← Esoteric Healing – Song ngữ song ngữ (codex)

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Trích nội dung chương

All rights reserved. No part of this book may be reproduced or utilised in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher. Bảo lưu mọi quyền. Không được sao chép hoặc sử dụng bất kỳ phần nào của cuốn sách này dưới bất kỳ hình thức nào hay bằng bất kỳ phương tiện nào, dù điện tử hay cơ học, bao gồm sao chụp, ghi âm, hoặc qua bất kỳ hệ thống lưu trữ và truy xuất thông tin nào, khi chưa có sự cho phép bằng văn bản của nhà xuất bản.


ESOTERIC HEALING

TRỊ LIỆU HUYỀN MÔN

Volume IV

Tập IV

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS

LUẬN VỀ BẢY CUNG

by

của

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

Index Edition

Ấn bản có chỉ mục

Published by the Lucis Publishing Companies

Do các Nhà xuất bản Lucis xuất bản

The first and only publisher of the

Nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất của

24 books of Alice A. Bailey

24 cuốn sách của Alice A. Bailey

www.lucistrust.org/books

www.lucistrust.org/books

COPYRIGHT © 1953 BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN © 1953 THUỘC LUCIS TRUST

COPYRIGHT © RENEWED 1981 BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN © ĐƯỢC LUCIS TRUST GIA HẠN NĂM 1981

First Printing, 1953

In lần thứ nhất, 1953

Sixth Printing, 1971 (First Paperback Edition)

In lần thứ sáu, 1971 (Ấn bản bìa mềm đầu tiên)

Seventeenth Printing, 2012

In lần thứ mười bảy, 2012

Library of Congress Catalog Card Number: 62006365

Số thẻ danh mục của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 62006365

Ebook edition 2012. ISBN No. 978 085330 421 0

Ấn bản sách điện tử năm 2012. Số ISBN 978 085330 421 0

All rights reserved. No part of this book may be reproduced or utilised in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.

Bảo lưu mọi quyền. Không được sao chép hoặc sử dụng bất kỳ phần nào của cuốn sách này dưới bất kỳ hình thức nào hay bằng bất kỳ phương tiện nào, dù điện tử hay cơ học, bao gồm sao chụp, ghi âm, hoặc qua bất kỳ hệ thống lưu trữ và truy xuất thông tin nào, khi chưa có sự cho phép bằng văn bản của nhà xuất bản.

The publication of this book is financed by the Tibetan Book Fund which is established for the perpetuation of the teachings of the Tibetan and Alice A. Bailey.

Việc xuất bản cuốn sách này do Quỹ Sách Chân sư Tây Tạng tài trợ; quỹ được thành lập nhằm lưu truyền giáo huấn của Chân sư Tây Tạng và Alice A. Bailey.

This Fund is controlled by the Lucis Trust, a tax-exempt, religious, educational corporation.

Quỹ này do Lucis Trust quản lý, một pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo và giáo dục, được miễn thuế.

The Lucis Publishing Company is a non-profit organisation owned by the Lucis Trust. No royalties are paid on this book.

Nhà xuất bản Lucis là một tổ chức phi lợi nhuận thuộc sở hữu của Lucis Trust. Không chi trả nhuận bút cho cuốn sách này.

The book has been translated into Danish, Dutch, French, German, Greek, Italian, Polish, Portuguese, Russian, Spanish and Swedish. Translation into other languages is proceeding.

Cuốn sách đã được dịch sang tiếng Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Nga, Tây Ban Nha và Thụy Điển. Việc dịch sang các ngôn ngữ khác đang được tiến hành.

LUCIS PUBLISHING COMPANY

CÔNG TY XUẤT BẢN LUCIS

120 Wall Street, New York, NY 10005

120 Wall Street, New York, NY 10005

LUCIS PRESS LIMITED

NHÀ XUẤT BẢN LUCIS HỮU HẠN

Suite 54, 3 Whitehall Court, London SW1A 2EF

Phòng 54, 3 Whitehall Court, London SW1A 2EF

Converted to eBook by EasyEPUB

EasyEPUB chuyển đổi sang sách điện tử

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN – TRÍCH MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng Tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này chẳng cho các bạn biết được bao nhiêu, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm nhường nhất cho đến chính Đức Christ, và cả những vị vượt trên Ngài. Tôi sống trong một thể xác như những người khác, tại vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi, khi các bổn phận khác cho phép, Tôi chủ trì một nhóm đông đảo các lạt-ma Tây Tạng (xét theo quan điểm ngoại môn). Chính sự việc này đã khiến người ta đồn rằng Tôi là viện trưởng của tu viện lạt-ma ấy. Những người cùng Tôi làm công việc của Thánh đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều cùng tham gia công việc này) còn biết Tôi dưới một danh xưng và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết Tôi là ai và nhận biết Tôi qua hai danh xưng của Tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, đã đi trên Đường Đạo lâu hơn đôi chút so với đạo sinh trung bình, và vì vậy đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn mức độ của người chí nguyện sẽ đọc bài này, và vì thế Tôi phải làm người truyền ánh sáng, bất kể phải trả giá thế nào. Tôi không phải là một ông lão, theo cách tính tuổi trong hàng ngũ các huấn sư, nhưng Tôi cũng không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của Tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào Tôi tìm thấy sự đáp ứng, và Tôi đã làm công việc này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách trợ giúp Chân sư M. và Chân sư KH mỗi khi có cơ hội, vì từ lâu Tôi đã gắn bó với Các Ngài và công việc của Các Ngài. Qua tất cả những điều trên, Tôi đã nói với các bạn rất nhiều; tuy nhiên, đồng thời Tôi cũng chưa nói điều gì khiến các bạn dành cho Tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng tín dại dột mà người chí nguyện thiên về cảm xúc dành cho vị Đạo sư và Chân sư mà y vẫn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ chưa thể có được sự tiếp xúc mong muốn ấy cho đến khi chuyển hoá lòng sùng tín cảm xúc thành sự phụng sự nhân loại một cách vị tha—không phải phụng sự Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những cuốn sách Tôi đã viết được phổ biến mà không đòi hỏi người ta phải chấp nhận. Chúng có thể đúng đắn, chân thực và hữu ích, hoặc cũng có thể không. Chính các bạn phải xác định tính chân thực của chúng bằng sự thực hành đúng đắn và việc vận dụng trực giác. Cả Tôi lẫn A.A.B. đều không hề quan tâm đến việc chúng được ca ngợi là những tác phẩm đầy cảm hứng, hay việc có người nói về chúng (với vẻ kính cẩn nín thở) như tác phẩm của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối có trình tự những điều đã được đưa ra trong các giáo huấn trên thế giới, nếu thông tin được cung cấp nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà người ta có thể tìm thấy các Chân sư), thì chúng đã hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy sự đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người hoạt động giữa thế gian, và khiến trực giác của y loé sáng, thì hãy chấp nhận giáo huấn ấy. Nhưng chỉ trong trường hợp đó. Nếu những lời trình bày cuối cùng được xác chứng, hoặc được xem là đúng khi kiểm nghiệm bằng định luật tương ứng, thì điều đó là tốt đẹp. Nhưng nếu không phải như vậy, đạo sinh đừng chấp nhận những điều đã nói.

AUGUST 1934

THÁNG TÁM 1934

THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên đây không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự giản dị của nó, và ở việc nó biểu đạt một số chân lý cốt lõi mà mọi người đều chấp nhận một cách tự nhiên, từ trong bản chất—chân lý về sự hiện hữu của một Đấng Trí Tuệ nền tảng mà chúng ta mơ hồ gọi là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi biểu hiện bên ngoài, quyền năng thúc đẩy vũ trụ là Tình thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trần gian, được các tín đồ Kitô giáo gọi là Đức Christ, và đã hiện thân tình thương ấy để chúng ta có thể thấu hiểu; chân lý rằng cả tình thương lẫn trí tuệ đều là những hiệu quả của điều được gọi là Ý Chí của Thượng Đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể được thực thi.”

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

INTRODUCTORY REMARKS – NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

[1]

[1]

The entire subject of healing is as old as the ages themselves, and has ever been the subject of investigation and experiment. But as to the right use of the healing faculty and forces, the knowledge is in its infancy. Only in this age and generation is it at last possible to impart the laws of magnetic healing, and to indicate the causes of those diseases—originating in the three inner bodies—which today devastate the human frame, cause endless suffering and pain, and usher man through the portal which leads to the world of bodiless existence. Only today is man at the point in the evolution of his consciousness where he can begin to realise the power of the subjective worlds, and the new and vast science of psychology is his response to this growing interest. Processes of adjustment, of elimination and of cure engage the minds of all thoughtful people as well as of all suffering people. We have much to do, and I ask therefore for patience on your part.

Toàn bộ đề tài trị liệu cũng lâu đời như chính các thời đại, và từ trước đến nay luôn là đối tượng nghiên cứu và thử nghiệm. Nhưng tri thức về việc sử dụng đúng đắn năng lực và các mãnh lực trị liệu vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Chỉ đến thời đại và thế hệ này, cuối cùng mới có thể truyền đạt các định luật trị liệu bằng từ tính, và chỉ ra những nguyên nhân của các bệnh tật—bắt nguồn từ ba thể bên trong—đang tàn phá cơ thể con người ngày nay, gây ra đau khổ và đau đớn bất tận, và đưa con người qua cánh cổng dẫn vào thế giới hiện hữu không có thân thể. Chỉ đến ngày nay, con người mới đạt đến điểm trong sự tiến hoá tâm thức mà tại đó y có thể bắt đầu nhận ra quyền năng của các thế giới chủ quan, và ngành tâm lý học mới mẻ, rộng lớn chính là sự đáp ứng của y đối với mối quan tâm ngày càng tăng này. Các tiến trình điều chỉnh, loại bỏ và chữa trị thu hút tâm trí của tất cả những người biết suy nghĩ cũng như của tất cả những người đang đau khổ. Chúng ta có nhiều việc phải làm, vì vậy Tôi mong các bạn kiên nhẫn.

When one enters the realm of healing, one enters a world of much esoteric knowledge, and of an infinity of conclusions, and one is faced with the formulations of many minds, who, through the ages, have sought to heal and to help. The why and the wherefore of disease have been the subject of endless investigations and speculations, and much definite deduction has been made as to the cures of such complaints; there has been also much formulation of methods, of techniques, of formulae, of prescription, of varied manipulations and of [2] theories. All these serve to fill the mind with many ideas—some correct, some erroneous—and this makes it most difficult for new ideas to enter and for the student to assimilate the hitherto unknown.

Khi bước vào lĩnh vực trị liệu, người ta bước vào một thế giới chứa nhiều tri thức huyền bí và vô số kết luận, đồng thời đối diện với những hệ thống lý giải của nhiều trí tuệ đã tìm cách chữa lành và trợ giúp qua các thời đại. Căn nguyên và lý do của bệnh tật đã là đề tài của vô vàn cuộc nghiên cứu và suy đoán, và người ta đã rút ra nhiều kết luận xác định về cách chữa những chứng bệnh ấy; cũng đã có nhiều phương pháp, kỹ thuật, công thức, đơn thuốc, các thao tác trị liệu đa dạng và những [2] lý thuyết được xây dựng. Tất cả những điều này chất đầy thể trí bằng nhiều ý tưởng—một số đúng, một số sai—khiến những ý tưởng mới rất khó đi vào và đạo sinh rất khó tiếp thu những điều trước đây chưa biết.

Aspirants lose much by refusing to let go of that which the lower mind cherishes. When they do succeed in being entirely open minded and are ready to accept the new theories and hypotheses, they discover that the old and dearly held truth is not really lost, but only relegated to its rightful place in a larger scheme.

Những người chí nguyện mất mát nhiều khi không chịu buông bỏ những gì hạ trí trân quý. Khi thực sự thành công trong việc hoàn toàn cởi mở và sẵn sàng chấp nhận các lý thuyết cùng giả thuyết mới, họ khám phá ra rằng chân lý cũ vốn được trân trọng gìn giữ thật ra không mất đi, mà chỉ được đặt vào đúng vị trí của nó trong một hệ thống rộng lớn hơn.

All initiates of the Ageless Wisdom are necessarily healers, though all may not heal the physical body. The reason for this is that all souls that have achieved any measure of true liberation are transmitters of spiritual energy. This automatically affects some aspect of the mechanism which is used by the souls they contact. When I employ the word “mechanism” in these instructions I refer to different aspects of the instrument, the body or form nature, through which all souls seek manifestation. I refer, therefore, to:

Tất cả các điểm đạo đồ của Minh Triết Ngàn Đời tất yếu đều là những nhà trị liệu, dù không phải tất cả đều chữa lành thể xác. Lý do là mọi linh hồn đã đạt được một mức độ giải thoát chân chính nào đó đều là những người truyền năng lượng tinh thần. Điều này tự động tác động đến một phương diện nào đó của bộ máy mà các linh hồn họ tiếp xúc đang sử dụng. Khi dùng từ “bộ máy” trong những huấn thị này, Tôi muốn nói đến các phương diện khác nhau của khí cụ, tức thân thể hay bản chất hình tướng, mà qua đó mọi linh hồn tìm cách biểu hiện. Vì vậy, Tôi muốn nói đến:

1. The dense physical body, which is the sumtotal of all the organisms which compose it; these possess the varying functions which enable the soul to express itself on the physical or objective plane as part of a greater and more inclusive organism. The physical body is the response apparatus of the indwelling spiritual man and serves to put that spiritual entity en rapport with the response apparatus of the planetary Logos, the Life in which we live and move and have our being.

1. Thể xác đậm đặc, là tổng thể tất cả các cơ cấu sống cấu thành nó; những cơ cấu này đảm nhiệm các chức năng khác nhau, cho phép linh hồn biểu lộ trên cõi hồng trần hay cõi khách quan như một phần của một cơ cấu sống lớn hơn và có tính bao gồm rộng hơn. Thể xác là bộ máy đáp ứng của con người tinh thần ngự bên trong, và có công dụng đưa thực thể tinh thần ấy vào mối giao cảm với bộ máy đáp ứng của Hành Tinh Thượng đế, Sự Sống mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu.

2. The etheric body, which has one main objective. This is to vitalise and energise the physical body and thus integrate it into the energy body of the Earth and of the solar system. It is a web of energy streams, of lines of force and of light. It constitutes part of the vast network [3] of energies which underlies all forms whether great or small (microcosmic or macrocosmic). Along these lines of energy the cosmic forces flow, as the blood flows through the veins and arteries. This constant, individual—human, planetary and solar—circulation of life-forces through the etheric bodies of all forms is the basis of all manifested life, and the expression of the essential non-separateness of all life.

2. Thể dĩ thái, có một mục tiêu chính. Đó là tiếp sinh lực và năng lượng cho thể xác, nhờ vậy tích hợp thể xác vào thể năng lượng của Trái Đất và hệ mặt trời. Thể dĩ thái là một mạng lưới các dòng năng lượng, các đường mãnh lực và ánh sáng. Nó tạo thành một phần của mạng lưới năng lượng rộng lớn [3] nằm bên dưới mọi hình tướng, dù lớn hay nhỏ (thuộc tiểu thiên địa hay đại thiên địa). Dọc theo những đường năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ tuôn chảy, như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch. Sự lưu thông liên tục và riêng biệt này của các mãnh lực sự sống—ở cấp độ con người, hành tinh và thái dương—qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng là nền tảng của mọi sự sống biểu hiện, và là biểu hiện của tính không phân cách vốn có của mọi sự sống.

3. The astral or desire body (sometimes called the emotional body) is the effect of the interplay of desire and of sentient response upon the self at the centre, and the resultant effect—in that body—is experienced as emotion and as pain and pleasure and the other pairs of opposites. In these two bodies, the etheric and astral bodies, ninety percent of the causes of physical disease and troubles is to be found.

3. Thể cảm dục hay thể dục vọng (đôi khi được gọi là thể cảm xúc) là hiệu quả của sự tương tác giữa dục vọng và sự đáp ứng cảm thụ tác động lên bản ngã ở trung tâm, và hiệu quả phát sinh—trong thể này—được trải nghiệm thành cảm xúc, đau đớn và khoái lạc cùng các cặp đối cực khác. Chín mươi phần trăm nguyên nhân của bệnh tật và những rối loạn thể chất nằm trong hai thể này, thể dĩ thái và thể cảm dục.

4. The mental body, or that much of the chitta or mind stuff which an individual human unit can use and impress, constitutes the fourth of the series of mechanisms at the disposal of the soul. At the same time let it not be forgotten that these four constitute one mechanism. Five percent of all modern disease originates in this body or state of consciousness, and here I wish to enunciate the truth that the constant reiteration by certain schools of healers that the mind is the cause of all sickness is not as yet a fact. A million years hence, when the focus of human attention has shifted from the emotional nature to the mind, and when men are essentially mental as today they are essentially emotional, then the causes of disease must be sought in the mind realm. They are today to be found (except in a few rare cases) in lack of vitality or in too much stimulation, and in the realm of feeling, of desires (thwarted or over-indulged) and in the moods, suppressions, or expressions of the deep-seated [4] longings, irritations, secret delights and the many hidden impulses which emanate from the desire life of the subject.

4. Thể trí, hay phần chất liệu trí tuệ mà một đơn vị nhân loại cá biệt có thể sử dụng và ghi ấn lên, tạo thành bộ máy thứ tư trong chuỗi các bộ máy mà linh hồn có thể sử dụng. Đồng thời, đừng quên rằng bốn bộ máy này hợp thành một bộ máy duy nhất. Năm phần trăm mọi bệnh tật hiện đại bắt nguồn từ thể này hay trạng thái tâm thức này, và ở đây Tôi muốn nêu rõ chân lý rằng lời khẳng định được một số trường phái trị liệu liên tục nhắc lại, cho rằng thể trí là nguyên nhân của mọi bệnh tật, hiện vẫn chưa phải là sự thật. Một triệu năm nữa, khi trọng tâm chú ý của con người đã chuyển từ bản chất cảm xúc sang thể trí, và khi con người về căn bản thiên về trí tuệ như ngày nay họ về căn bản thiên về cảm xúc, bấy giờ phải tìm nguyên nhân bệnh tật trong lĩnh vực trí tuệ. Ngày nay, những nguyên nhân ấy nằm (ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi) trong sự thiếu sinh lực hoặc kích thích quá mức, và trong lĩnh vực cảm giác, dục vọng (bị ngăn trở hoặc được thoả mãn quá mức), cũng như trong những tâm trạng, sự dồn nén hay biểu lộ của những [4] khao khát sâu kín, những bực bội, những niềm vui thầm kín và nhiều xung lực ẩn giấu phát sinh từ đời sống dục vọng của đương sự.

This urge to be and to have has first of all built, and is building, the outer physical response apparatus, and is today forcing a mechanism that has been constructed essentially for physical ends, to serve more subjective purposes. This again produces trouble, and only when man realises that within the outer physical sheath there exist other bodies which serve more subtle response purposes will we see the gradual readjustment and health of the physical body. With these more subtle sheaths we shall later deal.

Trước hết, thôi thúc muốn hiện hữu và sở hữu này đã xây dựng, và vẫn đang xây dựng, bộ máy đáp ứng thể chất bên ngoài; ngày nay nó đang buộc một bộ máy vốn được xây dựng chủ yếu cho các mục đích thể chất phải phục vụ những mục đích nội tâm hơn. Điều này lại gây ra rối loạn, và chỉ khi con người nhận ra rằng bên trong lớp vỏ thể chất bên ngoài còn có những thể khác phục vụ các mục đích đáp ứng tinh tế hơn, chúng ta mới thấy thể xác dần tái điều chỉnh và trở nên khoẻ mạnh. Về sau, chúng ta sẽ bàn đến những lớp vỏ tinh tế hơn này.

You naturally ask here: What is the general plan which I shall seek to follow as I instruct you in the laws of healing, those laws which guide the initiates and must gradually supersede the more physical methods of the present art of healing? You naturally also seek to know what is the special technique which you—as healers—must learn to employ, both as regards yourselves and as regards those you seek to heal. I will briefly outline the teaching I shall endeavour to give and point out where you must lay the emphasis, as you commence the study of this subject.

Đến đây, tự nhiên các bạn sẽ hỏi: Kế hoạch tổng quát mà Tôi sẽ tìm cách tuân theo khi hướng dẫn các bạn về các định luật trị liệu là gì, những định luật hướng dẫn các điểm đạo đồ và phải dần thay thế các phương pháp thiên về thể chất của nghệ thuật trị liệu hiện nay? Tự nhiên các bạn cũng muốn biết kỹ thuật đặc biệt nào mà các bạn—với tư cách những nhà trị liệu—phải học cách sử dụng, cho cả bản thân lẫn những người các bạn tìm cách chữa lành. Tôi sẽ phác thảo ngắn gọn giáo huấn mà Tôi sẽ cố gắng truyền đạt, và chỉ ra những điểm các bạn phải chú trọng khi bắt đầu nghiên cứu đề tài này.

I shall endeavour first of all to touch upon the causes of disease, for the occult student must ever begin in the world of origins and not in the world of effects.

Trước hết, Tôi sẽ cố gắng đề cập đến các nguyên nhân của bệnh tật, vì đạo sinh huyền bí học phải luôn bắt đầu trong thế giới căn nguyên chứ không phải trong thế giới hệ quả.

In the second place, I shall elaborate the seven methods of healing which govern the “work of restitution” (as it is called in the occult terminology) as practiced by the initiates of the world. These determine the techniques which must be employed. You will note that these methods and techniques are conditioned by the rays (of which I have written in A Treatise on the Seven Rays Vol I & Vol II) and that therefore the healer has to take into [5] consideration not only his own ray but also the ray of the patient. There are therefore seven ray techniques, and these require elucidation before they can be applied intelligently.

Thứ hai, Tôi sẽ trình bày chi tiết bảy phương pháp trị liệu chi phối “công việc hoàn nguyên” (theo cách gọi trong thuật ngữ huyền bí học) mà các điểm đạo đồ trên thế giới thực hành. Những phương pháp này quyết định các kỹ thuật phải sử dụng. Các bạn sẽ nhận thấy rằng các cung định hình những phương pháp và kỹ thuật này (Tôi đã viết về các cung trong Luận về Bảy Cung, Tập I và Tập II), và vì vậy nhà trị liệu phải [5] xét đến không chỉ cung của chính mình mà cả cung của bệnh nhân. Do đó, có bảy kỹ thuật theo cung, và cần làm sáng tỏ những kỹ thuật này trước khi có thể áp dụng chúng một cách sáng suốt.

In the third place, I shall lay emphasis upon psychological healing and upon the need to deal with the patient in his inner life, for the basic law underlying all occult healing may be stated to be as follows:

Thứ ba, Tôi sẽ nhấn mạnh việc trị liệu tâm lý và sự cần thiết phải làm việc với bệnh nhân trong đời sống nội tâm của y, vì định luật cơ bản làm nền tảng cho mọi sự trị liệu huyền bí có thể được phát biểu như sau:

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life, and that is true of all forms in all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul, so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Và điều đó đúng với mọi hình tướng trong mọi giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu là giải phóng linh hồn để sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy qua tập hợp các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng cụ thể nào.

It is interesting to note that the attempt of the scientist to release the energy of the atom is of the same general nature as the work of the esotericist when he endeavours to release the energy of the soul. In this release the nature of the true art of healing is hidden. Herein lies an occult hint.

Điều đáng chú ý là nỗ lực giải phóng năng lượng nguyên tử của nhà khoa học có cùng bản chất tổng quát với công việc của nhà bí truyền học khi y cố gắng giải phóng năng lượng linh hồn. Bản chất của nghệ thuật trị liệu chân chính ẩn trong sự giải phóng này. Chính trong đó có một gợi ý huyền bí.

In the fourth place, we will consider the physical body, its diseases and ills, but only after we have studied that part of man which lies behind and surrounding the dense physical body. In that way we shall work from the world of inner causes to the world of outer happenings. We shall see that all that concerns the health of man originates from:

Thứ tư, chúng ta sẽ xem xét thể xác, các bệnh tật và chứng đau yếu của nó, nhưng chỉ sau khi đã nghiên cứu phần con người nằm đằng sau và bao quanh thể xác đậm đặc. Bằng cách đó, chúng ta sẽ đi từ thế giới nguyên nhân bên trong đến thế giới diễn biến bên ngoài. Chúng ta sẽ thấy rằng mọi điều liên quan đến sức khoẻ con người đều bắt nguồn từ:

1. The sumtotal of forces, feelings, desires and occasional mental processes which characterises the three subtler bodies and determines the life and experience of the physical body.

1. Tổng thể các mãnh lực, cảm giác, dục vọng và những tiến trình trí tuệ thỉnh thoảng diễn ra, vốn là đặc trưng của ba thể tinh tế hơn và quyết định đời sống cùng trải nghiệm của thể xác.

2. The effect upon the physical body of the condition of humanity as a whole. A human being is an integral part of humanity, an organism in a greater organism. Conditions existing in the whole will be reflected in [6] the unit self, and many of the ills from which man suffers today are the effect upon him of conditions existing in the fourth kingdom in nature as a whole. For these he is not held responsible.

2. Ảnh hưởng của tình trạng nhân loại xét như một toàn thể lên thể xác. Một con người là bộ phận không thể tách rời của nhân loại, một cơ cấu sống trong một cơ cấu sống lớn hơn. Những tình trạng tồn tại trong toàn thể sẽ phản ánh trong [6] bản ngã cá thể, và nhiều chứng đau yếu mà con người ngày nay phải chịu là ảnh hưởng tác động lên y từ những tình trạng tồn tại trong toàn bộ giới thứ tư trong thiên nhiên. Y không phải chịu trách nhiệm về những điều này.

3. The effect upon his physical body of the planetary life, which is the expression of the life of the planetary Logos, Who is an evolving entity. The implications of this are largely beyond our ken, but the effects are discernible.

3. Ảnh hưởng của sự sống hành tinh lên thể xác của y; sự sống hành tinh là biểu hiện của sự sống Hành Tinh Thượng đế, Ngài là một thực thể đang tiến hoá. Phần lớn những hàm ý của điều này nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, nhưng có thể nhận thấy các hiệu quả.

I am not interested primarily in training individuals in order to make them more efficient healers. It is group healing at which I aim, and it is the work which is done in formation which interests me at this time. But no group of people can work as a unit unless they love and serve each other. The healing energy of the spiritual Hierarchy cannot flow through the group if there is disharmony and criticism. The first work, therefore, of any group of healers, is to establish themselves in love and to work towards group unity and understanding.

Mối quan tâm chính của Tôi không phải là huấn luyện các cá nhân để họ trở thành những nhà trị liệu hiệu quả hơn. Điều Tôi nhắm đến là trị liệu nhóm, và lúc này điều Tôi quan tâm là công việc được thực hiện theo đội hình. Nhưng không nhóm người nào có thể hoạt động như một đơn vị nếu họ không yêu thương và phụng sự lẫn nhau. Năng lượng trị liệu của Thánh đoàn không thể tuôn chảy qua nhóm nếu có sự bất hoà và chỉ trích. Vì vậy, công việc đầu tiên của bất kỳ nhóm trị liệu nào là an trụ trong tình thương và hướng đến sự hợp nhất cùng sự thấu hiểu trong nhóm.

I would like to point out here the need for patience as a healing group integrates and the auras of the group members blend. It takes a little time for people to learn to work together in perfect understanding and impersonality, and at the same time to achieve, during their work, a one-pointedness which will produce the needed group rhythm—a rhythm of such unity and intensity that the work can synchronise internally. Aspirants and students as they work along these lines must train themselves to think as a group, and to give to the group (without a niggardly or reticent spirit) the best that is in them, and also the fruit of their meditation upon these matters.

Ở đây, Tôi muốn chỉ ra sự cần thiết phải kiên nhẫn khi một nhóm trị liệu đang tích hợp và hào quang của các thành viên đang hoà quyện. Cần có một khoảng thời gian để mọi người học cách làm việc cùng nhau trong sự thấu hiểu và vô ngã trọn vẹn, đồng thời đạt được, trong khi làm việc, sự nhất tâm tạo ra nhịp điệu nhóm cần thiết—một nhịp điệu có mức độ hợp nhất và cường độ đủ để công việc có thể đồng bộ từ bên trong. Khi hoạt động theo những đường hướng này, những người chí nguyện và đạo sinh phải tự rèn luyện để suy nghĩ như một nhóm, và trao cho nhóm (không với tinh thần keo kiệt hay dè dặt) những gì tốt nhất nơi mình, cùng thành quả tham thiền của mình về những vấn đề này.

I might also add that these instructions must be as concise as possible. I shall have to endeavour to put much truth [7] and information into a brief space, so as to make each sentence convey some real idea and give some real light on the problems which confront a healing group. That which I have to say will fall into two parts: First, we will deal with the general work of healing and teaching, and this will involve the impartation by me of laws, of techniques and methods. Secondly, we will consider the healer and how he can perfect himself in the art of healing.

Tôi cũng có thể nói thêm rằng những huấn thị này phải súc tích hết mức có thể. Tôi sẽ phải cố gắng đưa nhiều chân lý [7] và thông tin vào một dung lượng ngắn, để mỗi câu đều truyền đạt một ý tưởng thực sự và soi sáng phần nào những vấn đề mà một nhóm trị liệu phải đối diện. Những điều Tôi phải nói sẽ chia thành hai phần: Trước hết, chúng ta sẽ bàn đến công việc trị liệu và giảng dạy nói chung, và điều này bao gồm việc Tôi truyền đạt các định luật, kỹ thuật và phương pháp. Thứ hai, chúng ta sẽ xem xét nhà trị liệu và cách y có thể tự hoàn thiện trong nghệ thuật trị liệu.

Is it not true that the prime requisite of all healers is a sympathetic rapport with the patient, so that the healer achieves insight into the trouble and establishes the confidence of the patient?

Chẳng phải yêu cầu hàng đầu đối với mọi nhà trị liệu là có mối giao cảm đầy cảm thông với bệnh nhân, để nhà trị liệu thấu suốt vấn đề và tạo dựng lòng tin nơi bệnh nhân hay sao?

Two words I give you which embody the requirements of all true healers, and towards which you must work. They are Magnetism and Radiation. A healer must be magnetic above everything else, and he must attract to him:

Tôi trao cho các bạn hai từ bao hàm những yêu cầu đối với mọi nhà trị liệu chân chính, và các bạn phải nỗ lực hướng đến những điều ấy. Đó là Từ điện và Bức xạ. Trên hết, nhà trị liệu phải có từ tính, và y phải thu hút về mình:

a. The power of his own soul; this involves alignment through individual meditation.

a. Quyền năng của chính linh hồn mình; điều này đòi hỏi sự chỉnh hợp thông qua tham thiền cá nhân.

b. Those whom he can help; this involves a decentralised attitude.

b. Những người mà y có thể giúp đỡ; điều này đòi hỏi một thái độ phi tập trung vào bản thân.

c. Those energies, when need arises, which will stimulate the patient to the desired activity. This involves occult knowledge and a trained mind.

c. Những năng lượng, khi cần, sẽ kích thích bệnh nhân thực hiện hoạt động mong muốn. Điều này đòi hỏi tri thức huyền bí và một thể trí đã được rèn luyện.

The healer must understand also how to radiate, for the radiation of the soul will stimulate to activity the soul of the one to be healed and the healing process will be set in motion; the radiation of his mind will illumine the other mind and polarise the will of the patient; the radiation of his astral body, controlled and selfless, will impose a rhythm upon the agitation of the patient’s astral body, and so enable the patient to take right action, whilst the radiation of the vital body, working through the splenic centre, will aid in [8] organising the patient’s force-body and so facilitate the work of healing. Therefore, the healer has the duty of rendering himself effective, and according to what he is, so will be the effect upon the patient. When a healer works magnetically and radiates his soul force to the patient, that patient is enabled more easily to achieve the end desired—which may be complete healing, or it may be the establishing of a state of mind which will enable the patient to live with himself and with his complaint, unhandicapped by the karmic limitations of the body. Or it may be enabling the patient to achieve (with joy and facility) the right liberation from the body and, through the portal of death, to pass to complete health.

Nhà trị liệu cũng phải thấu hiểu cách phát xạ, vì bức xạ của linh hồn sẽ kích thích linh hồn của người cần được chữa lành đi vào hoạt động, và tiến trình trị liệu sẽ bắt đầu; bức xạ của thể trí y sẽ soi sáng thể trí kia và phân cực ý chí của bệnh nhân; bức xạ của thể cảm dục đã được kiểm soát và trở nên vị tha của y sẽ áp đặt một nhịp điệu lên sự xáo động trong thể cảm dục của bệnh nhân, nhờ vậy giúp bệnh nhân hành động đúng đắn, trong khi bức xạ của thể sinh lực, hoạt động qua luân xa lá lách, sẽ trợ giúp việc [8] tổ chức thể mãnh lực của bệnh nhân, nhờ đó tạo thuận lợi cho công việc trị liệu. Vì vậy, nhà trị liệu có bổn phận làm cho bản thân trở nên hữu hiệu, và y là người như thế nào thì tác động lên bệnh nhân sẽ tương ứng như thế ấy. Khi một nhà trị liệu làm việc bằng từ tính và phát xạ mãnh lực linh hồn mình đến bệnh nhân, bệnh nhân ấy có thể dễ dàng đạt được mục đích mong muốn hơn—có thể là sự chữa lành hoàn toàn, hoặc có thể là việc thiết lập một trạng thái trí tuệ giúp bệnh nhân sống được với chính mình và với chứng bệnh của mình, không bị những giới hạn nghiệp quả của thân thể cản trở. Hoặc điều đó có thể giúp bệnh nhân đạt được (với sự hoan hỉ và dễ dàng) sự giải thoát đúng đắn khỏi thân thể và, qua cánh cổng sự chết, bước vào trạng thái hoàn toàn khoẻ mạnh.

PART ONE - The Basic Causes of Disease – PHẦN MỘT - Những Nguyên Nhân Cơ Bản của Bệnh Tật

[9]

[9]

This is the problem with which all medical practice down the ages has wrestled. In our present mechanistic age we have wandered far to the surface of things and away from the partially true point of view of earlier centuries which traced disease back of the “evil humours” bred and festering in the inner subjective life of the patient. In the evolution of knowledge on every hand we are now on the surface of things (note I do not use the word “superficial”), and the hour has struck in which knowledge can again re-enter the realm of the subjective and transmute itself into wisdom. There is today a dawning recognition on the part of the best minds in the medical and allied professions, that in the subjective and hidden attitudes of the mind and of the emotional nature, and in the life of inhibited or excessive sex expression, must be sought the causes of all disease.

Đây là vấn đề mà toàn bộ hoạt động y khoa đã vật lộn qua các thời đại. Trong thời đại cơ giới hiện nay, chúng ta đã đi xa vào bề mặt sự vật và rời xa quan điểm đúng một phần của những thế kỷ trước, vốn truy nguyên bệnh tật về những “thể dịch độc hại” sinh sôi và mưng mủ trong đời sống nội tâm chủ quan của bệnh nhân. Trong sự phát triển tri thức trên mọi phương diện, hiện nay chúng ta đang ở trên bề mặt sự vật (lưu ý Tôi không dùng từ “hời hợt”), và đã đến lúc tri thức có thể trở lại lĩnh vực chủ quan và chuyển hoá thành minh triết. Ngày nay, những trí tuệ ưu tú nhất trong ngành y và các ngành liên quan đang bắt đầu nhận ra rằng phải tìm nguyên nhân của mọi bệnh tật trong những thái độ chủ quan và ẩn kín của thể trí cùng bản chất cảm xúc, và trong đời sống có sự biểu lộ tính dục bị ức chế hoặc quá mức.

From the beginning of our studies, I would like to point out that the ultimate cause of disease, even if known to me, would fail to be comprehended by you. The cause lies back in the history of the distant past of our planet, in the career (occultly understood) of the planetary Life, and that it has its roots in what is largely designated “cosmic evil.” This is a perfectly meaningless phrase, but one that is symbolically descriptive of a condition in consciousness which is that of [10] certain of the “imperfect Gods.” Given the initial premise that Deity itself is working towards a perfection past our comprehension, it may be inferred that there may exist for the Gods Themselves and for GOD (as the LIFE of the solar system), certain limitations and certain areas or states of consciousness which still await mastering. These limitations and relative imperfections may cause definite effects in Their bodies of manifestation—the various planets as expressions of Lives, and the solar system as the expression of a LIFE. Given also the hypothesis that these outer bodies of divinity, the planets, are the forms through which certain Deities express Themselves, it may be a true and logical deduction that all lives and forms within those bodies may be necessarily subject also to these limitations, and to the imperfections growing out of these unconquered areas of consciousness and these states of awareness, hitherto unrealised by the Deities, incarnated in planetary and solar form. Given the postulate that every form is a part of a still greater form, and that we do indeed “live and move and have our being” within the body of God (as St. Paul expresses it) we, as integral parts of the fourth kingdom in nature, share in this general limitation and imperfection.

Ngay từ đầu cuộc nghiên cứu, Tôi muốn chỉ ra rằng nguyên nhân tối hậu của bệnh tật, dù Tôi có biết, các bạn cũng sẽ không thể lĩnh hội. Nguyên nhân ấy nằm sâu trong lịch sử quá khứ xa xăm của hành tinh chúng ta, trong hành trình (hiểu theo nghĩa huyền bí) của Sự Sống hành tinh, và bắt rễ trong điều phần lớn được gọi là “cái ác vũ trụ”. Đây là một cụm từ hoàn toàn không có ý nghĩa, nhưng lại mô tả bằng biểu tượng một tình trạng trong tâm thức của [10] một số “Thượng đế bất toàn”. Nếu lấy tiền đề ban đầu rằng chính Thượng đế đang nỗ lực hướng đến một sự hoàn thiện vượt ngoài tầm lĩnh hội của chúng ta, thì có thể suy ra rằng đối với chính các Thượng đế và đối với THƯỢNG ĐẾ (với tư cách SỰ SỐNG của hệ mặt trời), có thể vẫn tồn tại những giới hạn nhất định cùng những lĩnh vực hay trạng thái tâm thức nhất định còn cần làm chủ. Những giới hạn và sự bất toàn tương đối này có thể gây ra những hiệu quả rõ rệt trong các thân thể biểu hiện của Các Ngài—các hành tinh khác nhau là những biểu hiện của các Sự Sống, và hệ mặt trời là biểu hiện của một SỰ SỐNG. Nếu cũng lấy giả thuyết rằng những thân thể bên ngoài này của thiên tính, tức các hành tinh, là những hình tướng mà qua đó một số Thượng đế biểu lộ, thì có thể rút ra một kết luận đúng đắn và hợp lý rằng mọi sự sống và hình tướng trong những thân thể ấy tất yếu cũng có thể chịu những giới hạn này, và những bất toàn phát sinh từ các lĩnh vực tâm thức chưa được chinh phục cùng những trạng thái nhận biết mà cho đến nay các Thượng đế đang nhập thể trong hình tướng hành tinh và thái dương vẫn chưa chứng nghiệm. Nếu chấp nhận định đề rằng mỗi hình tướng là một phần của một hình tướng còn lớn hơn, và rằng chúng ta quả thực “sống, vận động và hiện hữu” trong thân thể của Thượng đế (như Thánh Paul diễn đạt), thì chúng ta, với tư cách những bộ phận không thể tách rời của giới thứ tư trong thiên nhiên, cùng chia sẻ sự giới hạn và bất toàn chung này.

More than this general premise is beyond our powers to grasp and to express, for the general mental equipment of the average aspirant and disciple is inadequate to the task. Such terms as “cosmic evil, divine imperfection, limited areas of consciousness, the freedom of pure spirit, divine mind,” which are so freely bandied about by the mystical and occult thinkers of the time: What do they really mean? The affirmations of many schools of healing as to ultimate divine perfection, and the formulation of their beliefs in the real freedom of humanity from ordinary ills of the flesh, are they not frequently high sounding phrases, embodying an ideal, and based often on selfish desire? Do they not constitute [11] utterly meaningless sentences in their mystical implications? How can it be otherwise, when only the perfected man has any real idea of what constitutes divinity?

Bất cứ điều gì vượt quá tiền đề tổng quát này đều nằm ngoài khả năng nắm bắt và diễn đạt của chúng ta, vì năng lực trí tuệ nói chung của người chí nguyện và đệ tử trung bình không đủ cho nhiệm vụ ấy. Những thuật ngữ như “cái ác vũ trụ, sự bất toàn thiêng liêng, những lĩnh vực tâm thức hữu hạn, sự tự do của tinh thần thuần khiết, trí tuệ thiêng liêng”, mà các nhà tư tưởng thần bí và huyền bí đương thời sử dụng quá dễ dãi: chúng thực sự có nghĩa gì? Những lời khẳng định của nhiều trường phái trị liệu về sự hoàn thiện thiêng liêng tối hậu, cùng việc họ trình bày niềm tin rằng nhân loại thực sự thoát khỏi những chứng đau yếu thông thường của xác thịt, chẳng phải thường là những lời lẽ khoa trương, hàm chứa một lý tưởng và thường dựa trên dục vọng ích kỷ hay sao? Chẳng phải chúng tạo thành [11] những câu hoàn toàn vô nghĩa xét về hàm ý thần bí hay sao? Làm sao có thể khác được, khi chỉ con người đã hoàn thiện mới thực sự có chút ý niệm về điều gì cấu thành thiên tính?

It is surely better for us to admit that it is not possible for man to understand the deep-seated causes of that which can be seen emerging in the evolution of form life. Is it not wise to face the issue and the facts, as they exist for our present realisation, and understand that just as man can enter more intelligently into the mind of God than can the lesser mind of the animal, so there may exist other and greater Minds, functioning in other and higher kingdoms in nature which will surely see life more truly and more accurately than does mankind? It is possible, is it not, that the objective of evolution (as outlined and emphasised by man) may (in the last analysis) be only that partial fragment of a greater objective than he, with his finite understanding, can grasp. The whole intent, as it lies hid in the mind of God, may be very different to what man may conceive today, and cosmic evil and cosmic good, reduced to terminologies, may lose their significance altogether, and are only to be seen through the glamour and the illusion with which man surrounds all things. The best minds of this age are only just beginning to see the first dim ray of light which is piercing this glamour, and serving first of all to reveal the fact of illusion. Through the light thus cast, the following truth may stand revealed to those who have the expectant attitude and the open mind: Deity itself is on the road towards perfection. The implications of that statement are many.

Chắc chắn sẽ tốt hơn nếu chúng ta thừa nhận rằng con người không thể thấu hiểu những nguyên nhân sâu xa của điều đang xuất hiện trong sự tiến hoá của sự sống hình tướng. Chẳng phải điều khôn ngoan là đối diện với vấn đề và các sự kiện như chúng hiện ra trong nhận thức hiện nay của chúng ta, và thấu hiểu rằng cũng như con người có thể đi vào Trí của Thượng đế một cách sáng suốt hơn trí tuệ thấp kém hơn của loài vật, cũng có thể tồn tại những Trí Tuệ khác và lớn lao hơn, hoạt động trong những giới khác và cao hơn trong thiên nhiên, chắc chắn nhìn sự sống chân thực và chính xác hơn nhân loại hay sao? Chẳng phải có thể mục tiêu của tiến hoá (như con người phác thảo và nhấn mạnh), xét cho cùng, chỉ là mảnh nhỏ của một mục tiêu lớn hơn mà con người, với sự thấu hiểu hữu hạn, có thể nắm bắt hay sao? Toàn bộ ý định, như nó ẩn trong Trí của Thượng đế, có thể rất khác với điều con người ngày nay có thể hình dung, và cái ác vũ trụ cùng cái thiện vũ trụ, khi bị thu gọn thành thuật ngữ, có thể hoàn toàn mất đi thâm nghĩa, và chỉ được nhìn qua lớp ảo cảm cùng ảo tưởng mà con người phủ lên mọi sự vật. Những trí tuệ ưu tú nhất của thời đại này chỉ vừa bắt đầu thấy tia sáng mờ nhạt đầu tiên đang xuyên qua lớp ảo cảm ấy, trước hết giúp phơi bày sự hiện hữu của ảo tưởng. Nhờ ánh sáng toả ra như vậy, chân lý sau đây có thể hiển lộ trước những người có thái độ mong đợi và thể trí cởi mở: Chính Thượng đế đang trên đường tiến đến sự hoàn thiện. Phát biểu ấy có nhiều hàm ý.

In dealing with the causes of disease, we will take the position that the foundational and ultimate cosmic cause lies beyond our comprehension, and that only as the kingdom of God is revealed on earth shall we enter into some real understanding of the general widespread disease to be found upon our planet in all the four kingdoms in nature. A few [12] basic statements can be made, however, which will be found true eventually in the macrocosmic sense, and can already be demonstrated to be true where the microcosm is intelligently concerned.

Khi bàn đến các nguyên nhân của bệnh tật, chúng ta sẽ giữ lập trường rằng nguyên nhân vũ trụ nền tảng và tối hậu nằm ngoài tầm lĩnh hội của chúng ta, và chỉ khi Thiên Giới hiển lộ trên Trái Đất, chúng ta mới phần nào thực sự thấu hiểu tình trạng bệnh tật phổ biến khắp hành tinh trong cả bốn giới của thiên nhiên. Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài [12] phát biểu cơ bản, mà về sau người ta sẽ thấy là đúng theo nghĩa đại thiên địa, và ngay lúc này đã có thể chứng minh là đúng khi xem xét tiểu thiên địa một cách sáng suốt.

1. All disease (and this is a platitude) is caused by lack of harmony—a disharmony to be found existing between the form aspect and the life. That which brings together form and life, or rather, that which is the result of this intended union, we call the soul, the self where humanity is concerned, and the integrating principle where the subhuman kingdoms are concerned. Disease appears where there is a lack of alignment between these various factors, the soul and the form, the life and its expression, the subjective and the objective realities. Consequently, spirit and matter are not freely related to each other. This is one mode of interpreting Law I, and the entire thesis is intended to be an exposition of that Law.

1. Mọi bệnh tật (và đây là một điều quá quen thuộc) đều do thiếu hoà hợp—một sự bất hoà tồn tại giữa phương diện hình tướng và sự sống. Điều kết hợp hình tướng với sự sống, hay đúng hơn, điều là kết quả của sự hợp nhất có chủ đích này, chúng ta gọi là linh hồn, là bản ngã khi nói đến nhân loại, và là nguyên khí tích hợp khi nói đến các giới dưới nhân loại. Bệnh tật xuất hiện khi thiếu sự chỉnh hợp giữa các yếu tố khác nhau này, giữa linh hồn và hình tướng, giữa sự sống và sự biểu lộ của nó, giữa những thực tại chủ quan và khách quan. Do đó, tinh thần và vật chất không liên hệ tự do với nhau. Đây là một cách diễn giải Định luật I, và toàn bộ luận thuyết này nhằm trình bày Định luật ấy.

2. This lack of harmony, producing what we call disease, runs through all the four kingdoms in nature, and causes those conditions which produce pain (where the sentiency is exquisite and developed) and everywhere congestion, corruption and death. Ponder on these words: Inharmony, Disease, Pain, Congestion, Corruption, Death, for they are descriptive of the general condition governing the conscious life of all forms, macrocosmic and microcosmic. They are not causes.

2. Sự thiếu hoà hợp này, vốn tạo ra điều chúng ta gọi là bệnh tật, xuyên suốt cả bốn giới trong thiên nhiên, gây ra những tình trạng dẫn đến đau đớn (ở nơi khả năng cảm thụ tinh tế và phát triển), và ở khắp nơi là sự ứ đọng, hư hoại và chết chóc. Hãy suy ngẫm những từ này: Bất Hoà, Bệnh Tật, Đau Đớn, Ứ Đọng, Hư Hoại, Chết Chóc, vì chúng mô tả tình trạng chung chi phối sự sống hữu thức của mọi hình tướng, thuộc đại thiên địa và tiểu thiên địa. Chúng không phải là nguyên nhân.

3. All these conditions, however, can be regarded as purificatory in their effects, and must be so regarded by humanity if the right attitude towards disease is to be assumed. This is oft forgotten by the fanatical healer and by the radical exponent of an idea, finitely grasped and in most cases only part of a greater idea. [13]

3. Tuy nhiên, có thể xem tất cả những tình trạng này là có tác dụng thanh lọc, và nhân loại phải nhìn nhận như vậy nếu muốn có thái độ đúng đắn đối với bệnh tật. Nhà trị liệu cuồng tín và người cổ suý cực đoan cho một ý tưởng thường quên điều này; ý tưởng ấy chỉ được nắm bắt trong giới hạn và trong hầu hết trường hợp chỉ là một phần của một ý tưởng lớn hơn. [13]

4. Methods of healing and techniques of alleviation are peculiar to humanity and are the result of man’s mental activity. They indicate his latent power as a creator, and as one who progresses towards freedom. They indicate his discriminative ability to sense perfection, to vision the goal, and hence to work towards that ultimate liberation. His error at this time consists in:

4. Các phương pháp trị liệu và kỹ thuật làm giảm đau yếu là nét riêng của nhân loại, và là kết quả của hoạt động trí tuệ con người. Chúng cho thấy quyền năng tiềm tàng của y với tư cách người sáng tạo và người đang tiến đến tự do. Chúng cho thấy khả năng phân biện của y để cảm nhận sự hoàn thiện, hình dung mục tiêu, và từ đó nỗ lực hướng đến sự giải thoát tối hậu ấy. Sai lầm hiện nay của y nằm ở:

a. His inability to see the true uses of pain.

a. Việc y không thể thấy những công dụng thực sự của đau đớn.

b. His resentment at suffering.

b. Sự oán giận của y đối với đau khổ.

c. His misunderstanding of the law of nonresistance.

c. Việc y hiểu sai định luật không kháng cự.

d. His over-emphasis of the form nature.

d. Việc y quá nhấn mạnh bản chất hình tướng.

e. His attitude to death, and his feeling that the disappearance of the life out of visual perception through the medium of form, and the consequent disintegration of that form, indicates disaster.

e. Thái độ của y đối với sự chết, và cảm nhận của y rằng việc sự sống không còn được nhìn thấy thông qua hình tướng, cùng sự tan rã tiếp theo của hình tướng ấy, báo hiệu một tai hoạ.

5. When human thought reverses the usual ideas as to disease, and accepts disease as a fact in nature, man will begin to work with the law of liberation, with right thought, leading to nonresistance. At present, by the power of his directed thought and his intense antagonism to disease, he only tends to energise the difficulty. When he reorients his thought to truth and the soul, physical plane ills will begin to disappear. This will become apparent as we study later the method of eradication. Disease exists. Forms in all kingdoms are full of inharmony and out of alignment with the indwelling life. Disease and corruption and the tendency towards dissolution are found everywhere. I am choosing my words with care.

5. Khi tư tưởng con người đảo ngược những ý niệm thông thường về bệnh tật và chấp nhận bệnh tật như một sự kiện trong thiên nhiên, con người sẽ bắt đầu làm việc với định luật giải thoát, bằng tư tưởng đúng đắn dẫn đến sự không kháng cự. Hiện nay, bằng sức mạnh của tư tưởng có định hướng và sự đối kháng mãnh liệt với bệnh tật, y chỉ có xu hướng tiếp thêm năng lượng cho vấn đề. Khi y tái định hướng tư tưởng về chân lý và linh hồn, những chứng đau yếu trên cõi hồng trần sẽ bắt đầu biến mất. Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi về sau chúng ta nghiên cứu phương pháp loại trừ tận gốc. Bệnh tật tồn tại. Các hình tướng trong mọi giới đều đầy bất hoà và thiếu chỉnh hợp với sự sống ngự bên trong. Bệnh tật, hư hoại và khuynh hướng tan rã hiện diện khắp nơi. Tôi đang lựa chọn từ ngữ một cách thận trọng.

6. Disease is not, therefore, the result of wrong human thought. It existed among the many forms of life long before the human family appeared on earth. If you seek verbal expression, and if you want to talk within the limits of the human mind, you can say with a measure of accuracy: God, [14] the planetary Deity, is guilty of wrong thinking. But you will not be expressing the truth, but only a tiny fraction of the cause, as it appears to your feeble finite mind, through the medium of the general world glamour and illusion.

6. Vì vậy, bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm nơi con người. Nó đã tồn tại trong nhiều hình thức sự sống từ rất lâu trước khi gia đình nhân loại xuất hiện trên Trái Đất. Nếu các bạn tìm cách diễn đạt bằng lời, và muốn nói trong giới hạn của thể trí con người, các bạn có thể nói với một mức độ chính xác nhất định: Thượng đế, [14] Đấng Thượng đế hành tinh, có lỗi tư duy sai lầm. Nhưng như thế các bạn không diễn đạt chân lý, mà chỉ một phần rất nhỏ của nguyên nhân, như nó hiện ra trước thể trí hữu hạn yếu ớt của các bạn, qua màn ảo cảm và ảo tưởng chung của thế giới.

7. From one angle, disease is a process of liberation, and the enemy of that which is static and crystallised. Think not, from what I say, that therefore disease should be welcomed, and that the process of death should be cherished. Were that the case, one would cultivate disease and put a premium on suicide. Fortunately for humanity, the whole tendency of life is against disease, and the reaction of the form life upon the thought of man fosters the fear of death. This has been rightly so, for the instinct of self-preservation and the preservation of form integrity is a vital principle in matter, and the tendency to self-perpetuation of the life within the form is one of our greatest God-given capacities and will persist. But in the human family this must eventually give place to the use of death as the organised, freeing process in order to conserve force and give to the soul a better instrument of manifestation. For this liberty of action, mankind as a whole is not yet ready. The disciples and aspirants of the world should now, however, begin to grasp these newer principles of existence. The instinct to self-preservation governs the relation of spirit and matter, of life and form as long as the Deity Himself wills to incarnate within His body of manifestation—a planet, or a solar system. I have in the above statement given to you a hint as to one of the basic causes of disease, and to the endless fight between the imprisoned spirit and the imprisoning form. This fight uses for its method that innate quality which expresses itself as the urge to preserve and the urge to perpetuate—both the present form and the species. [15]

7. Theo một góc nhìn, bệnh tật là một tiến trình giải thoát, và là kẻ thù của những gì tĩnh tại và kết tinh. Từ những điều Tôi nói, đừng nghĩ rằng vì thế cần hoan nghênh bệnh tật và trân quý tiến trình chết. Nếu như vậy, người ta sẽ nuôi dưỡng bệnh tật và đề cao việc tự sát. May thay cho nhân loại, toàn bộ khuynh hướng của sự sống đều chống lại bệnh tật, và phản ứng của sự sống hình tướng tác động lên tư tưởng con người nuôi dưỡng nỗi sợ chết. Điều này là đúng đắn, vì bản năng tự bảo tồn và giữ gìn sự toàn vẹn của hình tướng là một nguyên khí thiết yếu trong vật chất, và khuynh hướng tự duy trì của sự sống bên trong hình tướng là một trong những năng lực lớn lao nhất mà Thượng đế ban cho chúng ta, và sẽ còn tiếp tục tồn tại. Nhưng trong gia đình nhân loại, cuối cùng điều này phải nhường chỗ cho việc sử dụng sự chết như một tiến trình giải thoát có tổ chức nhằm bảo toàn mãnh lực và trao cho linh hồn một khí cụ biểu hiện tốt hơn. Toàn thể nhân loại vẫn chưa sẵn sàng cho quyền tự do hành động này. Tuy nhiên, các đệ tử và những người chí nguyện trên thế giới nay nên bắt đầu nắm bắt những nguyên khí hiện tồn mới mẻ hơn này. Bản năng tự bảo tồn chi phối mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, giữa sự sống và hình tướng chừng nào chính Thượng đế còn muốn nhập thể trong thân thể biểu hiện của Ngài—một hành tinh hay một hệ mặt trời. Trong phát biểu trên, Tôi đã trao cho các bạn một gợi ý về một trong những nguyên nhân cơ bản của bệnh tật, và về cuộc chiến không dứt giữa tinh thần bị giam cầm và hình tướng đang giam cầm nó. Cuộc chiến này sử dụng làm phương thức phẩm tính bẩm sinh biểu lộ thành thôi thúc bảo tồn và thôi thúc duy trì—cả hình tướng hiện tại lẫn loài. [15]

8. The law of cause and effect, called Karma in the East, governs all this. Karma must be regarded in reality as the effect (in the form life of our planet) of causes, deep-seated and hidden in the mind of God. The causes that we may trace in relation to disease and death are in reality only the working out of certain basic principles which govern—rightly or wrongly, who shall say?—the life of God in form, and they must ever remain incomprehensible to man until such time as he takes the great initiation which is symbolised for us in the Transfiguration. All along in our studies, we shall be dealing with secondary causes and their effects, with the phenomenal results of those subjective effects which emanate from causes too far away for us to grasp. This should be admitted and grasped. This is the best man can do with his present mental apparatus. When the intuition rarely works, and the mind is seldom illumined, why should man arrogantly expect to understand everything? Let him work at the development of his intuition and at achieving illumination. Understanding may then come his way. He will have earned the right to divine knowledge. But the above recognition will suffice for our work and will enable us to lay down those laws and principles which will indicate the way humanity may gain release from the form consciousness and consequent immunity from the victory of death and those disease-dealing conditions which govern today our planetary manifestation.

8. Định luật nhân quả, ở phương Đông gọi là Nghiệp quả, chi phối tất cả những điều này. Trên thực tế, phải xem nghiệp quả là hiệu quả (trong sự sống hình tướng của hành tinh chúng ta) của những nguyên nhân sâu xa và ẩn kín trong Trí của Thượng đế. Những nguyên nhân mà chúng ta có thể truy tìm liên quan đến bệnh tật và sự chết thực ra chỉ là sự triển khai của một số nguyên khí cơ bản chi phối—đúng hay sai, ai có thể nói được?—sự sống của Thượng đế trong hình tướng, và con người sẽ mãi không thể lĩnh hội chúng cho đến khi trải qua cuộc điểm đạo lớn lao mà sự Biến hình tượng trưng cho chúng ta. Xuyên suốt cuộc nghiên cứu, chúng ta sẽ bàn đến những nguyên nhân thứ cấp và các hiệu quả của chúng, đến những kết quả thuộc hiện tượng của các hiệu quả chủ quan phát sinh từ những nguyên nhân quá xa vời để chúng ta nắm bắt. Cần thừa nhận và nắm rõ điều này. Đó là điều tốt nhất con người có thể làm với bộ máy trí tuệ hiện tại của mình. Khi trực giác hiếm khi hoạt động và thể trí ít khi được soi sáng, tại sao con người lại ngạo mạn mong đợi thấu hiểu mọi điều? Hãy để y nỗ lực phát triển trực giác và đạt đến sự soi sáng. Khi ấy, sự thấu hiểu có thể đến với y. Y sẽ xứng đáng có quyền tiếp cận tri thức thiêng liêng. Nhưng sự nhìn nhận trên sẽ đủ cho công việc của chúng ta và cho phép chúng ta xác lập những định luật cùng nguyên khí chỉ ra con đường mà nhân loại có thể thoát khỏi tâm thức hình tướng, và nhờ đó không còn chịu sự chiến thắng của cái chết cùng những tình trạng gây bệnh đang chi phối sự biểu hiện hành tinh của chúng ta ngày nay.

We will divide our consideration of the causes of disease into three parts, eliminating from our quest for truth the quite understandable but equally futile desire to apprehend the mind of Deity.

Chúng ta sẽ chia việc xem xét các nguyên nhân của bệnh tật thành ba phần, loại khỏi cuộc tìm kiếm chân lý của mình mong muốn thấu hiểu Trí của Thượng đế, một mong muốn hoàn toàn dễ hiểu nhưng cũng hoàn toàn vô ích.

I. The psychological causes.

I. Các nguyên nhân tâm lý.

II. Causes emanating from group life.

II. Những nguyên nhân phát sinh từ đời sống nhóm.

III. Our karmic liabilities, the karmic causes.

III. Những gánh nặng nghiệp quả của chúng ta, các nguyên nhân nghiệp quả.

[16]

[16]

In all this we shall but gain a general idea (all that is now possible) as to the presence of disease in the human family, and of that to be found also, in part, in the animal kingdom. When this general idea is grasped, we shall have a clearer understanding of our problem and can then proceed with our consideration of the methods which will enable us to handle the undesirable effects with greater facility. Students of the Art of Healing should likewise remember that there are three ways in which healing can be brought about, and that all three ways have their place and value, dependent upon the point in evolution of the subject being healed.

Qua tất cả những điều này, chúng ta sẽ chỉ có được một ý niệm tổng quát (tất cả những gì hiện nay có thể đạt được) về sự hiện diện của bệnh tật trong gia đình nhân loại, và phần nào cả trong giới động vật. Khi nắm bắt được ý niệm tổng quát này, chúng ta sẽ thấu hiểu vấn đề của mình rõ hơn, rồi có thể tiếp tục xem xét những phương pháp cho phép xử lý các hiệu quả không mong muốn dễ dàng hơn. Các đạo sinh của Nghệ Thuật Trị Liệu cũng cần nhớ rằng có ba cách để thực hiện việc chữa lành, và cả ba đều có vị trí cùng giá trị riêng, tuỳ thuộc vào điểm tiến hoá của đối tượng được chữa lành.

First, there is the application of those palliatives and ameliorating methods which gradually cure disease and eliminate undesirable conditions; they build up the form life and foster the vitality, so that disease can be thrown off. Of these methods the allopathic and the homeopathic schools and the various osteopathic and chiropractic and other therapeutic schools are good exponents. They have done much good and constructive work, and the debt of humanity to the wisdom, skill and unselfish attentions of the physicians is great. They are dealing all the time with urgent conditions and dangerous effects of causes which are not apparent on the surface. Under these methods, the patient is in the hands of an outside party, and should be passive, quiescent and negative.

Thứ nhất là việc áp dụng những biện pháp giảm nhẹ và các phương pháp cải thiện giúp dần chữa khỏi bệnh và loại bỏ những tình trạng không mong muốn; chúng bồi đắp sự sống hình tướng và tăng cường sinh lực, để có thể đẩy lùi bệnh tật. Những đại diện tiêu biểu cho các phương pháp này là các trường phái y học đối chứng, vi lượng đồng căn, cùng các trường phái nắn xương, chỉnh cột sống và những trường phái trị liệu khác. Họ đã làm được nhiều công việc tốt đẹp và có tính xây dựng, và nhân loại mang ơn sâu sắc đối với minh triết, kỹ năng và sự chăm sóc vị tha của các thầy thuốc. Họ luôn phải xử lý những tình trạng cấp bách và những hiệu quả nguy hiểm của các nguyên nhân không biểu lộ trên bề mặt. Theo những phương pháp này, bệnh nhân được đặt trong tay một người bên ngoài, và nên thụ động, yên tĩnh, ở thế tiếp nhận.

Secondly, there is the appearance of the work and methods of the modern psychologist, who seeks to deal with subjective conditions and to straighten out those wrong attitudes of mind, those inhibitions, psychoses, and complexes which bring about the outer states or disease, the morbid conditions and neurotic and mental disasters. Under this method, the patient is taught to cooperate as much as he can with the psychologist, so that he may arrive at a proper [17] understanding of himself, and so learn to eradicate those inner compelling situations which are responsible for the outer results. He is trained to be positive and active, and this is a great step in the right direction. The tendency to combine psychology with the outer physical treatment is sound and right.

Thứ hai là sự xuất hiện của công việc và các phương pháp của nhà tâm lý học hiện đại, người tìm cách xử lý những tình trạng chủ quan và điều chỉnh các thái độ sai lầm của thể trí, những ức chế, loạn thần và phức cảm gây ra những trạng thái bên ngoài hay bệnh tật, những tình trạng bệnh lý và những tai biến về thần kinh cùng trí tuệ. Theo phương pháp này, bệnh nhân được hướng dẫn hợp tác hết khả năng với nhà tâm lý học, để y có thể đạt được sự [17] thấu hiểu đúng đắn về chính mình, và nhờ đó học cách loại bỏ tận gốc những tình trạng thôi thúc bên trong vốn gây ra các kết quả bên ngoài. Y được rèn luyện để chủ động và tích cực, và đây là một bước tiến lớn theo đúng hướng. Khuynh hướng kết hợp tâm lý học với việc điều trị thể chất bên ngoài là hợp lý và đúng đắn.

Thirdly, the highest and the newest method is that of calling into positive activity a man’s own soul. The true and the future healing is brought about when the life of the soul can flow without any impediment and hindrance throughout every aspect of the form nature. It can then vitalise it with its potency, and can also eliminate those congestions and obstructions which are such a fruitful source of disease.

Thứ ba, phương pháp cao nhất và mới nhất là khơi dậy hoạt động tích cực của chính linh hồn con người. Sự chữa lành đích thực, cũng là sự chữa lành của tương lai, diễn ra khi sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy khắp mọi phương diện của bản chất hình tướng mà không gặp bất kỳ trở ngại hay ngăn cản nào. Khi ấy, linh hồn có thể dùng sức mạnh của mình để tiếp sinh lực cho hình tướng, đồng thời loại bỏ những sự ứ đọng và tắc nghẽn vốn là nguồn phát sinh nhiều bệnh tật.

This gives you much to ponder upon. If we go slowly as regards the practical application of techniques and methods, it is because I seek to lay a sound foundation for that which I shall later impart.

Điều này mang lại cho các bạn nhiều điều để suy ngẫm. Nếu chúng ta tiến chậm trong việc áp dụng thực tiễn các kỹ thuật và phương pháp, thì đó là vì Tôi muốn đặt một nền tảng vững chắc cho những điều Tôi sẽ truyền đạt sau này.

THE TRAINING OF THE HEALER

VIỆC HUẤN LUYỆN NHÀ TRỊ LIỆU

As regards the training of the healer, I will give from time to time the six rules which govern (or should govern) his activity. Bear in mind the two words which I earlier gave. They sum up the healer’s story: MAGNETISM and RADIATION. They are different in their effects as we shall later see.

Về việc huấn luyện nhà trị liệu, thỉnh thoảng Tôi sẽ đưa ra sáu quy luật chi phối, hoặc cần phải chi phối, hoạt động của y. Hãy ghi nhớ hai từ Tôi đã đưa ra trước đây. Chúng tóm lược toàn bộ công việc của nhà trị liệu: TỪ ĐIỆN và BỨC XẠ. Như sau này chúng ta sẽ thấy, tác dụng của chúng khác nhau.

RULE ONE

Quy Luật I

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease, or may increase the so-called evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, trái tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ đó, y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành mang sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Công việc này chữa khỏi bệnh, hoặc có thể làm gia tăng tình trạng được gọi là xấu, tùy theo tri thức của nhà trị liệu.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the [18] soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, trái tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó, sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng [18] đời sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang bệnh nhân đối với bức xạ từ hào quang nhà trị liệu, vốn tràn ngập năng lượng linh hồn.

In considering the Causes of Disease, I find it necessary to speak a word in connection with conditions—external and internal. It will be apparent to the casual thinker that many diseases and many causes of death are due to environing conditions for which he is in no way responsible. These range all the way from purely external occurrences to hereditary predispositions. They might be listed as follows:

Khi xem xét các Nguyên Nhân của Bệnh Tật, Tôi thấy cần nói đôi lời về những điều kiện bên ngoài và bên trong. Ngay cả người chỉ suy nghĩ sơ qua cũng thấy rõ rằng nhiều bệnh tật và nhiều nguyên nhân tử vong bắt nguồn từ những điều kiện xung quanh mà người ấy hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Những điều kiện này trải rộng từ các sự việc hoàn toàn bên ngoài đến những khuynh hướng di truyền. Có thể liệt kê như sau:

1. Accidents, which may be due to personal negligence, group happenings, the carelessness of other people, and the results of fighting, as in labour strikes or war. They can also be brought about by attacks from the animal or the snake world, accidental poisonings and many other causes.

1. Tai nạn, có thể do sự sơ suất cá nhân, những biến cố tập thể, sự bất cẩn của người khác và hậu quả của những cuộc xung đột, như trong các cuộc đình công của công nhân hoặc chiến tranh. Tai nạn cũng có thể do động vật hoặc rắn tấn công, do vô tình bị ngộ độc và nhiều nguyên nhân khác.

2. Infections coming to a man from outside and not as the result of his own peculiar blood condition. Such infections are the various so-called infectious and contagious diseases, and prevalent epidemics. These may come to a man in the line of duty, through his daily contacts, or through a widespread condition of disease in his environment.

2. Sự nhiễm bệnh từ bên ngoài đến với một người, chứ không phải do tình trạng máu đặc thù của chính người ấy. Những sự nhiễm bệnh này bao gồm nhiều bệnh thường gọi là bệnh truyền nhiễm và bệnh lây lan, cùng các dịch bệnh đang hoành hành. Một người có thể nhiễm bệnh trong khi thi hành bổn phận, qua những tiếp xúc hằng ngày hoặc do tình trạng bệnh tật lan rộng trong môi trường của mình.

3. Diseases due to malnutrition, particularly when found in the young. This state of undernourishment predisposes the body to disease, lowers the resistance and the vitality, and of offsets the “fighting powers” of the man, leading to premature death.

3. Các bệnh do suy dinh dưỡng, đặc biệt ở người trẻ tuổi. Tình trạng thiếu dinh dưỡng này khiến cơ thể dễ mắc bệnh, làm giảm sức đề kháng và sinh lực, đồng thời hóa giải “sức chiến đấu” của con người, dẫn đến tử vong sớm.

4. Heredity. There are, as you well know, certain forms of hereditary weaknesses, which either predispose a person to certain illnesses and consequent death, or produce in him those conditions which lead to a steady weakening [19] of his hold on life; there are also those tendencies which constitute a form of dangerous appetite, which lead to undesirable habits, a letting down of the morale, and are dangerous to the will of the person, rendering him futile to fight these predispositions. He succumbs to them and pays the price of such habits, which is disease and death.

4. Di truyền. Như các bạn biết rõ, có những dạng suy yếu do di truyền khiến một người dễ mắc một số bệnh rồi tử vong, hoặc tạo ra nơi người ấy những tình trạng khiến khả năng duy trì sự sống ngày càng suy yếu [19]; cũng có những khuynh hướng tạo thành một dạng ham muốn nguy hiểm, dẫn đến những thói quen không mong muốn, sự sa sút tinh thần và gây nguy hại cho ý chí của người ấy, khiến y bất lực trong việc chống lại những khuynh hướng này. Y khuất phục chúng và phải trả giá cho những thói quen ấy bằng bệnh tật và cái chết.

These four types of disease and causes of death account for much that we see happening around us in people’s lives, but they are not to be classed definitely under any of the psychological causes of disease, and will only be considered, and that very briefly, under the section dealing with group life and its predisposing causes of disease. Infectious diseases are there dealt with, but such situations as arise out of an automobile or railroad accident, for instance, are not to be considered as coming under the heading of causes producing disease. That the work of the healer may be involved in these cases is quite true, but the work to be done is somewhat different to that accomplished when dealing with those diseases which have their roots in some subtle body or other, or in the results of group disease, etc. The ills growing out of malnutrition and the wrong feeding of our modern life and civilisation will not here be considered. For these no child is individually responsible. I am concerned with the diseases arising in wrong internal conditions.

Bốn loại bệnh tật và nguyên nhân tử vong này giải thích phần lớn những gì chúng ta thấy đang xảy ra xung quanh trong đời sống con người, nhưng không thể dứt khoát xếp chúng vào bất kỳ nguyên nhân tâm lý nào của bệnh tật. Chúng sẽ chỉ được xem xét rất ngắn gọn trong phần bàn về đời sống nhóm và những nguyên nhân khiến con người dễ mắc bệnh do đời sống ấy. Các bệnh truyền nhiễm sẽ được đề cập ở đó, nhưng chẳng hạn, những tình trạng phát sinh từ tai nạn ô tô hay đường sắt không thuộc mục các nguyên nhân gây bệnh. Đúng là công việc của nhà trị liệu có thể liên quan đến những trường hợp này, nhưng công việc cần làm có phần khác với công việc chữa trị những bệnh bắt nguồn từ một thể vi tế nào đó, hoặc từ hậu quả của bệnh tật nhóm, v.v. Những chứng bệnh phát sinh từ suy dinh dưỡng và chế độ ăn uống sai lầm trong đời sống và nền văn minh hiện đại của chúng ta sẽ không được xem xét ở đây. Không một đứa trẻ nào phải chịu trách nhiệm cá nhân về những điều ấy. Tôi quan tâm đến những bệnh phát sinh từ các tình trạng sai lệch bên trong.

The responsibility of a child for his living conditions is practically nil, unless you admit karma as a predisposing factor, and its power to produce those re-adjustments which emerge out of the past and affect the present. I shall deal with this more fully under our third point, dealing with our karmic liabilities. I would only suggest here that the whole subject of disease could be treated from the angle of karma and be definite and conclusive in its value [20] had there been right teaching on this abstruse subject from the time that it was given out in the West. But the truth as it has come to us from the East has been as much distorted by the Eastern theologian as the doctrines of the Atonement and of the Virgin Birth have been misinterpreted and taught by the Western theologian. The real truth bears little resemblance to our modern formulations. I am, therefore, seriously handicapped when dealing with the subject of disease from the angle of karma. It is difficult for me to convey to you anything of the truth as it really exists, owing to the pre-conceived ideas as to the ancient Law of Cause and Effect which are necessarily in your mind. When I say to you that the doctrine of Emergent Evolution and the modern theories of the work of a catalyst upon two substances which—when brought into relation with each other under the effect of the catalyst produce a third and different substance—carry in them much of the truth anent karma, will you understand? I question it. When I say to you that the emphasis given to the Law of Karma as it explains apparent injustices and stresses always the appearance of pain, disease, and suffering gives only partial presentation of the basic cosmic truth, is your mind in any way clarified? When I point out that the Law of Karma, rightly understood and rightly wielded, can bring that which produces happiness, good, and freedom from pain more easily than it brings pain, with its chain of consequences, do you feel able to grasp the significance of what I am saying?

Trách nhiệm của một đứa trẻ đối với điều kiện sống của mình hầu như bằng không, trừ khi các bạn thừa nhận nghiệp quả là một yếu tố tạo khuynh hướng, cùng quyền năng của nó trong việc tạo ra những sự điều chỉnh lại vốn xuất phát từ quá khứ và ảnh hưởng đến hiện tại. Tôi sẽ bàn đầy đủ hơn về điều này trong điểm thứ ba, đề cập đến những món nợ nghiệp quả của chúng ta. Ở đây, Tôi chỉ muốn gợi ý rằng toàn bộ chủ đề bệnh tật có thể được xem xét từ góc độ nghiệp quả và mang lại giá trị rõ ràng, xác đáng [20] nếu ngay từ khi chủ đề khó hiểu này được công bố ở phương Tây, người ta đã giảng dạy đúng đắn về nó. Nhưng chân lý từ phương Đông truyền đến chúng ta đã bị các nhà thần học phương Đông bóp méo chẳng kém gì các giáo lý về sự Chuộc Tội và sự Sinh Hạ Đồng Trinh đã bị các nhà thần học phương Tây diễn giải và giảng dạy sai lạc. Chân lý thực sự chẳng mấy giống với những cách trình bày hiện đại của chúng ta. Vì vậy, Tôi gặp trở ngại nghiêm trọng khi bàn về chủ đề bệnh tật từ góc độ nghiệp quả. Tôi khó có thể truyền đạt cho các bạn dù chỉ một phần chân lý đúng như nó thực sự tồn tại, do những định kiến về Định luật Nhân Quả cổ xưa tất yếu đang có trong thể trí các bạn. Khi Tôi nói với các bạn rằng học thuyết Tiến Hoá Đột Sinh và những lý thuyết hiện đại về tác động của chất xúc tác lên hai chất—khi hai chất này được đưa vào mối quan hệ với nhau dưới tác động của chất xúc tác thì tạo thành một chất thứ ba khác biệt—hàm chứa nhiều chân lý về nghiệp quả, liệu các bạn có thấu hiểu không? Tôi nghi ngờ điều đó. Khi Tôi nói với các bạn rằng việc nhấn mạnh Định luật Nghiệp Quả như một lời giải thích cho những bất công bề ngoài, và luôn chú trọng đến sự xuất hiện của đau đớn, bệnh tật và khổ đau, chỉ trình bày được một phần chân lý vũ trụ căn bản, liệu thể trí các bạn có sáng tỏ hơn chút nào không? Khi Tôi chỉ ra rằng Định luật Nghiệp Quả, nếu được thấu hiểu và vận dụng đúng đắn, có thể mang lại những gì tạo nên hạnh phúc, điều thiện và sự thoát khỏi đau đớn dễ dàng hơn là mang lại đau đớn cùng chuỗi hậu quả của nó, các bạn có cảm thấy mình nắm bắt được thâm nghĩa của điều Tôi đang nói không?

The world of glamour is at this time so strong and the sense of illusion so potent and vital that we fail to see these basic laws in their true significance.

Vào lúc này, thế giới ảo cảm quá mạnh, còn cảm nhận về ảo tưởng lại có sức mạnh và sức sống mãnh liệt đến mức chúng ta không thấy được thâm nghĩa đích thực của những định luật căn bản này.

The Law of Karma is not the Law of Retribution, as one would surmise as one reads the current books upon the subject; that is but one aspect of the working of the Law [21] of Karma. The Law of Cause and Effect is not to be understood as we now interpret it. There is, to illustrate, a law called the Law of Gravitation, which has long imposed itself upon the minds of men; such a law exists, but it is only an aspect of a greater law, and its power can be, as we know, relatively offset, for each time that we see an aeroplane soaring overhead, we see a demonstration of the offsetting of this law by mechanical means, symbolising the ease with which it can be surmounted by human beings. If they could but realise it, they are learning the ancient technique of which the power to levitate is one of the easiest and simplest initial exercises.

Định luật Nghiệp Quả không phải là Định luật Báo Ứng, như người ta có thể suy đoán khi đọc những cuốn sách hiện hành về chủ đề này; đó chỉ là một phương diện trong sự vận hành của Định luật [21] Nghiệp Quả. Không nên thấu hiểu Định luật Nhân Quả theo cách chúng ta đang diễn giải hiện nay. Để minh họa, có một định luật gọi là Định luật Hấp Dẫn, từ lâu đã ăn sâu vào thể trí con người; định luật ấy có tồn tại, nhưng chỉ là một phương diện của một định luật lớn hơn, và như chúng ta biết, có thể hóa giải quyền năng của nó ở mức tương đối. Bởi mỗi khi thấy một chiếc máy bay bay vút trên đầu, chúng ta thấy một minh chứng cho việc hóa giải định luật này bằng phương tiện cơ học, tượng trưng cho sự dễ dàng mà con người có thể vượt qua nó. Giá như họ nhận ra rằng mình đang học kỹ thuật cổ xưa mà trong đó khả năng nâng mình lơ lửng chỉ là một trong những bài tập khởi đầu dễ dàng và đơn giản nhất.

The Law of Consequences is not the inevitable and set affair which modern thought surmises, but is related to the Laws of Thought far more closely than has been believed; towards an understanding of this, mental science has been groping. Its orientation and purposes are right and good and hopeful of results; its conclusions and modes of work are at present woefully at fault, and most misleading.

Định luật Hệ Quả không phải là một cơ chế tất yếu và cố định như tư tưởng hiện đại suy đoán, mà liên hệ mật thiết với các Định luật Tư Tưởng hơn nhiều so với điều người ta từng tin; khoa học trí tuệ đã và đang dò dẫm hướng đến sự thấu hiểu điều này. Định hướng và mục đích của nó đúng đắn, tốt đẹp và hứa hẹn mang lại kết quả; hiện nay, những kết luận và phương thức hoạt động của nó lại sai lầm nghiêm trọng và gây hiểu lầm rất nhiều.

I have referred to this misunderstanding of the Law of Karma as I am anxious to have you set out on this study of the Laws of Healing with a free and open mind as far as may be, realising that your understanding of these laws is limited by:

Tôi đã đề cập đến sự hiểu lầm này về Định luật Nghiệp Quả vì Tôi tha thiết mong các bạn bắt đầu nghiên cứu các Định luật Chữa Lành với một thể trí tự do và cởi mở hết mức có thể, đồng thời nhận ra rằng sự thấu hiểu của các bạn về những định luật này bị giới hạn bởi:

1. Old theologies, with their static, distorted, and erroneous points of view. The teaching of theology is most misleading, but is, alas, generally accepted.

1. Những nền thần học cũ, với các quan điểm cố định, méo mó và sai lầm. Giáo huấn thần học gây hiểu lầm rất nhiều, nhưng đáng tiếc thay, nhìn chung vẫn được chấp nhận.

2. World thought, strongly tinged with the desire element, and with little in it of real thought. Men interpret these dimly sensed laws in terms of finality and from their little point of view. The idea of retribution runs through much of the teaching on Karma, for instance, because men seek a plausible explanation of things as [22] they appear to be, and are themselves fond of dealing out retribution. Yet there is far more general good karma than bad, little as you may think it when immersed in such a period as the present.

2. Tư tưởng thế giới, nhuốm đậm yếu tố dục vọng và chứa rất ít tư tưởng đích thực. Con người diễn giải những định luật mà họ chỉ cảm nhận lờ mờ này như thể đó là những kết luận chung cuộc, từ góc nhìn nhỏ hẹp của mình. Chẳng hạn, ý tưởng báo ứng xuyên suốt phần lớn giáo huấn về Nghiệp Quả, vì con người tìm kiếm một lời giải thích có vẻ hợp lý cho những sự việc đúng như [22] vẻ ngoài của chúng, và chính họ cũng thích giáng sự báo ứng lên người khác. Tuy nhiên, nghiệp quả tốt phổ biến hơn nghiệp quả xấu rất nhiều, dù các bạn khó nghĩ như vậy khi đắm mình trong một thời kỳ như hiện nay.

3. The world illusion and glamour, which prevents the average and ignorant man from seeing life as it truly is. Even the advanced man and the disciples are only beginning to get a fleeting and inadequate glance at a glorious reality.

3. Ảo tưởng và ảo cảm của thế giới, ngăn người bình thường và vô minh nhìn thấy đời sống đúng như thực trạng của nó. Ngay cả người tiến hóa cao và các đệ tử cũng chỉ mới bắt đầu thoáng thấy một thực tại huy hoàng, mà cái nhìn ấy vẫn chưa đầy đủ.

4. Uncontrolled minds and unreleased and unawakened brain cells also hinder man from correct realisation. This fact is often unrecognised. The apparatus of realisation is as yet inadequate. This point needs emphasising.

4. Những thể trí chưa được kiểm soát cùng các tế bào não chưa được giải phóng và đánh thức cũng cản trở con người nhận biết đúng đắn. Người ta thường không nhận ra sự thật này. Bộ máy nhận biết vẫn còn chưa đầy đủ. Điểm này cần được nhấn mạnh.

5. National and racial temperaments, with their predisposing temperaments, and prejudices. These factors again prevent a just appreciation of these realities.

5. Khí chất của các dân tộc và giống dân, cùng những khuynh hướng khí chất và thành kiến vốn có. Những yếu tố này cũng ngăn cản việc đánh giá đúng đắn các thực tại ấy.

I have given enough here to indicate to you the stupidity of attempting to state that you understand these laws towards which you are groping and which you seek to understand. Nowhere in human thought is the darkness greater than in connection with the laws concerning disease and death.

Những điều Tôi đã đưa ra ở đây đủ để chỉ cho các bạn thấy sự thiếu sáng suốt của việc cố khẳng định rằng mình thấu hiểu những định luật mà các bạn đang dò dẫm hướng tới và tìm cách thấu hiểu. Không có lĩnh vực nào trong tư tưởng nhân loại lại tăm tối hơn lĩnh vực liên quan đến những định luật về bệnh tật và cái chết.

It is necessary, therefore, to realise that, from the start, in all I have to say, under the heading The Psychological Causes of Disease, I am not dealing with those complaints or predispositions to disease which emerge out of the environment, or with those definitely physical taints which are inherited from parents who have carried in their bodies and transmitted to their children disease germs which they, in their turn, may have inherited from their parents. I would like to point out that these inherited diseases are far fewer than is at present surmised; of these, the predisposition [23] to tuberculosis, to syphilis and to cancer are the most important where our present humanity is concerned; they are inherited and also can be imparted by contact. These I will deal with under our second major heading on the diseases emanating from the group.

Vì vậy, ngay từ đầu, cần nhận ra rằng trong tất cả những điều Tôi trình bày dưới đề mục Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật, Tôi không bàn đến những chứng bệnh hay khuynh hướng dễ mắc bệnh phát sinh từ môi trường, cũng không bàn đến những mầm bệnh rõ rệt thuộc thể xác di truyền từ cha mẹ, những người mang trong cơ thể và truyền sang con cái các mầm bệnh mà đến lượt mình, họ có thể đã thừa hưởng từ cha mẹ của họ. Tôi muốn chỉ ra rằng những bệnh di truyền này ít hơn nhiều so với điều người ta hiện đang suy đoán; trong số đó, khuynh hướng [23] mắc bệnh lao, giang mai và ung thư là quan trọng nhất đối với nhân loại hiện nay; chúng có tính di truyền và cũng có thể lây qua tiếp xúc. Tôi sẽ bàn đến những bệnh này trong đề mục lớn thứ hai về các bệnh bắt nguồn từ nhóm.

CHAPTER I - The Psychological Causes of Disease – CHƯƠNG I - Các Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật

[24]

[24]

The point I would like to make here, before proceeding further, is that I shall seek to avoid, as far as possible, all technicalities. Our theme is the esoteric consideration of disease and its forms; it seeks to elucidate the subject of and the vital causes of such diseases, and to indicate the general laws with which the healer must work and the six rules which he must impose upon himself—and to which he gives obedience, through discipline and understanding.

Trước khi tiến xa hơn, điều Tôi muốn nêu rõ ở đây là Tôi sẽ cố gắng tránh mọi chi tiết chuyên môn trong chừng mực có thể. Chủ đề của chúng ta là việc xem xét bệnh tật và các dạng bệnh theo quan điểm nội môn; mục đích là làm sáng tỏ chủ đề này cùng những nguyên nhân sinh lực của các bệnh ấy, đồng thời chỉ ra những định luật chung mà nhà trị liệu phải vận dụng và sáu quy luật mà y phải tự đặt mình dưới sự chi phối—và tuân theo bằng kỷ luật cùng sự thấu hiểu.

You will have noted that I listed the psychological causes under four headings:

Các bạn hẳn đã nhận thấy rằng Tôi liệt kê các nguyên nhân tâm lý dưới bốn đề mục:

1. Those arising out of the emotional-feeling nature.

1. Những nguyên nhân phát sinh từ bản chất cảm xúc–cảm nhận.

2. Those which have their origin in the etheric body.

2. Những nguyên nhân bắt nguồn từ thể dĩ thái.

3. Those which are based on wrong thought.

3. Những nguyên nhân dựa trên tư tưởng sai lầm.

4. The peculiar complaints and psychological troubles of disciples.

4. Những chứng bệnh đặc thù và các rối loạn tâm lý của đệ tử.

It may have interested you to see that I place the ills of the etheric body in the second place and not the first. The reason for this is that the group ills and diseases which have fastened upon the race, work primarily through the etheric body and find their way out into manifestation via the etheric bodies of all forms. But I have placed them second, even though they are in the last analysis the most numerous, owing to the fact that humanity cannot as yet deal with [25] these en masse. The approach has to be through individuals, and men must clear their astral or emotional bodies of those conditions which pre-dispose them to disease, as individuals. At present, the race is astrally polarised. The emotional sentient nature is all-powerful in the masses. This leads to a relatively negative etheric body which is tuned in on the entire etheric substance of the planet. This substance, which underlies all forms, is simply a transferring and transmitting agency for vital energy to the outer dense physical body. Energy sweeps through this etheric substance, free from all control by the individual human being, and quite unrealised by him because his focus of attention is astral. From the astral or emotional state of consciousness, much concerning individual physical conditions can be deduced. We must, however, eliminate those ills which are group ills and which have swept into and through all mankind from the world of etheric force, leaving him in some way depleted, or overstimulated, or in such a condition that Death naturally supervenes. It might be stated as a basic generalisation that personal physical trouble has its seat at present in the emotional body, and that that vehicle of expression is the one predominant predisposing agent in the ill health of the individual, just as group ills and the sweep of epidemics of any kind through the masses are founded in some condition in the etheric substance of the planet. Those diseases which are general, national, racial and planetary find their way to an individual via his etheric body, but are not so personal in their implications. Upon this I will later enlarge. Today I but lay down the general proposition.

Có lẽ các bạn thấy thú vị khi nhận ra rằng Tôi đặt những chứng bệnh của thể dĩ thái ở vị trí thứ hai chứ không phải thứ nhất. Lý do là những chứng bệnh và bệnh tật nhóm đã bám chặt vào nhân loại chủ yếu tác động qua thể dĩ thái và đi vào biểu hiện thông qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng. Nhưng Tôi đặt chúng ở vị trí thứ hai, mặc dù xét đến cùng chúng chiếm số lượng lớn nhất, vì nhân loại vẫn chưa thể xử lý [25] chúng trên quy mô toàn thể. Cần tiếp cận thông qua từng cá nhân, và mỗi người phải thanh lọc thể cảm dục hay thể cảm xúc của mình khỏi những tình trạng khiến bản thân dễ mắc bệnh. Hiện nay, nhân loại phân cực cảm dục. Bản chất cảm xúc và cảm nhận có quyền lực áp đảo trong quần chúng. Điều này khiến thể dĩ thái tương đối thụ động, bắt nhịp với toàn bộ chất liệu dĩ thái của hành tinh. Chất liệu này, nằm bên dưới mọi hình tướng, chỉ là một tác nhân chuyển dịch và truyền dẫn năng lượng sinh lực đến thể xác đậm đặc bên ngoài. Năng lượng quét qua chất liệu dĩ thái này, hoàn toàn không chịu sự kiểm soát của cá nhân con người và y cũng hoàn toàn không nhận biết, vì sự chú ý của y tập trung vào cảm dục. Từ trạng thái tâm thức cảm dục hay cảm xúc, có thể suy ra nhiều điều về tình trạng thể xác của cá nhân. Tuy nhiên, chúng ta phải loại khỏi sự xem xét những chứng bệnh thuộc về nhóm đã từ thế giới mãnh lực dĩ thái tràn vào và quét qua toàn thể nhân loại, khiến con người suy kiệt theo một cách nào đó, hoặc bị kích thích quá mức, hoặc lâm vào tình trạng mà Cái Chết tự nhiên xảy đến. Có thể đưa ra một khái quát căn bản rằng hiện nay, những rối loạn thể xác cá nhân có căn nguyên trong thể cảm xúc, và hiện thể biểu đạt ấy là tác nhân chủ yếu tạo khuynh hướng sức khỏe kém của cá nhân; tương tự, các chứng bệnh nhóm và sự lan tràn của mọi loại dịch bệnh trong quần chúng đều bắt nguồn từ một tình trạng nào đó trong chất liệu dĩ thái của hành tinh. Những bệnh mang tính phổ biến, quốc gia, giống dân và hành tinh đến với một cá nhân qua thể dĩ thái của y, nhưng ý nghĩa của chúng ít mang tính cá nhân hơn. Sau này Tôi sẽ nói rộng thêm về điều này. Hôm nay, Tôi chỉ nêu luận điểm tổng quát.

I would also like to point out that the diseases for the masses, for the average citizen, for the intelligentsia, and for the disciples of the world may, and do, differ widely—not so much in their expression as in their field of expression. [26] This is a point most difficult for the average healer to recognise; it is not easy or possible for him to grasp these distinctions and to gauge the point in evolution which a man may have reached. Some diseases must be dealt with from the mental plane, and will call in the mind of the healer; others require a concentration of emotional energy by the healing agent; and again, in other cases, the healer should seek to be only a transmitter of pranic energy to the etheric body of the patient, via his own etheric body. How many healers are really consciously aware of the focus of the consciousness or the life force in the patient with whom they may be concerned? How many realise anything of the type of healing which it is possible and necessary to apply to a disciple? How few realise that no disciple, for instance, can place himself in the hands of the average magnetic healer or radiatory worker, or psychological expert of any kind! A disciple dare not subject himself to the auric emanations of any chance healer, nor put himself in the power of the inexperienced academic psychologist, no matter how prominent he may be. He may, however, subject himself to the wise skill of the physical plane physician or surgeon, as—for him—the physical body is but an automaton. He can therefore avail himself of physical means for its benefiting. Much of the failure of the healing methods at present employed consists in the inability of the healer to:

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng bệnh tật của quần chúng, của người dân bình thường, của giới trí thức và của các đệ tử trên thế giới có thể khác nhau rất nhiều, và thực tế là như vậy—khác biệt không hẳn ở cách biểu hiện mà ở lĩnh vực biểu hiện. [26] Đây là một điểm mà nhà trị liệu bình thường rất khó nhận ra; y không dễ hoặc không thể nắm bắt những khác biệt này và đánh giá điểm tiến hoá mà một người có thể đã đạt tới. Một số bệnh phải được xử lý từ cõi trí và đòi hỏi vận dụng thể trí của nhà trị liệu; những bệnh khác đòi hỏi người thực hiện việc chữa lành tập trung năng lượng cảm xúc; trong những trường hợp khác nữa, nhà trị liệu nên chỉ tìm cách truyền năng lượng prana đến thể dĩ thái của bệnh nhân thông qua thể dĩ thái của chính mình. Có bao nhiêu nhà trị liệu thực sự ý thức rõ tâm thức hay mãnh lực sự sống tập trung ở đâu trong bệnh nhân mà họ đang chữa trị? Có bao nhiêu người nhận biết được đôi chút về loại hình chữa lành có thể và cần phải áp dụng cho một đệ tử? Thật ít người nhận ra rằng chẳng hạn, không một đệ tử nào có thể phó mình cho một nhà trị liệu từ tính thông thường, một người hoạt động bằng bức xạ thông thường hay một chuyên gia tâm lý thuộc bất kỳ loại nào! Một đệ tử không dám để mình chịu những phát xạ hào quang của bất kỳ nhà trị liệu tình cờ nào, cũng không đặt mình dưới quyền chi phối của một nhà tâm lý học hàn lâm thiếu kinh nghiệm, dù người ấy nổi tiếng đến đâu. Tuy nhiên, y có thể giao mình cho tài năng sáng suốt của một bác sĩ hay nhà phẫu thuật trên cõi hồng trần, vì đối với y, thể xác chỉ là một bộ máy tự động. Do đó, y có thể sử dụng các phương tiện hồng trần để mang lại lợi ích cho thể xác. Phần lớn thất bại của những phương pháp chữa lành hiện đang được sử dụng nằm ở chỗ nhà trị liệu không có khả năng:

1. Gauge the extent of the trouble, where it may be located basically, and in what body it principally arises and lies.

1. Đánh giá mức độ của rối loạn, vị trí căn bản của nó có thể ở đâu, và nó chủ yếu phát sinh, khu trú trong thể nào.

2. Know where the patient stands upon the ladder of evolution, and where, therefore, he must look first for the source of the difficulty.

2. Biết bệnh nhân đang đứng ở đâu trên thang tiến hoá, và do đó, trước tiên phải tìm nguồn gốc của khó khăn ở đâu.

3. Differentiate between the diseases which are due to inner personal conditions, or to inherited tendencies, or to group distribution. [27]

3. Phân biệt những bệnh do tình trạng cá nhân bên trong, do khuynh hướng di truyền hay do sự lan truyền trong nhóm. [27]

4. To know whether the disease should be handled,

4. Biết nên xử lý bệnh theo cách nào,

a. Allopathically or homeopathically, for both can play their part at times, or through any of the other media of modern skill and science.

a. Bằng liệu pháp đối chứng hay vi lượng đồng căn, vì đôi khi cả hai đều có thể đóng vai trò của mình, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện nào khác của kỹ thuật và khoa học hiện đại.

b. Through radiation or magnetisation, or both.

b. Thông qua bức xạ hoặc từ hóa, hoặc cả hai.

c. Through right inner psychological adjustment, aided by true insight on the part of the healing agent.

c. Thông qua sự điều chỉnh tâm lý đúng đắn bên trong, với sự hỗ trợ từ khả năng thấu xét đích thực của người thực hiện việc chữa lành.

d. Through calling in the power of a man’s own soul—a thing that is not possible except to advanced people.

d. Thông qua việc khơi dậy quyền năng của chính linh hồn con người—điều chỉ có thể thực hiện ở những người tiến hóa cao.

e. Through definite occult means, such as forming a healing triangle of—

e. Thông qua những phương tiện huyền bí cụ thể, chẳng hạn như lập một tam giác chữa lành gồm—