← Esoteric Healing (A Treatise on the Seven Rays Book 4)

Centres

Centres

Glands

Head centre

Pineal gland

Centre between eyebrows

Pituitary body

Throat centre

Thyroid gland

Heart centre

Thymus gland

Solar plexus centre

Pancreas

Sacral centre

The gonads

Centre at base of spine

Adrenal glands

These three systems are very closely related to each other and constitute an interlocking directorate of energies and forces which are essentially vital, galvanic, dynamic and creative. They are basically interdependent, and upon them the entire interior health of the physical organism depends. They are responsive first to one or other of the bodies (emotional or mental), then to the integrated personality and its ray, and finally to the soul ray as it begins to assume control. They are, in reality, responsible for the production of the physical body and—after birth—they condition its psychological quality, and this in its turn produces the developing physical man. They are the agents for the three divine aspects of all manifestation: life quality appearance.

Ba hệ thống này liên hệ rất mật thiết với nhau và cấu thành một ban điều hành đan xen của các năng lượng và mãnh lực vốn về bản chất là sinh động, điện lực, năng động và sáng tạo. Về căn bản chúng phụ thuộc lẫn nhau, và toàn bộ sức khỏe nội tại của cơ thể hồng trần tùy thuộc vào chúng. Trước hết chúng đáp ứng với một hay một thể khác (cảm xúc hay trí tuệ), rồi đến phàm ngã tích hợp và cung của nó, và cuối cùng đến cung linh hồn khi nó bắt đầu nắm quyền kiểm soát. Trên thực tế, chúng chịu trách nhiệm cho việc tạo ra thể xác và—sau khi sinh—chúng tác động lên phẩm tính tâm lý của nó, và điều này đến lượt nó tạo ra con người thể xác đang phát triển. Chúng là các tác nhân cho ba phương diện thiêng liêng của mọi biểu hiện: sự sống phẩm tính sắc tướng.

4. The blood stream. This is the carrier of the life principle and of the combined energies and forces of the three above systems. This will be an idea of some novelty to the orthodox. The relationship of the circulatory system of the blood to the nervous system has not been as yet adequately developed in modern medicine. Much, however, has been done to relate the glandular system to the blood.

4. Dòng máu. Đây là vật mang nguyên khí sự sống và các năng lượng cùng mãnh lực kết hợp của ba hệ thống trên. Đây sẽ là một ý tưởng phần nào mới lạ đối với giới chính thống. Mối liên hệ của hệ tuần hoàn máu với hệ thần kinh cho đến nay vẫn chưa được phát triển đầy đủ trong y học hiện đại. Tuy nhiên, đã có nhiều việc được thực hiện để liên hệ hệ tuyến với máu.

[143]

[143]

Only when these four interrelated systems are viewed as one integrated whole and as the four aspects of one vital circulatory system will the truth emerge. Only as they are acknowledged to be the four major distributing agents of the combined rays of the individual man will the true nature of material phenomena be grasped. It might be added here that:

Chỉ khi nào bốn hệ thống liên hệ qua lại này được nhìn như một toàn thể tích hợp và như bốn phương diện của một hệ tuần hoàn sinh động duy nhất thì chân lý mới xuất hiện. Chỉ khi nào chúng được thừa nhận là bốn tác nhân phân phối chính của các cung kết hợp của cá nhân con người thì bản chất thực sự của các hiện tượng vật chất mới được nắm bắt. Có thể thêm ở đây rằng:

1. The etheric vehicle from the circulatory angle, is governed by the Moon, as it veils Vulcan.

1. Vận cụ dĩ thái, xét từ góc độ tuần hoàn, được cai quản bởi Mặt Trăng, khi nó che giấu Vulcan.

2. The nervous system is ruled by Venus.

2. Hệ thần kinh được cai quản bởi Sao Kim.

3. The endocrine system is governed by Saturn.

3. Hệ nội tiết được cai quản bởi Sao Thổ.

4. The blood stream is governed by Neptune.

4. Dòng máu được cai quản bởi Sao Hải Vương.

These four systems are in reality the manifestation of the four aspects of matter in its lowest or purely physical expression. There are other aspects of expression of the fundamental substance, but these are the four of greatest importance.

Bốn hệ thống này trên thực tế là biểu hiện của bốn phương diện của vật chất trong biểu lộ thấp nhất hay thuần hồng trần của nó. Có những phương diện biểu lộ khác của chất liệu căn bản, nhưng đây là bốn phương diện quan trọng nhất.

Each of these is essentially dual, and each duality corresponds to the ray of the soul or of the personality. Each is therefore both positive and negative; each can be described as a unit of resistant force and of dynamic energy; each is a combination of certain aspects of matter and substance—the matter being the relatively static aspect, and the substance the relatively fluid or quality-endowing agent. Their interplay, relationship and unified function are an expression of the One Life Principle, and when they have reached a point of perfected fusion or synthesis or coordinated activity there then appears that “life more abundantly” of which Christ spoke and of which we, as yet, know nothing. The four aspects of matter produce the correspondence also to the four divine attributes as well as to the three divine aspects.

Mỗi phương diện này về bản chất là kép, và mỗi tính kép tương ứng với cung của linh hồn hay của phàm ngã. Vì vậy mỗi cái vừa dương vừa âm; mỗi cái có thể được mô tả như một đơn vị của mãnh lực kháng cự và của năng lượng năng động; mỗi cái là một sự kết hợp của một số phương diện của vật chất và chất liệu—vật chất là phương diện tương đối tĩnh, còn chất liệu là tác nhân tương đối lưu động hay ban phẩm tính. Sự tương tác, mối liên hệ và chức năng hợp nhất của chúng là một biểu hiện của Nguyên Khí Sự Sống Duy Nhất, và khi chúng đạt đến một điểm dung hợp hay tổng hợp hay hoạt động phối hợp hoàn hảo thì khi ấy xuất hiện “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ đã nói đến và điều mà chúng ta, cho đến nay, vẫn chưa biết gì. Bốn phương diện của vật chất cũng tạo ra sự tương ứng với bốn thuộc tính thiêng liêng cũng như với ba phương diện thiêng liêng.

[144]

[144]

The analogy of the basic dualism of all manifestation is also preserved, thus making the nine of initiation—the three, the four and the two. This correspondence to the initiatory process is, however, in the reverse direction, for it is initiation into the creative third aspect, the matter aspect and the world of intelligent activity. It is not initiation into the second or soul aspect, as is the case with the hierarchical initiations for which the disciple is preparing. It is the initiation of the soul into the experience of physical incarnation, into physical plane existence, and into the art of functioning as a human being. The door into this experience is the “Gate of Cancer.” Initiation into the kingdom of God is entered through the “Gate of Capricorn.” These four attributes and the three aspects of matter, plus their dual activity, are the correspondence to the four aspects of the personality and the Spiritual Triad and their dual active relationship. In this statement is hidden the key to liberation.

Sự tương đồng của nhị nguyên tính căn bản của mọi biểu hiện cũng được bảo tồn, do đó tạo thành số chín của điểm đạo—ba, bốn và hai. Tuy nhiên, sự tương ứng này với tiến trình điểm đạo lại theo chiều ngược lại, vì đó là điểm đạo vào phương diện sáng tạo thứ ba, phương diện vật chất và thế giới của hoạt động thông minh. Đó không phải là điểm đạo vào phương diện thứ hai hay phương diện linh hồn, như trường hợp của các cuộc điểm đạo của Thánh đoàn mà đệ tử đang chuẩn bị. Đó là điểm đạo của linh hồn vào kinh nghiệm lâm phàm hồng trần, vào sự hiện hữu trên cõi hồng trần, và vào nghệ thuật hoạt động như một con người. Cánh cửa đi vào kinh nghiệm này là “Cổng Cự Giải.” Điểm đạo vào Thiên Giới được bước vào qua “Cổng Ma Kết.” Bốn thuộc tính này và ba phương diện của vật chất, cộng với hoạt động kép của chúng, là sự tương ứng với bốn phương diện của phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần cùng mối liên hệ hoạt động kép của chúng. Trong phát biểu này ẩn giấu chìa khóa của sự giải thoát.

The Seven Major Centres

Bảy Trung Tâm Chính

It would be of value here if we consider for a moment the nature of the centres themselves, summarising somewhat the teaching already given in my other books, and so presenting a clear picture of the energy body which underlies the dense physical vehicle.

Sẽ có giá trị ở đây nếu chúng ta xét trong chốc lát bản chất của chính các trung tâm, tóm lược phần nào giáo huấn đã được đưa ra trong các sách khác của tôi, và như vậy trình bày một bức tranh rõ ràng về thể năng lượng làm nền cho vận cụ hồng trần đậm đặc.

There are many focal points of force within the body, but we shall deal only with the major seven which control in some degree or other all the remaining. In that way we shall not be confused. We shall consider the five centres found upon the spinal column and the two which are found in the head.

Có nhiều tiêu điểm mãnh lực trong thể, nhưng chúng ta sẽ chỉ bàn đến bảy trung tâm chính, những trung tâm kiểm soát ở mức độ nào đó tất cả các trung tâm còn lại. Bằng cách đó chúng ta sẽ không bị rối. Chúng ta sẽ xét năm trung tâm nằm trên cột sống và hai trung tâm nằm trong đầu.

1. The Head Centre. This is located at the very top of the head. It is frequently called “the thousand-petalled lotus” or the Brahmarandra. [145]

1. Trung tâm đầu. Trung tâm này nằm ở đỉnh đầu. Nó thường được gọi là “hoa sen ngàn cánh” hay Brahmarandra. [145]

a. It corresponds to the central spiritual sun.

a. Nó tương ứng với Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

b. It is brought into functioning activity after the third initiation and is the organ for the distribution of monadic energy, of the will aspect of divinity.

b. Nó được đưa vào hoạt động chức năng sau lần điểm đạo thứ ba và là cơ quan để phân phối năng lượng chân thần, phương diện ý chí của thiên tính.

c. It is related to the triple personality by the antahkarana, which disciples and initiates are in process of constructing and which reaches its full usefulness only after the destruction of the causal body at the fourth initiation.

c. Nó liên hệ với phàm ngã tam phân bằng antahkarana, mà các đệ tử và điểm đạo đồ đang trong tiến trình xây dựng và chỉ đạt đến tính hữu dụng trọn vẹn sau khi thể nguyên nhân bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư.

d. It is the Shamballa centre in the physical body and the agent of the Father or of the first divine aspect.

d. Nó là trung tâm Shamballa trong thể xác và là tác nhân của Chúa Cha hay của phương diện thiêng liêng thứ nhất.

e. It registers purpose, corresponds to the “electric fire” of the solar system, and is dynamic in quality.

e. Nó ghi nhận mục đích, tương ứng với “Lửa Điện” của hệ mặt trời, và có phẩm tính năng động.

f. Its dense physical externalisation is the pineal gland in the head. This remains active during infancy and until the will-to-be is sufficiently established so that the incarnating person is firmly anchored in physical incarnation. In the final stages of divine expression in man it again comes into activity and usefulness as the agent for the accomplishment on earth of the will energy of established Being.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của nó là tuyến tùng trong đầu. Tuyến này vẫn hoạt động trong thời thơ ấu và cho đến khi ý chí-hiện-hữu được thiết lập đầy đủ để con người đang nhập thể được neo vững chắc trong sự lâm phàm hồng trần. Trong các giai đoạn cuối của biểu lộ thiêng liêng nơi con người, nó lại đi vào hoạt động và hữu dụng như tác nhân để hoàn thành trên Trái Đất năng lượng ý chí của Bản Thể đã được thiết lập.

g. It is the organ of synthesis because, after the third initiation and prior to the destruction of the causal body, it gathers into itself the energies of all the three aspects of manifested life. Where man is concerned, this means the energies of the Spiritual Triad, of the threefold egoic lotus and of the triple personality, thus again making the nine of initiation. The energies thus synchronised and focussed in, around and above [146] the head are of great beauty and extensive radiation, plus dynamic effectiveness. They serve to relate the initiate to all parts of the planetary life, to the Great Council at Shamballa, and to the Lord of the World, the final Initiator—via the Buddha and one of the three Buddhas of Activity. The Buddha, in a most peculiar sense, relates the initiate to the second aspect of divinity—that of love—and therefore to the Hierarchy; the Buddhas of Activity relate him to the third aspect of divinity, that of active intelligence. Thus the energy of will, of consciousness and of creativity meet in him, providing the synthesis of the divine aspects.

g. Nó là cơ quan của tổng hợp bởi vì, sau lần điểm đạo thứ ba và trước khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, nó thu tập vào chính nó các năng lượng của cả ba phương diện của sự sống biểu hiện. Xét nơi con người, điều này có nghĩa là các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần, của Hoa Sen Chân Ngã tam phân và của phàm ngã tam phân, như vậy một lần nữa tạo thành số chín của điểm đạo. Các năng lượng được đồng bộ hóa và tập trung như thế trong, quanh và trên [146] đầu có vẻ đẹp lớn lao và bức xạ rộng khắp, cộng với hiệu quả năng động. Chúng dùng để liên hệ điểm đạo đồ với mọi phần của sự sống hành tinh, với Đại Hội Đồng tại Shamballa, và với Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Điểm đạo tối hậu—qua Đức Phật và một trong ba vị Phật Hoạt Động. Đức Phật, theo một ý nghĩa rất đặc biệt, liên hệ điểm đạo đồ với phương diện thứ hai của thiên tính—đó là bác ái—và do đó với Thánh Đoàn; các vị Phật Hoạt Động liên hệ y với phương diện thứ ba của thiên tính, đó là trí tuệ hoạt động. Như vậy năng lượng của ý chí, của tâm thức và của sáng tạo gặp nhau trong y, cung cấp sự tổng hợp của các phương diện thiêng liêng.

h. This is the only one of the seven centres which at the time of perfected liberation retains the position of an inverted lotus, with the stem of the lotus (the antahkarana, in reality) reaching up into “the seventh Heaven,” thus linking the initiate with the first major planetary centre, Shamballa. All the other centres start by being inverted, with all the petals turned downwards towards the base of the spine; all, in the process of evolution, gradually unfold their petals and then slowly turn upwards “towards the summit of the rod,” as it is called in the Old Commentary. The above is a piece of information which is of small value, except in so far as it presents a truth, completes a picture, and gives the student a symbolic idea of that which is essentially a distributing agent of the will energy of Deity.

h. Đây là trung tâm duy nhất trong bảy trung tâm mà vào lúc giải thoát hoàn hảo vẫn giữ vị trí của một hoa sen đảo ngược, với cuống hoa sen (thực ra là antahkarana) vươn lên “cõi trời thứ bảy,” nhờ đó liên kết điểm đạo đồ với trung tâm hành tinh lớn thứ nhất, Shamballa. Tất cả các trung tâm khác khởi đầu bằng việc bị đảo ngược, với mọi cánh hoa quay xuống dưới về phía đáy cột sống; tất cả, trong tiến trình tiến hoá, dần dần mở các cánh hoa của mình rồi chậm rãi quay lên trên “về phía đỉnh của thần trượng,” như được gọi trong Cổ Luận. Điều trên là một mẩu thông tin ít giá trị, ngoại trừ ở chỗ nó trình bày một chân lý, hoàn chỉnh một bức tranh, và cho đạo sinh một ý niệm biểu tượng về điều vốn về bản chất là một tác nhân phân phối năng lượng ý chí của Thượng đế.

2. The Ajna Centre. This is the centre between the eyebrows and is found in the region of the head just above [147] the two eyes, where it “acts as a screen for the radiant beauty and the glory of the spiritual man.”

2. Trung tâm Ajna. Đây là trung tâm giữa hai chân mày và được tìm thấy trong vùng đầu ngay phía trên [147] hai mắt, nơi nó “hoạt động như một tấm màn cho vẻ đẹp rạng ngời và vinh quang của con người tinh thần.”

a. It corresponds to the physical sun and is the expression of the personality, integrated and functioning—first of all as the disciple, and finally as the initiate. This is the true persona or mask.

a. Nó tương ứng với mặt trời hồng trần và là biểu hiện của phàm ngã, đã được tích hợp và đang hoạt động—trước hết như đệ tử, và cuối cùng như điểm đạo đồ. Đây là persona hay chiếc mặt nạ đích thực.

b. It achieves this functioning activity fully by the time the third initiation is taken. I would remind you that this initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, a fact which I have already communicated. It is the organ for the distribution of the energy of the third aspect—the energy of active intelligence.

b. Nó đạt được hoạt động chức năng này một cách trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận. Tôi xin nhắc bạn rằng lần điểm đạo này được Thánh đoàn xem là lần điểm đạo lớn đầu tiên, một sự kiện mà tôi đã truyền đạt trước đây. Nó là cơ quan để phân phối năng lượng của phương diện thứ ba—năng lượng của trí tuệ linh hoạt.

c. It is related to the personality by the creative thread of life, and is therefore closely connected with the throat centre (the centre of creative activity), just as the head centre is related to the centre at the base of the spine. An active interplay, once established between the ajna centre and the throat centre, produces a creative life and a manifested expression of the divine idea on the part of the initiate. In the same way, the active interplay between the head centre and the centre at the base of the spine produces the manifestation of the divine will or purpose. The forces of the ajna and the throat centres, when combined, produce the highest manifestation of “fire by friction,” just as the energies of the head centre and the basic centre produce the individual “electric fire” which, when fully expressing itself, we call the kundalini fire.

c. Nó liên hệ với phàm ngã qua sợi dây sáng tạo của sự sống, và vì thế gắn bó mật thiết với trung tâm cổ họng (trung tâm của hoạt động sáng tạo), cũng như trung tâm đầu liên hệ với trung tâm ở đáy cột sống. Một sự tương tác linh hoạt, một khi đã được thiết lập giữa trung tâm ajna và trung tâm cổ họng, sẽ tạo ra một đời sống sáng tạo và một biểu hiện hiển lộ của ý tưởng thiêng liêng nơi điểm đạo đồ. Cũng theo cách đó, sự tương tác linh hoạt giữa trung tâm đầu và trung tâm ở đáy cột sống tạo ra sự biểu hiện của ý chí hay mục đích thiêng liêng. Các lực của trung tâm ajna và trung tâm cổ họng, khi kết hợp, tạo ra biểu hiện cao nhất của “Lửa ma sát,” cũng như các năng lượng của trung tâm đầu và trung tâm đáy tạo ra “Lửa Điện” cá nhân mà khi tự biểu lộ trọn vẹn, chúng ta gọi là lửa kundalini.

d. It is the centre through which the fourth Creative Hierarchy on its own plane finds expression, [148] and here also this Hierarchy and fourth kingdom in nature, the human family are fused and blended. The head centre relates the monad and the personality. The ajna centre relates the Spiritual Triad (the expression of the monad in the formless worlds) to the personality. Ponder on this statement, because you have here—in the symbolism of the head centre, physically considered—the reflection of the spiritual will, atma, and spiritual love, buddhi. Here also comes in the teaching on the place of the eyes in the development of conscious expression, creatively carrying forward the divine purpose.

d. Nó là trung tâm mà qua đó Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư trên cõi riêng của mình tìm được sự biểu lộ, [148] và cũng chính tại đây Huyền Giai này và giới thứ tư trong thiên nhiên, gia đình nhân loại, được dung hợp và hòa trộn. Trung tâm đầu liên hệ chân thần với phàm ngã. Trung tâm ajna liên hệ Tam Nguyên Tinh Thần (sự biểu lộ của chân thần trong các thế giới vô tướng) với phàm ngã. Hãy suy ngẫm về phát biểu này, vì ở đây—trong biểu tượng của trung tâm đầu, xét về mặt thể xác—bạn có sự phản ánh của ý chí tinh thần, atma, và tình thương tinh thần, Bồ đề. Ở đây cũng xuất hiện giáo huấn về vị trí của đôi mắt trong sự phát triển của biểu hiện hữu thức, mang mục đích thiêng liêng tiến lên một cách sáng tạo.

The Third Eye..... the head centre..... Will. Atma.

Con Mắt Thứ Ba..... trung tâm đầu..... Ý chí. Atma.

The eye of the Father, the Monad. SHAMBALLA.

Con mắt của Cha, Chân thần. SHAMBALLA.

The first aspect of will or power and purpose.

Phương diện thứ nhất của ý chí hay quyền năng và mục đích.

Related to the pineal gland.

Liên hệ với tuyến tùng quả.

The Right Eye..... the ajna centre.....Love. Buddhi.

Mắt Phải..... trung tâm ajna..... Bác ái. Bồ đề.

The eye of the Son, the Soul. HIERARCHY.

Con mắt của Con, Linh hồn. THÁNH ĐOÀN.

The second aspect of love-wisdom.

Phương diện thứ hai của Bác Ái – Minh Triết.

Related to the pituitary body.

Liên hệ với thể tuyến yên.

The Left Eye..... the throat centre..... Active Intelligence.

Mắt Trái..... trung tâm cổ họng..... Trí Tuệ Linh Hoạt.

The eye of the Mother, the personality. HUMANITY.

Con mắt của Mẹ, phàm ngã. NHÂN LOẠI.

The third aspect of intelligence.

Phương diện thứ ba của trí tuệ.

Related to the carotid gland.

Liên hệ với tuyến cảnh.

When these three eyes are functioning and all of them “seeing” simultaneously, you will then have insight into divine purpose (the initiate), intuitive vision of the plan (the disciple), and a spiritual direction of the resulting creative activity (the Master).

Khi ba con mắt này hoạt động và tất cả đều “thấy” đồng thời, khi ấy bạn sẽ có sự thấu suốt về mục đích thiêng liêng (điểm đạo đồ), linh thị trực giác về Thiên Cơ (đệ tử), và sự định hướng tinh thần đối với hoạt động sáng tạo phát sinh từ đó (Chân sư).

e. The ajna centre registers or focusses the intention to create. It is not the organ of creation in the [149] same sense that the throat centre is, but it embodies the idea lying behind active creativity, the subsequent act of creation producing eventually the ideal form for the idea.

e. Trung tâm ajna ghi nhận hay tập trung ý định sáng tạo. Nó không phải là cơ quan sáng tạo theo cùng ý nghĩa như trung tâm cổ họng, [149] nhưng nó thể hiện ý tưởng nằm phía sau tính sáng tạo linh hoạt, còn hành vi sáng tạo tiếp theo rốt cuộc tạo ra hình tướng lý tưởng cho ý tưởng đó.

f. Its dense physical externalisation is the pituitary body: the two lobes of this gland correspond to the two multiple petals of the ajna centre. It expresses imagination and desire in their two highest forms, and these are the dynamic factors lying behind all creation.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của nó là thể tuyến yên: hai thùy của tuyến này tương ứng với hai cánh hoa đa phân của trung tâm ajna. Nó biểu lộ sự tưởng tượng và dục vọng trong hai hình thức cao nhất của chúng, và đây là các yếu tố năng động nằm phía sau mọi sáng tạo.

g. It is the organ of idealism therefore, and,—curiously enough—it is closely related to the sixth ray, just as the head centre is essentially related to the first ray. The sixth is peculiarly linked to the third ray and the third aspect of divinity as well as to the second ray and the second aspect. It fuses, anchors and expresses. This is a fact which I have not hitherto emphasised in my other writings. The ajna centre is the point in the head where the dualistic nature of manifestation in the three worlds is symbolised. It fuses the creative energies of the throat and the sublimated energies of desire or the true love of the heart.

g. Vì vậy, nó là cơ quan của chủ nghĩa lý tưởng, và—điều khá lạ lùng—nó liên hệ mật thiết với cung sáu, cũng như trung tâm đầu về bản chất liên hệ với cung một. Cung sáu được nối kết một cách đặc biệt với cung ba và phương diện thứ ba của thiên tính cũng như với cung hai và phương diện thứ hai. Nó dung hợp, neo giữ và biểu lộ. Đây là một sự kiện mà cho đến nay tôi chưa nhấn mạnh trong các trước tác khác của tôi. Trung tâm ajna là điểm trong đầu nơi bản chất nhị nguyên tính của sự biểu hiện trong ba cõi thấp được tượng trưng. Nó dung hợp các năng lượng sáng tạo của cổ họng và các năng lượng đã được thăng hoa của dục vọng hay tình thương chân chính của tim.

h. This centre, having only two real petals, is not a true lotus in the same sense as are the other centres. Its petals are composed of 96 lesser petals or units of force (48 + 48 = 96) but these do not assume the flower shape of the other lotuses. They spread out like the wings of an airplane to the right and left of the head, and are symbolic of the right hand path and the left hand path, of the way of matter and the way of spirit. They constitute symbolically, therefore, the two [150] arms of the Cross upon which the man is crucified—two streams of energy or light placed athwart the stream of life descending from the monad to the base of the spine and passing through the head.

h. Trung tâm này, chỉ có hai cánh hoa thực sự, không phải là một hoa sen đích thực theo cùng ý nghĩa như các trung tâm khác. Các cánh hoa của nó được cấu thành bởi 96 cánh hoa nhỏ hơn hay đơn vị lực (48 + 48 = 96) nhưng chúng không mang hình dạng hoa như các hoa sen khác. Chúng xòe ra như cánh của một chiếc máy bay về bên phải và bên trái đầu, và là biểu tượng của chánh đạo và tả đạo, của con đường vật chất và con đường tinh thần. Vì vậy, về mặt biểu tượng, chúng cấu thành hai [150] cánh tay của Thập Giá mà trên đó con người bị đóng đinh—hai dòng năng lượng hay ánh sáng đặt ngang qua dòng sự sống đi xuống từ chân thần đến đáy cột sống và đi qua đầu.

The idea of relativity is one that must ever be held in mind as the student seeks to comprehend the centres, interiorly related within the etheric body, related at the same time to the subtler bodies, to the states of consciousness which are synonymous to states of being and of expression, to ray energies, to environing conditions, to the three periodical vehicles (as H. P. B. calls the personality, the threefold soul and the Spiritual Triad), to Shamballa and to the totality of manifested Lives. The complexity of the subject is extreme, but when the disciple or initiate is functioning in the three worlds and the various energies of the whole man are “grounded” in the earthbound man, then the situation becomes clearer. I use the expression “grounded” in its true and correct sense, and not as the description of a man who has discarded his physical body as the spiritualists use the term. Certain recognitions in time and space become possible; certain effects can be noted, certain ray influences appear more dominant than others; certain “patterns of being” appear; an expression of a spiritual Being at a certain point of conscious experience emerges into clarity and can then be spiritually diagnosed. Its aspects and attributes, its forces and energies, can be determined at that time and for a particular created expression of life. This must be borne in mind, and the thoughts of the student must not be permitted to rove too far afield but must be concentrated upon the appearance of the man (himself or another) and upon the emerging quality. When that student is a disciple or an initiate, he will be able also to study the life aspect.

Ý tưởng về tính tương đối là điều mà đạo sinh phải luôn ghi nhớ khi tìm cách thấu hiểu các trung tâm, vốn liên hệ nội tại bên trong thể dĩ thái, đồng thời liên hệ với các thể vi tế hơn, với các trạng thái tâm thức đồng nghĩa với các trạng thái hiện hữu và biểu lộ, với các năng lượng cung, với các điều kiện chung quanh, với ba vận cụ chu kỳ (như H. P. B. gọi phàm ngã, linh hồn tam phân và Tam Nguyên Tinh Thần), với Shamballa và với tổng thể các Sự Sống đã biểu hiện. Tính phức tạp của đề tài này là cực độ, nhưng khi đệ tử hay điểm đạo đồ đang hoạt động trong ba cõi giới và các năng lượng khác nhau của toàn thể con người được “nối đất” trong con người bị ràng buộc vào đất, thì tình hình trở nên rõ ràng hơn. Tôi dùng từ “nối đất” theo ý nghĩa chân chính và đúng đắn của nó, chứ không phải như cách các nhà thần linh học dùng để mô tả một người đã bỏ thể xác của mình. Một số sự nhận biết trong thời gian và không gian trở nên khả hữu; một số hiệu quả có thể được ghi nhận, một số ảnh hưởng cung xuất hiện trội hơn những ảnh hưởng khác; một số “mô hình hiện hữu” xuất hiện; một biểu hiện của một Hữu thể tinh thần tại một điểm kinh nghiệm hữu thức nhất định nổi lên rõ ràng và khi ấy có thể được chẩn đoán một cách tinh thần. Các phương diện và thuộc tính, các lực và năng lượng của nó, có thể được xác định vào lúc đó và đối với một biểu hiện sự sống được sáng tạo cụ thể. Điều này phải được ghi nhớ, và tư tưởng của đạo sinh không được phép lang thang quá xa mà phải tập trung vào vẻ ngoài của con người (chính y hay người khác) và vào phẩm tính đang xuất hiện. Khi đạo sinh ấy là một đệ tử hay một điểm đạo đồ, y cũng sẽ có thể nghiên cứu phương diện sự sống.

[151]

[151]

Our study will, however, be somewhat different, for we shall attempt to discover the diseases and difficulties incident to the energy stimulation or the lack of stimulation of the centres, and so arrive at some of the effects which this energy inflow and conflict with forces will produce.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu của chúng ta sẽ có phần khác đi, vì chúng ta sẽ cố gắng khám phá các bệnh tật và khó khăn phát sinh từ sự kích thích năng lượng hay sự thiếu kích thích của các trung tâm, và nhờ đó đi đến một số hiệu quả mà dòng năng lượng tuôn vào này và sự xung đột với các lực sẽ tạo ra.

3. The Throat Centre. This centre is to be found at the back of the neck, reaching up into the medulla oblongata, thus involving the carotid gland, and down towards the shoulder blades. It is an exceedingly powerful and well developed centre where average humanity is concerned. It is interesting to note in this connection that

3. Trung Tâm Cổ Họng. Trung tâm này nằm ở phía sau cổ, vươn lên vào hành tủy, do đó bao gồm tuyến cảnh, và kéo xuống về phía hai xương bả vai. Đây là một trung tâm cực kỳ mạnh mẽ và phát triển tốt nơi nhân loại trung bình. Điều đáng chú ý trong mối liên hệ này là

a. The throat centre is ruled by Saturn just as the two head centres are ruled respectively by Uranus (ruling the head centre) and Mercury (ruling the ajna centre). This is only where the disciple is concerned; the rulership changes after the third initiation or before the first. These three planets constitute a most interesting triangle of forces and in the following triplicities and their inevitable inter-relations you have—again only in the case of disciples—a most amazing picture story or symbol of the ninefold of initiation:

a. Trung tâm cổ họng do Sao Thổ cai quản cũng như hai trung tâm đầu lần lượt do Sao Thiên Vương (cai quản trung tâm đầu) và Sao Thủy (cai quản trung tâm ajna) cai quản. Điều này chỉ đúng trong trường hợp đệ tử; sự cai quản thay đổi sau lần điểm đạo thứ ba hoặc trước lần điểm đạo thứ nhất. Ba hành tinh này tạo thành một tam giác lực rất đáng chú ý và trong các bộ ba sau đây cùng những tương liên tất yếu của chúng, bạn có—một lần nữa chỉ trong trường hợp các đệ tử—một bức tranh biểu tượng hết sức kỳ diệu về tính cửu phân của điểm đạo:

1. The head centre

1. Trung tâm đầu

The ajna centre

Trung tâm ajna

The throat centre

Trung tâm cổ họng

2. The third eye

2. Con mắt thứ ba

The right eye

Mắt phải

The left eye

Mắt trái

3. The pineal gland

3. Tuyến tùng quả

The pituitary body

Thể tuyến yên

The carotid gland

Tuyến cảnh

thus presenting the mechanism through which the Spiritual Triad, the soul and the personality work. [152] The key to a right understanding of process lies in the relation of the three planets: Uranus, Mercury and Saturn, as they pour their energies through these nine “points of spiritual contact” upon the physical plane into the “grounded sphere of light and power which is the man in time and space.”

như thế trình bày bộ máy mà qua đó Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn và phàm ngã hoạt động. [152] Chìa khóa để thấu hiểu đúng tiến trình nằm trong mối liên hệ của ba hành tinh: Sao Thiên Vương, Sao Thủy và Sao Thổ, khi chúng tuôn các năng lượng của mình qua chín “điểm tiếp xúc tinh thần” này trên cõi hồng trần vào “khối cầu ánh sáng và quyền năng đã được nối đất, tức là con người trong thời gian và không gian.”

b. This centre is related to the first initiation and develops great activity when that point in experience is achieved, as it has been achieved by the vast majority of men who are at this time the aspirants and the probationary disciples of the world. (Forget not that, technically speaking, the first major initiation from the hierarchical angle is the third. The first initiation is regarded by the Masters as signifying admission to the Path. It is called an initiation, by humanity, because in Lemurian days, it was then the first initiation, signifying entrance into complete physical control). It is the organ for the distribution of creative energy, of the energy of the third aspect by souls at the above point of evolution. There are three centres in the human being which are related to and the major expression of the third ray or aspect at certain differing stages of development upon the path:

b. Trung tâm này liên hệ với lần điểm đạo thứ nhất và phát triển hoạt động mạnh khi điểm kinh nghiệm đó đạt được, như đã được đạt tới bởi đại đa số những người nam và nữ hiện nay là những người chí nguyện và các đệ tử dự bị của thế giới. (Đừng quên rằng, nói theo kỹ thuật, lần điểm đạo lớn đầu tiên theo góc nhìn của Thánh đoàn là lần thứ ba. Lần điểm đạo thứ nhất được các Chân sư xem là biểu thị sự gia nhập vào Con Đường. Nó được nhân loại gọi là một lần điểm đạo vì trong thời Lemuria, khi ấy đó là lần điểm đạo thứ nhất, biểu thị sự bước vào sự kiểm soát thể xác hoàn toàn). Nó là cơ quan để phân phối năng lượng sáng tạo, năng lượng của phương diện thứ ba bởi các linh hồn ở điểm tiến hoá nói trên. Có ba trung tâm trong con người liên hệ với và là biểu hiện chính của cung ba hay phương diện thứ ba ở những giai đoạn phát triển khác nhau trên đường đạo:

1. The sacral centre for the undeveloped and the average man.

1. Trung tâm xương cùng dành cho người chưa phát triển và người trung bình.

2. The throat centre for the aspirant and probationary disciple.

2. Trung tâm cổ họng dành cho người chí nguyện và đệ tử dự bị.

3. The ajna centre for disciples and initiates.

3. Trung tâm ajna dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ.

Here again you have a great triplicity of energies, containing great potencies today, owing to the fact that the expression of the third aspect of active intelligence [153] has reached such heights through human development and consciousness.

Ở đây một lần nữa bạn có một bộ ba lớn của các năng lượng, chứa đựng những tiềm lực lớn lao ngày nay, do sự kiện rằng biểu hiện của phương diện thứ ba là trí tuệ linh hoạt [153] đã đạt đến những đỉnh cao như thế qua sự phát triển và tâm thức của nhân loại.

c. It is related to the personality by the creative thread, to the soul by the thread of consciousness, and to the monad by the sutratma or life thread. It is not related to any of the divine aspects by the antahkarana because that thread which links monad and personality directly (and finally independently of the soul) simply anchors the monadic expression of life in the head, at the head centre. Then direct consciousness is established between the monad and the personality, and a great duality comes into being. Life, consciousness and form are then all focussed creatively and actively in the head, and their activity is directed from the head via the two head centres. The ajna centre only comes into creative activity when the antahkarana has been built. In the earlier stages it is the throat centre which is the creative agent, and in the earliest period of all the sacral centre is active. You have, however, one interesting thing to remember. The building of the antahkarana only becomes genuinely possible when the creative life of the aspirant shifts from the sacral centre into the throat and is becoming factual and expressive. Of this connecting “bridge,” the neck itself is the symbol, as it relates the head—alone and isolated—to the dual torso, consisting of that which lies above the diaphragm and that which lies below—the symbol of the soul and the personality united, fused and blended into one. The head is the symbol of what Patanjali describes as the state of “isolated unity.”

c. Nó liên hệ với phàm ngã qua sợi dây sáng tạo, với linh hồn qua Sợi dây Tâm thức, và với chân thần qua sutratma hay sinh mệnh tuyến. Nó không liên hệ với bất kỳ phương diện thiêng liêng nào qua antahkarana bởi vì sợi dây nối kết trực tiếp chân thần và phàm ngã (và cuối cùng độc lập với linh hồn) chỉ đơn giản neo giữ biểu hiện sự sống chân thần trong đầu, tại trung tâm đầu. Khi ấy tâm thức trực tiếp được thiết lập giữa chân thần và phàm ngã, và một nhị nguyên tính lớn xuất hiện. Sự sống, tâm thức và hình tướng khi ấy đều được tập trung một cách sáng tạo và linh hoạt trong đầu, và hoạt động của chúng được điều khiển từ đầu qua hai trung tâm đầu. Trung tâm ajna chỉ đi vào hoạt động sáng tạo khi antahkarana đã được xây dựng. Trong các giai đoạn sớm hơn, chính trung tâm cổ họng là tác nhân sáng tạo, và trong thời kỳ sớm nhất thì trung tâm xương cùng hoạt động. Tuy nhiên, có một điều thú vị bạn cần nhớ. Việc xây dựng antahkarana chỉ thực sự trở nên khả hữu khi đời sống sáng tạo của người chí nguyện chuyển từ trung tâm xương cùng lên cổ họng và đang trở nên thực tế và biểu lộ. Chính cổ là biểu tượng của “cây cầu” nối kết này, vì nó liên hệ cái đầu—đơn độc và cô lập—với thân mình nhị phân, gồm phần ở trên cơ hoành và phần ở dưới—biểu tượng của linh hồn và phàm ngã được hợp nhất, dung hợp và hòa trộn thành một. Cái đầu là biểu tượng của điều mà Patanjali mô tả là trạng thái “Hợp Nhất Cô Lập.”

d. It is the centre through which the intelligence aspect of humanity focusses creatively. It is therefore the [154] centre through which the creative energy of that great planetary centre called Humanity flows. The three major planetary centres are Shamballa, Hierarchy and Humanity. When perfection has been achieved, the Shamballa energy of will, power and purpose will pour freely through the head centre, the love-wisdom energies of the Hierarchy will flow through the heart centre, and the energy of humanity will focus through the throat centre, with the ajna centre acting as the agent of all three. Then will take place a new activity on the part of mankind. It is the task of relating the three superhuman kingdoms to the three subhuman kingdoms, and thus establishing the new heavens and the new earth. Then humanity will have reached the summit of its evolutionary goal on this Earth.

d. Nó là trung tâm mà qua đó phương diện trí tuệ của nhân loại tập trung một cách sáng tạo. Vì vậy, nó là [154] trung tâm mà qua đó năng lượng sáng tạo của đại trung tâm hành tinh gọi là Nhân Loại tuôn chảy. Ba trung tâm hành tinh chính là Shamballa, Thánh đoàn và Nhân Loại. Khi sự hoàn thiện đã đạt được, năng lượng ý chí, quyền năng và mục đích của Shamballa sẽ tuôn chảy tự do qua trung tâm đầu, các năng lượng bác ái-minh triết của Thánh đoàn sẽ chảy qua trung tâm tim, và năng lượng của nhân loại sẽ tập trung qua trung tâm cổ họng, với trung tâm ajna hoạt động như tác nhân của cả ba. Khi ấy một hoạt động mới nơi nhân loại sẽ diễn ra. Đó là nhiệm vụ liên hệ ba giới siêu nhân với ba giới hạ nhân, và nhờ đó thiết lập trời mới và đất mới. Khi ấy nhân loại sẽ đạt tới đỉnh cao của mục tiêu tiến hoá của mình trên Trái Đất này.

e. The throat centre is the organ specifically of the creative WORD. It registers the intention or creative purpose of the soul, transmitted to it by the inflow of energy from the ajna centre; the fusion of the two energies, thus brought about, will lead to some type of creative activity. This is the higher correspondence to the creativity of the sacral centre. In that centre the negative and the positive creative energies are embodied in the separate male and female organisms and are brought into relation in an act of creation, consciously undertaken, though as yet without much definite purpose.

e. Trung tâm cổ họng là cơ quan đặc biệt của LINH TỪ sáng tạo. Nó ghi nhận ý định hay mục đích sáng tạo của linh hồn, được truyền đến nó bởi dòng năng lượng tuôn vào từ trung tâm ajna; sự dung hợp của hai năng lượng, do đó được tạo ra, sẽ dẫn đến một loại hoạt động sáng tạo nào đó. Đây là sự tương ứng cao hơn với tính sáng tạo của trung tâm xương cùng. Trong trung tâm đó, các năng lượng sáng tạo âm và dương được thể hiện trong các cơ thể nam và nữ riêng biệt và được đưa vào liên hệ trong một hành vi sáng tạo, được thực hiện một cách có ý thức, dù cho đến nay vẫn chưa có nhiều mục đích xác định.

f. The dense physical externalisation of this centre is the thyroid gland. This gland is regarded as of supreme importance in the well-being of the average human being of today. Its purpose is to guard health, to balance the bodily equilibrium in certain important aspects of the physical nature, and it symbolises [155] the third aspect of intelligence and of substance impregnated with mind. It is in reality connected with the Holy Ghost, or the third divine aspect in manifestation, “overshadowing” (as the Bible expresses it), the Mother, the Virgin Mary. The parathyroids are symbolic of Mary and Joseph and the relation they hold to the overshadowing Holy Ghost. It will eventually be determined that there is a close physiological relation existing between the thyroid gland and the pineal gland, and between the parathyroids and the two lobes of the pituitary body, thus bringing into one related system the entire area of the throat and of the head.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của trung tâm này là tuyến giáp trạng. Tuyến này được xem là có tầm quan trọng tối cao đối với sự an lành của con người trung bình ngày nay. Mục đích của nó là bảo vệ sức khỏe, quân bình trạng thái cân bằng của cơ thể trong một số phương diện quan trọng của bản chất hồng trần, và nó tượng trưng cho [155] phương diện thứ ba của trí tuệ và của chất liệu được thấm nhuần bởi trí tuệ. Thực ra nó liên hệ với Chúa Thánh Thần, hay phương diện thiêng liêng thứ ba trong biểu hiện, “phủ bóng” (như Kinh Thánh diễn tả) lên Mẹ, Đức Trinh Nữ Mary. Các tuyến cận giáp tượng trưng cho Mary và Joseph và mối liên hệ mà họ giữ với Chúa Thánh Thần đang phủ bóng. Rốt cuộc người ta sẽ xác định được rằng có một mối liên hệ sinh lý chặt chẽ giữa tuyến giáp trạng và tuyến tùng quả, cũng như giữa các tuyến cận giáp và hai thùy của thể tuyến yên, nhờ đó đưa toàn bộ vùng cổ họng và đầu vào trong một hệ thống liên hệ thống nhất.

g. Just as the head symbolises the essentially dualistic nature of the manifested God, so the throat centre symbolises the triple nature of the divine expression. The dualistic nature appears fused and blended in the head in the relation between the two centres and their two dense physical reflections. The three great energies which are brought into play during the divine creative activity are unified in activity by the full expression of the energy flowing through the throat centre, through the apparatus of speech and the two lungs. You have in this relation: Life or Breath, the Word or the Soul, and the throat centre of Substance in activity.

g. Cũng như đầu tượng trưng cho bản chất nhị nguyên tính cốt yếu của Thượng đế biểu hiện, thì trung tâm cổ họng tượng trưng cho bản chất tam phân của biểu hiện thiêng liêng. Bản chất nhị nguyên tính xuất hiện được dung hợp và hòa trộn trong đầu qua mối liên hệ giữa hai trung tâm và hai phản ánh hồng trần đậm đặc của chúng. Ba năng lượng lớn được đưa vào hoạt động trong suốt hoạt động sáng tạo thiêng liêng được hợp nhất trong hoạt động nhờ sự biểu lộ trọn vẹn của năng lượng tuôn qua trung tâm cổ họng, qua bộ máy phát âm và hai lá phổi. Trong mối liên hệ này bạn có: Sự sống hay Hơi thở, Linh từ hay Linh hồn, và trung tâm cổ họng của Chất liệu trong hoạt động.

h. This lotus of the throat is inverted in the early stages of evolution, and its petals reach out towards the shoulders and include the two lungs or parts of them. During the life cycle of the soul, it slowly reverses itself, and its petals then reach out towards the two ears and include the medulla oblongata and the carotid gland. This gland is more closely related [156] to the thyroid gland than it is to the two other glands in the head.

h. Hoa sen cổ họng này bị đảo ngược trong các giai đoạn đầu của tiến hoá, và các cánh hoa của nó vươn ra về phía hai vai và bao gồm hai lá phổi hay các phần của chúng. Trong chu kỳ sống của linh hồn, nó từ từ tự đảo lại, và khi ấy các cánh hoa của nó vươn ra về phía hai tai và bao gồm hành tủy cùng tuyến cảnh. Tuyến này liên hệ mật thiết hơn [156] với tuyến giáp trạng hơn là với hai tuyến kia trong đầu.

Thus it will be apparent to you how whole areas of the physical organism can be brought into active and correct functioning, can be vitalised and kept in good and true condition by the activity in some form or another of the centre nearest to the area of the body under consideration. It will also be apparent to you that deficiency and disease can result from the inactivity of a centre.

Như vậy, bạn sẽ thấy rõ làm thế nào toàn bộ các vùng của cơ thể hồng trần có thể được đưa vào hoạt động đúng đắn và linh hoạt, có thể được tiếp sinh lực và được giữ trong tình trạng tốt và đúng đắn nhờ hoạt động dưới hình thức nào đó của trung tâm gần nhất với vùng cơ thể đang được xem xét. Bạn cũng sẽ thấy rõ rằng sự thiếu hụt và bệnh tật có thể phát sinh từ sự bất hoạt của một trung tâm.

4. The Heart Centre. This is located between the shoulder blades and is—in this day and age—the centre which is receiving the most attention from Those Who are responsible for the unfoldment of the human consciousness. It might be truly said, brother of mine, that the rapid unfoldment of this lotus is one of the reasons why the world war could not be avoided. In one sense, it was a necessary happening (given the blind selfishness of the bulk of humanity) because it had become necessary to do away with all the old forms of government, of religion and of the crystallised social order. Humanity has now reached a point of group awareness and of group interplay of a deeply spiritual kind, and new forms were required through which this new spirit could function more adequately.

4. Trung Tâm Tim. Trung tâm này nằm giữa hai xương bả vai và—trong thời đại hiện nay—là trung tâm đang nhận được nhiều sự chú ý nhất từ Các Ngài chịu trách nhiệm về sự khai mở tâm thức nhân loại. Có thể nói thật rằng, huynh đệ của tôi, sự khai mở nhanh chóng của hoa sen này là một trong những lý do khiến chiến tranh thế giới không thể tránh khỏi. Theo một nghĩa nào đó, đó là một biến cố cần thiết (xét đến sự ích kỷ mù quáng của phần lớn nhân loại) vì đã trở nên cần thiết phải loại bỏ mọi hình thức cũ của chính quyền, tôn giáo và trật tự xã hội đã kết tinh. Nhân loại hiện nay đã đạt tới một điểm của nhận thức nhóm và tương tác nhóm mang tính tinh thần sâu sắc, và cần có những hình thức mới để tinh thần mới này có thể hoạt động một cách thích đáng hơn.

a. The heart centre corresponds to the “heart of the Sun,” and therefore to the spiritual source of light and love.

a. Trung tâm tim tương ứng với “trái tim của Mặt Trời,” và do đó với nguồn tinh thần của ánh sáng và tình thương.

b. It is brought into functioning activity after the second initiation. That initiation marks the completion of the process whereby the emotional nature (with its outstanding quality of desire) is brought under soul control, and the desire of the personal lower self has been transmuted into love. It is the organ for the distribution of hierarchical energy, poured out [157] via the soul into the heart centre of all aspirants, disciples and initiates; in this way this energy is made available and brings about two results:

b. Nó được đưa vào hoạt động chức năng sau lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo đó đánh dấu sự hoàn tất của tiến trình mà qua đó bản chất cảm xúc (với phẩm tính nổi bật là dục vọng) được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, và dục vọng của phàm ngã thấp đã được chuyển hoá thành tình thương. Nó là cơ quan để phân phối năng lượng của Thánh đoàn, được tuôn đổ [157] qua linh hồn vào trung tâm tim của mọi người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ; bằng cách này năng lượng ấy được làm cho khả dụng và đem lại hai kết quả:

1. The regeneration of humanity through love.

1. Sự tái sinh của nhân loại qua tình thương.

2. The relationship, firmly established, between a rapidly developing humanity and the Hierarchy. In this way two great planetary centres—the Hierarchy and Humanity—are brought into a close contact and relationship.

2. Mối liên hệ, được thiết lập vững chắc, giữa một nhân loại đang phát triển nhanh chóng và Thánh đoàn. Bằng cách này hai trung tâm hành tinh lớn—Thánh đoàn và Nhân Loại—được đưa vào sự tiếp xúc và liên hệ mật thiết.

As the Bible says: “the love of God is shed abroad” in the human heart, and its transforming, magnetic and radiatory power is essential for the reconstruction of the world and for the establishment of the new world order. Upon the unfoldment of the heart centre, and on an intelligent relation of mankind to the Hierarchy, with the consequent response of man to the energy of love, all disciples are asked at this time to ponder and reflect, for as a “man thinketh in his heart, so is he.” Thinking in the heart becomes truly possible only when the mental faculties have been adequately developed and have reached a fairly high stage of unfoldment. Feeling in the heart is often confused with thinking. The ability to think in the heart is the result of the process of transmuting desire into love during the task of elevating the forces of the solar plexus into the heart centre. Heart thinking is also one of the indications that the higher aspect of the heart centre, the twelve-petalled lotus found at the very centre of the thousand-petalled lotus, has reached a point of real activity. Thinking as a result of correct feeling is then substituted for personal sensitivity. It gives us the first faint indications, likewise, of [158] that state of being which is characteristic of the monad and which cannot be called consciousness—as we understand the term.

Như Kinh Thánh nói: “tình thương của Thượng đế được tuôn đổ rộng khắp” trong tim con người, và quyền năng chuyển đổi, từ tính và phóng xạ của nó là điều thiết yếu cho việc tái thiết thế giới và cho việc thiết lập trật tự thế giới mới. Về sự khai mở của trung tâm tim, và về mối liên hệ thông minh của nhân loại với Thánh đoàn, cùng với sự đáp ứng tất yếu của con người đối với năng lượng tình thương, mọi đệ tử hiện nay đều được yêu cầu suy ngẫm và phản tỉnh, vì “con người nghĩ trong tim mình thế nào, y là như vậy.” Suy nghĩ trong tim chỉ thực sự trở nên khả hữu khi các năng lực trí tuệ đã được phát triển đầy đủ và đã đạt tới một giai đoạn khai mở khá cao. Cảm nhận trong tim thường bị lẫn lộn với suy nghĩ. Khả năng suy nghĩ trong tim là kết quả của tiến trình chuyển hoá dục vọng thành tình thương trong công việc nâng các lực của tùng thái dương lên trung tâm tim. Suy nghĩ bằng tim cũng là một trong những dấu hiệu cho thấy phương diện cao hơn của trung tâm tim, hoa sen mười hai cánh nằm ngay tại trung tâm của hoa sen ngàn cánh, đã đạt tới một điểm hoạt động thực sự. Khi ấy suy nghĩ như là kết quả của cảm nhận đúng đắn được thay thế cho tính nhạy cảm cá nhân. Nó cũng cho chúng ta những chỉ dấu mờ nhạt đầu tiên về [158] trạng thái hiện hữu vốn là đặc trưng của chân thần và không thể được gọi là tâm thức—như chúng ta hiểu thuật ngữ ấy.

c. The heart centre becomes essentially related to the personality when the process of alignment with the soul is being mastered. This process is today being taught in all the newer and sounder esoteric schools, and has been emphasised in The Arcane School from the start; it is that procedure (distinguished by right orientation, concentration and meditation) which relates the personality to the soul, and thus to the Hierarchy. Relationship to the Hierarchy automatically takes place as this alignment goes forward and direct soul contact is thereby established. Personality consciousness is superseded by group consciousness, and the inflow of hierarchical energy follows as a natural consequence, for all souls are only aspects of the Hierarchy. It is this established relationship, with its subsequent interplay (magnetic and radiatory), which brings about the final destruction of the soul body or causal body as the relationship reaches its highest point of intensified recognition.

c. Trung tâm tim trở nên liên hệ cốt yếu với phàm ngã khi tiến trình chỉnh hợp với linh hồn đang được làm chủ. Tiến trình này hiện nay đang được giảng dạy trong tất cả các trường nội môn mới hơn và lành mạnh hơn, và đã được nhấn mạnh trong Trường Arcane ngay từ đầu; đó là thủ tục (được phân biệt bởi định hướng đúng, tập trung và tham thiền) liên hệ phàm ngã với linh hồn, và nhờ đó với Thánh đoàn. Mối liên hệ với Thánh đoàn tự động diễn ra khi sự chỉnh hợp này tiến triển và nhờ đó sự tiếp xúc trực tiếp với linh hồn được thiết lập. Tâm thức phàm ngã được thay thế bằng tâm thức nhóm, và dòng năng lượng của Thánh đoàn tuôn vào theo như một hệ quả tự nhiên, vì mọi linh hồn chỉ là các phương diện của Thánh đoàn. Chính mối liên hệ đã được thiết lập này, cùng với sự tương tác tiếp theo của nó (từ tính và phóng xạ), đem lại sự hủy diệt cuối cùng của thể linh hồn hay thể nguyên nhân khi mối liên hệ ấy đạt tới điểm cao nhất của sự nhận biết được tăng cường.

d. It is that centre, therefore, in the physical body through the medium of which the Hierarchy works; it is also the agent of the soul. When I here use the word “soul” I refer not only to the individual soul of man but to the soul also of the planetary Logos, both of which are the result of the union of spirit and matter, of the Father aspect and the Mother aspect. This is a great mystery which only initiation can reveal.

d. Vì vậy, đó là trung tâm trong thể xác mà qua trung gian của nó Thánh đoàn hoạt động; nó cũng là tác nhân của linh hồn. Khi ở đây tôi dùng từ “linh hồn” tôi không chỉ nói đến linh hồn cá nhân của con người mà còn nói đến linh hồn của Hành Tinh Thượng đế, cả hai đều là kết quả của sự hợp nhất giữa tinh thần và vật chất, giữa phương diện Cha và phương diện Mẹ. Đây là một huyền nhiệm lớn mà chỉ điểm đạo mới có thể mặc khải.

e. The heart centre registers the energy of love. It might here be stated that when the antahkarana has been finally constructed, the three aspects of the [159] Spiritual Triad will each find a point of contact within the etheric mechanism of the initiate who is functioning upon the physical plane. The initiate is now a fusion of soul and personality through which the full life of the monad can be poured.

e. Trung tâm tim ghi nhận năng lượng của tình thương. Ở đây có thể nói rằng khi antahkarana cuối cùng đã được kiến tạo, mỗi một trong ba phương diện của [159] Tam Nguyên Tinh Thần sẽ tìm được một điểm tiếp xúc trong bộ máy dĩ thái của điểm đạo đồ đang hoạt động trên cõi hồng trần. Điểm đạo đồ lúc này là một sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã mà qua đó sự sống trọn vẹn của chân thần có thể được tuôn đổ.

1. The head centre becomes the point of contact for the spiritual will, Atma.

1. Trung tâm đầu trở thành điểm tiếp xúc cho ý chí tinh thần, Atma.

2. The heart centre becomes the agent for spiritual love, Buddhi.

2. Trung tâm tim trở thành tác nhân cho tình thương tinh thần, Bồ đề.

3. The throat centre becomes the expression of the universal mind, Manas.

3. Trung tâm cổ họng trở thành biểu hiện của Vũ Trụ Trí, Manas.

In the work of the initiate, as he works out the divine purpose according to the plan, the ajna centre becomes the directing agent or the distributor of the blended energies of the divine man. The heart centre corresponds to “solar fire” within the solar system, and is magnetic in quality and radiatory in activity. It is the organ of the energy which brings about inclusiveness.

Trong công việc của điểm đạo đồ, khi y thực hiện mục đích thiêng liêng theo Thiên Cơ, trung tâm ajna trở thành tác nhân điều khiển hay phân phối các năng lượng đã được hòa trộn của con người thiêng liêng. Trung tâm tim tương ứng với “Lửa Thái dương” trong hệ mặt trời, và có phẩm tính từ tính cùng hoạt động phóng xạ. Nó là cơ quan của năng lượng đem lại tính bao gồm.

f. Its dense physical externalisation is the thymus gland. Of this gland little is known at present, though much will be learned as investigators accept and experiment with the hypotheses which the occult sciences present, and as the heart centre develops and the thymus gland is returned to adult functioning activity. This is not as yet the case. The nature of its secretion is not yet established, and the effects of this gland are better known from their psychological angle than from the physical. Modern psychology, when allied to medicine, recognises that this gland when overactive will produce the irresponsible and amoral person. As the race of men learns the nature of responsibility we shall have [160] the first indications of soul alignment, of personality decentralisation and of group awareness, and then—paralleling this development—we shall find the thymus gland becoming correctly active. At present, the general imbalance of the endocrine system militates against the safe and full functioning of the thymus gland in the adult. There is as yet an unrecognised relation existing between the pineal gland and the thymus gland, as well as between both of these and the centre at the base of the spine. As the Spiritual Triad becomes active through the medium of the personality, these three centres and their three externalisations will work in synthesis, governing and directing the whole man. As the pineal gland is returned to full adult functioning (as is not the case with adult man) the divine will-to-good will make itself felt and divine purpose be achieved; when the thymus gland similarly becomes active in the adult, goodwill will become apparent and the divine plan will begin to work out. This is the first step towards love, right human relations and peace. This goodwill is already making its presence felt in the world today, indicating the coming into activity of the heart centre, and proving that the heart centre in the head is beginning to unfold as a result of the growing activity of the heart centre up the spine.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của nó là tuyến ức. Hiện nay người ta biết rất ít về tuyến này, dù sẽ học được nhiều khi các nhà nghiên cứu chấp nhận và thử nghiệm các giả thuyết mà các khoa học huyền bí trình bày, và khi trung tâm tim phát triển cùng tuyến ức được phục hồi vào hoạt động chức năng nơi người trưởng thành. Điều này hiện chưa phải như vậy. Bản chất của sự tiết xuất của nó vẫn chưa được xác lập, và các hiệu quả của tuyến này được biết đến rõ hơn từ góc độ tâm lý học hơn là từ góc độ thể chất. Tâm lý học hiện đại, khi kết hợp với y học, thừa nhận rằng tuyến này khi hoạt động quá mức sẽ tạo ra con người vô trách nhiệm và phi đạo đức. Khi nhân loại học được bản chất của trách nhiệm, chúng ta sẽ có [160] những chỉ dấu đầu tiên của sự chỉnh hợp với linh hồn, của sự phi tập trung vào bản thân nơi phàm ngã và của nhận thức nhóm, và khi ấy—song song với sự phát triển này—chúng ta sẽ thấy tuyến ức trở nên hoạt động đúng đắn. Hiện nay, sự mất quân bình chung của hệ nội tiết cản trở hoạt động an toàn và trọn vẹn của tuyến ức nơi người trưởng thành. Hiện vẫn còn một mối liên hệ chưa được nhận biết giữa tuyến tùng quả và tuyến ức, cũng như giữa cả hai tuyến này với trung tâm ở đáy cột sống. Khi Tam Nguyên Tinh Thần trở nên linh hoạt qua trung gian của phàm ngã, ba trung tâm này và ba sự ngoại hiện của chúng sẽ hoạt động trong tổng hợp, cai quản và điều khiển toàn thể con người. Khi tuyến tùng quả được phục hồi vào hoạt động trọn vẹn nơi người trưởng thành (điều hiện không xảy ra nơi người trưởng thành), Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng sẽ tự làm cho được cảm nhận và mục đích thiêng liêng sẽ được hoàn thành; khi tuyến ức cũng trở nên linh hoạt tương tự nơi người trưởng thành, thiện chí sẽ trở nên hiển nhiên và Thiên Cơ thiêng liêng sẽ bắt đầu được thực hiện. Đây là bước đầu tiên hướng tới tình thương, các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và hòa bình. Thiện chí này đã bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong thế giới ngày nay, cho thấy trung tâm tim đang đi vào hoạt động, và chứng minh rằng trung tâm tim trong đầu đang bắt đầu khai mở như là kết quả của hoạt động ngày càng tăng của trung tâm tim dọc theo cột sống.

g. It is the organ of fusion, just as the head centre is the organ of synthesis. As the heart centre becomes active, the individual aspirant is slowly drawn into an increasingly closer relation to his soul, and then two expansions of consciousness take place which are interpreted by him as events or happenings:[161]

g. Nó là cơ quan của sự dung hợp, cũng như trung tâm đầu là cơ quan của sự tổng hợp. Khi trung tâm tim trở nên linh hoạt, người chí nguyện cá nhân từ từ được kéo vào một mối liên hệ ngày càng mật thiết hơn với linh hồn của y, và khi ấy hai sự mở rộng tâm thức diễn ra mà y diễn giải như những biến cố hay sự kiện:[161]

1. He is drawn into the Ashram of one of the Masters, according to his soul ray, and becomes an accepted disciple in the technical sense. The Master is Himself the heart centre of the Ashram and He can now reach His disciple, via the soul, because that disciple, through alignment and contact, has put his heart into close rapport with the soul. He then becomes responsive to the heart of all things which, as far as humanity is at present concerned, is the Hierarchy.

1. Y được kéo vào ashram của một trong các Chân sư, tùy theo cung linh hồn của y, và trở thành một đệ tử được chấp nhận theo nghĩa kỹ thuật. Chính Chân sư là trung tâm tim của ashram và giờ đây Ngài có thể tiếp cận đệ tử của Ngài, qua linh hồn, bởi vì đệ tử ấy, nhờ chỉnh hợp và tiếp xúc, đã đặt tim mình vào sự tương thông mật thiết với linh hồn. Khi ấy y trở nên đáp ứng với trái tim của vạn vật, mà xét theo mức độ hiện nay của nhân loại, đó là Thánh đoàn.

2. He is drawn into close service relationship with humanity. His growing sense of responsibility, due to heart activity, leads him to serve and work. Eventually he too becomes the heart of a group or of an organisation—small at first but becoming worldwide as his spiritual power develops and he thinks in terms of the group and of humanity. These two relationships on his part are reciprocal. Thus the love aspect of divinity becomes active in the three worlds, and love is anchored on earth and takes the place of emotion, of desire and of the material aspects of feeling. Note that phrase.

2. Y được kéo vào mối liên hệ phụng sự mật thiết với nhân loại. Ý thức trách nhiệm ngày càng tăng của y, do hoạt động của tim, dẫn y đến phụng sự và làm việc. Cuối cùng chính y cũng trở thành trái tim của một nhóm hay một tổ chức—lúc đầu nhỏ nhưng dần trở nên toàn cầu khi quyền năng tinh thần của y phát triển và y suy nghĩ theo nhóm và theo nhân loại. Hai mối liên hệ này về phía y là có tính tương hỗ. Như vậy phương diện bác ái của thiên tính trở nên linh hoạt trong ba cõi giới, và tình thương được neo giữ trên Trái Đất và thay thế cảm xúc, dục vọng và các phương diện vật chất của cảm nhận. Hãy lưu ý cụm từ đó.

h. In the early stages of unfoldment, of both the individual and the race, the inverted heart lotus with its twelve petals reaches downwards towards the solar plexus centre. This last centre, since Atlantean days, has been reversed, and its petals are now reaching upwards towards the next centre up the spine, the heart centre, owing to the slowly mounting energies from the solar plexus centre which are seeking to escape from the “prison of the lower regions” through a process of transmutation.

h. Trong các giai đoạn đầu của sự khai mở, của cả cá nhân lẫn nhân loại, hoa sen tim đảo ngược với mười hai cánh của nó vươn xuống dưới về phía trung tâm tùng thái dương. Trung tâm sau cùng này, kể từ thời Atlantis, đã được đảo lại, và các cánh hoa của nó hiện đang vươn lên trên về phía trung tâm kế tiếp ở phía trên dọc cột sống, tức trung tâm tim, do các năng lượng từ trung tâm tùng thái dương đang từ từ dâng lên và tìm cách thoát khỏi “nhà tù của các vùng thấp” qua một tiến trình chuyển hoá.

[162]

[162]

As a result the heart centre is beginning slowly to unfold and also to reverse itself. The reversal of the “lotus centres” is always brought about as the result of a dual action—the pushing from below and the pull from above.

Kết quả là trung tâm tim đang bắt đầu từ từ khai mở và cũng tự đảo lại. Sự đảo ngược của các “trung tâm hoa sen” luôn luôn được tạo ra như là kết quả của một tác động kép—sự đẩy từ bên dưới và sự hút từ bên trên.

The reversal of the heart lotus and its upward unfolding is due to the following factors:

Sự đảo ngược của hoa sen tim và sự khai mở hướng lên trên của nó là do các yếu tố sau:

1. The growing potency of the hierarchical approach.

1. Hiệu lực ngày càng tăng của sự tiếp cận từ Thánh đoàn.

2. A rapidly establishing soul contact.

2. Sự tiếp xúc với linh hồn đang nhanh chóng được thiết lập.

3. The response of the unfolding heart lotus to the pull of the Master’s Ashram.

3. Sự đáp ứng của hoa sen tim đang khai mở đối với lực hút của ashram của Chân sư.

4. The surging upwards of the transmuted energies from below the diaphragm, via the solar plexus, in response to spiritual will.

4. Sự dâng trào đi lên của các năng lượng đã được chuyển hoá từ bên dưới cơ hoành, qua tùng thái dương, để đáp ứng với ý chí tinh thần.

5. The growing understanding by man as to the nature of love.

5. Sự thấu hiểu ngày càng tăng của con người về bản chất của tình thương.

There are other factors but these are the ones you will most easily understand if you will regard them as symbolic and not too literally. Until the year, 1400 A.D., the relation of the solar plexus centre to the heart centre might be pictorially expressed as indicated in this diagram.*

Còn có những yếu tố khác nhưng đây là những yếu tố mà bạn sẽ dễ hiểu nhất nếu xem chúng là biểu tượng và không quá theo nghĩa đen. Cho đến năm 1400 sau Công nguyên, mối liên hệ của trung tâm tùng thái dương với trung tâm tim có thể được diễn tả bằng hình ảnh như được chỉ ra trong sơ đồ này.*

Eventually, at the close of the next root race, you will have the full expression of love and the lotuses up the spine will appear—all five of them—differing only in the number of petals found in each.

Cuối cùng, vào lúc kết thúc giống dân gốc kế tiếp, bạn sẽ có sự biểu lộ trọn vẹn của tình thương và các hoa sen dọc cột sống sẽ xuất hiện—cả năm hoa sen—chỉ khác nhau ở số cánh hoa nơi mỗi hoa.

Finally at the close of the great world cycle when all the lotuses have reversed themselves, all will be opening and presenting free channels for the inflow and the transmission of the three major divine energies and the four lesser forces.

Sau hết, vào lúc kết thúc đại chu kỳ thế giới khi mọi hoa sen đã tự đảo lại, tất cả sẽ mở ra và trình bày các kênh tự do cho sự tuôn vào và truyền dẫn của ba năng lượng thiêng liêng chính và bốn lực nhỏ hơn.

To this constant movement of the centres and to the constant inflow of energies we can trace much of the discomfort of humanity in its various bodies; it is the inability of the centres to respond or to unfold which in many cases produces disease and difficulty; it is the unbalanced unfoldment of the centres, their arrested development and their lack of response which creates problems in other cases; it is their premature unfoldment and their overactivity which in other cases brings about danger; it is the failure of the physical mechanism to measure up to the inner unfoldment which causes so much trouble. Thus again you can see the complexity of the subject. The stage of theory is a simple one, except in so far as it sets forces in motion which eventually lead to difficulty. The stage of reaction to response and of adjustment to the theory also institutes a cycle of intense difficulty and complexity, because it leads to a cycle of experiment and experience during which the disciple learns much and suffers much. Then as experience is gained, the stage of spiritual expression supervenes and freedom from danger and emancipation from difficulty and liberation from disease takes place. Simplicity is restored.[163]

Chính từ sự chuyển động liên tục này của các trung tâm và từ sự tuôn vào liên tục của các năng lượng mà chúng ta có thể truy nguyên phần lớn sự khó chịu của nhân loại trong các thể khác nhau của mình; chính sự bất lực của các trung tâm trong việc đáp ứng hay khai mở là điều trong nhiều trường hợp tạo ra bệnh tật và khó khăn; chính sự khai mở mất quân bình của các trung tâm, sự phát triển bị đình trệ và sự thiếu đáp ứng của chúng tạo ra vấn đề trong những trường hợp khác; chính sự khai mở quá sớm và hoạt động quá mức của chúng trong những trường hợp khác đem lại nguy hiểm; chính sự thất bại của bộ máy hồng trần trong việc theo kịp sự khai mở bên trong gây ra quá nhiều rắc rối. Như vậy một lần nữa bạn có thể thấy tính phức tạp của đề tài này. Giai đoạn lý thuyết là một giai đoạn đơn giản, ngoại trừ ở chỗ nó khởi động các lực mà rốt cuộc dẫn đến khó khăn. Giai đoạn phản ứng đối với sự đáp ứng và sự điều chỉnh theo lý thuyết cũng mở ra một chu kỳ khó khăn và phức tạp mãnh liệt, vì nó dẫn đến một chu kỳ thử nghiệm và kinh nghiệm trong đó đệ tử học được nhiều và chịu đau khổ nhiều. Rồi khi kinh nghiệm đã đạt được, giai đoạn của biểu hiện tinh thần xuất hiện và sự thoát khỏi nguy hiểm, sự giải phóng khỏi khó khăn và sự giải thoát khỏi bệnh tật diễn ra. Sự đơn giản được phục hồi.[163]

The Body, Phenomenal Appearance

Thể, Sắc Tướng Hiện Tượng

Not much need be written here anent this, for the body nature and the form aspect have been the object of investigation and the subject of thought and discussion of thinking men for many centuries. Much at which they have arrived is basically correct. The modern investigator will admit the Law of Analogy as the basis of his premises and recognises, sometimes, that the Hermetic theory, “As above, so below,” may throw much light on the present problems. The following postulates may serve to clarify:

Không cần viết nhiều ở đây về điều này, vì bản chất thể và phương diện hình tướng đã là đối tượng khảo cứu và là chủ đề suy tư cùng thảo luận của những người biết suy nghĩ trong nhiều thế kỷ. Phần lớn những gì họ đạt tới về căn bản là đúng. Nhà nghiên cứu hiện đại sẽ thừa nhận định luật tương đồng như nền tảng cho các tiền đề của mình và đôi khi nhận ra rằng lý thuyết Hermes, “trên sao, dưới vậy,” có thể soi sáng nhiều cho các vấn đề hiện tại. Những định đề sau đây có thể giúp làm sáng tỏ:

1. Man, in his body nature, is a sumtotal, a unity.

1. Con người, trong bản chất thể của mình, là một tổng thể, một hợp nhất.

2. This sumtotal is subdivided into many parts and organisms.

2. Tổng thể này được phân chia thành nhiều phần và cơ quan.

3. Yet these many subdivisions function in a unified manner, and the body is a correlated whole.

3. Tuy nhiên, nhiều phân bộ này hoạt động theo một cách thống nhất, và thể là một toàn thể có tương quan.

4. Each of its parts differs in form and in function, but all are interdependent.

4. Mỗi phần của nó khác nhau về hình dạng và chức năng, nhưng tất cả đều phụ thuộc lẫn nhau.

5. Each part and each organism is, in its turn, composed of molecules, cells and atoms, and these are held together in the form of the organism by the life of the sumtotal.

5. Mỗi phần và mỗi cơ quan, đến lượt mình, được cấu thành bởi các phân tử, tế bào và nguyên tử, và chúng được giữ lại với nhau trong hình tướng của cơ quan nhờ sự sống của tổng thể.

6. The sumtotal called man is roughly divided into five parts, some of greater importance than others, but all completing that living organism we call a human being.

6. Tổng thể được gọi là con người được chia đại khái thành năm phần, có phần quan trọng hơn những phần khác, nhưng tất cả đều hoàn tất cơ thể sống mà chúng ta gọi là một con người.

a. The head

a. Đầu

b. The upper torso, or that part which lies above the diaphragm.

b. Phần thân trên, hay phần nằm trên cơ hoành.

c. The lower torso, or that part lying below the diaphragm.

c. Phần thân dưới, hay phần nằm dưới cơ hoành.

d. The arms

d. Hai cánh tay

e. The legs

e. Hai chân

[164]

[164]

7. These organisms serve varied purposes, and upon their due functioning and proper adjustment the comfort of the whole depends.

7. Các cơ quan này phục vụ những mục đích khác nhau, và sự an ổn của toàn thể tùy thuộc vào chức năng đúng đắn và sự điều chỉnh thích hợp của chúng.

8. Each of these has its own life, which is the sum total of the life of its atomic structure, and is also animated by the unified life of the whole, directed from the head by the intelligent will or energy of the spiritual man.

8. Mỗi cơ quan này có sự sống riêng của nó, là tổng số sự sống của cấu trúc nguyên tử của nó, và cũng được làm sinh động bởi sự sống hợp nhất của toàn thể, được điều khiển từ đầu bởi ý chí hay năng lượng thông minh của con người tinh thần.

9. The important part of the body is that triple division, the head, upper and lower torso. A man can function and live without his arms and legs.

9. Phần quan trọng của thể là sự phân chia tam phân đó: đầu, thân trên và thân dưới. Một người có thể hoạt động và sống mà không có tay và chân.

10. Each of these three parts is also triple from the physical side, making the analogy of the three parts of man’s nature and the nine of perfected monadic life. There are other organs, but those enumerated are those which have an esoteric significance of greater value than the other parts.

10. Mỗi phần trong ba phần này cũng là tam phân xét từ phương diện hồng trần, tạo nên sự tương đồng với ba phần của bản chất con người và chín phần của sự sống chân thần hoàn thiện. Còn có những cơ quan khác, nhưng những cơ quan được liệt kê là những cơ quan có ý nghĩa huyền bí có giá trị lớn hơn các phần khác.

a. Within the head are:

a. Bên trong đầu có:

1. The five ventricles of the brain, or what we might call the brain as a unified organism.

1. Năm não thất của bộ não, hay điều mà chúng ta có thể gọi là bộ não như một cơ quan thống nhất.

2. The three glands, carotid, pineal and pituitary.

2. Ba tuyến, tuyến cảnh, tuyến tùng quả và thể tuyến yên.

3. The two eyes.

3. Hai mắt.

b. Within the upper body are:

b. Bên trong phần thân trên có:

1. The throat

1. Cổ họng

2. The lungs

2. Hai lá phổi

3. The heart

3. Tim

c. Within the lower body are:

c. Bên trong phần thân dưới có:

1. The spleen

1. Lá lách

2. The stomach

2. Dạ dày

3. The sex organs

3. Các cơ quan sinh dục

11. The sumtotal of the body is also triple:

11. Tổng thể của cơ thể cũng là tam phân:

a. The skin and bony structure. [165]

a. Da và cấu trúc xương. [165]

b. The vascular or blood system.

b. Hệ mạch hay hệ máu.

c. The threefold nervous system.

c. Hệ thần kinh tam phân.

12. Each of these triplicities corresponds to the three parts of man’s nature:

12. Mỗi bộ ba này tương ứng với ba phần của bản chất con người:

a. Physical nature: The skin and bony structure are the analogy to the dense and etheric body of man.

a. Bản chất hồng trần: Da và cấu trúc xương là sự tương đồng với thể đậm đặc và thể dĩ thái của con người.

b. Soul nature: The blood vessels and circulatory system are the analogy to that all pervading soul which penetrates to all parts of the solar system, as the blood goes to all parts of the body.

b. Bản chất linh hồn: Các mạch máu và hệ tuần hoàn là sự tương đồng với linh hồn bao trùm khắp mọi nơi, thấm nhập vào mọi phần của hệ mặt trời, như máu đi đến mọi phần của cơ thể.

c. Spirit nature: The nervous system, as it energises and acts throughout the physical man is the correspondence to the energy of spirit.

c. Bản chất tinh thần: Hệ thần kinh, khi nó tiếp năng lượng và hoạt động khắp con người hồng trần, là sự tương ứng với năng lượng của tinh thần.

13. In the head we have the analogy to the spirit aspect, the directing will, the monad, the One.

13. Trong đầu chúng ta có sự tương đồng với phương diện tinh thần, ý chí điều khiển, chân thần, Đấng Duy Nhất.

a. The brain with its five ventricles is the analogy to the physical form which the spirit animates in connection with man, the fivefold sumtotal which is the medium through which the spirit on the physical plane has to express itself.

a. Bộ não với năm não thất của nó là sự tương đồng với hình tướng hồng trần mà tinh thần làm sinh động trong mối liên hệ với con người, tổng thể ngũ phân là môi trường mà qua đó tinh thần trên cõi hồng trần phải biểu lộ chính mình.

b. The three glands in the head are closely related to the soul or psychic nature (higher and lower).

b. Ba tuyến trong đầu liên hệ mật thiết với bản chất linh hồn hay thông linh (cao và thấp).

c. The two eyes are the physical plane correspondences to the monad, who is will and love-wisdom, or atma-buddhi, according to the occult terminology.

c. Hai mắt là những tương ứng trên cõi hồng trần với chân thần, vốn là ý chí và bác ái-minh triết, hay atma-buddhi, theo thuật ngữ huyền bí.

14. In the upper body we have an analogy to the triple soul nature.

14. Trong phần thân trên, chúng ta có một sự tương đồng với bản chất tam phân của linh hồn.

a. The throat, corresponding to the third creative aspect or the body nature, the active intelligence of the soul.

a. Cổ họng, tương ứng với phương diện sáng tạo thứ ba hay bản chất thể, tức trí tuệ linh hoạt của linh hồn.

b. The heart, the love-wisdom of the soul, the buddhi or Christ principle. [166]

b. Tim, Bác Ái – Minh Triết của linh hồn, Bồ đề hay nguyên khí Christ. [166]

c. The lungs, the analogy for the breath of life, is the correspondence to spirit.

c. Phổi, sự tương đồng cho hơi thở của sự sống, là sự tương ứng với tinh thần.

15. In the lower torso again we have this triple system carried out.

15. Trong phần thân dưới, chúng ta lại có hệ thống tam phân này được triển khai.

a. The sex organs, the creative aspect, the fashioner of the body.

a. Các cơ quan sinh dục, phương diện sáng tạo, tác nhân tạo tác thể.

b. The stomach as the physical manifestation of the solar plexus is the analogy to the soul nature.

b. Dạ dày, như sự biểu hiện hồng trần của tùng thái dương, là sự tương đồng với bản chất linh hồn.

c. The spleen, the receiver of energy and therefore the physical plane expression of the centre which receives this energy, is the analogy to the energizing spirit.

c. Lá lách, cơ quan tiếp nhận năng lượng và vì vậy là biểu hiện cõi hồng trần của trung tâm tiếp nhận năng lượng này, là sự tương đồng với tinh thần tiếp sinh lực.

I realise well the technicalities which I have given here and their difficulty and apparent uselessness. It might be asked: Why should it be necessary to be so meticulous in enumerating the physical, psychological and systemic details of a purely academic nature when, by an act of the will and of divine power, and by the use of certain Words of Power, healing can be accomplished? These ideas are basically true, but are based upon a misapprehension—in time and space. If all healers were Masters of the Wisdom, if they were all clairvoyant, if they comprehended the Law of Karma and its working out in the life of the patient, if they had the full cooperation of the patient, and if they had the ability to add to all the above requirements the use of certain Words and Mantrams, then the academic knowledge would indeed be needless. But these requirements are not and can not be met. Healers, as a rule, have none of these powers. That they frequently heal (though not as often as they think they do) is true, but when successful they have succeeded in doing one or other of the following:

Tôi hiểu rõ những chi tiết kỹ thuật mà tôi đã đưa ra ở đây, cùng sự khó khăn và vẻ vô dụng bề ngoài của chúng. Có thể người ta sẽ hỏi: Tại sao lại cần phải tỉ mỉ đến thế trong việc liệt kê các chi tiết hồng trần, tâm lý và hệ thống có tính thuần học thuật, khi mà bằng một hành vi của ý chí và quyền năng thiêng liêng, cùng bằng việc sử dụng một số Quyền năng từ, sự chữa lành có thể được thực hiện? Về căn bản, các ý tưởng này là đúng, nhưng chúng dựa trên một sự hiểu sai—trong thời gian và không gian. Nếu tất cả những người chữa lành đều là các Chân sư Minh triết, nếu tất cả họ đều là nhà thông nhãn, nếu họ thấu hiểu Định luật Nghiệp quả và sự vận hành của nó trong đời sống bệnh nhân, nếu họ có được sự hợp tác trọn vẹn của bệnh nhân, và nếu họ có khả năng bổ sung vào tất cả các đòi hỏi trên việc sử dụng một số Linh từ và mantram, thì tri thức học thuật quả thật sẽ không cần thiết. Nhưng các đòi hỏi này không có và không thể được đáp ứng. Những người chữa lành, theo quy luật chung, không có năng lực nào trong số đó. Việc họ thường chữa lành được (dù không thường xuyên như họ nghĩ) là đúng, nhưng khi thành công thì họ đã thành công trong việc làm một hay việc khác trong những điều sau đây:

[167]

[167]

Healed the patient when his destiny and fate so willed it and his soul had therefore drawn its vehicle (the physical man) into the radiatory aura of a healer or a healing group. The probability is that the patient would have recovered in any case but that the process was hastened by the applied effort and attention, plus faith.

Chữa lành bệnh nhân khi định mệnh và số phận của y muốn như vậy, và do đó linh hồn của y đã kéo vận cụ của mình (con người hồng trần) vào trong hào quang phóng xạ của một người chữa lành hay một nhóm chữa lành. Khả năng lớn là trong mọi trường hợp bệnh nhân cũng sẽ hồi phục, nhưng tiến trình đã được thúc đẩy nhanh hơn nhờ nỗ lực và sự chú tâm được áp dụng, cộng với đức tin.

Interfered with the immediate design or pattern of the patient’s life, and so postponed certain processes of spiritual tuition which were needed. This is very apt to be forgotten. It is too intricate a subject to be dealt with here, but I may be able to make it somewhat clearer as we deal with our final section.

Can thiệp vào thiết kế hay mô hình tức thời của đời sống bệnh nhân, và do đó trì hoãn một số tiến trình huấn luyện tinh thần vốn cần thiết. Điều này rất dễ bị quên lãng. Đây là một đề tài quá phức tạp để bàn đến ở đây, nhưng có lẽ tôi sẽ có thể làm cho nó sáng tỏ phần nào khi chúng ta bàn đến phần cuối cùng của mình.

Therefore (until there is full knowledge) it is vitally necessary that the structure of power and vitality and the network of energies and forces which compose the human organism should be studied. A mental grasp of the processes of healing is needed; and the reasons which make them seem difficult and complicated, unnecessary and wasteful of time, are as follows:

Do đó, cho đến khi có tri thức đầy đủ, việc nghiên cứu cấu trúc của quyền năng và sinh lực cùng mạng lưới các năng lượng và mãnh lực cấu thành cơ thể con người là điều tối cần thiết. Cần có một sự nắm bắt bằng trí tuệ về các tiến trình chữa lành; và những lý do khiến chúng dường như khó khăn và phức tạp, không cần thiết và lãng phí thời gian là như sau:

The inability of even the most advanced human mind to grasp themes and subjects as a whole. The synthetic element is as yet lacking. At present, the teaching and processes involved must be mastered step by step, detail by detail, precept by precept, application by application. But the future holds the promise clear, and the ability of the human eye to function synthetically, to grasp a landscape, for instance, in its broad and salient outlines and to do this simultaneously and in a flash of vision is the guarantee of the future technique of the race. One look by the illumined mind, one great radiation of love, and the healer or the healing group [168] will know whether to heal, to aid the effort of the patient—a much slower process—or to refrain from healing.

Sự bất lực của ngay cả trí tuệ con người tiến bộ nhất trong việc nắm bắt các chủ đề và đề tài như một toàn thể. Yếu tố tổng hợp vẫn còn thiếu. Hiện nay, giáo huấn và các tiến trình liên hệ phải được lĩnh hội từng bước một, từng chi tiết một, từng giới luật một, từng ứng dụng một. Nhưng tương lai chứa đựng một lời hứa rõ ràng, và khả năng của mắt người trong việc hoạt động một cách tổng hợp, chẳng hạn nắm bắt một phong cảnh trong những đường nét rộng lớn và nổi bật của nó, và làm điều này đồng thời trong một thoáng linh thị, chính là sự bảo đảm cho kỹ thuật tương lai của nhân loại. Một cái nhìn của trí tuệ được soi sáng, một sự phóng xạ lớn lao của tình thương, và người chữa lành hay nhóm chữa lành [168] sẽ biết có nên chữa lành, có nên trợ giúp nỗ lực của bệnh nhân—một tiến trình chậm hơn nhiều—hay nên kiêng không chữa lành.

The inertia of the average man or woman, which rebels against the effort needed to master the technical side of healing. It is so much easier to fall back on divinity (a divinity in reality latent but not expressive) and “let God do it.” It is so much easier to recognise love and the outpouring of love than to master the processes whereby it can be made effective—or the nature of that which must be affected.

Tính trì trệ của người nam hay nữ trung bình, vốn phản kháng nỗ lực cần thiết để làm chủ mặt kỹ thuật của việc chữa lành. Dựa vào thiên tính thì dễ hơn nhiều (một thiên tính thực ra tiềm ẩn nhưng chưa biểu lộ) và “để Thượng đế làm điều đó.” Nhận biết tình thương và sự tuôn đổ của tình thương thì dễ hơn nhiều so với việc làm chủ các tiến trình nhờ đó nó có thể trở nên hữu hiệu—hay bản chất của điều phải được tác động đến.

These are points requiring careful attention and consideration. They merit reflection. The synthetic power of the mind, aided by true love, will some day be the instrument of all true healers. In the meantime, for the sake of the future and in order to aid the formulation of the coming healing art—based on the understanding of energy, its inflow and circulation—this treatise will deal somewhat with the academic side. After all, the facts given are facts in existence and are truly present, as are those emotions which the average healer calls love.

Đó là những điểm đòi hỏi sự chú ý và cân nhắc cẩn trọng. Chúng đáng để suy ngẫm. Quyền năng tổng hợp của trí tuệ, được trợ giúp bởi tình thương chân chính, một ngày kia sẽ là công cụ của mọi người chữa lành chân chính. Trong lúc này, vì tương lai và để trợ giúp việc hình thành nghệ thuật chữa lành sắp đến—đặt nền trên sự thấu hiểu năng lượng, sự tuôn vào và lưu chuyển của nó—bộ luận này sẽ bàn phần nào đến mặt học thuật. Rốt cuộc, các sự kiện được nêu ra là những sự kiện hiện hữu và thực sự hiện diện, cũng như những cảm xúc mà người chữa lành trung bình gọi là tình thương.

The Seven Major Centres—(Continued)

Bảy Trung Tâm Chính—(Tiếp theo)

Let us now continue with our consideration of the centres. We have dealt with the four above the diaphragm—the three centres through which the Spiritual Triad must eventually work, and the synthetic centre, the ajna centre, which finally expresses the integrated personality and becomes the direct agent of the soul. We now have three more centres to consider, all of them to be found below the diaphragm—the solar plexus centre, the sacral centre, [169] and the centre at the base of the spine. The most important for all aspirants at this time is the solar plexus centre; the most active—generally speaking—in humanity as a whole, is still the sacral centre; the most quiescent centre in the body (from the angle of the spiritual man) is the basic centre.

Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục việc khảo sát các trung tâm. Chúng ta đã bàn đến bốn trung tâm phía trên cơ hoành—ba trung tâm mà qua đó Tam Nguyên Tinh Thần rốt cuộc phải hoạt động, và trung tâm tổng hợp, trung tâm ajna, vốn cuối cùng biểu lộ phàm ngã tích hợp và trở thành tác nhân trực tiếp của linh hồn. Giờ đây chúng ta còn ba trung tâm nữa để xem xét, tất cả đều nằm dưới cơ hoành—trung tâm tùng thái dương, trung tâm xương cùng, [169] và trung tâm ở đáy cột sống. Quan trọng nhất đối với mọi người chí nguyện vào lúc này là trung tâm tùng thái dương; trung tâm hoạt động mạnh nhất—nói chung—trong toàn thể nhân loại vẫn là trung tâm xương cùng; trung tâm tĩnh lặng nhất trong thể (xét từ góc độ con người tinh thần) là trung tâm căn bản.

5. The Solar Plexus Centre. This is located well below the shoulder blades in the spine and is exceedingly active. In Atlantean days, it was brought to a high stage of development, just as in Aryan days, the throat centre is being rapidly awakened. This centre is peculiarly related to two other centres: The heart and the ajna centre, and they form at this time an interesting triangle of energies in the human body and one which is receiving much attention from the Hierarchy. There is a downflow of energy from the ajna centre to the heart from the soul, just in so far as the aspirant is in touch with his soul. This leads to three things:

5. Trung Tâm Tùng Thái Dương. Trung tâm này nằm khá thấp dưới xương bả vai trong cột sống và cực kỳ hoạt động. Trong thời Atlantis, nó đã được đưa đến một giai đoạn phát triển cao, cũng như trong thời Arya, trung tâm cổ họng đang được đánh thức nhanh chóng. Trung tâm này có liên hệ đặc biệt với hai trung tâm khác: tim và trung tâm ajna, và vào lúc này chúng tạo thành một tam giác năng lượng lý thú trong thể người, một tam giác đang nhận được nhiều sự chú ý từ Thánh Đoàn. Có một dòng năng lượng tuôn xuống từ trung tâm ajna đến tim từ linh hồn, trong chừng mực người chí nguyện tiếp xúc được với linh hồn của mình. Điều này dẫn đến ba việc:

A stimulation of the heart centre.

Một sự kích thích trung tâm tim.

A responsive reaction from the heart which evokes a stimulation of the ajna centre and produces eventually the recognition of group consciousness by the personality.

Một phản ứng đáp ứng từ tim, gợi lên sự kích thích trung tâm ajna và cuối cùng tạo ra sự nhận biết tâm thức nhóm bởi phàm ngã.

The evocation of the heart centre in the head.

Sự gợi lên trung tâm tim trong đầu.

All this, however, is facilitated by the advanced development of the solar plexus in the aspirant, which has its own effect upon the heart and a reciprocal effect upon the ajna centre. There are, consequently, two important triangles to consider: [170]

Tuy nhiên, tất cả điều này được tạo điều kiện bởi sự phát triển tiến bộ của tùng thái dương nơi người chí nguyện, vốn có tác động riêng của nó lên tim và một tác động hỗ tương lên trung tâm ajna. Vì vậy, có hai tam giác quan trọng cần xem xét: [170]

Just as there is, astrologically, a Science of Triangles, so there will later be developed a science of triangles in relation to the human system. But the time is not yet. I but give occasional indications of such a science upon which the intuition of disciples may play.

Cũng như trong chiêm tinh học có một Khoa Học về các Tam Giác, thì về sau cũng sẽ phát triển một khoa học về các tam giác liên hệ đến hệ thống con người. Nhưng thời điểm ấy chưa đến. Tôi chỉ đưa ra đôi khi những chỉ dẫn về một khoa học như thế để trực giác của các đệ tử có thể vận dụng trên đó.

a. The solar plexus is a reflection in the personality of the “heart of the sun,” just as the heart centre is. It is the central factor in the life of the personality for all humanity below the grade of probationary disciple. At that point the mind definitely begins to function, however faintly. It is the outlet—if such a word can be used—of the astral body into the outer world, and the instrument through which emotional energy flows. It is the organ of desire. It is of supreme importance in the life of the average man, and its control is a vital goal for the aspirant. He must transmute desire into aspiration.

a. Tùng thái dương là một phản ánh trong phàm ngã của “trái tim của mặt trời”, cũng như trung tâm tim vậy. Nó là yếu tố trung tâm trong đời sống phàm ngã đối với toàn thể nhân loại dưới cấp độ đệ tử dự bị. Ở điểm đó, trí tuệ bắt đầu hoạt động một cách rõ rệt, dù rất mờ nhạt. Nó là lối thoát—nếu có thể dùng từ như vậy—của thể cảm dục ra thế giới bên ngoài, và là công cụ qua đó năng lượng cảm xúc tuôn chảy. Nó là cơ quan của dục vọng. Nó có tầm quan trọng tối thượng trong đời sống của con người trung bình, và việc kiểm soát nó là một mục tiêu sống còn đối với người chí nguyện. Y phải chuyển hoá dục vọng thành khát vọng.

b. The solar plexus came into full functioning in Atlantean times, during the period wherein the second great human race was developing. These lower centres are not so specifically related to initiations as are the centres above the diaphragm, for they are personality centres and have [171] to be under the full control of the soul when initiations of a certain degree are taken.

b. Tùng thái dương đã đi vào hoạt động đầy đủ trong thời Atlantis, trong giai đoạn mà nhân loại lớn thứ hai đang phát triển. Các trung tâm thấp này không liên hệ đặc biệt với các lần điểm đạo như các trung tâm phía trên cơ hoành, vì chúng là các trung tâm phàm ngã và phải [171] nằm dưới sự kiểm soát trọn vẹn của linh hồn khi các lần điểm đạo ở một mức độ nào đó được tiếp nhận.

c. The solar plexus centre is the great clearing-house for all energies below the diaphragm. This refers to the three major centres and the minor centres which were enumerated on page 72. The relation of this centre to the astral plane is (to use a peculiar but most expressive word) acute. It is the recipient of all emotional reactions and of desire impulses and energies and, because humanity is today becoming active in a group sense and is more inclusive than ever before in human history, the situation is one of acute and extreme difficulty. Mankind, through the individual and also through the collective solar plexus, is being subjected to almost unendurable pressure. Such are the tests of initiation! It is not my intention to deal here with the processes of attracting the lower energies, the mode of centralising them in the solar plexus, and there transmuting them and refining them to the point where transference into the heart centre becomes possible. Much of this is connected with the training given to accepted disciples, prior to the second initiation. It would be too intricate a matter to discuss, as well as carrying with it certain peculiar dangers for those not ready for the process; it is, however, one that—under living effort—goes forward almost automatically. The solar plexus is thus the most separative of all the centres (except the ajna centre, in the case of the man on the left-hand path) because it stands at the midway point, between the throat and the heart centres—above the diaphragm—and the sacral and basic centres—below the diaphragm. This is a consideration of major importance.

c. Trung tâm tùng thái dương là trạm thanh lọc lớn cho mọi năng lượng dưới cơ hoành. Điều này liên quan đến ba trung tâm chính và các trung tâm phụ đã được liệt kê ở trang 72. Liên hệ của trung tâm này với cõi cảm dục là, dùng một từ hơi lạ nhưng rất biểu cảm, hết sức gay gắt. Nó là nơi tiếp nhận mọi phản ứng cảm xúc cùng các xung lực và năng lượng dục vọng, và bởi vì ngày nay nhân loại đang trở nên hoạt động theo ý thức nhóm và bao gồm hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người, nên tình hình là một tình hình cực kỳ gay gắt và khó khăn. Nhân loại, qua tùng thái dương cá nhân và cả tập thể, đang chịu một áp lực gần như không thể chịu nổi. Đó là những thử thách của điểm đạo! Chủ ý của tôi ở đây không phải là bàn đến các tiến trình thu hút các năng lượng thấp, phương thức tập trung chúng trong tùng thái dương, và tại đó chuyển hoá và tinh luyện chúng đến mức có thể chuyển dịch vào trung tâm tim. Phần lớn điều này liên hệ với sự huấn luyện được ban cho các đệ tử được chấp nhận trước lần điểm đạo thứ hai. Đây sẽ là một vấn đề quá phức tạp để thảo luận, đồng thời cũng mang theo những nguy hiểm đặc biệt cho những ai chưa sẵn sàng cho tiến trình ấy; tuy nhiên, dưới nỗ lực sống động, nó tiến triển gần như tự động. Vì vậy, tùng thái dương là trung tâm có tính phân ly nhất trong tất cả các trung tâm (ngoại trừ trung tâm ajna, trong trường hợp con người trên tả đạo) bởi vì nó đứng ở điểm ở giữa, giữa các trung tâm cổ họng và tim—phía trên cơ hoành—và các trung tâm xương cùng và căn bản—phía dưới cơ hoành. Đây là một điều có tầm quan trọng lớn.

d. The solar plexus is the centre in the etheric vehicle through which humanity (average, unenlightened humanity) [172] lives and moves and has its being. Humanity is conditioned by desire—good desire, selfish desire, wrong desire, and spiritual desire. It is the centre through which most of the energies flow which make a man progressive because he is ambitious, selfish because his personal desires are of importance, and fluidic because astrally polarised. Through it the “bright light generated in Atlantis” is poured, and the astral light is contacted. It is therefore the centre through which most mediums work and clairvoyants function. Later, these people will learn to work as intermediaries, consciously and intelligently using their powers; they will possess clear perception, and this will supersede clairvoyance. They will then be polarised in the ajna centre. It is consequently a most disturbing centre in the body, and is a basic cause of the majority of stomach complaints and troubles connected with the liver. The entire area immediately below the diaphragm is in a constant state of turmoil, where average man is concerned; this is due to individual and collective causes.

d. Tùng thái dương là trung tâm trong thể dĩ thái mà qua đó nhân loại (nhân loại trung bình, chưa giác ngộ) [172] sống, vận động và tồn tại. Nhân loại bị dục vọng tác động—dục vọng tốt, dục vọng ích kỷ, dục vọng sai lầm, và dục vọng tinh thần. Đây là trung tâm mà qua đó phần lớn các năng lượng tuôn chảy, khiến một người tiến bộ vì y đầy tham vọng, ích kỷ vì các dục vọng cá nhân của y là quan trọng, và linh động vì phân cực cảm dục. Qua nó, “ánh sáng rực rỡ được tạo ra trong Atlantis” được tuôn đổ, và ánh sáng cảm dục được tiếp xúc. Vì vậy, đây là trung tâm mà qua đó phần lớn các đồng tử hoạt động và các nhà thông nhãn vận hành. Về sau, những người này sẽ học cách hoạt động như các trung gian, một cách hữu thức và thông minh sử dụng các năng lực của mình; họ sẽ sở hữu tri giác sáng tỏ, và điều này sẽ thay thế thông nhãn. Khi ấy họ sẽ được phân cực trong trung tâm ajna. Do đó, đây là một trung tâm rất gây xáo trộn trong thể, và là nguyên nhân căn bản của phần lớn các chứng bệnh dạ dày và các rối loạn liên hệ đến gan. Toàn bộ vùng ngay dưới cơ hoành ở trong trạng thái xáo động thường xuyên, xét nơi con người trung bình; điều này là do các nguyên nhân cá nhân và tập thể.

It is interesting to note here that just as the ajna centre (the synthesis of the personality forces, when highly developed) is a great directing and distributing agent, so the solar plexus centre (the synthesis of the average developed personality energies, prior to the process of integration) is a centre for collection, for a gathering-in of all the lower energies, and is finally a focal point for the direction and distribution of these collected energies—remitting them to their receptive higher centres:

Điều thú vị cần lưu ý ở đây là cũng như trung tâm ajna (sự tổng hợp các mãnh lực phàm ngã, khi được phát triển cao) là một tác nhân chỉ đạo và phân phối lớn, thì trung tâm tùng thái dương (sự tổng hợp các năng lượng phàm ngã phát triển trung bình, trước tiến trình tích hợp) là một trung tâm để thu gom, để tập hợp mọi năng lượng thấp, và cuối cùng là một tiêu điểm cho việc chỉ đạo và phân phối các năng lượng đã được thu gom này—chuyển chúng đến các trung tâm cao hơn có tính tiếp nhận của chúng:

1. The energies of the solar plexus centre itself have to be directed to the heart centre.

1. Các năng lượng của chính trung tâm tùng thái dương phải được chỉ đạo đến trung tâm tim.

2. The energies of the sacral centre have to be transmitted to the throat centre. [173]

2. Các năng lượng của trung tâm xương cùng phải được truyền đến trung tâm cổ họng. [173]

3. The energies of the centre at the base of the spine have to be transferred to the head centre. After the third initiation, these basic energies are raised, controlled or distributed by an act of the will of the Spiritual Triad. Then “the light generated in Lemuria” (the sacral light) and “the light generated in Atlantis” (solar plexus light) will die out, and those two centres will simply be recipients of spiritual energies from on high; they will possess no direct, inherent light of their own; the light which they will transmit will come to them from collective sources on etheric planes.

3. Các năng lượng của trung tâm ở đáy cột sống phải được chuyển dịch đến trung tâm đầu. Sau lần điểm đạo thứ ba, các năng lượng căn bản này được nâng lên, kiểm soát hay phân phối bằng một hành vi của ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Khi ấy “ánh sáng được tạo ra trong Lemuria” (ánh sáng xương cùng) và “ánh sáng được tạo ra trong Atlantis” (ánh sáng tùng thái dương) sẽ tắt đi, và hai trung tâm đó sẽ chỉ đơn giản là những nơi tiếp nhận các năng lượng tinh thần từ trên cao; chúng sẽ không có ánh sáng trực tiếp, cố hữu của riêng mình; ánh sáng mà chúng truyền đi sẽ đến với chúng từ các nguồn tập thể trên các cõi dĩ thái.

The dense physical externalisation of this centre is the pancreas, with a secondary externalisation in the stomach. There is, in relation to the solar plexus centre, a curious relation which is symbolic both in form and in implication. You have

Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của trung tâm này là tuyến tụy, với một ngoại hiện thứ yếu ở dạ dày. Có, liên hệ với trung tâm tùng thái dương, một mối liên hệ kỳ lạ vừa mang tính biểu tượng về hình thức vừa về hàm ý. Bạn có

Here again appears the theme of a centre of spiritual force (for astral force is spiritual in essence) and its three manifestations. All these three dense materialisations are fed and nurtured by the forces and energies of the solar plexus centre. I have here given a very important fact to those who are interested in the study of medicine from the esoteric angle; rightly appreciated, it will lead to an understanding [174] of the healing art. Control of the solar plexus centre, and the right reception and release of the energies focussed in that centre would bring about a major purification, an intensive strengthening and a vital protection of the three vital organs to be found in that area of the human physical mechanism.

Ở đây lại xuất hiện chủ đề về một trung tâm mãnh lực tinh thần (vì mãnh lực cảm dục về bản chất là tinh thần) và ba biểu hiện của nó. Cả ba sự vật chất hóa đậm đặc này đều được nuôi dưỡng và duy trì bởi các mãnh lực và năng lượng của trung tâm tùng thái dương. Ở đây tôi đã đưa ra một sự kiện rất quan trọng cho những ai quan tâm đến việc nghiên cứu y học từ góc độ huyền bí; nếu được đánh giá đúng, nó sẽ dẫn đến một sự thấu hiểu [174] nghệ thuật chữa lành. Việc kiểm soát trung tâm tùng thái dương, cùng sự tiếp nhận và giải phóng đúng đắn các năng lượng được tập trung trong trung tâm ấy, sẽ mang lại một sự thanh lọc lớn, một sự tăng cường mạnh mẽ và một sự bảo vệ sống động cho ba cơ quan sinh lực nằm trong vùng đó của bộ máy hồng trần con người.

As I have earlier pointed out, this centre is an organ of synthesis and gathers into itself all the lower energies at a certain point in the higher development of the human being. It is factually then an instrument (when rightly understood and rightly directed) for aiding in the integration of the personality life. The major problem of the man who is highly developed but not yet spiritually inclined is that of desire. What are his goals? To what are his aims directed? What is the nature of his realised ambitions? To what does he aspire? According to the nature of the forces and the energies which his thought life brings to bear upon the solar plexus centre, so will be his decision to move forward along the path of light, to remain statically self-centred, or to take the lower way which leads to the blotting out of the soul light.

Như tôi đã chỉ ra trước đây, trung tâm này là một cơ quan tổng hợp và thu gom vào chính nó mọi năng lượng thấp ở một điểm nào đó trong sự phát triển cao hơn của con người. Khi ấy, trên thực tế, nó là một công cụ (khi được hiểu đúng và chỉ đạo đúng) để trợ giúp trong việc tích hợp đời sống phàm ngã. Vấn đề lớn của con người phát triển cao nhưng chưa nghiêng về tinh thần là dục vọng. Các mục tiêu của y là gì? Các mục đích của y hướng đến đâu? Bản chất của những tham vọng đã được chứng nghiệm của y là gì? Y khát vọng điều gì? Tùy theo bản chất của các mãnh lực và năng lượng mà đời sống tư tưởng của y đem tác động lên trung tâm tùng thái dương, quyết định của y sẽ là tiến bước trên con đường ánh sáng, ở yên trong trạng thái tập trung vào bản thân một cách tĩnh tại, hay đi theo con đường thấp dẫn đến sự xóa mờ ánh sáng linh hồn.

As we have seen, the petals of the solar plexus centre are reaching upwards towards the heart centre. This, in reality, means that emotional energy, desire and ambition (in the race of men as a whole) are striving upwards towards the higher way.

Như chúng ta đã thấy, các cánh hoa của trung tâm tùng thái dương đang vươn lên phía trung tâm tim. Điều này, trên thực tế, có nghĩa là năng lượng cảm xúc, dục vọng và tham vọng (trong toàn thể nhân loại) đang nỗ lực hướng lên con đường cao hơn.

It should be noted here that the transference of solar plexus energy per se is the task of all aspirants to the Path of Discipleship at this particular time, plus the gradual awakening of the heart centre. The first members of the human family to become group conscious are naturally the aspirants and the disciples, and these set the pace for the rest of humanity. This they achieve through the pressure of life itself and of circumstances, and not by the following [175] of set rules or specific meditations. Later, prior to a certain major initiation, such rules and measures may be applied so as to give the initiate immediate and conscious control over the astral body and its focal point of entry into the physical organism, the solar plexus centre, and again at the time that certain major transferences are consciously made. Of these transferences there are three of primary importance:

Cần lưu ý ở đây rằng việc chuyển dịch năng lượng tùng thái dương chính nó là nhiệm vụ của mọi người chí nguyện vào Con Đường Đệ Tử trong thời điểm đặc biệt này, cùng với sự thức tỉnh dần dần của trung tâm tim. Những thành viên đầu tiên của gia đình nhân loại trở nên có tâm thức nhóm dĩ nhiên là những người chí nguyện và các đệ tử, và họ đặt nhịp độ cho phần còn lại của nhân loại. Điều này họ đạt được qua áp lực của chính đời sống và hoàn cảnh, chứ không phải bằng việc tuân theo [175] các quy luật cố định hay các bài thiền đặc biệt. Về sau, trước một lần điểm đạo lớn nào đó, các quy luật và biện pháp như thế có thể được áp dụng để trao cho điểm đạo đồ sự kiểm soát tức thời và hữu thức đối với thể cảm dục và tiêu điểm đi vào cơ thể hồng trần của nó, tức trung tâm tùng thái dương, và một lần nữa vào lúc một số chuyển dịch lớn được thực hiện một cách hữu thức. Trong các chuyển dịch này có ba chuyển dịch quan trọng hàng đầu:

1. From the three centres below the diaphragm into the heart, throat and ajna centres.

1. Từ ba trung tâm dưới cơ hoành vào các trung tâm tim, cổ họng và ajna.

2. From the two centres above the diaphragm—the heart and throat centres—into the ajna centre and the thousand-petalled lotus of the head.

2. Từ hai trung tâm trên cơ hoành—các trung tâm tim và cổ họng—vào trung tâm ajna và hoa sen ngàn cánh của đầu.

3. From the ajna centre into the head centre, signifying the complete unification of all the energies throughout the entire etheric body into one central focal point of distribution—under direct control of the Spiritual Triad.

3. Từ trung tâm ajna vào trung tâm đầu, biểu thị sự hợp nhất hoàn toàn của mọi năng lượng trong toàn bộ thể dĩ thái vào một tiêu điểm phân phối trung tâm duy nhất—dưới sự kiểm soát trực tiếp của Tam Nguyên Tinh Thần.

The processes involved in these three great experiences (each preceded by much testing and experiment) naturally put a strain upon the physical body and are the cause of many of the ills to which disciples fall heir.

Các tiến trình liên hệ trong ba kinh nghiệm lớn này (mỗi kinh nghiệm đều được đi trước bởi nhiều thử nghiệm và thực nghiệm) dĩ nhiên gây căng thẳng lên thể xác và là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh mà các đệ tử phải gánh chịu.

It will be obvious to you, for instance, that the transference of all the accumulated energies in the solar plexus centre into the heart centre will cause difficulty, very frequently of a serious nature; this is the reason why today so many advanced people die of heart disease. In the long cycle of the soul life and experience, this is of relatively small moment; in the short cycle of the individual disciple’s life it is of great difficulty and oft of tragedy. Similarly, the transference of the energies of the five centres up the spine into the head centres will carry with it its own problems. The stimulation of the ajna centre by the focussing of these energies may lead to disastrous psychological problems. A [176] man may become an ego-maniac temporarily (all is temporary in the long life of the soul!) and become such a human monster as Hitler and others of his ilk, though in lesser degree; there may be also violent conditions of epilepsy, or the eyesight may be affected and a man may become blind. All these points warrant careful thought.

Chẳng hạn, bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng việc chuyển dịch mọi năng lượng tích lũy trong trung tâm tùng thái dương vào trung tâm tim sẽ gây khó khăn, rất thường là nghiêm trọng; đó là lý do vì sao ngày nay rất nhiều người tiến bộ chết vì bệnh tim. Trong chu kỳ dài của đời sống và kinh nghiệm linh hồn, điều này tương đối ít quan trọng; trong chu kỳ ngắn của đời sống cá nhân của đệ tử, đó là một khó khăn lớn và thường là bi kịch. Tương tự, việc chuyển dịch các năng lượng của năm trung tâm dọc cột sống vào các trung tâm đầu sẽ mang theo những vấn đề riêng của nó. Sự kích thích trung tâm ajna bằng việc tập trung các năng lượng này có thể dẫn đến những vấn đề tâm lý tai hại. Một [176] người có thể tạm thời trở thành một kẻ cuồng ngã (mọi sự đều là tạm thời trong đời sống dài lâu của linh hồn!) và trở thành một quái vật nhân loại như Hitler và những kẻ cùng loại với ông, dù ở mức độ thấp hơn; cũng có thể có những trạng thái động kinh dữ dội, hoặc thị lực có thể bị ảnh hưởng và một người có thể bị mù. Tất cả những điểm này đều đáng được suy nghĩ cẩn trọng.

6. The Sacral Centre. This centre is located in the lower part of the lumbar area and is a very powerful centre, controlling as it does the sex life. One of the interesting things about this centre is that it must always remain a powerful centre until two-thirds of mankind have taken initiation, for the generative processes must go on and remain active in order to provide bodies for incoming souls. But as the race progresses, this centre will be controlled and its activities will be carried forward intelligently and as the result of knowledge, of insight and of higher and subtler contacts, and not as the result of unlimited and uncontrolled desire, as is now the case. I cannot enlarge further upon this matter as the theme is too big. I can, however, bring to your attention what I have already written, and suggest that someone with the interest and the time should collect all I have said in all my books anent the subject of sex so that a pamphlet on the subject may be compiled.

6. Trung Tâm Xương Cùng. Trung tâm này nằm ở phần dưới của vùng thắt lưng và là một trung tâm rất mạnh, vì nó kiểm soát đời sống tính dục. Một trong những điều thú vị về trung tâm này là nó luôn luôn phải vẫn là một trung tâm mạnh cho đến khi hai phần ba nhân loại đã tiếp nhận điểm đạo, vì các tiến trình sinh sản phải tiếp tục và vẫn hoạt động để cung cấp các thể cho những linh hồn đi vào. Nhưng khi nhân loại tiến bộ, trung tâm này sẽ được kiểm soát và các hoạt động của nó sẽ được tiến hành một cách thông minh và như kết quả của tri thức, của linh thị và của những tiếp xúc cao hơn và tinh tế hơn, chứ không phải như kết quả của dục vọng vô hạn độ và không được kiểm soát như hiện nay. Tôi không thể khai triển thêm về vấn đề này vì đề tài quá lớn. Tuy nhiên, tôi có thể nhắc bạn chú ý đến điều tôi đã viết, và gợi ý rằng một ai đó có quan tâm và có thời gian nên thu thập tất cả những gì tôi đã nói trong mọi sách của tôi liên quan đến đề tài tính dục để có thể biên soạn một tập sách nhỏ về chủ đề này.

a. The sacral centre corresponds to the physical sun, the source of vitality, and the life-giving agent on our planet.

a. Trung tâm xương cùng tương ứng với mặt trời hồng trần, nguồn sinh lực, và tác nhân ban sự sống trên hành tinh chúng ta.

b. The symbolism of the sacral centre is concerned primarily with the gestation period prior to birth, and in its right understanding can be traced and expanded the whole story of conception, of form-building, and this whether it is the physical form of a human being, the form of an idea, an organisation [177] built around a central truth, the form of a planet or of a solar system. It is perhaps above everything else else the centre through which the forces of IMPERSONALITY must eventually express themselves, and the whole problem of dualism must be resolved. This solution and interpretation of the symbol must come from the realm of the mind, thereby controlling the physical reaction and occupying itself with purposes and not with desire. Ponder on this. When it is thus understood, then we shall be reaching the point where a great transference can take place into the higher centre of creation, the throat centre.

b. Biểu tượng của trung tâm xương cùng chủ yếu liên hệ đến thời kỳ thai nghén trước khi sinh, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về nó có thể truy ra và khai triển toàn bộ câu chuyện về sự thụ thai, về sự tạo dựng hình tướng, dù đó là hình tướng hồng trần của một con người, hình tướng của một ý tưởng, một tổ chức [177] được xây dựng quanh một chân lý trung tâm, hình tướng của một hành tinh hay của một hệ mặt trời. Có lẽ trên hết mọi thứ, đây là trung tâm mà qua đó các mãnh lực của TÍNH VÔ NGÃ rốt cuộc phải biểu lộ, và toàn bộ vấn đề nhị nguyên tính phải được giải quyết. Sự giải quyết và diễn giải biểu tượng này phải đến từ lĩnh vực của trí tuệ, nhờ đó kiểm soát phản ứng hồng trần và bận tâm đến các mục đích chứ không phải dục vọng. Hãy suy ngẫm về điều này. Khi được thấu hiểu như vậy, khi ấy chúng ta sẽ tiến đến điểm mà một sự chuyển dịch lớn có thể diễn ra vào trung tâm sáng tạo cao hơn, tức trung tâm cổ họng.

c. The sacral centre is therefore closely related to matter, and there is a flow of energy between three points in the lower part of the human body:

c. Vì vậy, trung tâm xương cùng có liên hệ chặt chẽ với vật chất, và có một dòng năng lượng giữa ba điểm ở phần dưới của thể người:

1. The spleen, the organ of prana or of physical vitality coming from the sun.

1. Lá lách, cơ quan của prana hay sinh lực hồng trần đến từ mặt trời.

2. The sacral centre, the predisposing agent towards physical generation.

2. Trung tâm xương cùng, tác nhân tạo khuynh hướng đối với sự sinh sản hồng trần.

3. The centre at the base of the spine which (until the will aspect is aroused in man) feeds the life-giving principle, the will-to-live, to all parts of the human frame.

3. Trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm này (cho đến khi phương diện ý chí được khơi dậy nơi con người) nuôi dưỡng nguyên khí ban sự sống, ý chí muốn sống, cho mọi phần của khung thể con người.

These create a great triangle of force, concerned with matter, with substance, form-building, creation, vitality and persistence in form. This triangle is a reflection of a much higher one, composed of

Ba điểm này tạo thành một tam giác mãnh lực lớn, liên hệ đến vật chất, chất liệu, việc tạo dựng hình tướng, sáng tạo, sinh lực và sự bền bỉ trong hình tướng. Tam giác này là một phản ánh của một tam giác cao hơn nhiều, gồm có

1. The throat centre, corresponding to the sacral centre.

1. Trung tâm cổ họng, tương ứng với trung tâm xương cùng.

2. The pituitary body, corresponding to the splenic centre.

2. Tuyến yên, tương ứng với trung tâm lá lách.

[178]

[178]

3. The pineal gland, corresponding to the basic centre.

3. Tuyến tùng, tương ứng với trung tâm căn bản.

In the relation of these two triangles lies the clue to the instinct of self-preservation, the survival of the subtle bodies after death, and the principle of immortality which is seated in the soul and functions when self-preservation and survival no longer hold sway. This constitutes a triplicity of ideas which requires most careful study and which—if I might so express it—gives the key to the spiritualistic movement.

Trong mối liên hệ của hai tam giác này có manh mối cho bản năng tự bảo tồn, sự tồn tại của các thể vi tế sau khi chết, và nguyên khí bất tử vốn ngự trong linh hồn và hoạt động khi sự tự bảo tồn và sự tồn tại không còn chi phối nữa. Điều này tạo thành một bộ ba ý tưởng đòi hỏi sự nghiên cứu hết sức cẩn trọng và—nếu tôi có thể diễn đạt như vậy—trao chìa khóa cho phong trào thần linh học.

d. The sacral centre is also connected with the ajna centre in the last analysis; the two together create a functioning duality which is productive of that subtle quality which we call personality. There is a wide field for investigation in the theme of personality as an integrated whole and in the quality of personality, which is the aroma, the influence, the effect and the radiation of a personality. I throw out these ideas to students, hoping that some research may follow which will relate this subject of the centres to the recognised facts of coordination, integration and their effects in producing greatness.

d. Trung tâm xương cùng cũng được nối kết với trung tâm ajna trong phân tích cuối cùng; cả hai cùng nhau tạo nên một nhị nguyên tính hoạt động, sản sinh ra phẩm tính vi tế mà chúng ta gọi là phàm ngã. Có một lĩnh vực rộng lớn để khảo cứu trong chủ đề phàm ngã như một toàn thể tích hợp và trong phẩm tính của phàm ngã, vốn là hương thơm, ảnh hưởng, hiệu quả và sự phóng xạ của một phàm ngã. Tôi nêu ra những ý tưởng này cho các đạo sinh, hy vọng rằng sẽ có một số nghiên cứu tiếp theo, liên hệ chủ đề các trung tâm này với các sự kiện đã được công nhận về sự phối hợp, sự tích hợp và các hiệu quả của chúng trong việc tạo ra sự vĩ đại.

For those of you who are students of The Secret Doctrine, there is much to be unfolded anent the relation of the “lunar Lords,” the Barhishad Pitris, to the solar Lord or Angel. The field of work of the former is the sacral centre, par excellence; that of the solar Angel is the throat centre.

Đối với những ai trong các bạn là đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm, có nhiều điều cần được khai mở liên quan đến mối liên hệ của các “nguyệt tinh quân”, các Barhishad Pitris, với nhật tinh quân hay Thiên Thần thái dương. Lĩnh vực hoạt động của các vị trước là trung tâm xương cùng, theo nghĩa nổi bật nhất; của Thái dương Thiên Thần là trung tâm cổ họng.

e. The sacral centre registers the energy of the third aspect of divinity, just as the solar plexus centre registers that of the second aspect and the basic centre expresses the energy of the first aspect. Here [179] again you have the lower centres reflecting the throat, heart and head centres and thus completing the higher and the lower manifestation of the divine Trinity in man. This centre was brought into full functioning activity in old Lemuria, the first human race; its energy is that of the Holy Spirit, overshadowing virgin substance. Here again we find also another divine reflection in the following:

e. Trung tâm xương cùng ghi nhận năng lượng của phương diện thứ ba của thiên tính, cũng như trung tâm tùng thái dương ghi nhận năng lượng của phương diện thứ hai và trung tâm căn bản biểu lộ năng lượng của phương diện thứ nhất. Ở đây [179] một lần nữa bạn có các trung tâm thấp phản ánh các trung tâm cổ họng, tim và đầu, và như vậy hoàn tất biểu hiện cao và thấp của Tam Vị thiêng liêng trong con người. Trung tâm này đã được đưa vào hoạt động đầy đủ trong thời Lemuria cổ, nhân loại đầu tiên; năng lượng của nó là năng lượng của Chúa Thánh Thần, phủ bóng chất liệu đồng trinh. Ở đây một lần nữa chúng ta cũng thấy một phản ánh thiêng liêng khác trong điều sau đây:

Eventually, in the Divine Hermaphrodite (later to appear) you will have another combination:

Cuối cùng, trong Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng (sẽ xuất hiện về sau), bạn sẽ có một sự kết hợp khác:

Again you will note, my brother, how the Science of Triangles governs the human frame in all its aspects, as well as the frame of a solar system. This is to be expected.

Một lần nữa, Huynh đệ của Tôi, bạn sẽ lưu ý cách Khoa Học về các Tam Giác chi phối khung thể con người trong mọi phương diện của nó, cũng như khung thể của một hệ mặt trời. Điều này là điều có thể chờ đợi.

f. The dense physical externalisation of this centre is to be found in the gonads, the human organs of generation—[180] viewing them as a basic unity, though temporarily separated in the present dualistic expression of the human being. It must be remembered that this separation fosters a powerful impulse towards fusion, and this urge to blend we call sex. Sex is, in reality, the instinct towards unity: first of all, a physical unity. It is the innate (though much understood) principle of mysticism, which is the name we give to the urge to union with the divine. Like all else that undeveloped man has touched, we have perverted and distorted a divine idea and prostituted an immaterial urge to material desire. We have reversed the direction of the sacral energy, hence the over-developed animal nature and functions of average humanity.

f. Sự ngoại hiện hồng trần đậm đặc của trung tâm này được tìm thấy trong các tuyến sinh dục, các cơ quan sinh sản của con người—[180] xét chúng như một hợp nhất căn bản, dù tạm thời bị tách biệt trong biểu hiện nhị nguyên hiện nay của con người. Cần nhớ rằng sự tách biệt này nuôi dưỡng một xung lực mạnh mẽ hướng đến sự dung hợp, và sự thôi thúc hòa trộn này chúng ta gọi là tính dục. Tính dục, trên thực tế, là bản năng hướng đến hợp nhất: trước hết là một hợp nhất hồng trần. Nó là nguyên khí bẩm sinh (dù được hiểu nhiều) của thần bí học, là tên chúng ta đặt cho sự thôi thúc hướng đến hợp nhất với cái thiêng liêng. Giống như mọi điều khác mà con người chưa phát triển đã chạm đến, chúng ta đã làm sai lệch và bóp méo một ý tưởng thiêng liêng và biến một thôi thúc phi vật chất thành dục vọng vật chất. Chúng ta đã đảo ngược hướng của năng lượng xương cùng, do đó mới có bản chất và chức năng động vật phát triển quá mức của nhân loại trung bình.

There is necessarily much more that I could add to the above, but the theme would require much careful analysis, elucidation and wording that time permits not, or the established balance of this Treatise would not be preserved.

Dĩ nhiên còn nhiều điều nữa mà tôi có thể thêm vào phần trên, nhưng đề tài này sẽ đòi hỏi rất nhiều sự phân tích cẩn trọng, sự làm sáng tỏ và cách diễn đạt mà thời gian không cho phép, hoặc sự quân bình đã được thiết lập của bộ Luận này sẽ không được giữ gìn.

There is also little that I can say anent the centre at the base of the spine. Before, however, I take up whatever information is fruitful or possible, I would like to point out that the diagram on page 162 portrays the point in evolution of a disciple and not of an advanced initiate. It is not a description either of the everyday, average human being. This is indicated by the fact that the reflection of the heart centre in the head is turning upwards in response to an increased activity of the heart centre itself, and that the definition of the ajna centre is clear and exact, demonstrating an integrated, coordinated personality. This is not therefore the diagram of the centres of the ordinary or undeveloped person. It is impossible for such diagrams to do more than give some point of consummation, but it should be remembered [181] that these points of consummation are not static attainments but are each of them preceded by phases and stages of activity which produce constantly changing results and varying aspects of the centres; these, in their turn, are succeeded by other cycles of movement, of change and of a renewed release of energies. The effects of the deep underlying causes themselves become causes, for in the cycle of manifestation there is nothing static or fixed or finally determined. This is a point of extreme importance. Be not therefore misled by apparent moments of achievement. They are but prefaces to change, for such is the Law of Being.

Cũng có rất ít điều tôi có thể nói liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống. Tuy nhiên, trước khi tôi đề cập đến bất cứ thông tin nào hữu ích hay khả dĩ, tôi muốn chỉ ra rằng biểu đồ ở trang 162 mô tả điểm tiến hoá của một đệ tử chứ không phải của một điểm đạo đồ tiến bộ. Nó cũng không phải là mô tả về con người trung bình thường nhật. Điều này được chỉ ra bởi sự kiện rằng phản ánh của trung tâm tim trong đầu đang quay lên trên để đáp ứng với hoạt động gia tăng của chính trung tâm tim, và rằng sự xác định của trung tâm ajna là rõ ràng và chính xác, chứng tỏ một phàm ngã tích hợp, phối hợp. Vì vậy, đây không phải là biểu đồ các trung tâm của người bình thường hay chưa phát triển. Những biểu đồ như thế không thể làm gì hơn là đưa ra một điểm thành tựu, nhưng cần nhớ [181] rằng các điểm thành tựu này không phải là những thành quả tĩnh tại mà mỗi điểm đều được đi trước bởi các pha và giai đoạn hoạt động tạo ra những kết quả luôn thay đổi và những phương diện biến thiên của các trung tâm; đến lượt chúng, các điều này lại được tiếp nối bởi những chu kỳ khác của chuyển động, của thay đổi và của một sự giải phóng năng lượng mới mẻ. Chính các hiệu quả của những nguyên nhân nền tảng sâu xa ấy lại trở thành nguyên nhân, vì trong chu kỳ biểu hiện không có gì là tĩnh tại hay cố định hay được quyết định sau cùng. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng. Vì vậy, đừng để bị đánh lừa bởi những khoảnh khắc thành tựu bề ngoài. Chúng chỉ là lời mở đầu cho thay đổi, vì đó là Định luật của Bản Thể.

7. The Centre at the Base of the Spine. This centre is, above everything else, controlled and governed by the Law of Being, above referred to, and is established where spirit and matter meet and where matter, the Virgin Mary—under the influence of the Holy Spirit, the energy of the etheric vehicle—is translated “into Heaven,” there (as the Christian phraseology puts it) “to be seated beside her Son in the house of the Father.”

7. Trung Tâm ở Đáy Cột Sống. Trung tâm này, trên hết mọi thứ, được kiểm soát và chi phối bởi Định luật của Bản Thể vừa được nhắc đến ở trên, và được thiết lập tại nơi tinh thần và vật chất gặp nhau, và nơi vật chất, Đức Mẹ Đồng Trinh—dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, năng lượng của thể dĩ thái—được chuyển dịch “lên Thiên Đàng”, tại đó (theo cách nói của Cơ Đốc giáo) “ngồi bên Con của mình trong nhà của Cha.”

This centre is found at the very base of the spine, and supports all the other centres. It is relatively quiescent at this time, for it is only roused into full activity by an act of the will, directed and controlled by the initiate. It is responsive only to the will aspect, and the will-to-be in incarnation is the factor which at present controls its life and produces its effects as it feeds and directs the life principle in matter and form. Just as we are told that the life principle is “seated in the heart,” so the will-to-be is seated in the base of the spine. There has been much idle and dangerous talk anent this centre, and the whole subject of the “kundalini fire” has proved an exciting and enticing tale by the pseudo-occultists of the world. The true occultist in training has naught to do with the kundalini fire—as usually [182] understood. It is not possible for me to do more than make certain facts somewhat clearer to you, and yet at the same time I must refrain from indicating modes and methods of arousing the activity of this centre, on account of the extreme danger involved in any premature work on the basic centre. The best I can do is to make a series of statements which will be comprehended in the right way by those who know (and these are as yet few and far between), which will aid the thinking of those who are in training and give them a somewhat more complete picture, but which will protect the ignorant from disaster. I shall make these statements as clearly and briefly as possible, but shall give practically no explanatory matter with them.

Trung tâm này được tìm thấy ở chính đáy cột sống, và nâng đỡ mọi trung tâm khác. Hiện nay nó tương đối tĩnh lặng, vì chỉ được khơi dậy vào hoạt động đầy đủ bằng một hành vi của ý chí, được điểm đạo đồ chỉ đạo và kiểm soát. Nó chỉ đáp ứng với phương diện ý chí, và ý chí muốn hiện hữu trong lâm phàm là yếu tố hiện đang kiểm soát đời sống của nó và tạo ra các hiệu quả của nó khi nó nuôi dưỡng và chỉ đạo nguyên khí sự sống trong vật chất và hình tướng. Cũng như chúng ta được bảo rằng nguyên khí sự sống “ngự trong tim”, thì ý chí muốn hiện hữu ngự ở đáy cột sống. Đã có rất nhiều lời bàn tán vô ích và nguy hiểm liên quan đến trung tâm này, và toàn bộ chủ đề về “lửa kundalini” đã trở thành một câu chuyện kích thích và quyến rũ do các nhà huyền bí giả hiệu của thế giới dựng nên. Nhà huyền bí học chân chính đang được huấn luyện không có gì phải làm với lửa kundalini—như thường [182] được hiểu. Tôi không thể làm gì hơn là làm sáng tỏ phần nào một số sự kiện cho bạn, nhưng đồng thời tôi cũng phải tránh chỉ ra các phương thức và phương pháp khơi dậy hoạt động của trung tâm này, vì mối nguy cực lớn liên quan đến bất kỳ công việc nào quá sớm trên trung tâm căn bản. Điều tốt nhất tôi có thể làm là đưa ra một loạt phát biểu, những phát biểu sẽ được những ai biết hiểu theo cách đúng đắn (và những người này hiện còn rất ít và thưa thớt), sẽ trợ giúp tư duy của những ai đang được huấn luyện và cho họ một bức tranh phần nào đầy đủ hơn, nhưng sẽ bảo vệ người thiếu hiểu biết khỏi tai họa. Tôi sẽ đưa ra những phát biểu này rõ ràng và ngắn gọn nhất có thể, nhưng hầu như không kèm theo phần giải thích nào.

1. This basic centre is the point where, under the evolutionary law, spirit and matter meet, and life is related to form.

1. Trung tâm căn bản này là điểm mà tại đó, dưới định luật tiến hoá, tinh thần và vật chất gặp nhau, và sự sống được liên hệ với hình tướng.

2. It is therefore the centre where the essential dualism of the manifested divinity—man or planetary Logos—meet and produce form.

2. Vì vậy, đây là trung tâm nơi nhị nguyên tính cốt yếu của thiên tính biểu hiện—con người hay Hành Tinh Thượng đế—gặp nhau và tạo ra hình tướng.

3. The nature of this divinity is only revealed when the second aspect has accomplished its work, through the medium of the third aspect, but under the directing will of the first aspect.

3. Bản chất của thiên tính này chỉ được mặc khải khi phương diện thứ hai đã hoàn thành công việc của nó, qua trung gian của phương diện thứ ba, nhưng dưới ý chí chỉ đạo của phương diện thứ nhất.

4. It is the centre where the “serpent of God” undergoes two transformations:

4. Đây là trung tâm nơi “con rắn của Thượng đế” trải qua hai sự chuyển đổi:

a. The serpent of matter lies coiled.

a. Con rắn của vật chất nằm cuộn lại.

b. This serpent is transformed into the serpent of wisdom.

b. Con rắn này được chuyển đổi thành con rắn minh triết.

c. The serpent of wisdom is translated and becomes the “dragon of living light.”

c. Con rắn minh triết được chuyển dịch và trở thành “con rồng của ánh sáng sống.”

5. These three stages are nurtured by the life and energy pouring down through the entire length of the spinal [183] column, via the etheric correspondence of the spinal cord, and—in time and space—this downpouring (plus the simultaneously uprising life) produces:

5. Ba giai đoạn này được nuôi dưỡng bởi sự sống và năng lượng tuôn xuống qua toàn bộ chiều dài của cột sống [183], qua đối phần dĩ thái của tủy sống, và—trong thời gian và không gian—sự tuôn đổ này (cộng với sự sống đồng thời dâng lên) tạo ra:

a. The awakening in a gradual and orderly manner of the centres, according to ray types.

a. Sự thức tỉnh các trung tâm một cách dần dần và có trật tự, tùy theo các loại cung.

b. The reversal of the centres so that the consciousness of the indwelling man is adequate to his environment.

b. Sự đảo ngược các trung tâm để tâm thức của con người nội tại thích ứng đầy đủ với môi trường của mình.

c. The synthesis of the life energies of all the centres, and adequacy to the demands of the initiate and the service of the Hierarchy and of Humanity.

c. Sự tổng hợp các năng lượng sự sống của mọi trung tâm, và sự thích ứng đầy đủ với các đòi hỏi của điểm đạo đồ và sự phụng sự Thánh Đoàn và Nhân loại.

6. The spinal column (from the angle of the esoteric sciences) houses a threefold thread. This is the externalisation of the antahkarana, composed of the antahkarana proper, the sutratma or life thread, and the creative thread. This threefold thread within the spinal column is therefore composed of three threads of energy which have channeled for themselves in the substance of the interior of the column a “threefold way of approach and of withdrawal.” These are called in the Hindu terminology: the ida, the pingala and the sushumna paths, and they together form the path of life for the individual man and are awakened into activity sequentially and according to ray type and the point of evolution. The sushumna path is not used correctly and safely until the antahkarana has been built and the Monad and Personality are thereby related, even if it is only by the most tenuous thread. Then the Monad, the Father, the will aspect, can reach the personality in a direct manner, and can arouse the basic centre, and with it blend, unify and raise the three fires. [184]

6. Cột sống (xét từ góc độ các khoa học huyền bí) chứa một sợi dây tam phân. Đây là sự ngoại hiện của antahkarana, gồm antahkarana đúng nghĩa, sutratma hay sợi dây sự sống, và sợi dây sáng tạo. Vì vậy, sợi dây tam phân này trong cột sống gồm ba sợi năng lượng đã tự tạo cho mình trong chất liệu bên trong cột sống một “con đường tam phân để tiếp cận và rút lui.” Trong thuật ngữ Ấn giáo, chúng được gọi là các đường ida, pingala và sushumna, và cùng nhau chúng tạo thành con đường sự sống cho con người cá nhân và được đánh thức vào hoạt động một cách tuần tự tùy theo loại cung và điểm tiến hoá. Đường sushumna không được sử dụng đúng đắn và an toàn cho đến khi antahkarana đã được xây dựng và Chân thần và phàm ngã nhờ đó được liên hệ, dù chỉ bằng sợi dây mong manh nhất. Khi ấy Chân thần, Đức Cha, phương diện ý chí, có thể tiếp cận phàm ngã một cách trực tiếp, và có thể khơi dậy trung tâm căn bản, và cùng với nó hòa trộn, hợp nhất và nâng ba ngọn lửa lên. [184]

7. One of these paths is the one along which the energy which feeds matter is poured. Another is related to the path of consciousness and of sensitive psychic unfoldment. The third is the path of pure spirit. Thus in every living form the work of the Father, of the Mother and of the Son is carried on. Life-consciousness-form and life-quality-appearance are blended, and the response apparatus of the divine man is perfected, enabling him to contact and recognise the major divine aspects in the kingdoms in nature, in the planet and in the solar system—eventually.

7. Một trong các đường này là đường mà qua đó năng lượng nuôi dưỡng vật chất được tuôn đổ. Một đường khác liên hệ đến con đường của tâm thức và sự khai mở thông linh nhạy cảm. Đường thứ ba là con đường của tinh thần thuần túy. Như vậy trong mọi hình tướng sống động, công việc của Cha, của Mẹ và của Con được tiến hành. Sự sống-tâm thức-hình tướng và sự sống-phẩm tính-sắc tướng được hòa trộn, và bộ máy đáp ứng của con người thiêng liêng được hoàn thiện, giúp y tiếp xúc và nhận biết các phương diện thiêng liêng chính trong các giới trong thiên nhiên, trong hành tinh và trong hệ mặt trời—cuối cùng là như vậy.

Be not betrayed into placing these interlaced spheres of living energy on the right or the left of the spinal cord. Constantly a movement, an interplay and a reversal is going on. I can but portray the nature of a symbol which will indicate the special path of the three energies of the divine Trinity. I indicate not a fact in location or place, for it is this materialising and localising of the main concept which has produced so much danger. The initiate-student seeks to grasp the relation of the three basic energies, the three paths of living fire, their relation and inter-relation and their sequential polarisation. He seeks not to narrow the teaching down to points and lines and place until such [185] time when these terms mean little to him and he knows more.

Đừng để bị dẫn dắt đến chỗ đặt các khối cầu đan xen này của năng lượng sống ở bên phải hay bên trái của tủy sống. Luôn luôn có một chuyển động, một tương tác và một sự đảo ngược đang diễn ra. Tôi chỉ có thể mô tả bản chất của một biểu tượng sẽ chỉ ra con đường đặc biệt của ba năng lượng của Tam Vị thiêng liêng. Tôi chỉ ra không phải một sự kiện về vị trí hay nơi chốn, vì chính việc vật chất hóa và định vị khái niệm chính này đã tạo ra quá nhiều nguy hiểm. Đạo sinh-điểm đạo đồ tìm cách nắm bắt mối liên hệ của ba năng lượng căn bản, ba con đường của lửa sống, mối liên hệ và tương liên của chúng cùng sự phân cực tuần tự của chúng. Y không tìm cách thu hẹp giáo huấn thành các điểm, các đường và vị trí cho đến khi [185] những thuật ngữ này ít còn ý nghĩa đối với y và y biết nhiều hơn.

8. These three paths of life are the channels for electric fire, solar fire and fire by friction, and are related in their usage to the three stages of the path of evolution: the path of evolution in the material, earlier stages; the Path of Probation, and the early stages of the Path of Discipleship until the third initiation; and the Path of Initiation itself.

8. Ba con đường sự sống này là các kênh cho Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, và trong cách sử dụng của chúng, chúng liên hệ đến ba giai đoạn của con đường tiến hoá: con đường tiến hoá trong các giai đoạn vật chất ban đầu; Con Đường Dự Bị, và các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử cho đến lần điểm đạo thứ ba; và chính Con Đường Điểm Đạo.

9. The Kundalini Fire, about which so much is taught and written in the East, and increasingly in the West, is in reality the union of these three fires, which are focussed by an act of the enlightened will, under the impulse of love, in the basic centre. This unified fire is then raised by the use of a Word of Power (sent forth by the will of the Monad) and by the united authority of the soul and personality, integrated and alive. The human being who can do this in full consciousness is therefore an initiate who has left the third initiation behind him. He, and he alone, can safely raise this triple fire from the base of the spine to the head centre.

9. Lửa Kundalini, điều đã được giảng dạy và viết nhiều ở phương Đông, và ngày càng nhiều ở phương Tây, trên thực tế là sự hợp nhất của ba ngọn lửa này, được tập trung bằng một hành vi của ý chí được soi sáng, dưới xung lực của tình thương, trong trung tâm căn bản. Ngọn lửa hợp nhất này sau đó được nâng lên bằng việc sử dụng một Quyền năng từ (được phát ra bởi ý chí của Chân thần) và bởi thẩm quyền hợp nhất của linh hồn và phàm ngã, đã được tích hợp và sống động. Vì vậy, con người có thể làm điều này trong tâm thức trọn vẹn là một điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba. Chỉ y, và chỉ riêng y, mới có thể an toàn nâng ngọn lửa tam phân này từ đáy cột sống lên trung tâm đầu.

10. As usually interpreted by the ignorant esotericist in the various occult groups, the kundalini fire is something which must be “raised,” and when it is raised all the centres will then come into functioning activity and the channels up and down the spine will be cleared of all obstruction. This is a dangerous generalisation and a reversal of the facts. The kundalini fire will be raised and carried up into heaven when all the centres are awakened and the channels up the spine are unimpeded. This removal of all obstruction is the result of the livingness of the individual centres which, [186] through the potency of their life, themselves are effective in destroying all hindrances and obstructions. They can “burn up” all that hinders their radiation. What usually happens in those accidental cases (which do so much harm) is that the aspirant, through his ignorant curiosity and by an effort of the mind (not of the spiritual will, but purely as an expression of personality will), succeeds in arousing the lowest of the three fires, the fire of matter, fire by friction; this produces a premature burning and destroys the etheric web in the etheric body. These circular disks or webs are to be found between each pair of the centres up the spine and also in the head. They are normally dissipated as purity of life, the discipline of the emotions, and the development of the spiritual will are carried forward.

10. Như thường được nhà bí truyền học vô minh trong các nhóm huyền bí khác nhau diễn giải, lửa kundalini là một cái gì đó phải được “nâng lên,” và khi được nâng lên thì mọi trung tâm sẽ đi vào hoạt động chức năng và các kinh mạch lên xuống dọc cột sống sẽ được khai thông khỏi mọi chướng ngại. Đây là một sự khái quát hóa nguy hiểm và là sự đảo ngược các sự kiện. Lửa kundalini sẽ được nâng lên và mang lên thiên thượng khi mọi trung tâm đều được thức tỉnh và các kinh mạch dọc cột sống không còn bị ngăn trở. Việc loại bỏ mọi chướng ngại này là kết quả của sức sống nơi các trung tâm cá biệt; chính chúng, [186] nhờ quyền năng của sự sống mình, có hiệu quả trong việc tự hủy diệt mọi cản trở và chướng ngại. Chúng có thể “thiêu hủy” mọi điều ngăn trở sự bức xạ của chúng. Điều thường xảy ra trong những trường hợp ngẫu nhiên ấy (vốn gây rất nhiều tổn hại) là người chí nguyện, do tính tò mò vô minh của y và bằng một nỗ lực của trí tuệ (không phải của ý chí tinh thần, mà hoàn toàn như một biểu hiện của ý chí phàm ngã), đã thành công trong việc khơi dậy ngọn lửa thấp nhất trong ba ngọn lửa, lửa của vật chất, Lửa ma sát; điều này tạo ra một sự thiêu đốt non sớm và phá hủy mạng lưới dĩ thái trong thể dĩ thái. Những đĩa tròn hay mạng lưới này được tìm thấy giữa mỗi cặp trung tâm dọc cột sống và cả trong đầu nữa. Bình thường, chúng được làm tiêu tan khi sự thanh khiết của đời sống, sự kỷ luật cảm xúc và sự phát triển của ý chí tinh thần được xúc tiến.