1. The Appropriation of the Bodies—Sự Chiếm Hữu Các Thể
The final definition which is given here, leads up to our consideration of the subject of the rays. The personality is the fusion of three major forces and their subjection (finally and after the fusion) to the impact of soul energy. This impact is made in three different stages or in what are occultly termed “three impulsive movements”—using the word “impulsive” in its true connotation and not in the usual emotional and enthusiastic significance. These impulsive movements are:
Định nghĩa cuối cùng được đưa ra ở đây dẫn chúng ta đến việc xem xét chủ đề các cung. Phàm ngã là sự dung hợp của ba mãnh lực chính và sự đặt chúng dưới tác động (cuối cùng và sau khi dung hợp) của năng lượng linh hồn. Tác động này được tạo ra trong ba giai đoạn khác nhau hay trong điều mà huyền bí học gọi là “ba chuyển động xung động”—dùng từ “xung động” theo hàm nghĩa chân thực của nó chứ không theo ý nghĩa cảm xúc và nhiệt thành thông thường. Các chuyển động xung động này là:
a. The impact of the soul at the stage of human evolution which we call individualisation. At that time, the form becomes aware for the first time of the touch of the soul. This is called in the language of esotericism the “Touch of Appropriation.” The soul then appropriates its vehicle.
a. Tác động của linh hồn ở giai đoạn tiến hoá nhân loại mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa. Khi ấy, hình tướng lần đầu tiên nhận biết sự tiếp xúc của linh hồn. Điều này được gọi trong ngôn ngữ của huyền bí học là “Sự Chạm của Chiếm Hữu.” Khi đó linh hồn chiếm hữu vận cụ của mình.
This stage is succeeded by a long period of adjustment and of gradual development and unfoldment. This takes place upon the way of experience, and during that period the soul tightens its hold upon its instrument, the lower form nature.
Giai đoạn này được tiếp nối bởi một thời kỳ dài của sự điều chỉnh và của sự phát triển và khai mở dần dần. Điều này diễn ra trên con đường kinh nghiệm, và trong suốt thời kỳ đó linh hồn siết chặt sự nắm giữ của mình trên công cụ của nó, tức bản chất hình tướng thấp.
b. The impact of the soul is called forth by the dilemmas and through the emergencies of the later stages of the path of experience. During this stage, the urgency of the need, and the dilemmas brought about by the forces of opposition, lead the man to submit to a higher influence. He calls then in desperation upon the soul and upon the spiritual resources laid up in his divine nature and hitherto remaining unused. This impact is called the “Touch of Acquiescence,” and marks the acceptance by the soul of the demand of the personality for help and [269] light. The soul acquiesces in the plea of the personality for guidance.
b. Tác động của linh hồn được gọi ra bởi các tình thế lưỡng nan và qua các tình huống khẩn cấp của những giai đoạn sau của con đường kinh nghiệm. Trong giai đoạn này, tính cấp bách của nhu cầu, và các tình thế lưỡng nan do các mãnh lực đối kháng gây ra, dẫn con người đến chỗ quy phục một ảnh hưởng cao hơn. Khi đó trong tuyệt vọng, y kêu cầu linh hồn và các tài nguyên tinh thần được tích trữ trong bản chất thiêng liêng của mình mà trước đây vẫn chưa được sử dụng. Tác động này được gọi là “Sự Chạm của Chấp Thuận,” và đánh dấu sự chấp nhận của linh hồn đối với lời yêu cầu giúp đỡ và [269] ánh sáng của phàm ngã. Linh hồn chấp thuận lời khẩn cầu của phàm ngã xin được hướng dẫn.
It is to be noted that we are here considering the attitude of the soul to the personality and not that of the personality to the soul, which is the attitude usually under consideration. We are dealing primarily in this treatise with the reactions and activities of the soul through its ray energy, and its response to the demand of the forces—focussed, combined and integrated—of the personality.
Cần lưu ý rằng ở đây chúng ta đang xem xét thái độ của linh hồn đối với phàm ngã chứ không phải thái độ của phàm ngã đối với linh hồn, vốn là thái độ thường được xem xét. Trong bộ luận này, chủ yếu chúng ta đang đề cập đến các phản ứng và hoạt động của linh hồn qua năng lượng cung của nó, và sự đáp ứng của nó đối với nhu cầu của các mãnh lực—được tập trung, kết hợp và tích hợp—của phàm ngã.
c. The impact of the soul at the time of the various and sequential initiations to which the disciple is eventually subjected, as he transits out of the fourth into the fifth kingdom in nature. This stage is called the “Touch of Enlightenment,” and through the bringing together of the forces of the purified personality and those of the “approaching” soul, a “light is engendered which fadeth not away.”
c. Tác động của linh hồn vào lúc các cuộc điểm đạo khác nhau và tuần tự mà cuối cùng đệ tử phải trải qua, khi y chuyển tiếp từ giới thứ tư sang giới thứ năm trong thiên nhiên. Giai đoạn này được gọi là “Sự Chạm của Soi Sáng,” và qua việc tập hợp các mãnh lực của phàm ngã đã được thanh luyện với các mãnh lực của linh hồn “đang đến gần”, một “ánh sáng được sinh ra mà không phai tàn.”
In these three impacts,—
Trong ba tác động này,—
1. The touch of appropriation on the physical plane,
1. sự chạm của chiếm hữu trên cõi hồng trần,
2. The touch of acquiescence on the astral plane,
2. sự chạm của chấp thuận trên cõi cảm dục,
3. The touch of enlightenment upon the mental plane,
3. sự chạm của soi sáng trên cõi trí,
there is summarised clearly and concisely the attitude of the soul towards its rapidly preparing instrument.
ở đó được tóm lược một cách rõ ràng và ngắn gọn thái độ của linh hồn đối với công cụ đang nhanh chóng được chuẩn bị của nó.
The great Touch of Appropriation lies racially in the past. The Touch of Acquiescence takes place upon the battlefield of the emotional nature, and the Touch of Enlightenment is effected through the mind.
Sự Chạm lớn lao của Chiếm Hữu, xét theo chủng tộc, nằm trong quá khứ. Sự Chạm của Chấp Thuận diễn ra trên chiến trường của bản chất cảm xúc, và Sự Chạm của Soi Sáng được thực hiện qua trí tuệ.
The first three initiations are expressions of these three stages or impacts, and it might also be stated that the Lemurian, the Atlantean and the Aryan races are also expressions of man’s reactions to these three soul approaches.
Ba lần điểm đạo đầu tiên là những biểu hiện của ba giai đoạn hay ba tác động này, và cũng có thể nói rằng các nhân loại Lemuria, Atlantis và Arya cũng là những biểu hiện của các phản ứng của con người đối với ba sự tiếp cận này của linh hồn.
[270]
[270]
The third initiation sees the soul and the personality perfectly blended so that the light blazes forth and the great Approaches between soul and form are consummated.
Lần điểm đạo thứ ba chứng kiến linh hồn và phàm ngã được hòa trộn hoàn toàn đến mức ánh sáng bừng cháy và các Sự Tiếp Cận lớn lao giữa linh hồn và hình tướng được hoàn tất.
Today, in this particular cycle and in this Aryan race, the Hierarchy (as an expression of the kingdom of souls) is recapitulating these three inevitable steps and making certain advances or approaches to the race. We can therefore divide humanity into three groups and relate humanity to the three major approaches.
Ngày nay, trong chu kỳ đặc biệt này và trong nhân loại Arya này, Thánh đoàn (với tư cách là một biểu hiện của giới các linh hồn) đang tái hiện ba bước tất yếu này và đang thực hiện một số tiến bộ hay tiếp cận nào đó đối với nhân loại. Vì vậy, chúng ta có thể chia nhân loại thành ba nhóm và liên hệ nhân loại với ba sự tiếp cận chính.
a. The Approach of Appropriation will express the effect of the present stimulation upon the unevolved masses. Thousands and thousands of men and women are in process of awakening and during the next few years will come to soul consciousness, for the soul of each individual is intensifying its initial appropriation at the Lemurian crisis of individualisation, and the ancient enterprise is again being re-enacted as a needed recapitulatory endeavor. All this today lies almost entirely in the realm of consciousness. The great appropriation was made millions of years ago. Today, in consciousness, there will come a great awakening to the significance of what was, at that time, largely a physical event, and masses of men will become aware—in their brain consciousness—of that early appropriation. This is being brought about by a fresh approach by the soul and an advance towards its reflection, the personality, and it produces in time a consequent recognition upon the part of man.
a. Sự Tiếp Cận của Chiếm Hữu sẽ biểu lộ hiệu quả của sự kích thích hiện nay lên các quần chúng chưa tiến hóa. Hàng ngàn và hàng ngàn những người nam và nữ đang trong tiến trình thức tỉnh và trong vài năm tới sẽ đi đến tâm thức linh hồn, vì linh hồn của mỗi cá nhân đang tăng cường sự chiếm hữu ban đầu của nó tại cuộc khủng hoảng biệt ngã hóa thời Lemuria, và công cuộc cổ xưa ấy lại đang được tái diễn như một nỗ lực tái hiện cần thiết. Ngày nay tất cả điều này hầu như hoàn toàn nằm trong lĩnh vực tâm thức. Sự chiếm hữu lớn lao đã được thực hiện từ hàng triệu năm trước. Ngày nay, trong tâm thức, sẽ có một sự thức tỉnh lớn lao đối với ý nghĩa của điều mà vào thời đó phần lớn là một biến cố hồng trần, và quần chúng sẽ trở nên nhận biết—trong tâm thức não bộ của họ—về sự chiếm hữu ban đầu ấy. Điều này được mang lại bởi một sự tiếp cận mới mẻ của linh hồn và một bước tiến về phía phản ảnh của nó là phàm ngã, và theo thời gian tạo ra một sự nhận biết tương ứng nơi con người.
b. The Approach of Acquiescence will be equally well recognised by the intelligent and more highly evolved sons of men. They will awaken to the relationship which exists between their personalities and the soul, and between the forces of the lower nature and the energy of the soul. It is with this particular task that the New Group of World Servers is primarily occupied,—looking at their activities from the [271] standpoint of the Hierarchy. Their work is to facilitate the entrance of soul energy, which energy expresses itself in love and in good will. This in its turn results in peace—individual, racial and planetary—and the great group aspect of the approach will be brought about, and is today in process of being carried forward.
b. Sự Tiếp Cận của Chấp Thuận cũng sẽ được nhận biết rõ ràng không kém bởi những người con của nhân loại thông minh và tiến hóa hơn. Họ sẽ thức tỉnh đối với mối liên hệ hiện hữu giữa phàm ngã của họ và linh hồn, và giữa các mãnh lực của bản chất thấp với năng lượng của linh hồn. Chính với nhiệm vụ đặc biệt này mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chủ yếu đang bận tâm,—nếu nhìn các hoạt động của họ từ [271] quan điểm của Thánh đoàn. Công việc của họ là tạo điều kiện thuận lợi cho sự đi vào của năng lượng linh hồn, mà năng lượng này biểu lộ thành tình thương và thiện chí. Đến lượt nó, điều này đưa đến hòa bình—cá nhân, chủng tộc và hành tinh—và phương diện nhóm lớn lao của sự tiếp cận sẽ được mang lại, và ngày nay đang trong tiến trình được xúc tiến.
c. The Approach of Enlightenment carries the disciple through the gate of initiation, and is the effect of the same energy playing upon the personalities of the disciples of the world, and transforming their spirit of aspiration into the light of initiation.
c. Sự Tiếp Cận của Soi Sáng đưa đệ tử đi qua cánh cổng điểm đạo, và là hiệu quả của cùng một năng lượng tác động lên các phàm ngã của các đệ tử thế giới, và chuyển hóa tinh thần khát vọng của họ thành ánh sáng của điểm đạo.
The Mysteries of the world, the flesh and the devil (to use the symbolic formal terminology of Christianity) are to be transmuted with rapidity into those of the Mysteries of the Kingdom of God, the energy of the soul, and the revelation of divinity. The secret hid by the inverted lotus (the world) is to be revealed by the opened lotus of the kingdom of souls. The secret of the flesh, which is the prison of the soul, is revealed by the perfume of the unfolding lotus of the soul. The mystery of the devil will eventually be seen to be that of the light of God’s countenance, which reveals that which is undesirable and must be changed and renounced, and which thus transforms life by the light that God’s nature pours forth.
Các Huyền Nhiệm của thế gian, xác thịt và ma quỷ (dùng thuật ngữ hình thức biểu tượng của Cơ Đốc giáo) phải được chuyển hoá một cách nhanh chóng thành các Huyền Nhiệm của Thiên Giới, năng lượng của linh hồn, và sự mặc khải của thiên tính. Bí mật được che giấu bởi hoa sen đảo ngược (thế gian) phải được tiết lộ bởi hoa sen khai mở của giới các linh hồn. Bí mật của xác thịt, vốn là nhà tù của linh hồn, được tiết lộ bởi hương thơm của hoa sen linh hồn đang khai mở. Huyền nhiệm của ma quỷ cuối cùng sẽ được thấy là huyền nhiệm của ánh sáng từ dung nhan Thượng đế, ánh sáng phơi bày điều không mong muốn và phải được thay đổi và từ bỏ, và nhờ đó chuyển đổi đời sống bằng ánh sáng mà bản chất của Thượng đế tuôn đổ ra.
It would be of use to us all to study these three soul approaches—individual or hierarchical—and to ponder upon them and put ourselves in training, so that we may make the needed recognitions. Let us also ponder upon the following triplicities:—
Sẽ hữu ích cho tất cả chúng ta nếu nghiên cứu ba sự tiếp cận này của linh hồn—cá nhân hay theo Thánh đoàn—và suy ngẫm về chúng, đồng thời tự đặt mình vào sự huấn luyện, để chúng ta có thể thực hiện những sự nhận biết cần thiết. Chúng ta cũng hãy suy ngẫm về các bộ ba sau đây:—
1. Mass Consciousness. Self-consciousness. Group-consciousness. These lead, in due time, to
1. Tâm thức quần chúng. Ngã thức. Tâm thức nhóm. Những điều này dẫn đến, đúng lúc,
2. Appropriation.....Acquiescence.....Enlightenment.through the racial stages of
2. Chiếm hữu.....Chấp thuận.....Soi sáng.qua các giai đoạn chủng tộc của
3. Lemurian experience. Atlantean experience. Aryan experience.and the individual stages of
3. Kinh nghiệm Lemuria. Kinh nghiệm Atlantis. Kinh nghiệm Arya.và các giai đoạn cá nhân của
4. Experience.....Discipleship.....Initiation.producing, in their turn,
4. Kinh nghiệm.....Địa vị đệ tử.....Điểm đạo.tạo ra, đến lượt chúng,
5. Racial probation.....Racial discipleship.....Racial initiation.and individually
5. Dự bị của nhân loại.....Địa vị đệ tử của nhân loại.....Điểm đạo của nhân loạivà cá nhân
6. The probationer.....The Disciple.....The Initiate.which lead eventually to
6. Người dự bị.....Người Đệ tử.....Điểm đạo đồđiều này cuối cùng dẫn đến
7. The New Group of World Servers..The Hierarchy..The Kingdom of God.
7. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian..Thánh đoàn..Thiên Giới.
[272]
[272]
A comparative study of these stages and phases will reveal how the relationship of the ego and the personality emerges, and that the distinctive feature between the two, as far as the aspirant is concerned, is the focus or the concentration of the life aspect. In the personality the focus of consciousness is Form. In the individuality, that focus is transferred to the Soul. It is all a question of where lies the centre of attention. The “approaches” which take place between the soul and the personality are the processes of relationship in the periods of transition. In connection with the race, these are called the Great Approaches of the Hierarchy, and they represent the soul of humanity within the racial form. The New Group of World Servers is that body of men and women who have responded to one of these major approaches. As soon as they have done this, they become a bridging or a linking group between the Hierarchy and the race, thus facilitating the task of the planetary Hierarchy.
Một nghiên cứu so sánh về các giai đoạn và các chu kỳ này sẽ cho thấy mối liên hệ giữa chân ngã và phàm ngã xuất hiện như thế nào, và rằng nét phân biệt đặc trưng giữa hai bên, xét theo phương diện người chí nguyện, là tiêu điểm hay sự tập trung của phương diện sự sống. Trong phàm ngã, tiêu điểm của tâm thức là hình tướngForm. Trong cá thể tính, tiêu điểm ấy được chuyển sang linh hồnSoul. Tất cả chỉ là vấn đề trung tâm chú ý nằm ở đâu. Những “tiếp cận” diễn ra giữa linh hồn và phàm ngã là các tiến trình liên hệ trong những thời kỳ chuyển tiếp. Liên hệ với nhân loại, chúng được gọi là các Đại Tiếp Cận của Thánh đoàn, và chúng biểu hiện linh hồn của nhân loại bên trong hình tướng chủng tộc. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là tập thể những người nam và nữ đã đáp ứng với một trong các đại tiếp cận ấy. Ngay khi họ làm được điều này, họ trở thành một nhóm bắt cầu hay liên kết giữa Thánh đoàn và nhân loại, nhờ đó làm cho nhiệm vụ của Huyền Giai Tinh Thần hành tinh được dễ dàng hơn.
The revelation of these Approaches, during the time in which they are going on, is only now possible. At the first Great Approach in Lemurian days, when the race of men individualised, only the members of the approaching Hierarchy were in any way aware of the purpose. Those who were approached registered dimly a deepened urge to rise to better things. Aspiration was born—conscious aspiration, if [273] such a word can be employed in connection with the vague yearning of animal man. Today, such is the progress made through the effect of evolution that many people can and do consciously register the influence of the soul and the nearing approach of the Hierarchy. This ability to register the Approach, or the Touch of Enlightenment, is largely due to the successful work of the Christ when He came down to the earth some two thousand years ago. He accustomed us to the idea of divinity—an entirely new concept as far as man was concerned. He thus paved the way for the nearer approach, upon a large scale, of the Kingdom of Souls, through its agent, the Hierarchy and the hierarchical agency, The New Group of World Servers. This may convey something of an understanding of an aspect of Christ’s work which is frequently overlooked.
Sự mặc khải về các Tiếp Cận này, trong thời gian chúng đang diễn ra, chỉ đến nay mới có thể có được. Vào Đại Tiếp Cận đầu tiên trong thời Lemuria, khi nhân loại của loài người được biệt ngã hóa, chỉ các thành viên của Thánh đoàn đang tiến đến mới phần nào ý thức được mục đích ấy. Những kẻ được tiếp cận chỉ mơ hồ ghi nhận một thúc đẩy sâu xa hơn hướng tới những điều tốt đẹp hơn. Khát vọng đã ra đời—khát vọng có ý thức, nếu [273] có thể dùng một từ như vậy liên hệ với nỗi khao khát mơ hồ của người thú. Ngày nay, sự tiến bộ đạt được nhờ tác động của tiến hoá lớn đến mức nhiều người có thể và thực sự ghi nhận một cách hữu thức ảnh hưởng của linh hồn và sự tiếp cận gần hơn của Thánh đoàn. Khả năng ghi nhận Tiếp Cận này, hay Sự Chạm của Giác Ngộ, phần lớn là nhờ công trình thành công của Đức Christ khi Ngài giáng xuống trần gian cách đây khoảng hai ngàn năm. Ngài đã làm cho chúng ta quen với ý niệm về thiên tính—một khái niệm hoàn toàn mới đối với con người. Nhờ đó Ngài đã dọn đường cho sự tiếp cận gần hơn, trên quy mô lớn, của Thiên Giới của các linh hồn, thông qua tác nhân của nó là Thánh đoàn và cơ quan phân cấp của Thánh đoàn, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Điều này có thể truyền đạt phần nào sự thấu hiểu về một phương diện trong công việc của Đức Christ thường bị bỏ qua.
Today, as the seventh ray comes into manifestation, we shall see the approaches between the two higher kingdoms of men and of souls greatly facilitated, as the magical work in the producing and bringing about of relationship begins to go forward as desired. It is the work of the Ray of Magical Order which will bring about sensitivity to one of the Major Approaches which is being now attempted. Only as history is made and we learn later the amazing nature of the epoch through which the race is passing, will humanity appreciate the significance of the work of the present Hierarchy, and the magnitude and the success of its achievement since 1925, as a result of the initial impulse instituted in 1875.
Ngày nay, khi cung bảy đi vào biểu hiện, chúng ta sẽ thấy các tiếp cận giữa hai giới cao hơn là giới nhân loại và giới các linh hồn được tạo điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều, khi công việc huyền thuật trong việc tạo ra và mang lại mối liên hệ bắt đầu tiến triển như mong muốn. Chính công việc của Cung Trật Tự Huyền Thuật sẽ mang lại sự nhạy cảm đối với một trong các Đại Tiếp Cận hiện đang được thử thực hiện. Chỉ khi lịch sử được tạo nên và về sau chúng ta học biết bản chất kỳ diệu của thời đại mà nhân loại đang đi qua, nhân loại mới đánh giá được thâm nghĩa của công việc của Thánh đoàn hiện nay, cũng như tầm vóc và thành công của thành tựu của Thánh đoàn kể từ năm 1925, như là kết quả của xung lực khởi đầu được thiết lập vào năm 1875.
No more need be said on this point except to observe that the first indications of the work done during the Wesak Festival of 1936 and the response engendered among humanity would warrant the assumptions of success. Let us all stand poised and ready, unafraid and sure, thus preserving the gain of past effort and (in company with all true servers throughout [274] the world) ensuring to us a positive focal point for the transmission of spiritual energy.
Không cần nói thêm gì về điểm này ngoài việc lưu ý rằng những chỉ dấu đầu tiên của công việc được thực hiện trong Lễ Hội Wesak năm 1936 và sự đáp ứng được khơi dậy trong nhân loại sẽ biện minh cho giả định về thành công. Chúng ta hãy cùng đứng trong trạng thái sẵn sàng và chuẩn bị, không sợ hãi và vững chắc, nhờ đó bảo tồn thành quả của nỗ lực quá khứ và (cùng với tất cả những người phụng sự chân chính khắp [274] thế giới) bảo đảm cho chúng ta một tiêu điểm tích cực để truyền dẫn năng lượng tinh thần.
It would be well, before we proceed with our consideration of the Ray of the Personality, to add a word more to the information given above anent the three great Approaches of the soul or the three Touches which are transforming or initiating agencies in the life of the personality. Students would do well to remember that there must ever be an analogy or a correspondence carried out in the life of the little self—a reflection of the activities of the greater Self. Just as the soul makes three approaches towards its instrument or reflection, a human being, so the integrated personality approaches also towards union with the soul by three similar or related touches. It might be of interest if we were to enlarge somewhat upon this matter.
Sẽ là điều tốt, trước khi chúng ta tiếp tục xem xét cung phàm ngã, thêm một lời nữa vào thông tin đã nêu trên liên quan đến ba Đại Tiếp Cận của linh hồn hay ba Sự Chạm vốn là các tác nhân chuyển đổi hay điểm đạo trong đời sống của phàm ngã. Các đạo sinh nên nhớ rằng luôn luôn phải có một sự tương đồng hay một định luật tương ứng được thực hiện trong đời sống của tiểu ngã—một phản ánh của các hoạt động của Đại Ngã. Cũng như linh hồn thực hiện ba lần tiếp cận đối với khí cụ hay phản ánh của nó là một con người, thì phàm ngã tích hợp cũng tiến tới sự hợp nhất với linh hồn bằng ba sự chạm tương tự hay có liên hệ. Có lẽ sẽ là điều đáng quan tâm nếu chúng ta khai triển thêm đôi chút về vấn đề này.
The corresponding activity in the personality to the Approach of Appropriation comes as a result of the reorientation and the readjustment which takes place in the personality life when upon the probationary path. Then the individual aspirant—after much struggle and effort—suddenly “touches”, for one brief moment, the level of the soul, and knows the meaning of the words “soul contact.” That contact is no longer a desire, a vision or a theoretical belief or hope. It is experience and fact. The terms “soul contact” and “sensing the vibratory quality of the soul” are phrases oft used. It should prove useful to students if they could learn to appreciate the fact that when “in meditation deep” a certain sudden and recognised relationship is established, the personality has responded for the first time in such a manner that the “appropriation” by the soul of its instrument (called individualisation) is duplicated by the appropriation by the personality of the inspiring and overshadowing soul. This experience marks a significant moment in the life of the soul and the [275] personality, and the man is never again the same. He has participated in a soul activity. This great event, when looked at from this angle, should throw new light and a fresh spirit of enterprise into the meditation work of the aspirant. Just as the soul through a planned activity, individualised itself in a human form, so the probationary aspirant, also as a result of a planned activity, takes the first step in individualising himself in a spiritual form, and the shift of consciousness from a body nature into a body “not made with hands, eternal in the heavens” takes place. The little self repeats the activity of the great Self. An event upon the path of ascent explains the significance of what occurred on the way of descent.
Hoạt động tương ứng trong phàm ngã với Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu đến như là kết quả của sự định hướng lại và điều chỉnh lại diễn ra trong đời sống phàm ngã khi ở trên Con Đường Dự Bị. Khi ấy người chí nguyện cá nhân—sau nhiều đấu tranh và nỗ lực—đột nhiên “chạm tới”, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cấp độ của linh hồn, và biết được ý nghĩa của những lời “tiếp xúc linh hồn”. Sự tiếp xúc ấy không còn là một ham muốn, một linh ảnh hay một niềm tin hoặc hy vọng lý thuyết nữa. Nó là kinh nghiệm và sự kiện. Các thuật ngữ “tiếp xúc linh hồn” và “cảm nhận phẩm tính rung động của linh hồn” là những cụm từ thường được dùng. Sẽ hữu ích cho các đạo sinh nếu họ có thể học cách đánh giá sự kiện rằng khi “trong tham thiền sâu” một mối liên hệ đột ngột và được nhận biết được thiết lập, phàm ngã đã đáp ứng lần đầu tiên theo cách mà “sự chiếm hữu” của linh hồn đối với khí cụ của nó (được gọi là biệt ngã hóa) được lặp lại bằng sự chiếm hữu của phàm ngã đối với linh hồn truyền cảm hứng và phủ bóng. Kinh nghiệm này đánh dấu một khoảnh khắc có ý nghĩa trong đời sống của linh hồn và của [275] phàm ngã, và con người không bao giờ còn như trước nữa. Y đã tham dự vào một hoạt động của linh hồn. Biến cố lớn lao này, khi được nhìn từ góc độ này, hẳn sẽ soi sáng mới mẻ và đem một tinh thần dấn thân mới vào công việc tham thiền của người chí nguyện. Cũng như linh hồn, qua một hoạt động có kế hoạch, đã biệt ngã hóa chính nó trong một hình tướng con người, thì người chí nguyện dự bị cũng vậy, như là kết quả của một hoạt động có kế hoạch, thực hiện bước đầu tiên trong việc biệt ngã hóa chính mình trong một hình tướng tinh thần, và sự chuyển dịch tâm thức từ bản chất thể xác sang một thể “không do tay người làm nên, vĩnh cửu trên cõi trời” diễn ra. Tiểu ngã lặp lại hoạt động của Đại Ngã. Một biến cố trên con đường đi lên giải thích thâm nghĩa của điều đã xảy ra trên con đường đi xuống.
We are told that a long time transpires between the first initiation (wherein the crisis of appropriation on the Path of Ascent, finds its culmination) and the second initiation. Here again there is a correspondence to earlier happenings, for much time has transpired since individualisation, technically understood, has taken place. That individualisation, the first great soul approach took place either in Lemurian days or in a still earlier crisis upon that dead planet, the moon. Today, just as the form of animal man had to reach a certain level of development, so the human form has to reach the level of personality integration before the re-enactment of the Approach of Appropriation can be consciously carried forward.
Chúng ta được cho biết rằng một thời gian dài trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất (trong đó cuộc khủng hoảng của sự chiếm hữu trên Con Đường Đi Lên đạt tới đỉnh điểm) và lần điểm đạo thứ hai. Ở đây lại có một sự tương ứng với những diễn biến trước kia, vì đã có rất nhiều thời gian trôi qua kể từ khi sự biệt ngã hóa, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, diễn ra. Sự biệt ngã hóa ấy, Đại Tiếp Cận đầu tiên của linh hồn, đã diễn ra hoặc trong thời Lemuria hoặc trong một cuộc khủng hoảng còn sớm hơn nữa trên hành tinh đã chết ấy là mặt trăng. Ngày nay, cũng như hình tướng của người thú đã phải đạt đến một mức phát triển nhất định, thì hình tướng con người cũng phải đạt đến mức tích hợp phàm ngã trước khi sự tái diễn của Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu có thể được thực hiện một cách hữu thức.
Next there comes a period in the life of the aspirant when he shifts off the probationary path and moves on to the path of discipleship. This is the result of an activity which is a reflection in his individual personality life of the Approach of Acquiescence. This takes place upon the battlefield of the astral plane. There the disciple acquiesces consciously in the inevitable process of transmutation which takes place before the personality can be a fit instrument for the soul. He stands [276] between the pairs of opposites, learning the secret of duality, and like Arjuna (fixed at the midway point) he seeks the way out, eventually acquiescing in the task ahead. This is the stage of submission to which every disciple subjects himself.
Tiếp theo là một giai đoạn trong đời sống của người chí nguyện khi y rời khỏi Con Đường Dự Bị và bước lên Con Đường Đệ Tử. Đây là kết quả của một hoạt động là sự phản ánh trong đời sống phàm ngã cá nhân của y về Tiếp Cận của Sự Chấp Thuận. Điều này diễn ra trên chiến trường của cõi cảm dục. Ở đó đệ tử hữu thức chấp thuận tiến trình chuyển hoá tất yếu diễn ra trước khi phàm ngã có thể trở thành một khí cụ thích hợp cho linh hồn. Y đứng [276] giữa các cặp đối đãi, học bí mật của nhị nguyên tính, và như Arjuna (đứng vững tại Điểm ở giữa), y tìm lối thoát, cuối cùng chấp thuận nhiệm vụ ở phía trước. Đây là giai đoạn quy phục mà mọi đệ tử đều tự đặt mình vào.
It is through acquiescence that the astral aspect of the personality is brought into line with the divine purpose of the indwelling soul. This is not, a negative, weak submission, or a sad, sweet acceptance, so-called, of the will of God, but it is a positive, dynamic assumption of a certain position or attitude upon the battlefield of life. This attitude recognises rightly, as did Arjuna, the demands of both armies (the army of the Lord and the army of the Personality) and whilst acquiescing in the facts of the case, the disciple stands up and fights as best he may for the privilege of right understanding and right activity. Just as the soul in far off days acquiesced, and gave the touch of acquiescence in the obligation assumed when the approach of appropriation took place and the demands of the personality upon the soul became steadily more definite, so now the personality reverses the process, and recognises the demands of the soul. This marks, as may well be seen, a very definite stage in the life of the aspirant, and is the cause of that unhappy sense of duality which produces distress and sorrow in the life of all disciples. It is at this point upon the Way that many very well-meaning disciples fall. Instead of standing in spiritual being and taking a firm position upon the middle way between the pairs of opposites, and thus intensifying the touch of appropriation and endeavoring to make the approach of acquiescence, they fall into the illusions of self-pity. These prevent the process of appropriation. A furious conflict then ensues in the endeavor to change the theme of their lives, and the disciples forget that that theme is the embodiment of the Word of their souls in any particular incarnation, and that no theme—calling as it does, [277] particular conditions into being—could provide the right and needed circumstances for full and complete development. They become so occupied with the theme that they forget the composer of that theme.
Chính nhờ sự chấp thuận mà phương diện cảm dục của phàm ngã được đưa vào chỉnh hợp với thiên ý của linh hồn nội tại. Đây không phải là một sự quy phục tiêu cực, yếu đuối, hay một sự chấp nhận buồn bã, ngọt ngào, như người ta gọi, đối với Ý Chí của Thượng Đế, mà là một sự đảm nhận tích cực, năng động một vị trí hay thái độ nhất định trên chiến trường của cuộc sống. Thái độ này nhận ra một cách đúng đắn, như Arjuna đã làm, những đòi hỏi của cả hai đạo quân (đạo quân của Chúa và đạo quân của Phàm ngã) và trong khi chấp thuận các sự kiện của tình huống, đệ tử đứng lên và chiến đấu hết sức mình để giành lấy đặc ân của sự thấu hiểu đúng đắn và hoạt động đúng đắn. Cũng như linh hồn trong những ngày xa xưa đã chấp thuận, và đã ban sự chạm của chấp thuận trong nghĩa vụ đã đảm nhận khi tiếp cận của sự chiếm hữu diễn ra và những đòi hỏi của phàm ngã đối với linh hồn ngày càng trở nên rõ rệt hơn, thì giờ đây phàm ngã đảo ngược tiến trình ấy, và nhận ra những đòi hỏi của linh hồn. Điều này đánh dấu, như có thể thấy rõ, một giai đoạn rất xác định trong đời sống của người chí nguyện, và là nguyên nhân của cảm giác nhị nguyên tính bất hạnh ấy, vốn tạo ra đau khổ và buồn phiền trong đời sống của mọi đệ tử. Chính tại điểm này trên Con Đường mà nhiều đệ tử rất thiện chí đã sa ngã. Thay vì đứng trong bản thể tinh thần và giữ một lập trường vững chắc trên trung đạo giữa các cặp đối đãi, nhờ đó tăng cường sự chạm của sự chiếm hữu và nỗ lực thực hiện tiếp cận của sự chấp thuận, họ lại rơi vào các ảo tưởng của lòng tự thương hại. Những điều này ngăn cản tiến trình chiếm hữu. Khi ấy một cuộc xung đột dữ dội xảy ra trong nỗ lực thay đổi chủ đề của đời sống họ, và các đệ tử quên rằng chủ đề ấy là hiện thân của Linh từ của linh hồn họ trong một kiếp lâm phàm cụ thể, và rằng không có chủ đề nào—vì nó gọi ra, [277] những điều kiện cụ thể đi vào hiện hữu—lại không thể cung cấp những hoàn cảnh đúng đắn và cần thiết cho sự phát triển đầy đủ và trọn vẹn. Họ trở nên quá bận tâm với chủ đề đến nỗi quên mất người soạn nên chủ đề ấy.
The dramatic rehearsal by the personality of the Approach or Touch of Enlightenment (as enacted by the soul) takes place upon the Path of Initiation. It has been portrayed for us by the Buddha when He took illumination and became the Enlightened One.
Sự diễn tập đầy kịch tính của phàm ngã về Tiếp Cận hay Sự Chạm của Giác Ngộ (như được linh hồn thực hiện) diễn ra trên Con Đường Điểm Đạo. Điều này đã được Đức Phật biểu hiện cho chúng ta khi Ngài đạt được sự soi sáng và trở thành Đấng Giác Ngộ.
There is one peculiarly interesting point which can perhaps be made clear. God, or whatever word anyone may employ to express the Originator of all that exists, constantly re-enacts these dramatic approaches for His people. In so doing and as history proceeds, two great classes of Avatars must inevitably emerge, or have emerged. There are, first of all, Those Who embody in Themselves the great major soul approaches. There will be (and I would ask you to note the change of tense) Those Who will embody the human approaches, or the corresponding activities of the personality to the soul approaches. These are called in the language of esotericism “the Avatars of logoic descent upon the radiant path of...” and “the Avatars of divine descent upon the Claiming Way.” I cannot translate these terms more clearly, nor can I find an adequate word for the phrase which qualifies the radiant path.
Có một điểm đặc biệt thú vị có lẽ có thể được làm sáng tỏ. Thượng đế, hay bất cứ từ nào người ta dùng để diễn tả Đấng Khởi Nguyên của mọi sự hiện hữu, không ngừng tái diễn những tiếp cận đầy kịch tính này cho dân của Ngài. Khi làm như vậy, và khi lịch sử tiến triển, hai loại lớn các Đấng Hoá Thân tất yếu phải xuất hiện, hoặc đã xuất hiện. Trước hết là Những Đấng tự thân hiện thân cho các đại tiếp cận chủ yếu của linh hồn. Sẽ có (và tôi xin các bạn lưu ý sự thay đổi thì) Những Đấng sẽ hiện thân cho các tiếp cận của con người, hay các hoạt động tương ứng của phàm ngã đối với các tiếp cận của linh hồn. Trong ngôn ngữ huyền bí học, các Ngài được gọi là “các Đấng Hoá Thân của sự giáng hạ logoic trên con đường rạng ngời của...” và “các Đấng Hoá Thân của sự giáng hạ thiêng liêng trên Con Đường Đòi Hỏi.” Tôi không thể dịch các thuật ngữ này rõ hơn, cũng không thể tìm được một từ thích đáng cho cụm từ bổ nghĩa cho con đường rạng ngời ấy.
On the Way of Descending Approaches, the Buddha from the mental plane and also upon it, embodied in Himself the blazing enlightenment which is the result of a rare occurrence—a Cosmic Touch. He challenged the people to the Path of Light, of which knowledge and wisdom are two aspects. These, when brought into relationship with each other, produce the light. In a curious and esoteric manner, therefore, the Buddha embodied in Himself the force and [278] activity of the third ray, of the third aspect of divinity—the divine cosmic principle of Intelligence. By its fusion with the ray of our solar system (the ray of Love) He expressed perfectly the significance of light in matter, of the intelligence principle as found in form, and was the Avatar Who carried in Himself the fully ripened seeds of the past solar system. We should not forget that our present solar system is, as was stated in A Treatise on Cosmic Fire, the second in a series of three systems.
Trên Con Đường của các Tiếp Cận Đi Xuống, Đức Phật từ cõi trí và cũng trên chính cõi ấy, đã hiện thân trong chính Ngài sự giác ngộ rực cháy là kết quả của một biến cố hiếm có—một Sự Chạm Vũ Trụ. Ngài đã thách thức nhân loại bước vào Con Đường Ánh Sáng, trong đó tri thức và minh triết là hai phương diện. Khi được đặt vào mối liên hệ với nhau, chúng tạo ra ánh sáng. Vì vậy, theo một cách kỳ lạ và huyền bí, Đức Phật đã hiện thân trong chính Ngài mãnh lực và [278] hoạt động của cung ba, của phương diện thứ ba của thiên tính—nguyên khí vũ trụ thiêng liêng của Trí Tuệ. Bằng sự dung hợp của nó với cung của hệ mặt trời chúng ta (cung Bác Ái), Ngài đã biểu lộ một cách hoàn hảo thâm nghĩa của ánh sáng trong vật chất, của nguyên khí trí tuệ như được tìm thấy trong hình tướng, và là Đấng Hoá Thân mang trong mình những hạt giống đã chín muồi hoàn toàn của hệ mặt trời trước. Chúng ta không nên quên rằng hệ mặt trời hiện nay của chúng ta, như đã được nói trong Luận về Lửa Vũ Trụ, là hệ thứ hai trong một chuỗi ba hệ.
Then came the next great Avatar, the Christ, Who, enfolding in Himself all that the Buddha had of light and wisdom (being fully enlightened in the occult and spiritual sense) on the Ray of Descending Approach, embodied also the peace of inclusiveness, which comes from the Touch of Divine Acquiescence. He was the embodied force of submission, and He carried the divine approach to the astral plane, the plane of feeling.
Rồi đến Đấng Hoá Thân vĩ đại kế tiếp, Đức Christ, Đấng bao hàm trong chính Ngài tất cả những gì Đức Phật có về ánh sáng và minh triết (vì hoàn toàn được soi sáng theo nghĩa huyền bí và tinh thần) trên Cung của Tiếp Cận Đi Xuống, cũng hiện thân cho sự bình an của tính bao gồm, vốn đến từ Sự Chạm của Chấp Thuận Thiêng Liêng. Ngài là mãnh lực hiện thân của sự quy phục, và Ngài đã mang tiếp cận thiêng liêng xuống cõi cảm dục, cõi của cảm xúc.
Thus two great stations of energy and two major powerhouses of light have been established by these two Sons of God, and the descent of the divine life into manifestation has been greatly facilitated. The Way is now opened so that the ascent of the sons of men can become entirely possible. It is around these two ideas of divine descent and of human corresponding ascent that the coming new religion must be built.
Như vậy, hai trạm năng lượng lớn và hai trung tâm năng lực lớn của ánh sáng đã được thiết lập bởi hai Con của Thượng đế này, và sự giáng hạ của sự sống thiêng liêng vào biểu hiện đã được tạo điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều. Con Đường nay đã được mở ra để sự đi lên của những người con của nhân loại có thể trở nên hoàn toàn khả hữu. Chính quanh hai ý tưởng về sự giáng hạ thiêng liêng và sự đi lên tương ứng của con người mà tôn giáo mới sắp đến phải được xây dựng.
Stations of power exist and have been founded through the work of the various World Saviours. These stations of power must be contacted by humanity as time transpires, through their individual re-enactment (on a tiny scale) of the cosmic approaches, or the touches of divinity, dramatically engineered by the cosmic Avatars, the Buddha and the Christ. It is because the Christ has approached closer to humanity by focussing divine energy upon the astral plane through His divine acquiescence that He is the First Initiator.
Các trạm năng lực hiện hữu và đã được thiết lập qua công trình của các Đấng Cứu Thế Gian. Theo thời gian, nhân loại phải tiếp xúc với các trạm năng lực này qua sự tái diễn cá nhân của họ (trên một quy mô rất nhỏ) các tiếp cận vũ trụ, hay các sự chạm của thiên tính, được dàn dựng đầy kịch tính bởi các Đấng Hoá Thân vũ trụ, Đức Phật và Đức Christ. Chính vì Đức Christ đã tiếp cận gần hơn với nhân loại bằng cách tập trung năng lượng thiêng liêng trên cõi cảm dục qua sự chấp thuận thiêng liêng của Ngài mà Ngài là Đấng Điểm đạo thứ nhất.
[279]
[279]
From one point of view, these two centres of force constitute the Temples of Initiation through which all disciples have to pass. This passing is the theme of the coming new religion.
Từ một quan điểm, hai trung tâm mãnh lực này cấu thành các Đền Điểm Đạo mà mọi đệ tử đều phải đi qua. Sự đi qua này là chủ đề của tôn giáo mới sắp đến.
Mankind has entered into the Temples at the great cosmic Approach of Appropriation in Lemurian times. Certain of the more advanced sons of men were passed in Atlantean times and still more will be passed in the immediate future, whilst a fair number will also be raised to immortality, but from the angle of the race it is the initiation of passing which is ahead for a very large number, and not the initiation of being raised. I am not here speaking of the so-called five major initiations, but of certain group events which are predominantly cosmic in nature. The major initiations which are the goal of human endeavor are individual in nature, and constitute, as it were, a preparatory period of expansions of consciousness. There were, if I might so express it, seven steps or approaches on the part of the life of God in the subhuman kingdoms prior to the Approach of Appropriation when humanity individualised. There are, as we know, five initiations ahead of the world disciples and these are steps towards the Approach of Acquiescence which will become possible on our planet before long. There are—after these seven and five steps—three more to be taken before the cosmic Approach of Enlightenment can take place in a far distant future. So humanity enters into the outer Court of God’s love, passes into the Holy Place and is raised in the Secret Place of the Most High.
Nhân loại đã đi vào các Đền trong Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu vũ trụ lớn lao vào thời Lemuria. Một số người con của nhân loại tiến hóa hơn đã được đưa qua trong thời Atlantis và sẽ còn nhiều người hơn nữa được đưa qua trong tương lai gần, trong khi một số khá đông cũng sẽ được nâng lên đến bất tử; nhưng xét từ góc độ nhân loại, thì điểm đạo của sự đi qua đang ở phía trước đối với một số lượng rất lớn, chứ không phải điểm đạo của sự được nâng lên. Ở đây tôi không nói về cái gọi là năm lần điểm đạo chính, mà nói về một số biến cố nhóm vốn chủ yếu có bản chất vũ trụ. Những lần điểm đạo chính là mục tiêu của nỗ lực con người thì có bản chất cá nhân, và cấu thành, có thể nói như vậy, một thời kỳ chuẩn bị của những sự mở rộng tâm thức. Đã có, nếu tôi có thể diễn đạt như thế, bảy bước hay bảy tiếp cận về phía sự sống của Thượng đế trong các giới dưới nhân loại trước Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu khi nhân loại được biệt ngã hóa. Như chúng ta biết, có năm lần điểm đạo ở phía trước các đệ tử thế gian, và chúng là những bước tiến tới Tiếp Cận của Sự Chấp Thuận sẽ sớm trở nên khả hữu trên hành tinh chúng ta. Sau bảy và năm bước ấy, còn có thêm ba bước nữa phải thực hiện trước khi Tiếp Cận của Giác Ngộ vũ trụ có thể diễn ra trong một tương lai rất xa. Vì vậy nhân loại đi vào tiền đình bên ngoài của tình thương của Thượng đế, đi qua Nơi Thánh, và được nâng lên trong Nơi Bí Mật của Đấng Tối Cao.
Later, the Avatar will emerge Who will embody in Himself all that the Buddha had of enlightenment and all that Christ had of acquiescing love. He will, however, also embody the energy which produced the Approach of Appropriation, and when He comes forth, there will transpire a [280] great appropriation by humanity of its recognised divinity, and the establishing upon earth of a station of light and of power which will make possible the externalising of the Mysteries of Initiation upon earth. This approach is the cause of much of the present turmoil, for the Avatar is on His way.
Về sau, sẽ xuất hiện Đấng Hoá Thân hiện thân trong chính Ngài tất cả những gì Đức Phật có về giác ngộ và tất cả những gì Đức Christ có về tình thương chấp thuận. Tuy nhiên, Ngài cũng sẽ hiện thân cho năng lượng đã tạo ra Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu, và khi Ngài xuất hiện, sẽ diễn ra một [280] sự chiếm hữu lớn lao của nhân loại đối với thiên tính đã được nhận biết của mình, và việc thiết lập trên trái đất một trạm ánh sáng và năng lực sẽ làm cho việc ngoại hiện các Mầu Nhiệm Điểm Đạo trên trái đất trở nên khả hữu. Tiếp cận này là nguyên nhân của phần lớn tình trạng hỗn loạn hiện nay, vì Đấng Hoá Thân đang trên đường đến.
Much of the above can mean but little to those who are not yet upon the path of accepted discipleship. We are here dealing with some of the major mysteries. But a mystery only remains a mystery when ignorance and unbelief exist. There is no mystery where there is knowledge and faith. The coming of the Avatar Who will fuse in Himself three principles of divinity is an inevitable future happening, and when He shall appear “the light that always has been will be seen; the love that never ceases will be realised, and the radiance deep concealed will break forth into being.” We shall then have a new world—one which will express the light, the love and the knowledge of God.
Phần lớn những điều trên chỉ có thể mang rất ít ý nghĩa đối với những ai chưa ở trên con đường địa vị đệ tử được chấp nhận. Ở đây chúng ta đang bàn đến một số đại huyền nhiệm. Nhưng một huyền nhiệm chỉ còn là huyền nhiệm khi còn có vô minh và vô tín. Không có huyền nhiệm ở nơi có tri thức và đức tin. Sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân sẽ dung hợp trong chính Ngài ba nguyên khí của thiên tính là một biến cố tương lai tất yếu, và khi Ngài xuất hiện thì “ánh sáng vốn luôn luôn hiện hữu sẽ được thấy; tình thương không bao giờ chấm dứt sẽ được chứng nghiệm, và sự rạng ngời ẩn kín sâu xa sẽ bừng ra thành hiện hữu.” Khi ấy chúng ta sẽ có một thế giới mới—một thế giới sẽ biểu lộ ánh sáng, tình thương và tri thức của Thượng đế.
These three Temples of the Mysteries (of which two are already existing, and the third will later appear) are each of them related to one of the three divine aspects, and the energy of the three major rays pours through them. In the corresponding approaches upon the path of ascent by humanity, it is the energy of the four minor Rays of Attribute which produce the power to make the needed approach. Through the active work and the guidance of the “presiding guardians” of these temples, the fifth kingdom in nature will be brought into manifested being.
Ba Đền của các Mầu Nhiệm này (trong đó hai đền đã hiện hữu, và đền thứ ba sẽ xuất hiện về sau) mỗi đền đều liên hệ với một trong ba phương diện thiêng liêng, và năng lượng của ba Cung Trạng Thái chính tuôn qua chúng. Trong các tiếp cận tương ứng trên con đường đi lên của nhân loại, chính năng lượng của bốn Cung Thuộc Tính phụ tạo ra năng lực để thực hiện tiếp cận cần thiết. Qua công việc tích cực và sự hướng dẫn của các “vị giám hộ chủ trì” của các đền này, giới thứ năm trong thiên nhiên sẽ được đưa vào hiện hữu biểu hiện.
Over the Temple upon the mental plane, the Buddha presides and there will consummate His unfinished work. Over the Temple upon the plane of sentient feeling and of loving aspiration, the Christ presides, for this is the Temple of the most difficult initiatory processes. The reason for this difficulty and for the importance of this Temple is due to the fact that our solar system is a system [281] of Love, of sentient response to the love of God, and of the development of that response through the innate faculty of feeling or sentiency. This calls for the cooperation of a Son of God who will embody two divine principles. Later will come an Avatar Who will achieve neither the full enlightenment of the Buddha nor the full expression of the divine love of the Christ, but Who will have a large measure of wisdom and of love, plus that “materialising power” which will enable Him to found a divine powerhouse upon the physical plane. His task, in many ways, is far more difficult than that of the two preceding Avatars, for He carries in Himself not only the energies of the two divine principles, already “duly anchored” upon the planet by His two great Brothers, but He has also within Himself much of a third divine principle, hitherto not used upon our planet. He carries the will of God into manifestation, and of that will we, as yet, know really nothing. So difficult is His task that the New Group of World Servers is being trained to assist Him. Thus an aspect of the first ray principle will be anchored by Him upon earth.
Trên Đền ở cõi trí, Đức Phật chủ trì và tại đó Ngài sẽ hoàn tất công việc còn dang dở của Ngài. Trên Đền ở cõi cảm xúc hữu cảm và khát vọng bác ái, Đức Christ chủ trì, vì đây là Đền của những tiến trình điểm đạo khó khăn nhất. Lý do của sự khó khăn này và của tầm quan trọng của Đền này là vì hệ mặt trời của chúng ta là một hệ [281] của Bác Ái, của sự đáp ứng hữu cảm đối với tình thương của Thượng đế, và của sự phát triển đáp ứng ấy qua năng lực bẩm sinh của cảm xúc hay tính hữu cảm. Điều này đòi hỏi sự hợp tác của một Con của Thượng đế, Đấng sẽ hiện thân cho hai nguyên khí thiêng liêng. Về sau sẽ đến một Đấng Hoá Thân không đạt được trọn vẹn sự giác ngộ của Đức Phật cũng không đạt được sự biểu lộ trọn vẹn tình thương thiêng liêng của Đức Christ, nhưng Đấng ấy sẽ có một mức độ lớn minh triết và tình thương, cộng thêm “quyền năng hiện hình” sẽ giúp Ngài có thể thiết lập một trung tâm năng lực thiêng liêng trên cõi hồng trần. Nhiệm vụ của Ngài, trên nhiều phương diện, khó khăn hơn rất nhiều so với nhiệm vụ của hai Đấng Hoá Thân đi trước, vì Ngài mang trong chính mình không chỉ các năng lượng của hai nguyên khí thiêng liêng, đã được hai Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài “neo giữ đúng cách” trên hành tinh, mà còn có trong chính mình rất nhiều của một nguyên khí thiêng liêng thứ ba, cho đến nay chưa được sử dụng trên hành tinh chúng ta. Ngài mang Ý Chí của Thượng Đế vào biểu hiện, và về ý chí ấy, hiện nay chúng ta thực sự chưa biết gì cả. Nhiệm vụ của Ngài khó khăn đến mức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang được huấn luyện để trợ giúp Ngài. Như vậy, một phương diện của nguyên khí cung một sẽ được Ngài neo giữ trên trái đất.
All that the student can grasp is that the Plan will be the dynamic impulse of this third and vital energy which will pervade the outer court of the Temple, constituting a Temple of Initiation upon the physical plane, thus externalising the activities of the Hierarchy in certain possible respects. The first initiation will then take place upon earth. It will be then no longer a veiled secret. This is the initiation of the outer court, wherein the approach of the soul upon the Way of Descent into manifestation, and the subsequent appropriation of the proffered divine energy by the personality upon the Way of Ascent will take place.
Tất cả những gì đạo sinh có thể nắm bắt là Thiên Cơ sẽ là xung lực năng động của năng lượng thứ ba và thiết yếu này, năng lượng sẽ thấm khắp tiền đình bên ngoài của Đền, cấu thành một Đền Điểm Đạo trên cõi hồng trần, nhờ đó ngoại hiện các hoạt động của Thánh đoàn trong một số phương diện khả hữu. Khi ấy lần điểm đạo thứ nhất sẽ diễn ra trên trái đất. Khi ấy nó sẽ không còn là một bí mật được che giấu nữa. Đây là điểm đạo của tiền đình bên ngoài, trong đó sự tiếp cận của linh hồn trên Con Đường Đi Xuống vào biểu hiện, và sự chiếm hữu tiếp theo của phàm ngã đối với năng lượng thiêng liêng được hiến dâng trên Con Đường Đi Lên sẽ diễn ra.
The Holy Place is the place where the second initiation is enacted, and this will some day be given upon the astral plane when the illusion there persisting has been somewhat dissipated. Over this second initiation, the Christ presides and, as was said above, it is for us the most difficult and most transforming of the initiations. The acquiescence of the soul to the demands of the personality for spiritual life, and the submission of the personality to the soul, find therein their consummation.
Nơi Thánh là nơi lần điểm đạo thứ hai được thực hiện, và một ngày nào đó điều này sẽ được ban trên cõi cảm dục khi ảo tưởng còn tồn tại ở đó đã được làm tiêu tan phần nào. Đức Christ chủ trì lần điểm đạo thứ hai này, và như đã nói ở trên, đối với chúng ta đây là lần điểm đạo khó khăn nhất và chuyển đổi nhiều nhất. Sự chấp thuận của linh hồn đối với những đòi hỏi của phàm ngã về đời sống tinh thần, và sự quy phục của phàm ngã đối với linh hồn, tìm thấy sự hoàn tất của chúng tại đó.
Finally will come the initiation of the Transfiguration, wherein the light breaks forth, the Touch of Enlightenment is given, and the soul and the personality stand forth as one. This process requires also the aid of the Buddha and the inspiration of the Christ, and it is “occultly guarded” by the Avatar of the physical plane.
Cuối cùng sẽ đến điểm đạo của Biến hình, trong đó ánh sáng bừng ra, Sự Chạm của Giác Ngộ được ban, và linh hồn cùng phàm ngã đứng ra như một. Tiến trình này cũng đòi hỏi sự trợ giúp của Đức Phật và cảm hứng của Đức Christ, và được “canh giữ một cách huyền bí” bởi Đấng Hoá Thân của cõi hồng trần.
In all the above information there is given a hint as to what will take place when human personalities are actively functioning and steadily awakening. The rapid coming of the Avatar Who will found the station of light and power upon the physical plane is dependent upon the rapid unfoldment and appearance of integrated personalities who love and think and seek to serve. There has here been given a new hint upon one of the more esoteric aspects of the work of the New Group of World Servers, and a hint at the same time as to the reason that this Treatise upon the Seven Rays has been written. An understanding of the rays and of the impelling forces in, through, and with which the personality has to work was essential if the work of this third Avatar from cosmic sources, was to be made possible.
Trong tất cả thông tin trên, có một gợi ý về điều sẽ diễn ra khi các phàm ngã con người đang hoạt động tích cực và đều đặn thức tỉnh. Sự đến nhanh chóng của Đấng Hoá Thân sẽ thiết lập trạm ánh sáng và năng lực trên cõi hồng trần tùy thuộc vào sự khai mở và xuất hiện nhanh chóng của những phàm ngã tích hợp biết yêu thương, suy tư và tìm cách phụng sự. Ở đây đã đưa ra một gợi ý mới về một trong những phương diện huyền bí hơn của công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đồng thời cũng là một gợi ý về lý do tại sao Luận về Bảy Cung này đã được viết ra. Sự thấu hiểu về các cung và về các mãnh lực thúc đẩy trong, qua, và cùng với đó phàm ngã phải hoạt động là điều thiết yếu nếu công việc của Đấng Hoá Thân thứ ba này từ các nguồn vũ trụ được làm cho khả hữu.
We have thus endeavored to outline something of the problems of the personality from the angle of the larger issues. We have, as the occult law dictates, begun with the relation of the form to the soul, with the descent of life and the ascent of the sons of God, and we have carried the thought forward to the fact of the Hierarchy, working under the same law, and its relation to the New Group of World Servers. Information on initiation has hitherto been primarily occupied with the relations of the individual man to the soul and to the Hierarchy. There are here presented some of the group implications. The New Group of World Servers is related to the Hierarchy as body to soul, and they in their turn as a group of souls are similarly related to the human family. Therefore we have:
Như vậy chúng ta đã cố gắng phác họa phần nào các vấn đề của phàm ngã từ góc độ của những vấn đề lớn hơn. Theo như định luật huyền bí chỉ định, chúng ta đã bắt đầu với mối liên hệ của hình tướng với linh hồn, với sự giáng hạ của sự sống và sự đi lên của các Con của Thượng đế, và chúng ta đã đưa tư tưởng tiến tới sự kiện về Thánh đoàn, hoạt động dưới cùng một định luật, và mối liên hệ của Thánh đoàn với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Thông tin về điểm đạo từ trước đến nay chủ yếu quan tâm đến các mối liên hệ của cá nhân con người với linh hồn và với Thánh đoàn. Ở đây có trình bày một số hàm ý nhóm. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian liên hệ với Thánh đoàn như thể xác với linh hồn, và đến lượt họ, như một nhóm các linh hồn, cũng liên hệ tương tự với gia đình nhân loại. Vì vậy chúng ta có:
1.
Soul
Body.
Linh hồn
Thể.
2.
The Fifth Kingdom
The Fourth Kingdom.
Giới Thứ Năm
Giới Thứ Tư.
3.
The Hierarchy
The New Group of World Servers.
Thánh Đoàn
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
4.
The New Group of World Servers
Humanity.
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian
Nhân loại.
5.
A Soul
A Personality.
Một Linh hồn
Một Phàm ngã.
The one unit descends towards the ascending related unit, (speaking in terms of an approach from two directions). This takes place under divine impulsion and human aspiration, and both act equally under:
Đơn vị này đi xuống hướng về đơn vị liên hệ đang đi lên, (nói theo ngôn ngữ của một sự tiếp cận từ hai hướng). Điều này diễn ra dưới xung lực thiêng liêng và khát vọng của con người, và cả hai cùng hoạt động như nhau dưới:
1. The Law of Karma.
1. Định luật Nghiệp Quả.
2. The Law of Necessity.
2. Định luật Tất Yếu.
3. The Law of Cycles.
3. Định luật Chu Kỳ.
4. The Law of Attraction.
4. Định luật Hấp Dẫn.
Let us now return to the level of practical understanding. Although we turn aside to deal with these momentous matters at times, such discussions are not primarily intended for the present generation of readers but for those who are coming into incarnation and who will read with a more accurate understanding than is possible at this time to the average interested aspirant who studies these pages.
Giờ đây chúng ta hãy trở lại cấp độ thấu hiểu thực tiễn. Mặc dù đôi khi chúng ta tạm rẽ sang để bàn đến những vấn đề trọng đại này, các cuộc thảo luận như vậy không chủ yếu dành cho thế hệ độc giả hiện nay mà cho những người đang đi vào lâm phàm và sẽ đọc với một sự thấu hiểu chính xác hơn điều hiện nay có thể có nơi người chí nguyện quan tâm trung bình đang nghiên cứu những trang này.
Three types of energy, as has been said, meet and blend in the personality, finding their expression through the medium of an outer tangible form which is itself coloured, [284] motivated and conditioned by a fourth type of energy—the energy of basic matter. This basic matter is the product of the first solar system, and the energy of which it is composed does not, therefore, belong to our solar system at all, except through an act of appropriation, performed by our planetary Logos at the dawn of the creative activity of God. Seeking to impress, impel and motivate this group of four energies is the energy of the informing, indwelling soul. This fifth type of energy is itself dual in nature, being the transcendent archetype of both mind and emotion, or will and love. These six energies in their turn are animated or impelled by the life of God Himself, thus making the seven energies now in manifestation. This is, of course, well known, as the theory constitutes the very bones of the occult body of truth, and in this statement is formulated the essential structure upon which esotericism is built. I have stated it purely in terms of energy, and not of principles or bodies, so as to bring the Ageless Wisdom into line with modern truth and scientific conclusions. We therefore have:
Như đã nói, ba loại năng lượng gặp nhau và hòa trộn trong phàm ngã, tìm thấy sự biểu lộ của chúng qua trung gian của một hình tướng bên ngoài hữu hình mà bản thân nó lại được nhuốm màu, [284] thúc đẩy và được tác động bởi một loại năng lượng thứ tư—năng lượng của vật chất căn bản. Vật chất căn bản này là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất, và vì thế năng lượng cấu thành nó hoàn toàn không thuộc về hệ mặt trời của chúng ta, ngoại trừ qua một hành vi chiếm hữu do Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thực hiện vào buổi bình minh của hoạt động sáng tạo của Thượng đế. Tìm cách gây ấn tượng, thúc đẩy và tạo động lực cho nhóm bốn năng lượng này là năng lượng của linh hồn thấm nhuần, nội tại. Loại năng lượng thứ năm này tự nó có bản chất nhị phân, là nguyên mẫu siêu việt của cả trí tuệ lẫn cảm xúc, hay ý chí và tình thương. Đến lượt mình, sáu năng lượng này được làm sinh động hay được thúc đẩy bởi chính sự sống của Thượng đế, nhờ đó tạo thành bảy năng lượng hiện đang biểu hiện. Dĩ nhiên điều này ai cũng biết rõ, vì lý thuyết ấy cấu thành chính bộ xương của toàn bộ chân lý huyền bí, và trong phát biểu này đã được hình thành cấu trúc cốt yếu trên đó huyền bí học được xây dựng. Tôi đã trình bày điều đó hoàn toàn theo ngôn ngữ của năng lượng, chứ không phải của các nguyên khí hay các thể, để đưa Minh Triết Ngàn Đời vào chỉnh hợp với chân lý hiện đại và các kết luận khoa học. Vì vậy chúng ta có:
The Personality.
Phàm ngã.
1. The energy of Mind. The force of manas. The reflection of divine will and purpose. Motivation. The impulse to plan, under the Law of Synthesis.
1. Năng lượng của Trí Tuệ. Mãnh lực của manas. Sự phản ánh của ý chí và mục đích thiêng liêng. Động cơ. Xung lực lập kế hoạch, dưới Định luật Tổng Hợp.
2. The energy of sentiency. The capacity to respond. Emotional feeling, astral energy. The reflection of love. The force of desire. The impulse to aspire. The divine evolutionary urge. The tendency to attract, to be magnetic, under the Law of Attraction.
2. Năng lượng của tính hữu cảm. Năng lực đáp ứng. Cảm xúc tình cảm, năng lượng cảm dục. Sự phản ánh của tình thương. Mãnh lực của dục vọng. Xung lực khát vọng. Sự thúc đẩy tiến hoá thiêng liêng. Khuynh hướng hấp dẫn, có từ tính, dưới Định luật Hấp Dẫn.
3. The energy of life. The capacity to integrate, to coordinate. The force of the vital or etheric body. The reflection of intelligent activity or divine movement. [285] The impulse to act, to be energetic, under the Law of Economy.
3. Năng lượng của sự sống. Năng lực tích hợp, phối hợp. Mãnh lực của thể sinh lực hay thể dĩ thái. Sự phản chiếu của hoạt động thông tuệ hay chuyển động thiêng liêng. [285] Xung lực hành động, năng động, dưới Định luật Tiết Kiệm.
4 The energy of dense matter. Externalised activity. The automatic reactions of the outer sheath. The densest point of unity. The lowest aspect of synthesis.
4 Năng lượng của vật chất đậm đặc. Ngoại hiện hoạt động. Các phản ứng tự động của lớp vỏ bên ngoài. Điểm hợp nhất đậm đặc nhất. Phương diện thấp nhất của tổng hợp.
The Soul.
Linh Hồn.
5. The energy of buddhi. The force of divine, reasoning love. The intuition. This is part of the flower of attractive energy and focusses itself in the “love petals of the egoic lotus.” Its reflection is found in the astral, emotional, sentient consciousness of the personality.
5. Năng lượng của Bồ đề. Mãnh lực của tình thương thiêng liêng, có lý trí. Trực giác. Đây là một phần của đóa hoa năng lượng hấp dẫn và tự tập trung trong “các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã.” Sự phản chiếu của nó được tìm thấy trong tâm thức cảm dục, cảm xúc, hữu cảm của phàm ngã.
6. The energy of atma. The force of the divine will. The embodiment of divine purpose. This focusses itself in the “sacrifice petals of the egoic lotus.” Its reflection is found in the mind nature of the personality.
6. Năng lượng của atma. Mãnh lực của ý chí thiêng liêng. Hiện thân của Thiên Ý. Nó tự tập trung trong “các cánh hoa hi sinh của hoa sen chân ngã.” Sự phản chiếu của nó được tìm thấy trong bản chất trí tuệ của phàm ngã.
The Spirit.
Tinh Thần.
7. The energy of life itself.
7. Năng lượng của chính sự sống.
These energies constitute the human being, a unit of energy. They make him essentially an active, intelligent, loving, living, human being. They are unfolded sequentially in time and space and, as a result of the great experiment of evolution, bring him eventually to the full flowering of his nature, and to a full expression of the seven types of energy which condition him.
Các năng lượng này cấu thành con người, một đơn vị năng lượng. Chúng làm cho y về bản chất là một con người năng động, thông tuệ, đầy bác ái và sống động. Chúng được khai mở tuần tự trong thời gian và không gian, và do kết quả của đại thí nghiệm tiến hoá, cuối cùng đưa y đến sự nở hoa trọn vẹn của bản chất mình, và đến sự biểu lộ đầy đủ của bảy loại năng lượng tác động lên y.
The question arises as to when man can become aware in his own personal and separated consciousness (as registered in the waking brain) of the truth of the existence of this septenate of energies. I would reply as follows:
Câu hỏi được đặt ra là khi nào con người có thể trở nên nhận biết trong tâm thức cá nhân và tách biệt của chính mình (như được ghi nhận trong bộ não thức tỉnh) về chân lý của sự hiện hữu của bộ bảy năng lượng này. Tôi xin trả lời như sau:
1. Unevolved man, and low grade human beings are aware [286] of the urges of the automatic physical nature and the impulses of the vital or etheric body.
1. Con người chưa tiến hoá, và những con người ở trình độ thấp, nhận biết [286] những thôi thúc của bản chất thể xác tự động và những xung lực của thể sinh lực hay thể dĩ thái.
2. Awakening human beings are coordinating and becoming aware of both these primitive urges and impulses, plus the sentient and emotional reactions of the emotional or astral body.
2. Những con người đang thức tỉnh đang phối hợp và trở nên nhận biết cả hai loại thôi thúc và xung lực nguyên thủy này, cộng thêm các phản ứng hữu cảm và cảm xúc của thể cảm xúc hay thể cảm dục.
3. Intelligent humanity is, in due time, conditioned by the urges, impulses and sentiency of the three lower types of energy, plus the energy of the mind. When this has really been achieved, the man is then definitely an aspirant upon the probationary path.
3. Nhân loại thông tuệ, đến đúng lúc, bị tác động bởi các thôi thúc, xung lực và tính hữu cảm của ba loại năng lượng thấp, cộng thêm năng lượng của trí tuệ. Khi điều này thực sự đã đạt được, thì con người ấy chắc chắn là một người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị.
4. Aspirants are now becoming aware of the fifth type of basic energy—that of the soul. This response to soul energy, and the blended activity of the soul energies (buddhi-atma) produce the unfolding of the outer layer of petals, the knowledge petals, which are formed of three types of force.
4. Những người chí nguyện hiện nay đang trở nên nhận biết loại năng lượng căn bản thứ năm—đó là năng lượng của linh hồn. Sự đáp ứng này đối với năng lượng linh hồn, và hoạt động hòa trộn của các năng lượng linh hồn (buddhi-atma) tạo ra sự khai mở của lớp cánh hoa bên ngoài, các cánh hoa tri thức, vốn được tạo thành từ ba loại mãnh lực.
a. Manasic energy. The energy of the abstract levels of the mental plane, inherent in the soul.
a. Năng lượng manas. Năng lượng của các cấp độ trừu tượng của cõi trí, vốn tiềm tàng trong linh hồn.
b. Mental energy. This is the energy of the concrete levels of the mental plane, and is definitely a contribution of the human being himself.
b. Năng lượng trí tuệ. Đây là năng lượng của các cấp độ cụ thể của cõi trí, và rõ ràng là một đóng góp của chính con người.
c. The energy of the mind found in matter itself. This is inherent mind, and is inherited from an earlier solar system.
c. Năng lượng của trí tuệ được tìm thấy trong chính vật chất. Đây là trí tuệ cố hữu, và được thừa hưởng từ một hệ mặt trời trước kia.
These three aspects of mind energy are thus blended and are a synthesis of the intelligent force of deity. They embody as much of the mind of God as a human being can embrace in time and space, for they are
Ba phương diện này của năng lượng trí tuệ do đó được hòa trộn và là một tổng hợp của mãnh lực thông tuệ của Thượng đế. Chúng hiện thân cho chừng nào Trí của Thượng đế mà một con người có thể bao hàm trong thời gian và không gian, vì chúng là
a. The energy of intelligent life, coming from God the Father.
a. Năng lượng của sự sống thông tuệ, đến từ Thượng đế Cha.
[287]
[287]
b. The energy of intelligent soul or consciousness, coming from God the Son.
b. Năng lượng của linh hồn hay tâm thức thông tuệ, đến từ Thượng đế Con.
c. The energy of intelligent matter coming from God the Holy Spirit.
c. Năng lượng của vật chất thông tuệ đến từ Thượng đế Chúa Thánh Thần.
5. The disciples of the world are occupied with the integration of the personality with the soul, or with the synthesis of the first five aspects of energy as the lotus petals of love come into conscious recognition, and the intuition begins faintly to function. These petals of love, which are only symbolic forms of expressing energy, have a dual activity—they attract upward the planetary energies and bring downward the energies of the Spiritual Triad, the expression of the Monad.
5. Các đệ tử của thế gian đang bận tâm với sự tích hợp phàm ngã với linh hồn, hay với sự tổng hợp năm phương diện năng lượng đầu tiên khi các cánh hoa sen bác ái đi vào sự nhận biết có ý thức, và trực giác bắt đầu hoạt động một cách mờ nhạt. Những cánh hoa bác ái này, vốn chỉ là những hình thức biểu tượng để diễn tả năng lượng, có một hoạt động kép—chúng thu hút lên trên các năng lượng hành tinh và mang xuống dưới các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần, biểu hiện của chân thần.
6. Initiates are becoming conscious of the sixth type of energy, that of atma, the will aspect of Spirit. This causes them to work with the Plan and through the lotus petals of sacrifice to bring the service of the Plan into being. This is ever the aim of the initiate members of the Hierarchy. They understand, express and work with the Plan.
6. Các điểm đạo đồ đang trở nên có ý thức về loại năng lượng thứ sáu, đó là atma, phương diện ý chí của Tinh Thần. Điều này khiến họ làm việc với Thiên Cơ và qua các cánh hoa sen hi sinh để đưa sự phụng sự Thiên Cơ vào hiện hữu. Đây luôn luôn là mục tiêu của các thành viên điểm đạo của Thánh Đoàn. Họ thấu hiểu, biểu lộ và làm việc với Thiên Cơ.
7. After the third initiation, the disciple begins to work with, and to understand the significance of Spirit and his consciousness shifts gradually out of the Soul into that of the Monad in the same way as the consciousness of the personality shifted out of the lower awareness into that of the soul.
7. Sau lần điểm đạo thứ ba, đệ tử bắt đầu làm việc với, và thấu hiểu thâm nghĩa của Tinh Thần và tâm thức của y dần dần chuyển ra khỏi Linh Hồn để đi vào tâm thức của chân thần cũng theo cùng cách như tâm thức của phàm ngã đã chuyển ra khỏi nhận biết thấp để đi vào tâm thức của linh hồn.
This is the second panel, if one might so express it, of the picture here being drawn, of the divine life as it manifests through the consciousness of humanity. I am seeking to give it in such terms that comprehension may ensue. The first panel gave some of the universal implications. This was elaborated in A Treatise on Cosmic Fire. The second panel, contained [288] in this Treatise on the Seven Rays, gives a general view of the synthetic unfoldment of man. The third panel entered the realm of synthetic work and was embodied in A Treatise of White Magic.
Đây là bức thứ hai, nếu có thể diễn tả như vậy, của bức tranh đang được phác họa ở đây, về sự sống thiêng liêng khi nó biểu lộ qua tâm thức của nhân loại. Tôi đang tìm cách trình bày nó bằng những thuật ngữ sao cho sự thấu hiểu có thể theo sau. Bức thứ nhất đã đưa ra một vài hàm ý phổ quát. Điều này đã được khai triển trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Bức thứ hai, được chứa [288] trong bộ Luận về Bảy Cung này, đưa ra một cái nhìn tổng quát về sự khai mở tổng hợp của con người. Bức thứ ba đi vào lĩnh vực công việc tổng hợp và được thể hiện trong Luận về Chánh Thuật.
It would be useful to bear in mind here what was earlier pointed out:
Ở đây sẽ hữu ích nếu ghi nhớ điều đã được chỉ ra trước đó:
1. The mental body is governed by Rays 1, 4, 5.
1. Thể trí được cai quản bởi các cung 1, 4, 5.
2. The astral body is governed by Rays 2, 6.
2. Thể cảm dục được cai quản bởi các cung 2, 6.
3. The physical body is governed by Rays 3, 7.
3. Thể xác được cai quản bởi các cung 3, 7.
This is often forgotten and people will have to readjust their ideas in this matter. It is by an understanding of these dominant types of force as they condition the various vehicles that the true nature of the problem of psychology will emerge and the right clue to the solution will appear. The above tabulation and statement is one of the most important ever made in this Treatise in connection with psychology.
Điều này thường bị quên mất và mọi người sẽ phải điều chỉnh lại các ý niệm của mình về vấn đề này. Chính nhờ sự thấu hiểu các loại mãnh lực chi phối này khi chúng tác động lên các vận cụ khác nhau mà bản chất thực sự của vấn đề tâm lý học sẽ xuất hiện và đầu mối đúng cho giải pháp sẽ lộ ra. Bảng liệt kê và phát biểu trên là một trong những điều quan trọng nhất từng được nêu ra trong bộ Luận này liên quan đến tâm lý học.
Gradually it will be noted that certain ray meditations can be used to bring in the influence of the soul and these will be later discussed. Some simple yet powerful meditation formulas will be given, which can be used by the man who is an integrated personality, in order to bring one or another of his vehicles into alignment and consequent control.
Dần dần, cần lưu ý rằng một số bài thiền theo cung có thể được dùng để đưa ảnh hưởng của linh hồn vào và những điều này sẽ được bàn đến sau. Một số công thức tham thiền đơn giản nhưng mạnh mẽ sẽ được đưa ra, có thể được dùng bởi người là một Phàm ngã tích hợp, nhằm đưa một hay một vận cụ khác của y vào chỉnh hợp và do đó vào sự kiểm soát.
It will be observed that the rays governing the mind include one which links the mind nature with the ray of the solar system, which is the cosmic ray of love. This one is the Ray of Harmony, the fourth ray, but it is also Harmony through Conflict. It is a most important ray, for it gives us the clue to the whole problem of pain and of suffering. Our attention should be directed to this ray and to the mind nature which is related to it. In an understanding of this relationship, we have indicated to us the way out, or the use of that type of force which will lead humanity out. Every [289] man who has reached the point of personality integration has eventually to call in this fourth type of energy when upon the Path, in order rightly to condition his mind and through the mind, his personality.
Cần nhận thấy rằng các cung cai quản trí tuệ bao gồm một cung nối kết bản chất trí tuệ với cung của hệ mặt trời, tức là cung vũ trụ của bác ái. Cung này là Cung Điều Hòa, cung bốn, nhưng nó cũng là Điều Hòa qua Xung Đột. Đây là một cung cực kỳ quan trọng, vì nó cho chúng ta đầu mối của toàn bộ vấn đề đau đớn và khổ đau. Sự chú ý của chúng ta nên được hướng đến cung này và đến bản chất trí tuệ có liên hệ với nó. Trong sự thấu hiểu mối liên hệ này, con đường thoát ra, hay việc sử dụng loại mãnh lực sẽ dẫn dắt nhân loại thoát ra, được chỉ ra cho chúng ta. Mọi [289] người đã đạt đến điểm tích hợp phàm ngã cuối cùng đều phải kêu gọi loại năng lượng thứ tư này khi ở trên Con Đường, để tác động đúng đắn lên trí tuệ của mình và qua trí tuệ, lên phàm ngã của mình.
In considering the personality, therefore, and its conditioning rays we will study:
Vì vậy, khi xem xét phàm ngã và các cung tác động lên nó, chúng ta sẽ nghiên cứu:
1. The appropriation of the bodies:
1. Sự chiếm hữu các thể:
a. Their building psychologically, or their coherent construction.
a. Sự xây dựng chúng về mặt tâm lý học, hay sự kiến tạo mạch lạc của chúng.
b. Their development and eventual alignment.
b. Sự phát triển và sự chỉnh hợp cuối cùng của chúng.
c. Their inter-relation in the life of the personality.
c. Mối liên hệ qua lại của chúng trong đời sống của phàm ngã.
2. The coordination of the personality:
2. Sự phối hợp của phàm ngã:
a. The techniques of integration, seven in number.
a. Các kỹ thuật tích hợp, gồm bảy kỹ thuật.
b. The technique of fusion, leading to the emergence of the ray of the personality.
b. Kỹ thuật dung hợp, dẫn đến sự xuất hiện của cung phàm ngã.
c. The technique of duality, divinely understood, or the relation of the ray of the personality and the ray of the soul.
c. Kỹ thuật nhị nguyên tính, được thấu hiểu một cách thiêng liêng, hay mối liên hệ của cung phàm ngã và cung linh hồn.
3. Some problems of psychology, arising from the point in evolution of the personality.
3. Một số vấn đề của tâm lý học, phát sinh từ điểm tiến hoá của phàm ngã.
a. The technique of appropriation. Physical and etheric integration.
a. Kỹ thuật chiếm hữu. Sự tích hợp hồng trần và dĩ thái.
b. The technique of acquiescence. Astral or psychic healing.
b. Kỹ thuật thuận phục. Trị liệu cảm dục hay thông linh.
c. The technique of enlightenment. Mental education.
c. Kỹ thuật giác ngộ. Giáo dục trí tuệ.
We have before us in this study much food for thought. The subjects touched upon are deep, difficult to understand, and hard to grasp. Careful reading, however, quiet reflection, and a practical application of the sensed truth and of the intuited idea will gradually bring enlightenment and lead to [290] acquiescence in the techniques of the soul, and the appropriation of the teaching.
Trước mắt chúng ta trong công trình nghiên cứu này là nhiều điều đáng suy ngẫm. Những chủ đề được chạm đến thì sâu sắc, khó thấu hiểu, và khó nắm bắt. Tuy nhiên, việc đọc cẩn thận, suy tư tĩnh lặng, và sự áp dụng thực tiễn chân lý được cảm nhận cùng ý tưởng được trực giác nắm bắt sẽ dần dần mang lại giác ngộ và dẫn đến [290] sự thuận phục đối với các kỹ thuật của linh hồn, và sự chiếm hữu giáo huấn.
a. BUILDING AND CONSTRUCTION OF THE BODIES—XÂY DỰNG VÀ KIẾN TẠO CÁC THỂ
In theosophical literature, there is much talk anent the various elementals or lunar lords which compose, constitute and control the lower nature. These, in their triple totality, form the personality. They are of man’s own creation, and form the basis of the problem which he, as a soul, has always to face until the final liberation is achieved. The mental elemental, the astral elemental and the physical elemental have a definite life of their own which is coloured by the rays upon which these various bodies or elementals have their being, until the man has reached a relatively high point in evolution.
Trong văn học Thông Thiên Học, có nhiều bàn luận về các hành khí khác nhau hay các nguyệt tinh quân cấu thành, tạo nên và kiểm soát bản chất thấp. Các vị này, trong tổng thể tam phân của mình, tạo thành phàm ngã. Chúng là do chính con người tạo ra, và tạo thành nền tảng của vấn đề mà y, với tư cách một linh hồn, luôn luôn phải đối diện cho đến khi đạt được sự giải thoát cuối cùng. Tinh linh trí tuệ, tinh linh cảm dục và tinh linh thể xác có một sự sống xác định của riêng chúng, vốn được nhuốm màu bởi các cung mà trên đó các thể hay hành khí khác nhau này hiện hữu, cho đến khi con người đã đạt đến một điểm tiến hoá tương đối cao.
The elementals composing the mental body are spoken of in the Old Commentary in the following terms:
Các hành khí cấu thành thể trí được nói đến trong Cổ Luận bằng những lời sau đây:
“The Lord of Will took being. His dim reflection followed in His steps. The little lord of force manasic appeared on earth.
“Chúa Tể của Ý Chí đi vào hiện hữu. Sự phản chiếu mờ nhạt của Ngài theo sau bước chân Ngài. Tiểu chúa tể của mãnh lực manas xuất hiện trên địa cầu.
The Lord Who sought for harmony took form. The little lord, who loved to fight for what he sought, followed with swiftness in His wake.
Chúa Tể tìm kiếm điều hòa khoác lấy hình tướng. Tiểu chúa tể, kẻ yêu thích chiến đấu vì điều mình tìm kiếm, mau chóng theo sau trong dấu chân của Ngài.
The Lord Who in this world of ours knew mind and thought, swept into incarnation. He was not, then He was. The little lord of mental stuff also took form. Man’s troublous journey then began.”
Chúa Tể, Đấng trong thế giới của chúng ta biết trí tuệ và tư tưởng, cuốn vào lâm phàm. Trước đó Ngài không hiện hữu, rồi Ngài hiện hữu. Tiểu chúa tể của chất liệu trí tuệ cũng khoác lấy hình tướng. Cuộc hành trình đầy rối ren của con người từ đó bắt đầu.”
These old phrases bear out the statement earlier made that the mental body of every human being is composed of substance which is governed by the rays, one, four and five. Exceptions to this rule appear, sometimes, upon the Path of Discipleship, and are the result of the direct and intelligent action of the Soul, prior to incarnation. The soul builds a body of mental substance or attracts to it that particular type [291] of mental energy which will enable it to possess (whilst in incarnation) the type of vehicle which will make a chosen experience possible. This freedom of choice never occurs except in the case of the awakening disciple. The reason for this will be seen if it is realised that the energy of these three rays, when focussed in a personality, provides exactly the right impulse to govern the lower life, both in the case of an undeveloped human being and of a man in the early stages of discipleship and aspiration. It might be well for us to elaborate this a little by means of certain tabulations:
Những cụm từ cổ xưa này xác nhận phát biểu đã nêu trước đó rằng thể trí của mỗi con người được cấu thành từ chất liệu được cai quản bởi các cung một, bốn và năm. Những ngoại lệ đối với quy luật này đôi khi xuất hiện trên Con Đường Đệ Tử, và là kết quả của hành động trực tiếp và thông tuệ của Linh Hồn trước khi nhập thể. Linh hồn xây dựng một thể bằng chất liệu trí tuệ hoặc thu hút về mình loại [291] năng lượng trí tuệ đặc biệt ấy, năng lượng sẽ giúp nó có được (trong khi đang lâm phàm) loại vận cụ sẽ làm cho một kinh nghiệm được chọn lựa trở nên khả hữu. Sự tự do lựa chọn này không bao giờ xảy ra ngoại trừ trong trường hợp của đệ tử đang thức tỉnh. Lý do của điều này sẽ được thấy nếu chứng nghiệm rằng năng lượng của ba cung này, khi được tập trung trong một phàm ngã, cung cấp chính xác xung lực thích hợp để cai quản đời sống thấp, cả trong trường hợp của một con người chưa phát triển lẫn của một người ở các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử và khát vọng. Có lẽ sẽ tốt nếu chúng ta khai triển điều này thêm đôi chút bằng một số bảng liệt kê:
THE MENTAL BODY
THỂ TRÍ
This provides (in the case of the unevolved or the highly developed) the following possibilities:
Điều này cung cấp (trong trường hợp con người chưa tiến hoá hay rất phát triển) các khả năng sau đây:
Ray One
Cung một
IN UNEVOLVED MAN
Ở CON NGƯỜI CHƯA TIẾN HOÁ
1. The will to live or to manifest upon the physical plane.
1. Ý chí sống hay biểu lộ trên cõi hồng trần.
2. The impulse which works out, therefore, as the instinct to self-preservation.
2. Xung lực do đó biểu hiện thành bản năng tự bảo tồn.
3. The capacity to endure, no matter what the difficulties.
3. Năng lực chịu đựng, bất kể khó khăn nào.
4. Individual isolation. The man is always the “One who stands alone.”
4. Sự cô lập cá nhân. Con người luôn luôn là “Kẻ đứng một mình.”
IN THE ADVANCED MAN
Ở CON NGƯỜI TIẾN BỘ
1. The will to liberation or to manifest consciously upon the plane of the soul.
1. Ý chí giải thoát hay biểu lộ một cách hữu thức trên cõi của linh hồn.
2. The capacity to react to the plan, or to respond to the recognised will of God.
2. Năng lực phản ứng với Thiên Cơ, hay đáp ứng với Ý Chí của Thượng Đế đã được nhận biết.
3. The principle of immortality.
3. Nguyên khí bất tử.
4. Perseverance or endurance upon the Way.
4. Sự kiên trì hay sức chịu đựng trên Con Đường.
Ray Four
Cung bốn
IN UNEVOLVED MAN
Ở CON NGƯỜI CHƯA TIẾN HOÁ
1. Aggressiveness and that needed push towards the sensed goal which distinguishes the evolving human being. This goal, in the early stages, will be of a material nature.
1. Tính công kích và sự thúc đẩy cần thiết hướng tới mục tiêu được cảm nhận, điều phân biệt con người đang tiến hoá. Mục tiêu này, trong các giai đoạn đầu, sẽ có bản chất vật chất.
2. The fighting spirit or that spirit of conflict which finally [292] brings strength and poise, and which produces eventual integration with the first ray aspect of deity.
2. Tinh thần chiến đấu hay tinh thần xung đột mà cuối cùng [292] mang lại sức mạnh và sự quân bình, và tạo ra sự tích hợp cuối cùng với phương diện cung một của Thượng đế.
3. That coherent force which makes a man a magnetic centre, whether as the major force in any group unity, such as a parent or a ruler, or a Master in relation to his group.
3. Mãnh lực mạch lạc khiến một người trở thành một trung tâm từ tính, dù là như mãnh lực chính trong bất kỳ đơn vị nhóm nào, như cha mẹ hay người cai quản, hoặc một Chân sư trong mối liên hệ với nhóm của Ngài.
4. The power to create. In the lower types, this is connected with the impulse, or the instinct, to reproduce, leading consequently to the sex relation; or it may lead to construction of thought-forms or creative forms of some kind, even if it is only the hut of a savage.
4. Quyền năng sáng tạo. Ở các loại thấp, điều này liên hệ với xung lực, hay bản năng, sinh sản, do đó dẫn đến quan hệ tính dục; hoặc nó có thể dẫn đến việc kiến tạo các hình tư tưởng hay các hình thức sáng tạo thuộc loại nào đó, dù chỉ là túp lều của một người man dã.
IN THE ADVANCED MAN
Ở CON NGƯỜI TIẾN BỘ
1. The Arjuna spirit. This is the urge towards victory, the holding of a position between the pairs of opposites, and the eventual sensing of the middle way.
1. Tinh thần Arjuna. Đây là sự thôi thúc hướng tới chiến thắng, sự giữ vững một vị trí giữa các cặp đối lập, và cuối cùng cảm nhận được con đường trung đạo.
2. The urge to synthesis (again a first ray impulse) blended with a second ray tendency to love and to include.
2. Sự thôi thúc hướng tới tổng hợp (lại là một xung lực cung một) hòa trộn với khuynh hướng cung hai là yêu thương và bao gồm.
3. The attractive quality of the soul as it expresses itself in the relation between the lower and higher selves. This eventuates in the “marriage in the Heavens.”
3. Phẩm tính hấp dẫn của linh hồn khi nó biểu lộ trong mối liên hệ giữa phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu. Điều này kết thúc trong “cuộc hôn phối trên Thiên giới.”
4. The power to create forms, or the artistic impulse.
4. Quyền năng tạo ra các hình tướng, hay xung lực nghệ thuật.
It will be noted in this connection how accurate was the earlier statement that the artist is found upon all the rays, and that the so-called Ray of Harmony or Beauty is not the only ray upon which the creative worker is found. The mental body of every human being, at some time or another, is found upon the fourth ray and usually when the man is nearing the probationary path. This means that the mental vehicle is governed by an elemental of fourth ray nature or quality and that, therefore, creative, artistic activity is the line of least resistance. We then have a man with an artistic tendency or we have a genius along some line of creative work. When, at the same time, the soul or the personality is also upon the fourth ray, then we will find a Leonardo da Vinci or a Shakespeare.
Trong mối liên hệ này, cần lưu ý phát biểu trước đó chính xác biết bao rằng người nghệ sĩ được tìm thấy trên mọi cung, và cái gọi là Cung Điều Hòa hay Mỹ Đẹp không phải là cung duy nhất mà trên đó người hoạt động sáng tạo được tìm thấy. Thể trí của mỗi con người, vào lúc này hay lúc khác, được tìm thấy trên cung bốn và thường là khi con người đang tiến gần Con Đường Dự Bị. Điều này có nghĩa là vận cụ trí tuệ được cai quản bởi một hành khí có bản chất hay phẩm tính cung bốn và do đó, hoạt động sáng tạo, nghệ thuật là con đường ít trở ngại nhất. Khi ấy chúng ta có một người có khuynh hướng nghệ thuật hoặc có một thiên tài trong một lĩnh vực công việc sáng tạo nào đó. Khi đồng thời linh hồn hay phàm ngã cũng ở trên cung bốn, thì chúng ta sẽ thấy một Leonardo da Vinci hay một Shakespeare.
[293]
[293]
Ray Five
Cung năm
IN UNEVOLVED MAN
Ở CON NGƯỜI CHƯA TIẾN HOÁ
1. The power to develop thought.
1. Quyền năng phát triển tư tưởng.
2. The spirit of materialistic enterprise, the divine urge, as it evidences itself in the early stages.
2. Tinh thần doanh nghiệp duy vật, sự thôi thúc thiêng liêng, như nó biểu lộ trong các giai đoạn đầu.
3. The tendency to enquire, to ask questions and to find out. This is the instinct to search and to progress, which is, in the last analysis, the urge to evolve.
3. Khuynh hướng tra hỏi, đặt câu hỏi và tìm hiểu. Đây là bản năng tìm kiếm và tiến bộ, mà trong phân tích cuối cùng, là sự thôi thúc tiến hoá.
4. The tendency to crystallise, to harden, or to have an “idee fixe.” In this connection, it will usually be discovered that the man who succumbs to an “idee fixe” has not only a fifth ray mental body but either a sixth ray personality or a sixth ray emotional body.
4. Khuynh hướng kết tinh, trở nên cứng lại, hay có một “ý niệm cố định.” Trong mối liên hệ này, thường sẽ phát hiện rằng người khuất phục trước một “ý niệm cố định” không những có thể trí cung năm mà còn có hoặc phàm ngã cung sáu hoặc thể cảm xúc cung sáu.
IN THE ADVANCED MAN
Ở CON NGƯỜI TIẾN BỘ
1. The true thinker, or mental type—awake and alert.
1. Nhà tư tưởng chân chính, hay kiểu người trí tuệ—thức tỉnh và tỉnh táo.
2. The one who knows the Plan, the purpose and the will of God.
2. Người biết Thiên Cơ, mục đích và Ý Chí của Thượng Đế.
3. The one whose intelligence is being transmuted into wisdom.
3. Người mà trí thông minh đang được chuyển hoá thành minh triết.
4. The scientist, the educator, the writer.
4. Nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà văn.
I have given the above in connection with the rays of the mental body in order to enable us to grasp not only the complexity of the problem but also the inevitability of success through the play of the many energies upon and through any one single human mind. It is not necessary here to elaborate upon the energies which create and form the emotional body, or the physical body. The second and the sixth rays colour the astral body of every human being, whilst the physical body is controlled by the third and the seventh rays.
Tôi đã đưa ra phần trên liên quan đến các cung của thể trí để giúp chúng ta nắm được không những tính phức tạp của vấn đề mà còn cả tính tất yếu của thành công qua sự tác động của nhiều năng lượng lên và xuyên qua bất kỳ một trí tuệ con người đơn lẻ nào. Ở đây không cần khai triển về các năng lượng tạo ra và hình thành thể cảm xúc, hay thể xác. Cung hai và cung sáu nhuốm màu thể cảm dục của mỗi con người, trong khi thể xác được kiểm soát bởi cung ba và cung bảy.
It is interesting to remember that the etheric body is uniquely constituted; it is the instrument of life, predominantly, more so than the instrument of quality. It is the factor which produces and sustains the instrument of appearance, the physical body. It will be recalled that in Volume One of this Treatise, the human being was differentiated into the [294] three divine aspects: Life, Quality, and Appearance. Through the seven centres in the etheric body, the seven ray energies make their appearance and produce their effects, but at the very heart of each chakra or lotus, there is a vortex of force to be found which is composed of pure manasic energy, and, therefore, is purely energy of the first three rays. This energy is quiescent until an advanced stage of discipleship is reached. It only sweeps into its divine rhythm and activity when the three tiers of petals, found in the egoic lotus (the higher correspondence), are beginning to unfold, and the centre of the egoic lotus is becoming vibrant. Though the etheric body of man is an expression of the seven ray qualities in varying degrees of force, the etheric body of a Master is an expression of monadic energy, and comes into full activity after the third initiation.
Thật thú vị khi nhớ rằng thể dĩ thái được cấu thành một cách độc đáo; nó chủ yếu là khí cụ của sự sống, hơn là khí cụ của phẩm tính. Nó là yếu tố tạo ra và duy trì khí cụ của sắc tướng, tức thể xác. Cần nhớ rằng trong Tập Một của bộ Luận này, con người đã được phân biệt thành [294] ba phương diện thiêng liêng: Sự Sống, Phẩm Tính, và Sắc Tướng. Qua bảy trung tâm trong thể dĩ thái, bảy năng lượng cung xuất hiện và tạo ra các hiệu quả của chúng, nhưng ngay tại trung tâm của mỗi chakra hay hoa sen, có thể tìm thấy một xoáy mãnh lực được cấu thành từ năng lượng manas thuần túy, và do đó hoàn toàn là năng lượng của ba cung đầu tiên. Năng lượng này ở trạng thái tĩnh cho đến khi đạt đến một giai đoạn cao của địa vị đệ tử. Nó chỉ cuốn vào nhịp điệu và hoạt động thiêng liêng của mình khi ba tầng cánh hoa, được tìm thấy trong hoa sen chân ngã (đối ứng cao hơn), đang bắt đầu khai mở, và trung tâm của hoa sen chân ngã đang trở nên rung động. Mặc dù thể dĩ thái của con người là một biểu hiện của bảy phẩm tính cung ở các mức độ mãnh lực khác nhau, thể dĩ thái của một Chân sư là một biểu hiện của năng lượng chân thần, và đi vào hoạt động trọn vẹn sau lần điểm đạo thứ ba.
It will be obvious, therefore, that when the psychologist takes into consideration the various types of energy which go to the constitution of a human being and can distinguish (from study and investigation, plus an understanding of the rays) what the energies are which are conditioning a patient, then great strides will be made in handling people. The nature of the human equipment and its internal relationship, as well as the external effects, will be better comprehended. Speaking technically, the extreme psychological position (as it is expressed in the Behaviouristic School, which is essentially sound where the dense material mechanism of man is concerned) will fall into its rightful place. Materialistic psychologists have been dealing with the substance energies and with the instinctual life of the organism. These constitute the sum total of the available energies, organised into the form of the automatic physical body, coloured as its atoms are by the tendencies and qualities developed in a previous solar system. In our solar system, we are arriving at an understanding and a [295] development of the consciousness aspect of divinity, its quality and characteristic, just as instinctual intelligence or automatic activity was the contribution of the earlier manifestation of God, in which the third aspect was dominant.
Do đó, hiển nhiên là khi nhà tâm lý học xét đến các loại năng lượng khác nhau tạo nên cấu thành của một con người và có thể phân biệt (từ nghiên cứu và khảo sát, cộng với sự thấu hiểu các cung) những năng lượng nào đang tác động lên một bệnh nhân, thì những bước tiến lớn sẽ được thực hiện trong việc xử lý con người. Bản chất của trang bị nhân loại và mối liên hệ nội tại của nó, cũng như các hiệu quả bên ngoài, sẽ được thấu hiểu tốt hơn. Nói theo thuật ngữ kỹ thuật, lập trường tâm lý học cực đoan (như được biểu lộ trong trường phái Hành vi luận, vốn về căn bản là đúng khi liên quan đến bộ máy vật chất đậm đặc của con người) sẽ rơi vào đúng vị trí của nó. Các nhà tâm lý học duy vật đã xử lý các năng lượng chất liệu và đời sống bản năng của cơ thể. Những điều này tạo thành tổng số các năng lượng khả dụng, được tổ chức thành hình tướng của thể xác tự động, được nhuốm màu khi các nguyên tử của nó mang các khuynh hướng và phẩm tính đã được phát triển trong một hệ mặt trời trước kia. Trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta đang đi đến một sự thấu hiểu và một sự [295] phát triển phương diện tâm thức của thiên tính, phẩm tính và đặc tính của nó, cũng như trí thông minh bản năng hay hoạt động tự động là đóng góp của sự biểu lộ trước kia của Thượng đế, trong đó phương diện thứ ba là chi phối.
The problem can be posited and its extent made clear by the following tabulation which gives the rays that may be supposed or imagined to govern or control a problematical or hypothetical man in a particular incarnation.
Vấn đề có thể được nêu ra và phạm vi của nó được làm rõ bằng bảng liệt kê sau đây, bảng này cho biết các cung có thể được giả định hay hình dung là cai quản hay kiểm soát một con người giả định hay giả thuyết trong một lần lâm phàm đặc biệt.
1. The Ray of the Monad (the life aspect)… Second Ray of Love-Wisdom.
1. Cung của chân thần (phương diện sự sống)… Cung hai Bác Ái – Minh Triết.
2. The Ray of the Soul (the consciousness aspect) … First Ray of Will or Power.
2. Cung của linh hồn (phương diện tâm thức) … Cung một Ý Chí hay Quyền Năng.
3. The Ray of the Personality (the matter aspect)… Second Ray of Love-Wisdom.
3. Cung của phàm ngã (phương diện vật chất)… Cung hai Bác Ái – Minh Triết.
a. Ray of the mental body… Fifth Ray of Concrete Science.
a. Cung của thể trí… Cung năm Khoa Học Cụ Thể.
b. Ray of the astral body… Sixth Ray of Devotion.
b. Cung của thể cảm dục… Cung sáu Sùng Tín.
c. Ray of the physical body… Second Ray of Love-Wisdom.
c. Cung của thể xác… Cung hai Bác Ái – Minh Triết.
Certain ideas should here be considered. They are here given in the form of statements, but we will not elaborate them, simply leaving them to the student for his pondering and careful thinking.
Một số ý tưởng nên được xem xét ở đây. Chúng được đưa ra ở đây dưới hình thức các phát biểu, nhưng chúng ta sẽ không khai triển chúng, chỉ đơn giản để lại cho đạo sinh suy ngẫm và tư duy cẩn trọng.
1. Only initiates are in a position to sense, determine, or discover the nature of their monadic ray or that of their disciples. The monadic ray is that life element in man with which They have definitely to deal as They seek to prepare him for initiation. It is the “unknown quantity” in a man’s nature. It does not, however, greatly complicate his problem in the three worlds of ordinary human endeavor, as it remains relatively quiescent until after the third initiation, though it basically conditions the etheric body itself.
1. Chỉ các điểm đạo đồ mới ở vào vị trí có thể cảm nhận, xác định, hay khám phá bản chất của cung chân thần của mình hay của các đệ tử của mình. Cung chân thần là yếu tố sự sống trong con người mà Các Ngài chắc chắn phải đề cập đến khi Các Ngài tìm cách chuẩn bị y cho điểm đạo. Nó là “ẩn số” trong bản chất của một con người. Tuy nhiên, nó không làm phức tạp vấn đề của y quá nhiều trong ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại thông thường, vì nó vẫn tương đối tĩnh lặng cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, mặc dù về căn bản nó tác động lên chính thể dĩ thái.
2. The three rays (termed, in The Secret Doctrine, “the [296] three periodical vehicles”) are therefore the rays of the monad, the ego and the personality, and are essentially three streams of energy, forming one great life stream. These relate a human being to the three aspects or expressions of divinity in manifestation:
2. Do đó, ba cung (được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là “ba [296] vận cụ tuần hoàn”) là các cung của chân thần, chân ngã và phàm ngã, và về bản chất là ba dòng năng lượng, tạo thành một dòng sự sống lớn. Chúng liên hệ một con người với ba phương diện hay biểu hiện của thiên tính trong sự biểu lộ:
a. The monadic ray is the energy which, when consciously employed, relates the initiate to the Father or Spirit aspect and gives Him “the freedom of the solar system”.
a. Cung chân thần là năng lượng mà, khi được sử dụng một cách hữu thức, liên hệ điểm đạo đồ với phương diện Cha hay Tinh Thần và ban cho Ngài “sự tự do của hệ mặt trời”.
b. The egoic ray, when consciously utilised, relates the disciple to the second aspect of divinity and gives him the “freedom of the planetary sphere”.
b. Cung chân ngã, khi được sử dụng một cách hữu thức, liên hệ đệ tử với phương diện thứ hai của thiên tính và ban cho y “sự tự do của khối cầu hành tinh”.
c. The personality ray, again when consciously governed and employed, relates a man to the matter or substance aspect of divinity and gives him the “freedom of the three worlds” and of the subhuman kingdoms in nature.
c. Cung phàm ngã, một lần nữa khi được cai quản và sử dụng một cách hữu thức, liên hệ một người với phương diện vật chất hay chất liệu của thiên tính và ban cho y “sự tự do của ba cõi giới” và của các giới dưới nhân loại trong bản chất.
3. Taking the hypothetical chart given above, students should notice how the rays of the personality relate them, within the sphere or periphery of their own manifestation, to the major rays of the monad, ego or personality. This is a correspondence (within the microcosmic manifestation) to the macrocosmic situation, touched upon in the previous paragraph. In the case cited (which is one of quite usual occurrence) we find that
3. Lấy biểu đồ giả định đã nêu ở trên, các đạo sinh nên lưu ý cách các cung của phàm ngã liên hệ họ, trong phạm vi hay chu vi của sự biểu lộ riêng của mình, với các cung chính của chân thần, chân ngã hay phàm ngã. Đây là một sự tương ứng (trong sự biểu lộ vi mô) với tình huống vĩ mô, đã được đề cập trong đoạn trước. Trong trường hợp được nêu ra (là một trường hợp xảy ra khá thường) chúng ta thấy rằng
a. The fifth ray of the mental body relates the man to his egoic ray, thereby facilitating soul contact. Had it related him to his monadic ray a very different situation would have eventuated.
a. Cung năm của thể trí liên hệ con người với cung chân ngã của y, nhờ đó tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc với linh hồn. Nếu nó liên hệ y với cung chân thần của y thì một tình huống rất khác hẳn đã xảy ra.
The line of 1.3.5.7. must ever be remembered.
Đường 1.3.5.7. phải luôn luôn được ghi nhớ.
b. The sixth ray of the astral body relates the man to his [297] monadic ray, and it will finally constitute his astral-buddhic approach to life, and will be employed when he takes the fourth initiation. This ray relates him also to his personality and intensifies his natural problem.
b. Cung sáu của thể cảm dục liên hệ con người với [297] cung chân thần của y, và rốt cuộc sẽ cấu thành lối tiếp cận cảm dục-Bồ đề của y đối với sự sống, và sẽ được sử dụng khi y trải qua lần điểm đạo thứ tư. Cung này cũng liên hệ y với phàm ngã của y và làm tăng cường vấn đề tự nhiên của y.
The line of 2.4.6. must also be carefully borne in mind.
Đường 2.4.6. cũng phải được ghi nhớ cẩn thận.
c. The second ray quality of his physical body relates him both to the personality and finally to the monad. It is, therefore, for him a great problem, a great opportunity, and a great “linking” energy. It makes the life of the personality exceedingly dominant and attractive, and at the same time facilitates the future contact (whilst in a physical body) with the monad. His problem of soul consciousness will not, however, be so easily solved.
c. Phẩm tính cung hai của thể xác y liên hệ y vừa với phàm ngã vừa rốt cuộc với chân thần. Vì vậy, đối với y, đó là một vấn đề lớn, một cơ hội lớn, và một năng lượng “liên kết” lớn. Nó làm cho đời sống của phàm ngã trở nên cực kỳ trội vượt và hấp dẫn, đồng thời tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc trong tương lai (khi còn ở trong thể xác) với chân thần. Tuy nhiên, vấn đề về tâm thức linh hồn của y sẽ không được giải quyết dễ dàng như thế.
You will note also that the monad (2nd ray), the astral body (6th ray) and the physical body (2nd ray) are all along the same line of activity, or of divine energy, creating a most interesting psychological problem. The soul (1st ray) and the mental body (5th ray) are along another line entirely, and this combination presents great opportunity and much difficulty.
Bạn cũng sẽ lưu ý rằng chân thần (cung 2), thể cảm dục (cung 6) và thể xác (cung 2) đều nằm trên cùng một đường hoạt động, hay của năng lượng thiêng liêng, tạo nên một vấn đề tâm lý học hết sức lý thú. Linh hồn (cung 1) và thể trí (cung 5) lại nằm trên một đường hoàn toàn khác, và sự kết hợp này đem lại cơ hội lớn cùng nhiều khó khăn.
4. In the lower expression of the man whose psychological chart we are considering, the psychologist will find a person who is intensely sensitive, inclusive and self-willed. Because of the fact that the second ray personality and the physical body are related by similarity of ray, there will also be a clearly pronounced tendency to lay the emphasis upon material inclusiveness and tangible acquisition, and there will, therefore, be found (in this person) an exceedingly selfish and self-centred man. He will not be particularly intelligent, as only his fifth ray mental body relates him definitely and directly to the mind aspect of Deity, whilst his first ray egoic force enables him to use all means to plan for himself, and to use the will aspect to acquire and to attract the material good he desires or thinks he needs. His predominant second ray equipment, however, will eventually bring the higher values into play.
4. Trong biểu hiện thấp của con người mà biểu đồ tâm lý học của y chúng ta đang xét, nhà tâm lý học sẽ thấy một người cực kỳ nhạy cảm, bao gồm và đầy ý chí riêng. Vì phàm ngã cung hai và thể xác có liên hệ với nhau do sự tương đồng về cung, nên cũng sẽ có một khuynh hướng rất rõ rệt là đặt trọng tâm vào tính bao gồm vật chất và sự thủ đắc hữu hình, và vì vậy, nơi con người này sẽ thấy có một người cực kỳ ích kỷ và tập trung vào bản thân. Y sẽ không đặc biệt thông minh, vì chỉ có thể trí cung năm của y mới liên hệ rõ rệt và trực tiếp y với phương diện trí tuệ của Thượng đế, trong khi mãnh lực chân ngã cung một của y giúp y sử dụng mọi phương tiện để hoạch định cho chính mình, và dùng phương diện ý chí để đạt được và thu hút điều tốt lành vật chất mà y mong muốn hoặc nghĩ rằng mình cần. Tuy nhiên, bộ trang bị chủ yếu cung hai của y rốt cuộc sẽ đưa các giá trị cao hơn vào hoạt động.
In the higher expression of the same man and when the evolutionary cycle has done its work, we will have a sensitive, intuitive, inclusive disciple whose wisdom has flowered forth, and whose vehicles are outstandingly the channel for divine love.
Trong biểu hiện cao hơn của cùng con người ấy, và khi chu kỳ tiến hoá đã hoàn tất công việc của nó, chúng ta sẽ có một đệ tử nhạy cảm, trực giác, bao gồm, mà minh triết của y đã nở hoa, và các hiện thể của y nổi bật như là kênh dẫn cho bác ái thiêng liêng.
Many such charts could be drawn up and studied, and many such hypothetical cases could present the basis for occult investigation, for diagram, and for the study of the Law of Correspondences. Students would find it of interest to study themselves in this way, and, in the light of the information given in this Treatise on the Seven Rays, they could formulate their own charts, study what they think may be their own rays and the consequent ray effect in their lives, and thus draw up most interesting charts of their own nature, qualities and characteristics.
Nhiều biểu đồ như thế có thể được lập ra và nghiên cứu, và nhiều trường hợp giả định như thế có thể làm cơ sở cho sự khảo cứu huyền bí, cho sơ đồ, và cho việc nghiên cứu định luật tương ứng. Các đạo sinh sẽ thấy thú vị nếu tự nghiên cứu mình theo cách này, và, dưới ánh sáng của thông tin được đưa ra trong Luận về Bảy Cung, họ có thể lập các biểu đồ riêng của mình, nghiên cứu những gì họ nghĩ có thể là các cung riêng của mình và hậu quả của ảnh hưởng cung trong đời sống họ, và như thế lập nên những biểu đồ hết sức lý thú về bản chất, phẩm tính và đặc điểm riêng của mình.
It might be of interest to mention the fact that the moment a man becomes an accepted disciple, some such chart is prepared and placed in the hands of his Master. In fact, four such charts are available, for the rays of the personality vary from one cycle of expression to another and necessitate the keeping of the personality chart up to date. The four basic charts are:
Có lẽ cũng đáng quan tâm khi nói đến sự kiện rằng ngay lúc một người trở thành đệ tử được chấp nhận, một biểu đồ như thế được chuẩn bị và đặt vào tay Chân sư của y. Thật ra có bốn biểu đồ như thế, vì các cung của phàm ngã thay đổi từ chu kỳ biểu hiện này sang chu kỳ biểu hiện khác và đòi hỏi phải luôn cập nhật biểu đồ phàm ngã. Bốn biểu đồ căn bản là:
1. The chart of a man’s expression at the time of his [299] individualisation. This is of course a very ancient chart. In it, the rays of the mental body and of the emotional body are most difficult to ascertain as there is so little mental expression or emotional experience. Only the ray of the soul and of the physical body are clearly defined. The other rays are regarded as only suggestive.
1. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người vào lúc y được [299] biệt ngã hóa. Dĩ nhiên đây là một biểu đồ rất cổ xưa. Trong đó, các cung của thể trí và của thể cảm xúc rất khó xác định vì có quá ít biểu hiện trí tuệ hay kinh nghiệm cảm xúc. Chỉ có cung của linh hồn và của thể xác là được xác định rõ ràng. Các cung khác chỉ được xem là có tính gợi ý.
This is the chart of the man who is asleep.
Đây là biểu đồ của con người đang ngủ.
2. The chart of a man’s expression when the personality reaches its highest independent point of development;—that is, before the soul has taken over conscious control and is functioning at all dominantly.
2. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người khi phàm ngã đạt tới điểm phát triển độc lập cao nhất của nó;—nghĩa là, trước khi linh hồn nắm quyền kiểm soát có ý thức và hoạt động một cách trội vượt nào đó.
This is the chart of the man who dreams.
Đây là biểu đồ của con người đang mơ.
3. The chart of a man’s expression at that peculiar moment of determining crisis when the soul and personality are at war, when the battle for reorientation is at its highest and the aspirant knows it. He knows that upon the issue of that battle much depends. He is Arjuna upon the field of Kurukshetra.
3. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người vào khoảnh khắc khủng hoảng quyết định đặc biệt ấy khi linh hồn và phàm ngã giao chiến, khi trận chiến để tái định hướng lên đến cao điểm và người chí nguyện biết điều đó. Y biết rằng rất nhiều điều tùy thuộc vào kết quả của trận chiến ấy. Y là Arjuna trên chiến trường Kurukshetra.
This is the chart of the man awakening.
Đây là biểu đồ của con người đang thức tỉnh.
4. The chart of a man’s expression during the life wherein the orientation has been altered, the emphasis of the life forces changed, and the man becomes an accepted disciple.
4. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người trong đời sống mà trong đó sự định hướng đã được thay đổi, trọng tâm của các lực sống đã chuyển đổi, và con người trở thành một đệ tử được chấp nhận.
These four charts, depicted or drawn in colour according to ray, form the dossier of a disciple, for the Master only deals with general tendencies and never with detail. General trends and predispositions and emphasised characteristics concern him, and the obvious life patterns.
Bốn biểu đồ này, được mô tả hay vẽ bằng màu sắc theo cung, tạo thành dossier của một đệ tử, vì Chân sư chỉ đề cập đến các khuynh hướng tổng quát chứ không bao giờ đi vào chi tiết. Các xu hướng chung và các thiên hướng cùng những đặc điểm được nhấn mạnh mới là điều liên quan đến Ngài, cũng như các mô hình đời sống hiển nhiên.
I would call to your attention the increasing use by the psychologists and thinkers of the race of the word “pattern”. It is a word which has a deep occult significance. One of the exercises given to the disciple upon the inner planes is connected [300] with these psychological charts or these life patterns. He is asked to study them with care, all four of them, and then to draw up the pattern which embodies for him the goal as far as he, at his present point of development, can sense it. When he takes the first initiation, then the Master adds another pattern or chart to the dossier of the disciple, and the latter can then study:
Tôi muốn lưu ý các bạn đến việc các nhà tâm lý học và các nhà tư tưởng của nhân loại ngày càng sử dụng từ “mô hình”. Đó là một từ có ý nghĩa huyền bí sâu xa. Một trong những bài tập được giao cho đệ tử trên các cõi bên trong có liên hệ [300] với các biểu đồ tâm lý học này hay các mô hình đời sống này. Y được yêu cầu nghiên cứu chúng cẩn thận, cả bốn biểu đồ, rồi sau đó vạch ra mô hình thể hiện cho y mục tiêu, trong chừng mực y, ở điểm phát triển hiện tại của mình, có thể cảm nhận được. Khi y trải qua lần điểm đạo thứ nhất, Chân sư sẽ thêm một mô hình hay biểu đồ khác vào hồ sơ của đệ tử, và khi đó người sau có thể nghiên cứu:
a. The chart of his condition at the time he became an accepted disciple.
a. Biểu đồ về tình trạng của y vào lúc y trở thành một đệ tử được chấp nhận.
b. The hypothetical chart which he himself drew up earlier in his training as an accepted disciple.
b. Biểu đồ giả định mà chính y đã tự vạch ra trước đó trong quá trình huấn luyện của mình với tư cách một đệ tử được chấp nhận.
c. The chart of his general psychological condition at the time he took the first initiation.
c. Biểu đồ về tình trạng tâm lý học tổng quát của y vào lúc y trải qua lần điểm đạo thứ nhất.
By a careful analysis and comparison of the three charts, he can discover the accuracy or the inaccuracy of his own diagnosis, and thus develop a better sense of proportion as to his own mental perception of himself.
Bằng một sự phân tích và so sánh cẩn thận ba biểu đồ, y có thể khám phá độ chính xác hay sự thiếu chính xác trong chẩn đoán của chính mình, và nhờ đó phát triển một ý thức về tỉ lệ tốt hơn đối với nhận thức trí tuệ của chính y về bản thân mình.
It would be interesting later, if students could be set some such task as drawing up an analysis of themselves which could be embodied in a chart, giving the rays that they believe govern their equipment, and stating the reasons for assigning these ray qualities.
Về sau, sẽ là điều lý thú nếu các đạo sinh được giao một nhiệm vụ như thế là lập một bản phân tích về chính mình có thể thể hiện trong một biểu đồ, nêu ra các cung mà họ tin là chi phối bộ trang bị của mình, và trình bày các lý do để gán các phẩm tính cung ấy.
When the psychologist of the future employs all the available sciences at his disposal and, at the same time, lays the emphasis upon those sciences which deal with the subjective man and not so predominantly with the objective man (though that should not be omitted) we shall then have a fundamental change in the handling of the human problem or equation. This is today a problem which is seriously confronting and distressing the psychologist, the psychiatrist, the neurologist, the social worker and the humanitarian.
Khi nhà tâm lý học của tương lai sử dụng tất cả các khoa học sẵn có trong tầm tay mình và đồng thời đặt trọng tâm vào những khoa học đề cập đến con người chủ quan chứ không quá thiên về con người khách quan (dù điều đó không nên bị bỏ qua), thì khi ấy chúng ta sẽ có một sự thay đổi căn bản trong cách xử lý vấn đề hay phương trình con người. Ngày nay đây là một vấn đề đang nghiêm trọng đối diện và gây khổ tâm cho nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, nhà thần kinh học, nhân viên xã hội và nhà nhân đạo.
[301]
[301]
The psychologist will then employ:
Khi đó nhà tâm lý học sẽ sử dụng:
1. The modern exoteric science of psychology, with its emphasis upon equipment, upon the glands and their effects, upon dreams and their occasional effect, upon instinctual behaviour (which is largely a reaction of the physical body) and upon all the latest conclusions of the investigating material scientists the world over.
1. Khoa học ngoại môn hiện đại về tâm lý học, với sự nhấn mạnh của nó vào bộ trang bị, vào các tuyến và các tác động của chúng, vào các giấc mơ và ảnh hưởng đôi khi của chúng, vào hành vi bản năng (vốn phần lớn là một phản ứng của thể xác) và vào mọi kết luận mới nhất của các nhà khoa học duy vật khảo cứu trên khắp thế giới.
2. Esoteric psychology, such as is embodied in this Treatise on the Seven Rays. This indicates the types of energy and the forces which govern, control and determine the varying aspects of the average man’s equipment, and condition his consciousness.
2. Tâm Lý Học Nội Môn, như được thể hiện trong Luận về Bảy Cung. Điều này chỉ ra các loại năng lượng và các mãnh lực chi phối, kiểm soát và quyết định các phương diện khác nhau của bộ trang bị của con người trung bình, và tác động lên tâm thức của y.
3. Astrology, with its indications (little realised as yet) of a man’s place “in the sun”, and in the general scheme of things. These relate him to the planetary whole and give much information anent the time factors which govern every individual, little as he may think it.
3. Chiêm tinh học, với những chỉ dẫn của nó (cho đến nay còn ít được chứng nghiệm) về vị trí của một người “trong mặt trời”, và trong toàn bộ hệ thống sự vật. Những điều này liên hệ y với toàn thể hành tinh và cung cấp nhiều thông tin liên quan đến các yếu tố thời gian chi phối mỗi cá nhân, dù y có thể ít nghĩ như vậy.
It will be recognised that the astrology with which we are here concerned and which I will later somewhat elaborate, does not deal with the expression of the personality. It is the planetary and racial astrology which Those who work on the inner side, know to be of deep significance. It is the astrology of discipleship and the relation of the stars to the activities of the soul which They regard of importance. It is the astrology of initiation with which They are most profoundly concerned. Though the time is not yet, we shall some day be able to cast the horoscope of the soul, and make more clear to the awakening human being the way that he should go. Of this more anon.
Người ta sẽ nhận ra rằng chiêm tinh học mà ở đây chúng ta quan tâm, và sau này tôi sẽ khai triển phần nào, không đề cập đến sự biểu hiện của phàm ngã. Đó là chiêm tinh học hành tinh và nhân loại mà Những Đấng hoạt động ở mặt bên trong biết là có ý nghĩa sâu xa. Đó là chiêm tinh học của địa vị đệ tử và mối liên hệ của các vì sao với các hoạt động của linh hồn mà Các Ngài xem là quan trọng. Đó là chiêm tinh học của điểm đạo mà Các Ngài quan tâm sâu sắc nhất. Dù thời điểm ấy chưa đến, một ngày nào đó chúng ta sẽ có thể lập lá số chiêm tinh của linh hồn, và làm sáng tỏ hơn cho con người đang thức tỉnh con đường mà y nên đi. Về điều này sẽ nói thêm sau.
It will also be apparent that, as the relationships of the different aspects of a man’s manifested life appear, his seven centres are related to the seven aspects or qualities which [302] embody a man’s essential divinity. The following is therefore of interest:
Cũng sẽ hiển nhiên rằng, khi các mối liên hệ của những phương diện khác nhau trong đời sống biểu hiện của một người xuất hiện, thì bảy trung tâm của y có liên hệ với bảy phương diện hay phẩm tính [302] thể hiện thiên tính cốt yếu của một người. Vì vậy điều sau đây là điều đáng quan tâm:
1.
The head centre
Monad. Life. First aspect.
1.
Trung tâm đầu
Chân thần. Sự sống. Phương diện thứ nhất.
2.
The heart centre
Soul. Consciousness. Second aspect.
2.
Trung tâm tim
Linh hồn. Tâm thức. Phương diện thứ hai.
3.
The ajna centre
Personality. Substance. Third aspect.
3.
Trung tâm ajna
Phàm ngã. Chất liệu. Phương diện thứ ba.
These are the three major centres for the advanced man.
Đây là ba trung tâm chính đối với người tiến hóa cao.
4.
The throat centre
Mind. The mental aspect and energy.
Trung tâm cổ họng
Trí. Phương diện và năng lượng trí tuệ.
5.
The solar plexus centre
Emotion. The astral aspect and energy centre.
Trung tâm tùng thái dương
Cảm xúc. Phương diện và trung tâm năng lượng cảm dục.
6.
The sacral centre
Physical.
Luân xa xương cùng
Thể xác.
7.
The centre at base of the spine
Life itself. Monadic centre.
Trung tâm ở đáy cột sống
Chính sự sống. Trung tâm chân thần.
The latter centre is only awakened in its true and final sense at the third initiation. At that time the circle is completed. As was earlier stated, the etheric body is related to the monad and is the exteriorisation of the life aspect. It is the etheric body, with all its seven centres, which is swept into activity when the basic centre is awakened, and the kundalini fire is aroused. It might be of value to students to point out that frequently when a student is under the impression or belief that the kundalini fire has been aroused in him, all that has really happened is that the energy of the sacral centre (i.e. the sex centre) is being transmuted and raised to the throat, or that the energy of the solar plexus centre is being raised to the heart. Aspirants do, however, love to play with the idea that they have succeeded in arousing the kundalini fire. Many advanced occultists have mistaken the raising of the sacral fire or of the solar plexus force to a position above the diaphragm for the “lifting of the kundalini” and have therefore regarded themselves or others as initiates. Their sincerity has been very real and their mistake an easy one to make. [303] C. W. Leadbeater frequently made this mistake, yet of his sincerity and of his point of attainment there is no question.
Trung tâm sau cùng này chỉ thực sự được đánh thức theo ý nghĩa chân chính và tối hậu của nó vào lần điểm đạo thứ ba. Vào lúc đó vòng tròn được hoàn tất. Như đã nói trước đây, thể dĩ thái có liên hệ với chân thần và là sự ngoại hiện của phương diện sự sống. Chính thể dĩ thái, với tất cả bảy trung tâm của nó, được cuốn vào hoạt động khi trung tâm căn bản được đánh thức và lửa kundalini được khơi dậy. Có lẽ sẽ có ích cho các đạo sinh nếu chỉ ra rằng thường khi một đạo sinh có ấn tượng hay tin rằng lửa kundalini đã được khơi dậy trong mình, thì tất cả những gì thực sự đã xảy ra chỉ là năng lượng của trung tâm xương cùng (tức trung tâm tính dục) đang được chuyển hoá và nâng lên cổ họng, hoặc năng lượng của trung tâm tùng thái dương đang được nâng lên tim. Tuy nhiên, những người chí nguyện quả thật rất thích đùa với ý tưởng rằng họ đã thành công trong việc khơi dậy lửa kundalini. Nhiều nhà huyền bí học cấp cao đã lầm việc nâng lửa xương cùng hay mãnh lực tùng thái dương lên một vị trí phía trên cơ hoành là “nâng kundalini”, và vì vậy đã xem mình hay người khác là các điểm đạo đồ. Sự chân thành của họ là rất thật, và sai lầm của họ là điều rất dễ mắc phải. [303] C. W. Leadbeater thường mắc sai lầm này, tuy nhiên không ai có thể nghi ngờ sự chân thành của y và điểm thành tựu của ông.
The abstruseness and the difficulty of all of the above is very real and, living as the disciple does in the world of glamour and illusion, it is not easy for the average aspirant to sort out his ideas on these matters, or to see the extent of the subject with the perspective that is necessary. He has to start, first of all, by accepting the premise of the rays, and this he cannot prove, though he may do two things:—
Tính thâm áo và khó khăn của tất cả những điều trên là rất thực, và vì đệ tử sống trong thế giới của ảo cảm và ảo tưởng, nên đối với người chí nguyện trung bình không dễ gì sắp xếp các ý tưởng của mình về những vấn đề này, hay thấy được tầm mức của đề tài với viễn cảnh cần thiết. Trước hết, y phải bắt đầu bằng việc chấp nhận tiền đề về các cung, và điều này y không thể chứng minh, dù y có thể làm hai điều:—
1. Correlate the idea of these ray energies with the modern teaching of exoteric science that there is nothing but energy as the underlying substance of all phenomenal appearance.
1. Liên hệ ý tưởng về các năng lượng cung này với giáo huấn hiện đại của khoa học ngoại môn rằng không có gì ngoài năng lượng như là chất liệu nền tảng của mọi sắc tướng hiện tượng.
2. Regard the theory as one which, though as yet for him only an hypothesis, fits the facts as he knows them better than any other. He will then, one can safely predict, eventually change his hypothesis into a living fact, if he studies himself with care. One of the first things a disciple has to learn is that he is, indeed, the microcosm of the macrocosm, and that within himself has to be found the open door to the universe.
2. Xem lý thuyết này như một lý thuyết mà, dù hiện giờ đối với y chỉ là một giả thuyết, vẫn phù hợp với các sự kiện như y biết rõ hơn bất kỳ lý thuyết nào khác. Khi đó, có thể tiên đoán chắc chắn rằng cuối cùng y sẽ biến giả thuyết của mình thành một sự kiện sống động, nếu y tự nghiên cứu mình cẩn thận. Một trong những điều đầu tiên mà một đệ tử phải học là y quả thật là tiểu thiên địa của đại thiên địa, và rằng ngay bên trong chính mình phải tìm thấy cánh cửa rộng mở dẫn vào vũ trụ.
What is here presented is of sufficient difficulty and of adequate interest to merit careful consideration.
Những gì được trình bày ở đây đủ khó và đủ lý thú để xứng đáng được suy xét cẩn thận.
I wonder if the students have any idea how the ideals I seek to bring to their attention could illumine their lives if they took them into their “brooding consciousness” for the space even of a month. This aspect of consciousness is the correspondence in the soul body to the mother aspect, as it broods over, guards and eventually brings to the birth the Christ aspect. Lives are changed primarily by reflection; qualities are developed by directed conscious thought; characteristics [304] are unfolded by brooding consideration. To all this I call your attention.
Tôi tự hỏi liệu các đạo sinh có ý niệm nào chăng về việc những lý tưởng mà tôi tìm cách đưa ra trước sự chú ý của họ có thể soi sáng đời sống họ như thế nào nếu họ giữ chúng trong “tâm thức ấp ủ” của mình dù chỉ trong vòng một tháng. Phương diện tâm thức này là sự tương ứng trong thể linh hồn với phương diện người mẹ, khi nó ấp ủ, gìn giữ và cuối cùng sinh ra phương diện Christ. Đời sống được thay đổi chủ yếu nhờ suy tư; các phẩm tính được phát triển nhờ tư tưởng có ý thức được định hướng; các đặc tính [304] được khai mở nhờ sự suy xét ấp ủ. Tôi kêu gọi sự chú ý của các bạn đến tất cả điều này.
I diverged briefly for a moment and took up the subject of the rays of the three bodies of the personality before completing the detail of the outline previously given on the ray of personality. This I did with deliberation, as I was anxious to have clearly established the difference which will be found existing between the rays governing the elementals of the three lower bodies and that of the personality. The life of these three elementals is founded primarily in the three lowest centres in the etheric body:
Trong chốc lát tôi đã tạm rẽ sang và đề cập đến các cung của ba thể của phàm ngã trước khi hoàn tất chi tiết của dàn ý đã cho trước đó về cung phàm ngã. Tôi làm điều này có chủ ý, vì tôi muốn xác lập rõ ràng sự khác biệt sẽ thấy tồn tại giữa các cung chi phối các hành khí của ba thể thấp và cung của phàm ngã. Sự sống của ba hành khí này chủ yếu đặt nền trên ba trung tâm thấp nhất trong thể dĩ thái:
1.
The sacral centre
the mental elemental life
Transferred later to the throat centre.
Luân xa xương cùng
sự sống hành khí trí tuệ
Được chuyển dịch sau này đến trung tâm cổ họng.
2.
The solar plexus centre
the astral elemental life.
Transferred later to the heart centre.
Trung tâm tùng thái dương
sự sống hành khí cảm dục.
Được chuyển dịch sau này đến trung tâm tim.
3.
The centre at the base of the spine
the physical elemental life.
Transferred later to the head centre.
Trung tâm ở đáy cột sống
sự sống hành khí thể xác.
Được chuyển dịch sau này đến trung tâm đầu.
The life of the indwelling soul is focussed in the three higher centres.
Sự sống của linh hồn ngự bên trong được tập trung trong ba trung tâm cao hơn.
1.
The head centre
the mental consciousness.
Trung tâm đầu
tâm thức trí tuệ.
2.
The throat centre
the creative consciousness.
Trung tâm cổ họng
tâm thức sáng tạo.
3.
The heart centre
the feeling consciousness.
Trung tâm tim
tâm thức cảm giác.