Trích nội dung chương
There is, therefore, a mass effect and an individual effect and these two must be more carefully borne in mind. This process of externalisation can be seen working out in all the clamour and in the ardent and oft noisy psychology of the great national movements and experiments, going on today all over the world. Simultaneously, individuals in all these countries and in practically every land are learning a needed (and sometimes enforced) suppression, control of speech and other restraining reactions; they are being turned definitely inward through force of circumstances and in such a powerful manner that—if you could see the play of forces…
1. The extraversion of the mass consciousness.
1. Sự ngoại hiện của tâm thức quần chúng.
2. A pronounced introversion of the individual.
2. Sự hướng nội rõ rệt của cá nhân.
There is, therefore, a mass effect and an individual effect and these two must be more carefully borne in mind. This process of externalisation can be seen working out in all the clamour and in the ardent and oft noisy psychology of the great national movements and experiments, going on today all over the world. Simultaneously, individuals in all these countries and in practically every land are learning a needed (and sometimes enforced) suppression, control of speech and other restraining reactions; they are being turned definitely inward through force of circumstances and in such a powerful manner that—if you could see the play of forces as we on the inner side can see them—you would become aware of these two great movements being carried forward in the three worlds of human endeavour, as if they were opposing currents of force:
Vì vậy, có một hiệu quả quần chúng và một hiệu quả cá nhân, và hai điều này phải được ghi nhớ cẩn thận hơn. Tiến trình ngoại hiện này có thể được thấy đang diễn ra trong mọi sự ồn ào và trong tâm lý học nhiệt thành và thường ồn ào của các phong trào và thử nghiệm quốc gia lớn đang diễn ra ngày nay trên khắp thế giới. Đồng thời, các cá nhân trong tất cả những quốc gia này và trong hầu như mọi xứ sở đang học một sự kiềm chế cần thiết (và đôi khi bị cưỡng bách), sự kiểm soát lời nói và những phản ứng tự chế khác; họ đang bị quay hẳn vào bên trong do sức ép của hoàn cảnh và theo một cách mạnh mẽ đến nỗi—nếu các bạn có thể thấy sự vận hành của các mãnh lực như chúng tôi ở phía bên trong có thể thấy—các bạn sẽ nhận biết hai vận động lớn này đang được tiến hành trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại như thể chúng là những dòng mãnh lực đối nghịch:
1. The movement, tending towards the extraversion or the externalisation of the great energies to which the mass consciousness responds. This is being directed or enforced through the activity of the first ray energy. Much of it, therefore, is to be found in the political field and in the realm of the mass will. In these early stages we are witnessing the evocation of that mass will; it is, as yet, unintelligent, inchoate, fluidic and easily imposed upon by the directed will of a group in any land, which can evidence enough power to engross the mass attention. This can also be sometimes done by a dominant and powerful personality. The net result—from the long range point of view—is the bringing to the surface of the deeply hidden and submerged mass consciousness, a silent, hitherto unexpressed and unoriented force, and yet a potency in the planetary life. [517]
1. Vận động có khuynh hướng hướng đến sự ngoại hướng hay sự ngoại hiện của những năng lượng lớn mà tâm thức quần chúng đáp ứng. Điều này đang được chỉ đạo hay cưỡng bách thông qua hoạt động của năng lượng cung một. Vì vậy, phần lớn của nó được tìm thấy trong lĩnh vực chính trị và trong phạm vi của ý chí quần chúng. Trong những giai đoạn đầu này, chúng ta đang chứng kiến sự gợi lên của ý chí quần chúng ấy; cho đến nay nó vẫn chưa thông minh, chưa định hình, linh động và dễ bị áp đặt bởi ý chí có định hướng của một nhóm ở bất kỳ quốc gia nào có thể biểu lộ đủ quyền năng để thu hút sự chú ý của quần chúng. Điều này đôi khi cũng có thể được thực hiện bởi một phàm ngã thống trị và mạnh mẽ. Kết quả ròng—xét từ quan điểm dài hạn—là đưa lên bề mặt tâm thức quần chúng vốn bị che giấu sâu xa và chìm lấp, một mãnh lực im lặng, cho đến nay chưa được biểu lộ và chưa có định hướng, nhưng vẫn là một quyền năng trong sự sống hành tinh. [517]
2. The movement towards the introversion or the “turning inwards” of the intelligent consciousness (not the mass consciousness this time) of all those men and women in the world today whose minds are awakening and who can function actively and creatively on the three levels of human awareness.
2. Vận động hướng đến sự hướng nội hay “quay vào bên trong” của tâm thức thông minh (lần này không phải là tâm thức quần chúng) của tất cả những người nam và nữ trên thế giới ngày nay mà trí tuệ đang thức tỉnh và có thể hoạt động một cách tích cực và sáng tạo trên ba cấp độ nhận biết của con người.
It is this dual movement—outward and inward—which is the source of much of the present world crisis. The effect of this “pull” in two directions is having a serious effect upon sensitive individuals. They are pulled in two directions: outward by the pull of the mass consciousness, and by the force of the political, economic and social life of the race; inwards by the pull of the world of higher values, by the kingdom of souls, by the organised work of the spiritual Hierarchy, aided by the age-old religious consciousness.
Chính vận động nhị nguyên này—ra ngoài và vào trong—là nguồn gốc của phần lớn cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay. Hiệu quả của sự “kéo” theo hai hướng này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên những cá nhân nhạy cảm. Họ bị kéo theo hai hướng: ra ngoài bởi sức kéo của tâm thức quần chúng, và bởi mãnh lực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của nhân loại; vào trong bởi sức kéo của thế giới các giá trị cao hơn, bởi giới các linh hồn, bởi công việc có tổ chức của Thánh đoàn, được hỗ trợ bởi tâm thức tôn giáo lâu đời.
Psychologists would do well to study their patients from the angle of these two diverging energies. They would thus offset the tendency to cleavage which is one of the major anxieties of the spiritual Workers at this time. In the stress and strain of modern living, men are apt to think that the major task and the most important duty today is to make life more bearable and thus easier for humanity to live. To the spiritual Hierarchy of our planet, the major task is so to safeguard mankind that, when this period of transition is over and the forces that are withdrawing their influences have ceased entirely to have an effect upon humanity, there will be fusion and not cleavage to be found in the world. Thus the kingdom of God and the kingdom of men will be fusing rapidly into a dual manifesting expression. The incoming force will then be stabilised and its note clearly heard.
Các nhà tâm lý học nên nghiên cứu bệnh nhân của mình từ góc độ của hai năng lượng phân kỳ này. Nhờ đó họ sẽ hóa giải khuynh hướng phân ly vốn là một trong những mối lo lớn của những người hoạt động tinh thần vào lúc này. Trong sự căng thẳng và áp lực của đời sống hiện đại, con người có khuynh hướng nghĩ rằng nhiệm vụ lớn nhất và bổn phận quan trọng nhất ngày nay là làm cho đời sống dễ chịu hơn và nhờ đó dễ sống hơn đối với nhân loại. Đối với Thánh đoàn Tinh thần của hành tinh chúng ta, nhiệm vụ lớn nhất là bảo vệ nhân loại sao cho khi thời kỳ Chuyển tiếp này chấm dứt và các mãnh lực đang rút ảnh hưởng của chúng hoàn toàn không còn tác động lên nhân loại nữa, thì điều được tìm thấy trong thế giới sẽ là sự dung hợp chứ không phải phân ly. Như thế Thiên Giới và giới loài người sẽ nhanh chóng dung hợp thành một biểu hiện nhị nguyên đang hiển lộ. Khi đó mãnh lực đang đi vào sẽ được ổn định và âm điệu của nó sẽ được nghe rõ.
The third factor to he considered by the man who is working towards the well-being of his fellows is the study of the [518] effects of the new incoming forces upon the present mechanism of man. This is not yet being done but is a determining factor in the successful development of the human unit. Therefore, it is of vital importance to educators, psychologists, parents and esotericists. There is, however, as yet no real recognition of the fact and the urgency of these incoming forces, nor is there any appreciation of the potency of the energies emanating from—
Yếu tố thứ ba cần được người đang hoạt động vì phúc lợi của đồng loại mình xem xét là việc nghiên cứu các [518] hiệu quả của những mãnh lực mới đang đi vào đối với bộ máy hiện tại của con người. Điều này chưa được thực hiện, nhưng là một yếu tố quyết định trong sự phát triển thành công của đơn vị nhân loại. Vì vậy, điều đó có tầm quan trọng thiết yếu đối với các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học, các bậc cha mẹ và các nhà bí truyền học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự nhận biết thực sự nào về sự kiện và tính cấp bách của những mãnh lực đang đi vào này, cũng như chưa có sự đánh giá nào về quyền năng của các năng lượng phát xuất từ—
1. The sign of the zodiac into which we are now passing.
1. Dấu hiệu hoàng đạo mà hiện nay chúng ta đang đi vào.
2. The effect of the relation existing between the forces emanating from the sign Aquarius and the sign Leo which is its polar opposite and, therefore, closely related to it. The interplay of the two signs is, at this time, responsible for the appearance of the great and modern human movements, involving vast numbers of men and engineered usually by some dominant personality. It is responsible also for the intense individualism which is manifesting in every department of human life today.
2. Hiệu quả của mối liên hệ tồn tại giữa các mãnh lực phát xuất từ dấu hiệu Bảo Bình và dấu hiệu Sư Tử là cực đối lập của nó và vì vậy có liên hệ mật thiết với nó. Sự tương tác của hai dấu hiệu này hiện nay chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của các phong trào nhân loại lớn và hiện đại, bao hàm số lượng đông đảo những người nam và nữ và thường được điều khiển bởi một phàm ngã thống trị nào đó. Nó cũng chịu trách nhiệm cho chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt đang biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại ngày nay.
3. The effect of the new zodiacal influences upon the eleven other signs. This is a most interesting theme and one that has been little considered. What effect will the potency of the sign Aquarius (which is becoming increasingly dominant with each decade) have upon a person or a nation which is governed by the sign Taurus, for instance, or by Sagittarius, or Pisces? In coming centuries, this aspect of astrological science will be of definite importance and will be considered by those responsible for the rearing and education of children during the coming centuries. It will be one of the most important themes to be dealt with in all systems of psychological and esoteric service to humanity, and will [519] eventually cause a reorganisation of the methods employed up to date to aid and liberate man.
3. Hiệu quả của các ảnh hưởng hoàng đạo mới lên mười một dấu hiệu khác. Đây là một chủ đề hết sức lý thú và ít được xem xét. Chẳng hạn, quyền năng của dấu hiệu Bảo Bình (đang ngày càng trở nên chi phối hơn qua mỗi thập niên) sẽ có hiệu quả gì đối với một người hay một quốc gia được cai quản bởi dấu hiệu Kim Ngưu, hay Nhân Mã, hay Song Ngư? Trong các thế kỷ sắp đến, phương diện này của khoa học chiêm tinh sẽ có tầm quan trọng rõ rệt và sẽ được xem xét bởi những người chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em trong các thế kỷ sắp đến. Nó sẽ là một trong những chủ đề quan trọng nhất được bàn đến trong mọi hệ thống phụng sự tâm lý học và huyền bí đối với nhân loại, và cuối cùng sẽ [519] gây ra một sự tái tổ chức các phương pháp được sử dụng cho đến nay để trợ giúp và giải phóng con người.
This we shall endeavour to elucidate as one of the points in Volume III of A Treatise on the Seven Rays, and it will contribute an entirely new approach.
Chúng ta sẽ cố gắng làm sáng tỏ điều này như một trong những điểm trong Tập III của Luận về Bảy Cung, và nó sẽ đóng góp một cách tiếp cận hoàn toàn mới.
4. The effect of the relation of the seven rays to the zodiacal forces. It should be remembered that there is a close interplay between the seven rays and the twelve signs of the zodiac.
4. Hiệu quả của mối liên hệ giữa bảy cung và các mãnh lực hoàng đạo. Cần nhớ rằng có một sự tương tác mật thiết giữa bảy cung và mười hai dấu hiệu hoàng đạo.
Another task of the psychologist is to investigate the effect or the relation of the seven centres of force, which are to be found in the human body, in the etheric counterpart of the physical body. Many of the modern physical ills and a large number of undesirable psychological conditions will then be traced to their true source. This is the over-stimulation, plus the under-development, of the centres of energy found in the human mechanism and closely connected with the endocrine system. This is part of the new Science of Humanity.
Một nhiệm vụ khác của nhà tâm lý học là khảo cứu hiệu quả hay mối liên hệ của bảy trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong cơ thể con người, trong đối phần dĩ thái của thể xác. Khi đó, nhiều bệnh tật hồng trần hiện đại và một số lượng lớn các tình trạng tâm lý không mong muốn sẽ được truy nguyên về nguồn gốc thật sự của chúng. Đó là sự kích thích quá mức, cộng với sự kém phát triển, của các trung tâm năng lượng được tìm thấy trong bộ máy con người và có liên hệ mật thiết với hệ nội tiết. Đây là một phần của Khoa Học mới về Nhân Loại.
You will see from the above how vast and intricate is our theme. It will not be possible for me to do more than generalise, and point out the way to certain broad trails or lines of investigation along which the modern student and scientist would do well to go. I would like to remind you also that the problem of the human being is essentially and basically the problem of consciousness or awareness. The five aspects of man—
Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy đề tài của chúng ta rộng lớn và phức tạp đến mức nào. Tôi sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc khái quát hóa, và chỉ ra con đường đến một số lối mòn lớn hay những tuyến khảo cứu mà đạo sinh và nhà khoa học hiện đại nên theo đuổi. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng vấn đề của con người về căn bản và cốt yếu là vấn đề của tâm thức hay sự nhận biết. Năm phương diện của con người—
1. The physical body.
1. Thể xác.
2. The vital or etheric body.
2. Thể sinh lực hay thể dĩ thái.
3. The astral body.
3. Thể cảm dục.
4. The mental body.
4. Thể trí.
5. The soul body or the egoic lotus,
5. Thể linh hồn hay Hoa Sen Chân Ngã,
are basically only open doors into the larger whole of which [520] the individual unit is a part. They put the man into relation with the divine expression and manifestation in the same way that his five senses put him in touch with the tangible world and enable him thus to share the general life.
về căn bản chỉ là những cánh cửa mở vào cái toàn thể lớn hơn mà [520] đơn vị cá nhân là một phần của nó. Chúng đặt con người vào mối liên hệ với sự biểu lộ và biểu hiện thiêng liêng cũng theo cùng cách mà năm giác quan của y đặt y vào sự tiếp xúc với thế giới hữu hình và nhờ đó giúp y chia sẻ sự sống chung.
Many of our present problems (arising out of the mystical or the spiritual life) and a large number of our psychological difficulties are connected with this fact. Many a man also is over-developed in some one of these directions and, therefore, (through this developed sensitivity of some aspect of the a fivefold instrument of contact) he becomes aware of a realm of consciousness and of states of awareness with which he is not competent to deal, owing to the under-development of his mind and the lack of soul contact.
Nhiều vấn đề hiện nay của chúng ta (phát sinh từ đời sống thần bí hoặc đời sống tinh thần) và rất nhiều khó khăn tâm lý của chúng ta có liên hệ với sự kiện này. Nhiều người cũng phát triển quá mức theo một trong các hướng này và vì thế (do sự nhạy cảm đã phát triển của một phương diện nào đó trong công cụ tiếp xúc ngũ phân) trở nên nhận biết một lĩnh vực tâm thức và những trạng thái nhận biết mà y không đủ năng lực để xử lý, do trí tuệ kém phát triển và thiếu tiếp xúc với linh hồn.
4. Diseases and Problems of Disciples and Mystics—Các Bệnh Tật và Vấn Đề của các đệ tử và các nhà thần bí
We will divide what we have to say about our theme, The Diseases and the Problems of Mystics, under four headings:
Chúng ta sẽ phân chia điều cần nói về chủ đề của chúng ta, Các Bệnh Tật và các Vấn Đề của các nhà thần bí, dưới bốn đề mục:
1. Those arising out of the awakening of the centres. These constitute a major difficulty and will, therefore, be dealt with first of all.
1. Những điều phát sinh từ sự thức tỉnh của các trung tâm. Những điều này tạo thành một khó khăn lớn và vì vậy sẽ được bàn đến trước hết.
2. Those arising out of the unfoldment of psychic powers.
2. Những điều phát sinh từ sự khai mở các năng lực thông linh.
3. Those connected with group conditions and problems.
3. Những điều liên hệ với các điều kiện và vấn đề của nhóm.
4. Those related to the outgoing sixth ray forces and the incoming seventh ray influences.
4. Những điều liên hệ với các mãnh lực cung sáu đang rút ra và các ảnh hưởng cung bảy đang đi vào.
a. PROBLEMS ARISING OUT OF THE AWAKENING AND STIMULATION OF THE CENTRES—a. CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH TỪ SỰ THỨC TỈNH VÀ KÍCH THÍCH CÁC TRUNG TÂM
Those of you who have read my other books and treatises will know how immense is the subject with which we are concerned and how little is yet known and taught anent the centres and their force emanations and the activity of the vital or etheric body which is the receiver and the distributor [521] of energies. These energies determine and condition the circumstances and the physique of the human being and produce (in the last analysis) the phenomenal manifestation of man upon the physical plane, plus his inherent characteristics. All of this information I have earlier given and it can be read and studied by those who are interested to do so. They can thus clarify their knowledge anent the various centres. One thing I would like here to point out and will later elucidate and that is the relation of the various centres to the rays. This is as follows:
Những ai trong các bạn đã đọc các sách và luận thuyết khác của tôi sẽ biết chủ đề mà chúng ta đang đề cập đến bao la đến mức nào, và cho đến nay người ta còn biết và giảng dạy ít ỏi ra sao về các trung tâm, các phát xạ mãnh lực của chúng, và hoạt động của thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn là cơ quan tiếp nhận và phân phối [521] các năng lượng. Các năng lượng này quyết định và tác động lên hoàn cảnh cùng thể chất của con người, và tạo ra (xét đến cùng) biểu hiện hiện tượng của con người trên cõi hồng trần, cộng với các đặc tính cố hữu của y. Tất cả thông tin này trước đây tôi đã đưa ra, và những ai quan tâm đều có thể đọc và nghiên cứu. Nhờ đó họ có thể làm sáng tỏ hiểu biết của mình về các trung tâm khác nhau. Có một điều ở đây tôi muốn chỉ ra và sau này sẽ làm sáng tỏ, đó là mối liên hệ của các trung tâm khác nhau với các cung. Điều này như sau:
Ray one
Power or Will
Head centre.
Cung một
Quyền năng hay Ý Chí
Trung tâm đầu.
Ray two
Love-Wisdom
Heart centre.
Cung hai
Bác Ái-Minh Triết
Trung tâm tim.
Ray three
Active Intelligence
Throat centre.
Cung ba
Trí Năng Hoạt Động
Trung tâm cổ họng.
Ray four
Harmony through Conflict
Ajna centre.
Cung bốn
Hài Hoà qua Xung Đột
Trung tâm ajna.
Ray five
Concrete Knowledge
Sacral centre.
Cung năm
Tri Thức Cụ Thể
Luân xa xương cùng.
Ray six
Devotion
Solar plexus.
Cung sáu
Hiến Dâng
Tùng thái dương.
Ray seven
Ceremonial Order
Base of spine.
Cung bảy
Trật Tự Nghi Thức
Đáy cột sống.
Much could be learned if one would gather all the data given on this subject into one book, thus relating what is known about the specific energy points to be found in the human frame. All that I can do here is to give a general idea of the subject, indicate certain lines of development and relationship anent the seven major centres, the seven major glands and the localities and areas in the human body where these glands and centres are to be found. I would also beg you to realise five facts:
Người ta có thể học được rất nhiều nếu gom toàn bộ dữ kiện đã được đưa ra về chủ đề này vào một cuốn sách, nhờ đó liên hệ những gì đã biết về các điểm năng lượng đặc thù được tìm thấy trong cơ thể con người. Tất cả những gì tôi có thể làm ở đây là đưa ra một ý niệm tổng quát về chủ đề này, chỉ ra một số đường phát triển và tương quan liên quan đến bảy trung tâm chính, bảy tuyến chính và các vị trí cùng khu vực trong cơ thể con người nơi các tuyến và trung tâm này được tìm thấy. Tôi cũng xin các bạn nhận ra năm sự kiện:
1. That undeveloped men are energised and galvanised into outer activity through the medium of the three centres below the diaphragm.
1. Rằng những người chưa phát triển được tiếp năng lượng và bị kích hoạt vào hoạt động bên ngoài thông qua ba trung tâm ở dưới cơ hoành.
2. That average man is beginning to function primarily through the solar plexus centre and to use it as a transferring centre of force for energies which must be carried from below the diaphragm to above the diaphragm.
2. Rằng con người trung bình đang bắt đầu hoạt động chủ yếu qua trung tâm tùng thái dương và sử dụng nó như một trung tâm chuyển dịch mãnh lực cho các năng lượng phải được mang từ dưới cơ hoành lên trên cơ hoành.
[522]
[522]
3. That the world aspirants are slowly being energised and controlled by the forces which are being transferred from the centres below the diaphragm to the throat centre and from the soul to the throat centre. This leads to creative activity of some kind.
3. Rằng những người chí nguyện của thế giới đang dần dần được tiếp năng lượng và được kiểm soát bởi các mãnh lực đang được chuyển từ các trung tâm dưới cơ hoành lên trung tâm cổ họng và từ linh hồn đến trung tâm cổ họng. Điều này dẫn đến hoạt động sáng tạo dưới một hình thức nào đó.
4. That the world disciples are beginning to be governed and controlled by the throat and heart centres and are also beginning to transfer the forces which have been raised to the heart and throat, to the ajna centre between the eyebrows, in the middle of the forehead. When this has been done, the man is then an integrated personality. The soul also stimulates the ajna centre.
4. Rằng các đệ tử thế giới đang bắt đầu được cai quản và kiểm soát bởi các trung tâm cổ họng và tim, đồng thời cũng đang bắt đầu chuyển các mãnh lực đã được nâng lên tim và cổ họng đến trung tâm ajna giữa hai lông mày, ở giữa trán. Khi điều này đã được thực hiện, con người khi ấy là một Phàm ngã tích hợp. Linh hồn cũng kích thích trung tâm ajna.
5. That the more advanced disciples and world initiates are also energised from two sources: by means of the energies raised up and lifted into the head from all the centres in the body, and by those which pour into the human frame from the soul, via the highest centre at the top of the head.
5. Rằng các đệ tử tiến bộ hơn và các điểm đạo đồ thế giới cũng được tiếp năng lượng từ hai nguồn: bằng các năng lượng được nâng lên và đưa vào đầu từ mọi trung tâm trong cơ thể, và bằng những năng lượng tuôn vào cơ thể con người từ linh hồn, qua trung tâm cao nhất ở đỉnh đầu.
The whole process is, as you can see, one of development, use and transference, as is the case in all evolutionary development. There are two major transferring centres in the etheric body—the solar plexus and the throat—and one master centre through which the energy of the soul must pour when the right time comes, pouring consciously and with the full awareness of the disciple. That centre is the head centre, called in the Eastern philosophy “the thousand-petalled lotus”. The problem of the average man is, therefore, connected with the solar plexus. The problem of the disciple, the advanced aspirant and the initiate of the lower degrees is connected with the creative centre, the throat.
Toàn bộ tiến trình này, như các bạn có thể thấy, là một tiến trình phát triển, sử dụng và chuyển dịch, cũng như trường hợp của mọi sự phát triển tiến hoá. Có hai trung tâm chuyển dịch chính trong thể dĩ thái—tùng thái dương và cổ họng—và một trung tâm chủ đạo mà qua đó năng lượng của linh hồn phải tuôn vào khi thời điểm thích hợp đến, tuôn vào một cách có ý thức và với sự nhận biết trọn vẹn của đệ tử. Trung tâm đó là trung tâm đầu, được gọi trong triết học Đông phương là “hoa sen ngàn cánh”. Vì vậy, vấn đề của con người trung bình liên hệ với tùng thái dương. Vấn đề của đệ tử, của người chí nguyện tiến bộ và của điểm đạo đồ ở các cấp thấp liên hệ với trung tâm sáng tạo, tức trung tâm cổ họng.
I would here remind students that the following three [523] points, related to the transference of energy, must be borne in mind:
Ở đây tôi muốn nhắc các đạo sinh rằng ba [523] điểm sau đây, liên hệ đến sự chuyển dịch năng lượng, phải được ghi nhớ:
1. That there is a transference to be made from all the lower centres to higher ones and that this is usually done in two stages. This transference, carried on within the personality, is paralleled by the transference of spiritual energy from that reservoir of force we call the soul to the man on the physical plane. This becomes possible as the man makes the needed transference within himself. These transferences can take place in the course of the evolutionary process, or they can be hastened through the forced training given to disciples of all degrees.
1. Rằng có một sự chuyển dịch phải được thực hiện từ tất cả các trung tâm thấp lên các trung tâm cao hơn, và điều này thường được thực hiện trong hai giai đoạn. Sự chuyển dịch này, được tiến hành bên trong phàm ngã, song hành với sự chuyển dịch năng lượng tinh thần từ kho chứa mãnh lực mà chúng ta gọi là linh hồn đến con người trên cõi hồng trần. Điều này trở nên khả hữu khi con người thực hiện sự chuyển dịch cần thiết bên trong chính mình. Những sự chuyển dịch này có thể diễn ra trong tiến trình tiến hoá, hoặc có thể được thúc đẩy nhanh hơn qua sự huấn luyện cưỡng bách dành cho các đệ tử ở mọi cấp độ.
2. That, within this major field of activity, the following transferences will have to be made:
2. Rằng, trong lĩnh vực hoạt động lớn này, các sự chuyển dịch sau đây sẽ phải được thực hiện:
a. The energy of the centre at the base of the spine (the organ of the personal will) must be raised and carried up the spinal column to the head centre, via the ajna centre.
a. Năng lượng của trung tâm ở đáy cột sống (cơ quan của ý chí cá nhân) phải được nâng lên và mang dọc theo cột sống đến trung tâm đầu, qua trung tâm ajna.
b. The energy of the sacral centre (governing the sexual life and the organs of physical creation) must be raised to the throat centre, which becomes the organ of creative activity of a non-physical nature.
b. Năng lượng của trung tâm xương cùng (chi phối đời sống tính dục và các cơ quan sáng tạo hồng trần) phải được nâng lên trung tâm cổ họng, trung tâm này trở thành cơ quan của hoạt động sáng tạo có bản chất phi hồng trần.
c. The energy of the solar plexus (the organ of self-conscious personal desire) must be raised to the heart and there transmuted into group service.
c. Năng lượng của tùng thái dương (cơ quan của dục vọng cá nhân có ngã thức) phải được nâng lên tim và tại đó được chuyển hoá thành phụng sự nhóm.
3. That all these centres are developed and brought into activity in three stages, and thus progressively condition the outer aspects of a mans life:
3. Rằng tất cả các trung tâm này được phát triển và được đưa vào hoạt động trong ba giai đoạn, và nhờ đó dần dần tác động lên các phương diện bên ngoài của đời sống một con người:
a. There is a period wherein the centres are active only in a sluggish and semi-dormant manner: the forces of [524] which they are formed, and which they express, move slowly and with a heavy inert rhythm; the light which can be seen wherever there is a centre is dim; the point of electric potency at the centre (the “heart of the lotus or chakra,” the hub of the wheel, as it is esoterically termed in the Oriental teaching) is relatively quiescent. There is just enough energy pouring into the centre to produce the preservation of life, the smooth functioning of the instinctual nature, plus a tendency to react, in a fluctuating and unintelligent manner to stimuli coming from the astral plane, via the individual astral body.
a. Có một thời kỳ trong đó các trung tâm chỉ hoạt động một cách trì trệ và nửa ngủ yên: các mãnh lực [524] mà chúng được cấu thành từ đó, và mà chúng biểu lộ, vận động chậm chạp với một nhịp điệu nặng nề, trì trệ; ánh sáng có thể được thấy ở bất cứ nơi nào có một trung tâm thì mờ nhạt; điểm quyền năng điện ở trung tâm (được gọi theo nội môn trong giáo huấn Đông phương là “tim của hoa sen hay luân xa”, trục của bánh xe) tương đối tĩnh lặng. Chỉ có vừa đủ năng lượng tuôn vào trung tâm để duy trì sự bảo tồn sự sống, sự vận hành trơn tru của bản chất bản năng, cộng với khuynh hướng đáp ứng, theo một cách dao động và không thông minh, với các kích thích đến từ cõi cảm dục qua thể cảm dục cá nhân.
b. A period wherein there takes place a definite heightening and intensifying of force. The light of the centres is brighter and the solar plexus centre, in particular, becomes very active. As yet, all the real life of the man is focussed below the diaphragm. The centres above the diaphragm are dim and dull and relatively inactive; the point at the centre is, however, more electrical and dynamic. At this stage, the man is the average intelligent citizen, predominantly controlled by his lower nature and his emotional reactions, with what mind he has actively employed in bringing satisfaction to his needs. His centres are the receivers primarily of physical and astral forces, but occasionally respond to mental impacts.
b. Một thời kỳ trong đó diễn ra sự nâng cao và tăng cường mãnh lực một cách rõ rệt. Ánh sáng của các trung tâm sáng hơn, và đặc biệt trung tâm tùng thái dương trở nên rất hoạt động. Khi ấy, toàn bộ đời sống thực sự của con người vẫn còn tập trung dưới cơ hoành. Các trung tâm trên cơ hoành thì mờ tối, đờ đẫn và tương đối bất hoạt; tuy nhiên, điểm ở trung tâm lại mang tính điện và năng động hơn. Ở giai đoạn này, con người là một công dân thông minh trung bình, chủ yếu bị kiểm soát bởi bản chất thấp của mình và các phản ứng cảm xúc của mình, với chút trí tuệ mà y có được dùng một cách tích cực để đem lại sự thoả mãn cho các nhu cầu của mình. Các trung tâm của y chủ yếu là những cơ quan tiếp nhận các mãnh lực hồng trần và cảm dục, nhưng đôi khi cũng đáp ứng với các tác động trí tuệ.
c. A period wherein the first transference is being made. This can last a long time and cover several lives. The centres below the diaphragm are fully awakened; their activity is great; their light is vivid; their interrelation is real, so much so that a complete magnetic field has been set up involving the whole area below the diaphragm and becoming potent enough to extend its [525] influence above the diaphragm. The solar plexus becomes the dominant organ in the place of the sacral centre which has so long determined the life of the animal nature. It becomes the recipient of energy streams from below which it absorbs and starts on its task of deflecting them and transferring them to the higher centres. The man is now the highly intelligent citizen and aspirant. He is conscious of the dualism of his nature, of that which is below and of that which is above, as it has been called, and is ready to tread the Probationary Path.
c. Một thời kỳ trong đó sự chuyển dịch đầu tiên đang được thực hiện. Điều này có thể kéo dài lâu và bao trùm nhiều kiếp sống. Các trung tâm dưới cơ hoành hoàn toàn được thức tỉnh; hoạt động của chúng rất lớn; ánh sáng của chúng rực rỡ; sự tương quan giữa chúng là có thực, đến nỗi một từ trường hoàn chỉnh đã được thiết lập bao trùm toàn bộ khu vực dưới cơ hoành và trở nên đủ mạnh để mở rộng [525] ảnh hưởng của nó lên trên cơ hoành. Tùng thái dương trở thành cơ quan chi phối thay cho trung tâm xương cùng, vốn từ lâu đã quyết định đời sống của bản chất thú tính. Nó trở thành cơ quan tiếp nhận các dòng năng lượng từ bên dưới mà nó hấp thụ và bắt đầu công việc làm lệch hướng chúng rồi chuyển chúng đến các trung tâm cao hơn. Con người lúc này là một công dân rất thông minh và là một người chí nguyện. Y ý thức được tính nhị nguyên của bản chất mình, của điều ở bên dưới và điều ở bên trên, như đã được gọi như thế, và sẵn sàng bước lên Con Đường Dự Bị.
d. A period wherein the transference is continued. The sacral forces are carried to the throat and the solar plexus forces are carried to the heart. The latter transference is as yet of so small a measure that the effect of the transference is almost negligible. This period is a long and very difficult one. Today, most people are going through periods c and d, which are preparatory to the expression of the mystical life.
d. Một thời kỳ trong đó sự chuyển dịch được tiếp tục. Các mãnh lực xương cùng được mang đến cổ họng và các mãnh lực tùng thái dương được mang đến tim. Sự chuyển dịch sau này vẫn còn ở mức quá nhỏ đến nỗi hiệu quả của nó hầu như không đáng kể. Đây là một thời kỳ dài và rất khó khăn. Ngày nay, phần lớn mọi người đang trải qua các thời kỳ c và d, là những giai đoạn chuẩn bị cho sự biểu lộ của đời sống thần bí.
e. A period wherein the heart and throat centres are brought into activity. The man is creatively intelligent along some line or other and is slowly becoming group conscious. As yet, however, his reactions are still selfishly motivated though—at the same time—he is subject to cycles of vision and periods of spiritual effort. The mystical life is definitely attracting him. He is becoming the mystic.
e. Một thời kỳ trong đó các trung tâm tim và cổ họng được đưa vào hoạt động. Con người trở nên thông minh sáng tạo theo một đường lối nào đó và đang dần dần trở nên có tâm thức nhóm. Tuy nhiên, các phản ứng của y vẫn còn được thúc đẩy một cách ích kỷ, dù đồng thời y vẫn chịu những chu kỳ linh ảnh và những giai đoạn nỗ lực tinh thần. Đời sống thần bí rõ rệt đang hấp dẫn y. Y đang trở thành nhà thần bí.
f. A second period of transference ensues and the ajna centre, which governs the integrated personality, becomes active and dominant. The life of feeling and of mystical effort is, at this time, liable to die down temporarily in its expressed fervour and ardent disciplines, and personality integration, personality ambitions [526] personality aims and personality expression take its place. This is a right and good change and tends correctly to a rounded out development. It is only temporary, for still the mystic sleeps beneath the outer activity and the intelligent worldly effort, and will emerge again to living endeavour when the mind nature has been fully aroused and is controlling, when desire for mental satisfaction has been satiated and the “son of God is ready to arise and enter the Father’s house”. During this period, we find the intelligently creative or the powerful man will come to the zenith of his personality life. The centres below the head will all be active and functioning, but the centres below the diaphragm will be subordinated to and controlled by those found above. They are subject then to the conditioning will of the man who is governed at this time by ambition, intellectual expediency and that form of group work which tends to the expression of his personality potency. The ajna centre is vivid and potent; the throat centre is intensely active and the heart centre is rapidly awakening.
f. Tiếp theo là một thời kỳ chuyển dịch thứ hai, và trung tâm ajna, trung tâm chi phối phàm ngã tích hợp, trở nên hoạt động và chi phối. Đời sống cảm xúc và nỗ lực thần bí vào lúc này có thể tạm thời lắng xuống trong nhiệt tâm biểu lộ và các kỷ luật sốt sắng của nó, và sự tích hợp phàm ngã, các tham vọng của phàm ngã, [526] các mục tiêu của phàm ngã và sự biểu lộ của phàm ngã sẽ thay thế. Đây là một thay đổi đúng đắn và tốt lành, và có khuynh hướng dẫn đến một sự phát triển toàn diện một cách chính xác. Nó chỉ là tạm thời, vì nhà thần bí vẫn còn ngủ bên dưới hoạt động bên ngoài và nỗ lực thông minh thế tục, và sẽ lại xuất hiện để nỗ lực sống động khi bản chất trí tuệ đã được đánh thức hoàn toàn và đang kiểm soát, khi dục vọng đối với sự thoả mãn trí tuệ đã được làm cho no đủ và “Con của Thượng đế sẵn sàng đứng dậy và bước vào nhà Cha”. Trong thời kỳ này, chúng ta thấy con người sáng tạo một cách thông minh hoặc con người đầy quyền lực sẽ đạt đến đỉnh cao của đời sống phàm ngã của mình. Các trung tâm dưới đầu tất cả đều sẽ hoạt động và vận hành, nhưng các trung tâm dưới cơ hoành sẽ bị đặt dưới và bị kiểm soát bởi những trung tâm ở phía trên. Khi ấy chúng phục tùng ý chí tác động của con người, kẻ vào lúc này bị chi phối bởi tham vọng, sự thuận tiện trí tuệ và hình thức công việc nhóm có khuynh hướng biểu lộ quyền năng phàm ngã của mình. Trung tâm ajna rực sáng và mạnh mẽ; trung tâm cổ họng cực kỳ hoạt động và trung tâm tim đang thức tỉnh nhanh chóng.
g. A period wherein the highest head centre is brought into radiant activity. This occurs as the result of the uprising (in a fresh and more potent manner) of the mystical instinct, plus, this time, an intelligent approach to reality. The result is twofold:
g. Một thời kỳ trong đó trung tâm đầu cao nhất được đưa vào hoạt động rạng ngời. Điều này xảy ra như kết quả của sự trỗi dậy (theo một cách mới mẻ và mạnh mẽ hơn) của bản năng thần bí, cộng thêm lần này là một sự tiếp cận thực tại bằng trí tuệ. Kết quả có hai mặt:
1. The soul begins to pour its energy into all the etheric or vital centres, via the head centre.
1. Linh hồn bắt đầu tuôn năng lượng của nó vào tất cả các trung tâm dĩ thái hay sinh lực, qua trung tâm đầu.
2. The point at the heart of each centre comes into its first real activity; it becomes radiant, brilliant, magnetic and forceful, so that it “dims the light of all that lies around.”
2. Điểm ở tim của mỗi trung tâm đi vào hoạt động thực sự đầu tiên của nó; nó trở nên rạng ngời, sáng chói, từ tính và đầy mãnh lực, đến nỗi nó “làm mờ ánh sáng của mọi điều nằm quanh nó.”
[527]
[527]
All the centres in the body are then swept into ordered activity by the forces of love and will. Then takes place the final transference of all the bodily and psychic energies into the head centre through the awakening of the centre at the base of the spine. Then the great Polar opposites, as symbolised and expressed by the head centre (the organ of spiritual energy) and the centre at the base of the spine (the organ of the material forces) are fused and blended and from this time on the man is controlled only from above, by the soul.
Khi ấy tất cả các trung tâm trong cơ thể đều được cuốn vào hoạt động có trật tự bởi các mãnh lực của bác ái và ý chí. Khi đó diễn ra sự chuyển dịch cuối cùng của mọi năng lượng thể xác và thông linh vào trung tâm đầu qua sự thức tỉnh của trung tâm ở đáy cột sống. Khi ấy hai cực đối nghịch lớn, như được biểu tượng hoá và biểu lộ bởi trung tâm đầu (cơ quan của năng lượng tinh thần) và trung tâm ở đáy cột sống (cơ quan của các mãnh lực vật chất), được dung hợp và hòa trộn, và từ thời điểm này trở đi con người chỉ còn được kiểm soát từ bên trên, bởi linh hồn.
There are, consequently, two points to be borne in mind as we study the mystic and his difficulties; first of all, the period of awakening and subsequent utilisation of the centres and, secondly, the period of the transference of energy from the solar plexus to the heart, and then from all the four centres up the spine to the throat centre, prior to the focussing of the energy of all the centres in the ajna centre (between the eyebrows). This centre is the controlling one in the personality life and from it goes all personality direction and guidance to the five lower centres which it synthesises. Each of these stages brings with it its own difficulties and problems. We shall, however, concern ourselves with these problems only as they affect present opportunity or hinder the man who finds himself upon the Path and is, therefore, taking his own evolution in hand. Then he stands “midway between the pairs of opposites” and this means (as far as our particular interest at this time is concerned) that we shall find three stages in the mystical work, each of which will mark a definite point of crisis, with its attendant tests and trials:
Do đó, có hai điểm cần được ghi nhớ khi chúng ta nghiên cứu nhà thần bí và các khó khăn của y; trước hết là thời kỳ thức tỉnh và sử dụng tiếp theo của các trung tâm, và thứ hai là thời kỳ chuyển dịch năng lượng từ tùng thái dương lên tim, rồi từ cả bốn trung tâm dọc theo cột sống lên trung tâm cổ họng, trước khi năng lượng của mọi trung tâm được tập trung vào trung tâm ajna (giữa hai lông mày). Trung tâm này là trung tâm kiểm soát trong đời sống phàm ngã, và từ đó phát ra mọi sự chỉ đạo và hướng dẫn của phàm ngã đến năm trung tâm thấp mà nó tổng hợp. Mỗi giai đoạn này đều mang theo những khó khăn và vấn đề riêng của nó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến những vấn đề này trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến cơ hội hiện tại hoặc cản trở con người thấy mình đang ở trên Con Đường và vì vậy đang tự nắm lấy sự tiến hoá của chính mình. Khi ấy y đứng “ở giữa các cặp đối nghịch”, và điều này có nghĩa là (xét theo mối quan tâm đặc biệt của chúng ta vào lúc này) chúng ta sẽ thấy có ba giai đoạn trong công việc thần bí, mỗi giai đoạn sẽ đánh dấu một điểm khủng hoảng rõ rệt, với các thử thách và khảo nghiệm đi kèm:
1. The stage wherein transference is made of all the lower [528] energies into the solar plexus, preparatory to carrying them to the throat and heart centres above the diaphragm. This stage covers not only the process of transference but also that of focussing the forces in the higher centres.
1. Giai đoạn trong đó sự chuyển dịch được thực hiện từ tất cả các năng lượng thấp [528] vào tùng thái dương, để chuẩn bị mang chúng lên các trung tâm cổ họng và tim ở trên cơ hoành. Giai đoạn này không chỉ bao gồm tiến trình chuyển dịch mà còn cả tiến trình tập trung các mãnh lực trong các trung tâm cao hơn.
Period
The later stages of the Path of Probation and the early stages of the Path of Discipleship.
Giai Đoạn
Các giai đoạn sau của Con Đường Dự Bị và các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử.
Keynote
Discipline.
Chủ Âm
Kỷ Luật.
Objective
Idealism, plus personality effort. Purification and control.
Mục Tiêu
Chủ nghĩa lý tưởng, cộng thêm nỗ lực phàm ngã. Thanh tịnh và kiểm soát.
2. The stage wherein transference is made into the ajna centre and the personality life becomes integrated and powerful.
2. Giai đoạn trong đó sự chuyển dịch được thực hiện vào trung tâm ajna và đời sống phàm ngã trở nên tích hợp và mạnh mẽ.
Period
The later stages of the Path of Discipleship and up till the time of the third initiation.
Giai Đoạn
Các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và cho đến thời điểm lần điểm đạo thứ ba.
Keynote
Expression of the soul, through the medium of the personality.
Chủ Âm
Biểu lộ của linh hồn, qua phương tiện của phàm ngã.
Objective
The understanding of the Plan and consequent cooperation with it.
Mục Tiêu
Sự thấu hiểu Thiên Cơ và sự hợp tác với Thiên Cơ nảy sinh từ sự thấu hiểu ấy.
Then comes the third and final stage with which we need not concern ourselves wherein there is a complete blending of the bodily forces (focussed through the ajna centre) with the Soul forces, (focussed through the head centre). It is at this time that there comes the final evocation of the personality will (purified and consecrated) which has been “sleeping, coiled like the serpent of wisdom” at the base of the spine; this surges upward on the impulse of devotion, aspiration and enlightened will and thus fuses itself in the head with the spiritual will. This is the final raising, by an act of discriminating determination, of the kundalini fire. This raising takes place in three stages, or impulses:
Sau đó đến giai đoạn thứ ba và cuối cùng mà chúng ta không cần quan tâm ở đây, trong đó có sự hòa trộn hoàn toàn các mãnh lực thể xác (được tập trung qua trung tâm ajna) với các mãnh lực của Linh hồn (được tập trung qua trung tâm đầu). Chính vào lúc này diễn ra sự gợi lên cuối cùng của ý chí phàm ngã (đã được thanh lọc và thánh hiến), vốn đã “ngủ yên, cuộn lại như con rắn minh triết” ở đáy cột sống; nó dâng lên theo xung lực của sự sùng tín, khát vọng và ý chí được soi sáng, và nhờ đó tự dung hợp trong đầu với ý chí tinh thần. Đây là sự nâng lên cuối cùng, bằng một hành vi quyết tâm có phân biện, của lửa kundalini. Sự nâng lên này diễn ra trong ba giai đoạn, hay ba xung lực:
[529]
[529]
1. The stage wherein the lower energies are carried to the solar plexus centre.
1. Giai đoạn trong đó các năng lượng thấp được mang đến trung tâm tùng thái dương.
2. The stage wherein these energies, pouring through to the heart, are blended with it and carried to the throat.
2. Giai đoạn trong đó các năng lượng này, tuôn qua tim, được hòa trộn với tim và được mang đến cổ họng.
3. The stage wherein all the five lower forms of energy are focussed in the ajna centre in the head.
3. Giai đoạn trong đó cả năm hình thức năng lượng thấp được tập trung trong trung tâm ajna ở đầu.
Students might here ask: Are there any other energies below the diaphragm, except those of the sacral centre and those focussed in the centre at the base of the spine which are carried up to the ajna centre via the solar plexus centre? There are quite a large number of lesser centres and their energies, but I am not specifying them in detail for the sake of clarity; we shall deal here only with the major centres and their effects and inter-relations. The subject is abstruse and difficult in any case without our complicating it unduly. There are energies, for instance, pouring into the spleen from planetary sources as well as into two small centres situated close to the kidneys, one on either side, besides several others and these forces must all be understood, transmuted, transformed and transferred. It is interesting to note that the two little centres close to the kidneys are related to the lower levels of the astral plane and let loose into the system much of the fear, etc., which is the distinguishing factor in those subplanes. They are, therefore, found close to the centre which can control them because even the modern endocrinologist knows that the adrenal glands, when stimulated, produce (as a psychological result of a physical happening) an access of courage and a form of directed will which enables achievements to be carried out that are, at other time, well-nigh impossible.
Ở đây các đạo sinh có thể hỏi: Có những năng lượng nào khác ở dưới cơ hoành, ngoài những năng lượng của trung tâm xương cùng và những năng lượng được tập trung trong trung tâm ở đáy cột sống, được mang lên trung tâm ajna qua trung tâm tùng thái dương hay không? Có khá nhiều trung tâm nhỏ hơn và các năng lượng của chúng, nhưng tôi không nêu chi tiết vì mục đích rõ ràng; ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến các trung tâm chính và các hiệu quả cùng tương quan của chúng. Dù sao chủ đề này cũng đã khó hiểu và phức tạp rồi, không cần làm nó phức tạp quá mức. Chẳng hạn, có những năng lượng tuôn vào lá lách từ các nguồn hành tinh cũng như vào hai trung tâm nhỏ nằm gần thận, một ở mỗi bên, ngoài ra còn một số trung tâm khác, và tất cả các mãnh lực này đều phải được thấu hiểu, chuyển hoá, chuyển đổi và chuyển dịch. Điều thú vị là hai trung tâm nhỏ gần thận có liên hệ với các cấp thấp của cõi cảm dục và giải phóng vào hệ thống rất nhiều nỗi sợ hãi, v.v., vốn là yếu tố đặc trưng của các cõi phụ đó. Vì vậy chúng được tìm thấy gần trung tâm có thể kiểm soát chúng, bởi ngay cả nhà nội tiết học hiện đại cũng biết rằng các tuyến thượng thận, khi được kích thích, sẽ tạo ra (như một kết quả tâm lý của một biến cố hồng trần) một sự gia tăng can đảm và một hình thức ý chí có định hướng, khiến cho những thành tựu có thể được thực hiện mà vào lúc khác gần như là không thể.
I would like here to point out that the statement so frequently made in occult books that “kundalini sleeps” is only partially true. The centre at the base of the spine is subject to [529] the same rhythmic life as are the other centres. The specific period wherein “kundalini awakes” refers to that period wherein the “point at the centre” becomes vibrant, potent and active: its forces can then penetrate throughout the entire spinal area until the highest head centre is reached. This, however, would not be possible had there not been three earlier “uprisings of the latent force of will”. These uprisings serve to clear the passage up the spine, penetrating and destroying the etheric web which separates each centre and the area it controls from the next above.
Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng lời phát biểu thường gặp trong các sách huyền bí học rằng “kundalini ngủ yên” chỉ đúng một phần. Trung tâm ở đáy cột sống cũng chịu sự chi phối của [529] cùng một đời sống nhịp điệu như các trung tâm khác. Thời kỳ đặc biệt trong đó “kundalini thức dậy” ám chỉ thời kỳ trong đó “điểm ở trung tâm” trở nên rung động, mạnh mẽ và hoạt động: khi ấy các mãnh lực của nó có thể xuyên suốt toàn bộ vùng cột sống cho đến khi đạt tới trung tâm đầu cao nhất. Tuy nhiên, điều này sẽ không thể xảy ra nếu trước đó không có ba lần “trỗi dậy của mãnh lực ý chí tiềm ẩn”. Những lần trỗi dậy này có tác dụng khai thông lối đi dọc theo cột sống, xuyên thủng và phá hủy màng dĩ thái ngăn cách mỗi trung tâm và khu vực mà nó kiểm soát với trung tâm kế trên.
All these transferences and interior organisation produce normally and naturally turmoil and conflict in the life of the mystic, causing difficulties of a definitely psychological nature and frequently pathological trouble as well. You have to note consequently, the series of transference, psychological difficulty and pathological results.
Tất cả những sự chuyển dịch và tổ chức nội tại này, một cách bình thường và tự nhiên, tạo ra xáo trộn và xung đột trong đời sống của nhà thần bí, gây nên những khó khăn có bản chất rõ rệt là tâm lý và thường cả những rối loạn bệnh lý nữa. Vì vậy, các bạn phải lưu ý chuỗi gồm sự chuyển dịch, khó khăn tâm lý và các kết quả bệnh lý.
For instance, these ideas may clarify themselves in your mind if I point out certain facts, relating to the sacral centre which for so long a period of time governs the animal and physical creative life of the human being. During the processes of evolution, the sacral centre passes through the stages of automatic unconscious use, such as you find in purely animal man; then use under the urge of desire for pleasure and physical satisfaction, wherein the imagination is beginning to exert its influence; next comes the period wherein there is the conscious subordination of the life to the sex impulse. This is of a different nature to the first mentioned. Sex becomes a dominating thought in the consciousness, and many people today are passing through this stage and everybody at some time or in some life passes through it. This is followed by a period of transference wherein the physical pull of sex and the urge to physical creation is not so dominant and the forces begin to be gathered up into the solar plexus. There they will [531] be controlled largely by the astral imaginative life far more than by the unconscious animal or the conscious desire life. They blend there with the forces of the solar plexus itself and gradually are carried up to the throat centre, but always via the heart centre. Here we find a major point of difficulty for the mystic who is rapidly coming into being and functioning activity. He becomes painfully conscious of duality, of the pull of the world and of the mystical vision, of divine possibilities and personality potencies, of love in place of desire and attraction, of divine relationship instead of human relations. But this whole subject is still interpreted in terms of duality. Sex is still imaginatively in his consciousness and is not relegated to a balanced place among the other instincts of the human nature; the result is an almost pathological interest in the symbolism of sex and what might be called a spiritualised sex life. This tendency is amply exemplified in the writings and experiences of many of the mystics of the middle ages. We find such expressions as the “bride of Christ”, the “marriage in the Heavens”, the picture of Christ as the “heavenly bridegroom” and many such symbols and phrases. In the Song of Solomon, you find a masculine rendition of the same basically sexual approach to the soul and its all embracing life.
Chẳng hạn, những ý tưởng này có thể tự làm sáng tỏ trong trí của các bạn nếu tôi chỉ ra một số sự kiện liên quan đến trung tâm xương cùng, vốn trong một thời kỳ rất dài chi phối đời sống sáng tạo động vật và hồng trần của con người. Trong các tiến trình tiến hoá, trung tâm xương cùng đi qua các giai đoạn sử dụng tự động và vô thức, như các bạn thấy nơi người thú thuần túy; rồi đến sự sử dụng dưới sự thôi thúc của ham muốn khoái lạc và thỏa mãn thể xác, trong đó sự tưởng tượng bắt đầu phát huy ảnh hưởng của nó; kế đó là giai đoạn trong đó đời sống được đặt dưới sự lệ thuộc có ý thức vào xung lực tính dục. Điều này có bản chất khác với điều được nhắc đến trước tiên. Tính dục trở thành một tư tưởng chi phối trong tâm thức, và ngày nay nhiều người đang trải qua giai đoạn này, và mọi người vào một lúc nào đó hay trong một kiếp sống nào đó đều đi qua nó. Tiếp theo là một giai đoạn chuyển dịch, trong đó sức hút hồng trần của tính dục và xung lực sáng tạo hồng trần không còn quá chi phối nữa, và các mãnh lực bắt đầu được gom lại vào tùng thái dương. Tại đó, chúng sẽ [531] được kiểm soát phần lớn bởi đời sống tưởng tượng cảm dục hơn nhiều so với bởi đời sống động vật vô thức hay đời sống ham muốn có ý thức. Tại đó chúng hòa trộn với các mãnh lực của chính tùng thái dương và dần dần được đưa lên trung tâm cổ họng, nhưng luôn luôn qua trung tâm tim. Ở đây chúng ta thấy một điểm khó khăn lớn đối với nhà thần bí đang nhanh chóng xuất hiện và hoạt động hữu hiệu. Y trở nên đau đớn ý thức về nhị nguyên tính, về sức kéo của thế gian và của linh ảnh thần bí, về các khả năng thiêng liêng và các tiềm lực của phàm ngã, về bác ái thay cho ham muốn và hấp dẫn, về tương quan thiêng liêng thay vì các quan hệ nhân loại. Nhưng toàn bộ chủ đề này vẫn còn được diễn giải theo các thuật ngữ của nhị nguyên tính. Tính dục vẫn còn hiện diện trong tâm thức của y qua sự tưởng tượng và chưa được đặt vào một vị trí quân bình giữa các bản năng khác của bản chất con người; kết quả là một sự quan tâm gần như bệnh hoạn đến biểu tượng học của tính dục và điều có thể được gọi là một đời sống tính dục được tinh thần hóa. Khuynh hướng này được minh họa rất rõ trong các trước tác và kinh nghiệm của nhiều nhà thần bí thời trung cổ. Chúng ta thấy những cách diễn đạt như “hiền thê của Đức Christ”, “hôn phối trên Thiên giới”, hình ảnh Đức Christ như “chàng rể thiên thượng” và nhiều biểu tượng cùng cụm từ tương tự. Trong Diễm Ca của Solomon, các bạn sẽ thấy một cách diễn đạt mang tính nam giới của cùng một lối tiếp cận về căn bản là tính dục đối với linh hồn và đời sống bao trùm tất cả của nó.
These and many more unpleasant examples of a sex psychology are to be found, blended with a true and pronounced mystical aspiration and yearning, and a genuine longing for union with the divine. The cause of all this lies in the stage of transference. The lower energies are subject, as you can see, to two stages of transference: first, into the solar plexus and from thence to the throat centre. The throat centre is not, at this period, active enough or sufficiently awakened to absorb and utilise the sacral energies. They are arrested in some cases in their upward passage and retained temporarily in the heart [532] centre, producing the phenomena of sex urges (accompanied at times with definitely physical sexual reactions), of religious eroticism and a generally unwholesome attitude, ranging all the way from real sexuality to fanatical celibacy. This latter is as much an undesirable extreme as the other and produces most undesirable results. Frequently in the case of a male mystic there will be over developed sexual expression on the physical plane, perversions of different kinds or a pronounced homosexuality. In the case of women, there may be much disturbance of the solar plexus (instead of sacral disturbances) and consequent gastric trouble and an unwholesome imaginative life, ranging all the way from a feeble pruriency to definite forms of sexual insanity with (frequently) a strong religious bias at the same time. I would remind you here also of the fact that I am definitely dealing with abnormalities, and hence must touch upon that which is unpleasant. In the early stages of mystical development, if there were right guidance of the mental life and of thought, plus courageous explanation of process, a great deal of difficulty would later be avoided. These early stages resemble closely the interest shown by the adolescent both in sex and religion. The two are closely allied in this particular period of development. If right help can be given at this time by educators, parents and those concerned with the training of the young, certain undesirable tendencies—now so prevalent—would never grow into habits and thought states as they now do.
Những ví dụ này và nhiều ví dụ khó chịu khác của một tâm lý học tính dục có thể được tìm thấy, hòa lẫn với một khát vọng và niềm khao khát thần bí chân thực và rõ rệt, cùng một ước mong chân thành được hợp nhất với cõi thiêng liêng. Nguyên nhân của tất cả điều này chính trong giai đoạn chuyển dịch. Như các bạn có thể thấy, các năng lượng thấp chịu hai giai đoạn chuyển dịch: trước hết vào tùng thái dương và từ đó lên trung tâm cổ họng. Trung tâm cổ họng, trong giai đoạn này, chưa đủ hoạt động hay chưa đủ thức tỉnh để hấp thu và sử dụng các năng lượng xương cùng. Trong một số trường hợp, chúng bị chặn lại trên đường đi lên và tạm thời được giữ trong trung tâm tim [532], tạo ra hiện tượng các xung lực tính dục (đôi khi đi kèm với những phản ứng tính dục hồng trần rõ rệt), của sự nhục cảm tôn giáo và một thái độ nhìn chung không lành mạnh, trải dài từ tính dục thực sự đến độc thân cuồng tín. Điều sau này cũng là một cực đoan không đáng mong muốn chẳng kém gì điều kia và tạo ra những kết quả rất tai hại. Thường thường, trong trường hợp một nhà thần bí nam giới, sẽ có sự biểu lộ tính dục quá phát triển trên cõi hồng trần, những lệch lạc thuộc nhiều loại khác nhau hoặc một khuynh hướng đồng tính luyến ái rõ rệt. Trong trường hợp phụ nữ, có thể có nhiều rối loạn nơi tùng thái dương (thay vì rối loạn nơi xương cùng) và hậu quả là các chứng bệnh dạ dày cùng một đời sống tưởng tượng không lành mạnh, trải dài từ sự dâm ô yếu ớt đến những dạng điên loạn tính dục rõ rệt với (thường là) một thiên hướng tôn giáo mạnh mẽ đồng thời. Ở đây tôi cũng muốn nhắc các bạn về sự kiện rằng tôi rõ ràng đang đề cập đến những điều bất thường, và vì thế phải chạm đến những gì khó chịu. Trong các giai đoạn đầu của sự phát triển thần bí, nếu đời sống trí tuệ và tư tưởng được hướng dẫn đúng đắn, cộng với sự giải thích can đảm về tiến trình, thì về sau rất nhiều khó khăn sẽ được tránh khỏi. Những giai đoạn đầu này rất giống với mối quan tâm mà thanh thiếu niên biểu lộ đối với cả tính dục lẫn tôn giáo. Hai điều này liên hệ chặt chẽ với nhau trong giai đoạn phát triển đặc biệt này. Nếu vào lúc này có thể trao sự trợ giúp đúng đắn bởi các nhà giáo dục, cha mẹ và những người quan tâm đến việc huấn luyện giới trẻ, thì một số khuynh hướng không mong muốn—nay quá phổ biến—sẽ không bao giờ phát triển thành thói quen và trạng thái tư tưởng như hiện nay.
The next question which might most correctly emerge in the students consciousness could be stated as follows: How can this process of awakening the centres, of using them as channels for force (at first unconsciously and later with increasing consciousness), and finally of transferring the energy to ever higher centres,—produce problems, disease, and the many and varied difficulties of a phenomenal nature to which [533] humanity seems heir, once the mystical experience becomes a goal and appears desirable. I would again remind you that the whole problem must be interpreted in terms of the growth of consciousness and also in terms of the bringing together, in progressive stages, of various types of energy. The human body is, in the last analysis, an aggregate of energy units. In the vital body (thus conditioning the endocrine and lymphatic systems) are certain focal points through which energy pours into the physical body, producing an impression and a stimulation upon the atoms of the body and thus having a powerful effect upon the entire nervous system which it underlies in all parts. The vital or etheric body is the subtle counterpart of the physical body in its nervous structure and the energy centres condition and control the glandular system. Thus energies, influences, potencies and forces pour into and pass through the physical body—consciously in some cases, unconsciously in the majority of cases—from the three worlds of human enterprise and activity. When the heart centre and the head centres are awakened and used by the interior and the exterior forces, you have the beginning of the mystical and occult life.
Câu hỏi tiếp theo có thể nảy sinh một cách đúng đắn nhất trong tâm thức của đạo sinh có thể được phát biểu như sau: Làm thế nào tiến trình thức tỉnh các trung tâm, sử dụng chúng như những kênh dẫn cho mãnh lực (lúc đầu vô thức và về sau với tâm thức ngày càng tăng), và cuối cùng chuyển dịch năng lượng đến các trung tâm ngày càng cao hơn,—lại có thể tạo ra các vấn đề, bệnh tật, và nhiều khó khăn đa dạng thuộc bản chất hiện tượng mà [533] nhân loại dường như phải thừa hưởng, một khi kinh nghiệm thần bí trở thành một mục tiêu và tỏ ra đáng mong muốn. Tôi lại xin nhắc các bạn rằng toàn bộ vấn đề phải được diễn giải theo các thuật ngữ của sự tăng trưởng tâm thức và cũng theo các thuật ngữ của việc đưa lại gần nhau, qua các giai đoạn tiến triển, những loại năng lượng khác nhau. Xét đến cùng, thân thể con người là một tập hợp các đơn vị năng lượng. Trong thể sinh lực (do đó tác động lên các hệ nội tiết và bạch huyết) có những tiêu điểm nhất định mà qua đó năng lượng tuôn vào thể xác, tạo ra một ấn tượng và một sự kích thích lên các nguyên tử của thể xác, và như vậy có một tác động mạnh mẽ lên toàn bộ hệ thần kinh mà nó làm nền tảng trong mọi phần. Thể sinh lực hay thể dĩ thái là đối phần vi tế của thể xác trong cấu trúc thần kinh của nó, và các trung tâm năng lượng tác động lên và kiểm soát hệ tuyến. Như vậy, các năng lượng, ảnh hưởng, tiềm lực và mãnh lực tuôn vào và đi qua thể xác—trong một số trường hợp có ý thức, nhưng trong đa số trường hợp là vô thức—từ ba cõi thấp của nỗ lực và hoạt động nhân loại. Khi trung tâm tim và các trung tâm đầu được thức tỉnh và được sử dụng bởi các mãnh lực bên trong lẫn bên ngoài, các bạn có sự khởi đầu của đời sống thần bí và huyền bí học.
There are two reasons for this period of excessive difficulty:
Có hai lý do cho giai đoạn khó khăn quá mức này:
1. The thread of consciousness in the head is anchored in the neighborhood of the pineal gland. The thread of life is to be found anchored in the heart. The turning of the forces (found below the diaphragm) into the solar plexus and from thence into the heart and the head brings those two major streams of energy (one coming from the Monad via the soul body to the heart centre, and the other coming from the soul direct to the highest head centre) to the attention of the mystic. He then becomes aware of life possibilities and of the wide field which [534] consciousness can cover and of the area or the extension of its capacity. This is the period of interior awareness.
1. Sợi dây tâm thức trong đầu được neo ở vùng tuyến tùng. Sinh Mệnh Tuyến được tìm thấy neo trong tim. Việc chuyển các mãnh lực (nằm dưới cơ hoành) vào tùng thái dương và từ đó vào tim và đầu đưa hai dòng năng lượng lớn ấy (một dòng đến từ chân thần qua thể linh hồn đến trung tâm tim, và dòng kia đến trực tiếp từ linh hồn đến trung tâm đầu cao nhất) vào sự chú ý của nhà thần bí. Khi đó y trở nên nhận biết các khả năng của sự sống và cánh đồng rộng lớn mà [534] tâm thức có thể bao trùm, cũng như phạm vi hay sự mở rộng của năng lực nó. Đây là giai đoạn nhận biết nội tại.
2. The inflow of planetary and solar potencies, via the head centre to the heart and from thence to the other centres.
2. Sự tuôn vào của các tiềm lực hành tinh và thái dương, qua trung tâm đầu đến tim và từ đó đến các trung tâm khác.
This inflow produces:
Sự tuôn vào này tạo ra:
a. Stimulation of all the centres, major and minor, carried forward according to ray tendencies and influences.
a. Sự kích thích tất cả các trung tâm, lớn và nhỏ, được thúc đẩy theo các khuynh hướng và ảnh hưởng của cung.
b. The revelation of good and evil, that is, of the worlds of personality expression and of the world of soul expression. This dual process proceeds simultaneously.
b. Sự mặc khải về thiện và ác, tức là về các thế giới biểu lộ của phàm ngã và thế giới biểu lộ của linh hồn. Tiến trình nhị nguyên này diễn ra đồng thời.
c. The existence, therefore, of duality, which when realised and when the great opposites (soul and personality) are blended, can and will produce the at-one-ment.
c. Vì vậy, sự hiện hữu của nhị nguyên tính, mà khi được chứng nghiệm và khi hai cực đối nghịch lớn lao (linh hồn và phàm ngã) được dung hợp, có thể và sẽ tạo ra sự hợp nhất.
The result of these realisations in consciousness leads inevitably to struggle, conflict, and aspiration plus constant frustration; this process produces those adjustments which must be made as the man becomes increasingly aware of the goal and increasingly “alive”. The life expression (the threefold lower man) has to become accustomed to the new fields of consciousness and the opening areas of awareness, and to become used to the new powers which emerge, making the man able to enter more easily the wider fields of service which he is discovering. It might be stated here in a broad and general sense that—
Kết quả của những chứng nghiệm này trong tâm thức tất yếu dẫn đến đấu tranh, xung đột và khát vọng cộng với sự thất vọng thường xuyên; tiến trình này tạo ra những điều chỉnh phải được thực hiện khi con người ngày càng nhận biết mục tiêu và ngày càng “sống động”. Biểu lộ sự sống (phàm nhân tam phân) phải làm quen với những cánh đồng tâm thức mới và những vùng nhận biết đang mở ra, và phải quen với những quyền năng mới xuất hiện, khiến con người có thể đi vào dễ dàng hơn những cánh đồng phụng sự rộng lớn hơn mà y đang khám phá. Ở đây có thể nói theo một nghĩa rộng và tổng quát rằng—
1. Stimulation produces the awakening of the lower psychic powers if the incoming energy is directed to the solar plexus or to the throat centre. It produces the intense activities of the centres and this can, in the early stages, [535] cause definite psychic trouble. In illustration of this I would like to indicate the general nature of the difficulties to which the mystic can be physically prone:
1. Sự kích thích tạo ra sự thức tỉnh các quyền năng thông linh thấp nếu năng lượng đi vào được hướng đến tùng thái dương hay trung tâm cổ họng. Nó tạo ra những hoạt động mãnh liệt của các trung tâm và điều này, trong các giai đoạn đầu, [535] có thể gây ra những rối loạn thông linh rõ rệt. Để minh họa điều này, tôi muốn nêu ra bản chất tổng quát của những khó khăn mà nhà thần bí có thể dễ mắc phải về mặt thể chất:
a. The awakening of the head centre can produce serious trouble if brought about prematurely and even lead at times to insanity. Inflammation of certain areas of the brain and certain forms of brain tumours can be induced by a too rapid inflow of the highest form of energy which a man can receive prior to initiation. This takes place, however, only in those cases where the man is a highly developed person and of a mental type. In other cases of premature soul inflow, the energy pours through the opening at the top of the head and finds its way to some one or other of the centres, according to the ray type or stage of unfoldment. Where the greatest attention of the man’s consciousness and life force is focussed (even if unconsciously) to that point the incoming energy will almost automatically flow.
a. Sự thức tỉnh của trung tâm đầu có thể gây ra rối loạn nghiêm trọng nếu được mang lại quá sớm và thậm chí đôi khi dẫn đến điên loạn. Sự viêm ở một số vùng của não và một số dạng u não có thể bị gây ra bởi sự tuôn vào quá nhanh của dạng năng lượng cao nhất mà một người có thể tiếp nhận trước điểm đạo. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra trong những trường hợp mà người ấy là một người phát triển cao và thuộc loại trí tuệ. Trong những trường hợp khác của sự tuôn vào sớm của linh hồn, năng lượng tuôn qua lỗ mở trên đỉnh đầu và tìm đường đến một trung tâm nào đó, tùy theo loại cung hay giai đoạn khai mở. Nơi nào sự chú ý lớn nhất của tâm thức và sinh lực của con người được tập trung vào (dù là vô thức), thì năng lượng đi vào hầu như sẽ tự động chảy đến điểm đó.
b. The awakening of the ajna centre which is, as we have seen, primarily the result of the development of a man’s personality to the point of integration, can (if the energies involved are not correctly controlled) lead to serious eye trouble, to many aural difficulties, to various forms of neuritis, headache, migraine, and nerve difficulties in various parts of the body. It can produce also many difficulties connected with the pituitary body and psychological trouble emanating from this important controlling gland as well as definite physical trouble.
b. Sự thức tỉnh của trung tâm ajna mà như chúng ta đã thấy, chủ yếu là kết quả của sự phát triển phàm ngã của một người đến mức tích hợp, có thể (nếu các năng lượng liên hệ không được kiểm soát đúng đắn) dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng về mắt, nhiều khó khăn về tai, nhiều dạng viêm dây thần kinh, đau đầu, đau nửa đầu, và các rối loạn thần kinh ở nhiều phần khác nhau của cơ thể. Nó cũng có thể tạo ra nhiều khó khăn liên quan đến tuyến yên và những rối loạn tâm lý phát sinh từ tuyến kiểm soát quan trọng này cũng như những rối loạn thể chất rõ rệt.
c. The awakening of the heart centre (which is going on very rapidly at this time) is responsible for many [536] forms of heart trouble and for the various difficulties connected with the autonomic nervous system, particularly in relation to the vagus nerve. The prevalence of various forms of heart disease at this time, particularly among the intelligentsia, professional and financial classes, is due to the awakening of this centre and to the discovery of an unrecognised capacity in humanity to become group conscious, and to undertake group service. The thymus gland, which controls in a peculiar manner the life aspect in man, is closely connected with the heart centre, as might be expected. This gland must eventually become more active in the adult than is now the case, just as the pineal gland in the coming human races will no longer be an atrophied organism with its true functions not understood and comprehended, but it will be an active and important part of man’s equipment. This will take place normally and naturally as man learns to function as a soul and not just as a personality.
c. Sự thức tỉnh của trung tâm tim (đang diễn ra rất nhanh vào lúc này) chịu trách nhiệm cho nhiều [536] dạng bệnh tim và cho nhiều khó khăn khác nhau liên quan đến hệ thần kinh tự động, đặc biệt trong mối liên hệ với dây thần kinh phế vị. Sự phổ biến của nhiều dạng bệnh tim vào lúc này, đặc biệt trong giới trí thức, chuyên môn và tài chính, là do sự thức tỉnh của trung tâm này và do sự khám phá một năng lực chưa được nhận biết nơi nhân loại để trở nên có tâm thức nhóm và đảm nhận phụng sự nhóm. Tuyến ức, vốn kiểm soát một cách đặc biệt phương diện sự sống nơi con người, có liên hệ chặt chẽ với trung tâm tim, như có thể được mong đợi. Tuyến này cuối cùng phải trở nên hoạt động hơn nơi người trưởng thành so với hiện nay, cũng như tuyến tùng trong các giống dân tương lai sẽ không còn là một cơ quan teo lại với các chức năng đích thực chưa được hiểu và lĩnh hội, mà sẽ là một phần hoạt động và quan trọng trong trang bị của con người. Điều này sẽ diễn ra một cách bình thường và tự nhiên khi con người học cách hoạt động như một linh hồn chứ không chỉ như một phàm ngã.
d. Again, much trouble among people is due at this time to the awakening of the throat centre. This centre governs and conditions the thyroid gland and the parathyroids. It can produce, when unduly developed or prematurely awakened, hyper-thyroidism with its attendant difficulties and its often dangerous effects upon the heart and upon the metabolism of the body. The psychological effects are well-known and recognised. These difficulties are increased and this higher creative centre unduly stimulated and rendered a danger instead of an aid to expression by the enforced celibacy of many people, owing to the present unfortunate economic conditions. These conditions are such that people refrain from marriage and there is consequently [537] the lack of opportunity to use (or to misuse) the energy flowing through the sacral centre. Mystics are likewise prone to this difficulty. The throat centre is not used creatively nor is the sacral centre turned to its proper uses. The sacral energy is carried prematurely to the throat where it produces an intense stimulation. The equipment of the man concerned has not yet reached the point where it can be turned to creative work in any field. There is no creative expression of any kind as the development of the man does not permit him to be creative in the higher sense. The Swiss people, though highly intelligent, are not creative in this sense. The energy flowing through the thyroid gland is not used in creative art, music or writing in any outstanding manner, and hence the prevalence of goiter and thyroid difficulty. There is much energy flowing through and to the thyroid gland and, as yet, but little use made of it.
d. Một lần nữa, nhiều rối loạn nơi con người hiện nay là do sự thức tỉnh của trung tâm cổ họng. Trung tâm này cai quản và tác động lên tuyến giáp và các tuyến cận giáp. Khi phát triển quá mức hoặc thức tỉnh quá sớm, nó có thể tạo ra chứng cường giáp với những khó khăn đi kèm và những tác động thường nguy hiểm của nó lên tim và lên sự chuyển hóa của cơ thể. Những tác động tâm lý thì đã được biết rõ và công nhận. Những khó khăn này gia tăng, và trung tâm sáng tạo cao hơn này bị kích thích quá mức và trở thành một mối nguy thay vì một trợ lực cho biểu lộ, bởi tình trạng độc thân bị cưỡng bách của nhiều người do các điều kiện kinh tế bất hạnh hiện nay. Những điều kiện này khiến người ta kiêng kết hôn và hậu quả là [537] thiếu cơ hội để sử dụng (hay lạm dụng) năng lượng chảy qua trung tâm xương cùng. Các nhà thần bí cũng dễ mắc phải khó khăn này. Trung tâm cổ họng không được sử dụng một cách sáng tạo, mà trung tâm xương cùng cũng không được chuyển sang những công dụng thích hợp của nó. Năng lượng xương cùng được đưa lên cổ họng quá sớm, nơi nó tạo ra một sự kích thích mãnh liệt. Trang bị của người liên hệ chưa đạt đến mức có thể được chuyển sang công việc sáng tạo trong bất kỳ lĩnh vực nào. Không có biểu lộ sáng tạo nào dưới bất kỳ hình thức nào vì sự phát triển của người ấy chưa cho phép y sáng tạo theo nghĩa cao hơn. Người Thụy Sĩ, dù rất thông minh, lại không sáng tạo theo nghĩa này. Năng lượng chảy qua tuyến giáp không được dùng vào nghệ thuật sáng tạo, âm nhạc hay văn chương theo bất kỳ cách nổi bật nào, và vì thế bệnh bướu cổ và các rối loạn tuyến giáp rất phổ biến. Có nhiều năng lượng chảy qua và đến tuyến giáp, nhưng cho đến nay lại ít được sử dụng.
e. The increased activity and stimulation of the solar plexus centre today is a most fruitful source of trouble. It produces a great deal of the nervous difficulties to which women are particularly prone, and many of the stomach ills and liver troubles of the time, as well as intestinal difficulties. One of the most powerful sources of cancer in various parts of the body (except in the head and face) can esoterically be traced to the congestion of the energy of the solar plexus centre. This congestion has a general and widespread effect. Difficulties arising from the awakening of the heart centre and the solar plexus centre (for the two are closely allied and have a reciprocal action for a long time in the mystical experience) produce also a powerful effect upon the blood stream. They are connected with [538] the life principle which is ever “carried upon the waves of desire” (as the ancient writings put it) and this, when prevented from full expression, through lack of development or other causes, leads to cancerous areas in the body wherever there is a weakness in the bodily tissue.
e. Hoạt động gia tăng và sự kích thích của trung tâm tùng thái dương ngày nay là một nguồn rất phong phú của rối loạn. Nó tạo ra rất nhiều khó khăn thần kinh mà phụ nữ đặc biệt dễ mắc phải, và nhiều chứng bệnh dạ dày và gan của thời đại, cũng như các rối loạn đường ruột. Một trong những nguồn mạnh nhất của ung thư ở nhiều phần khác nhau của cơ thể (ngoại trừ ở đầu và mặt) có thể, một cách huyền bí, được truy nguyên về sự tắc nghẽn năng lượng của trung tâm tùng thái dương. Sự tắc nghẽn này có một tác động chung và lan rộng. Những khó khăn phát sinh từ sự thức tỉnh của trung tâm tim và trung tâm tùng thái dương (vì hai trung tâm này liên hệ chặt chẽ với nhau và có tác động hỗ tương trong một thời gian dài trong kinh nghiệm thần bí) cũng tạo ra một tác động mạnh mẽ lên dòng máu. Chúng liên hệ với [538] nguyên khí sự sống, vốn luôn luôn “được mang trên những làn sóng của ham muốn” (như các trước tác cổ xưa diễn tả) và điều này, khi bị ngăn cản không cho biểu lộ trọn vẹn, do thiếu phát triển hay các nguyên nhân khác, sẽ dẫn đến những vùng ung thư trong cơ thể ở bất cứ nơi nào có sự suy yếu trong mô cơ thể.
f. The awakening of the sacral centre is of such ancient origin that it is not possible at this time to trace the true history of the development of the difficulties connected with sexual expression, nor is it desirable. I have dealt with the subject of sex in my other treatises, particularly in A Treatise On White Magic. I call attention to it only because in the course of the mystical life there is often a period of sexual difficulty if the mystic has not previously learnt sexual control and unless it has assumed balanced proportions to his other life activities and natural instincts in his consciousness. Else, as he touches the heights of spiritual contact and brings in the energy of his soul to the personality, that energy will pass straight down to the sacral centre and not be arrested at the throat centre, as it rightly should be. When this occurs, then perversions of the sex life may take place, or an undue importance may be attached to the sex activity, or the sexual imagination can be dangerously stimulated, leading to lack of control and to many of the difficulties known to physicians and psychologists. The result is ever an overactivity of the sex life in some form or another.
f. Sự thức tỉnh của trung tâm xương cùng có nguồn gốc quá xa xưa đến nỗi hiện nay không thể truy nguyên lịch sử đích thực của sự phát triển những khó khăn liên quan đến biểu lộ tính dục, và điều đó cũng không đáng mong muốn. Tôi đã bàn đến chủ đề tính dục trong các luận thuyết khác của tôi, đặc biệt trong Luận về Chánh Thuật. Tôi chỉ lưu ý đến nó vì trong tiến trình của đời sống thần bí thường có một giai đoạn khó khăn về tính dục nếu nhà thần bí trước đó chưa học được sự kiểm soát tính dục và trừ phi nó đã mang những tỉ lệ quân bình so với các hoạt động sống khác và các bản năng tự nhiên trong tâm thức của y. Nếu không, khi y chạm đến những đỉnh cao của tiếp xúc tinh thần và mang năng lượng của linh hồn mình vào phàm ngã, năng lượng ấy sẽ đi thẳng xuống trung tâm xương cùng và không bị chặn lại ở trung tâm cổ họng như lẽ ra phải vậy. Khi điều này xảy ra, thì những lệch lạc của đời sống tính dục có thể diễn ra, hoặc hoạt động tính dục có thể bị gán cho một tầm quan trọng quá mức, hoặc sự tưởng tượng tính dục có thể bị kích thích một cách nguy hiểm, dẫn đến thiếu kiểm soát và đến nhiều khó khăn mà các y sĩ và nhà tâm lý học đều biết. Kết quả luôn luôn là một sự hoạt động quá mức của đời sống tính dục dưới hình thức này hay hình thức khác.
g. The awakening of the centre at the base of the spine during the final stages of the higher mystical experience carries with it its own dangers. These definitely affect the spine and consequently all the nerves which branch out in all directions from the spinal column. [539] The raising of the kundalini force—if brought about ignorantly and prematurely—may produce the rapid burning through of the protective web of etheric matter which separates the various areas of the body (controlled by the seven centres) from each other. This causes serious nervous trouble, inflammation of the tissues, spinal disease, and brain trouble.
g. Sự thức tỉnh của trung tâm ở đáy cột sống trong các giai đoạn cuối của kinh nghiệm thần bí cao hơn mang theo những nguy hiểm riêng của nó. Những nguy hiểm này rõ rệt tác động đến cột sống và do đó đến tất cả các dây thần kinh phân nhánh theo mọi hướng từ trụ sống. [539] Việc nâng mãnh lực kundalini lên—nếu được thực hiện một cách vô minh và quá sớm—có thể tạo ra sự đốt cháy nhanh chóng mạng lưới bảo vệ bằng vật chất dĩ thái, vốn ngăn cách các khu vực khác nhau của cơ thể (do bảy trung tâm kiểm soát) với nhau. Điều này gây ra những rối loạn thần kinh nghiêm trọng, viêm mô, bệnh cột sống và rối loạn não.
I have here hinted at some of the difficulties in an effort to give you a general picture of the problem of the mystic.
Ở đây tôi đã gợi ra một số khó khăn trong nỗ lực đem đến cho các bạn một bức tranh tổng quát về vấn đề của nhà thần bí.
2. Utilisation of a centre. Let me explain this phrase. Certain difficulties also arise when a centre is used to such an extent that the attention is withdrawn from the activity of the other centres and they are thus neglected. In this way, whole areas of consciousness can temporarily cease to be recognised. It should be remembered that the goal of all the mystic’s efforts should be to achieve a rounded-out development which brings into use sequentially, correctly and in conformity to right ray methods, all the different centres. Many people, however (once a centre is awakening and is subjectively stimulated) immediately find the utilisation of the centre to be the line of least resistance; they, therefore, begin to function almost exclusively through that centre. This can be well illustrated by two examples.
2. Sự sử dụng một trung tâm. Hãy để tôi giải thích cụm từ này. Một số khó khăn cũng phát sinh khi một trung tâm được sử dụng đến mức sự chú ý bị rút khỏi hoạt động của các trung tâm khác và vì thế chúng bị sao lãng. Theo cách này, toàn bộ những vùng tâm thức có thể tạm thời không còn được nhận biết. Cần nhớ rằng mục tiêu của mọi nỗ lực của nhà thần bí phải là đạt được một sự phát triển tròn đầy, đưa vào sử dụng một cách tuần tự, đúng đắn và phù hợp với các phương pháp cung đúng đắn, tất cả các trung tâm khác nhau. Tuy nhiên, nhiều người, một khi một trung tâm đang thức tỉnh và được kích thích một cách chủ quan, lập tức thấy việc sử dụng trung tâm ấy là con đường ít trở ngại nhất; vì vậy, họ bắt đầu hoạt động gần như chỉ qua trung tâm đó. Điều này có thể được minh họa rõ bằng hai ví dụ.
The solar plexus centre is, at this time, highly active among men and women everywhere. In every country millions of people are over-sensitised, emotional frequently to the point of hysteria, full of dreams, visions and fears, and highly nervous. This produces widespread gastric difficulties, indigestion, stomachic and liver ills and diseases, and intestinal disorders. To all of these the race today is exceedingly prone. To these are often [540] coupled all kinds of skin eruptions. The cause is twofold:
Trung tâm tùng thái dương hiện nay rất hoạt động nơi những người nam và nữ ở khắp nơi. Tại mọi quốc gia, hàng triệu người quá nhạy cảm, thường cảm xúc đến mức cuồng loạn, đầy những giấc mơ, linh ảnh và sợ hãi, và cực kỳ căng thẳng thần kinh. Điều này tạo ra những khó khăn lan rộng về dạ dày, chứng khó tiêu, các bệnh và rối loạn về dạ dày và gan, cùng các rối loạn đường ruột. Ngày nay nhân loại đặc biệt dễ mắc tất cả những điều này. Với những điều ấy thường còn [540] kèm theo đủ loại phát ban ngoài da. Nguyên nhân có hai mặt:
a. The over-stimulation of the solar plexus centre by its practically exclusive use, and by the consequent inflow of forces from the astral plane, to which the solar plexus is the wide open door.
a. Sự kích thích quá mức của trung tâm tùng thái dương do việc sử dụng gần như độc quyền nó, và do hậu quả là sự tuôn vào của các mãnh lực từ cõi cảm dục, mà tùng thái dương là cánh cửa mở rộng.
b. The increased and constant use of this centre as its rhythm and vibration get too powerful to control. The man then succumbs to the temptation to focus his life interest and attention in the astral world and to do this with increasing awareness, interest and phenomenal results.
b. Việc sử dụng gia tăng và liên tục trung tâm này khi nhịp điệu và rung động của nó trở nên quá mạnh để kiểm soát. Khi đó con người khuất phục trước cám dỗ tập trung mối quan tâm và sự chú ý của đời sống mình vào thế giới cảm dục và làm điều này với sự nhận biết, hứng thú và các kết quả hiện tượng ngày càng tăng.
The man is, therefore, a victim of forces which would otherwise produce a gathering together of that “which is lower” and their necessary transference into that which is higher. A needed purpose would then be served, but—in the case we are considering—these forces are all concentrated in that central area of the body which is intended to be simply the clearing house for that “which is below into that which is above”. Instead of this, there is set up a tremendous whirlpool of forces which not only produces physical difficulties of many kinds (as stated above) but which is also a fruitful source of the cleavages with which modern psychology is dealing at the time. So potent are the forces generated by the over use of the solar plexus (which is one of the most powerful of all the centres) and through the consequent flowing in of astral forces of every kind—thus augmenting the difficulties—that they assume eventually complete control of the life. The forces below the diaphragm and those above become separated by this vibrant and potent central force centre. Cleavage, astralism, delusions, hallucinations, nervous disorders of every kind and difficulties of a physical nature which definitely [541] involve the intestinal tract, the liver and the pancreas are only some of the problems which arise from the uncontrolled use of the solar plexus centre. The man becomes controlled by it and is not the controlling factor, as he is intended to be.
Vì vậy, con người trở thành nạn nhân của những mãnh lực mà lẽ ra sẽ tạo ra sự gom lại của “điều thấp hơn” và sự chuyển dịch cần thiết của chúng vào điều cao hơn. Khi đó một mục đích cần thiết đã được phụng sự, nhưng—trong trường hợp chúng ta đang xét—những mãnh lực này đều tập trung trong khu vực trung tâm ấy của cơ thể, vốn chỉ được dự định là trạm trung chuyển cho “điều ở dưới đi vào điều ở trên”. Thay vì vậy, một xoáy nước mãnh lực khổng lồ được thiết lập, không những tạo ra nhiều khó khăn thể chất đủ loại (như đã nói ở trên) mà còn là một nguồn phong phú của những sự phân ly mà tâm lý học hiện đại hiện đang đề cập đến. Những mãnh lực được tạo ra bởi việc lạm dụng tùng thái dương (vốn là một trong những trung tâm mạnh nhất) và bởi hậu quả là sự tuôn vào của các mãnh lực cảm dục đủ loại—do đó làm tăng thêm các khó khăn—mạnh đến nỗi cuối cùng chúng nắm quyền kiểm soát hoàn toàn đời sống. Các mãnh lực dưới cơ hoành và các mãnh lực ở trên trở nên tách rời bởi trung tâm mãnh lực trung ương rung động và mạnh mẽ này. Sự phân ly, cảm dục tính, ảo tưởng, ảo giác, các rối loạn thần kinh đủ loại và những khó khăn thuộc bản chất thể chất rõ rệt [541] liên quan đến đường ruột, gan và tụy chỉ là một số vấn đề phát sinh từ việc sử dụng không kiểm soát trung tâm tùng thái dương. Con người bị nó kiểm soát và không phải là yếu tố kiểm soát, như lẽ ra y phải là.
The second illustration is connected with the unfoldment of the heart centre with its recognition of the group life and consequent group responsibility. This today is rapidly growing and can be seen on every hand. Students are apt to think that the awakening of the heart centre and its consequent group recognitions must be expressed in terms of religion, of love and of divinity. They, therefore, make of it something spiritual, as that much misused word is understood by the orthodox religious man. But it is far more than that. The heart is connected with the life aspect, for there is the seat of the life principle and there is the life energy anchored. It is connected with synthesis, with the monad, and with all that is more than the separated self. Any group which is engineered and controlled by one man or by a group of men, whether it is a nation, or a big business institution or an organisation of some kind or another (such as a great hospital) is connected with the life which is found in the heart. This remains true even when the motive or motives are mixed and undesirable, or purely selfish. A business magnate controlling vast interests who has the lives of many people dependent upon the contingencies of a business which he may have founded and over which he presides, is beginning to work through the heart centre. Hence the prevalence of certain forms of heart trouble to which so many people of influence and power so frequently succumb. The heart becomes over-stimulated by the impact of the energies pouring in on the man who is subjected—among other things—to the directed thoughts of those connected with his organisation. Can you see why, therefore, the senior members of the Hierarchy, Who work through the [542] head and the heart centres, keep Themselves withdrawn from public life and much human contact? These two illustrations may help to clarify in your minds the sense in which I here use the term, “utilisation of a centre”.
Minh hoạ thứ hai có liên hệ với sự khai mở của trung tâm tim cùng với sự nhận biết đời sống nhóm và trách nhiệm nhóm phát sinh từ đó. Ngày nay, điều này đang tăng trưởng nhanh chóng và có thể thấy ở khắp nơi. Các đạo sinh thường có khuynh hướng nghĩ rằng sự thức tỉnh của trung tâm tim và những nhận biết nhóm phát sinh từ đó phải được biểu lộ dưới dạng tôn giáo, tình thương và thiên tính. Vì vậy, họ biến nó thành một điều gì đó tinh thần, theo cách mà từ ngữ bị lạm dụng quá nhiều ấy được người theo tôn giáo chính thống hiểu. Nhưng nó còn hơn thế rất nhiều. Tim có liên hệ với phương diện sự sống, vì đó là chỗ ngự của nguyên khí sự sống và năng lượng sự sống được neo tại đó. Nó có liên hệ với tổng hợp, với chân thần, và với tất cả những gì vượt lên trên phàm ngã biệt lập. Bất kỳ nhóm nào được một người hay một nhóm người tổ chức và kiểm soát, dù đó là một quốc gia, hay một cơ sở kinh doanh lớn, hay một tổ chức thuộc loại nào đó hoặc loại khác (chẳng hạn như một bệnh viện lớn), đều có liên hệ với sự sống được tìm thấy trong tim. Điều này vẫn đúng ngay cả khi động cơ hay các động cơ là pha tạp và không đáng mong muốn, hoặc hoàn toàn ích kỷ. Một nhà tài phiệt kinh doanh kiểm soát những quyền lợi rộng lớn, người mà đời sống của nhiều người lệ thuộc vào những biến cố của một công việc kinh doanh do y có thể đã sáng lập và đang chủ trì, đang bắt đầu hoạt động qua trung tâm tim. Do đó mới có sự phổ biến của một số dạng bệnh tim mà biết bao người có ảnh hưởng và quyền lực thường xuyên gục ngã vì chúng. Tim trở nên bị kích thích quá mức bởi tác động của các năng lượng tuôn vào con người đang chịu—trong nhiều điều khác—những tư tưởng có định hướng của những người có liên hệ với tổ chức của y. Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, Các Ngài hoạt động qua các trung tâm [542] đầu và tim, lại giữ mình tách khỏi đời sống công chúng và nhiều tiếp xúc với con người chăng? Hai minh hoạ này có thể giúp làm sáng tỏ trong tâm trí các bạn ý nghĩa mà ở đây tôi dùng thuật ngữ “sự sử dụng một trung tâm”.
3. In the period of transference wherein the forces of the body are in a state of abnormal flux and mutation, it will be obvious what danger there is for the mystic and the disciple, and how serious can be the results of any transference which is forced into effect instead of following the natural course of evolution. This accounts, partially, for the present world upheaval and chaos. The forces flowing through the masses of average intelligent men today (and by that I mean those men who are educated and able to recognise the world news and to discuss world events and trends) are constituting the experimental ground for the transference of the energy of the sacral centre to the solar plexus. This leads inevitably to turmoil, over-stimulation, revolt and many other difficulties.
3. Trong thời kỳ chuyển dịch, khi các mãnh lực của thân thể ở trong trạng thái lưu chuyển và biến đổi bất thường, sẽ hiển nhiên thấy được mối nguy cho nhà thần bí và đệ tử, và những kết quả của bất kỳ sự chuyển dịch nào bị cưỡng bức thực hiện thay vì đi theo tiến trình tự nhiên của tiến hoá có thể nghiêm trọng đến mức nào. Điều này phần nào giải thích cho sự chấn động và hỗn loạn hiện nay của thế giới. Các mãnh lực đang chảy qua quần chúng gồm những người nam và nữ có trí tuệ trung bình ngày nay (và bởi đó tôi muốn nói những người được giáo dục và có khả năng nhận biết tin tức thế giới cũng như thảo luận các biến cố và xu hướng thế giới) đang tạo thành bãi thử nghiệm cho sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng lên tùng thái dương. Điều này tất yếu dẫn đến xáo trộn, kích thích quá mức, nổi loạn và nhiều khó khăn khác.
The problems, therefore, are many but are subject to solution. Let that not be forgotten. The whole theme is vast, but many minds are today seeking to deal with it and are working selflessly and altruistically to bring about the needed changes, a better understanding of man’s physical and psychological natures, and a new approach—both to religion and education. When the mystical approach and its consequences, good and bad, material and spiritual—are better understood, through study and experiment, we shall arrive at a more complete comprehension of our problem and a better programme for human unfoldment.
Vì vậy, các vấn đề thì nhiều nhưng đều có thể giải quyết được. Chớ quên điều đó. Toàn bộ chủ đề này rất rộng lớn, nhưng ngày nay nhiều trí tuệ đang tìm cách đề cập đến nó và đang làm việc vô tư, vị tha để mang lại những thay đổi cần thiết, một sự thấu hiểu tốt hơn về bản chất hồng trần và tâm lý của con người, cùng một cách tiếp cận mới—đối với cả tôn giáo lẫn giáo dục. Khi cách tiếp cận thần bí và các hệ quả của nó, tốt và xấu, vật chất và tinh thần, được thấu hiểu rõ hơn qua nghiên cứu và thử nghiệm, chúng ta sẽ đi đến một sự lĩnh hội đầy đủ hơn về vấn đề của mình và một chương trình tốt hơn cho sự khai mở của con người.
I would like to point out that I am using the words “mystic and mystical” in this section of our treatise because I want [543] what I have to say to meet with the interest of those who recognise the fact of the mystical approach to God and the mystical life of the soul, but who refuse as yet to widen the concept so that it includes also the intellectual approach to divine identification.
Tôi muốn chỉ ra rằng tôi đang dùng các từ “nhà thần bí” và “thần bí” trong phần này của bộ luận vì tôi muốn [543] điều tôi phải nói gặp được sự quan tâm của những người thừa nhận sự kiện về cách tiếp cận thần bí đối với Thượng đế và đời sống thần bí của linh hồn, nhưng cho đến nay vẫn từ chối mở rộng khái niệm ấy để nó cũng bao gồm cả cách tiếp cận bằng trí tuệ đối với sự đồng hoá thiêng liêng.
The keynotes which the mystic at present recognises and which the religious writer and thinker is also willing to admit are those of feeling, sensitivity to the divine existence, the recognition of a vision of God which will suffice to meet individual need and thus bring relief, peace, understanding and the realisation of divinity without and within, plus the relationship of the man to some extraneous Factor called God, or the Self, or the Christ. This attitude is coloured always by a sense of duality; it leads to the attainment of union—a union of which the marriage relation remains still the best symbol and illustration as the writings of the mystics of all periods and nationalities will testify, and which still preserves the consciousness of the two identities.
Các chủ âm mà nhà thần bí hiện nay nhận biết và mà tác giả cùng nhà tư tưởng tôn giáo cũng sẵn lòng thừa nhận là những chủ âm của cảm xúc, của sự nhạy cảm đối với sự hiện hữu thiêng liêng, của sự nhận biết một linh ảnh về Thượng đế đủ để đáp ứng nhu cầu cá nhân và nhờ đó đem lại nhẹ nhõm, bình an, thấu hiểu và sự chứng nghiệm thiên tính ở bên ngoài lẫn bên trong, cộng thêm mối liên hệ của con người với một Yếu Tố ngoại tại nào đó được gọi là Thượng đế, hay Bản Ngã, hay Đức Christ. Thái độ này luôn luôn được nhuốm màu bởi ý thức về nhị nguyên tính; nó dẫn đến việc đạt được sự hợp nhất—một sự hợp nhất mà quan hệ hôn phối vẫn còn là biểu tượng và minh hoạ tốt nhất, như trước tác của các nhà thần bí thuộc mọi thời kỳ và mọi quốc tịch sẽ làm chứng, và sự hợp nhất ấy vẫn bảo tồn tâm thức về hai bản sắc.
The keynotes of the occult life have been (and rightly) the notes of knowledge, of the mental approach to the problem of divinity, the recognition of divine immanence and of the fact that “as He is so are we.” There is, however, no sense of duality. The goal is the achievement of such an approved and appreciated identification that the man becomes what he is—a God and, eventually, God in manifestation. This is not the same thing as the mystical union.
Các chủ âm của đời sống huyền bí học đã là (và đúng như vậy) những chủ âm của tri thức, của cách tiếp cận bằng trí tuệ đối với vấn đề thiên tính, của sự nhận biết tính nội tại thiêng liêng và sự kiện rằng “Ngài thế nào thì chúng ta cũng thế ấy.” Tuy nhiên, ở đây không có ý thức về nhị nguyên tính. Mục tiêu là đạt được một sự đồng hoá được xác nhận và được trân trọng đến mức con người trở thành điều mà y vốn là—một Thượng đế và cuối cùng là Thượng đế trong biểu hiện. Điều này không giống với sự hợp nhất thần bí.
And yet, the whole theme is mystical and innately subjective. The time must come when the mystic will appreciate and follow the way of the head and not only the way of the heart. He will learn to realise that he must lose his sense of the Beloved in the knowledge that he and the beloved are one and that the vision must and will disappear as he transcends it [544] (note that phrase) in the greatest processes of identification through initiation.
Tuy vậy, toàn bộ chủ đề này là thần bí và bẩm sinh chủ quan. Thời điểm phải đến khi nhà thần bí sẽ trân trọng và đi theo con đường của đầu chứ không chỉ con đường của tim. Y sẽ học để chứng nghiệm rằng y phải đánh mất cảm nhận về Đấng Yêu Dấu trong tri thức rằng y và Đấng yêu dấu là một, và rằng linh ảnh phải và sẽ biến mất khi y vượt lên trên nó [544] (hãy lưu ý cụm từ ấy) trong những tiến trình lớn lao nhất của sự đồng hoá qua điểm đạo.
The occultist, in his turn, must learn to include the mystical experience in full understanding consciousness as a recapitulatory exercise before he transcends it and passes on to a synthesis and an inclusiveness to which the mystical approach is but the beginning, and of which the mystic remains unaware.
Đến lượt mình, nhà huyền bí học phải học cách bao gồm kinh nghiệm thần bí trong tâm thức thấu hiểu trọn vẹn như một sự thực hành tóm lược trước khi y vượt lên trên nó và tiến tới một sự tổng hợp và tính bao gồm mà cách tiếp cận thần bí chỉ là khởi đầu, và điều mà nhà thần bí vẫn không nhận biết.
The mystic is too apt to feel that the occultist over-estimates the way of knowledge and repeats glibly that the mind is the slayer of the real and that the intellect can give him nothing. The occultist is equally apt to despise the mystical way and to regard the mystical method as “lying far behind him”. But both must learn to tread the way of wisdom. The mystic must and will inevitably become the occultist and this whether he likes the process or not. He cannot escape it in the long run, but the occultist is not a true one until he recovers the mystical experience and translates it into terms of synthesis. Note the structure of words I have used in this last paragraph for it will serve to elucidate my theme. I use therefore the words “mystic and mystical” in this section of the treatise to describe the intelligent, highly mental man and his processes upon the Path of Discipleship.
Nhà thần bí quá dễ cảm thấy rằng nhà huyền bí học đánh giá quá cao con đường tri thức và lặp lại một cách trơn tru rằng trí tuệ là kẻ sát hại cái thực và rằng trí năng không thể cho y điều gì. Nhà huyền bí học cũng dễ khinh thường con đường thần bí và xem phương pháp thần bí như là “nằm rất xa phía sau y”. Nhưng cả hai đều phải học bước đi trên con đường minh triết. Nhà thần bí phải và chắc chắn sẽ trở thành nhà huyền bí học, dù y có thích tiến trình ấy hay không. Về lâu dài, y không thể thoát khỏi nó, nhưng nhà huyền bí học chưa phải là chân chính cho đến khi y phục hồi kinh nghiệm thần bí và chuyển dịch nó sang những thuật ngữ của tổng hợp. Hãy lưu ý cấu trúc từ ngữ tôi đã dùng trong đoạn cuối này vì nó sẽ giúp làm sáng tỏ chủ đề của tôi. Vì vậy, tôi dùng các từ “nhà thần bí” và “thần bí” trong phần này của bộ luận để mô tả con người thông minh, có trí tuệ cao và các tiến trình của y trên Con Đường Đệ Tử.
In dealing with the problems and diseases of mystics who are at the point in their evolution where they are making one of the major transferences of force, it should be pointed out that in the earlier stages quite a long period of time may elapse between the first effort to transmute and transfer the energies and that particular life wherein the energies are finally gathered up and “elevated” as the esoteric term usually employed technically expresses it. It is at this point of focussed activity (in the place of the previous fluidic and spasmodic efforts) that one finds a definite point of crisis in the life of the mystic.
Khi đề cập đến các vấn đề và bệnh tật của các nhà thần bí đang ở tại điểm tiến hoá mà họ đang thực hiện một trong những sự chuyển dịch mãnh lực lớn, cần chỉ ra rằng trong các giai đoạn đầu, có thể trôi qua một thời gian khá dài giữa nỗ lực đầu tiên nhằm chuyển hoá và chuyển dịch các năng lượng với kiếp sống đặc biệt mà trong đó các năng lượng cuối cùng được thu gom lại và “nâng lên”, như thuật ngữ nội môn thường được dùng theo nghĩa kỹ thuật để diễn tả. Chính tại điểm hoạt động tập trung này (thay cho những nỗ lực chưa ổn định và thất thường trước đó) mà người ta thấy một điểm khủng hoảng rõ rệt trong đời sống của nhà thần bí.
The question is often asked: Why is there frequently so [545] much illness, nervous trouble and various pathological conditions found among the saints of the earth, and among those who are clearly oriented towards the light? The answer is that the strain put upon the physical vehicle by the shift of the forces is usually unduly great and so produces these undesirable conditions. These again are often augmented by the foolish things done by the aspirant as he seeks to bring his physical body under control. It is, however, far better for the undesirable results to work themselves out in the physical vehicle than in the astral or mental bodies. This point is seldom realised and hence the emphasis laid upon the idea that sickness, ill-health, and disease are indicative of individual error, of failure and of so-called sin. They can of course be all of these things, but, in the case of the true aspirant who is endeavouring to discipline and control his life, they are often not due to these causes at all. They are the inevitable result of the clash of forces—those of the awakened energies which are in process of elevation and those of the centre into which the energies are being raised. This clash produces strain, physical discomfort and (as we have seen) many distressing kinds of disorders.
Câu hỏi thường được nêu ra là: Tại sao lại thường có quá [545] nhiều bệnh tật, rối loạn thần kinh và các tình trạng bệnh lý khác nhau nơi các vị thánh của địa cầu, và nơi những người rõ ràng đang định hướng về ánh sáng? Câu trả lời là sự căng thẳng đặt lên vận cụ hồng trần bởi sự chuyển đổi các mãnh lực thường quá lớn, và do đó tạo ra những tình trạng không mong muốn này. Những điều này lại thường bị gia tăng bởi những việc dại dột do người chí nguyện làm khi y tìm cách đưa thể xác của mình vào vòng kiểm soát. Tuy nhiên, để những kết quả không mong muốn ấy tự biểu lộ trong vận cụ hồng trần còn tốt hơn là trong các thể cảm dục hay thể trí. Điểm này hiếm khi được chứng nghiệm, và do đó mới có sự nhấn mạnh vào ý tưởng rằng đau yếu, sức khoẻ kém và bệnh tật là dấu hiệu của lỗi lầm cá nhân, của thất bại và của cái gọi là tội lỗi. Dĩ nhiên, chúng có thể là tất cả những điều ấy, nhưng trong trường hợp của người chí nguyện chân chính đang nỗ lực rèn luyện và kiểm soát đời sống của mình, chúng thường hoàn toàn không do các nguyên nhân đó. Chúng là kết quả tất yếu của sự va chạm giữa các mãnh lực—những mãnh lực của các năng lượng đã thức tỉnh đang trong tiến trình được nâng lên và những mãnh lực của trung tâm mà vào đó các năng lượng đang được nâng lên. Sự va chạm này tạo ra căng thẳng, khó chịu về thể xác và (như chúng ta đã thấy) nhiều loại rối loạn đau đớn.
The widespread disease and ill-health found everywhere at this time is caused by a mass transference which is steadily going forward in the race. Through this transference, the solar plexus centre is thrown into an abnormal activity, thereby releasing all kinds of astral forces into the consciousness of man—fear, desire of a wrong kind and many of the emotional characteristics which are causing people so much distress. The process is as follows: the consciousness first of all registers these astral impressions, then formulates them into thought forms and—as energy follows thought—a vicious circle is thus set up, involving the physical body. In the turmoil consequently evoked by these clashing forces which are
Bệnh tật và sức khoẻ kém lan rộng hiện thấy ở khắp nơi vào lúc này là do một sự chuyển dịch tập thể đang đều đặn diễn ra trong nhân loại. Qua sự chuyển dịch này, trung tâm tùng thái dương bị đẩy vào một hoạt động bất thường, nhờ đó giải phóng đủ loại mãnh lực cảm dục vào tâm thức con người—sợ hãi, ham muốn sai lạc và nhiều đặc tính cảm xúc đang gây cho con người quá nhiều đau khổ. Tiến trình diễn ra như sau: trước hết tâm thức ghi nhận các ấn tượng cảm dục này, rồi định hình chúng thành các Hình tư tưởng và—vì năng lượng đi theo tư tưởng—một vòng luẩn quẩn do đó được thiết lập, lôi kéo cả thể xác vào. Trong sự hỗn loạn được gợi ra bởi những mãnh lực xung đột này, những mãnh lực đang
[546]
[546]
a. Mounting from below into the solar plexus,
a. Dâng lên từ bên dưới vào tùng thái dương,
b. Pouring into the solar plexus from the astral plane,
b. Tuôn vào tùng thái dương từ cõi cảm dục,