← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

Monad

Monad

third ray.

Chân thần

cung ba.

Ego

fourth ray.

Chân ngã

cung bốn.

Personality

seventh ray.

Phàm ngã

cung bảy.

Mental body

first ray.

Thể trí

cung một.

Astral body

fifth ray.

Thể cảm dục

cung năm.

Physical body

third ray.

Thể xác

cung ba.

Students may find it of value to study themselves and others in conformity with the above, and to establish their personal formulae. This should be done in conjunction with a consultation of their horoscopes. This will be discussed more at length after we have considered the astrological implications of the rays, in the succeeding volume.

Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nghiên cứu chính mình và người khác theo sự phù hợp với điều trên, và thiết lập các công thức cá nhân của mình. Điều này nên được thực hiện cùng với việc tham khảo lá số chiêm tinh của họ. Điều này sẽ được bàn đến dài hơn sau khi chúng ta đã xem xét các hàm ý chiêm tinh học của các cung trong tập kế tiếp.

The Law of Sacrifice, therefore, can never be eliminated in our Earth scheme, as far as the human and subhuman reactions to sorrow and pain are concerned, nor can it be eliminated on the planets Saturn and Mars. It is relatively unknown in the other schemes. Bliss and Sacrifice are synonymous terms as far as our solar Logos is concerned, and also for the majority of the planetary Logoi. This must be remembered. A touch of this freedom from the limitations of pain and sorrow can be found among the more advanced sons of men on Earth, who know the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate, and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation. When this point has been reached, the mechanism of suffering and the ability to register sensuous perception is transcended, and momentarily the man escapes on to the plane of unity. [103] Here there is no pain, no sorrow, no rebellion and no suffering. When the living, vibrating antaskarana or bridge is built, this “way of escape” becomes the normal path of life. Escape from pain is then automatic, for the centre of consciousness is elsewhere. In the cases mentioned above, and where the antaskarana is not a consummated, established fact, the tiny thread of the partially constructed “way of escape”, under tremendous pressure and excitation, shoots forward like a quivering band of light, and momentarily touches the light that is the Self. Hence ecstasy and exaltation. But it does not last, and cannot be consciously recovered until the third initiation has been taken. After that the “way of escape” becomes the “way of daily livingness” (to translate inadequately the occult and ancient phrase). Then pain is steadily transcended, and the pairs of opposites—pleasure and pain—have no longer any hold over the disciple.

Do đó, Định luật Hi Sinh không bao giờ có thể bị loại bỏ trong hệ Địa Cầu của chúng ta, xét theo các đáp ứng của con người và dưới nhân loại đối với buồn khổ và đau đớn, cũng như không thể bị loại bỏ trên các hành tinh Saturn và Mars. Nó tương đối không được biết đến trong các hệ khác. Chí phúc và Hi Sinh là những thuật ngữ đồng nghĩa đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và cũng vậy đối với đa số các Hành Tinh Thượng đế. Điều này phải được ghi nhớ. Một chút ít sự tự do khỏi các giới hạn của đau đớn và buồn khổ này có thể được tìm thấy nơi những người con tiến bộ hơn của nhân loại trên Trái Đất, những người biết sự xuất thần của nhà thần bí, sự siêu thăng của điểm đạo đồ, và nỗi thống khổ tinh tế của hi sinh hay của bất kỳ cảm xúc nào được đưa tới điểm thăng hoa. Khi điểm này đã đạt tới, bộ máy của đau khổ và khả năng ghi nhận tri giác cảm quan được vượt qua, và trong chốc lát con người thoát lên cõi nhất thể. [103] Ở đây không có đau đớn, không có buồn khổ, không có phản kháng và không có đau khổ. Khi antaskarana hay cây cầu sống động, rung động được xây dựng, “con đường thoát ra” này trở thành con đường sống bình thường. Khi ấy, sự thoát khỏi đau đớn là tự động, vì trung tâm tâm thức ở nơi khác. Trong các trường hợp được nhắc đến ở trên, và khi antaskarana chưa là một sự kiện hoàn tất, được thiết lập, thì sợi chỉ nhỏ bé của “con đường thoát ra” được kiến tạo một phần, dưới áp lực và kích thích mãnh liệt, phóng tới như một dải ánh sáng rung động, và trong chốc lát chạm tới ánh sáng là Bản Ngã. Do đó mới có xuất thần và siêu thăng. Nhưng điều đó không kéo dài, và không thể được phục hồi một cách có ý thức cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận. Sau đó, “con đường thoát ra” trở thành “con đường sống hằng ngày” (một cách dịch chưa đầy đủ cụm từ huyền bí và cổ xưa ấy). Khi ấy đau đớn được vượt qua một cách vững chắc, và các cặp đối đãi—khoái lạc và đau đớn—không còn nắm giữ đệ tử nữa.

All this constitutes the theme of esoteric psychology and, when rightly understood, will explain

Tất cả điều này tạo thành chủ đề của Tâm Lý Học Nội Môn và, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ giải thích

1. The Saturnian influence in human life.

1. Ảnh hưởng của Saturn trong đời sống con người.

2. The cessation of rebellion, or the ending of the Martian influence.

2. Sự chấm dứt phản kháng, hay sự kết thúc ảnh hưởng của Mars.

3. The building of the antaskarana, which releases the man from the control of personality life.

3. Việc xây dựng antaskarana, giải thoát con người khỏi sự kiểm soát của đời sống phàm ngã.

4. The evocation of the group consciousness.

4. Sự gợi lên tâm thức nhóm.

5. The consequent negation of pain and sorrow.

5. Sự phủ nhận đau đớn và buồn khổ là hệ quả tất nhiên.

6. Entrance into Nirvana, and the beginning of the real Way.

6. Sự bước vào Niết Bàn, và sự khởi đầu của Con Đường thực sự.

{END of LOTSWC 7, EP II p. 103

{END of LOTSWC 7, EP II p. 103

Beginning with LOTSWC 8, EP II p. 103

Beginning with LOTSWC 8, EP II p. 103

[-> Bình Giảng 8]

The Law of Sacrifice means also

Định luật Hi Sinh cũng có nghĩa là

c. THE RELINQUISHING OF GAIN—SỰ TỪ BỎ THU HOẠCH

This is the basic theme of The Bhagavad Gita. In that treatise on the soul and its unfoldment, we are taught to “perform action without attachment,” and thereby lay the foundation for later relinquishings which can be effected without [104] pain and the sense of loss, because we have acquired the power, latent ever within ourselves, to detach ourselves from achieved possessions.

Đây là chủ đề căn bản của The Bhagavad Gita. Trong bộ luận về linh hồn và sự khai mở của nó, chúng ta được dạy phải “hành động mà không dính mắc”, và nhờ đó đặt nền tảng cho những sự từ bỏ về sau, có thể được thực hiện mà không có [104] đau đớn và cảm giác mất mát, bởi vì chúng ta đã đạt được năng lực, vốn luôn tiềm tàng trong chính mình, để tách rời khỏi những sở hữu đã đạt được.

This law works out in many ways, and it is not possible to do more than indicate a few of those general significances which embody the major lessons of every disciple.

Định luật này vận hành theo nhiều cách, và không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một vài thâm nghĩa tổng quát trong số đó, những điều bao hàm các bài học chính của mọi đệ tử.

First, the soul must relinquish the personality. For ages, the soul has identified itself with the lower personal self, and through the agency of that lower self has gained experience and acquired much knowledge. The time has to come when that agency is “no longer dear” to the soul, and their respective positions are reversed. No longer is the soul identified with the personality but the personality becomes identified with the soul and loses its separate quality and position. All that has been acquired through age-long struggle and strife, through pain and pleasure, through disaster and satisfied desire, and all that the wheel of life, which has turned ceaselessly, has brought into the possession of the soul—All has to be relinquished. Life, for the disciple, becomes then a series of detaching processes, until he has learnt the lesson of renunciation.

Trước hết, linh hồn phải từ bỏ phàm ngã. Trong nhiều thời đại, linh hồn đã đồng hoá với phàm ngã thấp hơn, và thông qua tác nhân của phàm ngã thấp hơn ấy đã thu được kinh nghiệm và tiếp nhận nhiều tri thức. Thời điểm phải đến khi tác nhân ấy “không còn thân yêu” đối với linh hồn nữa, và vị trí tương ứng của chúng bị đảo ngược. Linh hồn không còn đồng hoá với phàm ngã nữa, mà phàm ngã trở nên đồng hoá với linh hồn và mất đi phẩm tính cùng vị trí riêng biệt của nó. Tất cả những gì đã được thu nhận qua cuộc đấu tranh và xung đột kéo dài nhiều thời đại, qua đau đớn và khoái lạc, qua tai họa và dục vọng được thỏa mãn, và tất cả những gì bánh xe sự sống quay không ngừng đã mang vào quyền sở hữu của linh hồn—Tất cả đều phải được từ bỏ. Khi ấy, đời sống đối với đệ tử trở thành một chuỗi những tiến trình tách rời, cho đến khi y đã học được bài học về sự từ bỏ.

The sequence is, first dispassion, then discrimination, and finally detachment. On these three words must all disciples meditate, if they are ever to reap the fruits of sacrifice.

Trình tự là, trước hết vô dục, rồi đến phân biện, và sau cùng là tách rời. Mọi đệ tử phải tham thiền trên ba từ này, nếu họ muốn gặt hái hoa trái của hi sinh.

“Having pervaded the worlds with a fraction of Myself, I remain.” Such is the theme of the soul’s endeavor, and such is the spirit which must underlie all creative work. In this thought lies the clue to the symbol of the Law of Sacrifice—a rosy cross with a bird flying over it. This is the loved cross (rose being the colour of affection), with the bird (symbol of the soul) flying free in time and space.

“Sau khi thấm nhuần các thế giới bằng một phần của Chính Ta, Ta vẫn còn đó.” Đó là chủ đề của nỗ lực của linh hồn, và đó là tinh thần phải làm nền cho mọi công việc sáng tạo. Chính trong tư tưởng này có đầu mối cho biểu tượng của Định luật Hi Sinh—một thập giá hồng với một con chim bay phía trên. Đây là cây thập giá được yêu mến (màu hồng là màu của tình cảm), với con chim (biểu tượng của linh hồn) bay tự do trong thời gian và không gian.

Secondly, the soul has also to relinquish not only its tie and its gain through contact with the personal self, but it has most definitely to relinquish its tie with other personal selves. It must learn to know and to meet other people only on the plane of the soul. In this lies for many a disciple a hard lesson. They may care little for themselves and may have learnt much personal detachment. Little may they cherish the gain of contact with the lower personal self. They are learning to transcend all that, and may have transcended to a great degree, but their love for their children, their family, their friends and intimates is for them of supreme importance and that love holds them prisoners in the lower worlds. They do not stop to recognise that their love is primarily love for the personalities, and only secondarily for the souls. Upon this rock, many disciples are for lives broken, until the time comes when, through pain and suffering and the constant losing of that which they so much cherish, their love enters into a newer, a higher and a truer phase. They rise above the personal, and find again—after felt loss and suffering—those whom now they love as souls. Then they realise that there has been gain and not loss, and that only that which was illusory, ephemeral and untrue has disappeared. The real Man has been gained and can never be lost again.

Thứ hai, linh hồn cũng phải từ bỏ không chỉ mối ràng buộc và thu hoạch của nó qua tiếp xúc với phàm ngã, mà còn phải dứt khoát từ bỏ mối ràng buộc của nó với các phàm ngã khác. Nó phải học cách biết và gặp gỡ người khác chỉ trên cõi linh hồn. Chính trong điều này có một bài học khó khăn đối với nhiều đệ tử. Họ có thể ít quan tâm đến chính mình và có thể đã học được nhiều về sự tách rời cá nhân. Họ có thể rất ít trân quý thu hoạch từ sự tiếp xúc với phàm ngã thấp hơn. Họ đang học cách vượt lên trên tất cả điều đó, và có thể đã vượt lên ở mức độ lớn, nhưng tình thương của họ dành cho con cái, gia đình, bạn bè và người thân cận lại có tầm quan trọng tối thượng đối với họ, và tình thương ấy giữ họ làm tù nhân trong các cõi thấp. Họ không dừng lại để nhận ra rằng tình thương của họ trước hết là tình thương dành cho các phàm ngã, và chỉ thứ yếu mới là dành cho các linh hồn. Trên tảng đá này, nhiều đệ tử bị đập vỡ qua nhiều kiếp sống, cho đến khi thời điểm đến mà, qua đau đớn và khổ đau cùng sự mất mát liên tục điều họ hết sức trân quý, tình thương của họ bước vào một giai đoạn mới hơn, cao hơn và chân thực hơn. Họ vượt lên trên cái cá nhân, và lại tìm thấy—sau mất mát và khổ đau được cảm nhận—những người mà giờ đây họ yêu như các linh hồn. Khi ấy họ nhận ra rằng đã có thu hoạch chứ không phải mất mát, và rằng chỉ điều gì hư ảo, phù du và không chân thật mới biến mất. Con Người thực sự đã được tìm lại và không bao giờ có thể mất đi nữa.

This is most frequently the problem of parents who are upon the Path of Discipleship, and it is through their children that the lesson is learnt which can release them for initiation. They hold their children to them, and this, being counter to the law of nature, works out disastrously. It is the height of selfishness. And yet, did they but know and see aright, they would realise that to hold, one must detach, and to keep, one must release. Such is the law.

Đây thường là vấn đề của các bậc cha mẹ đang ở trên Con Đường Đệ Tử, và chính thông qua con cái mà bài học được học, bài học có thể giải thoát họ cho điểm đạo. Họ giữ con cái bám chặt vào mình, và điều này, vì đi ngược định luật của bản chất, nên dẫn đến hậu quả tai hại. Đó là đỉnh cao của ích kỷ. Tuy nhiên, nếu họ chỉ cần biết và thấy đúng đắn, họ sẽ nhận ra rằng muốn giữ thì phải tách rời, và muốn lưu giữ thì phải buông ra. Đó là định luật.

The soul has also to learn to relinquish the fruits or gains of service and learn to serve without attachment to results, to means, to persons or to praise. This I will deal with later.

Linh hồn cũng phải học cách từ bỏ các hoa trái hay thu hoạch của phụng sự và học cách phụng sự mà không dính mắc vào kết quả, vào phương tiện, vào con người hay vào lời khen. Tôi sẽ bàn đến điều này sau.

{Grasping prevents us from identifying as the larger Whole....

{Grasping prevents us from identifying as the larger Whole....

END of LOTSWC 8, EP II p. 105 27Sepl3

END of LOTSWC 8, EP II p. 105 27Sepl3

[-> Bình Giảng 9]

[106]

[106]

In the fourth place, the soul has to relinquish also the sense of responsibility for that which other disciples may do. So many earnest servers hold on to their fellow workers, and do not relinquish their hold upon them or upon their activities upon the outer plane. This is a subtle error, for it masks itself behind a sense of righteous responsibility, an adherence to principles as they appear to the individual, and the accumulated experience of the disciple,—which is necessarily incomplete experience. The relation between disciples is egoic and not personal. The link is of the soul and not of the mind. Each personality pursues its own course, must shoulder its own responsibilities, work out its own dharma, and fulfil its own karma, and so answer for itself to its Lord and Master, the Soul. And answer there will be. Does this itself sound of the nature of separation and aloneness? It does, as far as outer activities are concerned. Only as servers cooperate from the standpoint of an inner subjective linking can a united world be carried forward.

Thứ tư, linh hồn cũng phải từ bỏ cảm giác trách nhiệm đối với điều mà các đệ tử khác có thể làm. Rất nhiều người phụng sự chí thành bám giữ các bạn đồng lao của mình, và không từ bỏ sự nắm giữ của họ đối với những người ấy hay đối với các hoạt động của họ trên cõi bên ngoài. Đây là một sai lầm vi tế, vì nó tự che đậy sau cảm giác trách nhiệm chính đáng, sự bám chặt vào các nguyên lý như chúng xuất hiện đối với cá nhân, và kinh nghiệm tích lũy của đệ tử,—vốn tất yếu là kinh nghiệm chưa trọn vẹn. Mối liên hệ giữa các đệ tử là chân ngã chứ không phải cá nhân. Mối liên kết là của linh hồn chứ không phải của trí tuệ. Mỗi phàm ngã theo đuổi lộ trình riêng của mình, phải gánh lấy trách nhiệm riêng, giải quyết dharma riêng, và hoàn tất karma riêng, và như thế tự mình đáp ứng trước Chúa Tể và Chân sư của mình, tức linh hồn. Và sẽ có sự đáp ứng. Điều này tự nó có mang tính chất chia cách và cô độc chăng? Có, xét theo các hoạt động bên ngoài. Chỉ khi những người phụng sự hợp tác từ quan điểm của một sự liên kết chủ quan bên trong thì một thế giới hợp nhất mới có thể được đưa tiến lên.

At this time in the history of the world and its periodical salvaging from conditions which are wrecking the current civilisation, it is necessary that aspirants grasp the fact that that salvaging process must be carried on under the Law of Sacrifice, and that only a relative outer unity can be at this time achieved. Not as yet is the vision seen with a sufficient clarity by the many servers, to make them work with perfect unanimity of purpose and objective, of technique and method, or complete understanding and oneness of approach. That fluid, perfect cooperation lies as yet in the future. The establishing of an inner contact and relationship, based on a realised oneness of purpose and soul love, is magnificently possible, and for this all disciples must struggle and strive. On the outer plane, owing to the separative mind during this age and time, a complete accord on detail, on method, and [107] on interpretation of principles is not possible. But—the inner relationships and cooperation Must be established and developed, in spite of the outer divergences of opinion. When the inner link is held in love, and when disciples relinquish the sense of authority over each other and of responsibility for each other’s activities, and at the same time stand shoulder to shoulder in the One Work, then the differences, the divergences, and the points of disagreement will automatically be overcome. There are three rules which are important to disciples at this time.

Vào lúc này trong lịch sử thế giới và trong giai đoạn cứu vãn định kỳ của nó khỏi những điều kiện đang tàn phá nền văn minh hiện tại, điều cần thiết là những người chí nguyện phải nắm được sự kiện rằng tiến trình cứu vãn ấy phải được tiến hành dưới Định luật Hi Sinh, và rằng hiện nay chỉ có thể đạt được một sự hợp nhất bên ngoài tương đối. Nhiều người phụng sự vẫn chưa thấy linh ảnh với đủ sự sáng tỏ để khiến họ làm việc với sự nhất trí hoàn toàn về mục đích và cứu cánh, về kỹ thuật và phương pháp, hay với sự thấu hiểu trọn vẹn và sự nhất thể trong cách tiếp cận. Sự hợp tác linh động và hoàn hảo ấy vẫn còn thuộc về tương lai. Việc thiết lập một tiếp xúc và mối liên hệ bên trong, dựa trên sự chứng nghiệm về tính nhất thể của mục đích và tình thương linh hồn, là điều có thể thực hiện một cách huy hoàng, và vì điều này mà mọi đệ tử phải đấu tranh và nỗ lực. Trên cõi bên ngoài, do trí tuệ chia cách trong thời đại và thời kỳ này, sự hòa hợp hoàn toàn về chi tiết, về phương pháp, và [107] về sự diễn giải các nguyên lý là không thể. Nhưng—các mối liên hệ và sự hợp tác bên trong phải được thiết lập và phát triển, bất chấp những khác biệt ý kiến bên ngoài. Khi mối liên kết bên trong được giữ vững trong tình thương, và khi các đệ tử từ bỏ cảm giác uy quyền đối với nhau và trách nhiệm đối với hoạt động của nhau, đồng thời đứng vai kề vai trong Một Công Việc, thì những khác biệt, những phân kỳ, và những điểm bất đồng sẽ tự động được vượt qua. Có ba quy luật quan trọng đối với các đệ tử vào lúc này.

First, see to it that you permit no rift to appear in the inner relation in which you stand to each other. The integrity of the inner band of servers must be preserved intact.

Thứ nhất, hãy bảo đảm rằng các bạn không để bất kỳ rạn nứt nào xuất hiện trong mối liên hệ bên trong mà các bạn đang đứng với nhau. Tính toàn vẹn của nhóm người phụng sự bên trong phải được giữ nguyên vẹn.

Secondly, pursue your own duty and task, shoulder your own responsibility, and then leave your fellow disciples to do the same, free from the impact of your thought and criticism. The ways and means are many; the points of view vary with every personality. The principle of work is love for all men and service to the race, preserving at the same time a deeper inner love for those with whom you are destined to work. Each soul grows into the way of light through service rendered, through experience gained, through mistakes made, and through lessons learnt. That necessarily must be personal and individual. But the work itself is one. The Path is one. The love is one. The goal is one. These are the points that matter.

Thứ hai, hãy theo đuổi bổn phận và nhiệm vụ riêng của các bạn, gánh lấy trách nhiệm riêng của các bạn, rồi để các đệ tử đồng môn của các bạn cũng làm như vậy, không bị tác động bởi tư tưởng và sự chỉ trích của các bạn. Các đường lối và phương tiện thì nhiều; các quan điểm thay đổi theo từng phàm ngã. Nguyên lý của công việc là tình thương đối với mọi người và phụng sự nhân loại, đồng thời vẫn giữ một tình thương bên trong sâu sắc hơn đối với những người mà các bạn được định mệnh làm việc cùng. Mỗi linh hồn lớn lên vào con đường ánh sáng qua sự phụng sự được trao ban, qua kinh nghiệm đạt được, qua những sai lầm phạm phải, và qua những bài học được học. Điều đó tất yếu phải mang tính cá nhân và riêng biệt. Nhưng bản thân công việc là một. Con Đường là một. Tình thương là một. Mục tiêu là một. Đó là những điểm quan trọng.

Thirdly, preserve ever in work the attitude of mind which must grow out of the two rules above, faithfully followed. Your point of view and consciousness are your own, and therefore, are for you, right. Not necessarily is that which seems so clear to you and of such vital importance to you, of the same value or importance to your brothers. Your important principle may be realised by an abler mind than [108] yours and by a more advanced disciple as embodying an aspect of a greater principle, an interpretation of a principle, correct and proper at a certain time, but capable of a different application at another time, and by another mind. Under the Law of Sacrifice these three rules might be interpreted thus:

Thứ ba, trong công việc hãy luôn giữ thái độ trí tuệ phải phát triển từ hai quy luật trên, khi được tuân theo một cách trung thành. Quan điểm và tâm thức của các bạn là của riêng các bạn, và vì thế, đối với các bạn, là đúng. Điều có vẻ rõ ràng với các bạn và có tầm quan trọng sống còn đối với các bạn không nhất thiết có cùng giá trị hay tầm quan trọng đối với các huynh đệ của các bạn. Nguyên lý quan trọng của các bạn có thể được một trí tuệ có năng lực hơn [108] trí tuệ của các bạn và bởi một đệ tử tiến bộ hơn nhận ra như là hiện thân của một phương diện của một nguyên lý lớn hơn, một sự diễn giải của một nguyên lý, đúng đắn và thích hợp vào một thời điểm nhất định, nhưng có thể được áp dụng khác đi vào một thời điểm khác, và bởi một trí tuệ khác. Dưới Định luật Hi Sinh, ba quy luật này có thể được diễn giải như sau:

1. Relinquish or sacrifice the age-old tendency to criticise and adjust anothers work, and thus preserve the inner group integrity. More plans for service have gone astray and more workers have been hindered by criticism than by any other major factor.

1. Hãy từ bỏ hay hi sinh khuynh hướng lâu đời là chỉ trích và điều chỉnh công việc của người khác, và nhờ đó bảo toàn tính toàn vẹn của nhóm bên trong. Nhiều kế hoạch phụng sự đã đi chệch hướng và nhiều người hoạt động đã bị cản trở bởi sự chỉ trích hơn là bởi bất kỳ yếu tố chính yếu nào khác.

2. Relinquish or sacrifice the sense of responsibility for the actions of others, and particularly of disciples. See that your own activity measures up to theirs, and in the joy of struggle and on the way of service the differences will disappear and the general good will be achieved.

2. Hãy từ bỏ hay hi sinh cảm giác trách nhiệm đối với hành động của người khác, và đặc biệt là của các đệ tử. Hãy bảo đảm rằng hoạt động của chính các bạn tương xứng với hoạt động của họ, và trong niềm vui của đấu tranh cùng trên con đường phụng sự, những khác biệt sẽ biến mất và thiện ích chung sẽ được đạt tới.

3. Relinquish the pride of mind which sees its way and its interpretations to be correct and true, and others false and wrong. This is the way of separation. Adhere to the way of integration which is of the soul and not of the mind.

3. Hãy từ bỏ sự kiêu hãnh của trí tuệ vốn cho rằng con đường và các diễn giải của nó là đúng và thật, còn của người khác là sai và giả. Đây là con đường của chia cách. Hãy gắn bó với con đường của sự tích hợp, vốn là của linh hồn chứ không phải của trí tuệ.

These are hard sayings, but they are the rules by which the Teachers on the inner side, guide Their actions and Their thoughts, when working with each other and with Their disciples. The inner integrity is necessarily a proven fact to Them. To the disciple it is not. But to the inner Teachers, the outer differences are abhorrent. They leave each other free to serve the Plan. They train Their disciples (no matter what their degree) to serve that Plan with freedom, for in freedom and in the sense of joy and in the strength of inner cooperative love is the best work done. It is sincerity for which They look. The willingness to sacrifice the lesser [109] when the greater is sensed is that for which They search. The spontaneous relinquishing of long-held ideals when a greater and more inclusive presents itself is Their guide. The sacrifice of pride and the sacrifice of personality when the vastness of the work and the urgency of the need are realised, sway Them to cooperation. It is essential that the disciples shall learn to sacrifice the non-essential in order that the work may go forward. Little as one may realise it, the many techniques and methods and ways are secondary to the major world need. There are many ways and many points of view, and many experiments and many efforts—abortive or successful, and all of them come and go. But humanity remains. All of them are in evidence of the multiplicity of minds, and of experiences, but the goal remains. Difference is ever of the personality. When this Law of Sacrifice governs the mind, it will inevitably lead all disciples to relinquish the personal in favor of the universal and of the soul, that knows no separation, no difference. Then no pride, nor a short and myopic perspective, nor love of interference (so dear to many people), nor misunderstanding of motive will hinder their cooperation with each other as disciples, nor their service to the world.

Đây là những lời khó nghe, nhưng đó là những quy luật mà các Huấn sư ở phía bên trong dùng để hướng dẫn hành động và tư tưởng của Các Ngài khi làm việc với nhau và với các đệ tử của Các Ngài. Tính toàn vẹn bên trong đối với Các Ngài tất yếu là một sự kiện đã được chứng minh. Đối với đệ tử thì không phải vậy. Nhưng đối với các Huấn sư bên trong, những khác biệt bên ngoài là điều đáng ghê sợ. Các Ngài để cho nhau tự do phụng sự Thiên Cơ. Các Ngài huấn luyện các đệ tử của Các Ngài (bất kể cấp độ nào) phụng sự Thiên Cơ ấy trong tự do, vì trong tự do và trong cảm nhận hoan hỉ cùng trong sức mạnh của tình thương hợp tác bên trong mà công việc tốt nhất được thực hiện. Điều Các Ngài tìm kiếm là sự chân thành. Điều Các Ngài dò tìm là sự sẵn lòng hi sinh cái nhỏ hơn [109] khi cái lớn hơn được cảm nhận. Sự tự phát từ bỏ những lý tưởng được giữ lâu dài khi một lý tưởng lớn hơn và bao gồm hơn xuất hiện là kim chỉ nam của Các Ngài. Sự hi sinh kiêu hãnh và sự hi sinh phàm ngã khi sự bao la của công việc và tính cấp bách của nhu cầu được chứng nghiệm, khiến Các Ngài nghiêng về hợp tác. Điều cốt yếu là các đệ tử phải học cách hi sinh điều không cốt yếu để công việc có thể tiến lên. Dù người ta có thể ít nhận ra điều đó đến đâu, nhiều kỹ thuật, phương pháp và đường lối vẫn chỉ là thứ yếu so với nhu cầu lớn lao của thế giới. Có nhiều đường lối và nhiều quan điểm, nhiều thử nghiệm và nhiều nỗ lực—thất bại hay thành công, và tất cả đều đến rồi đi. Nhưng nhân loại vẫn còn đó. Tất cả chúng là bằng chứng của tính đa tạp của các trí tuệ và của các kinh nghiệm, nhưng mục tiêu vẫn còn đó. Sự khác biệt luôn luôn thuộc về phàm ngã. Khi Định luật Hi Sinh này chi phối trí tuệ, nó tất yếu sẽ dẫn mọi đệ tử đến chỗ từ bỏ cái cá nhân để ưu tiên cho cái phổ quát và cho linh hồn, vốn không biết chia cách, không biết khác biệt. Khi ấy, không kiêu hãnh, cũng không một viễn cảnh ngắn ngủi và cận thị, cũng không lòng thích can thiệp (rất được nhiều người ưa chuộng), cũng không sự hiểu sai động cơ sẽ cản trở sự hợp tác của họ với nhau như những đệ tử, hay sự phụng sự của họ đối với thế giới.

{End of LOTSWC 9,109—End of the Law of Sacrifice

{End of LOTSWC 9,109—End of the Law of Sacrifice

Beginning of LOTWC 10 109, Beginning of the Law of Magnetic Impulse

Beginning of LOTWC 10 109, Beginning of the Law of Magnetic Impulse

[-> Bình Giảng 10]

2. The Law of Magnetic Impulse—Định luật Xung Động Từ Tính

No

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

2.

The Law of Magnetic Impulse

The Law of Polar Union.

Two fiery balls and triangle.

Radiatory Energy. Second Ray manifesting Energy.

Định Luật Xung Động Từ Tính

Định luật của Sự Hợp Nhất Hai Cực.

Hai quả cầu lửa và tam giác.

Năng lượng Phóng Xạ. Năng lượng Biểu Lộ Cung Hai.

It would be well to remember that we are not considering here that aspect of the second ray which is peculiarly concerned with form, and which constitutes the cohering, magnetic [110] agent in any form, whether atom, man or solar system. We are not here concerned with the relation between forms, even though due (as is essentially the case) to second ray energy. Nor are we occupied with considering the relation of soul to form, either that of the One Soul to the many forms, or of an individualised soul to its imprisoning form. The laws we are considering are concerned entirely with inter-soul relationship, and with the synthesis underlying the forms. They govern the conscious contact existing between the many aspects of the One Soul. I have expressed this phrase with care.

Cần nhớ rằng ở đây chúng ta không xem xét phương diện ấy của cung hai vốn đặc biệt liên quan đến hình tướng, và tạo thành tác nhân kết dính, từ tính trong bất kỳ hình tướng nào, dù là nguyên tử, con người hay hệ mặt trời. Ở đây chúng ta không quan tâm đến mối liên hệ giữa các hình tướng, dù điều đó là do năng lượng cung hai gây ra (như thực chất vẫn vậy). Chúng ta cũng không bận tâm xem xét mối liên hệ của linh hồn với hình tướng, dù là của Một Linh Hồn với nhiều hình tướng, hay của một linh hồn biệt ngã hóa với hình tướng giam hãm nó. Các định luật mà chúng ta đang xem xét hoàn toàn liên quan đến mối liên hệ giữa các linh hồn, và đến sự tổng hợp nằm dưới các hình tướng. Chúng chi phối sự tiếp xúc có ý thức hiện hữu giữa nhiều phương diện của Một Linh Hồn. Tôi đã diễn đạt cụm từ này một cách cẩn trọng.

This Law of Magnetic Impulse governs the relation, the interplay, the intercourse, and the interpenetration between the seven groups of souls on the higher levels of the mental plane which constitute the first of the major form differentiations. These we can only study intelligently from the angle of the seven ray groups, as they compose the spiritual aspect of the human family. This law governs also the relationships between souls, who, whilst in manifestation through form, are en rapport with each other. It is a law, therefore, which concerns the inter-relation of all souls within the periphery of what the Christians call “the Kingdom of God.” Through a right understanding of this law, the man arrives at a knowledge of his subjective life; he can wield power subjectively, and thus work consciously in form and with form, yet holding his polarisation and his consciousness in another dimension, and functioning actively behind the scenes. This law concerns those inner esoteric activities which are not primarily related to form life.

Định luật Xung Động Từ Tính này chi phối mối liên hệ, sự tương tác, sự giao tiếp, và sự thâm nhập lẫn nhau giữa bảy nhóm linh hồn trên các cấp độ cao hơn của cõi trí, vốn tạo thành sự biến phân hình tướng lớn đầu tiên. Chúng ta chỉ có thể nghiên cứu chúng một cách thông minh từ góc độ của bảy nhóm cung, vì chúng cấu thành phương diện tinh thần của gia đình nhân loại. Định luật này cũng chi phối các mối liên hệ giữa các linh hồn, những linh hồn mà trong khi đang biểu lộ qua hình tướng, vẫn có sự tương thông với nhau. Vì vậy, đây là một định luật liên quan đến mối tương liên của mọi linh hồn trong chu vi của điều mà người Cơ Đốc gọi là “Thiên Giới.” Qua sự thấu hiểu đúng đắn định luật này, con người đạt đến tri thức về đời sống chủ quan của mình; y có thể vận dụng quyền năng một cách chủ quan, và như thế làm việc một cách có ý thức trong hình tướng và với hình tướng, nhưng vẫn giữ sự phân cực và tâm thức của mình trong một chiều kích khác, và hoạt động tích cực đằng sau hậu trường. Định luật này liên quan đến những hoạt động huyền bí nội môn bên trong, vốn không chủ yếu liên hệ đến đời sống hình tướng.

This law is of major importance because of the fact that Deity itself is on the second ray; because this is a second ray solar system, and therefore all rays and the varying states or groupings of consciousness, and all forms, in or out of physical [111] manifestation, are coloured and dominated by this ray, and therefore again finally controlled by this law. The Law of Magnetic Impulse is in the soul realm what the Law of Attraction is in the world of phenomena. It is, in reality, the subjective aspect of that Law. It is the Law of Attraction as it functions in the kingdom of souls, but because it is functioning on those levels where the “great heresy of separateness” is not to be found, it is difficult for us—with our active, discriminating minds—to understand its implications and its significance. This Law governs the soul realm, to it the Solar Angels respond, and under its stimulation, the egoic lotuses unfold. It could perhaps be best understood if it is considered as—

Định luật này có tầm quan trọng lớn lao vì chính Thượng đế thuộc cung hai; vì đây là một hệ mặt trời cung hai, và do đó mọi cung cùng các trạng thái hay nhóm tâm thức khác nhau, và mọi hình tướng, trong hay ngoài sự biểu hiện hồng trần, đều được nhuốm màu và chi phối bởi cung này, và vì thế rốt cuộc lại bị kiểm soát bởi định luật này. Định luật Xung Động Từ Tính là trong lĩnh vực linh hồn điều mà Định luật Hấp Dẫn là trong thế giới hiện tượng. Thực ra, nó là phương diện chủ quan của Định luật ấy. Nó là Định luật Hấp Dẫn khi vận hành trong giới linh hồn, nhưng vì nó đang vận hành trên những cấp độ nơi “Đại Tà thuyết về sự chia cách” không còn được tìm thấy, nên đối với chúng ta—với các trí tuệ linh hoạt, phân biện của mình—thật khó hiểu được các hàm ý và thâm nghĩa của nó. Định luật này chi phối lĩnh vực linh hồn, các Thái dương Thiên Thần đáp ứng với nó, và dưới sự kích thích của nó, các Hoa Sen Chân Ngã khai mở. Có lẽ có thể hiểu nó rõ nhất nếu xem nó như—

a. The impulsive interplay between souls in form and out of form.

a. Sự tương tác xung động giữa các linh hồn trong hình tướng và ngoài hình tướng.

b. The basis of egoic recognition.

b. Nền tảng của sự nhận biết chân ngã.

c. The factor which produces reorientation in the three worlds.

c. Yếu tố tạo ra sự tái định hướng trong ba cõi thấp.

d. The cause of the magnetic rapport between a Master and His group, or a Master and His disciple.

d. Nguyên nhân của sự tương thông từ tính giữa một Chân sư và nhóm của Ngài, hay một Chân sư và đệ tử của Ngài.

It has an occult name, and we call it “the Law of Polar Union.” Yet when I say to you that this implies the binding of the pairs of opposites, the fusion of the dualities, and the marriage of souls, I have uttered meaningless words, or words which—at the best—embody an ideal which is so closely tied up with material things in the mind of the aspirant, and so connected with the processes of detachment (at which disciples work so strenuously!) that I despair of presenting the truth as it concerns souls and soul relationships.

Nó có một tên gọi huyền bí, và chúng ta gọi nó là “Định luật Hợp Nhất Phân Cực.” Tuy nhiên, khi tôi nói với các bạn rằng điều này hàm ý sự ràng buộc của các cặp đối đãi, sự dung hợp của các nhị nguyên tính, và cuộc hôn phối của các linh hồn, thì tôi đã thốt ra những lời vô nghĩa, hoặc những lời—cùng lắm—chỉ bao hàm một lý tưởng gắn quá chặt với các sự vật vật chất trong trí tuệ của người chí nguyện, và liên hệ quá nhiều với các tiến trình tách rời (mà các đệ tử nỗ lực mãnh liệt đến thế!) đến nỗi tôi tuyệt vọng trong việc trình bày chân lý như nó liên quan đến các linh hồn và các mối liên hệ linh hồn.

This law governs also the relation of the soul of a group to the soul of other groups. It governs the interplay, vital but unrealised yet as a potency, between the soul of the [112] fourth kingdom in nature, the human, and the soul of the three subhuman kingdoms, and likewise that of the three superhuman kingdoms. Owing to the major part which humanity has to play in the great scheme or Plan of God, this is the law which will be the determining law of the race. This will not, however, be the case until the majority of human beings understand something of what it means to function as a soul. Then, under obedience to this law, humanity will act as a transmitter of light, energy and spiritual potency to the subhuman kingdoms, and will constitute a channel of communication between “that which is above and that which is below.” Such is the high destiny before the race.

Định luật này cũng chi phối mối liên hệ của linh hồn một nhóm với linh hồn của các nhóm khác. Nó chi phối sự tương tác, sống động nhưng chưa được nhận ra như một tiềm năng, giữa linh hồn của [112] giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, và linh hồn của ba giới dưới nhân loại, cũng như của ba giới siêu nhân loại. Do vai trò lớn lao mà nhân loại phải đảm nhiệm trong đại hệ hay Thiên Cơ của Thượng đế, đây là định luật sẽ là định luật quyết định của nhân loại. Tuy nhiên, điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi đa số con người hiểu được phần nào ý nghĩa của việc hoạt động như một linh hồn. Khi ấy, dưới sự tuân phục định luật này, nhân loại sẽ hành động như một kẻ truyền dẫn ánh sáng, năng lượng và mãnh lực tinh thần đến các giới dưới nhân loại, và sẽ tạo thành một kênh giao tiếp giữa “điều ở trên” và “điều ở dưới.” Đó là định mệnh cao cả đang ở trước nhân loại.

Just as certain human beings have, through meditation, discipline and service, most definitely made a contact with their own souls, and can therefore become channels for soul expression, and mediums for the distribution into the world of soul energy, so men and women, who are oriented to soul living in their aggregate, form a group of souls, en rapport with the source of spiritual supply. They have, as a group, and from the angle of the Hierarchy, established a contact and are “in touch” with the world of spiritual realities. Just as the individual disciple stabilises this contact and learns to make a rapid alignment and then, and only then, can come into touch with the Master of his group and intelligently respond to the Plan, so does this group of aligned souls come into contact with certain greater Lives and Forces of Light, such as the Christ and the Buddha. The aggregated aspiration, consecration and intelligent devotion of the group carries the individuals of which it is composed to greater heights than would be possible alone. The group stimulation and the united effort sweep the entire group to an intensity of realisation that would otherwise be impossible. Just as the Law [113] of Attraction, working on the physical plane, brought them together as men and women into one group effort, so the Law of Magnetic Impulse can begin to control them when, again as a group and only as a group, they unitedly constitute themselves channels for service in pure self-forgetfulness.

Cũng như một số con người, nhờ tham thiền, kỷ luật và phụng sự, đã hết sức rõ rệt tạo được sự tiếp xúc với chính linh hồn mình, và do đó có thể trở thành những kênh dẫn cho sự biểu lộ của linh hồn, và là những trung gian để phân phối năng lượng linh hồn vào thế gian, thì cũng vậy, những người nam và nữ hướng về đời sống linh hồn trong tổng thể của họ, hợp thành một nhóm các linh hồn, có tương giao với nguồn cung ứng tinh thần. Với tư cách một nhóm, và từ góc độ của Thánh Đoàn, họ đã thiết lập được một sự tiếp xúc và đang “liên hệ” với thế giới của các thực tại tinh thần. Cũng như đệ tử cá nhân làm ổn định sự tiếp xúc này và học cách chỉnh hợp mau lẹ, rồi khi ấy, và chỉ khi ấy, mới có thể tiếp xúc với Chân sư của nhóm mình và đáp ứng một cách thông tuệ với Thiên Cơ, thì nhóm các linh hồn đã chỉnh hợp này cũng tiếp xúc với một số Sự sống và Mãnh lực Ánh sáng lớn lao hơn, như Đức Christ và Đức Phật. Khát vọng, sự thánh hiến và lòng sùng tín thông tuệ được kết hợp của nhóm nâng những cá nhân cấu thành nhóm lên những đỉnh cao lớn hơn điều họ có thể đạt được nếu đơn độc. Sự kích thích của nhóm và nỗ lực hợp nhất cuốn toàn thể nhóm vào một cường độ chứng nghiệm mà nếu không thì không thể có được. Cũng như Định luật [113] Hấp Dẫn, hoạt động trên cõi hồng trần, đã đưa họ lại với nhau như những người nam và nữ trong một nỗ lực nhóm, thì Định luật Xung Động Từ Tính cũng có thể bắt đầu chi phối họ khi, một lần nữa với tư cách một nhóm và chỉ như một nhóm, họ cùng nhau tự cấu thành những kênh dẫn phụng sự trong sự quên mình thuần khiết.

END of LOTSWC 10, 109-113

END of LOTSWC 10, 109-113

Beginning of LOTSWC 11,113

Beginning of LOTSWC 11,113

[-> Bình Giảng 11]

This thought embodies the opportunity immediately before all groups of aspirants and allied men of good will in the world today. If they work together as a group of souls, they can accomplish much. This thought illustrates also the significance of this law which does produce polar union. What is needed to be grasped is that in this work, there is no personal ambition implied, even of a spiritual nature and no personal union sought. This is not the mystical union of the scriptures or of the mystical tradition. It is not alignment and union with a Master’s group, or fusion with one’s inner band of pledged disciples, nor even with one’s own Ray life. All these factors constitute preliminary implications and are of an individual application. Upon this sentence I ask you to ponder. This union is a greater and more vital thing because it is a group union.

Tư tưởng này bao hàm cơ hội đang trực tiếp ở trước mọi nhóm người chí nguyện và những người thiện chí liên kết với nhau trên thế giới ngày nay. Nếu họ cùng làm việc như một nhóm các linh hồn, họ có thể hoàn thành được nhiều điều. Tư tưởng này cũng minh họa ý nghĩa của định luật này, định luật thực sự tạo ra sự hợp nhất cực tính. Điều cần được nắm bắt là trong công việc này không hàm ý tham vọng cá nhân nào, dù mang bản chất tinh thần, và cũng không tìm kiếm sự hợp nhất cá nhân nào. Đây không phải là sự hợp nhất thần bí của kinh điển hay của truyền thống thần bí. Đây không phải là sự chỉnh hợp và hợp nhất với nhóm của một Chân sư, hay sự dung hợp với đoàn đệ tử nội tâm đã thệ nguyện của riêng mình, cũng không phải ngay cả với sự sống cung của chính mình. Tất cả các yếu tố này tạo thành những hàm ý sơ bộ và có tính áp dụng cá nhân. Tôi yêu cầu các bạn suy ngẫm về câu này. Sự hợp nhất này là một điều lớn lao hơn và thiết yếu hơn bởi vì đó là một sự hợp nhất nhóm.

What we are seeking to do is to carry forward a group endeavor which is of such moment that, at the right time, it could produce, in its growing momentum, such a potent, magnetic impulse that it will reach those Lives Who brood over humanity and our civilisation, and Who work through the Masters of the Wisdom and the assembled Hierarchy. This group endeavor will call forth from Them a responsive and magnetic impulse, which will bring together, through the medium of all the aspiring groups, the overshadowing beneficent Forces. Through the concentrated effort of these groups in the world today (who constitute subjectively One Group) light and inspiration and spiritual revelation can be released in such a flood of power that it will work definite changes [114] in the human consciousness and help to ameliorate conditions in this needy world. It will open men’s eyes to the basic realities, which are, as yet, only dimly sensed by the thinking public. Humanity itself must apply the necessary correctives, believing it can do so in the strength of its own sensed wisdom and strength; yet all the time, behind the scenes, stand the grouped world aspirants, working silently, in unison with each other and the Hierarchy, and thus keeping the channel open through which the needed wisdom, strength and love can flow.

Điều chúng ta đang tìm cách thực hiện là thúc đẩy một nỗ lực nhóm có tầm quan trọng đến mức, vào đúng thời điểm, nó có thể tạo ra, trong đà tăng trưởng của nó, một xung động từ tính mạnh mẽ đến nỗi sẽ vươn tới những Sự sống đang phủ bóng lên nhân loại và nền văn minh của chúng ta, và đang hoạt động thông qua các Chân sư Minh Triết và Thánh Đoàn tập hợp. Nỗ lực nhóm này sẽ khơi dậy từ Các Ngài một xung động đáp ứng và từ tính, xung động này sẽ quy tụ, thông qua trung gian của mọi nhóm chí nguyện, các Mãnh lực từ bi đang phủ bóng. Nhờ nỗ lực tập trung của các nhóm này trên thế giới ngày nay (những nhóm chủ quan cấu thành Một Nhóm), ánh sáng, cảm hứng và sự mặc khải tinh thần có thể được giải phóng trong một dòng tuôn đổ mãnh lực đến mức nó sẽ tạo ra những thay đổi rõ rệt [114] trong tâm thức nhân loại và giúp cải thiện các điều kiện trong thế giới đang thiếu thốn này. Nó sẽ mở mắt con người trước những thực tại căn bản mà hiện nay công chúng biết suy nghĩ mới chỉ cảm nhận được một cách mơ hồ. Chính nhân loại phải áp dụng những biện pháp điều chỉnh cần thiết, tin rằng họ có thể làm như vậy bằng sức mạnh của minh triết và sức mạnh mà họ cảm nhận nơi chính mình; tuy nhiên, suốt thời gian ấy, phía sau hậu trường là những người chí nguyện thế giới đang làm việc theo nhóm, âm thầm hoạt động, đồng tâm nhất trí với nhau và với Thánh Đoàn, nhờ đó giữ cho kênh dẫn luôn rộng mở để minh triết, sức mạnh và tình thương cần thiết có thể tuôn chảy qua.

There are, therefore, to be found in this great task the following relations and groupings. These must be considered, and are as follows:

Vì vậy, trong nhiệm vụ lớn lao này có thể thấy những tương quan và những nhóm sau đây. Chúng phải được xem xét, và như sau:

1. The Forces of Light and the Spirit of Peace, embodied Lives of tremendous group potency.

1. Các Mãnh lực Ánh sáng và Đấng Tinh thần Hòa Bình, những Sự sống nhập thể có mãnh lực nhóm vô cùng lớn lao.

2. The Planetary Hierarchy.

2. Thánh Đoàn Hành Tinh.

3. The Buddha.

3. Đức Phật.

4. The Christ.

4. Đức Christ.

5. The New Group of World Servers.

5. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

6. Humanity.

6. Nhân loại.

You will note that the Buddha focusses in Himself the downpouring forces, whilst the Christ focusses in Himself the outgoing demand and the spiritual aspirations of the entire planet. This makes a planetary alignment of great potency. Should the needed work be accomplished, the needed adjustments in the world can be made. The success or failure lies largely in the hands of those scattered but spiritually aligned men and women whom we call the New Group of World Servers.

Các bạn sẽ lưu ý rằng Đức Phật tập trung nơi Chính Ngài các mãnh lực tuôn đổ xuống, trong khi Đức Christ tập trung nơi Chính Ngài nhu cầu hướng ra ngoài và các khát vọng tinh thần của toàn thể hành tinh. Điều này tạo nên một sự chỉnh hợp hành tinh có mãnh lực rất lớn. Nếu công việc cần thiết được hoàn thành, những điều chỉnh cần thiết trong thế giới có thể được thực hiện. Thành công hay thất bại phần lớn nằm trong tay những người nam và nữ phân tán nhưng được chỉnh hợp về mặt tinh thần mà chúng ta gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

In the above tabulation, there is portrayed a little of what is implied in the words “The Law of Polar Union.” The whole process concerns consciousness, and the results worked [115] out in consciousness, with the subsequent physical plane happenings, dependent upon the conscious realisations of the men of good will in, or out of, the New Group of World Servers.

Trong bảng liệt kê trên, một phần nhỏ của điều được hàm ý trong những lời “Định luật Hợp Nhất Cực Tính” đã được phác họa. Toàn bộ tiến trình liên quan đến tâm thức, và các kết quả được thực hiện [115] trong tâm thức, cùng với những biến cố tiếp theo trên cõi hồng trần, đều tùy thuộc vào những chứng nghiệm có ý thức của những người thiện chí ở trong hay ngoài Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

This work, carried forward successfully and intelligently, should make it possible to inaugurate a new relation between the Hierarchy and mankind. This effort could mark (and let us hope it will) the beginning of a new type of mediatory work—a work carried forward by a salvaging group of servers, who are in training for the establishing of that group which will eventually save the world under the Law of Sacrifice. This mediatory work, however, involves the recognition of the Law of Magnetic Impulse, and a desire to understand it, and to cooperate with Those Who wield it. Through its medium and the right understanding of the Law, it should be possible to establish the needed union between the liberated souls (who are in themselves the symbol of the Soul in all forms) and the souls in prison. Much of the success of this planned endeavor depends upon the intellectual grasp of the members of the New Group of World Servers in connection with the necessary technique. It will depend also upon their willingness to accept the idea of the opportunity, and upon their readiness to work along the indicated lines. They have no guarantee as to the accuracy of claims made regarding the importance of this period, nor have they any personal knowledge of the situation as it is here described. Some do not even know that there is a watching Hierarchy, but they are consecrated and selfless souls, and as such, belong to the New Group of World Servers. If they can aspire, pray, meditate and serve, focussing always in unison with all other servers, the salvaging of humanity will go forward with much greater speed than heretofore, and to this call many will respond.

Công việc này, nếu được tiến hành thành công và thông tuệ, sẽ làm cho việc khai mở một mối liên hệ mới giữa Thánh Đoàn và nhân loại trở nên khả hữu. Nỗ lực này có thể đánh dấu (và chúng ta hãy hy vọng là sẽ như vậy) sự khởi đầu của một loại công việc trung gian mới—một công việc được tiến hành bởi một nhóm phụng sự cứu vớt, những người đang được huấn luyện để thiết lập nhóm mà rốt cuộc sẽ cứu thế giới dưới Định luật Hi Sinh. Tuy nhiên, công việc trung gian này bao hàm việc nhìn nhận Định luật Xung Động Từ Tính, cùng với ước muốn thấu hiểu nó và hợp tác với Những Đấng vận dụng nó. Thông qua trung gian của định luật này và sự thấu hiểu đúng đắn về Định luật, sẽ có thể thiết lập sự hợp nhất cần thiết giữa các linh hồn được giải thoát (vốn tự thân là biểu tượng của Linh hồn trong mọi hình tướng) và các linh hồn bị giam cầm. Phần lớn thành công của nỗ lực có kế hoạch này tùy thuộc vào sự nắm bắt bằng trí tuệ của các thành viên trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian liên quan đến kỹ thuật cần thiết. Nó cũng sẽ tùy thuộc vào sự sẵn lòng của họ trong việc chấp nhận ý tưởng về cơ hội này, và vào sự sẵn sàng của họ để làm việc theo những đường lối đã được chỉ ra. Họ không có bảo đảm nào về tính chính xác của những khẳng định được đưa ra liên quan đến tầm quan trọng của giai đoạn này, cũng không có tri thức cá nhân nào về tình hình như được mô tả ở đây. Một số người thậm chí còn không biết rằng có một Thánh Đoàn đang quan sát, nhưng họ là những linh hồn thánh hiến và vô ngã, và với tư cách đó, thuộc về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nếu họ có thể khát vọng, cầu nguyện, tham thiền và phụng sự, luôn luôn tập trung trong sự hợp nhất với mọi người phụng sự khác, thì công cuộc cứu vớt nhân loại sẽ tiến triển nhanh hơn nhiều so với trước đây, và nhiều người sẽ đáp ứng lời kêu gọi này.

[116]

[116]

For the individual disciple, the significance of this Law of Magnetic Impulse and the corresponding relationships in his own life might also be shown in tabulated form:—

Đối với đệ tử cá nhân, ý nghĩa của Định luật Xung Động Từ Tính này và những tương quan tương ứng trong chính đời sống của y cũng có thể được trình bày dưới dạng bảng như sau:—

1. The world of souls on the higher mental levels.

1. Thế giới các linh hồn trên các cấp độ thượng trí.

2. The Master of his group.

2. Chân sư của nhóm y.

3. The solar angel.

3. Thái dương Thiên Thần.

4. The aspiring disciple on the lower mental levels.

4. Đệ tử chí nguyện trên các cấp độ hạ trí.

5. The personality, integrated and often troublesome.

5. Phàm ngã, đã tích hợp và thường gây rắc rối.

6. The aspirant’s environing associates.

6. Những người cộng sự chung quanh người chí nguyện.

It is useful for students to have these analogies in mind, for they can often arrive at release from the limitations of their lives and at a truer comprehension of the larger issues, when they see that their little, unimportant lives are only the reflection of greater and more important factors.

Việc để các đạo sinh ghi nhớ những tương đồng này là hữu ích, vì họ thường có thể đạt đến sự giải thoát khỏi những giới hạn của đời mình và đạt đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về những vấn đề lớn lao hơn, khi họ thấy rằng những cuộc đời nhỏ bé, không quan trọng của họ chỉ là sự phản chiếu của những yếu tố lớn lao và quan trọng hơn.

It is wise always to remember that on the plane of soul existence there is no separation, no “my soul and thy soul.” It is only in the three worlds of illusion and of maya that we think in terms of souls and bodies. This is an occult platitude and well known, but the re-emphasis of the well known truth will sometimes serve to bring home to you its exactitude.

Điều khôn ngoan là luôn ghi nhớ rằng trên cõi hiện hữu của linh hồn không có sự phân ly, không có “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn.” Chỉ trong ba cõi của ảo tưởng và ảo lực mà chúng ta mới suy nghĩ theo các thuật ngữ linh hồn và thể xác. Đây là một lời sáo ngữ huyền bí học và ai cũng biết, nhưng việc nhấn mạnh lại chân lý quen thuộc này đôi khi sẽ giúp các bạn nhận rõ tính chính xác của nó.

The second illustration which may perhaps make clearer the meaning and purpose of this law, and which will be of deep interest to esotericists, is to be found in connection with the symbol that specifies this law in the sacred records and in the archives of the Lodge. It is the symbol of the two balls of fire and the triangle. This has not only a planetary and cosmic significance, but has a very definite relation to the individual unfoldment (in the physical body) of the spiritual life of the disciple. Let me put it very simply. Students know that there are in the head two centres, the ajna centre and the head centre,—two balls of fire, symbolic of the fiery [117] consciousness of the soul, and not of the animal consciousness of the body.

Minh họa thứ hai, có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn ý nghĩa và mục đích của định luật này, và sẽ đặc biệt gây quan tâm sâu sắc cho các nhà bí truyền học, được tìm thấy liên quan đến biểu tượng chỉ rõ định luật này trong các biên niên thiêng liêng và trong các văn khố của Thánh đoàn. Đó là biểu tượng của hai quả cầu lửa và tam giác. Biểu tượng này không những có ý nghĩa hành tinh và vũ trụ, mà còn có một liên hệ rất xác định với sự khai mở cá nhân (trong thể xác) của đời sống tinh thần của đệ tử. Hãy để tôi trình bày thật đơn giản. Các đạo sinh biết rằng trong đầu có hai trung tâm, trung tâm ajna và trung tâm đầu,—hai quả cầu lửa, tượng trưng cho tâm thức rực lửa [117] của linh hồn, chứ không phải của tâm thức thú tính của thể xác.

These two centres (externalised by the two glands, the pineal gland and the pituitary body) become vibrant and alive and intensely active, through service and meditation and right aspiration. A line of contact between them is eventually set up and established with increasing potency. There is also another line of outgoing fiery power toward the top of the spinal column. As the life of the soul gets stronger, the radiance of the centres increases, and the periphery of their sphere of influence is set up, creating a dual magnetic field. Speaking esoterically they are “magnetically impelled towards each other” and towards the stored up energy to be found in the spine, and localised in the five centres up the spine. Eventually the interplay is so powerful that a triangle of force appears within the radius of the magnetic field, and this triangle of light, of living fire, links the three “laya centres.” The symbol is then completed, and the indication is that the disciple is now controlled by the subjective side of his nature. He is now governed by the Law of Magnetic Impulse (as the linking of the head centres demonstrates) and the two aspects of his nature, higher and lower, which constitute the two poles with which he is concerned, are now united. The polar union has been brought about. The subject of this magnetic interplay offers food for thought and indicates the way of group, and of individual service. As the individual aspirants lose sight of self in service, and as they arrive at the stage of indifference to personality claims and happenings, they learn to cherish a spirit of confidence, of joy and of love, deep and lasting, for each other; they learn to work together whole-heartedly for the helping of the world and the assistance of the Hierarchy.

Hai trung tâm này (được ngoại hiện qua hai tuyến, tuyến tùng quả và tuyến yên) trở nên rung động, sống động và hoạt động mãnh liệt nhờ phụng sự, tham thiền và khát vọng chân chính. Một đường tiếp xúc giữa chúng cuối cùng được thiết lập và củng cố với mãnh lực ngày càng tăng. Cũng còn có một đường mãnh lực lửa khác hướng ra ngoài về phía đỉnh cột sống. Khi sự sống của linh hồn trở nên mạnh hơn, bức xạ của các trung tâm gia tăng, và chu vi của khối cầu ảnh hưởng của chúng được thiết lập, tạo nên một từ trường kép. Nói theo cách huyền bí, chúng “được xung động từ tính thúc đẩy hướng về nhau” và hướng về năng lượng tích trữ được tìm thấy trong cột sống, được định vị trong năm trung tâm dọc theo cột sống. Cuối cùng, sự tương tác trở nên mạnh mẽ đến mức một tam giác lực xuất hiện trong bán kính của từ trường, và tam giác ánh sáng này, của lửa sống, nối kết ba “trung tâm laya.” Khi ấy biểu tượng được hoàn tất, và dấu hiệu cho thấy đệ tử hiện nay được kiểm soát bởi phương diện chủ quan của bản chất mình. Giờ đây y được chi phối bởi Định luật Xung Động Từ Tính (như sự nối kết của các trung tâm đầu chứng minh) và hai phương diện của bản chất y, cao và thấp, vốn cấu thành hai cực mà y quan tâm, nay đã được hợp nhất. Sự hợp nhất cực tính đã được mang lại. Chủ đề về sự tương tác từ tính này đem lại nhiều điều đáng suy ngẫm và chỉ ra con đường phụng sự của nhóm và của cá nhân. Khi những người chí nguyện cá nhân không còn để mắt đến bản thân trong phụng sự, và khi họ đạt đến giai đoạn điềm nhiên trước những đòi hỏi và biến cố của phàm ngã, họ học cách nuôi dưỡng nơi nhau một tinh thần tin cậy, hoan hỉ và tình thương sâu xa, bền vững; họ học cách cùng nhau làm việc hết lòng để giúp đỡ thế giới và hỗ trợ Thánh Đoàn.

{END LOTSWC 11, 113-118

{END LOTSWC 11, 113-118

Beginning of LOTSWC 12,118—Law of Service

Beginning of LOTSWC 12,118—Law of Service

[118]

[118]

[-> Bình Giảng 12]

3. The Law of Service—Địnhluật Phụng sự

No.

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

3.

Law of Service.

Law of water and the fishes.

A man with a pot of water

Outpouring Energy Sixth Ray. Vivifying Life

3.

Định Luật Phụng Sự.

Định luật của nước và cá.

Một người đàn ông với bình nước

Năng lượng Tuôn Đổ Cung Sáu. Sự Sống Làm Sống Động

We come now to the consideration of the third Law of the Soul, which is intended to govern all soul activity. It is the Law of Service. However, before we elaborate this theme, there are three things which I seek to say and which merit our careful attention.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét Định luật thứ ba của Linh hồn, định luật được dự định để chi phối mọi hoạt động của linh hồn. Đó là Định luật Phụng sự. Tuy nhiên, trước khi khai triển chủ đề này, có ba điều tôi muốn nói và đáng để chúng ta chú ý cẩn trọng.

First, is the fact that the result of all contact achieved in meditation and the measure of our success, will be determined by the ensuing service to the race. If there is right understanding, there will necessarily be right action.

Thứ nhất là sự kiện rằng kết quả của mọi tiếp xúc đạt được trong tham thiền và mức độ thành công của chúng ta sẽ được quyết định bởi sự phụng sự tiếp theo dành cho nhân loại. Nếu có sự thấu hiểu đúng đắn, tất yếu sẽ có hành động đúng đắn.

It has previously been pointed out that the three great sciences which will come to the fore in the New Age, and which will lead humanity from the unreal to the real, and from aspiration to realisation are

Trước đây đã chỉ ra rằng ba khoa học lớn sẽ nổi lên trong Kỷ nguyên Mới, và sẽ dẫn dắt nhân loại từ cái không thực đến cái thực, và từ khát vọng đến chứng nghiệm là

1. The science of Meditation, the coming science of the mind.

1. Khoa học Tham Thiền, khoa học sắp đến của trí tuệ.

2. The science of Antaskarana, or the science of the bridging which must take place between higher and lower mind.

2. Khoa học Antaskarana, hay khoa học về sự bắt cầu phải diễn ra giữa thượng trí và hạ trí.

3. The science of Service, which is a definite technique of at-one-ment.

3. Khoa học Phụng sự, vốn là một kỹ thuật xác định của sự hợp nhất.

We shall now consider the broad outlines of this science, for it is the major releasing factor in the disciple’s life.

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét những nét đại cương của khoa học này, vì nó là yếu tố giải phóng chủ yếu trong đời sống của đệ tử.

Secondly, this Law of Service is something which may not be escaped. Evasion brings its penalties, if that evasion is conscious. Ability to serve marks a definite stage of advance upon the Path, and until that stage is reached, spontaneous [119] service, rendered in love and guided by wisdom, cannot be given. What is found up to that time is good intention, mixed motives, and oft fanaticism. This we will later elucidate.

Thứ hai, Định luật Phụng sự này là điều không thể trốn tránh. Sự né tránh mang lại những hình phạt của nó, nếu sự né tránh ấy là có ý thức. Khả năng phụng sự đánh dấu một giai đoạn tiến bộ xác định trên Con Đường, và cho đến khi đạt đến giai đoạn ấy, sự phụng sự tự phát [119] được thực hiện trong tình thương và được minh triết hướng dẫn không thể được ban ra. Điều được tìm thấy cho đến lúc đó là thiện ý, động cơ pha tạp, và thường là cuồng tín. Điều này chúng ta sẽ làm sáng tỏ sau.

This law is the imposition upon the planetary rhythm of certain energies and impulses which emanate from that sign of the zodiac into which we are steadily moving. Therefore, there is no escape. It is the effect of this force which, in some countries, is regimenting the masses in such a way that the individual serves the group by a forced negation of his personal self. His own ideas, his own personal well being and his own individuality are subordinated to the whole, and he is rendered relatively futile from the angle of his soul unfoldment. He is forced to conform, willingly or unwillingly to group conditions. This is one of the lowest manifestations of the impact of this law upon the human consciousness. In its highest expression, we have the service rendered upon the planet in all the kingdoms of nature by the Hierarchy of Masters. Between these two extreme expressions, there is a vast distinction, but both are equally brought about by response (the one consciously rendered and the other unconsciously directed) to the Law of Service.

Định luật này là sự áp đặt lên nhịp điệu hành tinh của một số năng lượng và xung động phát ra từ dấu hiệu hoàng đạo mà chúng ta đang đều đặn tiến vào. Vì vậy, không có lối thoát. Chính tác động của mãnh lực này, tại một số quốc gia, đang tổ chức quần chúng theo cách mà cá nhân phụng sự nhóm bằng sự phủ nhận cưỡng bách bản ngã cá nhân của mình. Những ý tưởng riêng của y, phúc lợi cá nhân riêng của y và cá thể tính riêng của y bị đặt dưới toàn thể, và y trở nên tương đối vô dụng từ góc độ sự khai mở linh hồn của mình. Y bị buộc phải tuân theo các điều kiện nhóm, dù muốn hay không. Đây là một trong những biểu hiện thấp nhất của tác động của định luật này lên tâm thức nhân loại. Trong biểu hiện cao nhất của nó, chúng ta có sự phụng sự được thực hiện trên hành tinh trong mọi giới của thiên nhiên bởi Thánh Đoàn các Chân sư. Giữa hai biểu hiện cực đoan này có một sự khác biệt rất lớn, nhưng cả hai đều được mang lại như nhau bởi sự đáp ứng (một bên được thực hiện có ý thức và bên kia được hướng dẫn vô thức) đối với Định luật Phụng sự.

Thirdly this Law of Service was expressed for the first time fully by the Christ two thousand years ago. He was the forerunner of the Aquarian Age, and hence His constant emphasis upon the fact that He was the “water of life”, the “living water” which men needed. Hence the esoteric name of this law is that of “water and the fishes.” The Piscean age slowly, very slowly, prepared the way for the divine expression of service, which will be the glory of the coming centuries. Today, we have a world which is steadily coming to the realisation that “no man liveth unto himself”, and that only as the love, about which so much has been written and [120] spoken, finds its outlet in service, can man begin to measure up to his innate capacity.

Thứ ba, Định luật Phụng sự này đã được Đức Christ biểu lộ trọn vẹn lần đầu tiên cách đây hai ngàn năm. Ngài là vị tiền phong của Kỷ nguyên Bảo Bình, và do đó Ngài luôn nhấn mạnh sự kiện rằng Ngài là “nước sự sống”, là “nước hằng sống” mà con người cần đến. Vì vậy, tên gọi huyền bí của định luật này là “nước và những con cá.” Kỷ nguyên Song Ngư đã chậm rãi, rất chậm rãi, chuẩn bị con đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của phụng sự, điều sẽ là vinh quang của những thế kỷ sắp tới. Ngày nay, chúng ta có một thế giới đang dần đi đến chứng nghiệm rằng “không ai sống cho riêng mình”, và chỉ khi tình thương, điều đã được viết và [120] nói đến quá nhiều, tìm được lối thoát trong phụng sự, thì con người mới có thể bắt đầu đo lường đúng năng lực bẩm sinh của mình.

The sign for the Aquarian Age is that of a man, carrying on his shoulders a jar of water so full that it pours over to all and sundry, and yet it diminishes not. The sign for this Law of Service is very similar, but the difference lies in this; that the man stands, perfectly balanced in the form of a cross, with arms stretched out and with the water pot upon his head. In this difference there lies much of real significance. The jar of water, posed upon the shoulders, is a sign of the burden of service. It is not easy to serve. Man is today only beginning to learn how to serve. The jar of water upon the head of the man, who has been upon the cross of sacrifice for so long a time that the position has become to him perfectly natural, indicates that the cross, which has upheld him for so long, has now disappeared. The man with the water jar upon his head indicates to us poise, equilibrium and balance. For this balance, the understanding of the Law of Magnetic Impulse has prepared him. That is the Law of Polar Union and its symbol is the originator of the zodiacal sign for the constellation Libra—balance and service. These are the two expressions of Divinity which are, today, man’s next great objective.

Biểu tượng của Kỷ nguyên Bảo Bình là một người đàn ông mang trên vai một vò nước đầy đến nỗi tràn ra cho mọi người, mọi nơi, mà vẫn không vơi. Biểu tượng của Định luật Phụng sự này rất tương tự, nhưng khác biệt nằm ở chỗ này: người ấy đứng, hoàn toàn quân bình trong hình dạng một thập giá, hai tay dang rộng và vò nước đặt trên đầu. Trong sự khác biệt này có nhiều thâm nghĩa chân thực. Vò nước đặt trên vai là dấu hiệu của gánh nặng phụng sự. Phụng sự không phải là điều dễ dàng. Ngày nay con người mới chỉ bắt đầu học cách phụng sự. Vò nước trên đầu người đã ở trên thập giá hi sinh quá lâu đến nỗi tư thế ấy đã trở nên hoàn toàn tự nhiên đối với y, cho thấy rằng thập giá đã nâng đỡ y quá lâu nay đã biến mất. Người mang vò nước trên đầu cho chúng ta thấy sự điềm tĩnh, quân bình và thăng bằng. Chính sự thấu hiểu Định luật Xung Động Từ Tính đã chuẩn bị y cho sự quân bình này. Đó là Định luật Hợp Nhất Cực Tính và biểu tượng của nó là nguồn gốc của dấu hiệu hoàng đạo cho chòm sao Libra—sự quân bình và phụng sự. Đó là hai biểu lộ của thiên tính mà ngày nay là mục tiêu lớn kế tiếp của con người.

Service is usually interpreted as exceedingly desirable and it is seldom realised how very difficult service essentially is. It involves so much sacrifice of time and of interest and of one’s own ideas, it requires exceedingly hard work, because it necessitates deliberate effort, conscious wisdom, and the ability to work without attachment. These qualities are not easy of attainment by the average aspirant, and yet today the tendency to serve is an attitude which is true of a vast majority of the people in the world. Such has been the success of the evolutionary process.

Phụng sự thường được giải thích là điều hết sức đáng mong muốn và hiếm khi người ta nhận ra phụng sự về bản chất khó khăn biết bao. Nó bao hàm quá nhiều sự hi sinh thời gian, mối quan tâm và những ý tưởng riêng của mình; nó đòi hỏi công việc cực kỳ nặng nhọc, vì nó cần đến nỗ lực có chủ ý, minh triết có ý thức, và khả năng làm việc mà không dính mắc. Những phẩm tính này không dễ đạt được đối với người chí nguyện trung bình, thế nhưng ngày nay khuynh hướng phụng sự là một thái độ đúng với đại đa số con người trên thế giới. Đó chính là mức thành công của tiến trình tiến hoá.

[121]

[121]

Service is frequently regarded as an endeavor to bring people around to the point of view of the one who serves, because what the would-be server has found to be good and true and useful, must necessarily be good and true and useful for all. Service is viewed as something we render to the poor, the afflicted, the diseased and the unhappy, because we think we want to help them, little realising that primarily this help is offered because we ourselves are made uncomfortable by distressing conditions, and must therefore endeavor to ameliorate those conditions in order ourselves to be comfortable again. The act of thus helping releases us from our misery, even if we fail to release or relieve the sufferers.

Phụng sự thường được xem như một nỗ lực nhằm đưa người khác đến với quan điểm của người đang phụng sự, bởi vì điều mà người muốn phụng sự đã thấy là tốt, đúng và hữu ích thì tất yếu cũng phải tốt, đúng và hữu ích cho mọi người. Phụng sự được nhìn như một điều chúng ta làm cho người nghèo, người đau khổ, người bệnh tật và người bất hạnh, bởi vì chúng ta nghĩ rằng mình muốn giúp họ, mà ít nhận ra rằng trước hết sự giúp đỡ này được đưa ra vì chính chúng ta cảm thấy khó chịu trước những hoàn cảnh đau lòng, và do đó phải cố gắng cải thiện những hoàn cảnh ấy để chính mình lại được dễ chịu. Hành động giúp đỡ như thế giải thoát chúng ta khỏi nỗi khổ của mình, ngay cả khi chúng ta không giải thoát hay làm vơi nhẹ được nỗi khổ của những người đang đau đớn.

Service is frequently an indication of a busy and overactive temperament, or of a self-satisfied disposition, which leads its possessor to a strenuous effort to change situations, and make them what he feels they should be, thus forcing people to conform to that which the server feels should be done.

Phụng sự thường là dấu hiệu của một khí chất bận rộn và quá năng động, hoặc của một tính nết tự mãn, khiến người sở hữu nó nỗ lực căng thẳng để thay đổi các tình huống và làm cho chúng trở thành điều y cảm thấy chúng phải là, do đó ép buộc người khác phải tuân theo điều mà người phụng sự cảm thấy cần phải làm.

Or again, service can grow out of a fanatical desire to tread in the footsteps of the Christ, that great Son of God Who “went about doing good”, leaving an example that we should follow in His footsteps. People, therefore, serve from a sense of obedience, and not from a spontaneous outgoing towards the needy. The essential quality for service is, therefore, lacking, and from the start they fail to do more than make certain gestures. Service can likewise be rendered from a deep seated desire for spiritual perfection. It is regarded as one of the necessary qualifications for discipleship and, therefore, if one is to be a disciple, one must serve. This theory is correct, but the living substance of service is lacking. The ideal is right and true and meritorious, but the motive behind it all is entirely wrong. Service can also be rendered because [122] it is becoming increasingly the fashion and the custom to be occupied with some form of service. The tide is on. Everybody is actively serving in welfare movements, in philanthropic endeavors, in Red Cross work, in educational uplifts, and in the task of ameliorating distressing world conditions. It is fashionable to serve in some way. Service gives a sense of power; service brings one friends; service is a form of group activity, and frequently brings far more to the server (in a worldly sense) than to the served.

Hoặc nữa, phụng sự có thể phát sinh từ một ước muốn cuồng tín là bước theo dấu chân của Đức Christ, Con vĩ đại của Thượng đế, Đấng “đi khắp nơi làm điều lành”, để lại một tấm gương mà chúng ta phải noi theo dấu chân của Ngài. Vì vậy, người ta phụng sự từ ý thức vâng phục, chứ không phải từ một sự hướng ra tự phát đến với người đang cần. Do đó, phẩm tính cốt yếu cho phụng sự bị thiếu vắng, và ngay từ đầu họ đã không làm được gì hơn ngoài một vài cử chỉ nhất định. Phụng sự cũng có thể được thực hiện từ một ước muốn sâu kín về sự hoàn thiện tinh thần. Nó được xem là một trong những điều kiện cần thiết cho địa vị đệ tử, và vì vậy, nếu một người muốn là đệ tử, người ấy phải phụng sự. Lý thuyết này là đúng, nhưng chất liệu sống động của phụng sự lại thiếu vắng. Lý tưởng là đúng, chân thực và đáng khen, nhưng động cơ đằng sau tất cả lại hoàn toàn sai lầm. Phụng sự cũng có thể được thực hiện vì [122] ngày càng trở thành mốt và tập quán khi bận rộn với một hình thức phụng sự nào đó. Làn sóng ấy đang dâng lên. Mọi người đều đang tích cực phụng sự trong các phong trào phúc lợi, trong những nỗ lực từ thiện, trong công tác Hồng Thập Tự, trong việc nâng cao giáo dục, và trong nhiệm vụ cải thiện những điều kiện đau khổ của thế giới. Phụng sự theo một cách nào đó là điều hợp thời. Phụng sự đem lại cảm giác quyền lực; phụng sự mang đến bạn bè; phụng sự là một hình thức hoạt động nhóm, và thường đem lại cho người phụng sự (theo nghĩa thế tục) nhiều hơn cho người được phụng sự.

And yet, in spite of all this which indicates wrong motives and false aspiration, service of a kind is constantly and readily being rendered. Humanity is on its way to a right understanding of services; it is becoming responsive to this new law and is learning to react to the steadily imposing will of that great Life who informs the constellation Aquarius, just as our solar Logos informs our solar system and our planetary Logos informs our earth planet.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả những điều này vốn cho thấy những động cơ sai lầm và khát vọng giả tạo, một loại phụng sự nào đó vẫn đang liên tục và dễ dàng được thực hiện. Nhân loại đang trên đường đi đến một sự thấu hiểu đúng đắn về phụng sự; họ đang trở nên đáp ứng với định luật mới này và đang học cách phản ứng trước ý chí ngày càng áp đặt của Sự sống vĩ đại đang thấm nhuần chòm sao Aquarius, cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta thấm nhuần hệ mặt trời của chúng ta và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thấm nhuần hành tinh Trái Đất của chúng ta.

The idea of service is, at this time, the major idea to be grasped for (in grasping it) we open ourselves wide to the new incoming influences. The Law of Service is the expression of the energy of a great Life, who, in cooperation with Him “in Whom we live and move and have our being”, is subjecting the human family to certain influences and streams of energy which will eventually do three things:—

Ý tưởng về phụng sự, vào lúc này, là ý tưởng chủ yếu cần được nắm bắt vì (trong việc nắm bắt nó) chúng ta mở rộng chính mình trước những ảnh hưởng mới đang đi vào. Định luật Phụng sự là sự biểu lộ năng lượng của một Sự sống vĩ đại, Đấng, trong sự hợp tác với Đấng “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”, đang đặt gia đình nhân loại dưới những ảnh hưởng và những dòng năng lượng mà cuối cùng sẽ làm ba điều:—

1. Awaken the heart centre in all aspirants and disciples.

1. Đánh thức trung tâm tim nơi mọi người chí nguyện và đệ tử.

2. Enable emotionally polarised humanity to focus intelligently in the mind.

2. Làm cho nhân loại phân cực cảm xúc có thể tập trung một cách thông tuệ trong trí tuệ.

3. Transfer the energy of the solar plexus into the heart.

3. Chuyển dịch năng lượng của tùng thái dương vào tim.

This unfolding of what we might call “the consciousness of the heart” or the development of true feeling is the first step towards group awareness. This group awareness and this [123] identification with the feeling aspect of all groups is the quality which leads to service—a service to be rendered as the Masters render it, and as the Christ demonstrated it for us in Galilee.

Sự khai mở của điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm thức của tim” hay sự phát triển của cảm nhận chân thực là bước đầu tiên hướng tới nhận thức nhóm. Nhận thức nhóm này và sự [123] đồng hoá với phương diện cảm nhận của mọi nhóm là phẩm tính dẫn đến phụng sự—một sự phụng sự được thực hiện như các Chân sư thực hiện, và như Đức Christ đã minh chứng cho chúng ta tại Galilee.

a. SOME QUESTIONS ON SERVICE—MỘT SỐ CÂU HỎI VỀ PHỤNG SỰ

Therefore, the service rendered today is what it is because the response of men to these new Aquarian influences is being registered at present in the astral body and is working out through the solar plexus. This accounts for the emotional nature of most of the service rendered in the world at this time; it is responsible for the hatred engendered by those who react sensitively to suffering and who, because of their emotional identification with suffering, lay the blame for the distressing conditions encountered upon a person or a group of persons. It is responsible also for the generally unsatisfactory nature of much of that which is now being done to relieve conditions. It is unsatisfactory from the higher angle of the soul.

Vì vậy, sự phụng sự được thực hiện ngày nay là như thế bởi vì sự đáp ứng của con người đối với những ảnh hưởng mới của Bảo Bình hiện đang được ghi nhận trong thể cảm dục và đang biểu lộ qua tùng thái dương. Điều này giải thích bản chất cảm xúc của phần lớn sự phụng sự đang được thực hiện trên thế giới vào lúc này; nó chịu trách nhiệm cho lòng căm ghét được khơi lên nơi những người phản ứng nhạy bén trước đau khổ và những người, vì đồng hoá cảm xúc với đau khổ, quy trách nhiệm về những điều kiện đau lòng mà họ gặp phải cho một cá nhân hay một nhóm người. Nó cũng chịu trách nhiệm cho bản chất nhìn chung không thỏa đáng của phần lớn những gì hiện đang được làm để làm nhẹ bớt các điều kiện ấy. Nó không thỏa đáng từ góc độ cao hơn của linh hồn.

When, however, the service rendered is based upon a mental response to humanity’s need, then the whole problem is lifted out of the veil of illusion and out of the valley of the world glamour. Then the impulses to serve are registered in the heart centre and not in the solar plexus, and when this is more generally the case, then we shall have a happier and more successful demonstration of service.

Tuy nhiên, khi sự phụng sự được thực hiện dựa trên một sự đáp ứng trí tuệ đối với nhu cầu của nhân loại, thì toàn bộ vấn đề được nâng ra khỏi bức màn ảo tưởng và ra khỏi thung lũng ảo cảm của thế gian. Khi ấy, các xung động phụng sự được ghi nhận trong trung tâm tim chứ không phải trong tùng thái dương, và khi điều này trở nên phổ biến hơn, thì chúng ta sẽ có một sự biểu lộ phụng sự hạnh phúc hơn và thành công hơn.

In this Treatise I seek to be intensely practical, for this new science of service must be based on right foundations and on sound understanding. Perhaps the simplest way in which I can handle a theme so new and yet so hackneyed is by formulating certain questions and then answering them as fully and as concisely as possible.

Trong bộ Luận này, tôi tìm cách hết sức thực tiễn, vì khoa học mới về phụng sự này phải được đặt trên những nền tảng đúng đắn và trên sự thấu hiểu vững chắc. Có lẽ cách đơn giản nhất để tôi xử lý một chủ đề vừa mới mẻ vừa đã bị nói đến quá nhiều này là nêu ra một số câu hỏi rồi trả lời chúng đầy đủ và ngắn gọn nhất có thể.

[124]

[124]

1. How do we define the word “service”?

1. Chúng ta định nghĩa từ “phụng sự” như thế nào?

2. What is the field of this science and why do we call it a science?

2. Lĩnh vực của khoa học này là gì và tại sao chúng ta gọi nó là một khoa học?

3. What are the characteristics of the true server?

3. Những đặc tính của người phụng sự chân chính là gì?

4. What effect does service have?

4. Phụng sự có tác động gì?

a. On the mind?

a. Đối với trí tuệ?

b. On the emotions?

b. Đối với cảm xúc?

c. On the etheric body?

c. Đối với thể dĩ thái?

5. Does this science prove that the seven key or ray types employ distinctive methods in their service?

5. Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại chủ yếu hay các loại cung sử dụng những phương pháp đặc thù trong sự phụng sự của họ không?

The consideration of these questions will enable me to do three things:

Việc xem xét những câu hỏi này sẽ cho phép tôi làm ba điều:

1. Show in my answers to each question that service is not a sentiment or an ideal, but that it is an effect and a scientific procedure at the same time.

1. Chỉ ra trong các câu trả lời của tôi cho từng câu hỏi rằng phụng sự không phải là một tình cảm hay một lý tưởng, mà đồng thời là một hiệu quả và một tiến trình khoa học.

2. Indicate the need today for the right understanding of a technique which, when applied by the New Group of World Servers, will lead humanity into the world of true meaning and of real values. I will seek to show how the New Group of World Servers will work.

2. Chỉ ra nhu cầu ngày nay về sự thấu hiểu đúng đắn một kỹ thuật mà khi được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian áp dụng, sẽ dẫn dắt nhân loại vào thế giới của ý nghĩa chân thực và của những giá trị thực sự. Tôi sẽ tìm cách chỉ ra Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ hoạt động như thế nào.

3. Give some idea of how certain groups of the Masters of the Wisdom serve upon our planet at this time.

3. Đưa ra một vài ý niệm về cách một số nhóm của các Chân sư Minh Triết đang phụng sự trên hành tinh của chúng ta vào lúc này.

[End LOTSWC 12, 124,

[End LOTSWC 12, 124,

Beginning LOTWC 13, EP II 124

Beginning LOTWC 13, EP II 124

[-> Bình Giảng 13]

In answering these questions, we will proceed to take them one by one.

Khi trả lời những câu hỏi này, chúng ta sẽ lần lượt xét từng câu một.

How do we define the word “Service”?

Chúng ta định nghĩa từ “Phụng sự” như thế nào?

The definition of this word is not easy. There has been too much attempt to define it from the angle of personality knowledge. Service can be briefly defined as the spontaneous effect of soul contact. This contact is so definite and fixed that the life of the soul can pour through into the instrument [125] which the soul must perforce use upon the physical plane. It is the manner whereby the nature of that soul can demonstrate in the world of human affairs. Service is not a quality or a performance; it is not an activity towards which people must strenuously strive, nor is it a method of world salvage. This distinction must be clearly grasped, or else our whole attitude to this momentous demonstration of the success of the evolutionary process in humanity will be at fault. Service is a life demonstration. It is a soul urge, and is as much an evolutionary impetus of the soul as the urge to self-preservation or to the reproduction of the species is a demonstration of the animal soul. This is a statement of importance. It is a soul instinct, if we may use such an inadequate expression and is, therefore, innate and peculiar to soul unfoldment. It is the outstanding characteristic of the soul, just as desire is the outstanding characteristic of the lower nature. It is group desire, just as in the lower nature it is personality desire. It is the urge to group good. It cannot, therefore, be taught or imposed upon a person as a desirable evidence of aspiration, functioning from without and based upon a theory of service. It is simply the first real effect, evidenced upon the physical plane, of the fact that the soul is beginning to express itself in outer manifestation.

Việc định nghĩa từ này không dễ. Đã có quá nhiều cố gắng định nghĩa nó từ góc độ tri thức của phàm ngã. Có thể định nghĩa ngắn gọn phụng sự là hiệu quả tự phát của sự tiếp xúc với linh hồn. Sự tiếp xúc này rõ rệt và vững chắc đến mức đời sống của linh hồn có thể tuôn chảy qua vận cụ mà linh hồn bắt buộc phải sử dụng trên cõi hồng trần. Đó là cách mà bản chất của linh hồn ấy có thể biểu lộ trong thế giới của các công việc nhân loại. Phụng sự không phải là một phẩm tính hay một sự thực hiện; nó không phải là một hoạt động mà con người phải cố gắng căng thẳng để đạt tới, cũng không phải là một phương pháp cứu vớt thế giới. Sự phân biệt này phải được nắm bắt rõ ràng, nếu không toàn bộ thái độ của chúng ta đối với sự biểu lộ trọng đại này của thành công của tiến trình tiến hoá trong nhân loại sẽ sai lệch. Phụng sự là một sự biểu lộ của đời sống. Nó là một thúc đẩy của linh hồn, và cũng là một xung lực tiến hoá của linh hồn y như thúc đẩy tự bảo tồn hay sinh sản nòi giống là một biểu lộ của hồn thú. Đây là một phát biểu quan trọng. Nó là một bản năng của linh hồn, nếu chúng ta có thể dùng một cách diễn đạt không đầy đủ như vậy, và do đó là bẩm sinh và đặc thù cho sự khai mở của linh hồn. Nó là đặc tính nổi bật của linh hồn, cũng như dục vọng là đặc tính nổi bật của bản chất thấp. Nó là dục vọng nhóm, cũng như trong bản chất thấp đó là dục vọng phàm ngã. Nó là thúc đẩy hướng đến thiện ích của nhóm. Vì vậy, nó không thể được dạy hay áp đặt lên một người như một bằng chứng đáng mong muốn của khát vọng, hoạt động từ bên ngoài và dựa trên một lý thuyết về phụng sự. Nó chỉ đơn giản là hiệu quả thực sự đầu tiên, được biểu lộ trên cõi hồng trần, của sự kiện rằng linh hồn đang bắt đầu biểu lộ chính nó trong sự biểu hiện bên ngoài.

Neither theory nor aspiration will or can make a man a real server. How then is it that there is so much activity in service demonstrating in the world today?

Không lý thuyết cũng không khát vọng nào sẽ hay có thể làm cho một người trở thành một người phụng sự chân chính. Vậy thì tại sao ngày nay lại có quá nhiều hoạt động phụng sự đang biểu lộ trên thế giới?

Simply because the life, words and deeds of the worlds first Great Server, of the One Who came to make clear to us what service essentially is, has necessarily had an effect, and men today are earnestly attempting to imitate His example, little realising that imitation does not net them the true results, but only indicates to them a growing possibility.

Chỉ đơn giản vì đời sống, lời nói và hành động của Đấng Phụng Sự Vĩ Đại đầu tiên của thế giới, của Đấng đã đến để làm sáng tỏ cho chúng ta phụng sự thực chất là gì, tất yếu đã tạo ra một ảnh hưởng, và ngày nay con người đang tha thiết cố gắng bắt chước tấm gương của Ngài, mà ít nhận ra rằng sự bắt chước không đem lại cho họ những kết quả chân thực, mà chỉ cho họ thấy một khả năng đang lớn dần.

[126]

[126]

All these laws of the Soul (and the Law of Service is no exception) manifest inevitably in two ways. First, there is their effect upon the individual. This occurs when the soul has been definitely contacted and the mechanism of the soul begins to respond. Evidence of this should work out now among the esoteric students, scattered over the world, for they have reached a point where the true server can emerge from their ranks, and give evidence of an established soul contact. Secondly, these soul laws are beginning to have a group effect in humanity itself, and to influence the race of men as a whole. This effect is somewhat in the nature of a reflection in the lower nature of a higher consciousness, and therefore today we have much running after service, and much philanthropic effort. All of it is, however, deeply coloured by personality, and it often produces much harm, for people seek to impose their ideas of service and their personal techniques upon other aspirants. They may have become sensitive to impression, but they oft-times misinterpret the truth and are biassed by personality ends. They must learn to lay the emphasis upon soul contact and upon an active familiarity with the egoic life, and not upon the form side of service. May I beg those of you who respond to these ideas and are sensitive to soul impression (oft-times misinterpreting the truth, being biassed by personality ends) to lay the emphasis upon soul contact and not upon the form side of service. Activity of the form side lays stress upon personality ambition, veiling them with the glamour of service. If care over the essential of service—soul contact—is taken, then the service rendered will flow with spontaneity along the right lines and bear much fruit. Of this, the selfless service and the deep flow of spiritual life, which have been demonstrated in the world work of late, is a hopeful indication.

Tất cả các định luật này của linh hồn (và Định luật Phụng sự cũng không phải là ngoại lệ) tất yếu biểu hiện theo hai cách. Thứ nhất, đó là tác động của chúng lên cá nhân. Điều này xảy ra khi linh hồn đã được tiếp xúc một cách rõ rệt và bộ máy của linh hồn bắt đầu đáp ứng. Hiện nay, bằng chứng về điều này cần phải được thể hiện nơi các đạo sinh huyền bí học, rải rác khắp thế giới, vì họ đã đạt đến một điểm mà người phụng sự chân chính có thể xuất hiện từ hàng ngũ của họ, và chứng tỏ một sự tiếp xúc linh hồn đã được thiết lập. Thứ hai, các định luật linh hồn này đang bắt đầu tạo ra một tác động nhóm trong chính nhân loại, và ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại nói chung. Tác động này phần nào có tính chất như một sự phản chiếu trong bản chất thấp của một tâm thức cao hơn, và vì vậy ngày nay chúng ta thấy có rất nhiều sự chạy theo phụng sự, và nhiều nỗ lực từ thiện. Tuy nhiên, tất cả điều đó đều bị nhuốm đậm bởi phàm ngã, và thường gây ra nhiều tổn hại, vì người ta tìm cách áp đặt các ý tưởng của mình về phụng sự và các kỹ thuật cá nhân của mình lên những người chí nguyện khác. Họ có thể đã trở nên nhạy cảm với sự cảm ứng, nhưng nhiều khi họ diễn giải sai chân lý và bị thiên lệch bởi các mục đích của phàm ngã. Họ phải học cách đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc linh hồn và vào sự quen thuộc năng động với đời sống chân ngã, chứ không phải vào phương diện hình tướng của sự phụng sự. Tôi có thể khẩn cầu những ai trong các bạn đáp ứng với những ý tưởng này và nhạy cảm với sự cảm ứng của linh hồn (nhiều khi diễn giải sai chân lý, bị thiên lệch bởi các mục đích của phàm ngã) hãy đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc linh hồn chứ không phải vào phương diện hình tướng của sự phụng sự. Hoạt động của phương diện hình tướng nhấn mạnh tham vọng của phàm ngã, che phủ chúng bằng ảo cảm của sự phụng sự. Nếu người ta chú ý đến điều cốt yếu của sự phụng sự—sự tiếp xúc linh hồn—thì sự phụng sự được thực hiện sẽ tuôn chảy một cách tự phát theo những đường lối đúng đắn và mang lại nhiều kết quả. Về điều này, sự phụng sự vô ngã và dòng chảy sâu xa của đời sống tinh thần, vốn đã được chứng minh trong công việc thế giới gần đây, là một dấu hiệu đầy hy vọng.

[127]

[127]

What is the field of this science, and why do we call it a science.

Lĩnh vực của khoa học này là gì, và tại sao chúng ta gọi nó là một khoa học.

The next point to consider is the field of this service, and its nature as a science. The field of service, first of all, demonstrates as the life of the Spirit, working within the region of a man’s own nature. The first thing the soul has to do when contact has been made and the man knows it in his brain consciousness and owing to the active impression of the mind, is to make the man aware that he is a living principle of divinity, and then to prepare the lower threefold nature so that it can automatically submit to the Law of Sacrifice. Then it will offer no impediment to the life which must and will pour through it. This is the first and hardest task, and with this task the aspirants of the world are at this time engaged. This indicates, does it not, the point of evolution reached by the majority? When the rhythm of this law has been imposed and the natural impetus of the man in incarnation is to be an expression of the soul, and when this rhythm can be established as a natural daily expression, the man begins to “stand in spiritual being” and the life which pours through him, gently and naturally, will then have an effect upon his environment and his associates. This effect can then be called a “life of service “

Điểm kế tiếp cần xem xét là lĩnh vực của sự phụng sự này, và bản chất của nó như một khoa học. Trước hết, lĩnh vực của sự phụng sự biểu hiện như đời sống của tinh thần, hoạt động trong phạm vi bản chất riêng của một con người. Điều đầu tiên mà linh hồn phải làm khi sự tiếp xúc đã được thiết lập và con người biết điều đó trong tâm thức não bộ của mình và nhờ sự cảm ứng năng động của trí tuệ, là làm cho con người nhận biết rằng y là một nguyên khí sống động của thiên tính, rồi chuẩn bị bản chất tam phân thấp để nó có thể tự động quy phục Định luật Hi Sinh. Khi đó nó sẽ không còn gây trở ngại cho sự sống vốn phải và sẽ tuôn chảy qua nó. Đây là nhiệm vụ đầu tiên và khó khăn nhất, và hiện nay những người chí nguyện trên thế giới đang dấn thân vào nhiệm vụ này. Điều này chẳng phải cho thấy điểm tiến hoá mà đa số đã đạt tới sao? Khi nhịp điệu của định luật này đã được áp đặt và xung lực tự nhiên của con người đang lâm phàm là trở thành một biểu hiện của linh hồn, và khi nhịp điệu này có thể được thiết lập như một biểu hiện tự nhiên hằng ngày, con người bắt đầu “đứng trong bản thể tinh thần”, và sự sống tuôn chảy qua y, một cách dịu dàng và tự nhiên, khi đó sẽ có tác động lên môi trường và những người cộng sự của y. Khi ấy tác động này có thể được gọi là “đời sống phụng sự”

Too much emphasis has been laid upon the process whereby the lower nature is to be subjugated to the higher Law of Service, and the idea of sacrifice, in its worst implications, has been developed. This idea emphasises the necessary and inevitable clashing between the lower nature, working under its own laws, and the higher aspects as they work under the spiritual laws. Then the sacrifice of the lower to the higher assumes great proportions, and the word becomes quite suitable. There is sacrifice. There is suffering. There is a painful [128] process of detachment. There is a long effort to let the life flow through, whilst steadily the personality throws up one barrier and obstruction after another. This stage and attitude we can view with sympathy and understanding, for there are those who have so much theory about service and its expression that they fail to serve and also fail to comprehend with understanding the period of pain which ever precedes enlarged service. Their theories block the way to true expression and shut the door on real comprehension. The mind element is too active.

Đã có quá nhiều sự nhấn mạnh vào tiến trình mà qua đó bản chất thấp phải bị chế ngự dưới Định luật Phụng sự cao hơn, và ý niệm về sự hi sinh, trong những hàm ý tệ hại nhất của nó, đã được phát triển. Ý niệm này nhấn mạnh sự xung đột cần thiết và không thể tránh khỏi giữa bản chất thấp, hoạt động dưới các định luật riêng của nó, và các phương diện cao hơn khi chúng hoạt động dưới các định luật tinh thần. Khi đó sự hi sinh cái thấp cho cái cao mang tầm mức lớn lao, và từ ngữ ấy trở nên hoàn toàn thích hợp. Có sự hi sinh. Có đau khổ. Có một tiến trình đau đớn của sự tách rời. Có một nỗ lực lâu dài để cho sự sống tuôn chảy qua, trong khi phàm ngã đều đặn dựng lên hết rào cản và chướng ngại này đến rào cản và chướng ngại khác. Giai đoạn và thái độ này chúng ta có thể nhìn với sự cảm thông và thấu hiểu, vì có những người có quá nhiều lý thuyết về sự phụng sự và sự biểu hiện của nó đến nỗi họ không phụng sự được, đồng thời cũng không thể thấu hiểu một cách cảm thông giai đoạn đau đớn luôn luôn đi trước sự phụng sự mở rộng. Các lý thuyết của họ chặn đường sự biểu hiện chân chính và đóng cánh cửa đối với sự thấu hiểu thực sự. Yếu tố trí tuệ quá hoạt động.

When the personal lower self is subordinated to the higher rhythms and obedient to the new Law of Service, then the life of the soul will begin to flow through the man to others, and the effect in a man’s immediate family and group will be to demonstrate a real understanding and a true helpfulness. As the flow of life becomes stronger through use, the effect will spread out from the small surrounding family group to the neighborhood. A wider range of contacts becomes possible, until eventually (if several lives have been thus spent under the influence of the Law of Service) the effect of the outpouring life may become nationwide and worldwide. But it will not be planned, nor will it be fought for, as an end in itself. It will be a natural expression of the soul’s life, taking form and direction according to a man’s ray and past life expression; it will be coloured and ordered by environing conditions,—by time, by period, by race and age. It will be a living flow, and a spontaneous giving forth, and the life, power and love demonstrated, being sent forth from soul levels, will have a potent, attractive force upon the group units with which the disciple may come in contact in the three worlds of soul expression. There are no other worlds wherein the soul may at this time thus express itself. Nothing can stop or arrest the potency of this life of natural, loving [129] service, except in those cases wherein the personality gets in the way. Then service, as the Teachers on the inner side of life understand it, gets distorted and altered into busy-ness. It becomes changed into ambition, into an effort to make others serve as we think service should be rendered, and into a love of power which hinders true service instead of into love of our fellow men. There is a point of danger in every life when the theory of service is grasped, and the higher law is recognised; then the imitative quality of the personality, its monkey nature, and the eagerness of a high grade aspiration can easily mistake theory for reality, and the outer gestures of a life of service for the natural, spontaneous flow of soul life through its mechanism of expression.

Khi phàm ngã thấp cá nhân được đặt dưới các nhịp điệu cao hơn và vâng phục Định luật Phụng sự mới, thì đời sống của linh hồn sẽ bắt đầu tuôn chảy qua con người đến với người khác, và tác động trong gia đình trực tiếp và nhóm của một người sẽ là biểu lộ một sự thấu hiểu chân thực và một sự trợ giúp chân chính. Khi dòng chảy của sự sống trở nên mạnh hơn nhờ được sử dụng, tác động sẽ lan rộng từ nhóm gia đình nhỏ chung quanh đến khu lân cận. Một phạm vi tiếp xúc rộng hơn trở nên khả hữu, cho đến cuối cùng (nếu nhiều kiếp sống đã được trải qua như vậy dưới ảnh hưởng của Định luật Phụng sự) tác động của sự sống tuôn đổ có thể trở thành toàn quốc và toàn cầu. Nhưng điều đó sẽ không được hoạch định, cũng không bị tranh đấu để đạt được như một cứu cánh tự thân. Nó sẽ là một biểu hiện tự nhiên của đời sống linh hồn, mang hình thức và phương hướng tùy theo cung của một người và biểu hiện trong các kiếp sống quá khứ; nó sẽ được nhuốm màu và sắp xếp bởi các điều kiện chung quanh,—bởi thời gian, bởi thời kỳ, bởi nhân loại và thời đại. Nó sẽ là một dòng chảy sống động, và một sự ban phát tự phát, và sự sống, quyền năng và tình thương được biểu lộ, được phát ra từ các cấp độ linh hồn, sẽ có một mãnh lực hấp dẫn mạnh mẽ đối với các đơn vị nhóm mà đệ tử có thể tiếp xúc trong ba cõi thấp của sự biểu hiện linh hồn. Không có những thế giới nào khác mà trong đó linh hồn hiện nay có thể biểu hiện như vậy. Không gì có thể ngăn chặn hay cản trở hiệu lực của đời sống phụng sự tự nhiên, đầy tình thương này, ngoại trừ trong những trường hợp phàm ngã xen vào. Khi đó sự phụng sự, như các Huấn sư ở mặt bên trong của sự sống hiểu nó, bị bóp méo và biến đổi thành sự bận rộn. Nó biến thành tham vọng, thành một nỗ lực khiến người khác phụng sự theo cách mà chúng ta nghĩ rằng sự phụng sự nên được thực hiện, và thành lòng ham muốn quyền lực, điều cản trở sự phụng sự chân chính thay vì trở thành tình thương đối với đồng loại của chúng ta. Có một điểm nguy hiểm trong mỗi đời sống khi lý thuyết về sự phụng sự được nắm bắt, và định luật cao hơn được nhận ra; khi đó phẩm tính bắt chước của phàm ngã, bản chất khỉ vượn của nó, và sự hăng hái của một khát vọng cao độ có thể dễ dàng lầm lẫn lý thuyết với thực tại, và những cử chỉ bên ngoài của một đời sống phụng sự với dòng chảy tự nhiên, tự phát của đời sống linh hồn qua bộ máy biểu hiện của nó.

The need for an increasing subtlety of discrimination is constant, and all dedicated students are urged to take stock of themselves at this time. They face a new cycle of service and must avail themselves of a new day of opportunity. There is a great need to stand in spiritual being; where there is this poised standing, there will be no need for others to incite one to service. Let the “Forces of Light” flow through, and the ranks of the world servers will be rapidly filled. Let the “Spirit of Peace” use the lower nature as an instrument, and there will be peace and harmony within the personal field of service. Let the “Spirit of Good Will” dominate our minds and there will be no room for the spirit of criticism and the spreading of destructive discussion. It is for this reason and in order to develop a group of servers who can work along true and spiritual lines, that there must be increasing emphasis upon the need for Harmlessness. Harmlessness prepares the way for the inflow of life; harmlessness dissipates the obstructions to the free outpouring of love; harmlessness is the key to the release of the lower nature from the grip of the world illusion and from the power of phenomenal existence.

Nhu cầu về một sự phân biện ngày càng tinh tế là điều thường hằng, và mọi đạo sinh tận hiến đều được thúc giục tự kiểm điểm mình vào lúc này. Họ đang đối diện với một chu kỳ phụng sự mới và phải tận dụng một ngày cơ hội mới. Có một nhu cầu lớn lao là phải đứng trong bản thể tinh thần; ở đâu có sự đứng vững quân bình này, ở đó sẽ không cần người khác thúc đẩy ai đó phụng sự. Hãy để “Các Mãnh Lực của Ánh Sáng” tuôn chảy qua, và hàng ngũ những Người Phụng Sự Thế Gian sẽ nhanh chóng được lấp đầy. Hãy để “Đấng Tinh thần Hòa Bình” sử dụng bản chất thấp như một công cụ, và sẽ có hòa bình và hài hòa trong lĩnh vực phụng sự cá nhân. Hãy để “Tinh thần Thiện Chí” chi phối trí tuệ của chúng ta và sẽ không còn chỗ cho tinh thần chỉ trích và sự lan truyền những cuộc bàn luận có tính phá hoại. Chính vì lý do này và để phát triển một nhóm những người phụng sự có thể hoạt động theo những đường lối chân chính và tinh thần, mà cần phải ngày càng nhấn mạnh đến nhu cầu về tính vô tổn hại. Tính vô tổn hại chuẩn bị con đường cho sự tuôn vào của sự sống; tính vô tổn hại làm tiêu tan những chướng ngại đối với sự tuôn đổ tự do của tình thương; tính vô tổn hại là chìa khóa để giải thoát bản chất thấp khỏi sự kềm giữ của ảo tưởng thế gian và khỏi quyền lực của sự tồn tại hiện tượng.

[130]

[130]

We have expressed our belief that one of the major sciences of the coming age will be built up around the active rendering of service. We have used the word “Science” because service, as a spiritual quality, will rapidly be recognised as the phenomenal expression of an inner reality, and along the line of a right understanding of service will come much revelation as to the nature of the soul. Service is a method of producing phenomenal outer and tangible results upon the physical plane; I call your attention to this as an evidence of its creative quality. By right of this creative quality, service will eventually be regarded as a world science. It is a creative urge, a creative impulse, a creative momentous energy. This creativity of service has already been vaguely recognized in the world of human affairs under varying names, such as the science of vocational training. Recognition of the impetus coming from a right understanding of social relations and their study is not lacking. Much is also being studied along this same line in connection with criminology and the right handling of the youth of any nation and national group.

Chúng tôi đã bày tỏ niềm tin của mình rằng một trong những khoa học lớn của thời đại sắp đến sẽ được xây dựng quanh việc phụng sự một cách tích cực. Chúng tôi đã dùng từ “Khoa học” vì sự phụng sự, như một phẩm tính tinh thần, sẽ nhanh chóng được nhìn nhận như biểu hiện hiện tượng của một thực tại nội tại, và theo đường lối của một sự thấu hiểu đúng đắn về sự phụng sự sẽ đến nhiều sự mặc khải về bản chất của linh hồn. Sự phụng sự là một phương pháp tạo ra những kết quả hiện tượng, bên ngoài và hữu hình trên cõi hồng trần; tôi lưu ý các bạn điều này như một bằng chứng về phẩm tính sáng tạo của nó. Nhờ phẩm tính sáng tạo này, sự phụng sự cuối cùng sẽ được xem như một khoa học thế giới. Nó là một thúc đẩy sáng tạo, một xung lực sáng tạo, một năng lượng sáng tạo trọng đại. Tính sáng tạo này của sự phụng sự đã được nhận biết một cách mơ hồ trong thế giới nhân sự dưới nhiều tên gọi khác nhau, chẳng hạn như khoa học hướng nghiệp. Sự nhìn nhận xung lực phát sinh từ một sự thấu hiểu đúng đắn về các quan hệ xã hội và việc nghiên cứu chúng không hề thiếu. Cũng đang có nhiều nghiên cứu theo cùng đường hướng này liên quan đến tội phạm học và việc xử lý đúng đắn giới trẻ của bất kỳ quốc gia hay nhóm quốc gia nào.

Service is, par excellence, the technique of correct group relations, whether it be the right guidance of an anti-social child in a family, the wise assimilation of a trouble-maker in a group, the handling of anti-social groups in our big cities, the correct technique to be employed in child guidance in our educational centres or the relation between the religious and political parties, or between nation and nation. All of this is part of the new and growing Science of Service. The imposition of this soul law will eventually bring light into a distracted world, and release human energies in right directions. It is not here possible to do more than indicate this briefly. The theme is too large, for it includes the awakening of the spiritual consciousness with its responsibilities, and the welding of the individual into an awakened group; it involves [131] the imposition also of a newer and a higher rhythm upon world affairs. This constitutes, therefore, a definitely scientific endeavor and warrants the attention of the best minds. It should also eventually call forth the consecrated effort of the world disciples.

Sự phụng sự, trên hết, là kỹ thuật của những quan hệ nhóm đúng đắn, dù đó là sự hướng dẫn đúng đắn một đứa trẻ phản xã hội trong gia đình, sự đồng hóa khôn ngoan một kẻ gây rối trong một nhóm, việc xử lý các nhóm phản xã hội trong các thành phố lớn của chúng ta, kỹ thuật đúng đắn cần được sử dụng trong việc hướng dẫn trẻ em tại các trung tâm giáo dục của chúng ta, hay mối quan hệ giữa các đảng phái tôn giáo và chính trị, hoặc giữa quốc gia này với quốc gia khác. Tất cả điều này là một phần của Khoa Học Phụng Sự mới mẻ và đang phát triển. Việc áp đặt định luật linh hồn này cuối cùng sẽ mang ánh sáng vào một thế giới rối loạn, và giải phóng các năng lượng nhân loại theo những hướng đúng đắn. Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra điều này một cách vắn tắt. Chủ đề này quá rộng lớn, vì nó bao gồm sự thức tỉnh của tâm thức tinh thần cùng với các trách nhiệm của nó, và sự hàn gắn cá nhân vào một nhóm đã thức tỉnh; nó cũng bao hàm việc áp đặt một nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên các công việc thế giới. Vì vậy, điều này cấu thành một nỗ lực rõ rệt có tính khoa học và xứng đáng nhận được sự chú ý của những trí tuệ ưu tú nhất. Cuối cùng nó cũng nên khơi dậy nỗ lực thánh hiến của các đệ tử thế giới.

{End of LOTSWC 13, p. 131

{End of LOTSWC 13, p. 131

Beginning with LOTSWC 14, p. 131

Beginning with LOTSWC 14, p. 131

[-> Bình Giảng 14]

What are the characteristics of the true server?

Những đặc tính của người phụng sự chân chính là gì?

These characteristics can be easily and briefly noted. They are not exactly what one may have been led to believe. I am not here speaking of the qualifications required for the treading of the Path of Discipleship or the Probationary Path. These are well known. They are the platitudes of the spiritual life, and constitute the battleground, or the Kurukshetra of most aspirants. We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. They will appear when he is a real channel for the life of the soul. His major characteristics will then be three in number:—

Những đặc tính này có thể được ghi nhận một cách dễ dàng và ngắn gọn. Chúng không hoàn toàn là điều mà người ta có thể đã được dẫn dắt để tin như vậy. Ở đây tôi không nói về những phẩm chất cần có để bước đi trên Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những điều đó đã được biết rõ. Chúng là những điều sáo thường của đời sống tinh thần, và cấu thành chiến trường, hay Kurukshetra, của phần lớn những người chí nguyện. Ở đây chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người đang hoạt động dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Chúng sẽ xuất hiện khi y là một kênh dẫn thực sự cho đời sống của linh hồn. Khi đó những đặc tính chính của y sẽ là ba điều:—

1. He will be distinguished, as might be expected, by the quality of harmlessness, and by an active refraining from those acts and that speech which might hurt or cause any misunderstanding. By no word, suggestion, implication, innuendo or voiced dissatisfaction will he hurt his group. You will note that I do not say “will not hurt any individual.” Those working under the Law of Service need no reminder not to hurt any individual. They often need, under the exuberance of spiritual stimulation and the intensity of their aspiration, to be reminded to demonstrate group harmlessness.

1. Như có thể được mong đợi, y sẽ nổi bật bởi phẩm tính vô tổn hại, và bởi sự chủ động kiềm chế khỏi những hành động và lời nói có thể làm tổn thương hoặc gây ra bất kỳ sự hiểu lầm nào. Bằng không một lời nói, gợi ý, hàm ý, bóng gió hay sự bất mãn được thốt ra nào, y sẽ làm tổn thương nhóm của mình. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào.” Những người hoạt động dưới Định luật Phụng sự không cần được nhắc nhở là không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào. Dưới sự dồi dào của kích thích tinh thần và cường độ khát vọng của mình, họ thường cần được nhắc nhở phải biểu lộ tính vô tổn hại đối với nhóm.

2. The second characteristic is a willingness to let others serve as seems best to them, knowing that the life flowing through the individual server must find its own [132] channels and outlets, and that direction of these currents can be dangerous and prevent the rendering of the intended service. The server’s efforts will be turned in two directions:—

2. Đặc tính thứ hai là sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách dường như tốt nhất đối với họ, biết rằng sự sống tuôn chảy qua người phụng sự cá nhân phải tự tìm lấy các kênh và lối thoát riêng của nó, và rằng việc chỉ đạo các dòng chảy này có thể nguy hiểm và ngăn cản sự phụng sự được dự định. Những nỗ lực của người phụng sự sẽ được hướng theo hai chiều:—

1. To the task of helping others to “stand in spiritual being”, as he himself is learning to stand.

1. Vào nhiệm vụ giúp người khác “đứng trong bản thể tinh thần”, như chính y đang học cách đứng như vậy.

2. To aiding the individual to express his service in his chosen field as he desires to express it, and not as the onlooking helper deems that he should do it.

2. Vào việc trợ giúp cá nhân biểu lộ sự phụng sự của mình trong lĩnh vực mà người ấy chọn, theo cách người ấy muốn biểu lộ, chứ không phải theo cách mà người trợ giúp đứng ngoài cho rằng người ấy nên làm.

One point might here be made clear. The task of those who are working under the Law of Service is not exerted primarily with that group in the world today which is working under the effect of that general response to which we earlier referred. These effects are easily shepherded into those activities which, en masse, work out as philanthropic endeavor, as educational experiments, or social efforts in the life of the community. The name of those who thus respond is legion, and the will to serve in this particular way needs no impetus. The remarkable response to the many recent campaigns to good will definitely evidenced this. But the work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law. This centres around the capacity to stand, not only in spiritual being, but together with others, working with them subjectively, telepathically, and synthetically. This distinction merits attention for one can easily waste effort by entering fields already well handled from the point of view of the attainment of the units in that field.

Ở đây có thể làm sáng tỏ một điểm. Nhiệm vụ của những người đang hoạt động dưới Định luật Phụng sự không chủ yếu được hướng đến nhóm người trong thế giới ngày nay đang hoạt động dưới tác động của sự đáp ứng tổng quát mà trước đây chúng ta đã đề cập. Những tác động này dễ dàng được dẫn dắt vào những hoạt động mà xét trên diện rộng biểu hiện thành nỗ lực từ thiện, những thử nghiệm giáo dục, hay những nỗ lực xã hội trong đời sống cộng đồng. Số người đáp ứng theo cách đó thì vô số, và ý chí phụng sự theo cách đặc biệt này không cần thêm xung lực nào. Sự đáp ứng đáng chú ý đối với nhiều chiến dịch thiện chí gần đây đã chứng minh rõ điều đó. Nhưng công việc của loại người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc linh hồn và do đó có thể hoạt động dưới Định luật Bảo Bình mới đang đi vào. Điều này tập trung quanh năng lực đứng, không chỉ trong bản thể tinh thần, mà còn cùng với những người khác, hoạt động với họ một cách chủ quan, bằng viễn cảm, và một cách tổng hợp. Sự phân biệt này đáng được chú ý vì người ta có thể dễ dàng lãng phí nỗ lực khi bước vào những lĩnh vực đã được xử lý tốt từ quan điểm thành tựu của các đơn vị trong lĩnh vực đó.

3. The third characteristic of the new server is joyfulness. [133] This takes the place of criticism (that dire creator of misery) and is the silence that sounds.

3. Đặc tính thứ ba của người phụng sự mới là sự hoan hỉ. [133] Điều này thay thế cho sự chỉ trích (kẻ tạo ra khổ đau khủng khiếp ấy) và là sự im lặng phát ra âm thanh.

It would be well to ponder on these last words, for their true meaning cannot be conveyed in words, but only through a life dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole. Then that “sounding joy” and that “joyful sounding” can make its true meaning felt.

Sẽ là điều tốt nếu suy ngẫm về những lời cuối này, vì ý nghĩa chân thực của chúng không thể được truyền đạt bằng lời, mà chỉ qua một đời sống tận hiến cho những nhịp điệu mới hơn và cho sự phụng sự toàn thể. Khi đó “âm vang hoan hỉ” ấy và “sự hoan hỉ vang lên” ấy mới có thể làm cho ý nghĩa chân thực của nó được cảm nhận.

What effect does service have upon the mind, the emotions and the etheric body?

Sự phụng sự có tác động gì lên trí tuệ, cảm xúc và thể dĩ thái?

It must be remembered that it is through its effects that the scientist of the future will begin to deduce the effectual existence of an inner cause, of an inner reality, or of a self or soul. We have seen that service is not simply an activity of some person or group doing something with good intention for another person or group. Service itself is definitely the result of a tremendous inner happening, and when that result is brought about, it will be found to have produced a number of creative secondary causes. These are, primarily, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions (through creative activity) which is the demonstration of something dynamically new. As this inner event stabilises into an equilibrised inner condition, the demonstration of the above changes becomes more regular and less spasmodic and the effects of the new forces flowing into the personality to be later used creatively, will be seen in all three bodies. Thus the true server comes into possession of his instruments for service, and thenceforth creative work in accordance with the Plan can go forward on all three planes. Thus has God, in His wisdom, chosen to [134] limit Himself, and the work of evolution proceeds solely through the medium of His chosen builders and under the direction—on this planet—of those men whose lives are being transformed through soul contact and creative service, and who constitute the planetary Hierarchy.

Cần nhớ rằng chính qua các tác động của nó mà nhà khoa học của tương lai sẽ bắt đầu suy ra sự hiện hữu có hiệu lực của một nguyên nhân bên trong, của một thực tại nội tại, hay của một bản ngã hoặc linh hồn. Chúng ta đã thấy rằng sự phụng sự không chỉ đơn giản là một hoạt động của một người hay một nhóm làm điều gì đó với thiện ý cho một người hay một nhóm khác. Bản thân sự phụng sự rõ rệt là kết quả của một biến cố nội tại to lớn, và khi kết quả đó được tạo ra, người ta sẽ thấy rằng nó đã sản sinh ra một số nguyên nhân thứ cấp có tính sáng tạo. Trước hết, đó là một sự thay đổi trong tâm thức thấp, một khuynh hướng quay lưng khỏi những điều thuộc về bản ngã cá nhân để hướng đến những vấn đề lớn hơn của nhóm, một sự tái định hướng có thực và có tính biểu hiện, và một quyền năng thay đổi các điều kiện (thông qua hoạt động sáng tạo), vốn là sự biểu lộ của một điều gì đó mới mẻ một cách năng động. Khi biến cố nội tại này ổn định thành một trạng thái nội tại quân bình, sự biểu lộ của những thay đổi nói trên trở nên đều đặn hơn và bớt co giật hơn, và các tác động của những mãnh lực mới tuôn vào phàm ngã để sau này được sử dụng một cách sáng tạo sẽ được thấy trong cả ba thể. Như vậy người phụng sự chân chính nắm được các công cụ phụng sự của mình, và từ đó công việc sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trên cả ba cõi. Như vậy Thượng đế, trong minh triết của Ngài, đã chọn cách tự giới hạn chính Ngài, và công việc tiến hoá chỉ tiến hành thông qua trung gian là các đấng kiến tạo được Ngài chọn và dưới sự chỉ đạo—trên hành tinh này—của những con người mà đời sống của họ đang được chuyển đổi nhờ sự tiếp xúc linh hồn và sự phụng sự sáng tạo, và những người ấy cấu thành Thánh Đoàn hành tinh.

When alignment has been effected, when the at-one-ment has been more constantly made, and when the antaskarana (the bridge connecting the higher and the lower) is in definite process of construction, the true nature of service, as practiced by any individual begins to emerge. The first effect of the inflowing force of the soul, which is the major factor leading to demonstrated service, is to integrate the personality, and to bring all the three lower aspects of the man into one serving whole. This is a difficult and elementary stage from the angle of the student in the Hall of Wisdom. The man becomes aware of his power and capacity, and, having pledged himself to service, he begins furiously to serve; he creates this, that and the other channel for the expression of the force which is driving him; he tears down and destroys just as fast as he creates. He temporarily becomes a serious problem to the other servers with whom he may be associated, for he sees no vision but his own, and the aura of criticism which surrounds him and the strenuous push of the assertive force within him produces the stumbling of the “little ones” and there has to be constant repair work undertaken (on his behalf) by older, more experienced disciples. He becomes the victim, for the time, of his own aspiration to serve, and of the force which is flowing through him. This stage will in some cases fan into flame the latent seeds of ambition. This ambition is, in the last analysis, only the personality urge towards betterment, and in its right place and time is a divine asset, but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. In other cases, the server [135] will come into a wider and more loving vision, and, taking his eyes off his own accomplishment, will go to work in silent unison with the groups of all true servers. He will submerge his personality tendencies, his ideas and his ambitions in the greater good of the whole, and self will be lost to sight. Perhaps no better suggestion can be made to the man or woman who seeks to function as a true server than to ask them to repeat daily, with their whole hearts and minds behind the words, the dedication at the conclusion of the Esoteric Catechism, which is included at the end of Initiation, Human and Solar. I would remind such servers that if they revolt or are dismayed by the ideas embodied in the words, that is perhaps an indication of how much they need the impression of this life objective upon their consciousness. That pledge runs as follows:

Khi sự chỉnh hợp đã được thực hiện, khi sự hợp nhất đã được tạo ra thường xuyên hơn, và khi antahkarana (cây cầu nối cái cao với cái thấp) đang ở trong tiến trình xây dựng rõ rệt, thì bản chất chân thực của sự phụng sự, như được thực hành bởi bất kỳ cá nhân nào, bắt đầu xuất hiện. Tác động đầu tiên của mãnh lực tuôn vào từ linh hồn, vốn là yếu tố chính dẫn đến sự phụng sự được biểu lộ, là tích hợp phàm ngã, và đưa cả ba phương diện thấp của con người vào một toàn thể phụng sự duy nhất. Đây là một giai đoạn khó khăn và sơ đẳng theo góc nhìn của đạo sinh trong Phòng Minh triết. Con người trở nên nhận biết quyền năng và năng lực của mình, và, sau khi đã hiến mình cho sự phụng sự, y bắt đầu phụng sự một cách mãnh liệt; y tạo ra kênh này, kênh kia và kênh nọ cho sự biểu lộ của mãnh lực đang thúc đẩy mình; y phá đổ và hủy diệt cũng nhanh như y sáng tạo. Tạm thời y trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với những người phụng sự khác mà y có thể liên kết cùng, vì y không thấy tầm nhìn nào ngoài tầm nhìn của riêng mình, và hào quang chỉ trích bao quanh y cùng với sức đẩy mãnh liệt của lực khẳng định bên trong y gây nên sự vấp ngã của “những kẻ bé mọn”, và các đệ tử lớn tuổi hơn, giàu kinh nghiệm hơn phải liên tục thực hiện công việc sửa chữa (thay cho y). Trong một thời gian, y trở thành nạn nhân của chính khát vọng phụng sự của mình, và của mãnh lực đang tuôn chảy qua mình. Trong một số trường hợp, giai đoạn này sẽ thổi bùng những hạt giống tiềm ẩn của tham vọng. Xét cho cùng, tham vọng này chỉ là sự thôi thúc của phàm ngã hướng đến sự cải thiện, và ở đúng chỗ đúng lúc của nó, đó là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn. Trong những trường hợp khác, người phụng sự sẽ đi vào một tầm nhìn rộng lớn hơn và đầy tình thương hơn, và, rời mắt khỏi thành tựu riêng của mình, y sẽ bắt tay làm việc trong sự hợp nhất thầm lặng với các nhóm của mọi người phụng sự chân chính. Y sẽ dìm các khuynh hướng phàm ngã, các ý tưởng và các tham vọng của mình vào thiện ích lớn hơn của toàn thể, và bản ngã sẽ biến mất khỏi tầm nhìn. Có lẽ không thể đưa ra gợi ý nào tốt hơn cho người nam hay người nữ đang tìm cách hoạt động như một người phụng sự chân chính hơn là yêu cầu họ lặp lại hằng ngày, với trọn cả tâm hồn và trí tuệ đặt sau lời nói, lời hiến dâng ở phần kết của Giáo Lý Vấn Đáp Nội Môn, được đưa vào cuối cuốn Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Tôi muốn nhắc những người phụng sự như vậy rằng nếu họ phản kháng hoặc nản lòng trước những ý tưởng hàm chứa trong những lời ấy, thì đó có lẽ là một dấu hiệu cho thấy họ cần sự cảm ứng của mục tiêu sống này lên tâm thức của họ đến mức nào. Lời cam kết ấy như sau:

“I play my part with stern resolve; with earnest aspiration; I look above, I help below; I dream not, nor I rest; I toil; I serve; I reap; I pray; I am the Cross; I am the Way; I tread upon the work I do, I mount upon my slain self; I kill desire, and I strive, forgetting all reward. I forego peace; I forfeit rest, and, in the stress of pain, I lose myself and find Myself and enter into peace. To all this I solemnly pledge myself, invoking my Higher Self.”

“Tôi đóng vai trò của mình với quyết tâm nghiêm nghị; với khát vọng tha thiết; tôi nhìn lên trên, tôi giúp xuống dưới; tôi không mơ mộng, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao động; tôi phụng sự; tôi gặt hái; tôi cầu nguyện; tôi là Thập Giá; tôi là Con Đường; tôi bước lên trên công việc tôi làm, tôi leo lên trên bản ngã đã bị giết của mình; tôi giết dục vọng, và tôi phấn đấu, quên hết mọi phần thưởng. Tôi từ bỏ bình an; tôi từ khước nghỉ ngơi, và, trong sức ép của đau đớn, tôi đánh mất mình và tìm thấy Chính Mình và đi vào bình an. Tôi long trọng cam kết với tất cả điều này, khẩn cầu Bản Ngã Cao Siêu của tôi.”

As the work of learning to serve proceeds and the inner contact becomes more sure, the next thing which will occur will be a deepening of the life of meditation, and a more frequent illumining of the mind by the light of the soul. Thereby the Plan is revealed. This will not be the shedding of that light upon the plans of the server either for his own life or upon his chosen field of service. This must be clearly grasped. That might only indicate (if it seems to occur) the mental agility of the server to find means for the justification of his own ambition. It will be the recognition, in the mind, of the Plan of God for the world at the particular time in [136] which the server is existing, and the part that he may play in furthering the ends of those who are responsible for the carrying forward of that Plan. He then becomes willing to be a tiny part of a greater Whole, and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom. He is then in contact with a still vaster concept of the Plan and His humility and His sense of proportion remain unchanged.

Khi công việc học cách phụng sự tiếp diễn và sự tiếp xúc bên trong trở nên chắc chắn hơn, điều kế tiếp sẽ xảy ra là sự đào sâu đời sống tham thiền, và trí tuệ được ánh sáng của linh hồn soi sáng thường xuyên hơn. Nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. Đây sẽ không phải là việc ánh sáng ấy soi rọi lên các kế hoạch của người phụng sự cho đời sống riêng của y hay lên lĩnh vực phụng sự mà y đã chọn. Điều này phải được nắm rõ. Nếu điều đó dường như xảy ra, thì có thể nó chỉ cho thấy sự lanh lợi trí tuệ của người phụng sự trong việc tìm phương tiện biện minh cho tham vọng riêng của mình. Đó sẽ là sự nhận biết, trong trí tuệ, về Thiên Cơ của Thượng đế dành cho thế giới vào thời điểm đặc biệt mà người phụng sự đang tồn tại, và phần việc mà y có thể đảm nhận trong việc thúc đẩy các mục tiêu của những Đấng chịu trách nhiệm đưa Thiên Cơ ấy tiến lên. Khi đó y trở nên sẵn lòng là một phần nhỏ bé của một Toàn Thể lớn lao hơn, và thái độ này không bao giờ thay đổi, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một Chân sư Minh triết. Khi đó Ngài tiếp xúc với một quan niệm còn bao la hơn nữa về Thiên Cơ và sự khiêm nhường cùng ý thức về tỉ lệ của Ngài vẫn không đổi.

An integrated, intelligent personality is adequate to deal with the working out of the server’s part in the active work of the world, provided his vision is not blurred by personal ambition nor his activity such that it degenerates into a sense of rush and a display of busy feverishness. It takes the soul itself to reveal to the poised and peaceful mind the next step to be taken in the work of world evolution, through the impartation of ideas. Such is the Plan for humanity.

Một phàm ngã tích hợp, thông minh là đủ để đề cập đến việc triển khai phần việc của người phụng sự trong công tác năng động của thế giới, miễn là tầm nhìn của y không bị làm mờ bởi tham vọng cá nhân và hoạt động của y không đến mức thoái hóa thành cảm giác vội vã và biểu hiện của sự bận rộn sốt sắng. Chính linh hồn phải mặc khải cho trí tuệ quân bình và an tĩnh bước kế tiếp cần được thực hiện trong công việc tiến hoá thế giới, thông qua sự truyền đạt các ý tưởng. Đó là Thiên Cơ cho nhân loại.

As the force pours through the personality and gives to the server this necessary vision and the sense of power which will enable him to cooperate, it finds its way into the emotional or astral body. Here again the effect will be dual, owing to the condition of the server’s astral body and his inner orientation. It may enhance the glamour and deepen the illusion, swinging the server into the psychic illusory effects there to be found. When this happens, he will emerge upon the physical plane glamoured by the idea, for instance, of his amazing personal contacts, whereas he has only contacted some group thought-form of the Great Ones. He will be under the illusion that he is a chosen vessel or mouthpiece for the Hierarchy, when the truth is that he is deceived by the many voices, because the Voice of the Silence has been dimmed by the clamour of the astral plane; he will be deluded by the idea that there is no other way but his way. Such an illusion and deception is common among teachers and workers everywhere [137] today, because so many are definitely making a contact with their souls, and are being swept then into the desire for service; they are not yet free, however, from ambition, and their orientation is still basically towards personality expression, and not to the merging of themselves in the Group of World Servers. If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. There will then be no room for self-interest, self-assertiveness, or selfish ambition. All that is considered is the need and the driving necessity to take the next immediate step to meet that need as it demonstrates before the server’s eyes.

Khi mãnh lực tuôn qua phàm ngã và ban cho người phụng sự tầm nhìn cần thiết này cùng ý thức về quyền năng sẽ giúp y hợp tác, nó tìm đường đi vào thể cảm dục hay thể cảm xúc. Ở đây một lần nữa tác động sẽ có hai mặt, do tình trạng của thể cảm dục của người phụng sự và sự định hướng bên trong của y. Nó có thể làm tăng cường ảo cảm và đào sâu ảo tưởng, cuốn người phụng sự vào những hiệu ứng ảo tưởng thông linh có thể tìm thấy ở đó. Khi điều này xảy ra, y sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần bị ảo cảm bởi ý tưởng, chẳng hạn, về những tiếp xúc cá nhân kỳ diệu của mình, trong khi thực ra y chỉ mới tiếp xúc với một hình tư tưởng nhóm nào đó của Các Đấng Cao Cả. Y sẽ ở dưới ảo tưởng rằng mình là một vận cụ hay phát ngôn viên được chọn cho Thánh Đoàn, trong khi sự thật là y bị lừa dối bởi nhiều tiếng nói, vì Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ bởi tiếng ồn ào của cõi cảm dục; y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của mình. Ảo tưởng và sự lừa dối như vậy ngày nay rất phổ biến nơi các huấn sư và người hoạt động ở khắp nơi, vì rất nhiều người đang thực sự tiếp xúc với linh hồn của mình, và rồi bị cuốn vào khát vọng phụng sự; tuy nhiên, họ vẫn chưa thoát khỏi tham vọng, và sự định hướng của họ về căn bản vẫn hướng đến biểu hiện phàm ngã, chứ không phải đến việc hòa nhập chính mình vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh được ảo cảm, và có thể phân biện giữa Thực và không thực, thì mãnh lực tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vô ngã hữu hiệu và bằng sự tận tụy đối với Thiên Cơ, đối với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và đối với Những Đấng phụng sự Thiên Cơ. Hãy lưu ý trình tự của những thái độ này, và tự điều chỉnh mình cho phù hợp. Khi đó sẽ không còn chỗ cho tư lợi, sự tự khẳng định, hay tham vọng ích kỷ. Tất cả những gì được xét đến là nhu cầu và sự cấp bách thôi thúc phải thực hiện bước kế tiếp ngay tức thì để đáp ứng nhu cầu ấy như nó biểu lộ trước mắt người phụng sự.

With the heart and mind then functioning together (either in selfish coalition for the presentation of an active personality, or in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance) the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. Then, automatically, the physical body will respond. There is, consequently, a great need for the server to pause upon the astral plane, and there, in a holy and controlled silence, wait, before permitting the force to pour through into the centres in the etheric body. This point of silence is one of the mysteries of spiritual unfoldment. Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked on its way through into physical manifestation—has reached the etheric body, there is nothing more to be done by the average disciple. The result, when it reaches that point, is inevitable and effective. The inner thought and the desire life determine the activity which will be expressed physically. When the force comes through in purity, it brings the centres above the [138] diaphragm steadily into activity; when it comes through, tainted by personality trends, it uses primarily the solar plexus, and then sweeps into manifestation all the astral illusions, the grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena, using the word “egoistic” in its usual worldly, psychological connotation. This can easily be seen today among the leaders of various groups.

Khi tim và trí tuệ cùng hoạt động (hoặc trong sự liên minh ích kỷ để trình bày một phàm ngã năng động, hoặc trong sự vô ngã tận hiến và thái độ được định hướng về sự hướng dẫn của linh hồn), mãnh lực tuôn qua người phụng sự sẽ làm cho thể dĩ thái của y hoạt động mạnh lên. Khi đó, thể xác sẽ tự động đáp ứng. Do đó, người phụng sự rất cần phải dừng lại trên cõi cảm dục, và ở đó, trong một sự im lặng thiêng liêng và được kiểm soát, chờ đợi trước khi cho phép mãnh lực tuôn qua vào các trung tâm trong thể dĩ thái. Điểm im lặng này là một trong những huyền nhiệm của sự khai mở tinh thần. Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được giữ trong sự tinh tuyền của nó, hoặc bị nhiễm bẩn và bị chuyển hướng trên đường đi vào biểu hiện hồng trần—đã đến thể dĩ thái, thì đệ tử trung bình không còn gì để làm nữa. Kết quả, khi nó đạt đến điểm đó, là tất yếu và hữu hiệu. Tư tưởng bên trong và đời sống dục vọng quyết định hoạt động sẽ được biểu lộ về mặt hồng trần. Khi mãnh lực đi qua trong sự tinh tuyền, nó đưa các trung tâm phía trên cơ hoành dần dần vào hoạt động; khi nó đi qua, bị nhuốm bởi các xu hướng phàm ngã, nó chủ yếu sử dụng tùng thái dương, rồi cuốn vào biểu hiện tất cả các ảo tưởng cảm dục, những hoang tưởng tự đại và các ảo cảm của những hiện tượng vị ngã, dùng từ “vị ngã” theo hàm nghĩa tâm lý thế tục thông thường của nó. Điều này ngày nay có thể dễ dàng thấy nơi các lãnh đạo của nhiều nhóm khác nhau.

b. DISTINCTIVE METHODS OF RAY SERVICE—NHỮNG PHƯƠNG PHÁP PHỤNG SỰ ĐẶC THÙ CỦA CÁC CUNG