With this preamble, we will pass on to the consideration of the mechanism and of that which infuses it and motivates it with life and intelligence.
Với phần dẫn nhập này, chúng ta sẽ tiếp tục xem xét về cơ cấu và về điều truyền năng lượng và thúc đẩy nó bằng sự sống và trí tuệ.
Certain basic premises are recognised and can, therefore, be very briefly mentioned:—
Một số tiền đề cơ bản được thừa nhận và do đó có thể được đề cập một cách ngắn gọn:
1. The soul informs the mechanism in two ways and through two points of contact in the body:—
1. Linh hồn truyền năng lượng cho cơ cấu theo hai cách và thông qua hai điểm tiếp xúc trong cơ thể:
a. The “thread of life” is anchored in the heart. The life principle is there to be found, and from that station it pervades the entire physical body through the medium of the blood stream, for “the blood is the life”.
a. “Sợi chỉ sự sống” được neo giữ trong tim. Nguyên lý sự sống hiện diện ở đó và từ vị trí này, nó thấm nhuần toàn bộ thể xác thông qua dòng chảy của máu, vì “máu là sự sống.”
b. The “thread of consciousness” or of intelligence is anchored in the head, in the region of the pineal gland, and from that station of perception it orders or directs the physical plane activities, through the medium of the brain and the nervous system.
b. “Sợi chỉ tâm thức” hay trí tuệ được neo giữ trong đầu, ở vùng tuyến tùng, và từ trạm nhận thức này, nó ra lệnh hoặc hướng dẫn các hoạt động trên cõi trần thông qua bộ não và hệ thần kinh.
2. The directive activity of the soul, or its authoritative grasp upon the mechanism of the body, is dependent for its extent upon the point of development, or upon the so-called “age of the soul”. The soul is ageless from the human angle, and what is really meant is the length of time that a soul has employed the method of physical incarnation.
2. Hoạt động chỉ đạo của linh hồn, hoặc sự nắm giữ có thẩm quyền của nó đối với cơ cấu của thể xác, phụ thuộc vào mức độ phát triển, hay cái gọi là “độ tuổi của linh hồn”. Linh hồn vốn không có tuổi từ góc nhìn nhân loại, và điều thực sự được nói đến ở đây là khoảng thời gian mà một linh hồn đã sử dụng phương pháp nhập thể vật lý.
3. The result of this twofold hold upon the mechanism during the past ages has been the conditioning of the material, in conjunction with its own inherent conditioned nature. A form is produced which is adequate to the temporary need of the soul and which is a reflection, in time and space, of its “relative age” or point of development. [63] This, therefore, produces the type of brain, the conformation of the body, the condition of the endocrine system, and consequently the set of qualities, the type of mental reaction, and the character with which any given subject enters into life upon the physical plane. From that point, the work proceeds. This work might be regarded as an effort to intensify the hold which the divine Thinker has upon the mechanism. This will lead to a wiser, fuller direction, a deeper realisation of the purpose, and an effort to clear the way for the soul by the institution of those practices which tend towards right conduct, right speech, and good character. The thought underlying this paragraph links the conclusions of the materialistic school of psychologists with the introspectionist school and those schools which posit a self, a soul or a spiritual entity, and shows that both groups are dealing with facts, and that both must play their united parts in training the aspirant in the New Age.
3. Kết quả của sự nắm giữ hai mặt này đối với cơ cấu qua các thời đại đã dẫn đến sự quy định của vật chất, kết hợp với bản chất vốn có của nó. Một hình thể được tạo ra để đáp ứng nhu cầu tạm thời của linh hồn, và hình thể này phản ánh trong thời gian và không gian “độ tuổi tương đối” hoặc mức độ phát triển của nó. [63] Do đó, điều này quyết định loại bộ não, cấu trúc của thể xác, tình trạng của hệ nội tiết, và hệ quả là tập hợp các phẩm tính, kiểu phản ứng trí tuệ, và tính cách mà một cá nhân mang theo khi y nhập thế trên cõi trần. Từ đó, công việc phát triển tiếp tục. Công việc này có thể được xem như một nỗ lực để tăng cường sự kiểm soát của Đấng Suy Tư Thiêng Liêng đối với cơ cấu. Điều này sẽ dẫn đến một sự hướng dẫn sáng suốt và đầy đủ hơn, một sự nhận thức sâu sắc hơn về mục đích, và một nỗ lực để mở đường cho linh hồn thông qua việc thực hành những nguyên tắc hướng đến hành vi đúng đắn, lời nói đúng đắn và nhân cách cao đẹp. Ý tưởng cơ bản của đoạn này liên kết những kết luận của trường phái tâm lý học duy vật với trường phái hướng nội, cũng như những trường phái cho rằng có một cái ngã, một linh hồn hoặc một thực thể tinh thần, và điều này cho thấy rằng cả hai nhóm đều đang xử lý những sự thật, và cả hai nhóm đều phải đóng vai trò kết hợp trong việc đào luyện người chí nguyện trong Kỷ Nguyên Mới.
4. As the introspective method is pursued, and as we study the human subject, we discover that underlying the human body in all its parts, and constituting a definite part of the human apparatus, there is a vehicle which has been called the “etheric body”, composed entirely of threads of force which, in their turn, form the channels along which still more subtle and varying types of energy flow. These are, in their turn, “conditioned” during manifestations by the status of the soul. These threads underlie and interpenetrate the entire body and the nervous system and are in reality the actuating power of the nervous system. Their responsiveness to impacts, outer and inner, is unbelievably great. The nervous reactions of the disciple and highly developed person, [64] whose etheric body is in close rapport with his nervous system, is beyond the average comprehension.
4. Khi phương pháp hướng nội được theo đuổi, và khi chúng ta nghiên cứu con người, chúng ta phát hiện ra rằng bên dưới thể xác trong tất cả các phần của nó, và tạo thành một phần xác định của cơ cấu con người, có một thể được gọi là “thể dĩ thái”, hoàn toàn được tạo thành từ những sợi mãnh lực, vốn lại tạo thành các kênh mà qua đó các loại năng lượng tinh tế và đa dạng hơn nữa chảy qua. Những năng lượng này, khi biểu hiện, lại chịu sự quy định bởi trạng thái của linh hồn. Những sợi mãnh lực này thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ cơ thể cũng như hệ thần kinh, và trên thực tế, chúng là nguồn năng lượng thúc đẩy hệ thần kinh. Mức độ phản ứng của chúng trước các tác động bên ngoài và bên trong là vô cùng to lớn. Các phản ứng thần kinh của một đệ tử và một người phát triển cao [64], người mà thể dĩ thái của y có sự liên kết mật thiết với hệ thần kinh của mình, vượt xa sự hiểu biết trung bình.
5. The sum-total of the nerves, with the millions of nadis or “thread counterparts” in the etheric body, form a unit, and this unit, according to the teaching of the Ageless Wisdom, has in it points of focus for different types of energy. These are called “force centres”, and upon these depend the life experience of the soul and its expression, and not upon the body. They are the factors which condition the glandular system of the body.
5. Tổng thể của các dây thần kinh, với hàng triệu nadi hoặc các “sợi tương ứng” trong thể dĩ thái, tạo thành một đơn vị, và đơn vị này, theo giáo huấn của Minh Triết Ngàn Đời, có trong nó các điểm tập trung cho các loại năng lượng khác nhau. Những điểm này được gọi là “luân xa”, và chính những luân xa này quyết định trải nghiệm đời sống của linh hồn cũng như sự biểu lộ của nó, chứ không phải thể xác. Chúng là những yếu tố quy định hệ thống tuyến nội tiết của cơ thể.
6. This subjective and objective system governs the manifestation of the soul on the physical plane. It indicates to those who can see in truth, the grasp or hold that the soul has upon its instrument; it can be seen whether that grasp is occasional and partial or whether it is entire and whole. This is most wonderfully indicated in a certain Masonic grip, which marks a climax in the experience of the candidate to the mysteries.
6. Hệ thống chủ quan và khách quan này chi phối sự biểu lộ của linh hồn trên cõi trần. Nó cho thấy, đối với những ai có thể nhìn nhận chân lý, mức độ kiểm soát mà linh hồn có đối với công cụ của nó; có thể thấy rõ liệu sự kiểm soát đó chỉ là thỉnh thoảng và một phần hay là toàn diện và đầy đủ. Điều này được thể hiện một cách tuyệt vời trong một dấu ấn Masonic nhất định, đánh dấu một đỉnh điểm trong trải nghiệm của ứng viên tham gia vào các huyền nhiệm.
I previously referred to the main channel of communication between the soul and its mechanism as being:—
Trước đây, tôi đã đề cập đến kênh giao tiếp chính giữa linh hồn và cơ cấu của nó như sau:—
a. The centre at the base of the spine.
a. Luân xa tại đáy cột sống.
b. The centre at the top of the head, where the most important centre in the body is situated, from the standpoint of the soul. There is its point of entry and exit; there is the great radio station of reception, and the distributing centre for direction.
b. Luân xa tại đỉnh đầu, nơi đặt trung tâm quan trọng nhất trong cơ thể từ quan điểm của linh hồn. Đây là điểm vào và ra của linh hồn; tại đây có trạm thu sóng vĩ đại, trung tâm tiếp nhận và phân phối để chỉ đạo.
c. The spleen. This is a subsidiary centre and organ in connection with the heart centre.
c. Luân xa lá lách. Đây là một trung tâm phụ và là cơ quan liên kết với luân xa tim.
It is through the spleen that a linking up takes place between the life principle (seated in the heart) and the consciousness system, interlinking all the material organs and the atomic [65] substance of the physical body. This statement indicates that, in the location in the human body where the spleen is found, along with its corresponding subjective force centre, two great currents of energy cross: these are the current of physical vitality or life and the current of the consciousness of the atoms which construct the form. It will be observed that we are here discussing the group subconscious life and not the conscious life and the self-consciousness. The spleen is the organ in which planetary prana or vitality is received and passed. This enters in through “the open gateway” of the splenic force centre, and passes to the heart. There it merges with the individual life principle. Through the splenic centre also passes the conscious life of the sum-total of the bodily cells, which are, in their turn, the recipients of the energy of the consciousness aspect or principles of all atoms and forms within the fourth kingdom of nature. This we cannot be expected to comprehend as yet, but the truth will be appreciated later on in the racial development. A hint can here be found as to the excessive sensitivity of the solar plexus centre to surrounding group impacts and impressions of an astral kind. There is a close rapport between the splenic centre and the solar plexus, as well as with the heart.
Thông qua luân xa lá lách, sự liên kết diễn ra giữa nguyên lý sự sống (tọa lạc ở tim) và hệ thống tâm thức, kết nối tất cả các cơ quan vật chất cũng như các nguyên tử của thể xác. Tuyên bố này cho thấy rằng, tại vị trí của lá lách trong cơ thể con người, cùng với trung tâm lực chủ quan tương ứng của nó, có hai dòng năng lượng lớn giao thoa nhau: một là dòng sinh khí vật lý hay dòng sự sống, và một là dòng năng lượng tâm thức của các nguyên tử tạo thành hình tướng. Có thể nhận thấy rằng ở đây chúng ta đang thảo luận về đời sống tiềm thức của nhóm, chứ không phải đời sống có ý thức và tự thức. Luân xa lá lách là cơ quan tiếp nhận và truyền dẫn prana hay sinh khí hành tinh. Sinh khí này đi vào qua “cánh cổng mở” của luân xa lá lách, rồi truyền đến tim, nơi nó hợp nhất với nguyên lý sự sống cá nhân. Đồng thời, thông qua luân xa lá lách, dòng sống có ý thức của tổng thể các tế bào trong cơ thể cũng lưu thông; những tế bào này là những thực thể tiếp nhận năng lượng của khía cạnh tâm thức, tức là nguyên lý của tất cả nguyên tử và hình tướng trong giới thứ tư của thiên nhiên. Đây là điều mà chúng ta chưa thể hiểu thấu đáo, nhưng sự thật này sẽ được nhận thức trong giai đoạn phát triển chủng tộc sau này. Một gợi ý có thể được tìm thấy ở đây về sự nhạy cảm quá mức của luân xa tùng thái dương trước các tác động và ấn tượng của nhóm, đặc biệt là những ảnh hưởng của cõi cảm dục. Có một mối liên kết mật thiết giữa luân xa lá lách, luân xa tùng thái dương và luân xa tim.
7. These two subjective and subconscious streams of energy cross each other in the region of the spleen and there form a cross in the human body, as they traverse each others lines of force. This is the correspondence in the human body to the cross of matter, spoken of in connection with Deity. Consciousness and life form a cross. The downpouring stream of life from the heart and the stream of life-giving energy from the spleen pass on (after crossing each other and producing a whirlpool of force) into the solar plexus region; from thence [66] they are very definitely drawn together as one stream at a certain stage in the life of the advanced aspirant. There they merge with the sum-total of energies, using the three points referred to—the head, the base of the spine and the spleen—as a definite mode of communication, of distribution and of control, and finally of ultimate withdrawal, consciously or unconsciously, at the moment of death or in the technique of inducing that stage of control known as Samadhi.
7. Hai dòng năng lượng tiềm thức và chủ quan này giao nhau trong vùng lá lách và tạo thành một hình thập giá trong cơ thể con người, khi chúng cắt ngang nhau trong những dòng mãnh lực. Đây chính là sự tương ứng trong cơ thể người với thập giá vật chất, vốn được đề cập trong mối liên hệ với Thượng Đế. Tâm thức và sự sống tạo thành một thập giá. Dòng năng lượng đổ xuống từ tim và dòng năng lượng sinh khí từ lá lách giao nhau (tạo ra một xoáy lực) và sau đó đi vào vùng tùng thái dương; từ đó [66] chúng được thu hút lại thành một dòng hợp nhất ở một giai đoạn nhất định trong đời sống của người chí nguyện tiến bộ. Tại đây, chúng hợp nhất với tổng thể các năng lượng, sử dụng ba điểm đã đề cập—đỉnh đầu, đáy cột sống và lá lách—như một phương thức xác định để giao tiếp, phân phối, kiểm soát, và cuối cùng là rút lui, dù là có ý thức hay vô thức, vào thời điểm chết hoặc trong kỹ thuật đạt đến trạng thái kiểm soát được gọi là Samadhi.
8. When the directing Agent in the head, deliberately and by an act of the will, raises the accumulated energies at the base of the spine, he draws them into the magnetic field of the centres up the spine and blends them with the dual energy emanating from the spleen. The spinal tract with its five centres then awakens into activity, and finally all the forces are gathered together into one fused and blended stream of energy. Three things then happen:
8. Khi Chủ Thể Điều Khiển trong đầu, một cách có chủ ý và bằng hành động của ý chí, nâng dòng năng lượng tích tụ tại đáy cột sống, y sẽ kéo dòng năng lượng này vào từ trường của các luân xa dọc theo cột sống và hòa hợp nó với nguồn năng lượng kép phát ra từ lá lách. Lúc này, tuyến năng lượng cột sống với năm luân xa sẽ thức tỉnh hoạt động, và cuối cùng tất cả các mãnh lực được tập hợp lại thành một dòng năng lượng hợp nhất và hòa quyện. Khi đó, ba điều xảy ra:
a. The kundalini fire is raised and immediately burns away all the etheric webs which are the protective barriers, separating the various centres.
a. Lửa kundalini được nâng lên và ngay lập tức đốt cháy tất cả các màng dĩ thái vốn là những hàng rào bảo vệ, ngăn cách các luân xa khác nhau.
b. The etheric body intensifies its vitality, and the physical body is consequently powerfully vitalised, galvanised, and energised.
b. Thể dĩ thái gia tăng sức sống, khiến thể xác mạnh mẽ hơn, trở nên sống động và tràn đầy năng lượng.
c. The entire aura is coordinated and illumined, and the soul can then, at will, withdraw from its physical vehicle in full waking consciousness, or stay in it as an incarnated Son of God, Whose consciousness is complete on the physical plane, the astral plane, and on the mental levels, as well as in the three aspects of lower mind, causal consciousness and nirvanic realisation. This process finds its consummation at the third initiation.
c. Toàn bộ hào quang được phối hợp và chiếu sáng, nhờ đó linh hồn có thể, theo ý muốn, rút lui khỏi thể xác trong trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, hoặc tiếp tục tồn tại trong thân xác như một Người Con của Thượng Đế nhập thể, với tâm thức hoàn toàn đầy đủ trên cõi trần, cõi cảm dục và cõi trí, cũng như trong ba khía cạnh của hạ trí, tâm thức nguyên nhân và nhận thức niết bàn. Tiến trình này đạt đến đỉnh điểm ở lần điểm đạo thứ ba.
[67]
[67]
In the life of the aspirant, the power to cause this tremendous happening is dependent upon the carrying forward of the inner subjective and spiritual work previously described as the “building of the bridge on the mental plane” between the above mentioned three aspects. For the race of men as a whole, this work began in the middle of our Aryan race, and is today going forward very rapidly. For the individual aspirant, the work has always been possible right down the ages, and it is the major task undertaken by disciples at this time. It might be added here that the New Group of World Servers is composed of those who are engaged in this work for the race, and every person who builds his bridge joins this group of occult “bridge-builders”. There is, therefore, something symbolic about the work of our modern bridge builders who join the chasms and span the waters and thus give concrete evidence of the work being done today by advanced humanity.
Trong đời sống của người chí nguyện, khả năng kích hoạt hiện tượng trọng đại này phụ thuộc vào việc triển khai công việc nội tâm chủ quan và tâm linh, vốn đã được mô tả trước đây như là “việc xây dựng cây cầu trên cõi trí” giữa ba khía cạnh đã đề cập. Đối với nhân loại nói chung, công việc này đã bắt đầu từ giữa giống dân Arya của chúng ta và hiện nay đang tiến triển rất nhanh. Đối với người chí nguyện cá nhân, công việc này luôn có thể thực hiện xuyên suốt các thời đại, và đó là nhiệm vụ chính yếu mà các đệ tử đang đảm nhận trong thời điểm hiện tại. Có thể bổ sung rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bao gồm những người đang tham gia vào công việc này cho toàn nhân loại, và mỗi người tự xây dựng cây cầu của mình đều trở thành thành viên của nhóm huyền môn “những người xây cầu”. Do đó, công việc của các kỹ sư cầu hiện đại, những người nối liền những hẻm vực và bắc ngang các dòng nước, chính là một biểu hiện cụ thể của công việc đang được thực hiện ngày nay bởi nhân loại tiến bộ.
It now becomes possible to consider the process whereby a man bridges the gulf or gap (speaking symbolically) which exists between the personal lower self and the higher Self, as the latter functions in its own world. This has to be bridged before at-one-ment can be achieved and complete integration of the entire man can be brought about. To understand clearly what occurs, it will be wise to define more accurately what that higher nature is, and of what it consists.
Giờ đây, chúng ta có thể xem xét tiến trình mà qua đó một con người bắc cầu vượt qua vực thẳm hoặc khoảng cách (nói theo nghĩa tượng trưng) giữa phàm ngã và Chân Ngã cao hơn, khi Chân Ngã hoạt động trong thế giới của chính nó. Khoảng cách này phải được nối liền trước khi sự hợp nhất có thể được đạt đến, và trước khi sự tích hợp toàn diện của con người được hoàn tất. Để hiểu rõ những gì diễn ra, sẽ rất hữu ích khi xác định một cách chính xác hơn bản chất cao hơn đó là gì và bao gồm những yếu tố nào.
We have seen in our studies that the soul is a dual blend of energies—the energy of life and the energy of mind—as far as its relation to the mechanism is temporarily concerned. The merging of these two energies in the human mechanism produces what we call consciousness—at first self-consciousness and finally group-consciousness. The mechanism is, in its own nature, also a blend or fusion of energies—the energy of substance itself which takes the form of the atomic structure [68] of the physical body, plus the vitality which animates that body, and, secondly, the energy of that body which we call the astral body, distinguished by sensitivity, emotional activity, and that magnetic force which we call desire. There is, finally, the energy of mind itself. These four types of energy form what we call the lower personal self, but it is the higher mental aspect of the mind which links, subjectively, this personality and the soul. It is the lower consciousness which (when developed) enables a man eventually to make conscious contact with the higher. It is the lower concretising mind which must be awakened, understood and used with definiteness before the higher mind can become the medium through which knowledge can be gained of those realities which constitute the kingdom of God. Intellect must be unfolded before the intuition can be correctly evoked.
Chúng ta đã thấy trong các nghiên cứu của mình rằng linh hồn là một sự hòa hợp kép của các loại năng lượng—năng lượng sự sống và năng lượng trí tuệ—khi xét đến mối quan hệ tạm thời của nó với cơ cấu. Sự hòa nhập của hai năng lượng này trong cơ cấu con người tạo ra điều mà chúng ta gọi là tâm thức—ban đầu là tự thức và cuối cùng là tâm thức nhóm. Bản thân cơ cấu cũng là một sự kết hợp hoặc dung hợp của các năng lượng—trước tiên là năng lượng của chất thể, cấu thành nên cấu trúc nguyên tử [68] của thể xác, cùng với sinh khí làm cho thể xác hoạt động; thứ hai là năng lượng của thể xác mà chúng ta gọi là thể cảm dục, được đặc trưng bởi sự nhạy cảm, hoạt động cảm xúc và từ lực mà chúng ta gọi là dục vọng. Cuối cùng, có năng lượng của chính trí tuệ. Bốn loại năng lượng này tạo thành điều mà chúng ta gọi là phàm ngã thấp, nhưng chính khía cạnh trí tuệ cao hơn của trí tuệ mới liên kết chủ quan giữa phàm ngã và linh hồn. Chính tâm thức thấp hơn (khi được phát triển) giúp con người cuối cùng thiết lập được sự tiếp xúc có ý thức với tâm thức cao hơn. Chính hạ trí mang tính cụ thể phải được đánh thức, hiểu biết và sử dụng một cách có định hướng trước khi thượng trí có thể trở thành phương tiện để tiếp nhận tri thức về những thực tại tạo nên Thiên Giới. Trí tuệ phải được khai mở trước khi trực giác có thể được khơi dậy một cách chính xác.
We have, therefore, in the case of man, two groups of major energies dominating, as a result of a long experience of incarnation in form, the energy of the astral or desire nature and the energy of mind. When these are fused and blended, thoroughly organised and utilised, then we see a functioning and powerful Personality. Seeking to impose itself upon these energies and to subordinate them to higher and different aims is to be found that blended energy-unit which we call the soul. Its two energies (mind and love, the latter being also a dual form of energy) are anchored, if one may use this word in a symbolic and esoteric sense, in the human brain, whilst the life principle, as we have seen, is anchored in the human heart. The four energies of the lower self—atomic energy, vital energy, feeling energy and mental energy—plus the two energies of the soul, make the six energies used by man in his life experience; but the energy of the atom is usually not counted as a human energy, as it is uniform in its usage in all [69] forms of life in all kingdoms, and therefore man is regarded as a sum total of five energies, and not of six energies.
Do đó, trong trường hợp của con người, có hai nhóm năng lượng chính chi phối—kết quả của một quá trình dài nhập thể trong hình tướng—đó là năng lượng của bản chất cảm dục hoặc dục vọng và năng lượng của trí tuệ. Khi hai năng lượng này được dung hợp và hòa quyện, tổ chức hoàn chỉnh và được sử dụng một cách hiệu quả, thì chúng ta sẽ thấy một phàm ngã hoạt động mạnh mẽ. Nỗ lực áp đặt bản thân lên các năng lượng này và thuần hóa chúng để hướng đến những mục tiêu cao hơn là trách nhiệm của thực thể năng lượng tổng hợp mà chúng ta gọi là linh hồn. Hai năng lượng của nó (trí tuệ và tình thương, trong đó tình thương cũng là một dạng năng lượng kép) được “neo giữ”, nếu có thể dùng từ này theo nghĩa tượng trưng và huyền môn, trong bộ não con người, trong khi nguyên lý sự sống, như chúng ta đã thấy, được neo giữ trong tim. Bốn năng lượng của phàm ngã thấp—năng lượng nguyên tử, năng lượng sinh khí, năng lượng cảm giác và năng lượng trí tuệ—cộng với hai năng lượng của linh hồn, tạo thành sáu năng lượng được con người sử dụng trong trải nghiệm đời sống; nhưng năng lượng nguyên tử thường không được tính là một năng lượng của con người, vì nó có tính đồng nhất trong việc sử dụng ở tất cả [69] các hình tướng sống trong mọi giới, do đó con người được xem là tổng hòa của năm năng lượng, chứ không phải sáu.
The human soul (in contradistinction to the soul as it functions in its own kingdom, free from the limitations of human life) is imprisoned by and subject to the control of the lower energies for the major part of its experience. Then, upon the Path of Probation, the dual energy of the soul begins to be increasingly active, and the man seeks consciously to use his mind, and to express love-wisdom on the physical plane. This is a simple statement of the objective of all aspirants. When the five energies are beginning to be used consciously and wisely in service, a rhythm is then set up between the personality and the soul. It is as if a magnetic field were then established, and these two vibrating and magnetic units, or grouped energies, begin to swing into each others field of influence. In the early stages, this happens only occasionally and rarely. Later it occurs more constantly, and thus a path of contact is established which eventually becomes the line of least resistance, “the way of familiar approach”, as it is sometimes esoterically called. Thus the first half of the “bridge”, the antaskarana, is constructed. By the time the third initiation is undergone, this way is completed, and the initiate can “pass to higher worlds at will, leaving the lower worlds far behind; or he can come again and pass upon the way that leads from dark to light, from light to dark, and from the under, lower worlds into the realms of light”.
Linh hồn con người (trái ngược với linh hồn khi nó hoạt động trong vương quốc của chính nó, không bị giới hạn bởi đời sống con người) bị giam hãm và chịu sự kiểm soát của các năng lượng thấp hơn trong phần lớn kinh nghiệm của nó. Sau đó, trên Con Đường Dự Bị, năng lượng kép của linh hồn bắt đầu hoạt động ngày càng mạnh mẽ, và con người tìm cách sử dụng trí tuệ một cách có ý thức, đồng thời biểu lộ tình thương–minh triết trên cõi trần. Đây là một tuyên bố đơn giản về mục tiêu của tất cả những người chí nguyện. Khi năm năng lượng bắt đầu được sử dụng một cách có ý thức và khôn ngoan trong sự phụng sự, thì một nhịp điệu sẽ được thiết lập giữa phàm ngã và linh hồn. Khi đó, giống như một từ trường được tạo ra, và hai đơn vị rung động từ tính này, hoặc các nhóm năng lượng này, bắt đầu dao động trong trường ảnh hưởng của nhau. Ở giai đoạn đầu, điều này chỉ xảy ra thỉnh thoảng và hiếm hoi. Sau đó, nó diễn ra một cách thường xuyên hơn, và như vậy một con đường tiếp xúc được thiết lập, cuối cùng trở thành con đường có ít trở ngại nhất, hay còn gọi là “con đường tiếp cận quen thuộc”, như đôi khi được gọi theo huyền môn. Như vậy, nửa đầu của “cây cầu”, tức antahkarana, được xây dựng. Đến lần điểm đạo thứ ba, con đường này hoàn tất, và điểm đạo đồ có thể “bước vào các thế giới cao hơn theo ý muốn, bỏ xa các cõi thấp phía sau; hoặc y có thể quay trở lại và bước đi trên con đường dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ ánh sáng đến bóng tối, và từ các thế giới thấp hơn vào các cõi ánh sáng”.
Thus the two are one, and the first great unison upon the path of return is complete. A second stage of the way has then to be trodden, leading to a second union of still greater importance in that it leads to complete liberation from the three worlds. It must be remembered that the soul, in its turn, is a union of two energies, plus the energy of spirit, of which the lower three are the reflection. It is a synthesis of the energy of Life itself (which demonstrates as the life-principle within the world of forms), of the energy of the intuition, or spiritual love-wisdom or understanding (which demonstrates as sensitivity and feeling in the astral body), and of spiritual mind, whose reflection in the lower nature is the mind or the principle of intelligence in the form world. In these three energies we have the atma-buddhi-manas of the theosophical literature. They are that higher triplicity which is reflected in the lower three, and which focusses through the soul body on the higher levels of the mental plane before being “precipitated into incarnation”, as it is esoterically called.
Như vậy, hai thực thể trở thành một, và sự hợp nhất vĩ đại đầu tiên trên Con Đường Hồi Quy được hoàn tất. Sau đó, một giai đoạn thứ hai phải được thực hiện, dẫn đến một sự hợp nhất thứ hai còn quan trọng hơn, vì nó dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi ba cõi giới. Cần nhớ rằng linh hồn, đến lượt nó, là sự hợp nhất của hai năng lượng, cộng với năng lượng của tinh thần, mà ba năng lượng thấp hơn chỉ là phản chiếu của chúng. Nó là sự tổng hợp của năng lượng Sự Sống thuần túy (biểu hiện như nguyên lý sự sống trong thế giới hình tướng), của năng lượng trực giác, hay tình thương–minh triết tinh thần hay sự hiểu biết (biểu hiện như sự nhạy cảm và cảm giác trong thể cảm dục), và của trí tuệ tinh thần, mà phản chiếu của nó trong bản chất thấp hơn chính là trí tuệ hay nguyên lý thông tuệ trong thế giới hình tướng. Ba năng lượng này chính là atma-buddhi-manas trong tài liệu Thông Thiên Học. Chúng là tam nguyên cao hơn, phản chiếu xuống tam nguyên thấp hơn, và được hội tụ qua thể linh hồn trên các cõi cao của cõi trí trước khi được “ngưng tụ vào sự nhập thể”, như cách gọi theo huyền môn.
Modernising the concept, we might say that the energies which animate the physical body and the intelligent life of the atom, the sensitive emotional states, and the intelligent mind have eventually to be blended with, and transmuted into, the energies which animate the soul. These are the spiritual mind, conveying illumination; the intuitive nature, conferring spiritual perception; and divine livingness.
Hiện đại hóa khái niệm này, chúng ta có thể nói rằng các năng lượng làm sinh động thể xác và sự sống thông tuệ của nguyên tử, các trạng thái cảm xúc nhạy cảm, và trí tuệ thông minh cuối cùng phải được hòa trộn và chuyển hóa thành các năng lượng làm sinh động linh hồn. Đó là trí tuệ tinh thần, mang lại sự soi sáng; bản chất trực giác, ban tặng nhận thức tinh thần; và sự sống thiêng liêng.
After the third initiation the “Way” is carried forward with great rapidity, and the “bridge” is finished which links perfectly the higher spiritual Triad and the lower material reflection. The three worlds of the soul and the three worlds of the Personality become one world wherein the initiate works and functions, seeing no distinction, viewing one world as the world of inspiration and the other world as constituting the field of service, yet regarding both together as forming one world of activity. Of these two worlds, the subjective etheric body (or the body of vital inspiration) and the dense physical body are symbols on the external plane.
Sau lần điểm đạo thứ ba, “Con Đường” được tiến hành với tốc độ nhanh chóng, và “cây cầu” được hoàn thành, liên kết một cách hoàn hảo giữa Tam nguyên tinh thần cao hơn và phản chiếu vật chất thấp hơn. Ba cõi của linh hồn và ba cõi của phàm ngã trở thành một cõi duy nhất, trong đó điểm đạo đồ làm việc và hoạt động, không thấy có sự phân biệt, xem một cõi là cõi của nguồn cảm hứng và cõi kia là cánh đồng phụng sự, nhưng nhìn cả hai như hợp thành một thế giới hoạt động. Trong hai cõi này, thể dĩ thái chủ quan (hay thể cảm hứng sinh động) và thể xác đậm đặc là những biểu tượng trên cõi ngoại hiện.
How is this bridging antaskarana to be built? What are the steps which the disciple must follow? We are not here considering the Path of Probation whereon the major faults [71] should be eliminated and whereon the major virtues should be developed. Much of the spiritual instruction given in the past has laid down the rules for the cultivation of the virtues and qualifications for discipleship, and also the necessity for self-control, for tolerance and for unselfishness. But these are elementary stages and should be taken for granted by all students of this Treatise. Such students are presumably occupied not only with the establishment of the character aspect of discipleship, but with the more abstruse and difficult requirements for those whose goal is initiation.
Làm thế nào để xây dựng cây cầu antahkarana này? Những bước nào mà đệ tử phải tuân theo? Chúng ta không bàn đến Con Đường Dự Bị, nơi các lỗi lầm lớn phải được loại bỏ và các đức hạnh lớn phải được phát triển. Phần lớn các giáo huấn tâm linh trong quá khứ đã đặt ra các quy tắc để phát triển đức hạnh và phẩm chất của địa vị đệ tử, cũng như nhấn mạnh sự cần thiết của tự chủ, khoan dung và vô ngã. Nhưng đây chỉ là những giai đoạn sơ khởi và nên được mặc nhiên thừa nhận bởi tất cả những ai nghiên cứu luận thuyết này. Những người nghiên cứu như vậy được cho là không chỉ bận tâm với việc thiết lập khía cạnh tính cách của địa vị đệ tử, mà còn với những yêu cầu sâu xa hơn và khó khăn hơn dành cho những ai có mục tiêu là điểm đạo.
It is with the work of the “bridge-builders” that we are concerned. First, let it be stated that the real building of the antaskarana only takes place when the disciple is beginning to be definitely focussed upon mental levels, and when therefore his mind is intelligently and consciously functioning. He must begin at this stage to have some more exact idea than has hitherto been the case as to the distinctions existing between the Thinker, the apparatus of thought, and thought itself, beginning with its dual esoteric function which is:
Điều chúng ta quan tâm ở đây là công việc của những “người xây cầu”. Trước tiên, cần khẳng định rằng việc xây dựng thực sự cây cầu antahkarana chỉ diễn ra khi đệ tử bắt đầu tập trung một cách rõ ràng trên các cấp độ trí tuệ, và khi đó trí tuệ của y bắt đầu hoạt động một cách thông minh và có ý thức. Ở giai đoạn này, y phải có một nhận thức chính xác hơn so với trước đây về sự khác biệt giữa Người Suy Tư, cơ cấu tư duy và chính tư tưởng, bắt đầu từ hai chức năng nội môn kép của nó:
1. The recognition of, and receptivity to, Ideas.
1. Sự nhận biết và tiếp nhận các Ý Tưởng.
2. The creative faculty of conscious thought-form building.
2. Khả năng sáng tạo trong việc xây dựng hình tư tưởng có ý thức.
This necessarily involves a strong mental attitude and a reorientation of the mind to reality. As the disciple begins to focus himself on the mental plane (and this is the prime intent of the meditation work) he starts working in mental matter and trains himself in the powers and uses of thought. He achieves a measure of mind control; he can turn the searchlight of the mind in two directions—into the world of human endeavor, and into the world of soul activity. Just as the soul makes a way for itself by projecting itself in a thread or stream of energy into the three worlds, so the disciple begins [72] consciously to project himself into the higher worlds. His energy goes forth, through the medium of the controlled and directed mind, into the world of higher spiritual mind and into the realm of the intuition. A reciprocal activity is thus set up. This response between the higher and lower mind is symbolically spoken of in terms of light, and the “lighted way” (a term frequently employed) comes into being between the personality and the spiritual Triad, via the soul body, just as the soul came into definite contact with the brain via the mind. This “lighted way” is the illumined bridge. It is built through meditation; it is constructed through the constant effort to draw forth the intuition, through subservience and obedience to the Plan (which begins to be recognised as soon as the intuition and the mind are en rapport) and through a conscious incorporation into the group in service and for purposes of assimilation into the whole. All these qualities and activities are based upon the foundation of good character and the qualities developed upon the Probationary Path.
Điều này đòi hỏi một thái độ trí tuệ mạnh mẽ và một sự tái định hướng của tâm trí đối với thực tại. Khi đệ tử bắt đầu tập trung vào cõi trí (và đây là mục đích chính của công việc tham thiền), y khởi sự làm việc với chất trí và tự rèn luyện trong các quyền năng và cách sử dụng tư tưởng. Y đạt được một mức độ kiểm soát trí tuệ nhất định; y có thể hướng luồng sáng của trí tuệ theo hai hướng—vào thế giới nỗ lực của nhân loại, và vào thế giới hoạt động của linh hồn. Cũng như linh hồn tự mở đường bằng cách phóng chiếu chính nó qua một tuyến hoặc dòng năng lượng vào ba cõi, đệ tử cũng bắt đầu [72] có ý thức phóng chiếu chính mình vào các cõi cao hơn. Năng lượng của y đi ra ngoài thông qua trung gian là trí tuệ được kiểm soát và định hướng, vào thế giới trí tuệ tinh thần cao hơn và vào cõi trực giác. Một hoạt động đối ứng được thiết lập theo đó. Sự đáp ứng giữa trí tuệ cao hơn và trí tuệ thấp hơn được diễn đạt một cách biểu tượng dưới dạng ánh sáng, và “con đường sáng” (một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên) được hình thành giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần, thông qua thể linh hồn, cũng giống như linh hồn đã thiết lập liên hệ rõ ràng với bộ não thông qua trí tuệ. “Con đường sáng” này chính là cây cầu được soi sáng. Nó được xây dựng qua tham thiền; nó được hình thành thông qua nỗ lực không ngừng để khơi dậy trực giác, thông qua sự tuân phục và phục vụ Thiên Cơ (được nhận ra ngay khi trực giác và trí tuệ hòa hợp với nhau), và thông qua sự hòa nhập có ý thức vào nhóm trong phụng sự và để đồng hóa với tổng thể. Tất cả những phẩm chất và hoạt động này đều dựa trên nền tảng của tính cách tốt và những phẩm chất đã được phát triển trên Con Đường Dự Bị.
The effort to draw forth the intuition requires directed occult (but not aspirational) meditation. It requires a trained intelligence, so that the line of demarcation between intuitive realisation and the forms of the higher psychism may be clearly seen. It requires a constant disciplining of the mind, so that it can “hold itself steady in the light”, and the development of a cultured right interpretation so that the intuitive knowledge which has been achieved may then clothe itself in the right thought forms.
Nỗ lực khơi dậy trực giác đòi hỏi một sự tham thiền huyền môn có định hướng (nhưng không mang tính chí nguyện). Nó yêu cầu một trí tuệ được rèn luyện, để đường ranh giới giữa sự nhận thức trực giác và các hình thức thông linh cao cấp có thể được nhìn thấy một cách rõ ràng. Nó đòi hỏi một sự kỷ luật không ngừng của tâm trí, để nó có thể “giữ vững bản thân trong ánh sáng”, và sự phát triển của khả năng diễn giải đúng đắn, để tri thức trực giác đạt được có thể tự khoác lên mình những hình tư tưởng phù hợp.
Subservience or obedience to the Plan involves something else than a vague and misty realisation that God has a Plan and that we are included in it. It is more than a hiding of oneself in the shadow of the will of God. It necessitates a wise differentiation between:
Sự phục tùng hay tuân theo Thiên Cơ liên quan đến một điều gì đó hơn là chỉ một sự nhận thức mơ hồ rằng Thượng Đế có một Thiên Cơ và chúng ta là một phần trong đó. Nó không chỉ đơn thuần là việc ẩn mình dưới bóng Ý Chí của Thượng Đế. Nó đòi hỏi một sự phân biệt sáng suốt giữa:
[73]
[73]
1. The general perspective and the large world Plan for the planet, and
1. Tổng thể viễn cảnh và Thiên Cơ vĩ đại của hành tinh.
2. Those immediate stages of the Plan in which intelligent cooperation is, at this time, and in the immediate present, demanded.
2. Những giai đoạn tức thời của Thiên Cơ, nơi mà sự hợp tác thông minh là điều được yêu cầu trong thời điểm hiện tại và trước mắt.
A deep interest in the final root races and speculation as to the life going forward on other planets may be of interest, but it is relatively futile and useless; it fertilises unduly the imagination, causing love of uncheckable detail, loss of time in wild surmises, and the chimeras of an unenlightened intellect. That part of the Plan which relates to its immediate application is of interest and usefulness. Obedience to the immediate purpose and duty is distinctive of the trained disciple. Those who know far more of the Plan than we can, refuse to let Their minds dwell on the unprovable, yet possible, hypotheses for future racial development. They focus Their attention on that which must be attended to at this immediate time. I would urge all disciples to do the same, for in so doing it is possible to bridge the gap and link the two shores of the higher and the lower stages of consciousness, between the old age and the new, between the kingdom of God and the kingdom of men, and thus to take their place in the ranks of the New Group of World Servers, whose arduous task calls for our sacrificing effort. Conscious incorporation in the group necessitates the cessation of personality life, and brings out the subordination of the little self to the work of the whole. These words are easily written and read; they embody, however, the task of all disciples at this time. Where this incentive and realisation are lacking, the disciple is still a long way from his goal.
Sự quan tâm sâu sắc đến các giống dân gốc cuối cùng và những suy đoán về sự sống đang tiếp diễn trên các hành tinh khác có thể là điều thú vị, nhưng xét trên thực tế thì nó vô ích và không có giá trị. Nó kích thích quá mức trí tưởng tượng, dẫn đến sự yêu thích những chi tiết không thể kiểm chứng, lãng phí thời gian trong những suy đoán viển vông, và nuôi dưỡng những ảo vọng của một trí tuệ chưa được khai sáng. Phần của Thiên Cơ liên quan đến ứng dụng thực tiễn ngay lập tức mới là điều đáng quan tâm và hữu ích. Sự vâng phục mục đích và nhiệm vụ hiện tại là dấu hiệu đặc trưng của một đệ tử được đào luyện. Những Đấng hiểu biết về Thiên Cơ nhiều hơn chúng ta có thể biết đã từ chối để tâm trí của Các Ngài đắm chìm vào những giả thuyết chưa thể chứng minh nhưng có thể xảy ra liên quan đến sự phát triển của các giống dân tương lai. Các Ngài tập trung sự chú ý vào những điều cần được thực hiện ngay trong thời điểm hiện tại. Tôi muốn khuyến khích tất cả các đệ tử làm điều tương tự, bởi vì khi làm như vậy, họ có thể bắc cầu nối liền hai bờ giữa các giai đoạn tâm thức cao và thấp, giữa thời đại cũ và thời đại mới, giữa Thiên Giới và giới nhân loại, và do đó, họ có thể đảm nhận vị trí trong hàng ngũ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, những người có nhiệm vụ gian khổ đòi hỏi nỗ lực hy sinh của chúng ta. Sự hòa nhập có ý thức vào nhóm đòi hỏi sự chấm dứt đời sống phàm ngã và mang lại sự quy phục của cái tôi nhỏ bé trước công việc của toàn thể. Những lời này có thể dễ dàng được viết ra và đọc, nhưng chúng bao hàm nhiệm vụ của tất cả các đệ tử trong thời điểm hiện tại. Nếu thiếu đi động lực và sự nhận thức này, đệ tử vẫn còn xa rời mục tiêu của mình.
It might also be stated here that the construction of the bridge whereby the consciousness can function with facility [74] both in the higher worlds and in the lower, is primarily brought about by a definitely directed life-tendency, which steadily drives the man in the direction of the world of spiritual realities, and certain dynamic movements of planned and carefully timed and directed orientation or focussing. In this last process, the gain of the past months or years is closely assessed; the effect of that gain upon the daily life and in the bodily mechanisms is as carefully studied; and the will-to-live as a spiritual being is wrought into the consciousness with a definiteness and a determination that make for immediate progress.
Cũng cần phải nói thêm rằng việc xây dựng cây cầu mà qua đó tâm thức có thể hoạt động một cách thuận lợi [74] trong cả các thế giới cao hơn và thấp hơn, chủ yếu được thúc đẩy bởi một khuynh hướng sống có định hướng rõ ràng, liên tục thúc đẩy con người hướng về thế giới của các thực tại tinh thần, cùng với những động thái năng động, được lên kế hoạch cẩn thận và có định hướng rõ ràng. Trong quá trình cuối cùng này, những thành quả của những tháng hoặc những năm trước được đánh giá một cách nghiêm túc; tác động của những thành quả đó lên đời sống hàng ngày và trên các cơ chế thể xác được nghiên cứu kỹ lưỡng; và ý chí sống như một thực thể tinh thần được khắc sâu vào tâm thức với một sự xác quyết và quyết tâm mang lại tiến bộ tức thì.
Disciples in the groups of some of the Masters (not of all) are encouraged, every seven years, to do this and to subject themselves to what is esoterically called a “crisis of polarisation”. This process is in the nature of a review, such as one imposes on the consciousness at night, only it is carried over a period of years instead of hours. This thought merits consideration.
Các đệ tử trong một số nhóm của các Chân sư (nhưng không phải tất cả) được khuyến khích, cứ mỗi bảy năm một lần, tự đặt mình vào một quá trình mà về mặt nội môn được gọi là “khủng hoảng phân cực”. Quá trình này có bản chất của một cuộc kiểm điểm, giống như một người tự quán xét tâm thức của mình vào ban đêm, nhưng thay vì diễn ra trong vài giờ, nó kéo dài suốt nhiều năm. Ý tưởng này đáng để cân nhắc.
This building of the antaskarana is most assuredly proceeding in the case of every dedicated aspirant. When the work is carried on intelligently and with full awareness of the desired purpose, and when the aspirant not only recognizes the process, but is alert and active in its fulfillment, then the work proceeds apace and the bridge is built.
Việc xây dựng antahkarana chắc chắn đang diễn ra trong trường hợp của mọi người chí nguyện tận tụy. Khi công việc này được thực hiện một cách thông minh và với sự nhận thức đầy đủ về mục đích mong muốn, và khi người chí nguyện không chỉ nhận ra quá trình này mà còn tỉnh thức và chủ động trong việc hoàn thành nó, thì công việc sẽ tiến triển nhanh chóng và cây cầu sẽ được xây dựng.
One thing only need be added in connection with this building of the antaskarana, and that is the statement of the significant fact that the more people can achieve this linking of the higher and lower aspects of the human nature, the more rapidly will the task of salvaging the world proceed. The more painstakingly and persistently this work is carried forward, the sooner will the Hierarchy of the planet resume Its ancient task and status in the world, and the sooner will [75] the Mysteries be restored and the world function, therefore, more consciously in line with the Plan. Every single unit of the human family who achieves success upon the Path of Discipleship may be, in himself, relatively of small importance. But the massed units are of tremendous potency. I tell you at this time for your cheering and encouragement that the numbers of the disciples in the world are greatly increasing. Suffering and trouble, apprehension and the processes whereby detachment and dispassion are enforced, are doing their needed work. Here and there throughout the world, in every nation and practically every week, men and women are stepping off the Path of Probation on to the Path of Discipleship. In this lies the hope of the world today. In this fact is to be found the greatly increased activity of the Masters.
Chỉ cần bổ sung một điều duy nhất liên quan đến việc xây dựng antahkarana, đó là một sự thật quan trọng rằng càng có nhiều người đạt được sự liên kết giữa các khía cạnh cao và thấp của bản chất con người, thì nhiệm vụ cứu độ thế giới sẽ càng tiến triển nhanh chóng hơn. Càng kiên trì và bền bỉ trong công việc này, thì Thánh đoàn trên hành tinh sẽ càng sớm tiếp tục nhiệm vụ và địa vị cổ xưa của Các Ngài trên thế gian, và cũng càng sớm hơn [75] khi các Huyền bí giáo được khôi phục, giúp thế giới hoạt động một cách có ý thức hơn theo đúng Thiên Cơ. Mỗi cá nhân trong gia đình nhân loại đạt được thành công trên Con Đường Đệ Tử có thể tự thân không quá quan trọng. Nhưng sự hội tụ của những cá nhân này lại tạo ra một sức mạnh vô cùng to lớn. Tôi nói điều này để khích lệ và cổ vũ các bạn rằng số lượng đệ tử trên thế giới đang gia tăng đáng kể. Sự đau khổ và khó khăn, những nỗi lo âu, cùng với những tiến trình buộc phải rời bỏ và xả ly, đang làm công việc cần thiết của chúng. Ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi quốc gia và gần như mỗi tuần, những người nam và nữ đang bước ra khỏi Con Đường Dự Bị để tiến vào Con Đường Đệ Tử. Trong điều này nằm hy vọng của thế giới hôm nay. Chính thực tế này là nguyên nhân của sự gia tăng đáng kể hoạt động của các Chân sư.
This event, or this transition, never takes place before the first fine strand of energy (like the first steel cable on a physical bridge) has anchored itself on the further shore; thus a delicate and (at first) almost nebulous channel of communication is established between the higher nature and the lower, between the world of the soul and the worlds of human affairs. Each month, at the time of the full moon, the Masters are intensifying Their efforts, and men and women are being prepared for the process of Initiation with as much rapidity as is safely possible. Remember that understanding must always parallel the intellectual grasp of a subject, and it is this that holds back some disciples from this great step forward.
Sự kiện này, hay sự chuyển tiếp này, không bao giờ xảy ra trước khi sợi năng lượng tinh tế đầu tiên (giống như sợi cáp thép đầu tiên trên một cây cầu vật chất) đã tự neo đậu vào bờ xa hơn; theo đó, một kênh giao tiếp mong manh và (ban đầu) gần như mờ ảo được thiết lập giữa bản chất cao và bản chất thấp, giữa thế giới của linh hồn và các thế giới của những công việc nhân loại. Mỗi tháng, vào thời điểm trăng tròn, các Chân sư đang gia tăng nỗ lực của Các Ngài, và những người nam và nữ đang được chuẩn bị cho tiến trình Điểm đạo với tốc độ nhanh nhất có thể mà vẫn đảm bảo an toàn. Hãy nhớ rằng sự thấu hiểu luôn phải song hành với sự lĩnh hội trí tuệ của một chủ đề, và chính điều này đang cản trở một số đệ tử khỏi bước tiến vĩ đại này.
In the performance of the next duty, in the establishing of the dedicated life tendency towards reality, in the dispelling of illusion, and in the performance of service with love and understanding,—thus is the work carried forward. Is this [76] effort beyond the reach of any of us? Or are its implications beyond our comprehension? I do not think so.
Trong việc thực hiện nhiệm vụ kế tiếp, trong việc thiết lập khuynh hướng sống tận hiến hướng về thực tại, trong việc xua tan ảo tưởng, và trong việc thực hiện sự phụng sự với tình thương và sự thấu hiểu—chính như vậy mà công việc được tiếp tục. Liệu nỗ lực này [76] có vượt quá tầm với của bất kỳ ai trong chúng ta không? Hay những hàm ý của nó nằm ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta? Tôi không nghĩ vậy.
c. SEVEN RAY METHODS OF APPROPRIATION
As we have seen, this process of appropriation is a dual matter, or rather, it involves a dual activity—that of taking and giving, of grasping and relinquishing, of establishing a hold upon that which is desired, and of detaching oneself from that which has been held. The various types of human beings who come forth along one or other of the seven rays, have each their specific way of doing this. These I shall indicate. At the same time, it must be borne in mind that the true significance of that which is portrayed and the meaning of what happens can only be understood by those who are in the process of this relinquishment. The stage of appropriation is undergone blindly and unconsciously. Man knows not what he does. It is only towards the end of his long pilgrimage and process of appropriation that he discovers how tired he actually is of grasping the non-essential and the material, and how ready he is for the work of detachment. In the life of every human being on the physical plane, who has lived fully and to the full term of years, this dual process can be symbolically seen. In youth the thoughtless (and all are thoughtless, for such is nature’s way) hold on to life and give no thought to the time when there must be a relinquishment of the hold on physical existence. The young forget, and rightly forget, the inevitability of that final symbolic detachment which we call Death. But when life has played its part and age has taken its toll of interests and strength, the tired and world-weary man has no fear of the detaching process and seeks not to hold on to that which earlier was desired. He welcomes death, and relinquishes willingly that which earlier engrossed his attention.
Như chúng ta đã thấy, tiến trình chiếm hữu này là một vấn đề kép, hay đúng hơn, nó bao gồm một hoạt động kép—đó là việc tiếp nhận và buông bỏ, nắm giữ và từ bỏ, thiết lập sự chiếm hữu đối với điều mong muốn, và tự tách rời khỏi những gì đã từng được nắm giữ. Những kiểu người khác nhau, xuất hiện theo một trong bảy cung, đều có cách riêng của họ để thực hiện điều này. Tôi sẽ chỉ ra những điều này. Đồng thời, cần nhớ rằng ý nghĩa thực sự của những gì được mô tả và diễn biến của những gì đang xảy ra chỉ có thể được hiểu bởi những ai đang trải qua quá trình từ bỏ này. Giai đoạn chiếm hữu diễn ra một cách mù quáng và vô thức. Con người không biết mình đang làm gì. Chỉ đến cuối cuộc hành trình dài của mình và sau quá trình chiếm hữu, y mới nhận ra mình đã mệt mỏi đến mức nào khi cứ mãi nắm giữ những thứ không thiết yếu và vật chất, và y đã sẵn sàng đến mức nào cho công việc từ bỏ. Trong cuộc đời của mỗi con người trên cõi trần, những ai đã sống trọn vẹn và đạt đến tuổi thọ viên mãn, tiến trình kép này có thể được quan sát một cách biểu tượng. Khi còn trẻ, con người thường thiếu suy nghĩ (và ai cũng vậy, vì đó là cách của thiên nhiên), họ bám víu vào sự sống mà không nghĩ đến thời điểm khi họ phải từ bỏ sự hiện hữu thể xác. Những người trẻ tuổi quên đi, và đúng ra họ nên quên đi, tính tất yếu của sự tách rời cuối cùng mà chúng ta gọi là cái chết. Nhưng khi cuộc đời đã đi đến hồi kết và tuổi tác đã tước đi sức mạnh cũng như những mối quan tâm, người đàn y mệt mỏi với thế gian không còn sợ hãi trước tiến trình buông bỏ nữa và cũng không còn muốn giữ lấy những gì mà trước đó y từng khao khát. Y đón nhận cái chết và sẵn sàng từ bỏ những gì trước đây đã chiếm trọn sự chú ý của y.
[77]
[77]
In considering the processes of appropriation, the following phrases should be studied, as they throw a light upon the various stages from different angles:—
Khi xem xét các tiến trình chiếm hữu, cần nghiên cứu các cụm từ sau đây, vì chúng soi sáng các giai đoạn khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau:
1. The stage of concretisation and materialisation. The soul takes to itself what it needs and desires for form building.
1. Giai đoạn kết tinh và vật chất hóa. Linh hồn tiếp nhận những gì nó cần và mong muốn để xây dựng hình tướng.
2. The stage of incarnation, taken at this time blindly.
2. Giai đoạn nhập thể, diễn ra trong sự mù quáng vào thời điểm này.
3. The period wherein satisfaction of the desires is the major goal. These range all the way from physical desire and its satisfaction to a general and undefined desire for release.
3. Thời kỳ trong đó sự thỏa mãn các ham muốn là mục tiêu chính. Những ham muốn này trải dài từ ham muốn thể xác và sự thỏa mãn của nó cho đến một mong muốn chung chung và không xác định về sự giải thoát.
4. The processes, in detail, of appropriating
4. Quá trình chiếm hữu một cách chi tiết:
a. A body or bodies.
a. Một thể hoặc nhiều thể.
b. A sheath or sheaths.
b. Một vỏ bọc hoặc nhiều vỏ bọc.
c. A vehicle or vehicles.
c. Một phương tiện hoặc nhiều phương tiện.
d. A form or forms.
d. Một hình tướng hoặc nhiều hình tướng.
5. Immersion in darkness. This was the result of desire. The darkness of ignorance was chosen and man started, through desire, to work his way from darkness to light, from ignorance to knowledge, from the unreal to the Real. Such is the great symbolic work of Masonry. It is an elucidation of the Way of Relinquishment.
5. Sự chìm đắm trong bóng tối. Đây là kết quả của dục vọng. Con người đã chọn bóng tối của vô minh và bắt đầu, thông qua dục vọng, hành trình từ bóng tối đến ánh sáng, từ vô minh đến tri thức, từ điều không thực đến điều Thực Tại. Đây chính là công trình biểu tượng vĩ đại của Hội Tam Điểm. Nó là sự khai sáng về Con Đường Từ Bỏ.
6. The Path of outgoing in order to possess.
6. Con Đường đi ra ngoài để sở hữu.
7. Selfishness, the major characteristic of the self in relation to, and identified with, the not-self.
7. Sự ích kỷ, đặc điểm chính của cái tôi trong mối quan hệ với cái không-phải-là-tôi.
8. Love of possession, the prostitution of spiritual love.
8. Lòng ham muốn sở hữu, sự biến chất của tình yêu tinh thần.
9. Acquisitiveness, the illusion of material need.
9. Tính chiếm hữu, ảo tưởng về nhu cầu vật chất.
10. The period called in the Bible, that of “riotous living” on the part of the Prodigal Son.
10. Thời kỳ được gọi trong Kinh Thánh là “cuộc sống hoang đàng” của Người Con Hoang Đàng.
11. The application and use of energy for personal, selfish intent.
11. Việc áp dụng và sử dụng năng lượng cho mục đích cá nhân, ích kỷ.
[78]
[78]
12. Personality life, with all that is therein implied,—ambition, selfish purpose, etc.
12. Đời sống phàm ngã, với tất cả những gì nó bao hàm—tham vọng, mục đích ích kỷ, v.v.
13. Attachment to the seen, the known, and the familiar, external, objective forms.
13. Sự bám víu vào những gì đã thấy, đã biết và quen thuộc—các hình tướng bên ngoài, khách quan.
14. The stage wherein thought forms are built, at first ignorantly, and then with deliberate selfishness.
14. Giai đoạn trong đó các hình tư tưởng được xây dựng, ban đầu một cách vô thức, sau đó với chủ ý ích kỷ.
15. The period of engrossment in the things of the kingdom of earth.
15. Thời kỳ đắm chìm trong những sự việc của vương quốc trần thế.
16. The world, the flesh, and the devil.
16. Thế gian, nhục dục và tà đạo.
On the side of soul expression, which is governed by detachment, the following phrases and sentences will give an idea of the progress and intent:—
Trên phương diện biểu hiện của linh hồn, vốn được chi phối bởi sự xả ly, các cụm từ và câu sau đây sẽ cho thấy tiến trình và mục đích:
1. The stage of spiritualisation and of de-materialisation. The soul functions with the purpose of liberation before it, and not of further physical plane experience.
1. Giai đoạn tinh thần hóa và giải vật chất hóa. Linh hồn hoạt động với mục đích giải thoát, chứ không phải để có thêm trải nghiệm trên cõi trần.
2. The relinquishment of form life.
2. Sự từ bỏ đời sống hình tướng.
3. The period wherein satiety is experienced; the desires have been so dominant and so often satisfied that they no longer attract.
3. Thời kỳ trong đó sự chán ngán được trải nghiệm; những ham muốn đã quá mạnh mẽ và đã được thỏa mãn quá nhiều lần đến mức chúng không còn hấp dẫn nữa.
4. The process, in detail, of liberation from
4. Quá trình giải thoát một cách chi tiết khỏi:
a. A body or bodies.
a. Một thể hoặc nhiều thể.
b. A sheath or sheaths.
b. Một vỏ bọc hoặc nhiều vỏ bọc.
c. A vehicle or vehicles.
c. Một phương tiện hoặc nhiều phương tiện.
d. A form or forms.
d. Một hình tướng hoặc nhiều hình tướng.
5. Emergence into light, a symbolic way of expressing the reverse of immersion in darkness.
5. Sự xuất hiện trong ánh sáng, một cách diễn đạt mang tính biểu tượng của sự đảo ngược quá trình chìm đắm trong bóng tối.
6. The Path of Return, motivated by the wish to appropriate nothing for the separated self. The beginning of group consciousness and of group work.
6. Con Đường Trở Về, được thúc đẩy bởi mong muốn không chiếm hữu bất cứ thứ gì cho cái tôi tách biệt. Sự khởi đầu của ý thức nhóm và công việc nhóm.
7. Selflessness, the major characteristic of the Soul or Self.
7. Tính vô ngã, đặc điểm chính của Linh Hồn hay Chân Ngã.
8. Freedom from the desire to possess, freedom from acquisitiveness, and therefore the state of desirelessness.
8. Tự do khỏi dục vọng sở hữu, tự do khỏi tính chiếm hữu, và do đó đạt đến trạng thái vô dục.
[79]
[79]
9. The establishing of the sense of reality as the ruling principle of the life.
9. Việc thiết lập cảm nhận về Thực Tại như nguyên tắc chi phối đời sống.
10. The return of the Prodigal Son to the Fathers home.
10. Sự trở về của Người Con Hoang Đàng về nhà Cha.
11. The application and use of energy for group purpose and in cooperation with the Plan for the whole.
11. Việc áp dụng và sử dụng năng lượng cho mục đích nhóm và trong sự hợp tác với Thiên Cơ dành cho toàn thể.
12. The life of the soul with all that is implied in that phrase.
12. Đời sống của linh hồn với tất cả những gì câu nói đó hàm chứa.
13. Love of God in contradistinction to love of self.
13. Tình yêu Thượng Đế trái ngược với tình yêu bản ngã.
14. Attachment to the unseen, the true, the subjective and the Real, which is only possible when there has been detachment from the seen, the false, the objective and the unreal.
14. Sự gắn bó với cái vô hình, chân thật, chủ quan và Thực Tại—điều này chỉ có thể xảy ra khi đã có sự từ bỏ cái hữu hình, giả dối, khách quan và không thực.
15. Complete liberation from the control of the lower mind.
15. Giải thoát hoàn toàn khỏi sự kiểm soát của hạ trí.
16. The period wherein the centre of interest is the kingdom of God and of the soul.
16. Thời kỳ trong đó trung tâm quan tâm là Thiên Giới và linh hồn.
17. Reality. Formlessness. God.
17. Thực Tại. Phi hình tướng. Thượng Đế.
It should be remembered, when considering the seven ray methods of appropriation and the reverse stages, that we are dealing with energies. Occult students must increasingly think and work in terms of energy. These energies are spoken of esoterically as “having impulsive effects, magnetic appeals, and focussed activities.” The streams or emanations of energy exist, as is well known, in seven major aspects or qualities. They carry the sons of men into incarnation and withdraw them from incarnation. They have their own specific qualities and characteristics, and these determine the nature of the forms constructed, the quality of the life which is expressed at any particular time or in any particular incarnation, the length of the life cycle, and the appearance and disappearance of any of the three form aspects. Certain brief paragraphs will suffice to define each of the stages of appropriation. The paragraphs which detail the methods of detachment have been given earlier in A Treatise on White Magic.
Cần nhớ rằng, khi xem xét các phương pháp chiếm hữu và các giai đoạn đảo ngược của bảy cung, chúng ta đang xử lý các mãnh lực. Các sinh viên huyền môn phải ngày càng tư duy và làm việc theo thuật ngữ của năng lượng. Các năng lượng này được nói đến theo nội môn như “có hiệu ứng thúc đẩy, sức hút từ tính, và các hoạt động tập trung”. Các dòng chảy hay xuất lộ của năng lượng tồn tại, như đã được biết rõ, trong bảy khía cạnh hay phẩm tính chính. Chúng đưa những người con của nhân loại vào nhập thể và cũng rút họ ra khỏi nhập thể. Chúng có những phẩm tính và đặc điểm riêng, và chính chúng quyết định bản chất của các hình tướng được kiến tạo, phẩm chất của sự sống được biểu đạt trong bất kỳ thời điểm hay kiếp sống cụ thể nào, chu kỳ sống kéo dài bao lâu, cũng như sự xuất hiện và biến mất của bất kỳ trong ba phương diện hình tướng. Một số đoạn văn ngắn sẽ đủ để định nghĩa từng giai đoạn chiếm hữu. Các đoạn văn mô tả phương pháp xả ly đã được trình bày trước đó trong Luận về Chánh Thuật.
[80]
[80]
Ray One. The Energy of Will or Power. The Destroyer Aspect.
Cung Một: Mãnh Lực của Ý Chí hay Quyền Lực. Khía cạnh Hủy Diệt.
Souls on this ray are spoken of occultly as “crashing their way into incarnation”. They appropriate dynamically that which they require. They brook no hindrance in the satisfactions of their desires. They stand alone in a proud isolation, glorying in their strength, and their ruthlessness. These qualities have to be transmuted into that intelligent use of power which makes them powerful factors in the Plan, and magnetic centres of force, gathering workers and forces around them. An illustration of this can be seen in the work of the Master Morya, Who is the centre, the magnetic attractive centre of all esoteric groups, conferring on them, by His power, the capacity to destroy that which is undesirable in the life of the disciples. Forget not that the work of stimulating that which is needed is one of the major tasks of a Master, and the power of a disciple to destroy that which limits him is greatly needed. Souls of this ray, as they come into incarnation through desire, grasp. This expresses the nature of the force demonstration employed. There is a measure of violence in their technique. They eventually “take the kingdom of heaven by force.”
Những linh hồn thuộc cung này được nói đến theo nội môn như là những người “đột phá vào nhập thể”. Họ chiếm hữu một cách đầy năng động những gì họ cần. Họ không chấp nhận bất kỳ trở ngại nào trong việc thỏa mãn ham muốn của mình. Họ đứng một mình trong sự cô lập đầy kiêu hãnh, tự hào về sức mạnh và sự tàn nhẫn của họ. Những phẩm chất này cần phải được chuyển hóa thành cách sử dụng quyền lực một cách thông minh, giúp họ trở thành những nhân tố mạnh mẽ trong Thiên Cơ, và trở thành các trung tâm lực từ tính, thu hút những người làm việc và các mãnh lực xung quanh họ. Một minh họa về điều này có thể được thấy trong công việc của Chân sư Morya, Ngài là trung tâm từ tính hấp dẫn của tất cả các nhóm nội môn, và nhờ vào quyền lực của Ngài, các nhóm này có khả năng hủy diệt những gì không mong muốn trong đời sống của các đệ tử. Hãy nhớ rằng, một trong những nhiệm vụ chính của một Chân sư là kích thích những gì cần thiết, và năng lực của một đệ tử để phá hủy những gì giới hạn y là điều vô cùng quan trọng. Những linh hồn thuộc cung này, khi nhập thể thông qua dục vọng, có xu hướng nắm bắt. Điều này thể hiện cách thức biểu hiện lực lượng của họ. Trong kỹ thuật của họ có một mức độ bạo lực nhất định. Cuối cùng, họ “chiếm lấy Thiên Quốc bằng sức mạnh”.
Ray Two. The Energy of Love-Wisdom
Cung Hai: Mãnh Lực của Bác Ái – Minh Triết.
Souls on this ray use the method of “gathering in”, or “drawing into”. The soul sets up a vibration (little as we may yet grasp the real significance of that word) and that vibration affects its environment, and atoms of substance on all three planes are attracted to the central point of energy. The method is relatively gentle, when compared to the method of the first ray, and the process is somewhat longer whilst the overshadowing (carried forward prior to entering into [81] the three worlds for purposes of appearance) is very much longer. This refers to that overshadowing of the substance to be built into form, and not to the overshadowing of the completed form, i.e. the child in the mother’s womb. In the first case, it might be said that souls on the first ray are sudden and rapid in their desire to incarnate, and in the methods employed. Souls on the second ray are slower in coming to that “impulsive” action (in the sense of impulse to action and not impulse in time) which leads to the occult manufacture of an appearance with which to manifest.
Những linh hồn thuộc cung này sử dụng phương pháp “thu hút vào” hoặc “gom lại”. Linh hồn tạo ra một rung động (dù chúng ta vẫn chưa nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa thực sự của từ này), và rung động đó ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, thu hút các nguyên tử vật chất từ ba cõi vào điểm trung tâm năng lượng. Phương pháp này tương đối nhẹ nhàng hơn khi so với phương pháp của cung một, và tiến trình này kéo dài hơn, trong khi sự phủ bóng (được thực hiện trước khi bước vào [81] ba cõi để xuất hiện) diễn ra lâu hơn rất nhiều. Điều này đề cập đến sự phủ bóng của vật chất sẽ được xây dựng thành hình tướng, chứ không phải sự phủ bóng của hình tướng đã hoàn chỉnh, tức là đứa trẻ trong bụng mẹ. Trong trường hợp đầu tiên, có thể nói rằng linh hồn thuộc cung một có xu hướng nhập thể một cách đột ngột và nhanh chóng, cả trong dục vọng lẫn phương pháp được sử dụng. Ngược lại, linh hồn thuộc cung hai chậm hơn trong việc đi đến hành động mang tính xung động (hiểu theo nghĩa là xung lực dẫn đến hành động, chứ không phải là xung động về thời gian), điều này dẫn đến việc tạo ra một hình tướng để biểu hiện một cách nội môn.
Souls on this ray, as they come into incarnation through desire, attract. They are magnetic more than they are dynamic; they are constructive, and they work along the line which is, for all lives and forms, the line of least resistance within our universe.
Những linh hồn thuộc cung này, khi nhập thể thông qua dục vọng, có xu hướng thu hút. Họ mang tính từ tính hơn là mang tính năng động; họ mang tính kiến tạo, và họ hoạt động theo con đường ít trở ngại nhất trong vũ trụ của chúng ta.
Ray Three. The Energy of Active Intelligence
Cung Ba: Mãnh Lực của Trí Tuệ Hoạt Động.
Just as the grasping and attracting are terms applicable to the methods of the two first rays, so a process of “selective manipulation” is characteristic of this third ray. This method is totally different in its technique to that of the two mentioned above. It might be said that the note which generates the activity set up by souls on this ray, is such that atoms of the different planes are moved as if consciously responding to a selective process. The vibratory activity of the soul makes itself felt, and atoms collect from widely different points in response to a certain quality in the vibration. It is far more selective than in the case of the second ray.
Cũng giống như “nắm bắt” và “thu hút” là những thuật ngữ mô tả phương pháp của hai cung đầu tiên, thì “thao tác có chọn lọc” là đặc điểm của cung ba. Phương pháp này hoàn toàn khác về mặt kỹ thuật so với hai cung đã đề cập trước đó. Có thể nói rằng âm điệu kích hoạt hoạt động của các linh hồn thuộc cung này có bản chất khiến cho các nguyên tử trên các cõi khác nhau di chuyển như thể chúng đang phản ứng có ý thức với một quá trình lựa chọn. Hoạt động rung động của linh hồn tự biểu hiện, và các nguyên tử tập hợp lại từ nhiều điểm khác nhau để phản hồi với một phẩm tính nhất định trong rung động đó. Quá trình này mang tính chọn lọc cao hơn nhiều so với trường hợp của cung hai.
Just as souls in the first case seem to grasp indiscriminately what they need, and force the substance thus grasped into the form or appearance required, enduing it with the quality needed in a dynamic and forceful way, and just as souls on the second ray set up a motion which gathers material out [82] of the immediately surrounding environment, and imposes on it, through magnetic attraction, the desired quality, so in the case of souls on the third ray the required material is chosen here and there, but that chosen already has the needed quality (note this difference) and nothing whatever is imposed. It will be apparent, therefore, that substance itself exists in three major categories, and that these three categories are the correspondences in substance to the three Persons of the Trinity or to the three bodies of incarnated man. They are also the analogy in the third aspect of divinity (the life of the third Person of the Trinity) to the quality of the three periodical vehicles through which manifestation takes place.
Giống như trong trường hợp của cung một, các linh hồn dường như nắm bắt bừa bãi những gì họ cần và ép buộc vật chất bị nắm bắt đó vào hình tướng hoặc diện mạo mong muốn, truyền cho nó phẩm chất cần thiết một cách năng động và mạnh mẽ, và giống như trong trường hợp của cung hai, các linh hồn thiết lập một chuyển động thu hút vật chất từ [82] môi trường xung quanh ngay lập tức và áp đặt lên nó phẩm chất mong muốn thông qua sức hút từ tính, thì trong trường hợp của cung ba, vật chất cần thiết được lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng những vật chất được chọn lựa đã có sẵn phẩm chất cần thiết (hãy lưu ý sự khác biệt này), và không có gì bị áp đặt lên chúng. Do đó, rõ ràng là bản thân vật chất tồn tại dưới ba loại chính, và ba loại này tương ứng với Ba Ngôi của Thượng Đế hoặc ba thể của con người nhập thể. Chúng cũng là sự tương đồng trong khía cạnh thứ ba của Thượng Đế (sự sống của Ngôi Ba trong Tam Vị Nhất Thể) đối với phẩm tính của ba thể tuần hoàn thông qua đó sự biểu hiện diễn ra.
One division or type of this substance is dynamically electrified and from this all first ray egos choose the material needed in the three worlds. Another type of substance is magnetically electrified, and from it all second ray egos select what they, in time and space, require in order to manifest. The third type of substance is diffusively electrified (I know of no better word to express the intent), and all third ray egos take from it their needed quota of substance from which to build the forms for manifestation.
Một loại vật chất mang tính điện động mạnh mẽ, và từ đó tất cả các chân ngã thuộc cung một chọn vật chất cần thiết trong ba cõi. Một loại vật chất khác mang tính điện từ tính, và từ đó tất cả các chân ngã thuộc cung hai chọn những gì họ cần để biểu hiện trong không gian và thời gian. Loại vật chất thứ ba mang tính điện khuếch tán (tôi không biết từ nào tốt hơn để diễn tả ý này), và tất cả các chân ngã thuộc cung ba lấy từ đó phần vật chất cần thiết để kiến tạo các hình tướng phục vụ cho sự biểu hiện.
As regards the methods, techniques and types of substance used by souls on the remaining four minor rays, they are necessarily qualified by the characteristics of the third major ray, which eventually synthesises them.
Về phương pháp, kỹ thuật và loại vật chất được sử dụng bởi các linh hồn thuộc bốn cung phụ còn lại, chúng tất nhiên được điều chỉnh bởi các đặc điểm của cung ba, vốn cuối cùng sẽ tổng hợp tất cả chúng.
The following tabulation is an attempt to define that which it is almost impossible to make intelligible in words. From the angle of the illumined occultist it is meaningless, even more than it is to the average student, because as yet the mystery of electricity and the true nature of electrical phenomena (than which there is naught else) is at this time an unrevealed secret, even to the most advanced of the modern scientists.
Bảng phân loại sau đây là một nỗ lực nhằm định nghĩa điều mà gần như không thể diễn đạt một cách rõ ràng bằng lời. Từ góc độ của nhà huyền môn đã được soi sáng, nó còn vô nghĩa hơn nữa so với sinh viên trung bình, bởi vì cho đến thời điểm này, bí ẩn về điện và bản chất thực sự của các hiện tượng điện (mà không có gì khác ngoài nó) vẫn là một bí ẩn chưa được tiết lộ, ngay cả đối với những nhà khoa học tiên tiến nhất của thời đại.
[83]
Ray
Energy
Technique
Quality
Source
Cung
Năng Lượng
Kỹ Thuật
Phẩm Tính
Nguồn Gốc
1.
Power or Will
Grasping
Dynamic Purpose
Dynamically electrified forms.
Quyền Năng hay Ý Chí
Nắm bắt
Mục Đích Năng Động
Các hình tướng được điện hóa một cách năng động.
2.
Love-Wisdom
Attracting
Love
Magnetically electrified forms.
Bác Ái-Minh Triết
Hấp dẫn
Tình Thương
Các hình tướng được điện hóa từ tính.
3.
Intelligent Activity
Selecting
Intellect
Diffusively electrified forms.
Hoạt Động Trí Năng
Chọn lựa
Trí Năng
Các hình tướng được điện hóa khuếch tán.
4.
Beauty or Art
At-one-ing
Unification
Harmonisingly electrified forms.
Cái Đẹp hay Nghệ Thuật
Hợp nhất
Thống Nhất
Các hình tướng được điện hóa hài hòa.
5.
Science
Differentiating
Discrimination
Crystallising electrified forms.
Khoa Học
Phân biệt
Phân Biện
Các hình tướng được điện hóa kết tinh.
6.
Idealism
Responding
Sensitivity
Fluidic electrified forms.
Chủ Nghĩa Lý Tưởng
Đáp ứng
Nhạy Cảm
Các hình tướng được điện hóa lưu động.
7.
Organisation
Coordinating
Appearance
Physical electrified forms.
Tổ Chức
Phối hợp
Sắc Tướng
Các hình tướng được điện hóa vật lý.
That there is such a thing as electricity, that it probably accounts for all that can be seen, sensed and known, and that the entire universe is a manifestation of electrical power,—all this may be stated and is, today, coming to be recognised. But when that has been said, the mystery remains, and will not be revealed, even in partial measure, until the middle of the next century. Then revelation may be possible, as there will be more initiates in the world, and inner vision and inner hearing will be more generally recognised and present. When man arrives at a better understanding of the etheric body and its seven force centres (which are all related to the seven rays, and in their expression show the seven characteristics and techniques which are here tabulated anent the rays) then some further light can intelligibly be thrown upon the nature of the seven types of electrical phenomena which we call the seven rays.
Rằng có một thứ gọi là điện, rằng có lẽ nó giải thích cho tất cả những gì có thể được nhìn thấy, cảm nhận và nhận thức, và rằng toàn bộ vũ trụ là sự biểu hiện của quyền lực điện năng—tất cả những điều này có thể được khẳng định, và ngày nay, chúng đang dần được công nhận. Nhưng khi đã nói đến điều đó, bí ẩn vẫn còn đó, và nó sẽ không được tiết lộ, dù chỉ một phần, cho đến giữa thế kỷ tới. Khi đó, sự mặc khải có thể trở nên khả thi, vì sẽ có nhiều điểm đạo đồ hơn trên thế giới, và thị giác nội tại cùng thính giác nội tại sẽ được công nhận và phổ biến hơn. Khi nhân loại đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn về thể dĩ thái và bảy trung tâm lực của nó (vốn đều có liên quan đến bảy cung, và trong biểu hiện của chúng thể hiện bảy đặc trưng và kỹ thuật đã được liệt kê ở đây liên quan đến các cung), thì lúc đó có thể soi sáng thêm một cách thông minh về bản chất của bảy loại hiện tượng điện mà chúng ta gọi là bảy cung.
On the Path of Return and in connection with the process of detachment, which marks the progress of the soul towards release and the ending of the period of appropriation, certain passages in A Treatise on White Magic give clearly the intended [84] technique. They are as follows, and are found on pages 288 and 289.
Trên Con Đường Trở Về và liên quan đến tiến trình xả ly, đánh dấu sự tiến bộ của linh hồn hướng đến sự giải thoát và sự kết thúc của giai đoạn chiếm hữu, một số đoạn trong Luận về Chánh Thuật đã trình bày rõ ràng kỹ thuật được đề xuất [84]. Những đoạn đó như sau, được tìm thấy trong các trang 288 và 289:
Ray One:—”Let the Forces come together. Let them mount to the High Place, and from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed. Then let the word go forth: ‘I still persist!’“
Cung Một: “Hãy để các mãnh lực hợp nhất. Hãy để chúng dâng lên đến Nơi Cao Cả, và từ đỉnh cao ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới đã bị hủy diệt. Sau đó, hãy để lời phán được vang lên: ‘Ta vẫn tiếp tục tồn tại!’“
Ray Two:—”Let all the life be drawn to the Centre, and enter thus into the heart of Love Divine. Then from that point of sentient Life, let the soul realise the consciousness of God. Let the word go forth, reverberating through the silence: ‘Naught is but Me!’“
Cung Hai: “Hãy để mọi sự sống được quy tụ vào Trung Tâm, và nhờ đó bước vào trái tim của Tình Yêu Thiêng Liêng. Rồi từ điểm của Sự Sống Nhạy Cảm ấy, hãy để linh hồn nhận thức được tâm thức của Thượng Đế. Hãy để lời phán vang dội qua sự tĩnh lặng: ‘Không có gì ngoài Ta!’“
Ray Three:—”Let the army of the Lord, responsive to the word cease their activities. Let knowledge end in wisdom. Let the point vibrating become the point quiescent, and in all lines gather into One. Let the soul realise the One in Many, and let the word go forth in perfect understanding: ‘I am the Worker and the Work, the One that Is.’“
Cung Ba: “Hãy để đội quân của Thượng Đế, đáp ứng với lời hiệu triệu, chấm dứt hoạt động của họ. Hãy để tri thức kết thúc trong minh triết. Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng, và trong mọi đường hướng hãy quy tụ vào Một. Hãy để linh hồn nhận thức được Sự Hợp Nhất trong Đa Dạng, và hãy để lời phán được vang lên trong sự thấu hiểu trọn vẹn: ‘Ta là Người Hành Động và là Công Việc, là Đấng Hiện Hữu.’“
Ray Four:—”Let the outer glory pass away and the beauty of the inner Light reveal the One. Let dissonance give place to harmony, and from the centre of the hidden Light, let the soul speak: Let the word roll forth: ‘Beauty and glory veil Me not. I stand revealed. I am.’“
Cung Bốn: “Hãy để ánh vinh quang bên ngoài tan biến và để vẻ đẹp của Ánh Sáng Nội Tại tiết lộ Chân Nhất. Hãy để sự bất hòa nhường chỗ cho hòa điệu, và từ trung tâm của Ánh Sáng Ẩn Giấu, hãy để linh hồn cất tiếng: Hãy để lời phán vang ra: ‘Vẻ đẹp và vinh quang không che phủ Ta. Ta hiển lộ. Ta Hiện Hữu.’“
Ray Five:—”Let the three forms of energy electric pass upward to the Place of Power. Let the forces of the head and heart and all the nether aspects blend. Then let the soul look out upon an inner world of light divine. Let the word triumphant go forth: ‘I mastered energy for I am energy Itself. The Master and the mastered are but One.’“
Cung Năm: “Hãy để ba dạng năng lượng điện đi lên đến Nơi Quyền Lực. Hãy để các mãnh lực của đầu và tim cùng tất cả các phương diện thấp hơn hòa nhập. Sau đó, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới nội tại tràn đầy ánh sáng thiêng liêng. Hãy để lời tuyên bố khải hoàn vang ra: ‘Ta đã chế ngự năng lượng, vì Ta chính là năng lượng. Đấng Chủ Tể và kẻ bị chủ tể hóa chỉ là Một.’“
Ray Six:—”Let all desire cease. Let aspiration end. The search is over. Let the soul realise that it has reached the goal, and from that gateway to eternal Life and cosmic Peace, let the word sound: ‘I am the seeker and the sought. I rest!’“
Cung Sáu: “Hãy để mọi dục vọng chấm dứt. Hãy để chí nguyện khép lại. Cuộc tìm kiếm đã hoàn tất. Hãy để linh hồn nhận thức rằng nó đã đạt được mục tiêu, và từ cổng vào của Sự Sống Vĩnh Cửu và Hòa Bình Vũ Trụ, hãy để lời phán vang lên: ‘Ta là người tìm kiếm và là điều được tìm kiếm. Ta an nghỉ!’“
Ray Seven:—”Let the builders cease their work. The Temple is completed. Let the soul enter into its heritage and from the Holy Place command all work to end. Then in the silence subsequent, let him chant forth the Word:.The creative [85] work is over. l, the Creator, Am. Naught else remains but Me.’“
Cung Bảy: “Hãy để những người kiến tạo ngừng công việc của họ. Ngôi Đền đã hoàn tất. Hãy để linh hồn bước vào gia tài của mình và từ Nơi Thánh Thiêng ban lệnh chấm dứt mọi công việc. Sau đó, trong sự tĩnh lặng tiếp theo, hãy để y xướng lên Lời Phán: ‘Công trình sáng tạo đã kết thúc. Ta, Đấng Sáng Tạo, Hiện Hữu. Không còn gì ngoài Ta.’“
Beginning of LOTSWC 1 EP II p. 85
[85]
II. The Seven Laws of Soul or Group Life
[-> Bình Giảng 1]
We come now to a section of our study of the soul and its life which is of real moment to all who live (or begin to live) and function as conscious souls, through definite alignment and at-one-ment. This section will, however, be relatively abstruse to all those whose lives are centred in the personality. Down the ages, the Scriptures of the world and those who have attempted to elucidate them, have been occupied with imparting to humanity an understanding of the nature of those qualities and characteristics which should distinguish all true believers, all true aspirants and all sincere disciples, whether Christian or otherwise. The teaching has always been given in terms of good behavior and of right action, and therefore given in terms of effects, produced by inner causes which have not always been specified. Basically, all such virtues, good inclinations and attempted sound qualities represent the emergence into expression upon the physical plane of certain energies and tendencies, inherent in the soul itself. These, in their turn, are governed by energies and laws which are of a nature different from those governing personalities. It is important to emphasise this and to bear in mind that the powers of the soul, as they are appearing in the world today, constitute (in their working out) a body of phenomena which would have been regarded as magical, impossible and superhuman several centuries ago. The discoveries of science, the adaptation of the laws governing matter and directing material energy to the service and the growing needs of mankind, the subtle and delicate apparatus of the human body and the steadily increasing sensitivity of [86] the human mechanism, have brought about a world consciousness and a civilisation which—in spite of its glaring defects, all based on the separative and selfish attitudes of the personalities through which the soul has yet to work—are a guarantee of the innate divinity of man, with all that may be inherent in, and inferred from that phrase.
Giờ đây chúng ta đến với một phần trong việc nghiên cứu linh hồn và đời sống của nó, phần này thực sự quan trọng đối với tất cả những ai sống (hay bắt đầu sống) và hoạt động như những linh hồn hữu thức, thông qua sự chỉnh hợp rõ rệt và sự hợp nhất. Tuy nhiên, phần này sẽ tương đối khó hiểu đối với tất cả những ai có đời sống tập trung trong phàm ngã. Trải qua các thời đại, Kinh điển của thế giới và những người đã cố gắng làm sáng tỏ chúng đều bận tâm đến việc truyền đạt cho nhân loại một sự thấu hiểu về bản chất của những phẩm tính và đặc điểm cần phải phân biệt mọi tín đồ chân chính, mọi người chí nguyện chân chính và mọi đệ tử chân thành, dù là Cơ Đốc giáo hay không. Giáo huấn luôn luôn được đưa ra dưới dạng hạnh kiểm tốt và hành động đúng đắn, và vì thế được trình bày dưới dạng các kết quả, do những nguyên nhân bên trong tạo ra mà không phải lúc nào cũng được nêu rõ. Về căn bản, mọi đức hạnh, khuynh hướng tốt và những phẩm tính lành mạnh được cố gắng đạt tới như thế đều biểu hiện sự xuất hiện để được biểu lộ trên cõi hồng trần của một số năng lượng và khuynh hướng nhất định, vốn tiềm ẩn trong chính linh hồn. Đến lượt chúng, những điều này được chi phối bởi những năng lượng và định luật có bản chất khác với những gì chi phối các phàm ngã. Điều quan trọng là phải nhấn mạnh điều này và ghi nhớ rằng các quyền năng của linh hồn, như chúng đang xuất hiện trong thế giới ngày nay, cấu thành (trong sự triển khai của chúng) một tập hợp hiện tượng mà vài thế kỷ trước hẳn đã bị xem là huyền thuật, bất khả và siêu nhân. Những khám phá của khoa học, sự thích ứng các định luật chi phối vật chất và điều khiển năng lượng vật chất vào việc phụng sự và đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của nhân loại, bộ máy tinh vi và nhạy bén của cơ thể con người và tính nhạy cảm ngày càng gia tăng của [86] cơ cấu con người, đã mang lại một tâm thức thế giới và một nền văn minh mà—dù có những khuyết điểm hiển nhiên, tất cả đều dựa trên các thái độ phân ly và ích kỷ của những phàm ngã mà qua đó linh hồn vẫn còn phải hoạt động—vẫn là một bảo chứng cho thiên tính bẩm sinh của con người, cùng với tất cả những gì có thể tiềm ẩn trong, và được suy ra từ, cụm từ ấy.
What has not yet been grasped is that these emerging “godlike” qualities, these beneficent characteristics, and the slowly appearing virtues of humanity are only indications of hidden potentialities, which have not been scientifically studied. The qualities of goodness are so called because they are, in essence, the energies controlling group relations; the powers, called superhuman, are fundamentally the powers which express group activity, and the virtues are only effects of group life, rightly handled, which are attempting to express themselves on the physical plane. The growing science of social relations, of social responsibility, or coordinated civic life, of scientific economics and of human inter-relations, the steadily developing sense of internationalism, of religious unity, and of economic interdependence, are all of them indications of the energies of soul life upon the physical plane, and within the human family. Hence the conflict of ideals in the world today; hence the massed dualism which produces such bewilderment; hence the compromises and hence the inconsistencies. Here is to be found the cause of all the divergencies in the world of civilised ideals, and the conflicting and widely differing motives which impel people of good motive and intention and of high principle into antagonistic activities.
Điều chưa được nắm bắt là những phẩm tính “giống thần thánh” đang xuất hiện này, những đặc tính từ thiện này, và những đức hạnh của nhân loại đang chậm rãi hiển lộ chỉ là những dấu hiệu của các tiềm năng ẩn giấu, vốn chưa được nghiên cứu một cách khoa học. Những phẩm tính của điều thiện được gọi như thế vì tự bản chất, chúng là các năng lượng kiểm soát những tương quan nhóm; những quyền năng được gọi là siêu nhân về căn bản là những quyền năng biểu lộ hoạt động nhóm; và những đức hạnh chỉ là những hiệu quả của đời sống nhóm, khi được xử lý đúng đắn, đang cố gắng biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần. Khoa học đang tăng trưởng về những tương quan xã hội, về trách nhiệm xã hội, hay đời sống công dân phối hợp, về kinh tế học khoa học và về những tương quan nhân loại, ý thức quốc tế tính, về sự hợp nhất tôn giáo, và về sự tương thuộc kinh tế đang phát triển đều đặn, tất cả đều là những dấu hiệu của các năng lượng của đời sống linh hồn trên cõi hồng trần, và bên trong gia đình nhân loại. Do đó có sự xung đột của các lý tưởng trong thế giới ngày nay; do đó có tính nhị nguyên tập thể gây ra biết bao hoang mang; do đó có những sự thỏa hiệp và do đó có những sự bất nhất. Chính ở đây có thể tìm thấy nguyên nhân của mọi sự phân kỳ trong thế giới của các lý tưởng văn minh, và những động cơ xung đột và rất khác biệt thúc đẩy những người có động cơ và ý định tốt đẹp cùng nguyên tắc cao cả đi vào những hoạt động đối kháng.
Two sets of principles are to be found controlling human life—the selfish and the unselfish, the individual good and the group good, the objective goal and the subjective goal, the material incentive and the spiritual impulse, national patriotism [87] and the world ideal, separative religious belief and the federation of religions, and all the many massed dualities which simply indicate the realism of people who are personalities (integrated and separative) or of souls (aligned and group-conscious). Here is the major divergence in the world today; with the weight of the power on the side of separation, as it is the line of least resistance, and of critical differentiations. A balancing of the two will gradually take place, with the weight of world idealism gradually shifting into the realm of soul unification, until eventually (but not for quite a while) the emphasis of world thought will be definitely and permanently on “the side of the angels.” Note the occult truth of that familiar phrase. Therefore we can look for the new laws, governing soul life, which is group life, to begin to function and make their presence felt. This will at first increase the world difficulty; hence the need to make the meaning of these laws clear, their objectives simple and their potencies understandable.
Có thể thấy hai tập hợp nguyên lý đang kiểm soát đời sống con người—ích kỷ và vô kỷ, thiện ích cá nhân và thiện ích nhóm, mục tiêu khách quan và mục tiêu chủ quan, động lực vật chất và xung lực tinh thần, lòng ái quốc dân tộc [87] và lý tưởng thế giới, tín ngưỡng tôn giáo phân ly và liên hiệp các tôn giáo, cùng tất cả vô số những nhị nguyên tập thể chỉ đơn giản cho thấy tính hiện thực của những người là các phàm ngã (tích hợp và phân ly) hay là các linh hồn (chỉnh hợp và có tâm thức nhóm). Đây là sự phân kỳ chủ yếu trong thế giới ngày nay; với sức nặng của quyền lực đứng về phía phân ly, vì đó là con đường ít trở ngại nhất, và của những sự biến phân phê phán. Một sự quân bình của hai bên sẽ dần dần diễn ra, với sức nặng của chủ nghĩa lý tưởng thế giới dần dần chuyển vào lĩnh vực hợp nhất linh hồn, cho đến cuối cùng (nhưng chưa phải trong một thời gian khá lâu nữa) trọng tâm của tư tưởng thế giới sẽ dứt khoát và thường trực ở “về phía các thiên thần.” Hãy lưu ý chân lý huyền bí của cụm từ quen thuộc ấy. Vì vậy chúng ta có thể trông đợi những định luật mới, chi phối đời sống linh hồn, tức là đời sống nhóm, bắt đầu vận hành và làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận. Lúc đầu điều này sẽ làm gia tăng khó khăn của thế giới; do đó cần phải làm cho ý nghĩa của những định luật này được sáng tỏ, các mục tiêu của chúng trở nên đơn giản và các mãnh lực của chúng trở nên có thể thấu hiểu.
Beginning of LOTSWC 2 EP II p. 87
Beginning of LOTSWC 2 EP II p. 87
1. The Law of Sacrifice—Định luật Hi Sinh
The section upon which we now enter in our studies will be difficult and controversial. The thread which will guide us out of the bewildering maze of thought into which we must perforce enter, is the golden one of group love, group understanding, group relations and group conduct.
Phần mà giờ đây chúng ta bước vào trong việc nghiên cứu sẽ khó khăn và gây tranh luận. Sợi chỉ sẽ dẫn dắt chúng ta ra khỏi mê cung tư tưởng đầy hoang mang mà chúng ta buộc phải đi vào là sợi chỉ vàng của tình thương nhóm, sự thấu hiểu nhóm, những tương quan nhóm và cách ứng xử nhóm.
No
Exoteric Name
Esoteric Name
Symbol
Ray Energy
Số
Tên Ngoại Môn
Tên Nội Môn
Biểu Tượng
Năng Lượng Cung
1.
The Law of sacrifice
The Law of those who choose to die.
A rosy Cross with a golden bird.
Outpouring fourth ray, at-one-ing energy.
Định Luật Hi Sinh
Định luật của những ai chọn chết.
Một Thánh Giá hồng với con chim vàng.
Năng lượng tuôn đổ cung bốn, năng lượng hợp nhất.
This law of sacrifice, which is the first of the laws to be grasped by the human intelligence, and is therefore the easiest for man to understand (because he is already governed by it [88] and, therefore, aware of it) came to its first major expression during this slowly disappearing age, the present age, the Piscean age. This law has always been functioning and active in the world, for it is one of the first of the inner subjective laws to express itself consciously, and as an active ideal, in human life. The theme of all the world religions has been divine sacrifice, the immolation of the cosmic Deity through, the process of universal creation, and of the world Saviours, by Their death and sacrifice as a means of salvation and eventual release and liberation. Such is the blindness and such is the contaminating influence of the lower separative man, that this divine law of sacrifice is wielded with the selfish intent of personal and individual salvation. But the travestied truth remains the unsullied truth on its own plane, and this dominant world law governs the appearing and the disappearing of universes, of solar systems, of races and of nations, of world leaders and world rulers, of incarnating human beings and of revealing Sons of God.
Định luật hi sinh này, là định luật đầu tiên trong các định luật được trí tuệ con người nắm bắt, và vì thế là định luật dễ hiểu nhất đối với con người (vì y đã được nó chi phối [88] và do đó ý thức được nó) đã đi đến biểu hiện lớn đầu tiên trong thời đại hiện nay đang chậm rãi biến mất, tức thời đại Song Ngư. Định luật này luôn luôn vận hành và hoạt động trong thế giới, vì nó là một trong những định luật chủ quan nội tại đầu tiên biểu lộ chính mình một cách hữu thức, và như một lý tưởng hoạt động, trong đời sống con người. Chủ đề của mọi tôn giáo thế giới là sự hi sinh thiêng liêng, sự hiến tế của Thượng đế vũ trụ qua tiến trình sáng tạo phổ quát, và của các Đấng Cứu Thế thế gian, bằng cái chết và sự hi sinh của Các Ngài như một phương tiện cứu rỗi và cuối cùng là giải thoát và giải phóng. Tính mù quáng thật lớn lao, và ảnh hưởng ô nhiễm của con người thấp kém phân ly thật mạnh mẽ, đến nỗi định luật hi sinh thiêng liêng này bị sử dụng với ý đồ ích kỷ là sự cứu rỗi cá nhân và riêng biệt. Nhưng chân lý bị xuyên tạc ấy vẫn là chân lý không hoen ố trên cõi riêng của nó, và định luật thế giới chi phối này cai quản sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ, của các hệ mặt trời, của các nhân loại và các quốc gia, của các nhà lãnh đạo thế giới và các nhà cai trị thế giới, của những con người đang lâm phàm và của các Con của Thượng đế đang tự mặc khải.
Let us see if we can interpret or define the true significance of this law, which is in reality the expression of a divine impulse, leading to a defined activity, with its consequent and subsequent results and effects. It was this aspect of sacrifice which led to the creation of the worlds and to the manifestation of the divine Creator.
Hãy xem liệu chúng ta có thể diễn giải hay định nghĩa thâm nghĩa chân thực của định luật này, vốn thực ra là sự biểu lộ của một xung lực thiêng liêng, dẫn đến một hoạt động xác định, cùng với các kết quả và hiệu quả hệ quả và tiếp theo của nó. Chính phương diện hi sinh này đã dẫn đến sự sáng tạo các thế giới và đến sự biểu hiện của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng.
It might help to a better understanding of the Law of Sacrifice if it were expressed through synonymous words and terms.
Có lẽ sẽ giúp ích cho việc thấu hiểu Định luật Hi Sinh tốt hơn nếu nó được diễn đạt qua những từ và thuật ngữ đồng nghĩa.
a. THE SIGNIFICANCE OF THE LAW OF SACRIFICE—Ý NGHĨA CỦA ĐỊNH LUẬT HI SINH
It means the impulse of giving. The whole secret of the doctrines of “the forgiveness of sins” and of the “at-onement” lies hid in this simple phrase. It is the basis of the Christian doctrine of love and sacrifice. Hence the emphasis [89] laid, in the Piscean Age and through the influence of Christianity, upon just these two things, — forgiveness and atonement. That man, as usual, distorted and misinterpreted the teaching and the truth, and that it fell, as does all else at present, under the glamour and illusion of the astral plane, plus the Piscean influence, is true. Man’s thought dominated and distorted the ideal and produced such a damnable doctrine as the elect of God, the chosen of the Lord, or the sole people to benefit by the sacrifice and death of the great Son of God, and who pass, due to the merits of that vicarious death, into a state of bliss in heaven, simply because of an emotional choice, which ignores millions of those who have made no such choice, nor had the opportunity to do so. The symbolic activity of the great Teacher of Nazareth will be properly understood and its significance will be properly appreciated only when group implications are more carefully studied, the meaning of sacrifice and of death come into their rightful place in the human consciousness, and the law of giving, with all that that entails, is correctly understood and applied. Those who thus sacrifice are:
Nó có nghĩa là xung lực cho đi. Toàn bộ bí mật của các giáo lý về “sự tha thứ tội lỗi” và về “sự hợp nhất” đều ẩn giấu trong cụm từ đơn giản này. Đó là nền tảng của giáo lý Ki-tô giáo về tình thương và sự hi sinh. Do đó có sự nhấn mạnh [89] được đặt vào, trong Thời Đại Song Ngư và qua ảnh hưởng của Ki-tô giáo, đúng trên hai điều này,—sự tha thứ và sự hợp nhất. Việc con người, như thường lệ, bóp méo và hiểu sai giáo huấn và chân lý, và việc nó rơi vào, như mọi thứ khác hiện nay, dưới ảo cảm và ảo tưởng của cõi cảm dục, cộng thêm ảnh hưởng Song Ngư, là điều đúng. Tư tưởng của con người đã chi phối và bóp méo lý tưởng, và tạo ra một giáo lý đáng nguyền rủa như những kẻ được Thượng đế tuyển chọn, những người được Chúa chọn, hay dân tộc duy nhất được hưởng lợi từ sự hi sinh và cái chết của Con vĩ đại của Thượng đế, và những người nhờ công đức của cái chết thế mạng ấy mà bước vào một trạng thái chí phúc trên thiên đàng, chỉ đơn giản vì một sự lựa chọn cảm xúc, vốn phớt lờ hàng triệu người không hề có sự lựa chọn như thế, cũng chẳng có cơ hội để làm như vậy. Hoạt động biểu tượng của vị Huấn sư vĩ đại ở Nazareth sẽ chỉ được hiểu đúng và thâm nghĩa của nó sẽ chỉ được đánh giá đúng khi những hàm ý nhóm được nghiên cứu cẩn trọng hơn, ý nghĩa của sự hi sinh và của cái chết đi vào đúng vị trí của chúng trong tâm thức con người, và định luật cho đi, cùng với tất cả những gì nó bao hàm, được hiểu và áp dụng một cách đúng đắn. Những ai hi sinh như thế là:
{END of LOTSWC 2, EP II p. 89
{END of LOTSWC 2, EP II p. 89
Beginning of LOTSWC 3, EP II p. 89
Beginning of LOTSWC 3, EP II p. 89
[-> Bình Giảng 3]
The Solar Deity who gave His life to the universe, to the solar system, to the planet, and the manifested worlds consequently appeared. The cosmic Deity has likewise done the same. But what does this mean to us? Naught, except a symbol. It was His impulse, His will, His desire, His incentive, His idea and purpose to appear. The creative act then took place, and the process of manifestation began its cyclic evolutionary existence. The Cosmic Christ was crucified upon the cross of matter, and by that great sacrifice opportunity was offered to all evolving lives in all kingdoms of nature and in all created worlds. Thus they could progress. The work, in space and time, and the stupendous march of living beings towards an at present unrealised goal, began. We can [90] give no reason for the choice made by Deity thus to act. We do not know His ultimate purpose or plan; and only aspects of His technique and method begin to appear to the illuminated mind. It has been hinted by Those Who know so much more than we, owing to their longer life cycle and experience, that some glimmering of that eternal and cosmic Intent is beginning to dawn in the consciousness of Those who have taken some of the higher initiations. Their nature must necessarily remain incomprehensible to mankind. All that the intelligent human being can grasp as he looks back over the history of the planet (as far as modern history can give it to him) is that there has been:
Thượng đế Thái dương đã ban sự sống của Ngài cho vũ trụ, cho hệ mặt trời, cho hành tinh, và do đó các thế giới biểu hiện đã xuất hiện. Thượng đế vũ trụ cũng đã làm như vậy. Nhưng điều này có nghĩa gì đối với chúng ta? Không gì cả, ngoại trừ một biểu tượng. Đó là xung lực của Ngài, ý chí của Ngài, dục vọng của Ngài, động cơ của Ngài, ý tưởng và mục đích của Ngài muốn xuất hiện. Khi đó hành vi sáng tạo đã diễn ra, và tiến trình biểu hiện bắt đầu sự tồn tại tiến hoá theo chu kỳ của nó. Đức Christ Vũ trụ đã bị đóng đinh trên thập giá của vật chất, và nhờ sự hi sinh lớn lao ấy, cơ hội đã được trao cho mọi sự sống đang tiến hoá trong mọi giới của bản chất và trong mọi thế giới được sáng tạo. Nhờ thế chúng có thể tiến bộ. Công việc trong không gian và thời gian, và cuộc tiến bước kỳ vĩ của các hữu thể sống hướng tới một mục tiêu hiện nay chưa được chứng nghiệm, đã bắt đầu. Chúng ta không thể [90] đưa ra lý do nào cho sự lựa chọn mà Thượng đế đã thực hiện khi hành động như thế. Chúng ta không biết mục đích hay Thiên Cơ tối hậu của Ngài; và chỉ những phương diện của kỹ thuật và phương pháp của Ngài mới bắt đầu xuất hiện trước trí tuệ được soi sáng. Những Đấng biết nhiều hơn chúng ta rất nhiều, do chu kỳ sống và kinh nghiệm dài hơn của Các Ngài, đã gợi ý rằng một vài tia sáng le lói của Ý Định vĩnh cửu và vũ trụ ấy đang bắt đầu ló rạng trong tâm thức của Những Đấng đã trải qua một số điểm đạo cao hơn. Bản chất của các điểm đạo ấy tất yếu vẫn không thể hiểu nổi đối với nhân loại. Tất cả những gì con người thông minh có thể nắm bắt khi nhìn lại lịch sử của hành tinh (trong chừng mực lịch sử hiện đại có thể cung cấp cho y) là đã có:
1. Progress in the human power to be conscious.
1. Sự tiến bộ trong năng lực có tâm thức của con người.
2. A growing and paralleling refinement of the forms of life in the various kingdoms of nature.
2. Sự tinh luyện ngày càng tăng và song hành của các hình tướng sự sống trong những giới khác nhau của bản chất.
3. An intensification of conscious activity, on a developing scale of rapid living, that tends constantly to transcend time as we know it.
3. Sự tăng cường hoạt động hữu thức, trên một thang phát triển của đời sống nhanh chóng, luôn luôn có xu hướng vượt lên trên thời gian như chúng ta biết.
4. An expanding realisation of progress from one dimension to another, until today we talk in terms of a fourth dimensional state of consciousness and can grasp the fact that five or six dimensions are beautifully possible.
4. Sự chứng nghiệm ngày càng mở rộng về tiến bộ từ chiều kích này sang chiều kích khác, cho đến ngày nay chúng ta nói theo những thuật ngữ của một trạng thái tâm thức bốn chiều và có thể nắm bắt sự kiện rằng năm hay sáu chiều là điều hoàn toàn có thể.
5. An increasingly scientific control of the elements in which we live, and of the forces of nature. Today we talk in terms of air mastery just as five hundred years ago (when such a thing was deemed impossible) they talked in terms of the mastery of oceans. We are offsetting the gravitational pull of the earth so that we can “fly into the face of the sun.”
5. Sự kiểm soát ngày càng khoa học đối với các nguyên tố mà chúng ta sống trong đó, và đối với các mãnh lực của bản chất. Ngày nay chúng ta nói theo những thuật ngữ của việc làm chủ không khí, cũng như cách đây năm trăm năm (khi điều ấy bị xem là bất khả) người ta nói theo những thuật ngữ của việc làm chủ đại dương. Chúng ta đang hóa giải lực hút trọng trường của trái đất để có thể “bay đối mặt với mặt trời.”
6. From the instinctual life of sense consciousness in material forms, we have progressed to the intellectual life of self-conscious human beings and to the intuitive [91] realisations of those who are beginning to function as superhuman entities.
6. Từ đời sống bản năng của tâm thức giác quan trong các hình tướng vật chất, chúng ta đã tiến tới đời sống trí tuệ của những con người tự ý thức và tới những chứng nghiệm trực giác [91] của những ai đang bắt đầu hoạt động như những thực thể siêu nhân.
All this has been brought about as the result of the determined, conditioned activity of a Great Life, Which chose to make a major sacrifice and to be crucified upon the cardinal Cross of the Heavens, and thereby pass through a cosmic initiation; Which, from our minor and relatively uninformed angle, stands today crucified upon the fixed Cross in the Heavens, and through the medium of the mutable Cross is nevertheless producing changes in the evolutionary cycle, increasing refinement of form, and that intensification of life which distinguishes His creation.
Tất cả điều này đã được mang lại như kết quả của hoạt động kiên định, được tác động của một Sự sống Vĩ Đại, Đấng đã chọn thực hiện một sự hi sinh lớn lao và bị đóng đinh trên Thập Giá Chủ Yếu của các tầng trời, và nhờ đó đi qua một điểm đạo vũ trụ; Đấng mà từ góc nhìn nhỏ bé và tương đối thiếu hiểu biết của chúng ta, ngày nay đang đứng bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định trên các tầng trời, và tuy vậy qua trung gian của Thập Giá Biến đổi vẫn đang tạo ra những thay đổi trong chu kỳ tiến hoá, sự tinh luyện hình tướng ngày càng tăng, và sự tăng cường của sự sống vốn phân biệt công trình sáng tạo của Ngài.
A study of those expressed objectives—
Một nghiên cứu về những mục tiêu đã được biểu lộ ấy—
1. A development of consciousness.
1. Sự phát triển của tâm thức.
2. A refining of forms.
2. Sự tinh luyện các hình tướng.
3. An intensification of realised life.
3. Sự tăng cường của sự sống được chứng nghiệm.
will convey to the earnest student a meagre understanding of the lowest aspects of the divine purpose. The wonder of the idea staggers human imagination. If this is a statement of fact, and if these ideas are but the expression of still deeper and more beautiful cosmic purposes, may not the goal be realised as being far beyond human computation, when its lowest expression embraces the highest intuitive and abstract concepts of which the most elevated human consciousness is capable? I commend this thought to your deep consideration.
sẽ truyền đạt cho đạo sinh chí thành một sự thấu hiểu ít ỏi về những phương diện thấp nhất của mục đích thiêng liêng. Sự kỳ diệu của ý tưởng ấy làm cho sự tưởng tượng của con người choáng váng. Nếu đây là một phát biểu sự kiện, và nếu những ý tưởng này chỉ là sự biểu lộ của những mục đích vũ trụ còn sâu xa và đẹp đẽ hơn nữa, thì chẳng phải mục tiêu ấy có thể được chứng nghiệm là vượt xa mọi tính toán của con người sao, khi biểu lộ thấp nhất của nó bao trùm những khái niệm trực giác và trừu tượng cao nhất mà tâm thức con người cao nhất có thể đạt tới? Tôi xin giao phó tư tưởng này cho sự suy xét sâu xa của các bạn.
It will be apparent, therefore, why it is the energy of the fourth ray which is related to this Law of Sacrifice, and who in this fourth planetary scheme and in our fourth globe, (the earth globe) so much emphasis is laid upon this Law of Sacrifice, “the Law of those who choose to die.” The fourth ray [92] of conflict (conflict with a view to eventual harmony) is at present not one of the manifesting rays, yet—in the light of the larger cycle—this ray is a major controlling factor in our earth evolution and in the evolution of our solar system, which is one of the fourth order. The realisation of this may indicate why our little planet, the Earth, is of such apparent importance in the solar system. It is not simply because we choose to think so and thus feed our own arrogance, but it is so primarily because the fourth ray of conflict and this first law are—in time and space—dominating factors in the fourth kingdom in nature, the human kingdom. Our planet, the fourth in the series of divine expression with which we are associated, has a peculiar relation to the position of our solar system in the series of solar systems which constitute the body of expression for The One About Whom Naught May Be Said.
Do đó, sẽ hiển nhiên vì sao năng lượng của cung bốn có liên hệ với Định luật Hi Sinh này, và vì sao trong hệ hành tinh thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, (bầu địa cầu) lại có quá nhiều sự nhấn mạnh được đặt lên Định luật Hi Sinh này, “Định luật của những ai chọn chết.” Cung bốn [92] của xung đột (xung đột nhằm hướng tới sự hài hòa cuối cùng) hiện nay không phải là một trong những cung đang biểu hiện, tuy nhiên—dưới ánh sáng của chu kỳ lớn hơn—cung này là một yếu tố kiểm soát chủ yếu trong tiến hoá địa cầu của chúng ta và trong tiến hoá của hệ mặt trời chúng ta, vốn là một hệ thuộc bậc thứ tư. Sự chứng nghiệm điều này có thể cho thấy vì sao hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, lại có tầm quan trọng hiển nhiên như thế trong hệ mặt trời. Không chỉ vì chúng ta chọn nghĩ như vậy và do đó nuôi dưỡng tính kiêu ngạo của chính mình, mà chủ yếu là vì cung bốn của xung đột và định luật thứ nhất này là—trong thời gian và không gian—những yếu tố chi phối trong giới thứ tư của bản chất, giới nhân loại. Hành tinh của chúng ta, hành tinh thứ tư trong chuỗi biểu lộ thiêng liêng mà chúng ta có liên hệ, có một tương quan đặc biệt với vị trí của hệ mặt trời chúng ta trong chuỗi các hệ mặt trời cấu thành thể biểu lộ cho Đấng Bất Khả Tư Nghị.
It must never be forgotten that this fourth ray of conflict is the ray whose energies, rightly applied and understood, bring about harmony and at-one-ment. The result of this harmonising activity is beauty, but it is a beauty that is achieved through struggle. This produces a livingness through death, a harmony through strife, a Union through diversity and adversity.
Không bao giờ được quên rằng cung bốn của xung đột này là cung mà các năng lượng của nó, khi được áp dụng và thấu hiểu đúng đắn, mang lại sự hài hòa và sự hợp nhất. Kết quả của hoạt động hài hòa hóa này là vẻ đẹp, nhưng đó là một vẻ đẹp đạt được qua đấu tranh. Điều này tạo ra sự sống động qua cái chết, sự hài hòa qua xung đột, sự Hợp Nhất qua dị biệt và nghịch cảnh.
The sacrifice of the solar angels brought the fourth kingdom in nature into being. The “returning nirvanis” (as they are called in esoteric literature), with deliberation and full understanding, took human bodies in order to raise those lower forms of life nearer to the goal. These were and are ourselves. The “Lords of Knowledge and Compassion and of ceaseless persevering Devotion” (who are ourselves) chose to die in order that lesser lives might live, and this sacrifice has made possible the evolution of the indwelling consciousness of Deity. This consciousness, having worked its way through [93] the subhuman kingdoms in nature, needed the activity of the solar angels to make further progress possible. Herein lies
Sự hi sinh của các thái dương Thiên Thần đã đưa giới thứ tư của bản chất vào hiện hữu. Những “nirvani trở lại” (như chúng được gọi trong văn liệu huyền bí) với sự cân nhắc và thấu hiểu trọn vẹn, đã nhận lấy những thể người để nâng những hình tướng sự sống thấp hơn ấy đến gần mục tiêu hơn. Những vị ấy đã là và đang là chính chúng ta. Những “Đấng của Tri Thức và Từ Bi và của Sự Sùng Kính bền bỉ không ngừng” (là chính chúng ta) đã chọn chết để những sự sống nhỏ bé hơn có thể sống, và sự hi sinh này đã làm cho sự tiến hoá của tâm thức nội tại của Thượng đế trở nên khả hữu. Tâm thức này, sau khi đã tự mở đường qua [93] các giới dưới nhân loại trong bản chất, cần đến hoạt động của các thái dương Thiên Thần để làm cho sự tiến bộ xa hơn trở nên khả hữu. Chính trong đây có
a. Our service to God, through sacrifice and death;
a. sự phụng sự của chúng ta đối với Thượng đế, qua hi sinh và cái chết;
b. Our service to other souls, through deliberate self-sacrificing purpose;
b. sự phụng sự của chúng ta đối với các linh hồn khác, qua mục đích tự hi sinh có chủ ý;
c. Our service to other forms of life in other kingdoms.
c. sự phụng sự của chúng ta đối với các hình tướng sự sống khác trong các giới khác.
{END LOTSWC 3, EP II p. 93
{END LOTSWC 3, EP II p. 93
Beginning with LOTSWC 4 EP II p. 93
Beginning with LOTSWC 4 EP II p. 93
[-> Bình Giảng]
All this involves the death and sacrifice of a Son of God, a solar angel, for, from the angle of Deity, descent into matter, manifestation through form, the taking of a body, extension of consciousness through the process of incarnation, are all occultly considered to be death. But the angels “chose to die, and in dying, lived.” Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven. It is this theme which fills the pages of The Secret Doctrine, and which is discussed in greater elaboration in A Treatise on Cosmic Fire. The sacrifice of the angels, the death of the Sons of God, the immolation of the mystic Christ, the crucifixion in time and space of all living entities, called souls—this is the theme of those books. This is the mystery hinted at in the world of Scriptures, and this is the secret of the ages, which is only discovered by the souls of men as each of them enters individually into conscious relation with his own soul and discovers that which he has joyously done in the past, and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation. in the early dawn of time itself and which, at some point in his career as a soul on earth, he consciously and symbolically re-enacts for the benefit of other souls, in order to hasten their progress towards their goal. Then comes a life wherein, in some form or another, he portrays or works out within himself, but also before the watching world, that great symbolic drama which we call
Tất cả điều này bao hàm cái chết và sự hi sinh của một Con của Thượng đế, một thái dương Thiên Thần, vì từ góc độ của Thượng đế, sự giáng xuống vật chất, sự biểu hiện qua hình tướng, việc nhận lấy một thể, sự mở rộng tâm thức qua tiến trình nhập thể, tất cả đều được xem một cách huyền bí là cái chết. Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong khi chết, đã sống.” Qua sự hi sinh của họ, vật chất được nâng lên Thiên Đàng. Chính chủ đề này tràn ngập các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, và được bàn đến chi tiết hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự hi sinh của các thiên thần, cái chết của các Con của Thượng đế, sự hiến tế của Đức Christ thần bí, sự đóng đinh trong thời gian và không gian của mọi thực thể sống được gọi là các linh hồn—đó là chủ đề của những quyển sách ấy. Đây là huyền nhiệm được gợi ý trong thế giới Kinh điển, và đây là bí mật của các thời đại, chỉ được khám phá bởi những linh hồn của con người khi mỗi người trong họ đi vào tương quan hữu thức với chính linh hồn mình và khám phá điều mà y đã hân hoan làm trong quá khứ, và nhờ đó đi đến sự chứng nghiệm về sự hi sinh tối thượng mà y đã thực hiện với sự cân nhắc. vào buổi bình minh sơ khai của chính thời gian và mà, tại một điểm nào đó trong sự nghiệp của y như một linh hồn trên trái đất, y tái diễn một cách hữu thức và biểu tượng vì lợi ích của các linh hồn khác, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu của họ. Khi ấy đến một đời sống trong đó, dưới hình thức này hay hình thức khác, y diễn tả hay thể hiện bên trong chính mình, nhưng cũng trước thế giới đang quan sát, vở kịch biểu tượng vĩ đại mà chúng ta gọi là
The Sacrifice of a World Saviour. This is the theme of the [94] historical romance of all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word incarnated through a planet, of those solar angels who are themselves, the Word incarnate through a human form. Whether they enact this drama, as did the Christ, so as to present to man the symbolism of death and sacrifice, or whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha), the theme remains the same,—the death of that which is lower in order to release that which is higher, or—on a larger scale—the death of that which is higher in the order and scale of being, in order to release that which is lower.
Sự Hi Sinh của một Đấng Cứu Thế Gian. Đây là chủ đề của [94] thiên tình sử lịch sử của tất cả những Con vĩ đại của Thượng đế, những vị qua các thời đại đã đi đến sự thấu hiểu thâm nghĩa của mục đích thiêng liêng của Thượng đế, của Linh từ nhập thể qua một hành tinh, của những thái dương Thiên Thần vốn chính là Linh từ nhập thể qua một hình tướng con người. Dù họ diễn lại vở kịch này, như Đức Christ đã làm, để trình bày cho con người biểu tượng của cái chết và sự hi sinh, hay dù họ diễn lại vở kịch này, như Đức Phật đã làm, để chứng minh cho con người sự hi sinh và cái chết của dục vọng cá nhân (chỉ nêu hai trong số các Con của Thượng đế đã biểu hiện, Đức Christ và Đức Phật), chủ đề vẫn là một,—cái chết của điều thấp hơn để giải phóng điều cao hơn, hay—trên một quy mô lớn hơn—cái chết của điều cao hơn trong trật tự và thang bậc hiện hữu, để giải phóng điều thấp hơn.
But the lesson needs to be learned (and it is the lesson which man is now engaged in learning) that death as the human consciousness understands it, pain and sorrow loss and, disaster, joy and distress, are only such because man, as yet, identifies himself with the life of the form and not with the life and consciousness of the soul, the solar angel, whose awareness is potentially that of the planetary Deity, Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity. The moment a man identifies himself with his soul and not with his form, then he understands the meaning of the Law of Sacrifice; he is spontaneously governed by it; and he is one who will with deliberate intent choose to die. But there is no pain, no sorrow, and no real death involved.
Nhưng bài học cần phải được học (và đó là bài học mà con người hiện đang dấn thân học hỏi) là cái chết như tâm thức con người hiểu nó, đau đớn và buồn khổ, mất mát và tai họa, hoan hỉ và khổ sở, chỉ là như thế bởi vì con người, cho đến nay, đồng hoá với đời sống của hình tướng chứ không phải với đời sống và tâm thức của linh hồn, của thái dương Thiên Thần, mà sự nhận biết của vị ấy có tiềm năng là sự nhận biết của Thượng đế hành tinh, Đấng mà sự nhận biết lớn hơn của Ngài (đến lượt Ngài) có tiềm năng là sự nhận biết của Thượng đế Thái dương. Ngay khi một người đồng hoá với linh hồn mình chứ không phải với hình tướng mình, thì y hiểu ý nghĩa của Định luật Hi Sinh; y được nó chi phối một cách tự phát; và y là người sẽ với chủ ý có cân nhắc chọn chết. Nhưng không có đau đớn, không có buồn khổ, và không có cái chết thực sự nào liên hệ ở đây.
This is the mystery of illusion and glamour. From these two imprisoning factors all World Saviours are free. They are not deceived. It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of this term World Saviour. At present we apply it predominantly to those souls who emerge upon the teaching ray, the second or [95] Christ ray. They enact the drama of salvation. But this is an error, due to the overpowering emotional glamour of the Piscean Age. This astral influence has its roots in the past Atlantean civilisation, which preceded ours. In that age, the astral body was the subject of attention. Much that happens today, and which may develop, has its roots in that aspect of energy. Seeds sown at that time are now brought to flower. This is very good and necessary, even if distressing in experience.
Đây là huyền nhiệm của ảo tưởng và ảo cảm. Khỏi hai yếu tố giam hãm này, mọi Đấng Cứu Thế Gian đều tự do. Các Ngài không bị lừa dối. Nhân đây, cũng nên chỉ ra rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng quan niệm của mình về thuật ngữ Đấng Cứu Thế Gian này. Hiện nay chúng ta áp dụng nó chủ yếu cho những linh hồn xuất hiện trên cung huấn dạy, cung hai hay [95] cung Christ. Họ diễn lại vở kịch cứu rỗi. Nhưng đây là một sai lầm, do ảo cảm cảm xúc áp đảo của Thời Đại Song Ngư. Ảnh hưởng cảm dục này có gốc rễ trong nền văn minh Atlantis quá khứ, vốn đi trước nền văn minh của chúng ta. Trong thời đại ấy, thể cảm dục là đối tượng được chú ý. Nhiều điều xảy ra ngày nay, và có thể phát triển, có gốc rễ trong phương diện năng lượng ấy. Những hạt giống được gieo vào thời đó nay đang nở hoa. Điều này rất tốt và cần thiết, dù gây khổ sở trong kinh nghiệm.
But the World Saviours must be recognised as coming forth to serve the race, with sacrifice of some kind along many lines and in many forms. They may be great rulers, or dictators, politicians, statesmen, scientists and artists. Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation and revelation, and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it. As such, they must be recognised for what they are. Now they are misunderstood, misinterpreted, and judged by their mistakes more than by their aims. But they are dedicated souls. They rescue; they lift; they integrate; they illumine; and the net result of their work, from the angle of ultimate history, is good.
Nhưng các Đấng Cứu Thế Gian phải được nhìn nhận là xuất hiện để phụng sự nhân loại, với sự hi sinh thuộc một loại nào đó trên nhiều đường lối và dưới nhiều hình thức. Họ có thể là những nhà cai trị vĩ đại, hay những nhà độc tài, chính khách, nhà khoa học và nghệ sĩ. Công việc của họ là công việc cứu vớt, hoàn nguyên, hay canh tân và mặc khải, và qua sự hi sinh của chính mình, họ hoàn thành điều đó. Vì thế, họ phải được nhìn nhận đúng như họ là. Hiện nay họ bị hiểu lầm, bị diễn giải sai, và bị phán xét bởi những sai lầm của họ nhiều hơn là bởi những mục tiêu của họ. Nhưng họ là những linh hồn tận hiến. Họ cứu vớt; họ nâng lên; họ tích hợp; họ soi sáng; và kết quả ròng của công việc họ, từ góc độ của lịch sử tối hậu, là thiện.
{END of LOTSWC 4, EP II p. 95
{END of LOTSWC 4, EP II p. 95
Beginning with LOTSWC 5, EP II p. 95
Beginning with LOTSWC 5, EP II p. 95
[-> Bình Giảng]
This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom and through the water which he drinks, and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness.
Định luật Hi Sinh này và xung lực cho đi cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong bản chất. Nó được tiêu biểu cho chúng ta trong những sự hi sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính cốt yếu của các khoáng chất và hóa chất của trái đất là một ví dụ điển hình. Chúng cần thiết cho những hình tướng sự sống khác và được ban cho con người qua trung gian của giới thực vật và qua nước mà y uống, và như thế, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất trong bản chất (mà tâm thức của nó xa cách tâm thức chúng ta đến thế) thì tiến trình cho đi này vẫn đúng. Nhưng việc truy tìm Định luật Hi Sinh này trong các giới dưới nhân loại là điều không thể [96] thực hiện ở đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào thế giới của đời sống và tâm thức con người.
b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION—CÔNG VIỆC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI
The Law of Sacrifice means also salvage and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world, and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper, are all expressions of this sacrificial instinct. This factor, though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised. This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth. It is the expression of a still greater factor in the creative process. It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life; which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,” as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. The prodigal son sacrificed the Father’s home when he chose to wander forth into the far country. He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. Such is the life story of all the [97] sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. But the theme in all the world Bibles is the same.
Định luật Hi Sinh cũng có nghĩa là cứu vớt và làm nền tảng cho mọi tiến trình tiến hoá, và đặc biệt điều này xuất hiện với thâm nghĩa rõ ràng trong gia đình nhân loại. Bản năng hướng tới cải thiện, sự thôi thúc tiến bộ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực cải thiện các điều kiện, khuynh hướng từ thiện đang nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, và ý thức trách nhiệm thực sự khiến con người nhận ra rằng họ là người giữ gìn huynh đệ mình, tất cả đều là những biểu lộ của bản năng hi sinh này. Yếu tố này, tuy không phải không được tâm lý học hiện đại nhận ra, có thâm nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với điều đã được chứng nghiệm cho đến nay. Khuynh hướng bản năng này chính là điều chi phối Định luật Tái Sinh. Nó là sự biểu lộ của một yếu tố còn lớn lao hơn trong tiến trình sáng tạo. Nó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy chính Linh Hồn của Thượng đế đi vào đời sống hình tướng; thúc đẩy sự sống, trên cung giáng hạ tiến hoá, tiến xuống vật chất, nhờ đó tạo ra tính nội tại của Thượng đế. Chính điều đó cũng đẩy nhân loại tiến lên trong cuộc đấu tranh dữ dội của họ vì phúc lợi vật chất. Chính điều đó nữa cuối cùng thúc đẩy con người quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,” như Tân Ước nói, và định hướng mình về những điều có tầm quan trọng tinh thần. Người con hoang đàng đã hi sinh ngôi nhà của Cha khi anh ta chọn lang thang đến xứ xa. Anh ta đã phung phí và hi sinh chất liệu của mình qua cách anh ta sử dụng kinh nghiệm của đời sống trên trái đất, cho đến khi đã cạn kiệt mọi nguồn lực và không còn gì ngoài sự hi sinh cuối cùng của điều mà anh ta từng giữ rất quý nhưng đã khám phá là quá không thỏa mãn. Vì những điều có giá trị thấp hơn ấy, anh ta đã hi sinh những giá trị cao hơn, và đã phải trở về nơi mình đã ra đi. Đó là câu chuyện đời sống của tất cả các [97] Con của Thượng đế đã đi vào nhập thể, như được trình bày cho chúng ta dưới biểu tượng của Kinh Thánh. Nhưng chủ đề trong mọi Kinh Thánh của thế giới đều là một.
This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain,—such is the underlying story of evolution. This needs psychological understanding. It is a governing principle of life itself, and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity.
Sự thôi thúc hi sinh này, từ bỏ điều này để lấy điều kia, chọn một con đường hay một đường lối ứng xử và do đó hi sinh một con đường khác, mất đi để cuối cùng đạt được,—đó là câu chuyện nền tảng của tiến hoá. Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý học. Nó là một nguyên khí chi phối của chính sự sống, và chạy như một mô hình vàng của vẻ đẹp xuyên qua những chất liệu tối tăm mà lịch sử loài người được cấu thành từ đó. Khi sự thôi thúc hi sinh để giành được, đạt được hay cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn được thấu hiểu, thì toàn bộ đầu mối của sự khai mở của con người sẽ được mặc khải. Khuynh hướng hay sự thôi thúc này là điều gì đó khác với dục vọng, như dục vọng được hiểu và nghiên cứu theo học thuật ngày nay. Điều mà nó thực sự hàm ý là sự xuất hiện của điều thiêng liêng nhất trong con người. Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là mặt năng động, hoạt động chứ không phải mặt cảm giác, cảm quan. Nó là đặc tính nổi trội của Thượng đế.
It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. Each Ray Lord of a scheme, manifesting through a planet, expresses this urge in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [98] innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” It is, therefore, a tendency greater than the individual unit. It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm đối với các đạo sinh huyền bí học là lưu ý rằng sự thôi thúc cứu vớt và hi sinh để cứu chuộc này được thể hiện theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ, biểu hiện qua một hành tinh, biểu lộ sự thôi thúc này theo những cách khác nhau, và mỗi biểu lộ khác biệt với những biểu lộ khác đến mức một con người khó có thể làm hơn là cảm nhận phương pháp tồn tại trên chính hành tinh riêng của chúng ta. Các điểm đạo đồ biết rằng những đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự sống cung tác động một cách rất đặc thù lên phương pháp biểu lộ sự hi sinh trong tiến trình biểu hiện. Dòng năng lượng sống vĩ đại đang biểu hiện trong hệ tiến hoá Địa Cầu của chúng ta được tác động bởi một khí chất, một thái độ và một định hướng là của một “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng.” Chỉ sự phản kháng mới tạo ra đau đớn và buồn khổ, nhưng sự phản kháng này vốn có và [98] bẩm sinh trong chính Thượng đế của hành tinh chúng ta, “Đấng trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Vì vậy, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá nhân. Chỉ có thể diễn đạt chân lý đáng kinh ngạc này về Sự sống hành tinh dưới một bức màn biểu tượng và theo những thuật ngữ của tư tưởng con người. Trong điều này luôn luôn có một nguy cơ, vì con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và kinh nghiệm theo những thuật ngữ của chính họ.
The Old Commentary says:
Cổ Luận nói:
“He entered into life and knew it to be death.
“Ngài đi vào sự sống và biết đó là cái chết.
“He took a form and grieved to find it dark.
“Ngài nhận lấy một hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm.
“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.
“Ngài tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật và tìm kiếm nơi ánh sáng, và ánh sáng phơi bày tất cả những gì y ít tìm kiếm nhất.
“He craved permission to return.
“Ngài khao khát được phép trở về.
“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.’
“Ngài tìm kiếm Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. Ngài nói: ‘Ta không tìm điều này. Ta tìm sự bình an, ánh sáng, phạm vi để phụng sự, để chứng minh tình thương của ta và để bộc lộ quyền năng của ta. Không có ánh sáng. Không tìm thấy bình an. Hãy để ta trở về.’
But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’
Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không quay đầu. Ngài dường như thậm chí không lắng nghe hay nghe thấy. Nhưng từ khối cầu thấp hơn của tối tăm và đau đớn, một tiếng nói cất lên và kêu rằng: ‘Chúng tôi đau khổ ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế đi vào. [Tôi không thể tìm được từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên Đàng. Hãy đi vào, lạy Chúa, ngôi mộ. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hi sinh. Hãy phá đổ bức tường ngục tù cho chúng tôi và đi vào đau đớn.’
The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.”
Đức Chúa của Sự Sống đã trở lại. Ngài không thích điều đó, và do đó có đau đớn.”
The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. They are not found on the other planets. Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire with understanding know that our Earth is not a sacred planet. However, Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, the [99] personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third Ray. There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, and in three cases, (those of the three major rays) three planets constitute the personality of each ray Life. Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. The personality of this third ray Life functions through the following planets:
Những điều kiện tương tự vốn hòa trộn Định luật Hi Sinh với đau đớn, buồn khổ và khó khăn cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và trên hành tinh Sao Thổ. Chúng không được tìm thấy trên các hành tinh khác. Những ai đã đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ với sự thấu hiểu đều biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tuy nhiên, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta cấu thành, theo một cách huyền bí kỳ lạ, [99] phàm ngã của một Sự sống cung kỳ vĩ, mà năng lượng của Ngài là năng lượng của cung ba. Như đã được nói ở nơi khác, có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười hệ hành tinh, và trong ba trường hợp, (những trường hợp của ba cung chính) ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Sự sống cung. Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xét đến trong hệ mặt trời của chúng ta, và có cơ sở cho kết luận của họ. Phàm ngã của Sự sống cung ba này hoạt động qua các hành tinh sau đây:
1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn.
1. Thể trí biểu lộ chính nó qua trung gian của hành tinh Sao Thổ.
2. The astral body expresses itself through the planet Mars.
2. Thể cảm dục biểu lộ chính nó qua hành tinh Sao Hỏa.
3. The physical body expresses itself through the planet Earth.
3. Thể xác biểu lộ chính nó qua hành tinh Trái Đất.
The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life.
Mãnh lực của Sự sống này lớn lao đến mức Ngài cần đến ba hệ hành tinh hoàn chỉnh—cả ba đều liên hệ mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau—để biểu lộ Chính Ngài. Uranus, Jupiter và Venus cũng liên kết tương tự để biểu hiện hay diễn đạt một Sự sống vĩ đại.
{END of LOTSWC S, EP II p. 99
{END of LOTSWC S, EP II p. 99
Beginning with LOTSWC 6, EP II p. 99
Beginning with LOTSWC 6, EP II p. 99
[-> Bình Giảng 6]
These facts constitute a tremendous mystery, and in no way negate the truth that Venus has a peculiar and intimate relation to the Earth. The point here being stressed is difficult to express, but of great importance. Let me be more explicit, by means of the following statements:
Những sự kiện này tạo thành một huyền nhiệm to lớn, và tuyệt nhiên không phủ nhận chân lý rằng Venus có một mối liên hệ đặc biệt và mật thiết với Trái Đất. Điểm đang được nhấn mạnh ở đây khó diễn đạt, nhưng lại hết sức quan trọng. Hãy để tôi nói rõ hơn bằng những phát biểu sau đây:
1. Only three planetary schemes are aware of pain and sorrow as we understand those terms; none of them know it so well or feel it so much as does our planetary Logos.
1. Chỉ có ba hệ hành tinh nhận biết đau đớn và buồn khổ như chúng ta hiểu các thuật ngữ ấy; không hệ nào trong số đó biết rõ hay cảm nhận chúng nhiều như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
2. Pain and sorrow are the result of rebellion, and of divine discontent. The instinct to betterment, based on discontent, has necessarily involved the planetary temperament or attitude which recognises the dualities.
2. Đau đớn và buồn khổ là kết quả của sự phản kháng và của sự bất mãn thiêng liêng. Bản năng hướng tới sự cải thiện, dựa trên bất mãn, tất yếu đã lôi cuốn khí chất hay thái độ hành tinh vốn nhận ra các nhị nguyên tính.
[100]
[100]
3. There is a stage to be reached in the human consciousness, where that which lies behind the dualities—the stage of essential oneness—can, and will be recognised.
3. Có một giai đoạn phải đạt tới trong tâm thức nhân loại, nơi điều nằm sau các nhị nguyên tính—giai đoạn của tính nhất thể cốt yếu—có thể, và sẽ được nhận ra.
4. When this takes place, the consciousness of our humanity will then merge with that underlying consciousness of the whole, which recognises no pain or sorrow and has, therefore, slipped out of the realisation which predominantly governs the consciousness of the three great Lives in our solar system.
4. Khi điều này xảy ra, tâm thức của nhân loại chúng ta khi ấy sẽ hòa nhập với tâm thức nền tảng của toàn thể, vốn không nhận biết đau đớn hay buồn khổ và vì thế đã vượt khỏi sự chứng nghiệm vốn chi phối chủ yếu tâm thức của ba Sự sống vĩ đại trong hệ mặt trời chúng ta.
5. It is this dimly sensed truth which lies behind the highest type of metaphysical thought, such as Christian Science, Unity, Divine Science, and the emphasis laid by Christianity and the esoteric schools upon the at-one-ment.
5. Chính chân lý được cảm nhận mơ hồ này nằm sau loại tư tưởng siêu hình cao nhất, như Christian Science, Unity, Divine Science, và sự nhấn mạnh mà Cơ Đốc giáo cùng các trường phái huyền bí đặt trên sự hợp nhất.
This instinct towards betterment through sacrifice is itself diverse.
Bản năng hướng tới sự cải thiện thông qua hi sinh này tự nó cũng đa dạng.
There is, first of all, the instinct towards individual betterment, which leads to selfishness, to a grasping, and to an orientation of the materially-minded towards material possessions.
Trước hết là bản năng hướng tới sự cải thiện cá nhân, dẫn đến ích kỷ, đến sự chiếm đoạt, và đến sự định hướng của những người có trí hướng vật chất về phía của cải vật chất.
There is, secondly, the instinct towards an ameliorating of the conditions of other people, first from a selfish motive (the avoiding of personal distress at the sight of suffering), and secondly, through pure, disinterested service, which is a quality of the soul.
Thứ hai là bản năng hướng tới việc cải thiện các điều kiện của người khác, trước tiên từ một động cơ ích kỷ (tránh sự đau khổ cá nhân khi nhìn thấy đau khổ), và thứ hai, thông qua phụng sự thuần khiết, vô tư, vốn là một phẩm tính của linh hồn.
There is, finally, the active application and the complete sacrifice of the lower separated self through the power to “stand in spiritual being” which necessarily infers that one has reached that state of consciousness which transcends what may be called, symbolically the “Earth, Saturn and Mars” state of consciousness.
Sau cùng là sự vận dụng tích cực và sự hi sinh trọn vẹn của phàm ngã biệt lập thấp hơn nhờ năng lực “đứng vững trong bản thể tinh thần”, điều tất yếu hàm ý rằng người ta đã đạt tới trạng thái tâm thức vượt lên trên điều có thể được gọi, một cách biểu tượng, là trạng thái tâm thức “Earth, Saturn and Mars”.
Let it not, however, be forgotten that the contribution to these three great planetary Lives, as They embody pre-eminently [101] the Law of Sacrifice, through pain and rebellion, is a major contribution to the whole, and greatly enriches the sum total. The units of divine life and the atoms of electrical energy who pass through these three planetary schemes are subject to them in order to acquire that psychic sensitivity which would otherwise be impossible. Only those units of life who are coloured predominantly by the third ray of activity pass for any length of time through these three schemes. A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found. We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence expressing itself through
Tuy nhiên, đừng quên rằng sự đóng góp cho ba Sự sống hành tinh vĩ đại này, khi Các Ngài hiện thân một cách nổi trội [101] Định luật Hi Sinh, thông qua đau đớn và phản kháng, là một đóng góp lớn lao cho toàn thể, và làm phong phú rất nhiều tổng thể chung. Các đơn vị của sự sống thiêng liêng và các nguyên tử của năng lượng điện đi qua ba hệ hành tinh này phải chịu sự chi phối của chúng để đạt được tính nhạy cảm thông linh mà nếu không thì không thể có được. Chỉ những đơn vị sự sống được nhuốm màu chủ yếu bởi cung ba hoạt động mới đi qua ba hệ này trong một thời gian đáng kể. Ở đây có một gợi ý về sự phổ biến của các chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung của trí tuệ linh hoạt, biểu lộ qua bảy loại cung, trên hết mọi sự là cung mà đa số các chân thần nhân loại sẽ được thấy thuộc về, đặc biệt vào lúc này. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy các loại hình tâm lý sau đây nhuốm màu phần lớn nhân loại chúng ta, và cung của trí tuệ linh hoạt biểu lộ qua
{END of LOTSWC 6, EP II p. 101
{END of LOTSWC 6, EP II p. 101
Beginning of LOTSWC 7, EP II p. 101
Beginning of LOTSWC 7, EP II p. 101
[-> Bình Giảng]
1. Will, evoking divine purpose.
1. Ý chí, gợi lên Thiên Ý.
2. Love, expressing divine quality.
2. Bác ái, biểu lộ phẩm tính thiêng liêng.
3. Intellect, as the reflector of the Intuition.
3. Trí năng, như sự phản chiếu của Trực giác.
4. Conflict, producing harmony.
4. Xung đột, tạo ra hài hòa.
5. Knowledge or science, leading to radiance.
5. Tri thức hay khoa học, dẫn đến sự rạng ngời.
6. Idealism, establishing the divine pattern.
6. Lý tưởng chủ nghĩa, thiết lập mô hình thiêng liêng.
7. Ritual or organisation, manifesting Deity.
7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu hiện Thượng đế.
Therefore, psychologically speaking, and when greater knowledge has been gained of the energies determining the type of a man, a person, for instance, whose Monad is presumably upon the third ray, his ego being on the fourth ray, and his personality on the seventh ray, will be described as a Three, IV.7. Within this simple formula there will be lesser differentiations and a seventh ray personality may have a first ray mental body, a fifth ray astral body, and a third ray [102] physical body. The formula which would describe him would be
Vì vậy, xét về mặt tâm lý học, và khi đã đạt được tri thức lớn hơn về các năng lượng quyết định loại hình của một người, chẳng hạn một người mà chân thần được giả định là thuộc cung ba, chân ngã của y ở cung bốn, và phàm ngã của y ở cung bảy, sẽ được mô tả là Một Ba, IV.7. Trong công thức đơn giản này sẽ có những biến phân nhỏ hơn, và một phàm ngã cung bảy có thể có một thể trí cung một, một thể cảm dục cung năm, và một thể xác cung ba [102]. Công thức mô tả y sẽ là
Three, IV. 7. [Symbol — Page 102] 1, 5, 3
Ba, IV. 7. [Symbol — Page 102] 1, 5, 3
This, when interpreted, means
Điều này, khi được diễn giải, có nghĩa là