← Esoteric Healing (A Treatise on the Seven Rays Book 4)

[187]

[187]

[187]

There are four of these webs. When the fourfold personality is highly developed and the ajna centre is awakening, then these webs slowly and gradually, normally and automatically disappear. The webs in the head are of much higher quality and bisect the skull horizontally and vertically. Thus they symbolise the Cross upon which a Son of God is crucified.

Có bốn mạng lưới như vậy. Khi phàm ngã tứ phân được phát triển cao và trung tâm ajna đang thức tỉnh, thì các mạng lưới này chậm rãi và dần dần, một cách bình thường và tự động, biến mất. Các mạng lưới trong đầu có phẩm tính cao hơn nhiều và chia hộp sọ theo chiều ngang và chiều dọc. Vì vậy chúng tượng trưng cho thập giá mà trên đó một Con của Thượng đế bị đóng đinh.

11. The three channels up the spine are responsive in their totality to the three major centres:

11. Ba kinh mạch dọc cột sống trong toàn thể của chúng đáp ứng với ba trung tâm chính:

a. To the solar plexus centre, providing thus the impulse of desire and feeding the physical life and the creative urge.

a. Với trung tâm tùng thái dương, nhờ đó cung cấp xung lực của dục vọng và nuôi dưỡng đời sống thể xác cùng thôi thúc sáng tạo.

b. To the heart centre, providing the impulse to love and to conscious contact with ever widening areas of divine expression.

b. Với trung tâm tim, nhờ đó cung cấp xung lực yêu thương và sự tiếp xúc hữu thức với những phạm vi ngày càng mở rộng của biểu hiện thiêng liêng.

c. To the head centre, providing the dynamic impulse of the will to live.

c. Với trung tâm đầu, nhờ đó cung cấp xung lực năng động của ý chí sống.

I do not indicate which channel is responsive to which centre, except in the case of the sushumna channel which is responsive only to the energy of the head centre and the directing will, centred in the 1000-petalled lotus. This can be safely stated, as the spiritual will is as yet undeveloped in those who seek to arouse kundalini. When it is aroused, they will know what they can safely do.

Tôi không chỉ ra kinh mạch nào đáp ứng với trung tâm nào, ngoại trừ trường hợp kinh mạch sushumna chỉ đáp ứng với năng lượng của trung tâm đầu và ý chí chỉ đạo, được định tâm trong hoa sen ngàn cánh. Điều này có thể được nói ra một cách an toàn, vì ý chí tinh thần vẫn chưa phát triển nơi những ai tìm cách khơi dậy kundalini. Khi nó được khơi dậy, họ sẽ biết họ có thể làm gì một cách an toàn.

12. The three centres in the head are also related to this triple channel:

12. Ba trung tâm trong đầu cũng liên hệ với kinh mạch tam phân này:

a. The medulla oblongata area (the alta major centre) and the carotid gland.

a. Vùng hành tủy (trung tâm alta major) và tuyến cảnh.

b. The ajna centre and the pituitary body.

b. Trung tâm ajna và tuyến yên.

c. The 1000-petalled lotus and the pineal gland.

c. Hoa sen ngàn cánh và tuyến tùng.

Students will find it interesting to relate all these triplicities to the three major rays:[188]

Các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi liên hệ tất cả các bộ ba này với ba cung chính:[188]

a. The first ray of will or power,

a. cung một của ý chí hay quyền lực,

b. The second ray of love-wisdom,

b. cung hai của bác ái-minh triết,

c. The third ray of active intelligence,

c. cung ba của trí tuệ linh hoạt,

and also to the three human races which are endowed with the power to unfold the seed of these divine aspects: Lemuria, Atlantis and the Aryan race. These can be linked, as seed, to the two final races which will fuse and synthesise all the above powers, qualities, achievements and goals into one perfected planetary life.

và cũng với ba nhân loại được phú cho quyền năng khai mở hạt giống của các phương diện thiêng liêng này: Lemuria, Atlantis và nhân loại Arya. Các nhân loại này có thể được nối kết, như hạt giống, với hai nhân loại cuối cùng, là những nhân loại sẽ dung hợp và tổng hợp mọi quyền năng, phẩm tính, thành tựu và mục tiêu nói trên thành một sự sống hành tinh hoàn thiện duy nhất.

Another synthesis is also possible and of importance:

Một sự tổng hợp khác cũng có thể có và rất quan trọng:

a. Path of Evolution........centres below the diaphragm.

a. Con Đường tiến hoá........các trung tâm dưới cơ hoành.

b. Path of Discipleship........centres above the diaphragm.

b. Con Đường Đệ Tử........các trung tâm trên cơ hoành.

c. Path of Initiation........centres in the head.

c. Con Đường Điểm Đạo........các trung tâm trong đầu.

These groups and triplicities are all related in time and space to the triple spinal cord.

Các nhóm và các bộ ba này đều liên hệ trong thời gian và không gian với tủy sống tam phân.

13. There is also—again in relation to all the above points of synthesis in the body—one consummating point of complete fusion. I give each of these in the sequence of their work of fusion:

13. Cũng còn có—một lần nữa liên hệ với mọi điểm tổng hợp nói trên trong thể—một điểm hoàn tất của sự dung hợp trọn vẹn. Tôi nêu ra từng điểm này theo trình tự công việc dung hợp của chúng:

a. The solar plexus centre, fusing the centres below the diaphragm.

a. Trung tâm tùng thái dương, dung hợp các trung tâm dưới cơ hoành.

b. The ajna centre, fusing centres both above and below the diaphragm.

b. Trung tâm ajna, dung hợp các trung tâm cả trên lẫn dưới cơ hoành.

c. The base of the spine, fusing all six centres.

c. Đáy cột sống, dung hợp cả sáu trung tâm.

d. The thousand-petalled lotus of the head, fusing all the seven energies.

d. Hoa sen ngàn cánh nơi đầu, dung hợp cả bảy năng lượng.

Bear in mind, in connection with all the above, that we are dealing entirely with forces and energies, functioning through the etheric body; that we are dealing with [189] the tertiary world of causes, which is responsible for the organic world of the dense physical manifestation. This physical manifestation is itself subject to the influence of the secondary world of conscious life, which in its turn is responsive in time and space to the dynamic world of purpose and of Being.

Hãy ghi nhớ, liên hệ với tất cả những điều trên, rằng chúng ta hoàn toàn đang đề cập đến các mãnh lực và năng lượng, vận hành qua thể dĩ thái; rằng chúng ta đang đề cập đến [189] thế giới tam cấp của các nguyên nhân, thế giới chịu trách nhiệm cho thế giới hữu cơ của biểu hiện hồng trần đậm đặc. Bản thân biểu hiện hồng trần này lại chịu ảnh hưởng của thế giới thứ cấp của sự sống hữu thức, mà đến lượt nó trong thời gian và không gian đáp ứng với thế giới năng động của mục đích và của Bản Thể.

The key to the full life of the soul lies hidden in my words, but it takes the dedicated life and the illumined mind to profit by the knowledge conveyed, and to see behind the form of words the key thought which gives it life and—occultly speaking—generative warmth.

Chìa khóa cho sự sống trọn vẹn của linh hồn được ẩn giấu trong lời tôi, nhưng cần có đời sống tận hiến và trí tuệ được soi sáng mới có thể hưởng lợi từ tri thức được truyền đạt, và thấy được đằng sau hình thức ngôn từ tư tưởng chủ chốt ban cho nó sự sống và—nói theo huyền bí học—hơi ấm sinh thành.

Have clearly in mind the concepts of stimulation or lack of stimulation, of interplay or of separativeness, of quiescence or of activity, for in these dualities are to be found the causes of health or of disease.

Hãy ghi rõ trong trí các khái niệm về sự kích thích hay thiếu kích thích, về sự tương tác hay tính biệt lập, về sự tĩnh tại hay hoạt động, vì trong các nhị nguyên này có thể tìm thấy các nguyên nhân của sức khỏe hay bệnh tật.

The Etheric Body, Nervous and Endocrine Systems

Thể Dĩ Thái, Hệ Thần Kinh và Hệ Nội Tiết

What I have to say here is based upon certain remarks in the previous pages wherein I pointed out that

Điều tôi phải nói ở đây dựa trên một số nhận xét trong các trang trước, nơi tôi đã chỉ ra rằng

1. The etheric body itself

1. Chính thể dĩ thái

2. The nervous system

2. Hệ thần kinh

3. The endocrine system

3. Hệ nội tiết

are closely “related to each other and constitute an interlocking directorate of energies and forces which are essentially vital, galvanic, dynamic and creative.... Upon them, the entire interior health of the body depends.” To these three I then added the blood stream as the conveyor throughout the body of

có liên hệ mật thiết với nhau và tạo thành một ban chỉ đạo đan kết của các năng lượng và mãnh lực vốn về bản chất là sinh lực, điện lực, năng động và sáng tạo.... Toàn bộ sức khỏe nội tại của thể xác tùy thuộc vào chúng.” Sau đó tôi đã thêm vào ba yếu tố này dòng máu như tác nhân chuyên chở khắp cơ thể

1. The Life Principle.

1. Nguyên khí Sự Sống.

2. The combined energies of the three above systems,

2. Các năng lượng kết hợp của ba hệ thống trên,

and pointed out that the great combination of forces which we call the pairs of opposites or the major dualities, govern [190] the underlying causes of health and disease. In making these statements, I am endeavouring to reduce our entire theme to one of the utmost simplicity. In so doing, some of the truth is lost, but it is essential that certain broad generalisations are grasped by the student before he begins to study the exceptions and to deal with minutiae and the detail of bodily defects or their opposites.

và đã chỉ ra rằng sự kết hợp lớn lao của các mãnh lực mà chúng ta gọi là các cặp đối lập hay các nhị nguyên chính chi phối [190] các nguyên nhân nền tảng của sức khỏe và bệnh tật. Khi đưa ra các phát biểu này, tôi đang cố gắng giản lược toàn bộ chủ đề của chúng ta thành một điều hết sức đơn giản. Khi làm như vậy, một phần chân lý bị mất đi, nhưng điều cốt yếu là đạo sinh phải nắm được một số khái quát rộng lớn trước khi bắt đầu nghiên cứu các ngoại lệ và đề cập đến các chi tiết vụn vặt cùng các khuyết tật của cơ thể hay các đối cực của chúng.

It has become a truism with students of the occult that the etheric body conditions, controls and determines the life expression of the incarnated individual. It is a secondary truism that this etheric body is the conveyor of the forces of the personality, through the medium of the centres, and thereby galvanises the physical body into activity. These forces, routed through the centres, are those of the integrated personality as a whole, or are simply the forces of the astral or emotional body and the mind body; they also transmit the force of the personality ray or the energy of the soul ray, according to the point in evolution reached by the man. The physical body, therefore, is not a principle. It is conditioned and does not condition—a point oft forgotten. It is a victim of personality life or the triumphant expression of soul energy. It is for this reason that the science of psychology will, during the next two centuries, dominate modern medical science, except in the category of those diseases with which we will deal in our next section—those emanating from group life, such as tuberculosis, venereal diseases and cancer. Until the race is more definitely group conscious (something as yet far distant) it will not be possible to apply broad psychological generalisations to the diseases indigenous to our planet. We can, however, consider the handling of similar difficulties which arise in the individual unit; these are based on the conflict of the pairs of opposites and upon the lack of harmony to be found in the three major interlocking, directing systems.

Đối với các đạo sinh huyền bí học, việc thể dĩ thái tác động lên, kiểm soát và quyết định biểu hiện sự sống của cá nhân đang lâm phàm đã trở thành một điều hiển nhiên. Một điều hiển nhiên thứ hai là thể dĩ thái này là tác nhân chuyên chở các mãnh lực của phàm ngã, qua trung gian các trung tâm, và nhờ đó kích hoạt thể xác đi vào hoạt động. Các mãnh lực này, được dẫn truyền qua các trung tâm, là những mãnh lực của toàn bộ Phàm ngã tích hợp, hoặc đơn giản là các mãnh lực của thể cảm dục hay thể cảm xúc và thể trí; chúng cũng truyền dẫn mãnh lực của cung phàm ngã hay năng lượng của cung linh hồn, tùy theo điểm tiến hoá mà con người đã đạt tới. Vì vậy, thể xác không phải là một nguyên khí. Nó bị tác động và không tác động—một điểm thường bị quên lãng. Nó là nạn nhân của đời sống phàm ngã hoặc là biểu hiện chiến thắng của năng lượng linh hồn. Chính vì lý do này mà khoa học tâm lý học, trong hai thế kỷ tới, sẽ chi phối khoa học y học hiện đại, ngoại trừ trong loại bệnh mà chúng ta sẽ đề cập đến trong phần kế tiếp—những bệnh phát sinh từ đời sống nhóm, như lao, bệnh hoa liễu và ung thư. Chừng nào nhân loại chưa có tâm thức nhóm rõ rệt hơn (điều hiện vẫn còn rất xa) thì sẽ không thể áp dụng các khái quát tâm lý học rộng lớn vào những bệnh tật bản địa của hành tinh chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét việc xử lý những khó khăn tương tự phát sinh trong đơn vị cá nhân; những khó khăn này dựa trên xung đột của các cặp đối lập và trên sự thiếu hài hòa nơi ba hệ thống chỉ đạo đan kết chính.

[191]

[191]

You have, therefore, three systems to carry in your minds, and one carrier or conveying agent, plus the basic occult fact that certain great opposing energies, working within the body, produce what we call disease. To the above factors I would add another needed correlation. I would remind you that we are concerned with forms of life, and that all these forms are creative within themselves, and can create potentially more forms or can provide environments in which these forms can live. Please note this mode of expressing a fundamental truth. The basis of all the occult teaching as regards manifestation is that the building forces exist, and that this statement is true whether you are concerned with the Life of a solar system or only with the consciousness of that body in which the human being moves and lives—along sound or unsound lines; we are dealing with the world body in which a human being lives. Owing to this, we come up against another great natural Law which can be expressed simply as follows:

Vì vậy, bạn có ba hệ thống cần ghi nhớ, và một tác nhân chuyên chở hay truyền dẫn, cộng thêm sự kiện huyền bí học căn bản rằng một số năng lượng đối nghịch lớn lao, hoạt động trong cơ thể, tạo ra điều chúng ta gọi là bệnh tật. Vào các yếu tố trên tôi muốn thêm một sự tương quan cần thiết khác. Tôi muốn nhắc bạn rằng chúng ta đang quan tâm đến các hình tướng sự sống, và rằng tất cả các hình tướng này đều sáng tạo trong chính chúng, và có thể tiềm tàng tạo ra thêm nhiều hình tướng hoặc cung cấp những môi trường trong đó các hình tướng ấy có thể sống. Xin lưu ý cách diễn đạt này của một chân lý căn bản. Nền tảng của mọi giáo huấn huyền bí học liên quan đến biểu hiện là các mãnh lực kiến tạo hiện hữu, và phát biểu này là đúng dù bạn đang quan tâm đến Sự Sống của một hệ mặt trời hay chỉ đến tâm thức của thể mà trong đó con người vận động và sống—theo những đường lối lành mạnh hay không lành mạnh; chúng ta đang đề cập đến thể thế giới mà trong đó con người sống. Do đó, chúng ta đối diện với một Định luật tự nhiên lớn khác có thể được diễn đạt đơn giản như sau:

LAW VI

ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower Personal self, then you have disease, ill health and death.

Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, thì có sức khỏe, sự tương tác thanh sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những ai hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì bạn có bệnh tật, sức khỏe suy kém và cái chết.

This is a profoundly simple rule, but it gives the clue to the causes of disease and to the reason for an established immortality; it will be understood with great clarity and comprehension in a few years’ time and will then supersede those idealistic but factually unsound and untrue systems to which we give the name Unity, Mental Science and Christian Science. These systems present as immediate, demonstrable possibilities the stage of final liberation [192] from the natural and material limitations which today control all forms; they ignore the time factor, and overlook the evolutionary process and also the point of development of the person concerned; their position is based on wishful thinking and on the innate desire of the average human being for comfort and physical harmony, and gloss the innate selfishness of their presentation of truth with the concept that all is to the eternal glory of God. Unquestionably, disease and physical limitations of any kind will vanish, but this will only happen when the soul of the individual controls and the lower personal self becomes as much an automaton of the soul as the physical body is at this time the automaton of the emotional nature, of the mind, and occasionally (and only very occasionally for the majority of people) of the soul.

Đây là một quy luật hết sức đơn giản nhưng sâu xa, song nó đưa ra đầu mối về các nguyên nhân của bệnh tật và về lý do của sự bất tử đã được thiết lập; trong vài năm nữa nó sẽ được hiểu với sự sáng tỏ và thấu hiểu lớn lao, và khi đó sẽ thay thế những hệ thống duy tâm nhưng không vững chắc về mặt sự kiện và không chân thực mà chúng ta gọi là Unity, Mental Science và Christian Science. Các hệ thống này trình bày như những khả năng tức thời, có thể chứng minh được, giai đoạn giải thoát cuối cùng [192] khỏi những giới hạn tự nhiên và vật chất hiện đang kiểm soát mọi hình tướng; chúng bỏ qua yếu tố thời gian, xem nhẹ tiến trình tiến hoá và cả điểm phát triển của người liên hệ; lập trường của chúng dựa trên tư duy mong muốn và trên khát vọng bẩm sinh của con người trung bình đối với sự tiện nghi và hài hòa thể xác, đồng thời che đậy tính ích kỷ bẩm sinh trong cách trình bày chân lý của chúng bằng khái niệm rằng mọi sự đều vì vinh quang vĩnh cửu của Thượng đế. Không nghi ngờ gì nữa, bệnh tật và các giới hạn thể xác dưới bất kỳ hình thức nào sẽ biến mất, nhưng điều này chỉ xảy ra khi linh hồn của cá nhân kiểm soát và phàm ngã thấp trở thành một tự động cơ của linh hồn cũng nhiều như thể xác hiện nay là tự động cơ của bản chất cảm xúc, của trí tuệ, và đôi khi (và chỉ rất hiếm khi đối với đa số người) của linh hồn.

Only when the soul, consciously and with the cooperation of the personality, builds the temple of the body, and then keeps it full of light, will disease disappear; this building is, however, a scientific process, and in the early stages of discipleship (which is the time wherein the soul begins to grasp its instrument, the personality) this leads inevitably to conflict, increased strain and frequently aggravated disease and disharmony. This dis-harmony and dis-ease lead to much necessary trouble and consequent undesirable effects. These effects will be overcome but—in the interim of adjustment—whilst they are registering and expressing themselves, there will be much distress, physical and psychological, and all the major and minor difficulties to which humanity seems heir.

Chỉ khi linh hồn, một cách hữu thức và với sự hợp tác của phàm ngã, xây dựng ngôi đền của thể xác, rồi giữ cho nó đầy ánh sáng, thì bệnh tật mới biến mất; tuy nhiên, việc xây dựng này là một tiến trình khoa học, và trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử (là thời kỳ linh hồn bắt đầu nắm lấy công cụ của mình là phàm ngã) điều này tất yếu dẫn đến xung đột, gia tăng căng thẳng và thường là bệnh tật cùng bất hòa trầm trọng hơn. Sự bất hòa và bất an này dẫn đến nhiều rắc rối cần thiết và các hậu quả không mong muốn tiếp theo. Những hậu quả này sẽ được vượt qua nhưng—trong giai đoạn điều chỉnh tạm thời—khi chúng đang ghi nhận và biểu lộ chính mình, sẽ có nhiều đau khổ, cả thể xác lẫn tâm lý, và mọi khó khăn lớn nhỏ mà nhân loại dường như phải thừa hưởng.

In undeveloped humanity, the conflict (from the angle of consciousness) is practically nil; you have less susceptibility to the subtler diseases emanating from the three interlocking systems, but at the same time a much greater responsiveness to the three indigenous diseases, to infectious [193] and contagious diseases, and to the great epidemics which sweep through nations and great planetary areas. As humanity develops, diseases become more personal (if I might express it in this manner) and are not so definitely related to the herd or mass condition. They arise within the persons themselves, and though they may be related to the mass diseases, they are based on individual causes.

Trong nhân loại chưa phát triển, xung đột (xét từ góc độ tâm thức) hầu như không có; bạn có ít tính nhạy cảm hơn đối với các bệnh tinh tế hơn phát sinh từ ba hệ thống đan kết, nhưng đồng thời lại đáp ứng mạnh hơn nhiều với ba bệnh bản địa, với các bệnh truyền nhiễm [193] và lây lan, và với những trận dịch lớn quét qua các quốc gia và những vùng hành tinh rộng lớn. Khi nhân loại phát triển, bệnh tật trở nên mang tính cá nhân hơn (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) và không còn liên hệ quá rõ rệt với tình trạng bầy đàn hay quần chúng nữa. Chúng phát sinh bên trong chính con người, và dù có thể liên hệ với các bệnh quần chúng, chúng vẫn dựa trên các nguyên nhân cá nhân.

When a man steps out of the general mass and steps upon the probationary path, and thus becomes a candidate for discipleship, then the diseases of the flesh and the inharmony of his entire threefold system, plus the conveying stream, constitute a conscious problem and one which the aspirant must himself tackle—thus revealing to him the need for conscious, creative building.

Khi một người bước ra khỏi khối quần chúng chung và bước lên Con Đường Dự Bị, và nhờ đó trở thành một ứng viên cho địa vị đệ tử, thì các bệnh của xác thân và sự bất hòa của toàn bộ hệ thống tam phân của y, cộng với dòng truyền dẫn, tạo thành một vấn đề hữu thức mà chính người chí nguyện phải tự mình giải quyết—nhờ đó bộc lộ cho y nhu cầu về sự kiến tạo hữu thức, sáng tạo.

It is at this point that the doctrine of reincarnation becomes of supreme value; the disciple begins to institute those conditions, to create those forms and build those vehicles which, in another life, will prove more suitable for soul control and more adequate instruments with which tocarry forward the perfecting process which the soul demands. Let me point out that the disciple does not concentrate upon the physical body at any time, or begin with any physical emphasis to work at the elimination of disease or disharmony. He begins with the psychology which the soul teaches and commences with the causes which are producing the effects upon the physical plane. It is a slower process, but endures. Much of the violent auto-suggestion of the systems allied to Christian Science and Unity are only temporary in their effects and are based upon a process of scientific suppression, plus a refusal to recognise existent factors. They are not based on truth. In a later life, the suppressed condition will again emerge in ever greater potency and will continue so to do until such time as it is ignored altogether and the life emphasis is laid on soul contact [194] and the life expression is extroverted into service to others.

Chính tại điểm này mà giáo lý luân hồi trở nên có giá trị tối thượng; đệ tử bắt đầu thiết lập những điều kiện, tạo ra những hình tướng và xây dựng những vận cụ mà trong một kiếp sống khác sẽ tỏ ra thích hợp hơn cho sự kiểm soát của linh hồn và là những công cụ đầy đủ hơn để tiếp tục tiến trình hoàn thiện mà linh hồn đòi hỏi. Xin để tôi chỉ ra rằng đệ tử không tập trung vào thể xác vào bất kỳ lúc nào, cũng không bắt đầu bằng bất kỳ sự nhấn mạnh hồng trần nào để làm việc loại trừ bệnh tật hay bất hòa. Y bắt đầu với tâm lý học mà linh hồn dạy và khởi sự từ các nguyên nhân đang tạo ra các kết quả trên cõi hồng trần. Đó là một tiến trình chậm hơn, nhưng bền vững. Phần lớn sự tự ám thị mãnh liệt của các hệ thống liên hệ với Christian Science và Unity chỉ có tác dụng tạm thời và dựa trên một tiến trình đàn áp có tính khoa học, cộng với sự từ chối thừa nhận các yếu tố hiện hữu. Chúng không dựa trên chân lý. Trong một kiếp sống sau, tình trạng bị đàn áp ấy sẽ lại xuất hiện với năng lực ngày càng lớn hơn và sẽ tiếp tục như vậy cho đến khi nó bị hoàn toàn phớt lờ và trọng tâm đời sống được đặt vào sự tiếp xúc linh hồn [194] và biểu hiện sự sống được hướng ngoại vào việc phụng sự tha nhân.

In connection with physical disease and its relation to the centres (regarding these as focal points for incoming energies from some source or another) it might be useful if certain broad generalisations were made here, remembering that to all of these there may be exceptions, particularly in the case of the health or the non-health of disciples.

Liên hệ với bệnh thể xác và mối quan hệ của nó với các trung tâm (xem các trung tâm như những tiêu điểm cho các năng lượng đi vào từ nguồn này hay nguồn khác), sẽ hữu ích nếu ở đây đưa ra một số khái quát rộng lớn, đồng thời nhớ rằng đối với tất cả những điều này đều có thể có ngoại lệ, đặc biệt trong trường hợp sức khỏe hay tình trạng không khỏe của các đệ tử.

1. Each of the seven major centres governs or conditions—from the material angle as well as from that of the soul and of the life principle—the area of the physical body in which it is found, including the multitude of lesser centres of energy and plexi of force which may be found therein.

1. Mỗi một trong bảy trung tâm chính chi phối hay tác động—từ góc độ vật chất cũng như từ góc độ của linh hồn và của nguyên khí sự sống—lên khu vực của thể xác nơi nó tọa lạc, kể cả vô số trung tâm năng lượng nhỏ hơn và các đám rối mãnh lực có thể được tìm thấy trong đó.

2. The three great basic and manifesting divisions of divinity are to be found symbolically present in every centre:

2. Ba phân bộ lớn căn bản và biểu hiện của thiên tính hiện diện một cách tượng trưng trong mọi trung tâm:

a. The life principle, the first aspect, discloses itself when the entire centre is esoterically unfolded or awakened. It is present all the time in latency, but it is not a dynamic factor producing monadic stimulation until the end of the great cycle of evolution.

a. Nguyên khí sự sống, phương diện thứ nhất, tự bộc lộ khi toàn bộ trung tâm được khai mở hay thức tỉnh một cách huyền bí. Nó luôn hiện diện trong trạng thái tiềm ẩn, nhưng không phải là một yếu tố năng động tạo ra sự kích thích chân thần cho đến cuối đại chu kỳ tiến hoá.

b. The quality or soul aspect is gradually disclosed in the process of evolutionary unfoldment and produces, in time and space, the definite effect which the centre has upon its environment. This quality is dependent upon the ray (either of the personality or the soul) which is the source of the incoming energy, or upon the ray governing the astral body in the case of the little evolved: it is also dependent upon the point in evolution and upon the radiatory influence of other centres.

b. Phẩm tính hay phương diện linh hồn dần dần được bộc lộ trong tiến trình khai mở tiến hoá và tạo ra, trong thời gian và không gian, hiệu quả xác định mà trung tâm gây ra lên môi trường của nó. Phẩm tính này tùy thuộc vào cung (hoặc của phàm ngã hoặc của linh hồn) là nguồn của năng lượng đi vào, hoặc vào cung chi phối thể cảm dục trong trường hợp người ít tiến hóa; nó cũng tùy thuộc vào điểm tiến hoá và vào ảnh hưởng bức xạ của các trung tâm khác.

c. The appearance in the etheric body of a developed or a developing centre indicates the place of the man upon the ladder of evolution, his racial affiliations, and his conscious goal; this latter can range all the [195] way from an emphasis upon the sex life, and consequent activity of the sacral centre, to the goal of the initiate, which brings the head centre into activity. All this produces a consequent effect upon the surrounding tissue, substance and organic forms within the radius of influence of the centre. The area of this influence is variable according to the activity of the centre and this is dependent upon the point of development reached by the individual and the preponderant type of energy to which the individual reacts.

c. Sắc tướng trong thể dĩ thái của một trung tâm đã phát triển hay đang phát triển cho biết vị trí của con người trên nấc thang tiến hoá, các liên hệ chủng tộc của y, và mục tiêu hữu thức của y; mục tiêu sau cùng này có thể trải dài [195] từ sự nhấn mạnh vào đời sống tính dục, và do đó là hoạt động của trung tâm xương cùng, cho đến mục tiêu của điểm đạo đồ, vốn đưa trung tâm đầu vào hoạt động. Tất cả điều này tạo ra một hiệu quả tương ứng lên mô, chất liệu và các hình tướng hữu cơ xung quanh trong bán kính ảnh hưởng của trung tâm. Khu vực ảnh hưởng này thay đổi tùy theo hoạt động của trung tâm, và điều này lại tùy thuộc vào điểm phát triển mà cá nhân đã đạt tới và loại năng lượng trội hơn mà cá nhân đáp ứng.

3. The incoming energy is transmuted within the centre into forces. This involves a process of differentiation into secondary energies of the primary energy involved, and is an automatic happening; the rate of transmutation process, the strength of the resultant aggregation of forces, and the subsequent radiatory activity producing conditioning results upon the dense physical body) are dependent upon the extent of the unfoldment of the particular centre involved and its awakened or unawakened state.

3. Năng lượng đi vào được chuyển hoá trong trung tâm thành các mãnh lực. Điều này bao hàm một tiến trình biến phân thành các năng lượng thứ cấp của năng lượng sơ cấp liên hệ, và đó là một diễn biến tự động; tốc độ của tiến trình chuyển hoá, sức mạnh của tập hợp mãnh lực kết quả, và hoạt động bức xạ tiếp theo tạo ra các kết quả tác động lên thể xác hồng trần đậm đặc) đều tùy thuộc vào mức độ khai mở của trung tâm liên hệ và trạng thái thức tỉnh hay chưa thức tỉnh của nó.

4. The outgoing forces from a centre play upon the etheric counterpart of the entire intricate network of nerves which constitute the nervous system. These counterparts of identical subjective correspondences are called in the Hindu philosophy, the “nadis”; they constitute an intricate and most extensive network of fluid energies which are an intangible, interior, paralleling system to that of the bodily nerves, which latter system is in fact an externalisation of the inner pattern of energies. There is as yet no word in the. English language or in any European tongue for the ancient word “nadi,” because the existence of this subjective system is not yet recognised, and only the materialistic concept of the nerves as a system built up in response to a tangible [196] environment yet holds sway in the West. The idea of these nerves being the dense physical result of an inner sensitive response apparatus is still undefined and unrecognised by modern Western science. When recognition is accorded to this subtle substance (composed of threads of energy) underlying the more tangible nerves, we shall have moved forward in our approach to the entire problem of health and disease, and the world of causes will be that much nearer. This network of nadis forms a definite life pattern which varies according to the personality ray.

4. Các mãnh lực đi ra từ một trung tâm tác động lên đối phần dĩ thái của toàn bộ mạng lưới thần kinh phức tạp cấu thành hệ thần kinh. Những đối phần của các tương ứng chủ quan đồng nhất này được gọi trong triết học Ấn Độ là “nadis”; chúng tạo thành một mạng lưới phức tạp và hết sức rộng lớn của các năng lượng lưu chất, là một hệ thống song hành vô hình, nội tại với hệ thần kinh của cơ thể, mà hệ sau này thực ra là sự ngoại hiện của mô hình năng lượng bên trong. Hiện nay trong tiếng Anh hay trong bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào vẫn chưa có từ nào cho từ cổ “nadi,” vì sự hiện hữu của hệ thống chủ quan này vẫn chưa được thừa nhận, và chỉ có quan niệm duy vật về thần kinh như một hệ thống được xây dựng để đáp ứng với một môi trường hữu hình [196] vẫn còn thống trị ở phương Tây. Ý tưởng cho rằng các dây thần kinh này là kết quả hồng trần đậm đặc của một bộ máy đáp ứng nhạy cảm bên trong vẫn còn chưa được xác định và chưa được khoa học phương Tây hiện đại công nhận. Khi sự công nhận được dành cho chất liệu tinh tế này (được cấu thành từ các sợi năng lượng) nằm dưới các dây thần kinh hữu hình hơn, chúng ta sẽ tiến thêm một bước trong cách tiếp cận toàn bộ vấn đề sức khỏe và bệnh tật, và thế giới của các nguyên nhân sẽ gần hơn rất nhiều. Mạng lưới nadis này tạo thành một mô hình sự sống xác định, thay đổi theo cung phàm ngã.

5. The nadis, therefore, determine the nature and the quality of the nervous system with its extensive network of nerves and plexi covering the entire physical body. The nadis, and consequently the network of nerves, are related primarily to two aspects of man’s physical equipment—the seven major centres in the etheric body (the substantial body which underlies the dense physical body), and the spinal column with the head. It must always be remembered that the etheric body is a physical body, though composed of subtler material than the one we can see and touch. It is made of substance or of that which “substands,” or underlies, every part and particle of the dense physical vehicle. This is a point which will later receive attention from healers and from enlightened medical men in the New Age. When this relationship existing between the nadis and the nerves, and their joint relationship to the centres and spinal column is recognised, we shall see a great revolution in medical and psychiatric methods. Experience will tend to show that the more closely the interplay between these two—the nadis and the nerves—can be brought about, the more rapidly will the control of disease also be implemented.

5. Vì vậy, các nadis quyết định bản chất và phẩm tính của hệ thần kinh với mạng lưới rộng lớn các dây thần kinh và đám rối bao phủ toàn bộ thể xác. Các nadis, và do đó mạng lưới thần kinh, liên hệ chủ yếu với hai phương diện của trang bị hồng trần của con người—bảy trung tâm chính trong thể dĩ thái (thể chất liệu nằm dưới thể xác hồng trần đậm đặc), và cột sống cùng đầu. Phải luôn nhớ rằng thể dĩ thái là một thể hồng trần, dù được cấu thành bằng vật chất tinh tế hơn thể mà chúng ta có thể thấy và chạm vào. Nó được làm bằng chất liệu hay bằng cái “nâng đỡ,” hay nằm dưới, mọi phần và mọi hạt của vận cụ hồng trần đậm đặc. Đây là một điểm mà sau này các nhà trị liệu và các y sĩ được soi sáng trong Kỷ Nguyên Mới sẽ chú ý. Khi mối quan hệ hiện hữu giữa các nadis và các dây thần kinh, cùng mối quan hệ chung của chúng với các trung tâm và cột sống được công nhận, chúng ta sẽ thấy một cuộc cách mạng lớn trong các phương pháp y học và tâm thần học. Kinh nghiệm sẽ có xu hướng cho thấy rằng sự tương tác giữa hai hệ này—các nadis và các dây thần kinh—càng được thiết lập chặt chẽ bao nhiêu, thì việc kiểm soát bệnh tật cũng sẽ được thực hiện nhanh chóng bấy nhiêu.

[197]

[197]

6. The nadis in the physical body correspond to the life or spirit aspect; the nerves are the correspondence to the soul or quality aspect. That which demonstrates as their united externalisation is the endocrine system which corresponds to the form or matter aspect. These three—the nadis, the nervous system and the glands—are the material correspondences to the three divine aspects; they are esoterically responsive to these three aspects and they make the man upon the physical plane what he is. These three groups are themselves conditioned (via the seven centres, as we have earlier seen) by the astral or mental vehicles, or by the integrated personality, or by the soul which begins to use the personality as a transmitting and transmuting agency, and—at the close of the Path of Discipleship—by the monad, via the antahkarana, using that self-created path as a direct channel of communication to the seven centres and from there to the threefold system of nadis, nerves and glands.

6. Các nadis trong thể hồng trần tương ứng với phương diện sự sống hay tinh thần; các dây thần kinh là tương ứng với phương diện linh hồn hay phẩm tính. Điều biểu lộ như sự ngoại hiện hợp nhất của chúng là hệ nội tiết, tương ứng với phương diện hình tướng hay vật chất. Ba yếu tố này—các nadis, hệ thần kinh và các tuyến—là những tương ứng vật chất với ba phương diện thiêng liêng; chúng đáp ứng một cách huyền bí với ba phương diện này và chúng làm cho con người trên cõi hồng trần trở thành như y là. Bản thân ba nhóm này được tác động (qua bảy trung tâm, như chúng ta đã thấy trước đây) bởi các vận cụ cảm dục hay trí tuệ, hoặc bởi phàm ngã tích hợp, hoặc bởi linh hồn bắt đầu sử dụng phàm ngã như một tác nhân truyền dẫn và chuyển hoá, và—vào cuối Con Đường Đệ Tử—bởi chân thần, qua antahkarana, sử dụng con đường do chính mình tạo ra ấy như một kênh giao tiếp trực tiếp đến bảy trung tâm và từ đó đến hệ tam phân gồm nadis, thần kinh và tuyến.

7. These three major systems within the human being express through the medium of the physical body the condition or the state of development of the centres. The life, the quality and the energy which they represent are conveyed to every part of the physical vehicle via the blood stream. This, modern science is already recognising as a fact, indicating that the blood stream conveys certain elements released by the glands. It does not yet recognise the fact of the relationship of the glands to the centres, with the intermediate systems of nadis and nerves. The next great move in medicine will be to recognise the fact of the etheric body, the physical substance which underlies dense matter.

7. Ba hệ thống chính này bên trong con người biểu lộ qua trung gian thể xác tình trạng hay trạng thái phát triển của các trung tâm. Sự sống, phẩm tính và năng lượng mà chúng biểu hiện được truyền đến mọi phần của vận cụ hồng trần qua dòng máu. Khoa học hiện đại đã công nhận điều này như một sự kiện, cho thấy rằng dòng máu chuyên chở một số yếu tố do các tuyến tiết ra. Nó vẫn chưa công nhận sự kiện về mối quan hệ của các tuyến với các trung tâm, cùng các hệ trung gian là nadis và thần kinh. Bước tiến lớn tiếp theo trong y học sẽ là công nhận sự kiện về thể dĩ thái, chất liệu hồng trần nằm dưới vật chất đậm đặc.

8. when the centres are awakened throughout the body, there will then be present a highly electric nervous system, responsive with immediacy to the energy carried by [198] the nadis; the result of this will be a well-balanced endocrine system. The vitality and life pouring through the entire body will then be of such potency that automatically the physical body will be resistant to disease, either innate, hereditary, or of group origin. In these words I express for you a future probability but not an immediate possibility. Man will some day have the three systems perfectly coordinated, psychically responsive to the inner pattern of nadis and centres, and consciously integrated with the soul, and later—via the antahkarana—with the Life principle.

8. Khi các trung tâm được thức tỉnh khắp cơ thể, khi đó sẽ hiện diện một hệ thần kinh có điện tính cao, đáp ứng tức thời với năng lượng được chuyên chở bởi [198] các nadis; kết quả của điều này sẽ là một hệ nội tiết cân bằng tốt. Sinh lực và sự sống tuôn chảy qua toàn bộ cơ thể khi đó sẽ có quyền năng đến mức tự động làm cho thể xác kháng cự được bệnh tật, dù là bẩm sinh, di truyền hay có nguồn gốc nhóm. Trong những lời này tôi diễn đạt cho bạn một xác suất tương lai chứ không phải một khả năng tức thời. Một ngày nào đó con người sẽ có ba hệ thống được phối hợp hoàn hảo, đáp ứng thông linh với mô hình bên trong của các nadis và các trung tâm, và được tích hợp hữu thức với linh hồn, rồi sau đó—qua antahkarana—với Nguyên khí Sự Sống.

9. Today as there is uneven development, with some centres unawakened, others overstimulated, and with the centres below the diaphragm overactive, you have consequently, whole areas of the body where the nadis are in an embryonic state, other areas where they are highly energised but with their flow arrested because some centre along the path of their activity is still unawakened or—if awakened—is still non-radiatory. These uneven conditions produce potent effects upon the nervous system and upon the glands, leading to overstimulation in some cases, subnormal conditions in others, lack of vitality, overactivity, and other undesirable reactions which inevitably produce disease. Such diseases either arise from within the body itself as the result of inherent (or should I say indigenous) or hereditary tendencies or predispositions, present in the bodily tissue; or they arise as the result of the radiation or the non-radiation of the centres, which work through the nadis; they can also arise as a result of external impacts or contact (such as infectious or contagious diseases and epidemics). These, the subject is unable to resist, owing to the lack of development of his centres.

9. Ngày nay, vì có sự phát triển không đồng đều, với một số trung tâm chưa thức tỉnh, những trung tâm khác bị kích thích quá mức, và với các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động quá mạnh, nên hậu quả là có những vùng toàn bộ của cơ thể nơi các nadis ở trong trạng thái phôi thai, những vùng khác nơi chúng được nạp năng lượng cao nhưng dòng chảy của chúng bị ngưng lại vì một trung tâm nào đó trên đường hoạt động của chúng vẫn chưa thức tỉnh hoặc—nếu đã thức tỉnh—vẫn chưa bức xạ. Những tình trạng không đồng đều này tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ lên hệ thần kinh và lên các tuyến, dẫn đến sự kích thích quá mức trong một số trường hợp, tình trạng dưới mức bình thường trong những trường hợp khác, thiếu sinh lực, hoạt động quá độ, và những phản ứng không mong muốn khác tất yếu gây ra bệnh tật. Những bệnh này hoặc phát sinh từ bên trong chính cơ thể như kết quả của các khuynh hướng hay thiên hướng bẩm sinh (hay tôi nên nói là bản địa) hoặc di truyền, hiện diện trong mô cơ thể; hoặc chúng phát sinh như kết quả của sự bức xạ hay không bức xạ của các trung tâm, vốn hoạt động qua các nadis; chúng cũng có thể phát sinh như kết quả của các tác động hay tiếp xúc bên ngoài (như các bệnh truyền nhiễm hay lây lan và các trận dịch). Những điều này, chủ thể không thể kháng cự, do sự thiếu phát triển của các trung tâm của y.

10. To sum all up: Disease, physical disability of any kind except of course those due to accidents and, to some [199] extent, to planetary conditions inducing epidemics of a peculiarly virulent nature such as war oft produces), and the many differing aspects of ill health can be directly traced to the condition of the centres, as they determine the activity or the non-activity of the nadis; these, in their turn, affect the nervous system, making the endocrine system what it is in the individual man, and the blood stream is responsible for this condition reaching every part of the body.

10. Tóm lại tất cả: Bệnh tật, sự tàn tật hồng trần dưới bất kỳ hình thức nào ngoại trừ dĩ nhiên những gì do tai nạn gây ra và, ở một mức độ nào đó, do [199] các điều kiện hành tinh gây nên những trận dịch có tính độc lực đặc biệt như chiến tranh thường tạo ra), và nhiều phương diện khác nhau của tình trạng sức khỏe kém đều có thể được truy nguyên trực tiếp đến tình trạng của các trung tâm, vì chúng quyết định hoạt động hay không hoạt động của các nadis; đến lượt mình, các nadis này ảnh hưởng đến hệ thần kinh, làm cho hệ nội tiết trở thành như nó là nơi con người cá biệt, và dòng máu chịu trách nhiệm đưa tình trạng này đến mọi phần của cơ thể.

Effects Produced in Specific Areas

Các Hiệu Quả Được Tạo Ra Trong Những Khu Vực Cụ Thể

Let us now consider certain of the effects of the above facts, and their effect upon the areas governed by the centres and in which disease appears.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét một số hiệu quả của các sự kiện trên, và ảnh hưởng của chúng lên những khu vực do các trung tâm chi phối và nơi bệnh tật xuất hiện.

It will be apparent to you that as the energy pours through the centres, via the nadis and the nerves and potently affecting the glandular system and the blood stream, the areas of the body become vitally involved and responsive. This covers, of course, the head, the throat and the torso. The energy thus despatched penetrates to every part of the physical vehicle, to every organism and to every cell and atom. It is the working of the quality of energy upon the body which induces, stimulates, removes or palliates disease. I am not here referring to the three major indigenous diseases (if I may call them that)—cancer, syphilis and tuberculosis. With these I will deal later because they are planetary in scope, present in the substance of which all forms are made, and are responsible for producing a host of lesser diseases which are sometimes recognised as affiliates but are frequently not so known.

Bạn sẽ thấy rõ rằng khi năng lượng tuôn qua các trung tâm, qua các nadis và các dây thần kinh và tác động mạnh mẽ lên hệ tuyến cùng dòng máu, thì các khu vực của cơ thể trở nên bị cuốn vào một cách sinh động và đáp ứng. Điều này dĩ nhiên bao gồm đầu, cổ họng và thân mình. Năng lượng được phóng đi như vậy thâm nhập vào mọi phần của vận cụ hồng trần, vào mọi cơ quan và mọi tế bào cùng nguyên tử. Chính sự tác động của phẩm tính năng lượng lên cơ thể gây ra, kích thích, loại bỏ hay làm dịu bệnh tật. Ở đây tôi không đề cập đến ba bệnh bản địa chính (nếu tôi có thể gọi như vậy)—ung thư, giang mai và lao. Tôi sẽ đề cập đến chúng sau vì chúng có phạm vi hành tinh, hiện diện trong chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo nên, và chịu trách nhiệm tạo ra vô số bệnh nhỏ hơn đôi khi được công nhận là có liên hệ nhưng thường thì không được biết như vậy.

Those diseases which are loosely called mental diseases, and which are related to the brain, are little understood as yet. There was very little mental trouble in the last rootrace, the Atlantean; the mind nature was then quiescent and little stimulation was conveyed through mental [200] levels via the head centre to the pineal gland and the brain. There was very little eye trouble either, and no nasal difficulties, for the ajna centre was unawakened and the third eye rapidly becoming inactive. The ajna centre is the organ of the integrated personality, the instrument of direction, and is closely related to the pituitary body and the two eyes, as well as to all the frontal areas of the head. In Atlantean days, personality integration was largely unknown, except in the case of disciples and initiates, and the goal of the initiate then, and the sign of his achievement, was this triple integration. Today, the goal is that of a still higher fusion—that of the soul and personality. Speaking in terms of energy, this involves the formation, activity and related interplay of the following triangles of force:

Những bệnh được gọi một cách lỏng lẻo là bệnh tâm thần, và có liên hệ với bộ não, cho đến nay vẫn còn ít được hiểu. Trong giống dân gốc trước, giống Atlantis, có rất ít rối loạn tâm thần; bản chất trí tuệ khi đó tĩnh lặng và rất ít kích thích được truyền qua các [200] cấp độ trí tuệ qua trung tâm đầu đến tuyến tùng và bộ não. Cũng có rất ít bệnh về mắt, và không có khó khăn về mũi, vì trung tâm ajna chưa thức tỉnh và con mắt thứ ba đang nhanh chóng trở nên bất hoạt. Trung tâm ajna là cơ quan của phàm ngã tích hợp, công cụ chỉ đạo, và liên hệ mật thiết với tuyến yên và hai mắt, cũng như với mọi vùng phía trước của đầu. Trong thời Atlantis, sự tích hợp phàm ngã phần lớn chưa được biết đến, ngoại trừ trong trường hợp các đệ tử và các điểm đạo đồ, và mục tiêu của điểm đạo đồ khi ấy, cũng như dấu hiệu thành tựu của y, là sự tích hợp tam phân này. Ngày nay, mục tiêu là một sự dung hợp còn cao hơn nữa—đó là sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã. Nói theo thuật ngữ năng lượng, điều này bao hàm sự hình thành, hoạt động và tương tác liên hệ của các tam giác mãnh lực sau đây:

I. 1. The soul, the spiritual man on his own plane.

I. 1. Linh hồn, con người tinh thần trên cõi riêng của mình.

2. The personality, the threefold integrated man in the three worlds.

2. Phàm ngã, con người tam phân tích hợp trong ba cõi giới.

3. The head centre.

3. Trung tâm đầu.

II. 1. The head centre, the point of the second fusion.

II. 1. Trung tâm đầu, điểm của sự dung hợp thứ hai.

2. The ajna centre, the point of the first fusion.

2. Trung tâm ajna, điểm của sự dung hợp thứ nhất.

3. The centre in the medulla oblongata, controlling the spine.

3. Trung tâm ở hành tủy, kiểm soát cột sống.

III. 1. The pineal gland, the externalisation of the head centre.

III. 1. Tuyến tùng, sự ngoại hiện của trung tâm đầu.

2. The pituitary body, related to the ajna centre.

2. Tuyến yên, liên hệ với trung tâm ajna.

3. The carotid gland, the externalisation of the third head centre.

3. Tuyến cảnh, sự ngoại hiện của trung tâm đầu thứ ba.

All these triplicities, present within the circumference of the head, constitute the mechanism through which:

Tất cả các bộ ba này, hiện diện trong chu vi của đầu, cấu thành bộ máy qua đó:

1. The soul controls its instrument, the personality.

1. Linh hồn kiểm soát công cụ của nó là phàm ngã.

2. The personality directs the activities of the physical body.

2. Phàm ngã chỉ đạo các hoạt động của thể xác.

[201]

[201]

The spinal column (esoterically, the ida, pingala and sushumna channels), the two eyes and the total brain tissue are receptive to, stimulated by, or nonreceptive to these energies in the head. In the latter case, the entire area is in a quiescent state, spiritually speaking, and the focus of energy is elsewhere.

Cột sống (một cách huyền bí là các kinh mạch ida, pingala và sushumna), hai mắt và toàn bộ mô não tiếp nhận, được kích thích bởi, hoặc không tiếp nhận các năng lượng này trong đầu. Trong trường hợp sau, toàn bộ khu vực ở trong trạng thái tĩnh tại, xét về mặt tinh thần, và tiêu điểm năng lượng ở nơi khác.

This deficiency or this stimulation, if unbalanced or if misapplied, will produce some definite type of trouble, frequently of a physiological nature as well as psychological, and in our Aryan times we shall see an increasing amount of diseases of the brain (a constantly increasing mental imbalance), and of eye difficulties, until the nature of the centres and the type of incoming force and their regulation are recognised and carefully and scientifically studied. Then we shall see the science of the regulation of energy, as it conditions the human being, developed. In the meantime, there is much difficulty everywhere, and mental diseases, neurotic conditions, insanities and, perhaps even more prevalent, glandular imbalance, are on an expanding arc. To date, in the West, little is known as to the methods of control or cure, and in the East, where some knowledge can be found, nothing is done, owing to the apathy there present.

Sự thiếu hụt hay sự kích thích này, nếu mất cân bằng hoặc bị áp dụng sai, sẽ tạo ra một loại rối loạn xác định nào đó, thường mang tính sinh lý cũng như tâm lý, và trong thời Arya của chúng ta, chúng ta sẽ thấy số lượng bệnh về não gia tăng (một sự mất cân bằng trí tuệ ngày càng tăng), cùng các khó khăn về mắt, cho đến khi bản chất của các trung tâm và loại mãnh lực đi vào cùng sự điều hòa của chúng được công nhận và được nghiên cứu cẩn trọng, khoa học. Khi đó chúng ta sẽ thấy khoa học điều hòa năng lượng, khi nó tác động lên con người, được phát triển. Trong lúc này, ở khắp nơi có rất nhiều khó khăn, và các bệnh tâm thần, các tình trạng thần kinh, chứng điên loạn và, có lẽ còn phổ biến hơn, sự mất cân bằng tuyến, đang trên một vòng cung mở rộng. Cho đến nay, ở phương Tây, người ta biết rất ít về các phương pháp kiểm soát hay chữa trị, và ở phương Đông, nơi có thể tìm thấy một ít tri thức, thì không làm gì cả, do sự thờ ơ hiện diện ở đó.

The spinal column is primarily intended to be the channel through which the energising of the centres and the distribution of energy to the surrounding areas of the body is carried forward by the intelligent, integrated personality, acting under the conscious direction of the soul. I refer not here to the bony structure of the spinal column, but to the cord, its esoteric counterpart, and to the nerves which issue from the spine. Today this planned, directed esoteric control of energy is not present, except in the case of those with the initiate consciousness and certain advanced disciples. There are inhibitions, blockages, unawakened areas, deficiency of vitality, lack of free flow and consequent lack [202] of development within the whole man; or else there is too much stimulation, a too rapid vibratory activity, a premature awakening of the centres, leading to the overactivity of the atoms and cells governed by any particular centre. All these conditions, along with others not mentioned, affect the nervous system, condition the glands and produce psychological difficulty and disease in some form or another. You have the following simple yet suggestive and symbolic diagram of the spinal column and the head, looking at both from the angle of the centres and the glands:

Cột sống trước hết được dự định là kênh qua đó việc tiếp sinh lực cho các trung tâm và sự phân phối năng lượng đến các khu vực xung quanh của cơ thể được thực hiện bởi phàm ngã tích hợp, thông minh, hành động dưới sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn. Ở đây tôi không nói đến cấu trúc xương của cột sống, mà nói đến tủy sống, đối phần huyền bí của nó, và các dây thần kinh phát ra từ cột sống. Ngày nay, sự kiểm soát năng lượng huyền bí có kế hoạch và có định hướng này không hiện diện, ngoại trừ trong trường hợp những người có tâm thức điểm đạo và một số đệ tử tiến bộ. Có những sự ức chế, tắc nghẽn, những vùng chưa thức tỉnh, thiếu sinh lực, thiếu dòng chảy tự do và hậu quả là thiếu [202] phát triển trong toàn bộ con người; hoặc ngược lại có quá nhiều kích thích, hoạt động rung động quá nhanh, sự thức tỉnh non sớm của các trung tâm, dẫn đến hoạt động quá mức của các nguyên tử và tế bào do bất kỳ trung tâm nào chi phối. Tất cả những tình trạng này, cùng với những tình trạng khác không được nêu ra, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, tác động lên các tuyến và tạo ra khó khăn tâm lý cùng bệnh tật dưới hình thức này hay hình thức khác. Bạn có sơ đồ đơn giản nhưng gợi ý và tượng trưng sau đây về cột sống và đầu, nhìn cả hai từ góc độ các trung tâm và các tuyến:

[203]

[203]

You will note that the spleen is not included in this diagram. Its function is a peculiar one, being the centre of vitality in relation to the planetary vitality and the radiation from the sun. It is not controlled in any way from the spinal column. It must be borne in mind that this diagram is simply an effort to relate in pictorial form the centres, the glands which they condition, and the organs which are affected by both. It is not intended to be a true picture of any physiological organic relations.

Bạn sẽ lưu ý rằng lá lách không được đưa vào sơ đồ này. Chức năng của nó là một chức năng đặc biệt, vì nó là trung tâm sinh lực liên hệ với sinh lực hành tinh và bức xạ từ mặt trời. Nó không bị kiểm soát theo bất kỳ cách nào từ cột sống. Cần ghi nhớ rằng sơ đồ này chỉ đơn giản là một nỗ lực nhằm liên hệ dưới hình thức minh họa các trung tâm, các tuyến mà chúng tác động, và các cơ quan bị ảnh hưởng bởi cả hai. Nó không nhằm là một bức tranh chân thực về bất kỳ mối quan hệ sinh lý hữu cơ nào.

The centre at the base of the spine has a unique function. It is to the substance of the body, to the physical tissue and to all matter not included in the organs mentioned above, the source of life. In the perfected man, the two centres (the highest head centre and the basic centre) represent the great duality of spirit and matter, and they then control and govern, in perfect unison, the entire direction of the vehicle of the soul. Finally, you will have the spiritual aspect of the human being expressing itself perfectly through the related monad and personality (which is brought about by a third great major fusion). The material man is then responsive to these two, via the head centre (the monad) and the basic centre (the spiritually energised personality). These two centres will then be in complete rapport, expressing the full nature of the spiritual man.

Trung tâm ở đáy cột sống có một chức năng độc đáo. Đối với chất liệu của cơ thể, đối với mô hồng trần và đối với mọi vật chất không bao gồm trong các cơ quan đã nêu ở trên, nó là nguồn của sự sống. Trong con người hoàn thiện, hai trung tâm (trung tâm đầu cao nhất và trung tâm căn bản) biểu hiện nhị nguyên tính lớn lao của tinh thần và vật chất, và khi đó chúng kiểm soát và cai quản, trong sự hợp nhất hoàn hảo, toàn bộ sự chỉ đạo của vận cụ của linh hồn. Cuối cùng, bạn sẽ có phương diện tinh thần của con người biểu lộ một cách hoàn hảo qua chân thần và phàm ngã có liên hệ (điều này được thực hiện nhờ một sự dung hợp lớn thứ ba). Khi đó con người vật chất đáp ứng với hai yếu tố này, qua trung tâm đầu (chân thần) và trung tâm căn bản (phàm ngã được tiếp sinh lực một cách tinh thần). Khi đó hai trung tâm này sẽ ở trong sự tương thông hoàn toàn, biểu lộ trọn vẹn bản chất của con người tinh thần.

It is essential that spiritual healers should get clearly in their minds the picture of the areas in the body which are governed by the head centres and the other centres, because within those areas are the various organs which react to disease. The health of these organs is largely dependent upon the centres, as they condition the glands and as the energy is distributed throughout the body. A full and balanced flow of energy from the centre into the area which it controls leads to resistance to so-called disease; [204] where there is lack of development and an unbalanced situation, where the centres are concerned, there will be no power to resist. The healing process in the New Age will start with definitely planned work with the centres, and the general trend of the healing art will then be—as you can easily see—preventive in nature rather than curative. The whole emphasis will be upon the energy centres, energy currents and the direction of energy to the organs within the radius of the influence of any particular centre. From a study of the glands (a study so much in its infancy that it hardly merits the word “embryonic”) much will be later learned of their relationship to the centres, and much experimental work will be done. From the standpoint of the esotericist who admits the fact of the centres, the glands are, par excellence, the major determining factor in connection with the general health of an individual; they indicate not only his psychological development far more than is today grasped, but they have (as is suspected by the orthodox medical science) a most potent effect upon the whole organic system; their influence, via the blood stream, reaches into every part of the body and to the extremities. The glands are the result of the activity of the centres; they are first, last, and all the time effects of inner predisposing causes, and it is through the centres and their affiliated glands that the soul builds the apparatus upon the physical plane which we call the physical man.

Điều cốt yếu là các nhà trị liệu tinh thần phải có rõ trong trí bức tranh về các khu vực trong cơ thể do các trung tâm đầu và các trung tâm khác chi phối, vì trong những khu vực ấy có các cơ quan khác nhau phản ứng với bệnh tật. Sức khỏe của các cơ quan này phần lớn tùy thuộc vào các trung tâm, vì chúng tác động lên các tuyến và vì năng lượng được phân phối khắp cơ thể. Một dòng năng lượng đầy đủ và cân bằng từ trung tâm vào khu vực mà nó kiểm soát dẫn đến sự kháng cự đối với cái gọi là bệnh tật; [204] nơi nào có sự thiếu phát triển và một tình trạng mất cân bằng, xét về các trung tâm, thì sẽ không có năng lực kháng cự. Tiến trình trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ bắt đầu bằng công việc có kế hoạch rõ rệt với các trung tâm, và xu hướng chung của nghệ thuật trị liệu khi đó sẽ—như bạn có thể dễ dàng thấy—mang tính phòng ngừa hơn là chữa trị. Toàn bộ sự nhấn mạnh sẽ đặt trên các trung tâm năng lượng, các dòng năng lượng và sự hướng dẫn năng lượng đến các cơ quan nằm trong bán kính ảnh hưởng của bất kỳ trung tâm nào. Từ việc nghiên cứu các tuyến (một nghiên cứu còn ở giai đoạn sơ khai đến mức hầu như không xứng với từ “phôi thai”) về sau người ta sẽ học được nhiều điều về mối quan hệ của chúng với các trung tâm, và nhiều công trình thực nghiệm sẽ được tiến hành. Từ quan điểm của nhà bí truyền học, người thừa nhận sự kiện về các trung tâm, thì các tuyến là, một cách xuất sắc, yếu tố quyết định chính liên hệ với sức khỏe tổng quát của một cá nhân; chúng không chỉ cho thấy sự phát triển tâm lý của y nhiều hơn mức ngày nay được hiểu, mà còn có (như khoa học y học chính thống nghi ngờ) một tác động hết sức mạnh mẽ lên toàn bộ hệ hữu cơ; ảnh hưởng của chúng, qua dòng máu, lan đến mọi phần của cơ thể và đến các đầu chi. Các tuyến là kết quả của hoạt động của các trung tâm; trước hết, sau hết, và luôn luôn chúng là các kết quả của những nguyên nhân nội tại tạo thiên hướng, và chính qua các trung tâm cùng các tuyến liên hệ của chúng mà linh hồn xây dựng bộ máy trên cõi hồng trần mà chúng ta gọi là con người hồng trần.

Therefore, the group of related factors with which we have been dealing must be carefully studied and grasped by any practicing healer, for he will eventually have to work through his own centres in relation to the patient whose ills he is endeavouring to heal. He must remember, consequently, three factors: The centres, their related glands, and the group of organs for which these two are responsible. You have in the seven areas of the body, governed by the [205] seven major centres and their affiliated glands, the appearance again of the basic trinity of manifestation:

Vì vậy, nhóm các yếu tố liên hệ mà chúng ta đã đề cập phải được bất kỳ nhà trị liệu hành nghề nào nghiên cứu cẩn thận và nắm vững, vì cuối cùng y sẽ phải làm việc qua chính các trung tâm của mình trong mối liên hệ với bệnh nhân mà y đang cố gắng chữa lành các bệnh tật. Do đó, y phải nhớ ba yếu tố: các trung tâm, các tuyến liên hệ của chúng, và nhóm cơ quan mà hai yếu tố này chịu trách nhiệm. Bạn có trong bảy khu vực của cơ thể, do [205] bảy trung tâm chính và các tuyến liên hệ của chúng chi phối, sự xuất hiện một lần nữa của bộ ba căn bản của biểu hiện:

1. Life or spirit..........the energy centre.

1. Sự sống hay tinh thần..........trung tâm năng lượng.

2. Soul or quality......the gland.

2. Linh hồn hay phẩm tính......tuyến.

3. Form or matter.....the organs in any particular area governed by any one centre.

3. Hình tướng hay vật chất.....các cơ quan trong bất kỳ khu vực đặc thù nào được cai quản bởi bất kỳ trung tâm nào.

This brings us to another law which the healer must ever have in mind.

Điều này đưa chúng ta đến một định luật khác mà nhà chữa lành phải luôn ghi nhớ.

LAW VII

ĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị ngăn trở và, dưới sự định hướng đúng đắn, đi đến sự ngưng tụ của nó (tuyến liên hệ), thì hình tướng đáp ứng và bệnh tật biến mất.

This is a basic law in healing and concerns the true art of relating spiritual energy with form life, and upon this the health and the vitality of the organs depend. Therefore we come to the next rule which the healer has to master. This is concisely expressed, and those phrases which convey instruction must be understood and applied intelligently.

Đây là một định luật căn bản trong việc chữa lành và liên quan đến nghệ thuật chân chính của việc liên kết năng lượng tinh thần với sự sống hình tướng, và sức khỏe cùng sinh lực của các cơ quan tùy thuộc vào đó. Vì vậy, chúng ta đến với quy luật kế tiếp mà nhà chữa lành phải làm chủ. Quy luật này được diễn đạt ngắn gọn, và những cụm từ chuyển tải chỉ dẫn ấy phải được thấu hiểu và áp dụng một cách thông minh.

RULE FIVE

QUY LUẬT NĂM

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre.

Hãy để nhà chữa lành tập trung năng lượng cần thiết trong trung tâm cần thiết.

Let that centre correspond to the centre which has need.

Hãy để trung tâm ấy tương ứng với trung tâm đang cần.

Let the two synchronise and together augment force.

Hãy để hai trung tâm đồng bộ và cùng nhau gia tăng mãnh lực.

Thus shall the waiting form be balanced in its work.

Như thế hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong công việc của nó.

Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Như thế hai và một, dưới sự định hướng đúng đắn, sẽ chữa lành.

It will be obvious to you, therefore, that healers at the present time (I refer not here to the medical profession but to the multitude of the many schools of thought) have not yet got back to the basic factor, in spite of all their talk anent love being the healing force. They are in reality [206] emphasising and dealing with the motive which impels the healer to ply his healing art. They are concerned with the instrumentality whereby contact can be made with the patient to be healed. That contact must ever be established in LOVE—fresh, compelling and selfless. But once that relation is established, the healer must grasp the fact that, as far as he is concerned, he must work scientifically; he must apply knowledge and—after right diagnosis, after right modern therapeutic methods, after due common sense, which includes the best that the tried science of medicine can give—he must then begin to work through his own centre, putting it en rapport with the centre in the patient which governs the distressed area or diseased organ.

Do đó, hiển nhiên đối với bạn rằng các nhà chữa lành vào lúc này (ở đây tôi không nói đến giới y khoa mà nói đến vô số trường phái tư tưởng) vẫn chưa quay trở lại với yếu tố căn bản, bất chấp mọi lời họ nói về tình thương như là mãnh lực chữa lành. Thực ra họ đang [206] nhấn mạnh và đề cập đến động cơ thúc đẩy nhà chữa lành thực hành nghệ thuật chữa lành của y. Họ quan tâm đến phương tiện nhờ đó có thể thiết lập tiếp xúc với bệnh nhân cần được chữa lành. Sự tiếp xúc ấy phải luôn luôn được thiết lập trong TÌNH THƯƠNG—mới mẻ, mạnh mẽ và vô ngã. Nhưng một khi mối liên hệ ấy đã được thiết lập, nhà chữa lành phải nắm được sự kiện rằng, xét về phần mình, y phải làm việc một cách khoa học; y phải áp dụng tri thức và—sau khi chẩn đoán đúng, sau khi áp dụng các phương pháp trị liệu hiện đại đúng đắn, sau khi vận dụng lương tri thích đáng, bao gồm điều tốt nhất mà khoa học y học đã được kiểm chứng có thể cung cấp—thì y phải bắt đầu làm việc qua chính trung tâm của mình, đặt nó vào mối tương quan với trung tâm nơi bệnh nhân đang cai quản khu vực đau yếu hay cơ quan bệnh hoạn.

As he thus works, the energy which loving intent and skilled knowledge has tapped and brought in is not permitted (during the healing process) to stimulate or affect the healer’s own related glands or produce action in the connected area of his own body. The healer must learn to insulate himself from the energy to be used on behalf of the patient. He blends it with the energy of the patient’s centre, governing the diseased area; the allied gland is then doubly energised (or lessened, as the case may be and diagnosis requires), and the blood stream releases into the diseased tissue that which is needed to cure or prevent the growth of the disease.

Khi làm việc như thế, năng lượng mà ý định đầy thương yêu và tri thức thiện xảo đã khai mở và đưa vào sẽ không được phép (trong tiến trình chữa lành) kích thích hay tác động đến các tuyến liên hệ của chính nhà chữa lành hoặc tạo ra hoạt động trong khu vực tương ứng của thân thể y. Nhà chữa lành phải học cách cách ly mình khỏi năng lượng được dùng thay mặt cho bệnh nhân. Y hòa trộn nó với năng lượng của trung tâm nơi bệnh nhân đang cai quản khu vực bệnh hoạn; khi ấy tuyến liên hệ được tiếp sinh lực gấp đôi (hoặc được giảm bớt, tùy trường hợp và theo yêu cầu của chẩn đoán), và dòng máu giải phóng vào mô bệnh điều cần thiết để chữa lành hoặc ngăn chặn sự phát triển của bệnh.

In this instruction I have given you much food for thought. I have emphasised an aspect of scientific esoteric healing which has not before been brought to the attention of students. I would have you grasp the general picture and get the outlines of process clear; I would have you study the relation between the healer and the patient as he passes out of the stage of just loving and sending out love or of seeing the patient in the light of love, and goes on to the scientific work of augmenting the patient’s own spiritual [207] energy. He thus enables him to effect his own cure, consciously or unconsciously.

Trong huấn thị này tôi đã cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm. Tôi đã nhấn mạnh một phương diện của việc chữa lành huyền bí học khoa học mà trước đây chưa được đưa ra cho các đạo sinh chú ý. Tôi muốn bạn nắm được bức tranh tổng quát và làm cho các nét chính của tiến trình trở nên rõ ràng; tôi muốn bạn nghiên cứu mối liên hệ giữa nhà chữa lành và bệnh nhân khi y vượt ra khỏi giai đoạn chỉ yêu thương và gửi tình thương ra ngoài hoặc nhìn bệnh nhân trong ánh sáng của tình thương, để tiến tới công việc khoa học là gia tăng năng lượng tinh thần [207] của chính bệnh nhân. Như thế y giúp người ấy tự thực hiện sự chữa lành của mình, một cách hữu thức hay vô thức.

You have, therefore, the healer, the patient and the reservoir of spiritual energy, plus the scientific process of bringing all three into a close and healing rapport. This is done via the centre concerned in the equipment of the patient, the corresponding centre in the equipment of the healer, and the direction (by an act of the will of the healer or of the healing group) of the united streams of required specific energy to the area diseased. This is usually done via the related gland, though it is not always so.

Vì vậy, bạn có nhà chữa lành, bệnh nhân và kho dự trữ năng lượng tinh thần, cộng thêm tiến trình khoa học đưa cả ba vào một mối tương quan chặt chẽ và chữa lành. Điều này được thực hiện qua trung tâm liên hệ trong bộ máy của bệnh nhân, trung tâm tương ứng trong bộ máy của nhà chữa lành, và sự định hướng (bằng một hành vi của ý chí nơi nhà chữa lành hay của nhóm chữa lành) các dòng năng lượng đặc thù cần thiết đã hợp nhất đến khu vực bệnh hoạn. Điều này thường được thực hiện qua tuyến liên hệ, dù không phải lúc nào cũng vậy.

Ponder on these things and see, if you can, the simplicity of the process which is based on loving intent, which isolates the specific area in which the trouble exists, which identifies itself with the spiritual centre of energy in the patient, and which then applies and directs the fused and blended energies.

Hãy suy ngẫm về những điều này và, nếu có thể, hãy thấy sự đơn giản của tiến trình vốn dựa trên ý định đầy thương yêu, vốn cô lập khu vực đặc thù nơi rắc rối hiện hữu, vốn đồng hoá với trung tâm năng lượng tinh thần nơi bệnh nhân, và rồi áp dụng cũng như định hướng các năng lượng đã được dung hợp và hòa trộn.

Effects of Under-Stimulation and Over-Stimulation of the Centres

Những Hậu Quả của Sự Kích Thích Thiếu và Kích Thích Quá Mức đối với các Trung tâm

We have been for some time studying the centres and their relation to the dense physical body. We have also noted the areas which are conditioned by these centres and the mediating work of the ductless glands. We have seen that two major predisposing causes of physical trouble, arising within the physical organism, are the understimulation or the overstimulation of the centres. There are also, as you will recall, three diseases which are inherent in substance itself, and which therefore create basic predispositions within the human body: cancer, syphilis and tuberculosis. With these three we are not at this time dealing. But the condition of the centres produces, basically, all the difficulties, permitting entrance to infections and germs which might not otherwise cause trouble, producing those situations [208] where the diseases inherent in the form nature can be fostered, and making undesirable tendencies powerful. We might consequently lay down the premise (one which the medical profession will later accept in its entirety) that diseases which are self-engendered (if I may use so curious and inadequate a phrase), and which are not the result of contagion or infection or of accidents, are caused by the failure, the limitation, the deficiency or the excess, and by the overdevelopment or the underdevelopment, of the endocrine system. This ductless glandular system, via the hormones, affects every part of the physical organism—via the blood stream—and it may therefore be truly posited that when the ductless glands are perfectly balanced and functioning correctly, there will be no diseased areas in the body. The blood stream will then be kept also in perfect condition. The clue to perfect physical health as it is expressed by a Master of the Wisdom can consequently be directly traced to His full control of the centres, to their balanced state of energy reception and distribution, and to the effect which they produce upon the entire ductless glandular system. By this means every area of the body is properly supplied with the needed forces and is thus kept in perfect condition.

Từ một thời gian nay chúng ta đã nghiên cứu các trung tâm và mối liên hệ của chúng với thể xác đậm đặc. Chúng ta cũng đã lưu ý các khu vực được các trung tâm này tác động và công việc trung gian của các tuyến nội tiết. Chúng ta đã thấy rằng hai nguyên nhân chính gây khuynh hướng dẫn đến rắc rối thể xác, phát sinh bên trong cơ thể hồng trần, là sự kích thích thiếu hoặc sự kích thích quá mức của các trung tâm. Ngoài ra, như bạn sẽ nhớ, còn có ba bệnh vốn cố hữu trong chính chất liệu, và vì thế tạo ra những khuynh hướng căn bản bên trong thân thể con người: ung thư, giang mai và lao. Với ba bệnh này hiện nay chúng ta không bàn đến. Nhưng tình trạng của các trung tâm, về căn bản, tạo ra mọi khó khăn, cho phép các nhiễm trùng và vi trùng xâm nhập mà nếu không thì có thể không gây rắc rối, tạo ra những tình huống [208] trong đó các bệnh cố hữu trong bản chất hình tướng có thể được nuôi dưỡng, và làm cho các khuynh hướng không mong muốn trở nên mạnh mẽ. Do đó, chúng ta có thể nêu ra tiền đề (một điều mà giới y khoa về sau sẽ chấp nhận trọn vẹn) rằng những bệnh do tự thân phát sinh (nếu tôi có thể dùng một cụm từ kỳ lạ và không đầy đủ như thế), và không phải là kết quả của sự lây nhiễm, nhiễm trùng hay tai nạn, đều do sự thất bại, giới hạn, thiếu hụt hay dư thừa, và do sự phát triển quá mức hay kém phát triển của hệ nội tiết. Hệ tuyến không ống này, qua các hormone, tác động đến mọi phần của cơ thể hồng trần—qua dòng máu—và vì vậy có thể thực sự khẳng định rằng khi các tuyến không ống được quân bình hoàn hảo và hoạt động đúng đắn, sẽ không có khu vực bệnh hoạn nào trong thân thể. Khi ấy dòng máu cũng sẽ được giữ trong tình trạng hoàn hảo. Do đó, chìa khóa của sức khỏe thể xác hoàn hảo như được biểu lộ nơi một Chân sư Minh triết có thể được truy nguyên trực tiếp đến sự kiểm soát trọn vẹn của Ngài đối với các trung tâm, đến trạng thái quân bình của chúng trong việc tiếp nhận và phân phối năng lượng, và đến hiệu quả mà chúng tạo ra trên toàn bộ hệ tuyến không ống. Nhờ phương tiện này, mọi khu vực của thân thể đều được cung cấp đúng đắn các mãnh lực cần thiết và nhờ đó được giữ trong tình trạng hoàn hảo.

Coming midway between the centres and the corresponding endocrine glands, and acting as the agent for the distribution of energy, is the nervous system. Here, however, difficulty is usually to be found. There is a lack of adequate flow of energy; the energy distributed by its means to the body, via the centres, is unevenly distributed; some centres receive an undue supply; others receive an inadequate amount; some centres are still unawakened, and therefore are nonreceptive; others are prematurely developed and transmit too much force to the areas they govern. In esoteric medicine and its philosophical interpretation (which is in the last analysis the effective and practical application [209] of the known facts) it is the cerebro-spinal aspect which conditions and governs the entire nervous system, for it is by means of this aspect and through its agency that the centres work and affect the bodily organism, supplying the body with the needed vital energy; thus the nervous system becomes eventually responsive, via the seven centres, to the seven major energies or the seven ray forces.

Nằm ở khoảng giữa các trung tâm và các tuyến nội tiết tương ứng, và hoạt động như tác nhân phân phối năng lượng, là hệ thần kinh. Tuy nhiên, chính ở đây thường có khó khăn. Có sự thiếu hụt dòng năng lượng thích đáng; năng lượng được phân phối qua phương tiện của nó đến thân thể, qua các trung tâm, được phân phối không đồng đều; một số trung tâm nhận được nguồn cung quá mức; những trung tâm khác nhận được lượng không đầy đủ; một số trung tâm vẫn chưa thức tỉnh, và vì vậy không tiếp nhận; những trung tâm khác phát triển quá sớm và truyền quá nhiều mãnh lực đến các khu vực chúng cai quản. Trong y học nội môn và cách diễn giải triết học của nó (xét cho cùng là sự áp dụng hữu hiệu và thực tiễn [209] các sự kiện đã biết), chính phương diện não-tủy điều kiện hóa và cai quản toàn bộ hệ thần kinh, vì chính nhờ phương diện này và qua tác động của nó mà các trung tâm hoạt động và ảnh hưởng đến cơ thể, cung cấp cho thân thể năng lượng sinh lực cần thiết; như thế hệ thần kinh cuối cùng trở nên đáp ứng, qua bảy trung tâm, với bảy năng lượng chính hay bảy mãnh lực cung.

In no human being, except a Master, are all the centres properly awakened and functioning in a balanced manner, nor are they properly related through intensive radiation; in no human being is the nervous system correctly responsive to the centres. There are two reasons for this, and both are related to the cerebro-spinal system:

Không có con người nào, ngoại trừ một Chân sư, mà tất cả các trung tâm đều được thức tỉnh đúng đắn và hoạt động một cách quân bình, cũng không được liên hệ đúng đắn qua sự bức xạ mãnh liệt; không có con người nào mà hệ thần kinh đáp ứng đúng đắn với các trung tâm. Có hai lý do cho điều này, và cả hai đều liên hệ đến hệ não-tủy:

1. The head centre is not yet awakened, or is only slowly being developed, as the disciple submits himself to training.

1. Trung tâm đầu chưa được thức tỉnh, hoặc chỉ đang được phát triển chậm chạp, khi đệ tử tự đặt mình dưới sự huấn luyện.

2. The flow of energy through the head to the centres up the spine is uneven, owing to the fact that the inflow is uneven, and that the etheric web—between the centres—permits as yet only a very little energy to flow through to all the centres.

2. Dòng năng lượng chảy qua đầu đến các trung tâm dọc cột sống không đồng đều, do sự kiện rằng dòng nhập vào không đồng đều, và rằng mạng dĩ thái—giữa các trung tâm—cho đến nay chỉ cho phép rất ít năng lượng chảy xuyên qua đến tất cả các trung tâm.

It must be remembered that the life of the centres is founded, in the initial stage, upon the inherent life of the organism itself, with the focus of the emanating life to be found in the centre at the base of the spine. This is a point oft forgotten by esotericists. This basic centre is the one through which the life of matter itself works; this is the life or energy of the Holy Spirit aspect, the third aspect. Through its life each atom in the body is fed. This process of animating the substance of the physical form is started in the prenatal stage; after birth, this type of force is aided and paralleled by the inflow of planetary prana or vital energy from the planetary life itself, via the spleen. [210] This is the essential relating organ between the inherent life of matter itself, as present in the microcosm, and the inherent life in the planet.

Phải nhớ rằng sự sống của các trung tâm, trong giai đoạn đầu, được đặt nền trên chính sự sống cố hữu của cơ thể, với tiêu điểm của sự sống phát xạ được tìm thấy trong trung tâm ở đáy cột sống. Đây là một điểm mà các nhà bí truyền học thường quên. Trung tâm căn bản này là trung tâm qua đó chính sự sống của vật chất hoạt động; đây là sự sống hay năng lượng của phương diện Chúa Thánh Thần, phương diện thứ ba. Qua sự sống của nó, mỗi nguyên tử trong thân thể được nuôi dưỡng. Tiến trình làm sinh động chất liệu của hình tướng hồng trần này bắt đầu trong giai đoạn tiền sản; sau khi sinh, loại mãnh lực này được hỗ trợ và song hành bởi dòng prana hành tinh hay năng lượng sinh lực từ chính sự sống hành tinh, qua lá lách. [210] Đây là cơ quan liên kết thiết yếu giữa sự sống cố hữu của chính vật chất, như hiện diện trong tiểu thiên địa, và sự sống cố hữu trong hành tinh.

As evolution proceeds, there is gradually added to this inherent force an inflow of “qualified” energy which is expressive of the consciousness aspect of divinity, and indicates to the esotericist the state of awareness of the man and also the ray type of his soul. This inflow comes from the second divine aspect, from the soul or the indwelling Christ. It might therefore be stated anent the two head centres that:

Khi tiến hoá tiếp diễn, dần dần có thêm vào mãnh lực cố hữu này một dòng năng lượng “được phẩm định”, biểu lộ phương diện tâm thức của thiên tính, và chỉ cho nhà bí truyền học biết trạng thái nhận biết của con người cũng như loại cung của linh hồn y. Dòng nhập này đến từ phương diện thiêng liêng thứ hai, từ linh hồn hay Đức Christ nội tại. Vì vậy, có thể phát biểu liên quan đến hai trung tâm đầu rằng:

1. The ajna centre, or the personality centre, focussed between the eyebrows and conditioning the pituitary body, is related to the entire life of the integrated threefold organism. Through this organism the consciousness must perforce express itself, and the physical, emotional and mental vehicles demonstrate its point in evolution.

1. Trung tâm ajna, hay trung tâm phàm ngã, tập trung giữa hai chân mày và điều kiện hóa tuyến yên, liên hệ với toàn bộ sự sống của cơ thể tam phân tích hợp. Qua cơ thể này, tâm thức tất yếu phải biểu lộ, và các vận cụ hồng trần, cảm xúc và trí tuệ chứng tỏ điểm tiến hoá của nó.

2. The head centre (called in the Hindu philosophy, the thousand-petalled lotus) conditions the pineal gland and is related to the life of the soul and—after the third initiation—to the life of the monad; it conveys to the centres the energy of the three major types of spiritual being of which the three forces of the personality are the reflections or physical counterparts.

2. Trung tâm đầu (được gọi trong triết học Ấn giáo là hoa sen ngàn cánh) điều kiện hóa tuyến tùng và liên hệ với sự sống của linh hồn và—sau lần điểm đạo thứ ba—với sự sống của chân thần; nó chuyển đến các trung tâm năng lượng của ba loại hiện hữu tinh thần chính mà ba mãnh lực của phàm ngã là những phản chiếu hay đối phần hồng trần.

Later, energy from the spirit aspect, the first or Father aspect, will become available and will pour down through the head centre to the ajna centre, combining personality energy and soul energy. Then, by an act of the will, it is projected down the spinal column, via the alta major centre, which conditions the carotid gland. As it passes down the spinal column it vitalises two aspects of the centres; when [211] it reaches the basic centre, it combines with the latent energy of substance itself, and you have, therefore, the union of all three divine energies and the manifestation in man of the three divine aspects. These combined energies then rush up the central channel in the spinal column, and the third or highest receptive aspect of the centres is energised. All the centres are thus brought into full expression; all limitations are destroyed; every part of the body is vitalised and material perfection is produced, plus the full play of the enlightened consciousness and also of the life aspect.

Về sau, năng lượng từ phương diện tinh thần, phương diện thứ nhất hay phương diện Cha, sẽ trở nên khả dụng và sẽ tuôn xuống qua trung tâm đầu đến trung tâm ajna, kết hợp năng lượng phàm ngã và năng lượng linh hồn. Rồi, bằng một hành vi của ý chí, nó được phóng chiếu xuống cột sống, qua trung tâm alta major, trung tâm này điều kiện hóa tuyến cảnh. Khi đi xuống cột sống, nó tiếp sinh lực cho hai phương diện của các trung tâm; khi [211] đến trung tâm căn bản, nó kết hợp với năng lượng tiềm ẩn của chính chất liệu, và vì vậy bạn có sự hợp nhất của cả ba năng lượng thiêng liêng và sự biểu hiện nơi con người của ba phương diện thiêng liêng. Những năng lượng kết hợp này sau đó lao lên kênh trung ương trong cột sống, và phương diện tiếp nhận thứ ba hay cao nhất của các trung tâm được tiếp sinh lực. Như thế mọi trung tâm đều được đưa vào biểu hiện trọn vẹn; mọi giới hạn đều bị phá hủy; mọi phần của thân thể đều được tiếp sinh lực và sự hoàn hảo vật chất được tạo ra, cộng thêm sự vận hành trọn vẹn của tâm thức được soi sáng và cả phương diện sự sống.

The nervous system then comes under the complete control of the spiritual man, and the blood stream is purified and becomes an unimpeded and satisfactory channel for the circulation of that which the energised glands discharge. This is the esoteric significance of the Biblical words, “The blood is the life,” and also of the words “saved by the blood of Christ.” It is not by the blood of a Christ dying two thousand years ago upon the cross in Palestine that man is saved, but by the livingness of the blood of those in whom the Christ life and consciousness, and the quality of the Christ, is perfectly demonstrating and expressed. Then, when the nature of the indwelling Christ is fully, spontaneously and automatically expressing itself in and through the personality, the three fires of the creative process—the fire of matter, the fire of the soul, and the electric fire of spirit—are blended, and there is then a perfect manifestation on Earth of physical living, of the emotional and mental life, and also of the spiritual life of an incarnated Son of God, a Christ.

Khi ấy hệ thần kinh nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của con người tinh thần, và dòng máu được thanh lọc và trở thành một kênh không bị ngăn trở và thỏa đáng cho sự lưu thông của điều mà các tuyến đã được tiếp sinh lực tiết ra. Đây là thâm nghĩa huyền bí của những lời trong Kinh Thánh, “Máu là sự sống,” và cũng của những lời “được cứu bởi máu của Đức Christ.” Con người không được cứu bởi máu của một Đức Christ đã chết cách đây hai ngàn năm trên thập giá ở Palestine, mà bởi sức sống của máu nơi những ai trong đó sự sống và tâm thức của Đức Christ, cùng phẩm tính của Đức Christ, đang được biểu lộ và thể hiện một cách hoàn hảo. Khi ấy, khi bản chất của Đức Christ nội tại đang biểu lộ chính nó một cách trọn vẹn, tự phát và tự động trong và qua phàm ngã, thì ba ngọn lửa của tiến trình sáng tạo—lửa của vật chất, lửa của linh hồn, và lửa điện của tinh thần—được hòa trộn, và khi đó có một biểu hiện hoàn hảo trên Trái Đất của sự sống hồng trần, của đời sống cảm xúc và trí tuệ, và cả của đời sống tinh thần của một Con của Thượng đế đang lâm phàm, một Đức Christ.

It is on this point of understanding that so many worthy people go astray, particularly in the mental science movements, in the Unity movement, and in Christian Science. Instead of focussing their effort on achieving the pure life [212] of Christ in every day life, and acting as consecrated servers of their fellowmen and as channels for love, and becoming aware only of the consciousness of the whole, they are focussed on affirming a future perfection—mentally and vocally—in order to have good health and physical comfort. They regard it as their right and due, to be gained by affirmation, and forget the hard work necessary to bring about within themselves those conditions which will make the divine manifested Christ present. They need to bear in mind that good health will be normal and declarative if the inner consciousness is harmless (and the majority of these people are guilty of a superior spirit of criticism), if they are decentralised from the lower self in the three worlds, and if they are “focussed in heaven, thereby enabling the heavenly Son of Man Who is the Son of God to lead the heavenly life when far from the heavenly realm”—as an old Christian mystic, long forgotten, used to say. His words have been remembered by the Master M—and thus recalled to my attention.

Chính ở điểm thấu hiểu này mà rất nhiều người đáng kính đi lạc hướng, đặc biệt trong các phong trào khoa học tinh thần, trong phong trào Unity, và trong Christian Science. Thay vì tập trung nỗ lực của họ vào việc đạt được sự sống thuần khiết [212] của Đức Christ trong đời sống hằng ngày, và hành động như những người phụng sự đã được thánh hiến cho đồng loại của mình và như những kênh dẫn của tình thương, và chỉ trở nên nhận biết tâm thức của toàn thể, họ lại tập trung vào việc khẳng định một sự hoàn hảo tương lai—bằng trí tuệ và bằng lời nói—để có được sức khỏe tốt và sự thoải mái thể xác. Họ xem đó là quyền lợi và phần đáng được hưởng của mình, có thể đạt được bằng sự khẳng định, và quên mất công việc khó nhọc cần thiết để tạo ra bên trong chính họ những điều kiện sẽ làm cho Đức Christ thiêng liêng biểu hiện hiện diện. Họ cần ghi nhớ rằng sức khỏe tốt sẽ là điều bình thường và tự chứng tỏ nếu tâm thức bên trong là vô tổn hại (và đa số những người này phạm lỗi với tinh thần chỉ trích tự cho mình cao hơn), nếu họ được phi tập trung vào bản thân khỏi phàm ngã trong ba cõi giới, và nếu họ “được tập trung ở thiên giới, nhờ đó làm cho Con Người thiên thượng là Con của Thượng đế có thể sống đời sống thiên thượng khi ở xa cõi thiên thượng”—như một nhà thần bí Cơ Đốc xưa, đã bị lãng quên từ lâu, thường nói. Những lời của ông đã được Chân sư M. ghi nhớ—và nhờ đó được gợi lại cho tôi chú ý.

Another school of thought, branding themselves untruthfully as occultists, are equally in error. They work, or rather profess to work, with the centres, only fortunately for them nature protects them often from themselves. They endeavour consciously to vitalise the centres, to burn away the protective web, and to raise the fires of matter before the fire of spirit has combined with the fire of the soul. They then fall victims to premature stimulation of the fires of substance before the balancing of the forces can take place. Disease, insanities, and many neurotic conditions, plus serious pathological conditions, then occur. Some of the glands become overactive; others are overlooked, and the entire glandular system and the dependent nervous system are in a state of complete imbalance.

Một trường phái tư tưởng khác, tự gán cho mình danh xưng nhà huyền bí học một cách không chân thật, cũng sai lầm không kém. Họ làm việc, hay đúng hơn là tự xưng làm việc, với các trung tâm, chỉ có điều may mắn cho họ là bản chất thường bảo vệ họ khỏi chính họ. Họ cố ý tiếp sinh lực cho các trung tâm, đốt cháy mạng bảo vệ, và nâng các ngọn lửa của vật chất lên trước khi lửa của tinh thần kết hợp với lửa của linh hồn. Khi ấy họ trở thành nạn nhân của sự kích thích quá sớm các ngọn lửa của chất liệu trước khi sự quân bình các mãnh lực có thể diễn ra. Bệnh tật, điên loạn, và nhiều trạng thái thần kinh, cộng với các tình trạng bệnh lý nghiêm trọng, khi ấy xuất hiện. Một số tuyến trở nên hoạt động quá mức; những tuyến khác bị bỏ quên, và toàn bộ hệ tuyến cùng hệ thần kinh phụ thuộc vào nó ở trong trạng thái hoàn toàn mất quân bình.

[213]

[213]

Disciples need to learn to focus their attention upon the reality and upon the factors of primary spiritual importance. When they do this, the energies in the head, the correct use of the spinal area with its “beaded centres,” and the awakening of the basic centre and its consequent fusion with the higher energies will be an automatic and perfectly safe happening.

Các đệ tử cần học cách tập trung sự chú ý của mình vào thực tại và vào những yếu tố có tầm quan trọng tinh thần hàng đầu. Khi họ làm điều này, các năng lượng trong đầu, việc sử dụng đúng đắn vùng cột sống với các “trung tâm như chuỗi hạt” của nó, và sự thức tỉnh của trung tâm căn bản cùng sự dung hợp tiếp theo của nó với các năng lượng cao hơn sẽ là một diễn biến tự động và hoàn toàn an toàn.

The orderly rhythm of the glandular system and the free, safe use of the controlled nervous system will then be possible; the energies, projected from the centre, via the nadis, will be safely related and brought into a synthetic functioning within the body, and the disciple will experience not only a fully awakened consciousness, and a brain which is ever intelligently receptive, but a constant inflow of spiritual life. There will then be that perfect balance and perfect health which characterise a Master of the Wisdom.

Khi ấy nhịp điệu có trật tự của hệ tuyến và việc sử dụng tự do, an toàn hệ thần kinh đã được kiểm soát sẽ trở nên khả hữu; các năng lượng, được phóng chiếu từ trung tâm, qua các nadis, sẽ được liên hệ an toàn và được đưa vào một hoạt động tổng hợp bên trong thân thể, và đệ tử sẽ kinh nghiệm không chỉ một tâm thức hoàn toàn thức tỉnh, và một bộ não luôn tiếp nhận một cách thông minh, mà còn một dòng nhập liên tục của sự sống tinh thần. Khi ấy sẽ có sự quân bình hoàn hảo và sức khỏe hoàn hảo vốn đặc trưng cho một Chân sư Minh triết.

Knowledge concerning the endocrine or ductless glands is as yet in an embryonic state. Much is known anent the glands connected with the sacral centre and about the thyroid gland, but to date, naturally, the medical profession does not admit that they are effects of the activity or the nonactivity of the centres, or that a line of least resistance exists between the sacral centre and the throat centre. Something is known (not much) about the pituitary body, but its extreme importance as it affects the psychological response of the person is not adequately grasped. Nothing is known, factually speaking, about the pineal or the thymus glands, and this because neither the head centre nor the heart centre is awakened in undeveloped man, or even in the average citizen. That there is a considerable wealth of knowledge anent the sacral centre (as the source of physical creation) and the conditioning effects of the thyroid gland is due to the fact that both these centres are awakened in the average man, and when the functioning is adequate [214] and the necessary interplay is established, you then have a highly sexed individual who is also a creative artist along some artistic line. This is very frequently seen, as you well know. When the ajna centre and its externalisation, the pituitary body, are also active, and the relation between the three centres—sacral, throat and ajna centre—is awakened and beginning to function, and definite conscious relationship is being set up between it and the other centres (dependent upon ray, upon conscious objective and training), then you will have the practical mystic, the humanitarian and the occultist.

Tri thức liên quan đến các tuyến nội tiết hay tuyến không ống hiện vẫn còn ở trạng thái phôi thai. Người ta biết khá nhiều liên quan đến các tuyến nối với trung tâm xương cùng và về tuyến giáp, nhưng cho đến nay, dĩ nhiên, giới y khoa không thừa nhận rằng chúng là những hiệu quả của hoạt động hay sự bất hoạt động của các trung tâm, hoặc rằng có một con đường ít trở ngại nhất tồn tại giữa trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng. Người ta biết đôi chút (không nhiều) về tuyến yên, nhưng tầm quan trọng cực độ của nó trong việc ảnh hưởng đến đáp ứng tâm lý của con người chưa được nắm bắt đầy đủ. Không có gì được biết, nói theo sự kiện, về tuyến tùng hay tuyến ức, và điều này là vì cả trung tâm đầu lẫn trung tâm tim đều chưa được thức tỉnh nơi con người chưa phát triển, hay ngay cả nơi công dân trung bình. Việc có một kho tri thức đáng kể liên quan đến trung tâm xương cùng (như nguồn của sự sáng tạo thể xác) và các hiệu quả điều kiện hóa của tuyến giáp là do sự kiện rằng cả hai trung tâm này đều được thức tỉnh nơi con người trung bình, và khi hoạt động là thích đáng [214] và sự tương tác cần thiết được thiết lập, khi ấy bạn có một cá nhân đầy tính dục, đồng thời cũng là một nghệ sĩ sáng tạo theo một đường lối nghệ thuật nào đó. Điều này rất thường thấy, như bạn biết rõ. Khi trung tâm ajna và sự ngoại hiện của nó, tuyến yên, cũng hoạt động, và mối liên hệ giữa ba trung tâm—xương cùng, cổ họng và ajna—được thức tỉnh và bắt đầu hoạt động, và mối liên hệ hữu thức rõ rệt đang được thiết lập giữa nó với các trung tâm khác (tùy thuộc vào cung, vào mục tiêu hữu thức và sự huấn luyện), khi ấy bạn sẽ có nhà thần bí thực tiễn, nhà nhân đạo và nhà huyền bí học.

Students should remember that there is both an upward and a downward trend of energy within the entire structure of centres, where the aspirant and the disciple are concerned:

Các đạo sinh nên nhớ rằng có cả một xu hướng đi lên lẫn một xu hướng đi xuống của năng lượng trong toàn bộ cấu trúc các trung tâm, xét nơi người chí nguyện và đệ tử:

1. The upward trend...producing Transmutation.

1. Xu hướng đi lên...tạo ra Sự chuyển hoá.

From the sacral centre to the throat centre. Physical creation is transmuted into artistic creativity.

Từ trung tâm xương cùng đến trung tâm cổ họng. Sự sáng tạo thể xác được chuyển hoá thành tính sáng tạo nghệ thuật.

From the solar centre to the heart centre. Individual, emotional consciousness is transmuted into group consciousness.

Từ trung tâm tùng thái dương đến trung tâm tim. Tâm thức cảm xúc cá nhân được chuyển hoá thành tâm thức nhóm.

From the base of the spine to the head centre. Material force is transmuted into spiritual energy.

Từ đáy cột sống đến trung tâm đầu. Mãnh lực vật chất được chuyển hoá thành năng lượng tinh thần.

From any or all of the five spinal centres to the ajna centre. Uncoordinated living is transmuted into personality integration.

Từ bất kỳ hay tất cả năm trung tâm cột sống đến trung tâm ajna. Đời sống không phối hợp được chuyển hoá thành sự tích hợp phàm ngã.

From the six centres in relationship into the highest head centre. Personality activity is transmuted into spiritual living.

Từ sáu trung tâm trong mối liên hệ đến trung tâm đầu cao nhất. Hoạt động phàm ngã được chuyển hoá thành đời sống tinh thần.

This is a wide generalisation, and the process is not carried forward in any sequential fashion or smoothly and in order as the tabulation above might suggest. The process involved is spread over many lives of unconscious transmutation in [215] the earlier stages, and as a result of bitter experience and of conscious effort in the later stages, and becomes increasingly dynamic and effective as the various stages upon the Path area trodden by the aspirant. The five rays with which a disciple has to work (two major conditioning rays and three subsidiary rays) have a definite active effect; karmic adjustments provide opportunity or hindrance, and the intricacies of the entire process (within the relatively limited experience of the disciple) are so confusing whilst in process that all that he can do is to grasp the general outline as here given and not pay too much attention to the immediate factual detail.

Đây là một sự khái quát rộng, và tiến trình không được thực hiện theo bất kỳ trình tự tuần tự nào hay một cách êm xuôi và có trật tự như bảng liệt kê trên có thể gợi ý. Tiến trình liên hệ này trải dài qua nhiều kiếp sống của sự chuyển hoá vô thức trong [215] các giai đoạn đầu, và là kết quả của kinh nghiệm cay đắng cùng nỗ lực hữu thức trong các giai đoạn sau, và ngày càng trở nên năng động và hữu hiệu khi các giai đoạn khác nhau trên Con Đường được người chí nguyện bước qua. Năm cung mà một đệ tử phải làm việc với (hai cung điều kiện hóa chính và ba cung phụ) có một hiệu quả hoạt động rõ rệt; các điều chỉnh nghiệp quả tạo ra cơ hội hay chướng ngại, và những phức tạp của toàn bộ tiến trình (trong kinh nghiệm tương đối giới hạn của đệ tử) gây bối rối đến mức, trong khi tiến trình đang diễn ra, tất cả những gì y có thể làm là nắm lấy đại cương tổng quát như được nêu ở đây và không chú ý quá nhiều đến chi tiết sự kiện trước mắt.

2. The downward trend...producing Transformation.

2. Xu hướng đi xuống...tạo ra Sự chuyển đổi.

Once the head centre is awakening and the disciple is consciously active in the work of directing the energies to the centres and thereby governing his personality life, there is a scientific undertaking of energising the centres in a certain ordered rhythm which is again determined by the rays, by circumstance and by karma; thus all the bodily energies are swung into correct spiritual activity. With the process involved we cannot here deal, beyond pointing out that this downward trend can be roughly regarded as falling into three stages:

Một khi trung tâm đầu đang thức tỉnh và đệ tử hoạt động một cách hữu thức trong công việc định hướng các năng lượng đến các trung tâm và nhờ đó cai quản đời sống phàm ngã của mình, thì có một nỗ lực khoa học nhằm tiếp sinh lực cho các trung tâm theo một nhịp điệu có trật tự nhất định, nhịp điệu này lại được quyết định bởi các cung, bởi hoàn cảnh và bởi nghiệp quả; như thế mọi năng lượng của thân thể được đưa vào hoạt động tinh thần đúng đắn. Với tiến trình liên hệ này, ở đây chúng ta không thể bàn đến, ngoài việc chỉ ra rằng xu hướng đi xuống này có thể được xem một cách đại khái là rơi vào ba giai đoạn:

1. The stage of energising the creative life, via the throat centre, thus bringing:

1. Giai đoạn tiếp sinh lực cho đời sống sáng tạo, qua trung tâm cổ họng, nhờ đó đưa:

a. The head centre and the throat centre,

a. Trung tâm đầu và trung tâm cổ họng,

b. These two and the sacral centre,

b. Hai trung tâm này và trung tâm xương cùng,

c. All three, consciously and simultaneously, into conscious relation.

c. Cả ba, một cách hữu thức và đồng thời, vào mối liên hệ hữu thức.

This relation, when properly established, will solve the individual problem of sex, and without recourse to either inhibition or suppression, but by bringing [216] about right control and making the disciple, at the same time, creative in a worldly sense, and therefore of use to his fellowmen.

Mối liên hệ này, khi được thiết lập đúng đắn, sẽ giải quyết vấn đề tính dục cá nhân, không cần đến sự ức chế hay đàn áp, mà bằng cách [216] tạo ra sự kiểm soát đúng đắn và đồng thời làm cho đệ tử trở nên sáng tạo theo nghĩa thế gian, và vì vậy hữu ích cho đồng loại của mình.

2. The stage of energising the conscious life of relationship via the heart centre, thus bringing:

2. Giai đoạn tiếp sinh lực cho đời sống tâm thức của mối liên hệ qua trung tâm tim, nhờ đó đưa:

a. The head centre and the heart centre,

a. Trung tâm đầu và trung tâm tim,

b. These two and the solar plexus centre,

b. Hai trung tâm này và trung tâm tùng thái dương,

c. All three, simultaneously and consciously, into close cooperation.

c. Cả ba, đồng thời và một cách hữu thức, vào sự hợp tác chặt chẽ.

This serves to establish right human relations, right group relations, and right spiritual relations throughout a man’s entire life expression. Just as the stage of regulating the creative life has a paramount effect upon the physical body, so this stage affects the astral vehicle with great potency; emotional reactions are transformed into aspiration and service; selfish individual love is transformed into group love, and then divinity rules the life.

Điều này giúp thiết lập các mối liên hệ nhân loại đúng đắn, các mối liên hệ nhóm đúng đắn, và các mối liên hệ tinh thần đúng đắn xuyên suốt toàn bộ biểu hiện sự sống của một con người. Cũng như giai đoạn điều hòa đời sống sáng tạo có một hiệu quả tối quan trọng trên thể xác, thì giai đoạn này tác động lên thể cảm dục với mãnh lực lớn lao; các phản ứng cảm xúc được chuyển đổi thành khát vọng và phụng sự; tình yêu ích kỷ cá nhân được chuyển đổi thành tình yêu nhóm, và rồi thiên tính cai quản đời sống.

3. The stage of energising the entire man, via the basic centre thus bringing:

3. Giai đoạn tiếp sinh lực cho toàn bộ con người, qua trung tâm căn bản, nhờ đó đưa:

a. The head centre and the basic centre,

a. Trung tâm đầu và trung tâm căn bản,

b. These two and the ajna centre,

b. Hai trung tâm này và trung tâm ajna,

c. All the three, simultaneously and consciously, into rhythmic, coordinated expression. This is a final stage of great importance, and only takes place in its completeness at the time of the third initiation, that of the Transfiguration.

c. Cả ba, đồng thời và một cách hữu thức, vào biểu hiện nhịp nhàng, phối hợp. Đây là một giai đoạn cuối cùng có tầm quan trọng lớn lao, và chỉ diễn ra trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ ba, cuộc Biến hình.

You can see, therefore, how three important words convey the purpose of the scientific unfoldment and the right direction of the centres:

Vì vậy, bạn có thể thấy ba từ quan trọng chuyển tải mục đích của sự khai mở khoa học và sự định hướng đúng đắn của các trung tâm như thế nào:

Transmutation. Transformation. Transfiguration.

Sự chuyển hoá. Sự chuyển đổi. Biến hình.

[217]

[217]

This process is wisely and safely carried out over a long period of time and—returning to our theme of health and of disease—when consummated, perfect physical health is the result; in the interim process of adjustment and of change, the reverse is frequently the case. The danger involved in a large number of physical ills can be traced to the condition of the centres, to the interplay or their lack of interplay, to an undeveloped condition, unawakened and sluggish, and to an overstimulation or an unbalanced activity. If one centre is prematurely awakened, it is frequently at the expense of other centres. The rude health of the savage or of the unskilled and unintelligent labourer or peasant (a state of being which is rapidly passing as the mind development and the process of evolution take effect) is largely due to the quiescent state of practically all the centres, with the exception of the sacral centre. The fact of their falling easy prey to the infectious diseases can also be traced to the same quiescence. As the emotional nature is developed and the mind begins to function, the centres then become more active. Definite trouble then ensues, largely because psychological conditions begin to appear. The man is no longer simply an animal. The wear and tear of the emotional life (the major predisposing factor in ill health) floods the lower nature with ill-directed energy (or should I say mis-directed?). The solar plexus centre then becomes unduly active and this activity falls into four stages:

Tiến trình này được thực hiện một cách khôn ngoan và an toàn trong một thời gian dài và—quay lại chủ đề của chúng ta về sức khỏe và bệnh tật—khi hoàn tất, sức khỏe thể xác hoàn hảo là kết quả; trong tiến trình trung gian của sự điều chỉnh và thay đổi, điều ngược lại thường là trường hợp xảy ra. Mối nguy liên hệ đến một số lượng lớn các bệnh thể xác có thể được truy nguyên đến tình trạng của các trung tâm, đến sự tương tác hay thiếu tương tác của chúng, đến một tình trạng chưa phát triển, chưa thức tỉnh và trì trệ, và đến sự kích thích quá mức hay hoạt động mất quân bình. Nếu một trung tâm được thức tỉnh quá sớm, điều đó thường xảy ra với cái giá phải trả của các trung tâm khác. Sức khỏe thô sơ của người man dã hay của người lao động hoặc nông dân không lành nghề và không có trí tuệ (một trạng thái hiện hữu đang nhanh chóng qua đi khi sự phát triển trí tuệ và tiến trình tiến hoá phát huy tác dụng) phần lớn là do trạng thái yên lặng của hầu như tất cả các trung tâm, ngoại trừ trung tâm xương cùng. Sự kiện họ dễ dàng trở thành mồi ngon của các bệnh truyền nhiễm cũng có thể được truy nguyên đến cùng trạng thái yên lặng ấy. Khi bản chất cảm xúc được phát triển và trí tuệ bắt đầu hoạt động, các trung tâm khi ấy trở nên hoạt động hơn. Khi đó rắc rối rõ rệt phát sinh, phần lớn vì các điều kiện tâm lý bắt đầu xuất hiện. Con người không còn đơn thuần là một con vật nữa. Sự hao mòn của đời sống cảm xúc (yếu tố chính tạo khuynh hướng dẫn đến bệnh tật) làm ngập bản chất thấp bằng năng lượng bị định hướng sai (hay tôi nên nói là bị định hướng lệch chăng?). Khi ấy trung tâm tùng thái dương trở nên hoạt động quá mức và hoạt động này rơi vào bốn giai đoạn:

1. The stage of its awakening, as the astral body becomes steadily more powerful.

1. Giai đoạn thức tỉnh của nó, khi thể cảm dục trở nên ngày càng mạnh hơn.

2. The stage of its potency when, for lives, it is the conditioning centre in the etheric or vital body and the man is consequently entirely conditioned by his emotional-astral life.

2. Giai đoạn mãnh lực của nó khi, qua nhiều kiếp sống, nó là trung tâm điều kiện hóa trong thể dĩ thái hay thể sinh lực và do đó con người hoàn toàn bị điều kiện hóa bởi đời sống cảm dục-cảm xúc của mình.

[218]

[218]

3. The stage wherein the solar plexus centre becomes the clearing house for all the centres (major and minor) below the diaphragm.

3. Giai đoạn trong đó trung tâm tùng thái dương trở thành trạm phân phối cho tất cả các trung tâm (chính và phụ) bên dưới cơ hoành.

4. The stage wherein the solar plexus energies are raised to the heart.

4. Giai đoạn trong đó các năng lượng của tùng thái dương được nâng lên tim.

All these stages bring, temporarily, their own physical ills.

Tất cả các giai đoạn này tạm thời mang đến những bệnh thể xác riêng của chúng.

You will note that, beyond certain generalisations, I am not relating specific diseases to specific centres. I have indicated the areas conditioned by the centres, and far more powerfully conditioned than you have any means yet of ascertaining; I have said that fundamentally the ductless glands—as externalisations of the centres—are the determining factors in the health of the body, and that where there is imbalance, overdevelopment or underdevelopment you will have trouble; I have suggested that the medical profession in the New Age will deal increasingly with the theory of energy direction and its relation to the ductless glands, and that it will admit, at least hypothetically and for the purpose of experimentation, that the theory of the energy centres may be correct and that they are the primary conditioning factors, working through the ductless glands which, in their turn, guard the body, produce the necessary resistance, keep the blood stream supplied with the essentials to health and—when rightly interrelated—produce a balanced expression of the spiritual man throughout the entire physical body—physiological and psychological balance. When this desirable condition is not the case, then the ductless glands, through wrong relationship and incorrect and unbalanced development, are not adequate to the task; they cannot protect the body from disease, and are unable to pour into the blood stream what the physical vehicle needs. Owing to their inadequacy, the body is unable to resist infections, is in a constant state of ill health, [219] and cannot cope with disease coming from without or latent within the organism of the body; this weakness often produces mortal disease.

Bạn sẽ lưu ý rằng, ngoài một số khái quát nhất định, tôi không liên hệ các bệnh đặc thù với các trung tâm đặc thù. Tôi đã chỉ ra các khu vực được các trung tâm tác động, và được tác động mạnh mẽ hơn nhiều so với bất kỳ phương tiện nào hiện bạn có để xác định; tôi đã nói rằng về căn bản các tuyến không ống—như những ngoại hiện của các trung tâm—là những yếu tố quyết định trong sức khỏe của thân thể, và rằng ở đâu có sự mất quân bình, phát triển quá mức hay kém phát triển thì ở đó bạn sẽ có rắc rối; tôi đã gợi ý rằng giới y khoa trong Kỷ Nguyên Mới sẽ ngày càng đề cập đến lý thuyết định hướng năng lượng và mối liên hệ của nó với các tuyến không ống, và rằng họ sẽ thừa nhận, ít nhất là trên giả thuyết và vì mục đích thực nghiệm, rằng lý thuyết về các trung tâm năng lượng có thể là đúng và rằng chúng là những yếu tố điều kiện hóa sơ cấp, hoạt động qua các tuyến không ống, đến lượt chúng bảo vệ thân thể, tạo ra sức đề kháng cần thiết, giữ cho dòng máu được cung cấp những yếu tố thiết yếu cho sức khỏe và—khi được liên hệ đúng đắn—tạo ra một biểu hiện quân bình của con người tinh thần xuyên suốt toàn bộ thể xác—sự quân bình sinh lý và tâm lý. Khi tình trạng đáng mong muốn này không hiện hữu, thì các tuyến không ống, do mối liên hệ sai lạc và sự phát triển không đúng và mất quân bình, không đủ sức đảm đương nhiệm vụ; chúng không thể bảo vệ thân thể khỏi bệnh tật, và không thể đổ vào dòng máu điều mà vận cụ hồng trần cần. Do sự bất toàn của chúng, thân thể không thể chống lại các nhiễm trùng, ở trong tình trạng bệnh hoạn thường xuyên, [219] và không thể đối phó với bệnh tật đến từ bên ngoài hay tiềm ẩn bên trong cơ thể của thân thể; sự yếu kém này thường tạo ra bệnh chết người.

Medicine in the next century will be built around certain major premises:

Y học trong thế kỷ tới sẽ được xây dựng quanh một số tiền đề chính:

1. Preventive medicine will be the goal, producing the attempt to keep the body in proper balanced order.

1. Y học phòng ngừa sẽ là mục tiêu, tạo ra nỗ lực giữ cho thân thể ở trong trật tự quân bình thích đáng.

2. Sound sanitation and the providing of healthy conditions will be regarded as essential.

2. Vệ sinh lành mạnh và việc cung cấp các điều kiện khỏe mạnh sẽ được xem là thiết yếu.

3. The supply of the right chemical properties to the physical body will be studied—a science of chemistry which is yet in its infancy, though it is becoming a flourishing infant.

3. Việc cung cấp các đặc tính hóa học đúng đắn cho thể xác sẽ được nghiên cứu—một khoa học hóa học hiện vẫn còn trong thời kỳ sơ sinh, dù nó đang trở thành một đứa trẻ sơ sinh phát triển mạnh.

4. An understanding of the laws of vitality will be regarded as of prime importance, and of this the emphasis today on vitamins and the influence of the sun are wholesome indications.

4. Sự thấu hiểu các định luật của sinh lực sẽ được xem là tối quan trọng, và sự nhấn mạnh ngày nay vào vitamin cùng ảnh hưởng của mặt trời là những dấu hiệu lành mạnh về điều đó.

5. The use of the mind will be regarded, above everything else, as a factor of major importance: the mind will be seen as the prime influence as regards the centres, for people will be taught to work on their centres through mental power and thus produce a right reaction from the endocrine system. This will necessarily involve the right directing of thought to a centre, or the withdrawal of attention from a centre, with consequent effect upon the glandular system. This will all be based upon the occult law that “Energy follows thought.”

5. Việc sử dụng trí tuệ sẽ được xem, trên hết mọi sự, như một yếu tố có tầm quan trọng lớn lao: trí tuệ sẽ được nhìn nhận là ảnh hưởng chủ yếu đối với các trung tâm, vì con người sẽ được dạy cách làm việc trên các trung tâm của mình bằng quyền năng trí tuệ và nhờ đó tạo ra một phản ứng đúng đắn từ hệ nội tiết. Điều này tất yếu sẽ bao hàm việc định hướng tư tưởng đúng đắn đến một trung tâm, hoặc rút sự chú ý khỏi một trung tâm, với hậu quả tác động lên hệ tuyến. Tất cả điều này sẽ dựa trên quy luật huyền bí rằng “Năng lượng đi theo tư tưởng.”

Owing to the fact that disciples have a greater development of mental power than the average man, and also to the fact that ray type is more easily ascertained, involving consequently a more correct determination of the condition of the glandular system, they will be the first to cooperate [220] with the medical profession and to demonstrate the relation of the centres to the glands, and therefore to the body as a whole. Through concentration and right meditation, carried on in the head centre, and directed towards some one or other of the centres, disciples will demonstrate such definite changes in the ductless glands that the medical profession will be convinced of the importance and the factual existence of the centres and of their power, and also of the possibility of controlling the physical organism through the power of thought. This all lies in the future. I am but pointing the way and indicating a future technique whereby disease will be overcome. The various mental schools of thought, Unity and Christian Science, have been fantastic and fanciful in their claims and definitely unscientific in their approach. But they have had hold of at least one thread in the great process of right adjustment to life and to right relationships. They had the dream and the vision; they lacked perception and commonsense and ignored the evolutionary process.

Do sự kiện rằng các đệ tử có sự phát triển quyền năng trí tuệ lớn hơn con người trung bình, và cũng do sự kiện rằng loại cung được xác định dễ dàng hơn, vì vậy kéo theo sự xác định đúng đắn hơn về tình trạng của hệ tuyến, họ sẽ là những người đầu tiên hợp tác [220] với giới y khoa và chứng minh mối liên hệ của các trung tâm với các tuyến, và do đó với toàn bộ thân thể. Qua sự tập trung và tham thiền đúng đắn, được thực hiện trong trung tâm đầu, và được định hướng đến trung tâm này hay trung tâm khác, các đệ tử sẽ chứng minh những thay đổi rõ rệt như thế trong các tuyến không ống đến mức giới y khoa sẽ bị thuyết phục về tầm quan trọng và sự hiện hữu thực tế của các trung tâm cùng quyền năng của chúng, và cả về khả năng kiểm soát cơ thể hồng trần qua quyền năng của tư tưởng. Tất cả điều này còn nằm trong tương lai. Tôi chỉ đang chỉ đường và nêu ra một kỹ thuật tương lai nhờ đó bệnh tật sẽ được vượt qua. Các trường phái tư tưởng trí tuệ khác nhau, Unity và Christian Science, đã quá hoang đường và tưởng tượng trong các tuyên bố của họ và rõ ràng là phi khoa học trong cách tiếp cận. Nhưng ít nhất họ đã nắm được một sợi dây trong tiến trình lớn lao của sự điều chỉnh đúng đắn với đời sống và với các mối liên hệ đúng đắn. Họ có giấc mơ và tầm nhìn; họ thiếu phân biện tinh thần và lương tri, và đã bỏ qua tiến trình tiến hoá.

Physiological science and psychological power, plus the cooperation of the trained disciple with the trained medical man (particularly with the open-minded endocrinologist), will eventually succeed in solving many human ills and will bring about the cure of the bulk of the diseases now troubling humanity.

Khoa học sinh lý và quyền năng tâm lý, cộng với sự hợp tác của đệ tử đã được huấn luyện với nhà y khoa đã được huấn luyện (đặc biệt với nhà nội tiết học có đầu óc cởi mở), cuối cùng sẽ thành công trong việc giải quyết nhiều bệnh tật của con người và sẽ mang lại sự chữa lành cho phần lớn các bệnh hiện đang làm khổ nhân loại.

We have, therefore, studied to some purpose our first section: The Psychological Causes of Disease. We have carried the idea down from the inner and more subtle causes of disease to the major physical conditioning factor, the ductless glands. We can now briefly consider certain far more occult causes and deal with those which emanate from the group life of humanity and from the karmic liabilities of mankind. Here we shall enter the realm of occult knowledge and of esoteric information, and this will be far more difficult for the orthodox thinker to accept.

Vì vậy, chúng ta đã nghiên cứu có mục đích phần đầu tiên của mình: Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật. Chúng ta đã đưa ý tưởng đi xuống từ các nguyên nhân bên trong và vi tế hơn của bệnh tật đến yếu tố điều kiện hóa hồng trần chính, các tuyến không ống. Giờ đây chúng ta có thể ngắn gọn xem xét một số nguyên nhân huyền bí hơn nhiều và bàn đến những nguyên nhân phát xuất từ đời sống nhóm của nhân loại và từ các món nợ nghiệp quả của loài người. Ở đây chúng ta sẽ bước vào lĩnh vực của tri thức huyền bí và thông tin nội môn, và điều này sẽ khó được nhà tư tưởng chính thống chấp nhận hơn nhiều.

CHAPTER II - Causes Emanating from Group Life — CHƯƠNG II - Những Nguyên Nhân Phát Xuất từ Đời Sống Nhóm

[221]

[221]

IN CONSIDERING DISEASE and its basic causes, we have dealt particularly with those which concern our Aryan race and modern humanity; these are largely astral in origin and might be described as Atlantean in nature. We have briefly considered also the various diseases which originate upon the mental plane; these are more strictly Aryan and involve also the ills to which disciples are prone. Infectious diseases and those which are fundamental in the planetary substance have a potent effect upon those races (still among us) which are the oldest on our planet, and which are related to the fast dying out Lemurian types; Negroes are specially prone to infectious epidemics.

KHI XEM XÉT BỆNH TẬT và các nguyên nhân căn bản của nó, chúng ta đã đặc biệt đề cập đến những nguyên nhân liên quan đến nhân loại Arya của chúng ta và nhân loại hiện đại; phần lớn chúng có nguồn gốc cảm dục và có thể được mô tả là có bản chất Atlantis. Chúng ta cũng đã ngắn gọn xem xét các bệnh khác nhau phát sinh trên cõi trí; những bệnh này nghiêm ngặt hơn là Arya và cũng bao gồm các bệnh mà các đệ tử dễ mắc phải. Các bệnh truyền nhiễm và những bệnh căn bản trong chất liệu hành tinh có một tác động mạnh mẽ lên những nhân loại (vẫn còn giữa chúng ta) cổ xưa nhất trên hành tinh của chúng ta, và có liên hệ với các loại Lemuria đang nhanh chóng biến mất; người da đen đặc biệt dễ mắc các dịch bệnh truyền nhiễm.

I have not attempted in this treatise to deal pathologically with any of the diseases touched upon, nor have I paid attention to the physiology of the patient. That is entirely out of my province. I have, however, attempted to indicate the origins of some of the diseases, to call attention to the paramount importance of the glandular system, and to relate, as far as is just and wise, some of the oriental theories anent the centres and western wisdom. Later I shall point out some basic human conditions which must be changed if the true healing work is to be correctly applied, and then I hope to give some of the methods whereby healers can accomplish work which will be in line [222] with the facts of the case and which will aid in the processes of restoration.

Trong luận văn này tôi đã không cố gắng bàn đến mặt bệnh lý của bất kỳ bệnh nào được chạm đến, cũng không chú ý đến sinh lý học của bệnh nhân. Điều đó hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của tôi. Tuy nhiên, tôi đã cố gắng chỉ ra nguồn gốc của một số bệnh, kêu gọi chú ý đến tầm quan trọng tối cao của hệ tuyến, và liên hệ, trong chừng mực công bằng và khôn ngoan, một số lý thuyết phương Đông liên quan đến các trung tâm với minh triết phương Tây. Về sau tôi sẽ chỉ ra một số điều kiện căn bản của con người cần phải được thay đổi nếu công việc chữa lành chân chính muốn được áp dụng đúng đắn, và rồi tôi hy vọng sẽ đưa ra một số phương pháp nhờ đó các nhà chữa lành có thể hoàn thành công việc phù hợp [222] với các sự kiện của trường hợp và sẽ hỗ trợ trong các tiến trình phục hồi.

The problem of disease is today greatly enhanced, owing to the fact that in this race, the Aryan, which now dominates the planet, you have the first true appearance outwardly on the physical plane of the basic synthesis of humanity which will be—in its better form—so strikingly significant of the next major rootrace, the sixth. Inter-marriage between nations and races, the fusion of bloods for hundreds of years—due to migration, travel, education and mental unity—has led to there being no really pure racial types today. This is far more certainly the case than the most enlightened think, if the long, long history of mankind is considered. Sexual intercourse knows no impenetrable barriers, and people today have in them all the strains and the blood of all the races, and this (as a result of the world war, 1914-1945) will be increasingly the case. This development is definitely a part of the divine plan, no matter how undesirable it may appear to those who idealise purity of relationship, or how ruthless its application is at the present moment. Something intended is being brought about and it cannot be avoided. The urge to mate becomes peculiarly strong when men are removed from their familiar settings and experience the novelty of complete loneliness, when the normal inhibitions and customs imposed by family relationships and national standards are removed, when danger of death is constantly faced and the larger value submerges the lesser values and the usual conventional attitudes, and when the physical organism has been trained and brought by scientific treatment and heavy feeding to the height of physical efficiency. I am speaking in terms of physical effectiveness and not of mental efficiency, which may or may not parallel the former.

Vấn đề bệnh tật ngày nay được gia tăng rất nhiều, do sự kiện rằng trong nhân loại này, nhân loại Arya, hiện đang thống trị hành tinh, bạn có sự xuất hiện chân chính đầu tiên ra bên ngoài trên cõi hồng trần của sự tổng hợp căn bản của nhân loại mà sẽ là—trong hình thức tốt đẹp hơn của nó—điều có ý nghĩa nổi bật đến thế đối với giống dân gốc lớn kế tiếp, giống dân thứ sáu. Hôn phối giữa các quốc gia và các nhân loại, sự dung hợp các dòng máu trong hàng trăm năm—do di cư, du hành, giáo dục và sự hợp nhất trí tuệ—đã dẫn đến việc ngày nay không còn những loại hình chủng tộc thực sự thuần chủng. Điều này chắc chắn đúng hơn nhiều so với điều mà những người sáng suốt nhất nghĩ, nếu lịch sử rất dài, rất dài của loài người được xét đến. Giao hợp tính dục không biết đến những rào cản không thể xuyên thủng, và con người ngày nay mang trong mình mọi dòng giống và máu của mọi nhân loại, và điều này (do kết quả của cuộc thế chiến, 1914-1945) sẽ ngày càng đúng hơn. Sự phát triển này rõ ràng là một phần của Thiên Cơ, bất kể nó có vẻ không mong muốn đến đâu đối với những ai lý tưởng hóa sự thuần khiết của các mối liên hệ, hay việc áp dụng nó hiện nay có tàn nhẫn đến đâu. Một điều được chủ định đang được mang lại và không thể tránh khỏi. Thúc lực giao phối trở nên đặc biệt mạnh khi những người nam và nữ bị tách khỏi môi trường quen thuộc của họ và trải nghiệm sự mới lạ của nỗi cô đơn hoàn toàn, khi những kiềm chế và tập tục bình thường do các mối liên hệ gia đình và các tiêu chuẩn quốc gia áp đặt bị loại bỏ, khi hiểm nguy của cái chết luôn luôn được đối diện và giá trị lớn hơn nhấn chìm các giá trị nhỏ hơn cùng các thái độ quy ước thông thường, và khi cơ thể hồng trần đã được huấn luyện và được đưa, bằng điều trị khoa học và nuôi dưỡng dồi dào, đến đỉnh cao của hiệu năng thể xác. Tôi đang nói theo các thuật ngữ của hiệu quả thể xác chứ không phải hiệu quả trí tuệ, điều có thể song hành hoặc không song hành với điều trước.

[223]

[223]

The animal instincts are therefore potent; the centres below the diaphragm become peculiarly energised; the emotional demands enormously vitalise the solar plexus centre, and the centre at the base of the spine increases the activity of the adrenal glands as the will of the man is called into play to surmount danger; the will-to-live, with its adjunct, the will-to-perpetuate and to live in one’s children, is powerfully fostered. To this must also be added, as a major adjunct of war, the will of Nature itself working (under certain divine laws) to offset the loss of life and the casualties of war by a fresh inflow of life into form, thus preserving the human race, providing the bodies for the next tide of egos and thus peopling the earth.

Vì vậy, các bản năng động vật rất mạnh; các trung tâm bên dưới cơ hoành trở nên được tiếp sinh lực một cách đặc biệt; các đòi hỏi cảm xúc tiếp sinh lực rất lớn cho trung tâm tùng thái dương, và trung tâm ở đáy cột sống làm gia tăng hoạt động của các tuyến thượng thận khi ý chí của con người được kêu gọi vận dụng để vượt qua hiểm nguy; ý chí sống còn, cùng với phần phụ của nó là ý chí duy trì nòi giống và sống trong con cái mình, được nuôi dưỡng mạnh mẽ. Cũng phải thêm vào đây, như một phần phụ chính của chiến tranh, ý chí của chính Thiên Nhiên đang hoạt động (dưới một số định luật thiêng liêng) để hóa giải sự mất mát sinh mạng và thương vong của chiến tranh bằng một dòng nhập mới của sự sống vào hình tướng, nhờ đó bảo tồn nhân loại, cung cấp các thể cho làn sóng chân ngã kế tiếp và như thế làm cho trái đất có người ở.

In saying this I seek only to explain the phenomena which can be noted at all times when war is present and which in the world war can be noted on a large scale. The armies of the world are everywhere and are spread over every country; racial transmigration is a universal factor, both from the angle of military necessity and from the plight of the civilians who find themselves in the path of war. This movement of millions of men everywhere is one of the paramount factors which will condition the new civilisation, and its importance is based upon the fact that in twenty-five years’ time men and women will be a hybrid race whose fathers and mothers will be of every imaginable nation; white fathers will have had physical relation with women of every Asiatic or African origin, thus producing a fusion of blood which—if recognised and rightly handled and developed, from the educational angle and with understanding—will express in embryo the nature of the sixth rootrace, and which will be in fact HUMANITY without any racial or national barriers, with no so-called pure blood and exclusive castes, and with a new and virile sense of life because of the infusion of stronger stocks with the weaker [224] or worn-out types and of the newer racial strains with the older and more developed. I hold no brief for the manner in which this is being brought about. It could have happened without war and through a conviction that all men are equal and human, and that the mixture of races would solve many problems; war, however, has hastened the process and the soldiers of all the armies of the world are having physical relations with women of all races, all civilisations and all colours. This must, whether regarded as right or wrong according to the code of ethics and standards of the observer, produce an entirely new situation with which the world of the future will have to cope; it must inevitably break down national prejudices and racial barriers—the first producing more effect than the latter during the initial stages. Inevitably a more homogeneous humanity will appear during the changes of the next one hundred years. Many attitudes and many customary reactions which today hold sway will vanish, and types and qualities and characteristics for which we have as yet no precedent will appear upon a large scale.

Khi nói điều này, tôi chỉ tìm cách giải thích những hiện tượng có thể được ghi nhận vào bất cứ lúc nào khi chiến tranh hiện diện, và trong cuộc thế chiến thì có thể được ghi nhận trên quy mô lớn. Các đạo quân trên thế giới hiện diện khắp nơi và trải rộng trên mọi quốc gia; sự di cư chủng tộc là một yếu tố phổ quát, xét cả từ góc độ nhu cầu quân sự lẫn hoàn cảnh khốn đốn của thường dân khi họ thấy mình ở ngay trên đường đi của chiến tranh. Sự chuyển động của hàng triệu người nam ở khắp nơi này là một trong những yếu tố tối quan trọng sẽ tác động lên nền văn minh mới, và tầm quan trọng của nó dựa trên sự kiện là trong vòng hai mươi lăm năm nữa những người nam và nữ sẽ là một nhân loại lai tạp mà cha mẹ của họ sẽ thuộc mọi quốc gia có thể tưởng tượng được; những người cha da trắng sẽ có quan hệ thể xác với những phụ nữ thuộc mọi nguồn gốc Á châu hay Phi châu, nhờ đó tạo ra một sự dung hợp huyết thống mà—nếu được nhìn nhận và được xử lý, phát triển đúng đắn từ góc độ giáo dục và với sự thấu hiểu—sẽ biểu lộ trong phôi thai bản chất của giống dân gốc thứ sáu, và trên thực tế sẽ là NHÂN LOẠI không có bất kỳ rào cản chủng tộc hay quốc gia nào, không có cái gọi là huyết thống thuần chủng và các giai cấp độc quyền, và với một ý thức mới mẻ, cường tráng về sự sống nhờ sự truyền nhập của các dòng giống mạnh hơn vào các loại yếu hơn [224] hay đã suy kiệt, và của các chủng tộc mới hơn vào các chủng tộc cũ hơn và phát triển hơn. Tôi không biện hộ cho cách thức mà điều này đang được đưa tới. Nó đã có thể xảy ra mà không cần chiến tranh và thông qua một niềm xác tín rằng mọi người đều bình đẳng và nhân bản, và rằng sự pha trộn các chủng tộc sẽ giải quyết được nhiều vấn đề; tuy nhiên, chiến tranh đã thúc đẩy tiến trình ấy, và binh lính của mọi đạo quân trên thế giới đang có quan hệ thể xác với phụ nữ thuộc mọi chủng tộc, mọi nền văn minh và mọi màu da. Điều này, dù được xem là đúng hay sai theo bộ quy tắc đạo đức và tiêu chuẩn của người quan sát, nhất định phải tạo ra một tình thế hoàn toàn mới mà thế giới tương lai sẽ phải đương đầu; nó tất yếu phải phá vỡ các thành kiến quốc gia và các rào cản chủng tộc—trong những giai đoạn đầu, điều thứ nhất tạo ra hiệu quả nhiều hơn điều thứ hai. Tất yếu một nhân loại đồng nhất hơn sẽ xuất hiện trong những biến đổi của một trăm năm tới. Nhiều thái độ và nhiều phản ứng theo tập quán hiện đang chi phối sẽ biến mất, và những loại người, phẩm tính và đặc điểm mà chúng ta chưa hề có tiền lệ sẽ xuất hiện trên quy mô lớn.

Whether the conservative and the so-called strictly “moral” people dislike this worldwide happening has no bearing on the case. It has happened and is happening daily and will materially bring about far-reaching changes. These inter-racial and mixed relationships have always happened upon a small and individual scale; they are now happening on a large scale. For the results of this due preparation must be made.

Việc những người bảo thủ và những người được gọi là “đạo đức” nghiêm ngặt có không thích biến cố toàn cầu này hay không không liên quan gì đến vấn đề. Nó đã xảy ra, đang xảy ra hằng ngày, và sẽ thực sự mang lại những biến đổi sâu rộng. Những mối quan hệ liên chủng tộc và pha trộn này luôn luôn đã xảy ra trên quy mô nhỏ và cá nhân; nay chúng đang xảy ra trên quy mô lớn. Cần phải có sự chuẩn bị thích đáng cho các kết quả của điều này.

As is well known to you, there are certain diseases which are numerically dominant in the world today. They are:

Như bạn đã biết rõ, hiện nay có một số bệnh đang chiếm ưu thế về số lượng trên thế giới. Chúng là:

1. Heart diseases of various kinds, particularly afflicting advanced humanity.

1. Các bệnh tim thuộc nhiều loại khác nhau, đặc biệt gây ảnh hưởng đến phần nhân loại tiến bộ.

2. Insanities. [225]

2. Chứng điên loạn. [225]

3. Cancer, so widely prevalent among every type of man today.

3. Ung thư, hiện đang lan tràn rộng khắp trong mọi loại người ngày nay.

4. The social diseases—syphilitic in nature.

4. Các bệnh xã hội—có bản chất giang mai.

5. Tuberculosis.

5. Lao phổi.

In a subtle and occult manner, these diseases are due to two basic causes: One is the close interplay between people, living under modern conditions, and the massing of people into cities and towns; the other is the age of the soil upon which man lives (a fact little recognised or considered), for it is deeply impregnated with the germs and the residue incident to past ages. The immunity of man is an amazing matter, could you but realise it; he resists and throws off constantly and continuously every kind of disease—those which are the result of contact with others, those which are prevalent in the very atmosphere at every time, those which are latent within his own bodily organism, and those which are inherited and to which he has a constant predisposition. Man’s fight for health is ceaseless and unending, ranging all the way from ordinary fatigue and tiredness (plus the universal tendency to take cold), to mortal disease, ending in death.

Theo một cách vi tế và huyền bí, các bệnh này phát sinh từ hai nguyên nhân căn bản: một là sự tương tác mật thiết giữa con người, sống trong các điều kiện hiện đại, và sự tập trung đông đúc của con người vào các thành phố và thị trấn; nguyên nhân kia là tuổi của đất mà con người đang sống trên đó (một sự kiện ít được nhìn nhận hay cân nhắc), vì nó đã thấm đẫm sâu xa các mầm bệnh và cặn dư do các thời đại quá khứ để lại. Khả năng miễn nhiễm của con người là một vấn đề đáng kinh ngạc, nếu bạn có thể nhận ra điều đó; y kháng cự và liên tục, không ngừng loại bỏ mọi loại bệnh—những bệnh là kết quả của sự tiếp xúc với người khác, những bệnh phổ biến ngay trong bầu khí quyển vào mọi lúc, những bệnh tiềm ẩn trong chính cơ thể của y, và những bệnh được di truyền mà y luôn có khuynh hướng sẵn có. Cuộc chiến đấu của con người vì sức khỏe là liên miên và không dứt, trải dài từ sự mệt mỏi và kiệt sức thông thường (cộng với khuynh hướng phổ quát là dễ bị cảm lạnh), cho đến bệnh chí tử kết thúc bằng cái chết.

To the trained occult observer, it is as if humanity—as a whole—is walking partly in a dense shadow which engulfs the race, and some part of which involves an area of the body of every human being. One of the aims of the New Age will be “to lighten this shadow and bring people out into the fitness of true health.” This same shadow penetrates also into the mineral kingdom, affects the vegetable kingdom, and involves also the animals; it is one of the major causes of all that can be considered under the name of “sin,” which may surprise you. It is also the fertile seed of crime. This is a fact to be accepted, to be properly considered and dealt with rationally, sanely, intelligently and [226] spiritually; it will require all the factors mentioned to lift humanity out of the darkness of disease into established and radiant health. Certain of the Masters are dealing with this problem in relation to the other kingdoms in nature, for there will be no true escape for man whilst his environment is still under the shadow of disease.

Đối với nhà huyền bí học lão luyện, dường như toàn thể nhân loại đang bước đi phần nào trong một bóng tối đậm đặc bao trùm nhân loại, và một phần nào đó của nó liên quan đến một khu vực trong cơ thể của mỗi con người. Một trong những mục tiêu của Kỷ Nguyên Mới sẽ là “làm sáng bóng tối này và đưa con người ra ngoài để đạt tới tình trạng thích hợp của sức khỏe chân chính.” Bóng tối này cũng thâm nhập vào giới kim thạch, ảnh hưởng đến giới thực vật, và cũng bao trùm cả giới động vật; nó là một trong những nguyên nhân chính của tất cả những gì có thể được xem xét dưới tên gọi “tội lỗi,” điều này có thể làm bạn ngạc nhiên. Nó cũng là hạt giống màu mỡ của tội ác. Đây là một sự kiện cần được chấp nhận, được cân nhắc đúng đắn và được xử lý một cách hợp lý, lành mạnh, thông minh và [226] tinh thần; sẽ cần đến tất cả các yếu tố đã nêu để nâng nhân loại ra khỏi bóng tối của bệnh tật vào tình trạng sức khỏe ổn định và rạng ngời. Một số Chân sư đang đề cập đến vấn đề này trong mối liên hệ với các giới khác trong thiên nhiên, vì sẽ không có sự giải thoát chân chính nào cho con người chừng nào môi trường của y vẫn còn ở dưới bóng tối của bệnh tật.

Much that I could tell you in this connection would sound fanciful and would call forth the scoffing amusement of the hardboiled scientist. The theories held by mankind as to the origin of diseases, and the recognition of bacteria and germs and similar intruding organisms are largely correct, but this is so only if you bear in mind that they are in reality effects of causes upon which the investigator has not touched and which are hidden in the very history of the planet itself and also in the racial history of the past—of which little or practically nothing is known. Surmise and conjecture rule here.

Nhiều điều mà tôi có thể nói với bạn về vấn đề này sẽ nghe có vẻ kỳ ảo và sẽ gợi lên sự chế nhạo thích thú của nhà khoa học cứng nhắc. Những lý thuyết mà nhân loại nắm giữ về nguồn gốc của bệnh tật, và sự nhìn nhận vi khuẩn, mầm bệnh cùng các sinh thể xâm nhập tương tự phần lớn là đúng, nhưng điều này chỉ đúng nếu bạn ghi nhớ rằng trên thực tế chúng là các hiệu quả của những nguyên nhân mà nhà nghiên cứu chưa hề chạm tới và đang ẩn giấu trong chính lịch sử của hành tinh này cũng như trong lịch sử chủng tộc của quá khứ—về điều đó người ta biết rất ít hoặc hầu như không biết gì. Ở đây sự phỏng đoán và suy luận thống trị.

1. DISEASES OF HUMANITY, INHERITED FROM THE PAST — 1. CÁC BỆNH CỦA NHÂN LOẠI, ĐƯỢC THỪA HƯỞNG TỪ QUÁ KHỨ

History, as studied today, goes back but a little way and although the enlightened historian and scientist may extend the story of humanity to millions of years, there is naught known about the races of men who lived those millions of years ago; naught is known of the civilisation which flourished in early Atlantean times twelve million years ago; naught is known at all of the still more ancient Lemurian civilisation which goes back more than fifteen million years; still less is known of that twilight period which existed twenty-one million years ago when men were scarcely human and when they were so closely related to the animal kingdom that we call them by the cumbersome name of “animal-man.”

Lịch sử, như được nghiên cứu ngày nay, chỉ quay ngược lại được một quãng ngắn, và mặc dù nhà sử học và nhà khoa học giác ngộ có thể kéo dài câu chuyện của nhân loại đến hàng triệu năm, vẫn không biết gì về các chủng người đã sống cách đây hàng triệu năm ấy; không biết gì về nền văn minh đã hưng thịnh trong thời Atlantis sơ kỳ cách đây mười hai triệu năm; hoàn toàn không biết gì về nền văn minh Lemuria còn cổ xưa hơn nữa, có niên đại hơn mười lăm triệu năm; và càng ít biết hơn về thời kỳ chạng vạng tồn tại cách đây hai mươi mốt triệu năm khi con người hầu như chưa phải là người và khi họ có quan hệ gần gũi với giới động vật đến mức chúng ta gọi họ bằng cái tên nặng nề là “người thú.”

During the vast period between then and now, myriads of people have lived and loved and experienced; their bodies have been absorbed into the dust of the earth and [227] each has contributed something which they have gained during life experience—something different, however, to that which they contribute to the life of the soul on its own plane. This something contributed has altered in some way the atoms and cells of the physical body, and that gained something has in due time been released again into the soil of the planet. Each soul, withdrawn from the body, has come to the earth repeatedly, and many millions are here today, particularly those who were present in later Atlantean times and who are, therefore, the flower and the highest product of that highly emotional race. They bring with them the predispositions and the innate tendencies with which their past history has endowed them.

Trong khoảng thời gian mênh mông từ đó đến nay, vô số người đã sống, yêu thương và trải nghiệm; thể xác của họ đã được hấp thụ vào bụi đất của địa cầu và [227] mỗi người đều đã đóng góp một điều gì đó mà họ thu được trong kinh nghiệm sống—tuy nhiên, khác với điều mà họ đóng góp cho sự sống của linh hồn trên cõi riêng của nó. Điều được đóng góp ấy đã làm biến đổi theo một cách nào đó các nguyên tử và tế bào của thể xác, và điều đã thu được ấy đến đúng lúc lại được giải phóng trở lại vào đất của hành tinh. Mỗi linh hồn, sau khi rút khỏi thể xác, đã nhiều lần trở lại địa cầu, và nhiều triệu linh hồn hiện đang ở đây ngày nay, đặc biệt là những linh hồn đã hiện diện trong các thời Atlantis hậu kỳ và vì thế là tinh hoa và sản phẩm cao nhất của nhân loại cảm xúc cao độ ấy. Họ mang theo những khuynh hướng sẵn có và những xu hướng bẩm sinh mà lịch sử quá khứ của họ đã ban cho họ.

It should therefore be borne in mind that the physical bodies in which humanity now dwells are constructed of very ancient matter and that the substance employed is tainted or conditioned by the history of the past. To this concept must be added two others: First, that incoming souls draw to themselves the type of material with which they must construct their outer sheaths, and that this will be responsive to some aspect of their subtler natures; if, for instance, physical desire conditions them, the material of their physical vehicle will be largely responsive to that particular urge. Secondly, each physical body carries within itself the seeds of inevitable retribution, if its functions are misused. The great original sin in Lemurian times was sexual in nature, and due largely not only to inherent tendencies, but to the extraordinarily dense population of its civilisation and to the close relation of the animal kingdom. The origin of the syphilitic diseases traces back to these times.

Vì vậy cần ghi nhớ rằng các thể xác mà nhân loại hiện đang cư ngụ được cấu tạo từ vật chất rất cổ xưa và rằng chất liệu được sử dụng đã bị nhiễm hoặc bị tác động bởi lịch sử quá khứ. Vào khái niệm này phải thêm hai điều khác: thứ nhất, các linh hồn nhập thế tự thu hút về mình loại vật chất mà họ phải dùng để cấu tạo các thể bên ngoài của mình, và vật chất ấy sẽ đáp ứng với một phương diện nào đó của các bản chất vi tế hơn của họ; chẳng hạn, nếu dục vọng thể xác tác động lên họ, thì vật chất của vận cụ thể xác của họ sẽ phần lớn đáp ứng với sự thúc đẩy đặc biệt ấy. Thứ hai, mỗi thể xác đều mang trong chính nó những hạt giống của sự báo ứng tất yếu, nếu các chức năng của nó bị lạm dụng. Đại tội nguyên thủy trong thời Lemuria có bản chất tính dục, và phần lớn không chỉ do các khuynh hướng cố hữu mà còn do dân số cực kỳ đông đúc của nền văn minh ấy và do mối liên hệ gần gũi với giới động vật. Nguồn gốc của các bệnh giang mai truy nguyên về những thời kỳ đó.

There is a beautiful idea in the minds of the ignorant that primitive races are free from that type of contamination and that the many sexual diseases and their results are predominantly the diseases of civilisation. This is not so [228] from the occult angle of vision. True knowledge disproves it. In the infancy of the race, a great mismating, promiscuity and series of perversions took place, and in the language of some of the most ancient books in the Masters’ Archives we read: “earth took its toll and earth to earth, polluted and impure, returned to earth; thus evil life entered the pristine cleanliness of the ancient mother. Deep in the soil the evil lies, emerging into form from time to time, and only fire and suffering can cleanse the mother of the evil which her children have given unto her.”

Trong tâm trí của người vô minh có một ý tưởng đẹp rằng các chủng tộc nguyên thủy không bị loại ô nhiễm đó và rằng nhiều bệnh tính dục cùng các hậu quả của chúng chủ yếu là bệnh của nền văn minh. Điều này không đúng [228] theo góc nhìn huyền bí. Tri thức chân chính bác bỏ điều đó. Trong thời thơ ấu của nhân loại, đã xảy ra một sự phối giống sai lạc lớn lao, sự bừa bãi và một chuỗi các lệch lạc, và bằng ngôn ngữ của một số sách cổ xưa nhất trong Văn Khố của các Chân sư, chúng ta đọc thấy: “đất đã lấy phần của mình và đất với đất, ô nhiễm và bất tịnh, trở về với đất; do đó sự sống xấu ác đã đi vào sự tinh sạch nguyên sơ của người mẹ cổ xưa. Sâu trong lòng đất cái ác nằm đó, thỉnh thoảng trồi lên thành hình tướng, và chỉ có lửa cùng đau khổ mới có thể thanh tẩy người mẹ khỏi cái ác mà con cái bà đã trao cho bà.”

The Lemurian race practically destroyed itself, owing to its misuse of the sacral centre, which was at that time the most active and the dominant centre. In Atlantean days it was the solar plexus centre which was the prime objective of the “entering fire.” The work of the Hierarchy in Lemurian days was, as I have told you elsewhere, to teach infant humanity the nature, meaning and significance of the physical vehicle, just as in the next race, the emotional was fostered and the major object of attention, and in our race, it is the mind which is subjected to stimulation. The initiate in Lemurian times was one who had completely mastered the control of the body, and hatha-yoga was then the outstanding spiritual practice. This, in time, was superseded by laya-yoga, which brought all the centres in the etheric body (except the throat and head centres) into functioning activity. This is not the type of activity which is now possible, because it must be remembered that the Master in those days had not the development or the understanding of the Masters of today, the only exceptions being Those Who had come from other schemes and spheres to aid animal-man and primitive humanity.

Nhân loại Lemuria trên thực tế đã tự hủy diệt mình do lạm dụng trung tâm xương cùng, vốn vào thời đó là trung tâm hoạt động mạnh nhất và chi phối nhất. Trong thời Atlantis, chính trung tâm tùng thái dương là mục tiêu chủ yếu của “ngọn lửa đi vào.” Công việc của Thánh đoàn trong thời Lemuria, như tôi đã nói với bạn ở nơi khác, là dạy cho nhân loại ấu thơ bản chất, ý nghĩa và thâm nghĩa của vận cụ thể xác, cũng như trong nhân loại kế tiếp, bản chất cảm xúc được nuôi dưỡng và trở thành đối tượng chú ý chính, còn trong nhân loại của chúng ta, chính trí tuệ là điều đang chịu sự kích thích. Điểm đạo đồ trong thời Lemuria là người đã hoàn toàn làm chủ được sự kiểm soát thể xác, và hatha-yoga khi ấy là thực hành tinh thần nổi bật. Theo thời gian, điều này được thay thế bằng laya-yoga, đưa tất cả các trung tâm trong thể dĩ thái (ngoại trừ trung tâm cổ họng và các trung tâm đầu) vào hoạt động chức năng. Đây không phải là loại hoạt động hiện nay có thể có, vì cần nhớ rằng Chân sư thời đó không có sự phát triển hay sự thấu hiểu như các Chân sư ngày nay, ngoại trừ Những Đấng đã đến từ các hệ hành tinh và các khối cầu khác để trợ giúp người thú và nhân loại nguyên thủy.

A. Venereal and Syphilitic Diseases.

A. Các bệnh hoa liễu và giang mai.

Paralleling all the activity of the Great White Lodge [229] (as was always the case and is the case today) was the activity of the dark forces. Their effects had to be brought about through the medium of the sacral centre, and thus a most vicious situation came about which weakened the stamina of the human body, which greatly increased the demands of the sex nature through the stimulation of the sacral centre, artificially brought about by the Black Lodge, and which produced many unholy alliances and widespread evil relations.

Song song với mọi hoạt động của Thánh đoàn [229] (như luôn luôn là vậy và ngày nay vẫn thế) là hoạt động của các mãnh lực tối tăm. Các hiệu quả của chúng phải được tạo ra thông qua trung gian của trung tâm xương cùng, và do đó đã xuất hiện một tình trạng cực kỳ hiểm ác làm suy yếu sức bền của thể xác con người, làm gia tăng mạnh mẽ các đòi hỏi của bản chất tính dục thông qua sự kích thích trung tâm xương cùng, được Hắc đoàn tạo ra một cách nhân tạo, và sản sinh ra nhiều liên minh bất tịnh cùng những quan hệ xấu ác lan rộng.

A great new law of nature was then imposed by the planetary Logos which has been expressed (very inadequately) by the words, “The soul that sinneth, it shall die.” This law could be better expressed by saying, “He that misuses that which he hath built will see it fall from forces within itself.”

Khi ấy một định luật mới vĩ đại của thiên nhiên đã được Hành Tinh Thượng đế áp đặt, được diễn đạt (rất không đầy đủ) bằng những lời: “Linh hồn nào phạm tội, linh hồn ấy sẽ chết.” Định luật này có thể được diễn đạt đúng hơn bằng cách nói: “Kẻ nào lạm dụng điều mà y đã xây dựng sẽ thấy nó sụp đổ bởi các mãnh lực từ bên trong chính nó.”

As the centuries slipped away and the Lemurian race submitted to the evil impulses of the animal nature, gradually the earliest type of venereal disease made its appearance; eventually the entire race was riddled with it and died out, nature taking its toll and exacting its inexorable price. You might here ask how these early inhabitants of our planet could be held responsible for there is no sin where there is no sense of responsibility and no consciousness of wrong doing. The Hierarchy in those days had its own methods of teaching these infant peoples, just as the smallest child can be taught today to refrain from certain physical habits. Humanity then knew well what was evil, because the evidences of that evil were physically apparent and quite easily perceived. The penalty was obvious and the results immediate; the Teachers of the race saw to it that cause and effect were quickly to be noted.

Khi các thế kỷ trôi qua và nhân loại Lemuria thuận theo các xung lực xấu ác của bản chất thú tính, dần dần loại bệnh hoa liễu sớm nhất đã xuất hiện; cuối cùng toàn bộ nhân loại ấy bị đục khoét bởi nó và tuyệt diệt, thiên nhiên lấy phần của mình và đòi cái giá không thể cưỡng lại của nó. Ở đây bạn có thể hỏi làm sao những cư dân đầu tiên của hành tinh chúng ta có thể bị quy trách nhiệm, vì không có tội lỗi ở nơi không có ý thức trách nhiệm và không có tâm thức về hành vi sai trái. Thánh đoàn thời đó có những phương pháp riêng để dạy dỗ các dân tộc ấu thơ ấy, cũng như ngày nay đứa trẻ nhỏ nhất cũng có thể được dạy để tránh những thói quen thể xác nhất định. Khi ấy nhân loại biết rõ điều gì là xấu ác, vì các bằng chứng của điều xấu ác ấy biểu hiện rõ ràng trên phương diện thể xác và khá dễ nhận thấy. Hình phạt là hiển nhiên và kết quả là tức thời; các Huấn sư của nhân loại đã bảo đảm rằng nguyên nhân và kết quả được ghi nhận một cách nhanh chóng.

At this time there also arose the first tendencies to marriage, as differentiated from promiscuity; the formation of family units became the subject of attention and [230] a goal for the most highly evolved. This was one of the first tasks undertaken by the Hierarchy and the first effort toward any form of group activity, conveying the first lesson in responsibility. The family unit was not stable as it can be now, but even its relatively brief tenure was a tremendous step forward; the segregation of the family unit and the growth of the sense of responsibility has gone steadily forward until it has culminated in our present system of marriage and our stress in the Occident upon monogamy; it has led to the western pride in family strains and pedigrees, our interest in genealogies and relationships, and the complete horror of the occidental thinker over the syphilitic diseases as they affect families and their offspring.

Vào thời điểm này cũng xuất hiện những khuynh hướng đầu tiên hướng tới hôn nhân, phân biệt với sự bừa bãi; việc hình thành các đơn vị gia đình trở thành đối tượng chú ý và [230] là mục tiêu cho những người tiến hóa cao nhất. Đây là một trong những nhiệm vụ đầu tiên do Thánh đoàn đảm nhận và là nỗ lực đầu tiên hướng tới bất kỳ hình thức hoạt động nhóm nào, truyền đạt bài học đầu tiên về trách nhiệm. Đơn vị gia đình khi ấy không ổn định như hiện nay, nhưng ngay cả thời gian tồn tại tương đối ngắn ngủi của nó cũng là một bước tiến khổng lồ; sự tách biệt của đơn vị gia đình và sự phát triển của ý thức trách nhiệm đã tiến triển đều đặn cho đến khi đạt đỉnh trong hệ thống hôn nhân hiện nay của chúng ta và sự nhấn mạnh của chúng ta ở phương Tây vào chế độ một vợ một chồng; nó đã dẫn đến niềm tự hào của phương Tây về dòng dõi gia đình và huyết hệ, sự quan tâm của chúng ta đến gia phả và quan hệ thân thuộc, cùng nỗi kinh hoàng hoàn toàn của nhà tư tưởng phương Tây trước các bệnh giang mai khi chúng ảnh hưởng đến gia đình và con cháu của họ.

Two most interesting things are, however, happening today. The family unit, on a worldwide scale, is being broken up, owing to the fortunes of war and—on a smaller scale—owing to the more modern views concerning marriage and divorce. Secondly, definite and rapid cures for the sexual diseases are being discovered, and these may tend to make people more reckless. When, however, they are perfected, they will in the long run safeguard the race and will return bodies to the soil after death freed from the plague which has contaminated the earth for endless ages. There will thus be brought about a gradual purifying of the soil. The growth of the practice of cremation will also aid this process of purification. Destruction by fire and the intensity of the heat engendered by applied military methods are also helping, and during the next one million years we shall see syphilis (inherited from Lemuria) stamped out, both in the human family and in the soil of the planet.

Tuy nhiên, hiện nay có hai điều rất đáng chú ý đang xảy ra. Đơn vị gia đình, trên quy mô toàn thế giới, đang bị tan vỡ do vận mệnh của chiến tranh và—trên quy mô nhỏ hơn—do các quan điểm hiện đại hơn về hôn nhân và ly dị. Thứ hai, những phương pháp chữa trị dứt khoát và nhanh chóng đối với các bệnh tính dục đang được khám phá, và điều này có thể khiến con người trở nên liều lĩnh hơn. Tuy nhiên, khi chúng được hoàn thiện, về lâu dài chúng sẽ bảo vệ nhân loại và sẽ trả các thể xác về cho đất sau khi chết, được giải thoát khỏi tai họa đã làm ô nhiễm địa cầu suốt vô số thời đại. Nhờ đó sẽ diễn ra một sự thanh lọc dần dần của đất. Sự phát triển của thực hành hỏa táng cũng sẽ hỗ trợ tiến trình thanh lọc này. Sự hủy diệt bằng lửa và cường độ nhiệt do các phương pháp quân sự được áp dụng tạo ra cũng đang giúp ích, và trong một triệu năm tới chúng ta sẽ thấy bệnh giang mai (được thừa hưởng từ Lemuria) bị quét sạch, cả trong gia đình nhân loại lẫn trong đất của hành tinh.

As the ages passed away, humanity entered into the Atlantean stage of development. The conscious control of the physical body dropped below the threshold of consciousness; the etheric body became consequently more potent (a [231] fact not oft considered), and the physical body reacted increasingly like an automaton to the impression and the direction of a steadily developing desire nature. Desire became something more than simply response to animal physical urges and to the primitive instincts, but was directed to objects and objectives extraneous to the body, towards material possessions and towards that which (when seen and coveted) could be appropriated. Just as the major sins of Lemurian times (if they could be called sins in any true sense, because of the low intelligence of the race) were through the misuse of sex, so the major sin of the Atlantean people was theft—widespread and general. The seeds of aggression and of personal acquisitiveness began to show themselves, culminating in the great war (as related in The Secret Doctrine) between the Lords of the Shining Countenance and the Lords of the Dark Face. To procure what they coveted and felt they needed, the most highly evolved of that race began to practice magic. It is not possible for me to outline to you the nature and practices of Atlantean magic with its control of elementals and of forms of life which have now been driven back into retreat and are inaccessible to humanity; neither can I indicate to you the particular methods used to acquire what was desired, the Words of Power employed and the carefully planned rituals which were followed by those who sought to enrich themselves and to take what they wanted, no matter what the cost to others. This magical work was the misdirected travesty of the White Magic so openly used in those days, prior to the great war between the Forces of Light and the Forces of Evil. Magic of the right kind was very familiar to the Atlantean people, and was used by those Members of the Hierarchy Who were entrusted with the guidance of the race and Who were combating rampant evil in high places. That same evil is again upon the warpath and is being [232] fought by the men of goodwill, under the direction of the Great White Lodge. Heights of luxury were reached in Atlantis of which we, with all our boasted civilisation, know nothing and have never achieved. Some faint traces of it have come to us from legends and from ancient Egypt, from archeological discovery and old fairy tales. There was a recurrence of pure Atlantean mischief and wickedness in the decadent days of the Roman Empire. Life became tainted by the miasma of unadulterated selfishness and the very springs of life itself became polluted. Men only lived and breathed in order to be in possession of the utmost luxury and of a very plethora of things and of material goods. They were smothered by desire and plagued by the dream of never dying but of living on and on, acquiring more and more of all that they desired.

Khi các thời đại trôi qua, nhân loại bước vào giai đoạn phát triển Atlantis. Sự kiểm soát có ý thức đối với thể xác rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức; do đó thể dĩ thái trở nên mạnh hơn (một [231] sự kiện ít được cân nhắc), và thể xác ngày càng phản ứng như một cỗ máy tự động trước ấn tượng và sự chỉ đạo của một bản chất dục vọng đang phát triển đều đặn. Dục vọng trở thành một điều gì đó hơn là chỉ đáp ứng với các thôi thúc thể xác thú tính và các bản năng nguyên thủy, mà còn hướng tới các đối tượng và mục tiêu ở ngoài thể xác, hướng tới của cải vật chất và hướng tới điều mà (khi được nhìn thấy và thèm muốn) có thể bị chiếm đoạt. Cũng như các tội lỗi chính của thời Lemuria (nếu chúng có thể được gọi là tội lỗi theo bất kỳ nghĩa chân chính nào, vì trí tuệ thấp kém của nhân loại ấy) là do lạm dụng tính dục, thì tội lỗi chính của dân Atlantis là trộm cắp—rộng khắp và phổ biến. Những hạt giống của sự xâm lấn và tính chiếm hữu cá nhân bắt đầu biểu lộ, đạt cực điểm trong cuộc đại chiến (như được thuật lại trong Giáo Lý Bí Nhiệm) giữa các Đấng Chúa Tể của Gương Mặt Rạng Ngời và các Đấng Chúa Tể của Gương Mặt Tối Tăm. Để có được điều họ thèm muốn và cảm thấy mình cần, những người tiến hóa cao nhất của nhân loại ấy bắt đầu thực hành huyền thuật. Tôi không thể phác họa cho bạn bản chất và các thực hành của huyền thuật Atlantis với sự kiểm soát các hành khí và các hình thức sự sống hiện nay đã bị đẩy lui vào chỗ ẩn náu và con người không thể tiếp cận; tôi cũng không thể chỉ ra cho bạn những phương pháp đặc biệt được dùng để đạt được điều mong muốn, các Quyền năng từ được sử dụng và các nghi lễ được hoạch định cẩn thận mà những kẻ tìm cách làm giàu cho mình và chiếm lấy điều họ muốn, bất kể cái giá phải trả cho người khác, đã tuân theo. Công việc huyền thuật này là sự xuyên tạc sai lạc của Chánh Thuật vốn được sử dụng rất công khai trong những ngày ấy, trước cuộc đại chiến giữa Các Mãnh Lực Ánh Sáng và Các Mãnh Lực Tà Ác. Huyền thuật đúng đắn rất quen thuộc với dân Atlantis, và được dùng bởi những Thành viên của Thánh đoàn được giao phó việc hướng dẫn nhân loại và đang chiến đấu chống lại điều ác hoành hành ở những nơi quyền lực cao. Cũng chính điều ác ấy hiện lại đang trên đường chiến tranh và đang được [232] chiến đấu bởi những người thiện chí, dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn. Ở Atlantis đã đạt tới những đỉnh cao xa hoa mà chúng ta, với tất cả nền văn minh đáng tự hào của mình, không hề biết đến và chưa bao giờ đạt được. Một vài dấu vết mờ nhạt của nó đã đến với chúng ta qua truyền thuyết và từ Ai Cập cổ đại, từ các khám phá khảo cổ và những truyện cổ tích xưa. Đã có một sự tái diễn của sự tai hại và độc ác thuần Atlantis trong những ngày suy đồi của Đế quốc La Mã. Sự sống bị nhiễm độc bởi làn khí độc của tính ích kỷ không pha tạp và chính các nguồn suối của sự sống cũng bị ô nhiễm. Con người chỉ sống và thở để chiếm hữu sự xa hoa tột bậc và vô số đồ vật cùng của cải vật chất. Họ bị dục vọng làm ngạt thở và bị ám ảnh bởi giấc mơ không bao giờ chết mà cứ sống mãi, tích lũy ngày càng nhiều mọi thứ họ ham muốn.

B. Tuberculosis.

B. Lao phổi.

It is in this situation that we find the origin of tuberculosis. It originated in the organs whereby men breathe and live, and was imposed—as a penalty—by the Great White Lodge; the Masters promulgated a new law for the Atlantean people when Lemurian vice and Atlantean cupidity were at their most ruthless height. This law can be translated into the following terms: “He who lives only for material goods, who sacrifices all virtue in order to gain that which cannot last, will die in life, will find breath failing him, and yet will refuse to think of death until the summons comes.”

Chính trong tình trạng này mà chúng ta tìm thấy nguồn gốc của bệnh lao. Nó phát sinh trong các cơ quan nhờ đó con người hô hấp và sống, và đã được áp đặt—như một hình phạt—bởi Thánh đoàn; các Chân sư đã ban hành một định luật mới cho dân Atlantis khi thói xấu Lemuria và lòng tham Atlantis đạt đến đỉnh điểm tàn nhẫn nhất. Định luật này có thể được chuyển dịch thành những lời sau: “Kẻ chỉ sống vì của cải vật chất, kẻ hy sinh mọi đức hạnh để đạt được điều không thể bền lâu, sẽ chết trong khi sống, sẽ thấy hơi thở mình suy kiệt, nhưng vẫn sẽ từ chối nghĩ đến cái chết cho đến khi tiếng gọi đến.”

It is difficult for us in these days to appreciate or to comprehend the Atlantean state of consciousness. There was no mental process whatsoever except among the leaders of the race; there was only rampant, ruthless, insatiable desire. This action of the Great White Lodge forced two issues and confronted the race with two hitherto unrealised [233] problems. The first was that psychological attitudes and states of consciousness can and do bring about physiological conditions, these being both good and bad. Secondly, for the first time the people faced with recognition the phenomenon of death—death which they themselves brought about in a new way and not just by physical means. This had to be dramatised for them in some definitely objective manner, for as yet the masses did not respond to verbal teaching but only to visual events. When, therefore, they saw a particularly predatory and rapacious person begin to suffer from a dire disease which seemed to arise from within himself and—whilst suffering—hold on to his love of life (as tubercular people do today), they were faced with another aspect or form of the original law (imposed in Lemurian times) which said: “The soul that sinneth, it shall die.” Death had hitherto been accepted without questioning as the fate of all living things, but now, for the first time, mental relationship between individual action and death was recognised—as yet in a dim and feeble way—and a great step forward was made in the human consciousness. Instinct failed to handle this situation.

Ngày nay chúng ta khó có thể đánh giá hay thấu hiểu trạng thái tâm thức Atlantis. Hoàn toàn không có tiến trình trí tuệ nào ngoại trừ nơi các thủ lĩnh của nhân loại ấy; chỉ có dục vọng hoành hành, tàn nhẫn, không biết chán. Hành động này của Thánh đoàn đã cưỡng bách hai vấn đề và đặt nhân loại ấy trước hai [233] vấn đề chưa từng được nhận ra trước đó. Vấn đề thứ nhất là các thái độ tâm lý và các trạng thái tâm thức có thể và thực sự tạo ra các tình trạng sinh lý, cả tốt lẫn xấu. Thứ hai, lần đầu tiên con người đối diện một cách có nhận thức với hiện tượng cái chết—cái chết mà chính họ tự gây ra theo một cách mới chứ không chỉ bằng các phương tiện thể xác. Điều này phải được kịch tính hóa cho họ theo một cách rõ rệt và khách quan nào đó, vì quần chúng khi ấy chưa đáp ứng với giáo huấn bằng lời mà chỉ với các biến cố thị giác. Vì vậy, khi họ thấy một người đặc biệt săn mồi và tham lam bắt đầu chịu đựng một căn bệnh khủng khiếp dường như phát sinh từ bên trong chính mình và—trong khi đau khổ—vẫn bám chặt vào tình yêu sự sống (như người bệnh lao ngày nay), họ đã đối diện với một phương diện hay hình thức khác của định luật nguyên thủy (được áp đặt trong thời Lemuria) vốn nói rằng: “Linh hồn nào phạm tội, linh hồn ấy sẽ chết.” Trước đó cái chết đã được chấp nhận không thắc mắc như số phận của mọi sinh vật, nhưng nay, lần đầu tiên, mối liên hệ trí tuệ giữa hành động cá nhân và cái chết đã được nhận ra—dù còn mờ nhạt và yếu ớt—và một bước tiến lớn đã được thực hiện trong tâm thức con người. Bản năng đã không thể xử lý tình huống này.

Death, brother of mine, is a great and universal heritage; all forms die, for such is the law of life, to speak in paradoxes. The time had arrived when the race could be taught the lesson that death can either be the ending of a cycle and an automatic response to the great Law of Cycles which continually institutes the new and ends the old, or it can be brought about by the misuse of the physical body, by misapplied energy and by the deliberate action of the man himself. The man who deliberately sins, and who is psychologically wrong in his attitudes and consequent actions, commits suicide just as truly as the man who deliberately blows out his brains. This is seldom realised, but the truth will become increasingly apparent.

Cái chết, huynh đệ của tôi, là một di sản lớn lao và phổ quát; mọi hình tướng đều chết, vì đó là định luật của sự sống, nói theo nghịch lý. Đã đến lúc nhân loại có thể được dạy bài học rằng cái chết hoặc có thể là sự kết thúc của một chu kỳ và là sự đáp ứng tự động với Định luật Chu kỳ vĩ đại vốn liên tục thiết lập cái mới và chấm dứt cái cũ, hoặc nó có thể được gây ra bởi sự lạm dụng thể xác, bởi năng lượng bị áp dụng sai và bởi hành động có chủ ý của chính con người. Người cố ý phạm tội, và sai lầm về mặt tâm lý trong các thái độ và hành động hệ quả của mình, tự sát cũng thật sự như người cố ý bắn nát óc mình. Điều này hiếm khi được nhận ra, nhưng chân lý ấy sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên.

[234]

[234]

The Biblical injunction to remember that the sins of the fathers will be visited upon the children is a literal statement anent the human heritage of disease from Lemuria and Atlantis. Syphilis and tuberculosis have been extensively prevalent in the first half of the Aryan race, in which we now find ourselves, and today they not only affect the organs of generation or the lungs (as they did in the early stages of their appearance), but now have involved the blood stream and consequently the entire organism of the human body.

Lời răn trong Kinh Thánh rằng hãy nhớ tội lỗi của cha ông sẽ giáng xuống con cháu là một phát biểu theo nghĩa đen liên quan đến di sản bệnh tật của con người từ Lemuria và Atlantis. Bệnh giang mai và lao phổi đã cực kỳ phổ biến trong nửa đầu của nhân loại Arya, nơi chúng ta hiện đang sống, và ngày nay chúng không chỉ ảnh hưởng đến các cơ quan sinh sản hay phổi (như trong các giai đoạn đầu khi chúng xuất hiện), mà nay đã liên quan đến dòng máu và do đó đến toàn bộ cơ thể con người.

Much has been done in the last fifty years to bring the great Atlantean disease of tuberculosis under control by simplicity of living, pure and ample food and good air. Much is being done to control, finally, the syphilitic diseases, and both will eventually be stamped out, not only by sound treatment and the discoveries of medical science, but because the race—as it becomes more mentally polarised—will itself deal with the problem from the angle of commonsense, will decide that the physical sins exact too heavy a penalty and that the possession of that which you have not earned or needed, and which consequently is not rightfully yours, is not worth while.

Trong năm mươi năm qua, nhiều việc đã được thực hiện để đưa căn bệnh lớn của Atlantis là lao phổi vào vòng kiểm soát bằng lối sống giản dị, thực phẩm tinh khiết và dồi dào, cùng không khí tốt. Nhiều việc cũng đang được làm để cuối cùng kiểm soát các bệnh giang mai, và cả hai cuối cùng sẽ bị quét sạch, không chỉ nhờ điều trị đúng đắn và những khám phá của khoa học y học, mà còn vì nhân loại—khi trở nên phân cực trí tuệ hơn—sẽ tự mình xử lý vấn đề từ góc độ thường thức, sẽ quyết định rằng các tội lỗi thể xác đòi một cái giá quá nặng và rằng việc sở hữu điều bạn chưa kiếm được hay không cần đến, và do đó không thực sự thuộc về bạn, là không đáng.

It is around these basic ideas that the world war (1914-1945) was fought. We call the unlawful possession of other people’s land, territories, goods and chattels, aggression; but this is the same thing in principle as stealing, theft and rape. Today these evils are not only individual sins and faults, but can be national characteristics; the world war has brought the whole problem to the surface of the human consciousness and the ancient Atlantean struggle is being bitterly waged, with the probability that this time the Great White Lodge will triumph. That was not the case in the earlier conflict. Then the war was ended by the intervention of the planetary Logos Himself, and that [235] ancient civilisation went down into the deeps and was engulfed in water—the symbol of purity, sanitation and universality, and therefore appropriate as an ending for what one of the Masters has called “a tubercularly oriented race.” Death by drowning and death by obscure physical means which I am not at liberty to describe have both been tried in the effort to salvage humanity. Today, death by fire is the applied technique, and it promises to be successful. In contradistinction to the great Lemurian and Atlantean crises, humanity is now far more mentally alert, the causes of the trouble are recognised, motives are seen more clearly, and the will-to-good and to change past evil conditions is stronger than ever before. What is beginning to manifest now in the public consciousness is something utterly good and new.

Chính quanh những ý tưởng căn bản này mà cuộc thế chiến (1914-1945) đã được tiến hành. Chúng ta gọi việc chiếm hữu bất hợp pháp đất đai, lãnh thổ, tài sản và của cải của người khác là xâm lược; nhưng về nguyên tắc điều này cũng chính là trộm cắp, cướp đoạt và cưỡng hiếp. Ngày nay những điều ác này không chỉ là tội lỗi và lỗi lầm cá nhân, mà còn có thể là đặc tính quốc gia; cuộc thế chiến đã đưa toàn bộ vấn đề lên bề mặt tâm thức nhân loại, và cuộc đấu tranh Atlantis cổ xưa đang được tiến hành một cách cay đắng, với khả năng là lần này Thánh đoàn sẽ chiến thắng. Điều đó đã không xảy ra trong cuộc xung đột trước kia. Khi ấy chiến tranh đã chấm dứt nhờ sự can thiệp của chính Hành Tinh Thượng đế, và nền văn minh cổ xưa ấy đã chìm xuống vực sâu và bị nước nhấn chìm—biểu tượng của sự tinh khiết, vệ sinh và tính phổ quát, và do đó thích hợp như một kết thúc cho điều mà một trong các Chân sư đã gọi là “một nhân loại định hướng theo bệnh lao.” Cái chết do chết đuối và cái chết do những phương tiện thể xác mơ hồ mà tôi không được phép mô tả, cả hai đều đã được thử trong nỗ lực cứu vớt nhân loại. Ngày nay, cái chết bằng lửa là kỹ thuật được áp dụng, và nó hứa hẹn sẽ thành công. Trái với các cuộc khủng hoảng lớn của Lemuria và Atlantis, hiện nay nhân loại tỉnh táo về trí tuệ hơn nhiều, các nguyên nhân của rắc rối được nhận ra, các động cơ được thấy rõ hơn, và Ý Chí-hướng Thiện cùng ý chí thay đổi các điều kiện xấu ác trong quá khứ mạnh hơn bao giờ hết. Điều đang bắt đầu biểu lộ hiện nay trong tâm thức công chúng là một cái gì đó hoàn toàn tốt đẹp và mới mẻ.

The subjective reasons given to account for the appearance of these two most ancient racial diseases may well appear to the non-esotericist as possible but not probable and as fanciful and too general in nature. This cannot be helped. These two groups of diseases are of such exceedingly ancient origin that I have called them inherent in the planetary life itself and the heritage of all humanity, for in all, the breaking of certain laws will bring about these diseases. If I cared to do so, I could take you still further back into the realm of cosmic evil as it prevails in our solar system and affects the planetary Logos, Who is still numbered among “the imperfect Gods.” The outer form of the planet through which He expresses Himself is impregnated to a certain depth with the seeds and germs of these two diseases; as immunity is built up, however, as methods of cure are developed, as preventive medicine comes into its own, and as man himself arrives at increasing mental and soul control of the animal and desire natures, these forms of human suffering will disappear, and (no matter what statistics [236] may say) they are disappearing among the more controlled areas of the human family. As the life of God (expressing itself as individual divinity and universal divinity) pulsates more powerfully through the kingdoms of nature, these two penalties of evil-doing will inevitably no longer be required and will disappear for three reasons:

Những lý do chủ quan được đưa ra để giải thích sự xuất hiện của hai căn bệnh chủng tộc cổ xưa nhất này có thể đối với nhà bí truyền học không phải là điều có thể có nhưng không có xác suất, và có vẻ kỳ ảo, quá tổng quát về bản chất. Điều này không thể tránh được. Hai nhóm bệnh này có nguồn gốc cổ xưa đến mức tôi đã gọi chúng là vốn có trong chính sự sống hành tinh và là di sản của toàn thể nhân loại, vì nơi tất cả mọi người, việc vi phạm một số định luật nhất định sẽ gây ra các bệnh này. Nếu tôi muốn, tôi có thể đưa bạn lùi xa hơn nữa vào lĩnh vực của điều ác vũ trụ như nó đang thịnh hành trong hệ mặt trời của chúng ta và ảnh hưởng đến Hành Tinh Thượng đế, Đấng vẫn còn được kể vào số “các Thượng đế bất toàn.” Hình tướng bên ngoài của hành tinh mà qua đó Ngài biểu lộ chính mình đã thấm nhiễm đến một độ sâu nhất định các hạt giống và mầm bệnh của hai căn bệnh này; tuy nhiên, khi khả năng miễn nhiễm được xây dựng, khi các phương pháp chữa trị được phát triển, khi y học phòng ngừa khẳng định vị trí của mình, và khi chính con người đạt tới sự kiểm soát ngày càng tăng của trí tuệ và linh hồn đối với các bản chất thú tính và dục vọng, thì những hình thức đau khổ này của con người sẽ biến mất, và (bất kể các thống kê [236] có thể nói gì) chúng đang biến mất trong những khu vực được kiểm soát hơn của gia đình nhân loại. Khi sự sống của Thượng đế (biểu lộ như thiên tính cá nhân và thiên tính phổ quát) rung động mạnh mẽ hơn qua các giới trong thiên nhiên, thì hai hình phạt của hành vi xấu ác này tất yếu sẽ không còn cần thiết nữa và sẽ biến mất vì ba lý do:

1. The orientation of humanity towards the light is steadily changing and “light dispels all evil.” The light of knowledge and the recognition of causes will bring about those carefully planned conditions which will make the syphilitic diseases and tuberculosis things of the past.

1. Sự định hướng của nhân loại về phía ánh sáng đang thay đổi đều đặn và “ánh sáng làm tiêu tan mọi điều ác.” Ánh sáng của tri thức và sự nhận biết các nguyên nhân sẽ tạo ra những điều kiện được hoạch định cẩn thận khiến các bệnh giang mai và lao phổi trở thành chuyện của quá khứ.

2. The centres below the diaphragm will be subjected to a cleansing, lifting process; the life of the sacral centre will be controlled and the energy usually focussed there will be expended in creative living, through the medium of the throat centre; the solar plexus centre will have its energy lifted to the heart, and the trend of human selfishness will then die out.

2. Các trung tâm dưới cơ hoành sẽ chịu một tiến trình thanh lọc và nâng lên; sự sống của trung tâm xương cùng sẽ được kiểm soát và năng lượng thường tập trung ở đó sẽ được sử dụng trong đời sống sáng tạo thông qua trung tâm cổ họng; trung tâm tùng thái dương sẽ được nâng năng lượng lên tim, và khi ấy xu hướng ích kỷ của con người sẽ tắt dần.

3. Complete cures, implemented by science, will bring about a gradual fading out of contagion.

3. Những phương pháp chữa trị hoàn toàn, được khoa học thực hiện, sẽ mang lại sự phai tàn dần dần của sự lây nhiễm.

Another reason which will bring about the cessation of those practises and modes of living and desiring which account for these diseases is one little recognised as yet; it was referred to by the Christ when He spoke of the time when nothing secret would remain hidden and when all secrets would be shouted aloud from the housetops. The growth of telepathic registration and of the psychic powers such as clairvoyance and clairaudience will eventually tend to strip humanity of the privacy in which to sin. The powers whereby the Masters and the higher initiates can ascertain the psychic state and physical condition of humanity, its quality and consciousness, are already beginning to show [237] themselves in advanced humanity. People will sin, commit evil deeds and satisfy inordinate desire, but they will be known to their fellowmen and nothing that they do will be carried out in secret. Some one or some group will be aware of the tendencies in the life of a man, and even of the incidents in which he satisfies some demand of his lower nature, and the fact of this possibility will act as a great deterrent—a far greater deterrent than you can imagine. Man is indeed his brother’s keeper, and the keeping will take the form of knowledge and of “boycott and sanctions”—as it is called today in reference to the penalising of nations. I would have you ponder on these two modes of treating wrong doing. They will be practically automatically applied as a matter of good taste, right feeling and helpful intention by individuals and groups to other individuals and groups, and in this way crime and the tendency to evil doing will gradually be stamped out. It will be realised that all crime is founded upon some form of disease, or upon a glandular lack or overstimulation, based in turn upon the development or the underdevelopment of some one or other of the centres. An enlightened public opinion—informed as to man’s constitution and aware of the great Law of Cause and Effect—will deal with the criminal through medical means, right environmental conditions, and the penalties of boycott and sanctions. I have no time to enlarge upon these matters, but these suggestions will give you food for thought.

Một lý do khác sẽ mang lại sự chấm dứt những thực hành và lối sống, lối ham muốn gây ra các bệnh này là điều cho đến nay ít được nhìn nhận; điều đó đã được Đức Christ nhắc đến khi Ngài nói về thời điểm mà không điều bí mật nào còn bị che giấu và khi mọi bí mật sẽ được rao lên từ mái nhà. Sự phát triển của sự ghi nhận viễn cảm và của các năng lực thông linh như thông nhãn và thông nhĩ cuối cùng sẽ có xu hướng tước khỏi nhân loại sự riêng tư để phạm tội. Những năng lực nhờ đó các Chân sư và các điểm đạo đồ cao cấp có thể xác định trạng thái thông linh và tình trạng thể xác của nhân loại, phẩm tính và tâm thức của họ, đã bắt đầu biểu lộ [237] nơi phần nhân loại tiến bộ. Con người sẽ phạm tội, làm điều ác và thỏa mãn dục vọng quá độ, nhưng họ sẽ bị đồng loại biết đến và không điều gì họ làm sẽ được thực hiện trong bí mật. Một ai đó hay một nhóm nào đó sẽ biết được các khuynh hướng trong đời sống của một người, và ngay cả những sự việc trong đó y thỏa mãn một đòi hỏi nào đó của bản chất thấp kém của mình, và chính sự kiện về khả năng này sẽ hoạt động như một sự ngăn chặn lớn lao—lớn hơn nhiều so với điều bạn có thể tưởng tượng. Quả thật con người là người giữ gìn huynh đệ mình, và sự giữ gìn ấy sẽ mang hình thức của tri thức và của “tẩy chay và chế tài”—như ngày nay người ta gọi khi nói đến việc trừng phạt các quốc gia. Tôi muốn bạn suy ngẫm về hai phương thức xử lý hành vi sai trái này. Chúng sẽ được áp dụng gần như tự động như một vấn đề của gu thẩm mỹ tốt, cảm nhận đúng đắn và ý định trợ giúp bởi các cá nhân và nhóm đối với các cá nhân và nhóm khác, và theo cách này tội ác cùng khuynh hướng làm điều ác sẽ dần dần bị quét sạch. Người ta sẽ nhận ra rằng mọi tội ác đều dựa trên một dạng bệnh nào đó, hoặc trên sự thiếu hụt hay kích thích quá mức của tuyến, mà đến lượt nó lại dựa trên sự phát triển hay kém phát triển của một trung tâm nào đó. Một dư luận công chúng được soi sáng—được thông tin về cấu tạo của con người và ý thức được Định luật Nhân Quả vĩ đại—sẽ xử lý tội phạm bằng các phương tiện y học, các điều kiện môi trường đúng đắn, và các hình phạt tẩy chay cùng chế tài. Tôi không có thời gian để nói rộng hơn về những vấn đề này, nhưng những gợi ý này sẽ cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.

C. Cancer.

C. Ung thư.

We come now to a consideration of the rapidly increasing and typical Atlantean disease which we call cancer. We have spoken of one basic widespread disease related to the physical body; we have dealt superficially with another which is a product of the desire nature. Cancer, in our [238] present cycle, the Aryan, is definitely a result of the activity of the lower concrete mind and of the stimulation of the etheric body which the mind can bring about. It is a major disease incident to stimulation, as far as the Aryan masses are concerned, just as heart disease is also a disease of stimulation, affecting very largely the advanced types of humanity who—through interest in business and leadership—often sacrifice their lives and pay the penalty of misused and over-concentrated energy by developing various forms of acute heart trouble.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét căn bệnh Atlantis điển hình và đang gia tăng nhanh chóng mà chúng ta gọi là ung thư. Chúng ta đã nói về một căn bệnh căn bản lan rộng liên hệ với thể xác; chúng ta đã đề cập sơ lược đến một căn bệnh khác là sản phẩm của bản chất dục vọng. Ung thư, trong [238] chu kỳ hiện nay của chúng ta, chu kỳ Arya, rõ ràng là kết quả của hoạt động của hạ trí cụ thể và của sự kích thích thể dĩ thái mà trí tuệ có thể tạo ra. Đây là một bệnh lớn do kích thích gây ra, xét theo quần chúng Arya, cũng như bệnh tim cũng là một bệnh do kích thích, ảnh hưởng rất nhiều đến những loại người tiến bộ, những người—do quan tâm đến kinh doanh và lãnh đạo—thường hy sinh mạng sống của mình và trả giá cho năng lượng bị lạm dụng và tập trung quá mức bằng cách phát triển nhiều dạng bệnh tim cấp tính.

Disciples and initiates are prone also to suffer from this disease, owing to the awakening into violent activity of the heart centre. In the one case, the life energy flowing through the heart is employed past all human tolerance in handling human affairs; in the other, the heart centre opens up and the strain put upon the organ of the heart is too great, and heart disease supervenes. A third cause of heart disease is due to the premature or deliberately planned lifting of the energy of the solar plexus to the heart, thus putting an unexpected strain upon it.

Các đệ tử và điểm đạo đồ cũng dễ mắc bệnh này do trung tâm tim được đánh thức vào hoạt động mãnh liệt. Trong trường hợp thứ nhất, năng lượng sự sống chảy qua tim được sử dụng vượt quá mọi sức chịu đựng của con người trong việc xử lý các công việc nhân loại; trong trường hợp thứ hai, trung tâm tim mở ra và sức căng đặt lên cơ quan tim là quá lớn, và bệnh tim phát sinh. Nguyên nhân thứ ba của bệnh tim là do sự nâng năng lượng của tùng thái dương lên tim một cách non sớm hoặc có chủ ý, do đó đặt lên tim một sức ép bất ngờ.

I am dealing naturally in broad generalisations; later evidence will go to show the types of activity which will evoke corresponding difficulty within the heart. Heart disease will increase greatly as we enter into the new rootrace, particularly during the interim wherein the fact of the centres, their nature and qualities, is admitted and they consequently become the objective of trained attention. Energy follows thought, and this mental focussing upon the centres will inevitably produce overstimulation of all the centres, and this in spite of care and a carefully developed Science of the Centres. It is something which cannot be avoided, owing to the nervous and uneven unfoldment of man. Later, this stimulation will be regulated and controlled, [239] and the heart will be subjected only to a general strain, along with all the other centres.

Dĩ nhiên tôi đang đề cập đến những khái quát rộng lớn; về sau bằng chứng sẽ cho thấy những loại hoạt động nào sẽ gợi ra những khó khăn tương ứng trong tim. Bệnh tim sẽ gia tăng rất nhiều khi chúng ta bước vào giống dân gốc mới, đặc biệt trong giai đoạn chuyển tiếp khi sự kiện về các trung tâm, bản chất và phẩm tính của chúng được thừa nhận và do đó chúng trở thành đối tượng của sự chú ý được huấn luyện. Năng lượng đi theo tư tưởng, và sự tập trung trí tuệ này vào các trung tâm tất yếu sẽ tạo ra sự kích thích quá mức của mọi trung tâm, và điều này bất chấp sự cẩn trọng và một Khoa Học về các Trung Tâm được phát triển cẩn thận. Đây là điều không thể tránh khỏi, do sự khai mở thần kinh và không đồng đều của con người. Về sau, sự kích thích này sẽ được điều chỉnh và kiểm soát, [239] và tim sẽ chỉ chịu một sức ép tổng quát, cùng với tất cả các trung tâm khác.

Cancer is a disease most definitely related to the centres, and it will be found that the centre in the area wherein the cancer exists is overactive, with a consequent increase of energy pouring through the related bodily substance. This energy and the overstimulation of a centre can be due not only to the activity of the centre and its consequent radiation, but also the suppression imposed by the mind upon any activity of a particular centre. This brings about a damming up of energy, and again we have the creation of too much concentrated energy in any particular area. One of the main sources of cancer as related to the sacral centre, and therefore to the sex organs, has been the well-intentioned suppression of the sex life, and of all thought connected with the sex life, by misguided aspirants; they are those who find the teaching—monastic and celibate—of the Middle Ages the line of least resistance. In that period of time, good people taught that sex was evil and wicked, something not to be mentioned, and a potent source of trouble. Normal reactions, instead of being controlled and transmuted into creative activity, were violently suppressed and all thoughts anent the sex life were refused expression. Nevertheless, energy follows the direction of thought, with the result that that particularly magnetic type of energy attracted an increasing number of cells and atoms to itself; therein is found the source of the tumours, growths and cancers so prevalent today. The same thing can be said about the violent inhibition imposed by an aspirant upon all emotional reactions and feelings. In their effort to control the astral body, these people resort to a process of direct inhibition and suppression. That suppression makes of the solar plexus centre a great reservoir of drastically retained energy. Transmutation of the emotions into aspiration and love and directed [240] control is not present, and the existence of this vibrant reservoir of power brings about cancer of the stomach, of the liver, and sometimes of the entire area of the abdomen. I simply mention these causes (overactivity of a centre and the retention of energy, unexpressed and inhibited) as fruitful sources of cancer.

Ung thư là một bệnh rõ rệt có liên hệ với các trung tâm, và người ta sẽ thấy rằng trung tâm ở khu vực nơi ung thư tồn tại là quá hoạt động, với hậu quả là có sự gia tăng năng lượng tuôn qua chất liệu thể xác liên hệ. Năng lượng này và sự kích thích quá mức của một trung tâm có thể không chỉ do hoạt động của trung tâm và bức xạ hệ quả của nó, mà còn do sự đè nén mà trí tuệ áp đặt lên bất kỳ hoạt động nào của một trung tâm đặc biệt. Điều này tạo ra sự ứ đọng năng lượng, và một lần nữa chúng ta có sự tạo thành quá nhiều năng lượng tập trung trong một khu vực nhất định. Một trong những nguồn chính của ung thư liên hệ với trung tâm xương cùng, và do đó với các cơ quan sinh dục, là sự đè nén đời sống tính dục với thiện ý, và mọi tư tưởng liên hệ đến đời sống tính dục, bởi những người chí nguyện lầm lạc; họ là những người thấy giáo huấn—tu viện và độc thân—của thời Trung Cổ là con đường ít trở ngại nhất. Trong thời kỳ đó, những người tốt dạy rằng tính dục là xấu ác và tội lỗi, là điều không nên nhắc đến, và là một nguồn rắc rối mạnh mẽ. Những phản ứng bình thường, thay vì được kiểm soát và chuyển hoá thành hoạt động sáng tạo, đã bị đè nén dữ dội và mọi tư tưởng liên quan đến đời sống tính dục đều bị từ chối biểu lộ. Tuy nhiên, năng lượng đi theo hướng của tư tưởng, với kết quả là loại năng lượng đặc biệt có tính từ tính ấy đã thu hút về phía nó ngày càng nhiều tế bào và nguyên tử; ở đó tìm thấy nguồn gốc của các khối u, sự tăng trưởng bất thường và ung thư rất phổ biến ngày nay. Điều tương tự có thể được nói về sự ức chế dữ dội mà một người chí nguyện áp đặt lên mọi phản ứng và cảm xúc. Trong nỗ lực kiểm soát thể cảm dục, những người này dùng đến một tiến trình ức chế và đè nén trực tiếp. Sự đè nén ấy biến trung tâm tùng thái dương thành một hồ chứa lớn của năng lượng bị giữ lại một cách khắc nghiệt. Sự chuyển hoá cảm xúc thành khát vọng và bác ái cùng sự kiểm soát có định hướng [240] không hiện diện, và sự tồn tại của hồ chứa quyền năng rung động này gây ra ung thư dạ dày, gan, và đôi khi của toàn bộ vùng bụng. Tôi chỉ đơn giản nêu ra những nguyên nhân này (sự quá hoạt động của một trung tâm và sự giữ lại năng lượng, không được biểu lộ và bị ức chế) như những nguồn sinh sôi của ung thư.

We come back in every case, as you can see, to the fact of the existence of the centres and their physiological effects. So much emphasis has been laid upon the qualities and characteristics which man will develop when the centres are all properly organised and directed, that the effects of the energy which they receive and distribute into the physical organism have been largely overlooked. Two factors in connection with the centres and the blood stream therefore warrant repetition and attention:

Như bạn có thể thấy, trong mọi trường hợp chúng ta lại quay về sự kiện tồn tại của các trung tâm và các hiệu quả sinh lý của chúng. Người ta đã nhấn mạnh quá nhiều vào những phẩm tính và đặc điểm mà con người sẽ phát triển khi các trung tâm đều được tổ chức và chỉ đạo đúng đắn, đến nỗi các hiệu quả của năng lượng mà chúng tiếp nhận và phân phối vào cơ thể hồng trần phần lớn đã bị bỏ qua. Vì vậy, hai yếu tố liên quan đến các trung tâm và dòng máu đáng được nhắc lại và chú ý:

1. The blood stream is the agent of the glandular system as it, in its turn, is an effect of the centres; the blood stream carries to every part of the body those essential elements of which we know so little and which are responsible for making man psychologically what he is, and thus physically control his equipment.

1. Dòng máu là tác nhân của hệ thống tuyến, mà đến lượt nó là một hiệu quả của các trung tâm; dòng máu mang đến mọi phần của cơ thể những yếu tố thiết yếu mà chúng ta biết rất ít và chịu trách nhiệm làm cho con người về mặt tâm lý là chính y, và do đó kiểm soát về mặt thể xác bộ máy của y.

2. The blood stream is also the life, and carries throughout the organism an aspect of the energy stored up by the centres which is not directly related to the endocrine system; it penetrates, by its radiation, into the blood stream and into all the veins, arteries and capillaries within the area controlled by the centre under consideration. This permeating energy of life itself, localised and qualified, can be either life-giving or death bestowing.

2. Dòng máu cũng là sự sống, và mang khắp cơ thể một phương diện của năng lượng được tích trữ bởi các trung tâm mà không trực tiếp liên hệ với hệ nội tiết; bằng bức xạ của nó, nó thâm nhập vào dòng máu và vào mọi tĩnh mạch, động mạch và mao mạch trong khu vực do trung tâm đang được xem xét kiểm soát. Năng lượng thấm nhập này của chính sự sống, được định vị và được phẩm tính hóa, có thể hoặc ban sự sống hoặc mang đến cái chết.

All diseases—except those due to accidents, wounds resulting in infections, and epidemics—can in the last analysis be [241] traced to some condition of the centres, and therefore to energy running wild, to energy overactive and misdirected or insufficient and lacking altogether, or retained instead of used and transmuted into a higher corresponding centre of energy. The mystery of the blood still remains to be solved, and will receive increasing attention as time goes on. The anemias, so prevalent today, are also due to excess of energy.

Mọi bệnh tật—ngoại trừ những bệnh do tai nạn, vết thương dẫn đến nhiễm trùng, và dịch bệnh—rốt cuộc đều có thể [241] được truy nguyên về một tình trạng nào đó của các trung tâm, và do đó về năng lượng chạy loạn, năng lượng quá hoạt động và bị định hướng sai hoặc không đủ và hoàn toàn thiếu vắng, hoặc bị giữ lại thay vì được sử dụng và chuyển hoá vào một trung tâm năng lượng cao hơn tương ứng. Bí ẩn của máu vẫn còn phải được giải quyết, và sẽ nhận được sự chú ý ngày càng tăng theo thời gian. Các chứng thiếu máu, rất phổ biến ngày nay, cũng là do năng lượng dư thừa.

I can only lay down general indications, state causes, and then leave to the intelligent investigators the task of studying effects, after accepting as a possible hypothesis the suggestions I have made. A proper study of the ductless glands (and later of the entire glandular structure of the body) and of the blood stream will establish them as the paramount source of physical difficulty; inevitably, though slowly and patiently, the investigators will be forced back upon the centres and will come to include in their calculations a subjective nervous system (the entire subjective system of nadis which underlie the nerves throughout the body), and will demonstrate that these factors are responsible for the major diseases and the many subsidiary diseases and obscure complaints which plague humanity. The open-minded investigator, however, who starts with an acceptance of the fact of the centres, regarding them as possibly present and eventually capable of demonstration, will make far more rapid progress; diseases will then be brought under control by a system of laya-yoga (the science of the centres) which will be the sublimated form of the laya-yoga of Atlantean days. Then the advanced student will control the centres by the power of thought. In the yoga of the future, through meditation and alignment and right practices, the centres will be brought under the direct control of the soul—a very different thing to the control of the centres by the mind and one for which the masses of men are not yet ready. To this the [242] Science of the Breath will be added—not breathing exercises as now taught, with often such dangerous results, but a breathing rhythm imposed by the mind through which the soul can work, and which will not require anything more than the simple rhythmic physical breath but which will reorganise the subtler bodies and bring the centres into ordered activity, according to ray and point in evolution.

Tôi chỉ có thể nêu ra những chỉ dẫn tổng quát, phát biểu các nguyên nhân, rồi để cho các nhà nghiên cứu thông minh nhiệm vụ khảo sát các hiệu quả, sau khi chấp nhận như một giả thuyết khả dĩ những gợi ý tôi đã đưa ra. Một sự nghiên cứu đúng đắn về các tuyến không ống (và về sau là toàn bộ cấu trúc tuyến của cơ thể) cùng dòng máu sẽ xác lập chúng như nguồn gốc tối quan trọng của khó khăn thể xác; tất yếu, dù chậm rãi và kiên nhẫn, các nhà nghiên cứu sẽ bị buộc phải quay trở lại với các trung tâm và sẽ đi đến chỗ bao gồm trong các tính toán của mình một hệ thần kinh chủ quan (toàn bộ hệ nadis chủ quan nằm dưới các dây thần kinh khắp cơ thể), và sẽ chứng minh rằng các yếu tố này chịu trách nhiệm về các bệnh lớn và nhiều bệnh phụ cùng những chứng khó chịu mơ hồ đang hành hạ nhân loại. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cởi mở, người khởi đầu bằng việc chấp nhận sự kiện về các trung tâm, xem chúng như có thể hiện diện và cuối cùng có thể được chứng minh, sẽ tiến bộ nhanh hơn nhiều; khi ấy bệnh tật sẽ được kiểm soát bằng một hệ thống laya-yoga (khoa học về các trung tâm), vốn sẽ là hình thức thăng hoa của laya-yoga thời Atlantis. Khi đó đạo sinh tiến bộ sẽ kiểm soát các trung tâm bằng quyền năng của tư tưởng. Trong yoga của tương lai, thông qua tham thiền và chỉnh hợp cùng các thực hành đúng đắn, các trung tâm sẽ được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của linh hồn—một điều rất khác với sự kiểm soát các trung tâm bằng trí tuệ và là điều mà quần chúng nhân loại chưa sẵn sàng. Vào đó sẽ được thêm vào [242] Khoa Học về Hơi Thở—không phải các bài tập thở như hiện nay được dạy, thường với những kết quả nguy hiểm như vậy, mà là một nhịp điệu hô hấp do trí tuệ áp đặt, qua đó linh hồn có thể hoạt động, và sẽ không đòi hỏi gì hơn ngoài hơi thở thể xác nhịp nhàng đơn giản nhưng sẽ tái tổ chức các thể vi tế hơn và đưa các trung tâm vào hoạt động có trật tự, tùy theo cung và điểm tiến hoá.

I deal not with the pathology of these diseases. That has been well considered and dealt with by ordinary medicine. I seek only in this part of our discussions to emphasise the subjective causes and the objective effects. The two must be related. The activity—excessive or inadequate—of the centres is the subjective cause, but remains yet unrecognised except by esotericists. The causes (the apparent causes which are themselves the result of a true subjective cause) are initiated by the physical man himself, either in this life or an earlier one—a point which we will discuss later.

Tôi không bàn đến bệnh lý học của các bệnh này. Điều đó đã được y học thông thường xem xét và đề cập đến đầy đủ. Trong phần này của cuộc thảo luận, tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh các nguyên nhân chủ quan và các hiệu quả khách quan. Hai điều này phải được liên hệ với nhau. Hoạt động—quá mức hoặc không đầy đủ—của các trung tâm là nguyên nhân chủ quan, nhưng cho đến nay vẫn chưa được nhận biết ngoại trừ bởi các nhà bí truyền học. Các nguyên nhân (những nguyên nhân biểu kiến mà bản thân chúng là kết quả của một nguyên nhân chủ quan đích thực) do chính con người hồng trần khởi phát, hoặc trong kiếp này hoặc trong một kiếp trước—một điểm mà chúng ta sẽ bàn đến sau.

I have given you in the above much to consider, and as you ponder and think, as you study cases and types, as you watch the characteristics and qualities of those you know and which work out in some form of eventual disease, light will come.

Trong phần trên, tôi đã đưa cho bạn nhiều điều để suy ngẫm, và khi bạn suy tư và suy nghĩ, khi bạn nghiên cứu các trường hợp và các loại người, khi bạn quan sát các đặc tính và phẩm tính của những người bạn biết và những điều này biểu hiện ra trong một dạng bệnh tật nào đó về sau, ánh sáng sẽ đến.

It is only the necessity of indicating the major sources of diseases and not overlooking them, even if the subject is too esoteric for the average intelligence to grasp, that has led me to include our second point:

Chính nhu cầu phải chỉ ra các nguồn gốc chính của bệnh tật và không bỏ qua chúng, dù cho đề tài này quá huyền bí để trí tuệ trung bình có thể nắm bắt, đã khiến tôi đưa vào điểm thứ hai của chúng ta: