← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

Two important stages in the life of the man take place during the evolutionary process:—

Two important stages in the life of the man take place during the evolutionary process:—

Hai giai đoạn quan trọng trong đời sống con người diễn ra trong tiến trình tiến hoá:—

First: The stage wherein there comes the first great fusion or “assertion of control” by the soul. At this time the ajna centre comes alive. This stage precedes a man’s passing on to the Probationary Path and is the stage which distinguishes the average man and woman at this time in the world.

Thứ nhất: Giai đoạn trong đó diễn ra sự dung hợp lớn đầu tiên hay “sự khẳng định quyền kiểm soát” của linh hồn. Vào lúc này trung tâm ajna trở nên sống động. Giai đoạn này đi trước việc một người bước vào Con Đường Dự Bị và là giai đoạn phân biệt người nam và nữ trung bình hiện nay trên thế giới.

Second: The stage wherein there comes a more definite [305] spiritual awakening. At this time the centre at the base of the spine comes into rapport—through its circulating life—with all the centres in the etheric body. This step precedes what is called initiation and signalises the arousing into activity of the central focus of power at the heart of each of the chakras or etheric lotuses. In all the previous stages, it has been the petals of the various lotuses, chakras or vortices of force which have come into increased motion. At this later stage, the “hub” of the wheel, the “point in the centre” or the “heart of the lotus” comes into dynamic action and the whole inner force-body becomes related in all its parts and begins to function harmoniously.

Thứ hai: Giai đoạn trong đó diễn ra một sự thức tỉnh tinh thần rõ rệt hơn. Vào lúc này trung tâm ở [305] đáy cột sống đi vào sự tương thông—thông qua sự sống tuần hoàn của nó—với mọi trung tâm trong thể dĩ thái. Bước này đi trước điều được gọi là điểm đạo và báo hiệu sự khơi dậy vào hoạt động của tiêu điểm quyền năng trung tâm ở tim của mỗi chakra hay hoa sen dĩ thái. Trong tất cả các giai đoạn trước đó, chính các cánh hoa của các hoa sen, chakra hay xoáy lực khác nhau đã đi vào chuyển động gia tăng. Ở giai đoạn muộn hơn này, “trục” của bánh xe, “điểm ở trung tâm” hay “tim của hoa sen” đi vào hoạt động năng động và toàn bộ thể lực bên trong trở nên liên hệ trong mọi phần của nó và bắt đầu hoạt động hài hòa.

This is of value to remember and upon this the teaching of esoteric psychology is based. We have therefore, three stages of activity spread over a long evolutionary cycle, and differing according to ray and to the karmic conditions engendered.

Điều này đáng ghi nhớ và trên đó giáo huấn của Tâm Lý Học Nội Môn được đặt nền. Vì vậy, chúng ta có ba giai đoạn hoạt động trải dài qua một chu kỳ tiến hoá lâu dài, và khác nhau tùy theo cung và các điều kiện nghiệp quả đã được tạo ra.

1. The stage of being alive. This is the earliest and simplest stage wherein the man functions as an elementary human being. During this period all the centres are necessarily active in a slow and rhythmic way. All have a light in them, but it is dim and feeble; all have the three petals (not more) functioning and this the clairvoyant can see. As time goes on all the petals in the centres below the diaphragm become active, but they are not dynamic in the essential sense, nor are they brilliant focal points of light.

1. Giai đoạn sống động. Đây là giai đoạn sớm nhất và đơn giản nhất trong đó con người hoạt động như một con người sơ đẳng. Trong thời kỳ này mọi trung tâm tất yếu đều hoạt động theo cách chậm chạp và nhịp nhàng. Tất cả đều có ánh sáng trong đó, nhưng mờ nhạt và yếu ớt; tất cả đều có ba cánh hoa (không hơn) hoạt động và nhà thông nhãn có thể thấy điều này. Theo thời gian mọi cánh hoa trong các trung tâm dưới cơ hoành đều trở nên hoạt động, nhưng chúng không năng động theo ý nghĩa cốt yếu, cũng không phải là những tiêu điểm ánh sáng rực rỡ.

2. The stage of the first fusion as related above. Then all the centres have their petals vibrant. They are, at the same time, conditioned by

2. Giai đoạn của sự dung hợp đầu tiên như đã nói ở trên. Khi đó mọi trung tâm đều có các cánh hoa rung động. Đồng thời, chúng được tác động bởi

a. The fact as to whether the drive of the life is above or below the diaphragm.

a. Sự kiện là xung lực của đời sống ở trên hay dưới cơ hoành.

[306]

[306]

b. The nature of the particular ray energy.

b. Bản chất của năng lượng cung đặc thù.

c. The stage already reached upon the evolutionary way.

c. Giai đoạn đã đạt được trên con đường tiến hoá.

d. The type of physical mechanism, which is itself conditioned by the karma of the person and the field of service chosen in any one life.

d. Loại bộ máy hồng trần, vốn chính nó được tác động bởi nghiệp quả của con người và lĩnh vực phụng sự được chọn trong bất kỳ một đời sống nào.

e. The quality of the aspiration and mane other factors.

e. Phẩm tính của khát vọng và nhiều yếu tố khác.

3. The stage of the second fusion, in which the initiate expresses himself through all the centres and in which both the group of petals and the central point of energy are fully and dynamically alive.

3. Giai đoạn của sự dung hợp thứ hai, trong đó điểm đạo đồ biểu hiện chính mình qua mọi trung tâm và trong đó cả nhóm cánh hoa lẫn điểm năng lượng trung tâm đều hoàn toàn và năng động sống động.

Christ symbolically expressed these three stages for us at the Birth experience, the Transfiguration enlightenment, and the Ascension liberation.

Đức Christ đã biểu hiện tượng trưng ba giai đoạn này cho chúng ta trong kinh nghiệm Giáng Sinh, sự giác ngộ Biến hình, và sự giải thoát Thăng thiên.

In summarising, it might be said:

Khi tóm tắt, có thể nói rằng:

1. At the stage of individualisation

1. Ở giai đoạn biệt ngã hóa

a. The centres throughout the body awaken and begin to function faintly.

a. Các trung tâm khắp cơ thể thức tỉnh và bắt đầu hoạt động một cách mờ nhạt.

b. The centres below the diaphragm receive the major impact and effect of the incoming life.

b. Các trung tâm dưới cơ hoành nhận tác động và ảnh hưởng chính của sự sống đi vào.

c. Three of the petals in all centres are “awake” and demonstrate activity, quality and light.

c. Ba cánh hoa trong mọi trung tâm đều “thức” và biểu lộ hoạt động, phẩm tính và ánh sáng.

2. At the stage of intellection wherein a man is a self-conscious, self-directed being, and a definite personality,

2. Ở giai đoạn trí năng trong đó con người là một hữu thể có ngã thức, tự định hướng, và là một phàm ngã xác định,

a. All the petals in all the centres are awake, but the central focal point of each centre is quiescent. It glows with a faint light, but there is no true activity.

a. Mọi cánh hoa trong mọi trung tâm đều thức, nhưng tiêu điểm trung tâm của mỗi trung tâm thì tĩnh lặng. Nó phát sáng bằng một ánh sáng mờ nhạt, nhưng không có hoạt động thực sự.

b. The centres above the diaphragm, with the exception of the ajna and head centres, are receptive to impact and inflow of life.

b. Các trung tâm trên cơ hoành, ngoại trừ ajna và các trung tâm đầu, đều tiếp nhận tác động và dòng sự sống tuôn vào.

[307]

[307]

3. At the stage of discipleship, when the individuality and the personality are beginning to merge,

3. Ở giai đoạn địa vị đệ tử, khi cá thể tính và phàm ngã bắt đầu hòa nhập,

a. The two head centres are becoming increasingly active.

a. Hai trung tâm đầu đang trở nên ngày càng hoạt động hơn.

b. The petals are all vibrant, and the dynamic life of the soul is beginning to sweep the centre of the lotus into activity.

b. Các cánh hoa đều rung động, và sự sống năng động của linh hồn bắt đầu cuốn trung tâm của hoa sen vào hoạt động.

c. The light of the petals in the centres below the diaphragm is beginning to dim, but the centre of the lotus is becoming more and more brilliant and living.

c. Ánh sáng của các cánh hoa trong các trung tâm dưới cơ hoành bắt đầu mờ đi, nhưng trung tâm của hoa sen lại trở nên ngày càng rực rỡ và sống động hơn.

All the above process takes much time, and it includes the Path of Probation or Purification and the Path of Discipleship.

Toàn bộ tiến trình trên đòi hỏi rất nhiều thời gian, và bao gồm Con Đường Dự Bị hay Thanh Luyện và Con Đường Đệ Tử.

4. At the stage of initiation when complete at-one-ment is established.

4. Ở giai đoạn điểm đạo khi sự hợp nhất hoàn toàn được thiết lập.

a. The four centres above the diaphragm become dominantly active.

a. Bốn trung tâm trên cơ hoành trở nên hoạt động trội vượt.

b. The centre at the base of the spine comes into awakened activity and the three fires of the matter aspect, of the soul, and of the spirit (fire by friction, solar fire, and electric fire) merge and blend.

b. Trung tâm ở đáy cột sống đi vào hoạt động thức tỉnh và ba lửa của phương diện vật chất, của linh hồn, và của tinh thần (lửa ma sát, lửa thái dương, và lửa điện) hòa nhập và dung hợp.

c. All the centres in the body of the initiate can be intensified electrically at will and used simultaneously, or one at a time, according to the demand and the need which must be met by the initiate.

c. Mọi trung tâm trong thể của điểm đạo đồ có thể được tăng cường bằng điện theo ý muốn và được sử dụng đồng thời, hoặc từng cái một, tùy theo đòi hỏi và nhu cầu mà điểm đạo đồ phải đáp ứng.

All the above takes place progressively upon the Path of Initiation. This same truth can also be expressed in terms of the rays:

Tất cả những điều trên diễn ra dần dần trên Con Đường Điểm Đạo. Chân lý này cũng có thể được diễn đạt theo các cung:

At the stage of Individualisation, the rays governing the physical and emotional bodies are dominant. The soul ray is scarcely felt and only flickers with a dim light at the heart of each lotus.

Ở giai đoạn Biệt ngã hóa, các cung chi phối thể xác và thể cảm xúc là trội vượt. Cung linh hồn hầu như không được cảm nhận và chỉ lập lòe bằng một ánh sáng mờ nhạt ở tim của mỗi hoa sen.

At the stage of Intellection, the ray of the mental body [308] comes into activity. This second process is itself divided into two stages:

Ở giai đoạn Trí năng, cung của thể trí [308] đi vào hoạt động. Chính tiến trình thứ hai này lại được chia thành hai giai đoạn:

1. That in which the lower concrete mind is developing.

1. Giai đoạn trong đó hạ trí cụ thể đang phát triển.

2. That in which the man becomes an integrated, coordinated person.

2. Giai đoạn trong đó con người trở thành một người tích hợp, phối hợp.

At each of these latter two stages, the rays of the lower nature become increasingly powerful. Self-consciousness is developed, and then the personality becomes clearer and clearer, and the three elementals of the lower nature, the force of the so-called “three lunar Lords” (the triple energies of the integrated personality) come steadily under the control of the ray of the personality. At this stage, therefore, four rays are active in the man, four streams of energy make him what he is and the ray of the soul is beginning, though very faintly, to make its presence felt, producing the conflict which all thinkers recognise.

Ở mỗi giai đoạn sau cùng trong hai giai đoạn này, các cung của bản chất thấp trở nên ngày càng mạnh mẽ. Ngã thức được phát triển, rồi phàm ngã trở nên ngày càng rõ rệt hơn, và ba hành khí của bản chất thấp, mãnh lực của cái gọi là “ba nguyệt tinh quân” (các năng lượng tam phân của phàm ngã tích hợp) dần dần nằm dưới sự kiểm soát của cung phàm ngã. Vì vậy, ở giai đoạn này, bốn cung hoạt động trong con người, bốn dòng năng lượng làm cho y là chính y, và cung linh hồn đang bắt đầu, dù rất mờ nhạt, làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, tạo ra cuộc xung đột mà mọi nhà tư tưởng đều nhận ra.

At the stage of Discipleship, the soul ray comes into increased conflict with the personality ray and the great battle of the pairs of opposites begins. The soul ray or energy slowly dominates the personality ray, as it in its turn has dominated the rays of the three lower bodies.

Ở giai đoạn Địa vị đệ tử, cung linh hồn đi vào xung đột gia tăng với cung phàm ngã và trận chiến lớn của các cặp đối đãi bắt đầu. Cung hay năng lượng linh hồn từ từ chi phối cung phàm ngã, cũng như đến lượt nó đã chi phối các cung của ba thể thấp.

At the stage of Initiation, the domination continues and at the third initiation the highest kind of energy which a man can express in this solar system—that of the monad, begins to control.

Ở giai đoạn Điểm đạo, sự chi phối tiếp tục và vào lần điểm đạo thứ ba, loại năng lượng cao nhất mà một con người có thể biểu hiện trong hệ mặt trời này—đó là năng lượng của chân thần—bắt đầu kiểm soát.

At the stage of individualisation, a man comes into being; he begins to exist. At the stage of intellection, the personality emerges with clarity and becomes naturally expressive. At the stage of discipleship, he becomes magnetic. At the stage of initiation, he becomes dynamic.

Ở giai đoạn biệt ngã hóa, con người đi vào hiện hữu; y bắt đầu tồn tại. Ở giai đoạn trí năng, phàm ngã xuất hiện rõ rệt và trở nên biểu hiện một cách tự nhiên. Ở giai đoạn địa vị đệ tử, y trở nên từ tính. Ở giai đoạn điểm đạo, y trở nên năng động.

In reference to the pairs of opposites and their conflict, it might be of interest to note the following facts:

Liên quan đến các cặp đối đãi và cuộc xung đột của chúng, có lẽ cũng đáng quan tâm khi lưu ý các sự kiện sau đây:

[309]

[309]

Students would do well to bear in mind that there are several pairs of opposites with which they have sequentially to deal. This is a point oft forgotten. Emphasis is usually laid upon the pairs of opposites to be found upon the astral plane, whilst those to be found upon the physical plane and the mental levels are omitted from the recognition of the aspirant. Yet it is essential that these other pairs of opposites receive due recognition.

Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng có nhiều cặp đối đãi mà họ phải tuần tự đề cập đến. Đây là một điểm thường bị quên lãng. Sự nhấn mạnh thường được đặt vào các cặp đối đãi được tìm thấy trên cõi cảm dục, trong khi những cặp được tìm thấy trên cõi hồng trần và các cấp độ trí tuệ lại bị bỏ ra ngoài sự nhận biết của người chí nguyện. Tuy nhiên, điều cốt yếu là những cặp đối đãi khác này phải được nhìn nhận đúng mức.

Etheric energy, focussed in an individual etheric body, passes through two stages prior to the period of discipleship:

Năng lượng dĩ thái, được tập trung trong một thể dĩ thái cá nhân, trải qua hai giai đoạn trước thời kỳ địa vị đệ tử:

1. The stage wherein it assimilates the force latent in the dense physical form—the energy of atomic substance, thus producing a definite fusing and blending. This causes the animal nature to conform entirely to the inner impulses—emanating from the world of pranic influence, where the entirely undeveloped man is concerned, and from the lower astral world where the more developed or the average man is concerned. It is this truth which lies behind the statement frequently made that the dense physical body is an automaton.

1. Giai đoạn trong đó nó đồng hóa mãnh lực tiềm ẩn trong hình tướng hồng trần đậm đặc—năng lượng của chất liệu nguyên tử, nhờ đó tạo ra một sự dung hợp và hòa trộn xác định. Điều này khiến bản chất động vật hoàn toàn tuân theo các xung lực bên trong—phát ra từ thế giới ảnh hưởng prana, trong trường hợp con người hoàn toàn chưa phát triển, và từ thế giới cảm dục thấp trong trường hợp con người phát triển hơn hay con người trung bình. Chính chân lý này nằm sau phát biểu thường được nêu ra rằng thể xác đậm đặc là một cỗ máy tự động.

2. The moment, however, that an inner orientation towards the world of higher values takes place, then the etheric or vital force is brought into conflict with the lowest aspect of man, the dense physical body, and the battle of the lower pair of opposites takes place.

2. Tuy nhiên, ngay khi có một sự định hướng bên trong hướng về thế giới của các giá trị cao hơn, thì mãnh lực dĩ thái hay sinh lực được đưa vào xung đột với phương diện thấp nhất của con người, tức thể xác đậm đặc, và trận chiến của cặp đối đãi thấp bắt đầu diễn ra.

It is interesting to note that it is during this stage that the emphasis is laid upon physical disciplines, upon such controlling factors as total abstinence, celibacy and vegetarianism, and upon physical hygienes and exercises. Through these, the control of the life by the form, the lowest expression of the third aspect of divinity, can be offset and the man set free for the true battle of the pairs of opposites.

Điều lý thú cần lưu ý là chính trong giai đoạn này mà sự nhấn mạnh được đặt vào các kỷ luật hồng trần, vào những yếu tố kiểm soát như kiêng cữ hoàn toàn, độc thân và ăn chay, và vào các phép vệ sinh thân thể cùng các bài tập. Nhờ những điều này, sự kiểm soát của hình tướng đối với sự sống, tức biểu hiện thấp nhất của phương diện thứ ba của thiên tính, có thể được hóa giải và con người được giải phóng cho trận chiến đích thực của các cặp đối đãi.

[310]

[310]

This second battle is the true kurukshetra and is fought out in the astral nature, between the pairs of opposites which are distinctive of our solar system, just as the physical pairs of opposites are distinctive of the past solar system. From one interesting angle, the battle of the opposites upon the lower spiral (in which the physical body in its dual aspect is concerned) can be seen taking place in the animal kingdom. In this process, human beings act as the agents of discipline (as the Hierarchy in its turn acts towards the human family) and the domestic animals, forced to conform to human control, are wrestling (even if unconsciously from our point of view) with the problem of the lower pairs of opposites. Their battle is fought out through the medium of the dense physical body and the etheric forces, and in this way a higher aspiration is brought into being. This produces in time the experience which we call individualisation, wherein the seed of personality is sown. On the human battlefield, the kurukshetra, the higher aspect of the soul begins to operate and eventually to dominate, producing the process of divine-human integration which we call initiation. Students might find it of use to ponder upon this thought.

Trận chiến thứ hai này là kurukshetra đích thực và được chiến đấu trong bản chất cảm dục, giữa các cặp đối cực vốn là nét đặc trưng của hệ mặt trời chúng ta, cũng như các cặp đối cực hồng trần là nét đặc trưng của hệ mặt trời quá khứ. Từ một góc độ thú vị, có thể thấy trận chiến của các đối cực trên vòng xoắn thấp hơn (trong đó thể xác trong phương diện kép của nó có liên quan) đang diễn ra trong giới động vật. Trong tiến trình này, con người hành động như các tác nhân của kỷ luật (cũng như đến lượt mình, Thánh Đoàn hành động đối với gia đình nhân loại), và các loài vật đã được thuần hóa, bị buộc phải tuân theo sự kiểm soát của con người, đang vật lộn (dù theo quan điểm của chúng ta là một cách vô thức) với vấn đề của các cặp đối cực thấp hơn. Trận chiến của chúng được chiến đấu qua trung gian của thể xác đậm đặc và các mãnh lực dĩ thái, và bằng cách này một khát vọng cao hơn được đưa vào hiện hữu. Điều này theo thời gian tạo ra kinh nghiệm mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa, trong đó hạt giống của phàm ngã được gieo xuống. Trên chiến trường của con người, kurukshetra, phương diện cao hơn của linh hồn bắt đầu hoạt động và cuối cùng chi phối, tạo ra tiến trình tích hợp thiêng liêng-nhân loại mà chúng ta gọi là điểm đạo. Các đạo sinh có thể thấy hữu ích nếu suy ngẫm về tư tưởng này.

When an aspirant reaches that point in his evolution wherein the control of the physical nature is an urgent necessity, he recapitulates in his own life this earlier battle with the lower pairs of opposites, and begins to discipline his dense physical nature.

Khi một người chí nguyện đạt đến điểm đó trong tiến hoá của y, nơi sự kiểm soát bản chất hồng trần là một điều cấp thiết khẩn trương, y tái diễn trong chính đời sống mình trận chiến sớm hơn này với các cặp đối cực thấp hơn, và bắt đầu rèn luyện bản chất hồng trần đậm đặc của mình.

Making a sweeping generalisation, it might be stated that, for the human family en masse, this dense-etheric conflict was fought out in the world war, which was the imposition of a tremendous test and discipline. We should ever remember that our tests and disciplines are self-imposed and grow out of our limitations and opportunities. The result of this test was the passing on to the Path of Probation of a very large [311] number of human beings, owing to the purging and the purification to which they had been subjected. This purificatory process in some measure prepared them for the prolonged conflict upon the astral plane which lies ahead of all aspirants, prior to achieving the goal of initiation. It is the “Arjuna” experience which lies definitely ahead of many today. This is an interesting point upon which to think and reflect; it holds much of mystery and of difficulty in the sequence of human unfoldment. The individual aspirant is prone to think only in terms of himself, and of his individual tests and trials. He must learn to think in terms of the mass activity, and the preparatory effect where humanity, as a whole is concerned. The world war was a climaxing point in the process of “devitalising” the world maya, as far as humanity is concerned. Much force was released and exhausted, and much energy also was expended. Much was consequently clarified.

Đưa ra một khái quát hóa rộng lớn, có thể nói rằng, đối với gia đình nhân loại en masse, cuộc xung đột đậm đặc-dĩ thái này đã được chiến đấu trong cuộc thế chiến, vốn là sự áp đặt một thử thách và kỷ luật to lớn. Chúng ta nên luôn luôn nhớ rằng các thử thách và kỷ luật của chúng ta là do chính mình tự áp đặt và phát sinh từ những giới hạn và cơ hội của chúng ta. Kết quả của thử thách này là sự chuyển sang Con Đường Dự Bị của một số lượng rất lớn [311] con người, do sự thanh lọc và tẩy uế mà họ đã phải trải qua. Tiến trình thanh tẩy này ở một mức độ nào đó đã chuẩn bị họ cho cuộc xung đột kéo dài trên cõi cảm dục đang ở phía trước mọi người chí nguyện, trước khi đạt được mục tiêu điểm đạo. Đó là kinh nghiệm “Arjuna” chắc chắn đang ở phía trước nhiều người ngày nay. Đây là một điểm thú vị để suy nghĩ và phản tỉnh; nó chứa đựng nhiều điều huyền nhiệm và khó khăn trong trình tự của sự khai mở nhân loại. Người chí nguyện cá nhân có khuynh hướng chỉ nghĩ theo chính bản thân mình, và về những thử thách cùng khảo nghiệm cá nhân của mình. Y phải học cách suy nghĩ theo hoạt động của quần chúng, và theo hiệu quả chuẩn bị khi nhân loại, như một toàn thể, được xét đến. Cuộc thế chiến là một điểm cực đỉnh trong tiến trình “làm mất sinh lực” của ảo lực thế giới, xét theo phương diện nhân loại. Nhiều mãnh lực đã được giải phóng và tiêu hao, và nhiều năng lượng cũng đã được sử dụng. Do đó, nhiều điều đã được làm sáng tỏ.

Many people are occupied today, in their individual lives, with exactly the same process and conflict. On a tiny scale, that which was worked out in the world war is being worked out in their lives. They are busy with the problems of maya. Hence today we find an increasing emphasis upon the physical cultures, disciplines, and upon the vogue for physical training, which finds its expression in the world of sport, in athletic exercises, military training and preparation for the Olympic Games. These latter are in themselves an initiation. In spite of all the wrong motives and the terrible and evil effects (speaking again with a wide generalisation), the training of the body and organised physical direction (which is taking place today in connection with the youth of all nations) is preparing the way for millions to pass upon the Path of Purification. Is this a hard saying? Humanity is under right direction, e’en if, during a brief interlude, they misunderstand the process and apply wrong motives to right activities.

Ngày nay nhiều người đang bận tâm, trong đời sống cá nhân của họ, với đúng cùng một tiến trình và xung đột ấy. Ở một quy mô nhỏ bé, điều đã được giải quyết trong cuộc thế chiến đang được giải quyết trong đời sống họ. Họ đang bận rộn với các vấn đề của ảo lực. Vì thế ngày nay chúng ta thấy có sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào các nền văn hóa thể chất, các kỷ luật, và vào trào lưu rèn luyện thân thể, vốn biểu lộ trong thế giới thể thao, trong các bài tập điền kinh, huấn luyện quân sự và sự chuẩn bị cho Thế Vận Hội. Chính những điều sau này tự chúng là một điểm đạo. Bất chấp mọi động cơ sai lầm và những hậu quả khủng khiếp, xấu ác (lại nói theo một khái quát hóa rộng lớn), việc rèn luyện thân thể và sự chỉ đạo hồng trần có tổ chức (đang diễn ra ngày nay liên quan đến thanh niên của mọi quốc gia) đang chuẩn bị con đường cho hàng triệu người bước lên Con Đường Thanh Lọc. Đây có phải là một lời khó chấp nhận chăng? Nhân loại đang ở dưới sự chỉ đạo đúng đắn, dù rằng trong một quãng xen ngắn ngủi, họ hiểu sai tiến trình và áp dụng những động cơ sai lầm vào các hoạt động đúng đắn.

[312]

[312]

There is a higher duality to which it is necessary that we refer. There is, for the disciples, the duality which becomes obvious when the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence face each other. This constitutes the final pair of opposites.

Có một nhị nguyên tính cao hơn mà chúng ta cần phải đề cập đến. Đối với các đệ tử, có nhị nguyên tính trở nên hiển nhiên khi Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện đối diện nhau. Điều này cấu thành cặp đối cực cuối cùng.

The Dweller on the Threshold is oft regarded as a disaster, as a horror to be avoided, and as a final and culminating evil. I would here remind you, nevertheless, that the Dweller is “one who stands before the gate of God”, who dwells in the shadow of the portal of initiation, and who faces the Angel of the Presence open-eyed, as the ancient Scriptures call it. The Dweller can be defined as the sum total of the forces of the lower nature as expressed in the personality, prior to illumination, to inspiration and to initiation. The personality per se, is, at this stage, exceedingly potent, and the Dweller embodies all the psychic and mental forces which, down the ages, have been unfolded in a man and nurtured with care. It can be looked upon as the potency of the threefold material form, prior to its conscious cooperation and dedication to the life of the soul and to the service of the Hierarchy, of God, and of humanity.

Kẻ Chận Ngõ thường được xem như một tai họa, như một điều kinh hoàng cần tránh, và như một điều ác cuối cùng và tột đỉnh. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng Kẻ Chận Ngõ là “kẻ đứng trước cổng của Thượng đế”, kẻ cư ngụ trong bóng của cổng điểm đạo, và đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện bằng đôi mắt mở rộng, như các Thánh thư cổ xưa gọi như vậy. Kẻ Chận Ngõ có thể được định nghĩa là tổng số các mãnh lực của bản chất thấp hơn như được biểu lộ trong phàm ngã, trước khi có sự soi sáng, cảm hứng và điểm đạo. Chính phàm ngã per se, ở giai đoạn này, cực kỳ mạnh mẽ, và Kẻ Chận Ngõ thể hiện mọi mãnh lực thông linh và trí tuệ mà qua các thời đại đã được khai mở trong một con người và được nuôi dưỡng cẩn trọng. Nó có thể được xem như tiềm lực của hình tướng vật chất tam phân, trước khi có sự hợp tác có ý thức và sự hiến dâng của nó cho đời sống của linh hồn và cho sự phụng sự Thánh Đoàn, Thượng đế, và nhân loại.

The Dweller on the Threshold is all that a man is, apart from the higher spiritual self; it is the third aspect of divinity as expressed in and through the human mechanism. This third aspect must be eventually subordinated to the second aspect, the soul.

Kẻ Chận Ngõ là tất cả những gì một người là, tách biệt khỏi bản ngã tinh thần cao hơn; nó là phương diện thứ ba của thiên tính như được biểu lộ trong và qua bộ máy nhân loại. Phương diện thứ ba này cuối cùng phải được đặt dưới sự phụ thuộc của phương diện thứ hai, linh hồn.

The two great contrasting forces, the Angel and the Dweller, are brought together—face to face—and the final conflict takes place. Again, you will note, that it is a meeting and battle between another and a higher pair of opposites. The aspirant, therefore, has three pairs of opposites with which to deal as he progresses towards light and liberation:

Hai mãnh lực tương phản lớn lao, Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ, được đưa lại với nhau—mặt đối mặt—và cuộc xung đột cuối cùng diễn ra. Một lần nữa, các bạn sẽ lưu ý rằng đó là một cuộc gặp gỡ và trận chiến giữa một cặp đối cực khác và cao hơn. Vì vậy, người chí nguyện có ba cặp đối cực mà y phải đề cập đến khi tiến về phía ánh sáng và giải thoát:

[313]

[313]

THE PAIRS OF OPPOSITES

CÁC CẶP ĐỐI CỰC

1.

Upon the physical plane

The dense and etheric forces. These are faced upon the Path of Purification.

Trên cõi hồng trần

Các mãnh lực đậm đặc và dĩ thái. Những mãnh lực này được đối mặt trên Con Đường Thanh Tịnh.

2.

Upon the astral plane

The well-known dualities. These are faced upon the Path of Discipleship.

Trên cõi cảm dục

Các nhị nguyên tính nổi tiếng. Những nhị nguyên tính này được đối mặt trên Con Đường Đệ Tử.

3.

Upon the mental plane

The Angel of the Presence and the Dweller on the Threshold.

Trên cõi trí

Thiên Thần của Hiện Diện và Kẻ Chận Ngõ.

These are faced upon the Path of Initiation.

b. DEVELOPMENT AND ALIGNMENT OF THE BODIES— SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CHỈNH HỢP CỦA CÁC THỂ

After these preliminary remarks, we can come now to a study of the previous tabulation in connection with the method whereby the soul appropriates the various bodies, how they are developed and inter-related, and finally how coordination and alignment is brought about. The last part of the tabulation was outlined in such a manner that many of the problems facing the psychologist at this time can be dealt with from an esoteric angle, and perhaps some light on these problems may then be forthcoming.

Sau những nhận xét sơ bộ này, giờ đây chúng ta có thể đi đến việc nghiên cứu bảng liệt kê trước đó liên hệ với phương pháp mà linh hồn chiếm hữu các thể khác nhau, cách chúng được phát triển và liên hệ với nhau, và cuối cùng cách sự phối hợp và chỉnh hợp được mang lại. Phần cuối của bảng liệt kê đã được phác họa theo một cách như thế để nhiều vấn đề đang đối diện nhà tâm lý học vào lúc này có thể được bàn đến từ một góc độ huyền bí, và có lẽ khi ấy một ít ánh sáng về các vấn đề này sẽ xuất hiện.

In the current occult literature, the careful student will come to the conclusion that the emphasis has been laid upon the process whereby the ego or soul draws to itself the form, utilising for that purpose a mental unit and two permanent atoms, thus anchoring itself in three worlds of human experience. The matter, or rather the substance, aspect has been the subject of immediate importance. Hence this subject was covered in my earlier books which are intended to aid in the bridging process between the older “techniques of understanding” and the esotericism which the new age will sponsor. We should, however, bear in mind two things:

Trong văn liệu huyền bí hiện nay, đạo sinh cẩn trọng sẽ đi đến kết luận rằng sự nhấn mạnh đã được đặt vào tiến trình mà chân ngã hay linh hồn tự kéo hình tướng về phía mình, sử dụng cho mục đích đó một đơn vị hạ trí và hai Nguyên tử trường tồn, nhờ đó neo chính nó trong ba cõi giới của kinh nghiệm nhân loại. Phương diện vật chất, hay đúng hơn là phương diện chất liệu, đã là đề tài có tầm quan trọng trực tiếp. Vì thế đề tài này đã được trình bày trong các sách trước đây của tôi, vốn nhằm trợ giúp trong tiến trình bắt cầu giữa các “kỹ thuật thấu hiểu” cũ hơn và huyền bí học mà kỷ nguyên mới sẽ bảo trợ. Tuy nhiên, chúng ta nên ghi nhớ hai điều:

1. That such terms as “mental unit”, “permanent atom”, etc., [314] are simply symbolic ways of expressing a difficult truth. The truth is that the soul is active on all the three lower planes, and that it is a type of energy, functioning in a field of force, thus producing an activity of some kind.

1. Rằng những thuật ngữ như “đơn vị hạ trí”, “Nguyên tử trường tồn”, v.v., [314] chỉ đơn giản là những cách biểu tượng để diễn đạt một chân lý khó khăn. Chân lý là linh hồn hoạt động trên cả ba cõi thấp, và rằng nó là một loại năng lượng, vận hành trong một trường mãnh lực, nhờ đó tạo ra một loại hoạt động nào đó.

2. That the permanent atoms are not really atoms at all, but simply focal points of energy, which are of sufficient power to attract and hold coherently together the substance required by the soul with which to create a form of expression.

2. Rằng các Nguyên tử trường tồn thực ra hoàn toàn không phải là nguyên tử, mà chỉ đơn giản là những điểm hội tụ năng lượng, có đủ quyền năng để thu hút và giữ kết hợp một cách mạch lạc chất liệu mà linh hồn cần đến để tạo ra một hình tướng biểu lộ.

The soul itself is a major centre of experience in the life of the monad; the lower bodies are centres of expression in the life of the soul. As the consciousness of the man shifts continuously into the higher bodies through which expression can become possible, the soul gradually becomes the paramount centre of experience in consciousness and the lesser centres of experience (the lower bodies) assume less and less importance. The soul experiences less through them, but uses them increasingly in service.

Bản thân linh hồn là một trung tâm kinh nghiệm lớn trong đời sống của chân thần; các thể thấp là những trung tâm biểu lộ trong đời sống của linh hồn. Khi tâm thức của con người liên tục chuyển vào các thể cao hơn, qua đó sự biểu lộ có thể trở nên khả hữu, linh hồn dần dần trở thành trung tâm kinh nghiệm tối thượng trong tâm thức và các trung tâm kinh nghiệm nhỏ hơn (các thể thấp) ngày càng ít quan trọng hơn. Linh hồn kinh nghiệm qua chúng ít hơn, nhưng ngày càng sử dụng chúng trong phụng sự.

This same thought must be carried into our concept of the soul as a centre of consciousness. The soul uses the bodies in the earlier stages of evolution as centres of conscious experience, and upon them and upon the experience is the emphasis laid. But as time progresses, the man becomes more soul-conscious and the consciousness which he experiences (as a soul in the three bodies) is of decreasing importance, until finally the bodies become simply instruments of contact through which the soul comes into understanding relationship with the world of the physical plane, of the feeling, sentient levels, and with the world of thought.

Cùng một tư tưởng này phải được mang vào khái niệm của chúng ta về linh hồn như một trung tâm tâm thức. Linh hồn sử dụng các thể trong các giai đoạn đầu của tiến hoá như những trung tâm của kinh nghiệm có ý thức, và sự nhấn mạnh được đặt trên chúng và trên kinh nghiệm. Nhưng khi thời gian trôi qua, con người trở nên ngày càng có tâm thức linh hồn hơn và tâm thức mà y kinh nghiệm (như một linh hồn trong ba thể) ngày càng kém quan trọng, cho đến cuối cùng các thể trở thành đơn thuần những công cụ tiếp xúc qua đó linh hồn đi vào mối liên hệ thấu hiểu với thế giới của cõi hồng trần, của các cấp độ cảm giác, cảm thụ, và với thế giới của tư tưởng.

In considering, therefore, the section with which we are now concerned, it is essential for right understanding and eventual psychological usefulness, that we remember constantly [315] that we shall be talking always in terms of consciousness and of soul energy, and are only dealing with sentient substance from the point of view of its usefulness in terms of time and space, or of manifestation. In thinking of the focal points of soul energy upon the mental, astral and physical planes, we will not think of the permanent atoms as material centres, or as germs of form, which is the prevailing idea. We will think of them simply as an expression—attractive or magnetic in quality as the case may be—of soul energy, playing upon energies which have in them the quality of responsiveness to the positive aspects of energy with which they are brought in contact. In elucidating this most difficult problem it might be said that the problems of psychology fall into two major groups:

Vì vậy, khi xem xét phần mà giờ đây chúng ta quan tâm, điều thiết yếu cho sự thấu hiểu đúng đắn và tính hữu ích tâm lý học về sau là chúng ta phải luôn luôn nhớ [315] rằng chúng ta sẽ luôn luôn nói theo các thuật ngữ của tâm thức và của năng lượng linh hồn, và chỉ đề cập đến chất liệu cảm thụ từ quan điểm về tính hữu ích của nó theo các thuật ngữ thời gian và không gian, hay của sự biểu hiện. Khi nghĩ đến các điểm hội tụ của năng lượng linh hồn trên các cõi trí tuệ, cảm dục và hồng trần, chúng ta sẽ không nghĩ đến các Nguyên tử trường tồn như những trung tâm vật chất, hay như những mầm của hình tướng, vốn là ý tưởng phổ biến. Chúng ta sẽ chỉ nghĩ đến chúng như một biểu hiện—có tính thu hút hay từ tính tùy trường hợp—của năng lượng linh hồn, tác động lên các năng lượng vốn có trong chúng phẩm tính đáp ứng với các phương diện dương của năng lượng mà chúng được đưa vào tiếp xúc. Khi làm sáng tỏ vấn đề cực kỳ khó khăn này, có thể nói rằng các vấn đề của tâm lý học rơi vào hai nhóm lớn:

1. A group of difficulties wherein the psychologist has to deal with those people whose vehicles of expression, as centres for the gaining of experience, are not adequately responsive to their environment for the creative, indwelling soul. When this is the case, the centres in the etheric body are diversely but only partially awakened, and the glandular system, therefore, is correspondingly mediocre and irregular.

1. Một nhóm khó khăn trong đó nhà tâm lý học phải xử lý những người mà các vận cụ biểu lộ của họ, như những trung tâm để đạt được kinh nghiệm, không đáp ứng đầy đủ với môi trường của họ đối với linh hồn sáng tạo, nội tại. Khi trường hợp này xảy ra, các trung tâm trong thể dĩ thái được thức tỉnh theo nhiều cách khác nhau nhưng chỉ một phần, và do đó hệ thống tuyến nội tiết cũng tương ứng ở mức tầm thường và bất thường.

2. Another group of difficulties concerns those human beings whose vehicles of expression, as centres of experience, are over-developed and over-stimulated without adequate conscious control by the soul. This development is, at this time, primarily focussed in the astral body, leading to over-sensitivity of the solar plexus centre or of the throat centre, and occasioning consequent difficulty. Much of the thyroid instability of the present time is based upon this.

2. Một nhóm khó khăn khác liên quan đến những con người mà các vận cụ biểu lộ của họ, như những trung tâm kinh nghiệm, được phát triển quá mức và bị kích thích quá độ mà không có sự kiểm soát có ý thức đầy đủ của linh hồn. Sự phát triển này, vào lúc này, chủ yếu tập trung trong thể cảm dục, dẫn đến sự quá nhạy cảm của trung tâm tùng thái dương hoặc của trung tâm cổ họng, và gây ra khó khăn hệ quả. Phần lớn sự bất ổn của tuyến giáp trong thời đại hiện nay dựa trên điều này.

There is a third class of difficulties which concern those who [316] are on the Path of Discipleship, but these we will not consider here. In these latter cases there is an abnormal over-sensitivity in the vehicles, the rush of force through from the soul, via the centres, presents real difficulty, and responsiveness to the environment is over-developed in many cases.

Có một loại khó khăn thứ ba liên quan đến những người [316] đang ở trên Con Đường Đệ Tử, nhưng ở đây chúng ta sẽ không xét đến. Trong các trường hợp sau này, có một sự quá nhạy cảm bất thường trong các vận cụ, sự tuôn đổ mãnh lực từ linh hồn qua các trung tâm gây ra khó khăn thực sự, và trong nhiều trường hợp sự đáp ứng với môi trường được phát triển quá mức.

These conditions are governed, as will be recognised, by the point in evolution, the ray type, the quality of past karma, and the present family, national and racial inherited characteristics. As we study, let us bear clearly in mind that it is the soul as a centre of consciousness and the vehicles as centres of experience with which we are concerning ourselves. We should seek to eliminate from our minds the more material connotations which past teachings have emphasised. Annie Besant in her Study of Consciousness sought to avoid the error of materialism and to voice a real vision of the truth, but words themselves are limiting things and oft veil and hide the truth. Her book, therefore, is of definite value. Remember also that a man’s consciousness is first of all, and usually, centred sequentially in the three bodies, and the centres of experience for him are primarily the field of his consciousness. He is identified for long with the field of experience and not with the real self. He has not yet identified himself with the conscious subject, or with the One Who is aware, but as time goes on, his centre of identification shifts, and he becomes less interested in the field of experience and more aware of the soul as the conscious, thinking Individual.

Những tình trạng này được chi phối, như sẽ được nhận ra, bởi điểm tiến hoá, loại cung, phẩm tính của nghiệp quả quá khứ, và các đặc tính di truyền hiện tại của gia đình, quốc gia và nhân loại. Khi nghiên cứu, chúng ta hãy ghi nhớ thật rõ rằng chính linh hồn như một trung tâm tâm thức và các vận cụ như những trung tâm kinh nghiệm là điều chúng ta đang quan tâm. Chúng ta nên tìm cách loại bỏ khỏi tâm trí mình những hàm nghĩa vật chất hơn mà các giáo huấn quá khứ đã nhấn mạnh. Annie Besant trong tác phẩm Study of Consciousness của bà đã tìm cách tránh sai lầm của chủ nghĩa duy vật và phát biểu một linh ảnh chân thực về chân lý, nhưng bản thân ngôn từ là những thứ giới hạn và thường che phủ, giấu kín chân lý. Vì vậy, sách của bà có giá trị rõ rệt. Cũng hãy nhớ rằng tâm thức của một người trước hết, và thường là như vậy, được đặt tuần tự trong ba thể, và các trung tâm kinh nghiệm đối với y chủ yếu là trường tâm thức của y. Y đồng hoá với trường kinh nghiệm trong một thời gian dài chứ không phải với chân ngã thực sự. Y chưa đồng hoá mình với chủ thể có ý thức, hay với Đấng đang nhận biết, nhưng khi thời gian trôi qua, trung tâm đồng hoá của y chuyển dịch, và y trở nên ít quan tâm hơn đến trường kinh nghiệm và ý thức hơn về linh hồn như Cá Thể có ý thức, biết suy tư.

The comprehension of each of us will depend upon where we each, as individuals, lay the emphasis, and where we are awake and alive, and of what we are conscious. When we have achieved the experience of the third initiation and are no longer identified with the vehicles of expression, then—on a higher turn of the spiral—another shift in the life expression and experience will take place. Then neither the centre [317] of experience, the soul, nor the vehicles of expression, the lower threefold man, will be considered from the angle of consciousness at all. The Life aspect will supersede all others. Of what use is it for us to discuss this stage when for many of us, as yet, the lower expressions of divine manifestations are dominant (or should one say “rampant”?) and even the soul fails to assume vital control?

Sự lĩnh hội của mỗi chúng ta sẽ tùy thuộc vào việc mỗi người chúng ta, với tư cách cá nhân, đặt sự nhấn mạnh ở đâu, và chúng ta tỉnh thức và sống động ở đâu, và chúng ta có tâm thức về điều gì. Khi chúng ta đã đạt được kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ ba và không còn đồng hoá với các vận cụ biểu lộ nữa, thì—trên một vòng xoắn cao hơn—một sự chuyển dịch khác trong biểu lộ và kinh nghiệm của đời sống sẽ diễn ra. Khi ấy, cả trung tâm [317] kinh nghiệm, linh hồn, lẫn các vận cụ biểu lộ, con người tam phân thấp hơn, sẽ hoàn toàn không còn được xét từ góc độ tâm thức nữa. Phương diện Sự sống sẽ thay thế tất cả các phương diện khác. Việc gì có ích cho chúng ta khi bàn luận về giai đoạn này trong khi đối với nhiều người trong chúng ta, các biểu lộ thấp hơn của những biểu hiện thiêng liêng vẫn đang chi phối (hay nên nói là “hoành hành”?) và ngay cả linh hồn cũng không đảm nhận được sự kiểm soát thiết yếu?

It was for this reason (when giving the earlier tabulation) that the words “building psychologically” were used, with the intent to direct the attention of the student to the soul or psyche as the building agency, but at the same time to negate or offset the material concept of body-building. Occultism is the science of energy manipulation, of the attractive or the repulsive aspect of force, and it is with this that we shall concern ourselves.

Chính vì lý do này (khi đưa ra bảng liệt kê trước đó) mà các từ “xây dựng về mặt tâm lý” đã được dùng, với ý định hướng sự chú ý của đạo sinh đến linh hồn hay psyche như tác nhân xây dựng, nhưng đồng thời phủ nhận hay hóa giải khái niệm vật chất về việc xây dựng thể. Huyền bí học là khoa học về sự vận dụng năng lượng, về phương diện thu hút hay đẩy lùi của mãnh lực, và chính điều này là điều chúng ta sẽ quan tâm.

In this soul activity is to be found the source or the germ of all the experiences which—on the physical plane today—are recognised and considered by the psychologist. In this thought is to be found the fact that there is no difficulty in the vehicles of expression but finds its correspondence and higher truth in the centre of experience which we call the soul.

Chính trong hoạt động linh hồn này có nguồn gốc hay mầm mống của mọi kinh nghiệm mà—trên cõi hồng trần ngày nay—được nhà tâm lý học nhận biết và xem xét. Chính trong tư tưởng này có sự kiện rằng không có khó khăn nào trong các vận cụ biểu lộ mà lại không tìm thấy sự tương ứng và chân lý cao hơn của nó trong trung tâm kinh nghiệm mà chúng ta gọi là linh hồn.

Take, for instance, the emphasis which is laid by certain psychologists upon the idea that all that we have inherited of truth (the idea of God, the concept of a future heaven, the ancient and exploded (?) belief around which the thoughts of men have superstitiously centred) are only the outer expression or formulations of a hidden “wish life.” This wish life is, we are told, based upon an inner and often hidden and unrealised sense of frustration, of disillusionment, of trouble; all the ideas which the race has prized down the ages and whereby most of its nobler souls have lived, are founded on illusion. With the formulation of these various “wish-fulfillments” [318] in the life of the individual, with the fact that they lead to many difficulties and strains and stresses which require careful adjustment, and with the belief that in these concepts is mixed much of a childish superstition, the Teachers upon the inner side would find Themselves in hearty agreement in many cases. But They make the following reservation. They state that the centres of expression through which the soul gains needed experience and becomes conscious in worlds of being, otherwise unknown, have come into manifestation as the result of the “wish” or the desire of the soul. It is the “wish-life” of the soul and not the frustrations of the personality which have brought about the situation with which man is today contending. Therefore, the emerging into the public consciousness (through the teaching of certain schools of psychologists) of knowledge anent this wish life and its increasing prevalence is definitely founded upon the fact that humanity is becoming soul-conscious and, therefore, slowly becoming aware of the wishes of the soul. But as man’s basic identifications remain as yet in the centres of expression and not in the centre of experience—the soul, there is an unavoidable, though temporary, distortion of the truth.

Lấy ví dụ, sự nhấn mạnh mà một số nhà tâm lý học đặt vào ý tưởng rằng tất cả những gì chúng ta đã thừa hưởng về chân lý (ý tưởng về Thượng đế, khái niệm về một cõi trời tương lai, niềm tin cổ xưa và đã bị bác bỏ (?) quanh đó tư tưởng của con người đã mê tín tập trung) chỉ là biểu hiện bên ngoài hay những công thức hóa của một “đời sống ước muốn” ẩn kín. Đời sống ước muốn này, như chúng ta được bảo, dựa trên một cảm nhận thất vọng, vỡ mộng, phiền não bên trong, thường ẩn kín và không được nhận ra; tất cả những ý tưởng mà nhân loại đã trân quý qua các thời đại và nhờ đó phần lớn những linh hồn cao quý hơn của họ đã sống, đều được đặt nền trên ảo tưởng. Với việc hình thành các “sự hoàn thành ước muốn” khác nhau này [318] trong đời sống cá nhân, với sự kiện rằng chúng dẫn đến nhiều khó khăn, căng thẳng và áp lực đòi hỏi sự điều chỉnh cẩn trọng, và với niềm tin rằng trong các khái niệm này có pha trộn nhiều mê tín trẻ con, các Huấn sư ở phía nội tại sẽ thấy Các Ngài hoàn toàn đồng ý trong nhiều trường hợp. Nhưng Các Ngài đưa ra sự dè dặt sau đây. Các Ngài tuyên bố rằng các trung tâm biểu lộ qua đó linh hồn đạt được kinh nghiệm cần thiết và trở nên có tâm thức trong các thế giới bản thể vốn nếu không thì không được biết đến, đã đi vào biểu hiện như kết quả của “ước muốn” hay dục vọng của linh hồn. Chính “đời sống ước muốn” của linh hồn chứ không phải những thất vọng của phàm ngã đã tạo ra tình huống mà con người ngày nay đang phải vật lộn. Vì vậy, sự xuất hiện vào tâm thức công chúng (qua giáo huấn của một số trường phái tâm lý học) của tri thức liên quan đến đời sống ước muốn này và sự phổ biến ngày càng tăng của nó rõ ràng được đặt nền trên sự kiện rằng nhân loại đang trở nên có tâm thức linh hồn và do đó đang chậm rãi nhận biết các ước muốn của linh hồn. Nhưng vì các sự đồng hoá căn bản của con người hiện vẫn còn ở trong các trung tâm biểu lộ chứ không phải trong trung tâm kinh nghiệm—linh hồn, nên có một sự bóp méo chân lý không thể tránh khỏi, dù chỉ là tạm thời.

We can approach another psychological problem in the same manner. Much is being written today which is the result of the development of the science of psycho-analysis. This is the problem of what is commonly called a “split personality”. This division in the continuity of consciousness (for that is what it basically is) takes many forms and sometimes produces more than simply a duality. The great expression of the continuity of desire is voiced for us by Paul, the initiate, in The Epistle to the Romans where he refers to the constant battle between the will-to-good and the will-to-evil, as it takes place within the periphery of consciousness of a human being. From certain angles this passage is prophetic, for the writer (perhaps [319] unknowingly) was looking forward to that period in the evolution of mankind when the “battle of the opposites” would be waged in its full strength, both individually and within all nations and races. Such a time is now upon us. As far as the individual is concerned, the psychologist is attempting to deal with the problem. As far as the race is concerned, the great social, philanthropic, political and religious movements are equally concerned with the same problem. This should be of interest to all for it indicates that the planetary kurukshetra is now being fought out and, therefore, that present affairs must be viewed from the angle of a basic psychology, which is expressive—in time and space—of that great centre of soul expression which we call the human family. It indicates also the advanced point of attainment in consciousness upon the path of evolution. When the battle is successfully fought, and there is a realisation in consciousness of the nature of the issue involved (and such an awareness is most rapidly developing), then we shall have a bridging of the gap and the fusing of the fundamental pairs of opposites (the soul and the form). This will bring in the new era of spiritual attainment or of soul contact.

Chúng ta có thể tiếp cận một vấn đề tâm lý học khác theo cùng cách ấy. Ngày nay đang có nhiều điều được viết ra là kết quả của sự phát triển của khoa học phân tâm học. Đó là vấn đề thường được gọi là “phàm ngã phân đôi”. Sự phân chia này trong tính liên tục của tâm thức (vì về căn bản đó chính là điều ấy) mang nhiều hình thức và đôi khi tạo ra nhiều hơn chỉ là một nhị nguyên tính. Biểu hiện lớn lao của tính liên tục của dục vọng được Paul, điểm đạo đồ, phát biểu cho chúng ta trong Thư gửi tín hữu La Mã, nơi ông đề cập đến trận chiến liên tục giữa Ý Chí-hướng Thiện và ý chí hướng ác, như nó diễn ra trong chu vi của tâm thức của một con người. Từ một số góc độ, đoạn văn này có tính tiên tri, vì tác giả (có lẽ [319] một cách không biết) đã nhìn về phía trước đến giai đoạn trong tiến hoá của nhân loại khi “trận chiến của các đối cực” sẽ được tiến hành với toàn bộ sức mạnh của nó, cả trên bình diện cá nhân lẫn trong mọi quốc gia và nhân loại. Một thời kỳ như thế hiện đang ở trên chúng ta. Xét theo cá nhân, nhà tâm lý học đang cố gắng xử lý vấn đề. Xét theo nhân loại, các phong trào xã hội, từ thiện, chính trị và tôn giáo lớn lao cũng đều quan tâm đến cùng một vấn đề. Điều này nên là mối quan tâm đối với tất cả, vì nó cho thấy rằng kurukshetra hành tinh hiện đang được chiến đấu và do đó các sự vụ hiện tại phải được nhìn từ góc độ của một tâm lý học căn bản, vốn là sự biểu lộ—trong thời gian và không gian—của trung tâm lớn lao của biểu lộ linh hồn mà chúng ta gọi là gia đình nhân loại. Nó cũng cho thấy điểm thành tựu cao cấp trong tâm thức trên đường tiến hoá. Khi trận chiến được chiến đấu thành công, và có một sự chứng nghiệm trong tâm thức về bản chất của vấn đề liên quan (và một sự nhận biết như thế đang phát triển rất nhanh), khi ấy chúng ta sẽ có sự bắt cầu qua khoảng trống và sự dung hợp của các cặp đối cực căn bản (linh hồn và hình tướng). Điều này sẽ mang vào kỷ nguyên mới của thành tựu tinh thần hay của tiếp xúc linh hồn.

The thought which should be dominant in our minds today, in order that we may rightly understand the correct use of this whole section is simply this:—that the right appropriation of form by the soul is the result of an initial wish or desire. It is the result of a fundamental outgoing impulse on the part of the centre of energy. This tendency outwards is expressed in many differing words or expressions in the literature of the world, such as:

Tư tưởng nên chi phối tâm trí chúng ta ngày nay, để chúng ta có thể thấu hiểu đúng việc sử dụng đúng đắn của toàn bộ phần này, chỉ đơn giản là điều này:—rằng sự chiếm hữu hình tướng đúng đắn của linh hồn là kết quả của một ước muốn hay dục vọng ban đầu. Nó là kết quả của một xung lực hướng ngoại căn bản từ phía trung tâm năng lượng. Khuynh hướng hướng ra ngoài này được biểu lộ bằng nhiều từ ngữ hay cách diễn đạt khác nhau trong văn liệu của thế giới, như:

a. The desire to manifest.

a. Dục vọng biểu hiện.

b. The creative impulse.

b. Xung lực sáng tạo.

c. The evolutionary urge.

c. Thúc lực tiến hoá.

[320]

[320]

d. The wish to incarnate.

d. Ước muốn lâm phàm.

e. The attraction of the pairs of opposites. This is positive energy having an attractive effect upon negative energy.

e. Sự thu hút của các cặp đối cực. Đây là năng lượng dương có tác động thu hút lên năng lượng âm.

f. The outgoing tendency.

f. Khuynh hướng hướng ngoại.

g. The fall of man.

g. Sự sa ngã của con người.

h. The “sons of God came in unto the daughters of men”. (The Bible)

h. “các Con của Thượng đế đến cùng các con gái loài người”. (Kinh Thánh)

i. The “corn of wheat falling into the ground”.

i. “hạt lúa mì rơi xuống đất”.

Many such expressions can be found, having in them symbolic quality and which are not to be interpreted literally, or with a physical connotation. Each idea, however, involves a duality, and the concept that there is “that which is manifesting through the form of the manifest”. This is “the soul and the form”, and many other similar phrases are familiar to all of us.

Có thể tìm thấy nhiều cách diễn đạt như thế, mang trong chúng phẩm tính biểu tượng và không được giải thích theo nghĩa đen, hay với hàm nghĩa hồng trần. Tuy nhiên, mỗi ý tưởng đều bao hàm một nhị nguyên tính, và khái niệm rằng có “điều đang biểu lộ qua hình tướng của cái được biểu lộ”. Đây là “linh hồn và hình tướng”, và nhiều cụm từ tương tự khác đều quen thuộc với tất cả chúng ta.

I would urge you to preserve, as far as possible, the thought of the psychological implications, considering this whole section from the angle in sentiency, for in sentiency (as you well know) lies the entire psychological problem. It is always and in every case the problem of response to environment and opportunity, and in this idea lies much for the esoteric psychologist. In sensitive awareness lies the secret of progress for the psyche, and also the secret of the many states of consciousness which the sentient or feeling factor, the soul, experiences on the path of evolution as it expands—

Tôi muốn thúc giục các bạn bảo tồn, càng nhiều càng tốt, tư tưởng về các hàm ý tâm lý học, xem xét toàn bộ phần này từ góc độ của tính cảm thụ, vì trong tính cảm thụ (như các bạn biết rõ) có toàn bộ vấn đề tâm lý học. Luôn luôn và trong mọi trường hợp, đó là vấn đề đáp ứng với môi trường và cơ hội, và trong ý tưởng này có nhiều điều dành cho nhà tâm lý học huyền bí. Trong sự nhận biết nhạy cảm có bí mật của sự tiến bộ đối với psyche, và cũng có bí mật của nhiều trạng thái tâm thức mà yếu tố cảm thụ hay cảm giác, linh hồn, kinh nghiệm trên đường tiến hoá khi nó mở rộng—

a. The sphere of its contacts,

a. Khối cầu các tiếp xúc của nó,

b. The range of its influence,

b. Phạm vi ảnh hưởng của nó,

c. The field of its conscious activity.

c. Trường hoạt động có ý thức của nó.

I have expressed these three in the order of their appearance. We are apt to consider these appearances from the point of view of man upon the physical plane. It is necessary to [321] consider them from the point of view of the soul and the process of experiencing. This is an angle of vision which is only truly possible to the man who is beginning to function as a soul.

Tôi đã diễn đạt ba điều này theo thứ tự xuất hiện của chúng. Chúng ta có khuynh hướng xem xét các biểu hiện này từ quan điểm của con người trên cõi hồng trần. Cần phải [321] xem xét chúng từ quan điểm của linh hồn và tiến trình kinh nghiệm. Đây là một góc nhìn chỉ thực sự khả hữu đối với người đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn.

It is here that the ray nature of any specific soul is first of all brought into activity, for its colouring, tone, quality and its basic vibration determine psychologically the colour, tone, quality and basic vibration of the mind-energy demonstrated. It conditions the sentient form attracted and the vital body which constitutes the attractive agency upon the physical plane, drawing to itself the type of negative energy or substance through which the quality, tone or vibration of the specific centre of experience can be expressed, and the environment contacted. In the early stages of manifestation, it is the nature of the form or of the vehicle which dominates and is the outstanding characteristic. The nature of quality, of the underlying soul, is not apparent. Then the form or vehicle is sentient in two directions: outwards towards the environment, which leads (as evolution proceeds) to the perfecting of the vehicle, and inwards towards the higher progressive impulse, which leads to the definite expansion of consciousness. These higher impulses are progressive in their appearance. It might, in this connection be stated that:

Chính ở đây bản chất cung của bất kỳ linh hồn đặc thù nào trước hết được đưa vào hoạt động, vì sắc thái, âm điệu, phẩm tính và rung động căn bản của nó quyết định về mặt tâm lý học sắc thái, âm điệu, phẩm tính và rung động căn bản của năng lượng trí tuệ được biểu lộ. Nó tác động lên hình tướng cảm thụ được thu hút và thể sinh lực/thể dĩ thái vốn cấu thành tác nhân thu hút trên cõi hồng trần, tự kéo về phía mình loại năng lượng âm hay chất liệu qua đó phẩm tính, âm điệu hay rung động của trung tâm kinh nghiệm đặc thù có thể được biểu lộ, và môi trường được tiếp xúc. Trong các giai đoạn đầu của sự biểu hiện, bản chất của hình tướng hay của vận cụ là điều chi phối và là đặc tính nổi bật. Bản chất của phẩm tính, của linh hồn nền tảng, không hiển lộ. Khi ấy hình tướng hay vận cụ cảm thụ theo hai hướng: hướng ra ngoài về phía môi trường, điều này dẫn đến (khi tiến hoá tiếp diễn) sự hoàn thiện của vận cụ, và hướng vào trong về phía xung lực tiến bộ cao hơn, điều này dẫn đến sự mở rộng rõ rệt của tâm thức. Những xung lực cao hơn này tiến bộ trong sự xuất hiện của chúng. Liên hệ với điều này, có thể nói rằng:

1. The physical nature becomes responsive to

1. Bản chất hồng trần trở nên đáp ứng với

a. Desire,

a. Dục vọng,

b. Ambition,

b. Tham vọng,

c. Aspiration.

c. Khát vọng.

The fusion of the sentient, astral body and the physical body then becomes complete.

Khi ấy sự dung hợp của thể cảm dục cảm thụ và thể xác trở nên hoàn tất.

2. This basic duality then becomes responsive to

2. Nhị nguyên tính căn bản này khi ấy trở nên đáp ứng với

a. The lower concrete mind,

a. Hạ trí cụ thể,

[322]

[322]

b. The separative impulses of the selfish mental body,

b. Các xung lực phân ly của thể trí ích kỷ,

c. The intellect, the synthesis of mind and instinct,

c. Trí năng, sự tổng hợp của trí tuệ và bản năng,

d. The promptings of the soul.

d. Những thôi thúc của linh hồn.

This produces an integration of the three energies which constitute the threefold lower man.

Điều này tạo ra sự tích hợp của ba năng lượng cấu thành con người tam phân thấp hơn.

3. This triplicity then becomes responsive to

3. Bộ ba này khi ấy trở nên đáp ứng với

a. Itself, as an integrated personality. Then the rhythm set up by the fusion of the lower energies (the astral and the mental) becomes dominant.

a. Chính nó, như một phàm ngã tích hợp. Khi ấy nhịp điệu được thiết lập bởi sự dung hợp của các năng lượng thấp hơn (cảm dục và trí tuệ) trở nên chi phối.

b. The Soul, as the fundamental centre of experience. The personality gets a vision of its destiny, which is to be an instrument of a higher force.

b. Linh hồn, như trung tâm kinh nghiệm căn bản. Phàm ngã có được một linh ảnh về định mệnh của nó, là trở thành một công cụ của một mãnh lực cao hơn.

c. The intuition.

c. Trực giác.

d. The source of inspiration, the monad.

d. Nguồn của cảm hứng, chân thần.

A few students may get the symbolic significance of the process, if they grasp the fact that, in the earlier stages upon the evolutionary path, the Monad is the source of the exhalation or of the expiration which brought the soul into being upon the physical plane: upon the Path of Return, with which we are concerned in the latter stage, the Monad is the source of inhalation or of the inspiration.

Một vài đạo sinh có thể nắm được ý nghĩa biểu tượng của tiến trình, nếu họ hiểu được sự kiện rằng, trong các giai đoạn đầu trên đường tiến hoá, chân thần là nguồn của sự thở ra hay sự xuất khí đã đưa linh hồn vào hiện hữu trên cõi hồng trần: trên Con Đường Trở Về, điều mà chúng ta quan tâm trong giai đoạn sau, chân thần là nguồn của sự hít vào hay của cảm hứng.

In the process of exhalation or of the breathing-out, a certain type of divine energy focussed itself as a centre of experience in that type of sentient substance which we call higher mental matter. This eventually formed that aspect of man which we call the soul. In its turn, the soul continued in this process of exhalation or breathing out, initiated by the monad, or the One Life. The energy thus sent forth forms centres of experience in the three worlds through the process of “attractive appropriation” of qualified material or substance. Through these centres, the needed experience is gained, the life process [323] is intensified, the range of experience through contact with an ever-widening environment becomes possible, leading to successive expansions of consciousness which are called initiations in the later stages, when consciously undergone and definitely self-initiated. Thus the field of soul influence is steadily enlarged. Whilst this soul activity is proceeding, a paralleling activity in the material substance is going on, which steadily brings the negative aspect of matter or substance up to the positive requirements of the soul. The vehicles of expression, the mechanism of manifestation and the centres for experience improve as the consciousness widens and deepens.

Trong tiến trình thở ra hay phát hơi ra, một loại năng lượng thiêng liêng nào đó đã tự hội tụ như một trung tâm kinh nghiệm trong loại chất liệu cảm thụ mà chúng ta gọi là vật chất thượng trí. Điều này cuối cùng đã hình thành phương diện của con người mà chúng ta gọi là linh hồn. Đến lượt mình, linh hồn tiếp tục trong tiến trình thở ra hay phát hơi ra này, do chân thần, hay Sự sống Duy Nhất, khởi xướng. Năng lượng được phóng ra như thế tạo thành các trung tâm kinh nghiệm trong ba cõi giới qua tiến trình “chiếm hữu bằng sự thu hút” chất liệu hay vật chất đã được định tính. Qua các trung tâm này, kinh nghiệm cần thiết được đạt tới, tiến trình sự sống [323] được tăng cường, phạm vi kinh nghiệm qua tiếp xúc với một môi trường ngày càng mở rộng trở nên khả hữu, dẫn đến những sự mở rộng tâm thức liên tiếp mà trong các giai đoạn sau được gọi là các điểm đạo, khi được trải qua một cách có ý thức và rõ ràng do chính mình khởi xướng. Như thế trường ảnh hưởng của linh hồn được mở rộng đều đặn. Trong khi hoạt động linh hồn này đang tiến hành, một hoạt động song song trong chất liệu vật chất cũng đang diễn ra, hoạt động này đều đặn nâng phương diện âm của vật chất hay chất liệu lên đáp ứng các đòi hỏi dương của linh hồn. Các vận cụ biểu lộ, bộ máy biểu hiện và các trung tâm kinh nghiệm được cải thiện khi tâm thức mở rộng và đào sâu.

From the standpoint of psychology, this means that the glandular equipment, the physical apparatus, and the response instrument become increasingly efficient, whilst an inner coordination and integration proceeds apace. The dilemma of the psychologist today is largely due to the fact that the law of rebirth is not yet recognised scientifically or among the intelligentsia. He is therefore faced with the problems of the inequalities in the physical equipment, everywhere prevalent. There is a widespread failure to recognise the underlying cause which is responsible for the “appearance”, for the mechanism. There is, therefore, no scientific proof (as the word is understood at this time) of the field of experience. There is—in time and space—no synthesis (esoterically understood) permitted, but simply the isolated appearance of a human being, making up hosts of human beings, variously equipped, greatly limited by that equipment, and faced also with an environment which seems antagonistic, lacking inner synthesis, coordination and integration, except in the case of the highly intelligent and deeply spiritual people, those who are definitely functioning souls. For these latter, the average psychologist has no adequate explanation.

Từ quan điểm của tâm lý học, điều này có nghĩa là bộ máy tuyến nội tiết, khí cụ hồng trần, và công cụ đáp ứng trở nên ngày càng hữu hiệu hơn, trong khi một sự phối hợp và tích hợp nội tại tiến triển nhanh chóng. Thế lưỡng nan của nhà tâm lý học ngày nay phần lớn là do sự kiện rằng định luật tái sinh chưa được công nhận một cách khoa học hay trong giới trí thức. Vì vậy y phải đối diện với các vấn đề về những bất bình đẳng trong khí cụ hồng trần, vốn phổ biến khắp nơi. Có một sự thất bại lan rộng trong việc nhận ra nguyên nhân nền tảng chịu trách nhiệm cho “sắc tướng”, cho bộ máy. Vì vậy, không có bằng chứng khoa học nào (theo cách từ này được hiểu vào lúc này) về trường kinh nghiệm. Không có—trong thời gian và không gian—một sự tổng hợp nào (được hiểu theo huyền bí học) được cho phép, mà chỉ đơn giản là sắc tướng cô lập của một con người, hợp thành vô số con người, được trang bị khác nhau, bị giới hạn rất nhiều bởi chính khí cụ ấy, và cũng phải đối diện với một môi trường dường như đối kháng, thiếu sự tổng hợp, phối hợp và tích hợp nội tại, ngoại trừ trong trường hợp của những người có trí tuệ cao và tinh thần sâu sắc, những người rõ ràng đang hoạt động như các linh hồn. Đối với những người sau này, nhà tâm lý học trung bình không có lời giải thích thích đáng nào.

[324]

[324]

The integration of an individual into his environment is proceeding apace, and the psychological adjustment of man to his field of experience will steadily improve. Upon this, humanity can count, and to this, the history of man’s development as a knowing being testifies. But the integration of the human being into time has not been accomplished and even this statement will be little understood. Man’s origin and his goal remain largely unconsidered, and he is studied from the angle of this one short life, and from the point of view of his present equipment. Until he is integrated into time as well as into his environment and until the Law of Rebirth is admitted as the most likely hypothesis, there will be no real understanding of the process of evolution, of the relationships of individuals, and the nature of the unfoldment of the equipment. There will be no true wisdom. Knowledge comes, as the individual integrates into his environment. Wisdom comes as he becomes coordinated into the processes of time. The mechanism is related to the environment, and is the apparatus of contact and the means through which the experiencing soul arrives at a full awareness of the field of knowledge. This soul is the identity—which is time—conscious in the true sense of the word, and which views the period of manifestation as a whole, gaining thus a sense of proportion, an understanding of values and an inner sense of synthesis.

Sự tích hợp của một cá nhân vào môi trường của mình đang tiến triển nhanh chóng, và sự điều chỉnh tâm lý của con người đối với trường kinh nghiệm của mình sẽ đều đặn được cải thiện. Nhân loại có thể trông cậy vào điều này, và lịch sử phát triển của con người như một hữu thể biết đã làm chứng cho điều đó. Nhưng sự tích hợp của con người vào thời gian thì chưa được hoàn tất, và ngay cả phát biểu này cũng sẽ ít được thấu hiểu. Nguồn gốc và mục tiêu của con người phần lớn vẫn không được xem xét, và con người được nghiên cứu từ góc độ của một đời sống ngắn ngủi này, cũng như từ quan điểm về bộ máy hiện tại của mình. Chừng nào y chưa được tích hợp vào thời gian cũng như vào môi trường của mình, và chừng nào Định luật Tái Sinh chưa được thừa nhận như giả thuyết có nhiều khả năng nhất, thì sẽ không có sự thấu hiểu thực sự nào về tiến trình tiến hoá, về các mối liên hệ giữa các cá nhân, và về bản chất của sự khai mở của bộ máy. Sẽ không có minh triết chân chính. Tri thức đến khi cá nhân tích hợp vào môi trường của mình. Minh triết đến khi y trở nên phối hợp với các tiến trình của thời gian. Bộ máy liên hệ với môi trường, và là khí cụ tiếp xúc cùng phương tiện nhờ đó linh hồn đang kinh nghiệm đi đến sự nhận biết đầy đủ về trường tri thức. Linh hồn này là bản sắc—vốn có ý thức về thời gian theo ý nghĩa chân thực của từ ấy—và nhìn giai đoạn biểu hiện như một toàn thể, nhờ đó đạt được Ý thức về tỉ lệ, sự thấu hiểu các giá trị và một cảm nhận nội tại về tổng hợp.

Little by little the triple mechanism is developed and the centre of experience expands in knowledge. Today this knowledge is of a very high order, and the world is full of personalities. Supplementing our earlier definitions, a personality might be simply defined as:

Từng chút một, cơ chế tam phân được phát triển và trung tâm kinh nghiệm mở rộng trong tri thức. Ngày nay tri thức này thuộc một trật tự rất cao, và thế giới đầy những phàm ngã. Bổ sung cho các định nghĩa trước đây của chúng ta, một phàm ngã có thể được định nghĩa đơn giản là:

a. An equipment which is becoming adequate in three directions of contact. The experiencing soul can now begin to use the instrument effectively.

a. Một bộ máy đang trở nên thích đáng trong ba hướng tiếp xúc. Linh hồn đang kinh nghiệm giờ đây có thể bắt đầu sử dụng khí cụ một cách hữu hiệu.

[325]

[325]

b. An expression of the creative power of the soul which is ready to transmute knowledge into wisdom.

b. Một biểu hiện của quyền năng sáng tạo của linh hồn, sẵn sàng chuyển hoá tri thức thành minh triết.

c. An incarnate soul, which is now ready to work consciously with the time factor, for, having learned how to work with the factor of environment, the soul can now begin to control circumstances and environment from the standpoint of time. This means, in the first instance, the right use of time and opportunity and then the establishing of continuity of consciousness.

c. Một linh hồn nhập thể, giờ đây đã sẵn sàng làm việc một cách hữu thức với yếu tố thời gian, vì sau khi đã học cách làm việc với yếu tố môi trường, linh hồn giờ đây có thể bắt đầu kiểm soát hoàn cảnh và môi trường từ quan điểm của thời gian. Điều này trước hết có nghĩa là sử dụng đúng thời gian và cơ hội, rồi sau đó thiết lập sự liên tục của tâm thức.

It is not my intention to deal with the building of the various bodies. I seek here to generalise and to take up the theme from the point of attainment of modern humanity. Hints are given in A Treatise on Cosmic Fire which, if duly studied, will serve to elucidate the early problem of the soul’s impulse to creation. We will, therefore, accept the fact of the initial creation of the forms, based upon the wish or desire to manifest, and proceed with our theme along the idea of experience, expression, and expansion, dealing with modern man and his problems from the standpoint of the psychological development of his problems.

Tôi không có ý định bàn đến việc xây dựng các thể khác nhau. Ở đây tôi tìm cách khái quát hóa và nêu chủ đề từ điểm thành tựu của nhân loại hiện đại. Những gợi ý được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nếu được nghiên cứu đúng mức, sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề ban đầu về xung lực sáng tạo của linh hồn. Vì vậy, chúng ta sẽ chấp nhận sự kiện về sự sáng tạo ban đầu của các hình tướng, dựa trên ước muốn hay ham muốn biểu hiện, và tiếp tục chủ đề của chúng ta theo ý niệm về kinh nghiệm, biểu hiện, và mở rộng, đề cập đến con người hiện đại và các vấn đề của y từ quan điểm của sự phát triển tâm lý của các vấn đề ấy.

c. INTER-RELATIONS OF THE PERSONALITY LIFE— CÁC MỐI TƯƠNG LIÊN CỦA ĐỜI SỐNG PHÀM NGÃ

In dealing now with the esoteric aspect of the appropriation of the vehicles through which a manifesting Son of God can express himself, it is impossible to avoid the use of some form of symbolic rendering of words. So long, however, as the student remembers that they are symbolic, there is no real danger of a basic misunderstanding. The analytical, intelligent mind uses forms of speech in order to limit the concept intuited within terms which can be comprehended, and abstract ideas are thereby brought down to the level of the understanding.

Giờ đây, khi bàn đến phương diện huyền bí của việc chiếm hữu các vận cụ mà qua đó một Con của Thượng đế đang biểu hiện có thể tự biểu lộ, không thể tránh khỏi việc sử dụng một hình thức diễn đạt bằng lời có tính biểu tượng nào đó. Tuy nhiên, chừng nào đạo sinh còn nhớ rằng chúng có tính biểu tượng, thì không có nguy cơ thực sự nào về một sự hiểu lầm căn bản. Trí tuệ phân tích, thông minh sử dụng các hình thức ngôn từ để giới hạn khái niệm được trực giác cảm nhận trong những thuật ngữ có thể được lĩnh hội, và nhờ đó các ý tưởng trừu tượng được hạ xuống mức độ của sự thấu hiểu.

[326]

[326]

We have seen that our major consideration must be that of the soul as a centre of consciousness and of the bodies as a centre of experience, and with this postulate we lay the foundation for our future psychological investigations. We are not here dealing with the question of why this is so, or of how it may have come about. We accept the statement as basic and fundamental, and take our stand upon the premise that the nature of life in the world is experience-gaining, because we see this happening around us on every side and can note it occurring in our own lives.

Chúng ta đã thấy rằng điều xem xét chủ yếu của chúng ta phải là linh hồn như một trung tâm tâm thức và các thể như một trung tâm kinh nghiệm, và với định đề này chúng ta đặt nền tảng cho các khảo cứu tâm lý tương lai của mình. Ở đây chúng ta không bàn đến câu hỏi tại sao điều này lại như vậy, hay nó có thể đã xảy ra như thế nào. Chúng ta chấp nhận phát biểu ấy như điều căn bản và nền tảng, và đứng trên tiền đề rằng bản chất của sự sống trong thế giới là thu đạt kinh nghiệm, bởi vì chúng ta thấy điều này đang diễn ra quanh mình ở khắp mọi phía và có thể nhận thấy nó xảy ra trong chính đời sống của mình.

We can divide people into three groups:

Chúng ta có thể chia con người thành ba nhóm:

1. Those who are unconsciously gaining experience, but are at the same time so engrossed with the processes of the results of experiencing, that they remain unaware of the deeper objectives.

1. Những người đang vô thức thu đạt kinh nghiệm, nhưng đồng thời lại quá mải mê với các tiến trình của những kết quả do kinh nghiệm đem lại đến nỗi họ vẫn không nhận biết các mục tiêu sâu xa hơn.

2. Those who are dimly awakening to the fact that adaptation to the ways of living to which they are subjected, and from which there seems no escape, means for them the learning of some lesson which

2. Những người đang mơ hồ thức tỉnh trước sự kiện rằng việc thích nghi với những lối sống mà họ phải chịu và dường như không thể thoát khỏi, có nghĩa đối với họ là học một bài học nào đó, bài học ấy

a. Enriches their lives, usually in the practical and material sense.

a. Làm phong phú đời sống của họ, thường là theo nghĩa thực tiễn và vật chất.

b. Intensifies their sensitive perception.

b. Làm tăng cường sự nhận cảm nhạy bén của họ.

c. Permits of the development of quality and the steady acquiring of characteristics, facilities and capacities.

c. Cho phép phát triển phẩm tính và đều đặn thu đạt các đặc tính, khả năng thuận lợi và năng lực.

3. Those who are awakened to the purpose of experience, and who are consequently bringing to every event an intelligent power to extract from the happenings to which they are subjected some gain to the life of the soul. They have learnt to regard the environment in which they find themselves as the place of purification and the field of their planned service.

3. Những người đã thức tỉnh trước mục đích của kinh nghiệm, và do đó đang mang đến cho mọi biến cố một năng lực thông minh để rút ra từ những sự việc mà họ phải trải qua một lợi ích nào đó cho đời sống của linh hồn. Họ đã học cách xem môi trường mà họ đang ở trong đó như nơi thanh luyện và là cánh đồng phụng sự đã được hoạch định của họ.

[327]

[327]

This is a rough and broad generalisation, but it accounts for human experience and consequent attitudes in the three major groupings.

Đây là một sự khái quát hóa thô sơ và rộng lớn, nhưng nó giải thích kinh nghiệm của con người và các thái độ hệ quả trong ba nhóm lớn.

It is of interest to bear in mind that the process of the appropriation of the bodies, presents similar stages with respect to the evolution of the form and to the evolution of the indwelling life. In the history of the material aspect of manifestation, there have been (as the occult books teach) the following stages:

Điều đáng lưu ý là tiến trình chiếm hữu các thể cũng trình bày những giai đoạn tương tự xét theo sự tiến hoá của hình tướng và sự tiến hoá của sự sống nội tại. Trong lịch sử của phương diện vật chất của biểu hiện, đã có (như các sách huyền bí dạy) những giai đoạn sau đây:

1. The stage of involution, or of appropriation, and of construction of the vehicles of expression upon the downward arc, where the emphasis is upon the building, growth and appropriation of the bodies, and not so much upon the indwelling, conscious Entity.

1. Giai đoạn giáng hạ tiến hoá, hay chiếm hữu, và kiến tạo các vận cụ biểu hiện trên cung đi xuống, trong đó trọng tâm đặt vào việc xây dựng, tăng trưởng và chiếm hữu các thể, chứ không đặt nhiều vào Thực Thể hữu thức nội tại.

2. The stage of evolution, or of refinement and the development of quality, leading to liberation upon the upward arc.

2. Giai đoạn tiến hoá, hay tinh luyện và phát triển phẩm tính, dẫn đến giải thoát trên cung đi lên.

It is the same in the psychological history of the human being. There too we find a somewhat similar process, divided into two stages, marking the involution and the evolution of consciousness.

Trong lịch sử tâm lý của con người cũng vậy. Ở đó chúng ta cũng thấy một tiến trình phần nào tương tự, được chia thành hai giai đoạn, đánh dấu sự giáng hạ tiến hoá và sự tiến hoá của tâm thức.

Hitherto in the occult books (as I earlier pointed out) the emphasis has been upon the development of the form side of life, and upon the nature and quality of that form as it responds, upon different levels of the planetary life, to the impact of the environment in the early stages and to the impress of the soul at the later stages. In this Treatise with which we are now engaged, our primary aim is to point out the effect upon the soul of the experiences undergone in the bodies, and the process whereby the consciousness aspect of divinity is expanded, culminating as it does in what is technically called an initiation. Each of the two major divisions [328] of this process—involution and evolution—could be divided into six definite expansions of consciousness. Those upon the upward arc differ from those upon the downward arc in objective and motive and in scope, and are essentially sublimations of the lower aspects of the unfoldment of consciousness. These six stages might be called:

Cho đến nay trong các sách huyền bí (như tôi đã chỉ ra trước đây), trọng tâm được đặt vào sự phát triển của mặt hình tướng của sự sống, và vào bản chất cùng phẩm tính của hình tướng ấy khi nó đáp ứng, trên các cấp độ khác nhau của sự sống hành tinh, với tác động của môi trường trong các giai đoạn đầu và với ấn tượng của linh hồn trong các giai đoạn sau. Trong bộ Luận này mà hiện nay chúng ta đang nghiên cứu, mục đích chính của chúng ta là chỉ ra ảnh hưởng đối với linh hồn của những kinh nghiệm trải qua trong các thể, và tiến trình nhờ đó phương diện tâm thức của thiên tính được mở rộng, đạt đỉnh điểm trong điều mà về mặt kỹ thuật được gọi là một lần điểm đạo. Mỗi một trong hai phân bộ lớn [328] của tiến trình này—giáng hạ tiến hoá và tiến hoá—đều có thể được chia thành sáu sự mở rộng tâm thức xác định. Những sự mở rộng trên cung đi lên khác với những sự mở rộng trên cung đi xuống về mục tiêu, động cơ và phạm vi, và về bản chất là những sự thăng hoa của các phương diện thấp hơn của sự khai mở tâm thức. Sáu giai đoạn này có thể được gọi là:

1. The stage of Appropriation.

1. Giai đoạn Chiếm hữu.

2. The stage of Aspiration.

2. Giai đoạn Khát vọng.

3. The stage of Approach.

3. Giai đoạn Tiếp cận.

4. The stage of Appearance.

4. Giai đoạn Sắc tướng.

5. The stage of Activity.

5. Giai đoạn Hoạt động.

6. The stage of Ambition.

6. Giai đoạn Tham vọng.

Each stage, when at its height of expression, involves a period of crisis. This crisis precedes the unfoldment of the next stage in the conscious awakening of man. We here are viewing Man as a conscious thinker, and not man as a member of the fourth kingdom in nature. Ponder upon this distinction, for it marks the points of emphasis and the focus of the identification.

Mỗi giai đoạn, khi đạt đến đỉnh cao biểu hiện của nó, đều bao hàm một thời kỳ khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng này đi trước sự khai mở của giai đoạn kế tiếp trong sự thức tỉnh hữu thức của con người. Ở đây chúng ta đang nhìn Con Người như một tư tưởng gia hữu thức, chứ không phải con người như một thành viên của giới thứ tư trong thiên nhiên. Hãy suy ngẫm về sự phân biệt này, vì nó đánh dấu các điểm nhấn mạnh và tiêu điểm của sự đồng hoá.

In the first stage of appropriation, we have the soul or the conscious thinker (the divine son of God, or manasaputra) doing three things:

Trong giai đoạn đầu của sự chiếm hữu, chúng ta có linh hồn hay tư tưởng gia hữu thức (con thiêng liêng của Thượng đế, hay manasaputra) làm ba việc:

1. Consciously registering the desire to incarnate. This is the will to exist or the will-to-be upon the physical plane.

1. Hữu thức ghi nhận khát vọng nhập thể. Đây là ý chí hiện hữu hay ý chí-tồn tại trên cõi hồng trần.

2. Consciously focussing attention on the processes involved in the decision to “make an appearance”.

2. Hữu thức tập trung sự chú ý vào các tiến trình liên quan đến quyết định “xuất hiện”.

3. Consciously taking the necessary steps to appropriate the needed substance through which to appear and thereby satisfy the demand for existence.

3. Hữu thức thực hiện những bước cần thiết để chiếm hữu chất liệu cần dùng mà qua đó xuất hiện và nhờ vậy thỏa mãn đòi hỏi được hiện hữu.

With these processes, formulated as theories, we are familiar. The speculations and pronouncements of teachers everywhere, [329] and down the ages, have familiarised us with the many symbolic ways of dealing with these matters. Upon them there is no need to enlarge. The whole series of events involved in the decision are to be considered here only from the angle of consciousness and of a defined involutionary procedure.

Với những tiến trình này, được hình thành thành các lý thuyết, chúng ta đã quen thuộc. Những suy đoán và những tuyên bố của các huấn sư ở khắp nơi, [329] qua các thời đại, đã làm cho chúng ta quen thuộc với nhiều cách biểu tượng để bàn đến các vấn đề này. Không cần phải nói rộng thêm về chúng. Toàn bộ chuỗi biến cố liên quan đến quyết định này ở đây chỉ được xem xét từ góc độ tâm thức và của một thủ tục giáng hạ tiến hoá xác định.

The second stage of aspiration concerns the aspiration or the desire of the soul to appear, and brings the consciousness down on to what we call the astral plane. The inclination of the soul is towards that which is material. We must not forget this fact. We have been apt to regard aspiration as the consummation or the transmutation of desire. However, in the last analysis, it might be said that aspiration is the basis or root of all desire and that we have only used the word “desire” to signify aspiration which has a natural object in the consciousness of man, confining the word “aspiration” to that transmuted desire which makes the soul the fixed objective in the life of the man in incarnation. But all phases of desire are essentially forms of aspiration and, on the involutionary arc, aspiration shows itself as the desire of the soul to experience in consciousness those processes which will make it conscious and dynamic in the world of human affairs.

Giai đoạn thứ hai của khát vọng liên quan đến khát vọng hay ham muốn của linh hồn muốn xuất hiện, và đưa tâm thức xuống điều mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Khuynh hướng của linh hồn hướng về điều có tính vật chất. Chúng ta không được quên sự kiện này. Chúng ta vốn có khuynh hướng xem khát vọng như sự hoàn tất hay sự chuyển hoá của ham muốn. Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, có thể nói rằng khát vọng là nền tảng hay gốc rễ của mọi ham muốn, và rằng chúng ta chỉ dùng từ “ham muốn” để chỉ khát vọng có một đối tượng tự nhiên trong tâm thức của con người, còn giới hạn từ “khát vọng” vào ham muốn đã được chuyển hoá khiến linh hồn trở thành mục tiêu cố định trong đời sống của con người đang lâm phàm. Nhưng mọi giai đoạn của ham muốn về bản chất đều là những hình thức của khát vọng, và trên cung giáng hạ tiến hoá, khát vọng biểu lộ như ham muốn của linh hồn được kinh nghiệm trong tâm thức những tiến trình sẽ làm cho nó trở nên hữu thức và năng động trong thế giới của các công việc nhân loại.

When this conscious realisation is established and the soul has appropriated a form upon the mental plane through the will to exist, and one also upon the astral plane through aspiration, then the third stage of approach takes place upon etheric levels. The consciousness becomes focussed there, preparatory to the intense crisis of “appearing”, and there takes place what might be regarded as a ranging or a gathering of all the forces of the consciousness in order to force the issue and thus emerge into manifestation. This is a vital moment in consciousness; it is a period of vital preparation for a great spiritual event—the coming into incarnation of a son of God. [330] This involves the taking of a dense physical body which will act either as a complete prison for the soul or as a “form for revelation”, as it has been called, in the cases of those advanced men whom we regard as the revealed sons of God.

Khi sự chứng nghiệm hữu thức này được thiết lập và linh hồn đã chiếm hữu một hình tướng trên cõi trí nhờ ý chí hiện hữu, và một hình tướng khác trên cõi cảm dục nhờ khát vọng, thì giai đoạn thứ ba của sự tiếp cận diễn ra trên các cấp dĩ thái. Tâm thức trở nên tập trung ở đó, để chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng mãnh liệt của việc “xuất hiện”, và diễn ra điều có thể được xem như một sự dàn xếp hay tập hợp tất cả các mãnh lực của tâm thức nhằm thúc đẩy vấn đề và nhờ đó xuất hiện vào biểu hiện. Đây là một khoảnh khắc sống còn trong tâm thức; đó là một thời kỳ chuẩn bị sống động cho một biến cố tinh thần lớn lao—sự lâm phàm của một Con của Thượng đế. [330] Điều này bao hàm việc nhận lấy một thể xác đậm đặc, thể này sẽ hoạt động hoặc như một nhà tù hoàn toàn cho linh hồn hoặc như một “hình tướng để mặc khải”, như đã được gọi trong trường hợp của những người tiến hoá cao mà chúng ta xem là các con được mặc khải của Thượng đế.

The crisis of approach is one of the most important and one of the least understood of the various stages. Students should find it of interest to make a comparative study of the approaches which have previously been mentioned in connection with such episodes in human history as those occurring at the time of the Wesak Full Moon. There is a close underlying relationship between the approaches upon the path of involution and those upon the path of evolution, and also between those taken by an individual and those by a group.

Cuộc khủng hoảng của sự tiếp cận là một trong những giai đoạn quan trọng nhất và cũng là một trong những giai đoạn ít được thấu hiểu nhất. Đạo sinh nên thấy thú vị khi thực hiện một nghiên cứu so sánh về những sự tiếp cận đã được nhắc đến trước đây liên hệ với những giai đoạn như các biến cố xảy ra vào lúc Trăng Tròn Wesak trong lịch sử nhân loại. Có một mối liên hệ nền tảng chặt chẽ giữa những sự tiếp cận trên con đường giáng hạ tiến hoá và những sự tiếp cận trên con đường tiến hoá, cũng như giữa những sự tiếp cận của một cá nhân và của một nhóm.

Then, when the gathering of forces during the stage of approach is consummated, the fourth stage takes place, that of appearance, and the man emerges into the light of day and runs his little cycle upon the physical plane, developing increased sensitivity in consciousness, through the medium of experience gained through the processes of life in a physical body. After appearing in form, he becomes (with each new appearance) increasingly active and alive and awake, and the stage of activity grows in intensity until the consciousness of the man is swept by ambition.

Rồi khi sự tập hợp các mãnh lực trong giai đoạn tiếp cận được hoàn tất, giai đoạn thứ tư diễn ra, đó là giai đoạn sắc tướng, và con người xuất hiện trong ánh sáng ban ngày và vận hành chu kỳ nhỏ bé của mình trên cõi hồng trần, phát triển sự nhạy cảm gia tăng trong tâm thức, qua trung gian của kinh nghiệm thu đạt được nhờ các tiến trình của đời sống trong một thể xác. Sau khi xuất hiện trong hình tướng, y trở nên (với mỗi lần xuất hiện mới) ngày càng hoạt động hơn, sống động hơn và tỉnh thức hơn, và giai đoạn hoạt động tăng cường độ cho đến khi tâm thức của con người bị cuốn vào bởi tham vọng.

The two final stages of activity and of ambition are those covered by the ordinary man and dealt with by the ordinary psychologist. This is itself of interest, because it shows how very little of the life of the real man, of the conscious thinking Being is touched by the orthodox, exoteric psychologist. The four stages of man’s development which lie behind his active appearance upon the physical plane are not considered at all. The intensity of the process of approach which preceded that appearance is not dealt with, yet it is basically a determining factor. But this activity upon the physical plane [331] and the nature of his desire life (which is only translated into terms of ambition later on in his life experience) are the dominant factors to be considered. It is, of course, exceedingly difficult for there to be a true understanding of man until the theory of rebirth is admitted and man is accounted for in terms of a long preceding history. In this age of intensest separative thinking and attitudes, it is the individual life of the individual man, separate in time and space from all that has gone before, and from all that surrounds him in the present, which is considered as of importance and as constituting a man. Man, as an expression of a soul process, is not dealt with in any way.

Hai giai đoạn cuối cùng là hoạt động và tham vọng là những giai đoạn thuộc về con người bình thường và được nhà tâm lý học thông thường đề cập đến. Điều này tự nó đã đáng chú ý, vì nó cho thấy rất ít phần của đời sống của con người thực, của Hữu thể tư duy hữu thức, được nhà tâm lý học chính thống, ngoại môn chạm đến. Bốn giai đoạn phát triển của con người nằm phía sau sự xuất hiện hoạt động của y trên cõi hồng trần hoàn toàn không được xem xét. Cường độ của tiến trình tiếp cận đã đi trước sự xuất hiện ấy không được bàn đến, tuy nhiên về căn bản nó là một yếu tố quyết định. Nhưng hoạt động này trên cõi hồng trần [331] và bản chất của đời sống ham muốn của y (về sau trong kinh nghiệm sống của y chỉ được chuyển dịch thành những thuật ngữ của tham vọng) lại là những yếu tố chi phối được xem xét. Dĩ nhiên, vô cùng khó có thể có một sự thấu hiểu chân thực về con người cho đến khi lý thuyết tái sinh được thừa nhận và con người được giải thích theo những thuật ngữ của một lịch sử dài đã đi trước. Trong thời đại của tư tưởng và thái độ phân ly mãnh liệt nhất này, chính đời sống cá nhân của cá nhân con người, tách biệt trong thời gian và không gian khỏi tất cả những gì đã đi trước, và khỏi tất cả những gì bao quanh y trong hiện tại, được xem là quan trọng và là điều cấu thành nên một con người. Con người, như một biểu hiện của một tiến trình linh hồn, hoàn toàn không được đề cập đến.

Thus we have the stages succeeding each other from the initial appropriation upon the mental plane until the man, in consciousness, has worked his way down through the planes and back again to the mental plane, which brings him to the stage of the coordination of the personality, and the emergence into full expression of what we call the personality ray. Life after life takes place. Again and again, the soul incarnates and, in consciousness, passes through the stages outlined above. But gradually a higher sense of values supervenes; there comes a period when desire for material experience and for ambitious personality satisfactions begins to fade out; newer and better values and higher standards of thought and desire begin slowly to appear.

Như vậy chúng ta có các giai đoạn nối tiếp nhau từ sự chiếm hữu ban đầu trên cõi trí cho đến khi con người, trong tâm thức, đã đi xuống qua các cõi rồi trở lại cõi trí, điều này đưa y đến giai đoạn phối hợp của phàm ngã, và sự xuất hiện vào biểu hiện đầy đủ của điều mà chúng ta gọi là cung phàm ngã. Hết đời này sang đời khác diễn ra. Hết lần này đến lần khác, linh hồn nhập thể và, trong tâm thức, đi qua các giai đoạn đã được phác họa ở trên. Nhưng dần dần một ý thức cao hơn về các giá trị xuất hiện; đến một thời kỳ khi ham muốn kinh nghiệm vật chất và những thỏa mãn đầy tham vọng của phàm ngã bắt đầu phai nhạt; những giá trị mới hơn và tốt đẹp hơn cùng những tiêu chuẩn cao hơn của tư tưởng và ham muốn bắt đầu chậm rãi xuất hiện.

The consciousness aspect then passes through all the stages upon which we have touched but in reverse order, and this time upon the upward arc, corresponding to the evolutionary stage in the great cycle of natural processes, concerned with the form life. It expands slowly from the consciousness of ambition through activity and the succeeding unfoldments, to the stage of approach to the divine reality upon the mental plane and that of the final appropriation, wherein [332] the consciousness of man, becomes merged in that of the soul upon its own level, and finally appropriates in full awareness (if one can use so paradoxical a phrase) the One.

Khi đó phương diện tâm thức đi qua tất cả các giai đoạn mà chúng ta đã đề cập nhưng theo thứ tự ngược lại, và lần này trên cung đi lên, tương ứng với giai đoạn tiến hoá trong chu kỳ lớn của các tiến trình tự nhiên liên quan đến đời sống hình tướng. Nó chậm rãi mở rộng từ tâm thức của tham vọng qua hoạt động và các sự khai mở kế tiếp, đến giai đoạn tiếp cận thực tại thiêng liêng trên cõi trí và giai đoạn chiếm hữu cuối cùng, trong đó [332] tâm thức của con người hòa nhập vào tâm thức của linh hồn trên cấp độ riêng của nó, và cuối cùng chiếm hữu một cách hoàn toàn tỉnh thức (nếu có thể dùng một cụm từ nghịch lý như vậy) Đấng Duy Nhất.

When the consciousness of the soul, incarnate in a human form, arrives at a realisation of the futility of material ambition, it marks a high stage of personality integration and precedes a period of change or of a shift in activity. During this second stage upon the Path of Return, the shift of the consciousness is away from the physical body altogether, into the etheric or vital body, and from thence into the astral body. There duality is sensed and the battle of the pairs of opposites takes place. The disciple makes his appearance as Arjuna. Only after the battle and only when Arjuna has made his fateful decisions, is it possible for him to make his approach upon the mental plane to the soul. This he does by

Khi tâm thức của linh hồn, nhập thể trong hình tướng con người, đi đến chỗ chứng nghiệm sự vô ích của tham vọng vật chất, điều đó đánh dấu một giai đoạn cao của sự tích hợp phàm ngã và đi trước một thời kỳ thay đổi hay chuyển dịch trong hoạt động. Trong giai đoạn thứ hai này trên Con Đường Trở Về, sự chuyển dịch của tâm thức rời hẳn khỏi thể xác, vào thể dĩ thái hay thể sinh lực, và từ đó vào thể cảm dục. Ở đó nhị nguyên tính được cảm nhận và cuộc chiến của các cặp đối nghịch diễn ra. Đệ tử thực hiện sự xuất hiện của mình như Arjuna. Chỉ sau cuộc chiến và chỉ khi Arjuna đã đưa ra những quyết định định mệnh của mình, y mới có thể thực hiện sự tiếp cận của mình trên cõi trí đến linh hồn. Điều này y làm bằng cách

1. Realising himself as a soul and not as the form. This involves a process of what is called “divine reflection”, which works out in two ways. The soul now begins definitely to reject the form, and the man, through whom the soul is experiencing and expressing itself, is himself rejected by the world in which he lives.

1. Chứng nghiệm mình là một linh hồn chứ không phải là hình tướng. Điều này bao hàm một tiến trình của điều được gọi là “sự phản chiếu thiêng liêng”, tiến trình này biểu hiện theo hai cách. Linh hồn giờ đây bắt đầu dứt khoát khước từ hình tướng, và con người, qua đó linh hồn đang kinh nghiệm và biểu hiện chính nó, cũng bị chính thế giới mà y đang sống trong đó khước từ.

2. Discovering the group to which he belongs, blocking his way of approach until he discovers the way of approach by service.

2. Khám phá nhóm mà y thuộc về, nhóm này chặn lối tiếp cận của y cho đến khi y khám phá ra con đường tiếp cận bằng phụng sự.

3. Identifying himself with his group upon his own ray and so earning the right to make his approach, because he has learnt the lesson that “he travels not alone”.

3. Đồng hoá mình với nhóm của mình trên cung riêng của y và nhờ đó đạt được quyền thực hiện sự tiếp cận, bởi vì y đã học được bài học rằng “y không du hành một mình”.

Then comes that peculiar stage of transcendent aspiration, wherein desire for individual experience is lost and only the longing to function as a conscious part of the greater Whole remains. Then and only then can the conscious soul appropriate the “body of light and of splendour, the expression of [333] the glory of the One” which, when once assumed, makes all future incarnations in the three worlds impossible, except as an act of the spiritual will. The significance of the above may be found difficult of comprehension for it is one of the mysteries of a higher initiation.

Rồi đến giai đoạn đặc biệt của khát vọng siêu việt, trong đó ham muốn về kinh nghiệm cá nhân mất đi và chỉ còn lại sự khao khát được hoạt động như một phần hữu thức của Toàn Thể lớn lao hơn. Khi đó và chỉ khi đó linh hồn hữu thức mới có thể chiếm hữu “thể ánh sáng và huy hoàng, biểu hiện của [333] vinh quang của Đấng Duy Nhất” mà một khi đã khoác lấy, sẽ làm cho mọi lần nhập thể tương lai trong ba cõi thấp trở nên bất khả, ngoại trừ như một hành động của ý chí tinh thần. Ý nghĩa của điều trên có thể khó lĩnh hội vì đó là một trong những huyền nhiệm của một lần điểm đạo cao hơn.

Therefore, it will be seen that we begin and we end with an expansion of consciousness. The first one led to the inclusion of the material world, and the second one includes or appropriates, consciously and intelligently, the spiritual world. We see the desire consciousness transmuted into aspiration for the spiritual realities and the focussed, vital approach to the kingdom of God. We see the appearance on the physical plane of the imprisoned consciousness, limited and confined for purposes of defined, intelligent development, within an evolving form, and the final emergence upon the mental plane of the enriched, released consciousness into the full freedom of the Mind of God. We see the activity of the conscious mind of man slowly expanding and intensifying, until it becomes the activity of the illumined mind, reflecting the divine consciousness of the soul. We see the ambition of the conscious man transformed at first into the spiritual ambition of the pledged disciple and finally into the expression of the Will of God or of the Monad, in the initiate.

Vì vậy, cần lưu ý rằng chúng ta bắt đầu và kết thúc bằng một sự mở rộng tâm thức. Sự mở rộng thứ nhất dẫn đến việc bao gồm thế giới vật chất, và sự mở rộng thứ hai bao gồm hay chiếm hữu, một cách hữu thức và thông minh, thế giới tinh thần. Chúng ta thấy tâm thức ham muốn được chuyển hoá thành khát vọng đối với các thực tại tinh thần và sự tiếp cận nhất tâm, sống động đến Thiên Giới. Chúng ta thấy sự xuất hiện trên cõi hồng trần của tâm thức bị giam hãm, bị giới hạn và bị cầm giữ vì những mục đích phát triển xác định, thông minh, bên trong một hình tướng đang tiến hoá, và sự xuất hiện cuối cùng trên cõi trí của tâm thức đã được làm phong phú và giải thoát vào sự tự do trọn vẹn của Trí của Thượng đế. Chúng ta thấy hoạt động của trí tuệ hữu thức của con người chậm rãi mở rộng và tăng cường cho đến khi nó trở thành hoạt động của trí tuệ được soi sáng, phản chiếu tâm thức thiêng liêng của linh hồn. Chúng ta thấy tham vọng của con người hữu thức trước hết được chuyển đổi thành tham vọng tinh thần của người đệ tử đã cam kết và cuối cùng thành biểu hiện của Ý Chí của Thượng Đế hay của chân thần, nơi điểm đạo đồ.

Thus the three aspects of divinity are released upon earth through the medium of an incarnated and fully developed consciousness, that of a Son of God. From the conscious appropriation of form back again to the conscious appropriation of divinity is the work carried forward and the plan of Deity worked out. Laying the ground, as we are now proposing to do, for the study of integration in connection with the human being, it will not be necessary for us to deal in detail with the many phases of the various stages we have been considering. Thousands of human beings, indeed perhaps millions, will [334] be found on our planet, at any one time, who will illustrate in their lives and activities some one point or other upon the downward or the upward arc. For the majority, the expert assistance of the modern trained educator and psychologist, the churchman or the physician, will suffice to give the needed aid, particularly when three happenings eventuate, which will inevitably be the case before so many decades have gone by:

Như vậy ba phương diện của thiên tính được giải phóng trên trần gian qua trung gian của một tâm thức nhập thể và phát triển đầy đủ, tức tâm thức của một Con của Thượng đế. Từ sự chiếm hữu hình tướng một cách hữu thức cho đến sự chiếm hữu thiên tính một cách hữu thức trở lại là công việc được tiếp tục và kế hoạch của Thượng đế được thực hiện. Khi đặt nền tảng, như hiện nay chúng ta đang dự định làm, cho việc nghiên cứu sự tích hợp liên hệ với con người, sẽ không cần thiết để chúng ta bàn chi tiết về nhiều giai đoạn của các chặng khác nhau mà chúng ta đã xem xét. Hàng ngàn con người, thật vậy có lẽ hàng triệu, sẽ [334] được tìm thấy trên hành tinh của chúng ta, vào bất kỳ thời điểm nào, minh họa trong đời sống và hoạt động của họ một điểm nào đó trên cung đi xuống hoặc cung đi lên. Đối với đa số, sự trợ giúp chuyên môn của nhà giáo dục và nhà tâm lý học lão luyện hiện đại, của giáo sĩ hay của thầy thuốc, sẽ đủ để đem lại sự trợ giúp cần thiết, đặc biệt khi ba điều sau đây xảy ra, điều chắc chắn sẽ là như vậy trước khi nhiều thập niên trôi qua:

1. These four types of experts—educators, psychologists, churchmen and physicians—will work in conjunction with each other, and each will place his skill and his peculiar point of view and interpretation of conditions at the disposal of his fellow workers.

1. Bốn loại chuyên gia này—các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học, các giáo sĩ và các thầy thuốc—sẽ làm việc phối hợp với nhau, và mỗi người sẽ đặt kỹ năng của mình cùng quan điểm và cách diễn giải đặc thù của mình về các điều kiện vào sự sử dụng của các cộng sự viên.

2. The fact of the soul will be admitted as a reasonable hypothesis, and the fact that there may be an indwelling entity, seeking to control in some measure the mechanism, will also be accepted.

2. Sự kiện về linh hồn sẽ được thừa nhận như một giả thuyết hợp lý, và sự kiện rằng có thể có một thực thể nội tại đang tìm cách kiểm soát ở một mức độ nào đó bộ máy cũng sẽ được chấp nhận.

3. The Law of Rebirth will be regarded as a law in nature, and place will be given in the thoughts of these four groups of human helpers, for a man’s past and his rapidly developing future.

3. Định luật Tái Sinh sẽ được xem như một định luật trong thiên nhiên, và trong tư tưởng của bốn nhóm người trợ giúp này sẽ dành chỗ cho quá khứ của một con người và tương lai đang phát triển nhanh chóng của y.

In this Treatise, we are considering those more advanced people who constitute the intelligentsia of the world, who are beginning to use the mind, who are upon the probationary path, or who are nearing the Path of Discipleship. When this is the case (and it seldom occurs before, unless to the eye of the initiate) the personalities are so refined that the personality ray and the egoic ray permit of analysis and definition. Until there is sufficient pronounced development to allow of a true diagnosis, it is not possible to say definitely what is the ray of the personality. The defining of the egoic ray comes later still and can only be surmised at first from the nature of [335] the conflict of which the personality is aware, based as it will be on a growing sense of duality. It will also be capable of expert diagnosis from certain physical and psychical characteristics which indicate the quality of the higher nature of the person concerned, and also through a study of the type of a man’s group affiliations as they begin to appear upon the physical plane. A man who—being, through personality predilection, a creative artist—suddenly takes a deep and profound interest in mathematics, might be inferred to be coming under the influence of a second ray soul; or a man, whose whole personality was definitely upon the sixth ray of fanatical idealism or devotion to an object of his idealism, and who had functioned during life as a religious devotee, and who then switched the centre of his life interest into scientific investigation, might be, therefore, responding to a fifth ray soul impression.

Trong bộ Luận này, chúng ta đang xem xét những người tiến hoá hơn, những người cấu thành giới trí thức của thế giới, những người đang bắt đầu sử dụng trí tuệ, những người đang ở trên Con Đường Dự Bị, hoặc đang tiến gần Con Đường Đệ Tử. Khi điều này là trường hợp (và điều đó hiếm khi xảy ra trước đó, trừ đối với mắt của điểm đạo đồ), các phàm ngã được tinh luyện đến mức cung phàm ngã và cung chân ngã cho phép được phân tích và xác định. Chừng nào chưa có sự phát triển đủ rõ rệt để cho phép một chẩn đoán chân thực, thì không thể nói dứt khoát cung của phàm ngã là gì. Việc xác định cung chân ngã còn đến muộn hơn nữa và lúc đầu chỉ có thể được suy đoán từ bản chất của [335] cuộc xung đột mà phàm ngã nhận biết, vì nó sẽ dựa trên một cảm nhận ngày càng tăng về nhị nguyên tính. Nó cũng sẽ có thể được chẩn đoán một cách chuyên môn từ một số đặc điểm hồng trần và thông linh chỉ ra phẩm tính của bản chất cao hơn của người liên hệ, và cũng qua việc nghiên cứu loại liên kết nhóm của một người khi chúng bắt đầu xuất hiện trên cõi hồng trần. Một người—do thiên hướng phàm ngã là một nghệ sĩ sáng tạo—bỗng nhiên có một mối quan tâm sâu sắc và thâm trầm đối với toán học, có thể được suy ra là đang chịu ảnh hưởng của một linh hồn cung hai; hoặc một người mà toàn bộ phàm ngã của y rõ ràng thuộc cung sáu của chủ nghĩa lý tưởng cuồng tín hay sự sùng tín đối với một đối tượng lý tưởng của y, và đã hoạt động trong đời như một tín đồ tôn giáo, rồi sau đó chuyển trung tâm quan tâm của đời mình sang nghiên cứu khoa học, thì do đó có thể đang đáp ứng với một ấn tượng của linh hồn cung năm.

We shall, therefore, study the process of coordination and the methods whereby two great integrations take place:

Vì vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu tiến trình phối hợp và các phương pháp nhờ đó hai sự tích hợp lớn diễn ra:

1. The integration of the personality, or the means whereby the consciousness of the person

1. Sự tích hợp của phàm ngã, hay phương tiện nhờ đó tâm thức của con người

a. Shifts out of one body into another, so that a definite expansion of consciousness takes place.

a. Chuyển dịch từ thể này sang thể khác, để một sự mở rộng tâm thức xác định diễn ra.

b. Begins to be active in all the three personality vehicles simultaneously.

b. Bắt đầu hoạt động đồng thời trong cả ba vận cụ của phàm ngã.

2. The integration of the personality and the soul so that the soul can

2. Sự tích hợp của phàm ngã và linh hồn để linh hồn có thể

a. Function through any one body at will, or

a. Hoạt động qua bất kỳ thể nào theo ý muốn, hoặc

b. Function through all the three bodies which constitute the personality simultaneously.

b. Hoạt động đồng thời qua cả ba thể cấu thành phàm ngã.

This will lead us to confine ourselves to the study of the more advanced or pronounced types, which are primarily the [336] mystic, the aspirant, the notable people, and those who constitute the people with psychological problems of our present time and period.

Điều này sẽ dẫn chúng ta đến chỗ giới hạn mình trong việc nghiên cứu những loại tiến hoá hơn hay rõ nét hơn, chủ yếu là [336] nhà thần bí, người chí nguyện, những người nổi bật, và những người cấu thành lớp người có các vấn đề tâm lý của thời đại và giai đoạn hiện nay của chúng ta.

Step by step, the various bodies have been developed, utilised, refined and organised; step by step the sensory apparatus of man has been sensitised and used, until the world today is full of men and women whose response apparatus, and whose instruments of contact are as far removed in effectiveness from those of primitive man as are the vehicles of the average modern man from those of the Christ and the Buddha, with Their immensely wide range of subjective and divine awareness. Step by step, the unfoldment of the nervous system has paralleled that of the inner psychical apparatus, and the glandular equipment has faithfully reflected that of the great centres of force, with their inter-connecting lines of energy. Step by step, the consciousness of man has shifted from:

Từng bước một, các thể khác nhau đã được phát triển, sử dụng, tinh luyện và tổ chức; từng bước một, bộ máy cảm giác của con người đã được làm cho nhạy bén và sử dụng, cho đến ngày nay thế giới đầy những người nam và nữ mà bộ máy đáp ứng và các khí cụ tiếp xúc của họ khác xa về hiệu quả so với của con người nguyên thủy, cũng như các vận cụ của con người hiện đại trung bình khác xa so với các vận cụ của Đức Christ và Đức Phật, với phạm vi nhận biết chủ quan và thiêng liêng vô cùng rộng lớn của Các Ngài. Từng bước một, sự khai mở của hệ thần kinh đã song hành với sự khai mở của bộ máy thông linh nội tại, và bộ máy tuyến đã phản chiếu trung thành bộ máy của các trung tâm mãnh lực lớn, cùng với các đường năng lượng nối kết giữa chúng. Từng bước một, tâm thức của con người đã chuyển từ:

1. That of the purely animal, with its emphasis upon the natural physical appetites, into that of the vital, personal being, responding to the impacts of an environment which he does not intelligently understand but in which he finds himself. This is the primitive and so-called savage state of consciousness and lies far behind us today, in a distant racial history. This primitive stage saw the birth of that religious direction to which we give the name of animism.

1. Tâm thức của loài vật thuần túy, với sự nhấn mạnh vào các thèm muốn hồng trần tự nhiên, sang tâm thức của hữu thể sinh lực, cá nhân, đáp ứng với các tác động của một môi trường mà y không hiểu một cách thông minh nhưng trong đó y thấy mình hiện hữu. Đây là trạng thái tâm thức nguyên thủy và cái gọi là man dã, ngày nay đã ở rất xa phía sau chúng ta, trong một lịch sử nhân loại xa xăm. Giai đoạn nguyên thủy này đã chứng kiến sự ra đời của khuynh hướng tôn giáo mà chúng ta gọi là vật linh giáo.

2. That of a vital, primitive being into that state of consciousness which is coloured almost entirely by desire for material satisfaction. This in time transmutes itself into that of an emotional response to the environing conditions, leading thus to an intensified “wish-life” a development of the imaginative faculty. It ends finally in the production of the Mystic, with his aspiration, his sense of [337] duality, and his reaching out after God, plus an intense devotion to an ideal of some kind or another.

2. Từ tâm thức của một hữu thể sinh lực, nguyên thủy sang trạng thái tâm thức gần như hoàn toàn được nhuốm màu bởi ham muốn thỏa mãn vật chất. Theo thời gian, điều này tự chuyển hoá thành sự đáp ứng cảm xúc đối với các điều kiện bao quanh, do đó dẫn đến một “đời sống ước muốn” được tăng cường, một sự phát triển của năng lực tưởng tượng. Cuối cùng nó kết thúc trong việc tạo ra Nhà Thần Bí, với khát vọng, cảm nhận về [337] nhị nguyên tính, và sự vươn tới Thượng đế của y, cộng với một lòng sùng tín mãnh liệt đối với một lý tưởng nào đó.

3. That of the vital, emotional, desire emphasis and state of longing into that of a mental consciousness,—intelligent, enquiring, intellectually sensitive, responsive to thought currents and reacting with increasing steadiness, vigour and sensitivity to the impact of ideas.

3. Từ sự nhấn mạnh sinh lực, cảm xúc, ham muốn và trạng thái khao khát ấy sang một tâm thức trí tuệ,—thông minh, truy vấn, nhạy bén về mặt trí tuệ, đáp ứng với các dòng tư tưởng và phản ứng với sự vững vàng, mãnh lực và nhạy cảm ngày càng tăng đối với tác động của các ý tưởng.

4. That of one or another of these states of consciousness, alternating in their emphasis, or predominantly active in some one or other of these lower aspects, to that of integrated personality, selfishly occupied with self-emphasis, self-interest, self-expression, and so demonstrating as a great or intrepid individual, demonstrating power and purpose in a world which he exploits for his own selfish ends.

4. Từ tâm thức của trạng thái này hay trạng thái khác trong các trạng thái tâm thức ấy, luân phiên thay đổi về điểm nhấn, hoặc hoạt động nổi trội trong một phương diện thấp này hay phương diện thấp khác, đến tâm thức của Phàm ngã tích hợp, ích kỷ bận rộn với sự nhấn mạnh bản thân, tư lợi, tự biểu hiện, và do đó biểu lộ như một cá nhân vĩ đại hay gan dạ, biểu lộ quyền lực và mục đích trong một thế giới mà y khai thác cho những cứu cánh ích kỷ của riêng mình.

When this stage is reached, the focus of the life is predominantly material, and the man is ambitious, effective, and powerful. Yet there slowly arises in him a divine discontent; the savor of his life experience and enterprises begins to prove unsatisfactory. Another shift in consciousness takes place, and he reaches out—at first unconsciously and later consciously—to the life and significance of a dimly sensed reality. The soul is beginning to make its presence felt, and to grip in a different sense than hitherto, and in a more active manner, its vehicles of expression and of service.

Khi giai đoạn này đạt đến, trọng điểm của sự sống chủ yếu là vật chất, và con người trở nên đầy tham vọng, hữu hiệu và đầy quyền lực. Tuy nhiên, trong y chậm rãi nảy sinh một sự bất mãn thiêng liêng; hương vị của kinh nghiệm sống và các công cuộc của y bắt đầu tỏ ra không còn thỏa đáng. Một sự chuyển đổi khác trong tâm thức diễn ra, và y vươn tới—thoạt đầu một cách vô thức và về sau một cách có ý thức—sự sống và thâm nghĩa của một thực tại được cảm nhận một cách mơ hồ. Linh hồn đang bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và nắm giữ các vận cụ biểu hiện và phụng sự của nó theo một ý nghĩa khác với trước đây, và theo một cách năng động hơn.

In this summary, we have sketched the broad general outlines of the process. It will be obvious that there will be gradations in the process and men will be found on earth at every stage of consciousness. One will be equipped with vehicles in which the emphasis is upon the sensory life. In some cases there will be found a consciousness which is shifting its emphasis out of one vehicle into another, and so becoming [338] awake and more inclusive in its range of contacts and in its awareness. Others again will be possessed of a consciousness which is organising itself for full expression as a man, as an integrated personality and as a worker for material ends, bringing to bear upon those objectives all the force and power of an integrated functioning person. There will be those whose consciousness is gradually awakening to a new and higher sense of values, and is slowly at first and more rapidly as facility is acquired, shifting its focus of attention out of the world of material, selfish living into that of true spiritual realities.

Trong phần tóm lược này, chúng ta đã phác họa những nét đại cương rộng lớn của tiến trình. Hiển nhiên sẽ có những cấp độ khác nhau trong tiến trình ấy, và trên Trái Đất sẽ thấy những người ở mọi giai đoạn của tâm thức. Người này sẽ được trang bị những vận cụ trong đó điểm nhấn đặt trên đời sống cảm giác. Trong một số trường hợp, sẽ thấy một tâm thức đang chuyển trọng tâm từ vận cụ này sang vận cụ khác, và do đó trở nên [338] thức tỉnh và bao gồm hơn trong phạm vi tiếp xúc và trong sự nhận biết của nó. Những người khác nữa sẽ sở hữu một tâm thức đang tổ chức chính nó để biểu hiện trọn vẹn như một con người, như một phàm ngã tích hợp và như một người hoạt động cho các mục tiêu vật chất, đem toàn bộ mãnh lực và quyền năng của một con người đang hoạt động một cách tích hợp tác động vào các mục tiêu ấy. Sẽ có những người mà tâm thức đang dần dần thức tỉnh trước một ý thức mới và cao hơn về các giá trị, và lúc đầu chậm chạp rồi nhanh hơn khi khả năng được thủ đắc, đang chuyển trọng điểm chú ý của nó ra khỏi thế giới của đời sống vật chất, ích kỷ để đi vào thế giới của các thực tại tinh thần chân chính.

Little by little, the consciousness of the third aspect of divinity is coordinated with that of the second, and the Christ consciousness is aroused into activity through the medium of experience in form. Man begins to add to the gained personality experience of the three worlds of human endeavour, the intuitive spiritual perception which is the heritage of those who are awake within the kingdom of God. Paralleling this development of the consciousness in man is the evolution of the instruments whereby that consciousness is brought en rapport with a rapidly expanding world of sensory perception, of intellectual concepts and of intuitive recognitions. With the development of this form aspect we will not concern ourselves, beyond pointing out that, as the consciousness shifts from one body to another and its range of contacts, therefore, steadily expands, the centres in man’s etheric body (three below and four above the diaphragm) are awakened in three major stages, though through the medium of many smaller awakenings.

Từng chút một, tâm thức của phương diện thứ ba của thiên tính được phối hợp với tâm thức của phương diện thứ hai, và tâm thức Christ được khơi dậy vào hoạt động thông qua kinh nghiệm trong hình tướng. Con người bắt đầu thêm vào kinh nghiệm phàm ngã đã đạt được trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại, sự tri giác tinh thần trực giác vốn là di sản của những ai thức tỉnh bên trong Thiên Giới. Song song với sự phát triển này của tâm thức nơi con người là sự tiến hoá của các công cụ nhờ đó tâm thức ấy được đưa vào tương quan với một thế giới đang mở rộng nhanh chóng của tri giác cảm giác, của các khái niệm trí tuệ và của các nhận biết trực giác. Về sự phát triển của phương diện hình tướng này, chúng ta sẽ không bàn đến, ngoài việc chỉ ra rằng, khi tâm thức chuyển từ thể này sang thể khác và do đó phạm vi tiếp xúc của nó không ngừng mở rộng, các trung tâm trong thể dĩ thái của con người (ba ở dưới và bốn ở trên cơ hoành) được thức tỉnh trong ba giai đoạn chính, dù thông qua nhiều lần thức tỉnh nhỏ hơn.

1. They begin to develop from that of the “closed bud to that of the opened lotus”. This takes place during the period of ordinary evolution.

1. Chúng bắt đầu phát triển từ trạng thái “nụ khép kín đến hoa sen nở mở”. Điều này diễn ra trong thời kỳ tiến hoá thông thường.

[339]

[339]

2. The petals of the lotus become vibrant and alive. This is the stage of personality integration.

2. Các cánh hoa của hoa sen trở nên rung động và sống động. Đây là giai đoạn tích hợp phàm ngã.

3. The heart of the lotus, “the jewel in the lotus” also becomes actively alive. This is the period of the final stages upon the Path.

3. Tâm của hoa sen, “ngọc trong hoa sen”, cũng trở nên sống động một cách tích cực. Đây là thời kỳ của các giai đoạn cuối cùng trên Con Đường.

This process of unfoldment is itself brought about by five crises of awakening, so that we have a threefold process and a fivefold movement.

Chính tiến trình khai mở này được tạo ra bởi năm cuộc khủng hoảng thức tỉnh, đến nỗi chúng ta có một tiến trình tam phân và một chuyển động ngũ phân.

1. The centres below the diaphragm are the controlling and dominant factor. The stage of dense materiality, of lower desire and of physical urge is in full expression. This was carried to its higher point of development in Lemurian times. The sacral centre was the controlling factor.

1. Các trung tâm dưới cơ hoành là yếu tố kiểm soát và chi phối. Giai đoạn của tính vật chất đậm đặc, của dục vọng thấp và của thúc đẩy hồng trần được biểu hiện trọn vẹn. Điều này đã được đưa đến điểm phát triển cao hơn của nó trong thời Lemuria. Trung tâm xương cùng là yếu tố kiểm soát.

2. The centres below the diaphragm become fully active, with the major emphasis in the solar plexus centre. This centre eventually becomes the great clearing house for all the lower forces and marks the period of the shift into a higher body, the astral body. This was characteristic of Atlantean racial development.

2. Các trung tâm dưới cơ hoành trở nên hoàn toàn hoạt động, với điểm nhấn chính ở trung tâm tùng thái dương. Trung tâm này cuối cùng trở thành trạm thanh lọc lớn cho mọi mãnh lực thấp và đánh dấu thời kỳ chuyển dịch vào một thể cao hơn, thể cảm dục. Đây là đặc trưng của sự phát triển nhân loại Atlantis.

3. The awakening of the throat centre and the shift of much of the lower energy into the throat activity. The ajna centre also begins to become active, producing integrated and creative personalities. This stage is characteristic of the present Aryan race.

3. Sự thức tỉnh của trung tâm cổ họng và sự chuyển dịch phần lớn năng lượng thấp vào hoạt động của cổ họng. Trung tâm ajna cũng bắt đầu trở nên hoạt động, tạo ra các phàm ngã tích hợp và sáng tạo. Giai đoạn này là đặc trưng của nhân loại Arya hiện nay.

4 The awakening of the heart centre and the shift of the solar plexus energy into that centre, thus producing groups and the entrance of a new and fuller sense of spiritual energy. The shift of emphasis is then into those states of awareness which reveal the kingdom of God. The fifth kingdom in nature becomes creatively active [340] on earth. This will be characteristic of the consciousness of the next great race.

4 Sự thức tỉnh của trung tâm tim và sự chuyển dịch năng lượng tùng thái dương vào trung tâm đó, nhờ vậy tạo ra các nhóm và sự đi vào của một ý thức mới và đầy đủ hơn về năng lượng tinh thần. Khi ấy, sự chuyển dịch điểm nhấn đi vào những trạng thái nhận biết tiết lộ Thiên Giới. Giới thứ năm trong thiên nhiên trở nên hoạt động một cách sáng tạo [340] trên Trái Đất. Đây sẽ là đặc trưng của tâm thức của nhân loại lớn kế tiếp.

5. The awakening of the head centre, with the consequent arousing of the kundalini fire at the base of the spine. This leads to the final integration of soul and body, and the appearance of a perfected humanity upon earth. This will express the nature of the final race.

5. Sự thức tỉnh của trung tâm đầu, với hệ quả là sự khơi dậy lửa kundalini ở đáy cột sống. Điều này dẫn đến sự tích hợp cuối cùng của linh hồn và thể xác, và sự xuất hiện của một nhân loại hoàn thiện trên Trái Đất. Điều này sẽ biểu lộ bản chất của nhân loại cuối cùng.

Forget not that there are at all times those who are characteristically expressing one or another of all of these various stages and states of consciousness. There are but a few on earth today who are capable of expressing as low a state of relative development as the Lemurian consciousness. There are a few at the extreme end of the Way who are expressing divine perfection, and in between these two extremes are all possible grades of development and unfoldment.

Đừng quên rằng vào mọi lúc đều có những người đang biểu lộ một cách đặc trưng giai đoạn này hay giai đoạn khác trong tất cả các giai đoạn và trạng thái tâm thức khác nhau ấy. Ngày nay trên Trái Đất chỉ có rất ít người có khả năng biểu lộ một trạng thái phát triển tương đối thấp như tâm thức Lemuria. Có một số ít ở đầu mút tận cùng của Con Đường đang biểu lộ sự hoàn thiện thiêng liêng, và ở giữa hai cực điểm ấy là mọi cấp độ phát triển và khai mở có thể có.

Man is therefore (from the angle of force expression) a mass of conflicting energies and an active centre of moving forces with a shift of emphasis constantly going on, and with the aggregation of the numerous streams of energy presenting a confusing kaleidoscope of active inter-relations, interpenetration, internecine warfare, and interdependence until such time as the personality forces (symbolic of divine multiplicity) are subdued or “brought into line” by the dominant soul. That is what we really mean by the use of the word “alignment”. This alignment results from:

Vì vậy, con người (xét từ góc độ biểu hiện mãnh lực) là một khối những năng lượng xung đột và là một trung tâm hoạt động của các mãnh lực đang chuyển động với sự chuyển dịch điểm nhấn diễn ra không ngừng, và với sự tập hợp của vô số dòng năng lượng trình hiện một kính vạn hoa rối rắm của những tương quan năng động, sự xuyên thấu lẫn nhau, chiến tranh tương tàn, và sự phụ thuộc lẫn nhau cho đến khi các mãnh lực phàm ngã (biểu tượng cho tính đa tạp thiêng liêng) bị linh hồn chi phối chế ngự hay “được đưa vào hàng ngũ”. Đó chính là điều chúng ta thực sự muốn nói khi dùng từ “chỉnh hợp”. Sự chỉnh hợp này là kết quả của:

1. The control of the personality by the soul.

1. Sự kiểm soát phàm ngã bởi linh hồn.

2. The downpouring of soul energy, via the mental and the emotional bodies, into the brain, thus producing the subjugation of the lower nature, the awakening of the brain consciousness to soul awareness, and a new alignment of the bodies.

2. Sự tuôn đổ xuống của năng lượng linh hồn, qua thể trí và thể cảm xúc, vào bộ não, nhờ đó tạo ra sự khuất phục của bản chất thấp, sự thức tỉnh của tâm thức não bộ đối với sự nhận biết linh hồn, và một sự chỉnh hợp mới của các thể.

[341]

[341]

3. The right arrangement, according to ray type, of the energies which are motivating and dynamically arousing the centres into activity. This leads eventually to a direct alignment of the centres upon the spine, so that soul energy can pass up and down through the centres from the directing centre in the head. Whilst this process of soul control is being perfected (and the time consumed is, from the angle of the limiting personality consciousness, of vast duration), the ray types of the vehicles steadily emerge, the ray of the personality begins to control the life, and finally the soul ray begins to dominate the personality ray and subdue its activity.

3. Sự sắp xếp đúng đắn, theo loại cung, của các năng lượng đang thúc đẩy và khơi dậy một cách năng động các trung tâm vào hoạt động. Điều này cuối cùng dẫn đến một sự chỉnh hợp trực tiếp của các trung tâm trên cột sống, để năng lượng linh hồn có thể đi lên và đi xuống qua các trung tâm từ trung tâm chỉ đạo ở đầu. Trong khi tiến trình kiểm soát của linh hồn này đang được hoàn thiện (và thời gian tiêu tốn, xét từ góc độ của tâm thức phàm ngã giới hạn, là vô cùng lâu dài), các loại cung của các vận cụ dần dần xuất hiện rõ rệt, cung phàm ngã bắt đầu kiểm soát đời sống, và cuối cùng cung linh hồn bắt đầu chi phối cung phàm ngã và chế ngự hoạt động của nó.

Eventually, the monadic ray takes control, absorbing into itself the rays of the personality and of the soul (at the third and fifth initiations) and thus duality is finally and definitely overcome and “only the One Who Is remains.”

Cuối cùng, cung chân thần nắm quyền kiểm soát, hấp thu vào chính nó các cung của phàm ngã và của linh hồn (ở lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ năm), và như thế nhị nguyên tính rốt cuộc được vượt qua một cách dứt khoát và “chỉ còn lại Đấng Hiện Hữu.”

We can now deal with the coordination of the personality, with its three types of techniques previously mentioned, which are the techniques of integration, the techniques of fusion and the techniques of duality. We will then pass on to a consideration of some of the problems with which psychology has to deal, arising as they do, out of the shifting consciousness, the intensification of the energy reception by the centres, and the inflow of soul potency. This will bring us to a point in our Treatise in which the rays and the human being will have been somewhat considered, and where we can eventually and with profit deal with that point, the third pertaining to the Ray of Personality, which we are in process of completing. It concerns education, the psychological training of aspirants and disciples, and the trends to be found emerging in the new esoteric psychology.

Giờ đây chúng ta có thể bàn đến sự phối hợp của phàm ngã, với ba loại kỹ thuật đã được nhắc đến trước đây, là Kỹ Thuật Tích Hợp, Kỹ Thuật Dung Hợp và Kỹ Thuật Nhị Nguyên. Sau đó chúng ta sẽ chuyển sang xem xét một số vấn đề mà tâm lý học phải đề cập đến, phát sinh từ tâm thức đang chuyển dịch, từ sự tăng cường tiếp nhận năng lượng bởi các trung tâm, và từ sự tuôn vào của tiềm lực linh hồn. Điều này sẽ đưa chúng ta đến một điểm trong bộ Luận của chúng ta, nơi các cung và con người đã được khảo sát phần nào, và nơi cuối cùng chúng ta có thể bàn đến một cách hữu ích điểm thứ ba liên quan đến cung phàm ngã, mà chúng ta hiện đang hoàn tất. Điểm ấy liên quan đến giáo dục, sự huấn luyện tâm lý của những người chí nguyện và các đệ tử, và những khuynh hướng đang xuất hiện trong Tâm Lý Học Nội Môn mới.

[342]

2. The Coordination of the Personality— Sự Phối Hợp của Phàm ngã

We have considered, cursorily I realise, the fact that the ego appropriates to itself forms, through which expression can be made possible upon the various levels of divine manifestation. We observed that these forms, in due process of time, become embodiments of the will and purpose of their divine Indweller. This Indweller is the soul. As the evolutionary cycle runs its course, three developments take place:

Tôi nhận thấy chúng ta đã xem xét qua loa sự kiện chân ngã chiếm giữ các hình tướng cho chính nó, nhờ đó nó có thể biểu lộ trên các cấp độ biểu hiện thiêng liêng khác nhau. Chúng ta quan sát thấy rằng những hình tướng này theo thời gian trở thành hiện thân của ý chí và mục đích của Chủ Thể Nội Tâm thiêng liêng của chúng, Chủ Thể Nội Tâm này là linh hồn. Khi chu trình tiến hóa tiếp diễn, có ba diễn biến xảy ra:

1. The forms for expression are developed, little by little as a result of:

1. Các hình tướng biểu hiện phát triển từng bước một nhờ:

a. Successive incarnations.

a. Các kiếp lâm phàm kế tiếp nhau.

b. The impulse and consequent activity of desire.

b. Sự thúc đẩy của dục vọng và hoạt động tiếp theo sau.

c. The interpretation of experience, intensifying and becoming more correct and adequate as time passes.

c. Sự diễn giải kinh nghiệm ngày càng sâu sắc, trở nên chính xác và đầy đủ hơn theo thời gian.

2. The self within, or identified with, the form nature,

2. Bản ngã bên trong, hay Bản ngã đồng hóa với sắc tướng,

a. Becomes slowly conscious and consequently intelligently active in the three worlds of human evolution.

a. Trở nên có ý thức dần dần và do đó hoạt động một cách thông minh trong ba cõi giới tiến hóa của loài người.

b. Shifts its focus of attention successively from one body to another, passing, in consciousness, into higher and higher states of awareness until the Path of Pursuit becomes the Path of Return, and desire for identification with form changes into aspiration for self-awareness. Later, comes identification with Self on its own level of consciousness.

b. Chuyển trọng tâm chú ý của nó liên tục từ thể này sang thể khác, chuyển trong tâm thức sang trạng thái nhận thức ngày càng cao hơn cho đến khi Con đường Theo đuổi trở thành Con đường Trở về, và mong muốn đồng hóa với hình tướng thay đổi thành khát vọng tự nhận thức, Sau đó, sự đồng nhất với Bản ngã sẽ diễn ra ở cấp độ tâm thức của chính nó.

c. Reorients itself and thus occultly “leaves behind the hitherto desirable and aspires to that which has not hitherto been seen.”

c. Tự định hướng lại, và do đó, về mặt huyền bí, “bỏ lại những điều cho đến nay mong cầu và khao khát những điều mà cho đến nay vẫn chưa được nhìn thấy”.

3. The aspirant passes through an intermediate stage in the [343] process of evolution wherein “divine attraction” supersedes the attraction of the three worlds. This stage falls into five parts:

3. Người chí nguyện trải qua giai đoạn trung gian trong tiến trình tiến hóa [Trang 343] trong đó “sự hấp dẫn thiêng liêng” thay thế sức hấp dẫn của ba cõi. Giai đoạn này chia thành năm phần:

a. A period wherein duality and lack of control are realised.

a. Thời kỳ trong đó nhận thức được tính nhị nguyên (hai mặt) và sự thiếu kiểm soát.

b. A period wherein an assertion of self-control takes place, through the following process:

b. Thời kỳ diễn ra quá trình khẳng định sự tự chủ thông qua tiến trình sau:

1. Decentralisation.

1. Phi tập trung,

2. Comprehension of the task ahead.

2. Hiểu rõ nhiệm vụ phía trước,

3. An investigation, by the divine Observer of the nature of form life.

3. Một cuộc nghiên cứu, bởi Đấng Quan Sát Thiêng Liêng, về bản chất của sự sống hình tướng,

4. Divine expression, through the medium of the form, understandingly practised.

4. Sự biểu hiện thiêng liêng, thông qua trung gian của hình tướng, được thực hành một cách thấu hiểu

c. A period wherein alignment takes place, and (through understanding and practice) the form is gradually subordinated to the requirements of the Self, and begins to work in unison with that Self.

c. Giai đoạn trong đó sự chỉnh hợp diễn ra và (thông qua sự thấu hiểu và thực hành) hình tướng dần dần phục tùng các yêu cầu của Chân ngã và bắt đầu hoạt động đồng bộ với Chân ngã đó.

d. A period wherein the forms, aligned at increasingly frequent intervals, are

d. Giai đoạn trong đó các thể, được chỉnh hợp với tần suất ngày càng thường xuyên, là:

1. Integrated into a functioning, active personality;

1. Tích hợp vào một phàm ngã hoạt động, tích cực;

2. Swept by the power of their own dominant, integrated, personality life;

2. Bị cuốn bởi sức mạnh của đời sống phàm ngã thống trị, thống nhất của chính họ;

3. Gradually controlled by the Self, and fused into an instrument for effective world service;

3. Dần dần được Chân ngã kiểm soát và hợp nhất thành một công cụ phục vụ thế giới một cách hiệu quả;

4. Unified, in intent and purpose, with the soul.

4. Hợp nhất, trong ý định và mục đích, với linh hồn,

e. A period wherein the personality ray and the soul ray are blended into one united energy, and the personality ray becomes a quality of, and complementary to, that of the soul, making soul purpose in the three worlds possible.

5. Một giai đoạn trong đó cung phàm ngã và cung linh hồn hòa quyện thành một năng lượng thống nhất, và cung phàm ngã trở thành một phẩm tính của, và bổ sung cho, phẩm tính của linh hồn, khiến cho mục đích của linh hồn trong ba cõi trở thành khả thi.

[344]

[Trang 344]

It is thus that we progress, and in this manner form and consciousness, appearance and quality, are brought together and divine unity is achieved, thus ending the duality hitherto sensed, which up till this time has handicapped the aspirant.

Nhờ đó mà chúng ta tiến bộ, và theo cách này, hình tướng và tâm thức, hình dáng và phẩm tính được kết hợp với nhau và đạt được sự thống nhất thiêng liêng, do đó chấm dứt tính nhị nguyên được cảm nhận cho đến nay, điều mà cho đến thời điểm này đã gây trở ngại cho người chí nguyện.

Two angles of this matter warrant our attention. One is that covering the processes of the past evolutionary cycle which, as it has transpired, has brought the aspirant to the point of a sensed duality, of consequent struggle, and of a hardly achieved reorientation towards reality. That period has been adequately covered, for all present purposes, by science, exoteric and esoteric. The other is the period of ultimate perfection which is finally achieved as a result of the struggle. One period lies far behind us, and intelligent humanity has travelled far towards the period of realisation; the other period lies far ahead. We will confine our studies to the task of the aspirant as he reorients himself upon the probationary path, and becomes increasingly aware of the world of higher values, and of the existence of the kingdom of God. On this path he senses his duality in an almost distressing manner, and begins to aspire towards unity. This is the task today of the vast numbers of world aspirants. So widespread is the desire for this reorientation that it has produced the present world upheaval, and is the spiritual source of the specific cause of the ideological conflicts now going on in every country.

Hai góc độ của vấn đề này khiến chúng ta phải chú ý. Một là việc các quá trình của chu kỳ tiến hóa trong quá khứ, khi nó diễn ra, đã đưa người chí nguyện đến điểm của một nhị nguyên được cảm nhận, của cuộc đấu tranh sau đó, và của một sự tái định hướng về phía thực tại khó đạt được. Giai đoạn đó đã được khoa học, công truyền và bí truyền, đề cập đầy đủ, cho mọi mục đích hiện nay. Góc độ kia là thời kỳ hoàn thiện cuối cùng đạt được nhờ đấu tranh. Một thời kỳ đã ở rất xa phía sau chúng ta, và nhân loại thông minh đã đi rất xa tới thời kỳ nhận thức; thời kỳ khác còn ở phía trước rất xa. Chúng ta sẽ giới hạn việc nghiên cứu của mình trong nhiệm vụ của người chí nguyện khi y tự định hướng lại mình trên con đường dự bị và ngày càng nhận thức được thế giới của những giá trị cao hơn, và về sự tồn tại của Thiên Giới (Cõi Giới của Thượng đế) Trên con đường này, y cảm nhận được tính hai mặt của mình một cách gần như đau khổ, và bắt đầu khao khát hướng tới sự thống nhất, Đây là nhiệm vụ ngày nay của vô số người chí nguyện trên thế giới. Mong muốn tái định hướng này lan rộng đến mức nó đã tạo ra sự biến động trên thế giới hiện tại, và là nguồn gốc tinh thần của nguyên nhân cụ thể của những xung đột ý thức hệ hiện đang diễn ra trong mọi quốc gia,

We will deal with the work of the disciples of the world as, having endeavoured to bring about the desired reorientation, they learn the basic necessity of integrating the personality, and from that pass on to achieve contact or fusion with the Self, the ego or soul. It will be wise to keep these three stages carefully in mind, because all the many modern psychological problems are founded upon—

Chúng ta sẽ đề cập đến công việc của các đệ tử trên thế giới khi đã nỗ lực mang lại sự định hướng mong muốn, họ học được sự cần thiết cơ bản của việc tích hợp phàm ngã, và từ đó chuyển sang đạt được sự tiếp xúc hoặc hợp nhất với Bản ngã (Self), Chân ngã (ego) hay linh hồn, Sẽ là khôn ngoan nếu bạn ghi nhớ cẩn thận ba giai đoạn này, bởi vì tất cả nhiều vấn đề tâm lý hiện đại đều được hình thành dựa trên đó.

[345]

1. The process of reorientation with its consequences of personality upheaval and disorders.

1. Quá trình tái định hướng với những hậu quả của sự biến động và rối loạn phàm ngã.

2. The process of integration which is going on within the lower nature of intelligent humanity, leading inevitably to duality and conflict.

2. Quá trình tích hợp đang diễn ra bên trong bản chất thấp kém của con người thông minh, chắc chắn sẽ dẫn đến tính hai mặt và xung đột.

3. The fusion of the personality and the soul in consciousness, with its physiological and personality effects, producing the problems and psychological dilemmas of the highly developed aspirant and disciple. In this stage, the so-called “diseases of mystics” become pronounced.

3. Sự dung hợp (fusion) giữa phàm ngã và linh hồn trong tâm thức, với những ảnh hưởng sinh lý và phàm ngã của nó, tạo ra những vấn đề và những tình thế nan giải về tâm lý của người chí nguyện và đệ tử đã phát triển cao. Ở giai đoạn này, cái gọi là “căn bệnh thần bí” trở nên rõ rệt.

We will also touch very briefly upon the efforts of the initiate as he works through and with the subdued mechanism of the personality in the service of the Plan. He in his turn—as a functioning soul and body, united, aligned and used—becomes gradually aware of a still higher synthesis. After the third initiation, he enters upon a renewed effort to produce a more inclusive fusion and integration,—this time with the monad or life aspect. About this later stage, little can be profitably said. Teaching which would be intelligible to an initiate of the third degree would be profitless and unintelligible even to the highly integrated and intelligent disciple, especially as such teaching is given necessarily through the use of most abstract and complicated symbols, requiring careful analysis and interpretation. None of this higher teaching is given through the medium of words, either spoken or written.

Chúng ta cũng sẽ đề cập rất vắn tắt đến những nỗ lực của điểm đạo đồ khi y làm việc thông qua và với bộ máy của phàm ngã đã được chế ngự trong việc phụng sự Thiên Cơ. Đến lượt y—với tư cách là một linh hồn và thể xác đang hoạt động, hợp nhất, chỉnh hợp và được sử dụng—dần dần nhận thức được sự tổng hợp còn cao hơn nữa. Sau cuộc điểm đạo thứ ba, y bắt đầu nỗ lực đổi mới để tạo ra một sự dung hợp (fusion) và tích hợp bao gồm hơn của linh hồn lần này với chân thần hoặc khía cạnh sự sống, Về giai đoạn sau này, có rất ít điều có thể được nói ra mà mang lại lợi ích. Những giảng dạy mà một điểm đạo đồ cấp ba có thể hiểu được sẽ vô ích và không thể hiểu được ngay cả đối với một đệ tử thông minh và tích hợp cao, đặc biệt vì việc giảng dạy như vậy nhất thiết phải được đưa ra thông qua việc sử dụng hầu hết các biểu tượng trừu tượng và phức tạp, đòi hỏi sự phân tích và giải thích cẩn thận. Không có điều nào của giáo lý cao này được đưa ra qua trung gian của từ ngữ, cả nói hay viết.