← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

2. Phụng sự tích cực

Trích nội dung chương

It can be noted that we have not summed up the two planes of abstraction on the atmic and the buddhic planes, the reason being that they mark a degree of realisation which is the property of initiates of higher degree than that of the adept, and which is beyond the concept of the evolving human unit, for whom this treatise is written. Có thể lưu ý rằng chúng ta đã không tổng kết hai cõi trừu tượng trên các cõi atma và Bồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một mức độ chứng nghiệm vốn là sở hữu của các điểm đạo đồ ở cấp độ cao hơn chân sư, và vượt ngoài khái niệm của đơn vị nhân loại đang tiến hoá, là đối tượng mà bộ luận này được viết cho.


2. Phụng sự tích cực

Thứ sáu

2. Active service

6th

3. Sự chứng ngộ

Thứ năm

3. Realisation

5th

4. Sự hoàn thiện

Thứ tư

4. Perfection

4th

5. Toàn tri

Thứ ba

5. All knowledge

3rd

[561]

[561]

It can be noted that we have not summed up the two planes of abstraction on the atmic and the buddhic planes, the reason being that they mark a degree of realisation which is the property of initiates of higher degree than that of the adept, and which is beyond the concept of the evolving human unit, for whom this treatise is written.

Có thể lưu ý rằng chúng ta đã không tổng kết hai cõi trừu tượng trên các cõi atma và Bồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một mức độ chứng nghiệm vốn là sở hữu của các điểm đạo đồ ở cấp độ cao hơn chân sư, và vượt ngoài khái niệm của đơn vị nhân loại đang tiến hoá, là đối tượng mà bộ luận này được viết cho.

We might, here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis:

Ở đây, vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các tương ứng của chúng có thể được hình dung dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở:

a. The First Sense… Hearing

a. Giác quan thứ nhất… Thính giác

1. Physical hearing.

1. Thính giác hồng trần.

2. Clairaudience.

2. Thông nhĩ.

3. Higher clairaudience.

3. Thông nhĩ cao hơn.

4. Comprehension (of four sounds).

4. Sự thấu hiểu (bốn âm thanh).

5. Beatitude.

5. Chí phúc.

b. The Second Sense… Touch or feeling.

b. Giác quan thứ hai… Xúc giác hay cảm nhận.

1. Physical touch.

1. Xúc giác hồng trần.

2. Psychometry.

2. Thuật trắc tâm.

3. Planetary psychometry.

3. Thuật trắc tâm hành tinh.

4. Healing.

4. Trị liệu.

5. Active service.

5. Phụng sự tích cực.

c. The Third Sense… Sight

c. Giác quan thứ ba… Thị giác

1. Physical sight.

1. Thị giác hồng trần.

2. Clairvoyance.

2. Thông nhãn.

3. Higher clairvoyance.

3. Thông nhãn cao hơn.

4. Divine vision.

4. linh thị thiêng liêng.

5. Realisation.

5. Sự chứng nghiệm.

d. The Fourth Sense… Taste

d. Giác quan thứ tư… Vị giác

1. Physical taste.

1. Vị giác hồng trần.

2. Imagination.

2. Sự tưởng tượng.

3. Discrimination.

3. Sự phân biện.

4. Intuition.

4. Trực giác.

5. Perfection.

5. Sự toàn hảo.

e. The Fifth Sense… Smell

e. Giác quan thứ năm… Khứu giác

1. Physical smell.

1. Khứu giác hồng trần.

2. Emotional idealism.

2. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc.

3. Spiritual discernment.

3. phân biện tinh thần.

4. Idealism.

4. Chủ nghĩa lý tưởng.

5. All knowledge.

5. Mọi tri thức.

[562]

[562]

Extract 2

Trích đoạn 2

Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme, and to locate himself.

Thính giác cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp con người xác định vị trí của mình trong hệ thống, và định vị chính mình.

Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself.

Xúc giác cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình đối với các thể khác ở ngoài y.

Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others.

Thị giác cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các vận động của mình theo các vận động của những kẻ khác.

Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best.

Vị giác cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y quyết định điều mà đối với y dường như là tốt nhất.

Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself.

Khứu giác cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay tinh chất với chính y.

In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal.

Trong tất cả các định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục đích của các giác quan là làm hiển lộ cái không-phải-ngã, và nhờ đó giúp Bản Ngã phân biện giữa cái thực và cái không thực.

Extract 3

Trích đoạn 3

These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi:

Ba giác quan chính yếu này (nếu tôi có thể mô tả chúng như vậy) rất rõ ràng là liên hệ, mỗi giác quan với một trong ba Thượng đế:

Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos.

Thính giác—sự nhận biết linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Thượng đế thứ ba.

Touch—The recognition of the sevenfold Form Builder, the gathering together of forms, their approximation and interrelation, the second Logos. The Law of Attraction between the Self and the not-self begins to work.

Xúc giác—sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự tập hợp các hình tướng, sự xích lại gần nhau và tương liên của chúng, Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Bản Ngã và cái không-phải-ngã bắt đầu hoạt động.

Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, [563] and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight.

Thị giác—sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, hoạt động giữa mọi hình tướng mà bản ngã chiếm cứ, [563] và sự nhận biết tính nhất thể cốt yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện của thị giác.

Extract 4

Trích đoạn 4

Hearing

Beatitude.

This is realised through the not-self.

Thính giác

Chí phúc.

Điều này được chứng nghiệm qua phi chân ngã.

Touch

Service.

The summation of the work of the Self for the not-self.

Xúc giác

Phụng sự.

Sự tổng kết công việc của Chân ngã cho phi chân ngã.

Sight

Realisation

Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self.

Thị giác

Chứng nghiệm

Sự nhận biết về tính ba ngôi cần thiết trong biểu lộ, hay hành động phản xạ của Chân ngã và phi chân ngã.

Taste

Perfection.

Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy.

Vị giác

Hoàn hảo.

Tiến hóa hoàn thành qua việc sử dụng phi chân ngã và sự đầy đủ được chứng nghiệm của nó.

Smell

Perfected Knowledge

The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the interrelation between the Self and the not-self.

Khứu giác

Tri Thức Hoàn Hảo

Nguyên khí manas trong hoạt động phân biệt của nó, hoàn thiện mối tương quan giữa Chân ngã và phi chân ngã.

A close study of the above will bring to the open-minded student two major points which he would do well to consider:

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng điều trên sẽ làm hiển lộ cho đạo sinh có đầu óc cởi mở hai điểm chính yếu mà y nên suy xét:

1. That the instinctual nature, as it develops in the three kingdoms (animal, human and divine) is, in fact, that which develops stage by stage into what we call consciousness; it is in reality, the development of a gradual expansion of capacity to be aware of the environment, whatever that environment may be. The herd instinct of the animal is, for instance, the embryonic unfoldment of what is later recognised by the intellect as group consciousness. These higher developments are brought about by the application of the intellect and a change in the motivating power. The same idea can be traced in connection with all the instincts.

1. Rằng bản chất bản năng, khi phát triển trong ba giới (động vật, nhân loại và thiêng liêng), thực ra chính là điều phát triển từng giai đoạn thành cái mà chúng ta gọi là tâm thức; trên thực tế, đó là sự phát triển của một sự mở rộng dần dần năng lực nhận biết môi trường, bất kể môi trường ấy là gì. Chẳng hạn, bản năng bầy đàn của con vật là sự khai mở phôi thai của điều mà về sau trí tuệ nhận biết là tâm thức nhóm. Những phát triển cao hơn này được mang lại nhờ sự vận dụng trí tuệ và một sự thay đổi trong động lực thúc đẩy. Cùng một ý tưởng ấy có thể được truy ra trong mối liên hệ với mọi bản năng.

2. That the lower psychic powers, inherent in the animal nature, are in every case embryonic indications of soul capacities.

2. Rằng các năng lực thông linh thấp, vốn có sẵn trong bản chất động vật, trong mọi trường hợp đều là những chỉ dấu phôi thai của các năng lực linh hồn.

[564]

[564]

Once this idea is grasped, the attitude of the sceptic and unbeliever will change and he will see (as he studies these lower powers) that, rightly understood and utilised, they can be direct avenues of approach to certain states of existence, but are incidental to and not substitutes for the higher powers.

Một khi ý tưởng này được nắm bắt, thái độ của người hoài nghi và kẻ không tin sẽ thay đổi và y sẽ thấy (khi nghiên cứu các năng lực thấp này) rằng, nếu được hiểu đúng và sử dụng đúng, chúng có thể là những con đường trực tiếp dẫn tới một số trạng thái hiện hữu, nhưng chỉ là phụ thuộc chứ không thay thế cho các năng lực cao hơn.

I would like to offer two other points to your consideration:

Tôi muốn nêu thêm hai điểm khác để các bạn suy xét:

First, that the man or woman who is expressing and interested in these lower powers (which are called the lower siddhis by the oriental philosophy) is demonstrating true powers. They are not however the highest possible powers nor are they the powers which humanity is intended to express unless at the lowest point in evolution and, therefore, allied closely to the animal kingdom; or at the highest point, in which case the greater powers automatically include the lesser. The lower psychic powers are shared with the animal kingdom and with all those human races which are low down in the scale of the human evolution.

Thứ nhất, rằng người nam hay người nữ đang biểu lộ và quan tâm đến các năng lực thấp này (được triết học phương Đông gọi là các siddhi thấp) thực sự đang biểu lộ những năng lực có thật. Tuy nhiên, đó không phải là những năng lực cao nhất có thể có, cũng không phải là những năng lực mà nhân loại được dự định sẽ biểu lộ, trừ phi ở điểm thấp nhất trong tiến hoá và do đó liên hệ chặt chẽ với giới động vật; hoặc ở điểm cao nhất, trong trường hợp ấy các năng lực lớn hơn tự động bao gồm các năng lực nhỏ hơn. Các năng lực thông linh thấp được chia sẻ với giới động vật và với tất cả những giống dân còn ở thấp trên nấc thang tiến hoá nhân loại.

This is a fact and a statement which arouses much antagonism among the present day exponents of these powers, both in and out of the spiritualistic and occult movements. Such people are apt to consider these powers as indicative either of an advanced spiritual condition or as a rare and unique possession, setting their owner apart as more gifted, more wise and more able to advise and direct other human beings than is the ordinary man. This attitude is demonstrated by the immense audiences such people can address and gather around themselves, and the willingness of the public to listen to them and to pay money for the privilege and the benefit of the demonstration and the advice.

Đây là một sự kiện và một phát biểu gây ra nhiều đối kháng nơi những người hiện nay đang cổ xúy các năng lực này, cả trong lẫn ngoài các phong trào thần linh học và huyền bí học. Những người như vậy thường có khuynh hướng xem các năng lực này như dấu hiệu hoặc của một trạng thái tinh thần tiến bộ, hoặc của một sở hữu hiếm có và độc đáo, khiến người sở hữu chúng trở nên khác biệt như được phú cho nhiều năng khiếu hơn, minh triết hơn và có khả năng cố vấn, hướng dẫn những người khác hơn người bình thường. Thái độ này được chứng tỏ qua những thính giả đông đảo mà những người ấy có thể diễn thuyết và quy tụ quanh mình, cũng như qua sự sẵn lòng của công chúng lắng nghe họ và trả tiền để có được đặc ân và lợi ích từ sự biểu diễn và lời khuyên ấy.

Secondly, the difficulty of this situation is increased because, as evolution proceeds, certain more or less advanced [565] people recover these ancient animal propensities and capacities as their power to become inclusive goes forward; they begin to expand their consciousness so that the past as well as the future is brought within their range of awareness. Knowing that they are aspiring to the higher things and towards the world of mystical realisation (in contradistinction to that of psychical realisation), they interpret some episode, which they may have clairvoyantly apprehended, as appertaining to them as individuals; they regard some clairaudient injunction or happening as appropriately theirs, and some vision of a thought form of the Christ or of one of the Masters as indicative of a direct and personal interview with these advanced leaders. They thus enter into the world of glamour and of delusion from which they must, finally with great difficulty, extricate themselves.

Thứ hai, khó khăn của tình trạng này càng tăng thêm vì, khi tiến hoá tiếp diễn, một số người ít nhiều tiến bộ [565] phục hồi các khuynh hướng và năng lực động vật cổ xưa này khi năng lực trở nên bao gồm của họ tiến triển; họ bắt đầu mở rộng tâm thức của mình để quá khứ cũng như tương lai đều được đưa vào phạm vi nhận biết của họ. Biết rằng mình đang khát vọng hướng tới những điều cao cả hơn và hướng tới thế giới của sự chứng nghiệm thần bí (đối lập với sự chứng nghiệm thông linh), họ diễn giải một biến cố nào đó mà họ có thể đã thông nhãn nắm bắt được như là thuộc về chính họ với tư cách cá nhân; họ xem một mệnh lệnh hay biến cố được nghe bằng thông nhĩ nào đó là thích hợp riêng cho họ, và một linh ảnh về một Hình tư tưởng của Đức Christ hay của một trong các Chân sư là dấu hiệu của một cuộc gặp gỡ trực tiếp và cá nhân với các vị lãnh đạo tiến bộ ấy. Do đó họ bước vào thế giới của ảo cảm và mê lầm, từ đó cuối cùng họ phải tự giải thoát ra với rất nhiều khó khăn.

May I also call your attention to the fact that the lines of demarcation between these animal, human and divine states of consciousness are not clear cut as in our tabulation? A recognition of this will call attention to the complexity of the subject and the difficulty of our theme. This complexity can, I think, be well illustrated by a study of the uses of the word telepathy. As generally used today it indicates two powers:

Tôi cũng xin lưu ý các bạn đến sự kiện rằng các ranh giới phân định giữa các trạng thái tâm thức động vật, nhân loại và thiêng liêng này không rõ rệt như trong bảng liệt kê của chúng ta. Việc nhận ra điều này sẽ làm nổi bật tính phức tạp của đề tài và sự khó khăn của chủ đề chúng ta. Tôi nghĩ sự phức tạp này có thể được minh họa rõ qua việc nghiên cứu cách dùng từ viễn cảm. Theo cách dùng phổ biến ngày nay, nó chỉ hai năng lực:

1. An instinctual registering of some situation, some call and some impression which impinges upon the solar plexus centre. This power of impression is Not controlled; there is no supervised intentional mental perception of a directed message; there is only a tuning in on a state of mind or on a condition and situation connected with the one who is regarded as sending the message. In nine cases out of ten, this message is one of distress and goes forward and produces its effect without any capacity on the part of the recipient to induce the reception of the [566] message. An illustration of this would be the recognition by a mother that a loved child is in danger.

1. Một sự ghi nhận theo bản năng về một tình huống, một tiếng gọi và một ấn tượng tác động vào trung tâm tùng thái dương. Năng lực tiếp nhận ấn tượng này không được kiểm soát; không có sự nhận thức trí tuệ có chủ đích và được giám sát về một thông điệp được hướng đến; chỉ có sự bắt nhịp với một trạng thái tâm trí hay với một điều kiện và tình huống liên hệ với người được xem là đang gửi thông điệp. Trong chín trường hợp trên mười, thông điệp này là một thông điệp khốn khó và được truyền đi rồi tạo ra hiệu quả của nó mà người tiếp nhận không có khả năng nào để chủ động tạo ra sự tiếp nhận [566] thông điệp. Một minh họa cho điều này là việc một người mẹ nhận ra rằng đứa con yêu dấu đang gặp nguy hiểm.

2. A form of clairvoyance which enables the man to see that which is hidden, such as the number of symbols on a playing card which is laying face downwards upon the table.

2. Một hình thức thông nhãn giúp người ta thấy điều bị che giấu, chẳng hạn số ký hiệu trên một lá bài đang úp mặt trên bàn.

True telepathy, however, is a direct mental communication from mind to mind and in its more advanced expression is a communication of soul to soul, using the mind later as a formulator of the communication, as in the case of inspiration. It is interesting to note (and instructive also in view of our subject) that in true telepathic registration, the lesser powers may be raised and used at a high level of awareness. It is well known esoterically that

Tuy nhiên, viễn cảm chân chính là một sự giao tiếp trí tuệ trực tiếp từ trí tuệ đến trí tuệ, và trong biểu hiện tiến bộ hơn của nó là một sự giao tiếp từ linh hồn đến linh hồn, về sau dùng trí tuệ như một phương tiện định hình sự giao tiếp, như trong trường hợp cảm hứng. Điều đáng chú ý (và cũng có tính giáo huấn xét theo chủ đề của chúng ta) là trong sự ghi nhận viễn cảm chân chính, các năng lực thấp hơn có thể được nâng lên và sử dụng ở một cấp độ nhận biết cao. Trong huyền bí học, người ta biết rõ rằng

a. Some people simply record telepathically in their minds the information coming from another mind. The registration as well as the communication is wordless and formless. The recipient simply knows and the imparted knowledge takes form in the consciousness without any intermediate stages or steps. This is formless telepathy.

a. Một số người chỉ đơn giản ghi nhận bằng viễn cảm trong trí tuệ của họ thông tin đến từ một trí tuệ khác. Sự ghi nhận cũng như sự truyền đạt đều không lời và vô tướng. Người tiếp nhận đơn giản là biết, và tri thức được truyền đạt tự mang hình thức trong tâm thức mà không có bất kỳ giai đoạn hay bước trung gian nào. Đây là viễn cảm vô tướng.

b. Other people instantaneously step down into form the knowledge which has been imparted; they will see the message, word or information appear before their eyes in written or printed form as if it were imposed upon a moving screen, seen within the head.

b. Những người khác lập tức hạ tri thức được truyền đạt xuống thành hình tướng; họ sẽ thấy thông điệp, từ ngữ hay thông tin hiện ra trước mắt họ dưới dạng chữ viết tay hay chữ in như thể được áp lên một màn ảnh chuyển động, được nhìn thấy bên trong đầu.

c. Others will step the information down into form whereby they hear it.

c. Những người khác nữa sẽ hạ thông tin xuống thành hình tướng theo cách khiến họ nghe được nó.

In these two latter cases, the true man is making use of his latent lower powers, raising them to as high a level as possible and subordinating them to mental or soul uses. The difference [567] between this usage of the power of clairvoyant and clairaudient demonstration is that in this case there is full mental control and understanding, and in the other cases the lower powers are automatically employed, are uncontrolled, are occupied with matters of no true importance and are not understood in any way by the one who is employing them.

Trong hai trường hợp sau này, con người chân chính đang sử dụng các năng lực thấp tiềm ẩn của mình, nâng chúng lên đến mức cao nhất có thể và đặt chúng dưới sự phụ thuộc của các công dụng trí tuệ hay linh hồn. Sự khác biệt [567] giữa cách sử dụng này của năng lực biểu lộ thông nhãn và thông nhĩ là ở chỗ trong trường hợp này có sự kiểm soát và thấu hiểu trọn vẹn của trí tuệ, còn trong các trường hợp kia các năng lực thấp được sử dụng một cách tự động, không được kiểm soát, bận tâm đến những việc không có tầm quan trọng thực sự, và hoàn toàn không được người đang sử dụng chúng hiểu theo bất kỳ cách nào.

The one basic sense, as you well know is that of touch. This is the reason why I have not placed psychometry in any particular category in my tabulation of the instincts, senses and powers. Psychometry is essentially the capacity to work with and to get in touch with the soul of the higher grouping to which the unit in the lower grouping aspires, and with the soul that can thus aspire in any form. It concerns, in reality the “measure” of inclusiveness. This measure will govern, for instance, the relation of the dog or other domesticated animal to a human being, of a man to other men, and of an aspirant to his soul, his master and his group. When this psychometrical inclusiveness is turned towards the world of tangible things—minerals, possessions and other material objects, for instance—we tend to make a magical performance out of it, and to charge money for the demonstration of psychometrical power. We then call this the science of psychometry. Yet it is the same power, turned towards the lower kingdoms as is employed in making contact with the higher. There are three groups of people who use the lower psychic powers, either consciously or unconsciously:

Như các bạn đã biết rõ, giác quan căn bản duy nhất là xúc giác. Đó là lý do vì sao tôi không đặt thuật trắc tâm vào bất kỳ loại riêng biệt nào trong bảng liệt kê của tôi về các bản năng, giác quan và năng lực. Thuật trắc tâm về bản chất là năng lực làm việc với và tiếp xúc với linh hồn của nhóm cao hơn mà đơn vị trong nhóm thấp hơn đang khát vọng vươn tới, và với linh hồn có thể khát vọng như vậy trong bất kỳ hình tướng nào. Thực ra, nó liên quan đến “mức độ” của tính bao gồm. Mức độ này, chẳng hạn, sẽ chi phối mối liên hệ của con chó hay động vật đã được thuần hóa khác với con người, của một người với những người khác, và của một người chí nguyện với linh hồn của mình, chân sư của mình và nhóm của mình. Khi tính bao gồm theo trắc tâm này được hướng về thế giới của những vật hữu hình—chẳng hạn khoáng vật, tài sản và các vật thể vật chất khác—chúng ta có khuynh hướng biến nó thành một màn trình diễn huyền thuật, và thu tiền cho việc biểu diễn năng lực trắc tâm. Khi ấy chúng ta gọi đó là khoa học trắc tâm. Tuy nhiên, đó vẫn là cùng một năng lực, được hướng về các giới thấp cũng như được dùng để tiếp xúc với các giới cao. Có ba nhóm người sử dụng các năng lực thông linh thấp, hoặc có ý thức hoặc vô thức:

1. Those whose evolutionary stage is low enough to permit of their automatic use.

1. Những người có giai đoạn tiến hoá đủ thấp để cho phép họ sử dụng chúng một cách tự động.

2. Those who have brought over the capacity to see and hear on astral levels or to “work magic” from another life—from Atlantean times. These powers are natural to them, but are usually neither understood nor controlled by [568] knowledge and they usually make their owner a victim or an exploiter of these powers.

2. Những người đã mang theo từ một kiếp sống khác—từ thời Atlantis—năng lực thấy và nghe trên các cấp độ cảm dục hoặc “làm huyền thuật”. Những năng lực này là tự nhiên đối với họ, nhưng thường không được [568] tri thức thấu hiểu hay kiểm soát, và thường khiến người sở hữu chúng trở thành nạn nhân hoặc kẻ khai thác các năng lực ấy.

3. The mystic upon the path of vision who (through the bringing in of energy from the soul through meditation and aspiration) stimulates the solar plexus or throat centres and thus opens a door on to the astral plane.

3. Nhà thần bí trên con đường linh thị, người mà (thông qua việc đưa năng lượng từ linh hồn vào bằng tham thiền và khát vọng) kích thích các trung tâm tùng thái dương hay cổ họng và do đó mở ra một cánh cửa vào cõi cảm dục.

In all cases, it is the astral plane which stands revealed. The statement can here be made that where there is colour, form and phenomena analogous to or a replica of that to be found upon the physical plane then there is to be seen the “duplicating phenomena” of the astral plane. Where there is materialisation of forms upon the physical plane you see the joint activity of the astral and etheric planes. You do not have the phenomena of the mental or soul levels. Bear this definitely in mind. The astral plane is—in time and space and to all intents and purposes—a state of real being plus a world of illusory forms, created by man himself and by his imaginative creativity. One of the major lessons to be learnt upon the Path of Discipleship is to learn to distinguish that which is real from that which is illusion.

Trong mọi trường hợp, chính cõi cảm dục là điều được hiển lộ. Ở đây có thể nói rằng ở đâu có màu sắc, hình tướng và các hiện tượng tương tự hoặc là bản sao của những gì được tìm thấy trên cõi hồng trần, thì ở đó có thể thấy “các hiện tượng sao chép” của cõi cảm dục. Ở đâu có sự hiện hình các hình tướng trên cõi hồng trần, ở đó bạn thấy hoạt động phối hợp của cõi cảm dục và cõi dĩ thái. Bạn không có các hiện tượng của các cấp độ trí tuệ hay linh hồn. Hãy ghi nhớ điều này thật rõ. Cõi cảm dục—trong thời gian và không gian và xét về mọi phương diện thực tiễn—là một trạng thái hiện hữu thực cộng với một thế giới của các hình tướng ảo tưởng, do chính con người tạo ra bằng sự sáng tạo tưởng tượng của mình. Một trong những bài học chính yếu phải học trên Con Đường Đệ Tử là học cách phân biện điều gì là thực với điều gì là ảo tưởng.

What then, is to be seen and heard by the medium when in trance or when giving an exhibition of clairvoyance and clairaudience? Several possibilities, which I might list as follows:

Vậy thì, đồng tử thấy và nghe gì khi xuất thần hoặc khi biểu diễn thông nhãn và thông nhĩ? Có một số khả năng, mà tôi có thể liệt kê như sau:

1. A revelation of the “wish life” of the person or the group to whom the medium is addressing himself. This wish life takes form in proportion to the power of the unexpressed wish or the mental ability of the person or persons concerned.

1. Một sự mặc khải về “đời sống ước muốn” của người hay nhóm mà đồng tử đang hướng đến. Đời sống ước muốn này mang hình tướng tương ứng với sức mạnh của ước muốn chưa được biểu lộ hoặc với năng lực trí tuệ của người hay những người liên hệ.

2. A recognition by the medium of the thought forms or thought form to be found in the aura of the person in the audience or circle. These thought forms have been [569] built over a space of time and are usually of some one deeply loved or as deeply disliked. They are often so real in appearance that the person can recognise them when described by the medium and the medium can at the same time by a process of telepathy (via the solar plexus centre) become aware of the things which the sitter wishes to hear, which will be in line with the usual mannerisms and methods of speech and thought of the departed or living friend. This accounts for the mediocre calibre of the usual utterance and statement made at a seance. The average person who frequents a seance is not usually of the highest grade of intelligence, unless he is simply there as an investigator.

2. Sự nhận biết của đồng tử về Hình tư tưởng hay các Hình tư tưởng được tìm thấy trong hào quang của người trong thính giả hay trong vòng tròn. Các Hình tư tưởng này đã được [569] xây dựng qua một khoảng thời gian và thường là về một người nào đó được yêu thương sâu đậm hoặc bị ghét bỏ sâu đậm tương tự. Chúng thường có vẻ ngoài rất thực đến nỗi người ấy có thể nhận ra chúng khi được đồng tử mô tả, và đồng tử đồng thời có thể, qua một tiến trình viễn cảm (qua trung tâm tùng thái dương), nhận biết những điều mà người ngồi dự muốn được nghe, những điều sẽ phù hợp với các kiểu cách và phương thức nói năng, suy nghĩ quen thuộc của người bạn đã qua đời hay còn sống. Điều này giải thích phẩm chất tầm thường của những lời phát biểu và tuyên bố thường thấy trong một Buổi gọi hồn. Người trung bình lui tới một Buổi gọi hồn thường không thuộc hạng trí tuệ cao nhất, trừ phi y chỉ có mặt ở đó với tư cách một người khảo cứu.

3. A few rare cases when a soul on the path of return to incarnation or immediately after death is impelled (for good and sufficient purpose) to make a contact with a friend or relative via a medium. Such cases are known and usually presuppose more than average intelligence on the part of the sitter, the communicator and the medium. They constitute however, the exceptional occurrence.

3. Một vài trường hợp hiếm hoi khi một linh hồn trên Con Đường Trở Về để nhập thể hoặc ngay sau khi chết bị thúc đẩy (vì mục đích tốt đẹp và đầy đủ) để tiếp xúc với một người bạn hay thân nhân qua trung gian của một đồng tử. Những trường hợp như vậy có thật và thường giả định nơi người ngồi dự, người truyền đạt và đồng tử một trí tuệ cao hơn mức trung bình. Tuy nhiên, chúng là những trường hợp ngoại lệ.

4. The revelation to the clairvoyant and clairaudient worker of much of the phenomena of the astral plane, which parallels that of the physical plane and which is conditioned by the quality and calibre of the circle of people who constitute the audience. This, the medium interprets to them and it usually evokes recognition.

4. Sự mặc khải cho người hoạt động thông nhãn và thông nhĩ về phần lớn các hiện tượng của cõi cảm dục, vốn song hành với cõi hồng trần và được tác động bởi phẩm tính và trình độ của vòng người tạo thành thính giả. Điều này, đồng tử diễn giải cho họ và thường khơi dậy sự nhận ra.

I am here casting no doubt on the sincerity of the performance nor on those mediums who are born with these clairvoyant and clairaudient faculties. I am only pointing out that the phenomena which they are contacting is astral in nature and that anyone looking at a circle from the standpoint [570] of the higher psychic powers would note around each sitter a group of astral forms (self-created) of those who have departed physical life through death, of those who are constantly in his thoughts though still alive, and also a kaleidescopic and changing process of appearing and disappearing forms (some quite nebulous and some quite substantial according to the power of thought) which concern the wish life of the sitter, which are concerned with his home affairs, his business or are built up around his health. The sensitive tunes in on these, connects them with the attendant thought forms and hence the production of the usual performance found in the seance room or with the average audience. The medium is truly and accurately relating just what he sees and hears and therefore is sincere and truthful, but because he receives no real training in the art of interpretation and in the technique of distinguishing the illusory from the real, he is, perforce, unable to do more than describe the phenomena seen and the words heard.

Ở đây tôi không hề nghi ngờ sự chân thành của sự biểu diễn hay của những đồng tử được sinh ra với các năng lực thông nhãn và thông nhĩ này. Tôi chỉ nêu ra rằng hiện tượng mà họ đang tiếp xúc có bản chất cảm dục, và rằng bất kỳ ai nhìn vào một vòng tròn từ quan điểm [570] của các năng lực thông linh cao hơn sẽ nhận thấy quanh mỗi người ngồi dự một nhóm các hình tướng cảm dục (do chính họ tạo ra) của những người đã rời bỏ đời sống hồng trần qua cái chết, của những người luôn ở trong tư tưởng của họ dù vẫn còn sống, và cả một tiến trình xuất hiện rồi biến mất đầy màu sắc biến ảo của các hình tướng (một số khá mơ hồ và một số khá rõ nét tùy theo sức mạnh của tư tưởng) liên quan đến đời sống ước muốn của người ngồi dự, liên quan đến việc nhà, công việc làm ăn, hoặc được xây dựng quanh sức khỏe của họ. Người nhạy cảm bắt nhịp với những điều này, nối kết chúng với các Hình tư tưởng đi kèm, và do đó tạo ra màn trình diễn thường thấy trong phòng gọi hồn hay với thính giả trung bình. Đồng tử thực sự và chính xác đang thuật lại đúng điều y thấy và nghe, vì thế y chân thành và trung thực; nhưng vì y không nhận được sự huấn luyện thực sự nào trong nghệ thuật diễn giải và trong kỹ thuật phân biệt cái ảo với cái thực, nên y buộc phải không thể làm gì hơn ngoài việc mô tả các hiện tượng thấy được và các lời nghe được.

When, however, the mystic opens up these same powers as is sometimes the case, the phenomena seen and the words which are heard can be of a very high order. Nevertheless they are still astral, for they concern happenings and phenomena found upon the higher levels of the astral plane. He comes into contact with the spiritual or religious wish life of the race and according to the basic trend of his individual aspiration at the moment so will be his contacts. If he is an earnest and devoted Christian, he will see one of the beautiful and vital thought forms of the Christ there to be found and in the wonder of that revelation, his love and his imagination and all that is best in him will be evoked in adoration and mystery. Hence some of the inspired writings and illumined visions of the mystic. If he is a Hindu, there may come [571] to him a vision of the Lord of Love, Shri Krishna, or, if a Buddhist, he may see the Lord of Light, the Buddha, in all His radiance. If he is an occult student, or a Theosophist or Rosicrucian, he may see a vision of one of the Masters or of the entire Hierarchy of adepts; he may hear words spoken and thus feel assured, past all controversy, that the Great Ones have chosen him for special privilege and for unique service. And yet, his consciousness has never moved from off the astral plane and his contacts have only been a wonderful and inspiring expression of the phenomena of that plane, released to his inner sight and hearing through his aspiration.

Tuy nhiên, khi nhà thần bí khai mở chính những năng lực này, như đôi khi xảy ra, thì các hiện tượng được thấy và các lời được nghe có thể thuộc một trật tự rất cao. Dẫu vậy, chúng vẫn là cảm dục, vì chúng liên quan đến những biến cố và hiện tượng được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục. Y tiếp xúc với đời sống ước muốn tinh thần hay tôn giáo của nhân loại, và tùy theo khuynh hướng căn bản của khát vọng cá nhân của y vào lúc ấy mà các tiếp xúc của y sẽ như thế. Nếu y là một tín đồ Cơ Đốc chân thành và sùng tín, y sẽ thấy một trong những Hình tư tưởng đẹp đẽ và đầy sinh lực của Đức Christ hiện diện ở đó, và trong sự kỳ diệu của mặc khải ấy, tình thương, sự tưởng tượng và tất cả những gì tốt đẹp nhất trong y sẽ được khơi dậy trong sự tôn thờ và huyền nhiệm. Do đó mới có một số trước tác đầy cảm hứng và những linh ảnh được soi sáng của nhà thần bí. Nếu y là một tín đồ Ấn giáo, có thể [571] đến với y một linh ảnh về Chúa Tể của Tình Thương, Shri Krishna, hoặc nếu là một Phật tử, y có thể thấy Chúa Tể của Ánh Sáng, Đức Phật, trong tất cả sự rạng ngời của Ngài. Nếu y là một đạo sinh huyền bí học, hay một nhà Thông Thiên Học hoặc Rosicrucian, y có thể thấy một linh ảnh về một trong các Chân sư hoặc về toàn thể Thánh Đoàn các chân sư; y có thể nghe những lời được nói ra và do đó cảm thấy hoàn toàn chắc chắn, vượt ngoài mọi tranh cãi, rằng Các Đấng Cao Cả đã chọn y cho một đặc ân đặc biệt và một sự phụng sự độc nhất. Thế nhưng, tâm thức của y chưa bao giờ rời khỏi cõi cảm dục, và các tiếp xúc của y chỉ là một biểu hiện kỳ diệu và đầy cảm hứng của các hiện tượng của cõi ấy, được giải phóng cho thị giác và thính giác bên trong của y nhờ khát vọng của y.

All this is brought about through the over-activity of the solar plexus centre, stimulated by the energy pouring in from the heights he has attained in aspirational meditation. The results are very emotional in their nature, and the reactions developed and the subsequent service rendered are on emotional levels. A great deal of this is to be seen among the teachers in the world at this time in many lands. Such teachers have been and are true aspirants. They have awakened in consciousness upon the higher levels of the astral plane. They have there seen the thought forms which humanity has created of the spiritual Hierarchy or the reflections on those levels of that Hierarchy (a still more potent group of thought forms) and have heard repetitions of that which has been said and thought by the world aspirants of all time—all of it most beautiful, good and true. They then proceed to teach and proclaim what they have thus heard, seen and learnt and frequently do much good—on astral levels. They are, all the same, confusing the reflection with the reality, the reproduction with the original, and the humanly constructed with the divinely created.

Tất cả điều này được tạo ra do sự quá hoạt động của trung tâm tùng thái dương, được kích thích bởi năng lượng tuôn vào từ các đỉnh cao mà y đã đạt được trong tham thiền khát vọng. Các kết quả này có bản chất rất cảm xúc, và các phản ứng được phát triển cùng sự phụng sự tiếp theo được thực hiện đều ở trên các cấp độ cảm xúc. Hiện nay có thể thấy rất nhiều điều này nơi các huấn sư trên thế giới ở nhiều xứ sở. Những huấn sư như vậy đã và đang là những người chí nguyện chân thành. Họ đã thức tỉnh trong tâm thức trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục. Ở đó họ đã thấy các Hình tư tưởng mà nhân loại đã tạo ra về Thánh đoàn Tinh thần hoặc các phản ánh trên những cấp độ ấy của Thánh đoàn đó (một nhóm Hình tư tưởng còn mạnh mẽ hơn), và đã nghe những sự lặp lại của những điều đã được nói và nghĩ bởi những người chí nguyện của thế giới qua mọi thời đại—tất cả đều rất đẹp đẽ, tốt lành và chân thật. Rồi họ tiến hành giảng dạy và công bố điều mà họ đã nghe, thấy và học được như vậy, và thường làm được nhiều điều tốt—trên các cấp độ cảm dục. Tuy nhiên, họ vẫn đang nhầm lẫn phản ánh với thực tại, bản sao với nguyên bản, và cái do con người kiến tạo với cái do thiêng liêng sáng tạo.

Forget not, that the astral plane is that whereon man has [572] to learn to distinguish truth from error, and the real from the unreal. Thus those who are deceived are only learning a needed lesson. The fact of the astral plane is being steadily recognised and that is good. The fact of the existence of the spiritual Hierarchy and of Masters is being brought to the attention of the masses even if it is being done by those who are confusing the reflection and the thought form with the reality.

Xin đừng quên rằng cõi cảm dục là nơi con người [572] phải học cách phân biệt chân lý với sai lầm, và cái thực với cái không thực. Vì vậy, những ai bị lừa dối chỉ đang học một bài học cần thiết. Sự kiện về cõi cảm dục đang dần dần được thừa nhận, và điều đó là tốt. Sự kiện về sự hiện hữu của Thánh đoàn Tinh thần và của các Chân sư đang được đưa đến sự chú ý của quần chúng, dù điều đó đang được thực hiện bởi những người đang nhầm lẫn phản ánh và Hình tư tưởng với thực tại.

The question could here properly be asked: How can the mystic avoid this error and confusion? How can he distinguish the real from the illusory? This constitutes an individual problem for every mystic and there is no one profound and scientific rule whereby he can guide his reactions. The only rules which I can give you are so simple that those who are occupied at this time with teaching and proclaiming that which they have astrally contacted may not like to follow them. The attitude of mind which will guard the mystic from astral delusion and error is:

Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi thích đáng: Làm thế nào nhà thần bí có thể tránh được sai lầm và sự nhầm lẫn này? Làm thế nào y có thể phân biệt cái thực với cái ảo? Điều này tạo thành một vấn đề cá nhân đối với mỗi nhà thần bí, và không có một quy luật sâu xa và khoa học duy nhất nào để y có thể dùng mà hướng dẫn các phản ứng của mình. Những quy luật duy nhất mà tôi có thể đưa ra cho các bạn thì quá đơn giản đến nỗi những người hiện đang bận rộn giảng dạy và công bố điều mà họ đã tiếp xúc trên cõi cảm dục có thể sẽ không thích làm theo. Thái độ tâm trí sẽ bảo vệ nhà thần bí khỏi mê lầm và sai lầm cảm dục là:

1. The cultivation of a spirit of true humility. There is a spiritual arrogance which masks itself behind a cloak of humbleness and which is very prevalent at this time. It leads people to regard themselves as the chosen of the Hierarchy to save the world; it leads them to look upon themselves as the mouthpieces of the Masters or of the Christ; it tends to make them separative in their attitudes to other leaders and teachers, refusing to recognise the many aspects of the one work and the many methods which the Mind of God has devised for reaching the masses.

1. Sự vun bồi một tinh thần khiêm tốn chân chính. Có một sự kiêu ngạo tinh thần tự che đậy sau tấm áo khiêm nhường và hiện đang rất phổ biến. Nó khiến người ta xem mình là những kẻ được Thánh đoàn chọn để cứu thế giới; nó khiến họ nhìn mình như những phát ngôn viên của các Chân sư hay của Đức Christ; nó có khuynh hướng làm cho họ trở nên phân ly trong thái độ đối với các nhà lãnh đạo và huấn sư khác, từ chối thừa nhận nhiều phương diện của một công việc duy nhất và nhiều phương pháp mà Trí của Thượng đế đã hoạch định để tiếp cận quần chúng.

2. The refusal to accept any contact or message which has personality implications or which sets its recipient apart, thus tending to the development of a Messiah complex. [573] I like that phrase. It is simple and concise and illustrates dramatically the state of mind and describes the assured nature of the consciousness of many of the present teachers of humanity. A true contact with the Hierarchy and the true accolade of service carries with it the conviction of the existence of the many servers in the one Service, of the many messengers carrying the one message, of the many teachers of the many aspects of the one Truth, and of the many and various ways back to the Heart of God. When this all-embracing revelation accompanies the call to service, then the spirit of inclusiveness is developed and the man can be sure that he is truly called to cooperate and convinced of the reality of his vision.

2. Sự từ chối chấp nhận bất kỳ tiếp xúc hay thông điệp nào có hàm ý về phàm ngã hoặc đặt người tiếp nhận ra riêng biệt, do đó có khuynh hướng dẫn đến sự phát triển của một mặc cảm Đấng Cứu Thế. [573] Tôi thích cụm từ đó. Nó đơn giản và súc tích, và minh họa một cách đầy kịch tính trạng thái trí tuệ, đồng thời mô tả bản chất đầy tự tín của tâm thức nơi nhiều huấn sư hiện nay của nhân loại. Một tiếp xúc chân chính với Thánh Đoàn và sự xác nhận chân chính của phụng sự mang theo sự xác tín về sự hiện hữu của nhiều người phụng sự trong một Phụng Sự duy nhất, của nhiều sứ giả mang một thông điệp duy nhất, của nhiều huấn sư dạy nhiều phương diện của một Chân Lý duy nhất, và của nhiều con đường khác nhau trở về Trái Tim của Thượng đế. Khi sự mặc khải bao trùm tất cả này đi kèm với tiếng gọi phụng sự, thì tinh thần bao gồm được phát triển và con người có thể chắc chắn rằng mình thực sự được kêu gọi hợp tác và xác tín về thực tại của linh thị mình.

3. The freedom from emotional appeal. The true disciple and mystic is ever mentally polarised. His vision is free from the deluding reactions of the solar plexus centre. His vision awakens the heart centre and evokes the response of his personality energy (focussed in the ajna centre) and produces eventually a “centering in the place of light”. This indicates the growing activity of the head centre. He may, later, use controlled emotional appeal in dealing with the masses but he himself seeks to remain free from all emotional control.

3. Sự tự do khỏi mọi lôi cuốn cảm xúc. Đệ tử và nhà thần bí chân chính luôn luôn phân cực trí tuệ. Linh thị của y thoát khỏi những phản ứng mê lầm của trung tâm tùng thái dương. Linh thị của y đánh thức trung tâm tim và gợi lên sự đáp ứng của năng lượng phàm ngã của y (được tập trung trong trung tâm ajna) và cuối cùng tạo ra một “sự định tâm nơi chốn ánh sáng”. Điều này cho thấy hoạt động ngày càng tăng của trung tâm đầu. Về sau, y có thể sử dụng một sự lôi cuốn cảm xúc được kiểm soát khi đề cập đến quần chúng, nhưng chính y tìm cách giữ mình thoát khỏi mọi sự kiểm soát cảm xúc.

We are considering the unfoldment of the psychic powers, producing conditions in the subject which are regarded by the orthodox investigator as pathological in nature or as indicating psychological trouble of a serious kind. However, we are today close to the time when the fact of there being modes of perception other than those of the physical senses will be recognised, and the attitude of medicine and of the psychiatric and neurological sciences will undergo definite [574] changes—much to the assistance and aid of humanity. The development of the psychic powers is basically due at this time (for the whole problem shifts into changing fields as evolution proceeds) to the psychic becoming aware of a field or fields of phenomena which are always present but which remain usually unrecognised because the inner mechanism of perception remains latent or quiescent. In the undeveloped human being or in groups of men who are low down in the racial scale, as also in animals, there is much psychic perception because the sacral centre motivates the physical plane life and the solar plexus centre governs the psychic nature. In these cases, all the higher centres are quiescent and undeveloped. The solar plexus is to the worlds of lower psychic perception what the brain is intended to be in the worlds of higher psychic understanding. In the one case, you have a centre of energy which is so potent that it swings the man into a state of consciousness which is fundamentally astral, thus governing the sex life from the angle of the sentient consciousness; in the other case, you have so close an identification between the head centre in etheric matter and the brain in physical substance that an organ which is definitely physical functions sympathetically, accurately and synchronously with its subjective counterpart, registering impressions from the head centre and the worlds with which that centre puts a man in touch. The two are then as one.

Chúng ta đang xem xét sự khai mở của các năng lực thông linh, tạo ra những điều kiện nơi chủ thể mà nhà khảo cứu chính thống xem là có bản chất bệnh lý hoặc là dấu hiệu của những rối loạn tâm lý nghiêm trọng. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang đến gần thời điểm khi sự kiện rằng có những phương thức tri giác khác ngoài các giác quan hồng trần sẽ được công nhận, và thái độ của y học cùng các khoa học tâm thần và thần kinh sẽ trải qua những [574] thay đổi rõ rệt—đem lại nhiều trợ giúp và hỗ trợ cho nhân loại. Sự phát triển các năng lực thông linh về căn bản hiện nay là do người thông linh trở nên nhận biết một hay nhiều lĩnh vực hiện tượng vốn luôn hiện diện nhưng thường không được nhận ra, bởi vì bộ máy tri giác bên trong vẫn còn tiềm ẩn hay bất động. Trong con người chưa phát triển hoặc trong những nhóm người ở bậc thấp trên thang nhân loại, cũng như nơi động vật, có rất nhiều tri giác thông linh bởi vì trung tâm xương cùng thúc đẩy đời sống cõi hồng trần và trung tâm tùng thái dương chi phối bản chất thông linh. Trong các trường hợp này, mọi trung tâm cao hơn đều bất động và chưa phát triển. Tùng thái dương đối với các thế giới của tri giác thông linh thấp cũng như bộ não được dự định là đối với các thế giới của sự thấu hiểu thông linh cao. Trong trường hợp thứ nhất, bạn có một trung tâm năng lượng mạnh đến mức đưa con người vào một trạng thái tâm thức về căn bản là cảm dục, do đó chi phối đời sống tính dục từ góc độ của tâm thức cảm giác; trong trường hợp kia, có một sự đồng hoá chặt chẽ đến thế giữa trung tâm đầu trong vật chất dĩ thái và bộ não trong chất liệu hồng trần đến nỗi một cơ quan rõ ràng là hồng trần hoạt động một cách cảm ứng, chính xác và đồng bộ với đối phần chủ quan của nó, ghi nhận các ấn tượng từ trung tâm đầu và từ các thế giới mà trung tâm đó đặt con người vào tiếp xúc. Khi ấy, cả hai là một.

In between these stages of low grade psychic life and the spiritual perception of the initiate there is to be found every possible type of sentient consciousness. These can be divided into three major categories:

Ở giữa các giai đoạn của đời sống thông linh cấp thấp này và tri giác tinh thần của điểm đạo đồ, có thể tìm thấy mọi loại tâm thức cảm giác khả hữu. Chúng có thể được chia thành ba loại chính:

1. The unfoldment and use of the psychic powers, both higher and lower.

1. Sự khai mở và sử dụng các năng lực thông linh, cả cao lẫn thấp.

This is the stage of Psychism.

Đây là giai đoạn của Thông linh.

[575]

[575]

2. The evolution of the mystical vision.

2. Sự tiến hoá của linh thị thần bí.

This is the stage of Mysticism.

Đây là giai đoạn của Thần bí học.

3. The revelation of light and power.

3. Sự mặc khải của ánh sáng và quyền năng.

This is the stage of Occultism.

Đây là giai đoạn của Huyền bí học.

All these expressions of divine knowledge are connected with, and dependent upon, the development of the centres. In the low grade human being, the centres are nothing more than slowly revolving, palpitating disks of dim light. In Lemurian days, the sacral centre was the most active and the brightest. In Atlantean days, the solar plexus centre was by far the most significant. Today, as you know, the higher correspondences are coming into functioning activity and humanity is beginning to reap the benefits derived from experience in three races—the Lemurian, the Atlantean and the Aryan.

Mọi biểu hiện này của tri thức thiêng liêng đều liên hệ với, và tùy thuộc vào, sự phát triển của các trung tâm. Trong con người cấp thấp, các trung tâm chẳng là gì hơn ngoài những đĩa sáng mờ nhạt, rung động, quay chậm. Trong thời Lemuria, trung tâm xương cùng là trung tâm hoạt động mạnh nhất và sáng nhất. Trong thời Atlantis, trung tâm tùng thái dương là trung tâm có ý nghĩa vượt xa hơn cả. Ngày nay, như các bạn biết, các tương ứng cao hơn đang đi vào hoạt động chức năng và nhân loại đang bắt đầu gặt hái những lợi ích rút ra từ kinh nghiệm trong ba giống dân—Lemuria, Atlantis và Arya.

The throat centre is now the most active in the majority of cases and the most significant. The time is, however, coming when humanity will function on a large scale and as a mass through the ajna centre; this will take place in the next race for, in the next great cycle of racial development, there will be no people with a Lemurian consciousness to be found anywhere and the “pull” or the activity of the sacral centre will be greatly lessened and controlled. This can be seen happening today among the intelligentsia of the race. The Atlantean state of awareness (which functions primarily through the solar plexus) will be also greatly lessened as the heart centre awakens. Humanity will then be wrestling with difficulties and pathological and psychological troubles which will be based on group conditions and influences and not so much on a man’s individual unfoldment. The beginnings of this can already be seen in its lowest phase in the emergence today of what is called “mass psychology”—a thing practically unknown (except in urban centres) a few hundred years ago. [576] Now it is well nigh planetary in its radius of influence. Public opinion, with its determining and conditioning influence, is another phase of the same emerging factor.

Trung tâm cổ họng hiện nay là trung tâm hoạt động mạnh nhất trong đa số trường hợp và là trung tâm có ý nghĩa nhất. Tuy nhiên, thời điểm đang đến khi nhân loại sẽ hoạt động trên quy mô lớn và như một khối quần chúng qua trung tâm ajna; điều này sẽ diễn ra trong giống dân kế tiếp vì trong chu kỳ lớn kế tiếp của sự phát triển nhân loại, sẽ không còn tìm thấy ở đâu những người có tâm thức Lemuria, và “sức kéo” hay hoạt động của trung tâm xương cùng sẽ được giảm bớt rất nhiều và được kiểm soát. Điều này có thể thấy đang diễn ra ngày nay nơi giới trí thức của nhân loại. Trạng thái nhận biết Atlantis (vốn hoạt động chủ yếu qua tùng thái dương) cũng sẽ được giảm bớt rất nhiều khi trung tâm tim thức tỉnh. Khi ấy, nhân loại sẽ vật lộn với những khó khăn và những rối loạn bệnh lý và tâm lý dựa trên các điều kiện và ảnh hưởng nhóm chứ không quá nhiều trên sự khai mở cá nhân của một con người. Những khởi đầu của điều này đã có thể thấy ngay từ bây giờ trong giai đoạn thấp nhất của nó qua sự xuất hiện ngày nay của cái được gọi là “tâm lý học quần chúng”—một điều hầu như chưa được biết đến (ngoại trừ tại các trung tâm đô thị) cách đây vài trăm năm. [576] Hiện nay, bán kính ảnh hưởng của nó gần như mang tính hành tinh. Dư luận quần chúng, với ảnh hưởng quyết định và định hình của nó, là một phương diện khác của cùng yếu tố đang xuất hiện ấy.

The Aryan state of consciousness, with its coordinating capacity and its mental emphasis, will control the mass of the people, for in the coming race the Atlantean emotional state of consciousness will be to humanity what the Lemurian or low grade type is to the Aryan at this time. The masses will then all come under the category of the intelligentsia, whilst the intelligentsia of today will be the intuitives of tomorrow. In the language of mysticism, the masses will be on the probationary path and the cream of the race will be on the path of discipleship. The number also of the initiates and adepts, present in incarnation in order to carry forward the externalised work of the Hierarchy will be great. The world will then be full of people who will be completely integrated personalities with all the virtues (and consequently all the vices), the ambitions and problems, incident to that stage of awareness.

Trạng thái tâm thức Arya, với năng lực phối hợp và sự nhấn mạnh trí tuệ của nó, sẽ kiểm soát khối quần chúng, vì trong giống dân sắp đến, trạng thái tâm thức cảm xúc Atlantis sẽ đối với nhân loại như loại Lemuria hay cấp thấp đối với người Arya hiện nay. Khi ấy, quần chúng sẽ đều thuộc vào loại giới trí thức, trong khi giới trí thức ngày nay sẽ là những người trực giác của ngày mai. Theo ngôn ngữ của thần bí học, quần chúng sẽ ở trên Con Đường Dự Bị và tinh hoa của nhân loại sẽ ở trên Con Đường Đệ Tử. Số lượng các điểm đạo đồ và chân sư cũng đang lâm phàm để xúc tiến công việc ngoại hiện của Thánh Đoàn sẽ rất lớn. Khi ấy, thế giới sẽ đầy những người là các Phàm ngã tích hợp hoàn toàn với tất cả các đức tính (và do đó tất cả các tật xấu), các tham vọng và các vấn đề gắn liền với giai đoạn nhận biết đó.

It is for this reason that the Hierarchy is working at this time to bring about the fecundation of the race by the cosmic principle of love, so that love and intellect can proceed hand in hand and thus balance each other. It is for this reason that the fact of the existence of the spiritual Hierarchy must be brought to the attention of the masses. This must be done in order to enhance the magnetic power of the love aspect of the hierarchical effort and not in order to awaken fear or awe, for that is of the old order and must disappear.

Chính vì lý do này mà Thánh Đoàn hiện đang hoạt động để đem lại sự thụ tinh cho nhân loại bằng nguyên khí vũ trụ của bác ái, để bác ái và trí tuệ có thể cùng tiến bước song hành và nhờ đó quân bình lẫn nhau. Chính vì lý do này mà sự kiện về sự hiện hữu của Thánh đoàn phải được đưa đến sự chú ý của quần chúng. Điều này phải được thực hiện để tăng cường quyền năng từ tính của phương diện bác ái trong nỗ lực của Thánh Đoàn chứ không phải để khơi dậy sợ hãi hay kinh ngạc, vì đó là thuộc trật tự cũ và phải biến mất.

I might here touch upon the paralleling activity of the forces which are working to prevent the externalisation of the Hierarchy of Light since such a happening as that would mean increased—because proven—power. As you know, on the astral and mental planes centres exist which are [577] called “dark centres” because the emphasis of their activity is upon the material aspect of manifestation and upon the activity of material substance; all energy is subordinated to purely selfish purpose. As I have before stated, the Forces of Light work with the soul, hidden in every form. They are concerned with group purposes and with the founding of the kingdom of God on earth. The dark forces work with the form side of expression and with the founding of a centre of control which will be theirs entirely and which will subdue all the living forms in all kingdoms to their peculiar behests. It is the old story, familiar in Biblical phraseology, of the kingdoms of the world and the kingdom of the Christ, of the power of anti-Christ and the power of Christ. This produced a great climax in Atlantean days and, though the Hierarchy of Light triumphed, it was only by the merest margin. The battle was fought out on the astral plane, though it had its correspondence upon the physical plane, in a great world conflict of which the ancient legend tells us. It ended in the catastrophe of the Flood. The seeds of hate and of separation have been fostered ever since that time and the three modes whereby the forces of darkness seek to control humanity are hatred, aggression and separativeness. The three great spiritual counterparts are love, selfless sharing and synthesis.

Ở đây tôi có thể đề cập đến hoạt động song hành của các mãnh lực đang làm việc để ngăn cản Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn Ánh Sáng, vì một biến cố như thế sẽ có nghĩa là quyền năng gia tăng—bởi đã được chứng minh. Như các bạn biết, trên cõi cảm dục và cõi trí có những trung tâm hiện hữu được [577] gọi là “các trung tâm tối” vì trọng tâm hoạt động của chúng đặt trên phương diện vật chất của biểu hiện và trên hoạt động của chất liệu vật chất; mọi năng lượng đều bị lệ thuộc vào mục đích hoàn toàn ích kỷ. Như tôi đã nói trước đây, các Mãnh Lực Ánh Sáng làm việc với linh hồn, ẩn giấu trong mọi hình tướng. Các Ngài quan tâm đến các mục đích nhóm và đến việc thiết lập Thiên Giới trên trần gian. Các mãnh lực tối làm việc với mặt hình tướng của biểu hiện và với việc thiết lập một trung tâm kiểm soát hoàn toàn thuộc về chúng và sẽ khuất phục mọi hình tướng sống trong mọi giới trước những mệnh lệnh đặc thù của chúng. Đó là câu chuyện cũ, quen thuộc trong ngôn ngữ Kinh Thánh, về các vương quốc của thế gian và vương quốc của Đức Christ, về quyền năng của anti-Christ và quyền năng của Đức Christ. Điều này đã tạo nên một cao trào lớn trong thời Atlantis và, dù Thánh Đoàn Ánh Sáng đã chiến thắng, thì cũng chỉ với một khoảng cách mong manh nhất. Trận chiến đã diễn ra trên cõi cảm dục, dù nó có sự tương ứng của nó trên cõi hồng trần, trong một cuộc xung đột thế giới lớn mà truyền thuyết cổ xưa kể lại cho chúng ta. Nó kết thúc trong thảm họa Đại Hồng Thủy. Những hạt giống của hận thù và chia rẽ đã được nuôi dưỡng kể từ thời đó, và ba phương thức mà các mãnh lực bóng tối tìm cách kiểm soát nhân loại là hận thù, xâm lược và chia rẽ. Ba đối phần tinh thần lớn là bác ái, chia sẻ vô ngã và tổng hợp.

However, the hold of the forces which are working against the living principle of love (as embodied in the Hierarchy) is not gaining ground at this time, for the response of humanity to that which is good and synthetic is much more rapid and general than it was a few hundred years ago. There is much reason to hope that there will be a steady waning of the undesired control. The dark forces are ruled on the physical plane by a group of six oriental leaders and six occidental leaders; of these the oriental are the most powerful because [578] they are the oldest racially and therefore the most experienced. They work by the intensification of glamour and by the stimulation of the lower psychic powers. Their particular point of attack at this time is the group of world disciples and initiates, for these latter are responsible for the fostering of love in the world and for the binding of men together in the spirit of unity. If they cannot succeed with this task now, it should be possible to externalise the Hierarchy and thereby greatly lessen the control of the so-called evil forces.

Tuy nhiên, sự kềm giữ của các mãnh lực đang hoạt động chống lại nguyên khí sống động của bác ái (như được hiện thân trong Thánh Đoàn) hiện nay không gia tăng, vì sự đáp ứng của nhân loại đối với điều thiện và tổng hợp nhanh hơn và phổ biến hơn nhiều so với vài trăm năm trước. Có nhiều lý do để hy vọng rằng sẽ có một sự suy giảm đều đặn của sự kiểm soát không mong muốn. Các mãnh lực tối được cai quản trên cõi hồng trần bởi một nhóm sáu lãnh tụ phương Đông và sáu lãnh tụ phương Tây; trong số này, những vị phương Đông quyền năng hơn vì [578] họ cổ xưa hơn về mặt nhân loại và do đó giàu kinh nghiệm hơn. Chúng hoạt động bằng cách tăng cường ảo cảm và bằng cách kích thích các năng lực thông linh thấp. Điểm tấn công đặc biệt của chúng hiện nay là nhóm các đệ tử thế giới và các điểm đạo đồ, vì chính những người sau này chịu trách nhiệm nuôi dưỡng bác ái trong thế giới và gắn kết những người nam và nữ lại với nhau trong tinh thần hợp nhất. Nếu chúng không thể thành công với nhiệm vụ này ngay bây giờ, thì phải có thể ngoại hiện Thánh Đoàn và nhờ đó làm giảm rất nhiều sự kiểm soát của các mãnh lực được gọi là ác.

If these evil forces cannot induce the disciples everywhere, in group formation or individually, to succumb in some form to glamour, then they will endeavour to utilise group glamour to negative their efforts and force those with whom the disciples work to believe evil, to impugn motives, and to produce such a convincing story that the struggling disciple will be left to fight almost single-handed. If this cannot be done, they may then attack the physical bodies of the workers and agents for the Hierarchy, and seek, through the distress of the physical body, to control the disciple’s output. This does not always prove successful, as the Master can, and often does, protect His disciple. The dark forces work also through the intensification or stimulation of the psychic mechanism, so that the lower psychic powers become abnormally developed and prematurely assume proportions which are almost uncontrollable. This happened on a large scale in Atlantean days and led to the entire astral plane standing revealed, but not understood. Its undesirable potencies were then let loose upon the physical plane and this led to the war between the two great schools of the mysteries the Light and the Dark—which culminated in the destruction of the then known world.

Nếu các mãnh lực ác này không thể khiến các đệ tử ở khắp nơi, trong hình thành nhóm hay cá nhân, khuất phục dưới một hình thức nào đó trước ảo cảm, thì chúng sẽ cố sử dụng ảo cảm nhóm để phủ định các nỗ lực của họ và buộc những người mà các đệ tử làm việc cùng phải tin điều ác, nghi ngờ động cơ, và tạo ra một câu chuyện thuyết phục đến mức người đệ tử đang tranh đấu sẽ bị bỏ lại để chiến đấu gần như đơn độc. Nếu điều này không thể thực hiện, thì chúng có thể tấn công các thể xác của những người hoạt động và các tác nhân của Thánh Đoàn, và tìm cách, qua sự đau khổ của thể xác, kiểm soát sự biểu lộ của đệ tử. Điều này không phải lúc nào cũng thành công, vì Chân sư có thể, và thường vẫn, bảo vệ đệ tử của Ngài. Các mãnh lực tối cũng hoạt động qua việc tăng cường hay kích thích bộ máy thông linh, khiến các năng lực thông linh thấp phát triển một cách bất thường và sớm mang những tỷ lệ gần như không thể kiểm soát. Điều này đã xảy ra trên quy mô lớn trong thời Atlantis và dẫn đến việc toàn bộ cõi cảm dục bị phơi bày, nhưng không được thấu hiểu. Khi ấy, những tiềm lực không mong muốn của nó được giải phóng lên cõi hồng trần và điều này dẫn đến cuộc chiến giữa hai trường phái lớn của các huyền nhiệm, Ánh Sáng và Bóng Tối—đỉnh điểm là sự hủy diệt của thế giới được biết đến lúc bấy giờ.

Today these potencies, light and dark, are again struggling for physical plane expression and supremacy but this time [579] the result is vastly different. The effort to produce soul contact or to hinder it is working out in the form of nervous diseases and pathological conditions and this is affecting potently the group activity of man. The effort by the dark forces to stimulate the lower psychic powers seems able to reach no deeper into matter and form than the etheric vehicles and from there to condition the physical body physiologically in the form of diseases, lesions, nervous troubles and brain afflictions and the many other ways in which the human being is rendered helpless and unfitted to cope with daily living and modern world conditions. But the mind nature has reached a stage of protective usefulness and some of the great guarding barriers which are flung up around humanity at this time are the spirit of scepticism, and the refusal to recognise the existence or the usefulness of the psychic powers. This is a point to be remembered.

Ngày nay, các tiềm lực này, sáng và tối, lại đang tranh đấu để biểu hiện và giành quyền tối thượng trên cõi hồng trần, nhưng lần này [579] kết quả khác biệt vô cùng. Nỗ lực tạo ra tiếp xúc linh hồn hoặc ngăn cản nó đang biểu hiện dưới hình thức các bệnh thần kinh và các tình trạng bệnh lý, và điều này đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động nhóm của con người. Nỗ lực của các mãnh lực tối nhằm kích thích các năng lực thông linh thấp dường như không thể đi sâu hơn vào vật chất và hình tướng ngoài các vận cụ dĩ thái, và từ đó tác động lên thể xác về mặt sinh lý dưới hình thức bệnh tật, thương tổn, rối loạn thần kinh và bệnh não cùng nhiều cách khác khiến con người trở nên bất lực và không thích hợp để đương đầu với đời sống hằng ngày và các điều kiện của thế giới hiện đại. Nhưng bản chất trí tuệ đã đạt đến một giai đoạn hữu dụng có tính bảo vệ, và một số hàng rào che chở lớn được dựng lên quanh nhân loại hiện nay là tinh thần hoài nghi, và sự từ chối công nhận sự hiện hữu hay tính hữu dụng của các năng lực thông linh. Đây là một điểm cần ghi nhớ.

I have several times used the expression “the premature awakening” of the psychic powers. By that I mean the abnormal unfoldment of the powers of clairvoyance and of clairaudience so that the entire lower levels of the astral plane stand revealed, though the possessor of these powers can neither control the phenomena of subtle sight and hearing, nor interpret correctly what he sees and hears. In the earlier animal or savage stage, these faculties are frequently normal and there is no mental reaction of any kind and, therefore, no undue strain is put upon the nervous system and the brain. There is what I might call a flat or unemotional acquiescence in the condition which is due to the complete lack of the interpretative sense and of the dramatic self-conscious attitude of the man who is beginning to use his mind. The moment the “I-consciousness” becomes uppermost, then the possession of these lower psychic powers becomes a hindrance and a complication. Temporarily, they must be thrust into the background in order that the mind principle may assert its control and the life of the soul can then flow out into matured and considered expression upon the physical plane. This relegation of the psychic powers to a position below the threshold of consciousness is the intent of the development planned for the Aryan race.

Tôi đã nhiều lần dùng cụm từ “sự thức tỉnh quá sớm” của các năng lực thông linh. Bởi đó tôi muốn nói đến sự khai mở bất thường của các năng lực thông nhãn và thông nhĩ khiến toàn bộ các cấp thấp của cõi cảm dục bị phơi bày, dù người sở hữu các năng lực này không thể kiểm soát các hiện tượng của thị giác và thính giác vi tế, cũng không thể giải thích đúng điều y thấy và nghe. Trong giai đoạn động vật hay man dã sơ khai, các khả năng này thường là bình thường và không có bất kỳ phản ứng trí tuệ nào, và do đó không tạo ra sự căng thẳng quá mức nào lên hệ thần kinh và bộ não. Có điều mà tôi có thể gọi là một sự chấp nhận phẳng lặng hay vô cảm đối với tình trạng này, do hoàn toàn thiếu ý thức diễn giải và thiếu thái độ ngã thức đầy kịch tính của con người đang bắt đầu sử dụng trí tuệ mình. Ngay khi “tâm thức về cái Tôi” trở nên nổi trội, thì việc sở hữu các năng lực thông linh thấp này trở thành một trở ngại và một sự phức tạp. Tạm thời, chúng phải bị đẩy vào hậu cảnh để nguyên khí trí tuệ có thể khẳng định sự kiểm soát của nó, và đời sống của linh hồn khi ấy có thể tuôn chảy ra thành biểu hiện chín muồi và chín chắn trên cõi hồng trần. Việc đẩy các năng lực thông linh xuống một vị trí dưới ngưỡng tâm thức này là chủ đích của sự phát triển được hoạch định cho nhân loại Arya.

I would like here to point out that I use the word “Aryan” in contradistinction to the majority of the races found in Asia. Speaking generally, we can today classify the races into three groups:

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng tôi dùng từ “Arya” để đối lập với đa số các giống dân được tìm thấy ở châu Á. Nói chung, ngày nay chúng ta có thể phân loại các giống dân thành ba nhóm:

1. The many remnants of the Atlantean or fourth root-race people, plus a very small sprinkling of the Lemurian peoples—so small as to be negligible.

1. Nhiều tàn dư của dân Atlantis hay giống dân gốc thứ tư, cộng với một số rất nhỏ dân Lemuria—nhỏ đến mức có thể bỏ qua.

2. The Aryan race itself, which includes the civilisation of India and all Latins, Teutons, Nordics, and Anglo-Saxons, and their various offshoots.

2. Chính nhân loại Arya, bao gồm nền văn minh Ấn Độ và tất cả các dân tộc Latin, Teuton, Bắc Âu và Anglo-Saxon, cùng các nhánh phát sinh khác nhau của họ.

3. A group which bridges between the Oriental races and the Aryan race which we call the Semitic. This race is neither purely Oriental nor is it Aryan.

3. Một nhóm bắt cầu giữa các giống dân phương Đông và nhân loại Arya mà chúng ta gọi là Semitic. Nhân loại này không hoàn toàn là phương Đông cũng không phải Arya.

The Jews are a group of people in whom the principle of separation is pronouncedly present. For ages they have, with determination and in obedience to the injunctions in the Old Testament, insisted on regarding themselves as a people set apart. For ages they have held themselves separated off from all other peoples in the world. The result is that they are now evoking from the races among whom they are scattered a corresponding desire to force that very separation upon them. Under the law, we draw forth from others what is actually present within ourselves, and to this law, races and nations are no exception. Through the inter-relation of Jew and Gentile, of Semitic and Aryan, and through the solving of [581] the Jewish problem will the great heresy of separateness eventually be fought out.

Người Do Thái là một nhóm người trong đó nguyên khí chia rẽ hiện diện một cách rõ rệt. Trong nhiều thời đại, với quyết tâm và tuân theo các huấn lệnh trong Cựu Ước, họ đã khăng khăng xem mình là một dân tộc được tách riêng. Trong nhiều thời đại, họ đã giữ mình tách biệt khỏi mọi dân tộc khác trên thế giới. Kết quả là hiện nay họ đang gợi lên từ các giống dân mà họ sống phân tán giữa đó một khát vọng tương ứng muốn áp đặt chính sự tách biệt ấy lên họ. Theo định luật, chúng ta rút ra từ người khác điều thực sự hiện diện trong chính chúng ta, và đối với định luật này, các giống dân và quốc gia cũng không là ngoại lệ. Chính qua mối tương quan giữa người Do Thái và dân ngoại, giữa Semitic và Arya, và qua việc giải quyết [581] vấn đề Do Thái mà Đại Tà thuyết về tính chia rẽ cuối cùng sẽ được giải quyết trong đấu tranh.

It is not intended that the Aryan race should be a psychic race. Their goal is bringing the mind nature into prominence. This could not take place if the “drift” of the forces, flowing into the human mechanism was in the direction of the solar plexus—the major centre, governing all lower psychic unfoldment. Just as certain transferences are going on today between the centres below the diaphragm into those above the diaphragm, so the solar plexus (which is like the controlling brain in the animal and the physical-emotional man) must cease finally to control the activities of the human being and the brain must become the seat of the directing agency in its place. Speaking again generally, there are three major controlling factors in the career of a human being:—

Không phải chủ đích rằng nhân loại Arya phải là một nhân loại thông linh. Mục tiêu của họ là đưa bản chất trí tuệ lên nổi bật. Điều này không thể xảy ra nếu “dòng trôi” của các mãnh lực, tuôn vào bộ máy con người, lại hướng về tùng thái dương—trung tâm chính chi phối mọi sự khai mở thông linh thấp. Cũng như ngày nay đang có những sự chuyển dịch nhất định giữa các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm trên cơ hoành, thì tùng thái dương (vốn giống như bộ não kiểm soát nơi động vật và con người hồng trần-cảm xúc) cuối cùng phải chấm dứt việc kiểm soát các hoạt động của con người, và bộ não phải trở thành chỗ ngự của tác nhân chỉ đạo thay thế nó. Nói chung một lần nữa, có ba yếu tố kiểm soát chính trong cuộc đời của một con người:—

1. The solar plexus, corresponding to that stage wherein the play of the forces is physical-etheric-astral.

1. Tùng thái dương, tương ứng với giai đoạn trong đó sự vận hành của các mãnh lực là hồng trần-dĩ thái-cảm dục.

This is the stage of psychic development.

Đây là giai đoạn phát triển thông linh.

2. The ajna centre between the eyebrows, corresponding to the period of integration and of personality control, wherein certain areas of the brain become sensitised and used.

2. Trung tâm ajna giữa hai chân mày, tương ứng với thời kỳ tích hợp và kiểm soát phàm ngã, trong đó một số vùng nhất định của bộ não trở nên nhạy cảm và được sử dụng.

This is the stage of mental development.

Đây là giai đoạn phát triển trí tuệ.

3. The head centre, involving the entire brain area around the pineal gland, wherein the spiritual man assumes control.

3. Trung tâm đầu, bao gồm toàn bộ vùng não quanh tuyến tùng, trong đó con người tinh thần nắm quyền kiểm soát.

This is the stage of soul control.

Đây là giai đoạn kiểm soát của linh hồn.

It is in this latter stage that the higher psychic faculties come into play and the lower powers can then again be used, if deemed desirable. The initiate has full control of all faculties and powers, and knows both when and how to use them the most profitably and with the least expenditure of energy. It [582] should be noted, however, that the average modern psychic or medium does not come under this category, for the initiates and Masters use all Their powers quietly and behind the scenes and not for demonstration before the public. The majority of psychics today are solar plexus workers, though a few—a very few—are beginning to shift their forces into the ajna centre and to develop mental faculties. This has an integrating effect and temporarily is marked by a complete and necessary cessation of the lower powers. In this sense “the mind is the slayer of the real”, but only of the relatively real. That which has seemed real and of importance or which proved interesting and exciting to the average psychic is eventually forced below the threshold of consciousness by the unfoldment of the mind. It is this needed transition period in the case of many of the modern psychics which lies at the root of a number of their undoubted difficulties. They are faced with issues they cannot resolve and which they do not understand as they have no background of occult practice or understanding. They have been brought to the point of discarding the old ways and yet the new techniques of living and of practice mean nothing to them. A future which must be faced without the phenomena which has made the past so exciting, interesting and frequently remunerative does not attract them. Yet, in reality they are faced with the transition out of the Atlantean state of consciousness into the higher and Aryan state of awareness. They are offered a step forward and need to remember that every step forward in evolution and, therefore, towards the spiritual goal, is always at a cost and through the relinquishing of that which has hitherto been held dear.

Chính trong giai đoạn sau cùng này mà các khả năng thông linh cao đi vào hoạt động, và khi ấy các năng lực thấp lại có thể được sử dụng, nếu được xem là đáng mong muốn. Điểm đạo đồ có toàn quyền kiểm soát mọi khả năng và năng lực, và biết cả khi nào lẫn cách nào để sử dụng chúng có lợi nhất và với sự tiêu hao năng lượng ít nhất. Tuy nhiên, [582] cần lưu ý rằng người thông linh hay đồng tử trung bình hiện đại không thuộc loại này, vì các điểm đạo đồ và các Chân sư sử dụng mọi năng lực của Các Ngài một cách lặng lẽ và sau hậu trường chứ không để biểu diễn trước công chúng. Đa số những người thông linh ngày nay là những người hoạt động qua tùng thái dương, dù một số ít—rất ít—đang bắt đầu chuyển các mãnh lực của họ vào trung tâm ajna và phát triển các khả năng trí tuệ. Điều này có tác dụng tích hợp và tạm thời được đánh dấu bằng sự chấm dứt hoàn toàn và cần thiết của các năng lực thấp. Theo nghĩa này, “trí tuệ là kẻ sát hại cái thực”, nhưng chỉ là cái thực tương đối. Điều đã từng có vẻ thực và quan trọng hoặc từng tỏ ra lý thú và kích thích đối với người thông linh trung bình cuối cùng bị buộc xuống dưới ngưỡng tâm thức bởi sự khai mở của trí tuệ. Chính giai đoạn chuyển tiếp cần thiết này trong trường hợp của nhiều người thông linh hiện đại là gốc rễ của một số khó khăn không thể phủ nhận của họ. Họ phải đối diện với những vấn đề mà họ không thể giải quyết và không thấu hiểu vì họ không có nền tảng thực hành hay thấu hiểu huyền bí học. Họ đã được đưa đến điểm phải từ bỏ những lối cũ, nhưng các kỹ thuật sống và thực hành mới lại không có ý nghĩa gì đối với họ. Một tương lai phải đối diện mà không có các hiện tượng đã làm cho quá khứ trở nên quá kích thích, lý thú và thường đem lại thu nhập thì không hấp dẫn họ. Tuy nhiên, trên thực tế họ đang đối diện với sự chuyển tiếp ra khỏi trạng thái tâm thức Atlantis để đi vào trạng thái nhận biết cao hơn và Arya. Họ được trao cho một bước tiến lên và cần nhớ rằng mỗi bước tiến lên trong tiến hoá, và do đó hướng tới mục tiêu tinh thần, luôn luôn phải trả giá và thông qua việc từ bỏ điều cho đến nay vẫn được trân quý.

The psychical difficulties which eventually are many, fall into three general categories:

Những khó khăn thông linh mà cuối cùng trở nên rất nhiều, rơi vào ba loại tổng quát:

[583]

[583]

1. Those arising from the premature awakening of the centres. In these cases, the psychic has no control whatsoever over his powers. He simply knows that he sees and hears that which cannot be seen and heard by the average man. His problem is to live consciously and simultaneously upon the physical and astral planes. He cannot stop himself seeing and hearing and his life becomes most complex and complicated. Where there is this premature awakening in the case of the intellectual man, it frequently produces great difficulty, nervous tension, brain disturbance and always misunderstanding from those around. There is many times a definite drift into insanity. In the case of the average unintelligent person, there is usually a shift of the life—emphasis on to the astral plane and away from the physical plane where it is intended that men should express all that is in them. The psychic then lives altogether in the world of glamour and of lower psychic phenomena. What he sees and relates is truly and sincerely what he has noted but there is no interpretative ability. It is seldom of a high order because the psychic is not of a high order of mentality or influence himself.

1. Những trường hợp phát sinh từ sự thức tỉnh quá sớm của các trung tâm. Trong các trường hợp này, người thông linh hoàn toàn không có sự kiểm soát nào đối với các năng lực của mình. Y chỉ đơn giản biết rằng y thấy và nghe điều mà người bình thường không thể thấy và nghe. Vấn đề của y là sống một cách hữu thức và đồng thời trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Y không thể ngăn mình thấy và nghe, và đời sống của y trở nên hết sức phức tạp và rối ren. Khi có sự thức tỉnh quá sớm này nơi người trí thức, nó thường gây ra khó khăn lớn, căng thẳng thần kinh, rối loạn não bộ và luôn luôn bị những người chung quanh hiểu lầm. Nhiều lần có một xu hướng rõ rệt đi vào điên loạn. Trong trường hợp người trung bình kém thông minh, thường có một sự chuyển dịch trọng tâm đời sống sang cõi cảm dục và rời khỏi cõi hồng trần, nơi con người được dự định phải biểu lộ tất cả những gì ở trong họ. Khi đó người thông linh sống hoàn toàn trong thế giới của ảo cảm và các hiện tượng thông linh thấp. Điều y thấy và thuật lại thật sự và chân thành là điều y đã ghi nhận, nhưng không có khả năng diễn giải. Điều đó hiếm khi thuộc loại cao, vì bản thân người thông linh không thuộc một trình độ trí tuệ hay ảnh hưởng cao.

2. Those arising out of a loose connection existing between the physical body and the etheric body. This produces the various stages of mediumship, of control by entities of some kind or another, of trance conditions and of many kinds of obsession, temporary or permanent.

2. Những trường hợp phát sinh từ một sự liên kết lỏng lẻo hiện hữu giữa thể xác và thể dĩ thái. Điều này tạo ra các giai đoạn khác nhau của đồng tử tính, của sự bị các thực thể thuộc loại này hay loại khác kiểm soát, của các trạng thái xuất thần và của nhiều loại ám nhập, tạm thời hay thường trực.

I do not include in this list the work of the materialising mediums, for their work is of a totally different kind and though not so dangerous to the personality of the medium is perhaps still more undesirable. So completely is the medium divorced (as an astral-mental-soul individual) from his physical body that it becomes dominant [584] in its own field (the material) and can absorb—through the many etheric orifices—the stuff of which certain of the lower forms are constituted; it can attract the primitive substance of a low grade which can be built into shape (and often is) by the thought, either of a sitter or of a group of sitters in a so-called “materialising seance”. With these the medium is en rapport subconsciously. This is not a telepathic rapport but a solar plexus, a psychic rapport. The subject is too abstruse for elaboration here and this form of mediumship must inevitably be discarded as the evolution of the race proceeds.

Tôi không kể vào danh sách này công việc của các đồng tử hiện hình, vì công việc của họ thuộc một loại hoàn toàn khác, và tuy không nguy hiểm cho phàm ngã của đồng tử bằng, có lẽ vẫn còn đáng tránh hơn nữa. Đồng tử bị tách rời hoàn toàn khỏi thể xác của mình (với tư cách một cá nhân cảm dục-trí tuệ-linh hồn), đến nỗi thể xác trở nên chi phối [584] trong lĩnh vực riêng của nó (lĩnh vực vật chất) và có thể hấp thu—qua nhiều lỗ mở dĩ thái—chất liệu mà từ đó một số hình tướng thấp được cấu thành; nó có thể thu hút chất liệu nguyên sơ cấp thấp, thứ có thể được xây dựng thành hình dạng (và thường là như vậy) bởi tư tưởng của một người ngồi dự, hay của một nhóm người ngồi dự trong một “Buổi gọi hồn hiện hình” như người ta gọi. Với những người này, đồng tử ở trong trạng thái tương thông một cách tiềm thức. Đây không phải là sự tương thông viễn cảm mà là sự tương thông thông linh của tùng thái dương. Đề tài này quá thâm áo để khai triển ở đây, và hình thức đồng tử tính này tất yếu phải bị loại bỏ khi sự tiến hoá của nhân loại tiếp diễn.

3. Those which are indicative of an exceeding sensitivity to impressions, to conditions and to atmospheres, surrounding the psychic. This sensitivity is of a somewhat inchoate nature and is difficult to define, but it is analogous to the general sense of Touch. There is no part of the human frame which, if it is touched in a certain manner, will not react. So the sensitive will register psychic awareness of a more general nature than that of the defined powers. We have consequently:

3. Những trường hợp biểu thị một sự nhạy cảm quá mức đối với các ấn tượng, các điều kiện và các bầu khí bao quanh người thông linh. Sự nhạy cảm này có bản chất phần nào chưa định hình và khó xác định, nhưng nó tương tự với cảm giác chung về Xúc chạm. Không có phần nào của cơ thể con người mà, nếu bị chạm theo một cách nào đó, lại không phản ứng. Cũng vậy, người nhạy cảm sẽ ghi nhận một nhận biết thông linh có tính tổng quát hơn là các năng lực xác định. Do đó, chúng ta có:

Physical Psychic Higher Correspondence

Hồng trần Thông linh Tương ứng Cao hơn

a. Hearing...Clairaudience...This leads eventually to mental telepathy and finally to spiritual knowledge.

a. Thính giác...Thông nhĩ...Điều này cuối cùng dẫn đến viễn cảm trí tuệ và sau hết đến tri thức tinh thần.

b. Sight...Clairvoyance...This leads eventually to spiritual vision and finally to spiritual identification.

b. Thị giác...Thông nhãn...Điều này cuối cùng dẫn đến linh thị tinh thần và sau hết đến sự đồng hoá tinh thần.

c. Touch...Sensitivity...This leads eventually to spiritual aspiration and finally to spiritual impressibility.

c. Xúc giác...Sự nhạy cảm...Điều này cuối cùng dẫn đến khát vọng tinh thần và sau hết đến tính cảm ứng tinh thần.

It might here be pointed out that mystical development and aspiration are the way of escape from the highest aspect of the Atlantean consciousness. This is itself astral in nature. [585] Occultism and science are the way of escape from the highest expression of the concrete mind, and from the Aryan consciousness, which is mental in nature. Sensitivity or the psychic sense of touch is etheric in nature, is general in expression and must eventually give place to that spiritual impressibility which enables a man, like the Christ, simply to “know” what is in his fellow man and to be aware of his condition and of the condition of life in all forms. It is the first step towards that universal spiritual key of which psychometry is the lowest expression.

Ở đây có thể chỉ ra rằng sự phát triển thần bí và khát vọng là con đường thoát khỏi phương diện cao nhất của tâm thức Atlantis. Bản thân điều này có bản chất cảm dục. [585] Huyền bí học và khoa học là con đường thoát khỏi biểu hiện cao nhất của trí cụ thể, và khỏi tâm thức Arya, vốn có bản chất trí tuệ. Sự nhạy cảm hay cảm giác xúc chạm thông linh có bản chất dĩ thái, có biểu hiện tổng quát, và cuối cùng phải nhường chỗ cho tính cảm ứng tinh thần, điều giúp một người, như Đức Christ, đơn giản “biết” điều gì ở trong người đồng loại của mình và nhận biết trạng thái của họ cũng như trạng thái của sự sống trong mọi hình tướng. Đó là bước đầu tiên hướng tới chiếc chìa khóa tinh thần phổ quát mà Thuật trắc tâm là biểu hiện thấp nhất của nó.

In the above paragraph and differentiations I have given you much food for thought and indicated a sequence of unfoldment which is individual, racial and universal.

Trong đoạn trên và các sự phân biệt ấy, tôi đã cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm và đã chỉ ra một chuỗi khai mở có tính cá nhân, chủng tộc và phổ quát.

If we extend these ideas into their planetary connotations (which is interesting but probably quite useless to you) I would add that:

Nếu chúng ta mở rộng các ý tưởng này vào các hàm nghĩa hành tinh của chúng (điều này thú vị nhưng có lẽ khá vô ích đối với các bạn), tôi sẽ thêm rằng:

1. Touch.....is the keynote of the evolution proceeding at this time on Venus. It is sensitivity to spiritual impression.

1. Xúc chạm.....là chủ âm của sự tiến hoá đang diễn ra vào lúc này trên Sao Kim. Đó là sự nhạy cảm đối với cảm ứng tinh thần.

2. Hearing....is the keynote of the evolution proceeding at this time on Mars. It is spiritual telepathy and knowledge.

2. Thính giác....là chủ âm của sự tiến hoá đang diễn ra vào lúc này trên Sao Hỏa. Đó là viễn cảm tinh thần và tri thức.

3. Sight......is the keynote of the evolution proceeding at this time on the Earth. It is spiritual vision leading to identification.

3. Thị giác......là chủ âm của sự tiến hoá đang diễn ra vào lúc này trên Trái Đất. Đó là linh thị tinh thần dẫn đến sự đồng hoá.

Let us now consider how the abuse of the lower psychic powers may be arrested temporarily until such time as the initiate may seek to use them, in full consciousness and with full control.

Bây giờ chúng ta hãy xét xem sự lạm dụng các năng lực thông linh thấp có thể được ngăn chặn tạm thời như thế nào cho đến khi điểm đạo đồ có thể tìm cách sử dụng chúng, trong đầy đủ tâm thức và với sự kiểm soát trọn vẹn.

The prime difficulty of the natural psychic and of the man who is born as a medium is his inability intelligently to control the phenomena evidenced. Lack of control of the physical powers is deemed highly undesirable. Lack of psychic control should also be relegated to the same category. The [586] medium is either in trance or his psychic powers are brought into expression through the stimulation which comes from his contact with the group of sitters in the seance room or from a large audience. In other cases, he is all the time living on the borderland of consciousness between the physical and the psychic or astral planes. How can this be changed, provided the medium wishes for such a change, which is rare indeed. In three ways only:

Khó khăn chính của người thông linh bẩm sinh và của người sinh ra đã là đồng tử là sự bất lực của y trong việc kiểm soát một cách thông minh các hiện tượng được biểu lộ. Sự thiếu kiểm soát đối với các năng lực hồng trần bị xem là rất không đáng mong muốn. Sự thiếu kiểm soát thông linh cũng nên được xếp vào cùng loại như vậy. [586] Đồng tử hoặc ở trong trạng thái xuất thần, hoặc các năng lực thông linh của y được đưa vào biểu lộ qua sự kích thích đến từ sự tiếp xúc của y với nhóm người ngồi dự trong phòng gọi hồn hay từ một cử tọa đông đảo. Trong các trường hợp khác, y luôn luôn sống trên ranh giới tâm thức giữa cõi hồng trần và các cõi thông linh hay cảm dục. Điều này có thể được thay đổi như thế nào, giả sử đồng tử mong muốn một sự thay đổi như vậy, điều quả thật hiếm hoi? Chỉ bằng ba cách:

1. By ceasing to be interested in the display of these powers, by refusing to use them any more and by this means causing them gradually to die out. This leads to the closing of the solar plexus centre (and consequently of the open door to the lower levels of the astral plane) and the atrophying of that part of the inner mechanism which has made these powers available.

1. Bằng cách thôi không còn quan tâm đến việc phô diễn các năng lực này, bằng cách từ chối không sử dụng chúng nữa, và bằng phương tiện đó khiến chúng dần dần tàn lụi. Điều này dẫn đến việc đóng trung tâm tùng thái dương (và do đó đóng cánh cửa mở vào các cấp thấp của cõi cảm dục) và làm teo đi phần của bộ máy bên trong vốn đã khiến các năng lực này trở nên khả dụng.

2. By the transference of the attention to the mystical life and to the expression of an intense aspiration towards the spiritual realities. This provides the new interest which eventually becomes dynamically expulsive of the old interests and thus tends to shift the life-emphasis away from the lower levels of the astral plane to the higher levels. This also presupposes a tendency to spiritual orientation on the part of the psychic.

2. Bằng cách chuyển sự chú ý sang đời sống thần bí và sang sự biểu lộ một khát vọng mãnh liệt hướng tới các thực tại tinh thần. Điều này cung cấp mối quan tâm mới, cuối cùng trở nên có tính xua đẩy mạnh mẽ đối với các mối quan tâm cũ, và do đó có khuynh hướng chuyển trọng tâm đời sống ra khỏi các cấp thấp của cõi cảm dục lên các cấp cao hơn. Điều này cũng giả định nơi người thông linh có một xu hướng hướng về tinh thần.

3. By a course of intellectual training and of mental development which would, if persisted in for a sufficient length of time, automatically make the use of the lower powers impossible because the shift of the flow of energy will be into the centres above the diaphragm. It is well known in psychic circles that mental training does bring to a close the psychic cycle.

3. Bằng một tiến trình huấn luyện trí tuệ và phát triển trí tuệ mà, nếu được kiên trì đủ lâu, sẽ tự động làm cho việc sử dụng các năng lực thấp trở nên bất khả, vì sự chuyển dịch của dòng năng lượng sẽ đi vào các trung tâm ở phía trên cơ hoành. Trong các giới thông linh, người ta biết rõ rằng sự huấn luyện trí tuệ quả thật đưa chu kỳ thông linh đến chỗ kết thúc.

There are three ancient rules which—in the last period of the Atlantean cycle—were given by the Adepts of the time [587] to Their disciples. You must bear in mind that the problem before the Hierarchy at that time was to bring to an end temporarily the then normal psychic emphasis and start the flow of the forces to the upper part of the body. These three rules can be connected in your minds with the three methods touched upon above.

Có ba quy luật cổ xưa mà—trong thời kỳ cuối của chu kỳ Atlantis—đã được các chân sư thời đó [587] ban cho các đệ tử của Các Ngài. Các bạn phải ghi nhớ rằng vấn đề đặt ra trước Thánh đoàn vào thời ấy là tạm thời chấm dứt sự nhấn mạnh thông linh khi đó là bình thường và khởi động dòng chảy của các mãnh lực lên phần trên của cơ thể. Ba quy luật này có thể được liên kết trong tâm trí các bạn với ba phương pháp đã được đề cập ở trên.

I. Shun the pits of hell, Oh, Chela. Let your feet go hurrying from the lower way and seek the upper reaches of the plane of glamour. Ascend. Choose for your good companions those who live a life of arduous labour upon the plains of earth. Depart. Descend and live the normal life of Earth. Depart.

I. Hãy tránh các hố địa ngục, hỡi đệ tử. Hãy để đôi chân con vội vã rời xa con đường thấp và tìm đến các vùng cao hơn của cõi ảo cảm. Hãy đi lên. Hãy chọn làm bạn tốt của con những người sống một đời lao động nhọc nhằn trên các đồng bằng của Trái Đất. Hãy rời đi. Hãy đi xuống và sống đời sống bình thường của Trái Đất. Hãy rời đi.

II. Lift up thine eyes, Oh, Chela, and cleanse thine heart and see the vision of thy soul. Look up, not down; within, not out. Live free and hasten towards the higher goal. Depart and seek the distant secret place where dwells thy soul.

II. Hãy ngước mắt lên, hỡi đệ tử, và thanh tẩy trái tim con rồi nhìn thấy linh ảnh của linh hồn con. Hãy nhìn lên, đừng nhìn xuống; nhìn vào trong, đừng nhìn ra ngoài. Hãy sống tự do và mau tiến về mục tiêu cao hơn. Hãy rời đi và tìm nơi bí mật xa xăm nơi linh hồn con ngự trị.

III. Energy follows thought, the ancient rule proclaims. Think, Chela, think and leave behind the realms where thought rules not and where no light revealing can be seen but only self-engendered light and thus deluding. So, therefore, think.

III. Năng lượng đi theo tư tưởng, quy luật cổ xưa tuyên bố như vậy. Hãy suy nghĩ, hỡi đệ tử, hãy suy nghĩ và bỏ lại phía sau các cõi nơi tư tưởng không cai quản và nơi không thể thấy ánh sáng mặc khải nào, mà chỉ có ánh sáng tự phát sinh và vì thế mê hoặc. Do đó, hãy suy nghĩ.

These rules sound simple and familiar but are of profound difficulty to follow, particularly in the ease of the average psychic, and this for two reasons; first, he does not truly desire the loss of the power which the use of the powers confers, and secondly, his mental perception is as a rule so undeveloped that the effort to transfer his consciousness into the higher levels of expression proves too arduous a task. But, where the will is active and the peril entailed by continuing to work on the lowest astral levels is adequately perceived, then in due time the needed effort will be made.

Các quy luật này nghe có vẻ đơn giản và quen thuộc nhưng lại cực kỳ khó tuân theo, đặc biệt trong trường hợp người thông linh trung bình, và điều này vì hai lý do; thứ nhất, y không thật sự mong muốn mất đi quyền năng mà việc sử dụng các năng lực ấy mang lại, và thứ hai, tri giác trí tuệ của y thường kém phát triển đến nỗi nỗ lực chuyển tâm thức của y vào các cấp biểu lộ cao hơn tỏ ra là một nhiệm vụ quá gian nan. Nhưng khi ý chí hoạt động và mối nguy hàm chứa trong việc tiếp tục hoạt động trên các cấp thấp nhất của cõi cảm dục được nhận thức đầy đủ, thì đến lúc thích hợp nỗ lực cần thiết sẽ được thực hiện.

[588]

[588]

The above rules apply to the psychic who is willing enough and intelligent enough to change his orientation and type of work. But what of the man who has drifted into the dangerous ways of the lower psychism when he is an Aryan in consciousness and not an Atlantean? What can he do if the solar plexus centre is over-active and the door to the astral plane stands wide open? He seeks to shut it and to function normally; he distrusts and fears his psychic powers of sight and hearing. There is no one specific or one rule of conduct for much is dependent upon the originating cause, but I will here suggest various rules and remedial lines of behaviour.

Các quy luật trên áp dụng cho người thông linh đủ thiện chí và đủ thông minh để thay đổi sự định hướng và loại công việc của mình. Nhưng còn người đã trượt vào các con đường nguy hiểm của thông linh thấp khi y có tâm thức Arya chứ không phải Atlantis thì sao? Y có thể làm gì nếu trung tâm tùng thái dương quá hoạt động và cánh cửa vào cõi cảm dục mở toang? Y tìm cách đóng nó lại và hoạt động bình thường; y ngờ vực và sợ hãi các năng lực thông linh về thấy và nghe của mình. Không có một phương cách đặc thù hay một quy luật ứng xử duy nhất nào, vì phần lớn phụ thuộc vào nguyên nhân khởi phát, nhưng ở đây tôi sẽ gợi ý nhiều quy luật và đường lối xử sự chữa trị khác nhau.

1. If the door to the astral plane has been opened by following certain breathing exercises, plus certain postures, and other methods taught by ignorant teachers at this time, I would suggest certain preliminary and necessary steps, as follows:

1. Nếu cánh cửa vào cõi cảm dục đã được mở ra do theo đuổi một số bài tập thở, cộng với một số tư thế và các phương pháp khác do những huấn sư thiếu hiểu biết dạy vào lúc này, tôi xin đề nghị một số bước sơ khởi và cần thiết như sau:

a. Let the man drop all such exercises and postures and avoid all contact with the teacher. This is a first and necessary step.

a. Hãy để người ấy từ bỏ tất cả các bài tập và tư thế như vậy và tránh mọi tiếp xúc với huấn sư. Đây là bước đầu tiên và cần thiết.