← Esoteric Healing (A Treatise on the Seven Rays Book 4)

3. CAUSES ARISING IN THE MENTAL BODY — 3. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ TRÍ

3. CAUSES ARISING IN THE MENTAL BODY — 3. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ TRÍ

I started this section of our study with the causes arising in the astral and etheric bodies because they are the major sources of trouble, owing to the fact that the bulk of humanity is astrally focussed, just as the bulk of the forms in the animal kingdom are etherically focussed. The forces pouring into the animal kingdom come predominantly from etheric levels and from the dense physical levels of life. The higher animals, however, owing to the development brought about through their contact with human beings, are becoming susceptible to forces coming from the astral plane, and they thus develop actions and reactions which are not purely instinctual.

Tôi đã bắt đầu phần này của công trình nghiên cứu của chúng ta với các nguyên nhân phát sinh trong thể cảm dục và thể dĩ thái bởi vì chúng là những nguồn gốc chính của rắc rối, do sự kiện là phần lớn nhân loại tập trung trong cảm dục, cũng như phần lớn các hình tướng trong giới động vật tập trung trong dĩ thái. Các mãnh lực tuôn vào giới động vật đến chủ yếu từ các cấp độ dĩ thái và từ các cấp độ hồng trần đậm đặc của sự sống. Tuy nhiên, các động vật cao cấp hơn, do sự phát triển có được nhờ tiếp xúc với con người, đang trở nên nhạy cảm với các mãnh lực đến từ cõi cảm dục, và do đó chúng phát triển những hành động và phản ứng không hoàn toàn chỉ là bản năng.

Today, owing to the development of the mind in the Aryan race, certain difficulties may arise in the physical body. Their origin is not basically mental but primarily due to the fact that the mental body is the transmitter (when active and rightly aligned) of soul energy and this soul energy, pouring into the physical body, can produce certain conditions of overstimulation and difficulties connected with the nervous system. But it is the transmitted energy which causes the trouble and not the factor arising from the mind itself. I will elaborate this a little later. [89]

Ngày nay, do sự phát triển của trí tuệ trong nhân loại Arya, một số khó khăn có thể phát sinh trong thể xác. Nguồn gốc của chúng không căn bản là trí tuệ mà chủ yếu là do thể trí là bộ truyền dẫn (khi hoạt động và được chỉnh hợp đúng) của năng lượng linh hồn, và năng lượng linh hồn này, tuôn vào thể xác, có thể tạo ra một số tình trạng kích thích quá mức và những khó khăn liên hệ với hệ thần kinh. Nhưng chính năng lượng được truyền dẫn gây ra rắc rối chứ không phải yếu tố phát sinh từ chính trí tuệ. Tôi sẽ khai triển điều này thêm một chút sau. [89]

A. Wrong Mental Attitudes.

A. Những thái độ trí tuệ sai lầm.

I would like to deal, first of all, with the basic premise that disease and physical liabilities are not the result of wrong thought. They are far more likely to be the result of no thought at all, or are caused by the failure to follow those fundamental laws which govern the Mind of God. One interesting instance of this failure is the fact that man does not follow the basic Law of Rhythm, which governs all the processes of nature, and man is a part of nature. It is to this failure to work with the Law of Periodicity that we can trace much of the difficulty inherent in the use and the misuse of the sex urge. Instead of man being governed by the cyclic manifestation of the sex impulse, and his life, therefore, being ruled by a definite rhythm, there exists at this time no such thing, except in the cycles through which the female passes, and little attention is paid to these. The male, however, is not governed by any such cycles, and has broken in also on the rhythm to which the female body should be subordinated, and which—rightly understood—would determine the use of the sex relationship, including naturally the male impulse also. This failure to live by the Law of Periodicity and to subordinate the appetites to cyclic control is one of the major causes of disease; and as these laws are given form on the mental plane, one might legitimately say that their infringement has a mental basis. This might be the case if the race were working mentally, but it is not. It is in the modern world of today that there is beginning a widespread infringement of these mental laws, particularly of the Law of Cycles, which determines the tides, controls world events and should also condition the individual and so establish rhythmic life habits—one of the major predisposing incentives to good health.

Trước hết, tôi muốn đề cập đến tiền đề căn bản rằng bệnh tật và những yếu kém hồng trần không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm. Chúng rất có thể là kết quả của việc hoàn toàn không suy nghĩ, hoặc do thất bại trong việc tuân theo những định luật căn bản chi phối Trí của Thượng đế. Một ví dụ thú vị về sự thất bại này là sự kiện con người không tuân theo Định luật Nhịp điệu căn bản, vốn chi phối mọi tiến trình của thiên nhiên, và con người là một phần của thiên nhiên. Chính từ sự thất bại trong việc làm việc với Định luật Chu kỳ này mà chúng ta có thể truy nguyên phần lớn khó khăn vốn có trong việc sử dụng và lạm dụng xung lực tính dục. Thay vì con người được chi phối bởi sự biểu hiện có chu kỳ của xung lực tính dục, và do đó đời sống của y được cai quản bởi một nhịp điệu xác định, thì hiện nay không hề có điều như vậy, ngoại trừ trong các chu kỳ mà người nữ trải qua, và người ta cũng ít chú ý đến các chu kỳ ấy. Tuy nhiên, người nam không bị chi phối bởi bất kỳ chu kỳ nào như thế, và cũng đã phá vỡ nhịp điệu mà thể nữ đáng lẽ phải phục tùng, và nhịp điệu ấy—nếu được hiểu đúng—sẽ quyết định việc sử dụng mối quan hệ tính dục, dĩ nhiên bao gồm cả xung lực nam giới. Sự thất bại trong việc sống theo Định luật Chu kỳ và trong việc đặt các dục vọng dưới sự kiểm soát có chu kỳ là một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật; và vì các định luật này được định hình trên cõi trí, nên người ta có thể chính đáng nói rằng sự vi phạm chúng có một nền tảng trí tuệ. Điều này có thể đúng nếu nhân loại đang hoạt động bằng trí tuệ, nhưng không phải vậy. Chính trong thế giới hiện đại ngày nay mới bắt đầu có một sự vi phạm rộng khắp các định luật trí tuệ này, đặc biệt là Định luật Chu kỳ, vốn quyết định thủy triều, kiểm soát các biến cố thế giới và cũng phải tác động lên cá nhân để từ đó thiết lập các thói quen sống có nhịp điệu—một trong những động lực chính khiến sức khỏe tốt được hình thành.

[90]

[90]

By breaking this Law of Rhythm, man has disorganised the forces which, rightly used, tend to bring the body into a sound and healthy condition; by so doing, he has laid the foundation for that general debility and those inherent organic tendencies which predispose a man to ill health and which permit entrance into the system of those germs and bacteria which produce the outer forms of malignant disease. When humanity regains an understanding of the right use of time (which determines the Law of Rhythm on the physical plane), and can determine the proper cycles for the various manifestations of the life force upon the physical plane, then what was earlier an instinctual habit will become the intelligent usage of the future. This will constitute an entirely new science, and the rhythm of the natural processes and the establishing, as habits, the correct cycles of physical functioning, will bring about a new era of health and of sound physical conditions for the entire race. I used the word “establishing,” for as the focus of racial attention shifts into the region of the higher values the physical vehicle will gain enormously, and good health—through right rhythmic living, plus correct thinking and soul contact—will become permanently established.

Bằng cách phá vỡ Định luật Nhịp điệu này, con người đã làm rối loạn các mãnh lực mà, nếu được sử dụng đúng, có khuynh hướng đưa thể xác vào một tình trạng lành mạnh và khỏe mạnh; khi làm như vậy, y đã đặt nền tảng cho sự suy nhược tổng quát và những khuynh hướng hữu cơ cố hữu khiến con người dễ đau yếu và cho phép những vi trùng và vi khuẩn tạo ra các hình thức bên ngoài của bệnh ác tính xâm nhập vào hệ thống. Khi nhân loại lấy lại được sự thấu hiểu về việc sử dụng đúng đắn thời gian (điều quyết định Định luật Nhịp điệu trên cõi hồng trần), và có thể xác định các chu kỳ thích hợp cho những biểu hiện khác nhau của sinh lực trên cõi hồng trần, thì điều trước kia là một thói quen bản năng sẽ trở thành cách sử dụng thông minh của tương lai. Điều này sẽ cấu thành một khoa học hoàn toàn mới, và nhịp điệu của các tiến trình tự nhiên cùng việc thiết lập, như những thói quen, các chu kỳ đúng đắn của hoạt động hồng trần sẽ mang lại một kỷ nguyên mới của sức khỏe và những điều kiện hồng trần lành mạnh cho toàn thể nhân loại. Tôi đã dùng từ “thiết lập,” vì khi tiêu điểm chú ý của nhân loại chuyển vào lĩnh vực của các giá trị cao hơn thì vận cụ hồng trần sẽ được lợi rất nhiều, và sức khỏe tốt—nhờ đời sống có nhịp điệu đúng đắn, cộng với tư tưởng đúng đắn và tiếp xúc linh hồn—sẽ được thiết lập một cách bền vững.

There are, therefore, very few ills to which flesh is heir which are mentally based. It is exceedingly difficult to establish what they are. There are two reasons for this statistical failure:

Do đó, có rất ít bệnh tật mà xác thịt phải gánh chịu lại có nền tảng trí tuệ. Việc xác định chúng là gì cực kỳ khó khăn. Có hai lý do cho sự thất bại về mặt thống kê này:

1. The fact that very few, relatively speaking of the race are mentally polarised and therefore thinking.

1. Sự kiện là tương đối rất ít người trong nhân loại được phân cực trí tuệ và do đó thực sự suy nghĩ.

2. The fact that the bulk of diseases are etheric or astral.

2. Sự kiện là phần lớn bệnh tật thuộc về dĩ thái hoặc cảm dục.

Another factor producing this difficulty is that the thinking and the emotional reactions of man are so closely interrelated that it is not easy at this stage in evolution to [91] separate feeling and thought, or to say that such or such ills arise in the astral or the mental body, or that certain ills are due to wrong feeling and others to wrong thinking. Speaking in terms of the entire human family, the thinking that is done in the world of today, is done by the relatively few. The rest are occupied with feeling, with sensuous perception and with the many and differing aspects of emotionalism such as irritability, worry, acute anxiety, aspiration towards some desired end or goal, depression, plus the dramatic life of the senses and of the “I in the centre” consciousness. Few live in the world of thought and fewer still in the world of reality. When they do, the result is inevitably a better average of health, because there is better integration, and as a result a freer play of the life forces throughout the vehicles of expression.

Một yếu tố khác tạo ra khó khăn này là tư tưởng và các phản ứng cảm xúc của con người liên hệ chặt chẽ với nhau đến mức ở giai đoạn tiến hoá này không dễ [91] tách biệt cảm giác và tư tưởng, hoặc nói rằng bệnh này hay bệnh kia phát sinh trong thể cảm dục hay thể trí, hoặc rằng một số bệnh là do cảm xúc sai lầm còn những bệnh khác là do tư tưởng sai lầm. Nói theo toàn thể gia đình nhân loại, sự suy nghĩ đang được thực hiện trong thế giới ngày nay là do số ít tương đối. Phần còn lại bận rộn với cảm giác, với tri giác cảm quan và với nhiều phương diện khác nhau của cảm xúc tính như tính dễ cáu, lo lắng, ưu tư gay gắt, khát vọng hướng đến một cứu cánh hay mục tiêu mong muốn, trầm uất, cộng với đời sống kịch tính của các giác quan và của tâm thức “cái tôi ở trung tâm”. Ít người sống trong thế giới của tư tưởng và còn ít hơn nữa trong thế giới của thực tại. Khi họ làm được như vậy, kết quả tất yếu là mức sức khỏe trung bình tốt hơn, bởi vì có sự tích hợp tốt hơn, và do đó có sự vận hành tự do hơn của các sinh lực xuyên suốt các vận cụ biểu hiện.

B. Mental Fanaticism. The Dominance of Thoughtforms.

B. Sự cuồng tín trí tuệ. Sự thống trị của các hình tư tưởng.

I would point out here that the diseases and difficulties which arise from what I have called wrong mental attitudes, fanaticisms and frustrated idealisms and thwarted hopes, fall into three categories, and a study of these will show you that, in the last analysis, they are not of mental origin at all, but primarily are the result of emotionalism entering in.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng các bệnh tật và khó khăn phát sinh từ điều mà tôi gọi là những thái độ trí tuệ sai lầm, những sự cuồng tín và những lý tưởng bị thất bại cùng những hy vọng bị ngăn trở, thuộc vào ba loại, và việc nghiên cứu chúng sẽ cho bạn thấy rằng, trong phân tích rốt ráo, chúng hoàn toàn không có nguồn gốc trí tuệ, mà chủ yếu là kết quả của cảm xúc tính xen vào.

1. Those incident to the imposed physical plane activity and work which find their incentive in these mental conditions. They lead, for instance, to furious activity and overwork, due to the determination not to be frustrated but to make the plan work. The result is frequently the breaking down of the nervous system, which could have been avoided had the mental condition been changed and right rhythm on the physical plane achieved. But it was the work of a physical nature which caused the trouble far more than the mental condition. [92]

1. Những điều gắn liền với hoạt động và công việc trên cõi hồng trần bị áp đặt, vốn tìm thấy động lực của chúng trong các tình trạng trí tuệ này. Chẳng hạn, chúng dẫn đến hoạt động cuồng nhiệt và làm việc quá sức, do quyết tâm không để bị thất bại mà phải làm cho kế hoạch thành công. Kết quả thường là sự suy sụp của hệ thần kinh, điều lẽ ra có thể tránh được nếu tình trạng trí tuệ được thay đổi và nhịp điệu đúng đắn trên cõi hồng trần được đạt tới. Nhưng chính công việc có tính chất hồng trần gây ra rắc rối nhiều hơn là tình trạng trí tuệ. [92]

2. Those brought about by the state of rebellion which colours all the life, and the registering of violent emotional reactions. These may be based upon a mental realisation of the Plan, for instance, plus a recognition that those plans are not materialising, owing often to the inadequacy of the physical equipment; but the basic cause of the disease is the emotional rebellion, and therefore not the mental condition. Bitterness, disgust, hatred and a sense of frustration can and do produce many of the prevalent toxic conditions and a state of general poisoning and ill health from which many people habitually suffer. Their vision is bigger than their accomplishment, and this causes emotional suffering. The cure for this condition is to be found in the simple word acceptance. This is not a negative state of settling down to a submissive nonactive life, but it is a positive acceptance (in thought and in practical expression) of a condition which seems at present unavoidable. This leads to an avoidance of the waste of time in attempting the impossible and to right effort to carry forward that which is possible.

2. Những bệnh do trạng thái phản kháng gây ra, trạng thái này nhuốm màu toàn bộ đời sống, và do sự ghi nhận các phản ứng cảm xúc dữ dội. Chúng có thể dựa trên một sự chứng nghiệm trí tuệ về Thiên Cơ, chẳng hạn, cộng với sự nhận biết rằng các kế hoạch ấy không được hiện thực hóa, thường là do sự bất toàn của bộ máy thể xác; nhưng nguyên nhân căn bản của bệnh là sự phản kháng cảm xúc, và vì thế không phải là tình trạng trí tuệ. Sự cay đắng, chán ghét, thù hận và cảm giác thất bại có thể và thực sự tạo ra nhiều tình trạng nhiễm độc phổ biến cùng một trạng thái đầu độc tổng quát và sức khỏe suy nhược mà nhiều người thường xuyên phải chịu. Tầm nhìn của họ lớn hơn thành tựu của họ, và điều này gây ra đau khổ cảm xúc. Cách chữa trị cho tình trạng này được tìm thấy trong từ đơn giản là sự chấp nhận. Đây không phải là một trạng thái tiêu cực của việc cam chịu một đời sống phục tùng, không hoạt động, mà là một sự chấp nhận tích cực (trong tư tưởng và trong biểu hiện thực tiễn) đối với một tình trạng hiện nay dường như không thể tránh khỏi. Điều này dẫn đến việc tránh lãng phí thời gian trong nỗ lực làm điều bất khả, và đến nỗ lực đúng đắn để tiếp tục điều khả thi.

3. Those difficulties which are caused by the failure of the physical apparatus to measure up to the demands of the thought life of the individual. These are, naturally and usually, a part of the physical inheritance, and where this is the case there is normally nothing much to do, though where the aspiration is real and persistent, a great deal might be accomplished in bringing about improvement and laying the ground for better functioning in another life cycle.

3. Những khó khăn do sự thất bại của bộ máy thể xác trong việc đáp ứng các đòi hỏi của đời sống tư tưởng của cá nhân. Một cách tự nhiên và thông thường, đây là một phần của di truyền thể xác, và khi đúng như vậy thì thường không có nhiều điều phải làm, mặc dù ở nơi nào khát vọng là chân thật và bền bỉ, rất nhiều điều có thể được thực hiện để đem lại sự cải thiện và đặt nền tảng cho sự hoạt động tốt hơn trong một chu kỳ sống khác.

It is necessary here that I should deal, as briefly as possible, with the problem of mental healing and with the teaching that all disease is the product of wrong thought. You are starting out to work, and I would have clear thinking on this point. The two problems which I have posited [93] are closely related. We could express them in the form of two questions:

Ở đây, tôi cần đề cập, càng ngắn gọn càng tốt, đến vấn đề trị liệu trí tuệ và đến giáo huấn cho rằng mọi bệnh tật đều là sản phẩm của tư tưởng sai lầm. Các bạn đang bắt đầu công việc, và tôi muốn có sự suy nghĩ rõ ràng về điểm này. Hai vấn đề mà tôi đã nêu ra [93] có liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta có thể diễn đạt chúng dưới hình thức hai câu hỏi:

1. Is disease the result of thought?

1. Bệnh tật có phải là kết quả của tư tưởng không?

2. Can the power of thought produce healing effects when used by an individual or a group?

2. Quyền năng của tư tưởng có thể tạo ra các hiệu quả chữa lành khi được một cá nhân hay một nhóm sử dụng không?

In view of the fact that many diseases are, as I have told you, latent in the very material of the planet itself, it is obvious that human thought is not responsible for disease. It antedates the arrival of humanity upon the planet. There is disease in the mineral world, in the vegetable kingdom, and also among animals, even in their wild states and in their natural habitat, uncontaminated by man. Hence, man cannot be held responsible for this, nor is it the result of human wrong thinking. It provides no answer to the question to say that it must therefore be due to the wrong thinking of the planetary Logos or of the solar Logos. This is only a begging of the question and an evasion of the issue.

Xét theo sự kiện rằng nhiều bệnh tật, như tôi đã nói với các bạn, tiềm ẩn ngay trong chính vật chất của hành tinh này, thì hiển nhiên là tư tưởng của con người không chịu trách nhiệm về bệnh tật. Nó có trước sự xuất hiện của nhân loại trên hành tinh. Có bệnh trong giới kim thạch, trong giới thực vật, và cả nơi giới động vật, ngay cả trong trạng thái hoang dã và trong môi trường sống tự nhiên của chúng, không bị con người làm ô nhiễm. Vì thế, con người không thể bị quy trách nhiệm về điều này, cũng không phải đó là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người. Không thể trả lời câu hỏi bằng cách nói rằng vì vậy nó hẳn phải là do tư tưởng sai lầm của Hành Tinh Thượng đế hay của Thái dương Thượng đế. Điều này chỉ là lẩn tránh vấn đề và né tránh trọng điểm.

I would here remind you of the two definitions of the causes of disease which I earlier gave. Let me call them to your careful attention:

Ở đây tôi muốn nhắc các bạn về hai định nghĩa về nguyên nhân của bệnh mà trước đây tôi đã đưa ra. Hãy để tôi kêu gọi sự chú ý cẩn trọng của các bạn đến chúng:

“All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all kingdoms.”

“Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi giới.”

“Disease is the product of and subject to three influences. First, a man’s past wherein he pays the price of ancient error. Second, his inheritance wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin. Thirdly, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on those forms. Those three influences are called the Ancient Law of evil Sharing. This must give place some day to that new Law of Ancient Dominating Good. This law will be brought into activity by the spiritual will of man.”

“Bệnh tật là sản phẩm của và chịu sự chi phối của ba ảnh hưởng. Thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ. Thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm. Thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên các hình tướng ấy. Ba ảnh hưởng đó được gọi là Định luật Cổ xưa của sự Chia sẻ điều ác. Một ngày nào đó, nó phải nhường chỗ cho Định luật Mới của Điều Thiện Cổ xưa Thống Trị. Định luật này sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.”

[94]

[94]

If you analyse the four causes of disease here given, you will note that disease will eventually be controlled by the release of the soul in all forms, and that this will be done by the active use by man of his spiritual will. We could word this otherwise and say that when soul energy and the right use of the will (which in the individual is the reflection and the agent of the will energy of the soul) is released and rightly directed by the mind, then disease can be handled and brought eventually to an end. It is therefore by the imposition of a higher energy and of a higher rhythm upon the lower forces that disease can be controlled. Disease is therefore the result in the physical body of the failure to bring in these higher energies and rhythms, and that, in its turn, is dependent upon the point in evolution.

Nếu các bạn phân tích bốn nguyên nhân của bệnh được nêu ở đây, các bạn sẽ nhận thấy rằng bệnh tật rốt cuộc sẽ được kiểm soát bằng sự giải phóng linh hồn trong mọi hình tướng, và điều này sẽ được thực hiện bằng việc con người sử dụng tích cực ý chí tinh thần của mình. Chúng ta có thể diễn đạt điều này theo cách khác và nói rằng khi năng lượng linh hồn và việc sử dụng đúng đắn ý chí (vốn trong cá nhân là sự phản chiếu và là tác nhân của năng lượng ý chí của linh hồn) được giải phóng và được trí tuệ hướng dẫn đúng đắn, thì bệnh tật có thể được xử lý và cuối cùng được chấm dứt. Vì vậy, chính bằng việc áp đặt một năng lượng cao hơn và một nhịp điệu cao hơn lên các lực thấp hơn mà bệnh tật có thể được kiểm soát. Do đó, bệnh là kết quả trong thể xác của sự thất bại trong việc đưa các năng lượng và nhịp điệu cao hơn này vào, và điều đó đến lượt nó lại tùy thuộc vào điểm tiến hoá.

It is the dim sensing of this failure and the realisation of these facts that has brought so many groups to believe in the cure of disease by thought power and to ascribe the appearance of disease to wrong thinking. But in reality, humanity must some day learn that it is only the higher consciousness of the soul, working through the mind, that can finally solve this difficult problem.

Chính sự cảm nhận mơ hồ về sự thất bại này và sự chứng nghiệm các sự kiện này đã khiến nhiều nhóm tin vào việc chữa bệnh bằng quyền năng tư tưởng và quy sự xuất hiện của bệnh cho tư tưởng sai lầm. Nhưng trên thực tế, một ngày nào đó nhân loại phải học rằng chỉ có tâm thức cao hơn của linh hồn, hoạt động qua trí tuệ, mới có thể rốt ráo giải quyết vấn đề khó khăn này.

We cannot consequently affirm that disease, as a general rule, has any relation to thought. It is simply the misuse of the forces of the etheric, the astral and of the dense physical levels. The majority of people are helpless to do anything about it, as the forces which constitute the physical body, for instance, and which pass through and play upon it, are inherited from a very ancient past, are a constituent part of the environment and of the group life into which they are integrated and which they share with all their fellowmen. Such force-matter is coloured with the results of ancient wrong rhythms, misused forces and inherited qualities. Soul energy, expressed through right thinking, can cure diseases to which man is prone. It is failure to think and to register [95] and express the higher states of consciousness which leads to wrong rhythms. Consequently, I repeat that disease is not the result of thought.

Do đó, chúng ta không thể khẳng định rằng bệnh tật, như một quy luật chung, có bất kỳ liên hệ nào với tư tưởng. Nó chỉ đơn giản là sự sử dụng sai các lực của các cấp dĩ thái, cảm dục và hồng trần đậm đặc. Đa số mọi người bất lực không thể làm gì về điều đó, vì các lực cấu thành thể xác, chẳng hạn, và đi xuyên qua cũng như tác động lên nó, được thừa hưởng từ một quá khứ rất xa xưa, là một phần cấu thành của môi trường và của đời sống nhóm mà họ được tích hợp vào và chia sẻ với tất cả đồng loại của mình. Loại vật chất-lực ấy nhuốm màu các kết quả của những nhịp điệu sai lầm cổ xưa, những lực bị sử dụng sai và những phẩm tính di truyền. Năng lượng linh hồn, được biểu lộ qua tư tưởng đúng đắn, có thể chữa các bệnh mà con người dễ mắc phải. Chính sự thất bại trong việc suy nghĩ, ghi nhận [95] và biểu lộ các trạng thái tâm thức cao hơn dẫn đến những nhịp điệu sai lầm. Vì vậy, tôi nhắc lại rằng bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng.

C. Frustrated Idealism.

C. Chủ nghĩa lý tưởng bị thất bại.

There are, however, certain diseases which appear in the physical mechanism and which are definitely rooted in the fact that activity (which is the result of thinking specifically) has been coloured and conditioned by the emotional life of the individual, and the emotional life is a fruitful source of disease and of establishing wrong rhythms. It is therefore the predominance of the astral force, and not of the mental energy, which really causes the physical trouble. I am not referring here to the diseases of the nervous system and of the brain, which are the result of overstimulation and of the impact of energy (often from the mind and the soul) upon an instrument unfitted to handle it. These we will consider later. I refer simply to the following sequence of events in the psychological life and the consequent resultant activities:

Tuy nhiên, có một số bệnh xuất hiện trong bộ máy thể xác và rõ ràng bắt nguồn từ sự kiện rằng hoạt động (vốn là kết quả đặc biệt của tư tưởng) đã bị nhuốm màu và bị tác động bởi đời sống cảm xúc của cá nhân, và đời sống cảm xúc là một nguồn phong phú của bệnh tật và của việc thiết lập những nhịp điệu sai lầm. Vì vậy, chính sự trội vượt của lực cảm dục, chứ không phải của năng lượng trí tuệ, mới thật sự gây ra rắc rối thể xác. Ở đây tôi không nói đến các bệnh của hệ thần kinh và của bộ não, vốn là kết quả của sự kích thích quá mức và của tác động của năng lượng (thường từ trí tuệ và linh hồn) lên một công cụ không thích hợp để xử lý nó. Chúng ta sẽ xét đến những điều này sau. Tôi chỉ đề cập đến chuỗi sự kiện sau đây trong đời sống tâm lý và các hoạt động hệ quả phát sinh từ đó:

Disease is a form of activity.

Bệnh tật là một hình thức hoạt động.

1. Mental activity and energy produces (through the power of thought) certain registration of plans, idealisms and ambitions.

1. Hoạt động và năng lượng trí tuệ tạo ra (qua quyền năng của tư tưởng) một sự ghi nhận nào đó về các kế hoạch, các lý tưởng và các tham vọng.

2. This energy, blended with astral energy, becomes dominated and controlled by astral reactions of an undesirable kind, such as worry over non-accomplishment, the failure to materialise the plans, etc. The life becomes consequently embittered.

2. Năng lượng này, hòa trộn với năng lượng cảm dục, trở nên bị chi phối và kiểm soát bởi các phản ứng cảm dục không mong muốn, như lo lắng vì không hoàn thành, thất bại trong việc hiện thực hóa các kế hoạch, v.v. Do đó đời sống trở nên cay đắng.

3. Disease then appears in the physical body, according to the predisposing tendencies of the body and its inherent, inherited weaknesses.

3. Khi ấy bệnh xuất hiện trong thể xác, tùy theo các khuynh hướng dễ mắc bệnh của thể xác và các điểm yếu nội tại, di truyền của nó.

[96]

[96]

You will note that, in reality, the mental body, and the power of thought, have in no case been the cause of trouble. It has been caused by the obliteration of the original thought and its stepping down to the level of emotionalism. When this stepping down and eventual control by astral forces does not take place, and the thought remains clear and untouched upon the mental plane, there may be trouble of another kind, due to a failure to “carry through” the thought into effective action upon the physical plane. This failure produces not only the cleavage in the personality so well known to the practicing psychologist, but also a cutting off of a much needed stream of energy. As a consequence, the physical body is devitalised and falls heir to bad health. When the thought can be carried through to the physical brain and there becomes a directing agent of the life force, you will usually have a condition of good health, and this has proved true whether the individual thought has been good or bad, rightly motivated or wrongly oriented. It is simply the effect of integration, because saints and sinners, the selfish and the unselfish and all kinds of people, can achieve integration and a thought-directed life.

Các bạn sẽ lưu ý rằng, trên thực tế, thể trí và quyền năng của tư tưởng trong không trường hợp nào là nguyên nhân của rắc rối. Rắc rối do sự xóa mờ tư tưởng nguyên thủy và việc hạ thấp nó xuống cấp độ cảm tính gây ra. Khi sự hạ thấp này và sự kiểm soát cuối cùng bởi các lực cảm dục không xảy ra, và tư tưởng vẫn rõ ràng, không bị chạm đến trên cõi trí, thì có thể có một loại rắc rối khác, do sự thất bại trong việc “thực hiện đến cùng” tư tưởng thành hành động hữu hiệu trên cõi hồng trần. Sự thất bại này không những tạo ra sự phân ly trong phàm ngã vốn rất quen thuộc với nhà tâm lý học thực hành, mà còn cắt đứt một dòng năng lượng rất cần thiết. Hệ quả là thể xác bị mất sinh lực và rơi vào tình trạng sức khỏe kém. Khi tư tưởng có thể được chuyển đến bộ não thể xác và ở đó trở thành một tác nhân chỉ đạo của sinh lực, các bạn thường sẽ có một tình trạng sức khỏe tốt, và điều này đã được chứng minh là đúng dù tư tưởng cá nhân ấy là tốt hay xấu, được thúc đẩy đúng hay định hướng sai. Đó đơn giản là hiệu quả của sự tích hợp, bởi vì các thánh nhân và tội nhân, người ích kỷ và người vị tha cùng mọi loại người đều có thể đạt được sự tích hợp và một đời sống được tư tưởng chỉ đạo.

The second question asks whether an individual or a group can heal by thought power.

Câu hỏi thứ hai đặt ra rằng liệu một cá nhân hay một nhóm có thể chữa lành bằng quyền năng tư tưởng hay không.

Most certainly the generalisation can be made that an individual and a group can heal and that thought can play its potent part in the healing process, but not thought alone and unaided. Thought can be the directing agency of forces and energies which can disrupt and dispel disease, but the process must be aided by the power to visualise, by an ability to work with particular forces as is deemed advisable, by an understanding of the rays and their types of energies, and also by a capacity to handle light substance, as it is called. To these powers must be added the ability to be en rapport with the one to be healed, plus a loving heart. In [97] fact, once these conditions are met, too much use of the thinking faculty and too potent a use of the mind processes can arrest and hinder the healing work. Thought has to condition the initial incentive, bringing the intelligence of the man to bear upon the problem of healing and a comprehension of the nature of the one to be healed; but once it has aided in focussing the attention of the healer and the healing group, it should become a steady but subconscious directive agent and nothing more than that.

Chắc chắn có thể khái quát rằng một cá nhân và một nhóm có thể chữa lành và rằng tư tưởng có thể đóng vai trò mạnh mẽ của nó trong tiến trình chữa lành, nhưng không phải chỉ có tư tưởng và không có trợ lực. Tư tưởng có thể là tác nhân chỉ đạo của các lực và năng lượng có thể phá vỡ và làm tiêu tan bệnh tật, nhưng tiến trình ấy phải được hỗ trợ bởi quyền năng hình dung, bởi khả năng làm việc với những lực đặc thù khi được xem là thích hợp, bởi sự thấu hiểu các cung và các loại năng lượng của chúng, và cũng bởi năng lực xử lý chất liệu ánh sáng, như nó được gọi. Vào các quyền năng này còn phải thêm khả năng thiết lập sự tương thông với người được chữa lành, cộng với một trái tim đầy yêu thương. Thực [97] ra, một khi các điều kiện này được đáp ứng, việc sử dụng quá nhiều năng lực suy nghĩ và việc vận dụng quá mạnh các tiến trình của trí tuệ có thể ngăn chặn và cản trở công việc chữa lành. Tư tưởng phải tác động lên động lực ban đầu, đem trí thông minh của con người áp dụng vào vấn đề chữa lành và vào sự hiểu biết bản chất của người được chữa lành; nhưng một khi nó đã giúp tập trung sự chú ý của người chữa lành và của nhóm chữa lành, nó nên trở thành một tác nhân chỉ đạo vững vàng nhưng tiềm thức, và không hơn thế.

The healing is accomplished, when possible, by the use of energy rightly directed and by detailed visualisation; love also plays a great part, as does the mind in the early stage. Perhaps I should say that a loving heart is one of the most potent of all the energies employed.

Việc chữa lành được thực hiện, khi có thể, bằng việc sử dụng năng lượng được hướng dẫn đúng đắn và bằng sự hình dung chi tiết; tình thương cũng đóng một vai trò lớn, cũng như trí tuệ trong giai đoạn đầu. Có lẽ tôi nên nói rằng một trái tim đầy yêu thương là một trong những năng lượng mạnh mẽ nhất trong tất cả các năng lượng được sử dụng.

I have brought these two questions to your attention because I am anxious for your minds to be clear upon these problems before you start any group work in healing.

Tôi đã đưa hai câu hỏi này ra để các bạn chú ý vì tôi mong trí tuệ của các bạn được sáng tỏ về các vấn đề này trước khi các bạn bắt đầu bất kỳ công việc chữa lành theo nhóm nào.

Thought neither cures disease nor causes it. Thought must be employed in the processes, but it is not the sole or the most important agent. It is on this point that many groups and healers go astray. The mind can direct energy and this energy can, in its turn, produce overstimulation of the brain and of the body cells and so cause nervous trouble and sometimes brain disease, but the mind itself and thinking, per se, cannot cause disease and trouble in the physical body. As the race learns to think clearly and definitely, and as the laws of thought begin to control the racial consciousness, disease—as we now know it—will be greatly lessened and more and more people will achieve integration. Where there is integration there is the free play of force and of energy throughout the material body. The problems of stimulation will, however, steadily increase with the growing sensitivity of the physical man and the developing focus of his consciousness in the mind nature. This will go on until [98] man learns how to handle the higher energies and to recognise the need for a rhythmic life, paying attention to the Law of Periodicity.

Tư tưởng không chữa bệnh cũng không gây bệnh. Tư tưởng phải được sử dụng trong các tiến trình ấy, nhưng nó không phải là tác nhân duy nhất hay quan trọng nhất. Chính ở điểm này mà nhiều nhóm và nhiều người chữa lành đi lạc đường. Trí tuệ có thể hướng dẫn năng lượng và năng lượng này, đến lượt nó, có thể tạo ra sự kích thích quá mức của bộ não và của các tế bào cơ thể và do đó gây ra rối loạn thần kinh và đôi khi là bệnh não, nhưng bản thân trí tuệ và tư tưởng, chính chúng, không thể gây ra bệnh và rắc rối trong thể xác. Khi nhân loại học cách suy nghĩ rõ ràng và dứt khoát, và khi các quy luật của tư tưởng bắt đầu kiểm soát tâm thức của nhân loại, thì bệnh tật—như chúng ta hiện biết—sẽ giảm đi rất nhiều và ngày càng nhiều người sẽ đạt được sự tích hợp. Nơi nào có sự tích hợp, nơi đó có sự vận hành tự do của lực và năng lượng khắp thể vật chất. Tuy nhiên, các vấn đề về kích thích sẽ đều đặn gia tăng cùng với sự nhạy cảm ngày càng lớn của phàm nhân thể xác và sự tập trung đang phát triển của tâm thức y vào bản chất trí tuệ. Điều này sẽ tiếp diễn cho đến khi [98] con người học được cách xử lý các năng lượng cao hơn và nhận ra nhu cầu của một đời sống có nhịp điệu, chú ý đến Định luật Chu Kỳ.

In healing work, certain rules should be mastered and followed by the healer. I have given three important rules already. Briefly they are as follows, and I am dividing the first one into its component parts for the sake of clarity.

Trong công việc chữa lành, người chữa lành cần nắm vững và tuân theo một số quy luật. Tôi đã đưa ra ba quy luật quan trọng rồi. Tóm lại, chúng như sau, và tôi chia quy luật thứ nhất thành các phần cấu thành của nó cho rõ ràng.

1. a. The healer must seek to link his soul, his heart, his brain, and his hands. Thus can he pour the vital force with healing power upon his patient. This is magnetic work.

1. a. Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, bộ não và hai bàn tay của mình. Nhờ vậy y có thể tuôn đổ sinh lực với quyền năng chữa lành lên bệnh nhân của mình. Đây là công việc từ tính.

b. The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power.

b. Người chữa lành phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc của sự bức xạ. Không cần đến hai bàn tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó.

2. The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must achieve that dispelling radiance which shows itself in every man once he has linked the centres in the head. When this magnetic field has been established, the radiance then goes forth.

2. Người chữa lành phải đạt được sự thanh khiết từ tính, qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được sự bức xạ làm tiêu tan, điều tự biểu lộ nơi mỗi người một khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi từ trường này đã được thiết lập, bức xạ khi ấy sẽ phát ra.

3. Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which relief must come.

3. Hãy để người chữa lành tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay của ham muốn nơi người tìm kiếm sự giúp đỡ của y. Nhờ đó y có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với kết quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự giải tỏa phải đến.

I would here give you, as a group, another rule, making four major rules:

Ở đây tôi muốn đưa cho các bạn, với tư cách một nhóm, thêm một quy luật nữa, thành bốn quy luật chính:

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

The healer and the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used, but love.

Người chữa lành và nhóm chữa lành phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Điều phải được sử dụng không phải là ý chí, mà là tình thương.

This last rule is of great importance. The concentrated will of any individual and the directed will of a united group [99] should never be employed. The free will of the individual must never be subjected to the impact of a powerfully focussed group or individual; it is far too dangerous a procedure to be permitted. Will energy (particularly that of a number of people simultaneously playing upon the subtle and physical bodies of the one to be healed) can greatly increase the trouble instead of curing it. It can stimulate the disease itself to dangerous proportions and disrupt instead of cooperating with nature’s healing forces, and can even eventually kill the person concerned by so increasing the disease that the patient’s normal resistance can prove futile. I would ask you, therefore, in any group work of healing, to keep the will (and even keen desire) in abeyance. Only initiates of high degree are permitted to cure by the power of the will, focussed in the WORD OF POWER, and this only because they can test the capacity of the patient, the tension of the disease, and know also whether or no it is the will of the soul that the disease should be cured.

Quy luật cuối cùng này vô cùng quan trọng. Ý chí tập trung của bất kỳ cá nhân nào và ý chí được hướng dẫn của một nhóm hợp nhất [99] không bao giờ được sử dụng. Ý chí tự do của cá nhân không bao giờ được đặt dưới tác động của một nhóm hay một cá nhân được tập trung mãnh liệt; đó là một thủ tục quá nguy hiểm để có thể cho phép. Năng lượng ý chí (đặc biệt là của một số người đồng thời tác động lên các thể vi tế và thể xác của người được chữa lành) có thể làm tăng rắc rối rất nhiều thay vì chữa nó. Nó có thể kích thích chính bệnh ấy đến mức nguy hiểm và phá hoại thay vì hợp tác với các lực chữa lành của thiên nhiên, và thậm chí cuối cùng có thể giết chết người liên hệ bằng cách làm bệnh tăng lên đến mức sức đề kháng bình thường của bệnh nhân trở nên vô hiệu. Vì vậy, tôi yêu cầu các bạn, trong bất kỳ công việc chữa lành theo nhóm nào, hãy giữ ý chí (và ngay cả ham muốn mãnh liệt) ở trạng thái đình chỉ. Chỉ các điểm đạo đồ cấp cao mới được phép chữa lành bằng quyền năng của ý chí, được tập trung trong Quyền năng từ, và điều này chỉ vì Các Ngài có thể kiểm tra năng lực của bệnh nhân, mức độ tập trung nhất tâm của bệnh, và cũng biết liệu có phải ý chí của linh hồn là bệnh ấy nên được chữa khỏi hay không.

We have covered much ground of importance in this section and it will warrant your careful study. In the next one we will take up the peculiar problems of the disciple; I would ask you, in preparation for this, to study with attention, the teaching which I gave earlier on the diseases of the mystics. (A Treatise on the Seven Rays, Vol II, Pages 520-625) Much said there need not be repeated by me, but should be incorporated in our teachings on healing. I suggest that you read them and know something of the problems themselves, both theoretically and from an understanding of yourself. You should be aware of some of these difficulties in your own experience, at least to some degree.

Chúng ta đã bao quát nhiều điểm quan trọng trong phần này và nó xứng đáng để các bạn nghiên cứu cẩn thận. Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ bàn đến những vấn đề đặc thù của đệ tử; để chuẩn bị cho điều này, tôi yêu cầu các bạn chú ý nghiên cứu giáo huấn mà trước đây tôi đã đưa ra về các bệnh của các nhà thần bí. (Luận về Bảy Cung, Tập II, Trang 520-625) Nhiều điều đã nói ở đó tôi không cần lặp lại, nhưng nên được kết hợp vào giáo huấn của chúng ta về chữa lành. Tôi gợi ý rằng các bạn hãy đọc chúng và biết đôi điều về chính các vấn đề ấy, cả về mặt lý thuyết lẫn từ sự thấu hiểu chính mình. Các bạn nên ý thức được một số khó khăn này trong kinh nghiệm riêng của mình, ít nhất ở một mức độ nào đó.

The Sacred Art of Healing

Nghệ Thuật Thiêng Liêng của Sự Chữa Lành

I do not intend, in this treatise, to deal with the pathology of disease, with its systems and their maleficent indications. [100] These are fully covered in any ordinary medical treatise and textbook and I, my brothers, am no trained physician or medical authority, nor have I the time to be engrossed with the technicalities. What I am concerned with is to give the world some idea of the true and occult causes of disease and their hidden origins, and with the work of healing, as it is carried on and sanctioned by the Great White Lodge.

Trong bộ luận này, tôi không có ý đề cập đến bệnh lý học của bệnh tật, đến các hệ thống của nó và các biểu hiện tai hại của chúng. [100] Những điều này đã được trình bày đầy đủ trong bất kỳ bộ luận và giáo trình y học thông thường nào, và tôi, Huynh đệ của Tôi, không phải là một thầy thuốc được đào tạo hay một thẩm quyền y khoa, cũng không có thời gian để bị cuốn vào các chi tiết kỹ thuật. Điều tôi quan tâm là đem đến cho thế giới một vài ý niệm về các nguyên nhân chân thực và huyền bí của bệnh tật cùng các nguồn gốc ẩn kín của chúng, và về công việc chữa lành như nó được tiến hành và được Thánh đoàn chuẩn nhận.

The work is, in reality, that of the judicious use of energy, applied with love and science. All that I tell you is the result of experiment. Such healing falls into two categories:

Công việc ấy, trên thực tế, là việc sử dụng năng lượng một cách khôn ngoan, được áp dụng với tình thương và khoa học. Tất cả những gì tôi nói với các bạn đều là kết quả của thực nghiệm. Việc chữa lành như thế thuộc vào hai loại:

1. In magnetic healing, the healer, or the healing group. does two things:

1. Trong chữa lành từ tính, người chữa lành, hay nhóm chữa lành, làm hai việc:

a. He attracts to the healing centre that type of energy which will counteract the disease.

a. Y thu hút vào trung tâm chữa lành loại năng lượng sẽ đối kháng với bệnh.

This is necessarily a vast subject and one of deep scientific import. Certain types of ray force can be used with certain types of disease, necessitating the use of certain specific centres for the distribution. These we shall consider and outline when we come to the section entitled The Seven Modes of Healing.

Đây tất yếu là một đề tài rộng lớn và có ý nghĩa khoa học sâu xa. Một số loại lực cung nhất định có thể được dùng với một số loại bệnh nhất định, đòi hỏi phải sử dụng những trung tâm đặc thù nhất định để phân phối. Chúng ta sẽ xem xét và phác thảo những điều này khi đến phần mang tên Bảy Phương Thức Chữa Lành.

b. He attracts to himself and absorbs those forces which are producing the disease, drawing it forth from the patient.

b. Y thu hút vào chính mình và hấp thụ những lực đang tạo ra bệnh, kéo chúng ra khỏi bệnh nhân.

This latter process necessitates a careful guarding of the healer from all contamination by the disease, so that the forces can find no place in his body. There must also be the supplying of fresh energy to the patient, in order to take the place of that which has been withdrawn. This process sets up a definite interplay between the healer and the patient. There is consequently some real [101] danger in this work of occult healing, and for this reason the healers in training should bear in mind that they will work as a group and not as individuals. The free circulation of force produces good health in the individual or group. The free circulation of force between a healer or a healing group and the person to be healed can produce the cure of disease, provided it is the destiny of the man to be healed at any given time and his cooperation is given when possible, though this is not really essential. It facilitates more rapid results in many cases. In others, the patient’s anxiety can negate the desired effects.

Tiến trình sau này đòi hỏi phải bảo vệ cẩn thận người chữa lành khỏi mọi sự lây nhiễm của bệnh, để các lực ấy không tìm được chỗ nào trong thể của y. Cũng phải cung cấp năng lượng mới cho bệnh nhân, để thay thế điều đã được rút ra. Tiến trình này thiết lập một sự tương tác rõ rệt giữa người chữa lành và bệnh nhân. Vì vậy, có một mối nguy hiểm thực sự nào đó [101] trong công việc chữa lành huyền bí này, và vì lý do đó, những người chữa lành đang được huấn luyện nên ghi nhớ rằng họ sẽ làm việc như một nhóm chứ không phải như những cá nhân. Sự lưu thông tự do của lực tạo ra sức khỏe tốt nơi cá nhân hay nhóm. Sự lưu thông tự do của lực giữa một người chữa lành hay một nhóm chữa lành và người được chữa lành có thể tạo ra sự chữa khỏi bệnh, miễn là đó là số mệnh của người ấy được chữa lành vào thời điểm nhất định nào đó và sự hợp tác của y được trao ra khi có thể, dù điều này thực ra không thật sự thiết yếu. Trong nhiều trường hợp, nó tạo điều kiện cho kết quả nhanh hơn. Trong những trường hợp khác, sự lo âu của bệnh nhân có thể phủ nhận các hiệu quả mong muốn.

2. In radiatory healing, the process is simpler and safer for the healer simply gathers power into himself and then radiates it out on to the patient in the form of a steadily outflowing stream of radiant energy. This stream of energy should be directed to the centre nearest to the location of the disease.

2. Trong chữa lành bằng bức xạ, tiến trình đơn giản hơn và an toàn hơn vì người chữa lành chỉ thu tập quyền năng vào chính mình rồi bức xạ nó ra bệnh nhân dưới hình thức một dòng năng lượng bức xạ tuôn chảy đều đặn. Dòng năng lượng này nên được hướng đến trung tâm gần nhất với vị trí của bệnh.

In this work there is no risk to the healer, but if the element of will enters into his thought or the stream of energy projected is too strong, there may be danger to the patient. The impact of the force which is being radiated upon him may not only produce nervous tension, but may lead to an increase in the power of the disease and its intensification by stimulating the atoms and cells involved in the activity of the force responsible for the trouble. For this reason beginners must avoid any concentration upon the disease itself or the area in the physical body involved and carefully keep all thought in abeyance, once the preliminary work has been done, for energy ever follows thought and goes where the thought is focussed. [102]

Trong công việc này không có nguy cơ cho người chữa lành, nhưng nếu yếu tố ý chí đi vào tư tưởng của y hoặc dòng năng lượng được phóng chiếu quá mạnh, thì có thể có nguy hiểm cho bệnh nhân. Tác động của lực đang được bức xạ lên y không những có thể tạo ra căng thẳng thần kinh, mà còn có thể dẫn đến sự gia tăng quyền năng của bệnh và sự tăng cường của nó bằng cách kích thích các nguyên tử và tế bào liên quan đến hoạt động của lực chịu trách nhiệm về rắc rối ấy. Vì lý do này, những người mới bắt đầu phải tránh bất kỳ sự tập trung nào vào chính căn bệnh hay vào vùng thể xác có liên quan và cẩn thận giữ mọi tư tưởng ở trạng thái đình chỉ, một khi công việc sơ bộ đã được thực hiện, vì năng lượng luôn luôn đi theo tư tưởng và đi đến nơi tư tưởng được tập trung vào. [102]

The healers have to determine the effectiveness of what they are attempting and the potency of their united group work and of the force which they can wield. They have also to discover their ability to keep the will in the background and to send the healing radiance out upon a stream of love-energy. Have ever in mind that love is energy and that it is a substance as real as dense matter. That substance can be used to drive out diseased tissue and provide a healthy substitute in place of the diseased material which has been eliminated.

Những người chữa lành phải xác định hiệu quả của điều họ đang cố gắng thực hiện và tiềm lực của công việc nhóm hợp nhất của họ cũng như của lực mà họ có thể vận dụng. Họ cũng phải khám phá khả năng giữ ý chí ở hậu cảnh và gửi bức xạ chữa lành ra trên một dòng năng lượng tình thương. Hãy luôn ghi nhớ rằng tình thương là năng lượng và rằng nó là một chất liệu cũng thực như vật chất đậm đặc. Chất liệu ấy có thể được dùng để đẩy mô bệnh ra ngoài và cung cấp một sự thay thế lành mạnh thay cho vật chất bệnh đã bị loại bỏ.

They will, therefore, in the first cycle of work, attempt the radiatory method. It is simpler and far more easily mastered. Later, they can experiment with the method of magnetic healing.

Vì vậy, trong chu kỳ công việc đầu tiên, họ sẽ thử phương pháp bức xạ. Nó đơn giản hơn và dễ nắm vững hơn nhiều. Sau này, họ có thể thử nghiệm với phương pháp chữa lành từ tính.

You will now see the purpose of the rules anent the modes of healing which I gave early in this series of instructions. You will realise why, in this radiatory work, the linking process involves the soul, the brain and the entire aura or the magnetic field of individual or group activity. The mind is not mentioned or involved, and the brain acts solely as the focussing point of the love and the healing force to be projected into the stream of energy which issues from the ajna centre.

Bây giờ các bạn sẽ thấy mục đích của các quy luật liên quan đến các phương thức chữa lành mà tôi đã đưa ra sớm hơn trong loạt chỉ dẫn này. Các bạn sẽ nhận ra vì sao, trong công việc bức xạ này, tiến trình nối kết bao gồm linh hồn, bộ não và toàn bộ hào quang hay từ trường của hoạt động cá nhân hoặc nhóm. Trí tuệ không được nhắc đến hay tham dự, và bộ não chỉ hoạt động như điểm tập trung của tình thương và lực chữa lành sẽ được phóng vào dòng năng lượng phát ra từ trung tâm ajna.

The healer will, therefore, keep all the forces focussed in the head, and his attention must be concentrated there also. The heart will be automatically involved, as he will be using the energy of love—at first entirely.

Vì vậy, người chữa lành sẽ giữ mọi lực được tập trung trong đầu, và sự chú ý của y cũng phải được tập trung ở đó. Tim sẽ tự động được bao hàm, vì y sẽ sử dụng năng lượng của tình thương—thoạt đầu hoàn toàn là như vậy.

Let us now tabulate the rules under which all healing groups must work. I would like to interpolate here that it is not always necessary or possible to meet and work together in group formation. This work can be carried forward efficiently and potently, if the members work as a subjective group; each should then follow the instructions each day [103] and as if he were working in his group in tangible form. This real linking is brought about by imagining himself as in the presence of his brothers. If they were to meet as a group upon the physical plane, it would be hard to prevent the dissipation of force through discussion, through the ordinary pleasantries of meeting, and through the physical interplay between personalities. It would be inevitable that there would be too much conversation, and the work done would not be adequately effective. From the physical standpoint, they work alone; from the true inner standpoint, they work in the closest cooperation.

Bây giờ chúng ta hãy lập bảng các quy luật mà mọi nhóm chữa lành phải làm việc theo. Ở đây tôi muốn xen vào rằng không phải lúc nào cũng cần hay có thể gặp nhau và làm việc cùng nhau trong hình thức nhóm. Công việc này có thể được tiến hành hữu hiệu và mạnh mẽ nếu các thành viên làm việc như một nhóm chủ quan; khi đó mỗi người nên làm theo các chỉ dẫn mỗi ngày [103] như thể y đang làm việc trong nhóm của mình dưới hình thức hữu hình. Sự nối kết thực sự này được tạo ra bằng cách hình dung mình đang ở trong sự hiện diện của các huynh đệ của mình. Nếu họ gặp nhau như một nhóm trên cõi hồng trần, sẽ khó ngăn chặn sự làm tiêu tan lực qua thảo luận, qua những xã giao thông thường khi gặp gỡ, và qua sự tương tác thể xác giữa các phàm ngã. Sẽ không tránh khỏi việc có quá nhiều chuyện trò, và công việc được thực hiện sẽ không đủ hiệu quả. Từ quan điểm thể xác, họ làm việc một mình; từ quan điểm nội tại chân thực, họ làm việc trong sự hợp tác mật thiết nhất.

Here are the first rules which I would have the student master:

Đây là những quy luật đầu tiên mà tôi muốn đạo sinh nắm vững:

Preliminary Rules for Radiatory Healing

Các Quy Luật Sơ Bộ cho Chữa Lành bằng Bức Xạ

1. By an act of the will, after making your own quick, conscious alignment, link up as a soul with the souls of your group brothers. Then link up with their minds, and then with their emotional natures. Do this by the use of the imagination, realising that energy follows thought and that the linking process is inevitable, if correctly done. You can then function as a group. Then forget about the group relation and concentrate upon the work to be done.

1. Bằng một hành động của ý chí, sau khi thực hiện sự chỉnh hợp nhanh chóng và có ý thức của riêng bạn, hãy nối kết như một linh hồn với các linh hồn của các huynh đệ trong nhóm của bạn. Sau đó nối kết với trí tuệ của họ, rồi với bản chất cảm xúc của họ. Hãy làm điều này bằng cách sử dụng sự tưởng tượng, nhận ra rằng năng lượng đi theo tư tưởng và rằng tiến trình nối kết là điều tất yếu, nếu được thực hiện đúng. Khi ấy bạn có thể hoạt động như một nhóm. Sau đó hãy quên mối liên hệ nhóm đi và tập trung vào công việc phải làm.

2. Within yourself, then, link soul and brain and gather together the forces of love that are to be found in your aura and focus yourself and all that you have to offer within the head, picturing yourself as a radiant centre of energy or a point of vivid light. This light is to be projected upon the patient through the ajna centre between the eyes.

2. Rồi trong chính bạn, hãy nối kết linh hồn và bộ não và tập hợp các lực tình thương có thể tìm thấy trong hào quang của bạn, rồi tập trung chính bạn và tất cả những gì bạn có thể cống hiến vào trong đầu, hình dung mình như một trung tâm năng lượng bức xạ hay một điểm sáng rực rỡ. Ánh sáng này sẽ được phóng lên bệnh nhân qua trung tâm ajna giữa hai mắt.

3. Then say the following group mantram:

3. Sau đó hãy đọc mantram nhóm sau đây:

“With purity of motive, inspired by a loving heart, we offer ourselves for this work of healing. This offer we make as a group and to the one we seek to heal.”

“Với sự thanh khiết của động cơ, được cảm hứng bởi một trái tim đầy yêu thương, chúng tôi hiến mình cho công việc chữa lành này. Sự hiến dâng này chúng tôi thực hiện như một nhóm và cho người mà chúng tôi tìm cách chữa lành.”

[104]

[104]

As you do this, visualise the linking process going on. See it as moving lines of living light substance, linking you to your brothers on the one hand, and to the patient on the other. See these lines going out from you to the heart centre of the group and to the patient. But work ever from the ajna centre until instructed to do differently. In this way, the ajna centre and the heart centre of all the persons involved will be closely interrelated. You see here where the value of visualisation comes in. It is in reality the etheric externalisation of the creative imagination. Think this last sentence out.

Khi làm điều này, hãy hình dung tiến trình nối kết đang diễn ra. Hãy thấy nó như những đường chuyển động của chất liệu ánh sáng sống động, nối kết bạn với các huynh đệ của bạn ở một phía, và với bệnh nhân ở phía kia. Hãy thấy những đường này đi ra từ bạn đến trung tâm tim của nhóm và đến bệnh nhân. Nhưng hãy luôn làm việc từ trung tâm ajna cho đến khi được chỉ dẫn làm khác đi. Bằng cách này, trung tâm ajna và trung tâm tim của tất cả những người liên hệ sẽ được tương liên chặt chẽ. Ở đây các bạn thấy giá trị của sự hình dung xuất hiện ở đâu. Trên thực tế, đó là sự ngoại hiện dĩ thái của Sự tưởng tượng sáng tạo. Hãy suy nghĩ về câu cuối này.

4. Then use thought, directed thought, for a brief moment and think of the one you seek to heal, linking up with him, and focussing your attention on him so that he becomes a reality in your consciousness and close to you. When you are aware what the physical difficulty is, then simply recall it to your mind and then dismiss it. Forget now the details of the work, such as the group, yourself and the difficulty of the patient, and concentrate upon the type of force you are going to handle, which is, in this case and for the present, second ray force, the force of love. What I am here giving out is an adaptation of the second ray method of healing, arranged for beginners.

4. Sau đó hãy dùng tư tưởng, tư tưởng được hướng dẫn, trong một khoảnh khắc ngắn và nghĩ đến người mà bạn tìm cách chữa lành, nối kết với y, và tập trung sự chú ý của bạn vào y để y trở thành một thực tại trong tâm thức của bạn và ở gần bạn. Khi bạn biết khó khăn thể xác là gì, thì chỉ đơn giản gợi nó lại trong trí bạn rồi gạt nó đi. Bây giờ hãy quên các chi tiết của công việc, như nhóm, chính bạn và khó khăn của bệnh nhân, và tập trung vào loại lực mà bạn sắp xử lý, trong trường hợp này và hiện tại là lực cung hai, lực của tình thương. Điều tôi đang truyền ra ở đây là một sự thích nghi của phương pháp chữa lành cung hai, được sắp xếp cho người mới bắt đầu.

5. Feel a deep love pouring into you. Regard it as substantial light which you can and will manipulate. Then send it out as a stream of radiant light from the ajna centre and direct it through the medium of your hands to the patient. In doing this, hold the hands before the eyes, palms outward and with the hacks of the hands next to the eyes and about six inches away from the face. In this way, the stream which is issuing from the ajna centre, becomes divided into two and pours out through the two hands. It is thus directed on to the patient. Visualise it as pouring out [105] and sense the patient receiving it. As you do this, say aloud in a low voice:

5. Hãy cảm nhận một tình thương sâu sắc đang tuôn vào bạn. Hãy xem nó như ánh sáng có chất liệu mà bạn có thể và sẽ vận dụng. Sau đó hãy gửi nó ra như một dòng ánh sáng bức xạ từ trung tâm ajna và hướng nó qua trung gian của hai bàn tay bạn đến bệnh nhân. Khi làm điều này, hãy giữ hai bàn tay trước mắt, lòng bàn tay hướng ra ngoài và mu bàn tay gần mắt, cách mặt chừng sáu inch. Bằng cách này, dòng phát ra từ trung tâm ajna được chia làm hai và tuôn ra qua hai bàn tay. Như thế nó được hướng đến bệnh nhân. Hãy hình dung nó đang tuôn ra [105] và cảm nhận bệnh nhân đang tiếp nhận nó. Khi làm điều này, hãy nói lớn bằng giọng thấp:

“May the love of the One Soul, focussed in this group, radiate upon you, my brother, and permeate every part of your body—healing, soothing, strengthening; and dissipating all that hinders service and good health.”

“Nguyện tình thương của Linh Hồn Duy Nhất, được tập trung trong nhóm này, bức xạ lên bạn, Huynh đệ của Tôi, và thấm nhuần mọi phần trong thể bạn—chữa lành, xoa dịu, tăng cường; và làm tiêu tan mọi điều cản trở sự phụng sự và sức khỏe tốt.”

Say this slowly and deliberately, believing in the results. See that no thought-power or will-power enters into the stream of healing energy, but only a concentrated radiating love. The use of the visualising faculty and of the creative imagination, plus a sense of deep and steadfast love, will keep the mind and the will in abeyance.

Hãy nói điều này chậm rãi và có chủ ý, tin tưởng vào kết quả. Hãy bảo đảm rằng không có quyền năng tư tưởng hay quyền năng ý chí nào đi vào dòng năng lượng chữa lành, mà chỉ có một tình thương bức xạ được tập trung. Việc sử dụng năng lực hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo, cộng với cảm thức về một tình thương sâu sắc và bền vững, sẽ giữ trí tuệ và ý chí ở trạng thái đình chỉ.

I would emphasise the urgent necessity for complete silence and reticence in relation to all healing work. Never let it be known by anyone that you are working in this manner, and never mention to anyone the names of those you are seeking to aid. Do not discuss the patient under treatment even among yourselves. If this basic rule of silence is not kept, it will indicate that you are not yet ready for this work and should discontinue it. This injunction is far more important than you can realise; for speech and discussion not only tend to deflect and dissipate force, but violate a fundamental rule which all healers are trained to keep, and even the medical profession on the physical plane follows the same general procedure.

Tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết khẩn cấp của sự im lặng và kín đáo hoàn toàn liên quan đến mọi công việc chữa lành. Đừng bao giờ để bất kỳ ai biết rằng các bạn đang làm việc theo cách này, và đừng bao giờ nhắc với ai tên của những người mà các bạn đang tìm cách trợ giúp. Đừng bàn luận về bệnh nhân đang được điều trị ngay cả giữa chính các bạn. Nếu quy luật căn bản về sự im lặng này không được giữ, điều đó sẽ cho thấy rằng các bạn chưa sẵn sàng cho công việc này và nên ngưng nó lại. Mệnh lệnh này quan trọng hơn nhiều so với điều các bạn có thể nhận ra; vì lời nói và sự bàn luận không những có khuynh hướng làm lệch hướng và làm tiêu tan lực, mà còn vi phạm một quy luật căn bản mà mọi người chữa lành đều được huấn luyện để giữ, và ngay cả ngành y trên cõi hồng trần cũng tuân theo cùng một thủ tục tổng quát.

Three Major Laws of Health

Ba Định Luật Chính của Sức Khỏe

There are three major laws of health and seven minor laws. These work out in the three worlds, which is all that concerns you at this time. In all teaching to be given in the immediate future, the main emphasis will eventually be laid upon the technique of the etheric body, for that is the next step forward. The three major laws are: [106]

Có ba định luật chính của sức khỏe và bảy định luật phụ. Chúng vận hành trong ba cõi giới, là điều duy nhất liên quan đến các bạn vào lúc này. Trong mọi giáo huấn sẽ được đưa ra trong tương lai gần, trọng tâm chính cuối cùng sẽ được đặt vào kỹ thuật của thể dĩ thái, vì đó là bước tiến kế tiếp. Ba định luật chính là: [106]

1. The law controlling the will to live, a manifestation of the first aspect of the Logos, will or power.

1. Định luật kiểm soát ý chí sống, một biểu lộ của phương diện thứ nhất của Thượng đế, ý chí hay quyền năng.

2. The law controlling equality of rhythm, a manifestation of the second aspect of the Logos, love or wisdom.

2. Định luật kiểm soát sự bình đẳng của nhịp điệu, một biểu lộ của phương diện thứ hai của Thượng đế, bác ái hay minh triết.

3. The law controlling crystallisation, a manifestation of the third aspect of the Logos, the activity or foundational aspect.

3. Định luật kiểm soát sự kết tinh, một biểu lộ của phương diện thứ ba của Thượng đế, hoạt động hay phương diện nền tảng.

These three governing factors or laws manifest themselves through the three major divisions of the human entity.

Ba yếu tố hay định luật chi phối này biểu lộ qua ba phân bộ chính của thực thể con người.

1. The will aspect manifests through the organs of respiration. Another of its expressions is the faculty of sleep. In both of these you have a repetition or an analogy in the microcosm of Logoic manifestation and Logoic pralaya.

1. Phương diện ý chí biểu lộ qua các cơ quan hô hấp. Một biểu hiện khác của nó là năng lực ngủ. Trong cả hai điều này, các bạn có một sự lặp lại hay một sự tương đồng trong tiểu thiên địa của biểu lộ Logoic và của giai kỳ qui nguyên Logoic.

2. The love aspect shows itself through the heart, the circulatory system and the nervous system. This is in many ways most important for you to understand, for it controls paramountly the etheric body and its assimilation of prana or vitality. This prana works through both the blood and the nerves, for the life force uses the blood stream and psychic force works through the nervous system. These two departments of the human organism are those which cause the greatest amount of trouble at this time and will even more in the future. The race learns through suffering, and only dire need drives man to seek solution and relief. From the present standpoint of healing, man forms again a lesser trinity of importance:

2. Phương diện bác ái biểu lộ qua tim, hệ tuần hoàn và hệ thần kinh. Điều này theo nhiều cách là quan trọng nhất để các bạn thấu hiểu, vì nó kiểm soát một cách tối cao thể dĩ thái và sự đồng hóa prana hay sinh lực của nó. Prana này hoạt động qua cả máu lẫn thần kinh, vì sinh lực sử dụng dòng máu và mãnh lực thông linh hoạt động qua hệ thần kinh. Hai bộ phận này của cơ thể con người là những bộ phận gây ra nhiều rắc rối nhất vào lúc này và sẽ còn hơn thế trong tương lai. Nhân loại học qua đau khổ, và chỉ nhu cầu cấp bách mới thúc đẩy con người tìm kiếm giải pháp và sự giải thoát. Từ quan điểm chữa lành hiện nay, con người lại hình thành một tam vị nhỏ hơn nhưng quan trọng:

a. The dense physical body, of which science and medicine know much. [107]

a. Thể xác đậm đặc, điều mà khoa học và y học biết nhiều. [107]

b. The etheric body, which is the next field of endeavour, of experiment and of discovery.

b. Thể dĩ thái, là lĩnh vực nỗ lực, thực nghiệm và khám phá kế tiếp.

c. The astral body which, simultaneously with the etheric, is the next object for scientific control. The science of psychology will work here.

c. Thể cảm dục, cùng lúc với thể dĩ thái, là đối tượng kế tiếp cho sự kiểm soát khoa học. Khoa học tâm lý học sẽ làm việc ở đây.

3. The activity aspect, which manifests primarily through the organs of assimilation and elimination. I seek here to emphasise one point. Just as our solar system is developing the love aspect, which is the second aspect, and just as the human being is polarised in the astral body, which is the reflection of that second aspect, so the second of the three above mentioned departments of the human organism, the etheric, is the one of paramount importance. Up to date it has been the transmitter primarily of astral energy to the physical body. This is now in process of changing.

3. Phương diện hoạt động, biểu lộ chủ yếu qua các cơ quan đồng hóa và bài tiết. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh một điểm. Cũng như hệ mặt trời của chúng ta đang phát triển phương diện bác ái, tức phương diện thứ hai, và cũng như con người được phân cực trong thể cảm dục, vốn là sự phản chiếu của phương diện thứ hai ấy, thì bộ phận thứ hai trong ba bộ phận vừa nêu của cơ thể con người, tức thể dĩ thái, là bộ phận có tầm quan trọng tối cao. Cho đến nay nó chủ yếu là bộ truyền dẫn năng lượng cảm dục đến thể xác. Điều này hiện đang trong tiến trình thay đổi.

The whole trend of medical science should now be awake to the concrete facts of the dense physical body and moving towards the study of vitalisation and circulation, for these two are closely related. The nervous system is controlled principally today from the astral body, via the etheric, and the basis of all nervous trouble lies hidden in the emotional body wherein humanity at this time is polarised. The circulatory system of the physical body is controlled principally from the etheric body. When you have an etheric body that is not functioning properly and does not transmit prana sufficiently, and when you have an astral or emotional body that is not adequately or properly controlled, you have in these two the source of the majority of the diseases and nervous and mental conditions that are annually increasing. The reflex action of inadequate circulation upon the physical brain (again due to the etheric body) leads to mental strain and eventual collapse. From this you can see the importance of the etheric vehicle.

Toàn bộ xu hướng của khoa học y học hiện nay nên thức tỉnh trước các sự kiện cụ thể của thể xác đậm đặc và tiến tới việc nghiên cứu sự tiếp sinh lực và sự tuần hoàn, vì hai điều này có liên hệ chặt chẽ. Hệ thần kinh ngày nay chủ yếu được kiểm soát từ thể cảm dục, qua trung gian thể dĩ thái, và nền tảng của mọi rối loạn thần kinh nằm ẩn trong thể cảm xúc, nơi mà nhân loại hiện đang phân cực. Hệ tuần hoàn của thể xác chủ yếu được kiểm soát từ thể dĩ thái. Khi các bạn có một thể dĩ thái không hoạt động đúng và không truyền đủ prana, và khi các bạn có một thể cảm dục hay cảm xúc không được kiểm soát đầy đủ hay đúng đắn, thì trong hai điều này các bạn có nguồn gốc của phần lớn các bệnh tật và các tình trạng thần kinh và trí tuệ đang gia tăng hằng năm. Tác động phản hồi của sự tuần hoàn không đầy đủ lên bộ não thể xác (lại do thể dĩ thái) dẫn đến căng thẳng trí tuệ và cuối cùng là suy sụp. Từ đó các bạn có thể thấy tầm quan trọng của vận cụ dĩ thái.

[108]

[108]

The first aspect, which has for its expression and field of control the organs of respiration and the faculty of sleep, when not functioning properly, produces death, insanity and some of the diseases of the brain.

Phương diện thứ nhất, có biểu hiện và lĩnh vực kiểm soát là các cơ quan hô hấp và năng lực ngủ, khi không hoạt động đúng sẽ tạo ra cái chết, sự điên loạn và một số bệnh của bộ não.

The third aspect, when not functioning properly, causes stomach troubles, bowel complaints and the various diseases that are located beneath and below the solar plexus in the abdomen.

Phương diện thứ ba, khi không hoạt động đúng, gây ra các rối loạn dạ dày, các bệnh đường ruột và các bệnh khác nằm bên dưới tùng thái dương trong vùng bụng.

You see, therefore, how medical science must eventually seek solution in a simplification of methods and a return from a complexity of drugs and operations to an understanding of the right use of the energies which pour through from the inner man, via the etheric body, to the physical.

Vì vậy, các bạn thấy khoa học y học cuối cùng phải tìm giải pháp trong sự đơn giản hóa các phương pháp và trong sự quay trở lại từ sự phức tạp của thuốc men và phẫu thuật đến sự thấu hiểu việc sử dụng đúng đắn các năng lượng tuôn xuống từ con người bên trong, qua thể dĩ thái, đến thể xác.

The following suggestions may help:

Những gợi ý sau đây có thể hữu ích:

1. By the development of goodwill, which is the will of good intention and motive, will come the healing of diseases of the respiratory tract, lungs and throat, the stabilising of the cells of the brain, the cure of insanities and obsessions, and an attainment of equilibrium and of rhythm. Longevity will ensue, for death should be the recognition by the soul of work consummated and pralaya earned. It will only take place later at long and separated periods, and will be controlled by the will of the man. He will cease to breathe when he has finished his work, and then will send the atoms of his body into pralaya. That is the sleep of the physical, the end of manifestation, and the occult significance of this is not yet comprehended.

1. Qua sự phát triển thiện chí, vốn là ý chí của thiện ý và động cơ đúng đắn, sẽ đến sự chữa lành các bệnh của đường hô hấp, phổi và cổ họng, sự ổn định các tế bào của bộ não, sự chữa trị các chứng điên loạn và ám nhập, và sự đạt được quân bình cùng nhịp điệu. Sự trường thọ sẽ theo sau, vì cái chết phải là sự nhận biết của linh hồn rằng công việc đã hoàn tất và giai kỳ qui nguyên đã được заслуж. Nó sẽ chỉ xảy ra về sau vào những thời kỳ dài và cách biệt, và sẽ được kiểm soát bởi ý chí của con người. Y sẽ ngừng thở khi đã hoàn tất công việc của mình, rồi sẽ gửi các nguyên tử của thể mình vào giai kỳ qui nguyên. Đó là giấc ngủ của thể xác, sự chấm dứt biểu lộ, và ý nghĩa huyền bí của điều này vẫn chưa được thấu hiểu.

2. By a comprehension of the laws of vitality—and in this phrase are comprehended the laws governing prana, radiation and magnetism—will come the healing of the diseases in the blood, of the arteries and veins, of certain nervous complaints, lack of vitality, senile decay, poor circulation and similar ills. This too will result in the [109] prolongation of life. The laws of electrical energy will also be better understood in this connection.

2. Qua sự thấu hiểu các định luật của sinh lực—và trong cụm từ này bao hàm các định luật chi phối prana, bức xạ và từ điện—sẽ đến sự chữa lành các bệnh trong máu, trong động mạch và tĩnh mạch, một số rối loạn thần kinh, sự thiếu sinh lực, sự suy tàn tuổi già, tuần hoàn kém và các bệnh tương tự. Điều này cũng sẽ dẫn đến sự [109] kéo dài đời sống. Các định luật của năng lượng điện cũng sẽ được hiểu rõ hơn trong mối liên hệ này.

3. By the understanding of right methods of assimilation and elimination will come the healing of diseases connected with the bodily tissues, the stomach and bowels and the male and female organs of generation. It will some day be understood that these latter are only another system of assimilation and elimination, centred this time in the feminine aspect or woman, for again remember that this is the second or love system. The order is thus:

3. Qua sự thấu hiểu các phương pháp đúng đắn của đồng hóa và bài tiết sẽ đến sự chữa lành các bệnh liên quan đến các mô cơ thể, dạ dày và ruột, cùng các cơ quan sinh sản nam và nữ. Một ngày nào đó người ta sẽ hiểu rằng các cơ quan sau này chỉ là một hệ thống khác của đồng hóa và bài tiết, lần này tập trung trong phương diện nữ tính hay người nữ, vì một lần nữa hãy nhớ rằng đây là hệ thống thứ hai hay hệ thống bác ái. Trật tự là như sau:

a. The first system was masculine.

a. Hệ thống thứ nhất là nam tính.

b. The present system, the second, is feminine.

b. Hệ thống hiện tại, thứ hai, là nữ tính.

c. The third system will be hermaphroditic.

c. Hệ thống thứ ba sẽ là lưỡng tính.

E’en though the evolving human Hierarchy is masculine or positive, yet that is no guarantee that all that is found in the present system is masculine too. The fact is that the negative faculty or the feminine aspect dominates, even though this may be unrecognised by you. Let me demonstrate and give some indication by figures of this hypothesis:

Dù Huyền Giai con người đang tiến hoá là nam tính hay dương tính, điều đó vẫn không bảo đảm rằng mọi điều được tìm thấy trong hệ thống hiện tại cũng đều là nam tính. Sự thật là năng lực âm hay phương diện nữ tính đang chi phối, dù điều này có thể không được các bạn nhận ra. Hãy để tôi chứng minh và đưa ra một vài chỉ dẫn bằng các con số cho giả thuyết này:

1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads.

1. Trong hệ mặt trời thứ nhất có một tiến hoá chi phối, và nó gồm một trăm ngàn triệu chân thần.

2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system. [110]

2. Trong hệ thống hiện tại, thứ hai, có hai tiến hoá chi phối, nhân loại và thiên thần; có—như đã nói trước đây—sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Cộng thêm vào đó tiến hoá nữ tính của thiên thần, gồm một trăm bốn mươi ngàn triệu, và các bạn có đủ hai trăm ngàn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của tôi về việc đây là một hệ thống nữ tính. [110]

3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos.

3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm ngàn triệu cần thiết mà sự toàn hảo đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân.

Our discussion has necessarily been sketchy for all that I am here attempting to do is to give indications as to the lines along which the new art of healing must eventually run, and to give certain hints which will point the way to the cause of the prevalent diseases, and so enable the wise to negate effects. This brevity and this system of imparting knowledge through the medium of hints is essentially occult, and will be the only mode of dealing with this relatively dangerous subject until such time as a sound medical, surgical and neurological training of a technical nature is combined with an equally sound psychological understanding, plus a measure of spiritual vision. The ideal physician and surgeon is the man who is also a metaphysician; to the lack of this combination much of the present difficulty and confusion can be ascribed. The metaphysical header today is so engrossed by that which is not the body that he is far less useful to the sick, diseased and damaged human being than is the practical physician. The average metaphysician, no matter by what label he calls himself, has a closed mind; he overemphasises the divine possibilities to the exclusion of the material or physical probabilities. Complete spiritual healing will be divinely possible ultimately; but this is not materially possible at certain given moments in time and space and with people at widely differing points on the ladder of evolution. Right timing and a sound knowledge of the working of the Law of Karma, plus a large measure of intuitive perception, are essential to the high art of spiritual healing. To this must be added the knowledge that the form nature and the physical [111] body are not essentially the major considerations or of the vast importance that some may think.

Cuộc bàn luận của chúng ta tất yếu chỉ có tính phác thảo, vì tất cả những gì tôi đang cố gắng làm ở đây là đưa ra những chỉ dẫn về các đường hướng mà nghệ thuật chữa bệnh mới rốt cuộc phải đi theo, và nêu ra một số gợi ý sẽ chỉ đường đến nguyên nhân của những bệnh tật phổ biến, nhờ đó giúp người minh triết vô hiệu hóa các hậu quả. Sự vắn tắt này và hệ thống truyền đạt tri thức qua phương tiện các gợi ý về bản chất là huyền bí học, và sẽ là phương thức duy nhất để đề cập đến chủ đề tương đối nguy hiểm này cho đến khi nào một sự đào luyện y khoa, giải phẫu và thần kinh học vững chắc về mặt kỹ thuật được kết hợp với một sự thấu hiểu tâm lý học cũng vững chắc không kém, cộng thêm một mức độ linh thị tinh thần. Vị thầy thuốc và nhà giải phẫu lý tưởng là người đồng thời cũng là một nhà siêu hình học; phần lớn khó khăn và hỗn loạn hiện nay có thể quy về sự thiếu vắng sự kết hợp này. Nhà chữa trị siêu hình ngày nay quá mải mê với điều không phải là thể xác đến nỗi y kém hữu ích cho con người đau yếu, bệnh hoạn và tổn thương hơn nhiều so với vị thầy thuốc thực tiễn. Nhà siêu hình học trung bình, bất kể y tự gọi mình bằng nhãn hiệu nào, đều có một trí tuệ khép kín; y nhấn mạnh quá mức các khả năng thiêng liêng đến mức loại trừ các xác suất vật chất hay hồng trần. Sự chữa lành tinh thần hoàn toàn rốt cuộc sẽ có thể thực hiện được một cách thiêng liêng; nhưng về mặt vật chất, điều đó không thể có ở những thời điểm nhất định trong thời gian và không gian, và với những người ở những điểm tiến hoá rất khác nhau trên chiếc thang tiến hoá. Đúng thời điểm và một tri thức vững chắc về sự vận hành của Định luật Karma, cộng với một mức độ lớn về linh thị trực giác, là điều thiết yếu đối với nghệ thuật cao cả của sự chữa lành tinh thần. Cần phải thêm vào đó tri thức rằng bản chất hình tướng và thể [111] xác hồng trần về căn bản không phải là những điều cân nhắc chủ yếu hay có tầm quan trọng to lớn như một số người có thể nghĩ.

Various cultists and healers usually take the position that it is of major importance that the physical vehicle be rendered free from disease and clutched away from the processes of death. It might, however, be desirable (and it often is) that the disease be permitted to do its work and death open the door to the escape of the soul from imprisonment. The time comes inevitably to all incarnated beings when the soul demands liberation from the body and from form life, and nature has her own wise ways of doing this. Disease and death must be recognised as liberating factors when they come as the result of right timing by the soul. It must be realised by students that the physical form is an aggregate of atoms, built into organisms and finally into a coherent body, and that this body is held together by the will of the soul. Withdraw that will onto its own plane or (as it is occultly expressed) “let the soul’s eye turn in another direction” and, in this present cycle, disease and death will inevitably supervene. This is not mental error, or failure to recognise divinity, or succumbing to evil. It is, in reality, the resolution of the form nature into its component parts and basic essence. Disease is essentially an aspect of death. It is the process by which the material nature and the substantial form prepares itself for separation from the soul.

Nhiều người theo giáo phái và các nhà chữa bệnh thường giữ lập trường rằng điều cực kỳ quan trọng là vận cụ hồng trần phải được làm cho thoát khỏi bệnh tật và được giật khỏi các tiến trình của cái chết. Tuy nhiên, có thể điều đáng mong muốn (và thường đúng là như vậy) là để cho bệnh tật được phép làm công việc của nó và để cái chết mở cánh cửa cho linh hồn thoát khỏi sự giam cầm. Thời điểm ấy tất yếu đến với mọi hữu thể đang lâm phàm khi linh hồn đòi được giải thoát khỏi thể xác và khỏi đời sống hình tướng, và bản chất có những cách thức minh triết riêng của nó để thực hiện điều này. Bệnh tật và cái chết phải được nhìn nhận như những yếu tố giải thoát khi chúng đến như kết quả của đúng thời điểm do linh hồn định ra. Các đạo sinh phải chứng ngộ rằng hình thể hồng trần là một tập hợp các nguyên tử, được xây dựng thành các cơ quan và cuối cùng thành một thể xác cố kết, và thể xác này được giữ lại với nhau bởi ý chí của linh hồn. Hãy rút ý chí đó về cõi riêng của nó hoặc (như được diễn tả một cách huyền bí) “hãy để mắt của linh hồn quay sang một hướng khác”, và trong chu kỳ hiện tại này, bệnh tật và cái chết tất yếu sẽ xảy đến. Đây không phải là sai lầm trí tuệ, hay không nhận ra thiên tính, hay khuất phục trước điều ác. Thực ra, đó là sự phân giải bản chất hình tướng thành các thành phần cấu tạo và tinh chất căn bản của nó. Bệnh tật về bản chất là một phương diện của cái chết. Đó là tiến trình mà qua đó bản chất vật chất và hình tướng chất liệu tự chuẩn bị cho sự tách rời khỏi linh hồn.

It must be borne in mind however that where there is illness or discomfort or disease which is not related to the final dissolution, the causes thereof are to be found in many factors; they can be found in the surroundings, for a number of diseases are environmental and epidemic; in the tuning in of the individual to streams of poison emanating from world hate, or from psychological complexes with some of which we have already dealt, and in the diseases [112] (if I might so call them) which are indigenous to the matter of which humanity has chosen to construct its physical vehicle, isolating it and separating it from the general substance of manifestation, and thus creating a type of matter which is consecrated to the task of forming the outer expression of the inward reality. This constitutes, therefore, a unique and peculiar aspect of the universal substance, perfected to a certain point in the last solar system and of a necessarily higher order than the substance which vibrates creatively to the call of the three subhuman kingdoms in nature.

Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng ở đâu có đau ốm hay khó chịu hay bệnh tật không liên hệ đến sự tan rã cuối cùng, thì nguyên nhân của chúng phải được tìm thấy trong nhiều yếu tố; chúng có thể được tìm thấy trong môi trường xung quanh, vì một số bệnh là do môi trường và có tính dịch tễ; trong sự chỉnh hợp của cá nhân với các luồng độc tố phát ra từ lòng thù hận của thế giới, hoặc từ các phức cảm tâm lý mà một số trong đó chúng ta đã bàn đến, và trong các bệnh [112] (nếu tôi có thể gọi như vậy) vốn là bản địa của chính vật chất mà nhân loại đã chọn để cấu tạo nên vận cụ hồng trần của mình, cô lập nó và tách nó ra khỏi chất liệu chung của biểu hiện, và như thế tạo ra một loại vật chất được thánh hiến cho nhiệm vụ hình thành biểu hiện bên ngoài của thực tại bên trong. Vì vậy, điều này cấu thành một phương diện độc nhất và đặc thù của chất liệu vũ trụ, đã được hoàn thiện đến một mức độ nào đó trong hệ mặt trời trước và tất yếu thuộc một trật tự cao hơn chất liệu rung động một cách sáng tạo trước tiếng gọi của ba giới dưới nhân loại trong bản chất.

The Causes of Disease Summarised

Các Nguyên Nhân của Bệnh Tật Tóm Lược

In every occult consideration of disease it must be accepted as a basic proposition that all disease is a result of the misuse of force in some earlier life or in this. This is fundamental. In connection with this I would remind you of some statements I have earlier made on this matter.

Trong mọi sự xem xét huyền bí học về bệnh tật, phải chấp nhận như một mệnh đề căn bản rằng mọi bệnh tật đều là kết quả của việc sử dụng sai mãnh lực trong một kiếp sống trước hay trong kiếp này. Đây là điều nền tảng. Liên quan đến điều này, tôi muốn nhắc bạn nhớ đến một số phát biểu mà trước đây tôi đã đưa ra về vấn đề này.

1. Ninety per cent of the causes of disease are to be found in the etheric and astral bodies. Wrong use of mental energy and misapplied desire are paramount factors, yet with the bulk of humanity still in the Atlantean stages of consciousness, only five per cent of the prevalent diseases are due to mental causes. The percentage varies with the development of the race and its evolution. Disease is therefore the working out into manifestation of undesirable, subjective conditions—vital, emotional and mental.

1. Chín mươi phần trăm nguyên nhân của bệnh tật được tìm thấy trong thể dĩ thái và thể cảm dục. Việc sử dụng sai năng lượng trí tuệ và dục vọng bị áp dụng sai là những yếu tố tối quan trọng, tuy nhiên với phần lớn nhân loại vẫn còn ở các giai đoạn tâm thức Atlantis, chỉ có năm phần trăm các bệnh phổ biến là do nguyên nhân trí tuệ. Tỷ lệ phần trăm thay đổi theo sự phát triển của nhân loại và sự tiến hoá của nó. Vì vậy, bệnh tật là sự biểu lộ ra ngoài của những trạng thái chủ quan không mong muốn—sinh lực, cảm xúc và trí tuệ.

2. Everything concerning the health of man can be approached from three angles:

2. Mọi điều liên quan đến sức khỏe của con người có thể được tiếp cận từ ba góc độ:

a. That of the personality life...of this we are learning much. [113]

a. Góc độ của đời sống phàm ngã...về điều này chúng ta đang học hỏi được nhiều. [113]

b. That of humanity as a whole..this is beginning to be appreciated.

b. Góc độ của toàn thể nhân loại...điều này đang bắt đầu được đánh giá.

c. That of the planetary life....of this we can know little.

c. Góc độ của sự sống hành tinh....về điều này chúng ta có thể biết rất ít.

3. All disease is caused by lack of harmony between form and life, between soul and personality; this lack of harmony runs through all the kingdoms in nature.

3. Mọi bệnh tật đều do sự thiếu hài hòa giữa hình tướng và sự sống, giữa linh hồn và phàm ngã; sự thiếu hài hòa này xuyên suốt mọi giới trong bản chất.

4. The bulk of diseases are of:

4. Phần lớn bệnh tật là:

a. Group origin.

a. Có nguồn gốc nhóm.

b. The result of infection.

b. Kết quả của sự lây nhiễm.

c. Malnutrition, physically, subjectively and occultly understood.

c. Suy dinh dưỡng, được hiểu theo nghĩa hồng trần, chủ quan và huyền bí học.

5. Diseases for the masses, for the average citizen, for the intelligentsia and for disciples differ widely and have differing fields of expression.

5. Bệnh tật của quần chúng, của công dân trung bình, của giới trí thức và của các đệ tử khác nhau rất xa và có những lĩnh vực biểu hiện khác nhau.

a. The three major groups of diseases for the first two classes are:

a. Ba nhóm bệnh chính đối với hai hạng đầu là:

Tuberculosis.

Bệnh lao.

The social diseases.

Các bệnh xã hội.

Cancer.

Ung thư.

b. The two major diseases for the intelligentsia and for disciples are:

b. Hai bệnh chính đối với giới trí thức và các đệ tử là:

Heart complaints.

Bệnh tim.

Nervous diseases.

Các bệnh thần kinh.

6. Disease is a fact in nature. When this is accepted, men will begin to work with the Law of Liberation, with right thought, leading to right attitudes and orientation, and with the principle of nonresistance. Of this nonresistance, the overpowering willingness to die which is so frequently a characteristic of the final stage immediately preceding death is the lowest manifestation. It is nonresistance which psychologically governs coma. [114]

6. Bệnh tật là một sự kiện trong bản chất. Khi điều này được chấp nhận, những người nam và nữ sẽ bắt đầu làm việc với Định luật Giải Thoát, với tư tưởng đúng đắn dẫn đến thái độ và định hướng đúng đắn, và với nguyên lý không kháng cự. Về sự không kháng cự này, sự sẵn lòng áp đảo muốn chết vốn thường là đặc điểm của giai đoạn cuối ngay trước cái chết là biểu hiện thấp nhất. Chính sự không kháng cự này chi phối trạng thái hôn mê về mặt tâm lý. [114]

7. The Law of Cause and Effect, or of Karma, governs all disease. This embraces individual, group, national and total human karma.

7. Định luật Nhân Quả, hay Karma, chi phối mọi bệnh tật. Điều này bao gồm karma cá nhân, nhóm, quốc gia và toàn thể nhân loại.

If you will pause at this point and review what I have re-stated, and if you will reread and reflect upon the four Laws and the four Rules you will possess the needed groundwork upon which to proceed with our future studies, beginning with the diseases incident to the life of discipleship. Some of this I have already dealt with in the second volume of A Treatise on the Seven Rays (pages 520-625). There the approach was largely from the angle of the mystic, whereas I am here going to touch upon the problems of the accepted disciple.

Nếu bạn dừng lại ở điểm này và ôn lại điều tôi đã tái khẳng định, và nếu bạn đọc lại và suy ngẫm về bốn Định luật và bốn quy luật, bạn sẽ có được nền tảng cần thiết để tiếp tục các nghiên cứu tương lai của chúng ta, bắt đầu với những bệnh tật gắn liền với đời sống địa vị đệ tử. Một phần điều này tôi đã bàn đến trong tập hai của Luận về Bảy Cung (trang 520-625). Ở đó cách tiếp cận phần lớn là từ góc độ của nhà thần bí, trong khi ở đây tôi sẽ đề cập đến các vấn đề của người đệ tử được chấp nhận.

4. DISEASES DUE TO THE LIFE OF DISCIPLESHIP — 4. NHỮNG BỆNH TẬT DO ĐỜI SỐNG ĐỊA VỊ ĐỆ TỬ

Earlier I told you that disease originated in the four following causes:

Trước đây tôi đã nói với bạn rằng bệnh tật phát sinh từ bốn nguyên nhân sau đây:

1. It is the result of blocking the free life of the soul.

1. Nó là kết quả của việc ngăn chặn sự sống tự do của linh hồn.

2. It is caused by three influences or sources of contamination:

2. Nó do ba ảnh hưởng hay nguồn ô nhiễm gây ra:

a. Ancient mistakes, so-called sins and errors of the individual concerned, committed in this life or another earlier incarnation.

a. Những sai lầm cổ xưa, những cái gọi là tội lỗi và lỗi lầm của cá nhân liên hệ, đã phạm trong kiếp này hay một lần nhập thể trước đó.

b. Human taints and predispositions, inherited in common with all the rest of humanity.

b. Những ô nhiễm và khuynh hướng di truyền của nhân loại, được thừa hưởng chung với toàn thể phần còn lại của nhân loại.

c. Planetary evil, incident to the point achieved by the planetary Logos and conditioned by planetary Karma.

c. Điều ác hành tinh, gắn liền với điểm đã đạt được bởi Hành Tinh Thượng đế và bị karma hành tinh tác động.

3. It is conditioned by the forces emanating from the plane upon which the man’s consciousness is primarily focussed. [115]

3. Nó bị tác động bởi các mãnh lực phát ra từ cõi mà trên đó tâm thức của con người chủ yếu được tập trung. [115]

4. The five major types of disease, with their allied and subsidiary effects, can and do produce results where the disciple is concerned; he is not immune until after the third initiation.

4. Năm loại bệnh chính, cùng với các hậu quả liên đới và phụ thuộc của chúng, có thể và thực sự tạo ra kết quả nơi người đệ tử; y không được miễn nhiễm cho đến sau lần điểm đạo thứ ba.

A. The Diseases of Mystics.

A. Những Bệnh Tật của Các Nhà Thần Bí.

However, the disciple is seldom tubercular (except when karmically conditioned), nor is he prone to succumb to the social diseases except as they may affect him physically through his sacrificial life of service. Contagion can affect him but not seriously so. Cancer may claim him as a victim, but he is more liable to succumb to heart complaints and to nervous trouble of some kind or another. The straight mystic succumbs more to purely psychological situations connected with the integrated personality, and therefore incident to his being focussed largely on the astral plane. The disciple is more prone to mental difficulties and to those complaints which are concerned with energy and are due to fusion—either completed or in process—of soul and personality.

Tuy nhiên, người đệ tử hiếm khi mắc bệnh lao (trừ khi bị karma tác động), và y cũng không dễ khuất phục trước các bệnh xã hội ngoại trừ khi chúng có thể ảnh hưởng đến y về mặt hồng trần qua đời sống phụng sự hi sinh của y. Sự lây nhiễm có thể ảnh hưởng đến y nhưng không nghiêm trọng lắm. Ung thư có thể biến y thành nạn nhân, nhưng y dễ khuất phục hơn trước các bệnh tim và một loại rối loạn thần kinh nào đó. Nhà thần bí thuần túy khuất phục nhiều hơn trước các tình huống hoàn toàn tâm lý liên hệ với phàm ngã tích hợp, và vì vậy gắn liền với việc y chủ yếu tập trung trên cõi cảm dục. Người đệ tử dễ mắc hơn các khó khăn trí tuệ và những bệnh liên quan đến năng lượng và do sự dung hợp—hoặc đã hoàn tất hoặc đang trong tiến trình—giữa linh hồn và phàm ngã.

The first cause which I listed earlier in this treatise was summed up in the statement that disease is the result of the blocking of the free life and the inpouring energy of the soul. This blockage is brought about by the mystic when he succumbs to his own thoughtforms, created constantly in response to his mounting aspiration. These become barriers between him and the free life of the soul and block his contact and the consequent resulting inflow of soul energy.

Nguyên nhân thứ nhất mà trước đây tôi đã liệt kê trong bộ luận này được tóm lại trong phát biểu rằng bệnh tật là kết quả của việc ngăn chặn sự sống tự do và năng lượng tuôn đổ vào của linh hồn. Sự ngăn chặn này do nhà thần bí tạo ra khi y khuất phục trước các hình tư tưởng của chính mình, được tạo ra liên tục để đáp ứng với khát vọng ngày càng tăng của y. Chúng trở thành những rào cản giữa y và sự sống tự do của linh hồn và ngăn chặn sự tiếp xúc của y cùng dòng năng lượng linh hồn tuôn vào do đó mà có.

The disciple reverses the entire situation and falls a victim (prior to the third initiation) to the terrific inflow of soul energy—the energy of the second aspect—coming to him from: [116]

Người đệ tử đảo ngược toàn bộ tình thế và trở thành nạn nhân (trước lần điểm đạo thứ ba) của dòng năng lượng linh hồn tuôn vào mãnh liệt—năng lượng của phương diện thứ hai—đến với y từ: [116]

a. His own soul, with which centre of energy fusion is rapidly taking place.

a. Chính linh hồn của y, trung tâm năng lượng mà với nó sự dung hợp đang diễn ra nhanh chóng.

b. His group or the Ashram with which he, as an accepted disciple, is affiliated.

b. Nhóm của y hay ashram mà với nó y, với tư cách một đệ tử được chấp nhận, có liên hệ.

c. His Master, with Whom he has spiritual relation and to Whose vibratory influence he is ever susceptible.

c. Chân sư của y, với Ngài y có liên hệ tinh thần và với ảnh hưởng rung động của Ngài y luôn luôn nhạy cảm.

d. The Hierarchy, the energy of which can reach him through the medium of all the three above factors.

d. Thánh Đoàn, năng lượng của Thánh Đoàn có thể đến với y qua trung gian của cả ba yếu tố trên.

All these streams of energy have a definite effect upon the centres of the disciple, according to his ray and his specific polarisation in this incarnation. As each centre is related to one or other of the glands, and these in their turn condition the blood stream, and also have a specific effect upon the organic structure within the range of their vibratory influence (i.e. the stomach, close to the solar plexus, and the heart, close to the heart centre, etc.), you will see how it is possible that the major diseases from which a disciple can suffer (which are unique and confined primarily to advanced humanity) will be the result of overstimulation or the inflow of energy to one particular centre, producing excessive and localised trouble.

Tất cả các dòng năng lượng này đều có một tác động xác định lên các trung tâm của người đệ tử, tùy theo cung của y và sự phân cực đặc thù của y trong lần nhập thể này. Vì mỗi trung tâm liên hệ với một tuyến nội tiết nào đó, và các tuyến này đến lượt chúng tác động lên dòng máu, đồng thời cũng có một ảnh hưởng đặc thù lên cấu trúc cơ quan trong phạm vi ảnh hưởng rung động của chúng (tức là dạ dày, gần tùng thái dương, và tim, gần trung tâm tim, v.v.), bạn sẽ thấy làm sao có thể xảy ra việc những bệnh chính mà một người đệ tử có thể mắc phải (vốn là đặc thù và chủ yếu giới hạn trong nhân loại tiến bộ) sẽ là kết quả của sự kích thích quá mức hoặc của dòng năng lượng tuôn vào một trung tâm đặc biệt nào đó, tạo ra rối loạn quá mức và cục bộ.

To these conditions the mystic is not so prone unless he is rapidly becoming the practical mystic or occultist. This is a definite transitional cycle between the mystical attitude and that more definite position which the occultist assumes. I shall not therefore deal with the diseases to which mystics fall heir, except that I would like to point out one interesting fact: The mystic is ever conscious of duality. He is the seeker in search of light, of the soul, of the beloved, of that higher something which he senses as existing and as that which can be found. He strives after recognition of and by the divine: he is the follower of the [117] vision, a disciple of the Christ, and this conditions his thinking and his aspiration. He is a devotee and one who loves the apparently unattainable—the Other than himself.

Nhà thần bí không dễ mắc những trạng thái này như vậy, trừ khi y đang nhanh chóng trở thành nhà thần bí thực tiễn hay nhà huyền bí học. Đây là một chu kỳ chuyển tiếp xác định giữa thái độ thần bí và lập trường xác định hơn mà nhà huyền bí học đảm nhận. Vì vậy, tôi sẽ không bàn đến những bệnh mà các nhà thần bí thừa hưởng, ngoại trừ việc tôi muốn chỉ ra một sự kiện thú vị: Nhà thần bí luôn luôn ý thức về nhị nguyên tính. Y là người tìm kiếm đang đi tìm ánh sáng, linh hồn, đấng yêu dấu, cái gì đó cao hơn mà y cảm nhận là hiện hữu và là điều có thể tìm thấy. Y phấn đấu để được nhận biết và được cái thiêng liêng nhận biết: y là người theo đuổi [117] linh ảnh, một đệ tử của Đức Christ, và điều này tác động lên tư tưởng và khát vọng của y. Y là một người sùng tín và là người yêu mến cái dường như không thể đạt tới—Cái Khác hơn chính y.

Only when he becomes the occultist does the mystic learn that all the time the magnet which attracted him, and the dualism which coloured his life and thoughts and which gave motive to all he sought to do, was his true self, that one Reality. He recognises then that assimilation into and identification with that one reality enables duality to be transmuted into unity and the sense of search to be transformed into the effort to become what he essentially is—a Son of God, one with all Sons of God. Having accomplished that, he finds himself one with the ONE in Whom we live and move and have our being.

Chỉ khi trở thành nhà huyền bí học, nhà thần bí mới học được rằng suốt mọi thời gian nam châm đã thu hút y, và tính nhị nguyên đã nhuốm màu đời sống và tư tưởng của y và đã tạo động cơ cho mọi điều y tìm cách làm, chính là chân ngã thật sự của y, thực tại duy nhất ấy. Khi đó y nhận ra rằng sự đồng hóa vào và sự đồng nhất với thực tại duy nhất ấy khiến nhị nguyên tính được chuyển hoá thành hợp nhất và cảm thức tìm kiếm được chuyển đổi thành nỗ lực trở thành điều mà về bản chất y vốn là—một Con của Thượng đế, một với tất cả các Con của Thượng đế. Khi đã hoàn thành điều đó, y thấy mình là một với Đấng Duy Nhất, trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.

Next, I would point out that the lowest expression of the mystical condition, and one with which we are becoming increasingly familiar, is that which is called a “split personality”; when this condition is present, the personal lower self expresses itself through a basic condition of duality and two persons express themselves, apparently, instead of the integrated personality-soul. This necessarily creates a dangerous psychological condition and one which warrants trained scientific handling. That is largely lacking at this time, as so few trained psychologists and psychiatrists recognise the fact of the soul. I mention this as it is of value today, and will be increasingly so in the later years when it will be necessary to trace and comprehend the analogies existing in the human consciousness to great unexplored areas of awareness. The split personality and the mystic are two aspects of one whole—the aspect which is right, and along the line of high spiritual unfoldment, and the aspect which is a reflection and a distortion of that grade of development which precedes that of trained occultist. There are many conditions prevalent in humanity [118] at this time which can be subjected to the same reasoning, and one of the modes of healing which will be worked out later is the discovery of the higher correspondences to the lower difficulties and diseases, and the recognition that they are but distortions of a great reality. This leads to the transference of the attention of the one under the care of the healer to that recognised higher aspect.

Tiếp theo, tôi muốn chỉ ra rằng biểu hiện thấp nhất của trạng thái thần bí, và là điều mà chúng ta đang ngày càng quen thuộc hơn, là cái được gọi là “nhân cách phân liệt”; khi trạng thái này hiện diện, phàm ngã thấp cá nhân tự biểu lộ qua một trạng thái căn bản của nhị nguyên tính và hai con người biểu lộ ra, dường như vậy, thay vì phàm ngã-linh hồn tích hợp. Điều này tất yếu tạo ra một trạng thái tâm lý nguy hiểm và là điều cần được xử lý bằng khoa học được đào luyện. Điều đó phần lớn đang thiếu vào lúc này, vì quá ít nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần được đào luyện thừa nhận sự kiện về linh hồn. Tôi nêu điều này vì nó có giá trị ngày nay, và sẽ ngày càng có giá trị hơn trong những năm sau khi cần phải truy tìm và thấu hiểu các tương đồng hiện hữu trong tâm thức con người với những lĩnh vực nhận biết rộng lớn chưa được khám phá. Nhân cách phân liệt và nhà thần bí là hai phương diện của một toàn thể—phương diện đúng đắn, và theo đường hướng của sự khai mở tinh thần cao, và phương diện là sự phản chiếu và bóp méo của cấp độ phát triển đi trước cấp độ của nhà huyền bí học được đào luyện. Có nhiều trạng thái phổ biến trong nhân loại [118] vào lúc này có thể được đặt dưới cùng một lối lý luận, và một trong những phương thức chữa lành sẽ được triển khai về sau là khám phá ra các tương ứng cao hơn đối với những khó khăn và bệnh tật thấp hơn, và nhận ra rằng chúng chỉ là những sự bóp méo của một thực tại vĩ đại. Điều này dẫn đến việc chuyển sự chú ý của người đang được nhà chữa bệnh chăm sóc sang phương diện cao hơn đã được nhận biết ấy.

The whole Science of Integration is involved in this matter. This science, if properly understood, will open up an entirely new field of psychological approach to disease, whether physiological or nervous. A small beginning has already been made along this line by spiritually minded psychologists and educators. The system of helping people psychologically is definitely along these new lines, and might be expressed as follows: the average psychologist employs the method (when dealing with nervous cases, with those on the borderland, and with neurotically inclined people) of discovering the deep-seated complexes, the scars, the ancient shocks or the fears which lie behind the experience of the present and which have made the man what he is today. These conditioning factors can usually be traced back to the subconscious by the process of unearthing the past, of taking into consideration the present environment, of reckoning with heredity, and of studying the effects of education—either academic or based upon life itself. Then the factor which has been a major handicap, and which has turned the man into a psychological problem, is brought (with his assistance, if possible) to the surface of his consciousness, is then intelligently explained and related to the existing condition, and the man is consequently brought to an understanding of his personality, its problems and its impending opportunity.

Toàn bộ Khoa Học Tích Hợp đều liên quan đến vấn đề này. Khoa học này, nếu được thấu hiểu đúng đắn, sẽ mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới của cách tiếp cận tâm lý học đối với bệnh tật, dù là sinh lý hay thần kinh. Một khởi đầu nhỏ đã được thực hiện theo đường hướng này bởi các nhà tâm lý học và các nhà giáo dục có tinh thần. Hệ thống giúp đỡ con người về mặt tâm lý rõ ràng đang đi theo những đường hướng mới này, và có thể được diễn tả như sau: nhà tâm lý học trung bình sử dụng phương pháp (khi xử lý các trường hợp thần kinh, những người ở ranh giới, và những người có khuynh hướng loạn thần kinh) là khám phá các phức cảm ăn sâu, các vết sẹo, các cú sốc xưa cũ hay các nỗi sợ nằm phía sau kinh nghiệm hiện tại và đã làm cho con người trở thành như ngày nay. Những yếu tố tác động này thường có thể được truy ngược về tiềm thức bằng tiến trình khai quật quá khứ, xét đến môi trường hiện tại, tính đến di truyền, và nghiên cứu các ảnh hưởng của giáo dục—dù là học thuật hay dựa trên chính đời sống. Sau đó yếu tố từng là một trở ngại chính, và đã biến con người thành một vấn đề tâm lý, được đưa lên bề mặt tâm thức của y (với sự trợ giúp của chính y, nếu có thể), rồi được giải thích một cách thông minh và liên hệ với tình trạng hiện hữu, và do đó con người được dẫn đến sự thấu hiểu phàm ngã của mình, các vấn đề của nó và cơ hội sắp đến của nó.

The spiritual technique, however, is entirely different. The personality problem and the process of delving into [119] the subconscious are ignored, because the conditions which are undesirable are regarded as the result of lack of soul contact and of soul control. The patient (if I might so call him) is taught to take his eyes, and consequently his attention, away from himself, his feelings, his complexes and his fixed ideas and undesirable thoughts, and to focus them upon the soul, the divine Reality within the form, and the Christ consciousness. This could well be called the process of scientific substitution of a fresh dynamic interest for that which has hitherto held the stage; it brings into functioning activity a cooperative factor whose energy sweeps through the lower life of the personality and carries away wrong psychological tendencies, undesirable complexes, leading to erroneous approaches to life. This eventually regenerates the mental or thought life, so that the man is conditioned by right thinking under the impulse or the illumination of the soul. This produces the “dynamic expulsive power of a new affection”; the old idées fixes, the old depressions and miseries, the hindering and handicapping ancient desires—these all disappear, and the man stands free as a soul and master of his life processes.

Tuy nhiên, kỹ thuật tinh thần thì hoàn toàn khác. Vấn đề phàm ngã và tiến trình đào sâu vào [119] tiềm thức bị bỏ qua, vì các trạng thái không mong muốn được xem là kết quả của sự thiếu tiếp xúc với linh hồn và thiếu sự kiểm soát của linh hồn. Bệnh nhân (nếu tôi có thể gọi y như vậy) được dạy phải rời mắt mình, và do đó rời sự chú ý của mình, khỏi chính mình, khỏi các cảm xúc, các phức cảm và các ý tưởng cố chấp cùng những tư tưởng không mong muốn của mình, và tập trung chúng vào linh hồn, thực tại thiêng liêng bên trong hình tướng, và tâm thức Christ. Điều này hoàn toàn có thể được gọi là tiến trình thay thế một cách khoa học một mối quan tâm năng động mới cho điều từ trước đến nay đã chiếm sân khấu; nó đưa vào hoạt động chức năng một yếu tố hợp tác mà năng lượng của nó quét qua đời sống thấp của phàm ngã và cuốn đi những khuynh hướng tâm lý sai lầm, những phức cảm không mong muốn, dẫn đến những cách tiếp cận sai lầm đối với đời sống. Điều này cuối cùng tái sinh đời sống trí tuệ hay đời sống tư tưởng, để con người được tác động bởi tư tưởng đúng đắn dưới xung lực hay sự soi sáng của linh hồn. Điều này tạo ra “quyền năng xua đuổi năng động của một tình cảm mới”; những ý niệm cố chấp cũ, những nỗi u uất và khổ sở cũ, những dục vọng xưa cũ cản trở và làm tê liệt—tất cả những điều này đều biến mất, và con người đứng tự do như một linh hồn và là chủ nhân của các tiến trình đời sống của mình.

I have discussed these two conditions at length because it is essential that another law anent healing be understood before we proceed any further. The discussion about the split personality, the problems of the mystic and the new mode of approach to disease (from the soul angle and the realm of causes, instead of from the personality angle and the realm of effects) can clarify this law in your minds and indicate at least its reasonableness and its valuable application to human need.

Tôi đã bàn dài về hai trạng thái này vì điều thiết yếu là phải hiểu thêm một định luật liên quan đến chữa lành trước khi chúng ta đi xa hơn nữa. Cuộc thảo luận về nhân cách phân liệt, các vấn đề của nhà thần bí và phương thức mới để tiếp cận bệnh tật (từ góc độ linh hồn và lĩnh vực nguyên nhân, thay vì từ góc độ phàm ngã và lĩnh vực hậu quả) có thể làm sáng tỏ định luật này trong trí bạn và ít nhất chỉ ra tính hợp lý của nó cùng sự áp dụng có giá trị của nó đối với nhu cầu của con người.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. It is but a distorted [120] refection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, đều có gốc rễ trong điều thiện, điều mỹ và điều chân. Nó chỉ là một sự phản [120] chiếu méo mó của các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể bọc của nó một điểm ma sát. Trên điểm này mắt của phàm ngã tập trung vào, và điều này dẫn đến bệnh tật.

The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.

Nghệ thuật của nhà chữa bệnh liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành bên trong hình tướng. Khi đó con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba sẽ hướng dẫn mãnh lực chữa lành, và mọi sự đều tốt đẹp.

B. Diseases of Disciples.

B. Những Bệnh Tật của Các Đệ Tử.

We will divide what we have to say anent the diseases of disciples into two parts: the specific problems of all disciples, and the difficulties incident to soul contact.

Chúng ta sẽ chia điều phải nói liên quan đến những bệnh tật của các đệ tử thành hai phần: những vấn đề đặc thù của mọi đệ tử, và những khó khăn gắn liền với sự tiếp xúc linh hồn.

We need here to remember that all disciples are susceptible to the major categories of disease. They are attempting to be one with all humanity, and this includes, therefore, all the ills to which flesh is heir. They may not, however, succumb to the frailties of the ordinary man, and should remember that diseases of the heart and of the nerves constitute their major problem. In this connection it might be pointed out that the disciples are found in two major groups: Those who live above the diaphragm and who are, therefore, prone to heart diseases, to thyroid and throat troubles, and those who are in process of transferring the energies of the centres below the diaphragm into the centres above the diaphragm. Most of these at this time are transferring solar plexus energies into the heart, and the world agony is profoundly hastening the process. Stomachic, liver and respiratory troubles accompany this transference.

Ở đây chúng ta cần nhớ rằng mọi đệ tử đều dễ bị các loại bệnh chính tác động. Họ đang cố gắng trở thành một với toàn thể nhân loại, và vì vậy điều này bao gồm mọi bệnh tật mà xác thịt phải thừa hưởng. Tuy nhiên, họ có thể không khuất phục trước những yếu đuối của con người bình thường, và nên nhớ rằng các bệnh về tim và thần kinh cấu thành vấn đề chính của họ. Liên quan đến điều này, có thể chỉ ra rằng các đệ tử được tìm thấy trong hai nhóm chính: những người sống phía trên cơ hoành và vì vậy dễ mắc bệnh tim, các rối loạn tuyến giáp và cổ họng, và những người đang trong tiến trình chuyển các năng lượng của các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm trên cơ hoành. Phần lớn những người này hiện nay đang chuyển các năng lượng của tùng thái dương vào tim, và nỗi thống khổ của thế giới đang thúc đẩy tiến trình ấy một cách sâu sắc. Các rối loạn dạ dày, gan và hô hấp đi kèm với sự chuyển dịch này.

1. The Specific Problems of Disciples.

1. Những Vấn Đề Đặc Thù của Các Đệ Tử.

These special problems are, as you know, peculiar to those who have lifted themselves in consciousness out of the life of the personality into that of the soul. They [121] are primarily related to energy, its inflow, its assimilation or non-assimilation, and its rightly directed use. The other ills to which all flesh is heir at this time in human evolution (for it must be remembered that diseases vary according to the point in evolution and are also cyclic in their appearance), and to which disciples can and do succumb, are not dealt with here; suffice it to say that the three major diseases of humanity to which reference has been made take their toll of disciples, particularly in bringing about the liberation of the soul from its vehicle. They are, however—little as it may appear—controlled in these cases from soul levels, and the departure is planned to take place as a result of soul decision, and not as a result of the efficiency of the disease. The reason that these three major diseases, indigenous to the planetary life in which we live and move and have our being, have this power over disciples is that disciples are themselves an integral part of the planetary life, and in the earlier stages of their recognition of this unity they are prone to fall a ready prey to the disease. This is a fact little known or realised, but explains why disciples and advanced people are susceptible to these diseases.

Những vấn đề đặc biệt này, như bạn biết, là đặc thù đối với những người đã nâng mình trong tâm thức ra khỏi đời sống của phàm ngã để đi vào đời sống của linh hồn. Chúng [121] chủ yếu liên hệ đến năng lượng, sự tuôn vào của nó, sự đồng hóa hay không đồng hóa nó, và việc sử dụng nó được hướng dẫn đúng đắn. Những bệnh khác mà mọi xác thịt hiện nay trong tiến trình tiến hoá của con người đều phải thừa hưởng (vì cần nhớ rằng bệnh tật thay đổi tùy theo điểm tiến hoá và cũng có tính chu kỳ trong sự xuất hiện của chúng), và những bệnh mà các đệ tử có thể và thực sự khuất phục, không được bàn đến ở đây; chỉ cần nói rằng ba bệnh chính của nhân loại đã được nhắc đến cũng lấy đi phần cống nạp của các đệ tử, đặc biệt trong việc đem lại sự giải thoát của linh hồn khỏi vận cụ của nó. Tuy nhiên—dù có vẻ ít như thế nào đi nữa—trong những trường hợp này chúng được kiểm soát từ các cấp độ linh hồn, và sự ra đi được hoạch định diễn ra như kết quả của quyết định của linh hồn, chứ không phải như kết quả của hiệu lực của bệnh tật. Lý do khiến ba bệnh chính này, vốn bản địa của đời sống hành tinh trong đó chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu, có quyền lực này đối với các đệ tử là vì chính các đệ tử là một phần không thể tách rời của đời sống hành tinh, và trong các giai đoạn đầu của sự nhận biết của họ về tính hợp nhất này, họ dễ trở thành con mồi sẵn có của bệnh tật. Đây là một sự kiện ít được biết đến hay chứng nghiệm, nhưng nó giải thích vì sao các đệ tử và những người tiến bộ lại dễ mắc các bệnh này.

We could divide these problems into four categories:

Chúng ta có thể chia những vấn đề này thành bốn loại:

1. Those which are connected with the blood or with the life aspect, for “the blood is the life.” These have specific effect upon the heart, but usually of a functional nature only. Organic disease of the heart arises in more deeply seated causes.

1. Những vấn đề liên hệ với máu hay với phương diện sự sống, vì “máu là sự sống.” Chúng có ảnh hưởng đặc thù lên tim, nhưng thường chỉ có tính chức năng. Bệnh tim thực thể phát sinh từ những nguyên nhân ăn sâu hơn.

2. Those which are a direct effect of energy, playing upon and through the nervous system, via the directing brain.

2. Những vấn đề là hậu quả trực tiếp của năng lượng, tác động lên và xuyên qua hệ thần kinh, qua trung gian của bộ não chỉ đạo.

3. Those which are related to the respiratory system and have an occult source.

3. Những vấn đề liên hệ với hệ hô hấp và có một nguồn gốc huyền bí học.

4. Those which are specifically due to the receptivity or the non-receptivity, to the functioning or the non-functioning, [122] and to the influence of the centre. Necessarily, these fall into seven groups, affecting seven major areas of the body. For the average disciple, before there is complete soul control and monadic direction, the major directing agent, via the brain, is the vagus nerve, along which the energies (entering via the head centre) are distributed to the rest of the body. A definite science of the centres and their relation to kundalini has been built up by a certain powerful esoteric school in the orient. It has in it much truth, but also much error.

4. Những vấn đề đặc biệt do tính tiếp nhận hay không tiếp nhận, do sự hoạt động hay không hoạt động, [122] và do ảnh hưởng của trung tâm. Tất yếu, chúng rơi vào bảy nhóm, ảnh hưởng đến bảy khu vực chính của thể. Đối với người đệ tử trung bình, trước khi có sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn và sự chỉ đạo của chân thần, tác nhân chỉ đạo chính, qua trung gian bộ não, là dây thần kinh phế vị, dọc theo đó các năng lượng (đi vào qua trung tâm đầu) được phân phối đến phần còn lại của thể. Một khoa học xác định về các trung tâm và mối liên hệ của chúng với kundalini đã được xây dựng bởi một trường phái huyền bí học quyền lực nào đó ở phương Đông. Trong đó có nhiều chân lý, nhưng cũng có nhiều sai lầm.

I have differentiated between problems and physical reactions and disease because the inflow, distribution and direction of energy do not necessarily produce disease. Always, however, during the novitiate which precedes all the initiations, they do produce difficulties and problems of some kind or another, either within the consciousness of the disciple or in his relation to those around him. Hence his environment is affected, and consequently his own reciprocal action.

Tôi đã phân biệt giữa các vấn đề và các phản ứng hồng trần cùng bệnh tật vì sự tuôn vào, phân phối và định hướng năng lượng không nhất thiết tạo ra bệnh tật. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tập sự đi trước mọi lần điểm đạo, chúng luôn luôn tạo ra những khó khăn và vấn đề thuộc loại này hay loại khác, hoặc trong tâm thức của người đệ tử hoặc trong mối liên hệ của y với những người xung quanh. Vì thế môi trường của y bị ảnh hưởng, và do đó chính phản ứng tương hỗ của y cũng vậy.

It should be remembered in this connection that all disciples are energy centres in the body of humanity and are in process of becoming points of focussed, directed energy. Their function and activity always and inevitably produce effects, results, awakenings, disruptions and reorientations in the lives of those around them. In the early stages, they produce this unconsciously, and hence frequently the results on those they contact is not desirable, nor is the energy wisely directed, deflected or retained. Intelligent intent must lie behind all wise direction of energy. Later, when they are learning consciously to be and are becoming radiatory centres of healing force, consciously directed, this informing and then transmitted energy is more constructively employed along both psychological and physical lines. Nevertheless, in any case, the disciple becomes [123] an effective influence and can never be what is esoterically called “unnoticed in his place and minus impact on other souls.” His influence, emanation and forceful energy inevitably produce problems and difficulties for him; these are based on the human relations which he has karmically established and the reactions of those he contacts, either for good or for ill.

Cần nhớ trong mối liên hệ này rằng mọi đệ tử đều là những trung tâm năng lượng trong thể của nhân loại và đang trong tiến trình trở thành những điểm năng lượng tập trung, được định hướng. Chức năng và hoạt động của họ luôn luôn và tất yếu tạo ra các hiệu quả, kết quả, sự thức tỉnh, sự phá vỡ và sự tái định hướng trong đời sống của những người xung quanh họ. Trong các giai đoạn đầu, họ tạo ra điều này một cách vô thức, và vì vậy thường các kết quả nơi những người họ tiếp xúc không đáng mong muốn, và năng lượng cũng không được định hướng, chuyển hướng hay giữ lại một cách minh triết. Ý định thông minh phải nằm phía sau mọi sự định hướng năng lượng minh triết. Về sau, khi họ đang học một cách hữu thức để hiện hữu và đang trở thành những trung tâm bức xạ của mãnh lực chữa lành, được định hướng một cách hữu thức, thì năng lượng thấm nhuần rồi được truyền đi này được sử dụng một cách xây dựng hơn theo cả đường hướng tâm lý lẫn hồng trần. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, người đệ tử trở thành [123] một ảnh hưởng hữu hiệu và không bao giờ có thể là điều được gọi một cách huyền bí là “không bị nhận thấy ở vị trí của mình và không gây tác động lên các linh hồn khác.” Ảnh hưởng, phát xạ và năng lượng mãnh liệt của y tất yếu tạo ra các vấn đề và khó khăn cho y; những điều này dựa trên các quan hệ con người mà y đã thiết lập theo karma và các phản ứng của những người y tiếp xúc, hoặc tốt hoặc xấu.

Essentially the influence of a disciple of the Great White Lodge is fundamentally good and spiritually conditioning; superficially and in its outer effects—particularly where the disciple is concerned—difficult situations, apparent cleavages and the emergence of faults as well as virtues upon the part of those affected make their appearance, and often persist for many lives, until the person thus influenced becomes what is called “occultly reconciled to the emanating energy.” Ponder on this. The adjustment has to come from the side of those influenced, and not from the disciple.

Về bản chất, ảnh hưởng của một đệ tử của Thánh đoàn về căn bản là tốt lành và tác động theo hướng tinh thần; trên bề mặt và trong các hiệu quả bên ngoài—đặc biệt nơi người đệ tử—những tình huống khó khăn, những chia rẽ bề ngoài và sự xuất hiện của các lỗi lầm cũng như các đức tính nơi những người bị ảnh hưởng sẽ lộ ra, và thường kéo dài qua nhiều kiếp sống, cho đến khi người bị ảnh hưởng như vậy trở thành điều được gọi là “được hòa giải một cách huyền bí với năng lượng phát xạ.” Hãy suy ngẫm về điều này. Sự điều chỉnh phải đến từ phía những người bị ảnh hưởng, chứ không phải từ phía người đệ tử.

Let us now consider the four problems from the psychological angle, not the physical:

Bây giờ chúng ta hãy xem xét bốn vấn đề này từ góc độ tâm lý, chứ không phải hồng trần:

a. The problems arising from the awakened heart centre of the disciple are perhaps the commonest and frequently some of the most difficult to handle. These problems are based on living relationships and the interplay of the energy of love with the forces of desire. In the early stages, this inflowing love-force establishes personality contacts which veer between the stages of wild devotion and utmost hate on the part of the person affected by the disciple’s energy. This produces constant turmoil in the disciple’s life, until he has become adjusted to the effects of his energy distribution, and also frequent disruption of relationships and frequent reconciliations. When the disciple is of sufficient importance to become the organising centre of a group, or is in a position to begin to form, esoterically, his own ashram (prior to taking some of the major initiations), [124] then the difficulty can be very real and most disturbing. There is, however, little that can be done by the disciple, except to attempt to regulate the outgoing energy of love. The problem remains fundamentally that of the one affected; the adjustments, as I have remarked above, have to be made from the other side, with the disciple standing ready to cooperate at the first indication of a willingness to recognise relationship and intention to cooperate in group service. This is a point which both parties—the disciple and the person reacting to his influence—need to consider. The disciple stands ready; the responsive party usually withdraws or approaches according to the urge of his soul or of his personality—probably the latter in the early stages. Eventually, however, he stands with the disciple in full cooperative understanding, and the trying time of difficulty is ended.

a. Những vấn đề phát sinh từ trung tâm tim đã thức tỉnh của người đệ tử có lẽ là phổ biến nhất và thường là một số vấn đề khó xử lý nhất. Những vấn đề này dựa trên các mối liên hệ sống động và sự tương tác của năng lượng bác ái với các mãnh lực của dục vọng. Trong các giai đoạn đầu, mãnh lực bác ái tuôn vào này thiết lập những tiếp xúc phàm ngã dao động giữa các giai đoạn sùng tín cuồng nhiệt và thù ghét tột độ nơi người bị ảnh hưởng bởi năng lượng của người đệ tử. Điều này tạo ra sự xáo trộn liên tục trong đời sống của người đệ tử, cho đến khi y đã chỉnh hợp với các hiệu quả của sự phân phối năng lượng của mình, và cũng tạo ra sự đổ vỡ thường xuyên của các mối liên hệ cùng những sự hòa giải thường xuyên. Khi người đệ tử đủ quan trọng để trở thành trung tâm tổ chức của một nhóm, hoặc ở vào vị trí bắt đầu hình thành, một cách huyền bí, ashram riêng của mình (trước khi nhận một số lần điểm đạo lớn), [124] thì khó khăn có thể rất thực và cực kỳ xáo trộn. Tuy nhiên, người đệ tử có thể làm được rất ít, ngoại trừ cố gắng điều hòa năng lượng bác ái phát ra. Vấn đề về căn bản vẫn là của người bị ảnh hưởng; như tôi đã nhận xét ở trên, các sự điều chỉnh phải được thực hiện từ phía bên kia, với người đệ tử đứng sẵn sàng hợp tác ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của thiện chí thừa nhận mối liên hệ và ý định hợp tác trong phụng sự nhóm. Đây là một điểm mà cả hai bên—người đệ tử và người phản ứng với ảnh hưởng của y—đều cần xem xét. Người đệ tử đứng sẵn sàng; phía đáp ứng thường rút lui hoặc tiến đến tùy theo thúc đẩy của linh hồn hay của phàm ngã của mình—có lẽ là cái sau trong các giai đoạn đầu. Tuy nhiên, cuối cùng y đứng cùng người đệ tử trong sự thấu hiểu hợp tác trọn vẹn, và thời kỳ thử thách khó khăn chấm dứt.

It is not possible for me to enter into explicit detail in considering these problems connected with the heart and the life energy of the disciple. They are conditioned by his ray, the initiation for which he is being prepared, and the quality, evolutionary status and the ray of those affected.

Tôi không thể đi vào chi tiết minh bạch khi xem xét những vấn đề này liên hệ với tim và năng lượng sự sống của người đệ tử. Chúng bị tác động bởi cung của y, lần điểm đạo mà y đang được chuẩn bị, và phẩm tính, tình trạng tiến hoá cùng cung của những người bị ảnh hưởng.

There are also difficulties and problems of a more subtle nature arising from the same cause, but not localised in certain definite human relationships. A disciple serves; he writes and speaks; his words and influence permeate into the masses of men, arousing them to activity of some kind—often good and spiritual, sometimes evil, antagonistic and dangerous. He has therefore to deal not only with his own reactions to the work he is doing, but also, in a general and specific sense, to deal with the masses whom he is beginning to affect. This is not an easy thing to do, particularly for an inexperienced worker with the Plan. He fluctuates between the mental plane, where he normally [125] attempts to function, and the astral plane, where the masses of men are focussed, and this brings him into the realm of glamour and consequent danger. He goes out in consciousness towards those he seeks to help, but it is sometimes as a soul (and then he frequently overstimulates his hearers), and sometimes as a personality (and then he feeds and enhances their personality reactions).

Cũng có những khó khăn và vấn đề thuộc bản chất tinh tế hơn phát sinh từ cùng nguyên nhân, nhưng không khu trú trong những mối liên hệ con người xác định nào. Một người đệ tử phụng sự; y viết và nói; lời nói và ảnh hưởng của y thấm vào quần chúng, khơi dậy nơi họ một loại hoạt động nào đó—thường là tốt và tinh thần, đôi khi là xấu, đối kháng và nguy hiểm. Vì vậy y không chỉ phải xử lý các phản ứng của chính mình đối với công việc mình đang làm, mà còn, theo nghĩa chung và riêng, phải xử lý quần chúng mà y đang bắt đầu ảnh hưởng. Đây không phải là điều dễ làm, đặc biệt đối với một người hoạt động thiếu kinh nghiệm với Thiên Cơ. Y dao động giữa cõi trí, nơi y bình thường [125] cố gắng hoạt động, và cõi cảm dục, nơi quần chúng tập trung, và điều này đưa y vào lĩnh vực của ảo cảm và do đó là nguy hiểm. Y vươn ra trong tâm thức đến những người y tìm cách giúp đỡ, nhưng đôi khi là như một linh hồn (và khi đó y thường kích thích quá mức những người nghe mình), và đôi khi là như một phàm ngã (và khi đó y nuôi dưỡng và làm tăng cường các phản ứng phàm ngã của họ).

As time goes on he learns—through the difficulties brought about by the necessary heart approach—to stand firm at the centre, sending forth the note, giving his message, distributing directed love energy, and influencing those around him, but he remains impersonal, a directing agency only and an understanding soul. This impersonality (which can be defined as a withdrawing of personality energy) produces its own problems, as all disciples well know; there is nothing, however, that they can do about it but wait for time to lead the other person forward into clear understanding of the significance and esoteric meaning of right human relations. The problem of workers with individuals and with groups is basically connected with the energy of the heart and with the vivifying force of its embodied life. In connection with this problem and its reactions upon the disciple, certain definite physical difficulties are apt to occur, and with these I will shortly deal.

Theo thời gian y học được—qua những khó khăn do cách tiếp cận bằng tim tất yếu gây ra—cách đứng vững ở trung tâm, phát ra chủ âm, trao thông điệp của mình, phân phối năng lượng bác ái được định hướng, và ảnh hưởng đến những người xung quanh, nhưng y vẫn vô ngã, chỉ là một tác nhân định hướng và một linh hồn thấu hiểu. Tính vô ngã này (có thể được định nghĩa là sự rút năng lượng phàm ngã lại) tạo ra những vấn đề riêng của nó, như mọi đệ tử đều biết rõ; tuy nhiên, họ không thể làm gì về điều đó ngoài việc chờ thời gian dẫn người kia tiến tới sự thấu hiểu rõ ràng về thâm nghĩa và ý nghĩa huyền bí của các quan hệ con người đúng đắn. Vấn đề của những người hoạt động với cá nhân và với nhóm về căn bản liên hệ với năng lượng của tim và với mãnh lực tiếp sinh lực của sự sống được thể hiện của nó. Liên quan đến vấn đề này và các phản ứng của nó lên người đệ tử, một số khó khăn hồng trần xác định dễ xảy ra, và tôi sẽ sớm bàn đến chúng.

It should also be pointed out that difficulties of rhythm are apt to occur, and problems connected with the cyclic life of the disciple. The heart and the blood are esoterically related, and symbolically define the pulsating life of the soul which demonstrates upon the physical plane in the outgoing and the withdrawing dual life of discipleship, each phase of which presents its own problems. Once a disciple has mastered the rhythm of his outer and inner life, and has organised his reactions so that he extracts the utmost meaning from them but is not conditioned by them, he then [126] enters upon the relatively simple life of the initiate. Does that phrase astonish you? You need to remember that the initiate has freed himself, after the second initiation, from the complexities of emotional and astral control. Glamour can no longer overpower him. He can stand with steadfastness in spite of all that he may do and feel. He realises that the cyclic condition is related to the pairs of opposites and is part of the life manifestation of existence itself. In the process of learning this, he passes through great difficulties. He, as a soul, subjects himself to a life of outgoing, of magnetic influence and of extroversion. He may follow this immediately with a life of withdrawal, of apparent lack of interest in his relationships and environment, and with an intense introspective, introverted expression. Between these two extremes he may flounder distressingly—sometimes for many lives—until he learns to fuse and blend the two expressions. Then the dual life of the accepted disciple, in its various grades and stages, becomes clear to him; he knows what he is doing. Constantly and systematically, both outgoing and withdrawing, serving in the world and living the life of reflection, play their useful part.

Cũng cần chỉ ra rằng những khó khăn về nhịp điệu dễ xảy ra, và những vấn đề liên hệ với đời sống chu kỳ của người đệ tử. Tim và máu liên hệ với nhau một cách huyền bí, và tượng trưng xác định cho sự sống rung động của linh hồn, vốn biểu lộ trên cõi hồng trần trong đời sống nhị nguyên của địa vị đệ tử gồm sự hướng ngoại và sự rút lui, mỗi giai đoạn đều trình bày những vấn đề riêng của nó. Một khi người đệ tử đã làm chủ được nhịp điệu của đời sống bên ngoài và bên trong của mình, và đã tổ chức các phản ứng của mình sao cho y rút ra được ý nghĩa tối đa từ chúng nhưng không bị chúng tác động, thì khi đó y [126] bước vào đời sống tương đối đơn giản của điểm đạo đồ. Cụm từ đó có làm bạn ngạc nhiên không? Bạn cần nhớ rằng điểm đạo đồ, sau lần điểm đạo thứ hai, đã giải thoát mình khỏi những phức tạp của sự kiểm soát cảm xúc và cảm dục. Ảo cảm không còn có thể áp đảo y nữa. Y có thể đứng vững vàng bất chấp mọi điều y có thể làm và cảm thấy. Y nhận ra rằng trạng thái chu kỳ liên hệ với các cặp đối đãi và là một phần của chính biểu hiện sự sống của hiện hữu. Trong tiến trình học điều này, y trải qua những khó khăn lớn. Y, với tư cách một linh hồn, tự đặt mình vào một đời sống hướng ngoại, ảnh hưởng từ tính và biểu lộ hướng ngoại. Ngay sau đó y có thể theo bằng một đời sống rút lui, dường như thiếu quan tâm đến các mối liên hệ và môi trường của mình, và với một biểu hiện nội quan, hướng nội mãnh liệt. Giữa hai cực đoan này y có thể chao đảo một cách đau đớn—đôi khi trong nhiều kiếp sống—cho đến khi y học được cách dung hợp và hòa trộn hai biểu hiện ấy. Khi đó đời sống nhị nguyên của người đệ tử được chấp nhận, trong các cấp độ và giai đoạn khác nhau của nó, trở nên rõ ràng đối với y; y biết mình đang làm gì. Một cách liên tục và có hệ thống, cả sự hướng ngoại lẫn sự rút lui, phụng sự trong thế giới và sống đời sống chiêm ngưỡng, đều đóng vai trò hữu ích của chúng.

Many psychological difficulties arise whilst this process is being mastered, leading to psychological cleavages, both deep-seated and superficial. The goal of all development is integration—integration as a personality, integration with the soul, integration into the Hierarchy, integration with the Whole, until complete unity and identification has been achieved. In order to master this science of integration whose basic goal is identity with the One Reality, the disciple progresses from one unification to another, making mistakes, arriving often at complete discouragement, identifying himself with that which is undesirable until, as soul-personality, he repudiates the earlier relationships; he pays [127] the penalty again and again of misplaced fervour, distorted aspiration, the overpowering effect of glamour, and the many conditions of psychological and physical disarrangement which must arise whilst cleavages are being healed, right identification achieved and correct orientation established.

Nhiều khó khăn tâm lý phát sinh trong khi tiến trình này đang được làm chủ, dẫn đến những phân rẽ tâm lý, cả sâu xa lẫn bề mặt. Mục tiêu của mọi phát triển là sự tích hợp—tích hợp như một phàm ngã, tích hợp với linh hồn, tích hợp vào Thánh Đoàn, tích hợp với Toàn Thể, cho đến khi đạt được sự hợp nhất và đồng nhất hoàn toàn. Để làm chủ khoa học tích hợp này mà mục tiêu căn bản là bản sắc với thực tại Duy Nhất, người đệ tử tiến từ sự hợp nhất này sang sự hợp nhất khác, phạm sai lầm, thường đi đến chỗ hoàn toàn nản lòng, đồng hóa mình với điều không mong muốn cho đến khi, như linh hồn-phàm ngã, y từ bỏ các mối liên hệ trước kia; y phải trả [127] giá hết lần này đến lần khác cho nhiệt tâm đặt sai chỗ, khát vọng méo mó, ảnh hưởng áp đảo của ảo cảm, và nhiều trạng thái rối loạn tâm lý và hồng trần tất yếu phát sinh trong khi các phân rẽ đang được chữa lành, sự đồng nhất đúng đắn được đạt tới và định hướng đúng đắn được thiết lập.

Whilst this basic, inescapable and necessary process is taking place, a definite work is going forward in the etheric body. The disciple is learning to lift the energies, gathered from the lower centres, into the solar plexus and from that centre into the heart centre, thus bringing about a re-focussing of the energies above the diaphragm instead of putting the emphasis below. This leads frequently to profound complications, because—from the personality angle—the solar plexus centre is the most potent, being the clearing house for the personality forces. It is that process of decentralisation and “elevation” of the lower consciousness to the higher which produces the main difficulties to which the disciple is subjected. It is this process also which is going on in the world as a whole today, causing the appalling disruption of human affairs, culture, and civilisation. The entire focus of humanity’s consciousness is being changed; the selfish life (characteristic of the man centred in his desires and consequently in the solar plexus centre) is giving place to the decentralised life of the man who is unselfish (centred in the Self or soul), aware of his relationships and responsibility to the Whole and not to the part. This sublimation of the lower life into the higher is one of deepest moment to the individual and to the race. Once the individual disciple, and humanity as well, symbolising the world disciple, have mastered the process of transference in this respect, we shall see the new order of individual service and of world service established, and therefore the coming in of the awaited new order.

Trong khi tiến trình căn bản, không thể tránh và cần thiết này đang diễn ra, một công việc xác định đang tiến hành trong thể dĩ thái. Người đệ tử đang học cách nâng các năng lượng, được tập hợp từ các trung tâm thấp, lên tùng thái dương và từ trung tâm đó lên trung tâm tim, nhờ đó tạo ra một sự tái tập trung các năng lượng phía trên cơ hoành thay vì đặt trọng tâm ở phía dưới. Điều này thường dẫn đến những biến chứng sâu sắc, bởi vì—từ góc độ phàm ngã—trung tâm tùng thái dương là mạnh nhất, là trạm thanh toán cho các mãnh lực phàm ngã. Chính tiến trình phi tập trung vào bản thân và “nâng cao” tâm thức thấp lên cao hơn này tạo ra những khó khăn chính mà người đệ tử phải chịu. Chính tiến trình này cũng đang diễn ra trong toàn thế giới ngày nay, gây ra sự phá vỡ khủng khiếp của các công việc nhân loại, văn hóa và văn minh. Toàn bộ tiêu điểm của tâm thức nhân loại đang được thay đổi; đời sống ích kỷ (đặc trưng của con người tập trung trong các dục vọng của mình và do đó trong trung tâm tùng thái dương) đang nhường chỗ cho đời sống phi tập trung vào bản thân của con người vô ngã (tập trung trong Bản Ngã hay linh hồn), ý thức về các mối liên hệ và trách nhiệm của mình đối với Toàn Thể chứ không phải đối với bộ phận. Sự thăng hoa đời sống thấp vào đời sống cao này là điều có ý nghĩa sâu xa nhất đối với cá nhân và đối với nhân loại. Một khi người đệ tử cá nhân, và cả nhân loại nữa, tượng trưng cho người đệ tử thế giới, đã làm chủ được tiến trình chuyển dịch theo phương diện này, chúng ta sẽ thấy trật tự mới của phụng sự cá nhân và phụng sự thế giới được thiết lập, và do đó sự xuất hiện của trật tự mới được mong đợi.

[128]

[128]

Of all these processes, the circulation of the blood stream is the symbol, and the clue to the establishment of the world order lies hid in this symbology—free circulation of all that is needed to all parts of the great framework of humanity. The blood is the life, and free interchange, free sharing, free circulation of all that is required for right human living will characterise the world to be. Today these conditions do not exist, the body of humanity is diseased and its internal life disrupted. Instead of free circulation between all parts of the life aspect, there has been separation, blocked channels, congestion and stagnation. It has needed the terrific crisis of the present to arouse humanity to its diseased condition, to the extent of the evil which is now discovered to be so great, and the diseases of the “blood of humanity” (symbolically understood) so severe that only the most drastic measures—pain, agony, despair and terror—can suffice to establish a cure.

Trong tất cả các tiến trình này, sự tuần hoàn của dòng máu là biểu tượng, và đầu mối cho việc thiết lập trật tự thế giới nằm ẩn trong biểu tượng học này—sự lưu thông tự do của mọi điều cần thiết đến mọi phần của bộ khung lớn lao của nhân loại. Máu là sự sống, và sự trao đổi tự do, chia sẻ tự do, lưu thông tự do của mọi điều cần thiết cho đời sống con người đúng đắn sẽ là đặc trưng của thế giới tương lai. Ngày nay những điều kiện này không tồn tại, thể của nhân loại đang bệnh hoạn và đời sống nội tại của nó bị phá vỡ. Thay vì sự lưu thông tự do giữa mọi phần của phương diện sự sống, đã có sự phân ly, các kênh bị bế tắc, sự tắc nghẽn và đình trệ. Cuộc khủng hoảng khủng khiếp của hiện tại đã cần đến để đánh thức nhân loại về tình trạng bệnh hoạn của mình, về mức độ của điều ác nay được phát hiện là quá lớn, và những bệnh tật của “máu của nhân loại” (được hiểu theo nghĩa biểu tượng) nghiêm trọng đến mức chỉ những biện pháp quyết liệt nhất—đau đớn, thống khổ, tuyệt vọng và kinh hoàng—mới có thể đủ để thiết lập một sự chữa lành.

Healers would do well to remember this, and to have in mind that disciples and all good men and aspirants share in this universal disease of humanity which must take its toll psychologically or physically or both. The trouble is of ancient origin and of long established habit and inevitably affects the physical vehicle of the soul. Exemption from the effects of human ills is no indication of spiritual superiority. It might simply indicate what one of the Masters has called “the depths of spiritual selfishness and self-satisfaction.” The initiate of the third degree can hold himself exempt, but this is only because he has completely freed himself from glamour and no aspect of the personality life has any further power over him. All the ray types are equally subjected to these particular problems. The seventh ray, however, is more susceptible to the problems, difficulties and diseases incident to the blood stream than are any of the other ray types. The reason is that this is the ray which has [129] to do with the expression and manifestation of life upon the physical plane and with the organisation of the relationship between spirit and matter into form. It is concerned therefore today, as it seeks to create the new order, with free circulation and with a consequently intended freedom of humanity from the ills and problems of the past. This is of interest to remember, and students would find it helpful at this time, if they want to cooperate intelligently with the happenings of the day, to collect and study all that I have written about the seventh ray of ceremonial order and magic.

Các nhà trị liệu nên ghi nhớ điều này, và nên nhớ rằng các đệ tử cùng tất cả những người thiện lành và những người chí nguyện đều chia sẻ căn bệnh phổ quát này của nhân loại, căn bệnh phải đòi cái giá của nó về mặt tâm lý hoặc thể xác hoặc cả hai. Rắc rối này có nguồn gốc xa xưa và là một thói quen đã được thiết lập từ lâu, tất yếu ảnh hưởng đến vận cụ hồng trần của linh hồn. Việc được miễn khỏi các hậu quả của những nỗi khổ của con người không phải là dấu hiệu của sự vượt trội tinh thần. Điều đó có thể chỉ cho thấy điều mà một trong các Chân sư đã gọi là “chiều sâu của sự ích kỷ tinh thần và tự mãn.” Điểm đạo đồ ở cấp ba có thể giữ mình được miễn trừ, nhưng điều này chỉ vì y đã hoàn toàn giải thoát mình khỏi ảo cảm và không một phương diện nào của đời sống phàm ngã còn có quyền lực gì đối với y nữa. Mọi loại cung đều chịu những vấn đề đặc thù này như nhau. Tuy nhiên, cung bảy dễ bị các vấn đề, khó khăn và bệnh tật liên quan đến dòng máu hơn bất kỳ loại cung nào khác. Lý do là vì đây là cung có [129] liên quan đến sự biểu lộ và hiện hình của sự sống trên cõi hồng trần và với việc tổ chức mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất thành hình tướng. Vì vậy, ngày nay nó liên quan, khi tìm cách tạo ra trật tự mới, đến sự lưu thông tự do và do đó đến sự tự do mà nhân loại được dự định có khỏi những nỗi khổ và vấn đề của quá khứ. Điều này đáng ghi nhớ, và các đạo sinh sẽ thấy hữu ích vào lúc này, nếu họ muốn hợp tác một cách thông minh với những biến cố của thời đại, khi thu thập và nghiên cứu tất cả những gì tôi đã viết về cung bảy của trật tự nghi lễ và huyền thuật.

b. Diseases of the nervous system, due to the flow of energy to all parts of the body, directed by either the personality, some aspect of the personal lower self, or by the soul, via the brain, are many and become acute as the disciple nears initiation or becomes an initiate. Apart from the physiological ills which this produces, there are many other conditions brought about by this inflow of force. The disciple becomes, for instance, overstimulated, and therefore overactive; he becomes unbalanced, and when I say this I do not refer to mental imbalance (though that can happen), but to overdevelopment and overexpression in some part of his nature. He can become extravagantly overorganised through the medium of some overactive centre, or underorganised and inactive. He is therefore subject to the imbalance of the glandular system, with all its attendant difficulties. His overstimulation or his undevelopment, where the centres are concerned, normally affects the glands, and they in their turn produce character difficulties which necessarily, in their turn, produce environmental problems as well as personality handicaps.

b. Các bệnh của hệ thần kinh, do dòng năng lượng đi đến mọi phần của thể, được điều khiển hoặc bởi phàm ngã, hoặc bởi một phương diện nào đó của phàm ngã thấp, hoặc bởi linh hồn qua bộ não, thì rất nhiều và trở nên trầm trọng khi đệ tử tiến gần điểm đạo hoặc trở thành một điểm đạo đồ. Ngoài những bệnh lý sinh lý mà điều này tạo ra, còn có nhiều trạng thái khác do sự tuôn vào của mãnh lực này gây nên. Chẳng hạn, đệ tử trở nên bị kích thích quá mức, và vì vậy quá hoạt động; y trở nên mất quân bình, và khi tôi nói điều này tôi không ám chỉ sự mất quân bình trí tuệ (dù điều đó có thể xảy ra), mà là sự phát triển quá mức và biểu lộ quá mức ở một phần nào đó trong bản chất của y. Y có thể trở nên được tổ chức quá mức một cách thái quá qua trung gian của một trung tâm quá hoạt động, hoặc bị tổ chức kém và bất hoạt. Vì vậy y dễ bị mất quân bình của hệ tuyến, với tất cả những khó khăn đi kèm. Sự kích thích quá mức hoặc sự kém phát triển của y, xét về các trung tâm, thông thường ảnh hưởng đến các tuyến, và đến lượt chúng tạo ra những khó khăn về Tính cách, mà đến lượt chúng tất yếu tạo ra những vấn đề môi trường cũng như những trở ngại của phàm ngã.

It is then a vicious circle, and is all due to wrong direction of force and the inflow of force from one or other of the [130] personality vehicles to its related centre (i.e., the astral force and its relation to the solar plexus), and then the appearance of the problems of health, of character and of influence. Over-radiatory activity, through the medium of some centre, attracts attention and the disciple becomes the victim of his own achievement. I shall deal with these at greater length when I take up the diseases which develop from the four categories.

Khi đó, đây là một vòng luẩn quẩn, và tất cả đều do sự định hướng sai của mãnh lực và sự tuôn vào của mãnh lực từ một hoặc một phương tiện nào khác của [130] phàm ngã đến trung tâm liên hệ của nó (tức là mãnh lực cảm dục và mối liên hệ của nó với tùng thái dương), rồi sau đó là sự xuất hiện của các vấn đề về sức khỏe, về Tính cách và về ảnh hưởng. Hoạt động bức xạ quá mức, qua trung gian của một trung tâm nào đó, thu hút sự chú ý và đệ tử trở thành nạn nhân của chính thành tựu của mình. Tôi sẽ bàn đến những điều này dài hơn khi tôi đề cập đến các bệnh phát triển từ bốn loại.

These difficulties are of a most general kind but do affect primarily second and sixth ray disciples. The one because the second ray is the building ray, and is therefore concerned predominantly with outer manifestation and with the utilisation of all the centres, and the other because it is primarily the ray of tension—a tension which can work out in the form of the most evil fanaticism or the most altruistic devotion. All the rays present the same problems, needless to say, but the second ray deals largely with the soul’s activity through all the centres (those above and those below the diaphragm) but with the heart as the prime centre of attention. The sixth ray has a close relation to the solar plexus centre as the clearing house and the place of reorientation of the life force in the personality. Bear this constantly in mind.

Những khó khăn này thuộc loại rất phổ biến nhưng chủ yếu ảnh hưởng đến các đệ tử cung hai và cung sáu. Một bên là vì cung hai là cung kiến tạo, và do đó chủ yếu liên quan đến biểu hiện bên ngoài và việc sử dụng tất cả các trung tâm, còn bên kia là vì đó chủ yếu là cung của sự căng thẳng—một sự căng thẳng có thể biểu lộ dưới hình thức cuồng tín xấu xa nhất hoặc tận tụy vị tha nhất. Dĩ nhiên, mọi cung đều trình hiện cùng những vấn đề ấy, nhưng cung hai phần lớn xử lý hoạt động của linh hồn qua tất cả các trung tâm (những trung tâm ở trên và ở dưới cơ hoành), nhưng với tim là trung tâm chính của sự chú ý. Cung sáu có mối liên hệ mật thiết với trung tâm tùng thái dương như là trạm chuyển tiếp và nơi tái định hướng của sinh lực trong phàm ngã. Hãy luôn ghi nhớ điều này.

c. The problems connected with the respiratory or breathing system are all related to the heart, and therefore concerned with the establishing of right rhythm and right contact with the environment. The drawing in of the life breath, the sharing of the air with all other human beings, denotes both an individual centre of life and participation also in the general life of all. To these problems of individual or separative existence and of its opposite, the Sacred Word, the OM, is intimately related. It might be said [131] in the words of an occult manual on healing, given to advanced disciples, that

c. Các vấn đề liên quan đến hệ hô hấp hay hệ thở đều liên hệ với tim, và do đó liên quan đến việc thiết lập nhịp điệu đúng và tiếp xúc đúng với môi trường. Việc hít vào hơi thở sự sống, việc chia sẻ không khí với mọi con người khác, biểu thị cả một trung tâm sự sống cá nhân lẫn sự tham dự vào sự sống chung của tất cả. Với những vấn đề này của sự tồn tại cá nhân hay phân ly và của đối cực của nó, Linh từ Thiêng, OM, có liên hệ mật thiết. Có thể nói [131] bằng lời của một cẩm nang huyền bí về trị liệu, được trao cho các đệ tử cao cấp, rằng

“He who lives under the sound of the AUM knows himself. He who lives sounding the OM knows his brother. He who knows the SOUND knows all.”

“Người sống dưới âm thanh của AUM biết chính mình. Người sống khi xướng OM biết huynh đệ của mình. Người biết ÂM THANH biết tất cả.”

Then, in the cryptic and symbolic language of the initiate, the manual goes on:

Rồi, bằng ngôn ngữ kín đáo và biểu tượng của điểm đạo đồ, cẩm nang tiếp tục:

“The breath of life becomes the cause of death to the one who lives within a shell. He exists but he is not; the breath then leaves and spirals to the whole.

“Hơi thở của sự sống trở thành nguyên nhân của cái chết đối với kẻ sống trong một cái vỏ. Y hiện hữu nhưng y không là; khi ấy hơi thở rời đi và xoắn ốc về toàn thể.

“He who breathes forth the OM knows not himself alone. He knows the breath is prana, life, the fluid of connection. The ills of life are his because they are the lot of man—not generated in a shell, because the shell is not.

“Kẻ thở ra OM không chỉ biết riêng mình. Y biết hơi thở là prana, là sự sống, là lưu chất của sự nối kết. Những nỗi khổ của sự sống là của y vì chúng là số phận của con người—không được tạo ra trong một cái vỏ, bởi vì cái vỏ không hiện hữu.

“He who is the SOUND and sounding forth knows not disease, knows not the hand of death.”

“Kẻ là ÂM THANH và đang xướng ra không biết bệnh tật, không biết bàn tay của cái chết.”

In these few words the whole problem of the third group of problems and diseases is summed up. They are concerned with the circulation of soul energy, which is the energy of love, and they are not concerned with the circulation of the life essence. These two basic energies, as they play upon the forces of the personality, bring about the bulk of the problems to which humanity falls heir. These are lack of love, lack of life, failure to sound forth correctly the note of the soul and of the ray, and failure to transmit. The secret of constituting a pure channel (to use mystic but not occult phraseology), is considered in the first group of problems; and the establishing of right relation by right sounding forth of the attractive note of the soul, is considered in the last two groups.

Trong vài lời này, toàn bộ vấn đề của nhóm thứ ba các vấn đề và bệnh tật được tóm lược. Chúng liên quan đến sự lưu thông của năng lượng linh hồn, vốn là năng lượng của bác ái, và không liên quan đến sự lưu thông của tinh chất sự sống. Hai năng lượng căn bản này, khi tác động lên các mãnh lực của phàm ngã, tạo ra phần lớn những vấn đề mà nhân loại phải thừa hưởng. Đó là thiếu bác ái, thiếu sự sống, không xướng ra đúng chủ âm của linh hồn và của cung, và không chuyển truyền. Bí mật để cấu thành một kênh dẫn thanh khiết (dùng thuật ngữ thần bí chứ không phải huyền bí học) được xét trong nhóm vấn đề thứ nhất; còn việc thiết lập mối liên hệ đúng bằng cách xướng ra đúng nốt hấp dẫn của linh hồn được xét trong hai nhóm cuối.

[132]

[132]

This third group of difficulties, problems and diseases are of course those of people upon all the rays, but first ray people have a definite predisposition to these specific troubles. At the same time, when they rightly utilise their latent powers, they can overcome by the right use of the OM, and finally of the SOUND, the incidental problems and difficulties far more easily than those on other rays. You have here a reference to the Lost Word of Masonry and to the SOUND of the Ineffable Name.

Nhóm thứ ba này của những khó khăn, vấn đề và bệnh tật dĩ nhiên là của những người trên mọi cung, nhưng những người cung một có một khuynh hướng rõ rệt đối với các rắc rối đặc thù này. Đồng thời, khi họ sử dụng đúng các quyền năng tiềm ẩn của mình, họ có thể vượt qua bằng cách sử dụng đúng OM, và cuối cùng là ÂM THANH, những vấn đề và khó khăn ngẫu phát dễ dàng hơn nhiều so với những người ở các cung khác. Ở đây bạn có một ám chỉ đến Linh từ Thất Truyền của Hội Tam Điểm và đến ÂM THANH của Danh Xưng Bất Khả Ngôn.

The sound of the AUM, the sound of the OM, and the SOUND itself, are all related to vibration and its differing and varied effects. The secret of the Law of Vibration is progressively revealed as people learn to sound forth the WORD in its three aspects. Students would do well to ponder on the distinction between the breath and the sound, between the process of breathing and the process of creating vibratory activity. They are related but distinct from each other. One is related to Time and the other to Space and (as the Old Commentary puts it) “the sound, the final and yet initiating sound, concerns that which is neither Time nor Space; it lies outside the manifested All, the Source of all that is and yet is naught” (or no-thing. A.A.B.).

Âm thanh của AUM, âm thanh của OM, và chính ÂM THANH, tất cả đều liên hệ với rung động và những hiệu quả khác nhau, đa dạng của nó. Bí mật của Định luật Rung động được mặc khải dần dần khi con người học cách xướng LINH TỪ trong ba phương diện của nó. Các đạo sinh nên suy ngẫm về sự phân biệt giữa hơi thở và âm thanh, giữa tiến trình hô hấp và tiến trình tạo ra hoạt động rung động. Chúng có liên hệ nhưng khác biệt với nhau. Một cái liên hệ với Thời gian và cái kia với Không gian và (như Cổ Luận nói) “âm thanh, âm thanh tối hậu nhưng đồng thời khai mở, liên quan đến cái không phải là Thời gian cũng không phải là Không gian; nó nằm ngoài Toàn Thể biểu hiện, Nguồn Cội của mọi cái đang là mà vẫn là hư vô” (hay không-vật. A.A.B.).

For this reason, disciples on the fourth ray usually can develop by the power of the intuition an understanding of the OM. This ray of harmony through conflict (the conflict of the pairs of opposites) is necessarily concerned with the bringing in of that vibratory activity which will lead to unity, to harmony and to right relations, and to the release of the intuition.

Vì lý do này, các đệ tử cung bốn thường có thể phát triển, bằng quyền năng của trực giác, một sự thấu hiểu về OM. Cung của hòa điệu qua xung đột này (xung đột của các cặp đối cực) tất yếu liên quan đến việc đưa vào hoạt động rung động sẽ dẫn đến hợp nhất, hòa điệu và các mối liên hệ đúng, và đến sự giải phóng trực giác.

d. The problems incident to the activity of inactivity of the centres are perhaps the most important from the standpoint of disease, because the centres govern the glandular [133] system and the glands have a direct relation to the blood stream and they condition also the major and most important areas in the human body; they have both a physiological and a psychological effect upon the personality and its interior and exterior contacts and relations. The reaction is primarily physical but the effects are largely psychological, and it is therefore this fourth group upon which I shall principally enlarge, dealing with the diseases of disciples and giving some definite instructions upon the centres. This will indicate more clearly than elsewhere the causes of the many human ills and physical difficulties.

d. Các vấn đề liên quan đến hoạt động hay bất hoạt động của các trung tâm có lẽ là quan trọng nhất từ quan điểm bệnh tật, vì các trung tâm chi phối hệ tuyến [133] và các tuyến có liên hệ trực tiếp với dòng máu, đồng thời chúng cũng tác động lên các khu vực chính và quan trọng nhất trong thể người; chúng có cả tác động sinh lý lẫn tâm lý lên phàm ngã và lên các tiếp xúc cùng mối liên hệ bên trong và bên ngoài của nó. Phản ứng trước hết là hồng trần nhưng các hiệu quả phần lớn là tâm lý, và vì vậy chính nhóm thứ tư này là nhóm mà tôi sẽ chủ yếu khai triển, khi bàn đến các bệnh của đệ tử và đưa ra một số chỉ dẫn rõ ràng về các trung tâm. Điều này sẽ chỉ ra rõ hơn ở nơi khác các nguyên nhân của nhiều nỗi khổ và khó khăn thể xác của con người.

Before proceeding to our next point, try to grasp somewhat more fully the Laws of Healing and the Rules given thus far and repeated here to facilitate your endeavours.

Trước khi tiếp tục sang điểm kế tiếp, hãy cố nắm bắt đầy đủ hơn đôi chút các Định luật Trị liệu và các Quy luật đã được đưa ra cho đến nay và được lặp lại ở đây để tạo thuận lợi cho nỗ lực của các bạn.

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life and this is true of all forms of all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của đời sống linh hồn bị ức chế và điều này đúng với mọi hình tướng của mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu nằm ở việc giải phóng linh hồn để sự sống của nó có thể tuôn chảy qua tổng thể các cơ cấu tạo thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào.

LAW II

ĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of, and subject to, three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called “The Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place someday to that new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.

Bệnh tật là sản phẩm của, và chịu sự chi phối của, ba ảnh hưởng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho lỗi lầm xa xưa; thứ hai, di truyền của y, trong đó y chia sẻ với toàn thể nhân loại những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm; thứ ba, y chia sẻ với mọi hình tướng tự nhiên điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ xưa về Sự Chia sẻ Điều Ác.” Một ngày nào đó nó phải nhường chỗ cho “Định luật mới về Điều Thiện Cổ xưa Chi Phối” nằm phía sau mọi điều mà Thượng đế đã tạo ra. Định luật này phải được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người.

LAW III

ĐỊNH LUẬT III

Diseases are an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the Plane whereon those energies [134] are focussed, proceed those determining conditions which produce ill health, and which, therefore, work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là một hiệu quả của sự tập trung căn bản của năng lượng sự sống của một người. Từ Cõi mà trên đó những năng lượng ấy [134] được tập chú, phát sinh những điều kiện quyết định tạo ra tình trạng sức khỏe xấu, và do đó biểu lộ thành bệnh tật hoặc thành sự tự do khỏi bệnh tật.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. It is but a distorted rejection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.

Bệnh tật, cả hồng trần lẫn tâm lý, có gốc rễ trong điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Nó chỉ là một sự khước từ méo mó đối với các khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng nào đó hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra trong chất liệu của các thể của nó một điểm ma sát. Trên điểm này, mắt của phàm ngã được tập trung, và điều này dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà trị liệu liên quan đến việc nâng đôi mắt đang hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Trị Liệu bên trong hình tướng. Khi ấy con mắt tinh thần hay con mắt thứ ba sẽ định hướng mãnh lực trị liệu, và mọi sự đều ổn.

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease, or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ vậy y có thể tuôn mãnh lực trị liệu sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa bệnh, hoặc làm tăng tình trạng xấu, tùy theo tri thức của nhà trị liệu.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, tim và phát xạ hào quang của mình. Nhờ vậy sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng đời sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng qua sự đáp ứng của hào quang của y đối với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập năng lượng linh hồn.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he links the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation too goes forth.

Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính, qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt đến bức xạ xua tan ấy, bức xạ tự biểu lộ nơi mọi người khi y nối kết các trung tâm trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ cũng phát ra.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He [135] can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which the help must come.

Nhà trị liệu hãy tự rèn luyện để biết giai đoạn bên trong của tư tưởng hay khát vọng của người tìm kiếm sự giúp đỡ của mình. Nhờ đó y [135] có thể biết nguồn gốc từ đó rắc rối phát sinh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với kết quả, và biết chính xác điểm mà qua đó sự trợ giúp phải đến.

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

The healer and the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used but love.

Nhà trị liệu và nhóm trị liệu phải giữ ý chí trong vòng kiềm chế. Không phải ý chí cần được dùng mà là bác ái.

2. Difficulties Incident to Soul Contact.

2. Những khó khăn liên quan đến tiếp xúc linh hồn.

Today we begin a study of the difficulties, the diseases and the psychological troubles (neurological and mental) of the aspirants and of the disciples of the world. These we shall study definitely from the angle of the seven centres, as well as considering the results of the forces and energies (I use these distinctive words advisedly) which pour through them. Much that I shall say will be open to question from the viewpoint of orthodox medicine, yet, at the same time, orthodox medicine has been steadily drifting towards the occult point of view. I shall not attempt to relate the esoteric attitude of healing, its propositions and methods, to the modern schools of therapy. The two are gradually approaching each other, in any case. The lay reader, for whom these teachings are intended, will get a clearer comprehension of my thesis if it is kept relatively free from the technical terms and the academic attitudes of the medical sciences. They would but serve to confuse, and my effort is to give a general picture of the underlying causes of outer physical ills. I seek to present certain aspects of occult therapy for which mankind is now ready, reminding you that the presentation is naturally inadequate and partial, and for that reason may appear incorrect and to be challenging to those who look ever for outlets for human credulity. That, however, concerns me not. Time will prove the accuracy of my statements.

Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu những khó khăn, bệnh tật và các rắc rối tâm lý (thần kinh học và trí tuệ) của những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới. Chúng ta sẽ nghiên cứu chúng một cách rõ rệt từ góc độ của bảy trung tâm, đồng thời xem xét các kết quả của những mãnh lực và năng lượng (tôi dùng những từ phân biệt này một cách có chủ ý) tuôn qua chúng. Nhiều điều tôi sẽ nói sẽ có thể bị chất vấn từ quan điểm y học chính thống, tuy nhiên đồng thời y học chính thống đã đều đặn trôi dần về phía quan điểm huyền bí học. Tôi sẽ không cố gắng liên hệ thái độ trị liệu nội môn, các mệnh đề và phương pháp của nó với các trường phái trị liệu hiện đại. Dù sao đi nữa, hai bên đang dần dần tiến gần nhau. Người đọc phổ thông, đối tượng mà các giáo huấn này nhắm đến, sẽ có được sự hiểu biết rõ hơn về luận đề của tôi nếu nó được giữ tương đối thoát khỏi các thuật ngữ kỹ thuật và các thái độ hàn lâm của khoa học y học. Chúng chỉ làm rối trí thêm, và nỗ lực của tôi là đưa ra một bức tranh tổng quát về các nguyên nhân nền tảng của những bệnh tật hồng trần bên ngoài. Tôi tìm cách trình bày một số phương diện của trị liệu huyền bí học mà nhân loại hiện nay đã sẵn sàng tiếp nhận, đồng thời nhắc các bạn rằng sự trình bày này tự nhiên là không đầy đủ và phiến diện, và vì lý do đó có thể có vẻ không đúng và có vẻ thách thức đối với những ai luôn tìm lối thoát cho tính cả tin của con người. Tuy nhiên, điều đó không liên quan đến tôi. Thời gian sẽ chứng minh tính chính xác của những phát biểu của tôi.

[136]

[136]

The new medicine will deal with factors which are dimly recognised at present and which are not, as yet, brought into any real or factual relationship to man and his body. The basic theory upon which the new medical teaching will rest can best be summed up in the statement that there is in reality nothing but energy to be considered, and the forces which are resistant to or assimilative of higher or different types of energy. Let me therefore start by giving you a new Law to add to the four already communicated. The previous Laws have been in the nature of abstract propositions, and unless related to this fifth Law will remain somewhat vague and meaningless.

Nền y học mới sẽ bàn đến những yếu tố hiện nay mới chỉ được nhận ra một cách mơ hồ và chưa được đặt vào bất kỳ mối liên hệ thực sự hay thực tế nào với con người và thể của y. Lý thuyết căn bản mà trên đó giáo huấn y học mới sẽ đặt nền tốt nhất có thể được tóm lược trong phát biểu rằng thực ra không có gì ngoài năng lượng cần được xem xét, và những mãnh lực kháng cự hoặc đồng hoá các loại năng lượng cao hơn hay khác biệt. Vì vậy, hãy để tôi bắt đầu bằng cách trao cho các bạn một Định luật mới để thêm vào bốn Định luật đã được truyền đạt. Các Định luật trước có tính chất của những mệnh đề trừu tượng, và nếu không được liên hệ với Định luật thứ năm này, chúng sẽ vẫn còn phần nào mơ hồ và vô nghĩa.

LAW V

ĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central point of contact. The conflict of these energies with forces and of the forces twixt themselves produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain, which seek release in death. The two, the five, and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng đế là sự sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng đều có thể tìm thấy một điểm tiếp xúc trung tâm. Xung đột của các năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau tạo ra những bệnh tật thể xác của con người. Xung đột của năng lượng thứ nhất và thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đỉnh núi được đạt tới—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc chiến giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi nỗi khổ và đau đớn thể xác, những thứ tìm sự giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cộng với điều mà chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là Định luật Trị liệu thứ năm trong thế giới hình tướng.

This Law can be resolved into certain basic statements which can be tabulated as follows:

Định luật này có thể được phân giải thành một số phát biểu căn bản có thể được liệt kê như sau:

1. We live in a world of energies and are a constituent part of them ourselves.

1. Chúng ta sống trong một thế giới của các năng lượng và bản thân chúng ta là một phần cấu thành của chúng.

2. The physical vehicle is a fusion of two energies and seven forces.

2. Vận cụ hồng trần là một sự dung hợp của hai năng lượng và bảy mãnh lực.

3. The first energy is that of the soul, the ray energy. It is the producer of conflict as the soul energy seeks to control the forces.

3. Năng lượng thứ nhất là năng lượng của linh hồn, năng lượng cung. Nó là tác nhân tạo ra xung đột khi năng lượng linh hồn tìm cách kiểm soát các mãnh lực.

[137]

[137]

4. The second energy is that of the threefold personality—the personality ray as it is resistant to the higher energy.

4. Năng lượng thứ hai là năng lượng của phàm ngã tam phân—cung phàm ngã khi nó kháng cự năng lượng cao hơn.

5. The forces are the other energies or ray potencies which control the seven centres and are dominated either by the energy of the personality or by that of the soul.

5. Các mãnh lực là những năng lượng khác hay những tiềm lực cung kiểm soát bảy trung tâm và bị chi phối hoặc bởi năng lượng của phàm ngã hoặc bởi năng lượng của linh hồn.

6. Two conflicts, therefore, proceed between the two major energies and between the other energies, focussed through the seven centres.

6. Vì vậy, hai cuộc xung đột diễn ra giữa hai năng lượng chính và giữa các năng lượng khác, được tập trung qua bảy trung tâm.

7. It is the interplay of these energies which produces good health or bad.

7. Chính sự tương tác của các năng lượng này tạo ra sức khỏe tốt hay xấu.

There has been much teaching given anent the age-long struggle between personality and soul, but it has always been presented in the language of spiritual approach, of mysticism and of religion, or else in terms of character reaction, of abstract aspiration and of purity or non-purity. With these I shall not deal. My theme is the effects of this conflict in the physical body. I wish, therefore, to confine myself only to the physiological and psychological problems incident to the struggle which, in the main, make hard the lot of the disciple. It might be posited that:

Đã có nhiều giáo huấn được đưa ra về cuộc đấu tranh lâu đời giữa phàm ngã và linh hồn, nhưng nó luôn được trình bày bằng ngôn ngữ của tiếp cận tinh thần, của thần bí học và tôn giáo, hoặc bằng các thuật ngữ của phản ứng Tính cách, của khát vọng trừu tượng và của sự thanh khiết hay không thanh khiết. Với những điều đó tôi sẽ không bàn đến. Chủ đề của tôi là các hiệu quả của cuộc xung đột này trong thể xác. Vì vậy, tôi chỉ muốn giới hạn mình vào các vấn đề sinh lý và tâm lý liên quan đến cuộc đấu tranh mà nhìn chung làm cho số phận của đệ tử trở nên khó khăn. Có thể nêu ra rằng:

A. All diseases and physical difficulties are caused by one or more of three things or conditions:

A. Mọi bệnh tật và khó khăn thể xác đều do một hay nhiều trong ba điều hay ba trạng thái sau gây ra:

1. A developed soul contact, thus producing the vitalisation of all the centres in ordered rhythm, according to the soul ray. This necessarily produces stress and strain in the physical vehicle.

1. Một tiếp xúc linh hồn đã phát triển, do đó tạo ra sự tiếp sinh lực cho tất cả các trung tâm theo nhịp điệu có trật tự, tùy theo cung linh hồn. Điều này tất yếu tạo ra áp lực và căng thẳng trong vận cụ hồng trần.

2. Personality life and focus, which attempts to negate this soul control, and which is largely expressed through the activity of the throat centre (predisposing an activity of the thyroid gland) and of the centres below the diaphragm.

2. Đời sống và sự tập chú của phàm ngã, vốn cố gắng phủ nhận sự kiểm soát của linh hồn này, và phần lớn được biểu lộ qua hoạt động của trung tâm cổ họng (khiến hoạt động của tuyến giáp dễ phát sinh) và của các trung tâm dưới cơ hoành.

[138]

[138]

3. A cycle in the life of the aspirant wherein personality control begins to weaken and in which the emphasis and consequent activity shifts into the centres above the diaphragm—again causing trouble and readjustment.

3. Một chu kỳ trong đời sống của người chí nguyện trong đó sự kiểm soát của phàm ngã bắt đầu suy yếu và trong đó sự nhấn mạnh cùng hoạt động hệ quả chuyển sang các trung tâm trên cơ hoành—một lần nữa gây ra rắc rối và sự điều chỉnh lại.

B. Certain objectives present themselves to the aspirant at various stages, and each involves progress, but at the same time certain attendant difficulties.

B. Một số mục tiêu tự trình hiện trước người chí nguyện ở các giai đoạn khác nhau, và mỗi mục tiêu đều bao hàm tiến bộ, nhưng đồng thời cũng bao hàm một số khó khăn đi kèm.

1. The objective before the initiate is to have every centre in the etheric body responsive to the ray energy of the soul and with all the other seven ray energies subsidiary to it. This process of stimulation, of readjustment, and the attainment of established control goes on until after the third initiation. Then, when that initiation has been taken, the physical vehicle is of a totally different calibre and quality, and the Rules and Laws of Health no longer apply.

1. Mục tiêu trước điểm đạo đồ là làm cho mọi trung tâm trong thể dĩ thái đáp ứng với năng lượng cung của linh hồn và khiến tất cả bảy năng lượng cung khác đều phụ thuộc vào nó. Tiến trình kích thích, điều chỉnh lại và đạt đến sự kiểm soát được thiết lập này tiếp diễn cho đến sau lần điểm đạo thứ ba. Khi lần điểm đạo ấy đã được tiếp nhận, vận cụ hồng trần có một tầm mức và phẩm tính hoàn toàn khác, và các Quy luật cùng Định luật về Sức khỏe không còn áp dụng nữa.

2. The objective before the disciple is to promote control of the centres in the body, via the soul, through stimulation, elimination and eventual stabilisation. This inevitably produces difficulty, and the vitalisation or inspiration (either of these words would be appropriate), or their lack or deficiency, affect the bodily organs within the areas around the centres and affect all substances surrounding the centres.

2. Mục tiêu trước đệ tử là thúc đẩy sự kiểm soát các trung tâm trong thể, qua linh hồn, bằng sự kích thích, loại trừ và cuối cùng là ổn định hóa. Điều này tất yếu tạo ra khó khăn, và sự tiếp sinh lực hay cảm hứng (một trong hai từ này đều thích hợp), hoặc sự thiếu vắng hay thiếu hụt của chúng, ảnh hưởng đến các cơ quan thể xác trong những vùng quanh các trung tâm và ảnh hưởng đến mọi chất liệu bao quanh các trung tâm.

3. The objective before the aspirant or the probationary disciple is to transfer the forces from the centres below the diaphragm, via the solar plexus centre, to the centres above the diaphragm. The energy of the base of the spine has to be transferred to the head; the energy of the sacral centre must be lifted to the throat, whilst the energy of the solar plexus must be transferred to the heart. This is done in response to the magnetic “pull” of the soul ray as it begins to dominate the personality ray. It is a long and painful [139] process, covering many lives and carrying, as the result, many physical ills.

3. Mục tiêu trước người chí nguyện hay đệ tử dự bị là chuyển các mãnh lực từ các trung tâm dưới cơ hoành, qua trung tâm tùng thái dương, đến các trung tâm trên cơ hoành. Năng lượng của đáy cột sống phải được chuyển lên đầu; năng lượng của trung tâm xương cùng phải được nâng lên cổ họng, trong khi năng lượng của tùng thái dương phải được chuyển lên tim. Điều này được thực hiện để đáp ứng với “sức hút” từ tính của cung linh hồn khi nó bắt đầu chi phối cung phàm ngã. Đây là một tiến trình dài và đau đớn [139], kéo dài qua nhiều kiếp sống và mang theo, như một kết quả, nhiều bệnh tật thể xác.

4. The objective before the average man (unconsciously effective) is to respond fully to personality force, focussed primarily at the middle point, the solar plexus, and then steadily and intelligently to coordinate these forces so that an integrated personality is presented eventually to the soul for control and use.

4. Mục tiêu trước con người trung bình (có hiệu lực một cách vô thức) là đáp ứng trọn vẹn với mãnh lực phàm ngã, chủ yếu được tập trung tại điểm giữa, tùng thái dương, rồi sau đó đều đặn và một cách thông minh phối hợp các mãnh lực này để cuối cùng một phàm ngã tích hợp được trình lên linh hồn để kiểm soát và sử dụng.

5. The objective before the primitive or undeveloped man (again unconsciously effective) is to live a full animal and emotional life, thereby gaining experience of growth, of contact, and eventually of understanding. By this means the response apparatus of the soul in the three worlds is built.

5. Mục tiêu trước con người nguyên thủy hay chưa phát triển (một lần nữa có hiệu lực một cách vô thức) là sống một đời sống động vật và cảm xúc trọn vẹn, nhờ đó thu được kinh nghiệm về tăng trưởng, về tiếp xúc, và cuối cùng là về thấu hiểu. Bằng phương tiện này, bộ máy đáp ứng của linh hồn trong ba cõi giới được xây dựng.

I would also call attention to the thought which I have here interjected, that the objectives intrinsically in themselves have an effect upon that towards which man is striving. This is a thought warranting careful consideration.

Tôi cũng muốn lưu ý đến tư tưởng mà tôi đã xen vào ở đây, rằng các mục tiêu tự thân chúng có một hiệu quả lên điều mà con người đang phấn đấu hướng tới. Đây là một tư tưởng đáng được cân nhắc cẩn thận.

These generalisations will be useful only if you remember that they are generalisations. No aspirant at any stage is perfectly clear cut in his endeavour until after the third initiation, nor is he entirely particularised in his life and effort. Men are at all imaginable stages of development, and many of these stages are intermediate to the five stages above mentioned. These all merge and blend into each other, and often constitute a formidable and confusing arena for thought and activity. It is only in the life of the undeveloped individual that clear simplicity is to be found. In between—from the stage of infancy of the race or of the man to that of the state of liberation from personality life—there is nothing but complexity, the overlapping of states of consciousness, difficulty, disease, psychological problems, illness and death.

Những khái quát hóa này sẽ chỉ hữu ích nếu các bạn nhớ rằng chúng là những khái quát hóa. Không một người chí nguyện nào ở bất kỳ giai đoạn nào hoàn toàn rạch ròi trong nỗ lực của mình cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, cũng như y không hoàn toàn được biệt định trong đời sống và nỗ lực của mình. Con người ở mọi giai đoạn phát triển có thể hình dung được, và nhiều giai đoạn trong số đó là trung gian giữa năm giai đoạn đã nêu trên. Tất cả những giai đoạn này hòa lẫn và dung hợp vào nhau, và thường tạo thành một đấu trường đáng sợ và gây rối cho tư tưởng và hoạt động. Chỉ trong đời sống của cá nhân chưa phát triển mới có thể tìm thấy sự đơn giản rõ rệt. Ở khoảng giữa—từ giai đoạn ấu thơ của nhân loại hay của con người cho đến trạng thái giải thoát khỏi đời sống phàm ngã—không có gì ngoài sự phức tạp, sự chồng lấn của các trạng thái tâm thức, khó khăn, bệnh tật, các vấn đề tâm lý, đau ốm và cái chết.

[140]

[140]

This must obviously be so when the vast number of energies and forces which constitute man’s being and form his environment are brought into relation with each other. Every human being is, in reality, like a miniature whirlpool in that great ocean of Being in which he lives and moves—ceaselessly in motion until such time as the soul “breathes upon the waters” (or forces) and the Angel of the Presence descends into the whirlpool. Then all becomes still. The waters stirred by the rhythm of life, and later stirred violently by the descent of the Angel, respond to the Angel’s healing power and are changed “into a quiet pool into which the little ones can enter and find the healing which they need.” So says the Old Commentary.

Điều này hiển nhiên phải như vậy khi số lượng khổng lồ các năng lượng và mãnh lực cấu thành bản thể con người và tạo nên môi trường của y được đặt vào mối liên hệ với nhau. Mỗi con người, trên thực tế, giống như một xoáy nước thu nhỏ trong đại dương lớn của Bản Thể mà trong đó y sống và vận động—chuyển động không ngừng cho đến khi linh hồn “thở trên mặt nước” (hay các mãnh lực) và Thiên Thần của Hiện Diện giáng xuống xoáy nước. Khi ấy mọi sự trở nên tĩnh lặng. Những làn nước bị khuấy động bởi nhịp điệu của sự sống, và về sau bị khuấy động dữ dội bởi sự giáng xuống của Thiên Thần, đáp ứng với quyền năng trị liệu của Thiên Thần và được biến đổi “thành một hồ nước yên lặng mà trong đó những kẻ bé nhỏ có thể bước vào và tìm thấy sự trị liệu mà chúng cần.” Cổ Luận nói như vậy.

The Centres and the Glandular System

Các Trung Tâm và Hệ Tuyến

It will therefore be apparent to you that disease (when not of a group origin, or the result of planetary karma or based on accident) takes its rise in the activity or the non-activity of the centres. This is a statement of a basic truth, given in the simplest manner. The centres, as you know, govern the endocrine system which, in its turn, controls the seven major areas of the physical body and is responsible for the correct functioning of the entire organism, producing both physiological and psychological effects.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng bệnh tật (khi không có nguồn gốc nhóm, hoặc không phải là kết quả của nghiệp quả hành tinh hay dựa trên tai nạn) phát sinh từ hoạt động hoặc sự bất hoạt động của các trung tâm. Đây là một phát biểu về một chân lý căn bản, được đưa ra theo cách đơn giản nhất. Như các bạn biết, các trung tâm chi phối hệ nội tiết, và đến lượt hệ này kiểm soát bảy khu vực chính của thể xác và chịu trách nhiệm cho sự vận hành đúng đắn của toàn bộ cơ thể, tạo ra cả các hiệu quả sinh lý lẫn tâm lý.

The importance of this glandular system cannot be overestimated. It is a replica in miniature of the septenary constitution of the universe and the medium of expression and the instrument of contact for the seven ray forces, the seven Spirits before the Throne of God. Around this at present unrecognised truth the medicine and the healing methods of the future civilisation will be built.

Tầm quan trọng của hệ tuyến này không thể bị đánh giá quá cao. Nó là một bản sao thu nhỏ của cấu tạo thất phân của vũ trụ và là phương tiện biểu lộ cùng công cụ tiếp xúc cho bảy mãnh lực cung, Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế. Chung quanh chân lý hiện nay chưa được nhận ra này, nền y học và các phương pháp trị liệu của nền văn minh tương lai sẽ được xây dựng.

The glands constitute a great relating system in the body; they bring all parts of the physical vehicle into relation with each other; they also relate the man to the etheric [141] body—both individual and planetary—and likewise to the blood stream, the carrier of the life principle to all parts of the body. There are consequently four major agents of distribution to be found in the physical body. They are all complete in themselves, all contributory to both the functional and the organic life of the body, all closely interrelated and all producing both physiological and psychological results according to their potency, the response of the centres to the higher inflow, the point in evolution achieved, and the free expression, or the reverse, of the incoming energies. These four agents of distribution of energy are:

Các tuyến cấu thành một hệ thống liên hệ lớn trong thể; chúng đưa mọi phần của vận cụ hồng trần vào mối liên hệ với nhau; chúng cũng liên hệ con người với thể dĩ thái [141]—cả cá nhân lẫn hành tinh—và cũng với dòng máu, là vật mang nguyên khí sự sống đến mọi phần của thể. Do đó, có bốn tác nhân phân phối chính được tìm thấy trong thể xác. Tất cả chúng đều hoàn chỉnh trong chính mình, tất cả đều góp phần vào cả đời sống chức năng lẫn đời sống cơ quan của thể, tất cả đều liên hệ mật thiết với nhau và tất cả đều tạo ra cả kết quả sinh lý lẫn tâm lý tùy theo tiềm lực của chúng, sự đáp ứng của các trung tâm đối với sự tuôn vào cao hơn, điểm tiến hoá đã đạt được, và sự biểu lộ tự do hay ngược lại của các năng lượng đi vào. Bốn tác nhân phân phối năng lượng này là:

1. The etheric vehicle itself. This with its myriads of lines of force and of energy, the incoming and the outgoing energies, its responsiveness to energy impacts coming from the environment as well as from the inner spiritual man and the subtle bodies, underlies the entire physical body. In it are to be found the seven centres as focal points of reception and of distribution; they are the recipients of seven types of energy, and they distribute these seven energies through the entire little human system.

1. Chính vận cụ dĩ thái. Với vô số đường mãnh lực và năng lượng của nó, các năng lượng đi vào và đi ra, sự đáp ứng của nó đối với các tác động năng lượng đến từ môi trường cũng như từ con người tinh thần bên trong và các thể vi tế, nó làm nền cho toàn bộ thể xác. Trong đó có thể tìm thấy bảy trung tâm như những tiêu điểm tiếp nhận và phân phối; chúng là những kẻ tiếp nhận bảy loại năng lượng, và chúng phân phối bảy năng lượng này qua toàn bộ tiểu hệ thống con người.

2. The nervous system and its various interlocking directorates. This is a relatively tangible network of energies and forces which are the outer expression of the inner, vital, dynamic network of the etheric body and the millions of nadis or the prototype of the nerves which underlie the more substantial body. These nerves and plexi and their many ramifications are the negative aspects of the positive energies which condition or are attempting to condition the man.

2. Hệ thần kinh và các ban điều hành đan xen khác nhau của nó. Đây là một mạng lưới tương đối hữu hình của các năng lượng và mãnh lực, là biểu hiện bên ngoài của mạng lưới nội tại, sinh động, năng động của thể dĩ thái và của hàng triệu nadi hay nguyên mẫu của các dây thần kinh làm nền cho thể đặc hơn. Những dây thần kinh và đám rối này cùng vô số phân nhánh của chúng là các phương diện âm của những năng lượng dương đang tác động lên hoặc đang cố gắng tác động lên con người.

3. The endocrine system. This is the tangible and exoteric expression of the activity of the vital body and its seven centres. The seven centres of force are to be found in the same region where the seven major glands are located, and [142] each centre of force provides, according to the esoteric teaching, the power and the life of the corresponding gland which is, in fact, its externalisation.

3. Hệ nội tiết. Đây là biểu hiện hữu hình và ngoại môn của hoạt động của thể sinh lực và bảy trung tâm của nó. Bảy trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong cùng khu vực nơi bảy tuyến chính tọa lạc, và [142] mỗi trung tâm mãnh lực cung cấp, theo giáo huấn nội môn, quyền năng và sự sống cho tuyến tương ứng, vốn thực ra là sự ngoại hiện của nó.