which awareness of that which lies beyond the individual human life can enter. The etheric body is fundamentally the most important response apparatus which man possesses, producing not only the right functioning of the five senses and consequently providing five major points of contact with the tangible world, but it also enables a man to register sensitively the subtler worlds, and, when energised and controlled by the soul, the spiritual realms stand wide open also.
Nếu bạn hỏi tôi điều gì thực sự nằm sau mọi bệnh tật, mọi thất bại, sai lầm và sự thiếu vắng biểu hiện thiêng liêng trong ba cõi giới, tôi sẽ nói đó là tính phân ly tạo ra những khó khăn chính phát sinh trong thể dĩ thái, cộng với sự bất lực của hình tướng hữu hình bên ngoài trong việc đáp ứng đầy đủ với các xung lực bên trong và vi tế hơn. Ở đây tìm thấy nguyên nhân (nguyên nhân thứ yếu, như tôi đã chỉ ra ở trên) của phần lớn rắc rối. Thể dĩ thái của hành tinh vẫn chưa tự do truyền dẫn và lưu chuyển các mãnh lực đang tìm cách đi vào tâm thức và sự biểu hiện của con người trên cõi hồng trần. Các mãnh lực này phát ra từ bên trong chính y khi y hoạt động trên các cấp độ vi tế hơn của tâm thức và từ linh hồn; chúng cũng đến từ các nhóm có liên hệ và tiếp xúc, từ sự sống hành tinh, [83] và cuối cùng, trong phân tích rốt ráo, từ toàn thể vũ trụ. Mỗi trung tâm, khi hoàn toàn thức tỉnh và được sử dụng một cách hữu thức và khoa học, có thể phục vụ như một cánh cửa mở qua đó sự nhận biết về điều nằm vượt ngoài đời sống cá nhân của con người có thể đi vào. Thể dĩ thái về căn bản là bộ máy đáp ứng quan trọng nhất mà con người sở hữu, không những tạo ra sự hoạt động đúng đắn của năm giác quan và do đó cung cấp năm điểm tiếp xúc chính với thế giới hữu hình, mà còn giúp con người ghi nhận một cách nhạy bén các thế giới vi tế hơn, và khi được linh hồn tiếp sinh lực và kiểm soát, các cõi tinh thần cũng mở rộng thênh thang.
The etheric body is a potent receiver of impressions, which are conveyed to the human consciousness through the medium of the awakened centres. There is, for instance, no true clairvoyance until either the solar plexus or the ajna centre is awakened. These transmitted impressions and information become the incentive whereby conscious activity is initiated. There are many words used to describe these forces and their actuating effects: such as impulses, incentives, influences, potencies, desires, aspirations, and many such terms which are only synonyms for force or energy and thus convey the same general idea. All of these words refer to forms of activity of the etheric body, but only as the physical body registers them and acts under their impression. The whole theme of motivating force is one of great interest.
Thể dĩ thái là một bộ tiếp nhận mạnh mẽ các ấn tượng, được chuyển đến tâm thức con người qua trung gian của các trung tâm đã thức tỉnh. Chẳng hạn, không có thông nhãn chân chính cho đến khi hoặc tùng thái dương hoặc trung tâm ajna được thức tỉnh. Những ấn tượng và thông tin được truyền đạt này trở thành động lực nhờ đó hoạt động hữu thức được khởi xướng. Có nhiều từ được dùng để mô tả các mãnh lực này và các tác động thúc đẩy của chúng: như xung lực, động cơ, ảnh hưởng, tiềm lực, ham muốn, khát vọng, và nhiều thuật ngữ tương tự chỉ là những từ đồng nghĩa của mãnh lực hay năng lượng và do đó chuyển tải cùng một ý niệm tổng quát. Tất cả những từ này đều chỉ đến các hình thức hoạt động của thể dĩ thái, nhưng chỉ trong chừng mực thể xác ghi nhận chúng và hành động dưới ấn tượng của chúng. Toàn bộ chủ đề về mãnh lực thúc đẩy là một chủ đề rất đáng quan tâm.
The vastness of the subject is, however, so real that only little by little can humanity grasp the situation and come to the realisation that man is essentially (through his etheric body) an integral part of a great and vibrant Whole; only in time will he learn that, through the processes of evolution, can he hope to register all the different areas of divine expression. Only when the etheric body is swept into [84] activity under the influence and through the “impressed forces” of the soul, the mind, and temporarily, of the astral body, can man become aware of all worlds, all phenomena, and all states of consciousness, and so achieve that omniscience which is the birth right of all the sons of God.
Tuy nhiên, tính bao la của chủ đề này là quá thực đến nỗi chỉ từng chút một nhân loại mới có thể nắm bắt tình hình và đi đến chỗ chứng nghiệm rằng con người về bản chất (qua thể dĩ thái của mình) là một phần toàn vẹn của một Toàn Thể vĩ đại và rung động; chỉ theo thời gian y mới học được rằng, qua các tiến trình tiến hoá, y mới có thể hy vọng ghi nhận mọi lĩnh vực khác nhau của biểu hiện thiêng liêng. Chỉ khi thể dĩ thái được đưa vào [84] hoạt động dưới ảnh hưởng và qua các “mãnh lực được in dấu” của linh hồn, trí tuệ, và tạm thời của thể cảm dục, con người mới có thể nhận biết mọi thế giới, mọi hiện tượng, và mọi trạng thái tâm thức, và nhờ đó đạt được sự toàn tri vốn là quyền thừa sinh của mọi con của Thượng đế.
But, during the period wherein this state of being is in process of achievement, the lack of development, the failure to register, the life work of awakening and organising the various centres and of then correctly relating them to each other, produces much difficulty. It is this condition which is the fruitful source of those difficulties which, when carried down into the physical body, produce disease of various kinds, the many tensions and congestions, the overstimulation of the centres in one part of the etheric vehicle and their underdevelopment in another, plus the unequal unfoldment and wrong balance of the centres.
Nhưng trong giai đoạn mà trạng thái hiện hữu này đang trong tiến trình thành tựu, sự thiếu phát triển, sự thất bại trong ghi nhận, công việc suốt đời là thức tỉnh và tổ chức các trung tâm khác nhau rồi sau đó liên hệ chúng đúng đắn với nhau, tạo ra nhiều khó khăn. Chính tình trạng này là nguồn phong phú của những khó khăn mà, khi được chuyển xuống thể xác, tạo ra nhiều loại bệnh tật khác nhau, nhiều căng thẳng và tắc nghẽn, sự kích thích quá mức của các trung tâm ở một phần của vận cụ dĩ thái và sự kém phát triển của chúng ở phần khác, cộng với sự khai mở không đồng đều và sự mất quân bình sai lệch của các trung tâm.
Much is said today in modern medical investigation anent the “imbalance” of the endocrine glands, and many physical difficulties are ascribed to this frequent imbalance. But behind this condition of the glandular system lies the basic imbalance of the centres themselves. Only when there is a right understanding of force and its reception and consequent use, will right balance be achieved and the human endocrine system control the physical man in the manner that is intended.
Ngày nay, trong nghiên cứu y học hiện đại, người ta nói nhiều về sự “mất quân bình” của các tuyến nội tiết, và nhiều khó khăn hồng trần được quy cho sự mất quân bình thường xuyên này. Nhưng đằng sau tình trạng của hệ tuyến này là sự mất quân bình căn bản của chính các trung tâm. Chỉ khi có sự thấu hiểu đúng đắn về mãnh lực và sự tiếp nhận cùng việc sử dụng tiếp theo của nó, thì sự quân bình đúng đắn mới đạt được và hệ nội tiết của con người mới kiểm soát được phàm nhân hồng trần theo cách đã được dự định.
There is much need today for the study of the following problems:
Ngày nay rất cần nghiên cứu các vấn đề sau:
1. The problem of the right reception of force through the appropriate centre. An instance of this might be found in the correct control of the solar plexus centre as the one in which astral sensitivity can be registered and properly handled.[85]
1. Vấn đề tiếp nhận đúng đắn mãnh lực qua trung tâm thích hợp. Một ví dụ về điều này có thể được tìm thấy trong việc kiểm soát đúng đắn trung tâm tùng thái dương như là trung tâm trong đó sự nhạy cảm cảm dục có thể được ghi nhận và xử lý thích đáng.[85]
2. The problem of the right relation of a particular centre to its related gland, permitting the free play of the force pouring through the centre to the allied glandular correspondence, thus conditioning its peculiar hormone and eventually conditioning the blood stream. If you grasp this sequence of contact, you will understand more clearly the occult significance of the words in the Old Testament that “the blood is the life.” It is the vitality coming from the etheric body which works through into the blood stream, via the centre which is responsive to one of the seven peculiar types of force, and its allied gland. It will be apparent, therefore, that there is a close relation between:
2. Vấn đề về mối liên hệ đúng đắn của một trung tâm đặc thù với tuyến liên hệ của nó, cho phép sự vận hành tự do của mãnh lực tuôn qua trung tâm đến đối ứng tuyến liên kết, nhờ đó tác động lên hormone đặc thù của nó và cuối cùng tác động lên dòng máu. Nếu bạn nắm được chuỗi tiếp xúc này, bạn sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa huyền bí của những lời trong Cựu Ước rằng “máu là sự sống.” Chính sinh lực đến từ thể dĩ thái hoạt động xuyên vào dòng máu, qua trung tâm đáp ứng với một trong bảy loại mãnh lực đặc thù, và tuyến liên kết của nó. Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa:
a. The etheric body as a transmitter of a vast aggregate of energies and forces.
a. Thể dĩ thái như một bộ truyền dẫn của một tổng thể rộng lớn các năng lượng và mãnh lực.
b. The endocrine system whose various glands are in reality the externalisation or materialisation of the centres, major and minor.
b. Hệ nội tiết mà các tuyến khác nhau của nó thực ra là sự ngoại hiện hay hiện hình của các trung tâm, chính và phụ.
c. The heart, which is the centre of life as the brain is the centre of consciousness. From the heart, the blood circulates and is controlled. Thus these three great systems are related.
c. Tim, là trung tâm của sự sống cũng như não là trung tâm của tâm thức. Từ tim, máu lưu thông và được kiểm soát. Như vậy, ba hệ thống lớn này có liên hệ với nhau.
d. The entire glandular system to the nervous system through the medium of the network of nerves and the “nadis” which underlie this network. These nadis are the threads of life force which underlie every part of the body and particularly the nervous system in all its aspects.
d. Toàn bộ hệ tuyến với hệ thần kinh qua trung gian của mạng lưới thần kinh và các “nadis” làm nền cho mạng lưới này. Các nadis này là những sợi dây sinh lực làm nền cho mọi phần của cơ thể và đặc biệt là hệ thần kinh trong mọi phương diện của nó.
To these problems and relationships another might be added. This is the interrelation which must be established between all the centres, permitting the free play of force in correct rhythm throughout the physical vehicle.
Vào các vấn đề và các mối liên hệ này có thể thêm một vấn đề khác. Đó là mối tương liên phải được thiết lập giữa tất cả các trung tâm, cho phép sự vận hành tự do của mãnh lực trong nhịp điệu đúng đắn xuyên suốt vận cụ hồng trần.
[86]
[86]
You have, therefore, certain great interlocking directorates which control or fail to control the physical body. Where there is lack of control it is due to the failure to establish right relations within the body, or to lack of development. These interlocking groups are:
Vì vậy, bạn có một số ban điều hành đan kết lớn kiểm soát hoặc không kiểm soát được thể xác. Ở đâu có sự thiếu kiểm soát, điều đó là do thất bại trong việc thiết lập các mối liên hệ đúng đắn bên trong cơ thể, hoặc do thiếu phát triển. Những nhóm đan kết này là:
1. That of the etheric body, which works primarily through its seven major centres but also through many other centres.
1. Nhóm của thể dĩ thái, hoạt động chủ yếu qua bảy trung tâm chính của nó nhưng cũng qua nhiều trung tâm khác.
2. That of the endocrine system, which works primarily through the seven major glandular groups, but also through many other less important glands.
2. Nhóm của hệ nội tiết, hoạt động chủ yếu qua bảy nhóm tuyến chính, nhưng cũng qua nhiều tuyến khác ít quan trọng hơn.
3. That of the nervous system (the sympathetic and the cerebro-spinal) with a peculiar emphasis laid upon the vagus nerve with its effect upon the heart and consequently upon the blood stream.
3. Nhóm của hệ thần kinh (giao cảm và não-tủy) với sự nhấn mạnh đặc biệt đặt vào dây thần kinh phế vị cùng tác động của nó lên tim và do đó lên dòng máu.
All these points have to be considered and correlated in any system of occult healing, and the technical matter to be covered is, in the last analysis, less intricate than the vast system built up by orthodox medicine and surgery. It is because of the lack of coordination of these three systems that the healing art is at this time failing to achieve all that it desires. It has done much, but must move another step onto the etheric plane before the real clue to disease and its cure can be ascertained.
Tất cả những điểm này phải được xem xét và tương liên trong bất kỳ hệ thống trị liệu huyền bí nào, và về phân tích rốt ráo, vấn đề kỹ thuật cần được bao quát ít phức tạp hơn hệ thống đồ sộ do y học và phẫu thuật chính thống xây dựng. Chính vì thiếu phối hợp của ba hệ thống này mà nghệ thuật trị liệu hiện nay chưa đạt được tất cả những gì nó mong muốn. Nó đã làm được nhiều, nhưng phải tiến thêm một bước nữa lên cõi dĩ thái trước khi đầu mối thực sự của bệnh tật và cách chữa trị nó có thể được xác định.
For instance, lack of vitality and the common subnormal conditions with which we are so familiar, indicate the inertia of the etheric body and its lack of vitality. The results of this inertness of the vital body can be both physical and psychological, because the glands in the physical body will not function normally and, as is well known, they condition the physical expression of man as well as his emotional and mental states, in so far as those are able or not able to [87] find expression through the medium of the physical vehicle. The glands do not condition the inner man or his states of consciousness, but they can and do prevent those inner states finding manifestation outwardly. In the reverse situation, too powerful an etheric body and the overstimulation of the centres concerned, may put too great a strain upon the nervous system and produce, as a consequence, definite nervous trouble, migraine, mental and emotional imbalance and, in some cases, lead to insanity.
Chẳng hạn, sự thiếu sinh lực và những tình trạng dưới mức bình thường thông thường mà chúng ta quá quen thuộc cho thấy tính trì trệ của thể dĩ thái và sự thiếu sinh lực của nó. Kết quả của sự trì trệ này của thể sinh lực có thể vừa là hồng trần vừa là tâm lý, bởi vì các tuyến trong thể xác sẽ không hoạt động bình thường và, như ai cũng biết, chúng tác động lên sự biểu hiện hồng trần của con người cũng như lên các trạng thái cảm xúc và trí tuệ của y, trong chừng mực các trạng thái ấy có thể hay không thể [87] tìm được sự biểu hiện qua trung gian của vận cụ hồng trần. Các tuyến không tác động lên con người bên trong hay các trạng thái tâm thức của y, nhưng chúng có thể và thực sự ngăn cản các trạng thái bên trong ấy tìm được biểu hiện ra ngoài. Trong tình huống ngược lại, một thể dĩ thái quá mạnh và sự kích thích quá mức của các trung tâm liên quan có thể đặt một áp lực quá lớn lên hệ thần kinh và do đó tạo ra những rối loạn thần kinh rõ rệt, chứng đau nửa đầu, sự mất quân bình trí tuệ và cảm xúc, và trong một số trường hợp dẫn đến điên loạn.
I have elaborated this matter somewhat because the relation of the etheric body to the physical body and its receptivity to the inner energies most decidedly condition the man. It will be necessary for us to have this ever in mind as we study the causes of the diseases arising in the mental body, or due to the activity of the soul in the life of the disciple, or as we investigate the processes whereby a man is prepared for initiation. The etheric body must always, and invariably does, act as the transmitting agent of the inner energies to the outer plane, and the physical body has to learn to respond to and recognise that which is transmitted. The effectiveness of the transmission and the resultant physical activity depend always upon the centres, which, in their turn, condition the glands; these, later, determine the nature and the expressed consciousness of the man. If the centres are awakened and receptive, there will be found a physical apparatus which will be responsive to the forces flowing through. If the centres are asleep, and thus little force can be transmitted, you will find a physical apparatus which will be equally slow and unresponsive. If the centres below the diaphragm are awakened and those above are not, you will have a man whose consciousness will be focussed in the animal and the emotional natures, and much of his physical disease will lie below the diaphragm also. You will see, therefore, how intricate and complex [88] this whole matter is—so complex that it will only be truly understood when human beings regain the lost power to “see the light” of the etheric body and of its seven major centres and, through a developed sense of touch in the hands and fingers, to ascertain the rate of vibration in the various centres. When these two means of knowledge are available, the entire subject of the etheric body will take on a new importance and be correctly understood.
Tôi đã khai triển vấn đề này hơi nhiều vì mối liên hệ của thể dĩ thái với thể xác và tính tiếp nhận của nó đối với các năng lượng bên trong rõ ràng là tác động lên con người. Chúng ta cần luôn luôn ghi nhớ điều này khi nghiên cứu các nguyên nhân của bệnh phát sinh trong thể trí, hoặc do hoạt động của linh hồn trong đời sống của đệ tử, hoặc khi khảo sát các tiến trình nhờ đó con người được chuẩn bị cho điểm đạo. Thể dĩ thái luôn luôn, và thực sự luôn luôn, phải hoạt động như tác nhân truyền dẫn các năng lượng bên trong ra cõi ngoài, và thể xác phải học cách đáp ứng và nhận biết điều được truyền đạt. Hiệu quả của sự truyền dẫn và hoạt động hồng trần phát sinh từ đó luôn luôn tùy thuộc vào các trung tâm, mà đến lượt chúng tác động lên các tuyến; rồi về sau các tuyến này quyết định bản chất và tâm thức được biểu hiện của con người. Nếu các trung tâm đã thức tỉnh và tiếp nhận, sẽ tìm thấy một bộ máy hồng trần đáp ứng được với các mãnh lực đang tuôn qua. Nếu các trung tâm đang ngủ, và do đó ít mãnh lực có thể được truyền đi, bạn sẽ thấy một bộ máy hồng trần cũng chậm chạp và không đáp ứng tương ứng. Nếu các trung tâm dưới cơ hoành đã thức tỉnh còn các trung tâm trên đó thì chưa, bạn sẽ có một con người mà tâm thức của y sẽ tập trung trong bản chất động vật và cảm xúc, và phần lớn bệnh tật hồng trần của y cũng sẽ nằm dưới cơ hoành. Vì vậy, bạn sẽ thấy toàn bộ vấn đề này phức tạp và rắc rối đến mức nào [88]—phức tạp đến nỗi nó chỉ thực sự được thấu hiểu khi con người lấy lại được năng lực đã mất là “thấy ánh sáng” của thể dĩ thái và của bảy trung tâm chính của nó và, qua một xúc giác đã phát triển ở bàn tay và các ngón tay, xác định được tốc độ rung động trong các trung tâm khác nhau. Khi hai phương tiện tri thức này sẵn có, toàn bộ chủ đề về thể dĩ thái sẽ mang một tầm quan trọng mới và được hiểu đúng đắn.