← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

chapter 001 23

Trích nội dung chương

b. Let him live a full life of physical activity, permitting himself no time for the introspective life. If he is materially minded, let him fulfill his commercial, business or social obligations, by physical plane interests and his due responsibilities with every power he has, permitting himself no backward thought. b. Hãy để y sống một đời sống đầy đủ của hoạt động hồng trần, không cho phép mình có thời gian cho đời sống nội quan. Nếu y thiên về vật chất, hãy để y hoàn thành các nghĩa vụ thương mại, kinh doanh hay xã hội của mình, bằng các mối quan tâm trên cõi hồng trần và các trách nhiệm chính đáng của mình với tất cả năng lực y có…


b. Let him live a full life of physical activity, permitting himself no time for the introspective life. If he is materially minded, let him fulfill his commercial, business or social obligations, by physical plane interests and his due responsibilities with every power he has, permitting himself no backward thought.

b. Hãy để y sống một đời sống đầy đủ của hoạt động hồng trần, không cho phép mình có thời gian cho đời sống nội quan. Nếu y thiên về vật chất, hãy để y hoàn thành các nghĩa vụ thương mại, kinh doanh hay xã hội của mình, bằng các mối quan tâm trên cõi hồng trần và các trách nhiệm chính đáng của mình với tất cả năng lực y có, không cho phép mình có bất kỳ ý nghĩ ngoái lại nào.

c. Let him focus his attention upon the things of physical living until such time as evolution carries him to the stage of mental focussing and spiritual orientation. Before this can be done, the lower door must be closed. Let him, therefore, control emotion, for emotion serves to keep the door ajar and facilitates astral experience.

c. Hãy để y tập trung sự chú ý vào những điều của đời sống hồng trần cho đến khi tiến hoá đưa y đến giai đoạn tập trung trí tuệ và định hướng tinh thần. Trước khi điều này có thể được thực hiện, cánh cửa thấp phải được đóng lại. Vì vậy, hãy để y kiểm soát cảm xúc, vì cảm xúc giúp giữ cánh cửa hé mở và tạo điều kiện cho kinh nghiệm cảm dục.

[589]

[589]

d. Let him “learn to work and think with the spine and head and not with the forefront of the body”, as the ancient rule can be translated. The idea is that the average psychic regards the solar plexus and throat centres (the only two about which they seem to know anything) as existing in the front and centre of the torso or the front of the throat. This carries the energy downwards by the involutionary route and not upwards by the evolutionary route of the spinal column. This is of moment.

d. Hãy để y “học cách làm việc và suy nghĩ bằng cột sống và đầu chứ không bằng phần trước của cơ thể”, như quy luật cổ xưa có thể được dịch như vậy. Ý tưởng là người thông linh trung bình xem trung tâm tùng thái dương và trung tâm cổ họng (hai trung tâm duy nhất mà dường như họ biết chút ít) như hiện hữu ở phía trước và trung tâm của thân mình hay phía trước cổ họng. Điều này mang năng lượng đi xuống theo con đường giáng hạ tiến hoá chứ không đi lên theo con đường thăng thượng tiến hoá của cột sống. Điều này rất quan trọng.

2. If the door to the astral plane is open because of natural birthright, the activity of previous lives and because the flow of the forces normally focusses in the solar plexus, the problem is much more difficult. It will be necessary to gain:

2. Nếu cánh cửa vào cõi cảm dục mở ra do quyền bẩm sinh tự nhiên, do hoạt động của các kiếp trước và vì dòng chảy của các mãnh lực bình thường tập trung ở tùng thái dương, thì vấn đề khó khăn hơn nhiều. Sẽ cần phải đạt được:

a. Some understanding of the etheric constitution of man and teaching must be given as to the nature of the centres of force so that the Aryan psychic has some intelligent background upon which to work. The effort must be made to build a healthy body.

a. Một số hiểu biết về cấu tạo dĩ thái của con người, và phải có giáo huấn về bản chất của các trung tâm mãnh lực để người thông linh Arya có được một nền tảng thông minh nào đó để làm việc. Phải nỗ lực xây dựng một cơ thể lành mạnh.

b. Higher goals must be emphasised and the necessity for the life of service must be stressed. I would remind you that service is a scientific method whereby the forces which awaken stimulate and control the solar plexus are directed to the heart centre, thus causing the closing of the astral door and a decentralisation of the interests of the psychic. This decentralisation is technically fulfilled when the central plexus is no longer the dominant factor and the thought interests of the man are of a different nature.

b. Các mục tiêu cao hơn phải được nhấn mạnh và sự cần thiết của đời sống phụng sự phải được nhấn mạnh. Tôi xin nhắc các bạn rằng phụng sự là một phương pháp khoa học nhờ đó các mãnh lực đánh thức, kích thích và kiểm soát tùng thái dương được chuyển hướng đến trung tâm tim, nhờ vậy làm đóng cánh cửa cảm dục và khiến các mối quan tâm của người thông linh không còn tập trung vào bản thân. Về mặt kỹ thuật, sự phi tập trung này được hoàn tất khi đám rối trung tâm không còn là yếu tố chi phối và các mối quan tâm tư tưởng của người ấy có bản chất khác.

c. One other practical hint may be useful here. When the psychic is at the Aryan stage of unfoldment and is not simply at the Atlantean then much good can [590] come from the frequent use of the colour yellow. He should surround himself with that colour, for it serves to keep the inflowing energies in the head or to prevent their descent no lower than the diaphragm. This deprives the solar plexus of a constant inflow of energy and greatly aids in freeing of the psychic from the astral plane. I would point out here that the psychic with the Atlantean consciousness (and they constitute the great majority) is functioning normally when displaying the psychic faculties, though along an arc of retrogression, but the man with the Aryan consciousness who displays these powers is an abnormality.

c. Một gợi ý thực tiễn khác có thể hữu ích ở đây. Khi người thông linh ở giai đoạn khai mở Arya chứ không đơn thuần ở Atlantis, thì nhiều điều tốt đẹp có thể [590] đến từ việc thường xuyên sử dụng màu vàng. Y nên bao quanh mình bằng màu ấy, vì nó giúp giữ các năng lượng đang tuôn vào ở trong đầu hoặc ngăn không cho chúng hạ xuống thấp hơn cơ hoành. Điều này tước mất nơi tùng thái dương một dòng năng lượng tuôn vào liên tục và hỗ trợ rất nhiều trong việc giải thoát người thông linh khỏi cõi cảm dục. Ở đây tôi xin chỉ ra rằng người thông linh với tâm thức Atlantis (và họ chiếm đại đa số) đang hoạt động bình thường khi biểu lộ các năng lực thông linh, dù là dọc theo một cung thoái hóa, nhưng người có tâm thức Arya mà biểu lộ các năng lực này thì là một điều bất thường.

3. Where the danger is of a serious nature, producing great nervous tension or excessive debility, extreme care must be used. Where there is a violent fight against the psychic activity going on, or where there is a nervous breakdown and loss of mental grip and control, then it is essential that at times the psychic should be forced to take a long rest in bed, with light diet and complete freedom from all contacts. It may be necessary at times to put him under restraint. Today, many such cases fighting hard for mental equilibrium and seeking to close the astral door—are deemed insane or on the border line of insanity. Their plight is greatly enhanced by the lack of understanding of their friends, and of the consulting physicians and psychologists. Their trouble is not mental but is entirely related to the solar plexus. Only when this is recognised will we begin to have a right handling of these problem cases. It is rare indeed to find a psychologist who would be willing to admit the possibility of these premises.

3. Khi mối nguy có tính chất nghiêm trọng, gây ra căng thẳng thần kinh lớn hay suy nhược quá mức, phải hết sức cẩn trọng. Khi có một cuộc chiến dữ dội chống lại hoạt động thông linh đang diễn ra, hoặc khi có sự suy sụp thần kinh và mất sự nắm giữ và kiểm soát trí tuệ, thì điều thiết yếu là đôi khi người thông linh phải bị buộc nghỉ ngơi lâu trên giường, với chế độ ăn nhẹ và hoàn toàn không tiếp xúc với ai. Đôi khi có thể cần phải đặt y dưới sự kiềm chế. Ngày nay, nhiều trường hợp như vậy đang chiến đấu quyết liệt để giữ quân bình trí tuệ và tìm cách đóng cánh cửa cảm dục—bị xem là điên hoặc ở ranh giới của điên loạn. Hoàn cảnh khốn khó của họ bị làm trầm trọng thêm rất nhiều bởi sự thiếu hiểu biết của bạn bè họ, cũng như của các bác sĩ và nhà tâm lý học được mời tham vấn. Rắc rối của họ không phải là trí tuệ mà hoàn toàn liên hệ đến tùng thái dương. Chỉ khi điều này được nhận ra, chúng ta mới bắt đầu có được cách xử lý đúng đắn các trường hợp nan giải này. Quả thật hiếm có một nhà tâm lý học nào sẵn lòng thừa nhận khả năng của các tiền đề này.

[591]

[591]

When psychic difficulties arise in the case of the advanced mystic, the disciple or the occult student, the mode of approach has to be more definitely scientific, for the trouble is more deep-seated owing to the fact that the mind is more involved. Definite work with the centres up the spine and in the head is in order but must be carried forward under careful supervision. I cannot here give the exercises which lead to—

Khi các khó khăn thông linh phát sinh trong trường hợp nhà thần bí tiến bộ, đệ tử hay đạo sinh huyền bí học, phương pháp tiếp cận phải rõ ràng có tính khoa học hơn, vì rắc rối ăn sâu hơn do sự kiện trí tuệ can dự nhiều hơn. Công việc xác định với các trung tâm dọc cột sống và trong đầu là điều cần làm, nhưng phải được tiến hành dưới sự giám sát cẩn trọng. Ở đây tôi không thể đưa ra các bài tập dẫn đến—

1. The closing of the different centres,

1. Việc đóng các trung tâm khác nhau,

2. The opening of the higher centres.

2. Việc mở các trung tâm cao hơn.

3. The transference of force from one centre to another.

3. Việc chuyển dịch mãnh lực từ trung tâm này sang trung tâm khác.

This treatise is intended primarily for the general public and will be widely read during the next generation. Should I give them here, my readers might experiment with them and only succeed in doing real harm to themselves.

Bộ luận này trước hết dành cho công chúng nói chung và sẽ được đọc rộng rãi trong thế hệ kế tiếp. Nếu tôi đưa chúng ra ở đây, độc giả của tôi có thể thử nghiệm với chúng và chỉ thành công trong việc tự gây hại thực sự cho chính mình.

The Science of the Breath, which is the science of laya yoga or the science of the centres, is one of profound importance and one of real danger as well. It is, in the last analysis, the Science of Energy and teaches the method whereby energy can be controlled, directed and utilised for the expanding of the consciousness, for the establishing of right relations between the man and his environment and, above all (in the case of those affiliated with the Great White Lodge), for the production of white magic. This pranic energy works through the vital body and courses through the many “nadis” found therein. These “nadis” exist in their millions and are minute channels of force which underlie the entire nervous system of man. Of this they are the counterpart and the animating factor, making sensitivity possible and producing that action and reaction which converts the mechanism of man into an intricate “receiver” of energy and “director” of force. Each [592] of these tiny lines of energy are fivefold in nature and resemble five strands or fibers of force, closely knit together within a covering sheath of a different force. These forces are bound together in a cross-sectional relation.

Khoa Học về Hơi Thở, tức khoa học của laya yoga hay khoa học về các trung tâm, là một khoa học có tầm quan trọng sâu xa và cũng là một khoa học thật sự nguy hiểm. Xét đến cùng, đó là Khoa Học về Năng Lượng và dạy phương pháp nhờ đó năng lượng có thể được kiểm soát, định hướng và sử dụng để mở rộng tâm thức, để thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa con người và môi trường của mình, và trên hết (trong trường hợp những người liên kết với Thánh đoàn), để tạo ra chánh thuật. Năng lượng prana này hoạt động qua thể sinh lực/thể dĩ thái và lưu chuyển qua nhiều “nadis” có trong đó. Các “nadis” này hiện hữu với số lượng hàng triệu và là những kênh mãnh lực cực nhỏ nằm bên dưới toàn bộ hệ thần kinh của con người. Chúng là đối phần và là yếu tố hoạt hóa của hệ thần kinh, làm cho sự nhạy cảm trở nên khả hữu và tạo ra hành động và phản ứng biến bộ máy của con người thành một “máy thu” năng lượng và một “bộ dẫn truyền” mãnh lực phức tạp. Mỗi [592] đường năng lượng nhỏ bé này có bản chất ngũ phân và giống như năm sợi hay thớ mãnh lực, kết chặt với nhau trong một vỏ bọc bằng một mãnh lực khác. Các mãnh lực này được liên kết với nhau trong một tương quan cắt ngang.

It is to be noted, also, that these five types of energy form one closely knit unit, and these units form, in their entirety, the etheric sheath itself. Through these five channels flow the fire major pranas—energising, galvanising and controlling the entire human organism. There is no part of the physical body which this network of energies does not underlie or “sub-stand”. This is the true form or substance.

Cũng cần lưu ý rằng năm loại năng lượng này tạo thành một đơn vị kết chặt, và toàn bộ các đơn vị này tạo thành chính vỏ dĩ thái. Qua năm kênh này chảy các đại prana của lửa—tiếp sinh lực, kích hoạt và kiểm soát toàn bộ cơ thể con người. Không có phần nào của thể xác mà mạng lưới năng lượng này không nằm bên dưới hay “nâng đỡ”. Đây là hình tướng hay chất liệu đích thực.

Where the lines of force cross and recross, as they repeat in the microcosm the involutionary and evolutionary arcs of the macrocosm, there are formed five areas up the spinal column and two in the head where the energies are more potent than elsewhere, because more concentrated. Thus you have the appearance of the major centres. Throughout the entire body, these crossings and recrossings occur and so the equipment of energy centres is brought into being:

Ở nơi các đường mãnh lực giao cắt và tái giao cắt, khi chúng lặp lại trong tiểu thiên địa các cung giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá của đại thiên địa, thì hình thành năm khu vực dọc cột sống và hai khu vực trong đầu, nơi các năng lượng mạnh hơn ở những nơi khác vì tập trung hơn. Như vậy các bạn có sự xuất hiện của các trung tâm chính. Khắp toàn thân, các sự giao cắt và tái giao cắt này xảy ra, và do đó bộ trang bị các trung tâm năng lượng được hình thành:

1. Where the lines of force cross 21 times, a major centre is found. Of these there are seven.

1. Ở nơi các đường mãnh lực giao cắt 21 lần, một trung tâm chính được tìm thấy. Có bảy trung tâm như vậy.

2. Where they cross 14 times, you have the appearance of the minor centres, to which I earlier referred.

2. Ở nơi chúng giao cắt 14 lần, các bạn có sự xuất hiện của các trung tâm phụ mà trước đây tôi đã đề cập.

3. Where they cross 7 times, you have tiny centres and of these minute centres there are many hundreds.

3. Ở nơi chúng giao cắt 7 lần, các bạn có các trung tâm nhỏ li ti, và có nhiều trăm trung tâm cực nhỏ như vậy.

Some day the entire etheric body will be charted and the general direction of the lines of force will then be seen. The great sweep of the energies will be apparent, the point in evolution more easily established and the psychic situation infallibly indicated. The intricacy of the subject is, however, very great, owing to just this difference in the evolutionary development of the vehicles, the stage of the expanding consciousness [593] and the receptivity to stimulation of the human being. The Science of Meditation will eventually absorb the science of laya-yoga but only in the highest form of the latter. The goal of meditation is to bring about the free play of all the incoming forces so that there is no impediment offered at any point to the incoming energy of the soul; so that no obstruction and congestion is permitted and no lack of power—physical, psychic, mental and spiritual—is to be found in any part of the body. This will mean not only good health and the full and free use of all the faculties (higher and lower) but direct contact with the soul. It will produce that constant renewing of the body which is characteristic of the life expression of the initiate and the Master, as well as of the disciple, only in a lesser degree. It will produce rhythmic expression of the divine life in form. To the clairvoyant view of the adept as He looks at the aspirant or disciple, it causes:

Một ngày kia toàn bộ thể dĩ thái sẽ được vẽ bản đồ và khi đó phương hướng tổng quát của các đường mãnh lực sẽ được thấy rõ. Sự quét rộng lớn của các năng lượng sẽ trở nên hiển nhiên, điểm tiến hoá sẽ được xác định dễ dàng hơn và tình trạng thông linh sẽ được chỉ ra một cách không sai lầm. Tuy nhiên, tính phức tạp của đề tài này là rất lớn, do chính sự khác biệt trong sự phát triển tiến hoá của các vận cụ, giai đoạn của tâm thức đang mở rộng [593] và khả năng tiếp nhận kích thích của con người. Khoa học Tham Thiền rốt cuộc sẽ hấp thu khoa học laya-yoga nhưng chỉ trong hình thức cao nhất của khoa học sau. Mục tiêu của tham thiền là đem lại sự vận hành tự do của mọi mãnh lực đi vào để không có sự cản trở nào tại bất cứ điểm nào đối với năng lượng đi vào của linh hồn; để không có sự bế tắc và tắc nghẽn nào được cho phép, và không có sự thiếu hụt quyền năng—hồng trần, thông linh, trí tuệ và tinh thần—ở bất cứ phần nào của thân thể. Điều này sẽ không chỉ có nghĩa là sức khỏe tốt và việc sử dụng đầy đủ, tự do mọi năng lực (cao và thấp) mà còn là sự tiếp xúc trực tiếp với linh hồn. Nó sẽ tạo ra sự đổi mới liên tục của thân thể, vốn là đặc tính của biểu hiện sự sống nơi điểm đạo đồ và Chân sư, cũng như nơi đệ tử, dù ở mức độ thấp hơn. Nó sẽ tạo ra sự biểu hiện có nhịp điệu của sự sống thiêng liêng trong hình tướng. Đối với linh thị của chân sư khi Ngài nhìn người chí nguyện hay đệ tử, nó gây ra:

1. The rhythm of manifestation. This is the cause of the appearance and the disappearance of the form. The adept, by looking at the body, can tell just how long it has been in incarnation and how long it will still continue to “appear”. The state of the pranic channels reveals this accurately, particularly those found below the diaphragm. The centre at the base of the spine, where is found the seat of the will-to-live (governing the seed of the life principle in the heart) reveals this.

1. Nhịp điệu của sự biểu hiện. Đây là nguyên nhân của sự xuất hiện và biến mất của hình tướng. Chân sư, bằng cách nhìn vào thân thể, có thể biết chính xác nó đã đang lâm phàm bao lâu và còn sẽ tiếp tục “xuất hiện” bao lâu nữa. Tình trạng của các kênh prana cho thấy điều này một cách chính xác, đặc biệt là những kênh nằm dưới cơ hoành. Trung tâm ở đáy cột sống, nơi có chỗ ngự của Ý Chí-hướng Sống (chi phối hạt giống của nguyên khí sự sống trong tim), cho thấy điều này.

2. The rhythm of psychic life. This is, in reality, the revelation of where the man stands in relation to consciousness and its contacts. The adept, when seeking information upon this point, looks first of all at the solar plexus centre and then at the heart and head, for in these three centres and in their relative “light and radiant brightness”, the whole story of the individual stands revealed. The head centre, looked at for the average or below average man, is the centre between the eyebrows. In the case of the aspirant, mystic and disciple, it is the highest head centre.

2. Nhịp điệu của đời sống thông linh. Thực ra, đây là sự mặc khải về chỗ con người đứng trong tương quan với tâm thức và các tiếp xúc của nó. Chân sư, khi tìm kiếm thông tin về điểm này, trước hết nhìn vào trung tâm tùng thái dương rồi đến tim và đầu, vì trong ba trung tâm này và trong “ánh sáng và độ rực sáng” tương đối của chúng, toàn bộ câu chuyện của cá nhân được bộc lộ. Trung tâm đầu, khi xét nơi người trung bình hay dưới trung bình, là trung tâm giữa hai chân mày. Trong trường hợp người chí nguyện, nhà thần bí và đệ tử, đó là trung tâm đầu cao nhất.

As evolution proceeds and the life forces flow ever more freely along the “nadis” and through the centres—major, minor, and minute—the rapidity of the distribution and of the flow, and the consequent radiance of the body steadily increases. The separating walls within the enclosing sheath of the tiny channels of force eventually dissolve (under the impact of soul force) and so disappear and thus the “nadis” of the advanced disciple take a new form indicating that he is now essentially and consequently dual and is therefore an integrated personality. He is soul and personality. Soul force can now flow unimpeded through the central channel of the “nadi” and all the other forces can flow unimpeded around it. It is whilst this process is going on and the forces within the “nadis” are being blended and thus forming one energy that most of the diseases of the mystics make their appearance, particularly those connected with the heart.

Khi tiến hoá tiếp diễn và các mãnh lực sự sống tuôn chảy ngày càng tự do hơn dọc theo các “nadis” và qua các trung tâm—lớn, nhỏ và vi tế—thì tốc độ phân phối và lưu chuyển, cùng sự rạng ngời phát sinh từ đó của thân thể, tăng lên đều đặn. Các vách ngăn bên trong lớp vỏ bao bọc của những kênh mãnh lực nhỏ bé cuối cùng tan biến (dưới tác động của mãnh lực linh hồn) và như thế biến mất; do đó các “nadis” của đệ tử tiến bộ mang một hình thức mới, cho thấy rằng giờ đây y về bản chất và do đó là nhị nguyên, và vì vậy là một Phàm ngã tích hợp. Y là linh hồn và phàm ngã. Mãnh lực linh hồn giờ đây có thể tuôn chảy không bị cản trở qua kênh trung tâm của “nadi”, và mọi mãnh lực khác có thể tuôn chảy không bị cản trở quanh nó. Chính trong khi tiến trình này đang diễn ra và các mãnh lực bên trong các “nadis” đang được hòa trộn, nhờ đó hình thành một năng lượng duy nhất, mà phần lớn các bệnh của các nhà thần bí xuất hiện, đặc biệt là những bệnh liên quan đến tim.

Simultaneously with this appearance of duality in the “nadis”, the disciple finds himself able to use the two channels—ida and pingala—which are found up the spinal column, one on each side of the central channel. There can now be the free flow of force up and down these two “pathways of the forces” and thus out into the “nadis”, utilising the area around any of the major centres as distributing areas and thus galvanising, at will, any part of the mechanism into activity, or the whole mechanism into coordinated action. The disciple has now reached the point in his development where the etheric web, which separates all the centres up the spine from each other, has been burned away by the fires of life. The [595] “sushumna” or central channel can be slowly utilised. This parallels the period wherein there is the free flow of soul force through the central channel in the “nadis”. Eventually this central channel comes into full activity. All this can be seen by the clairvoyant eye of the Master.

Đồng thời với sự xuất hiện của tính nhị nguyên này trong các “nadis”, đệ tử thấy mình có thể sử dụng hai kênh—ida và pingala—nằm dọc cột sống, mỗi kênh ở một bên của kênh trung tâm. Giờ đây có thể có sự lưu chuyển tự do của mãnh lực lên xuống theo hai “đường đi của các mãnh lực” này và từ đó đi ra các “nadis”, sử dụng khu vực quanh bất kỳ trung tâm lớn nào như những vùng phân phối, và như thế làm cho bất kỳ phần nào của bộ máy hoạt động theo ý muốn, hoặc toàn bộ bộ máy đi vào hoạt động phối hợp. Đệ tử giờ đây đã đạt tới điểm trong sự phát triển của mình mà tại đó mạng dĩ thái, vốn ngăn cách tất cả các trung tâm dọc cột sống với nhau, đã bị các lửa của sự sống thiêu hủy. [595] “sushumna” hay kênh trung tâm có thể được sử dụng dần dần. Điều này song hành với giai đoạn trong đó có sự lưu chuyển tự do của mãnh lực linh hồn qua kênh trung tâm trong các “nadis”. Cuối cùng kênh trung tâm này đi vào hoạt động trọn vẹn. Tất cả điều này có thể được thấy bởi mắt thông nhãn của Chân sư.

I have dealt with this in detail as the practice of breathing exercises definitely moves the forces flowing through the “nadis” and reorganises them—usually prematurely. It hastens the process of breaking down the walls separating four forces from the fifth energy, and hastens the burning of the protecting etheric webs up the spinal column. If this is done whilst the emphasis of the life is below the diaphragm and the man is not even an aspirant or intelligent, then it will cause the over-stimulation of the sex life, and also the opening up of the astral plane and hence much physical difficulty and disease. It occultly “releases the lower fires and the man will be destroyed by fire”; he will not be then (as is intended) the “burning bush which burns forever and cannot be destroyed”. If this burning takes place by a forced process and is not under right direction, there must inevitably be difficulty. When the man is on the Path of Purification or Probation or is in the early stages of discipleship, with the emphasis of his intention above the diaphragm, then there is much danger of over-development of the sense of egotism, over-stimulation of the heart centre (with the consequent appearance of various forms of heart disease and of emotionalism, evoked over group conditions) and of troubles related to the thyroid gland and the brain, as well as difficulties connected principally with the pituitary body.

Tôi đã bàn đến điều này chi tiết vì việc thực hành các bài tập thở chắc chắn làm chuyển động các mãnh lực đang tuôn chảy qua các “nadis” và tái tổ chức chúng—thường là quá sớm. Nó đẩy nhanh tiến trình phá vỡ các vách ngăn tách biệt bốn mãnh lực khỏi năng lượng thứ năm, và đẩy nhanh sự thiêu hủy các mạng dĩ thái bảo vệ dọc cột sống. Nếu điều này được thực hiện trong khi trọng tâm của đời sống ở dưới cơ hoành và con người ấy thậm chí chưa phải là người chí nguyện hay chưa có trí tuệ, thì nó sẽ gây ra sự kích thích quá mức đời sống tính dục, đồng thời mở ra cõi cảm dục và do đó gây nhiều khó khăn hồng trần và bệnh tật. Về mặt huyền bí, nó “giải phóng các lửa thấp và con người sẽ bị hủy diệt bởi lửa”; khi ấy y sẽ không phải là “bụi gai cháy mãi mà không thể bị hủy diệt” như dự định. Nếu sự thiêu đốt này diễn ra bằng một tiến trình cưỡng bức và không dưới sự hướng dẫn đúng đắn, thì ắt hẳn sẽ không tránh khỏi khó khăn. Khi con người ở trên Con Đường Thanh Luyện hay Con Đường Dự Bị hoặc ở trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, với trọng tâm của ý hướng ở trên cơ hoành, thì có nhiều nguy cơ phát triển quá mức ý thức về tính vị ngã, kích thích quá mức trung tâm tim (kéo theo sự xuất hiện của nhiều dạng bệnh tim và cảm xúc thái quá, được khơi lên bởi các điều kiện nhóm) và các rối loạn liên hệ đến tuyến giáp và bộ não, cũng như những khó khăn chủ yếu liên quan đến tuyến yên.

I could give you here certain forms of breathing exercises which might prove helpful to some people in the work of re-organising the vital body and consequently the etheric body, but the dangers involved in the case of the majority of [596] my readers negate any such action. The old rule that aspirants must find their way into an esoteric or mystery school still holds good. All I can do—as I have done—is to give certain directions and teach certain safe and generally well-known rules which will lay the foundation for the more advanced work which must be carried forward under careful personal supervision. For this reason, once this present world crisis is duly ended, there must be laid a foundation of true esoteric schools. Such do Not as yet exist. Today, aspirants and disciples are working in the modern esoteric schools (such as the Arcane School and the Esoteric Section of the Theosophical Society—to mention two of the most important) and there they learn some of the foundational truths of esotericism; they begin to gain control of the emotional nature and the mind; they learn to purify the body and to apprehend the basic postulates of the Ageless Wisdom. They are then under the direction subjectively of some senior disciple who knows the needed next truth and has unfolded in himself the “sense of contact” and the power of intuitive perception. A few persons, here and there, are definitely working under the direction of one of the Masters. Only where there is direction, a knowledge of a man’s governing rays and a grasp of the astrological indications as to a man’s “path of life” can the true, but dangerous, rules be given, which will lead to:

Tôi có thể đưa ra ở đây một số hình thức bài tập thở có thể tỏ ra hữu ích cho một số người trong công việc tái tổ chức thể sinh lực và do đó là thể dĩ thái, nhưng những nguy hiểm liên quan trong trường hợp của đa số [596] độc giả của tôi khiến tôi không thể làm như vậy. Quy luật xưa rằng những người chí nguyện phải tự tìm đường vào một trường nội môn hay trường huyền nhiệm vẫn còn nguyên giá trị. Tất cả những gì tôi có thể làm—như tôi đã làm—là đưa ra một số chỉ dẫn và dạy một số quy luật an toàn, quen thuộc nói chung, sẽ đặt nền tảng cho công việc cao hơn, công việc phải được tiến hành dưới sự giám sát cá nhân cẩn trọng. Vì lý do này, một khi cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay chấm dứt đúng mức, phải đặt nền móng cho các trường nội môn chân chính. Những trường như thế chưa tồn tại. Ngày nay, những người chí nguyện và đệ tử đang làm việc trong các trường nội môn hiện đại (như Trường Arcane và Phân ban Nội môn của Hội Thông Thiên Học—để nêu hai trường quan trọng nhất) và ở đó họ học một số chân lý nền tảng của huyền bí học; họ bắt đầu đạt được sự kiểm soát bản chất cảm xúc và trí tuệ; họ học cách thanh luyện thân thể và lĩnh hội các định đề căn bản của Minh Triết Ngàn Đời. Khi đó họ ở dưới sự hướng dẫn chủ quan của một đệ tử cao cấp nào đó, người biết chân lý kế tiếp cần thiết và đã khai mở nơi chính mình “ý thức tiếp xúc” cùng quyền năng tri giác trực giác. Một vài người, rải rác đây đó, rõ ràng đang làm việc dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư. Chỉ ở nơi nào có sự hướng dẫn, có tri thức về các cung chi phối của một người và có sự nắm vững các chỉ dẫn chiêm tinh liên quan đến “con đường sự sống” của một người, thì các quy luật chân chính nhưng nguy hiểm mới có thể được trao ra, những quy luật sẽ dẫn đến:

1. A right distribution of energy.

1. Sự phân phối năng lượng đúng đắn.

2. The focussing of the forces in the centres.

2. Sự tập trung các mãnh lực trong các trung tâm.

3. The burning of the separating walls and of the dividing etheric webs.

3. Sự thiêu hủy các vách ngăn cách và các mạng dĩ thái phân chia.

4. The lifting of the energies ever higher in the body by the power of the directed will.

4. Sự nâng các năng lượng ngày càng cao hơn trong thân thể bằng quyền năng của ý chí được định hướng.

Many of the difficulties of mystics and occultists today are due to the fact that they are literally “playing with fire” and are [597] not aware of it; that they are not preserving the right or ordered sequence of development, as outlined above; that they are following practices for which they are not ready, which have not been modified to suit the occidental type of body, and which they blindly follow without any understanding of the process or results. Unless the basic rule is grasped that “energy follows thought”, it is inevitable that dire results must eventuate. The mystic, for instance whose thought is focussed on the Christ, regarding Him as somewhere in Heaven, but as outside himself, and whose aspiration makes Him the objective of all his desire, is frequently debilitated and physically ill. Why is this the case? Because the energy which is seeking to enter him and permeate his whole organism only reaches as far as the heart centre and is from there constantly turned back and driven out of the physical body by the directing power of the mystic’s thought. Christ, for him, is elsewhere. Outside himself lies his thought and the energy consequently streams out of his body. It is a much discussed problem among initiates today as to whether the generally debilitated condition of the human race is not due in part to the fact that the aspiration and thought of mankind, having been constantly directed to some outside goal and not (as should have been the case) to the centre of life and love within each human being, has drained man of much needed energy. In spite of the fact that he has been taught for centuries that the kingdom of God is within, the peoples in the occident have not accepted the statement or worked on the premise presented, but have sought for reality without and have turned their attention to the Personality of the One who taught them a major truth. At no time did He desire or seek their devotion. The price of this distortion of the truth has been paid again and again by a devitalised body and by the [598] inability of the average mystic to live a concrete, and yet divine, life upon earth.

Nhiều khó khăn của các nhà thần bí và các nhà huyền bí học ngày nay là do sự kiện rằng họ thực sự đang “đùa với lửa” mà [597] không biết điều đó; rằng họ không giữ đúng trình tự phát triển có trật tự như đã được phác họa ở trên; rằng họ đang theo những thực hành mà họ chưa sẵn sàng, những thực hành chưa được điều chỉnh cho phù hợp với loại thân thể của người phương Tây, và họ mù quáng làm theo mà không hề thấu hiểu tiến trình hay kết quả. Trừ phi quy luật căn bản rằng “năng lượng đi theo tư tưởng” được nắm vững, thì những kết quả tai hại ắt sẽ xảy ra. Chẳng hạn, nhà thần bí có tư tưởng tập trung vào Đức Christ, xem Ngài như ở đâu đó trên Thiên Đàng nhưng ở bên ngoài chính mình, và có khát vọng khiến Ngài trở thành mục tiêu của mọi ước muốn của mình, thường bị suy nhược và đau yếu về thể xác. Tại sao lại như vậy? Bởi vì năng lượng đang tìm cách đi vào y và thấm nhuần toàn bộ cơ thể y chỉ đi xa đến trung tâm tim, rồi từ đó liên tục bị quay ngược lại và bị đẩy ra khỏi thể xác bởi quyền năng định hướng của tư tưởng nhà thần bí. Đối với y, Đức Christ ở nơi khác. Tư tưởng của y nằm bên ngoài chính mình và do đó năng lượng tuôn ra khỏi thân thể y. Ngày nay, giữa các điểm đạo đồ, đây là một vấn đề được bàn luận nhiều: liệu tình trạng suy nhược phổ biến của nhân loại có phải một phần là do sự kiện rằng khát vọng và tư tưởng của loài người, vốn liên tục được hướng đến một mục tiêu bên ngoài nào đó chứ không phải (như lẽ ra phải thế) đến trung tâm của sự sống và tình thương bên trong mỗi con người, đã rút cạn nơi con người nhiều năng lượng rất cần thiết hay không. Mặc dù trong nhiều thế kỷ y đã được dạy rằng Thiên Giới ở bên trong, các dân tộc phương Tây đã không chấp nhận lời khẳng định ấy hay hành động dựa trên tiền đề được trình bày, mà lại tìm kiếm thực tại ở bên ngoài và hướng sự chú ý của họ đến Phàm ngã của Đấng đã dạy họ một chân lý lớn. Không lúc nào Ngài mong muốn hay tìm kiếm sự sùng mộ của họ. Cái giá của sự bóp méo chân lý này đã được trả đi trả lại bằng một thân thể bị mất sinh lực và bằng [598] sự bất lực của nhà thần bí trung bình trong việc sống một đời sống cụ thể mà vẫn thiêng liêng trên trần thế.

There is little more that I can say here in connection with the problems and the difficulties of the psychic powers as they unfold in humanity and on a higher turn of the spiral than in the past. As evolution proceeds, the human and animal psychic faculties become available to the disciple. Humanity has chosen to proceed by means of the “trial and error” method and it is in many ways a sound choice, but it is slow and leads to points of crisis and moments of almost intolerable difficulty in the history of the race. In the case of the mystic and the disciple who is endeavouring to gain control of these inherent instincts, the problem is today enhanced by the fact that the physical vitality of the race is so lowered and also so little understood and the proper care of the body is consequently so poorly rendered that the unhealthy condition of that body releases the lower powers more easily than would otherwise be the case. They therefore unfold prematurely and before their nature and function is understood or the laws of their control grasped. The acceptance of this statement would be found enlightening and much progress would be made if the various premises I have made were accepted as valid hypotheses and acted upon. The result would open the door to a new understanding of the psychic faculties. Psychology and medicine would be thereby enriched.

Tôi còn rất ít điều có thể nói thêm ở đây liên quan đến các vấn đề và khó khăn của các quyền năng thông linh khi chúng khai mở trong nhân loại và ở một vòng xoắn cao hơn so với quá khứ. Khi tiến hoá tiếp diễn, các năng lực thông linh của con người và động vật trở nên khả dụng đối với đệ tử. Nhân loại đã chọn tiến bước bằng phương pháp “thử và sai”, và theo nhiều cách đó là một lựa chọn đúng đắn, nhưng nó chậm và dẫn đến những điểm khủng hoảng cùng những thời khắc khó khăn gần như không thể chịu nổi trong lịch sử nhân loại. Trong trường hợp của nhà thần bí và đệ tử đang nỗ lực đạt được sự kiểm soát các bản năng cố hữu này, vấn đề ngày nay càng trầm trọng hơn bởi sự kiện rằng sinh lực hồng trần của nhân loại bị hạ thấp đến thế và cũng ít được thấu hiểu đến thế, và do đó việc chăm sóc đúng đắn cho thân thể lại quá kém, đến nỗi tình trạng không lành mạnh của thể ấy giải phóng các quyền năng thấp dễ dàng hơn so với lẽ ra. Vì vậy chúng khai mở quá sớm, trước khi bản chất và chức năng của chúng được thấu hiểu hay các định luật kiểm soát chúng được nắm bắt. Nếu lời khẳng định này được chấp nhận, nó sẽ được thấy là soi sáng, và nhiều tiến bộ sẽ đạt được nếu các tiền đề khác nhau tôi đã nêu được chấp nhận như những giả thuyết hữu hiệu và được hành động theo. Kết quả sẽ mở cánh cửa cho một sự thấu hiểu mới về các năng lực thông linh. Tâm lý học và y học nhờ đó sẽ được làm phong phú.

We come now to two more problems which are related to the higher psychic powers but are of a more advanced kind and dependent upon the development of the mind nature more than upon the solar plexus consciousness.

Giờ đây chúng ta đến với hai vấn đề nữa có liên hệ với các quyền năng thông linh cao hơn nhưng thuộc loại cao cấp hơn và phụ thuộc vào sự phát triển của bản chất trí tuệ nhiều hơn là vào tâm thức tùng thái dương.

Problem of the Development of the Mystical Vision

Vấn đề về sự phát triển của linh ảnh thần bí

This process of sensing the goal, of contacting the ideal and of visioning the many symbols that veil the soul, which [599] portray pictorially the ultimate destination and the final purpose, are the recognised prerogative of the mystical aspirant. The mystical literature of all the world religions is, as you know, full of these visions, ranging all the way from the more sexual approach of the Song of Solomon or the writings of many of the feminine mystics of the Church to the amazing revelations given in the ancient Puranas or in the Apocalypse. These cover all the ground from the formulation of the highgrade “wish-life” of the mystics to the true prevision as to the future of the race as found in the writings of the prophetical Scriptures. With the detail I do not intend to deal. It has been considered by the modern psychologist and the religious instructor and Church writers and dealt with by them at great length. I want only to touch upon the effects that these experiences have upon the mystic himself. I would ask you also to remember that I am generalising and not being specific.

Tiến trình cảm nhận mục tiêu, tiếp xúc với lý tưởng và nhìn thấy nhiều biểu tượng che phủ linh hồn, những biểu tượng [599] mô tả bằng hình ảnh đích đến tối hậu và mục đích cuối cùng, là đặc quyền được thừa nhận của người chí nguyện thần bí. Văn học thần bí của mọi tôn giáo trên thế giới, như các bạn biết, đầy những linh ảnh này, trải dài từ lối tiếp cận mang tính tính dục hơn của Nhã Ca hay các trước tác của nhiều nữ nhà thần bí trong Giáo hội cho đến những mặc khải kỳ diệu được ban ra trong các Purana cổ xưa hay trong Khải Huyền. Chúng bao trùm toàn bộ phạm vi từ sự hình thành “đời sống ước vọng” cao cấp của các nhà thần bí cho đến sự tiên kiến chân thực về tương lai của nhân loại như được thấy trong các trước tác Kinh điển tiên tri. Tôi không có ý bàn đến chi tiết. Điều này đã được nhà tâm lý học hiện đại, nhà giáo huấn tôn giáo và các tác giả của Giáo hội xem xét và bàn luận rất dài. Tôi chỉ muốn chạm đến những ảnh hưởng mà các kinh nghiệm này gây ra nơi chính nhà thần bí. Tôi cũng xin các bạn nhớ rằng tôi đang khái quát hóa chứ không nói một cách đặc thù.

The difficulties to which such mystics are prone are four:

Những khó khăn mà các nhà thần bí như thế dễ mắc phải có bốn điều:

1. Devitalisation. The mystic is drawn so constantly “upwards” (as he regards and terms it) to the land of his dreams, to the person of his idealism or to the spiritual ideal (personified or non-personified) of his aspiration that he reverses the normal and wholesome process of “the Way of the constant materialising of the Real”. He lives entirely in the world of his aspiration and thus neglects life on the physical plane, becoming not only impractical but negative to the physical plane. He draws all his life forces upward so that the physical body and life on the physical plane suffers. Technically, the forces of the solar plexus are not drawn upward into the heart centre, as they should be, nor is the energy of the heart poured out in selfless love of humanity; they are all focussed, and distributed in the highest level of the astral consciousness and sent to feed the forces of the astral body. They reverse, [600] therefore, the normal process and the physical body suffers grievously through this.

1. Mất sinh lực. Nhà thần bí bị lôi kéo quá thường xuyên “đi lên trên” (như y quan niệm và gọi như vậy) đến miền đất của những giấc mơ, đến con người của chủ nghĩa lý tưởng của y hay đến lý tưởng tinh thần (được nhân cách hóa hay không được nhân cách hóa) của khát vọng y, đến nỗi y đảo ngược tiến trình bình thường và lành mạnh của “Con Đường hiện hình liên tục của Thực Tại”. Y sống hoàn toàn trong thế giới của khát vọng mình và do đó sao lãng đời sống trên cõi hồng trần, trở nên không những thiếu thực tế mà còn tiêu cực đối với cõi hồng trần. Y kéo mọi mãnh lực sự sống của mình lên trên khiến thể xác và đời sống trên cõi hồng trần phải chịu tổn hại. Nói theo kỹ thuật, các mãnh lực của tùng thái dương không được kéo lên trên vào trung tâm tim như lẽ ra phải thế, cũng không phải năng lượng của tim được tuôn ra trong tình thương vô ngã đối với nhân loại; tất cả chúng đều được tập trung và phân phối ở cấp độ cao nhất của tâm thức cảm dục và được gửi đi để nuôi các mãnh lực của thể cảm dục. Vì vậy, chúng đảo ngược [600] tiến trình bình thường, và thể xác vì thế chịu đau khổ nặng nề.

A study of the lives of the saints and mystics will reveal much of this difficulty, and even in the relatively rare cases where there has been some definite service to humanity, the motives were frequently (I might say, usually) the meeting of a sensed requirement or obligation which would serve the mystic, bringing him emotional satisfaction and reward. This devitalisation was often so excessive that it led not only to nervous debility, trance conditions and other pathological developments, but sometimes to death itself.

Một sự nghiên cứu về cuộc đời của các thánh nhân và các nhà thần bí sẽ cho thấy nhiều điều về khó khăn này, và ngay cả trong những trường hợp tương đối hiếm hoi đã có một sự phụng sự rõ rệt đối với nhân loại, thì động cơ thường là (tôi có thể nói là, thường thường) việc đáp ứng một đòi hỏi hay nghĩa vụ được cảm nhận, điều sẽ phục vụ nhà thần bí, mang lại cho y sự thỏa mãn và phần thưởng cảm xúc. Sự mất sinh lực này thường quá mức đến nỗi không chỉ dẫn đến suy nhược thần kinh, các trạng thái xuất thần và những phát triển bệnh lý khác, mà đôi khi còn dẫn đến chính cái chết.

2. Delusion. The drama life of the mystic and the constant cultivation of the vision (whatever that might be) led also in many cases to serious if unrecognised psychological trouble. The vision absorbed the mystic’s whole attention and instead of indicating to him a goal to which he might some day attain, or existing in his consciousness as the symbol of an inner reality which he would some day know, as it in truth was, he lived always within his own thoughtform of this goal. This powerful dream, this defined thoughtform (built year by year through aspiration, worship and longing) ended by obsessing him to such an extent that he finally ended by mistaking the symbol for the reality. Sometimes he died of the ecstasy induced by his identification with his vision. Nevertheless, I would point out here that the true attainment of the mystical goal, so that it is no longer seen but is realised as fact, has never yet killed anyone. It is delusion which kills. It is only when the focus of the life is in the astral body, when the downflow of soul force is there also and when the heart centre is over-energised that the mystic dies as a result of his aspiration. Where death does not take place (and this is somewhat unusual) serious psychological difficulties are apt to be found. These have brought much concern to Churchmen at [601] all times and to the modern psychologist and have brought the whole subject of the mystical unfoldment into disrepute, particularly in this modern scientific age.

2. Mê vọng. Đời sống kịch tính của nhà thần bí và sự nuôi dưỡng liên tục linh ảnh (dù đó là gì) cũng trong nhiều trường hợp dẫn đến những rối loạn tâm lý nghiêm trọng dù không được nhận ra. Linh ảnh thu hút toàn bộ sự chú ý của nhà thần bí, và thay vì chỉ ra cho y một mục tiêu mà một ngày kia y có thể đạt tới, hay tồn tại trong tâm thức y như biểu tượng của một thực tại nội tại mà một ngày kia y sẽ biết, như thật ra nó vốn là như thế, thì y luôn luôn sống bên trong chính hình tư tưởng của mình về mục tiêu ấy. Giấc mơ mãnh liệt này, hình tư tưởng xác định này (được xây dựng năm này qua năm khác bằng khát vọng, thờ phụng và mong mỏi) cuối cùng ám ảnh y đến mức rốt cuộc y nhầm lẫn biểu tượng với thực tại. Đôi khi y chết vì trạng thái xuất thần do sự đồng hoá với linh ảnh của mình gây ra. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn chỉ ra rằng sự đạt được chân chính mục tiêu thần bí, đến mức nó không còn được thấy nữa mà được chứng nghiệm như một sự kiện, chưa bao giờ giết chết bất kỳ ai. Chính mê vọng mới giết chết. Chỉ khi trọng tâm của đời sống ở trong thể cảm dục, khi sự tuôn xuống của mãnh lực linh hồn cũng ở đó, và khi trung tâm tim bị nạp năng lượng quá mức, thì nhà thần bí mới chết như kết quả của khát vọng mình. Khi cái chết không xảy ra (và điều này phần nào bất thường), thì thường thấy có những khó khăn tâm lý nghiêm trọng. Những điều này đã gây nhiều lo ngại cho giới giáo sĩ ở [601] mọi thời và cho nhà tâm lý học hiện đại, đồng thời đã làm cho toàn bộ đề tài về sự khai mở thần bí bị mất uy tín, đặc biệt trong thời đại khoa học hiện đại này.

It is the materialising of the vision in astral matter, its development through the power of emotion (masquerading as devotion) and the failure of the mystic either to enter into the realm of mental perception or to bring his idealistic dream down into physical expression which lies at the root of the trouble. The man becomes deluded by the best that is in him; he is the victim of an hallucination which embodies the highest he knows; he is overcome by the glamour of the spiritual life; he fails to distinguish between the vision and the Plan, between the manufactured unreal of the ages of mystical activity and the Real which stands ever in the background of the life of the integrated human being.

Chính sự hiện hình linh ảnh trong vật chất cảm dục, sự phát triển của nó nhờ quyền năng của cảm xúc (ngụy trang thành sùng tín), và sự thất bại của nhà thần bí trong việc đi vào lĩnh vực tri giác trí tuệ hoặc đưa giấc mơ lý tưởng của mình xuống thành biểu hiện hồng trần, là điều nằm ở gốc rễ của rắc rối. Con người bị mê vọng bởi điều tốt đẹp nhất trong chính mình; y là nạn nhân của một ảo giác hiện thân cho điều cao nhất mà y biết; y bị ảo cảm của đời sống tinh thần chế ngự; y không phân biệt được giữa linh ảnh và Thiên Cơ, giữa cái không thực được tạo dựng qua các thời đại hoạt động thần bí và cái Thực luôn đứng ở hậu cảnh của đời sống của con người tích hợp.

Forget not that the vision (of Heaven, of God, of Christ, of any spiritual leader or of any millennium) is based in the majority of cases upon the dreams and aspirations of the mystics down the ages who have blazed the mystical trail, who have used the same terminology and employed the same symbols to express that which they sense, and to which they aspire and for which they long so yearningly. They all sense the same Reality, lying behind the glamour of the world aspiration; they all couch their desire and longing in the same symbolic forms—marriage with the Beloved, life in the Holy City, participation in some ecstatic vision of God, adoration of some deified and loved Individuality, such as the Christ, the Buddha, or Shri Krishna, walking with God in the garden of life, the garden of the Lord, the attainment of the mountain top where God is to be found, and all stands revealed. Such are a few of the forms in which their aspiration clothes itself and their sense of duality finds satisfaction. These ideas exist as powerful thought forms on the astral plane and they [602] attract—like magnets—the aspiration of the devotee which follows century after century the same path of yearning search, imaginative expression of a deep-seated spiritual “wishlife” and an emotional surging outward towards divinity, described sometimes as “the lifting of the heart to God.”

Đừng quên rằng linh ảnh (về Thiên Đàng, về Thượng đế, về Đức Christ, về bất kỳ vị lãnh đạo tinh thần nào hay về bất kỳ thiên niên kỷ nào) trong đa số trường hợp đều dựa trên những giấc mơ và khát vọng của các nhà thần bí qua các thời đại, những người đã khai mở con đường thần bí, đã dùng cùng một thuật ngữ và sử dụng cùng những biểu tượng để diễn tả điều họ cảm nhận, điều họ khát vọng và điều họ mong mỏi tha thiết. Tất cả họ đều cảm nhận cùng một Thực Tại nằm sau ảo cảm của khát vọng thế gian; tất cả họ đều diễn đạt ước muốn và mong mỏi của mình trong cùng những hình thức biểu tượng—hôn phối với Đấng Yêu Dấu, đời sống trong Thánh Thành, tham dự vào một linh ảnh xuất thần nào đó về Thượng đế, tôn thờ một Cá Thể được thần thánh hóa và yêu kính nào đó như Đức Christ, Đức Phật hay Shri Krishna, cùng đi với Thượng đế trong khu vườn của sự sống, khu vườn của Chúa, đạt tới đỉnh núi nơi có thể tìm thấy Thượng đế và mọi sự đều được mặc khải. Đó là một vài trong những hình thức mà khát vọng của họ khoác lấy và ý thức về nhị nguyên tính của họ tìm thấy sự thỏa mãn. Những ý tưởng này tồn tại như những hình tư tưởng mạnh mẽ trên cõi cảm dục và chúng [602] thu hút—như nam châm—khát vọng của người sùng tín, khát vọng ấy qua thế kỷ này sang thế kỷ khác đi theo cùng một con đường tìm kiếm đầy mong mỏi, biểu hiện bằng tưởng tượng của một “đời sống ước vọng” tinh thần ăn sâu, và một sự dâng trào cảm xúc hướng ra ngoài về phía thiên tính, đôi khi được mô tả là “nâng trái tim lên với Thượng đế”.

Devitalisation and delusion are the frequent case history of the purely emotional mystic. When this astral cycle is over and he later (and probably in another life) swings into a frankly agnostic state of mind, there comes a restoration of balance and a more wholesome unfoldment becomes possible. The true and valuable fruits of the mystical experience of the past are never lost. The inner spiritual realisation remains latent in the content of the life, later to be resurrected to its true expression but the vagueness and the sense of duality must eventually be transformed into a realised mental clarity; dualism must give place to the experience of the at-one-ment and the mists must roll away. The mystic sees through a glass darkly but some day must Know, even as he is known.

Mất sinh lực và mê vọng là bệnh sử thường gặp của nhà thần bí thuần cảm xúc. Khi chu kỳ cảm dục này chấm dứt và về sau y (và có lẽ trong một kiếp khác) chuyển sang một trạng thái trí tuệ công khai bất khả tri, thì sự quân bình được phục hồi và một sự khai mở lành mạnh hơn trở nên khả hữu. Những hoa trái chân thực và có giá trị của kinh nghiệm thần bí trong quá khứ không bao giờ mất đi. Sự chứng nghiệm tinh thần nội tại vẫn tiềm ẩn trong nội dung của đời sống, về sau sẽ được phục sinh vào biểu hiện chân chính của nó; nhưng tính mơ hồ và ý thức về nhị nguyên tính cuối cùng phải được chuyển đổi thành một sự sáng tỏ trí tuệ đã được chứng nghiệm; nhị nguyên luận phải nhường chỗ cho kinh nghiệm hợp nhất, và những màn sương phải tan đi. Nhà thần bí nhìn qua một tấm kính mờ tối nhưng một ngày kia ắt phải Biết, cũng như y được biết.

When, in these modern times, the mystically oriented person comes under the care of a wise psychologist, the latter would be well advised gently and gradually to develop in him a cycle of doubt, leading even to a temporary agnosticism. The result would be a rapid establishing of the desired equilibrium. I would call your attention to the words “gently and gradually”. The encouraging of a normal physical life, with its ordinary interests, the fulfilling of its obligations and responsibilities and the usual physical functioning of the nature should bring about much wholesome and needed orientation.

Khi, trong thời hiện đại này, người có khuynh hướng thần bí được đặt dưới sự chăm sóc của một nhà tâm lý học minh triết, thì người sau nên được khuyên là hãy nhẹ nhàng và dần dần phát triển nơi y một chu kỳ hoài nghi, thậm chí dẫn đến một trạng thái bất khả tri tạm thời. Kết quả sẽ là sự thiết lập nhanh chóng thế quân bình mong muốn. Tôi muốn các bạn lưu ý đến những lời “nhẹ nhàng và dần dần”. Việc khuyến khích một đời sống hồng trần bình thường, với những mối quan tâm thông thường của nó, việc hoàn thành các nghĩa vụ và trách nhiệm của nó, và sự vận hành hồng trần thông thường của bản chất sẽ đem lại nhiều sự định hướng lành mạnh và cần thiết.

3. Delirium. I use this powerful word with deliberation when dealing with the dangerous and difficult stages of the mystical life. When the delusions of the mystic and his devitalisation have gone beyond a certain point, he arrives at a stage where he has no real inner control, he develops the [603] mystical sense to the point where he has no sense of proportion, where the conventions (right or wrong), social training, economic responsibility, human obligations and all the aspects of daily life which integrate the human part into the whole of humanity fail to police the lower nature. His outer expression becomes abnormal and he (from the highest and best sense of values) anti-social. Such an anti-social attitude will range all the way from a relatively usual fanaticism which forces its possessor to see only one point of view out of the many possible, to certain pronounced and recognisable forms of insanity. The mystic is then obsessed by his own peculiar thoughtform of truth and of reality. He has only one idea in his head. His mind is not active, for his brain has become the instrument of his astral nature and registers only his fanatical devotion and his emotional obsession. The ajna centre swings into activity before there is any true integration of the whole man, and any true useful purpose to its activity.

3. Mê sảng. Tôi dùng từ mạnh này một cách có chủ ý khi đề cập đến các giai đoạn nguy hiểm và khó khăn của đời sống thần bí. Khi các ảo tưởng của nhà thần bí và sự mất sinh lực của y đã vượt quá một mức độ nào đó, y đi đến một giai đoạn mà y không còn sự kiểm soát nội tâm thực sự, y phát triển [603] cảm nhận thần bí đến mức không còn Ý thức về tỉ lệ, nơi mà các quy ước (đúng hay sai), sự huấn luyện xã hội, trách nhiệm kinh tế, các bổn phận nhân loại và mọi phương diện của đời sống hằng ngày vốn tích hợp phần nhân loại vào toàn thể nhân loại không còn kiềm chế được bản chất thấp. Sự biểu lộ bên ngoài của y trở nên bất thường và y (xét từ ý thức giá trị cao nhất và tốt đẹp nhất) trở thành phản xã hội. Thái độ phản xã hội như thế trải dài từ một thứ cuồng tín tương đối thông thường khiến người mang nó chỉ thấy một quan điểm duy nhất trong số nhiều quan điểm khả hữu, cho đến một số hình thức điên loạn rõ rệt và có thể nhận biết. Khi đó nhà thần bí bị ám ảnh bởi chính hình tư tưởng đặc thù của y về chân lý và thực tại. Trong đầu y chỉ có một ý tưởng. Trí tuệ của y không hoạt động, vì bộ não của y đã trở thành công cụ của bản chất cảm dục và chỉ ghi nhận sự sùng tín cuồng nhiệt cùng nỗi ám ảnh cảm xúc của y. Trung tâm ajna chuyển vào hoạt động trước khi có bất kỳ sự tích hợp chân chính nào của toàn thể con người, và trước khi hoạt động ấy có bất kỳ mục đích hữu ích chân chính nào.

A period ensues wherein the man expresses himself in many undesirable ways which include a too strenuous one-pointedness, real fanaticism, sadistic effort with a supposed spiritual motive, (such as was seen in the Inquisition) and certain forms of mental breakdown. Occultly speaking, “the fiery vision proceeds to burn its victim and thus destroys the thread which holds his mind and brain in friendship close”. This burning astral fever necessarily produces an effect upon the physical body as well as on the personality expression, and the trouble can then be recognised by others as real and serious in consequences and effects. Frequently, there is little that can be done; sometimes no attempts to help prove availing. The mystic has, for this one life, done himself irreparable damage. The healing influence of death, and the interlude of the life beyond the physical plane must do their beneficent work before the man can again achieve normality and begin [604] to transmute his Vision of the Good, the Beautiful and the True into working expression upon the plane of daily living; he will then bring his mind to bear upon the problem; he will then discover that the vision is but the reflection of the Plan of God. He will know that the power to personalise aspiration must be transformed into the power to depersonalise oneself, prior to world service and cooperation with the Hierarchy.

Tiếp theo là một giai đoạn trong đó con người biểu lộ bản thân theo nhiều cách không mong muốn, bao gồm sự nhất tâm quá căng thẳng, sự cuồng tín thực sự, nỗ lực tàn bạo với một động cơ tinh thần được giả định, (như đã thấy trong Tòa án Dị giáo) và một số hình thức suy sụp trí tuệ. Nói theo huyền bí học, “linh ảnh rực lửa tiến tới thiêu đốt nạn nhân của nó và như thế phá hủy sợi dây giữ cho thể trí và bộ não của y gắn bó thân hữu chặt chẽ”. Cơn sốt cảm dục thiêu đốt này tất yếu tạo ra một tác động lên thể xác cũng như lên sự biểu lộ của phàm ngã, và khi đó người khác có thể nhận ra rối loạn ấy là có thật và nghiêm trọng trong hậu quả và tác động của nó. Thường thường, hầu như không thể làm gì được; đôi khi không một nỗ lực giúp đỡ nào tỏ ra hữu hiệu. Nhà thần bí, trong kiếp sống này, đã gây cho chính mình một tổn hại không thể sửa chữa. Ảnh hưởng chữa lành của cái chết, và quãng xen giữa của đời sống bên kia cõi hồng trần phải thực hiện công việc từ lành của chúng trước khi con người ấy có thể lại đạt được trạng thái bình thường và bắt đầu [604] chuyển hoá linh ảnh của mình về Điều Thiện, Điều Mỹ và Điều Chân thành sự biểu lộ hữu hiệu trên cõi đời sống hằng ngày; khi đó y sẽ đem trí tuệ của mình áp dụng vào vấn đề; khi đó y sẽ khám phá rằng linh ảnh chỉ là sự phản chiếu của Thiên Cơ của Thượng đế. Y sẽ biết rằng quyền năng cá nhân hóa khát vọng phải được chuyển đổi thành quyền năng phi cá nhân hóa chính mình, trước khi có thể phụng sự thế gian và hợp tác với Thánh Đoàn.

4. Detachment. This is one of the major psychological difficulties which leads to the common phenomenon of cleavage. It is one of the hardest to handle. The mystic who can see naught but his vision, who registers that vision in terms only of symbolic forms, of sexual longing, of agonising aspirations and an intense “wish-life” of dream and desire may eventually succeed in severing all right relations both within himself (with his physical body in one place, his emotional life directed to another and his mind preoccupied elsewhere) and with his surroundings and environing responsibilities, so that he lives entirely in a world of his own manufacturing—detached, unmoved, and untouched by normal affairs or human calls. This is sometimes also brought about by an unrecognised desire to escape from responsibility, from the pain and irksomeness of daily living or from the clinging hands of those who love him; it can be brought over from another life of mystical experience which should, in this life, be permanently transcended and outgrown, having served its useful purpose and done a needed work. This is a detachment of the wrong kind.

4. Tách rời. Đây là một trong những khó khăn tâm lý chủ yếu dẫn đến hiện tượng phân ly thường thấy. Đây là một trong những điều khó xử lý nhất. Nhà thần bí, kẻ không thể thấy gì ngoài linh ảnh của mình, kẻ chỉ ghi nhận linh ảnh ấy dưới dạng các hình thức biểu tượng, sự khao khát tính dục, những khát vọng đau đớn và một “đời sống ước muốn” mãnh liệt của mộng tưởng và ham muốn, cuối cùng có thể thành công trong việc cắt đứt mọi liên hệ đúng đắn cả bên trong chính y (với thể xác ở một nơi, đời sống cảm xúc hướng về nơi khác và trí tuệ bận bịu ở chỗ khác) lẫn với môi trường và các trách nhiệm bao quanh, đến nỗi y sống hoàn toàn trong một thế giới do chính mình tạo ra—tách rời, bất động, và không bị chạm đến bởi các công việc bình thường hay những tiếng gọi của con người. Điều này đôi khi cũng do một ham muốn không được nhận ra là muốn trốn tránh trách nhiệm, trốn khỏi nỗi đau và sự phiền toái của đời sống hằng ngày hoặc khỏi những bàn tay níu kéo của những người yêu thương y; nó cũng có thể được mang sang từ một kiếp sống khác của kinh nghiệm thần bí mà trong kiếp này lẽ ra phải được vượt qua và trưởng thành vượt khỏi một cách dứt khoát, vì nó đã phục vụ mục đích hữu ích của nó và hoàn thành công việc cần thiết. Đây là một sự tách rời sai lầm.

I realise as I give you this teaching upon the difficulties of the mystical life—devitalisation, delusion, delirium and detachment—that those who have gained much from the mystics or those who are at this time mystically inclined will violently disagree. I would seek to make myself clear on these [605] points. The mystical way is the right way for people at a certain stage of evolution, the Atlantean stage, provided it is not carried to the point of insanity, hallucination, furious fanaticism and psychopathic complications. It is, rightly expressed, a useful and needed process whereby the astral body is re-oriented and spiritual aspiration begins to take the place of desire. It is necessary to have vision for “where there is no vision, the people perish”. True vision is, in reality, the astral reflection of the divine Plan, reflected into the higher levels of the astral consciousness of the planet and there contacted and sensed by those human beings whose focus in life is of a very high grade nature whose “intention is towards God and righteousness” but who are introverted at this time, who lack much technical knowledge either of divine law or of the constitution of man or of the planetary life, and whose minds are quiescent and non-questioning except in an emotional sense and for the relief of the mystic’s own spiritual distress and desire for peace and satisfaction. There is, for instance, little in the writings of the mystics of the middle ages, (either in the East or in the West) which gives any indication of a sense of world need or of humanity’s demand for enlightenment.

Tôi nhận ra rằng khi trao cho các bạn giáo huấn này về những khó khăn của đời sống thần bí—mất sinh lực, ảo tưởng, mê sảng và tách rời—thì những ai đã nhận được nhiều từ các nhà thần bí hoặc những ai hiện nay có khuynh hướng thần bí sẽ phản đối mạnh mẽ. Tôi muốn làm cho mình rõ ràng về những [605] điểm này. Con đường thần bí là con đường đúng đắn đối với con người ở một giai đoạn tiến hoá nhất định, giai đoạn Atlantis, miễn là nó không bị đẩy đến mức điên loạn, ảo giác, cuồng tín dữ dội và các biến chứng loạn tâm thần. Khi được biểu lộ đúng đắn, đó là một tiến trình hữu ích và cần thiết, nhờ đó thể cảm dục được tái định hướng và khát vọng tinh thần bắt đầu thay thế ham muốn. Cần phải có linh ảnh vì “nơi nào không có linh ảnh, dân chúng sẽ diệt vong”. Linh ảnh chân chính, trên thực tế, là sự phản chiếu cảm dục của Thiên Cơ thiêng liêng, được phản chiếu vào các cấp độ cao hơn của tâm thức cảm dục của hành tinh và tại đó được tiếp xúc và cảm nhận bởi những con người có tiêu điểm đời sống thuộc bản chất rất cao, những người mà “ý hướng hướng về Thượng đế và sự công chính” nhưng hiện nay lại hướng nội, thiếu nhiều kiến thức kỹ thuật về định luật thiêng liêng hoặc về cấu tạo của con người hay của sự sống hành tinh, và có trí tuệ tĩnh lặng, không chất vấn ngoại trừ theo nghĩa cảm xúc và nhằm làm dịu nỗi khổ tinh thần cùng ham muốn hòa bình và thỏa mãn của chính nhà thần bí. Chẳng hạn, trong các trước tác của các nhà thần bí thời trung cổ (ở cả Đông phương lẫn Tây phương) hầu như không có gì cho thấy một ý thức về nhu cầu của thế giới hay về đòi hỏi giác ngộ của nhân loại.

The astral reflection of the Plan—such is the vision. There the life forces of the mystical physical nature, of his astral body and of his soul (two forces and one energy) unite and there they produce a powerful expression of focussed desire, deep inchoate longing, vivid imagination and the construction of a thought form, expressing all that the mystic desires to contact or to see expressed.

Sự phản chiếu cảm dục của Thiên Cơ—đó là linh ảnh. Tại đó các mãnh lực sự sống của bản chất hồng trần thần bí, của thể cảm dục và của linh hồn y (hai mãnh lực và một năng lượng) hợp nhất, và tại đó chúng tạo ra một biểu lộ mạnh mẽ của ham muốn được tập trung, của nỗi khát khao sâu xa chưa định hình, của sự tưởng tượng sống động và của việc kiến tạo một Hình tư tưởng, biểu lộ tất cả những gì nhà thần bí mong muốn tiếp xúc hoặc thấy được biểu lộ.

There will be, as time goes on, less and less of this mystical approach. The work of realising beauty and the instinct to reach out towards divinity are now so deeply rooted in the racial consciousness that the balancing work of the mind and the presentation of the Plan in the place of the Vision can [606] safely proceed. The children of the race who are still Atlantean in consciousness will continue with the mystical approach and the beauty of that contribution will still be the heritage of the race. But the cycle of the mystical effort and experience will be considerably shortened and scientifically controlled because its purpose, its place in racial unfoldment and its contribution to the “doctrine of Reality” will be better understood.

Theo thời gian, sẽ ngày càng ít đi lối tiếp cận thần bí này. Công việc chứng nghiệm cái đẹp và bản năng vươn tới thiên tính hiện đã bén rễ quá sâu trong tâm thức nhân loại đến nỗi công việc quân bình của trí tuệ và việc trình bày Thiên Cơ thay cho linh ảnh có thể [606] được tiến hành một cách an toàn. Những đứa con của nhân loại vẫn còn Atlantis trong tâm thức sẽ tiếp tục với lối tiếp cận thần bí, và vẻ đẹp của sự đóng góp ấy vẫn sẽ là di sản của nhân loại. Nhưng chu kỳ của nỗ lực và kinh nghiệm thần bí sẽ được rút ngắn đáng kể và được kiểm soát một cách khoa học, bởi vì mục đích của nó, vị trí của nó trong sự khai mở của nhân loại và sự đóng góp của nó cho “giáo lý về Thực Tại” sẽ được thấu hiểu rõ hơn.

This mystical cycle is the correspondence to the “adolescent” cycle in the life of the young, valuable, visionary and life-giving, spurring on to right orientation and stabilising certain standards and values. Such a cycle will, however, be recognised as undesirable when the time has come that a new and higher set of values and a more spiritual and controlled technique should take its place. A life purpose, a recognised plan and a correctly directed activity must eventually supersede all adolescent yearnings, dreams, imaginative longings and aspiration in the life of the individual and of the race.

Chu kỳ thần bí này tương ứng với chu kỳ “thiếu niên” trong đời sống của người trẻ, có giá trị, đầy linh ảnh và ban sự sống, thúc đẩy sự định hướng đúng đắn và làm ổn định một số tiêu chuẩn và giá trị. Tuy nhiên, một chu kỳ như thế sẽ được nhìn nhận là không còn mong muốn khi đã đến lúc một tập hợp giá trị mới và cao hơn cùng một kỹ thuật tinh thần hơn và được kiểm soát hơn phải thay thế nó. Một mục đích sống, một kế hoạch được nhận biết và một hoạt động được hướng dẫn đúng đắn cuối cùng phải thay thế mọi khát vọng tuổi thiếu niên, mộng tưởng, những khao khát đầy tưởng tượng và khát vọng trong đời sống của cá nhân và của nhân loại.

Mistake Me Not. The vision is a vision of reality. The eternal Dreamer dreams and the greatest of all Mystics is the divine Logos Himself. But His dream must be registered in our consciousness as God’s Plan and the mystical vision is the necessary though passing development in the human being of the “dreaming” aspect of God’s Nature. Ponder on this, for it holds revelation to those who ponder rightly.

Xin đừng hiểu sai Tôi. Linh ảnh là linh ảnh về thực tại. Đấng Mộng Tưởng vĩnh cửu đang mơ, và nhà thần bí vĩ đại nhất trong tất cả chính là Thượng đế Logos thiêng liêng. Nhưng giấc mơ của Ngài phải được ghi nhận trong tâm thức chúng ta như Thiên Cơ của Thượng đế, và linh ảnh thần bí là sự phát triển cần thiết tuy chỉ tạm thời trong con người của phương diện “mộng tưởng” trong Bản chất của Thượng đế. Hãy suy ngẫm điều này, vì nó chứa đựng sự mặc khải cho những ai suy ngẫm đúng cách.

Revelation of Light and Power and Attendant Difficulties

Sự Mặc Khải của Ánh sáng và Quyền năng cùng Những Khó khăn Đi Kèm

The problems with which we must now deal belong in a totally different category. They have no relation at all to emotion or to the astral plane but constitute the specific difficulty of the aspirant or the advanced man or disciple who has learnt to focus himself in the mental nature. They are problems connected with achieved contact with the soul, [607] which results in the illumination of the mind and a definite influx of power.

Những vấn đề mà giờ đây chúng ta phải bàn đến thuộc về một phạm trù hoàn toàn khác. Chúng hoàn toàn không liên quan đến cảm xúc hay cõi cảm dục mà cấu thành khó khăn đặc thù của người chí nguyện hoặc người tiến bộ hay đệ tử đã học cách tập trung chính mình trong bản chất trí tuệ. Chúng là những vấn đề gắn liền với sự tiếp xúc đã đạt được với linh hồn, [607] điều này dẫn đến sự soi sáng của trí tuệ và một sự tuôn đổ quyền năng rõ rệt.

These difficulties only come to the man in whom the throat centre and the ajna centre are awakening. The moment that any difficulty is sensed in relation to the phenomena of light, the psychologist or the physician can know that the pituitary body is involved and that consequently the centre between the eyebrows is beginning to be active and awake.

Những khó khăn này chỉ đến với người mà trung tâm cổ họng và trung tâm ajna đang thức tỉnh. Ngay khi bất kỳ khó khăn nào được cảm nhận liên quan đến các hiện tượng ánh sáng, nhà tâm lý học hoặc thầy thuốc có thể biết rằng tuyến yên có liên quan và do đó trung tâm giữa hai chân mày đang bắt đầu hoạt động và thức tỉnh.

The problem of power, sensed by the aspirant and seeking expression in his life, falls into two categories:—

Vấn đề quyền năng, được người chí nguyện cảm nhận và tìm cách biểu lộ trong đời sống của y, rơi vào hai loại:—

1. The sense of power which comes through the effort to do definite creative work. This necessarily involves the activity of the throat centre. Where there is this inflow of creative force and where there is no real use made of the inflowing energy in the production of creative work, then there is very apt to be difficulty with the thyroid gland.

1. Cảm nhận về quyền năng đến qua nỗ lực thực hiện một công việc sáng tạo xác định. Điều này tất yếu bao hàm hoạt động của trung tâm cổ họng. Nơi nào có sự tuôn vào của mãnh lực sáng tạo này và nơi nào năng lượng tuôn vào ấy không được sử dụng thực sự trong việc sản sinh công việc sáng tạo, thì rất dễ có khó khăn với tuyến giáp trạng.

2. The sense of power which takes the form of ambition, and of an integration which is brought about by the force of that ambition. This frequently succeeds in subordinating the various aspects of the lower nature to that ambition. When this takes place the ajna centre is active and is synchronising its vibration with that of the throat centre. This leads to real difficulty and is one of the commonest forms of ambition to which the aspirant and the disciple succumb.

2. Cảm nhận về quyền năng mang hình thức tham vọng, và của một sự tích hợp được tạo ra bởi mãnh lực của tham vọng ấy. Điều này thường thành công trong việc đặt các phương diện khác nhau của bản chất thấp dưới quyền tham vọng đó. Khi điều này xảy ra, trung tâm ajna hoạt động và đang đồng bộ hóa rung động của nó với rung động của trung tâm cổ họng. Điều này dẫn đến khó khăn thực sự và là một trong những hình thức tham vọng phổ biến nhất mà người chí nguyện và đệ tử sa vào.

One can also divide the problem of light into two groups of difficulties if one so desires—one related to the physical registering of the light in the head and the other to the acquiring of knowledge.

Người ta cũng có thể chia vấn đề ánh sáng thành hai nhóm khó khăn nếu muốn—một nhóm liên quan đến việc ghi nhận ánh sáng trong đầu trên phương diện hồng trần và nhóm kia liên quan đến việc đạt được tri thức.

This registering of light within the periphery of the skull is connected with the relation to be found between the head centre and the centre between the eyebrows; that is, between the area (localised around the pituitary body) and that localised around the pineal gland. The vibratory effect, you know, of those two centres can become so strong that the two vibrations or their “pulsating rhythmic activity” can swing into each other’s field of action and a unified magnetic field can be set up which can become so powerful, so brilliant and so pronounced that the disciple—when closing his eyes—can see it plainly. It can be visually sensed and known. Eventually, and in some cases, it can definitely affect the optic nerve, not to its detriment but to the extent of evoking the subtler side of the sense of sight. A man can then see etherically and can see the etheric counterpart of all tangible forms. This is physiological and not a psychic power and is quite different to clairvoyance. There can be no etheric vision apart from the usual organ of vision, the eye. The sensing and the registering of this light in the head can lead to its own peculiar problems when the process is not correctly understood or controlled, just as the registering of the energy of power (coming from the mind in its will aspect or from the soul through the will petals) can prove definitely detrimental to the personality, when not consecrated or refined.

Việc ghi nhận ánh sáng này bên trong chu vi hộp sọ có liên quan đến mối tương quan giữa trung tâm đầu và trung tâm giữa hai chân mày; nghĩa là giữa khu vực (định vị quanh tuyến yên) và khu vực định vị quanh tuyến tùng quả. Như các bạn biết, tác động rung động của hai trung tâm ấy có thể trở nên mạnh đến mức hai rung động ấy hay “hoạt động nhịp điệu rung động” của chúng có thể chuyển vào trường hoạt động của nhau và một trường từ tính hợp nhất có thể được thiết lập, trường này có thể trở nên mạnh mẽ, rực sáng và rõ rệt đến nỗi đệ tử—khi nhắm mắt—có thể thấy nó một cách rõ ràng. Nó có thể được cảm nhận và biết đến bằng thị giác. Cuối cùng, và trong một số trường hợp, nó có thể tác động rõ rệt lên thần kinh thị giác, không phải gây hại mà đến mức khơi dậy phương diện vi tế hơn của giác quan thị giác. Khi đó một người có thể thấy bằng dĩ thái và có thể thấy đối phần dĩ thái của mọi hình tướng hữu hình. Đây là hiện tượng sinh lý chứ không phải một năng lực thông linh và hoàn toàn khác với thông nhãn. Không thể có linh thị dĩ thái tách rời khỏi cơ quan thị giác thông thường là con mắt. Việc cảm nhận và ghi nhận ánh sáng này trong đầu có thể dẫn đến những vấn đề đặc thù của chính nó khi tiến trình ấy không được thấu hiểu hay kiểm soát đúng đắn, cũng như việc ghi nhận năng lượng quyền năng (đến từ trí tuệ trong phương diện ý chí của nó hoặc từ linh hồn qua các cánh hoa ý chí) có thể tỏ ra rõ rệt là có hại cho phàm ngã khi không được thánh hiến hoặc tinh luyện.

Again, this registering of the light falls into certain definite stages and takes place at certain definite points in the unfoldment of the human being, but is more likely to occur in the earlier stages than the later. These are:—

Một lần nữa, việc ghi nhận ánh sáng này diễn ra qua những giai đoạn xác định và xảy ra tại những điểm xác định trong sự khai mở của con người, nhưng có nhiều khả năng xảy ra ở các giai đoạn đầu hơn là các giai đoạn sau. Đó là:—

1. The sensing of a diffused light outside the head, either before the eyes or over the right shoulder.

1. Cảm nhận một ánh sáng khuếch tán ở bên ngoài đầu, hoặc trước mắt hoặc phía trên vai phải.

2. The sensing of this diffused misty light within the head, permeating, apparently, the entire head.

2. Cảm nhận ánh sáng mờ sương khuếch tán này bên trong đầu, dường như thấm khắp toàn bộ đầu.

3. The concentrating of this diffused light until it has the appearance of a radiant sun.

3. Sự tập trung của ánh sáng khuếch tán này cho đến khi nó có dáng vẻ của một mặt trời rực sáng.

[609]

[609]

4. The intensifying of the light of this inner sun. This is in reality the recognition of the radiance of the magnetic field, established between the pituitary body and the pineal gland (as expressions of the head and the ajna centres). This radiance can at times seem almost too bright to be borne.

4. Sự tăng cường ánh sáng của mặt trời nội tại này. Thực ra đây là sự nhận biết bức xạ của trường từ tính, được thiết lập giữa tuyến yên và tuyến tùng quả (như những biểu lộ của trung tâm đầu và trung tâm ajna). Bức xạ này đôi khi có thể dường như quá chói sáng đến mức khó chịu đựng.

5. The extension of the rays of this inner sun first to the eyes, and then finally beyond the radius of the head so that (to the vision of the clairvoyant seer) the halo makes its appearance around the head of the disciple or aspirant.

5. Sự mở rộng các tia của mặt trời nội tại này trước hết đến đôi mắt, rồi cuối cùng vượt ra ngoài bán kính của đầu để (đối với linh thị của nhà thông nhãn) hào quang xuất hiện quanh đầu của đệ tử hay người chí nguyện.

6. The discovery that there is, at the very heart of this, a point of dark blue electric light, which gradually grows into a circle of some size. This occurs when the light in the head irradiates the central opening at the top of the head. Through this opening the various energies of the soul and the forces of the personality can be synthesised and thus flow into the physical body, via the major centres. It is also the esoteric “door of departure” through which the soul withdraws the consciousness aspect in the hours of sleep and the consciousness aspect plus the life thread at the moment of death.

6. Sự khám phá rằng ngay nơi trung tâm của điều này có một điểm ánh sáng điện màu lam sẫm, điểm này dần dần lớn lên thành một vòng tròn có kích thước nào đó. Điều này xảy ra khi ánh sáng trong đầu chiếu rọi lỗ mở trung tâm ở đỉnh đầu. Qua lỗ mở này, các năng lượng khác nhau của linh hồn và các mãnh lực của phàm ngã có thể được tổng hợp và như thế chảy vào thể xác qua các trung tâm chính. Đây cũng là “cửa ra đi” huyền bí, qua đó linh hồn rút phương diện tâm thức trong những giờ ngủ, và rút phương diện tâm thức cộng với Sinh Mệnh Tuyến vào lúc chết.

The registering of this inner light often causes serious concern and difficulty to the inexperienced person and the intensity of their concern and fear leads them to think so much of the problem that they become what we occultly call “obsessed with the light and so fail to see the Lord of Light and that which the Light reveals”. I would point out here that all aspirants and occult students do not see this light. Seeing it is dependent upon several factors—temperament, the quality of the physical cells of the brain, the nature of the work which has been done or of the particular task, and the extent of the magnetic field. There never need be any difficulty if the [610] aspirant will use the light which is in him for the helping of his fellowmen. It is the self-centred mystic who gets into difficulty, as does the occultist who uses the light which he discovers within himself for selfish purposes, and personal ends.

Việc ghi nhận ánh sáng nội tại này thường gây lo ngại và khó khăn nghiêm trọng cho người thiếu kinh nghiệm, và cường độ lo ngại cùng sợ hãi của họ khiến họ nghĩ quá nhiều về vấn đề đến nỗi họ trở thành điều mà chúng ta gọi theo huyền bí học là “bị ám bởi ánh sáng và do đó không thấy được Chúa Tể của Ánh sáng cùng điều mà Ánh sáng mặc khải”. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng không phải mọi người chí nguyện và đạo sinh huyền bí học đều thấy ánh sáng này. Việc thấy nó tùy thuộc vào một số yếu tố—khí chất, phẩm tính của các tế bào hồng trần của bộ não, bản chất của công việc đã được thực hiện hay của nhiệm vụ đặc biệt, và mức độ của trường từ tính. Sẽ không bao giờ cần có bất kỳ khó khăn nào nếu [610] người chí nguyện dùng ánh sáng ở trong mình để giúp đỡ đồng loại. Chính nhà thần bí tập trung vào bản thân mới rơi vào khó khăn, cũng như nhà huyền bí học dùng ánh sáng mà y khám phá trong chính mình cho những mục đích ích kỷ và những cứu cánh cá nhân.

An incidental difficulty is sometimes found when the “doorway out into the other worlds” is discovered and becomes, not a door for rightful and proper use, but a way of escape from the difficulties of life and a short cut out of conscious physical experience. The connection then between the mystic and his physical vehicle becomes less and less firmly established and the link gets looser and looser until the man spends most of his time out of his body in a condition of semi-trance or a deep sleep condition.

Một khó khăn ngẫu phát đôi khi được thấy khi “cửa ngõ đi ra các thế giới khác” được khám phá và trở thành, không phải một cánh cửa để sử dụng đúng đắn và thích hợp, mà là một lối thoát khỏi những khó khăn của đời sống và một đường tắt ra khỏi kinh nghiệm hồng trần hữu thức. Khi đó mối liên kết giữa nhà thần bí và vận cụ hồng trần của y ngày càng kém vững chắc, và mối nối ấy ngày càng lỏng lẻo cho đến khi con người ấy dành phần lớn thời gian ở ngoài thân thể trong một trạng thái nửa xuất thần hoặc một trạng thái ngủ sâu.

Students should make no effort to see the light in the head, but when it is sensed and seen—then there should be a careful regulation and registration of it. Second ray types will respond to this phenomenon more easily and more frequently than first or third ray types. First ray people will register the inflow of force and power with facility and will discover that their problem lies in the control and the right direction of such energies.

Các đạo sinh không nên nỗ lực để thấy ánh sáng trong đầu, nhưng khi nó được cảm nhận và thấy—thì nên có sự điều chỉnh và ghi nhận cẩn trọng. Người cung hai sẽ đáp ứng với hiện tượng này dễ dàng và thường xuyên hơn người cung một hay cung ba. Người cung một sẽ ghi nhận sự tuôn vào của mãnh lực và quyền năng một cách dễ dàng và sẽ khám phá rằng vấn đề của họ nằm ở sự kiểm soát và hướng dẫn đúng đắn các năng lượng ấy.

Much of the present impasse to be found in the personalities of the aspirants of the world is due to the fact that the light that is in them remains undirected and the power that is flowing through them remains unused or misapplied. Much of the physical blindness and the poor sight to be found in the world today (unless the result of accident) is due to the presence of the light of the head—unrecognised and unused—and thus producing or exciting a definite effect upon the eyes and upon the optic nerve. Technically speaking, the light of the soul—localised in the region of the pineal gland—works through and would be directed through the right eye which is (as you have been told) the organ of the buddhi, [611] whilst the light of the personality—localised in the region of the pituitary body—functions through the left eye. The time has not yet come when this statement means much except to very advanced students, but it should be on record for the future use of disciples and aspirants.

Phần lớn tình trạng bế tắc hiện nay nơi các phàm ngã của những người chí nguyện trên thế giới là do ánh sáng ở trong họ vẫn không được hướng dẫn và quyền năng đang chảy qua họ vẫn không được dùng đến hoặc bị áp dụng sai. Phần lớn chứng mù lòa thể xác và thị lực kém thấy trong thế giới ngày nay (trừ khi là kết quả của tai nạn) là do sự hiện diện của ánh sáng trong đầu—không được nhận ra và không được sử dụng—và do đó tạo ra hay kích thích một tác động rõ rệt lên đôi mắt và lên thần kinh thị giác. Nói theo kỹ thuật, ánh sáng của linh hồn—định vị trong vùng tuyến tùng quả—hoạt động qua và lẽ ra sẽ được hướng qua mắt phải, vốn là (như các bạn đã được bảo) cơ quan của Bồ đề, [611] trong khi ánh sáng của phàm ngã—định vị trong vùng tuyến yên—hoạt động qua mắt trái. Thời điểm mà phát biểu này có nhiều ý nghĩa vẫn chưa đến, ngoại trừ đối với những đạo sinh rất tiến bộ, nhưng nó nên được ghi lại để dùng trong tương lai cho các đệ tử và người chí nguyện.

I would also like to point out that one of the difficulties today is that the light of the personality is more active within the head than is the light of the soul and that it has far more of the quality of burning than has soul light. The effect of the soul light is stimulating and occultly cool. It brings the brain cells into functioning activity, evoking response from cells at present quiescent and unawakened. It is as these cells are brought into activity by the inflow of the light of the soul that genius appears, accompanied often by some lack of balance or control in certain directions.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng một trong những khó khăn ngày nay là ánh sáng của phàm ngã hoạt động trong đầu mạnh hơn ánh sáng của linh hồn, và nó có nhiều phẩm tính thiêu đốt hơn ánh sáng linh hồn. Tác động của ánh sáng linh hồn là kích thích và, theo huyền bí học, là mát dịu. Nó đưa các tế bào não vào hoạt động chức năng, khơi dậy sự đáp ứng từ những tế bào hiện đang tĩnh lặng và chưa thức tỉnh. Chính khi các tế bào này được đưa vào hoạt động bởi sự tuôn vào của ánh sáng linh hồn thì thiên tài xuất hiện, thường đi kèm với một vài thiếu sót về quân bình hay kiểm soát theo một số phương diện.

This whole subject of light and power is of so vast a nature and is relatively so little understood in its true significance as an expression (in dual form) of energy which flows upward from the personality and downward from the soul that it is only as more and more people tread the Path that the problem will emerge in its true light and thus eventually be handled rightly. I will refer here briefly to some of the problems so as to provide the germ or seed of thought from which future study can grow and the future investigation arise. They might be summarised as follows:—

Toàn bộ chủ đề này về ánh sáng và quyền năng có bản chất rộng lớn đến mức, và tương đối ít được thấu hiểu trong thâm nghĩa chân thực của nó như một biểu lộ (dưới hình thức nhị phân) của năng lượng chảy lên từ phàm ngã và chảy xuống từ linh hồn, đến nỗi chỉ khi ngày càng nhiều người bước trên Con Đường thì vấn đề mới xuất hiện trong ánh sáng chân thực của nó và như thế cuối cùng được xử lý đúng đắn. Ở đây tôi sẽ đề cập ngắn gọn đến một số vấn đề để cung cấp mầm hay Tư tưởng hạt giống mà từ đó việc nghiên cứu tương lai có thể phát triển và sự khảo cứu tương lai có thể nảy sinh. Chúng có thể được tóm lược như sau:—

1. The theme of light and energy is closely connected with the problem (for such it is at this time) of the entire glandular system; it is, therefore, of basic importance that there should be understanding of this relation for it is one of the fundamental things upon which the health of the entire body and its right functioning rests.

1. Chủ đề ánh sáng và năng lượng gắn bó chặt chẽ với vấn đề (vì hiện nay đúng là như vậy) của toàn bộ hệ thống tuyến nội tiết; do đó, điều tối quan trọng là phải có sự thấu hiểu về mối liên hệ này vì đó là một trong những điều căn bản mà trên đó sức khỏe của toàn thể cơ thể và sự vận hành đúng đắn của nó dựa vào.

2. When there is a correct grasp of this subject, it will be [612] found that the brain and the two head centres (actuating the pituitary body and the pineal gland) are the directing agents for all the activities of the man upon the physical plane. Today, he is largely directed by his animal instincts, by his sexual life and by his emotional reactions or else by his creative activities as they express themselves through the throat centre. A few—very few—of his activities are directed from the heart, but eventually men must control their life expression from the head via the dual organs of the soul and the personality—the ajna centre, working through the pituitary body and expressing the personality life at its highest, and the head centre, working through the pineal gland, responsive to soul impulse. There will then be balance and right direction of all the life forces and a right development (following ray indications) of all the centres in the body.

2. Khi có sự nắm bắt đúng đắn về chủ đề này, người ta sẽ [612] thấy rằng bộ não và hai trung tâm đầu (làm hoạt hóa tuyến yên và tuyến tùng quả) là những tác nhân chỉ đạo cho mọi hoạt động của con người trên cõi hồng trần. Ngày nay, y phần lớn được chỉ đạo bởi các bản năng thú tính, bởi đời sống tính dục và bởi các phản ứng cảm xúc, hoặc bởi các hoạt động sáng tạo khi chúng biểu lộ qua trung tâm cổ họng. Chỉ một số ít—rất ít—hoạt động của y được chỉ đạo từ tim, nhưng cuối cùng con người phải kiểm soát sự biểu lộ đời sống của mình từ đầu qua các cơ quan kép của linh hồn và phàm ngã—trung tâm ajna, hoạt động qua tuyến yên và biểu lộ đời sống phàm ngã ở mức cao nhất của nó, và trung tâm đầu, hoạt động qua tuyến tùng quả, đáp ứng với xung động linh hồn. Khi đó sẽ có sự quân bình và sự hướng dẫn đúng đắn của mọi mãnh lực sự sống cùng sự phát triển đúng đắn (theo các chỉ dẫn của cung) của mọi trung tâm trong cơ thể.

3. Through this right re-arrangement of the life forces in the body and their consequent “enlightenment and energising”, men will be enabled to do two things, speaking symbolically:—

3. Qua sự tái sắp xếp đúng đắn này của các mãnh lực sự sống trong cơ thể và sự “soi sáng và tiếp năng lượng” hệ quả của chúng, con người sẽ có thể làm được hai điều, nói theo biểu tượng:—

a. They will “see God” and be in touch with the soul.

a. Họ sẽ “thấy Thượng đế” và tiếp xúc với linh hồn.

b. They will “know what is in man” and can then act wisely and work constructively.

b. Họ sẽ “biết điều gì ở trong con người” và khi đó có thể hành động một cách minh triết và làm việc một cách kiến tạo.

4. They will be able to “pierce the glamour of the astral plane” and proceed to function without error and can thus bring about the unimpeded illumination of the brain and the dissemination of knowledge in the brain.

4. Họ sẽ có thể “xuyên thủng ảo cảm của cõi cảm dục” và tiến tới hoạt động không sai lầm, và như thế có thể mang lại sự soi sáng không bị cản trở cho bộ não cùng sự truyền bá tri thức trong bộ não.

You will note from the above how many of the hallucinations, the glamours, the ambitions and the errors of the modern mystic can all be traced to the early stages and the embryonic beginnings of these developments. They are indicative [613] therefore, of unfoldment. But unfortunately they are not understood for what they are and the available light and energy are misapplied or turned to selfish and personal ends. This cannot as yet be avoided by any but the more advanced and experienced disciples and occultists; and many aspirants must continue for some time destroying themselves (from the personality angle and in this life) in what has been called the “fiery light of their misunderstanding and the burning fire of their personality ambition” until they learn that humility and scientific technique which will make them wise directors of the light and the power which is pouring into and through them all the time.

Bạn sẽ nhận thấy từ những điều trên rằng biết bao ảo giác, ảo cảm, tham vọng và sai lầm của nhà thần bí hiện đại đều có thể được truy nguyên về các giai đoạn đầu và những khởi đầu còn phôi thai của các sự phát triển này. Vì vậy, [613] chúng là những dấu hiệu của sự khai mở. Nhưng đáng tiếc là chúng không được hiểu đúng như bản chất của chúng, và ánh sáng cùng năng lượng sẵn có lại bị sử dụng sai lạc hoặc bị hướng vào các mục đích ích kỷ và cá nhân. Hiện nay, điều này chưa thể tránh được đối với bất cứ ai ngoài những đệ tử và nhà huyền bí học tiến bộ hơn và giàu kinh nghiệm hơn; và nhiều người chí nguyện còn phải tiếp tục trong một thời gian tự hủy hoại mình (xét từ góc độ phàm ngã và trong kiếp sống này) trong cái đã được gọi là “ánh sáng rực lửa của sự hiểu lầm của họ và ngọn lửa thiêu đốt của tham vọng phàm ngã của họ”, cho đến khi họ học được đức tính khiêm nhường và kỹ thuật khoa học, điều sẽ khiến họ trở thành những người điều hướng khôn ngoan đối với ánh sáng và quyền năng đang luôn luôn tuôn vào và tuôn qua họ.

A study, therefore, of the three types of difficulties, emerging out of the development and the unfoldment of the psychic powers brings me to a wide generalisation, to which you must remember there will be many exceptions:—

Vì vậy, một sự nghiên cứu về ba loại khó khăn nảy sinh từ sự phát triển và sự khai mở của các năng lực thông linh đưa tôi đến một sự khái quát rộng lớn, mà các bạn phải nhớ rằng sẽ có nhiều ngoại lệ:—

1. The appearance of the lower psychic powers usually indicates that the man who is their victim (for we are here only dealing with the abnormalities of the psychic science) is on the third ray or that the third ray is dominant in his personality or a controlling factor in his personality equipment. Frequently an astral body, controlled by the third ray, will be found.

1. Sự xuất hiện của các năng lực thông linh thấp thường cho thấy rằng người là nạn nhân của chúng (vì ở đây chúng ta chỉ đang bàn đến những bất thường của khoa học thông linh) thuộc cung ba hoặc cung ba chi phối trong phàm ngã của y, hay là một yếu tố kiểm soát trong bộ máy phàm ngã của y. Thường thường, người ta sẽ thấy một thể cảm dục được kiểm soát bởi cung ba.

2. The registering of the mystical vision with its attendant difficulties is facilitated when the second ray is controlling and powerful, because the second ray is connected peculiarly with vision and with light.

2. Việc ghi nhận linh ảnh thần bí cùng với những khó khăn đi kèm được tạo điều kiện dễ dàng khi cung hai đang kiểm soát và mạnh mẽ, bởi vì cung hai có liên hệ đặc biệt với tầm nhìn và với ánh sáng.

3. It will be apparent to you that the revelation of power is obviously part of the expression of the first ray type.

3. Các bạn sẽ thấy rõ rằng sự mặc khải về quyền năng hiển nhiên là một phần trong biểu hiện của loại người cung một.

In this way, though all experiences come eventually to the disciple, the three major difficulties with which we have been dealing,—the psychic powers, the problems incident to the [614] mystical vision and the revelation of light and power—have a relation to and a connection with the ray expression. This should be borne in mind by the psychologist, the investigator and the physician. Psychic sensitivity, mystical duality, and dominating power—these are the three major problems of the aspirant and should be studied and understood. They affect the three major centres—the head, the heart and the centre between the eyebrows—in the disciple, for psychic sensitivity is related to the heart, mystical duality to the ajna centre and the problem of power to the highest head centre.

Theo cách này, dù mọi kinh nghiệm cuối cùng đều đến với đệ tử, ba khó khăn chính mà chúng ta đã bàn đến,—các năng lực thông linh, những vấn đề gắn liền với [614] linh ảnh thần bí, và sự mặc khải về ánh sáng và quyền năng—đều có liên hệ và kết nối với biểu hiện cung. Điều này cần được nhà tâm lý học, nhà nghiên cứu và thầy thuốc ghi nhớ. Tính nhạy cảm thông linh, nhị nguyên tính thần bí, và quyền năng chi phối—đó là ba vấn đề lớn của người chí nguyện và cần được nghiên cứu và thấu hiểu. Chúng tác động đến ba trung tâm chính—đầu, tim và trung tâm giữa hai chân mày—trong đệ tử, vì tính nhạy cảm thông linh liên hệ với tim, nhị nguyên tính thần bí liên hệ với trung tâm ajna, và vấn đề quyền năng liên hệ với trung tâm đầu cao nhất.

In the aspirant or advanced human being, they affect the throat, the solar plexus and the sacral centre, but as they are definitely due to an expansion of consciousness, they have little registered or noticeable effect upon the unevolved man or upon the average man who is preoccupied with physical plane life and emotional reactions. He is not passing through the stimulating but disrupting processes of re-orientation, of recognising duality and of fusion of the personality. As we have earlier seen, the processes of integration bring their own problems.

Trong người chí nguyện hay con người tiến hóa cao, chúng tác động đến trung tâm cổ họng, tùng thái dương và trung tâm xương cùng, nhưng vì chúng rõ ràng là do sự mở rộng tâm thức, nên chúng ít có ảnh hưởng được ghi nhận hay dễ nhận thấy nơi người chưa tiến hóa hoặc nơi người trung bình đang bận tâm với đời sống cõi hồng trần và các phản ứng cảm xúc. Y không trải qua các tiến trình kích thích nhưng gây xáo trộn của sự tái định hướng, của việc nhận ra nhị nguyên tính và của sự dung hợp của phàm ngã. Như chúng ta đã thấy trước đây, các tiến trình tích hợp mang theo những vấn đề riêng của chúng.

As time goes on, the stages of difficulty will be more carefully investigated from the angle of the occult hypotheses and then much progress will take place. This will be peculiarly so, if the problems of adolescence are studied, for they are the problems of the Atlantean consciousness and of the mystical unfoldment.

Theo thời gian, các giai đoạn khó khăn sẽ được khảo cứu cẩn thận hơn từ góc độ các giả thuyết huyền bí học, và khi đó sẽ có nhiều tiến bộ. Điều này sẽ đặc biệt đúng nếu các vấn đề của tuổi thiếu niên được nghiên cứu, vì đó là các vấn đề của tâm thức Atlantis và của sự khai mở thần bí.

I would like here to point out that just as the embryo in the womb recapitulates the various stages of animal unfoldment, so the human being, during the years of infancy, adolescence and youth up to the age of 35, recapitulates the various racial stages of consciousness. At 35 years old he should then affirm in himself the stage of the intelligent disciple. Much will be gained by a recognition of this recapitulatory process which [615] —in the New Age which is upon us—will do much to control and to determine the processes of unfoldment to which the child and youth will be subjected by the wise educator.

Tôi muốn ở đây chỉ ra rằng cũng như bào thai trong tử cung lặp lại các giai đoạn khác nhau của sự khai mở động vật, thì con người, trong những năm thơ ấu, thiếu niên và thanh niên cho đến tuổi 35, cũng lặp lại các giai đoạn chủng tộc khác nhau của tâm thức. Đến tuổi 35, khi đó y phải khẳng định trong chính mình giai đoạn của người đệ tử thông tuệ. Sẽ thu được nhiều lợi ích nhờ sự nhận biết tiến trình lặp lại này, tiến trình mà [615] —trong Kỷ Nguyên Mới đang đến với chúng ta—sẽ góp phần rất lớn vào việc kiểm soát và quyết định các tiến trình khai mở mà đứa trẻ và thanh niên sẽ được nhà giáo dục minh triết cho trải qua.

c. DISEASES CONNECTED WITH GROUP CONDITIONS—CÁC BỆNH LIÊN HỆ VỚI NHỮNG ĐIỀU KIỆN NHÓM

We can only briefly touch upon this theme, owing to the fact that group work (esoterically understood) is relatively new, and because the individual, working at this time in a group, is scarcely affected at all by these factors, owing to his relatively partial integration. I refer here to his integration in the group. People are still so insulated in their personalities that they are shut off, in many cases, from group stimulation, group effects and group impulses. It is only as they become decentralised and, therefore, more easily responsive to the group ideas, the group idealism, and to the group aura (with its outbreathing and its inbreathing and its group livingness) that they can and do succumb to those difficulties which group life imposes. Today it is the central figure in the group life, the dominant personality or soul, who is the one to whom the group life and the group thought turns, with all the consequences of such turning. It is this person, upon whom the group life pivots (if I may use such a term), who is the group victim and it is he who pays the price of any group weakness. The expression of the group attitude finds its outlet in him and he is, at times, practically “killed” by the group. No group today is a perfect group. They are in the experimental stage and are largely composed of a few Aquarians, many Pisceans and a number of people who are in a transition stage between these two. The leader or leaders of the new groups are usually of as pure a type of the new age or Aquarian character as is possible or available at this time. This accounts for the failure of the group, as a rule, either to understand the [616] leader or to cooperate with the new ideals as is desired. The leader is a pioneer in a new field of thought and of intention and, therefore, suffers the penalties of his daring and of his spirit of enterprise.

Chúng ta chỉ có thể chạm sơ qua chủ đề này, do sự kiện rằng công việc nhóm (được hiểu theo nghĩa huyền bí) còn tương đối mới, và bởi vì cá nhân, hiện đang làm việc trong một nhóm, hầu như chưa bị các yếu tố này ảnh hưởng chút nào, do sự tích hợp còn tương đối từng phần của y. Ở đây tôi nói đến sự tích hợp của y trong nhóm. Con người vẫn còn quá cô lập trong phàm ngã của mình đến nỗi trong nhiều trường hợp họ bị ngăn cách khỏi sự kích thích của nhóm, các hiệu quả của nhóm và các xung lực của nhóm. Chỉ khi họ trở nên phi tập trung vào bản thân và vì vậy đáp ứng dễ dàng hơn với các ý tưởng của nhóm, lý tưởng của nhóm, và hào quang của nhóm (với sự thở ra và hít vào của nó cùng sức sống nhóm của nó), thì họ mới có thể và thực sự khuất phục trước những khó khăn mà đời sống nhóm áp đặt. Ngày nay, chính nhân vật trung tâm trong đời sống nhóm, phàm ngã hay linh hồn chi phối, là người mà đời sống nhóm và tư tưởng nhóm hướng về, cùng với mọi hậu quả của sự hướng về đó. Chính con người này, người mà đời sống nhóm xoay quanh (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy), là nạn nhân của nhóm và chính y là người phải trả giá cho bất kỳ sự yếu kém nào của nhóm. Sự biểu lộ của thái độ nhóm tìm lối thoát nơi y và đôi khi y thực tế bị nhóm “giết chết”. Ngày nay không có nhóm nào là một nhóm hoàn hảo. Họ đang ở trong giai đoạn thử nghiệm và phần lớn được cấu thành bởi một vài người Bảo Bình, nhiều người Song Ngư và một số người đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai loại này. Người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo của các nhóm mới thường thuộc loại thuần túy nhất có thể có hay có thể tìm được vào lúc này của mẫu người kỷ nguyên mới hay tính cách Bảo Bình. Điều này giải thích tại sao nhóm, thường, hoặc không hiểu được [616] người lãnh đạo, hoặc không hợp tác với các lý tưởng mới như mong muốn. Người lãnh đạo là một người tiên phong trong một lĩnh vực mới của tư tưởng và của chủ ý, và vì vậy phải chịu những hình phạt do sự táo bạo và tinh thần dấn thân của y.

It is not my intention to deal here with group difficulties, for that is not my theme. I am considering the difficulties (amounting often to physical disease) and the problems of the individual who is sensitive to group pressures and group life—a very different thing to the usual problems of the mystics of the past. These can only be studied and investigated today by a consideration of the lives, physical condition, problems, difficulties and deaths of group leaders. I would call this definitely to your attention. The group members—little as they may like to recognise this fact—are not as yet prone to suffer much from the group life, the group emanation and the group energy for they are not yet sufficiently integrated into the group.

Ý định của tôi ở đây không phải là bàn đến các khó khăn của nhóm, vì đó không phải là chủ đề của tôi. Tôi đang xem xét những khó khăn (thường lên đến mức bệnh thể xác) và những vấn đề của cá nhân nhạy cảm với các áp lực nhóm và đời sống nhóm—một điều rất khác với những vấn đề thông thường của các nhà thần bí trong quá khứ. Ngày nay, những điều này chỉ có thể được nghiên cứu và khảo sát bằng cách xem xét đời sống, tình trạng thể xác, các vấn đề, khó khăn và cái chết của các nhà lãnh đạo nhóm. Tôi muốn đặc biệt lưu ý các bạn về điều này. Các thành viên nhóm—dù họ có thể không thích thừa nhận sự kiện này đến đâu—hiện vẫn chưa dễ bị đau khổ nhiều do đời sống nhóm, sự phát xạ của nhóm và năng lượng nhóm, vì họ chưa được tích hợp đầy đủ vào nhóm.

The problem we are considering falls into two major categories and as I seek to deal with them I realise that there is relatively little that I can say. The next century will see the problems more defined and the difficulties more clearly delineated. They are:

Vấn đề mà chúng ta đang xem xét rơi vào hai loại chính, và khi tôi tìm cách bàn đến chúng, tôi nhận ra rằng có tương đối ít điều tôi có thể nói. Thế kỷ tới sẽ thấy các vấn đề được xác định rõ hơn và các khó khăn được phác họa minh bạch hơn. Chúng là:

a. Those arising as a result of the directed thought of the group. On this I can say something.

a. Những điều nảy sinh do kết quả của tư tưởng được định hướng của nhóm. Về điều này tôi có thể nói đôi chút.

b. Diseases, connected with the respiratory tract. On these I can say but little.

b. Các bệnh liên hệ với đường hô hấp. Về những điều này tôi chỉ có thể nói rất ít.

Let us, therefore, look at these problems. We shall have to study the first from the angle of the one most affected by them—the leader or focal point of the group. These same problems may also affect the three or four people who, with the group leader and in collaboration with him, direct the group policies.

Vì vậy, chúng ta hãy xem xét các vấn đề này. Chúng ta sẽ phải nghiên cứu vấn đề thứ nhất từ góc độ của người bị chúng ảnh hưởng nhiều nhất—người lãnh đạo hay tiêu điểm của nhóm. Những vấn đề này cũng có thể ảnh hưởng đến ba hay bốn người mà cùng với người lãnh đạo nhóm và trong sự cộng tác với y, định hướng các chính sách của nhóm.

[617]

[617]

Diseases and Problems Evoked by Directed Group Thought

Các Bệnh và Vấn Đề Được Gợi Lên bởi Tư Tưởng Nhóm Có Định Hướng

It will be obvious to you that the first and most important of these difficulties will be those arising from group criticism, either voiced or strongly felt. This criticism can be based on many things, but is usually rooted in jealousy, thwarted ambition, or pride of individual intellect. Each member of any group, particularly those in the immediate circle of the leader or leaders, is prone to sit in judgment. The responsibility is not theirs; they know not the problems as they truly exist and criticism is, therefore, easy. It should here be remembered that criticism is a virulent poison. It damages in every case eventually the one who criticises—owing to the fact of voiced direction—it hurts still more the one who is criticised. Where there is purity of motive, true love and a large measure of detachment, the subtler bodies of the one who is under attack may remain immune but the physical effects will be definite and where there is any physical weakness or limitation there will be found the localisation of the projected poison.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng khó khăn đầu tiên và quan trọng nhất trong số này sẽ là những điều nảy sinh từ sự chỉ trích của nhóm, hoặc được nói ra hoặc được cảm nhận mạnh mẽ. Sự chỉ trích này có thể dựa trên nhiều điều, nhưng thường bén rễ trong lòng ghen tị, tham vọng bị ngăn trở, hay sự kiêu hãnh của trí tuệ cá nhân. Mỗi thành viên của bất kỳ nhóm nào, đặc biệt là những người trong vòng gần gũi của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo, đều dễ có khuynh hướng ngồi phán xét. Trách nhiệm đó không thuộc về họ; họ không biết các vấn đề như chúng thực sự hiện hữu, và vì vậy sự chỉ trích trở nên dễ dàng. Ở đây cần nhớ rằng sự chỉ trích là một chất độc dữ dội. Cuối cùng, trong mọi trường hợp, nó làm tổn hại chính người chỉ trích—do sự kiện của sự định hướng được phát ngôn—và nó còn làm tổn thương nặng hơn nữa người bị chỉ trích. Nơi nào có sự thuần khiết của động cơ, tình thương chân thật và một mức độ tách rời lớn, thì các thể vi tế của người đang bị tấn công có thể vẫn miễn nhiễm, nhưng các hiệu quả thể xác sẽ rõ rệt, và nơi nào có bất kỳ sự yếu kém hay giới hạn thể xác nào, ở đó sẽ thấy sự khu trú của chất độc được phóng chiếu.

Unvoiced criticism is very dangerous for it is powerfully focussed and strongly, though not individually directed; it issues continuously and as a steady stream, sent forth on the wings of jealousy, ambition, pride in a personal grasp of a supposed situation and a belief that the one who criticises is in a position to understand correctly and could—given right opportunity—take right action. Where the criticism is voiced and expressed in words, it is consequently strengthened by the cooperation of those influenced by the criticism and the consequences of this group-directed thought may result in the physical undoing, and disruption of the physical body of the leader or leaders. This may be a new thought to some and should cause many in the New Age groups to arrest their [618] thoughts and so release their leaders from the disastrous impact of their criticism.

Sự chỉ trích không được nói ra rất nguy hiểm vì nó được tập trung mãnh liệt và được định hướng mạnh mẽ, dù không được định hướng riêng đến từng cá nhân; nó phát ra liên tục như một dòng chảy đều đặn, được gửi đi trên đôi cánh của lòng ghen tị, tham vọng, sự kiêu hãnh về sự nắm bắt cá nhân đối với một tình huống được cho là như vậy, và niềm tin rằng người chỉ trích ở vào vị thế có thể hiểu đúng và—nếu có cơ hội thích hợp—có thể hành động đúng. Khi sự chỉ trích được nói ra và biểu lộ bằng lời, thì do đó nó được tăng cường bởi sự hợp tác của những người bị ảnh hưởng bởi sự chỉ trích, và hậu quả của tư tưởng được nhóm định hướng này có thể dẫn đến sự suy sụp thể xác và sự tan rã của thể xác của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo. Điều này có thể là một ý tưởng mới đối với một số người và cần khiến nhiều người trong các nhóm Kỷ Nguyên Mới chặn lại [618] các tư tưởng của họ và nhờ đó giải thoát các nhà lãnh đạo của họ khỏi tác động tai hại của sự chỉ trích của họ.

I refer not here to hate, though that is often present, either consciously or unconsciously, but simply to the “sitting in judgment” and to the idle critical gossip which seems necessary to the average group member. It is like the very breath of death and it can not only kill the leader through accumulated poison and distress but it can also kill the group life and render abortive the efforts which could, if given cooperation and time to develop, prove constructive agencies through which the Hierarchy might work.

Ở đây tôi không nói đến lòng thù hận, dù điều đó thường hiện diện, hoặc hữu thức hoặc vô thức, mà chỉ đơn giản nói đến việc “ngồi phán xét” và thứ chuyện phiếm chỉ trích nhàn rỗi dường như là điều cần thiết đối với thành viên nhóm trung bình. Nó giống như chính hơi thở của cái chết, và nó không những có thể giết chết người lãnh đạo qua chất độc tích lũy và nỗi khổ đau, mà còn có thể giết chết đời sống nhóm và làm cho những nỗ lực vốn có thể—nếu được hợp tác và cho thời gian phát triển—chứng tỏ là những tác nhân có tính xây dựng mà qua đó Thánh đoàn có thể hoạt động, trở nên vô hiệu.

From every side and in every group there streams in on the group leader directed criticism, poisonous thoughts, untrue formulated ideas, idle gossip of a destructive kind, the imputation of motives, the unspoken jealousies and hates, the frustrated ambitions of group members, their resentments and their unsatisfied desires for prominence or for recognition by the leader or leaders, their desires to see the leader superseded by themselves or by someone else and many other forms of selfishness and mental pride. These produce results in the physical bodies of the leader or leaders and often in the emotional bodies. The responsibility of the group member is, therefore, great and it is one which they seldom recognise or shoulder. It is hard for them to appreciate the dire effects when one person is the target for group criticism and when the directed thought of a number of persons is focussed on one or two individuals.

Từ mọi phía và trong mọi nhóm, sự chỉ trích có định hướng, những tư tưởng độc hại, những ý tưởng được hình thành không đúng sự thật, chuyện phiếm nhàn rỗi có tính phá hoại, sự quy kết động cơ, những ghen tị và thù ghét không nói ra, những tham vọng bị thất bại của các thành viên nhóm, những oán giận của họ và những ham muốn không được thỏa mãn về sự nổi bật hay về sự được người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo công nhận, những ham muốn của họ muốn thấy người lãnh đạo bị thay thế bởi chính họ hay bởi một ai khác, cùng nhiều hình thức ích kỷ và kiêu hãnh trí tuệ khác, đều tuôn đổ vào người lãnh đạo nhóm. Những điều này tạo ra các kết quả trong thể xác của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo và thường cả trong các thể cảm dục. Vì vậy, trách nhiệm của thành viên nhóm là rất lớn, và đó là một trách nhiệm mà họ hiếm khi nhận ra hay gánh vác. Họ khó mà đánh giá được các hiệu quả nghiêm trọng khi một người là mục tiêu cho sự chỉ trích của nhóm và khi tư tưởng có định hướng của một số người được tập trung vào một hay hai cá nhân.