Trích nội dung chương
This method involves much knowledge and a high point of spiritual attainment on the part of the healer;—it also presupposes the healer’s link with a Master and the Master’s group, plus the earned right to call upon that group for energy on behalf of the patient—a thing as yet rarely granted. Phương pháp này đòi hỏi nhà trị liệu có nhiều tri thức và đạt mức thành tựu tinh thần cao;—nó cũng giả định rằng nhà trị liệu có mối liên kết với một Chân sư và nhóm của Ngài, đồng thời đã đạt được quyền kêu gọi nhóm ấy cung cấp năng lượng cho bệnh nhân—một điều cho đến nay vẫn hiếm khi được cho phép.
This method involves much knowledge and a high point of spiritual attainment on the part of the healer;—it also presupposes the healer’s link with a Master and the Master’s group, plus the earned right to call upon that group for energy on behalf of the patient—a thing as yet rarely granted.
Phương pháp này đòi hỏi nhà trị liệu có nhiều tri thức và đạt mức thành tựu tinh thần cao;—nó cũng giả định rằng nhà trị liệu có mối liên kết với một Chân sư và nhóm của Ngài, đồng thời đã đạt được quyền kêu gọi nhóm ấy cung cấp năng lượng cho bệnh nhân—một điều cho đến nay vẫn hiếm khi được cho phép.
I would like first of all to point out that my purpose and intent is not to write a medical treatise. I shall not, therefore, deal with the anatomy of the body, nor shall I discuss the symptoms of diseases, except quite incidentally. I do not intend to elaborate symptoms or consider the many [28] diseases with long names which distinguish the race at this time; all such information you can gather from the ordinary textbooks, if you so choose, and these you can study, if you care to do so. I find it personally not particularly satisfying. We will start with the premise that there is disease; that disease is an effect of inner causes; that man has made as vast strides in the understanding of the effect of these causes as they produce changes in the outer garment of man, as science has made in the understanding of the outer garment of God, the world of phenomenal nature.
Trước hết, Tôi muốn chỉ ra rằng mục đích và ý định của Tôi không phải là viết một khảo luận y học. Vì vậy, Tôi sẽ không bàn về giải phẫu cơ thể, cũng không thảo luận các triệu chứng bệnh, trừ khi tình cờ cần nhắc đến. Tôi không có ý định trình bày tỉ mỉ các triệu chứng hay xem xét nhiều [28] bệnh mang những tên dài vốn là đặc trưng của nhân loại hiện nay; nếu muốn, các bạn có thể thu thập mọi thông tin như thế từ những sách giáo khoa thông thường và nghiên cứu chúng nếu các bạn quan tâm. Về phần mình, Tôi thấy điều đó không đặc biệt thỏa đáng. Chúng ta sẽ bắt đầu từ tiền đề rằng bệnh tật có tồn tại; rằng bệnh tật là một hệ quả của các nguyên nhân bên trong; rằng con người đã có những bước tiến lớn lao trong việc thấu hiểu tác động của các nguyên nhân này khi chúng tạo ra những biến đổi trong lớp áo bên ngoài của con người, cũng như khoa học đã có những bước tiến lớn lao trong việc thấu hiểu lớp áo bên ngoài của Thượng đế, tức thế giới tự nhiên biểu hiện.
The ameliorative and palliative and curative work of medicine and surgery are proved beyond all controversial discussion. The methods employed, such as the vivisection of animals, may rightly cause distress. In spite of all this the indebtedness of mankind to the medical profession is great, and the service rendered to humanity by the profession does largely offset the evil. That they know not everything is true; that there is a small percentage of physicians and surgeons (less than in any other profession) who are self-seeking and no credit to their craft is equally true; that they already know enough to be willing to admit how very much more there is to be known is also correct. But that it is a great and good and self-sacrificing group within the human family, is equally true. Forget this not.
Tác dụng cải thiện, xoa dịu và chữa trị của y học và phẫu thuật đã được chứng minh, không còn gì phải tranh luận. Những phương pháp được sử dụng, chẳng hạn như mổ xẻ động vật sống, có thể gây đau lòng một cách chính đáng. Bất chấp tất cả những điều này, nhân loại mang ơn ngành y rất nhiều, và sự phụng sự mà ngành này cống hiến cho nhân loại phần lớn hóa giải những điều xấu ấy. Đúng là họ chưa biết mọi điều; cũng đúng là có một tỷ lệ nhỏ các bác sĩ và nhà phẫu thuật, ít hơn trong bất kỳ ngành nghề nào khác, chỉ mưu cầu lợi ích riêng và không làm vẻ vang cho nghề nghiệp; cũng đúng là họ đã biết đủ để sẵn lòng thừa nhận còn rất nhiều điều cần phải biết thêm. Nhưng cũng đúng rằng đây là một tập thể lớn lao, tốt đẹp và biết hy sinh trong gia đình nhân loại. Đừng quên điều này.
I deal with the subjective aspect of man, and with the secondary causes which have their roots in man’s inner bodies and in the subjective side of nature itself. The major primary causes, as I earlier explained, are impossible for you to grasp. They lie beyond the capacity of the concrete mind. I seek to make clear what man may do to free himself increasingly from the accumulation of the past, both individually and as a group, and in so doing to clear his physical body of the germs of disease. It must, however, be borne in mind that many diseases are of a group [29] nature, and are consequently inherent in humanity itself. Just as the insect world devastates and destroys the vegetable kingdom, as any chance walker through the woods can note, so germs—individual and group—today devastate and destroy the human kingdom. They are agents of destruction and are performing a definite office and duty in the great scheme of things at present.
Tôi bàn đến phương diện chủ quan của con người và những nguyên nhân thứ cấp bắt rễ trong các thể bên trong của con người cũng như trong phương diện chủ quan của chính tự nhiên. Như Tôi đã giải thích trước đây, các bạn không thể nắm bắt những nguyên nhân sơ cấp chủ yếu. Chúng vượt quá khả năng của trí cụ thể. Tôi tìm cách làm rõ những gì con người có thể làm để ngày càng giải thoát mình khỏi những tích lũy của quá khứ, cả với tư cách cá nhân lẫn tập thể, và qua đó thanh lọc thể xác khỏi các mầm bệnh. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng nhiều bệnh mang bản chất nhóm [29] và do đó vốn có trong chính nhân loại. Cũng như thế giới côn trùng tàn phá và hủy diệt giới thực vật, điều mà bất kỳ người tình cờ dạo bước trong rừng nào cũng có thể nhận thấy, ngày nay các mầm bệnh—cá nhân và nhóm—cũng tàn phá và hủy diệt giới nhân loại. Chúng là những tác nhân hủy diệt và hiện đang thực hiện một chức năng cùng bổn phận nhất định trong trật tự rộng lớn của vạn vật.
The intent is for men to die, as every man has to die, at the demand of this own soul. When man has reached a higher stage in evolution, with deliberation and definite choice of time, he will consciously withdraw from his physical body. It will be left silent and empty of the soul; devoid of light, yet sound and whole: it will then disintegrate, under the natural process, and its constituent atoms will pass back into “the pool of waiting units,” until they are again required for the use of incarnating souls. Again, on the subjective side of life, the process is repeated, but many have already learnt to withdraw from the astral body without being subject to that “impact in the fog,” which is the symbolic way of describing the death of a man upon the astral plane. He then withdraws on to the mental level, and leaves his astral carcass to swell the fog and increase its density.
Chủ đích là con người chết, như mọi người đều phải chết, theo yêu cầu của chính linh hồn mình. Khi đạt đến một giai đoạn tiến hoá cao hơn, con người sẽ có ý thức rút khỏi thể xác, với sự cân nhắc và lựa chọn thời điểm rõ ràng. Thể xác sẽ nằm lại im lặng, vắng bóng linh hồn; không còn ánh sáng, nhưng vẫn lành mạnh và nguyên vẹn: rồi nó sẽ phân rã theo tiến trình tự nhiên, và các nguyên tử cấu thành nó sẽ trở về “kho các đơn vị đang chờ đợi”, cho đến khi lại cần đến chúng để phục vụ những linh hồn đang nhập thể. Ở phương diện chủ quan của sự sống, tiến trình này cũng lặp lại, nhưng nhiều người đã học được cách rút khỏi thể cảm dục mà không phải chịu “cú va chạm trong sương mù”, một cách mô tả mang tính biểu tượng về cái chết của con người trên cõi cảm dục. Sau đó, y rút lên cõi trí và bỏ lại xác thể cảm dục để làm đám sương mù thêm lớn và thêm đậm đặc.
I seek to point out, therefore, that my avoidance of medical technicalities will be deliberate, though we shall refer often to the physical body and to the diseases of which it is a prey.
Vì vậy, Tôi muốn chỉ ra rằng việc tránh những chi tiết chuyên môn y học là có chủ ý, mặc dù chúng ta sẽ thường xuyên đề cập đến thể xác và những bệnh mà nó phải chịu.
Secondly, I seek today to give you another of the Laws of Healing, as well as one of the Rules for the Healer. Study these with care.
Thứ hai, hôm nay Tôi muốn đưa ra cho các bạn một Định luật Chữa Lành khác, cùng một Quy luật dành cho Nhà Trị Liệu. Hãy nghiên cứu kỹ những điều này.
LAW II
ĐỊNH LUẬT II
Disease is the Product of, and subject to, three influences. First, a man’s past, wherein he pays the price of [30] ancient error. Second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin. Thirdly, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called “The Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to that new Law of Ancient Dominating Good which lies behind all that God made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.
Bệnh tật là sản phẩm của ba ảnh hưởng và chịu sự chi phối của chúng. Thứ nhất, quá khứ của con người, trong đó y trả giá cho [30] những sai lầm xa xưa. Thứ hai, di sản thừa hưởng của y, trong đó y cùng toàn thể nhân loại chia sẻ những dòng năng lượng ô nhiễm có nguồn gốc nhóm. Thứ ba, y cùng mọi hình tướng tự nhiên chia sẻ điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thân thể Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”. Một ngày nào đó, định luật này phải nhường chỗ cho Định luật mới về Điều Thiện Cổ Xưa Chiếm Ưu Thế, vốn nằm sau mọi điều Thượng đế tạo ra. Ý chí tinh thần của con người phải đưa định luật này vào hoạt động.
What is a law, my brother? It is the imposition (upon both the lesser and the more important) of the will and purpose of that which is superlatively great. Therefore, it lies beyond man’s ken. Man has some day to learn that all the laws of nature have their higher, spiritual counterparts, and of these we shall shortly be in search. Our laws today are but secondary laws. They are the laws of group life and they govern the kingdoms of nature and find their expression (for the human kingdom) through the medium of the mind, of the emotional nature, and through a physical plane agent. It is not my intention in this present short treatise to elucidate the primary laws. I but state them, and at a future time (dependent upon certain factors yet undeveloped) I may deal with them.
Huynh đệ của tôi, định luật là gì? Đó là sự áp đặt ý chí và mục đích của cái vĩ đại tột bậc lên cả cái nhỏ hơn lẫn cái quan trọng hơn. Vì vậy, nó nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Một ngày nào đó, con người phải học được rằng mọi định luật tự nhiên đều có những đối phần tinh thần cao hơn, và chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ tìm kiếm những đối phần ấy. Các định luật của chúng ta ngày nay chỉ là những định luật thứ cấp. Chúng là các định luật của đời sống nhóm, chi phối các giới trong tự nhiên và biểu hiện, đối với giới nhân loại, thông qua thể trí, bản chất cảm xúc và một tác nhân trên cõi hồng trần. Trong khảo luận ngắn này, Tôi không có ý định làm sáng tỏ những định luật sơ cấp. Tôi chỉ nêu chúng ra, và vào một thời điểm trong tương lai, tùy thuộc vào một số yếu tố hiện chưa phát triển, Tôi có thể bàn đến chúng.
In this treatise, the third part of it is stated to deal with the basic laws of Healing. These deal not with the Laws referred to above, but with the practical aspects of the healing art.
Trong khảo luận này, phần thứ ba được xác định là bàn về các định luật căn bản của việc Chữa Lành. Phần này không đề cập đến những Định luật nói trên, mà bàn đến các phương diện thực tiễn của nghệ thuật chữa lành.
The second rule for the healer is as follows:
Quy luật thứ hai dành cho nhà trị liệu như sau:
RULE TWO
Quy Luật II
The healer must achieve magnetic purity through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation too goes forth. [31]
Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính thông qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được sự chói rạng có sức xua tan, vốn biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các luân xa trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ cũng phát ra. [31]
The significance of this will be somewhat apparent to the advanced esoteric student. As you know, the magnetic field is established when the powerful vibration of the centre in front of the pituitary body, and the centre around and above the pineal gland, swing into each other’s orbit. The only controversial point in connection with the above rule (which we shall have later to consider) is how and in what manner magnetic purity is to be achieved, and how the two centres in the head can form together one magnetic field. Later, in our conclusion, which is intended to be intensely practical, I will touch upon these two points.
Thâm nghĩa của điều này sẽ phần nào rõ ràng đối với đạo sinh nội môn tiến bộ. Như các bạn biết, trường từ tính được thiết lập khi rung động mạnh mẽ của trung tâm phía trước tuyến yên và trung tâm quanh cũng như phía trên tuyến tùng đi vào quỹ đạo của nhau. Điểm duy nhất còn gây tranh luận liên quan đến quy luật trên, mà sau này chúng ta sẽ phải xem xét, là làm thế nào và bằng cách nào có thể đạt được sự thanh khiết từ tính, và làm thế nào hai trung tâm trong đầu có thể cùng nhau tạo thành một trường từ tính. Sau này, trong phần kết luận vốn nhằm mang tính thực tiễn cao, Tôi sẽ đề cập đến hai điểm này.
One of the things which should definitely emerge in our studies is the fact that disease is seldom of individual origin, unless a man misspends his life and definitely misuses his body (through drink or sexual dissipation), and that the bulk of the disease to be found in the world today is almost entirely of group origin, is inherited, is the result of infection, or the result of undernourishment. The last named cause is primarily an evil of civilisation; it is the result of economic maladjustment or the corruption of food. As I earlier pointed out, these latter causes of disease are not primarily the result of inner subtle forces, but are the pouring upwards, into the etheric body, of energies from the physical plane itself and from the outer world of forces.
Một trong những điều cần phải nổi bật rõ ràng qua việc nghiên cứu của chúng ta là bệnh tật hiếm khi có nguồn gốc cá nhân, trừ khi một người phung phí đời mình và rõ ràng lạm dụng thân thể qua việc uống rượu hay trụy lạc tình dục; phần lớn bệnh tật hiện có trên thế giới hầu như hoàn toàn có nguồn gốc nhóm, do di truyền, do lây nhiễm hoặc do thiếu dinh dưỡng. Nguyên nhân cuối cùng này chủ yếu là một tệ nạn của nền văn minh; nó là hậu quả của sự mất cân đối kinh tế hoặc thực phẩm hư hỏng. Như Tôi đã chỉ ra trước đây, những nguyên nhân bệnh tật vừa nêu chủ yếu không phải là kết quả của các mãnh lực vi tế bên trong, mà là những năng lượng từ chính cõi hồng trần và từ thế giới mãnh lực bên ngoài tuôn lên thể dĩ thái.
Little attention has been paid by occult teachers to these forces which come from without, which originate upon the physical plane, and which affect the inner bodies. There are physical energy and streams of force entering into the etheric bodies of all forms, just as the world illusion and the miasmas of the astral plane oft have their causes in physical plane conditions. The energies entering into the centres of man from the subtler levels have oft been considered in occult books, but the forces which find their way into the centres from the world of physical plane life [32] are seldom realised or discussed. This is a somewhat new thought which I offer for your consideration.
Các huấn sư huyền bí ít chú ý đến những mãnh lực từ bên ngoài này, vốn bắt nguồn trên cõi hồng trần và tác động đến các thể bên trong. Có năng lượng hồng trần và những dòng mãnh lực đi vào các thể dĩ thái của mọi hình tướng, cũng như ảo tưởng thế giới và những chướng khí của cõi cảm dục thường bắt nguồn từ các điều kiện trên cõi hồng trần. Những cuốn sách huyền bí thường xem xét các năng lượng đi vào những trung tâm của con người từ các cấp độ vi tế hơn, nhưng hiếm khi nhận biết hay thảo luận những mãnh lực tìm đường vào các trung tâm từ thế giới sự sống trên cõi hồng trần [32]. Đây là một ý tưởng tương đối mới mà Tôi đưa ra để các bạn suy xét.
I have asked A.A.B. to insert a very brief synopsis of some of the points I have already made under the heading, What is Disease? I suggest the following:
Tôi đã yêu cầu A.A.B. chèn một bản tóm lược rất ngắn về một số điểm Tôi đã nêu dưới đề mục Bệnh Tật Là Gì? Tôi đề nghị những điểm sau:
1. All disease is disharmony and lack of alignment and control.
1. Mọi bệnh tật đều là sự bất hòa và thiếu chỉnh hợp cũng như kiểm soát.
a. Disease is found in all the four kingdoms in nature.
a. Bệnh tật hiện diện trong cả bốn giới của tự nhiên.
b. Disease is purificatory in effect.
b. Bệnh tật có tác dụng thanh lọc.
c. Definite methods of healing are peculiar to humanity, and mental in origin.
c. Những phương pháp chữa lành cụ thể là đặc thù của nhân loại và có nguồn gốc trí tuệ.
2. Disease is a fact in nature.
2. Bệnh tật là một sự thật trong tự nhiên.
a. Antagonism to disease simply energises it.
a. Sự chống đối bệnh tật chỉ tiếp thêm năng lượng cho nó.
b. Disease is not the result of wrong human thought.
b. Bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm của con người.
3. Disease is a process of liberation and the enemy of that which is static.
3. Bệnh tật là một tiến trình giải thoát và là kẻ thù của những gì cố định.
4. The law of cause and effect governs disease as it governs all else in manifestation.
4. Định luật nhân quả chi phối bệnh tật cũng như chi phối mọi điều khác trong sự biểu hiện.
We found also that healing is brought about in three ways:
Chúng ta cũng đã thấy rằng sự chữa lành diễn ra theo ba cách:
1. Through the application of the methods of the many schools of medicine and surgery, and allied groups.
1. Thông qua việc áp dụng các phương pháp của nhiều trường phái y học, phẫu thuật và những nhóm liên quan.
2. Through the use of psychology.
2. Thông qua việc sử dụng tâm lý học.
3. Through the activity of the soul.
3. Thông qua hoạt động của linh hồn.
I have also stated that the major causes of disease are three in number: they are psychological in nature; they are inherited through group contact; and they are karmic. Remember, however, that these are the secondary causes and with the first of these we will now deal.
Tôi cũng đã nêu rằng có ba nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật: chúng mang bản chất tâm lý; chúng được thừa hưởng qua tiếp xúc nhóm; và chúng thuộc về nghiệp quả. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng đây là những nguyên nhân thứ cấp, và giờ đây chúng ta sẽ bàn đến nguyên nhân thứ nhất.
1. CAUSES ARISING IN THE EMOTIONAL-DESIRE NATURE – 1. CÁC NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG BẢN CHẤT CẢM XÚC–DỤC VỌNG
[33]
[33]
In A Treatise on White Magic, I gave the world for the first time information as to the nature and the control of the astral body. This book is practically the first one ever given out to the public on this theme. Much has been given in the past on the subject of the physical body and its care, both by exoteric and esoteric science. Much of it is true, and some of it is illusion. It is illusion because it is based on false premises. Modern esotericists have dealt with the subject of the etheric body, and this too has been partially true and partially false, but it is more generally true from the occult point of view than it is exoterically. I may surprise you here if I tell you that A Treatise on White Magic is also true as far as it goes, but it is necessarily limited, and because of these limitations it is also partially incorrect. Does the above statement astonish you? Remember, how can it be entirely true when we consider the limitations of your power to comprehend? It is impossible for me to convey to you the truth, because there exist neither the terminology nor an adequate groundwork of knowledge on your part. This makes my task difficult. This teaching on healing is likewise the hardest I have yet undertaken, and this for two reasons. First (the real nature of) the phrase “subtler bodies” is somewhat meaningless, is it not? They are not bodies like the physical body. They can be regarded as centres or reservoirs of particular types of force, attached to each individual, and possessing their proper inlets and outlets. They are collections of atoms, vibrating at high speed and coloured (according to some schools of occultism) by certain definite hues; they emit a certain tone, and are at varying points of evolution. According to others, they are states of consciousness and some regard them as made in the likeness of a man. What is your definition, Brother of mine?
Trong Luận về Chánh Thuật, lần đầu tiên Tôi cung cấp cho thế giới thông tin về bản chất và sự kiểm soát thể cảm dục. Cuốn sách này thực tế là cuốn đầu tiên được công bố cho công chúng về chủ đề ấy. Trong quá khứ, cả khoa học ngoại môn lẫn nội môn đều đã cung cấp nhiều điều về thể xác và cách chăm sóc nó. Phần lớn những điều ấy là đúng, còn một phần là ảo tưởng. Đó là ảo tưởng vì dựa trên những tiền đề sai lầm. Các nhà bí truyền học hiện đại đã bàn đến chủ đề thể dĩ thái, và điều này cũng đúng một phần, sai một phần, nhưng nhìn chung đúng theo quan điểm huyền bí hơn là theo quan điểm ngoại môn. Ở đây, có thể Tôi khiến các bạn ngạc nhiên nếu nói rằng Luận về Chánh Thuật cũng đúng trong phạm vi trình bày của nó, nhưng tất yếu có giới hạn, và do những giới hạn này, nó cũng có phần không chính xác. Lời phát biểu trên có khiến các bạn kinh ngạc không? Hãy nhớ rằng làm sao nó có thể hoàn toàn đúng khi chúng ta xét đến những giới hạn trong khả năng lĩnh hội của các bạn? Tôi không thể truyền đạt chân lý cho các bạn, vì chưa có thuật ngữ thích hợp, và về phía các bạn cũng chưa có một nền tảng tri thức đầy đủ. Điều này khiến nhiệm vụ của Tôi trở nên khó khăn. Giáo huấn về chữa lành này cũng là công việc khó khăn nhất mà Tôi từng đảm nhận cho đến nay, vì hai lý do. Thứ nhất, chẳng phải cụm từ “các thể vi tế hơn” thực ra có phần vô nghĩa khi xét đến bản chất đích thực của chúng hay sao? Chúng không phải là những thân thể như thể xác. Có thể xem chúng là những trung tâm hay kho chứa các loại mãnh lực riêng biệt, gắn với từng cá nhân và có những lối vào, lối ra thích hợp. Chúng là những tập hợp nguyên tử, rung động với tốc độ cao và, theo một số trường phái huyền bí học, mang những sắc màu nhất định; chúng phát ra một âm thanh nhất định và ở những điểm tiến hoá khác nhau. Theo những trường phái khác, chúng là các trạng thái tâm thức, còn một số người xem chúng có hình dạng giống con người. Huynh đệ của tôi, định nghĩa của huynh đệ là gì?
[34]
[34]
The astral body is, for the majority of mankind, the major determining factor to be considered. It is an outstanding cause of ill health. The reason for this is that it has a potent and predisposing effect upon the vital and etheric body. The physical body is an automaton of whichever inner body is the strongest. When you remember that the vital body is the recipient of the streams of energy, and is in fact composed and formed of such streams, and that the physical body is driven into activity by these streams, it is apparent that that stream which is the most potent is the one which will control the action of the physical body upon the physical plane. There are, however, two streams of energy which must be considered in studying the factors leading to physical plane actions. I would remind you in this connection that disease is an activity of the physical plane.
Đối với đa số nhân loại, thể cảm dục là yếu tố quyết định chủ yếu cần được xem xét. Nó là một nguyên nhân nổi bật của sức khỏe kém. Lý do là nó tác động mạnh mẽ lên thể sinh lực và dĩ thái, khiến thể này dễ mắc bệnh. Thể xác là bộ máy tự động của thể bên trong nào mạnh nhất. Khi các bạn nhớ rằng thể sinh lực là nơi tiếp nhận các dòng năng lượng, và thực tế cấu thành từ những dòng ấy, đồng thời các dòng này thúc đẩy thể xác hoạt động, thì rõ ràng dòng mạnh nhất sẽ kiểm soát hành động của thể xác trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, có hai dòng năng lượng phải được xem xét khi nghiên cứu các yếu tố dẫn đến hành động trên cõi hồng trần. Liên quan đến điều này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng bệnh tật là một hoạt động của cõi hồng trần.
1. The stream of life itself, anchored in the heart, which determines the vitality of the man, his capacity for work, and the term of his existence.
1. Dòng của chính sự sống, neo giữ trong tim, quyết định sinh lực của con người, khả năng làm việc và thời hạn hiện tồn của y.
2. The predominating stream of energy coming from the astral, mental or soul bodies. These control his expression upon the physical plane.
2. Dòng năng lượng chiếm ưu thế đến từ thể cảm dục, thể trí hoặc thể linh hồn. Những năng lượng này kiểm soát sự biểu đạt của y trên cõi hồng trần.
With the masses of people throughout the world, and those whom we call the vast unthinking public, the dominating factors are the stream of life and the stream of astral or desire energy. This can be either of a low or medium calibre.
Đối với quần chúng khắp thế giới và những người mà chúng ta gọi là công chúng đông đảo không suy nghĩ, các yếu tố chi phối là dòng sự sống và dòng năng lượng cảm dục hay dục vọng. Dòng năng lượng thứ hai này có thể thuộc cấp thấp hoặc trung bình.
With the thinking public, the dominating factors are these two streams, plus a steady inflowing and increasing tide of mental energy.
Đối với công chúng biết suy nghĩ, các yếu tố chi phối là hai dòng này, cộng thêm một dòng năng lượng trí tuệ đều đặn tuôn vào và ngày càng gia tăng.
With the intelligentsia of the world and the aspirant (those ready for, or already on, the probationary path) [35] we find the above three streams reaching a point of equilibrium, and thus producing an integrating or coordinating personality. These number amongst them also the mystics of the world and the creative workers, who are conscious of the inspiration and the spiritual contact which indicates a beginning of the inflow of soul energy.
Đối với giới trí thức trên thế giới và người chí nguyện, tức những người đã sẵn sàng bước vào hoặc đã ở trên Con Đường Dự Bị, [35] chúng ta thấy ba dòng nói trên đạt đến một điểm cân bằng, nhờ đó tạo ra một phàm ngã đang tích hợp hay phối hợp. Trong số họ cũng có các nhà thần bí và những người hoạt động sáng tạo trên thế giới, những người ý thức được cảm hứng và sự tiếp xúc tinh thần, cho thấy năng lượng linh hồn bắt đầu tuôn vào.
With the disciples of the world, we find a group of men and women coming under the control of soul energy, whilst the other three energies are being increasingly subordinated to this higher type of control.
Đối với các đệ tử trên thế giới, chúng ta thấy một nhóm những người nam và nữ đang chịu sự kiểm soát của năng lượng linh hồn, trong khi ba năng lượng kia ngày càng phục tùng loại kiểm soát cao hơn này.
It should be borne in mind that there are two other types of energy with which to reckon, when considering intelligent man.
Cần ghi nhớ rằng có hai loại năng lượng khác phải tính đến khi xem xét con người thông minh.
1. The energy which is composed of the fused and blended forces of a coordinated personality.
1. Năng lượng cấu thành từ những mãnh lực đã dung hợp và hòa quyện của một phàm ngã được phối hợp.
2. The energy of the physical plane itself, which is finally identified by the aspirant or disciple, and becomes so utterly negated that eventually it constitutes one of the major factors in the release of the centres.
2. Năng lượng của chính cõi hồng trần, mà cuối cùng người chí nguyện hay đệ tử nhận diện được và vô hiệu hóa hoàn toàn đến mức rốt cuộc nó trở thành một trong những yếu tố chủ yếu giúp giải phóng các trung tâm.
Finally the time comes when the initiate works simply with three types of energy whilst expressing himself in incarnation: the energy of life itself, the negative energy of the personality, and the positive energy of the soul. Thus he is an expression in conscious manifestation of the three aspects of the Trinity.
Cuối cùng sẽ đến lúc điểm đạo đồ chỉ làm việc với ba loại năng lượng trong khi biểu đạt mình qua sự lâm phàm: năng lượng của chính sự sống, năng lượng âm của phàm ngã và năng lượng dương của linh hồn. Như vậy, y biểu đạt ba phương diện của Ba Ngôi trong sự biểu hiện hữu thức.
Certain things should be established as occult facts in the consciousness of the healer before he is able to work constructively.
Trước khi nhà trị liệu có thể làm việc một cách xây dựng, một số điều phải được xác lập trong tâm thức của y như những sự thật huyền bí.
1. First of all, that there is nothing but energy and this energy manifests itself as many differing and varying [36] energies. Of these many energies, the universe is composed. Likewise man’s bodies or vehicles of manifestation are without exception constituted of energy units. These we call atoms, and these atomic units are held together in body form by the coherent force of more potent energies.
1. Trước hết, không có gì ngoài năng lượng, và năng lượng này biểu hiện thành nhiều năng lượng khác biệt, đa dạng [36]. Vũ trụ cấu thành từ vô số năng lượng ấy. Tương tự, các thể hay hiện thể biểu hiện của con người, không có ngoại lệ, đều cấu thành từ những đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi chúng là các nguyên tử, và những đơn vị nguyên tử này liên kết với nhau thành hình hài nhờ mãnh lực cố kết của các năng lượng mạnh hơn.
2. The major focal point of energy to be found in human beings is that of the soul, but its potency as an agent of cohesion and of integration is as yet greater than its quality potency. In the earlier stages of human evolution, it is the coherence aspect that demonstrates. Later as man’s response apparatus, or bodies, becomes more developed, the quality aspect of the soul begins to demonstrate increasingly.
2. Tiêu điểm năng lượng chủ yếu nơi con người là tiêu điểm của linh hồn, nhưng cho đến nay, sức mạnh của linh hồn với tư cách tác nhân cố kết và tích hợp vẫn lớn hơn sức mạnh phẩm tính của nó. Trong những giai đoạn đầu của tiến hoá nhân loại, phương diện cố kết biểu lộ. Về sau, khi bộ máy đáp ứng, hay các thể của con người, phát triển hơn, phương diện phẩm tính của linh hồn bắt đầu biểu lộ ngày càng rõ.
3. Seen from the inner side where time is not, the human creature demonstrates as an amazing kaleidoscopic mutable phenomenon. Bodies, so called, or rather aggregates of atomic units, fade out and disappear, or flash again into manifestation. Streams of colours pass and repass; they twine or intertwine. Certain areas will then suddenly intensify their brightness and blaze forth with brilliance; or again they can be seen dying out and the phenomenon in certain areas will be colourless and apparently non-existent. But always there is a persistent over-shadowing light, from which a stream of lights pours down into the phenomenal man; this can be seen attaching itself in two major localities to the dense inner core of the physical man. These two points of attachment are to be found in the head and in the heart. There can also be seen, dimly at first but with increasing brightness, seven other pale disks of light which are the early evidence of the seven centres. [37]
Nhìn từ phía bên trong, nơi không có thời gian, con người biểu hiện như một hiện tượng biến đổi kỳ diệu của kính vạn hoa. Những cái gọi là các thể, hay đúng hơn là những tập hợp đơn vị nguyên tử, mờ dần rồi biến mất, hoặc lại lóe sáng đi vào biểu hiện. Những dòng màu sắc qua lại; chúng quấn vào nhau hay đan xen nhau. Rồi một số vùng đột nhiên tăng cường độ sáng và bừng lên rực rỡ; hoặc cũng có thể thấy chúng lịm dần, và hiện tượng ở một số vùng trở nên không màu, dường như không tồn tại. Nhưng luôn có một ánh sáng bền bỉ phủ bóng, từ đó một dòng gồm nhiều ánh sáng tuôn xuống con người biểu hiện; có thể thấy dòng này gắn vào hai vị trí chính trong phần lõi đậm đặc bên trong của con người hồng trần. Hai điểm gắn kết ấy nằm ở đầu và tim. Cũng có thể thấy bảy đĩa ánh sáng nhạt khác, ban đầu lờ mờ nhưng ngày càng sáng hơn, là bằng chứng sơ khởi của bảy trung tâm. [37]
4. These centres, which constitute the quality aspects and the consciousness aspects, and whose function it is to colour the appearance or outer expression of man and use it as a response apparatus, are (during the evolutionary process) subject to three types of unfoldment.
4. Những trung tâm này cấu thành các phương diện phẩm tính và tâm thức, có chức năng tạo sắc thái cho vẻ ngoài hay sự biểu đạt bên ngoài của con người và sử dụng nó như một bộ máy đáp ứng; trong tiến trình tiến hoá, chúng trải qua ba dạng khai mở.
a. That unfoldment which takes place as a physical plane child grows from an infant to a man. By the time he is twenty-one, the centres should normally have reached the same quality of expression as they had attained when he passed out of life in a previous incarnation. The man then takes up life where he had previously left it off.
a. Sự khai mở diễn ra khi một đứa trẻ trên cõi hồng trần lớn lên từ sơ sinh đến trưởng thành. Theo tiến trình bình thường, đến tuổi hai mươi mốt, các trung tâm hẳn phải đạt cùng phẩm tính biểu đạt mà chúng đã đạt khi người ấy rời khỏi đời sống trong một kiếp lâm phàm trước. Khi đó, y tiếp tục đời sống từ chỗ trước đây mình đã dừng lại.
b. The awakening of the centres through life experience. Occasionally only one centre may be dealt with in any one life; sometimes several are brought into greater functioning consciousness.
b. Sự đánh thức các trung tâm thông qua kinh nghiệm sống. Đôi khi, trong một kiếp sống chỉ có một trung tâm được tác động đến; có lúc, nhiều trung tâm được đưa vào hoạt động hữu thức mạnh hơn.
c. There is, finally, the awakening of these centres through the process of initiation. This of course only happens when the man is consciously upon the Path.
c. Cuối cùng là sự đánh thức các trung tâm này thông qua tiến trình điểm đạo. Dĩ nhiên, điều này chỉ xảy ra khi con người có ý thức bước trên Đường Đạo.
5. The centres determine the man’s point of evolution as far as his phenomenal expression is concerned; they work directly upon the physical body through the medium [38] of the endocrine system. This point should be borne in mind, for the future occult healer will approach his patient with this knowledge. He will then work through those centres and glands which govern the particular area of the body wherein the disease or discomfort is located. The time, however, for this has not yet come, for man’s ignorance is great. Over-stimulation of the centres, and consequently of the glands, could easily be brought about, and the diseased condition might be stimulated also and increased, instead of dissipated or healed.
5. Các trung tâm quyết định điểm tiến hoá của con người xét về sự biểu đạt của y trong thế giới biểu hiện; chúng tác động trực tiếp lên thể xác thông qua [38] hệ nội tiết. Cần ghi nhớ điểm này, vì nhà trị liệu huyền bí trong tương lai sẽ tiếp cận bệnh nhân với tri thức ấy. Khi đó, y sẽ làm việc thông qua những trung tâm và tuyến chi phối vùng cơ thể cụ thể nơi bệnh tật hay sự khó chịu khu trú. Tuy nhiên, thời điểm cho việc này vẫn chưa đến, vì sự thiếu hiểu biết của con người còn rất lớn. Rất dễ gây kích thích quá mức các trung tâm, và do đó cả các tuyến, đồng thời tình trạng bệnh cũng có thể bị kích thích và gia tăng thay vì tiêu tan hay được chữa lành.
A. Uncontrolled and Ill-Regulated Emotion.
A. Cảm Xúc Không Được Kiểm Soát và Điều Tiết Kém.
Given these basic facts, it can be seen how wrong emotional attitudes and a general unhealthy condition of the astral body must be potent factors in producing discomfort and disease. This is due to the fact that the vital or etheric bodies of the masses of humanity are governed primarily and swept into activity through the action of the astral body. Agitation in that body, any violent activity under stress of temper, intense worry or prolonged irritation will pour a stream of astral energy into and through the solar plexus centre, and will galvanise that centre into a condition of intense disturbance. This next affects the stomach, the pancreas, the gall duct and bladder. Few people (and I might well ask who is exempt at this particular time in the world’s history) are free from indigestion, from undesirable gastric conditions, or from trouble connected with the gall bladder.
Từ những sự kiện căn bản này, có thể thấy các thái độ cảm xúc sai lệch và tình trạng thiếu lành mạnh nói chung của thể cảm dục hẳn là những yếu tố mạnh mẽ gây ra sự khó chịu và bệnh tật. Điều này là do các thể sinh lực hay thể dĩ thái của đại đa số nhân loại chủ yếu chịu sự chi phối và bị cuốn vào hoạt động qua tác động của thể cảm dục. Sự xáo động trong thể này, bất kỳ hoạt động dữ dội nào dưới áp lực của cơn nóng giận, sự lo âu mãnh liệt hoặc bực bội kéo dài đều tuôn một dòng năng lượng cảm dục vào và xuyên qua trung tâm tùng thái dương, đồng thời kích động trung tâm ấy đến mức rối loạn dữ dội. Tiếp đó, tình trạng này ảnh hưởng đến dạ dày, tuyến tụy, ống dẫn mật và túi mật. Rất ít người không mắc chứng khó tiêu, các tình trạng bất thường ở dạ dày hoặc những rối loạn liên quan đến túi mật (và Tôi hoàn toàn có thể hỏi rằng, vào thời điểm đặc biệt này trong lịch sử thế giới, ai tránh khỏi những điều ấy).
The tendency to criticism, to violent dislikes, and to hatreds based on criticism or a superiority complex, produces much of the acidity from which the majority of people suffer. I would like to add in passing that I am here generalising. So many people are prone to an inferiority complex [39] in relation to themselves, but to a superiority complex where their relation to other people is concerned! Stomachic physical plane effects are closely tied up with the desire aspect of the physical body, which finds expression in the eating and drinking of that which is desired, leading subsequently to those attacks of biliousness to which so many are prone.
Khuynh hướng chỉ trích, những ác cảm dữ dội và lòng thù hận dựa trên sự chỉ trích hoặc phức cảm tự tôn gây ra phần lớn tình trạng dư axit mà đa số mọi người phải chịu đựng. Nhân đây, Tôi muốn nói thêm rằng Tôi đang khái quát hóa. Biết bao người dễ mang phức cảm tự ti [39] khi xét về bản thân, nhưng lại mang phức cảm tự tôn trong quan hệ với người khác! Những tác động lên dạ dày trên cõi hồng trần gắn chặt với phương diện dục vọng của thể xác, vốn biểu lộ qua việc ăn uống những gì mình ham muốn, rồi dẫn đến những cơn rối loạn mật mà rất nhiều người dễ mắc phải.
I offer these above illustrations to demonstrate the effect of the prevalent wrong attitudes to life and people which today distinguish mankind and produce the above mentioned conditions.
Tôi đưa ra những minh họa trên để cho thấy tác động của các thái độ sai lệch phổ biến đối với cuộc sống và con người, những thái độ đang là đặc điểm của nhân loại ngày nay và gây ra các tình trạng vừa nêu.
The ills which are based on criticism, upon hatred, and upon the capacity to judge each other (usually unkindly) work through from the throat centre to the solar plexus. This inter-relation existing between the centres is one that has never been properly considered. The centres in the etheric body pass varying kinds of energies amongst themselves, and a great deal of the energy transmitted from one centre to another is undesirable, flowing from the centres below the diaphragm to those above.
Những bệnh tật bắt nguồn từ sự chỉ trích, lòng thù hận và khả năng phán xét lẫn nhau (thường là thiếu thiện ý) tác động xuyên suốt từ trung tâm cổ họng đến tùng thái dương. Mối tương quan này giữa các trung tâm chưa bao giờ được xem xét đúng mức. Các trung tâm trong thể dĩ thái truyền cho nhau nhiều loại năng lượng khác nhau, và phần lớn năng lượng truyền từ trung tâm này sang trung tâm khác là không đáng có, chảy từ các trung tâm dưới cơ hoành lên những trung tâm ở phía trên.
The physical body (etheric and dense) can be pictured as a house with two telephonic installations—one bringing in energies from without the house and the other being in the nature of a house telephone from room to room. The analogy is far more accurate than appears to the casual thinker. In every modern house, light and water and gas and telephonic interchange are brought. Light, the symbol of the soul; water, the symbol of the emotions; telephonic interchange, the symbol of mind with its intercommunication of knowledges; and gas, the symbol of the etheric nature.
Có thể hình dung thể xác (dĩ thái và đậm đặc) như một ngôi nhà có hai hệ thống điện thoại—một hệ thống đưa năng lượng từ bên ngoài vào nhà, hệ thống kia có tính chất như điện thoại nội bộ nối phòng này với phòng khác. Sự tương đồng này chính xác hơn nhiều so với điều người suy nghĩ hời hợt có thể nhận thấy. Mỗi ngôi nhà hiện đại đều được cung cấp ánh sáng, nước, khí đốt và dịch vụ liên lạc điện thoại. Ánh sáng là biểu tượng của linh hồn; nước là biểu tượng của cảm xúc; liên lạc điện thoại là biểu tượng của thể trí với sự trao đổi kiến thức; và khí đốt là biểu tượng của bản chất dĩ thái.
It is interesting and saddening to note that that which at present goes out of the average house is the refuse that is undesirable—this is the correspondence to that which is [40] selfish and sad and the demand for the satisfaction of personal needs and desires.
Thật thú vị nhưng cũng đáng buồn khi nhận thấy rằng những gì hiện đang đi ra khỏi ngôi nhà thông thường là rác thải không ai muốn giữ lại—điều này tương ứng với những gì [40] ích kỷ, buồn thảm và sự đòi hỏi thỏa mãn các nhu cầu cùng dục vọng cá nhân.
It can be seen, therefore, why I have so emphatically impressed the need of harmlessness upon all of you, for it is the scientific method, par excellence and esoterically speaking, of cleaning house and of purifying the centres. Its practice clears the clogged channels and permits the entrance of the higher energies.
Do đó, có thể thấy vì sao Tôi đã nhấn mạnh đến vậy với tất cả các bạn về sự cần thiết của tính vô tổn hại, bởi xét về mặt huyền bí, đó là phương pháp khoa học ưu việt để dọn sạch ngôi nhà và thanh lọc các trung tâm. Việc thực hành tính vô tổn hại khai thông những đường dẫn bị tắc nghẽn và cho phép các năng lượng cao hơn đi vào.
The emotional causes of disease and the mental attitudes which produce physical discomfort are at this particular time those which are the most prevalent. When they are persisted in over a long period of time, and are carried over from life to life, they cause the more violent aspects of the conditions referred to above, and from them serious and destructive diseases can emerge, necessitating, for instance, the removal of the gall bladder or those operations incident to the appearance of chronic gastric ulcers. Other diseases grow from a constant pandering to the desire nature, though sexual diseases come under another category. It can be seen from the above how desirable it is that the true healer should combine in himself, not only a measure of esoteric knowledge, but—until he is an initiate—something of psychology, something of the work of a magnetic healer, and also be a trained medical man or surgeon.
Vào thời điểm đặc biệt này, các nguyên nhân cảm xúc gây bệnh và những thái độ trí tuệ gây khó chịu cho thể xác là những nguyên nhân phổ biến nhất. Khi chúng được duy trì trong thời gian dài và tiếp nối từ kiếp này sang kiếp khác, chúng gây ra những biểu hiện nghiêm trọng hơn của các tình trạng đã nêu trên; từ đó có thể phát sinh các bệnh nặng và mang tính hủy hoại, chẳng hạn đòi hỏi phải cắt bỏ túi mật hoặc thực hiện những phẫu thuật do sự xuất hiện của các vết loét dạ dày mạn tính. Những bệnh khác phát sinh từ việc liên tục chiều theo bản chất dục vọng, mặc dù các bệnh tình dục thuộc một loại khác. Từ những điều trên, có thể thấy nhà trị liệu chân chính cần kết hợp nơi mình không chỉ một mức độ tri thức huyền bí, mà—cho đến khi trở thành điểm đạo đồ—còn cả một phần kiến thức tâm lý học, một phần công việc của nhà trị liệu bằng từ tính, đồng thời phải là bác sĩ nội khoa hoặc bác sĩ phẫu thuật được đào tạo.
Much of the healing now done is worse than useless, because the three above mentioned conditions are lacking. Most doctors, especially those who are called general practitioners, are good psychologists and they have also a sound knowledge of symptoms and of anatomy and of curative measures which are usually lacking in the average metaphysical healer. But they are entirely ignorant of one great field of knowledge—that concerning the energies which meet and war within the human frame and of the [41] potencies which can be set in motion if certain esoteric truths are admitted in place. Until they work with the etheric body and study the science of the centres, they can make little further progress. The esoteric healer knows much about the inner forces and energies and has some understanding of the basic causes of the exoteric diseases, but his ignorance of man’s mechanism is deplorable, and he fails to realise two things:
Phần lớn việc trị liệu hiện nay còn tệ hơn cả vô ích, vì thiếu ba điều kiện vừa nêu. Đa số bác sĩ, đặc biệt những người được gọi là bác sĩ đa khoa, là những nhà tâm lý giỏi; họ cũng có kiến thức vững chắc về các triệu chứng, giải phẫu học và biện pháp chữa trị, những điều mà nhà trị liệu siêu hình thông thường thường thiếu. Nhưng họ hoàn toàn không biết đến một lĩnh vực tri thức rộng lớn—lĩnh vực liên quan đến những năng lượng gặp gỡ và giao tranh trong cơ thể con người, cùng những [41] quyền năng có thể được khơi động nếu một số chân lý huyền bí được thừa nhận đúng chỗ. Chừng nào chưa làm việc với thể dĩ thái và nghiên cứu khoa học về các trung tâm, họ còn khó tiến xa hơn. Nhà trị liệu huyền bí biết nhiều về các mãnh lực và năng lượng bên trong, đồng thời phần nào thấu hiểu những nguyên nhân căn bản của các bệnh biểu hiện bên ngoài, nhưng sự thiếu hiểu biết của y về bộ máy con người thật đáng tiếc, và y không nhận ra hai điều:
First, that disease is sometimes the working out into manifestation of undesirable subjective conditions. These, when externalised and brought to the surface of the human body, can then be known, dealt with and eliminated. It is well to remember also that sometimes this working out and elimination may well bring about the death of that particular body. But the soul goes on. One short life counts for very little in the long cycle of the soul, and it is counted well worthwhile if a period of ill health (even if it eventuates in death) brings about the clearing away of wrong emotional and mental conditions.
Thứ nhất, đôi khi bệnh tật là sự biểu hiện ra ngoài của những tình trạng chủ quan không đáng có. Khi những tình trạng này ngoại hiện và nổi lên bề mặt thân thể con người, người ta có thể nhận biết, xử lý và loại bỏ chúng. Cũng cần nhớ rằng đôi khi sự biểu hiện và loại bỏ này rất có thể dẫn đến cái chết của thân thể cụ thể ấy. Nhưng linh hồn vẫn tiếp tục. Một kiếp sống ngắn ngủi có ý nghĩa rất nhỏ trong chu kỳ dài lâu của linh hồn, và một thời kỳ sức khỏe suy yếu (dù kết thúc bằng cái chết) vẫn được xem là hoàn toàn đáng giá nếu nó giúp loại bỏ những tình trạng cảm xúc và trí tuệ sai lệch.
Second, disease is sometimes incident upon and part of the process of the withdrawal of the soul from its habitation. This we call death, and it can come quickly and unexpectedly when the soul withdraws with suddenness from its body. Or death can spread itself over a long period of time, and the soul may take several months or years for its slow and gradual emergence from the body, with the body dying by inches all the time.
Thứ hai, đôi khi bệnh tật đi kèm và là một phần của tiến trình linh hồn rút khỏi nơi cư ngụ của mình. Chúng ta gọi điều này là cái chết, và nó có thể đến nhanh chóng, bất ngờ khi linh hồn đột ngột rút khỏi thân thể. Hoặc cái chết có thể kéo dài trong một thời gian lâu, và linh hồn có thể mất nhiều tháng hay nhiều năm để từ từ, từng bước thoát khỏi thân thể, trong khi thân thể cứ chết dần từng chút một.
There is not sufficient knowledge yet among healers to enable them to deal with wisdom in these matters. We might therefore conclude that: [42]
Các nhà trị liệu hiện chưa có đủ tri thức để xử lý những vấn đề này một cách minh triết. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng: [42]
1. Disease is a purificatory process, carried out in order to produce a purer expression, life aroma, influence and soul usefulness. When this is the case, a cure is possible.
1. Bệnh tật là một tiến trình thanh lọc, nhằm tạo nên sự biểu lộ, hương thơm của sự sống, ảnh hưởng và tính hữu dụng của linh hồn thuần khiết hơn. Trong trường hợp này, việc chữa khỏi là điều có thể.
2. Disease can be a gradual and slow process of dying and of thus releasing the soul. A cure then will not be possible, though palliative and ameliorative measures are needed and should most certainly be used. The length of the life can be prolonged, but a permanent and final cure is out of the question. This the average mental healer fails to realise. They make a horror out of death, whereas death is a beneficent friend.
2. Bệnh tật có thể là một tiến trình chết chậm chạp và từ từ, qua đó giải phóng linh hồn. Khi ấy không thể chữa khỏi, dù vẫn cần các biện pháp giảm nhẹ và cải thiện tình trạng, và nhất thiết nên áp dụng chúng. Có thể kéo dài tuổi thọ, nhưng không thể chữa khỏi hoàn toàn và vĩnh viễn. Nhà trị liệu bằng trí tuệ thông thường không nhận ra điều này. Họ biến cái chết thành một điều kinh hoàng, trong khi cái chết là một người bạn nhân từ.
3. Disease can be the sudden and final call to the body to relinquish the soul and set it free for other service.
3. Bệnh tật có thể là lời kêu gọi đột ngột và cuối cùng đối với thân thể, yêu cầu nó buông linh hồn ra và giải phóng linh hồn để đảm nhận công việc phụng sự khác.
In all these cases everything possible should be done from the standpoint of modern medical and surgical science and the allied sciences of which there are today so many. Much too can be done from the angle of mental and spiritual healing, aided by the science of psychology. Some day there must come cooperation in these various fields and a synthesising of their efforts.
Trong tất cả những trường hợp này, cần làm mọi điều có thể theo quan điểm của khoa học nội khoa và ngoại khoa hiện đại cùng các ngành khoa học liên quan, vốn ngày nay có rất nhiều. Cũng có thể làm được nhiều điều từ góc độ trị liệu bằng trí tuệ và tinh thần, với sự trợ giúp của khoa học tâm lý. Một ngày kia, các lĩnh vực khác nhau này phải hợp tác và tổng hợp những nỗ lực của mình.
I have earlier pointed out that the astral body is the prime motivating factor in the lives of the majority. This is caused by the fact that:
Trước đây, Tôi đã chỉ ra rằng thể cảm dục là yếu tố thúc đẩy chủ yếu trong đời sống của đa số mọi người. Điều này là do:
1. It is the body in which the bulk of human beings are today centering their consciousness.
1. Đó là thể mà ngày nay phần đông con người đang tập trung tâm thức vào.
2. It is the most developed of the bodies at this time, and therefore receives the bulk of the life energy as it comes down the life stream, from the soul, and likewise receives the energy of the stream of consciousness. [43]
2. Hiện nay, đó là thể phát triển nhất trong các thể của con người, nên nhận phần lớn năng lượng sự sống khi năng lượng ấy từ linh hồn đi xuống theo dòng sự sống; đồng thời, nó cũng nhận năng lượng của dòng tâm thức. [43]
3. It is oriented, if I may so express it, outwards or towards the plane of physical experience. That orientation shifts at times and, temporarily in the case of the aspirant, turns inwards. Just as the centres in man, the “lotuses of life,” are depicted as turned downwards and with the stalk upwards in the undeveloped man, but are turned upwards in the case of the developed, so there are conditions in the astral body analogous to this. In the case of the highly evolved man, of the initiate or the Master, the astral body is steadily oriented towards the soul. In the mystic, the aspirant and the disciple, the process of thus definitely changing the direction of the forces is going on and producing, therefore, a temporary chaos.
3. Nếu có thể diễn đạt như vậy, thể cảm dục hướng ra ngoài, hay hướng về cõi trải nghiệm hồng trần. Đôi khi hướng ấy thay đổi và, trong trường hợp người chí nguyện, tạm thời quay vào trong. Cũng như các trung tâm trong con người, những “hoa sen của sự sống”, được mô tả là quay xuống dưới với cuống hướng lên trên ở người chưa phát triển, nhưng lại quay lên trên ở người đã phát triển, trong thể cảm dục cũng có những tình trạng tương tự. Ở người tiến hóa cao, điểm đạo đồ hoặc Chân sư, thể cảm dục luôn hướng vững vàng về linh hồn. Ở nhà thần bí, người chí nguyện và đệ tử, tiến trình chuyển hướng dứt khoát các mãnh lực như vậy đang diễn ra và do đó gây nên một tình trạng hỗn loạn tạm thời.
4. The astral body of man, being the latest to develop (the physical and the etheric being the first two in order of time) is still the most alive and potent. It reached its acme of development in late Atlantean days and its potency is still great, constituting the mass potency, the mass emphasis, and the mass polarisation. This is also augmented by energies coming from the animal kingdom, which is entirely astral in its point of attainment.
4. Thể cảm dục của con người, vì phát triển muộn nhất (thể xác và thể dĩ thái là hai thể phát triển trước theo trình tự thời gian), nên vẫn sống động và mạnh mẽ nhất. Thể cảm dục đạt đến đỉnh cao phát triển vào cuối thời Atlantis, và sức mạnh của nó vẫn còn lớn, tạo nên sức mạnh, trọng tâm và sự phân cực của quần chúng. Điều này còn được tăng cường bởi những năng lượng đến từ giới động vật, vốn hoàn toàn thuộc cảm dục xét theo trình độ đã đạt được.
I would remind you here that the use of the word “body” is most misleading and unfortunate. It produces in the consciousness the idea of a defined form and a specific shape. The astral body is an aggregate of forces, working through into the consciousness in the form of desires, impulses, longings, wishes, determinations, incentives, and projections, thus laying the basis for much of the truth of the teachings of modern psychology. Psychologists have discovered (or rather uncovered) the nature of some of these forces, and their terminology in this connection is frequently more truly occult and accurate than is that of [44] the orthodox esotericist and theosophist.
Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng việc dùng từ “thân thể” rất dễ gây hiểu lầm và thật không thích hợp. Nó tạo ra trong tâm thức ý tưởng về một hình tướng có giới hạn xác định và một hình dạng cụ thể. Thể cảm dục là một tập hợp các mãnh lực tác động vào tâm thức dưới dạng dục vọng, xung lực, khao khát, ước muốn, quyết tâm, động cơ thúc đẩy và sự phóng chiếu, qua đó đặt nền tảng cho phần lớn chân lý trong những giáo huấn của tâm lý học hiện đại. Các nhà tâm lý học đã khám phá (hay đúng hơn là làm lộ ra) bản chất của một số mãnh lực này, và thuật ngữ họ dùng về phương diện này thường mang tính huyền bí đích thực và chính xác hơn thuật ngữ của [44] nhà bí truyền học và nhà Thông Thiên Học chính thống.
It may be of interest to you if I do two things. First of all, give you some technical information in connection with the working through of the forces from the astral plane into the physical body, and then give you the effects of that working through, as they take the form—owing to man’s wrong use of them—of disease and the many varying disorders to which man is prone. With their cure we are not at this time concerned. I am here simply laying down the structure of fact upon which we can later base our conclusions. We shall, in this connection, only consider the average man. The problems of the disciple will be dealt with under Part I.4.
Có lẽ các bạn sẽ quan tâm nếu Tôi làm hai việc. Trước hết, cung cấp cho các bạn một số thông tin chuyên môn liên quan đến cách các mãnh lực từ cõi cảm dục tác động xuyên vào thể xác; sau đó, trình bày những tác động của chúng khi—do con người sử dụng sai—chúng mang hình thức bệnh tật và nhiều rối loạn khác nhau mà con người dễ mắc phải. Lúc này, chúng ta chưa bàn đến việc chữa trị chúng. Ở đây, Tôi chỉ đơn giản đặt ra cơ cấu các sự kiện để sau này chúng ta có thể dựa vào đó mà đưa ra kết luận. Về phương diện này, chúng ta sẽ chỉ xem xét con người thông thường. Những vấn đề của đệ tử sẽ được bàn đến trong Phần I.4.
I pointed out earlier that the three major groups of diseases for the masses are—
Trước đây, Tôi đã chỉ ra rằng ba nhóm bệnh chính của quần chúng là—
1. Tuberculosis.
1. Bệnh lao.
2. The social diseases, as they are called: the venereal diseases and syphilis.
2. Các bệnh thường được gọi là bệnh xã hội: các bệnh hoa liễu và giang mai.
3. Cancer.
3. Ung thư.
To these we must add two other groups of disease which predominantly affect those who are a little above the average and whose general level of intelligence is higher than that of the mass; this includes also the aspirants of the world.
Chúng ta phải thêm vào đó hai nhóm bệnh khác, chủ yếu ảnh hưởng đến những người cao hơn mức trung bình đôi chút và có trình độ trí tuệ nói chung cao hơn quần chúng; nhóm này cũng bao gồm những người chí nguyện trên thế giới.
4. Heart diseases, but not what is called heart failure.
4. Các bệnh tim, nhưng không phải tình trạng được gọi là suy tim.
5. The nervous diseases so prevalent at this time.
5. Các bệnh thần kinh rất phổ biến hiện nay.
These five groups of disease, and their various sub-divisions are responsible for the bulk of the physical ills which attack humanity. A right grasp of their preponderating causes will be of definite assistance to future medicine. How much will be accepted is at this time doubtful.
Năm nhóm bệnh này cùng những phân nhóm khác nhau của chúng gây ra phần lớn các bệnh thể chất tấn công nhân loại. Việc nắm bắt đúng những nguyên nhân chủ yếu của chúng chắc chắn sẽ giúp ích cho nền y học tương lai. Hiện nay, chưa rõ bao nhiêu điều trong số này sẽ được chấp nhận.
I would like to point out here that, as you well know, there are physical correspondences to the seven centres of [45] forces located in the etheric body, and fed from the astral body. These we call the endocrine glands. These glands are effects of or testifying evidence to, the centres, and are in their turn initiating causes of lesser effects in the physical body. It will be of value if we here tabulate some of the things we know, and aid comprehension.
Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng, như các bạn đều biết, bảy trung tâm [45] mãnh lực nằm trong thể dĩ thái và nhận năng lượng từ thể cảm dục có những đối phần tương ứng trong thể xác. Chúng ta gọi những đối phần này là các tuyến nội tiết. Các tuyến này là kết quả của các trung tâm, hoặc là bằng chứng xác nhận sự hiện hữu của chúng, và đến lượt mình, các tuyến lại là nguyên nhân khởi phát những tác động nhỏ hơn trong thể xác. Sẽ hữu ích nếu ở đây chúng ta lập bảng một số điều đã biết để giúp việc thấu hiểu.
Trung tâm
Tuyến
Các cơ quan của thể xác
Loại mãnh lực
Nguồn gốc
Thân thể
Centre
Gland
Physical Organs
Type of Force
Origin
Body
1.
Đầu Brahmarandra. Hoa sen 1000 cánh.
Tuyến tùng
Phần trên của bộ não. Mắt phải
Ý chí tinh thần. Tổng hợp. Năng động.
Atma. Chân thần qua linh hồn. Ý chí.
Thể nguyên nhân. Bảo Ngọc Trong Hoa Sen.
Head Brahmarandra. 1000-petalled lotus.
Pineal
Upper brain Right eye
Spiritual will. Synthetic. Dynamic.
Atma Monad via soul Will.
Causal body. Jewel in the lotus.
Nhà huyền bí học.
Điểm đạo đồ.
Chân sư.
Chi phối sau lần điểm đạo thứ ba.
Occultist.
Initiate.
Master.
Dominant after 3rd Initiation.
2.
Trung tâm giữa hai mắt. Trung tâm ajna
Tuyến yên.
Phần dưới của bộ não. Mắt trái. Mũi. Hệ thần kinh.
Mãnh lực linh hồn. Tình thương. Từ tính. Ánh sáng. Trực giác. Tầm nhìn.
Toàn bộ các cánh của Hoa Sen Chân Ngã.
Hiện thể Bồ đề. Thể nguyên nhân. Thượng trí.
Centre between the eyes. Ajna centre
Pituitary body.
Lower brain. Left eye. Nose. Nervous system.
Soul force Love. Magnetic. Light. Intuition. Vision.
Petals of egoic lotus, as a whole.
Buddhic vehicle Causal body. Higher mental.
Người chí nguyện.
Đệ tử.
Nhà thần bí.
Chi phối sau lần điểm đạo thứ hai.
Aspirant.
Disciple.
Mystic.
Dominant after 2nd Initiation.
3.
Tim. Anahata.
Tuyến ức
Tim. Hệ tuần hoàn. Máu. Cả dây thần kinh phế vị.
Mãnh lực sự sống. Tâm thức nhóm
Các cánh hoa bác ái
Thượng trí. Thể nguyên nhân.
Heart. Anahata.
Thymus
Heart Circulatory system. Blood. Also Vagus nerve.
Life force Group consciousness
Love petals
Higher. mental. Causal body.
Mọi loại người có đời sống tinh thần.
Chi phối sau lần điểm đạo thứ nhất.
All types of Spiritual People.
Dominant after 1st Initiation.
4.
Trung tâm cổ họng
Tuyến giáp
Bộ máy hô hấp. Ống tiêu hóa
Năng lượng sáng tạo. Âm thanh. Ngã thức
Các cánh hoa tri thức
Thể trí.
Throat centre
Thyroid
Breathing apparatus. Alimentary canal
Creative energy. Sound. Self-consciousness
Knowledge petals
Mental body.
Các nghệ sĩ sáng tạo.
Toàn thể nhân loại tiến bộ.
Giới trí thức.
Creative Artists.
All advanced humanity.
The Intelligentsia.
5.
Tùng thái dương
Tuyến tụy
Dạ dày. Gan. Túi mật. Hệ thần kinh.
Mãnh lực cảm dục. Cảm xúc. Dục vọng. Xúc giác.
Các trung tâm cảm dục
Thể cảm dục.
Solar plexus
Pancreas
Stomach. Liver. Gall bladder. Nervous system.
Astral force. Emotion. Desire. Touch.
Astral centres
Astral body.
Nhân loại ở mức phát triển trung bình.
Những người bình thường.
Average humanity.
Ordinary people.
6.
Trung tâm xương cùng.
Các tuyến sinh dục
Các cơ quan sinh dục
Mãnh lực sự sống. Mãnh lực cõi hồng trần. Năng lượng sinh lực. Sự sống động vật
Cõi hồng trần
Thể dĩ thái.
Sacral centre.
Gonads
Sex organs
Life force. Physical plane force. Vital energy. Animal life
Physical plane
Etheric body.
Những người thuộc loại người thú ở trình độ thấp.
Low grade animal type of men.
7.
Đáy cột sống. Muladhara.
Các tuyến thượng thận
Thận. Cột sống.
Năng lượng ý chí. Sự sống vũ trụ. Kundalini
Mẹ Thế Giới.
Base of spine. Muladhara.
Adrenals
Kidneys Spinal column.
Will energy. Universal life. Kundalini
The Mother of the World.
[46] This tabulation is simply an outline and, like the tabulation of the principles and their correspondences, as given by H.P.B. in the third volume of The Secret Doctrine, its interpretation will be dependent upon the point of view of the student. We shall employ it later and add further columns to it and further correspondences. In all our considerations, what we have to say will have the following synthesis of structure behind it:
[46] Bảng này chỉ là một phác thảo và, giống như bảng về các nguyên khí cùng những tương ứng của chúng mà H.P.B. đã đưa ra trong quyển thứ ba của Giáo Lý Bí Nhiệm, cách diễn giải bảng này sẽ tùy thuộc vào quan điểm của đạo sinh. Sau này, chúng ta sẽ sử dụng bảng ấy, bổ sung thêm các cột và những tương ứng khác. Trong mọi sự xem xét, những điều chúng ta trình bày sẽ dựa trên cơ cấu tổng hợp sau đây:
1. The soul.
1. Linh hồn.
2. The subtler bodies of the mind and the emotions, which are simply qualified energy centres.
2. Các thể vi tế hơn của trí tuệ và cảm xúc, vốn chỉ là những trung tâm năng lượng mang phẩm tính.
3. The vital body with its seven major centres of force.
3. Thể sinh lực với bảy trung tâm mãnh lực chính.
4. The endocrine system, which is an effect of the seven centres, and the determining controlling factor in the physical body of man.
4. Hệ nội tiết, vốn là kết quả của bảy trung tâm và là yếu tố quyết định, kiểm soát trong thể xác con người.
5. The nervous system in its three divisions.
5. Hệ thần kinh với ba phân hệ của nó.
6. The blood stream.
6. Dòng máu.
All the subsidiary organs of man are effects; they are not pre-determining causes. The determining causes in man, and that which makes him what he is, are the glands. They are externalisations of the types of force pouring through the etheric centres from the subtler worlds of being. They express the point in evolution which the man has reached; they are vital and active or non-vital and inactive, according to the condition of the centres. They demonstrate a sufficiency, an oversufficiency or a deficiency, according to the condition of the etheric vortices.
Mọi cơ quan phụ thuộc của con người đều là kết quả; chúng không phải những nguyên nhân định đoạt từ trước. Các tuyến mới là những nguyên nhân quyết định trong con người, và là điều khiến y trở thành con người như hiện tại. Chúng là sự ngoại hiện của các loại mãnh lực từ những thế giới hiện tồn vi tế hơn tuôn qua các trung tâm dĩ thái. Chúng biểu lộ điểm tiến hoá mà con người đã đạt tới; chúng giàu sinh lực và hoạt động, hoặc thiếu sinh lực và bất hoạt, tùy theo tình trạng của các trung tâm. Chúng cho thấy sự đầy đủ, dư thừa hoặc thiếu hụt, tùy theo tình trạng của các xoáy dĩ thái.
Again, the process of control may be stated to be via the nervous system; the close interlocking directorate of the nervous system, the brain and the blood stream (as a carrier of the life principle) governs the activities of the man—conscious, sub-conscious, self-conscious, and finally, [47] super-conscious. The three centres in supreme control today for the majority are:
Một lần nữa, có thể nói tiến trình kiểm soát diễn ra qua hệ thần kinh; sự phối hợp điều hành gắn bó chặt chẽ giữa hệ thần kinh, bộ não và dòng máu (với vai trò chuyên chở nguyên khí sự sống) chi phối các hoạt động của con người—hữu thức, tiềm thức, ngã thức và cuối cùng là [47] siêu thức. Hiện nay, đối với đa số mọi người, ba trung tâm giữ quyền kiểm soát cao nhất là:
1. The ajna centre, the centre between the eyebrows.
1. Trung tâm ajna, trung tâm giữa hai lông mày.
2. The solar plexus.
2. Tùng thái dương.
3. The sacral centre.
3. Trung tâm xương cùng.