← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

Ray One

We will express the reaction of these seven ray types to the process of Individualisation (which is the process of identification with form) by seven occult statements which can, if properly understood, give the keynote of the new psychology. They state the major impulse, the native quality, and the technique of unfoldment.

Chúng ta sẽ trình bày phản ứng của bảy kiểu cung này đối với tiến trình biệt ngã hóa (là tiến trình đồng hoá với hình tướng) bằng bảy mệnh đề huyền bí; nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng có thể đưa ra chủ âm của nền tâm lý học mới. Chúng nêu rõ xung lực chủ yếu, phẩm tính bẩm sinh, và kỹ thuật khai mở.

Ray One

Cung một

“The Blessed One flies like an arrow into matter. He destroys (or ruptures) the way by which he might return. He grounds himself deeply in the depths of form.

“Đấng Chân Phúc lao vào vật chất như một mũi tên. Ngài phá hủy (hay chọc thủng) con đường mà qua đó Ngài có thể quay về. Ngài cắm mình sâu trong những tầng sâu của hình tướng.

He asserts: ‘I will return. My power is great. I will destroy all obstacles. Nothing can stop my progress to my goal. Around me lies that which I have destroyed. What must I do?’

Ngài khẳng định: ‘Ta sẽ trở về. Quyền năng của ta rất lớn. Ta sẽ phá tan mọi chướng ngại. Không gì có thể ngăn bước tiến của ta đến mục tiêu. Chung quanh ta là những gì ta đã phá hủy. Ta phải làm gì?’

The answer comes: ‘Order from chaos, O Pilgrim on the way of death, this is the way for you. Love you must learn. Dynamic will you have. The right use of destruction for the furtherance of the Plan, must be the way for you. Adherence to the rhythm of the planet will release the hidden Blessed One and order bring.’“

Câu trả lời đến: ‘Hỡi Kẻ Hành Hương trên con đường của cái chết, từ hỗn mang hãy tạo nên trật tự; đó là con đường dành cho ngươi. Ngươi phải học tình thương. Ngươi sẽ có ý chí năng động. Việc sử dụng đúng đắn sự hủy diệt để thúc đẩy Thiên Cơ phải là con đường dành cho ngươi. Sự tuân thủ nhịp điệu của hành tinh sẽ giải thoát Đấng Chân Phúc ẩn tàng và mang lại trật tự.’”

Ray Two

Cung hai

“The Blessed One built him an ark. Stage by stage he built it, and floated upon the bosom of the waters. Deeply he hid himself, and his light was no more seen,—only his floating ark.

“Đấng Chân Phúc đã xây cho mình một con thuyền. Từng giai đoạn một, Ngài xây nó, rồi trôi trên lòng nước. Ngài ẩn mình thật sâu, và ánh sáng của Ngài không còn được thấy nữa,—chỉ còn con thuyền đang trôi của Ngài.

His voice was heard: ‘l have built and strongly built, but am a prisoner within my building. My light is hidden. Only my word goes forth. Around me lie the waters. Can I return from whence I came? Is the word strong enough to open wide the door? What shall I do?’

Tiếng nói của Ngài được nghe thấy: ‘Ta đã xây dựng, và xây dựng vững chắc, nhưng ta là tù nhân trong chính công trình của mình. Ánh sáng của ta bị che khuất. Chỉ có linh từ của ta phát ra. Chung quanh ta là nước. Ta có thể trở về nơi ta đã đến từ đó chăng? Linh từ có đủ mạnh để mở rộng cánh cửa không? Ta phải làm gì?’

The answer came: ‘Build now an ark translucent, which can reveal the light, O Builder of the ark. And by that light you shall reveal the lighted way. The power to build anew, the right use of the Word, and the using of the light,—these will release the Blessed One, deep hidden in the ark.’“

Câu trả lời đến: ‘Giờ đây hãy xây một con thuyền trong suốt, có thể phô bày ánh sáng, hỡi Người Xây Thuyền. Và nhờ ánh sáng ấy ngươi sẽ phô bày Con Đường được Soi Sáng. Năng lực xây dựng lại, việc sử dụng đúng đắn Linh từ, và việc dùng ánh sáng,—những điều này sẽ giải thoát Đấng Chân Phúc đang ẩn sâu trong con thuyền.’”

[37]

[37]

Ray Three

Cung ba

“The Blessed One gathered force. He hid himself behind a veil. He rolled himself within that veil, and deeply hid his face. Naught could be seen but that which veiled, and active motion. Within the veil was latent thought.

“Đấng Chân Phúc tập hợp mãnh lực. Ngài ẩn mình sau một bức màn. Ngài cuộn mình trong bức màn ấy, và giấu sâu gương mặt mình. Không gì có thể được thấy ngoài điều đang che phủ, và sự chuyển động linh hoạt. Bên trong bức màn là tư tưởng tiềm tàng.

The thought reached forth: ‘Behind this veil of maya I stand, a Blessed One, but unrevealed. My energy is great, and through my mind I can display the glory of divinity. How can I, therefore, demonstrate this truth? What shall I do? I wander in illusion.’

Tư tưởng vươn ra: ‘Sau bức màn ảo lực này ta đứng đây, một Đấng Chân Phúc, nhưng chưa được hiển lộ. Năng lượng của ta rất lớn, và qua trí tuệ của mình ta có thể biểu lộ vinh quang của thiên tính. Vậy thì làm sao ta có thể chứng tỏ chân lý này? Ta phải làm gì? Ta lang thang trong ảo tưởng.’

The word went forth: ‘All is illusion, O Dweller in the shadows. Come forth into the light of day. Display the hidden glory of the Blessed One, the glory of the One and Only. The glory and the truth will rapidly destroy that which has veiled the truth. The prisoner can go free. The rending of the blinding veil, the clear pronouncing of the truth, and practice right will render to the Blessed One that golden thread which will provide release from all the maze of earth existence.’“

Linh từ phát ra: ‘Mọi sự đều là ảo tưởng, hỡi Kẻ Chận Ngõ trong bóng tối. Hãy bước ra ánh sáng ban ngày. Hãy phô bày vinh quang ẩn tàng của Đấng Chân Phúc, vinh quang của Đấng Duy Nhất. Vinh quang và chân lý sẽ nhanh chóng phá hủy điều đã che khuất chân lý. Tù nhân có thể được tự do. Việc xé toạc bức màn làm mù lòa, việc tuyên xướng rõ ràng chân lý, và thực hành đúng đắn sẽ trao lại cho Đấng Chân Phúc sợi chỉ vàng sẽ đem đến sự giải thoát khỏi mọi mê lộ của sự tồn tại trên địa cầu.’”

Ray Four

Cung bốn

“The Blessed One rushed forth to combat. He saw existence as two warring forces, and fought them both. Loaded with the panoply of war, he stood midway, looking two ways. The clash of battle, the many weapons he had learned to use, the longing not to fight, the thrill of finding those he fought were but brothers and himself, the anguish of defeat, the paean of his victory,—these held him down.

“Đấng Chân Phúc lao ra chiến đấu. Ngài thấy sự tồn tại như hai mãnh lực giao tranh, và chiến đấu với cả hai. Mang đầy đủ binh giáp chiến tranh, Ngài đứng ở giữa, nhìn về hai phía. Sự va chạm của trận chiến, nhiều vũ khí mà Ngài đã học cách sử dụng, nỗi khát khao không muốn chiến đấu, niềm rung động khi nhận ra những kẻ Ngài chiến đấu chống lại chỉ là huynh đệ và chính Ngài, nỗi đau của thất bại, bài ca khải hoàn của chiến thắng,—tất cả những điều ấy giữ Ngài lại.

The Blessed One paused and questioned: ‘Whence come the victory and whence defeat? Am I not the Blessed One Himself? I will invoke the angels to my aid.’

Đấng Chân Phúc dừng lại và hỏi: ‘Chiến thắng từ đâu đến và thất bại từ đâu đến? Chẳng phải chính ta là Đấng Chân Phúc đó sao? Ta sẽ khẩn cầu các thiên thần trợ giúp ta.’

The trumpet sound went forth: ‘Rise up and fight, and reconcile the armies of the Lord. There is no battle. Force the conflict to subside; send for the invocation for the peace of all; form out of two, one army of the Lord; let victory crown the efforts of the Blessed One by harmonising all. Peace lies behind the warring energies.’“

Tiếng kèn vang lên: ‘Hãy đứng dậy và chiến đấu, rồi hòa giải các đạo quân của Chúa Tể. Không có trận chiến nào cả. Hãy buộc xung đột lắng xuống; hãy phát ra lời khẩn cầu cho hòa bình của tất cả; từ hai đạo quân hãy tạo thành một đạo quân của Chúa Tể; hãy để chiến thắng đội mão lên nỗ lực của Đấng Chân Phúc bằng cách hài hòa hóa tất cả. Đằng sau các năng lượng giao tranh là hòa bình.’”

Ray Five

Cung năm

“The Blessed One came forth in ignorance. He wandered in a darkness deep of spirit. He saw no reason for this way of life. He sought among the many threads that weave the [38] outer garment of the Lord, and found the many ways there be, leading to the centre of the web eternal. The forms that weave that web hide the divine reality. He lost himself. Fear entered in.

“Đấng Chân Phúc xuất hiện trong vô minh. Ngài lang thang trong bóng tối sâu thẳm của tinh thần. Ngài không thấy lý do nào cho lối sống này. Ngài tìm kiếm giữa nhiều sợi chỉ dệt nên [38] áo ngoài của Chúa Tể, và thấy có nhiều con đường dẫn đến trung tâm của tấm lưới vĩnh cửu. Những hình tướng dệt nên tấm lưới ấy che giấu thực tại thiêng liêng. Ngài đánh mất chính mình. Sợ hãi xâm nhập.

He asked himself: ‘Another pattern must be woven; another garment formed. What shall I do? Shew me another way to weave.’

Ngài tự hỏi: ‘Phải dệt nên một mô hình khác; phải tạo thành một áo khác. Ta phải làm gì? Hãy chỉ cho ta một cách dệt khác.’

The Word for him came forth in triple form. His mind responded to the vision clear evoked:—’The truth lies hidden in the unknown Way. The Angel of the Presence guards that Way. The mind reveals the Angel and the door. Stand in that Presence. Lift up thine eyes. Enter through that golden door. Thus will the Angel, who is the shadow of the Blessed One, reveal the open door. That Angel too must disappear. The Blessed One remains and passes through that door into the light sublime.’“

Linh từ dành cho Ngài phát ra dưới hình thức tam phân. Trí tuệ của Ngài đáp ứng với linh ảnh rõ ràng được gợi lên:—’Chân lý ẩn giấu trong Con Đường chưa biết. Thiên Thần của Hiện Diện canh giữ Con Đường ấy. Trí tuệ phô bày Thiên Thần và cánh cửa. Hãy đứng trong Hiện Diện đó. Hãy ngước mắt lên. Hãy bước qua cánh cửa vàng ấy. Như vậy Thiên Thần, là cái bóng của Đấng Chân Phúc, sẽ phô bày cánh cửa rộng mở. Thiên Thần ấy cũng phải biến mất. Đấng Chân Phúc còn lại và đi qua cánh cửa ấy vào ánh sáng siêu việt.’”

Ray Six

Cung sáu

“The Blessed One caught the vision of the Way, and followed the Way without discretion. Fury characterised his efforts. The way led down into the world of dual life. Between the pairs of opposites, he took his stand, and as he swung pendent between them, fleeting glimpses of the goal shone forth. He swung in mid-heaven. He sought to swing into that radiant place of light, where stood the door upon the higher Way. But ever he swung between the pairs of opposites.

“Đấng Chân Phúc nắm bắt linh ảnh về Con Đường, và đi theo Con Đường ấy mà không có sự phân biện. Sự cuồng nhiệt đặc trưng cho các nỗ lực của Ngài. Con đường dẫn xuống thế giới của đời sống nhị nguyên. Giữa các cặp đối đãi, Ngài đứng vững, và khi đong đưa giữa chúng, những thoáng thấy mục tiêu chợt lóe lên. Ngài đong đưa giữa trời. Ngài tìm cách đong đưa vào nơi chốn rực sáng ấy, nơi cánh cửa trên Con Đường cao hơn đang hiện diện. Nhưng mãi mãi Ngài vẫn đong đưa giữa các cặp đối đãi.

He spoke at last within himself: ‘I cannot seem to find the Way. I try this way, and tread with force that way, and always with the keenest wish. I try all ways. What shall I do to find The Way?

Cuối cùng Ngài tự nhủ: ‘Dường như ta không thể tìm ra Con Đường. Ta thử con đường này, và bước mạnh trên con đường kia, luôn luôn với ước muốn mãnh liệt nhất. Ta thử mọi con đường. Ta phải làm gì để tìm ra Con Đường?’

A cry went forth. It seemed to come from deep within his heart: ‘Tread thou, O Pilgrim on the Way of sensuous life, the middle, lighted way. It passes straight between the dual worlds. Find thou that narrow, middle way. It leads you to your goal. Seek that perceptive steadiness which leads to proved endurance. Adherence to the chosen Way, and ignoring of the pairs of opposites, will bring this Blessed One upon the lighted way into the joy of proved success.’“

Một tiếng kêu phát ra. Dường như nó đến từ sâu trong tim Ngài: ‘Hỡi Kẻ Hành Hương trên con đường của đời sống cảm giác, hãy bước đi trên con đường ở giữa, được soi sáng. Nó đi thẳng giữa hai thế giới nhị nguyên. Hãy tìm con đường hẹp ở giữa ấy. Nó dẫn ngươi đến mục tiêu. Hãy tìm sự vững vàng tri giác đưa đến sức chịu đựng đã được chứng minh. Sự kiên trì với con đường đã chọn, và sự phớt lờ các cặp đối đãi, sẽ đưa Đấng Chân Phúc này lên con đường được soi sáng vào niềm hoan hỉ của thành công đã được chứng minh.’”

Ray Seven

Cung bảy

“The Blessed One sought the pathway into forms but held [39] with firmness to the hand of the Magician. He sought to reconcile the Pilgrim, who was himself, to life in form. He sought to bring the world of disorder in which he found himself into some kind of order. He wandered far into the deepest depths and became immersed in chaos and disorder. He could not understand, yet still held to the hand of the Magician. He sought to bring about that order that his soul craved. He talked with all he met, but his bewilderment increased.

“Đấng Chân Phúc tìm con đường đi vào các hình tướng nhưng vẫn [39] nắm chặt tay nhà huyền thuật. Ngài tìm cách hòa giải Kẻ Hành Hương, vốn là chính Ngài, với đời sống trong hình tướng. Ngài tìm cách đưa thế giới hỗn loạn mà Ngài thấy mình đang ở trong đó vào một loại trật tự nào đó. Ngài đi sâu vào những tầng sâu nhất và bị chìm ngập trong hỗn mang và vô trật tự. Ngài không thể hiểu, nhưng vẫn nắm chặt tay nhà huyền thuật. Ngài tìm cách mang lại trật tự mà linh hồn Ngài khao khát. Ngài nói chuyện với tất cả những ai Ngài gặp, nhưng sự hoang mang của Ngài càng tăng.

To the Magician thus he spoke: ‘The ways of the Creator must be good. Behind all that which seems to be, must be a Plan. Teach me the purpose of it all. How can I work, immersed in deepest matter? Tell me the thing that I must do?’

Ngài nói với nhà huyền thuật như sau: ‘Những con đường của Đấng Sáng Tạo hẳn phải là tốt lành. Đằng sau mọi điều dường như hiện hữu, hẳn phải có một Thiên Cơ. Hãy dạy ta mục đích của tất cả điều này. Làm sao ta có thể hoạt động khi chìm ngập trong vật chất sâu đậm nhất? Hãy nói cho ta điều ta phải làm?’

The Magician said: ‘Listen, O Worker in the furthest world, to the rhythm of the times. Note the pulsation in the heart of that which is divine. Retire into the silence and attune yourself unto the whole. Then venture forth. Establish the right rhythm; bring order to the forms of life which must express the Plan of Deity.’

Nhà huyền thuật nói: ‘Hỡi người hoạt động trong thế giới xa nhất, hãy lắng nghe nhịp điệu của thời đại. Hãy ghi nhận sự đập nhịp trong trái tim của điều thiêng liêng. Hãy lui vào im lặng và chỉnh hợp mình với toàn thể. Rồi hãy mạo hiểm bước ra. Hãy thiết lập nhịp điệu đúng đắn; hãy mang trật tự đến cho các hình tướng của sự sống vốn phải biểu lộ Thiên Cơ của Thượng đế.’

For this Blessed One release is found in work. He must display his knowledge of the Plan by the sounding of those words which will evoke the Builders of the forms and thus create the new.”

Đối với Đấng Chân Phúc này, sự giải thoát được tìm thấy trong công việc. Ngài phải phô bày tri thức của mình về Thiên Cơ bằng cách xướng lên những lời sẽ gợi lên các đấng kiến tạo của các hình tướng và như thế sáng tạo cái mới.”

It might be of value, if here were summarized in more simple and less occult terms, the significance of the above esoteric stanzas, to express their true meaning in a few succinct and terse phrases. The stanzas are of no use unless they convey to the ray types among the students of this Treatise some useful meaning, whereby they can live more truly.

Sẽ có giá trị nếu ở đây tóm lược, bằng những từ ngữ đơn giản hơn và ít huyền bí hơn, ý nghĩa của các bài kệ bí truyền trên, để diễn đạt ý nghĩa chân thực của chúng trong vài cụm từ ngắn gọn và súc tích. Các bài kệ ấy sẽ vô ích nếu chúng không truyền đạt cho các kiểu cung nơi những đạo sinh của bộ Luận này một ý nghĩa hữu dụng nào đó, nhờ đó họ có thể sống chân thực hơn.

The individualised Spirit expresses itself through the various ray types in the following manner:—

Tinh thần đã biệt ngã hóa tự biểu lộ qua các kiểu cung khác nhau theo cách sau đây:—

Ray One

Cung một

Dynamic one-pointedness.

Tính nhất tâm năng động.

Destructive energy.

Năng lượng hủy diệt.

Power realised selfishly.

Quyền năng được chứng nghiệm một cách ích kỷ.

Lovelessness.

Không có tình thương.

Isolation,

Cô lập,

[40]

[40]

A longing for power and authority.

Khát vọng quyền lực và uy quyền.

Desire to dominate.

Ham muốn thống trị.

Expressed strength and self-will,

Sức mạnh biểu lộ và ý chí cá nhân,

leading to

dẫn đến

A dynamic use of energy for the furtherance of the Plan.

Việc sử dụng năng lượng một cách năng động để thúc đẩy Thiên Cơ.

The use of destructive forces in order to prepare the way for the Builders.

Việc sử dụng các mãnh lực hủy diệt nhằm chuẩn bị con đường cho các Đấng Kiến Tạo.

The will to power in order to cooperate.

Ý chí quyền lực để cộng tác.

Power realised as the major weapon of love.

Quyền năng được chứng nghiệm như vũ khí chủ yếu của tình thương.

Identification with the rhythm of the Whole.

Đồng hoá với nhịp điệu của Toàn Thể.

The cessation of isolation.

Sự chấm dứt cô lập.

Ray Two

Cung hai

The power to build for selfish ends.

Năng lực xây dựng vì những mục đích ích kỷ.

Capacity to sense the Whole and to remain apart.

Khả năng cảm nhận Toàn Thể mà vẫn đứng riêng biệt.

The cultivation of a separative spirit.

Sự nuôi dưỡng tinh thần phân ly.

The hidden light.

Ánh sáng ẩn giấu.

The realisation of selfish desire.

Sự chứng nghiệm ham muốn ích kỷ.

Longing for material well-being.

Khát vọng an lạc vật chất.

Selfishness, and subordination of all soul powers to this end,

Tính ích kỷ, và sự quy phục mọi quyền năng của linh hồn vào mục đích này,

leading to

dẫn đến

Building wisely, in relation to the Plan.

Xây dựng một cách minh triết, trong liên hệ với Thiên Cơ.

Inclusiveness.

Tính bao gồm.

A longing for wisdom and truth.

Khát vọng minh triết và chân lý.

Sensitivity to the Whole.

Tính nhạy cảm với Toàn Thể.

Renunciation of the great heresy of separativeness.

Từ bỏ Đại Tà thuyết về tính phân ly.

The revelation of the light.

Sự mặc khải của ánh sáng.

True illumination.

Sự soi sáng chân chính.

Right speech through generated wisdom.

Lời nói đúng đắn thông qua minh triết được tạo ra.

Ray Three

Cung ba

Force manipulation through selfish desire.

Sự vận dụng mãnh lực qua ham muốn ích kỷ.

Intelligent use of force with wrong motive.

Việc sử dụng năng lượng một cách thông minh với động cơ sai lầm.

Intense material and mental activity.

Hoạt động vật chất và trí tuệ mãnh liệt.

The realisation of energy as an end in itself.

Sự chứng nghiệm năng lượng như cứu cánh tự thân.

Longing for glory, beauty and for material objectives.

Khát vọng vinh quang, vẻ đẹp và các mục tiêu vật chất.

Submergence in illusion, glamour, and maya,

Sự chìm ngập trong ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực,

[41]

[41]

leading to

dẫn đến

The manipulation of energy in order to reveal beauty and truth.

Sự vận dụng năng lượng để phô bày vẻ đẹp và chân lý.

The use of forces intelligently for the furtherance of the Plan.

Việc sử dụng các mãnh lực một cách thông minh để thúc đẩy Thiên Cơ.

Ordered rhythmic activity in cooperation with the Whole.

Hoạt động có trật tự và nhịp điệu trong sự cộng tác với Toàn Thể.

Desire for right revelation of divinity and light.

Khát vọng về sự mặc khải đúng đắn của thiên tính và ánh sáng.

Adherence to right action.

Sự kiên trì trong hành động đúng đắn.

The revelation of glory and good will.

Sự mặc khải của vinh quang và thiện chí.

Ray Four

Cung bốn

Confused combat.

Cuộc chiến hỗn loạn.

The realisation of that which is high and that which is low.

Sự chứng nghiệm điều cao và điều thấp.

The darkness which precedes form expression.

Bóng tối đi trước sự biểu lộ của hình tướng.

The veiling of the intuition.

Sự che khuất trực giác.

The sensing of inharmony, and cooperation with the part and not the whole.

Sự cảm nhận bất hòa, và cộng tác với phần chứ không với toàn thể.

Identification with humanity, the fourth Creative Hierarchy.

Đồng hoá với nhân loại, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

Undue recognition of that which is produced by speech.

Sự công nhận quá mức điều được tạo ra bởi lời nói.

Abnormal sensitivity to that which is the Not Self.

Tính nhạy cảm bất thường với điều là Không-Phải-Bản-Ngã.

Constant points of crisis,

Những điểm khủng hoảng liên tục,

leading to

dẫn đến

Unity and harmony.

Hợp nhất và hài hòa.

The evocation of the intuition.

Sự gợi lên trực giác.

Right judgment and pure reason.

Phán đoán đúng đắn và lý trí thuần khiết.

The wisdom which works through the Angel of the Presence.

Minh triết hoạt động qua Thiên Thần của Hiện Diện.

I could here point out a constant misconception on the part of esotericists. This Fourth Ray of Harmony, Beauty and Art is not the ray, per se, of the creative artist. The creative artist is found equally on all rays, without exception. This ray is the ray of the intuition and of the harmonising of all that has been achieved through the activity of form life, as later synthesised and absorbed by the solar angel; it manifests [42] eventually as all that can be evoked and evolved through the power of the One Life (the Monad) working through form expression. It is the point of meeting for all the energies flowing through the higher spiritual triad and the lower triplicity.

Ở đây tôi có thể chỉ ra một sự ngộ nhận thường xuyên nơi các nhà bí truyền học. Cung bốn của Hài Hòa, Mỹ Lệ và Nghệ Thuật này không phải, chính nó, là cung của người nghệ sĩ sáng tạo. Người nghệ sĩ sáng tạo được tìm thấy đồng đều trên mọi cung, không ngoại lệ. Cung này là cung của trực giác và của sự hài hòa hóa tất cả những gì đã đạt được qua hoạt động của đời sống hình tướng, như về sau được thái dương Thiên Thần tổng hợp và hấp thu; cuối cùng nó biểu lộ [42] như tất cả những gì có thể được gợi lên và tiến hoá qua quyền năng của Sự sống Duy Nhất (chân thần) hoạt động qua sự biểu lộ hình tướng. Nó là điểm gặp gỡ của mọi năng lượng tuôn chảy qua Tam nguyên tinh thần cao hơn và bộ ba thấp hơn.

Ray Five

Cung năm

The energy of ignorance.

Năng lượng của vô minh.

Criticism.

Sự chỉ trích.

The power to rationalise and destroy.

Quyền năng lý giải và hủy diệt.

Mental separation.

Sự phân ly trí tuệ.

Desire for knowledge. This leads to material activity.

Khát vọng tri thức. Điều này dẫn đến hoạt động vật chất.

Detailed analysis.

Sự phân tích chi tiết.

Intense materialism and temporarily the negation of Deity.

Chủ nghĩa duy vật mãnh liệt và tạm thời phủ nhận Thượng đế.

Intensification of the power to isolate.

Sự tăng cường quyền năng cô lập.

The implications of wrong emphasis.

Những hàm ý của sự nhấn mạnh sai lầm.

Distorted views of truth.

Những quan điểm méo mó về chân lý.

Mental devotion to form and form activity.

Sự sùng tín trí tuệ đối với hình tướng và hoạt động của hình tướng.

Theology,

Thần học,

leading to

dẫn đến

A knowledge of reality.

Tri thức về thực tại.

The realisation of the soul and its potentialities.

Sự chứng nghiệm linh hồn và các tiềm năng của nó.

Power to recognize and contact the Angel of the Presence.

Quyền năng nhận biết và tiếp xúc với Thiên Thần của Hiện Diện.

Sensitivity to Deity, to light and to wisdom.

Tính nhạy cảm với Thượng đế, với ánh sáng và với minh triết.

Spiritual and mental devotion.

Sự sùng tín tinh thần và trí tuệ.

The power to take initiation. (This is a point of real importance.)

Quyền năng tiếp nhận điểm đạo. (Đây là một điểm thực sự quan trọng.)

Ray Six

Cung sáu

Violence. Fanaticism. Willful adherence to an ideal.

Bạo lực. Cuồng tín. Cố chấp bám chặt vào một lý tưởng.

Short sighted blindness.

Sự mù quáng thiển cận.

Militarism and a tendency to make trouble with others and with groups.

Chủ nghĩa quân phiệt và khuynh hướng gây rắc rối với người khác và với các nhóm.

The power to see no point except one’s own.

Quyền năng không thấy quan điểm nào ngoài quan điểm của riêng mình.

Suspicion of people’s motives.

Sự nghi ngờ động cơ của người khác.

Rapid reaction to glamour and illusion.

Phản ứng mau lẹ với ảo cảm và ảo tưởng.

Emotional devotion and bewildered idealism.

Sự sùng tín cảm xúc và chủ nghĩa lý tưởng hoang mang.

Vibratory activity between the pairs of opposites.

Hoạt động rung động giữa các cặp đối đãi.

[43]

[43]

Intense capacity to be personal and emphasise personalities,

Khả năng mãnh liệt để trở nên cá nhân và nhấn mạnh các phàm ngã,

leading to

dẫn đến

Directed, inclusive idealism.

Chủ nghĩa lý tưởng có định hướng và bao gồm.

Steadiness of perception through the expansion of consciousness.

Sự vững vàng của tri giác qua sự mở rộng tâm thức.

Reaction to, and sympathy with, the point of view of others.

Sự đáp ứng với, và cảm thông với, quan điểm của người khác.

Willingness to see the work of other people progress along their chosen lines.

Sự sẵn lòng thấy công việc của người khác tiến triển theo những đường lối họ đã chọn.

The choosing of the middle way.

Việc chọn con đường ở giữa.

Peace and not war. The good of the Whole and not the part.

Hòa bình chứ không phải chiến tranh. Điều thiện của Toàn Thể chứ không phải của phần.

Ray Seven

Cung bảy

Black magic, or the use of magical powers for selfish ends.

Hắc thuật, hay việc sử dụng các quyền năng huyền thuật cho những mục đích ích kỷ.

The power to “sit upon the fence” till the selfish values emerge.

Quyền năng “ngồi trên hàng rào” cho đến khi các giá trị ích kỷ xuất hiện.

Disorder and chaos, through misunderstanding of the Plan.

Vô trật tự và hỗn mang, do hiểu sai Thiên Cơ.

The wrong use of speech to bring about chosen objectives.

Việc sử dụng sai lời nói để đạt đến các mục tiêu đã chọn.

Untruth.

Sự không chân thật.

Sex magic. The selfish perversion of soul powers.

Huyền thuật tính dục. Sự xuyên tạc ích kỷ các quyền năng của linh hồn.

leading to

dẫn đến

White magic, the use of soul powers for spiritual ends.

Chánh Thuật, việc sử dụng các quyền năng của linh hồn cho những mục đích tinh thần.

The identification of oneself with reality.

Sự đồng hoá chính mình với thực tại.

Right order through right magic.

Trật tự đúng đắn qua huyền thuật đúng đắn.

Power to cooperate with the Whole.

Quyền năng cộng tác với Toàn Thể.

Understanding of the Plan.

Sự thấu hiểu Thiên Cơ.

The magical work of interpretation.

Công việc huyền thuật của sự diễn giải.

Manifestation of divinity.

Sự biểu lộ của thiên tính.

A close study of the above suggested phrases, showing as they do the wrong and the right major expressions of ray force, will aid the student correctly to comprehend his own ray nature, and also whereabouts he stands in his development. One of the major faults of disciples today is the paying [44] of too close attention to the faults, errors and activities of other disciples, and too little attention to their own fulfillment of the law of love, and to their own dharma and work. A second failing of disciples (and particularly of the working and accepted disciples in the world at this present time) is incorrect speech conveying ambiguous meanings and motivated by criticism, or by an individual desire to shine. In olden days, the neophyte was forced into a prolonged silence. Speech was not permitted. This was inculcated as a check upon physical utterance of wrong words and ideas, based on inadequate knowledge. Today, the neophyte must learn the same lesson of attention to personal perfection and to personal work through the means of that inner silence which broods over the disciple and forces him to attend to his own work and business, leaving others free to do the same, and so learn the lesson of experience. A great deal of present right activity is hindered by the speech interplay between disciples, and much time is lost through wordy discussion of the work and activities of other disciples. Humanity, as a whole, needs silence at this time as never before; it needs time in which to reflect, and the opportunity to sense the universal rhythm. Modern disciples, if they are to do their work as desired and to cooperate with the Plan correctly, need that inner reflective quiet which in no way negates intense outer activity but which does release them from wordy criticisms, feverish discussions, and constant preoccupation with the dharma, the motives and the methods of their fellow disciples.

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các cụm từ gợi ý trên, vì chúng cho thấy những biểu lộ chủ yếu sai và đúng của mãnh lực cung, sẽ giúp đạo sinh thấu hiểu đúng bản chất cung của chính mình, và cả vị trí của mình trong sự phát triển. Một trong những lỗi lớn của các đệ tử ngày nay là quá chú ý [44] đến các lỗi lầm, sai sót và hoạt động của các đệ tử khác, và quá ít chú ý đến việc chính mình hoàn thành định luật bác ái, cũng như đến dharma và công việc của chính mình. Một thiếu sót thứ hai của các đệ tử (đặc biệt là các đệ tử hoạt động và được chấp nhận trong thế giới vào lúc hiện nay) là lời nói không đúng đắn, chuyển tải những ý nghĩa mơ hồ và được thúc đẩy bởi sự chỉ trích, hay bởi ham muốn cá nhân muốn tỏa sáng. Trong thời xưa, người sơ cơ bị buộc phải giữ im lặng trong một thời gian dài. Không được phép nói. Điều này được truyền dạy như một sự ngăn chặn đối với việc phát ngôn trên cõi hồng trần những lời và ý tưởng sai lầm, dựa trên tri thức không đầy đủ. Ngày nay, người sơ cơ phải học cùng một bài học về sự chú tâm đến sự hoàn thiện cá nhân và công việc cá nhân bằng phương tiện của sự im lặng bên trong đang bao trùm đệ tử và buộc y phải chú tâm đến công việc và phận sự của chính mình, để người khác được tự do làm điều tương tự, và như thế học bài học của kinh nghiệm. Rất nhiều hoạt động đúng đắn hiện nay bị cản trở bởi sự tương tác bằng lời nói giữa các đệ tử, và nhiều thời gian bị mất đi vì những cuộc thảo luận dài dòng về công việc và hoạt động của các đệ tử khác. Toàn thể nhân loại hiện nay cần sự im lặng hơn bao giờ hết; cần thời gian để suy tư, và cơ hội để cảm nhận nhịp điệu phổ quát. Các đệ tử hiện đại, nếu muốn làm công việc của mình như mong muốn và cộng tác đúng đắn với Thiên Cơ, cần sự tĩnh lặng phản chiếu bên trong ấy, điều hoàn toàn không phủ nhận hoạt động mãnh liệt bên ngoài nhưng giải thoát họ khỏi những lời chỉ trích dài dòng, những cuộc bàn luận sốt sắng, và sự bận tâm liên tục với dharma, động cơ và phương pháp của các đệ tử đồng môn.

b. THE RAYS AND INITIATION—Các Cung và Điểm Đạo

It will not be possible for me to make clear the ray reactions to the final process which we have considered briefly, namely the stage in the liberation of the spirit which we call Identification. All that is possible, even in the case of Initiation, [45] is to give the elementary stanzas which convey to accepted disciples some of the significance of the first initiation. As regards identification, the reactions of the illumined initiate are made available to his intelligence in symbolic form, but if these forms were described, they would be completely misunderstood. When the third initiation takes place and the wider open door looms before the initiate, he will then discover the meaning of that type of realisation which is here called (for lack of a better name) Identification.

Sẽ không thể làm rõ các phản ứng của các cung đối với quá trình cuối cùng mà chúng ta đã xem xét một cách ngắn gọn, cụ thể là giai đoạn giải thoát tinh thần mà chúng ta gọi là Đồng Nhất Hóa. Tất cả những gì có thể làm được, ngay cả trong trường hợp của Điểm Đạo, [45] là cung cấp những bài kệ sơ khởi nhằm truyền đạt cho các đệ tử chính thức một phần ý nghĩa của lần điểm đạo thứ nhất. Đối với Đồng Nhất Hóa, những phản ứng của điểm đạo đồ giác ngộ được biểu hiện trong trí tuệ của y dưới dạng biểu tượng, nhưng nếu những biểu tượng này được mô tả, chúng sẽ bị hiểu sai hoàn toàn. Khi lần điểm đạo thứ ba diễn ra và cánh cửa rộng mở hơn hiện ra trước điểm đạo đồ, y sẽ khám phá ý nghĩa của loại nhận thức mà ở đây được gọi là Đồng Nhất Hóa (do thiếu một thuật ngữ thích hợp hơn).

Ray One

Cung Một

“The Angel of the Presence stands within the light divine—the centre and the meeting place of many forces.

“Thiên Thần của Hiện Diện đứng trong ánh sáng thiêng liêng—trung tâm và điểm hội tụ của nhiều mãnh lực.

These forces meet and blend. They focus in the head of him who stands before the Angel.

Những mãnh lực này gặp gỡ và hòa trộn. Chúng tập trung vào đầu của kẻ đang đứng trước Thiên Thần.

Eye to eye, and face to face, and hand to hand, they stand. Will reinforces will, and love meets love. The will-to-power merges with the will-to-love and strength with wisdom meets. These two are one. From that high spot of unity, the One who is released stands forth and says:—

Mắt đối mắt, mặt đối mặt, tay trong tay, họ đứng. Ý chí củng cố ý chí, và tình thương gặp gỡ tình thương. Ý chí quyền năng hòa nhập với ý chí bác ái và sức mạnh gặp gỡ minh triết. Hai điều này trở thành một. Từ điểm cao nhất của hợp nhất đó, Đấng được giải thoát tiến ra và nói:—

‘I return from whence I came; from the formless to the world of form I make my way. I will to be. I will to work. I will to serve and save. I will to lift the race. I serve the Plan with will, the Whole with power.’“

‘Ta trở về nơi mà ta đã đến; từ vô tướng đến thế giới của hình tướng, ta đi trên con đường của mình. Ta có ý chí để tồn tại. Ta có ý chí để làm việc. Ta có ý chí để phụng sự và cứu rỗi. Ta có ý chí để nâng đỡ nhân loại. Ta phụng sự Thiên Cơ bằng ý chí, phụng sự Toàn Thể bằng quyền năng.’“

Ray Two

Cung Hai

“The Angel of the Presence draws the wanderer to him. Love divine attracts the seeker on the Way. The point of merging is achieved.

“Thiên Thần của Hiện Diện thu hút kẻ lang thang về với mình. Tình thương thiêng liêng hấp dẫn người tìm đạo. Điểm hợp nhất được đạt đến.

Mouth to mouth, the breath is drawn forth, and the breath is drawn in. Heart to heart, the beating of these twain is merged in one. Foot to foot, the strength is passed from the greater to the less, and thus the Way is trodden.

Miệng đối miệng, hơi thở được rút ra, và hơi thở được hút vào. Tim đối tim, nhịp đập của hai thực thể này hòa thành một. Chân đối chân, sức mạnh truyền từ kẻ vĩ đại hơn đến kẻ nhỏ bé hơn, và do đó Con Đường được đi qua.

Force inspires the Word, the Breath. Love inspires the heart, the life. Activity controls the treading of the Way. These three produce the merging. All then is lost and gained.

Mãnh lực truyền cảm hứng cho Linh Từ, cho Hơi Thở. Tình thương truyền cảm hứng cho trái tim, cho sự sống. Hoạt động kiểm soát sự tiến bước trên Đạo Lộ. Ba điều này tạo nên sự hòa nhập. Khi ấy, tất cả đều mất đi và đồng thời đạt được.

The word goes forth: ‘I tread the Way of Love. I love the Plan. Unto that Plan, I surrender all I have. Unto the [46] Whole, I give my heart’s deep love. I serve the Plan; I serve the Whole with love and understanding.’“

Linh từ vang lên: ‘Ta bước đi trên Đường Đạo của Tình Thương. Ta yêu Thiên Cơ. Cho Thiên Cơ đó, ta hiến dâng tất cả những gì mình có. Cho Toàn Thể, ta trao gửi tình yêu sâu thẳm từ trái tim mình. Ta phụng sự Thiên Cơ; Ta phụng sự Toàn Thể bằng tình thương và sự thấu hiểu.’“

Ray Three

Cung Ba

“The Angel of the Presence stands within the centre of the whirling forces. For ages long, thus has he stood, the centre of all energies from above and from below.

“Thiên Thần của Hiện Diện đứng giữa trung tâm của những mãnh lực xoay vần. Suốt vô lượng kiếp, Ngài vẫn đứng đó, là trung tâm của mọi năng lượng từ trên cao và từ bên dưới.

With intelligence, the Angel works to make the One Who is above and the one who is below to blend and be as one. With twelve clear notes, the hour sounds forth, and then the two are one. The Angel stands entranced.

Với trí tuệ, Thiên Thần làm việc để hòa nhập Đấng Tối Cao và kẻ ở dưới thành một thể hợp nhất. Với mười hai nốt thanh khiết, thời khắc được xướng lên, và khi ấy hai thực thể trở thành một. Thiên Thần đứng đó, xuất thần.

Ear to ear, breast to breast, right hand to left, the two (who are the three) produce the merging of their lives. Glory shines forth. Truth is revealed. The work is done.

Tai đối tai, ngực đối ngực, tay phải với tay trái, hai thực thể (vốn là ba) tạo ra sự hòa nhập trong đời sống của họ. Vinh quang tỏa sáng. Chân lý được hiển lộ. Công việc được hoàn tất.

Then man, who is the soul, cries forth with power:—’I understand the Way—the inner Way, the silent Way, the manifested Way, for these three Ways are one. The Plan proceeds upon the outer Way; it shews itself. The Whole will stand revealed. That Plan I know. I will, with love and mind, to serve that Plan.’“

Và khi ấy, con người, tức linh hồn, thốt lên với quyền năng:—’Ta thấu hiểu Đường Đạo—Con Đường Nội Tại, Con Đường Tĩnh Lặng, Con Đường Hiển Lộ, vì ba Đường này là Một. Thiên Cơ tiến triển trên Con Đường Ngoại Tại; nó tự hiển lộ. Toàn Thể sẽ được hiển bày. Thiên Cơ đó ta biết. Với tình thương, ý chí, và trí tuệ, ta phụng sự Thiên Cơ ấy.’“

Ray Four

Cung Bốn

“The Angel of the Presence stands in his beauty rare upon the lighted Way. The glow of the Presence pours throughout the field of combat and ends, in peace, the strife.

“Thiên Thần của Hiện Diện đứng trong vẻ đẹp hiếm có của Ngài trên Con Đường sáng ngời. Hào quang của Hiện Diện lan tỏa khắp chiến trường và kết thúc cuộc chiến trong hòa bình.

The warrior stands revealed. His work is done. Back to back, the Angel and the Warrior stand, their auras meeting in a radiant sphere of light. The two are one.

Người chiến binh được hiển lộ. Công việc của y đã hoàn tất. Lưng tựa lưng, Thiên Thần và Chiến Binh đứng, hào quang của họ giao nhau trong một cầu vồng ánh sáng rực rỡ. Hai thực thể là một.

The Voice goes forth:—’Harmony is restored and the beauty of the Lord of Love shines forth. Such is the Plan. Thus is the Whole revealed. The higher and the lower meet; form and the formless merge and blend, and know themselves as one. In harmony with all united souls, I serve the Plan.’“

Giọng nói vang lên:—’Sự hòa hợp đã được lập lại, và vẻ đẹp của Đấng Tình Thương hiển lộ. Đó chính là Thiên Cơ. Nhờ đó, Toàn Thể được hiển lộ. Cái cao và cái thấp gặp nhau; hình tướng và vô tướng hòa quyện và nhận ra mình là một. Trong sự hòa hợp với tất cả các linh hồn hợp nhất, ta phụng sự Thiên Cơ.’“

Ray Five

Cung Năm

“The Angel of the Presence serves the three—the One above, the one below, and the One who ever is. [This refers to the fact that on the fifth plane the Angel is definitely met and known, and the three aspects of the higher triad, buddhi, the abstract mind and spirit, plus the ego in the causal body, and the lower mind are here blended and fused.]

Thiên Thần của Hiện Diện phụng sự ba đấng—Đấng ở trên, đấng ở dưới, và Đấng hằng hữu. [Điều này đề cập đến thực tế rằng trên cõi thứ năm, Thiên Thần chắc chắn được gặp gỡ và nhận biết, và ba khía cạnh của Tam nguyên thượng—Bồ đề, trí trừu tượng và tinh thần—cùng với Chân ngã trong thể nguyên nhân và hạ trí, tại đây được hòa trộn và dung hợp.]

[47]

[47]

The great Triangle begins its revolutions, and its rays reach out in all directions, and permeate the Whole.

Tam giác vĩ đại bắt đầu xoay chuyển, và các tia sáng của nó vươn ra theo mọi hướng, thấm nhuần toàn thể.

The man and Angel face each other, and know themselves to be the same. The light that radiates from the heart, the throat, and from the centre which stands midway meet and merge. The two are one.

Người và Thiên Thần đối diện nhau, và nhận biết rằng họ là một. Ánh sáng tỏa ra từ trái tim, từ cổ họng, và từ trung tâm đứng ở điểm giữa gặp gỡ và hòa nhập. Hai trở thành một.

The Voice that speaks within the silence can be heard: ‘The power that reaches from the highest point has reached the lowest. The Plan can now be known. The Whole can stand revealed. The love that stretches from the heart, the life that issues forth from God, have served the Plan. The mind that gathers all with wisdom into the boundaries of the Plan has reached the outer limits of the sphere of God’s activity. That power informs my life. That love inspires my heart. That mind enlightens all my world. I therefore serve the Plan.’“

Tiếng nói vang lên trong sự tĩnh lặng có thể nghe thấy: “Quyền năng từ điểm cao nhất đã chạm đến điểm thấp nhất. Thiên Cơ giờ đây có thể được nhận biết. Toàn thể có thể hiển lộ. Tình thương vươn ra từ trái tim, sự sống tuôn chảy từ Thượng Đế, đã phụng sự Thiên Cơ. Trí tuệ gom góp tất cả bằng minh triết trong ranh giới của Thiên Cơ đã đạt đến giới hạn ngoài cùng của phạm vi hoạt động của Thượng Đế. Quyền năng ấy thấm nhuần đời ta. Tình thương ấy truyền cảm hứng cho trái tim ta. Trí tuệ ấy soi sáng toàn thế giới của ta. Do đó, ta phụng sự Thiên Cơ.”

Ray Six

Cung Sáu

“The Angel of the Presence reaches down, and, at the midway point, pierces the fog of glamour. The Path stands clear.

“Thiên Thần của Hiện Diện vươn xuống, và tại điểm giữa đường, xuyên qua làn sương mù của ảo cảm. Thánh đạo hiện ra rõ ràng.

The One who treads the path and stops to fight, who wrestles blindly with the two who seek to hinder and to blind, sees the Way free. It stands revealed. He ceases from the clamour and the fight. He finds his way into the Presence.

Đấng đang dấn bước trên Đạo và dừng lại để chiến đấu, người vật lộn trong mù quáng với hai kẻ tìm cách cản trở và làm mờ mắt y, nay thấy Con Đường quang đãng. Nó hiện ra trước mắt y. Y chấm dứt tiếng ồn ào và cuộc chiến đấu. Y tìm được đường vào Hiện Diện.

Knee to knee, and foot to foot, they stand. Hand to hand, and breast to breast, forehead to forehead, see them stand. And thus they merge and blend.

Đầu gối chạm đầu gối, chân chạm chân, họ đứng. Tay nắm tay, ngực chạm ngực, trán kề trán, hãy nhìn họ đứng. Và như thế, họ hòa nhập và dung hợp.

The trumpet call goes forth: ‘The warfare is no more. The battle ends. The glamour and the clouds have disappeared. The light and glory of the Way is here. That light reveals the Plan. The Whole is with us now. The purpose is revealed. With all I have, I serve that Plan.’“

Tiếng kèn vang lên: ‘Chiến tranh không còn nữa. Trận chiến đã kết thúc. Ảo cảm và những đám mây đã biến mất. Ánh sáng và vinh quang của Đạo đang ở đây. Ánh sáng ấy hiển lộ Thiên Cơ. Toàn thể giờ đây đã cùng ta. Mục đích đã được hiển lộ. Với tất cả những gì ta có, ta phụng sự Thiên Cơ.’“

Ray Seven

Cung Bảy

“The Angel of the Presence lifts one hand into the blue of heaven. He plunges deep the other into the sea of forms. Thus he connects the world of form and formless life. Heaven to earth he brings; earth into heaven. This the man, who stands before the Angel, knows.

“Thiên Thần của Hiện Diện giơ một tay lên bầu trời xanh thẳm. Ngài nhúng sâu tay kia vào biển của các hình tướng. Như vậy, Ngài kết nối thế giới của hình tướng với sự sống vô hình tướng. Ngài mang thiên đàng xuống trần gian; Ngài nâng trần gian lên thiên đàng. Điều này, người đứng trước Thiên Thần, nhận biết.

He grasps the meaning of the painted sign which the Angel holds aloft. [Then follows a phrase which is incapable [48] of translation into modern language. It signifies that complete merging which the mystic endeavours to express in terms of the “marriage in the heavens”, and which has been wrongly twisted into the false teaching anent sex magic. This phrase, expressed by a painted symbol, symbolises complete unity between the outer and the inner, the objective and the subjective, between spirit and matter, and between the physical and the essential.]

Y nắm bắt ý nghĩa của dấu hiệu được vẽ mà Thiên Thần giơ cao. [Sau đó là một cụm từ không thể dịch ra ngôn ngữ hiện đại. Nó biểu thị sự dung hợp hoàn toàn mà các nhà thần bí cố gắng diễn đạt bằng thuật ngữ “hôn nhân trên thiên giới,” nhưng đã bị xuyên tạc thành những giáo lý sai lầm về ma thuật tình dục. Cụm từ này, được biểu đạt qua một biểu tượng vẽ, tượng trưng cho sự hợp nhất hoàn toàn giữa cái bên ngoài và bên trong, giữa khách quan và chủ quan, giữa tinh thần và vật chất, giữa thể xác và bản chất cốt yếu.]

The two are one. Naught more remains to grasp. The Word is manifest. The work is seen complete. The Whole is visioned. The magic work is wrought. Again the two are one. The Plan is served. No word need then be said.”

Hai trở thành một. Không còn gì cần nắm bắt thêm nữa. Linh từ đã hiển lộ. Công việc đã được thấy là trọn vẹn. Toàn thể được hiển thị. Công việc huyền thuật được hoàn tất. Một lần nữa, hai trở thành một. Thiên Cơ được phụng sự. Không cần phải nói thêm một lời nào.”

These phrases are an attempt to express some of the realisations of the true initiate when he stands—at the third initiation—before the Angel and sees that Angel also pass away, so that naught is left but conscious knowledge and realisation. Although this statement may signify but little to us at present, it will, nevertheless, serve to demonstrate the futility of dealing with the secrets of the mysteries and with initiation through the medium of words. When this is better realised, the true work of the Masonic dramas will begin to measure up to the need.

Những cụm từ này là một nỗ lực nhằm diễn đạt một số nhận thức của vị điểm đạo đồ chân chính khi y đứng—tại lần điểm đạo thứ ba—trước Thiên Thần và thấy rằng Thiên Thần cũng tan biến, đến nỗi không còn gì ngoài tri thức tự giác và sự nhận thức. Dù tuyên bố này có thể mang ít ý nghĩa đối với chúng ta vào thời điểm hiện tại, nhưng nó vẫn có thể minh chứng cho sự vô ích của việc cố gắng tiếp cận những bí mật của các huyền nhiệm và sự điểm đạo thông qua ngôn từ. Khi điều này được hiểu rõ hơn, công việc chân chính của các vở kịch Tam Điểm sẽ bắt đầu đáp ứng được nhu cầu thực sự.

This section expresses some of the basic emerging truths which will carry meaning to the senior disciples and the initiates of the world, who are battling, at this time, in the service of the Plan. They are present in the world at this time, and their work is bearing fruit, but they need at times the incentive of the future achievable glory to aid them to carry on.

Phần này diễn đạt một số chân lý cơ bản đang xuất hiện, những chân lý sẽ mang ý nghĩa đối với các đệ tử cao cấp và các điểm đạo đồ trên thế giới, những người đang chiến đấu vào lúc này trong sự phụng sự Thiên Cơ. Họ đang hiện diện trong thế gian vào thời điểm này, và công việc của họ đang đơm hoa kết trái, nhưng đôi khi họ vẫn cần có động lực từ vinh quang tương lai có thể đạt được để giúp họ tiếp tục con đường.

This treatise is, therefore, somewhat abstruse and quite symbolical. It may appear difficult to comprehend, and it may mean little to some and nothing at all to others. If the disciples of the world are truly struggling and if they are applying practically the teaching given, as far as in them lies, they will find as time elapses, and their reason and intuition awaken, [49] that such symbolic and abstruse statements become clearer and clearer, serving to convey the intended teaching. When this happens, the Angel of the Presence approaches ever closer, and lights the disciple on his way. The sense of separateness diminishes until, at last, light permeates the darkness, and the Angel dominates the life.

Do đó, luận thuyết này mang tính trừu tượng và rất biểu tượng. Nó có thể dường như khó hiểu, và có thể mang ít ý nghĩa với một số người, hoặc chẳng có nghĩa gì với những người khác. Nếu các đệ tử trên thế giới thực sự đang vật lộn và nếu họ đang ứng dụng thực tiễn giáo lý đã được truyền đạt, trong khả năng của họ, thì họ sẽ nhận thấy theo thời gian, khi lý trí và trực giác của họ được đánh thức, [49] rằng những tuyên bố mang tính biểu tượng và trừu tượng như vậy sẽ trở nên ngày càng rõ ràng, giúp truyền đạt giáo huấn đã định. Khi điều này xảy ra, Thiên Thần của Hiện Diện sẽ ngày càng đến gần hơn, và soi sáng con đường của đệ tử. Cảm giác chia cách dần dần giảm bớt cho đến khi, cuối cùng, ánh sáng thấm nhập vào bóng tối, và Thiên Thần trở thành yếu tố chi phối trong cuộc sống.

2. The Two Cycles of Egoic Appropriation

We shall now enter upon a somewhat technical consideration of the relation of the Ego and its ray to the sheaths or vehicles through which it must express itself, and through which it must enter into contact with certain phases of divine experience. The foundation of what is here elaborated in relation to the cycles of appropriation, will be found briefly touched upon in A Treatise on Cosmic Fire (pages 787-790), and the following statements, gathered from those pages, will be elucidated in the succeeding pages.

Chúng ta sẽ bước vào một sự xem xét có phần kỹ thuật về mối quan hệ giữa Chân ngã và cung của nó đối với các thể hoặc các phương tiện qua đó nó phải tự biểu lộ và tiếp xúc với những giai đoạn nhất định của kinh nghiệm thiêng liêng. Nền tảng của những gì được triển khai ở đây liên quan đến các chu kỳ chiếm hữu sẽ được tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ (trang 787-790), và những tuyên bố sau đây, được tập hợp từ các trang đó, sẽ được làm sáng tỏ trong những trang kế tiếp.

1. As the ego or soul appropriates to itself a sheath for expression and experience, points of crisis will inevitably occur:—

1. Khi chân ngã hay linh hồn tiếp nhận một thể để biểu lộ và trải nghiệm, các điểm khủng hoảng sẽ không thể tránh khỏi:—

a. The work of passing onto a particular plane for purposes of incarnation is one such point. This concerns the passing down to a lower plane, or from a lower plane onto a higher. Indications of the importance and the crucial nature of such transition can be seen in certain formulas which are used when passing from one degree in Masonry to another, as in raising a Lodge from a lower to a higher degree.

a. Công việc đi vào một cõi cụ thể nhằm mục đích nhập thể là một điểm như vậy. Điều này liên quan đến việc đi xuống một cõi thấp hơn hoặc đi lên từ một cõi thấp hơn đến một cõi cao hơn. Tầm quan trọng và bản chất then chốt của sự chuyển tiếp như vậy có thể được nhìn thấy qua một số công thức được sử dụng khi thăng tiến từ một cấp bậc này sang cấp bậc khác trong Hội Tam Điểm, cũng như khi nâng một Hội từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn.

b. Another such point of crisis occurs when the mental body is swept into activity and the etheric body is similarly vitalised.

b. Một điểm khủng hoảng khác xảy ra khi thể trí được kích hoạt và thể dĩ thái cũng được tiếp sinh lực theo cách tương tự.

[50]

[50]

2. Relationship between the ego or soul and the dense physical body is established when

2. Mối quan hệ giữa chân ngã hay linh hồn với thể xác đậm đặc được thiết lập khi:

a. Matter of the three lowest subplanes of the physical plane is built into the etheric body, prior to physical incarnation, and the potential channels of communication and of exit are established. These are the main channel or line of communication found between the centre at the base of the spine and that in the head, via the spleen.

a. Chất liệu từ ba cõi phụ thấp nhất của cõi trần được xây dựng vào thể dĩ thái trước khi nhập thể vật lý, và các kênh tiềm tàng cho sự giao tiếp cũng như thoát ra được thiết lập. Những kênh chính yếu này bao gồm tuyến giao tiếp giữa luân xa ở đáy cột sống và luân xa ở đầu, thông qua lá lách.

b. A corresponding activity takes place in the process of liberation upon the Path of Return in which the bridge (or the antaskarana) is established between the lower mental body, the causal body, and the higher mental worlds.

b. Một hoạt động tương ứng diễn ra trong quá trình giải thoát trên Con Đường Trở Về, trong đó cây cầu (hoặc antahkarana) được thiết lập giữa thể trí hạ, thể nguyên nhân, và các cõi trí cao hơn.

When the work under the first category is accomplished upon the physical plane and its technique is understood, man can then achieve escape from the physical body in full, waking continuity of consciousness. When a similar work has taken place on the higher plane and the “bridge” is satisfactorily built, then the “initiate” can escape from the limitations of form life and enter into that state of consciousness called Nirvana, by the Buddhist. This high state of being has to be entered also in full continuity of consciousness. Both these major crises in the life of the soul,—one leading to physical incarnation and one producing the liberation of the soul from that condition,—are, and must always be, the result of group vibration, of group impulse, group incentive and group impetus. One impetus originates in the group of souls, of which an incarnating ego is an integral part; the other is the result of the activity of the groups of atoms which are vibrating in response to (but not in unison with) that egoic impulse. In this phrase is summed up the work and opportunity [51] of the soul, for it works towards the regeneration of matter and not towards the consummation of its own salvation. It might be stated that the liberation of the soul or ego comes about when its work of salvaging matter (through utilising it and building it into forms) has been carried forward to a desired point. It is not primarily due to the attainment of a certain spiritual stature by the man and the demonstration of certain spiritual qualities. This desired stature and these spiritual qualities are manifested when the vehicles have been “occultly saved”, and matter has thus been transformed, transmuted and symbolically “raised up into heaven”. When the vehicles vibrate in unison with the soul, then is liberation achieved.

Khi công việc thuộc loại thứ nhất được hoàn thành trên cõi trần và kỹ thuật của nó được lĩnh hội, con người có thể đạt được sự thoát ra khỏi thể xác với sự liên tục tỉnh thức trọn vẹn trong trạng thái tỉnh táo. Khi một công việc tương tự diễn ra trên cõi cao hơn và “cây cầu” được xây dựng thỏa đáng, thì “điểm đạo đồ” có thể giải thoát khỏi những giới hạn của sự sống trong hình tướng và bước vào trạng thái tâm thức mà người Phật tử gọi là Nirvana. Trạng thái tồn tại cao cả này cũng phải được đạt đến trong sự liên tục tỉnh thức trọn vẹn. Cả hai cuộc khủng hoảng lớn trong đời sống của linh hồn—một dẫn đến sự nhập thể vật lý và một dẫn đến sự giải thoát của linh hồn khỏi điều kiện đó—đều luôn là kết quả của rung động nhóm, xung lực nhóm, động cơ nhóm và đà tiến của nhóm. Một động lực phát xuất từ nhóm các linh hồn, trong đó một chân ngã nhập thể là một phần không thể tách rời; động lực còn lại là kết quả của hoạt động của các nhóm nguyên tử rung động để đáp ứng (nhưng không hòa nhịp) với xung lực chân ngã đó. Trong cụm từ này có thể tóm lược công việc và cơ hội [51] của linh hồn, vì linh hồn hoạt động hướng tới sự cải hoán của vật chất chứ không phải để hoàn tất sự cứu rỗi của chính nó. Có thể nói rằng sự giải thoát của linh hồn hay chân ngã xảy ra khi công việc cứu rỗi vật chất của nó (thông qua việc sử dụng vật chất và xây dựng nó thành các hình tướng) đã được tiến hành đến một điểm mong muốn. Điều này không chủ yếu là do con người đạt được một tầm vóc tâm linh nhất định và thể hiện những phẩm tính tâm linh nhất định. Tầm vóc mong muốn này và những phẩm tính tâm linh đó chỉ được thể hiện khi các thể đã được “bí truyền cứu rỗi” và vật chất nhờ vậy đã được chuyển hóa, biến đổi và biểu tượng hóa thành “được nâng lên thiên đàng”. Khi các thể rung động đồng điệu với linh hồn, khi đó sự giải thoát mới được thực hiện.

a. THE POINTS OF CRISIS

Just as there are five points of crisis in the life of a man as he achieves the goal of initiation (which we call the five Initiations), so there are five similar points of crisis in the process of taking form in the three worlds, with three of more importance,—the first, the third and the fifth. When (speaking again in symbols) a soul, functioning under divine impulse, comes into incarnation and undergoes racial experience in order to develop certain manifested qualities, there are five points of crisis. I am here speaking in terms of humanity as a whole, as mankind expresses what we call the “human state of consciousness”. I am not speaking in terms of an individual soul, if such a misnomer may be permitted. These five points of crisis mark the transfer of soul life from one race to another. Each time such an event happens, there is racial unfoldment, and the appropriation, more or less consciously, by the race of another vehicle of expression. The following tabulation shows the appropriations marking the five racial crises.

Cũng như có năm điểm khủng hoảng trong đời sống của một người khi y đạt đến mục tiêu điểm đạo (mà chúng ta gọi là năm lần điểm đạo), cũng có năm điểm khủng hoảng tương tự trong quá trình tiếp nhận hình tướng trong ba cõi, trong đó có ba điểm quan trọng hơn cả—điểm thứ nhất, thứ ba và thứ năm. Khi (nói một cách biểu tượng) một linh hồn, hoạt động dưới xung lực thiêng liêng, đi vào nhập thể và trải qua kinh nghiệm chủng tộc để phát triển những phẩm tính biểu hiện nhất định, có năm điểm khủng hoảng xảy ra. Ở đây, tôi đang nói theo quan điểm của nhân loại nói chung, vì nhân loại thể hiện điều mà chúng ta gọi là “trạng thái tâm thức con người”. Tôi không nói theo quan điểm của một linh hồn cá nhân, nếu có thể tạm chấp nhận cách diễn đạt chưa hoàn toàn chính xác này. Năm điểm khủng hoảng này đánh dấu sự chuyển giao sự sống linh hồn từ một chủng tộc này sang một chủng tộc khác. Mỗi khi một sự kiện như vậy xảy ra, có sự khai mở chủng tộc, và chủng tộc đó tiếp nhận một thể biểu lộ mới, ở mức độ ý thức nhiều hay ít. Bảng tổng hợp sau đây cho thấy các sự tiếp nhận này, đánh dấu năm cuộc khủng hoảng chủng tộc.

[52]

1.

In the Lemurian civilisation

the appropriation of the physical body, with its five senses.

Trong nền văn minh Lemuria

sự chiếm hữu thể xác, với năm giác quan của nó.

2.

In the Atlantean civilisation

the appropriation of the astral body.

Trong nền văn minh Atlantis

sự chiếm hữu thể cảm dục.

3.

In the present Aryan world

the appropriation of the mental body, with consequent intellectual unfoldment.

Trong thế giới Arya hiện tại

sự chiếm hữu thể trí, với sự khai mở trí tuệ kết quả.

4.

In the coming race

conscious appropriation and integration of the threefold personality.

Trong giống dân sắp tới

sự chiếm hữu có ý thức và tích hợp phàm ngã tam phân.

5.

In the final race

the expression, in fullest measure, of the soul and its vehicles, plus some measure of spiritual manifestation.

Trong giống dân cuối cùng

sự biểu lộ, ở mức độ đầy đủ nhất, của linh hồn và các vận cụ của nó, cộng thêm một chừng mực biểu lộ tinh thần.

Here, therefore, we have five points of crisis in the life of the individual, in conjunction with the whole, with the first stage (called individualisation) in Lemuria, the third stage in our race, and a final stage at the end of the age. These stages are carried forward over so long a period of time, and are so closely interrelated, that one stage and period makes possible that of another, and only the analytical mind sees or seeks differentiation. The reflection of this fivefold experience in any individual life takes place in the following order in the life of the average intelligent aspirant, who responds to, and takes advantage of the civilisation and education of the present time.

Ở đây, do đó, chúng ta có năm điểm khủng hoảng trong đời sống cá nhân, liên kết với tổng thể, với giai đoạn đầu tiên (được gọi là biệt ngã hóa) trong Lemuria, giai đoạn thứ ba trong giống dân của chúng ta, và một giai đoạn cuối cùng vào cuối chu kỳ. Những giai đoạn này diễn ra trong một khoảng thời gian dài đến mức và có mối liên hệ chặt chẽ đến mức một giai đoạn và thời kỳ làm cho giai đoạn tiếp theo trở nên khả thi, và chỉ có trí tuệ phân tích mới thấy hoặc tìm cách phân biệt chúng. Sự phản chiếu của trải nghiệm ngũ phân này trong đời sống của bất kỳ cá nhân nào diễn ra theo thứ tự sau trong đời sống của người chí nguyện trung bình có trí thông minh, người phản ứng và tận dụng nền văn minh cũng như giáo dục của thời đại hiện tại.

1. Appropriation of the physical sheath. This takes place between the fourth and seventh year, when the soul, hitherto overshadowing, takes possession of the physical vehicle.

1. Tiếp nhận thể xác. Điều này diễn ra trong khoảng từ năm thứ tư đến năm thứ bảy, khi linh hồn, vốn đang phủ bóng, tiếp nhận thể xác.

[53]

[53]

2. A crisis during adolescence, wherein the soul appropriates the astral vehicle. This crisis is not recognised by the general public and is only dimly sensed, from its evidenced temporary abnormalities, by the average psychologist. They do not recognise the cause but only the effects.

2. Một cuộc khủng hoảng trong thời kỳ niên thiếu, khi linh hồn tiếp nhận thể cảm xúc. Cuộc khủng hoảng này không được công chúng nói chung nhận ra và chỉ được các nhà tâm lý học trung bình cảm nhận một cách mơ hồ qua những bất thường tạm thời được biểu hiện. Họ không nhận ra nguyên nhân mà chỉ thấy hậu quả.

3. A similar crisis between the twenty-first and twenty-fifth years, wherein the mind vehicle is appropriated. The man should then begin to respond to egoic influences, and in the case of the advanced man, he frequently does.

3. Một cuộc khủng hoảng tương tự diễn ra trong khoảng từ năm hai mươi mốt đến hai mươi lăm, khi thể trí được tiếp nhận. Khi đó, con người nên bắt đầu phản ứng với ảnh hưởng của Chân Ngã, và trong trường hợp người tiên tiến, y thường làm như vậy.

4. A crisis between the thirty-fifth and forty-second years, wherein conscious contact with the soul is established; the threefold personality then begins to respond, as a unit, to soul impulse.

4. Một cuộc khủng hoảng diễn ra trong khoảng từ năm ba mươi lăm đến bốn mươi hai, khi sự tiếp xúc có ý thức với linh hồn được thiết lập; phàm ngã tam phân khi đó bắt đầu phản ứng như một đơn vị đối với xung lực của linh hồn.

5. For the remaining years of life, there should be an increasingly strong relationship between the soul and its vehicles, leading to another crisis between the fifty-sixth or the sixty-third years. According to that crisis will depend the future usefulness of the person and whether the ego continues to use the vehicles on into old age, or whether there is a gradual withdrawal of the indwelling entity.

5. Trong những năm còn lại của cuộc đời, mối quan hệ giữa linh hồn và các thể của nó phải ngày càng mạnh mẽ, dẫn đến một cuộc khủng hoảng khác trong khoảng từ năm mươi sáu đến sáu mươi ba. Kết quả của cuộc khủng hoảng đó sẽ quyết định sự hữu dụng trong tương lai của người đó và liệu Chân Ngã có tiếp tục sử dụng các thể trong suốt tuổi già hay không, hay sẽ có sự rút lui dần dần của thực thể nội tại.

There are many corresponding cycles of crisis in the life history of any soul down through the ages, but these major five crises can be traced with clarity from the standpoint of the higher vision.

Có nhiều chu kỳ khủng hoảng tương ứng trong lịch sử đời sống của bất kỳ linh hồn nào qua nhiều thời đại, nhưng năm cuộc khủng hoảng chính này có thể được truy nguyên một cách rõ ràng từ quan điểm của thị kiến cao siêu.

One of the ways in which the life story of a soul is charted in the archives of the Masters (under the present planetary experiment) is by means of graphs, which give these crises—racial and individual. Sometimes, with the more advanced aspirants, even the physiological crises of importance are charted. The entire story of the relationship of a soul with [54] its several vehicles of expression in the three worlds, is the story of the various types of energy which are being magnetically related to each other and which are temporarily subordinated to varying aspects of force, in order to produce those fields of magnetic activity wherein certain needed rates of vibration may be established. From the angle of the initiates of the Ageless Wisdom, the story of man, the aspirant, is the story of his response to, or repulse of, applied energies. The fact that the interplay between different types of energy results in the formation of those aggregations or condensations of force which we call bodies, sheaths or vehicles (material or immaterial) is incidental to the main issue, which is the development of a conscious response to the life of God.

Một trong những cách mà câu chuyện cuộc đời của một linh hồn được lập biểu đồ trong kho lưu trữ của các Chân Sư (theo thí nghiệm hành tinh hiện tại) là bằng cách sử dụng các biểu đồ đồ thị, thể hiện các cuộc khủng hoảng này—cả chủng tộc lẫn cá nhân. Đôi khi, đối với những người chí nguyện tiên tiến hơn, ngay cả những cuộc khủng hoảng sinh lý quan trọng cũng được lập biểu đồ. Toàn bộ câu chuyện về mối quan hệ của một linh hồn với [54] các thể biểu lộ của nó trong ba cõi, là câu chuyện về các loại năng lượng khác nhau được liên kết từ tính với nhau và tạm thời bị chi phối bởi các khía cạnh khác nhau của mãnh lực, nhằm tạo ra những trường hoạt động từ tính nhất định, trong đó các tần số rung động cần thiết có thể được thiết lập. Từ góc nhìn của các điểm đạo đồ Minh Triết Ngàn Đời, câu chuyện của con người, người chí nguyện, là câu chuyện về sự phản ứng hoặc kháng cự của y đối với các năng lượng được áp dụng. Việc sự tương tác giữa các loại năng lượng khác nhau dẫn đến sự hình thành những sự tụ hội hoặc ngưng tụ của mãnh lực mà chúng ta gọi là các thể, vỏ bọc hay các phương tiện biểu lộ (dù là vật chất hay phi vật chất) chỉ là thứ yếu so với vấn đề chính yếu, đó là sự phát triển khả năng phản ứng có ý thức với sự sống của Thượng Đế.

Small units of energy, relatively speaking, are swept into contact with great fields of force, which we call planes. According to the extent of the impact (and this is determined,—symbolically speaking,—by the power of the originating will, the so-called age of the soul, the potency of group activity, and planetary or group karma), so will be the response between the unit of energy and the field contacted, and so will be the quality and vibratory activity of the atoms of matter which are attracted and held together. They will thus constitute a temporary form from which can be seen as externalised and as relatively tangible, and which can function as a mode or medium whereby the soul can contact larger forms of divine life and expression. The more intricate the organisation of the form and the more complex and perfect the response apparatus, the more clearly will be indicated the age of the soul and the perfected intent or potency of its will, the freer it will be from the limiting karma of an unevolved conditioning vehicle.

Các đơn vị năng lượng nhỏ, tương đối mà nói, được cuốn vào sự tiếp xúc với các trường lực rộng lớn, mà chúng ta gọi là các cõi giới. Theo mức độ tác động (điều này được xác định—nói một cách tượng trưng—bởi sức mạnh của ý chí khởi nguồn, cái gọi là độ tuổi của linh hồn, sức mạnh của hoạt động nhóm, và nghiệp quả hành tinh hay nghiệp nhóm), thì sẽ có sự phản ứng giữa đơn vị năng lượng và trường lực được tiếp xúc, và chất lượng cũng như hoạt động rung động của các nguyên tử vật chất bị hút vào và được liên kết với nhau sẽ tương ứng. Chúng sẽ cấu thành một hình thể tạm thời có thể được nhìn thấy như là sự ngoại hiện và tương đối hữu hình, đồng thời có thể hoạt động như một phương tiện hoặc trung gian để linh hồn tiếp xúc với các hình thức sống và biểu lộ thiêng liêng rộng lớn hơn. Cấu trúc của hình thể càng phức tạp và hệ thống đáp ứng càng tinh vi, thì điều đó càng cho thấy rõ ràng độ tuổi của linh hồn cũng như ý định hoặc sức mạnh của ý chí đã được hoàn thiện của nó, và linh hồn sẽ càng tự do hơn khỏi nghiệp quả giới hạn của một phương tiện biểu lộ chưa tiến hóa.

A close study of this subject is not possible here. The appropriation by a soul of those energy units which will constitute [55] its body or sheath, as it passes from one plane to another and from one state of consciousness to another, is a study so abstruse and complicated that only those initiates whose development equips them and whose interest impels them to work with the application of the law of karma (which is identified in time and space with substance and force), can readily comprehend the complexities of the subject.

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng về chủ đề này không thể thực hiện ở đây. Việc linh hồn tiếp nhận những đơn vị năng lượng sẽ tạo thành [55] thể hoặc vỏ bọc của nó khi nó di chuyển từ cõi này sang cõi khác và từ trạng thái tâm thức này sang trạng thái tâm thức khác là một nghiên cứu quá trừu tượng và phức tạp đến mức chỉ những điểm đạo đồ có sự phát triển phù hợp và có động lực làm việc với ứng dụng của định luật nghiệp quả (vốn được xác định trong thời gian và không gian bởi chất liệu và mãnh lực) mới có thể dễ dàng hiểu được sự phức tạp của chủ đề này.

Two words are emerging today in connection with modern psychology which have a close relation to this difficult law; they indicate two basic ideas with which these trained initiates work. The idea of patterns and the idea of conditioning hold definite occult implications. The workers in this department of esoteric work deal primarily with the world of patterns which underlie all the activities of the Oversoul and the individual souls. Forget not that this term “individual souls” is but a limiting phrase, used by the separative mind to indicate the aspects of one reality.

Hai thuật ngữ đang xuất hiện ngày nay trong mối liên hệ với tâm lý học hiện đại có liên quan mật thiết đến định luật khó hiểu này; chúng chỉ ra hai ý niệm cơ bản mà những điểm đạo đồ được huấn luyện này làm việc cùng. Ý niệm về mô hình và ý niệm về sự quy định mang ý nghĩa huyền môn rõ rệt. Những người làm việc trong lĩnh vực này của huyền học chủ yếu xử lý thế giới của các mô hình nằm bên dưới tất cả các hoạt động của Đại Linh Hồn và các linh hồn cá nhân. Đừng quên rằng thuật ngữ “các linh hồn cá nhân” chỉ là một cụm từ mang tính giới hạn, được sử dụng bởi tâm trí phân ly để chỉ các phương diện của một thực tại duy nhất.

Patterns are, in the last analysis, only those types of energy which are struggling to emerge into material expression and which eventually subordinate the more superficial and obvious energies (which have worked their way through to the surface in the process of manifesting) to their newer imposed rhythm. Thus they produce the changed types, new forms and different notes, tones and appearances. These patterns are literally the divine ideas, as they emerge from the subjective group consciousness and take those mental forms that can be appreciated and appropriated by the mind and brain of man during any particular epoch. It might, therefore, be thought that these patterns or fundamental ideas which take shape and appear to control the “way of a man on earth”, as it is esoterically called, produce the conditioning here discussed. Literally and curiously, this is not so. From the angle of esoteric thought, [56] conditioning (if rightly understood) concerns the response, innate and inherent, of matter or substance, to the pattern. It might be said that the pattern evokes and awakens response, but that the conditioning of the resultant activity is determined by the quality of the response apparatus. This quality is inherent in the substance itself, and the interplay between the pattern and the conditioned material produces the type of sheath which the soul appropriates in time and space, in order to experiment and gain experience. It will appear more clearly, therefore, as one studies this subject and ponders deeply upon its implications, that as a man advances on the path of evolution and nears the status of an initiate, the conditioning of the form, innate and inherent, will continuously approach nearer and nearer to the requirements of the pattern. It might also be stated that the pattern is relatively immutable and unchangeable in its own inherent nature, as it comes forth from the mind of either the macrocosmic Deity or the microcosmic thinker, but that the process of the inner conditioning of matter is mutable and in a state of continual flux. When, at the third initiation, union of the pattern and the conditioned form is achieved, the Transfiguration of the initiate takes place, leading to that final crisis wherein the two are known as one, and the form nature (including in this phase the causal body as well as the lower vehicles) then is dispersed and disappears.

Các mô hình, xét đến cùng, chỉ là những loại năng lượng đang cố gắng xuất hiện trong biểu lộ vật chất và cuối cùng chi phối những năng lượng bề mặt và rõ ràng hơn (những năng lượng đã làm việc để biểu hiện ra bên ngoài) bằng nhịp điệu mới mà chúng áp đặt. Theo đó, chúng tạo ra các kiểu mẫu biến đổi, các hình thức mới và các nốt, âm sắc, cũng như diện mạo khác biệt. Các mô hình này thực chất là những tư tưởng thiêng liêng, khi chúng xuất hiện từ tâm thức nhóm chủ quan và nhận những hình thức tư tưởng mà trí tuệ và bộ não của con người có thể đánh giá và tiếp thu trong bất kỳ thời đại nào. Do đó, người ta có thể nghĩ rằng những mô hình hoặc ý niệm nền tảng này, khi hình thành và dường như kiểm soát “con đường của một người trên trần thế”, như cách gọi huyền môn, tạo ra sự quy định đang được thảo luận ở đây. Một cách thực tế và thú vị, điều này không đúng. Từ góc nhìn của tư tưởng huyền môn, [56] sự quy định (nếu được hiểu đúng) liên quan đến sự phản ứng, vốn có và nội tại, của vật chất hoặc chất thể đối với mô hình. Có thể nói rằng mô hình khơi dậy và đánh thức sự phản ứng, nhưng sự quy định của hoạt động kết quả được xác định bởi phẩm chất của cơ quan phản ứng. Phẩm chất này vốn có trong bản chất của chất thể, và sự tương tác giữa mô hình và vật chất được quy định tạo ra loại thể mà linh hồn chiếm hữu trong thời gian và không gian để thử nghiệm và thu thập kinh nghiệm. Do đó, khi nghiên cứu chủ đề này và suy ngẫm sâu sắc về những hàm ý của nó, sẽ trở nên rõ ràng rằng khi một người tiến hóa trên con đường và tiến gần đến địa vị điểm đạo đồ, sự quy định của thể, vốn có và nội tại, sẽ ngày càng tiến gần hơn với yêu cầu của mô hình. Cũng có thể nói rằng mô hình tương đối bất biến và không thể thay đổi trong bản chất vốn có của nó, vì nó xuất phát từ tâm trí của Thượng Đế vĩ mô hoặc của người suy tư vi mô, nhưng quá trình quy định nội tại của chất thể lại biến đổi và luôn trong trạng thái biến động liên tục. Khi, tại lần điểm đạo thứ ba, sự hợp nhất giữa mô hình và thể đã được quy định được hoàn tất, thì sự Biến Hình của điểm đạo đồ diễn ra, dẫn đến cuộc khủng hoảng cuối cùng, trong đó hai yếu tố này được nhận biết như là một, và bản chất hình thể (bao gồm cả thể nguyên nhân cũng như các thể thấp hơn trong giai đoạn này) sau đó bị phân tán và biến mất.

The early stages of human development are—as in all else in nature,—apparently inchoate and formless, from the angle of the true pattern, existing eternal in the Heavens. There is a physical form, but the inner, fluid, subjective nature, emotional and mental, in no way conforms to the pattern, and, therefore, the outer form is also inadequate. But crisis after crisis occurs, and the inner form nature responds more definitely and precisely to the outer impact of the soul impetus [57] (note this paradoxical phrase), until the astral vehicle and the mental body are consciously appropriated, and as consciously used. It must never be forgotten that evolution (as we understand it and as it must be studied by the human intellect) is the story of the evolution of consciousness and not the story of the evolution of form. This latter evolution is implicit in the other and of secondary importance from the occult angle. Consciousness is literally the reaction of active intelligence to the pattern. Today, it is as if we were responding consciously and with an increasingly intelligent purpose to the design as laid down by the Master Builder upon the tracing board. As yet we do not and cannot enter into that Cosmic Mind and vibrate in conscious unison with the divine Idea nor grasp the Plan as it is sensed and seen by the cosmic Thinker. We have to work with the design, with the pattern, and with the Plan, for we are only as yet in process of being initiated into that Plan and we are not aware of the true significance of those great Identifications which enabled the Carpenter of Nazareth to say: “I and my Father are one.”

Các giai đoạn đầu của sự phát triển con người, cũng như tất cả các hiện tượng trong thiên nhiên, thoạt nhìn dường như hỗn độn và không có hình dạng, từ góc độ của mô hình chân thật, vốn hiện hữu vĩnh cửu trong các tầng trời. Có một thể xác, nhưng bản chất bên trong, linh hoạt, chủ quan—cảm xúc và trí tuệ—không cách nào tương ứng với mô hình, và do đó, thể xác bên ngoài cũng không thích hợp. Tuy nhiên, khủng hoảng này nối tiếp khủng hoảng khác xảy ra, và bản chất hình thể nội tại ngày càng phản ứng rõ ràng và chính xác hơn đối với tác động bên ngoài của xung lực linh hồn [57] (hãy lưu ý cụm từ mang tính nghịch lý này), cho đến khi thể cảm dục và thể trí được chiếm hữu một cách có ý thức và cũng được sử dụng có ý thức. Không bao giờ được quên rằng tiến hóa (như chúng ta hiểu và như nó phải được nghiên cứu bởi trí tuệ con người) là câu chuyện về sự tiến hóa của tâm thức, chứ không phải câu chuyện về sự tiến hóa của hình thể. Sự tiến hóa sau là điều hiển nhiên trong sự tiến hóa của tâm thức và chỉ có tầm quan trọng thứ yếu từ góc nhìn huyền môn. Tâm thức thực chất là sự phản ứng của trí thông minh đang hoạt động đối với mô hình. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang phản ứng một cách có ý thức và với mục đích ngày càng thông minh hơn đối với thiết kế mà Đại Kiến Trúc Sư đã đặt ra trên bàn vẽ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa thể và chưa có khả năng nhập vào Tâm Thức Vũ Trụ và dao động trong sự hòa hợp có ý thức với Ý Tưởng Thiêng Liêng, cũng như chưa thể nắm bắt Thiên Cơ theo cách mà Người Suy Tư Vũ Trụ cảm nhận và nhìn thấy nó. Chúng ta phải làm việc với thiết kế, với mô hình, và với Thiên Cơ, vì chúng ta chỉ mới trong quá trình được điểm đạo vào Thiên Cơ và chưa nhận thức được ý nghĩa thực sự của những Sự Đồng Nhất vĩ đại đã cho phép Người Thợ Mộc ở Nazareth nói rằng: “Ta và Cha Ta là Một.”

But it must also be remembered (and herein lies the clue to world unfoldment and to the mystery of past, present and future) that we are dealing with matter-substance and with forms which are already conditioned, and which were conditioned when the creative process began. The material to be found in the quarries of manifested purpose is, symbolically speaking, Marble, and is thus conditioned. It is not clay or slate. It is from this marble, with all the inherent attributes of marble, that the Temple of the Lord must be built, in conformity to the design or pattern. This conditioned substance must be accepted as existing and must be dealt with as it is. Such is the parable of the ages. The design, the material, and the future temple are all subjectively related, and it is this [58] that the soul knows. For the soul is the One who appropriates the material (already conditioned and qualified), and for ages the soul wrestles with that material, building it into tentative forms, discarding it at will, gathering together again the material needed, and steadily making more adequate models as the pattern is visioned. Some day, the model will be discarded, the pattern will be seen as it really is, and the worker, the soul, will then begin to build consciously the Temple of the Lord, out of the conditioned and prepared material which, for long ages, it has been preparing in the quarry of the form life, the personal life.

Nhưng cũng cần phải nhớ rằng (và trong đây ẩn chứa manh mối về sự phát triển của thế giới cũng như bí ẩn của quá khứ, hiện tại và tương lai) chúng ta đang xử lý chất liệu vật chất và các hình thể đã được quy định sẵn, vốn đã mang tính quy định ngay từ khi tiến trình sáng tạo bắt đầu. Chất liệu có thể tìm thấy trong những mỏ đá của mục đích hiển lộ, nói theo biểu tượng, là đá cẩm thạch, và do đó mang đặc tính của nó. Nó không phải là đất sét hay đá phiến. Chính từ loại đá cẩm thạch này, với tất cả những thuộc tính vốn có của nó, mà Ngôi Đền của Thượng Đế phải được xây dựng, phù hợp với thiết kế hoặc mô hình định sẵn. Chất liệu đã được quy định này phải được chấp nhận như nó vốn có và phải được xử lý đúng theo bản chất của nó. Đó là dụ ngôn của muôn đời. Thiết kế, chất liệu, và ngôi đền tương lai tất cả đều có mối quan hệ chủ quan, và đó chính là điều mà linh hồn biết. Bởi vì linh hồn chính là Đấng chiếm hữu chất liệu (vốn đã được quy định và định tính từ trước), và trong suốt hàng thế kỷ, linh hồn vật lộn với chất liệu đó, xây dựng nó thành những hình thức thử nghiệm, loại bỏ chúng khi cần, gom tụ lại những chất liệu cần thiết, và dần dần tạo ra những mô hình ngày càng thích hợp hơn khi mô hình đó dần được hiển lộ trong tầm nhìn. Một ngày nào đó, mô hình thử nghiệm sẽ bị loại bỏ, mô hình thực sự sẽ được nhìn thấy như bản chất thật của nó, và người công nhân—chính là linh hồn—khi đó sẽ bắt đầu xây dựng một cách có ý thức Ngôi Đền của Thượng Đế, từ chính chất liệu đã được quy định và chuẩn bị trong suốt những thời đại dài, được tinh luyện qua những trải nghiệm trong thế giới hình tướng và đời sống cá nhân.

Here, therefore, are indicated two crises in the subjective life of the soul:—

Do đó, có hai cuộc khủng hoảng được biểu lộ trong đời sống chủ quan của linh hồn:

1. The crisis wherein the soul, blinded, limited and handicapped by form, begins to work in the quarry of experience, far from its own country, with inadequate tools, and in complete temporary self-imposed ignorance of the design, or pattern.

1. Cuộc khủng hoảng trong đó linh hồn, bị mù quáng, hạn chế và trói buộc bởi hình thể, bắt đầu làm việc trong “mỏ đá” của kinh nghiệm, xa cách khỏi quê hương của chính nó, với những công cụ không đầy đủ, và trong tình trạng tạm thời tự áp đặt sự vô minh hoàn toàn đối với thiết kế hay mô hình.

2. The crisis which comes very much later in the soul’s experience, wherein the soul knows more clearly the design, and in which much material has been prepared. The soul is no longer blind, and can now work in collaboration with other souls in the preparation of the material for the final Temple of the Lord. The soul, incarnate in human form, places in that Temple his particular contribution to the whole, which might be stated symbolically to be

2. Cuộc khủng hoảng xảy ra muộn hơn rất nhiều trong trải nghiệm của linh hồn, khi linh hồn bắt đầu nhận thức rõ ràng hơn về thiết kế, và khi một lượng lớn chất liệu đã được chuẩn bị. Lúc này, linh hồn không còn mù quáng nữa, và có thể làm việc trong sự hợp tác với các linh hồn khác để chuẩn bị chất liệu cho Ngôi Đền Cuối Cùng của Thượng Đế. Khi đó, linh hồn, đang nhập thể trong hình hài con người, đặt vào Ngôi Đền đó phần đóng góp đặc biệt của mình vào tổng thể, mà về mặt biểu tượng có thể được mô tả như sau:

a. A stone placed in the foundations, typical of the consecrated physical life.

a. Một viên đá được đặt trong nền móng, tượng trưng cho đời sống vật chất đã được hiến dâng.

b. A column in the Temple itself, typical of the desire or aspirational life.

b. Một cột trụ trong chính Ngôi Đền, tượng trưng cho đời sống khao khát hoặc chí nguyện.

c. A design upon the tracing board, which coincides with [59] the Great Pattern or Design, and which is that fragment of that design which the individual had to supply and in search of which he went forth.

c. Một bản thiết kế trên bàn vẽ, trùng khớp với [59] Mô Hình hoặc Thiết Kế Vĩ Đại, và chính là phần nhỏ trong mô hình mà cá nhân phải đóng góp và đã ra đi để tìm kiếm.

d. A radiance or light, which will augment the Shekinah, the light which “ever shineth in the East”.

d. Một ánh sáng hoặc sự rạng rỡ, giúp tăng cường Shekinah, ánh sáng “luôn chiếu sáng ở phương Đông.”

Three things emerge in connection with the task of the soul as it appropriates sheath after sheath for expression:—

Ba điều nổi bật liên quan đến nhiệm vụ của linh hồn khi nó lần lượt chiếm hữu các thể để biểu lộ:—

1. The condition of the substance of the sheaths which determines the equipment.

1. Tình trạng của chất liệu tạo thành các thể, điều này quyết định năng lực của con người.

2. Responsiveness to the pattern, which is dependent upon the stage of conscious development.

2. Mức độ phản ứng với mô hình, phụ thuộc vào giai đoạn phát triển tâm thức.

3. Ability to work in connection with the Plan, which is dependent upon the number and quality of the crises undergone.

3. Khả năng làm việc liên quan đến Thiên Cơ, phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của những cuộc khủng hoảng đã trải qua.

All this takes place as the soul passes, time after time, through the experience of physical incarnation; later, progress is made consciously from plane to plane and this is undertaken with clear intent. The work is facilitated and progresses with increased rapidity as the soul, actively, intelligently and intuitively, begins to work with the pattern, transmitting from crisis to crisis (each marking an expansion of consciousness) a newer reach of development and a fresh grasp of the great Design, coupled with a better and more adequate equipment through which to carry on the work.

Tất cả những điều này diễn ra khi linh hồn trải qua hết lần này đến lần khác những kinh nghiệm trong sự nhập thể vật lý; sau đó, sự tiến hóa được thực hiện một cách có ý thức từ cõi này sang cõi khác, và điều này được tiến hành với một mục đích rõ ràng. Công việc này trở nên dễ dàng hơn và tiến triển nhanh chóng hơn khi linh hồn, một cách chủ động, thông minh và trực giác, bắt đầu làm việc với mô hình, truyền tải từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác (mỗi khủng hoảng đánh dấu một sự mở rộng tâm thức) một tầm phát triển mới và một sự lĩnh hội mới về Thiết Kế Vĩ Đại, kết hợp với một năng lực tốt hơn và đầy đủ hơn để tiếp tục công việc.

In our consideration of the second part of the statement in this treatise, which deals with the relationship of the soul to its instrument,—the mechanism whereby or wherewith it expresses quality, activity and eventually divinity (whatever that vague word may mean)—we have to approach the subject in two ways:

Khi chúng ta xem xét phần thứ hai của luận điểm trong trước tác này, phần liên quan đến mối quan hệ của linh hồn với công cụ của nó—cơ cấu mà qua đó nó biểu lộ phẩm tính, hoạt động, và cuối cùng là tính thiêng liêng (dù từ ngữ mơ hồ này có nghĩa gì đi nữa)—chúng ta cần tiếp cận chủ đề này theo hai cách:

[60]

[60]

First, we must consider the utilisation of the mechanism on the Path of Outgoing.

Thứ nhất, chúng ta phải xem xét việc sử dụng cơ cấu này trên Con Đường Xuất Hành.

Second, the utilisation of the mechanism upon the Path of Return.

Thứ hai, việc sử dụng cơ cấu này trên Con Đường Hồi Quy.

In the first case, we are dealing with what might be regarded as the physiological aspect, for it is in the physical nature that the consciousness is primarily focussed; in the second case, we are concerned with the purely mental apparatus, though the word “apparatus” is basically unsuitable.

Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta đang đề cập đến khía cạnh sinh lý, vì tâm thức chủ yếu tập trung vào bản chất vật lý; trong trường hợp thứ hai, chúng ta quan tâm đến cơ cấu trí tuệ thuần túy, mặc dù từ “cơ cấu” về bản chất không phù hợp.

It might be well to interrupt here for a moment and deal with the idea of mechanism and divinity, for these are apt to be a materialising of the idea of divinity, particularly in the West. The divinity of Christ, for instance, is frequently illustrated by reference to His miracles, and to those supernormal powers which He so often evidenced. Supernormal powers are, of themselves, no evidence of divinity at all. Great exponents of evil can perform the same miracles and demonstrate the same capacity to create and to transcend the normal faculties of man. These powers are inherent in the creative aspect of Divinity, the third or matter aspect, and are linked to an intelligent understanding of matter and to the power of the mind to dominate substance. This power is, therefore, neither divine nor non-divine. It is a demonstration of the capacity of the mind, and can be used with equal facility by an incarnated Son of God, functioning as a World Saviour or Christ, and by those Beings who are on the path of destruction, and who are called (by those who know no better) Black Magicians, Evil Forces and Devils.

Có lẽ nên tạm dừng ở đây một chút để bàn về ý niệm cơ cấu và tính thiêng liêng, vì đây là hai khái niệm dễ bị vật chất hóa, đặc biệt là ở phương Tây. Chẳng hạn, tính thiêng liêng của Đức Christ thường được minh họa bằng những phép lạ của Ngài, cũng như những năng lực siêu nhiên mà Ngài thường thể hiện. Tuy nhiên, năng lực siêu nhiên tự thân nó không phải là bằng chứng của tính thiêng liêng. Những kẻ theo con đường hắc ám cũng có thể thực hiện những phép lạ tương tự và thể hiện cùng một khả năng vượt qua các giới hạn bình thường của con người. Những năng lực này vốn thuộc về khía cạnh sáng tạo của Thiêng Tính, tức là khía cạnh thứ ba hay khía cạnh vật chất, và liên kết với sự hiểu biết thông minh về vật chất cũng như năng lực của trí tuệ trong việc chi phối chất thể. Do đó, năng lực này không phải là thiêng liêng cũng không phải phi thiêng liêng. Nó chỉ là sự biểu lộ của trí tuệ, và có thể được sử dụng với hiệu quả tương tự bởi một Người Con của Thượng Đế nhập thể, hoạt động như một Đấng Cứu Thế hay một Đức Christ, hoặc bởi những thực thể trên con đường hủy diệt, những kẻ được gọi (bởi những người không hiểu rõ hơn) là các Pháp Sư Hắc Đạo, Lực Lượng Hắc Ám và Ma Quỷ.

Divinity (using the word in its separative sense) connotes the expression of the qualities of the second or building aspect of God,—magnetism, love, inclusiveness, non-separativeness, sacrifice for the good of the world, unselfishness, intuitive understanding, cooperation with the Plan of God, and many [61] other such qualitative phrases. Mechanism, after all, implies the creation of a form out of matter and the infusing of that form with a life principle which will show itself in the power to grow, to reproduce, to preserve identity of some kind, to flower forth into certain instinctual reactions, and to preserve its own specific qualitative nature. Life resembles the fuel which, in conjunction with the mechanism, provides the motivating principle and makes activity and the needed movement possible. But there is more to manifestation than forms which possess a life principle. There is a diversity running through nature and a qualifying principle which differentiates the mechanisms; there is a general synthesis and purpose, which defies the powers of man to emulate it creatively, and which is outstandingly the major characteristic of divinity. It expresses itself through colour and beauty, through reason and love, through idealism and wisdom, and through those many qualities and that purpose which, for instance, animate the aspirant. This is—briefly and inadequately expressed—Divinity. It is, however, a relative expression of Divinity. When each of us stands where stand the Masters and the Christ, we will regard this whole question from another point of view. The developing of virtues, the cultivation of understanding, the demonstration of good character and high aims, and the expression of an ethical and moral point of view are all necessary fundamentals, preceding certain definite experiences which usher the soul into worlds of realisation which are so far removed from our present point of view that any definition of them would be meaningless. What we are engaged in is the development of those qualities and virtues which will “clear our vision”, because they produce the purification of the vehicles so that the real significance of divinity can begin to emerge in our consciousness.

Tính thiêng liêng (nếu sử dụng từ này theo nghĩa phân biệt) gắn liền với sự biểu lộ của phẩm tính thuộc khía cạnh thứ hai của Thượng Đế—từ lực, tình thương, tính bao dung, tính vô phân biệt, sự hy sinh vì lợi ích của thế giới, tính vô kỷ, sự hiểu biết trực giác, sự hợp tác với Thiên Cơ, và nhiều [61] phẩm chất tương tự khác. Cơ cấu, sau tất cả, ngụ ý sự tạo ra một hình thể từ vật chất và sự truyền vào hình thể đó một nguyên lý sinh động, thứ sẽ biểu hiện qua khả năng tăng trưởng, tái tạo, duy trì một loại bản sắc nào đó, phát triển theo những phản ứng bản năng nhất định, và bảo tồn bản chất phẩm tính đặc trưng của nó. Sự sống giống như nhiên liệu, kết hợp với cơ cấu, tạo ra nguyên lý động lực và làm cho hoạt động cùng với sự vận động cần thiết trở nên khả thi. Nhưng biểu lộ không chỉ đơn thuần là những hình thể có nguyên lý sự sống. Nó còn có sự đa dạng xuyên suốt trong thiên nhiên và một nguyên lý định tính, thứ làm khác biệt các cơ cấu; có một sự tổng hợp chung và một mục đích, thứ vượt ngoài khả năng sáng tạo của con người và nổi bật như đặc tính chính yếu của tính thiêng liêng. Tính thiêng liêng biểu hiện qua màu sắc và vẻ đẹp, qua lý trí và tình thương, qua chủ nghĩa lý tưởng và minh triết, cũng như qua nhiều phẩm chất và mục đích vốn truyền cảm hứng cho người chí nguyện. Đây là một sự mô tả vắn tắt và chưa đầy đủ về Thiêng Tính. Tuy nhiên, đó chỉ là một biểu lộ tương đối của Thiêng Tính. Khi mỗi chúng ta đứng ở vị trí của các Chân Sư và Đức Christ, chúng ta sẽ nhìn nhận toàn bộ vấn đề này từ một góc độ khác. Việc phát triển các đức hạnh, nuôi dưỡng sự hiểu biết, thể hiện nhân cách cao đẹp và lý tưởng cao cả, cũng như việc thể hiện một quan điểm đạo đức và luân lý đều là những nền tảng cần thiết, dẫn đến những trải nghiệm nhất định giúp linh hồn bước vào những thế giới của nhận thức, vốn xa rời đến mức mọi định nghĩa về chúng hiện tại sẽ trở nên vô nghĩa. Điều mà chúng ta đang thực hiện là phát triển những phẩm chất và đức tính giúp “làm sáng tỏ tầm nhìn” của chúng ta, bởi vì chúng mang lại sự thanh lọc cho các thể, nhờ đó ý nghĩa thực sự của tính thiêng liêng mới bắt đầu xuất hiện trong tâm thức chúng ta.

[62]

[62]

b. CERTAIN BASIC PREMISES