← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service?

Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service?

Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại cung sử dụng những phương pháp phụng sự đặc thù không?

As time goes on this will be proved decidedly, and each ray worker and server will be found to render his service along peculiar and specific lines. These indicate for him the line of least resistance and, consequently, of the greatest efficiency. These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service, and they will be discovered through the admission of the Ray hypothesis and an observation of the methods employed by these clearly isolated Ray types and groups. These differing ways of service, all of them, work in conformity with the Plan, and together produce a synthetic whole. The ray or rays in manifestation at any one time will determine the general trend of the world service, and those servers whose egoic ray is in incarnation, and who are endeavoring to work with right activity, will find their work facilitated if they understand that the trend of affairs is with them and that they are following the line of least resistance at that period. They will work with greater facility than will the disciples and aspirants whose egoic ray is out of manifestation. This recognition will lead to a careful study of times and seasons, thus there will be no waste effort, and real advantage can be taken of the qualifications and aptitudes of the servers available. All will [139] be in conformity with the Plan. A consideration of the rays in or out of manifestation, and a recognition of the disciples and servers available on the physical plane at any one time, is part of the work of the Masters in the Hierarchy.

Theo thời gian, điều này sẽ được chứng minh một cách rõ rệt, và mỗi người hoạt động và người phụng sự theo cung sẽ được thấy là thực hiện sự phụng sự của mình theo những đường lối đặc biệt và chuyên biệt. Đối với họ, những đường lối này chỉ ra con đường ít trở ngại nhất và do đó là hiệu quả lớn nhất. Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa Học Phụng Sự sắp đến, và chúng sẽ được khám phá thông qua việc chấp nhận giả thuyết về cung và sự quan sát các phương pháp được sử dụng bởi những loại cung và nhóm cung được biệt lập rõ rệt này. Tất cả những cách phụng sự khác nhau này đều hoạt động phù hợp với Thiên Cơ, và cùng nhau tạo ra một toàn thể tổng hợp. Cung hay các cung đang biểu hiện vào bất kỳ thời điểm nào sẽ quyết định xu hướng chung của sự phụng sự thế giới, và những người phụng sự có cung chân ngã đang lâm phàm, và đang nỗ lực hoạt động một cách đúng đắn, sẽ thấy công việc của mình được thuận lợi hơn nếu họ hiểu rằng xu hướng của các sự việc đang đứng về phía họ và rằng họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất trong thời kỳ đó. Họ sẽ hoạt động dễ dàng hơn các đệ tử và người chí nguyện có cung chân ngã đang ở ngoài biểu hiện. Sự nhận biết này sẽ dẫn đến việc nghiên cứu cẩn trọng các thời kỳ và mùa vụ, nhờ đó sẽ không có nỗ lực nào bị lãng phí, và người ta có thể thực sự tận dụng các phẩm chất và năng lực của những người phụng sự hiện có. Tất cả sẽ phù hợp với Thiên Cơ. Việc xem xét các cung đang ở trong hay ngoài biểu hiện, và việc nhận biết các đệ tử và người phụng sự hiện có trên cõi hồng trần vào bất kỳ thời điểm nào, là một phần công việc của các Chân sư trong Thánh Đoàn.

[End of LOTSWC 14, p. 139

[End of LOTSWC 14, p. 139

Beginning with LOTSWC 15, p. 139

Beginning with LOTSWC 15, p. 139

[-> Bình Giảng 15]

The emergence of the New Group of World servers today is an indication that there are enough egoic ray types in physical manifestation, and that a sufficient number of personalities are responding to soul contact, so that a group can be formed that can be definitely impressed as a group. This is the first time that such a situation has been possible. Up till this century, individuals could be impressed, here and there, in different parts of the world, and at widely separated times and periods. But today a group can respond and their numbers are relatively so great that there can be formed upon the planet a group composed of a number of persons of such radiatory activity that their auras can meet and contact each other. Thus one group—subjective and objective—can be functioning.

Sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ngày nay là một dấu hiệu cho thấy có đủ các loại cung chân ngã đang ở trong biểu hiện hồng trần, và có đủ số phàm ngã đang đáp ứng với sự tiếp xúc linh hồn, để một nhóm có thể được hình thành mà có thể rõ rệt được cảm ứng như một nhóm. Đây là lần đầu tiên một tình huống như vậy trở nên khả hữu. Cho đến thế kỷ này, các cá nhân có thể được cảm ứng, đây đó, ở những nơi khác nhau trên thế giới, và vào những thời điểm và thời kỳ cách xa nhau. Nhưng ngày nay một nhóm có thể đáp ứng và số lượng của họ tương đối lớn đến mức trên hành tinh có thể hình thành một nhóm gồm một số người có hoạt động bức xạ đến mức các hào quang của họ có thể gặp gỡ và tiếp xúc lẫn nhau. Như vậy một nhóm—chủ quan và khách quan—có thể hoạt động.

There are today enough centres of light, scattered all over the world, and enough disciples and aspirants, that the little beams or threads of light (speaking symbolically) which radiate from each of them, can meet and interlace, and form a network of light in the world. This constitutes the magnetic aura of the New Group of World Servers. Each individual in the group is sensitive to the Plan, either through his own personal knowledge through contact with his soul, or because his intuition tells him that what the Group, which attracts him, accepts as its immediate work is for him true and right, and with it all that is highest and best in him can cooperate. Each individual in that Group will work in his own particular surroundings according to his ray and type. That again will be coloured by his race and nation. But the work is the better carried forward as the units in the Group meet the [140] need in their own peculiar environment, in the manner that is, for them, the simplest and best way, belonging as they do by habit and training in that particular setting. This should be remembered.

Ngày nay có đủ những trung tâm ánh sáng, rải rác khắp thế giới, và đủ những đệ tử cùng người chí nguyện, để những tia sáng hay những sợi ánh sáng nhỏ bé (nói theo biểu tượng) phát ra từ mỗi người trong họ có thể gặp nhau, đan xen nhau, và tạo thành một mạng lưới ánh sáng trong thế giới. Điều này cấu thành noãn hào quang từ tính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Mỗi cá nhân trong nhóm đều nhạy cảm với Thiên Cơ, hoặc qua tri thức cá nhân của chính y nhờ tiếp xúc với linh hồn mình, hoặc vì trực giác của y cho y biết rằng điều mà Nhóm, vốn thu hút y, chấp nhận như công việc trước mắt của mình thì đối với y là chân thật và đúng đắn, và với điều đó tất cả những gì cao quý nhất và tốt đẹp nhất trong y đều có thể hợp tác. Mỗi cá nhân trong Nhóm ấy sẽ làm việc trong hoàn cảnh riêng của mình tùy theo cung và kiểu của y. Điều đó lại còn được nhuốm màu bởi nhân loại và quốc gia của y. Nhưng công việc sẽ được tiến hành tốt hơn khi các đơn vị trong Nhóm đáp ứng [140] nhu cầu trong môi trường đặc thù riêng của họ, theo cách đối với họ là đơn giản nhất và tốt nhất, vì theo thói quen và sự huấn luyện họ vốn thuộc về bối cảnh đặc biệt ấy. Điều này cần được ghi nhớ.

The seven ray types will work in the following ways, which I am stating very briefly for to do more than that might limit the expression of those who do not know enough to be discriminating as to their characteristics, and might unduly qualify and colour the experience of those servers who recognise (as some already do) their ray. They might, with entirely good intention, seek to force the ray qualities of their souls into dominance before the personality ray is adequately known or controlled. Other servers frequently confuse the two rays and deem their soul ray to be of a particular type, whereas it is only their personality ray to which they predominantly conform, and by which they are pre-eminently governed. Is it not possible for us to observe here the care with which the Teachers of these truths and the custodians of the coming revelation, must proceed? They have to guard the aspirants from premature knowledge, which they might theoretically grasp but which they are not yet ready practically to apply.

Bảy kiểu cung sẽ hoạt động theo những cách sau đây, mà tôi đang trình bày rất vắn tắt, vì nếu nói nhiều hơn có thể giới hạn sự biểu lộ của những người chưa biết đủ để có thể phân biện về các đặc tính của mình, và có thể định tính và nhuốm màu quá mức kinh nghiệm của những người phụng sự nhận ra cung của mình (như một số người đã làm được). Với hoàn toàn thiện ý, họ có thể tìm cách cưỡng ép các phẩm tính cung của linh hồn mình chiếm ưu thế trước khi cung phàm ngã được biết đến hoặc kiểm soát đầy đủ. Những người phụng sự khác thường xuyên nhầm lẫn hai cung này và cho rằng cung linh hồn của mình thuộc một kiểu đặc biệt nào đó, trong khi thực ra chỉ có cung phàm ngã của họ là kiểu mà họ chủ yếu phù hợp theo, và bởi đó họ được chi phối nổi bật nhất. Chẳng phải ở đây chúng ta có thể nhận thấy sự thận trọng mà các Huấn sư của những chân lý này và những vị gìn giữ sự mặc khải sắp đến phải tiến hành đó sao? Các Ngài phải bảo vệ những người chí nguyện khỏi tri thức quá sớm, thứ mà họ có thể nắm bắt về mặt lý thuyết nhưng chưa sẵn sàng áp dụng trên thực tế.

Ray I. Servers on this ray, if they are trained disciples, work through what might be called the imposition of the Will of God upon the minds of men. This they do through the powerful impact of ideas upon the minds of men, and the emphasis of the governing principles which must be assimilated by humanity. These ideas, when grasped by the aspirant bring about two developments. First, they initiate a period of destruction and of a breaking up of that which is old and hindering, and this is later followed by the clear shining forth of the new idea and its subsequent grasping by the minds of intelligent humanity. These ideas embody great [141] principles, and constitute the New Age ideas. These servers, therefore, work as God’s destroying angels, destroying the old forms, but nevertheless, behind it all lies the impetus of love.

Cung một. Những người phụng sự trên cung này, nếu họ là các đệ tử đã được huấn luyện, sẽ làm việc qua điều có thể gọi là sự áp đặt Ý Chí của Thượng Đế lên trí tuệ của con người. Họ làm điều này qua sự tác động mạnh mẽ của các ý tưởng lên trí tuệ con người, và qua sự nhấn mạnh những nguyên khí chỉ đạo mà nhân loại phải đồng hóa. Những ý tưởng này, khi được người chí nguyện nắm bắt, sẽ đem lại hai sự phát triển. Thứ nhất, chúng khởi đầu một giai đoạn hủy diệt và phá vỡ những gì cũ kỹ và cản trở; sau đó là sự tỏa sáng rõ ràng của ý tưởng mới và việc nó tiếp theo được trí tuệ của nhân loại thông minh nắm bắt. Những ý tưởng này thể hiện các nguyên khí vĩ đại [141] và cấu thành những ý tưởng của Kỷ Nguyên Mới. Vì vậy, những người phụng sự này hoạt động như các thiên thần hủy diệt của Thượng đế, phá hủy các hình tướng cũ, nhưng tuy vậy, đằng sau tất cả vẫn có xung lực của tình thương.

With the average aspirant, however, who is on the first ray, the activity is not so intelligent. He grasps the idea that is needed by the race, but he will seek to impose it primarily as his idea, something which he has seen and grasped and which impatiently he seeks to impose upon his fellow men for their good, as he sees it. He inevitably destroys as fast as he builds, and finally destroys himself. Many worthy aspirants and disciples in training for service at this time work in this sad way.

Tuy nhiên, với người chí nguyện trung bình thuộc cung một, hoạt động ấy không thông minh đến thế. Y nắm bắt ý tưởng mà nhân loại cần đến, nhưng trước hết y sẽ tìm cách áp đặt nó như là ý tưởng của riêng y, một điều mà y đã thấy và nắm được, và trong sự thiếu kiên nhẫn y tìm cách áp đặt lên đồng loại của mình vì lợi ích của họ, theo như y thấy. Y tất yếu phá hủy nhanh ngang với xây dựng, và cuối cùng tự hủy diệt chính mình. Nhiều người chí nguyện xứng đáng và những đệ tử đang được huấn luyện để phụng sự vào lúc này đang làm việc theo cách đáng buồn ấy.

Some of the Masters of the Wisdom and Their groups of disciples are actively engaged at this time in an endeavor to impose certain basic and needed ideas upon the races of men, and much of Their work is being prepared for by a group of Destroying Disciples, and also by a group of Enunciating Disciples, for these two types of work carry forward their task as a unit. The idea to be dominant in the future is proclaimed in writing and by the voice, by one Group. The Group of Destroyers takes it up, and proceed to break up the old forms of truth so as to make room and way for the new emerging idea.

Một số Chân sư Minh Triết và các nhóm đệ tử của Các Ngài hiện đang tích cực dấn thân vào nỗ lực áp đặt một số ý tưởng căn bản và cần thiết lên các nhân loại của loài người, và phần lớn công việc của Các Ngài đang được chuẩn bị bởi một nhóm Đệ tử Hủy Diệt, và cũng bởi một nhóm Đệ tử Tuyên Thuyết, vì hai loại công việc này cùng thực hiện nhiệm vụ của mình như một đơn vị. Ý tưởng sẽ chiếm ưu thế trong tương lai được một Nhóm công bố bằng văn viết và bằng tiếng nói. Nhóm Hủy Diệt tiếp nhận nó, rồi tiến hành phá vỡ các hình tướng chân lý cũ để dọn chỗ và mở đường cho ý tưởng mới đang xuất hiện.

Ray II. Servers on this ray ponder, meditate upon and assimilate the new ideas associated with the Plan, and by the power of their attractive love, they gather together those who are at that point in their evolution where they can respond to the measure and rhythm of that Plan. They can select, and train those who can “carry” the idea deeper into the mass of humanity. We should not forget that the work of the Hierarchy at this time, and the task of the new Group of World Servers is primarily associated with ideas. The disciples [142] and servers on the second Ray are “busy building habitations for those dynamic entities whose function it has ever been to charge the thoughts of men and so to usher in that new and better age which will permit the fostering of the souls of men.” So runs the Old Commentary, if I thus modernise its ancient wording. By magnetic, attractive, sympathetic understanding, and the use use of slow action, based on love, do the servers on this ray work. Today their power is becoming dominant.

Cung hai. Những người phụng sự trên cung này suy tư, tham thiền về và đồng hóa những ý tưởng mới gắn liền với Thiên Cơ, và bằng quyền năng của tình thương thu hút của họ, họ tập hợp những người đang ở điểm tiến hoá mà tại đó họ có thể đáp ứng với mức độ và nhịp điệu của Thiên Cơ ấy. Họ có thể tuyển chọn và huấn luyện những người có thể “mang” ý tưởng ấy đi sâu hơn vào khối quần chúng nhân loại. Chúng ta không nên quên rằng công việc của Thánh đoàn vào lúc này, và nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, trước hết gắn liền với các ý tưởng. Các đệ tử [142] và những người phụng sự trên cung hai thì “bận rộn xây dựng những nơi cư ngụ cho các thực thể năng động mà chức năng của họ từ xưa đến nay vẫn là nạp lực cho tư tưởng của con người và như thế mở ra kỷ nguyên mới và tốt đẹp hơn, kỷ nguyên sẽ cho phép việc nuôi dưỡng linh hồn con người.” Cổ Luận đã nói như vậy, nếu tôi hiện đại hóa cách diễn đạt cổ xưa của nó theo lối này. Bằng sự thấu hiểu từ tính, thu hút, cảm thông, và bằng việc sử dụng hành động chậm rãi dựa trên tình thương, những người phụng sự trên cung này làm việc. Ngày nay quyền năng của họ đang trở nên chi phối.

Ray III. The servers on this ray have a special function at this time in stimulating the intellect of humanity, sharpening it and inspiring it. They work, manipulating ideas so as to make them more easy of comprehension by the mass of intelligent men and women who are to be found in the world ar this time and whose intuition is not yet awakened. It is to be noted how the work of the true servers is largely with the new ideas and not with the business of organisation and of criticism (for these two go hand in hand). Ideas are taken by the third ray aspirant, as they emerge from the elevated consciousness of Those for whom the first ray works and are rendered attractive by the second ray worker (attractive in the esoteric sense) and adapted to the immediate need and rendered vocal by the force of the intellectual third ray types. In this lies a hint for many of the third ray personalities to be found working in various fields of service at this time.

Cung ba. Những người phụng sự trên cung này có một chức năng đặc biệt vào lúc này là kích thích trí tuệ của nhân loại, làm cho nó sắc bén và truyền cảm hứng cho nó. Họ làm việc bằng cách vận dụng các ý tưởng để khiến chúng trở nên dễ hiểu hơn đối với khối đông những người nam và nữ thông minh hiện có trong thế giới vào lúc này và trực giác của họ vẫn chưa thức tỉnh. Cần lưu ý rằng công việc của những người phụng sự chân chính phần lớn là với các ý tưởng mới chứ không phải với công việc tổ chức và phê phán (vì hai điều này đi đôi với nhau). Các ý tưởng được người chí nguyện cung ba tiếp nhận khi chúng xuất hiện từ tâm thức cao siêu của Những Đấng mà cung một làm việc cho Các Ngài, và được người hoạt động cung hai làm cho trở nên hấp dẫn (hấp dẫn theo nghĩa huyền bí), rồi được thích nghi với nhu cầu trước mắt và được diễn đạt thành lời nhờ mãnh lực của các kiểu cung ba trí tuệ. Chính trong điều này có một gợi ý cho nhiều phàm ngã cung ba hiện đang làm việc trong nhiều lĩnh vực phụng sự khác nhau vào lúc này.

Ray IV. This ray is not in incarnation at the time and therefore few fourth ray egos are available in world service. There are, however, many fourth ray personalities and they can learn much by the study of the work of the New Group of World Servers. The major task of the fourth ray aspirant is to harmonise the new ideas with the old, so that there can be no dangerous gap or break. They are those who bring [143] about a “righteous compromise”, and adapt the new and the old so that the true pattern is preserved. They are engaged with the bridging process, for they are the true intuitives and have a capacity for the art of synthesis so that their work most definitely can help in bringing forward a true presentation of the divine picture.

Cung bốn. Cung này hiện không đang lâm phàm vào lúc này và vì vậy có rất ít chân ngã cung bốn sẵn có cho công việc phụng sự thế giới. Tuy nhiên, có nhiều phàm ngã cung bốn, và họ có thể học được nhiều điều qua việc nghiên cứu công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhiệm vụ chính của người chí nguyện cung bốn là hài hòa các ý tưởng mới với cái cũ, để không có khoảng trống hay đứt gãy nguy hiểm nào. Họ là những người mang lại [143] một “sự thỏa hiệp chính đáng”, và thích nghi cái mới với cái cũ sao cho mô hình chân thực được bảo tồn. Họ dấn thân vào tiến trình bắt cầu, vì họ là những nhà trực giác chân chính và có năng lực về nghệ thuật tổng hợp, nên công việc của họ một cách rất rõ rệt có thể giúp đưa ra một sự trình bày chân thực về bức tranh thiêng liêng.

Ray V. The servers on this ray are coming rapidly into prominence. They are those who investigate the form in order to find its hidden idea, its motivating power, and to this end they work with ideas, proving them either true or false. They gather into their ranks those whose personalities are on this ray and train them in the art of scientific investigation. From the sensed spiritual ideas, lying behind the form side of manifestation, from the many discoveries in the ways of God with man and nature, from the inventions (which are but materialised ideas) and from the witness to the Plan which law portrays, they are preparing that new world in which men will work and live a more deeply conscious, spiritual life. Disciples working along these lines in every country today are more active than at any other time in human history. They are, knowingly and unknowingly, leading men into the world of meaning, and their discoveries will eventually end the present era of unemployment, and their inventions and improvements, added to the steadily growing idea of group interdependence (which is the major message of the New Group of World Servers) will eventually ameliorate human conditions so that an era of peace and leisure can supervene. You will note that I do not say “will supervene”, for not even the Christ Himself can predict exactly the time limit within which changes can eventuate, nor the reaction of humanity to any given point of revelation.

Cung năm. Những người phụng sự trên cung này đang nhanh chóng trở nên nổi bật. Họ là những người khảo cứu hình tướng để tìm ra ý tưởng ẩn giấu của nó, động lực thúc đẩy nó, và vì mục đích đó họ làm việc với các ý tưởng, chứng minh chúng là đúng hay sai. Họ tập hợp vào hàng ngũ mình những người có phàm ngã thuộc cung này và huấn luyện họ trong nghệ thuật khảo cứu khoa học. Từ những ý tưởng tinh thần được cảm nhận nằm sau mặt hình tướng của biểu hiện, từ nhiều khám phá về những đường lối của Thượng đế đối với con người và thiên nhiên, từ những phát minh (vốn chỉ là những ý tưởng được hiện hình), và từ chứng cứ về Thiên Cơ mà định luật biểu lộ, họ đang chuẩn bị thế giới mới trong đó con người sẽ làm việc và sống một đời sống tinh thần, có ý thức sâu sắc hơn. Các đệ tử làm việc theo những đường lối này tại mọi quốc gia ngày nay đang hoạt động mạnh hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử loài người. Họ, một cách hữu thức và vô thức, đang dẫn dắt con người vào Thế giới của ý nghĩa, và những khám phá của họ cuối cùng sẽ chấm dứt kỷ nguyên thất nghiệp hiện nay; những phát minh và cải tiến của họ, cộng với ý tưởng ngày càng tăng về sự tương thuộc nhóm (vốn là thông điệp chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian), cuối cùng sẽ cải thiện các điều kiện nhân loại để một kỷ nguyên hòa bình và nhàn hạ có thể tiếp theo xuất hiện. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ xuất hiện”, vì ngay cả chính Đức Christ cũng không thể tiên đoán chính xác giới hạn thời gian trong đó những thay đổi có thể xảy ra, cũng như phản ứng của nhân loại trước bất kỳ điểm mặc khải nào được ban ra.

Ray VI. The effect of the activity of this ray, during the past two thousand years, has been to train humanity in the [144] art of recognising ideals, which are the blue prints of ideas. The main work of the disciples on this ray is to capitalise on the developed tendency of humanity to recognise ideas, and—avoiding the rocks of fanaticism, and the dangerous shoals of superficial desire—train the world thinkers so ardently to desire the good, the true and the beautiful, that the idea which should materialise in some form on earth can shift from the plane of the mind and clothe itself in some form on earth. These disciples and servers work consciously with the desire element in man; they work scientifically with its correct evocation. Their technique is scientific because it is based upon a right understanding of the human material with which they have to work.

Cung sáu. Tác động của hoạt động của cung này trong hai ngàn năm qua là huấn luyện nhân loại trong [144] nghệ thuật nhận biết các lý tưởng, vốn là những bản thiết kế của các ý tưởng. Công việc chính của các đệ tử trên cung này là tận dụng xu hướng đã phát triển của nhân loại trong việc nhận biết các ý tưởng, và—tránh những mỏm đá của sự cuồng tín cùng những bãi cạn nguy hiểm của dục vọng hời hợt—huấn luyện các nhà tư tưởng thế giới khao khát mãnh liệt điều thiện, điều chân và điều mỹ đến mức ý tưởng cần được hiện hình dưới một hình thức nào đó trên trái đất có thể chuyển từ cõi trí và khoác lấy một hình thức nào đó trên trái đất. Những đệ tử và người phụng sự này làm việc một cách hữu thức với yếu tố dục vọng trong con người; họ làm việc một cách khoa học với sự gợi lên đúng đắn của nó. Kỹ thuật của họ là khoa học vì nó dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về chất liệu nhân loại mà họ phải làm việc cùng.

END of LOTSWC 15, EP II 144

END of LOTSWC 15, EP II 144

Beginning of LOTSWC 16, EP II 144.

Beginning of LOTSWC 16, EP II 144.

[-> Bình Giảng 16]

Some people have to be galvanised into activity by an idea. With these the first ray disciple can be effective. Others can be reached more easily by an ideal, and will then subordinate their personal lives and wishes to that ideal. With these the sixth ray disciple works with facility, and this he should endeavor to do, teaching men to recognise the truth, holding steadily before them the ideal, restraining them from a too energetic and fanatical display of interest, in the need for the long pull. The sixth ray, it should be remembered, when it constitutes the personality ray of a man or a group, can be far more destructive than the first ray, for there is not so much wisdom to be found, and, as it works through desire of some kind, it is following the line of least resistance for the masses, and can therefore the more easily produce physical plane effects. Sixth ray people need handling with care, for they are too one pointed and too full of personal desire, and the tide of evolution has been with this type for a very long time. But the sixth ray method of evoking desire for the materialising of an ideal is indispensable, and, fortunately, there are many aspirants and disciples on this ray available today.

Một số người phải được kích thích mạnh vào hoạt động bởi một ý tưởng. Với những người này, đệ tử cung một có thể hữu hiệu. Những người khác có thể được tiếp cận dễ dàng hơn bằng một lý tưởng, và khi đó sẽ đặt đời sống và ước muốn cá nhân của mình dưới lý tưởng ấy. Với những người này, đệ tử cung sáu làm việc một cách dễ dàng, và đây là điều y nên cố gắng thực hiện, dạy con người nhận biết chân lý, luôn giữ vững trước họ lý tưởng ấy, kiềm chế họ khỏi sự biểu lộ quan tâm quá mãnh liệt và cuồng tín, trong nhu cầu của sự bền bỉ lâu dài. Cần nhớ rằng cung sáu, khi nó cấu thành cung phàm ngã của một người hay một nhóm, có thể hủy diệt hơn nhiều so với cung một, vì ở đó không có nhiều minh triết đến thế, và vì nó hoạt động qua một loại dục vọng nào đó, nó đi theo con đường ít trở ngại nhất đối với quần chúng, và do đó có thể dễ dàng tạo ra các hiệu quả trên cõi hồng trần hơn. Những người cung sáu cần được xử lý cẩn trọng, vì họ quá nhất tâm và quá đầy dục vọng cá nhân, và làn sóng tiến hoá đã đứng về phía kiểu người này trong một thời gian rất dài. Nhưng phương pháp cung sáu trong việc gợi lên dục vọng để hiện hình một lý tưởng là điều không thể thiếu, và may mắn thay, ngày nay có nhiều người chí nguyện và đệ tử trên cung này sẵn có.

[145]

[145]

Ray VII. This ray provides at this time an active and necessary grouping of disciples who are eager to aid the Plan. Their work lies naturally on the physical plane. They can organise the evoked ideal which will embody as much of the idea of God as the period and humanity can evidence and produce in form upon the earth. Their work is potent and necessary and calls for much skill in action. This is the ray that is coming into power. None of these ray participants in the hierarchical crusade today can really work without each other, and no group can carry on alone. The difference between the methods of the old age and that of the new can be seen expressed in the idea of leadership by one and leadership by a group. It is the difference between the imposition of an individual’s response to an idea upon his fellow men and the reaction of a group to an idea, producing group idealism and focalising it into definite form, carrying forward the emergence of the idea without the dominance of any one individual. This is the major task today of the seventh ray disciple, and to this end he must bend every energy. He must speak those Words of Power which are a group word, and embody the group aspiration in an organised movement, which, it will be noted is quite distinct from an organisation. A striking instance of the use of such a Word of Power being enunciated by a group has lately been given in the Great Invocation which has been used with marked effect. It should continue to be used, for it is the inaugurating mantram of the incoming seventh ray. This is the first time such a mantram has been brought to the attention of humanity.

Cung bảy. Cung này hiện đang cung cấp một sự tập hợp tích cực và cần thiết của các đệ tử đang tha thiết muốn trợ giúp Thiên Cơ. Công việc của họ tự nhiên nằm trên cõi hồng trần. Họ có thể tổ chức lý tưởng đã được gợi lên, lý tưởng sẽ thể hiện được chừng nào ý tưởng của Thượng đế mà thời kỳ và nhân loại có thể biểu lộ và tạo ra thành hình tướng trên trái đất. Công việc của họ đầy hiệu lực và cần thiết, và đòi hỏi nhiều kỹ năng trong hành động. Đây là cung đang đi vào quyền lực. Không một ai trong số những người tham dự theo cung này trong cuộc thập tự chinh của Thánh đoàn ngày nay có thể thực sự làm việc mà không cần những người khác, và không nhóm nào có thể tự mình tiếp tục. Sự khác biệt giữa các phương pháp của thời đại cũ và của thời đại mới có thể thấy được qua ý tưởng về sự lãnh đạo bởi một cá nhân và sự lãnh đạo bởi một nhóm. Đó là sự khác biệt giữa việc áp đặt đáp ứng của một cá nhân đối với một ý tưởng lên đồng loại của y và phản ứng của một nhóm đối với một ý tưởng, tạo ra chủ nghĩa lý tưởng nhóm và hội tụ nó vào hình tướng xác định, thúc đẩy sự xuất hiện của ý tưởng mà không có sự thống trị của bất kỳ cá nhân nào. Đây là nhiệm vụ chính ngày nay của đệ tử cung bảy, và vì mục đích này y phải dồn mọi năng lực. Y phải nói ra những Quyền năng từ vốn là linh từ của nhóm, và thể hiện khát vọng nhóm trong một phong trào có tổ chức, mà cần lưu ý rằng hoàn toàn khác với một tổ chức. Một ví dụ nổi bật về việc sử dụng một Quyền năng từ như thế được một nhóm tuyên xướng gần đây đã được đưa ra trong Đại Khấn Nguyện, vốn đã được sử dụng với hiệu quả rõ rệt. Nó nên tiếp tục được sử dụng, vì đó là mantram khai mở của cung bảy đang đi vào. Đây là lần đầu tiên một mantram như vậy được đưa ra cho sự chú ý của nhân loại.

All these rays work today for the carrying out of a specific group idea of seven Masters Who, through Their picked and chosen servers, are actively participating in the work which is the initiator work of the seventh ray. It is also linked up with the incoming Aquarian influence. The Masters, [146] with their large group of disciples, functioning on all the five planes of human unfoldment, have studied minutely Their accepted disciples, the disciples under supervision and not yet accepted, and the aspirants of the world. They have selected a number of them to weld together into a group upon the outer physical plane. The basis of this selection is:—

Tất cả các cung này ngày nay đều hoạt động để thực hiện một ý tưởng nhóm đặc thù của bảy Chân sư, Các Ngài, thông qua những người phụng sự được tuyển chọn kỹ lưỡng của mình, đang tích cực tham dự vào công việc vốn là công việc khởi xướng của cung bảy. Nó cũng được liên kết với ảnh hưởng Bảo Bình đang đi vào. Các Chân sư, [146] cùng với nhóm đệ tử đông đảo của Các Ngài, hoạt động trên cả năm cõi của sự khai mở nhân loại, đã nghiên cứu tỉ mỉ các đệ tử được chấp nhận của Các Ngài, các đệ tử đang được giám sát nhưng chưa được chấp nhận, và những người chí nguyện của thế giới. Các Ngài đã chọn ra một số người trong họ để hàn gắn lại thành một nhóm trên cõi hồng trần bên ngoài. Cơ sở của sự tuyển chọn này là:—

a. Sensitivity to the Aquarian influence.

a. Sự nhạy cảm với ảnh hưởng Bảo Bình.

b. Willingness to work in a group as an integral part of the group, and having no idea of personal ambition or any wish to be a leader. Where the desire to be a leader exists, that disciple is automatically (though only temporarily) disqualified for this particular endeavor. He can still do good work, but it will be secondary work, and more closely affiliated with the old age than with the work of the New Group of World Servers.

b. Sự sẵn lòng làm việc trong một nhóm như một phần không thể tách rời của nhóm, và không có ý tưởng nào về tham vọng cá nhân hay bất kỳ mong muốn nào được làm người lãnh đạo. Ở đâu có dục vọng làm người lãnh đạo, ở đó đệ tử ấy tự động bị loại khỏi nỗ lực đặc biệt này (dù chỉ là tạm thời). Y vẫn có thể làm công việc tốt, nhưng đó sẽ là công việc thứ yếu, và gắn bó gần hơn với thời đại cũ hơn là với công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

c. A dedication that holds nothing back that can rightly be given.

c. Một sự hiến dâng không giữ lại điều gì có thể được trao đi một cách đúng đắn.

d. A harmlessness which, though not yet perfected, exists as an ideal towards which the aspirant is constantly striving.

d. Tính vô tổn hại mà tuy chưa hoàn hảo, vẫn tồn tại như một lý tưởng mà người chí nguyện không ngừng phấn đấu hướng tới.

In this work many can have a part. The Law of Service has been thus outlined in an endeavor to make one of the most esoteric influences in the solar system somewhat clearer in our minds. I call you to service, but would remind you that the service discussed here will only be possible when we have a clearer vision of the goal of meditation, and learn to preserve, during the day, the attitude of inner spiritual orientation. As we learn to obliterate and efface out of our consciousness ourselves as the central figure in our life drama, then and then only can we measure up to our real potentialities as servers of the Plan.

Trong công việc này, nhiều người có thể có phần. Định luật Phụng sự vì thế đã được phác họa nhằm cố làm cho một trong những ảnh hưởng huyền bí nhất trong hệ mặt trời trở nên phần nào rõ ràng hơn trong trí tuệ chúng ta. Tôi kêu gọi các bạn phụng sự, nhưng muốn nhắc các bạn rằng sự phụng sự được bàn đến ở đây sẽ chỉ có thể thực hiện khi chúng ta có một linh thị rõ ràng hơn về mục tiêu của tham thiền, và học cách duy trì trong ngày thái độ định hướng tinh thần bên trong. Khi chúng ta học cách xóa bỏ và làm mờ khỏi tâm thức mình chính bản thân mình như nhân vật trung tâm trong vở kịch đời sống của mình, thì khi ấy và chỉ khi ấy chúng ta mới có thể đáp ứng được những tiềm năng thực sự của mình như những người phụng sự Thiên Cơ.

[End of LOTSWC 16, p. 146

[End of LOTSWC 16, p. 146

Beginning on LOTSWC 17, 147

Beginning on LOTSWC 17, 147

[147]

[147]

[-> Bình Giảng 17]

4. The Law of Repulse—Định luật Đẩy Lùi

We have here a most interesting law to consider. It is one of the major divine laws with which the Pilgrim has much to do on his weary, age-long way, back to the centre. It is the fourth law governing or controlling the life of the soul.

Ở đây chúng ta có một định luật hết sức lý thú để xem xét. Đây là một trong những định luật thiêng liêng chủ yếu mà Người Hành Hương có liên hệ rất nhiều trên con đường mệt mỏi, lâu dài qua các thời đại của mình trở về trung tâm. Đây là định luật thứ tư chi phối hay kiểm soát đời sống của linh hồn.

No.

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

4.

Law of Repulse.

The law of all Destroying Angels

The Angel with the Flaming Sword

The Rejecting Energy of the First Ray

4.

Định Luật Đẩy Lùi.

Định luật của tất cả Thiên Thần Hủy Diệt

Thiên Thần với Thanh Kiếm Lửa

Năng Lượng Từ Chối của Cung Một

First of all, it is well to realise that this law has certain characteristics and basic effects which might be briefly enumerated as follows:—

Trước hết, cần nhận ra rằng định luật này có một số đặc tính và hiệu quả căn bản có thể được liệt kê vắn tắt như sau:—

1. The energy displayed is dissipating in its effect. This law works as a dispersing agent.

1. Năng lượng được biểu lộ có tác dụng làm tiêu tan trong hiệu quả của nó. Định luật này hoạt động như một tác nhân phân tán.

2. When in active expression, it causes an active scattering or rejection of the aspects of form life.

2. Khi ở trong biểu hiện tích cực, nó gây ra sự phân tán hay loại bỏ tích cực các phương diện của đời sống hình tướng.

3. It produces a discriminating contact which leads eventually to what is esoterically called “the Way of divine refusal.”

3. Nó tạo ra một sự tiếp xúc có tính phân biện, cuối cùng dẫn đến điều được gọi một cách huyền bí là “Con đường của sự từ chối thiêng liêng.”

4. It is, nevertheless, an aspect of the Law of Love, of the Vishnu or Christ aspect, and concerns an attitude of the soul, whose essential nature is love.

4. Tuy nhiên, nó là một phương diện của Định luật Bác ái, của phương diện Vishnu hay Christ, và liên quan đến một thái độ của linh hồn, mà bản chất cốt yếu là tình thương.

5. This law expresses itself through the mind nature, and therefore can only make its presence and influence felt upon the Path of Discipleship.

5. Định luật này biểu lộ qua bản chất trí tuệ, và vì vậy chỉ có thể làm cho sự hiện diện và ảnh hưởng của nó được cảm nhận trên Con Đường Đệ Tử.

6. It is the prime pre-requisite to true self-knowledge. It reveals at the same time that it divides or scatters.

6. Nó là điều kiện tiên quyết hàng đầu cho sự tự tri chân chính. Đồng thời nó mặc khải rằng nó phân chia hay phân tán.

7. It works through love and for the interest of the unit,—the form and the existence which finally repulses the form.

7. Nó hoạt động qua tình thương và vì lợi ích của đơn vị,—của hình tướng và của sự tồn tại mà cuối cùng đẩy lùi hình tướng.

[148]

[148]

8. It is an aspect of one of the greatest cosmic laws, the Law of the Soul, which is the cosmic Law of Attraction, for that which is attracted in time is automatically and eventually repulsed by that which attracted it in the first instance.

8. Nó là một phương diện của một trong những định luật vũ trụ vĩ đại nhất, Định luật của Linh hồn, vốn là Định luật Hấp Dẫn vũ trụ, vì điều được thu hút theo thời gian sẽ tự động và cuối cùng bị đẩy lùi bởi chính cái đã thu hút nó ngay từ đầu.

This law is one which primarily begins to impress the divine purpose upon the consciousness of the aspirant, and dictates to him those higher impulses and those spiritual decisions which mark his progress upon the Path. It is the demonstration of the first ray quality (a subray influence of the second ray), for it should be remembered that to repulse a form, a situation or a condition may be the evidence of spiritual love in the agent of repulsion. This is well pictured for us in the ancient symbol of the Angel with the flaming sword, who stands before the gate of Paradise to turn away those who seek the fancied security of that shelter and condition. This angel acts in love, and has so acted down the ages, for that state of realisation which we call Paradise is a place of essential danger for all, save those who have earned the right to sojourn there. The angel protects the unready aspirant (not the place which he seeks to enter) and safeguards him from the risks and perils of that initiation which must be undergone before he can pass through the five divisions of Paradise to the place where light dwells and the Masters of the Wisdom live and work. This is the thought which lies behind the Masonic procedure whereby the Tyler stands outside the door of the Lodge with a drawn sword to protect the secrets of the Craft from the unready.

Định luật này là một định luật trước hết bắt đầu gây ấn tượng Thiên Ý lên tâm thức của người chí nguyện, và ra lệnh cho y những xung lực cao hơn cùng những quyết định tinh thần đánh dấu sự tiến bộ của y trên Đường Đạo. Nó là sự biểu lộ của phẩm tính cung một (một ảnh hưởng cung phụ của cung hai), vì cần nhớ rằng việc đẩy lùi một hình tướng, một hoàn cảnh hay một điều kiện có thể là bằng chứng của tình thương tinh thần nơi tác nhân đẩy lùi. Điều này được minh họa rất rõ cho chúng ta trong biểu tượng cổ xưa về Thiên Thần với thanh gươm rực lửa, đứng trước cổng Thiên Đàng để quay những ai tìm kiếm sự an toàn tưởng tượng của nơi trú ẩn và điều kiện ấy trở lại. Thiên thần này hành động trong tình thương, và đã hành động như thế qua các thời đại, vì trạng thái chứng nghiệm mà chúng ta gọi là Thiên Đàng là một nơi nguy hiểm cốt yếu cho tất cả mọi người, ngoại trừ những ai đã xứng đáng với quyền được lưu lại nơi đó. Thiên thần bảo vệ người chí nguyện chưa sẵn sàng (chứ không phải nơi mà y tìm cách bước vào) và gìn giữ y khỏi những rủi ro và hiểm nguy của điểm đạo mà y phải trải qua trước khi có thể đi qua năm phân khu của Thiên Đàng đến nơi ánh sáng ngự trị và các Chân sư Minh Triết sống và làm việc. Đây là tư tưởng nằm sau thủ tục của Hội Tam Điểm, theo đó người Gác Cửa đứng bên ngoài cửa của Hội quán với thanh gươm tuốt trần để bảo vệ các bí mật của Nghệ Thuật khỏi những người chưa sẵn sàng.

I would remind you also that as this law is an aspect of the fundamental Law of Love, it concerns the psyche or soul, and therefore its function is to further the spiritual interests of the true man, and to demonstrate the power of the second [149] aspect, the Christ consciousness, and the power of divinity. It “rejects the undesirable in order to find that which the heart craves, and thus leads the weary pilgrim from one rejection to another, until with unerring choice he makes the Great Decision.” This is quoted from the Old Commentary.

Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng vì định luật này là một phương diện của Định luật Bác ái căn bản, nó liên quan đến psyche hay linh hồn, và do đó chức năng của nó là thúc đẩy các lợi ích tinh thần của con người chân chính, và biểu lộ quyền năng của phương diện thứ hai [149], tâm thức Christ, và quyền năng của thiên tính. Nó “loại bỏ điều không mong muốn để tìm ra điều mà trái tim khao khát, và như thế dẫn dắt người hành hương mệt mỏi từ sự loại bỏ này đến sự loại bỏ khác, cho đến khi với sự lựa chọn không sai lầm, y đưa ra Quyết Định Vĩ Đại.” Điều này được trích từ Cổ Luận.

We will divide what we have to say about the functioning and effect of the Law of Repulse into three parts:—

Chúng ta sẽ chia điều phải nói về sự vận hành và hiệu quả của Định luật Đẩy Lùi thành ba phần:—

a. The Law of Repulse, and the function and quality of desire.

a. Định luật Đẩy Lùi, và chức năng cùng phẩm tính của dục vọng.

b. The Law of Repulse, as it expresses itself upon the Paths of Discipleship and Initiation.

b. Định luật Đẩy Lùi, như nó biểu lộ trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo.

c. The Law of Repulse, as it “drives in seven directions, and forces all that it contacts back unto the bosom of the seven spiritual Fathers.”

c. Định luật Đẩy Lùi, như nó “thúc đẩy theo bảy hướng, và buộc mọi điều nó tiếp xúc trở về lòng của bảy Người Cha tinh thần.”

This law works through the soul in all forms. It does not literally affect matter, except in so far as form is affected when the soul “withdraws”, or occultly “repudiates.” It will be apparent, therefore, that our understanding of its activity will depend largely upon the measure of soul force of which we may individually be aware, and the extent of our soul contact. Our point upon the ladder of evolution will govern our manipulation of this law (if such a term may be used), and determine our capacity to be sensitive to its impact. If we are unable to respond to its influence in any measure, that in itself is sufficient to indicate our development. Unless the mind is active, and unless we are beginning intelligently to use the mind, there is no medium or channel through which this influence can flow or work. Never let it be forgotten that this influence or law of our spiritual being is that which reveals the will, plan or purpose of the divine life, as it expresses itself in the individual or in humanity as a whole. Let us never forget that unless there is a thread of light to act as [150] a channel, that which this law can convey will remain unknown, unrealised and useless. These laws are the laws which govern predominantly the Spiritual Triad, that divine Triplicity which expresses itself through the medium of the soul, just as the three aspects of the soul, in their turn, reflect themselves through the personality.

Định luật này hoạt động qua linh hồn trong mọi hình tướng. Nó không tác động theo nghĩa đen lên vật chất, ngoại trừ trong chừng mực hình tướng bị tác động khi linh hồn “rút lui”, hay theo huyền bí học là “khước từ.” Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng sự thấu hiểu của chúng ta về hoạt động của nó phần lớn tùy thuộc vào mức độ mãnh lực linh hồn mà cá nhân chúng ta có thể nhận biết, và mức độ tiếp xúc linh hồn của chúng ta. Điểm của chúng ta trên chiếc thang tiến hoá sẽ chi phối việc chúng ta vận dụng định luật này (nếu có thể dùng một thuật ngữ như vậy), và quyết định năng lực của chúng ta trong việc nhạy cảm với tác động của nó. Nếu chúng ta không thể đáp ứng với ảnh hưởng của nó ở bất kỳ mức độ nào, thì điều đó tự nó đã đủ để chỉ ra sự phát triển của chúng ta. Trừ phi trí tuệ hoạt động, và trừ phi chúng ta đang bắt đầu sử dụng trí tuệ một cách thông minh, sẽ không có môi trường hay kênh nào mà qua đó ảnh hưởng này có thể tuôn chảy hay hoạt động. Đừng bao giờ quên rằng ảnh hưởng hay định luật này của bản thể tinh thần chúng ta là điều mặc khải ý chí, thiên cơ hay mục đích của sự sống thiêng liêng, như nó biểu lộ trong cá nhân hay trong toàn thể nhân loại. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng trừ phi có một sợi ánh sáng làm [150] kênh dẫn, điều mà định luật này có thể chuyển tải sẽ vẫn không được biết đến, không được chứng nghiệm và vô dụng. Những định luật này là các định luật chủ yếu chi phối Tam Nguyên Tinh Thần, bộ ba thiêng liêng ấy biểu lộ qua trung gian của linh hồn, cũng như ba phương diện của linh hồn, đến lượt chúng, phản chiếu chính mình qua phàm ngã.

Therefore, all that can be imparted in connection with this law can be comprehended only by the man who is beginning to be spiritually awakened. The three laws which we have already considered deal with the specific spiritual influences which emanate from the three tiers of petals which compose the egoic lotus. (See page 823 of A Treatise on Cosmic Fire.)

Vì vậy, tất cả những gì có thể được truyền đạt liên quan đến định luật này chỉ có thể được thấu hiểu bởi người đang bắt đầu được thức tỉnh về mặt tinh thần. Ba định luật mà chúng ta đã xem xét trước đây liên quan đến những ảnh hưởng tinh thần đặc thù phát ra từ ba tầng cánh hoa cấu thành Hoa Sen Chân Ngã. (Xem trang 823 của Luận về Lửa Vũ Trụ.)

1.

The Law of Sacrifice

The Petals of Sacrifice. The sacrificial will of the Soul.

1.

Định Luật Hi Sinh

Các Cánh Hoa Hi Sinh. Ý chí hi sinh của Linh hồn.

2.

The Law of Magnetic Impulse

The Petals of Love.

2.

Định Luật Xung Động Từ Tính

Các Cánh Hoa Bác Ái.

3.

The Law of Service

The Petals of Knowledge.

3.

Định Luật Phụng Sự

Các Cánh Hoa Tri Thức.

This fourth Law of Repulse works through the first Law of Sacrifice and carries to the aspirant the quality, influence and tendency of the Spiritual Triad, the threefold expression of the Monad. Its full force is felt only after the third initiation, in which the power of the Spirit is, for the first time, consciously felt. Up to that time it has been the growing control of the soul which was primarily registered. Therefore we have:—

Định luật Đẩy Lùi thứ tư này hoạt động qua Định luật Hi Sinh thứ nhất và mang đến cho người chí nguyện phẩm tính, ảnh hưởng và xu hướng của Tam Nguyên Tinh Thần, biểu lộ tam phân của chân thần. Toàn bộ mãnh lực của nó chỉ được cảm nhận sau lần điểm đạo thứ ba, trong đó quyền năng của Tinh thần lần đầu tiên được cảm nhận một cách hữu thức. Cho đến lúc đó, điều chủ yếu được ghi nhận là sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Vì vậy chúng ta có:—

1.

The Law of Repulse.

Atma. Spiritual Will. This Fourth Law influence comes via the egoic petals of sacrifice and the subsidiary Law of Sacrifice.

Định Luật Đẩy Lùi.

Atma. Ý Chí Tinh Thần. Ảnh hưởng của Định Luật Thứ Tư này đến qua các cánh hoa hi sinh của chân ngã và Định Luật Phụ về Hi Sinh.

2.

The Law of Group Progress.

Buddhi. Spiritual Love. This Fifth Law comes via the love petals of the egoic lotus, and the subsidiary Law of Magnetic Impulse.

Định Luật Tiến Bộ Nhóm.

Bồ đề. Tình Thương Tinh Thần. Định Luật Thứ Năm này đến qua các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã, và Định Luật Phụ về Xung Động Từ Tính.

3.

The Law of Expansive Response.

Manas. Higher spiritual mind. Sixth Law. It comes via the knowledge petals and the subsidiary Law of Service.

Định Luật Đáp Ứng Mở Rộng.

Manas. Thượng trí tinh thần. Định Luật Thứ Sáu. Nó đến qua các cánh hoa tri thức và Định Luật Phụ về Phụng Sự.

[151]

[151]

[End of LOTSWC 17 p. 150

[End of LOTSWC 17 p. 150

[Beginning of LOTSWC 18, p. 151

[Beginning of LOTSWC 18, p. 151

[-> Bình Giảng 18]

These higher spiritual laws reflect themselves in the three lower spiritual laws, finding their way into the lower consciousness via the egoic lotus and the antaskarana. This statement is the second basic postulate in connection with our study of this Law of Repulse, the first postulate being the earlier statement that unless there is a thread of light to act as a channel, that which this law conveys will remain unknown and unrealised.

Những định luật tinh thần cao hơn này phản chiếu chính mình trong ba định luật tinh thần thấp hơn, tìm đường đi vào tâm thức thấp hơn qua Hoa Sen Chân Ngã và antaskarana. Mệnh đề này là định đề căn bản thứ hai liên quan đến việc nghiên cứu Định luật Đẩy Lùi của chúng ta, định đề thứ nhất là mệnh đề đã nêu trước đó rằng trừ phi có một sợi ánh sáng làm kênh dẫn, điều mà định luật này chuyển tải sẽ vẫn không được biết đến và không được chứng nghiệm.

These six laws give us the key to the entire psychological problem of every human being, and there is no condition which is not produced by the conscious or unconscious reaction of man, to these basic influences—the natural and spiritual laws. If psychologists would accept the three basic laws of the universe, and the seven laws through which they express their influence, they would arrive at an understanding of the human being far more rapidly than is now the case. The three major laws are, as has been stated elsewhere:—

Sáu định luật này cho chúng ta chìa khóa của toàn bộ vấn đề tâm lý học của mỗi con người, và không có điều kiện nào lại không được tạo ra bởi phản ứng hữu thức hay vô thức của con người đối với những ảnh hưởng căn bản này—các định luật tự nhiên và tinh thần. Nếu các nhà tâm lý học chấp nhận ba định luật căn bản của vũ trụ, và bảy định luật qua đó chúng biểu lộ ảnh hưởng của mình, họ sẽ đi đến sự thấu hiểu con người nhanh hơn rất nhiều so với hiện nay. Ba định luật chính, như đã được nêu ở nơi khác, là:—

1. The Law of Economy. This governs primarily the instinctual nature of man.

1. Định luật Tiết Kiệm. Định luật này trước hết chi phối bản chất bản năng của con người.

2. The Law of Attraction, which governs the soul aspect in man and in all forms of life, from an atom to a solar system.

2. Định luật Hấp Dẫn, chi phối phương diện linh hồn trong con người và trong mọi hình tướng sự sống, từ một nguyên tử đến một hệ mặt trời.

3. The Law of Synthesis, which will govern man when he has arrived at the Path of Initiation, but which as yet means but little in his development.

3. Định luật Tổng Hợp, sẽ chi phối con người khi y đã đạt đến Con Đường Điểm Đạo, nhưng hiện nay vẫn còn có rất ít ý nghĩa trong sự phát triển của y.

There are, then, the seven minor Laws which produce the [152] evolutionary unfoldment of man, the person, and man, the soul. These are:

Như vậy, có bảy Định luật nhỏ tạo ra sự [152] khai mở tiến hoá của con người, con người như một nhân vị, và con người như một linh hồn. Đó là:

1. The Law of Vibration, the atomic law of the solar system.

1. Định luật Rung Động, định luật nguyên tử của hệ mặt trời.

2. The Law of Cohesion, an aspect of the Law of Attraction.

2. Định luật Kết Dính, một phương diện của Định luật Hấp Dẫn.

3. The Law of Disintegration.

3. Định luật Phân Giải.

4. The Law of Magnetic Control, governing the control of the personality by the spiritual nature, via the soul nature.

4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính, chi phối sự kiểm soát phàm ngã bởi bản chất tinh thần, qua bản chất linh hồn.

5. The Law of Fixation. By means of this law the mind controls and stabilises.

5. Định luật Cố Định. Nhờ định luật này mà trí tuệ kiểm soát và ổn định.

6. The Law of Love, whereby the lower desire nature is transmuted.

6. Định luật Bác ái, nhờ đó bản chất dục vọng thấp được chuyển hoá.

7. The Law of Sacrifice and Death.

7. Định luật Hi Sinh và Chết.

(A Treatise on Cosmic Fire, p. 569.)

(Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 569.)

These seven laws concern the form side of life. To these ten laws must be added the seven laws of the soul which we are here considering. These begin to play upon the man and produce his more rapid spiritual unfoldment after he has been subjected to the discipline of the Probationary Path, or the Path of Purification. He is then ready to tread the final stages of the Path.

Bảy định luật này liên quan đến mặt hình tướng của sự sống. Vào mười định luật này phải cộng thêm bảy định luật của linh hồn mà chúng ta đang xem xét ở đây. Chúng bắt đầu tác động lên con người và tạo ra sự khai mở tinh thần nhanh hơn của y sau khi y đã chịu sự kỷ luật của Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Thanh Luyện. Khi ấy y sẵn sàng bước đi những giai đoạn cuối cùng của Đường Đạo.

These seven laws are the basis of all true psychological understanding and, when their influence is better grasped, man will arrive at real self knowledge. He will then be ready for the fourth initiation which releases him from all further need for rebirth. This is the truth which underlies the Masonic teaching, which is given under the symbolism of the first eighteen degrees. These can be divided into four groups of degrees:—Entered Apprentice, Fellow Craft, (followed by the Mark degree) Master Mason (followed by the H.R.A.) and the grouped degrees, four to seventeen, in the Scottish Rite. These seventeen degrees prepare the man for the fourth [153] or fundamental degree, taken by a man who is a Master Mason. It can only be taken when the Master is in possession of the true Lost Word. He has risen from the dead; he has been entered, passed, and raised, and now can be perfected. Herein lies a great mystery. These seventeen degrees, leading to the first great step, (taken by the risen Master) are subjectively related to the seventeen laws which we have been considering. There is a parallelism worth noting between:—

Bảy định luật này là nền tảng của mọi sự thấu hiểu tâm lý học chân chính, và khi ảnh hưởng của chúng được nắm bắt tốt hơn, con người sẽ đạt đến sự tự tri thực sự. Khi đó y sẽ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư, giải thoát y khỏi mọi nhu cầu tái sinh thêm nữa. Đây là chân lý nằm dưới giáo huấn của Hội Tam Điểm, được ban ra dưới biểu tượng của mười tám cấp đầu tiên. Những cấp này có thể được chia thành bốn nhóm cấp:—Đệ tử Nhập môn, Thợ Đồng môn, (tiếp theo là cấp Dấu Ấn) Chân sư Tam Điểm (tiếp theo là H.R.A.) và các cấp được nhóm lại, từ bốn đến mười bảy, trong Nghi thức Scotland. Mười bảy cấp này chuẩn bị con người cho cấp thứ tư [153] hay cấp căn bản, được một người là Chân sư Tam Điểm tiếp nhận. Nó chỉ có thể được tiếp nhận khi Chân sư sở hữu Linh từ Thất Truyền chân chính. Y đã sống lại từ cõi chết; y đã được nhập, được vượt qua, và được nâng lên, và giờ đây có thể được hoàn thiện. Chính trong điều này có một huyền nhiệm lớn. Mười bảy cấp này, dẫn đến bước lớn đầu tiên, (được Chân sư phục sinh tiếp nhận) có liên hệ chủ quan với mười bảy định luật mà chúng ta đã xem xét. Có một sự song hành đáng lưu ý giữa:—

1. The eighteen laws:—

1. Mười tám định luật:—

a. The three major laws of the universe,

a. Ba định luật chính của vũ trụ,

b. The seven minor laws of the solar system,

b. Bảy định luật nhỏ của hệ mặt trời,

c. The seven basic laws of the soul, plus what we might call the great law of Deity Itself, the law of God’s synthetic purpose.

c. Bảy định luật căn bản của linh hồn, cộng với điều mà chúng ta có thể gọi là định luật vĩ đại của chính Thượng đế, định luật về mục đích tổng hợp của Thượng đế.

2. The eighteen subplanes through which man makes his way:—

2. Mười tám cõi phụ mà qua đó con người tiến bước:—

a. The seven physical subplanes.

a. Bảy cõi phụ hồng trần.

b. The seven astral or emotional-desire subplanes.

b. Bảy cõi phụ cảm dục hay cảm xúc-dục vọng.

c. The four lower mental subplanes.

c. Bốn cõi phụ hạ trí.

3. The eighteen degrees in Masonry, from that of the Entered Apprentice to that of the perfected initiate of the Rose Croix Chapter.

3. Mười tám cấp trong Hội Tam Điểm, từ cấp của người học việc mới nhập môn đến cấp của điểm đạo đồ hoàn thiện của Chi Bộ Rose Croix.

4. The eighteen centres of force with which the spiritual man has to work:

4. Mười tám trung tâm mãnh lực mà con người tinh thần phải làm việc với chúng:

a. The seven centres in the etheric body.

a. Bảy trung tâm trong thể dĩ thái.

b. The seven centres in the astral body.

b. Bảy trung tâm trong thể cảm dục.

c. The three rows of petals in the egoic lotus.

c. Ba vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã.

d. The “Jewel in the Lotus”, at the heart of the “flower of the soul”, which makes the eighteenth centre.

d. “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, ở trung tâm của “đóa hoa linh hồn”, tạo thành trung tâm thứ mười tám.

An understanding of these symbolic relations will do much to clarify the way of the soul in a body, and will constitute the basis of all true esoteric psychological study.

Sự thấu hiểu các tương quan biểu tượng này sẽ góp phần rất lớn làm sáng tỏ con đường của linh hồn trong một thể xác, và sẽ tạo thành nền tảng của mọi nghiên cứu chân chính về Tâm Lý Học Nội Môn.

[End of LOTSWC 18 p. 153 EP II

[End of LOTSWC 18 p. 153 EP II

Beginning of LOTSWC 19, p. 154

Beginning of LOTSWC 19, p. 154

[154]

[154]

[-> Bình Giảng 19]

a. THE LAW OF REPULSE AND DESIRE—ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ DỤC VỌNG

The section with which we have now to deal will concern itself specifically with the major problem of humanity. We shall, however, touch upon it most briefly, and will deal particularly with the aspect of it which shifts from the problem as it concerns the aspirant to the problem of the disciple. Underlying the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we characterise as Desire. All lesser complexities are based upon, subservient to, or are emergent from, this basic urge. Freud calls this urge “sex,” which is, nevertheless, only another name for the impetus of attraction for the not-self. Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” of humanity, and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions and the trend of the mental life, in terms of the underlying wishes, longings and acquisitive aspirations as “defence mechanisms,” or “ways of escape” from the inevitability of environing conditions. To these longings and wishes and the labour incidental to their fulfillment, all men give their lives; and everything done is in an effort to meet the realised need, to face the challenge of existence with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state.

Phần mà giờ đây chúng ta phải bàn đến sẽ đặc biệt liên quan đến vấn đề lớn của nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ chạm đến nó thật vắn tắt, và đặc biệt bàn đến phương diện của nó khi vấn đề chuyển từ chỗ liên quan đến người chí nguyện sang vấn đề của đệ tử. Nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại nói chung là thái độ lớn đối với sự tồn tại mà chúng ta gọi là Dục vọng. Mọi phức tạp nhỏ hơn đều dựa trên, lệ thuộc vào, hoặc phát sinh từ sự thôi thúc căn bản này. Freud gọi sự thôi thúc này là “tính dục”, tuy nhiên đó chỉ là một tên gọi khác của xung lực hấp dẫn đối với không-phải-ngã. Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” của nhân loại, và giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng liên hệ, mọi phản ứng cảm xúc và xu hướng của đời sống trí tuệ, theo những ước muốn, khát khao và khát vọng chiếm hữu nằm bên dưới, như những “cơ chế phòng vệ”, hay “những lối thoát” khỏi tính tất yếu của các hoàn cảnh bao quanh. Cho những khát khao và ước muốn này, cùng công lao gắn liền với việc hoàn thành chúng, mọi người đều hiến dâng đời mình; và mọi điều được làm ra đều là trong nỗ lực đáp ứng nhu cầu đã được nhận biết, đối diện với thách thức của sự tồn tại bằng đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đàng, và về sự hoàn thành sau cùng của trạng thái lý tưởng được hy vọng.

Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction, and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation, which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man; whether it is the urge to self-reproduction and the satisfaction of that appetite which works out today in the complexity of the sex life of the race; whether it is the urge to be popular, loved and esteemed; whether it is the urge for [155] intellectual enjoyment and the mental appropriation of truth, or the deep-seated desire for heaven and rest which characterises the Christian, or the aspiration for illumination which is the demand of the mystic, or the longing for identification with reality which is the “wish” of the occultist. All this is desire in some form or another, and by these urges humanity is governed and controlled; I would say most definitely controlled, for this is only a simple statement of the case.

Mọi sự đều bị chi phối bởi một hình thức nào đó của sự thôi thúc hướng đến thỏa mãn, và đó là nét đặc trưng của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển của y—dù đó là sự thôi thúc bản năng để tự bảo tồn, có thể thấy nơi việc người man dã tìm kiếm thức ăn hay trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại; dù đó là sự thôi thúc tự tái sinh và sự thỏa mãn của dục năng đang biểu lộ ngày nay trong tính phức tạp của đời sống tính dục của nhân loại; dù đó là sự thôi thúc muốn được ưa thích, được yêu mến và được kính trọng; dù đó là sự thôi thúc đối với [155] niềm vui trí tuệ và sự chiếm lĩnh chân lý bằng trí năng, hay khát vọng sâu kín về thiên đàng và an nghỉ vốn đặc trưng cho người Ki-tô hữu, hay khát vọng hướng tới soi sáng là đòi hỏi của nhà thần bí, hay nỗi khao khát đồng hoá với thực tại là “ước muốn” của nhà huyền bí học. Tất cả điều này đều là dục vọng dưới hình thức này hay hình thức khác, và bởi những thôi thúc này mà nhân loại bị chi phối và kiểm soát; tôi muốn nói rất dứt khoát là bị kiểm soát, vì đây chỉ là một phát biểu đơn giản về sự việc.

It is this realisation of man’s fundamental bias or controlling factor that lies behind the teaching given by the Buddha, and which is embodied in the Four Noble Truths of the Buddhist philosophy, which can be summarised as follows:—

Chính sự nhận ra thiên hướng căn bản hay yếu tố kiểm soát của con người này nằm sau giáo huấn do Đức Phật ban ra, và được hàm chứa trong Tứ Diệu Đế của triết học Phật giáo, có thể được tóm lược như sau:—

The Four Noble Truths

Tứ Diệu Đế

a. Existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and sorrow.

a. Sự tồn tại trong vũ trụ hiện tượng không thể tách rời khỏi đau khổ và buồn phiền.

b. The cause of suffering is desire for existence in the phenomenal universe.

b. Nguyên nhân của đau khổ là dục vọng muốn tồn tại trong vũ trụ hiện tượng.

c. The cessation of suffering is attained by eradicating desire for phenomenal existence.

c. Sự chấm dứt đau khổ đạt được bằng cách diệt trừ dục vọng đối với sự tồn tại hiện tượng.

d. The Path to the cessation of suffering is the noble eightfold path.

d. Con Đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ là Bát Chánh Đạo cao quý.

It was the realisation of the urgency of man’s need to be delivered from his own desire-nature which led Christ to emphasise the necessity to seek the good of one’s neighbor in contra-distinction to one’s own good, and to advise the life of service and self-sacrifice, of self-forgetfulness and love of all beings. Only in this way can man’s mind and “the eye of the heart” be turned away from one’s own needs and satisfaction to the deeper demands of the race itself.

Chính sự nhận ra tính cấp bách của nhu cầu con người phải được giải thoát khỏi bản chất dục vọng của chính mình đã khiến Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm điều thiện cho người lân cận thay vì cho chính mình, và khuyên sống đời phụng sự và hi sinh bản thân, quên mình và yêu thương mọi chúng sinh. Chỉ bằng cách này mà trí tuệ của con người và “con mắt của trái tim” mới có thể được quay khỏi những nhu cầu và sự thỏa mãn của riêng mình để hướng đến những đòi hỏi sâu xa hơn của chính nhân loại.

Until a man stands upon the Path of Perfection, he cannot really grasp the imperative demand of his own soul for [156] release from the search for outer, material, tangible satisfaction, and from desire. It has been this demand which indicated the soul’s need to incarnate and to function, for a needed period, under the Law of Rebirth. As the work of purification proceeds upon the Path of Purification, this demand for release becomes stronger and clearer, and when the man steps out upon the Path of Discipleship, then the Law of Repulse can, for the first time, begin to control his reactions. This takes place unconsciously at first, but it becomes more potent and more consciously appreciated as the disciple takes one initiation after another, with increasingly pointed understanding.

Cho đến khi một người đứng trên Con Đường Toàn Thiện, y không thể thật sự nắm bắt đòi hỏi cấp thiết của chính linh hồn mình về [156] sự giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài, vật chất, hữu hình, và khỏi dục vọng. Chính đòi hỏi này đã chỉ ra nhu cầu của linh hồn phải nhập thể và hoạt động, trong một thời kỳ cần thiết, dưới Định luật Tái Sinh. Khi công việc thanh luyện tiến hành trên Con Đường Thanh Luyện, đòi hỏi giải thoát này trở nên mạnh hơn và rõ hơn, và khi con người bước ra trên Con Đường Đệ Tử, thì Định luật Đẩy Lùi lần đầu tiên mới có thể bắt đầu kiểm soát các phản ứng của y. Lúc đầu điều này diễn ra một cách vô thức, nhưng nó trở nên mạnh mẽ hơn và được nhận biết có ý thức hơn khi đệ tử trải qua hết lần điểm đạo này đến lần điểm đạo khác, với sự thấu hiểu ngày càng sắc bén.

It is not our intention in this Treatise to deal with the development of the unevolved and undeveloped man in connection with these Laws of the Soul. I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples. The progress of the undeveloped and the average man can be covered by the following statements, taken sequentially and describing the stages of his progress under the promptings of desire:

Trong bộ Luận này, chúng ta không có ý định bàn đến sự phát triển của con người chưa tiến hóa và chưa phát triển trong mối liên hệ với các Định luật của Linh hồn này. Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho con người có trí tuệ cao, cho những người chí nguyện của thế giới và các đệ tử thế giới. Sự tiến bộ của người chưa phát triển và người trung bình có thể được trình bày bằng những phát biểu sau đây, theo trình tự và mô tả các giai đoạn tiến bộ của y dưới sự thúc đẩy của dục vọng:

1. The urge to experience, to exist, and to satisfy the instinctual nature.

1. Sự thôi thúc muốn kinh nghiệm, muốn tồn tại, và muốn thỏa mãn bản chất bản năng.

2. Experience, grasping, existing, followed by renewed demand for more satisfying compliances of fate or destiny.

2. Kinh nghiệm, nắm bắt, tồn tại, tiếp theo là đòi hỏi mới về những sự thuận ứng thỏa đáng hơn của số phận hay định mệnh.

3. Cycle after cycle of demand for satisfaction, a period of satisfaction of a temporary nature, and then further demands. This is the story of the race.

3. Hết chu kỳ này đến chu kỳ khác của đòi hỏi được thỏa mãn, một giai đoạn thỏa mãn có tính tạm thời, rồi lại những đòi hỏi tiếp theo. Đó là câu chuyện của nhân loại.

4. Experience, steadily sought and pursued upon the three planes of human evolution.

4. Kinh nghiệm, được tìm kiếm và theo đuổi đều đặn trên ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại.

5. Then the same experience, but this time as an integrated personality.

5. Rồi cũng chính kinh nghiệm ấy, nhưng lần này là như một Phàm ngã tích hợp.

[157]

[157]

6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand.

6. Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi đạt tới sự bão hòa, vì theo thời gian mọi người cuối cùng đều đạt được điều họ đòi hỏi.

7. Then comes the demand for inner spiritual compliances, happiness and bliss. The “heaven wish” becomes powerful.

7. Rồi đến đòi hỏi về những sự thuận ứng tinh thần bên trong, về hạnh phúc và chí phúc. “Ước muốn thiên đàng” trở nên mạnh mẽ.

8. A vague realisation that two things are needed; purification and the power to choose aright, which is right discrimination.

8. Một sự nhận ra mơ hồ rằng cần có hai điều: thanh luyện và năng lực chọn lựa đúng đắn, tức là sự phân biện đúng đắn.

9. A vision of the pairs of opposites.

9. Một linh ảnh về các cặp đối đãi.

10. The realisation of the narrow path which leads between these pairs of opposites.

10. Sự nhận ra con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối đãi ấy.

11. Discipleship and the repulsing or repudiation (over a long period of time), of the not-self.

11. Địa vị đệ tử và sự đẩy lùi hay khước từ (trong một thời gian dài) cái không-phải-ngã.

End of LOTSWC 19, p 157

End of LOTSWC 19, p 157

Beginning of LOTWSC 20, p. 157

Beginning of LOTWSC 20, p. 157

[-> Bình Giảng 20]

Such, briefly and inadequately stated, is the story of man as he searches for happiness, for joy and for bliss, or (expressing it in terms of realisation) as he progresses from the life of the instincts to that of the intellect, and then from that intellectual apprehension to the stage of illumination and final identification with reality, when he is henceforth freed from the Great Illusion.

Nói một cách vắn tắt và chưa đầy đủ, đó là câu chuyện về con người khi y tìm kiếm hạnh phúc, niềm vui và phúc lạc; hay (diễn đạt theo thuật ngữ chứng nghiệm) khi y tiến từ đời sống bản năng sang đời sống trí tuệ, rồi từ sự lĩnh hội trí tuệ ấy đến giai đoạn được soi sáng và cuối cùng đồng nhất với thực tại, để từ đó trở đi y được giải thoát khỏi Đại Ảo Tưởng.

Two things determine the rapidity with which he can—upon the Path of Discipleship—bring the Law of Repulse into play. One is the quality of his motive. Only the desire to serve is adequate to bring about the necessary reorientation and subjection to the new technique of living. The other is his willingness, at all costs, to be obedient to the light which is in him and around him. Service and obedience are the great methods of release, and constitute the underlying causes which will bring the Law of Repulse into play, thus aiding the aspirant to attain the longed-for liberation. Service releases him from his own thought life and self-determination. Obedience to his own soul integrates him into the larger [158] whole, wherein his own desires and urges are negated in the interest of the wider life of humanity and of God Himself. God is the Great Server and expresses His divine life through the Love of His heart for humanity.

Có hai điều quyết định tốc độ mà y có thể—trên Con Đường Đệ Tử—đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động. Một là phẩm tính của động cơ của y. Chỉ có dục vọng phụng sự mới đủ để đem lại sự tái định hướng cần thiết và sự quy phục đối với kỹ thuật sống mới. Điều kia là sự sẵn lòng của y, bằng bất cứ giá nào, phải vâng phục ánh sáng ở trong y và quanh y. Phụng sự và vâng phục là những phương pháp lớn của giải thoát, và tạo thành những nguyên nhân nền tảng sẽ đưa Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động, nhờ đó giúp người chí nguyện đạt đến sự giải thoát hằng mong mỏi. Phụng sự giải thoát y khỏi đời sống tư tưởng riêng và sự tự quyết định của mình. Sự vâng phục linh hồn của chính y tích hợp y vào toàn thể lớn hơn [158] trong đó những dục vọng và thôi thúc riêng của y bị phủ nhận vì lợi ích của đời sống rộng lớn hơn của nhân loại và của chính Thượng đế. Thượng đế là Đấng Phụng Sự Vĩ Đại và biểu lộ sự sống thiêng liêng của Ngài qua Tình thương của trái tim Ngài dành cho nhân loại.

Yet, when these simple truths are enunciated and we are urged to serve our brother and to obey our soul, it seems to us so familiar and so uninteresting that it can evoke but little response. If we were told that the following of a prescribed form of meditation, the practicing of a definite formula of breathing, and regular concentration upon a specific centre would release us from the wheel of life and identify us with the spiritual self and its world of being, gladly and willingly and joyously would we follow out instructions. But when, in the terms of the occult science, we are told to serve and obey, we are not interested. Yet service is the mode, par excellence, for awakening the heart centre, and obedience is equally potent in evoking the response of the two head centres to the impact of soul force, and unifying them into one field of soul recognition. So little do men understand the potency of their urges! If the urge to satisfy desire is the basic urge of the form life of man, the urge to serve is an equally basic urge of the soul in man. This is one of the most important statements in this section. It is as yet seldom satisfied. Indications of its presence are ever to be found, nevertheless, even in the most undesirable types of human beings; it is evolved in moments of high destiny or immediate urgency, and of supreme difficulty. The heart of man is sound, but oft asleep.

Tuy nhiên, khi những chân lý đơn giản này được tuyên bố và chúng ta được thúc giục phụng sự huynh đệ mình và vâng phục linh hồn mình, điều đó dường như quá quen thuộc và quá kém hấp dẫn đối với chúng ta đến nỗi chỉ gợi lên rất ít đáp ứng. Nếu chúng ta được bảo rằng việc theo một hình thức tham thiền đã định, thực hành một công thức hô hấp nhất định, và tập trung đều đặn vào một trung tâm cụ thể sẽ giải thoát chúng ta khỏi bánh xe sự sống và đồng hoá chúng ta với bản ngã tinh thần và thế giới bản thể của nó, thì chúng ta sẽ vui vẻ, sẵn lòng và hoan hỉ làm theo chỉ dẫn. Nhưng khi, theo ngôn ngữ của khoa học huyền bí, chúng ta được bảo phải phụng sự và vâng phục, chúng ta lại không quan tâm. Tuy nhiên, phụng sự là phương thức, par excellence, để đánh thức trung tâm tim, và vâng phục cũng mạnh mẽ không kém trong việc gợi lên sự đáp ứng của hai trung tâm đầu đối với tác động của mãnh lực linh hồn, và hợp nhất chúng thành một trường nhận biết linh hồn. Con người hiểu quá ít về sức mạnh của những thôi thúc của mình! Nếu sự thôi thúc thỏa mãn dục vọng là thôi thúc căn bản của đời sống hình tướng nơi con người, thì sự thôi thúc phụng sự cũng là một thôi thúc căn bản tương đương của linh hồn trong con người. Đây là một trong những phát biểu quan trọng nhất trong phần này. Tuy vậy, nó vẫn còn hiếm khi được thỏa mãn. Dẫu thế, những dấu hiệu về sự hiện diện của nó vẫn luôn có thể được tìm thấy, ngay cả nơi những loại người không đáng mong muốn nhất; nó được tiến hóa trong những khoảnh khắc của định mệnh cao cả hay nhu cầu cấp bách tức thời, và của khó khăn tột bậc. Trái tim con người lành mạnh, nhưng thường ngủ quên.

Serve and obey! These are the watchwords of the disciple’s life. They have been distorted into terms of fanatical propaganda and have thus produced the formulas of philosophy and of religious theology; but these formulas do, at the same time, veil a truth. They have been presented to the consideration [159] of man in terms of personality devotions and of obedience to Masters and leaders, instead of service of, and obedience to, the soul in all. The truth is, however, steadily emerging, and must inevitably triumph. Once the aspirant upon the Probationary Path has a vision of this (no matter how slight it may be), then the law of desire which has governed him for ages will slowly and surely give place to the Law of Repulse, which will, in time, free him from the thralldom of not-self. It will lead him to those discriminations and that dispassionate attitude which is the hallmark of the man who is on his way to liberation. Let us remember, however, that a discrimination which is based upon a determination to be free, and a dispassion which is the indication of a hard heart, will land the aspirant in the prison of a crystallized shell, which is far harder to break than the normal prison of the life of the average selfish man. This selfish spiritual desire is oft the major sin of so-called esotericists and must be carefully avoided. Therefore, he who is wise will apply himself to serve and obey.

Phụng sự và vâng phục! Đó là những khẩu hiệu của đời sống đệ tử. Chúng đã bị bóp méo thành những thuật ngữ của tuyên truyền cuồng tín và do đó đã tạo ra những công thức của triết học và thần học tôn giáo; nhưng đồng thời những công thức ấy cũng che giấu một chân lý. Chúng đã được trình bày cho sự suy xét [159] của con người dưới hình thức sùng tín phàm ngã và vâng phục các Chân sư cùng các nhà lãnh đạo, thay vì phụng sự và vâng phục linh hồn trong mọi người. Tuy nhiên, chân lý đang dần dần xuất hiện, và tất yếu phải chiến thắng. Một khi người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị có được một linh ảnh về điều này (dù nó có thể mờ nhạt đến đâu), thì định luật dục vọng đã chi phối y suốt bao thời đại sẽ chậm rãi nhưng chắc chắn nhường chỗ cho Định luật Đẩy Lùi, định luật này theo thời gian sẽ giải thoát y khỏi ách nô lệ của không-phải-ngã. Nó sẽ dẫn y đến những sự phân biện và thái độ vô tư vô dục là dấu hiệu đặc trưng của con người đang trên đường đi đến giải thoát. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng một sự phân biện dựa trên quyết tâm được tự do, và một sự vô tư vô dục là dấu hiệu của một trái tim chai cứng, sẽ đưa người chí nguyện vào nhà tù của một lớp vỏ kết tinh, thứ còn khó phá vỡ hơn nhiều so với nhà tù bình thường của đời sống người ích kỷ trung bình. Dục vọng tinh thần ích kỷ này thường là tội lỗi lớn của những người được gọi là nhà bí truyền học và phải được cẩn thận tránh né. Vì vậy, người khôn ngoan sẽ chuyên tâm phụng sự và vâng phục.

b. THE LAW OF REPULSE UPON THE PATHS OF DISCIPLESHIP AND INITIATION—ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI TRÊN CÁC CON ĐƯỜNG ĐỆ TỬ VÀ ĐIỂM ĐẠO

When the discriminating sense (the spiritual correspondence of the sense of smell, the last of the five senses to emerge in humanity) has been adequately developed in the aspirant, and he knows the pairs of opposites and has gained a vision of that which is neither of them, then he can pass on to the Path of Discipleship and enter upon the arduous task of cooperating with the spiritual laws, particularly with the Law of Repulse. At first, he hardly recognises the influence of this Law. It is as difficult for him to grasp its implications and to measure its possible effects as it would be for the average working man, with a mediocre education and a total [160] ignorance of esotericism, to grasp the significance of such an occult truth as that expressed in the words: “The construction of the antaskarana between higher and lower manas by the divine Agnishvatta, the solar angel, functioning through the egoic lotus, is the task to be carried forward during the contemplative stage of meditation.” This statement is relatively simple to grasp intellectually by the average occult student, but is utterly meaningless to the man of the world. The Law of Repulse is equally difficult of understanding by the disciple as he enters upon the Path. He has to learn to recognise its influence; then he must himself learn to do three things:—

Khi ý thức phân biện (sự tương ứng tinh thần của khứu giác, giác quan cuối cùng trong năm giác quan xuất hiện nơi nhân loại) đã được phát triển đầy đủ nơi người chí nguyện, và y biết các cặp đối đãi và đã đạt được một linh ảnh về cái không thuộc về cặp nào trong chúng, thì y có thể tiến lên Con Đường Đệ Tử và bắt đầu nhiệm vụ gian khổ là hợp tác với các định luật tinh thần, đặc biệt là với Định luật Đẩy Lùi. Lúc đầu, y hầu như không nhận ra ảnh hưởng của Định luật này. Đối với y, việc nắm bắt các hàm ý của nó và đo lường những hiệu quả có thể có của nó cũng khó như đối với một người lao động trung bình, với học vấn tầm thường và hoàn toàn [160] không biết gì về huyền bí học, khi phải nắm bắt ý nghĩa của một chân lý huyền bí như được diễn tả trong những lời sau: “Việc xây dựng antaskarana giữa thượng manas và hạ manas bởi Agnishvatta thiêng liêng, thái dương Thiên Thần, hoạt động qua Hoa Sen Chân Ngã, là nhiệm vụ phải được tiếp tục trong giai đoạn chiêm ngưỡng của tham thiền.” Phát biểu này tương đối đơn giản để đạo sinh huyền bí học trung bình nắm bắt bằng trí năng, nhưng hoàn toàn vô nghĩa đối với người đời. Định luật Đẩy Lùi cũng khó hiểu đối với đệ tử khi y bước vào Con Đường. Y phải học cách nhận ra ảnh hưởng của nó; rồi chính y phải học làm ba điều:—

1. Through service, steadily to decentralise himself and thus begin occultly to “repulse” the personality. He must see to it that his motive is love for all beings, and not desire for his own release.

1. Qua phụng sự, đều đặn phi tập trung vào bản thân và nhờ đó bắt đầu một cách huyền bí “đẩy lùi” phàm ngã. Y phải bảo đảm rằng động cơ của y là tình thương đối với mọi chúng sinh, chứ không phải dục vọng được giải thoát cho riêng mình.

2. Through an understanding of the pairs of opposites, he begins, esoterically, to “isolate” the “noble middle path” of which the Buddha spoke.

2. Qua sự thấu hiểu các cặp đối đãi, y bắt đầu, một cách huyền bí, “cô lập” “con đường trung đạo cao quý” mà Đức Phật đã nói đến.

3. Through comprehension of the words of Christ, enjoining men to “let their light shine,” he begins to construct the “path of light” which leads to the centre of life and guides him out of darkness into light, from the unreal to the real, and from death to immortality. This is the true path of the antaskarana, which the disciple weaves from out of himself (speaking symbolically), just as the spider weaves his thread.

3. Qua sự lĩnh hội những lời của Đức Christ, khuyên con người “hãy để ánh sáng của mình chiếu tỏa”, y bắt đầu xây dựng “con đường ánh sáng” dẫn đến trung tâm của sự sống và hướng dẫn y ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái không thực đến cái thực, và từ cái chết đến sự bất tử. Đây là con đường chân chính của antaskarana, mà đệ tử dệt nên từ chính mình (nói theo biểu tượng), cũng như con nhện dệt sợi tơ của nó.

Service, an understanding of the Way, and the building of the true line of escape—that is the task to be carried forward upon the Path of Discipleship. Such is the object set before all the students of the esoteric sciences at this time,—provided they desire it enough, and can train themselves to [161] work selflessly for their fellow men. As they succeed in doing this and approximate ever more closely to that which is not the pairs of opposites (and thus achieve “the Central Way”), steadily the Law of Repulse begins to swing into operation. When the third initiation is taken, this law will begin to hold the dominant place in the ruling of the life.

Phụng sự, sự thấu hiểu Con Đường, và việc xây dựng đường thoát chân chính—đó là nhiệm vụ phải được thực hiện trên Con Đường Đệ Tử. Đó là mục tiêu được đặt ra trước tất cả các đạo sinh của các khoa học huyền bí vào lúc này,—miễn là họ đủ khao khát điều đó, và có thể tự rèn luyện để [161] làm việc vô ngã cho đồng loại của mình. Khi họ thành công trong việc này và ngày càng tiến gần hơn đến cái không phải là các cặp đối đãi (và nhờ đó đạt được “Con Đường Trung Tâm”), thì Định luật Đẩy Lùi dần dần bắt đầu đi vào hoạt động. Khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, định luật này sẽ bắt đầu giữ vị trí chi phối trong việc cai quản đời sống.

The word “repulse” has an unfortunate connotation in many minds, and this revulsion against the word itself indicates man’s innately spiritual bias. Repulsion, the desire to repudiate, and repulsive attitudes, words and deeds evoke in our minds all that is unpleasant to contemplate. Yet, spiritually considered and scientifically viewed, the word “repulse” indicates simply “an attitude towards that which is not desirable.” This, in its turn (as we seek to determine that which is desirable) calls into activity the virtues of discrimination, dispassion and discipline in the disciple’s life, as well as the power to decentralise. These words indicate the urge to devaluate the unreal and the undesirable, to discipline the lower nature till those choices are readily and easily made which lead to the discarding of that which imprisons or impedes the soul. The major concepts are the definitely and carefully chosen way or procedure which will free the soul from the world of forms and identify it, first of all, with itself (thus freeing it from the world illusion), and then with the world of souls, which is the consciousness of the Oversoul.

Từ “đẩy lùi” mang một hàm nghĩa không may trong tâm trí nhiều người, và sự phản cảm đối với chính từ này cho thấy thiên hướng tinh thần bẩm sinh của con người. Sự ghê bỏ, dục vọng khước từ, và những thái độ, lời nói và hành động đáng ghê bỏ gợi lên trong tâm trí chúng ta tất cả những gì khó chịu để chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, xét về mặt tinh thần và nhìn theo khoa học, từ “đẩy lùi” chỉ đơn giản biểu thị “một thái độ đối với điều không đáng mong muốn.” Điều này, đến lượt nó (khi chúng ta tìm cách xác định điều gì là đáng mong muốn), gọi vào hoạt động các đức tính phân biện, vô tư vô dục và kỷ luật trong đời sống đệ tử, cũng như năng lực phi tập trung vào bản thân. Những từ này chỉ ra sự thôi thúc hạ thấp giá trị của cái không thực và cái không đáng mong muốn, kỷ luật bản chất thấp cho đến khi những chọn lựa dẫn đến việc loại bỏ điều giam hãm hay cản trở linh hồn được thực hiện một cách sẵn sàng và dễ dàng. Những khái niệm chủ yếu là con đường hay thủ tục được chọn lựa dứt khoát và cẩn trọng, sẽ giải thoát linh hồn khỏi thế giới hình tướng và trước hết đồng hoá nó với chính nó (nhờ đó giải thoát nó khỏi ảo tưởng thế gian), rồi sau đó với thế giới các linh hồn, tức là tâm thức của đại hồn.

There is no need to enlarge here upon the technique whereby this choice is to be made. The way of discrimination, the method of dispassion and the discipline of the life have been made plain and clear by the teachings of the past two thousand years, and through the many books written to emphasise the teaching of the Christ and of the Buddha. Through a right understanding of these, right choice can be made, and that which should not be cherished or desired can [162] be “repulsed”. Many an earnest student (such as those who will read this Treatise) has found it of advantage to write down for himself his own personal understanding of the four words:—

Ở đây không cần phải nói dài thêm về kỹ thuật nhờ đó sự chọn lựa này được thực hiện. Con đường phân biện, phương pháp vô tư vô dục và kỷ luật của đời sống đã được làm cho minh bạch và rõ ràng qua giáo huấn của hai ngàn năm qua, và qua nhiều sách vở được viết ra để nhấn mạnh giáo huấn của Đức Christ và Đức Phật. Qua sự thấu hiểu đúng đắn những điều này, sự chọn lựa đúng đắn có thể được thực hiện, và điều không nên được trân quý hay ham muốn có thể [162] bị “đẩy lùi”. Nhiều đạo sinh chân thành (như những người sẽ đọc bộ Luận này) đã thấy có ích khi tự viết ra cho mình sự hiểu biết cá nhân về bốn từ sau đây:—

1. Discrimination,

1. Phân biện,

2. Dispassion,

2. Vô tư vô dục,

3. Discipline,

3. Kỷ luật,

4. Decentralisation.

4. Phi tập trung vào bản thân.

One page given to each definition should suffice, if it embodies truly one’s highest thought. Students will realise that as they practice these four virtues, the prime characteristics of a disciple, they are thereby automatically calling into play the Law of Repulse, which, upon the Path of Initiation, brings revelation and realisation. The expression of this law upon the Path of Initiation is too advanced for those who are not yet versed in the basic discriminations, and who are still far from being dispassionate. Is there need therefore to enlarge upon this law as it works out in the life of the initiate? I think not. The disciple seeks to achieve, without passion, pain or suffering, the distinction which lies between:

Mỗi định nghĩa chỉ cần một trang là đủ, nếu nó thật sự hàm chứa tư tưởng cao nhất của mỗi người. Các đạo sinh sẽ nhận ra rằng khi họ thực hành bốn đức tính này, những đặc tính chủ yếu của một đệ tử, thì nhờ đó họ tự động gọi Định luật Đẩy Lùi vào hoạt động; định luật này, trên Con Đường Điểm Đạo, mang lại sự mặc khải và chứng nghiệm. Sự biểu lộ của định luật này trên Con Đường Điểm Đạo quá cao siêu đối với những ai chưa tinh thông các sự phân biện căn bản, và vẫn còn rất xa mới đạt được vô tư vô dục. Vậy có cần phải nói thêm về định luật này khi nó biểu lộ trong đời sống của điểm đạo đồ chăng? Tôi nghĩ là không. Đệ tử tìm cách đạt được, không có đam mê, đau đớn hay khổ sở, sự phân biệt nằm giữa:

1. Right and wrong,

1. Đúng và sai,

2. Good and evil,

2. Thiện và ác,

3. Light and dark, spiritually understood,

3. Ánh sáng và bóng tối, được hiểu theo nghĩa tinh thần,

4. Prison and liberty,

4. Nhà tù và tự do,

5. Love and hate,

5. Tình thương và hận thù,

6. Introversion and extraversion. We do well to ponder on this duality

6. Hướng nội và hướng ngoại. Chúng ta nên suy ngẫm về nhị nguyên tính này

7. Truth and falsehood,

7. Chân lý và giả dối,

8. Mystical and occult knowledge,

8. Tri thức thần bí và tri thức huyền bí,

9 The self and the not-self,

9. Bản ngã và không-phải-ngã,

10. Soul and body.

10. Linh hồn và thể xác.

[163]

[163]

Many, many other dualities can thus be listed. Having then discovered the fact of these pairs of opposites, the task of the disciple is to discover that which is neither of them. It is this central, intermediate way that is revealed to the initiate, through the working of the Law of Repulse which occultly enables him to “push with either hand, to a distance afar from his way, that which intrudes and veils the central way of light. For neither on the right nor on the left lies safety for the man who seeks that lighted way.” Does this sentence really mean aught to most of us? Let us seek to express to ourselves in words the qualifications and name of that third or central way which is, for instance, neither light nor dark, and neither love nor hate. We cannot with clarity see what it could be, nor will we until the increased stimulation which is released in us upon the Way of Initiation does its appointed work. Some idea of what it means may appear, however dimly, to our vision as we deal with our third division.

Còn rất, rất nhiều nhị nguyên tính khác cũng có thể được liệt kê như vậy. Sau khi đã khám phá ra sự kiện về các cặp đối đãi này, nhiệm vụ của đệ tử là khám phá cái không phải là cặp nào trong chúng. Chính con đường trung tâm, trung gian này được mặc khải cho điểm đạo đồ, qua hoạt động của Định luật Đẩy Lùi, định luật một cách huyền bí giúp y “dùng cả hai tay đẩy ra xa khỏi đường mình điều gì xâm nhập và che khuất con đường ánh sáng trung tâm. Vì không ở bên phải cũng không ở bên trái có sự an toàn cho người tìm kiếm con đường được soi sáng ấy.” Câu này thật sự có ý nghĩa gì đối với phần lớn chúng ta chăng? Chúng ta hãy cố diễn đạt cho chính mình bằng lời những phẩm tính và tên gọi của con đường thứ ba hay trung tâm ấy, chẳng hạn, con đường không phải ánh sáng cũng không phải bóng tối, và không phải tình thương cũng không phải hận thù. Chúng ta không thể thấy rõ nó có thể là gì, và cũng sẽ không thấy cho đến khi sự kích thích gia tăng được giải phóng trong chúng ta trên Con Đường Điểm Đạo thực hiện công việc đã định của nó. Tuy nhiên, một vài ý niệm về ý nghĩa của nó có thể xuất hiện, dù mờ nhạt, trong tầm nhìn của chúng ta khi chúng ta bàn đến phần thứ ba.

c. THE LAW OF REPULSE AND THE PILGRIM ON THE WAY OF LIFE—ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ NGƯỜI HÀNH HƯƠNG TRÊN CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG

We shall base our thoughts upon the words earlier quoted:

Chúng ta sẽ đặt nền cho tư tưởng của mình trên những lời đã trích dẫn trước đây:

“The Law of Repulse drives in seven directions, and forces all it thus contacts back to the bosom of the seven spiritual Fathers.”

“Định luật Đẩy Lùi thúc đẩy theo bảy hướng, và ép buộc tất cả những gì nó tiếp xúc theo cách đó quay trở lại lòng của bảy Đấng Cha tinh thần.”

We have come definitely to a consideration of the Way of Repulsion, governed by this law, which is the way or technique for each ray type. Though the same law can be seen working in all seven cases and in all seven directions, yet the results will differ, because the quality and the phenomenal appearance upon which the law of the divine will makes its impact and consequent impression, differ so widely. The complexity of the problem is therefore great. These seven [164] soul laws lie behind all the various presentations of truth as they have been given out by the world Teachers down the ages. It requires much spiritual insight, however, to enable the average disciple to see the correspondence or the trend of ideas which link, for instance:

Chúng ta giờ đây đã đi đến chỗ dứt khoát xem xét Con Đường Đẩy Lùi, được chi phối bởi định luật này, vốn là con đường hay kỹ thuật dành cho mỗi loại cung. Dù cùng một định luật có thể được thấy đang hoạt động trong cả bảy trường hợp và theo cả bảy hướng, nhưng các kết quả sẽ khác nhau, bởi vì phẩm tính và sắc tướng hiện tượng mà định luật của ý chí thiêng liêng tác động và để lại ấn tượng lên đó khác nhau quá rộng. Vì vậy, tính phức tạp của vấn đề là rất lớn. Bảy [164] định luật linh hồn này nằm sau mọi cách trình bày khác nhau của chân lý như đã được các Đức Chưởng Giáo ban ra qua các thời đại. Tuy nhiên, cần rất nhiều linh thị tinh thần mới giúp đệ tử trung bình thấy được sự tương ứng hay xu hướng của các ý tưởng nối kết, chẳng hạn:

1. The beatitudes (enunciated by the Christ) and these seven laws.

1. Các mối phúc (do Đức Christ tuyên bố) và bảy định luật này.

2. The stages of the Noble Eightfold Path and these soul potencies.

2. Các giai đoạn của Bát Chánh Đạo cao quý và các tiềm lực linh hồn này.

3. The eight Means to Yoga or union of the soul, and this septenate of influences.

3. Tám phương tiện của Yoga hay sự hợp nhất của linh hồn, và bộ bảy ảnh hưởng này.

4. The Ten Commandments of the Semitic religion, and these seven spiritual laws.

4. Mười Điều Răn của tôn giáo Semitic, và bảy định luật tinh thần này.

Students would find it of interest to test their understanding of the esoteric relationships existing between these groups of teaching and see if they can, for themselves, trace the basic meanings. Let us, by way of illustration, trace or indicate the relation between the seven laws and the eight means to Yoga, because this will give us an illustration of the difference existing between the means to Yoga as understood by the average yogi or esotericist, and as they can be understood by the trained disciple or initiate.

Các đạo sinh sẽ thấy thú vị nếu kiểm tra sự hiểu biết của mình về những tương quan huyền bí hiện hữu giữa các nhóm giáo huấn này và xem liệu họ có thể tự mình truy ra các ý nghĩa căn bản hay không. Chúng ta hãy, như một minh họa, truy ra hay chỉ ra mối liên hệ giữa bảy định luật và tám phương tiện của Yoga, vì điều này sẽ cho chúng ta một minh họa về sự khác biệt hiện hữu giữa các phương tiện của Yoga như được hiểu bởi yogi hay nhà bí truyền học trung bình, và như chúng có thể được hiểu bởi đệ tử hay điểm đạo đồ đã được huấn luyện.

1.

The five Commandments.

Second ray force

The Law of Magnetic Impulse

The universal duty

Inclusion. Attraction.

2.

The Rules For self training

Fourth ray force

The Law of Sacrifice. “I die daily.”

3.

Posture. A poised attitude to the world

Sixth ray force

The Law of Service. Right relations and right ideals.

4.

Pranayama The law of rhythmic living

Seventh ray force

The Law of Group Progress. The Law of spiritual development.

5.

Abstraction Pratyahara. Withdrawal from desire

First ray force

The Law of Repulse. The repudiation of desire

6

.

Attention.

Third ray force

The Law of Expansive Correct orientation Response.

7.

Meditation Lower Right use of the mind.

Fifth ray force

The Law of the Four. “The soul is in deep meditation.”

8.

Result

Contemplation

Complete spiritual detachment.

1.

The five Commandments.

Second ray force

The Law of Magnetic Impulse

1.

Năm Điều Răn.

Mãnh lực cung hai

Định Luật Xung Động Từ Tính

The universal duty

Inclusion. Attraction.

Bổn phận phổ quát

Bao gồm. Hấp dẫn.

2.

The Rules For self training

Fourth ray force

The Law of Sacrifice. “I die daily.”

Các Quy Luật cho tự tu luyện

Mãnh lực cung bốn

Định Luật Hi Sinh. “Tôi chết mỗi ngày.”

3.

Posture. A poised attitude to the world

Sixth ray force

The Law of Service. Right relations and right ideals.

Tư thế. Thái độ điềm tĩnh với thế giới

Mãnh lực cung sáu

Định Luật Phụng Sự. Quan hệ đúng đắn và lý tưởng đúng đắn.

4.

Pranayama The law of rhythmic living

Seventh ray force

The Law of Group Progress. The Law of spiritual development.

Pranayama Định luật sống nhịp điệu

Mãnh lực cung bảy

Định Luật Tiến Bộ Nhóm. Định luật phát triển tinh thần.

5.

Abstraction Pratyahara. Withdrawal from desire

First ray force

The Law of Repulse. The repudiation of desire

Trừu tượng hóa Pratyahara. Rút lui khỏi dục vọng

Mãnh lực cung một

Định Luật Đẩy Lùi. Sự từ chối dục vọng

6.

Attention.

Third ray force

The Law of Expansive Response. Correct orientation

Chú ý.

Mãnh lực cung ba

Định Luật Đáp Ứng Mở Rộng. Định hướng đúng đắn

7.

Meditation Lower Right use of the mind.

Fifth ray force

The Law of the Four. “The soul is in deep meditation.”

Tham thiền Hạ Sử dụng đúng đắn của trí.

Mãnh lực cung năm

Định Luật của Bốn. “Linh hồn đang trong tham thiền sâu.”

8.

Result

Contemplation

Complete spiritual detachment.

Kết quả

Chiêm ngưỡng

Tách rời tinh thần hoàn toàn.

[165]

[165]

A close study of these relationships will be found suggestive to the disciple and illuminating to the initiate. Let us not, however, confuse illumination with a new or bright idea! It is something far different to that. The difference is that between the light of a star, and the light of a steadily waxing sun. One reveals the fact of night. The other reveals the world of daylight and of conscious Being.

Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các mối liên hệ này sẽ được thấy là gợi mở đối với đệ tử và soi sáng đối với điểm đạo đồ. Tuy nhiên, chúng ta đừng nhầm lẫn sự soi sáng với một ý tưởng mới hay sáng chói! Nó là một điều hoàn toàn khác. Sự khác biệt cũng như giữa ánh sáng của một ngôi sao và ánh sáng của một mặt trời đang lớn dần một cách đều đặn. Một bên phơi bày sự kiện của đêm tối. Bên kia phơi bày thế giới của ánh sáng ban ngày và của Bản Thể có ý thức.

d. THE SEVEN DIRECTIONS OF THE LAW OF REPULSE—BẢY HƯỚNG CỦA ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI

It must be remembered that the Law of Repulse, which is the Law of the destroying Angels, works in seven directions; that it produces effects upon seven different types of beings and of men, and that by reason of its activity, it draws the prodigal son back to the Father’s home. It causes him to “arise and go.” But we must remember that, when Christ was relating this story, He made it abundantly clear that there was no impulse to return until the pilgrim in the far country had come to himself or to his senses, as a result of [166] satisfied desire, through riotous living. This was followed by consequent satiety and loss of contentment, and then by a period of intense suffering, which broke his will to wander or to desire. A study of this story will be found revealing. In no Scripture is the sequence of events (as they deal with the pilgrim’s existence and life in a far country and his return) so concisely or so beautifully treated. Seek out your Bibles, and study this tale, and read for yourselves the pilgrim’s way.

Cần nhớ rằng Định luật Đẩy Lùi, vốn là Định luật của các Thiên Thần hủy diệt, hoạt động theo bảy hướng; rằng nó tạo ra các hiệu quả trên bảy loại hữu thể và con người khác nhau, và rằng do hoạt động của nó, nó kéo người con hoang đàng trở về nhà Cha. Nó khiến y “đứng dậy và đi.” Nhưng chúng ta phải nhớ rằng, khi Đức Christ kể câu chuyện này, Ngài đã làm hoàn toàn rõ ràng rằng không có xung lực trở về nào cho đến khi người hành hương ở xứ xa đã hồi tâm hay tỉnh ngộ, do kết quả của [166] dục vọng được thỏa mãn, qua đời sống phóng đãng. Điều này được tiếp theo bởi sự bão hòa tất yếu và sự mất mãn nguyện, rồi đến một giai đoạn đau khổ mãnh liệt, phá vỡ ý chí lang thang hay ham muốn của y. Một nghiên cứu về câu chuyện này sẽ cho thấy nhiều điều mặc khải. Không có Kinh điển nào mà chuỗi sự kiện (khi chúng liên quan đến sự tồn tại và đời sống của người hành hương ở xứ xa và sự trở về của y) lại được trình bày ngắn gọn và đẹp đẽ đến thế. Hãy tìm Kinh Thánh của các bạn, và nghiên cứu câu chuyện này, và tự mình đọc con đường của người hành hương.

The effect of this Law of Repulse, as it works out in the world of discipleship and destroys that which hinders, sends the pilgrim hurrying back consciously along one of the seven rays that lead to the centre. This cannot be handled in detail here. Our present task is that of treading the Path of Probation or of Discipleship and of learning discipline, dispassion, and the other two necessities on the Way,—discrimination and decentralisation. It is possible, nevertheless, to indicate the goal and point out the potency of the forces to which we shall be increasingly subjected as we pass—as some of us can so pass—on to the Path of Accepted Discipleship. This we will do in the form of seven stanzas which will give a hint (if one is an aspirant) of the technique to which one will be exposed; if one has passed further on the Way, they will give one a command which, as a disciple with spiritual insight one will obey, because one is awakened; if one is an initiate, they will evoke the comment: “This I know.”

Hiệu quả của Định luật Đẩy Lùi này, khi nó biểu lộ trong thế giới địa vị đệ tử và hủy diệt điều cản trở, khiến người hành hương vội vã quay về một cách có ý thức dọc theo một trong bảy cung dẫn đến trung tâm. Điều này không thể được trình bày chi tiết ở đây. Nhiệm vụ hiện tại của chúng ta là bước đi trên Con Đường Dự Bị hay Con Đường Đệ Tử và học kỷ luật, vô tư vô dục, cùng hai điều cần thiết khác trên Đường Đạo,—phân biện và phi tập trung vào bản thân. Tuy nhiên, vẫn có thể chỉ ra mục tiêu và nêu bật sức mạnh của các mãnh lực mà chúng ta sẽ ngày càng chịu tác động khi chúng ta tiến lên—như một số người trong chúng ta có thể tiến lên—Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Điều này chúng ta sẽ làm dưới hình thức bảy bài kệ, chúng sẽ gợi ý (nếu một người là người chí nguyện) về kỹ thuật mà người ấy sẽ phải tiếp xúc; nếu người ấy đã đi xa hơn trên Đường Đạo, chúng sẽ trao cho người ấy một mệnh lệnh mà, với tư cách một đệ tử có linh thị tinh thần, người ấy sẽ vâng theo, bởi vì người ấy đã thức tỉnh; nếu người ấy là một điểm đạo đồ, chúng sẽ gợi lên lời nhận xét: “Điều này tôi biết.”

d. The Seven Directions of the Law of Repulse

It must be remembered that the Law of Repulse, which is the Law of the destroying Angels, works in seven directions; that it produces effects upon seven different types of beings and of men, and that by reason of its activity, it draws the prodigal son back to the Father’s home. It causes him to “arise and go.” But we must remember that, when Christ was relating this story, He made it abundantly clear that there was no impulse to return until the pilgrim in the far country had come to himself or to his senses, as a result of [166] satisfied desire, through riotous living. This was followed by consequent satiety and loss of contentment, and then by a period of intense suffering, which broke his will to wander or to desire. A study of this story will be found revealing. In no Scripture is the sequence of events (as they deal with the pilgrim’s existence and life in a far country and his return) so concisely or so beautifully treated. Seek out your Bibles, and study this tale, and read for yourselves the pilgrim’s way.

Cần nhớ rằng Định Luật Đẩy Lùi, cũng là Định Luật của các Thiên Thần Hủy Diệt, hoạt động theo bảy hướng; rằng nó tạo ra những tác động đối với bảy loại chúng sinh và con người khác nhau, và rằng nhờ hoạt động của nó, nó kéo người con hoang đàng trở về nhà Cha. Định luật này khiến y “đứng dậy và đi.” Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, khi Đức Christ kể câu chuyện này, Ngài đã làm rõ rằng không có động lực nào để trở về cho đến khi người lữ hành ở miền xa xôi đã nhận thức về chính mình, hay “tỉnh ngộ,” như là kết quả của những dục vọng đã được thỏa mãn thông qua lối sống phóng đãng. Điều này được tiếp nối bởi sự chán ngán và mất sự thỏa mãn, sau đó là một giai đoạn chịu đựng khổ đau mãnh liệt, điều đã bẻ gãy ý chí lang thang hay dục vọng của y. Một nghiên cứu về câu chuyện này sẽ mang lại nhiều khám phá. Không có đoạn Kinh Thánh nào mà trình tự các sự kiện (liên quan đến sự tồn tại và cuộc sống của người lữ hành ở miền xa xôi và sự trở về của y) được trình bày một cách ngắn gọn hoặc đẹp đẽ hơn. Hãy tìm đọc Kinh Thánh của bạn, nghiên cứu câu chuyện này, và tự mình đọc về con đường của người lữ hành.

The effect of this Law of Repulse, as it works out in the world of discipleship and destroys that which hinders, sends the pilgrim hurrying back consciously along one of the seven rays that lead to the center. This cannot be handled in detail here. Our present task is that of treading the Path of Probation or of Discipleship and of learning discipline, dispassion, and the other two necessities on the Way,—discrimination and decentralization. It is possible, nevertheless, to indicate the goal and point out the potency of the forces to which we shall be increasingly subjected as we pass—as some of us can so pass—on to the Path of Accepted Discipleship. This we will do in the form of seven stanzas which will give a hint (if one is an aspirant) of the technique to which one will be exposed; if one has passed further on the Way, they will give one a command which, as a disciple with spiritual insight one will obey, because one is awakened; if one is an initiate, they will evoke the comment: “This I know.”

Tác động của Định Luật Đẩy Lùi, khi nó hoạt động trong thế giới của người đệ tử và phá hủy những gì cản trở, khiến người lữ hành vội vã trở về một cách có ý thức theo một trong bảy con đường của các cung dẫn về trung tâm. Điều này không thể được trình bày chi tiết ở đây. Nhiệm vụ hiện tại của chúng ta là bước đi trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử, học tập kỷ luật, điềm nhiên, và hai điều cần thiết khác trên Thánh Đạo—phân biện và vượt ra khỏi bản thân. Tuy nhiên, chúng ta có thể chỉ ra mục tiêu và nhấn mạnh sức mạnh của những mãnh lực mà chúng ta sẽ ngày càng chịu sự chi phối khi chúng ta tiến bước (như một số người trong chúng ta có thể làm) lên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Chúng ta sẽ làm điều này dưới hình thức bảy khổ thơ, sẽ mang đến một gợi ý (nếu bạn là một người chí nguyện) về kỹ thuật mà bạn sẽ phải trải qua; nếu bạn đã tiến xa hơn trên Thánh Đạo, chúng sẽ đưa ra một mệnh lệnh mà, với tư cách là một đệ tử có sự hiểu biết tâm linh, bạn sẽ tuân theo vì bạn đã thức tỉnh; nếu bạn là một điểm đạo đồ, chúng sẽ gợi lên lời nhận xét: “Điều này tôi đã biết.”

The Direction of Ray I (trang 16-50) [-> Bình Giảng]

“The garden stands revealed In ordered beauty live its flowers and trees. The murmur of the bees and insects on their winged flight is heard on every side. The air is rich with perfume. The colors riot to the blue of heaven.

“Khu vườn hiện ra. Các bông hoa và cây cối sống trong vẻ mỹ lệ ngăn nắp. Tiếng vo ve của ong và côn trùng bay lượn được nghe khắp nơi. Không khí nồng nàn hương thơm Màu sắc nổi loạn trên màu xanh của bầu trời

The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden... Low lie the flowers. Bending, the trees are [167] devastated by the wind. Destruction of all beauty is followed by the rain. The sky is black. Ruin is seen. Then death...

Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn... Những bông hoa rạp xuống. Cây cối cong gập, tan hoang vì gió. Sau đó tất cả vẻ đẹp bị tàn phá bởi cơn mưa. Bầu trời đen kịt. Sự tàn lụi hiện ra. Rồi đến cái chết...

Later, another garden! but the time seems far away. Call for a gardener. The gardener, the soul, responds. Call for the rain, the wind, the scorching sun. Call for the gardener. Then let the work go on Ever destruction goes before the rule of beauty. Ruin precedes the real. The garden and the gardener must awake! The work proceeds.”

Sau đó, một khu vườn khác! nhưng thời gian dường như còn xa xôi. Hãy gọi một người làm vườn. Người làm vườn, chính là linh hồn, đáp lại Hãy gọi mưa, gió, gọi mặt trời đang thiêu đốt. Hãy gọi người làm vườn. Bấy giờ hãy để cho công việc tiếp tục. Sự tàn phá luôn đi trước sự cai trị của vẻ đẹp Sự huỷ hoại đi trước sự thật. Khu vườn và người làm vườn phải thức tỉnh! Công việc tiếp diễn.”

The Direction of Ray II (trang 51-94) [-> Bình Giảng]

“The Scholar knows the truth. All is revealed to him. Surrounded by his books, and sheltered in the world of thought, he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; he arrives at knowledge of the world of natural things. His eye is closed. His eyes are opened wide. He dwells within his world in deep content.

“Vị học giả biết chân lý. Tất cả được tiết lộ cho y. Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và được che chở trong thế giới tư tưởng, y đào bới như một con chuột chũi, và tìm thấy đường của mình đi vào bóng tối; y đạt đến tri thức về thế giới của những điều tự nhiên. Một con mắt của y bị đóng lại. Đôi mắt của y được mở rộng. Y ngự trong thế giới của mình với sự toại nguyện sâu sắc.

Detail on detail enter into the content of his world of thought. He stores the nuggets of the knowledge of the world, as a squirrel stores its nuts. The storehouse now is adequately full... Sudden a spade descends, for the thinker tends the garden of his thought, and thus destroys the passages of mind. Ruin arrives, destroying fast the storehouse of the mind, the safe security, the darkness and the warmth of a satisfied enquiry. All is removed. The light of summer enters in and the darkened crannies of the mind see light... Naught is left but light, and that cannot be used. The eyes are blinded and the one eye seeth not as yet...

Hết chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. Y lưu trữ những quặng vàng tri thức của thế giới, như một con sóc trữ các hạt của nó. Giờ đây, nhà kho thật sự đầy đủ.... Thình lình một cái thuổng giáng xuống, [1g2] vì người suy tưởng chăm sóc khu vườn tư tưởng của mình, do đó phá hủy những lối đi của trí tuệ. Sự đổ nát đến, nhanh chóng phá hủy nhà kho của thể trí, sự bảo đảm an toàn, bóng tối và sự ấm áp của một cuộc tìm kiếm được thỏa mãn. Tất cả bị loại bỏ. Ánh sáng của mùa hè đi vào và những vết nứt tối đen của thể trí nhìn thấy ánh sáng.... Chẳng còn lại gì ngoài ánh sáng, và điều đó không thể được sử dụng. Đôi mắt đã mù và con mắt duy nhất vẫn chưa nhìn thấy gì....

Slowly the eye of wisdom must be opened. Slowly the love of that which is the true, the beautiful and good must enter the dark passages of worldly thought. Slowly the torch of light, the fire of right must burn the garnered treasures of the past, yet show their basic usefulness...

Từ từ, con mắt minh triết phải được mở ra. Từ từ, tình yêu với những điều chân, thiện, mỹ phải đi vào những lối đi tối tăm của thế giới tư tưởng. Từ từ, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của điều công chính phải đốt cháy những kho tàng tích trữ từ quá khứ, nhưng vẫn thể hiện được tính hữu dụng cơ bản của chúng....

The seven ways of light must wean away the attention of the Scholar from all that has been found and stored and used. This he repulses and finds his way into that Hall of Wisdom which is built upon a hill, and not deep under ground. Only the opened eye can find this way.”

Bảy con đường ánh sáng phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ và được sử dụng. Y cự tuyệt điều này và tìm đường đi vào Phòng Minh Triết được xây dựng trên một ngọn đồi chứ không phải sâu dưới lòng đất. Chỉ có con mắt đã mở mới có thể tìm thấy con đường này.”

The Direction of Ray III (trang 95-124) [-> Bình Giảng]

“Surrounded by a multitude of threads, buried in folds and folds of woven goods, the Weaver sits. No Light can enter [168] where he sits. By the light of a tiny candle, carried upon the summit of his head, he dimly sees. He gathers handful after handful of the threads and seeks to weave the carpet of his thoughts and dreams, his desires and his aims. His feet move steadily; his hands work swiftly; his voice, without cessation, chants the words: ‘I weave the pattern which I seek and like. The warp and woof is planned by my desire. I gather here a thread and here a color. I gather there another. I blend the colors and I mix and blend the threads. As yet I cannot see the pattern, but it will surely measure up to my desire.’

“Được bao quanh bởi vô số sợi chỉ, bị chôn vùi trong nếp gấp này đến nếp gấp khác của các tấm vải dệt, Người Thợ Dệt ngồi đó. Không có Ánh Sáng nào có thể đi vào [168] nơi y ngồi. Bằng ánh sáng của một ngọn nến nhỏ treo trên đỉnh đầu, y nhìn thấy lờ mờ. Y gom lại từng nắm những sợi chỉ và tìm cách dệt tấm thảm của những tư tưởng và những giấc mơ, những ham muốn và những mục tiêu của mình. Chân y di chuyển đều đặn, bàn tay của y làm việc nhanh nhẹn, giọng nói của y không ngừng tụng đọc các từ:.. “Tôi dệt kiểu mẫu mà tôi tìm kiếm và ưa thích. Sợi dọc và sợi ngang được sắp đặt theo mong muốn của tôi. Tôi tập hợp ở đây một sợi chỉ và ở đây một màu sắc. Tôi tập hợp ở kia một cái khác. Tôi pha trộn các màu sắc, và tôi kết hợp và pha trộn các sợi chỉ. Cho đến nay tôi vẫn chưa nhìn thấy kiểu mẫu đó, nhưng nó chắc chắn sẽ đáp ứng mong muốn của tôi.’

Loud voices, and a movement from outside the darkened chamber where the Weaver sits; they grow in volume and in power. A window breaks and, though the Weaver cries aloud, blinded by the sudden light, the sun shines in upon his woven carpet. Its ugliness is thus revealed...

Những tiếng nói lớn, và một chuyển động từ bên ngoài căn buồng tối mà Người Thợ Dệt ngồi; âm lượng và sức mạnh của chúng tăng lên. Một cửa sổ vỡ ra, và mặc dù Người Thợ Dệt la to lên, bị chói mắt bởi ánh sáng đột ngột, mặt trời chiếu vào trên tấm thảm dệt của y. Vẻ xấu xí của nó vì thế bị lộ ra...

A voice proclaims: ‘Look from out thy window, Weaver, and see the pattern in the skies, the model of the plan, the color and the beauty of the whole. Destroy the carpet which you have for ages wrought. It does not meet your need... Then weave again, Weaver. Weave in the light of day. Weave, as you see the plan.’”

Một giọng nói tuyên bố: ‘Hãy nhìn qua cửa sổ của ngươi, hỡi Người Thợ Dệt, và hãy nhìn kiểu mẫu trên bầu trời, mô hình của thiên cơ, màu sắc và vẻ đẹp của tổng thể. Hãy phá hủy tấm thảm mà ngươi đã dệt nên qua nhiều thời đại. Nó không đáp ứng nhu cầu của ngươi... Sau đó, hãy dệt lại, hỡi Người Thợ Dệt. Hãy dệt trong ánh sáng ban ngày. Hãy dệt như ngươi thấy thiên cơ.”

The Direction of Ray IV (trang -167) [-> Bình Giảng]

“ ‘I take and mix and blend. I bring together that which I desire. I harmonize the whole.’

‘Tôi chọn, phối trộn và hòa trộn. Tôi tập hợp những gì mà tôi muốn. Tôi làm hài hòa tổng thể.”

Thus spoke the Mixer, as he stood within his darkened chamber. ‘I realize the unseen beauty of the world. Color I know and sound I know. I hear the music of the spheres, and note on note and chord on chord, they speak their thought to me. The voices which I hear intrigue and draw me, and with the sources of these sounds I seek to work. I seek to paint and blend the pigments needed. I must create the music which will draw to me those who like the pictures which I make, the colors which I blend, the music which I can evoke. Me, they will therefore like, and me, they will adore...’

Người Phối Trộn nói như vậy, khi y đứng trong căn buồng tối tăm của mình. “Tôi nhận ra vẻ đẹp vô hình của thế giới. Tôi biết màu sắc và tôi biết âm thanh. Tôi nghe thấy âm nhạc của các thiên cầu, từng nốt nhạc, từng hợp âm, chúng nói suy nghĩ của chúng với tôi. Những tiếng nói mà tôi nghe thấy gây thích thú và thu hút tôi, và tôi tìm cách làm việc với các nguồn gốc của những âm thanh này. Tôi tìm cách vẽ và pha trộn các chất màu cần thiết. Tôi phải sáng tạo âm nhạc vốn sẽ thu hút đến tôi những người thích các hình ảnh mà tôi tạo ra, các màu sắc mà tôi pha trộn, âm nhạc mà tôi có thể gợi lên. Do đó họ sẽ thích tôi, và họ sẽ ngưỡng mộ tôi...’

But crashing came a note of music, a chord of sound which drove the Mixer of sweet sounds to quiet. His sounds died out within the Sound and only the great chord of God was heard. [169]

Nhưng một nốt nhạc, một hợp âm chói tai vang lên khiến Người Phối Trộn những âm thanh ngọt ngào im bặt. Những âm thanh của y đã chết trong Diệu Âm (Sound) và chỉ có đại hợp âm của Thượng Đế được nghe thấy. [169]

A flood of light poured in. His colors faded out. Around him naught but darkness could be seen, yet in the distance loomed the light of God. He stood between his nether darkness and the blinding light. His world in ruins lay around. His friends were gone. Instead of harmony, there was dissonance. Instead of beauty, there was found the darkness of the grave...

Một cơn lũ ánh sáng đã tràn vào. Các màu sắc của y nhạt nhòa dần. Không thể thấy gì xung quanh y, trừ bóng tối, tuy nhiên, ánh sáng của Thượng Đế hiện ra lờ mờ ở khoảng cách xa. Y đứng ở giữa bóng tối bên dưới của mình và ánh sáng chói lóa. Thế giới hoang tàn của y ở xung quanh. Bạn bè của y đã đi mất. Thay cho sự hòa hợp, là sự bất hòa. Thay cho sự mỹ lệ, chỉ tìm thấy bóng tối của nấm mồ...

The voice then chanted forth these words: ‘Create again, my child, and build and paint and blend the tones of beauty, but this time for the world and not thyself.’ The Mixer started then his work anew and worked again.”

Bấy giờ giọng nói ngân nga những lời này: ‘Hãy sáng tạo trở lại, con của ta, hãy kiến tạo, vẽ, và hòa trộn những tông màu của sự mỹ lệ, nhưng lần này cho thế giới chứ không phải cho con’. Bấy giờ Người Phối Trộn bắt đầu công việc của y một lần nữa và hoạt động trở lại.”

The Direction of Ray V (trang 168-213) [-> Bình Giảng]

“Deep in a pyramid, on all sides built around by stone, in the deep dark of that stupendous place, a mind and brain (embodied in a man) were working. Outside the pyramid, the world of God established itself. The sky was blue; the winds blew free; the trees and flowers opened themselves unto the sun. But in the pyramid, down in its dim laboratory, a Worker stood, toiling at work. His test tubes and his frail appliances he used with skill. In rows and rows, the retorts for fusing, and for blending, for crystallizing and for that which sought division, stood with their flaming fires. The heat was great. The toil severe...

“Sâu trong một kim tự tháp được xây dựng xung quanh bằng đá, trong bóng tối sâu thẳm của chốn vĩ đại đó, một trí tuệ và một bộ não (hiện thân trong một người) đang làm việc. [1a] Bên ngoài kim tự tháp, thế giới của Thượng Đế đã tự biểu hiện. [1b] Bầu trời màu xanh; gió thổi tự do; cây cối và hoa nở đón ánh mặt trời. [1c] Nhưng bên trong kim tự tháp, ở dưới trong phòng thí nghiệm tối tăm, một Người lao động đứng, đang miệt mài làm việc. [1d] Y sử dụng các ống nghiệm và các dụng cụ dễ vỡ của mình một cách khéo léo. [1e] Trong vô số các hàng dãy, các bình cổ cong dùng để nung chảy và phối trộn, dùng để kết tinh và dùng cho những gì tìm cách phân chia, đứng với những ngọn lửa đang cháy của chúng. [1f] Sức nóng vô cùng lớn. Công việc vô cùng vất vả… [1g]

Dim passages, in steady progress, led upward to the summit. There a wide window stood, open unto the blue of heaven, and carrying one clear ray down to the worker in the depths... He worked and toiled. He struggled onwards toward his dream, the vision of an ultimate discovery. He sometimes found the thing he sought, and sometimes failed; but never found that which could give to him the key to all the rest... In deep despair, he cried aloud unto the God he had forgot: ‘Give me the key. I alone can do no more good. Give me the key.’ Then silence reigned...

Những lối đi mờ tối, lên cao dần, dẫn đến đỉnh. [1h] Có một cửa sổ rộng, mở ra bầu trời xanh, và mang theo một tia sáng trong trẻo xuống cho người lao động ở dưới sâu... Y làm việc và lao động vất vả. [1i] Y đã nỗ lực hướng tới giấc mơ của mình, [1j] tầm nhìn về một khám phá tối hậu. [1k] Đôi khi y tìm thấy điều mà y đã tìm kiếm, và đôi khi thất bại; [1l] nhưng không bao giờ tìm thấy những gì có thể cung cấp cho y chiếc chìa khóa cho tất cả những gì còn lại.... [2a] Trong sự tuyệt vọng sâu sắc, y kêu lớn tới Thượng Đế mà y đã quên: “Hãy cho con chìa khóa. [2b] Một mình con không thể làm gì tốt hơn. Hãy cho con chìa khóa.” [2c] Khi đó, sự im lặng ngự trị....

Through the opening on the summit of the pyramid, dropped from the blue of heaven, a key came down. It landed at the feet of the discouraged worker. The key was of pure gold; the shaft of light; upon the key a label, and writ in blue, these words: ‘Destroy that which thou has built and build anew. But only build when thou has climbed the upward way, traversed the gallery of tribulation and entered [170] into light within the chamber of the king. Build from the heights, and thus shew forth the value of the depths.’

Thông qua khe hở trên đỉnh của kim tự tháp, từ bầu trời xanh một chìa khóa rơi xuống. [2d] Nó rớt xuống ngay bàn chân của người lao động đã nản lòng. [2e] Chìa khóa bằng vàng ròng; [2f] cán chìa bằng ánh sáng; trên chìa khóa có một nhãn dán được viết bằng màu xanh lam: “Hãy phá hủy những gì mà ngươi đã xây dựng và xây dựng lại từ đầu. [2g] Nhưng chỉ xây dựng khi ngươi đã leo theo con đường đi lên, băng qua phòng trưng bày sự khổ não và đi vào [170] ánh sáng trong căn phòng của nhà vua. [2h] Hãy xây dựng từ những đỉnh cao, và từ đó thể hiện giá trị của những vực thẳm.’ [2i]

The Worker then destroyed the objects of his previous toil, sparing three treasures which he knew were good, and upon which the light could shine. He struggled towards the chamber of the king. And still he struggles.”

Người Lao động sau đó đã phá hủy các đồ vật của sự lao nhọc trước đó của y, để lại ba tài sản tích lũy mà y biết là tốt, và ánh sáng có thể tỏa sáng trên đó. [2j] Y cố gắng hướng tới căn phòng của nhà vua. [2k] Và y vẫn còn phải gắng sức’. [2l]

The Direction of Ray VI—Chỉ Dẫn cho cung sáu [-> Bình Giảng]

“‘I love and live and love again,’ the frenzied Follower cried aloud, blinded by his desire for the teacher and the truth, but seeing naught but that which lay before his eyes. He wore on either side the blinding aids of every fanatic divine adventure. Only the long and narrow tunnel was his home and place of high endeavor. He had no vision except of that which was the space before his eyes. He had no scope for sight, —no height, no depth, no wide extension. He had but room to go one way. He went that way alone, or dragging those who asked the way of him. He saw a vision, shifting as he moved, and taking varying form; each vision was to him the symbol of his highest dreams, the height of his desire.

‘Tôi yêu và sống và yêu lần nữa,’ Người theo đuổi điên cuồng đã khóc to lên, mù quáng vì khao khát vị thầy và chân lý, nhưng y không thấy gì ngoài những cái ở trước mắt y. Y đeo ở hai bên những dụng cụ hỗ trợ chống chói mắt của mọi cuộc phiêu lưu thần thánh cuồng tín. Chỉ có đường hầm dài và hẹp là nhà của y và nơi y nỗ lực cao độ. Y không có tầm nhìn nào ngoại trừ khoảng không gian trước mắt y. Y không có tầm nhìn, không có chiều cao, không có chiều sâu, không có sự mở rộng. Y chỉ còn chỗ để đi một chiều. Y đi một mình, hoặc kéo theo những người hỏi đường y. Y thấy một tầm nhìn, nó thay đổi khi y di chuyển, và có nhiều dạng khác nhau; mỗi tầm nhìn đối với y là biểu tượng của những giấc mơ cao nhất của y, đỉnh cao của khát vọng của y.

He rushed along the tunnel, seeking that which lay ahead. He saw not much and only one thing at a time,—a person or a truth, a bible or his picture of his God, an appetite, a dream, but only one! Sometimes he gathered in his arms the vision that he saw, and found it naught. Sometimes, he reached the person whom he loved and found, instead of visioned beauty, a person like himself. And thus he tried. He wearied of his search; he whipped himself to effort new.

Y lao dọc theo đường hầm, tìm kiếm những gì ở phía trước. Y đã không nhìn thấy nhiều và chỉ có một điều tại một thời điểm, —một người hay một chân lý, một cuốn kinh thánh hoặc hình ảnh của y về Thượng đế, một sự ham muốn, một giấc mơ, nhưng chỉ một! Đôi khi y ôm trong vòng tay của y tầm nhìn mà y nhìn thấy, và thấy nó chẳng là gì. Đôi khi, y đạt đến người mà y đã yêu và đã tìm, thay vì vẻ đẹp được hình dung, lại là một người giống như y. Và như thế y đã cố gắng. Y mệt mỏi vì sự tìm kiếm của y; y lao mình cho nỗ lực mới.

The opening dimmed its light. A shutter seemed to close. The vision he had seen no longer shone. The Follower stumbled in the dark. Life ended and the world of thought was lost... Pendent he seemed. He hung with naught below, before, behind, above. To him, naught was.

Cửa ra vào làm mờ ánh sáng của nó. Một cửa chớp dường như đóng lại. Tầm nhìn y thấy không còn tỏa sáng nữa. Người Theo Đuổi vấp ngã trong bóng tối. Cuộc sống kết thúc và thế giới tư tưởng biến mất... Dường như y treo lơ lửng. Y bị treo mà không có gì bên dưới, phía trước, phía sau, phía trên. Không có gì đối với y.

From deep within the temple of his heart, he heard a Word. It spoke with clarity and power: ‘Look, deep within, around on every hand. The light is everywhere, within the heart, in Me, in all that breathes, in all that is. Destroy thy tunnel, which thou has for ages long constructed. Stand free, in custody of all the world.’ The Follower answered: ‘How shall I break my tunnel down? How can I find a way?’ No answer came....

Từ sâu thẳm trong đền thờ của trái tim y, y đã nghe thấy một Lời Nói. Nó nói một cách rõ ràng và mạnh mẽ: ‘Hãy nhìn, sâu vào bên trong, xung quanh trên mọi phía. Ánh sáng ở khắp mọi nơi, trong trái tim, trong Ta, trong tất cả những gì thở, trong tất cả những gì đang tồn tại. Hãy phá hủy đường hầm của ngươi, mà ngươi đã xây dựng từ lâu. Hãy đứng tự do, trong sự trông giữ của cả thế giới.’ Người Theo Đuổi trả lời: ‘Làm cách nào để phá đường hầm của tôi? Làm thế nào tôi có thể tìm thấy một con đường?’ Không có câu trả lời nào... [171]

Another pilgrim in the dark came up, and groping, found the Follower. ‘Lead me and others to the Light,’ he cried. The Follower found no words, no indicated Leader, no formulas of truth, no forms or ceremonies. He found himself a leader, and drew others to the light,—the light that shone on every hand. He worked and struggled forward. His hand held others, and for their sake, he hid his shame, his fear, his hopelessness and his despair. He uttered words of surety and faith in life, and light and God, in love and understanding....

Một khách hành hương khác trong bóng tối đã xuất hiện, và trong khi mò mẫm, tìm thấy Người Theo Đuổi. ‘Xin hãy dẫn tôi và những người khác đến Ánh sáng”, y khóc. [h] Người Theo Đuổi không tìm thấy lời lẽ nào, không có Vị Lãnh Đạo nào được chỉ ra, không có những công thức nào của chân lý, không có những hình thức hay nghi lễ nào. Y thấy chính y là một người lãnh đạo, và đã thu hút những người khác tới ánh sáng, – ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Y làm việc và đấu tranh tiến tới trước. Bàn tay y nắm lấy những người khác, và vì họ, y đã giấu sự xấu hổ của y, nỗi sợ hãi, sự thất vọng của y, và tuyệt vọng của y. Y thốt lên những lời bảo đảm và niềm tin vào cuộc sống, và ánh sáng và Thượng Đế, vào tình yêu và sự hiểu biết....

His tunnel disappeared. He noticed not its loss. Upon the playground of the world he stood with many fellow-players, wide to the light of day. In the far distance stood a mountain blue, and from its summit issued forth a voice which said: ‘Come forward to the mountain top and on its summit learn the invocation of a Saviour.’ To this great task the Follower, now a leader, bent his energies. He still pursues this way....”

Đường hầm của y biến mất. Y không nhận thấy nó bị mất. Trên sân chơi của thế giới, y đứng với nhiều người chơi khác, mở rộng với ánh sáng ban ngày. Một ngọn núi xanh đứng ở xa, và từ đỉnh của nó một giọng nói vang ra nói rằng: ‘Hãy đi đến đỉnh núi và trên đỉnh của nó, hãy học lời khẩn nguyện của một Đấng Cứu Thế.’ Đối với nhiệm vụ lớn lao này vị Theo đuổi, bây giờ là một nhà lãnh đạo, dồn mọi năng lượng của y cho nó. Y vẫn theo đuổi con đường này.... “

The Direction of Ray VII (trang 248-) [-> Bình Giảng]