← ESOTERIC PSYCHOLOGY II – Alice A. Bailey

End of LOTSWC 21, EP II p. 174

“Under an arch between two rooms, the seventh Magician stood. One room was full of light and life and power, of stillness which was purpose and a beauty which was space. The other room was full of movement, a sound of great activity, a chaos without form, of work which had no true objective. The eyes of the Magician were fixed on chaos. He liked it not. His back was towards the room of vital stillness. He knew it not. The arch was tottering overhead...

“Nhà Huyền Thuật thứ bảy đứng dưới một mái vòm giữa hai phòng. Một căn phòng đầy ánh sáng, sự sống và quyền lực, sự tĩnh lặng là mục đích và vẻ đẹp là không gian. Phòng kia thì đầy chuyển động, một âm thanh của hoạt động lớn lao, một sự hỗn loạn không có hình dạng, của công việc vốn không có mục tiêu thực sự. Đôi mắt của nhà Huyền Thuật được cố định vào sự hỗn loạn. Y không thích nó. Lưng của y quay về phía căn phòng tĩnh lặng sinh động. Y không biết nó. Mái vòm đang lung lay trên đầu....

He murmured in despair: ‘For ages I have stood and sought to solve the problem of this room; to rearrange the chaos so that beauty might shine forth, and the goal of my desire. I sought to weave these colors into a dream of beauty, and to harmonize the many sounds. Achievement lacks. Naught but my failure can be seen. And yet I know there is a difference between that which I can see before my eyes and that which I begin to sense behind my back. What shall I do?’

Y thì thầm trong tuyệt vọng: “Trong nhiều thời đại, tôi đã đứng và tìm cách giải quyết vấn đề của căn phòng này; sắp xếp lại hỗn loạn sao cho vẻ đẹp có thể tỏa sáng, và là mục tiêu mà tôi mong muốn. Tôi tìm cách dệt những màu sắc này vào một giấc mơ đẹp đẽ, và làm hài hoà nhiều âm thanh. Không có kết quả. Không thấy gì ngoài sự thất bại của tôi. Tuy nhiên, tôi biết rằng có một sự khác biệt giữa những điều mà tôi có thể nhìn thấy trước mắt và những điều mà tôi bắt đầu cảm nhận đằng sau lưng tôi. Tôi nên làm gì?’

Above the head of the Magician, and just behind his back, and yet within the room of ordered beauty, a magnet vast began to oscillate... It caused the revolution of the man, within the arch, which tottered to a future fall. The magnet turned him round until he faced the scene and room unseen before... [172]

Phía trên đầu của nhà Huyền Thuật, ngay sau lưng của y, và trong căn phòng có vẻ đẹp ngăn nắp, một nam châm khổng lồ bắt đầu dao động.... Nó gây ra sự xoay vòng của người này, trong khung vòm vốn lung lay sắp đổ. Thanh nam châm quay vòng y cho đến khi y đối diện với khung cảnh và căn phòng mà trước đó y không thấy... [172]

Then through the center of his heart the magnet poured its force attractive. The magnet poured its force repulsive. It reduced the chaos until its forms no longer could be seen. Some aspects of a beauty, unrevealed before, emerged. And from the room a light shone forth and, by its powers and life, forced the Magician to move forward into light, and leave the arch of peril.”

Bấy giờ, thanh nam châm tuôn đổ lực thu hút của nó qua luân xa tim của y. Thanh nam châm tuôn đổ lực đẩy của nó. Nó làm giảm sự hỗn loạn cho đến khi không thể nhìn thấy những hình tướng của nó nữa. Một số khía cạnh của một vẻ đẹp trước đây chưa được tiết lộ xuất hiện. Từ căn phòng, một ánh sáng chiếu ra, bằng các quyền năng và sự sống, nó buộc nhà Huyền Thuật phải di chuyển về phía trước vào trong ánh sáng, và rời khỏi mái vòm nguy hiểm.”

End of LOTSWC 21, EP II p. 174

End of LOTSWC 21, EP II p. 174

Beginning of LOTSWC 22, EP II p. 174 with the Law of Group Progress

Beginning of LOTSWC 22, EP II p. 174 with the Law of Group Progress

[-> Bình Giảng 22]

5. The Law of Group Progress—Định luật Tiến Bộ Nhóm

No

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

Số

Tên Ngoại Môn

Tên Nội Môn

Biểu Tượng

Năng Lượng Cung

5.

The Law of Group Progress.

The law of Elevation.

The Mountain and the Goat

Progressive Energy Seventh Ray. Factor of Evolution

5.

Định Luật Tiến Bộ Nhóm.

Định luật Nâng Lên.

Ngọn Núi và Con Dê

Năng Lượng Tiến Bộ Cung Bảy. Yếu Tố Tiến Hóa

This law begins to function and to be registered in the personal consciousness when the aspirant has achieved certain definite realisations, and knows certain ideals as facts in his experience. These might be listed in a very simple way [175] and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path. It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant’s consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. This statement contains the very essence of the esoteric knowledge. The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realise it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. They are the A.B.C. of esotericism and through them, and only through them, shall we arrive at the words and sentences which are, in their turn, the essential key to the highest knowledge.

Định luật này bắt đầu hoạt động và được ghi nhận trong tâm thức cá nhân khi người chí nguyện đã đạt được một số chứng nghiệm xác định, và biết một số lý tưởng như những sự kiện trong kinh nghiệm của mình. Những điều này có thể được liệt kê theo một cách rất đơn giản [175] và khi ấy sẽ gợi lên nơi đạo sinh hời hợt thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị. Tuy nhiên, sẽ là điều tốt nếu chúng ta có thể nắm bắt rõ ràng sự kiện này, rằng sự phát biểu đơn giản về các đòi hỏi và việc đạt được chúng trong tâm thức của người chí nguyện chứng tỏ, như những phản ứng bên ngoài và được che giấu của trí tuệ y, đối với một số chân lý vũ trụ huyền bí sâu xa. Phát biểu này chứa đựng chính tinh túy của tri thức huyền bí. Những công thức hoàn toàn thông thường về đời sống yêu thương và về sự hi sinh bản thân hằng ngày theo bản năng bị thiệt thòi vì quá quen thuộc một cách sống động và tuy vậy—nếu chúng ta chỉ có thể chứng nghiệm điều đó—chúng chỉ ở nơi rìa ngoài của những chân lý sâu xa nhất của thế giới. Chúng là A.B.C. của huyền bí học và qua chúng, và chỉ qua chúng, chúng ta mới đi đến được những từ ngữ và câu văn vốn, đến lượt chúng, là chiếc chìa khóa cốt yếu của tri thức cao nhất.

A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God.

Một ví dụ ngắn sẽ giúp minh họa điều này, và rồi chúng ta có thể xem xét một số sự kiện đơn giản cho thấy người chí nguyện đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn và đã sẵn sàng cho đời sống hữu thức trong Thiên Giới.

The disciple in training for these higher realisations is urged to practice the faculty of discrimination. You have been so urged. The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites. Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognised evil (so-called) and recognised good, but concerns the more subtle pairs of opposites such as right and wrong silences, right and wrong speech, right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle and is—for the bulk of the aspirants in the world today—still a meaningless objective. This type of discrimination [176] is not even being evoked. It is that which must he shown in relation to the following subtle contacts:

Đệ tử đang được huấn luyện cho những chứng nghiệm cao hơn này được thúc giục thực hành năng lực phân biện. Các bạn đã được thúc giục như thế. Cách giải thích ban đầu và bình thường cùng hiệu quả trực tiếp của sự thực hành là dạy đệ tử phân biệt giữa các cặp đối đãi. Tuy nhiên, cũng như đệ tử trong giai đoạn huấn luyện ban đầu của mình khám phá rằng tiến trình phân biện không liên quan gì đến sự lựa chọn giữa điều ác được thừa nhận (cái gọi là như thế) và điều thiện được thừa nhận, mà liên quan đến những cặp đối đãi tinh tế hơn như im lặng đúng và sai, lời nói đúng và sai, sự thấu hiểu đúng và điềm nhiên đúng cùng các đối cực của chúng, thì con người đang đáp ứng với những định luật cao hơn này cũng khám phá rằng sự phân biện phải được biểu lộ lại còn tinh tế hơn nữa và—đối với phần lớn những người chí nguyện trên thế giới ngày nay—vẫn là một mục tiêu vô nghĩa. Loại phân biện này [176] thậm chí còn chưa được gợi lên. Đó là điều phải được biểu lộ liên quan đến những tiếp xúc tinh tế sau đây:

1. The vibration of the soul itself.

1. Rung động của chính linh hồn.

2. The vibration of the inner group with which he is, even if unconsciously, affiliated.

2. Rung động của nhóm nội tại mà y, dù vô thức, vẫn liên kết.

3. The vibration of the Master as the focal point of the group.

3. Rung động của Chân sư như tiêu điểm của nhóm.

4. His ray vibration, as sensed via his soul and the Master.

4. Rung động cung của y, như được cảm nhận qua linh hồn và Chân sư của y.

5. The vibration resulting from the interplay between his soul and his personality.

5. Rung động phát sinh từ sự tương tác giữa linh hồn và phàm ngã của y.

6. The three different vibrations of his vital body, his emotional body and the mind.

6. Ba rung động khác nhau của thể sinh lực/thể dĩ thái, thể cảm dục và trí tuệ của y.

7. The vibration of the groups or the group with which he must work upon the outer plane.

7. Rung động của các nhóm hay nhóm mà y phải làm việc cùng trên cõi bên ngoài.

8. The soul vibration of other people whom he contacts.

8. Rung động linh hồn của những người khác mà y tiếp xúc.

9. The vibration of such a group as the New Group of World Servers.

9. Rung động của một nhóm như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

These are only some instances of the type of discriminations which are required. These he will learn to distinguish instinctively when he is further developed. I would like to remind you that it is when we try to discriminate entirely mentally that the problem seems insuperable. When the rule of the soul and the recognition of the soul have been firmly established, these different recognitions become instinctual reactions. Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul—the higher correspondence to the instinctual life of the human body. In the above paragraphs we have a simple summary of some of the deeper significances of the simple injunction: “Learn to discriminate.” How much have we truly understood this injunction? Intellectually, the mind may give assent. Practically, the words frequently mean nothing. Do they signify to us the power of the soul to separate vibrations into differing categories? Yet we are told [177] that the soul knows naught of separation! Such are some of the paradoxes of esotericism to the uninitiate.

Đây chỉ là một vài ví dụ về loại phân biện được đòi hỏi. Y sẽ học cách phân biệt chúng theo bản năng khi y phát triển hơn nữa. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính khi chúng ta cố gắng phân biện hoàn toàn bằng trí tuệ thì vấn đề dường như không thể vượt qua. Khi sự cai quản của linh hồn và sự nhận biết linh hồn đã được thiết lập vững chắc, những sự nhận biết khác nhau này trở thành những phản ứng theo bản năng. Đáp ứng trực giác là tên chúng ta đặt cho đời sống bản năng của linh hồn—sự tương ứng cao hơn với đời sống bản năng của thể xác con người. Trong các đoạn trên, chúng ta có một bản tóm lược đơn giản về một số thâm nghĩa sâu xa hơn của lời huấn thị đơn giản: “Hãy học phân biện.” Chúng ta đã thực sự thấu hiểu lời huấn thị này đến mức nào? Về mặt trí tuệ, trí tuệ có thể đồng ý. Về mặt thực tiễn, những lời ấy thường chẳng có nghĩa gì. Chúng có hàm ý đối với chúng ta quyền năng của linh hồn trong việc tách các rung động thành những loại khác nhau chăng? Tuy nhiên, chúng ta được bảo [177] rằng linh hồn không biết gì về sự tách biệt! Đó là một vài nghịch lý của huyền bí học đối với người chưa được điểm đạo.

The Law of Group Progress can only begin to have a conscious effect in the life of the disciple who has been pledged and accepted. When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well recognised group lines, and when he is definitely and in understanding consciousness preparing himself for the expansions of initiation, then this law begins to sway him and he learns to obey it instinctively, intuitively and intellectually. It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. The previous sentence is so worded because it is important that all should grasp the self-initiated necessity of initiation. Do we understand this importance? Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated. Let us not forget their esoteric and unseen significances.

Định luật Tiến Bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu có một hiệu quả hữu thức trong đời sống của đệ tử đã được cam kết và chấp nhận. Khi y đã thiết lập được một số nhịp điệu nhất định, khi y đang làm việc hữu hiệu theo một số đường lối nhóm được thừa nhận rõ ràng, và khi y đang dứt khoát và trong tâm thức thấu hiểu chuẩn bị cho những sự mở rộng của điểm đạo, thì định luật này bắt đầu chi phối y và y học cách tuân phục nó theo bản năng, trực giác và trí tuệ. Chính nhờ tuân phục định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được đệ tử khởi sự. Câu trước được diễn đạt như thế vì điều quan trọng là mọi người phải nắm bắt được tính tất yếu do chính mình khởi xướng của điểm đạo. Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này không? Một số hiệu quả đã được nhắc đến trước đây trong phần thảo luận ban đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây. Chúng ta đừng quên những thâm nghĩa huyền bí và vô hình của chúng.

1. The disciple will then learn effectively to decentralise himself. This means that

1. Khi ấy đệ tử sẽ học cách phi tập trung vào bản thân một cách hữu hiệu. Điều này có nghĩa là

a. He will ask nothing for the separated self. One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher Self, and to foreswear all claims of this separated self. One can see also why so many react against it. They are not ready for it, and such a pledge therefore acts as a great discriminating agent. To those for whom the standard of selflessness is set too high, it is neither understood nor desired. Therefore the unready criticise it. Later these will come back and with understanding take this obligation in the light.

a. Y sẽ không đòi hỏi gì cho bản ngã tách biệt. Do đó người ta có thể dễ dàng thấy tại sao những người chí nguyện được dạy phải cam kết trung thành với Bản Ngã Cao Siêu của mình, và từ bỏ mọi đòi hỏi của bản ngã tách biệt này. Người ta cũng có thể thấy tại sao rất nhiều người phản ứng chống lại điều đó. Họ chưa sẵn sàng cho nó, và vì thế một lời cam kết như vậy hoạt động như một tác nhân phân biện lớn lao. Đối với những ai mà tiêu chuẩn vô ngã được đặt ra quá cao, nó không được thấu hiểu cũng không được mong muốn. Vì vậy người chưa sẵn sàng chỉ trích nó. Sau này họ sẽ quay lại và với sự thấu hiểu sẽ nhận lấy nghĩa vụ này trong ánh sáng.

b. His eyes are towards the light and not towards desire for contact with the Master. This, therefore, rules out that spiritual selfishness which has been expressed [178] by the desire, innate and deep, for recognition by one of the Great Ones. When this freedom from the personal is found, then the Master can dare to make a contact and to establish a relation with the disciple. It would be well for us to ponder on this.

b. Mắt y hướng về ánh sáng chứ không hướng về ham muốn tiếp xúc với Chân sư. Do đó, điều này loại trừ sự ích kỷ tinh thần đã được biểu lộ [178] qua ham muốn bẩm sinh và sâu xa được một trong Các Đấng Cao Cả công nhận. Khi sự giải thoát khỏi cái cá nhân này được tìm thấy, khi ấy Chân sư mới có thể dám tạo ra một tiếp xúc và thiết lập một mối liên hệ với đệ tử. Sẽ là điều tốt nếu chúng ta suy ngẫm về điều này.

2. He will have learnt to serve instinctively. He may, and usually does, need to learn to discriminate in his service; but his attitude to life and toward all men is a divine rushing forth to aid, to lift, to love and to succour.

2. Y sẽ học được cách phụng sự theo bản năng. Y có thể, và thường là, cần học cách phân biện trong sự phụng sự của mình; nhưng thái độ của y đối với cuộc sống và đối với mọi người là một sự tuôn đổ thiêng liêng nhằm trợ giúp, nâng đỡ, yêu thương và cứu giúp.

3. He will have learnt to use the mind in two directions, increasingly and at will, and instantaneously:

3. Y sẽ học được cách sử dụng trí tuệ theo hai hướng, ngày càng nhiều hơn, theo ý muốn, và tức khắc:

a. He can cast the search-light of the mind into the world of the soul, and know and recognise those truths which must, for him, become his experienced knowledge.

a. Y có thể phóng đèn pha của trí tuệ vào thế giới của linh hồn, và biết và nhận ra những chân lý mà đối với y phải trở thành tri thức do kinh nghiệm của mình.

b. He can also cast it into the world of illusion and dispel the glamours of the personal. When he can do that, then he begins to dispel the world glamours for he is nearing initiation.

b. Y cũng có thể phóng nó vào thế giới của ảo tưởng và làm tiêu tan những ảo cảm của cái cá nhân. Khi y có thể làm được điều đó, thì y bắt đầu làm tiêu tan những ảo cảm của thế giới vì y đang tiến gần điểm đạo.

a. THE LINK OF THE WORLD GROUPS—MỐI LIÊN KẾT CỦA CÁC NHÓM THẾ GIỚI

It would be possible to go on listing the various developments which indicate to the onlooking Hierarchy that a disciple, or a group of disciples, are now ready for “more light.” The major indication is, however, their reaction to the Law of Group Progress. It is this Law which is the coming new law to be sensed by the world disciples and which is already becoming more effective in its potency, even though this will not be realised by humanity for a long while yet. It will bring into activity the work of the world groups. In the past, groups have been formed for mutual benefit, for mutual interest and study, for mutual strengthening. This has been [179] their glory, and also their curse, for great and good though their motives may have been, yet these groups have been basically and primarily selfish, with a form of spiritual selfishness most difficult to overcome, and calling for the expression of the true discrimination to which I have earlier referred. Such groups have ever been battlegrounds wherein the least able and the least integrated have been absorbed and standardised or regimented, and the most powerful have dominated eventually, and the indefinite ones have been eliminated and rendered totally quiescent. The successful group has eventually turned out to be one composed of kindred souls who are all thinking alike, because no one thinks with intuition, but who are governed by some school of thought, or because some central figure in the group dominates all the rest, hypnotising them into an instinctual, quiescent, static condition. This may be to the glory of the teacher and of the group, but it certainly is not to the glory of God.

Có thể tiếp tục liệt kê nhiều sự phát triển khác nhau cho thấy với Thánh Đoàn đang quan sát rằng một đệ tử, hay một nhóm đệ tử, nay đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn.” Tuy nhiên, dấu hiệu chính yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến Bộ Nhóm. Chính Định luật này là định luật mới sắp đến mà các đệ tử thế gian sẽ cảm nhận được, và định luật ấy đã đang trở nên hữu hiệu hơn trong mãnh lực của nó, dù nhân loại còn lâu nữa mới chứng nghiệm được điều này. Nó sẽ đưa công việc của các nhóm thế gian vào hoạt động. Trong quá khứ, các nhóm đã được hình thành vì lợi ích hỗ tương, vì mối quan tâm và học hỏi hỗ tương, vì sự tăng cường hỗ tương. Điều này đã là [179] vinh quang của họ, và cũng là lời nguyền của họ, vì tuy động cơ của họ có thể lớn lao và tốt đẹp đến đâu, các nhóm ấy về căn bản và chủ yếu vẫn ích kỷ, với một dạng ích kỷ tinh thần rất khó vượt qua, và đòi hỏi sự biểu lộ của năng lực phân biện chân chính mà tôi đã nói đến trước đây. Những nhóm như thế luôn luôn là chiến trường, nơi những người kém khả năng nhất và ít tích hợp nhất bị hấp thu và tiêu chuẩn hóa hoặc bị điều động theo khuôn phép, còn những người mạnh nhất cuối cùng thống trị, và những người thiếu xác định thì bị loại bỏ và trở nên hoàn toàn bất động. Nhóm thành công cuối cùng hóa ra là một nhóm gồm những linh hồn đồng điệu, tất cả đều suy nghĩ giống nhau, vì không ai suy nghĩ bằng trực giác, nhưng đều bị chi phối bởi một trường phái tư tưởng nào đó, hoặc vì một nhân vật trung tâm nào đó trong nhóm thống trị tất cả những người còn lại, thôi miên họ vào một trạng thái bản năng, tĩnh lặng, bất động. Điều này có thể là vinh quang cho huấn sư và cho nhóm, nhưng chắc chắn không phải là vinh quang cho Thượng đế.

End of LOTSWC 22, EP II p. 179

End of LOTSWC 22, EP II p. 179

Beginning with LOTSWC 23, EP II p. 179

Beginning with LOTSWC 23, EP II p. 179

[-> Bình Giảng 23]

Today the new groups are slowly and gradually coming into being and being governed by these soul laws. They will, therefore, strike a different note and produce groups which are welded together by a united aspiration and objective. Yet they will be constituted of free souls, individual and developed, who recognise no authority but that of their own souls, and submerge their interests to the soul purpose of the group as a whole. Just as the achievement of an individual has, down the ages, served to raise the race, so a paralleling achievement in group formation will tend to raise humanity still more rapidly. Hence this law is called that of Elevation.

Ngày nay, các nhóm mới đang chậm rãi và dần dần xuất hiện và được chi phối bởi các định luật linh hồn này. Vì vậy, họ sẽ xướng lên một âm điệu khác và tạo ra những nhóm được hàn gắn với nhau bởi một khát vọng và mục tiêu hợp nhất. Tuy nhiên, họ sẽ được cấu thành bởi những linh hồn tự do, cá biệt và đã phát triển, không thừa nhận quyền uy nào ngoài quyền uy của chính linh hồn mình, và dìm lợi ích riêng của mình vào mục đích linh hồn của toàn nhóm. Cũng như thành tựu của một cá nhân, qua các thời đại, đã giúp nâng cao nhân loại, thì một thành tựu song hành trong việc hình thành nhóm sẽ có khuynh hướng nâng nhân loại lên nhanh hơn nữa. Do đó định luật này được gọi là định luật Nâng Cao.

The time has now come when this method of raising the race can begin to be tried. Those who have entered upon the Path of Probation have attempted to raise humanity and have failed. Those who have passed upon the Path of Discipleship have also tried and failed. Those who have themselves [180] mastered circumstance and the illusion of death, and have consequently been raised unto life, can now attempt the task in united formation. They will succeed. The word has gone forth with the request for this united activity, and the urge to bend every effort to raise the dead body of humanity. A great and possible achievement of the Lodge of Masters is now imminent and all aspirants and all disciples can be swung into a synthetic recognition of power and of opportunity.

Nay đã đến lúc phương pháp nâng cao nhân loại này có thể bắt đầu được thử nghiệm. Những ai đã bước vào Con Đường Dự Bị đã cố gắng nâng cao nhân loại và đã thất bại. Những ai đã đi qua Con Đường Đệ Tử cũng đã thử và thất bại. Những ai tự mình đã [180] làm chủ hoàn cảnh và ảo tưởng về cái chết, và do đó đã được nâng lên sự sống, nay có thể thử đảm nhận nhiệm vụ này trong đội hình hợp nhất. Họ sẽ thành công. Linh từ đã được phát ra với lời yêu cầu về hoạt động hợp nhất này, và với sự thôi thúc dốc mọi nỗ lực để nâng thân thể chết của nhân loại lên. Một thành tựu lớn lao và khả hữu của Thánh đoàn các Chân sư nay đang cận kề, và mọi người chí nguyện cùng mọi đệ tử đều có thể được cuốn vào một sự nhận biết tổng hợp về quyền năng và cơ hội.

It is for this end that the teaching anent the New Group of World Servers was given out broadcast. This is the first attempt to form a group which would work as a group and attempt a world task. They can act as an intermediate group between the world of men and the Hierarchy. They stand between what is occultly called the “dead Master” and the “living Masters.” Masons will understand what is here described. The true esotericist will also see the same truth from another angle.

Chính vì mục đích này mà giáo huấn liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được phổ biến rộng rãi. Đây là nỗ lực đầu tiên nhằm hình thành một nhóm có thể hoạt động như một nhóm và cố gắng đảm nhận một nhiệm vụ thế giới. Họ có thể hành động như một nhóm trung gian giữa thế giới loài người và Thánh Đoàn. Họ đứng giữa điều mà huyền bí học gọi là “vị Chân sư đã chết” và “các Chân sư đang sống.” Những người Tam Điểm sẽ hiểu điều đang được mô tả ở đây. Nhà huyền bí học chân chính cũng sẽ thấy cùng một chân lý ấy từ một góc độ khác.

I would like here to give you some thoughts anent the new groups which come into functioning activity under the Law of Group Progress. It must be constantly remembered, as one considers these coming new groups, that they are primarily an experiment in Group Activity, and are not formed for the purpose of perfecting the individual member in any group. This is a fundamental and essential statement, if the objectives are rightly to be understood. In these groups the members supplement and fortify each other, and, in the aggregate of their qualities and capacities, they should eventually provide groups capable of useful spiritual expression, and through which spiritual energy can flow, unimpeded, for the helping of humanity. The work to be done is very largely upon mental levels. The spheres of daily service of the individual members of the new groups remain as their destiny and inner urge indicates upon the physical plane; but—to the differing [181] fields of individual effort — there will be added (and this is the point of importance) a group activity which will be a joint and united service. Each person in such groups has to learn to work in a close mental and spiritual cooperation with all the others, and this takes time, given the present point of evolutionary development of the world aspirants. Each has to pour forth love on all, and this is not easy. Each has to learn to subordinate his own personality ideas and his personal growth to the group requirements, for at present some will have to hasten their progress in certain directions, and some must slow it down as a service to the others. This process will take place automatically as the group identity and integration becomes the dominant thought in the group consciousness, and the desire for personal growth and spiritual satisfaction is relegated to a secondary place.

Ở đây tôi muốn đưa ra cho các bạn vài tư tưởng liên quan đến các nhóm mới đang đi vào hoạt động chức năng dưới Định luật Tiến Bộ Nhóm. Phải luôn luôn ghi nhớ, khi xem xét các nhóm mới sắp đến này, rằng trước hết chúng là một thử nghiệm về Hoạt Động Nhóm, chứ không được hình thành nhằm mục đích hoàn thiện cá nhân thành viên trong bất kỳ nhóm nào. Đây là một phát biểu nền tảng và thiết yếu, nếu các mục tiêu được thấu hiểu đúng đắn. Trong các nhóm này, các thành viên bổ sung và củng cố lẫn nhau, và trong tổng thể các phẩm tính và năng lực của họ, cuối cùng họ phải cung cấp những nhóm có khả năng biểu lộ tinh thần hữu ích, và qua đó năng lượng tinh thần có thể tuôn chảy không bị ngăn trở để trợ giúp nhân loại. Công việc phải làm phần lớn ở các cấp độ trí tuệ. Các lĩnh vực phụng sự hằng ngày của từng thành viên trong các nhóm mới vẫn tùy theo định mệnh và sự thôi thúc bên trong của họ chỉ ra trên cõi hồng trần; nhưng—vào các [181] lĩnh vực nỗ lực cá nhân khác nhau—sẽ được thêm vào (và đây là điểm quan trọng) một hoạt động nhóm, là một sự phụng sự chung và hợp nhất. Mỗi người trong các nhóm như thế phải học cách làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ về trí tuệ và tinh thần với tất cả những người khác, và điều này cần thời gian, xét theo điểm tiến hoá hiện nay của những người chí nguyện thế gian. Mỗi người phải tuôn đổ tình thương lên tất cả, và điều này không dễ. Mỗi người phải học cách đặt các ý tưởng phàm ngã của riêng mình và sự tăng trưởng cá nhân của mình xuống dưới các đòi hỏi của nhóm, vì hiện nay một số người sẽ phải đẩy nhanh tiến bộ của mình theo vài hướng nào đó, còn một số khác phải làm chậm lại như một sự phụng sự đối với những người khác. Tiến trình này sẽ diễn ra một cách tự động khi bản sắc nhóm và sự tích hợp nhóm trở thành tư tưởng chi phối trong tâm thức nhóm, và khi ước muốn tăng trưởng cá nhân cùng sự thỏa mãn tinh thần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.

This contemplated group unity will have its roots in group meditation, or in the contemplative life (in which the soul knows itself to be one with all souls). This in its turn will work out in some form of group activity which will constitute the distinguishing contribution of any particular group to the raising of the human race esoterically. Within the group life, the individual will not be dealt with as such by those who seek to train, teach and weld the group into an instrument for service. Each person will be regarded as a transmitter of the type of energy which is the predominant energy in any ray type, either egoic or personality rays. Each can in time learn to transmit the quality of his soul ray to the group, stimulating his brothers to greater courage, clearer vision, finer purity of motive, and deeper love, and yet avoid the danger of vitalising his personality characteristics. This is the major difficulty. To do this effectively and correctly, we must all learn to think of each other as souls, and not as human beings.

Sự hợp nhất nhóm được dự kiến này sẽ có gốc rễ trong tham thiền nhóm, hay trong đời sống chiêm ngưỡng (trong đó linh hồn biết mình là một với mọi linh hồn). Đến lượt nó, điều này sẽ được biểu lộ trong một hình thức hoạt động nhóm nào đó, hình thức ấy sẽ tạo nên đóng góp đặc trưng của bất kỳ nhóm riêng biệt nào vào việc nâng cao nhân loại một cách huyền bí. Trong đời sống nhóm, cá nhân sẽ không được những người tìm cách huấn luyện, dạy dỗ và hàn gắn nhóm thành một công cụ phụng sự đối xử như một cá nhân riêng lẻ. Mỗi người sẽ được xem như một kênh truyền dẫn loại năng lượng là năng lượng trội trong bất kỳ loại cung nào, hoặc là các cung chân ngã hoặc các cung phàm ngã. Theo thời gian, mỗi người có thể học cách truyền phẩm tính của cung linh hồn mình vào nhóm, kích thích các huynh đệ của mình đến lòng can đảm lớn hơn, tầm nhìn sáng tỏ hơn, động cơ thanh khiết hơn, và tình thương sâu sắc hơn, nhưng vẫn tránh được nguy cơ tiếp sinh lực cho các đặc tính phàm ngã của mình. Đây là khó khăn chủ yếu. Để làm được điều này một cách hữu hiệu và đúng đắn, tất cả chúng ta phải học cách nghĩ về nhau như những linh hồn, chứ không phải như những con người.

[182]

[182]

Therefore, as a preliminary statement, we have the following objectives in the group work of the New Age, as they make their tentative beginnings at this time. The later and more esoteric objectives will emerge as the earlier ones are reached:

Vì vậy, như một phát biểu sơ bộ, chúng ta có các mục tiêu sau đây trong công việc nhóm của Kỷ Nguyên Mới, khi chúng bắt đầu những bước khởi đầu còn dè dặt vào lúc này. Những mục tiêu về sau và huyền bí hơn sẽ xuất hiện khi các mục tiêu ban đầu được đạt tới:

1. Group Unity. This must be achieved through the practice of love, which is part of the practice of the Presence of God, through the subordination of the personality life to the group life, and constant, loving, living service.

1. Hợp Nhất Nhóm. Điều này phải được đạt tới qua việc thực hành tình thương, vốn là một phần của việc thực hành sự Hiện Diện của Thượng đế, qua việc đặt đời sống phàm ngã xuống dưới đời sống nhóm, và qua sự phụng sự sống động, đầy tình thương, không ngừng.

2. Group Meditation. These groups will eventually be grounded in the kingdom of souls, and the work done will be motivated and carried forward from the higher mental levels in the demonstration of the contemplative life. This involves the dual activity of the life of the disciple, wherein he functions consciously both as a personality and as a soul. The life of the personality should be that of intelligent activity; that of the soul is loving contemplation.

2. Tham Thiền Nhóm. Cuối cùng các nhóm này sẽ được đặt nền trên giới các linh hồn, và công việc được thực hiện sẽ được thúc đẩy và tiến hành từ các cấp độ thượng trí trong sự biểu lộ đời sống chiêm ngưỡng. Điều này bao hàm hoạt động kép của đời sống đệ tử, trong đó y hoạt động một cách hữu thức vừa như một phàm ngã vừa như một linh hồn. Đời sống của phàm ngã phải là đời sống của hoạt động thông minh; đời sống của linh hồn là sự chiêm ngưỡng đầy bác ái.

3. Group Activity. Each group will have some distinguishing characteristic and this will be dedicated to some specific form of service.

3. Hoạt Động Nhóm. Mỗi nhóm sẽ có một đặc tính phân biệt nào đó và đặc tính này sẽ được hiến dâng cho một hình thức phụng sự chuyên biệt nào đó.

When the groups are properly established (and the time is imminent) and after they have worked together subjectively for a certain necessary period of time (to be determined by the quality of the life of the individuals composing it, and their selflessness and service) then they will begin to function outwardly and their life aspect will begin to make its presence felt. The various lines of activity will emerge when the group vibration is strong enough to make a definite impact on the consciousness of the race. Therefore, it will be apparent that the first and foremost requirements are group integrity and group cohesion. Nothing can be accomplished [183] without these. The subjective linking of each group member with each, and the emergence of a group consciousness is a vital objective for the next few decades. Thus there will emerge a group circulation or transmission of energy which will be of real value in world salvage. For the individual it should be remembered that purity of body, control of the emotions, and stability of mind are fundamental requirements and should be the goal of the daily practice. Again and again we must come back to these prime character requirements, and tiresome as the reiteration may be, I urge upon you the cultivation of these qualities. Through these groups it may be possible to restore some of the ancient Mysteries, and some of the groups mentioned previously in Letters on Occult Meditation, will be found among the emerging New Age groups.

Khi các nhóm được thiết lập đúng đắn (và thời điểm ấy đang cận kề) và sau khi họ đã cùng làm việc một cách chủ quan trong một thời gian cần thiết nào đó (được quyết định bởi phẩm tính đời sống của các cá nhân cấu thành nhóm, cùng tính vô kỷ và sự phụng sự của họ) thì họ sẽ bắt đầu hoạt động ra bên ngoài và phương diện sự sống của họ sẽ bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Các đường hoạt động khác nhau sẽ xuất hiện khi rung động nhóm đủ mạnh để tạo một tác động rõ rệt lên tâm thức của nhân loại. Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng các đòi hỏi đầu tiên và quan trọng nhất là tính toàn vẹn của nhóm và sự gắn kết của nhóm. Không điều gì có thể được hoàn thành [183] nếu không có những điều này. Sự liên kết chủ quan của từng thành viên nhóm với từng người khác, và sự xuất hiện của một tâm thức nhóm, là một mục tiêu sống còn cho vài thập niên tới. Như thế sẽ xuất hiện một sự lưu chuyển hay truyền dẫn năng lượng của nhóm, điều sẽ có giá trị thực sự trong việc cứu vãn thế giới. Đối với cá nhân, cần ghi nhớ rằng sự thanh khiết của thể, sự kiểm soát cảm xúc, và sự ổn định của trí tuệ là những đòi hỏi nền tảng và phải là mục tiêu của việc thực hành hằng ngày. Hết lần này đến lần khác chúng ta phải quay lại với những đòi hỏi căn bản về tính cách này, và dù sự lặp lại có thể gây mệt mỏi, tôi vẫn thúc giục các bạn vun bồi các phẩm tính ấy. Qua các nhóm này, có thể sẽ phục hồi được một số các Huyền Nhiệm cổ xưa, và một số nhóm đã được nhắc đến trước đây trong Letters on Occult Meditation sẽ được tìm thấy giữa các nhóm Kỷ Nguyên Mới đang xuất hiện.

[End of LOTSWC 23 EP II p. 183

[End of LOTSWC 23 EP II p. 183

Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183

Beginning of LOTSWC 24 EP II, p. 183

[-> Bình Giảng 24]

b. THE CHARACTERISTICS OF THE NEW GROUPS—CÁC ĐẶC TÍNH CỦA NHỮNG NHÓM MỚI

This brief summary will serve to give some of the elementary requirements and, by means of a broad generalisation, to indicate the major reasons why such groups are being formed. We can now perhaps widen our vision a little and at the same time look at the groups in greater detail.

Bản tóm lược ngắn này sẽ giúp nêu ra một số đòi hỏi sơ đẳng và, bằng một sự khái quát rộng, chỉ ra những lý do chính yếu vì sao các nhóm như thế đang được hình thành. Giờ đây có lẽ chúng ta có thể mở rộng tầm nhìn thêm đôi chút và đồng thời xem xét các nhóm ấy chi tiết hơn.

One of the characteristics distinguishing the groups of world servers and knowers, is that the outer organisation, which will hold them integrated, will be so nebulous and fine that, to the outer observation, it will be practically nonexistent. The group will be held together by an inner structure of thought and a close telepathic interrelation. The Great Ones, Whom we all seek to serve, are thus linked, and can at the slightest need and with the least expenditure of force, get into rapport with each other. They are all attuned to a particular vibration, and so must these groups be attuned. There will be thus collected together, people demonstrating [184] the wide difference in nature, who are found on differing rays, who are of varying nationalities, and the product of widely separated environments and heredity. Besides these factors, which immediately attract attention, there will also be found an equal diversity in the life experience of the souls concerned. The complexity of the problem confronting the group members is also tremendously increased when one remembers the long road which each has travelled, and the many factors and characteristics, emerging out of a dim and distant past, which have tended to make each person what he now is. When, therefore, one dwells on the difficulties and the possible barriers to success, the question will arise and rightly so: What makes it possible to establish this group inter-relation? What provides a common meeting ground? The answer to these questions is of paramount importance and necessitates a frank handling.

Một trong những đặc tính phân biệt các nhóm người phụng sự thế gian và thức giả là tổ chức bên ngoài, vốn sẽ giữ họ được tích hợp, sẽ mơ hồ và tinh tế đến mức đối với sự quan sát bên ngoài, nó hầu như không hiện hữu. Nhóm sẽ được giữ lại với nhau bởi một cấu trúc tư tưởng bên trong và một mối tương liên viễn cảm chặt chẽ. Các Đấng Cao Cả, những Đấng mà tất cả chúng ta tìm cách phụng sự, được liên kết như thế, và khi có nhu cầu nhỏ nhất và với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất, Các Ngài có thể đi vào sự giao cảm với nhau. Tất cả Các Ngài đều được chỉnh hợp với một rung động đặc biệt, và các nhóm này cũng phải được chỉnh hợp như vậy. Do đó sẽ được tập hợp lại với nhau những người biểu lộ [184] sự khác biệt rộng lớn về bản chất, thuộc các cung khác nhau, mang các quốc tịch khác nhau, và là sản phẩm của những môi trường và di truyền rất cách biệt. Ngoài các yếu tố ngay lập tức thu hút sự chú ý ấy, còn sẽ thấy có một sự đa dạng tương đương trong kinh nghiệm sống của các linh hồn liên hệ. Tính phức tạp của vấn đề đối diện các thành viên nhóm cũng tăng lên rất nhiều khi người ta nhớ đến con đường dài mà mỗi người đã đi qua, và nhiều yếu tố cùng đặc tính, xuất hiện từ một quá khứ mờ xa, đã có khuynh hướng làm cho mỗi người trở thành như hiện nay. Vì vậy, khi người ta suy xét đến những khó khăn và những rào cản có thể có đối với thành công, câu hỏi sẽ nảy sinh, và hoàn toàn đúng đắn: Điều gì làm cho việc thiết lập mối tương liên nhóm này trở nên khả hữu? Điều gì cung cấp một nền tảng gặp gỡ chung? Câu trả lời cho những câu hỏi này có tầm quan trọng tối thượng và đòi hỏi phải được xử lý một cách thẳng thắn.

We find in the Bible the words: “In Him we live and move and have our being”. This is the statement of a fundamental law in nature, and the enunciated basis of the relation which exists between the unit soul, functioning in a human body, and God. It determines also, in so far as it is realised, the relation between soul and soul. We live in an ocean of energies. We ourselves are congeries of energies, and all these energies are closely interrelated and constitute the one synthetic energy body of our planet.

Chúng ta thấy trong Kinh Thánh những lời: “Trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Đây là phát biểu về một định luật nền tảng trong bản chất, và là cơ sở được tuyên bố của mối liên hệ tồn tại giữa linh hồn đơn vị, đang hoạt động trong một thể người, và Thượng đế. Nó cũng quyết định, trong chừng mực được chứng nghiệm, mối liên hệ giữa linh hồn với linh hồn. Chúng ta sống trong một đại dương năng lượng. Chính chúng ta là những tập hợp năng lượng, và tất cả các năng lượng này liên hệ chặt chẽ với nhau và cấu thành một thể năng lượng tổng hợp duy nhất của hành tinh chúng ta.

It must be carefully borne in mind that the etheric body of every form in nature is an integral part of the substantial form of God Himself—not the dense physical form, but what the esotericists regard as the form-making substance. We use the word “God” to signify the one expression of the One Life which animates every form on the outer objective plane. The etheric or energy body, therefore, of every human being, is an integral part of the etheric body of the planet itself [185] and consequently of the solar system. Through this medium, every human being is basically related to every other expression of the Divine Life, minute or great. The function of the etheric body is to receive energy impulses and to be swept into activity by these impulses or streams of force, emanating from some originating source or other. The etheric body is in reality naught but energy. It is composed of myriads of threads of force or tiny streams of energy, held in relation to the emotional and mental bodies and to the soul by their co-ordinating effect. These streams of energy, in their turn, have an effect on the physical body and swing it into activity of some kind or another, according to the nature and power of whatever type of energy may be dominating the etheric body at any particular time.

Phải cẩn thận ghi nhớ rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng trong bản chất là một phần toàn vẹn của hình tướng chất liệu của chính Thượng đế—không phải hình tướng hồng trần đậm đặc, mà là điều các nhà bí truyền học xem như chất liệu tạo hình. Chúng ta dùng từ “Thượng đế” để biểu thị một biểu lộ duy nhất của Sự Sống Duy Nhất đang linh hoạt hóa mọi hình tướng trên cõi khách quan bên ngoài. Vì vậy, thể dĩ thái hay thể năng lượng của mỗi con người là một phần toàn vẹn của chính thể dĩ thái của hành tinh [185] và do đó của hệ mặt trời. Qua trung gian này, mỗi con người về căn bản có liên hệ với mọi biểu lộ khác của Sự Sống thiêng liêng, nhỏ bé hay vĩ đại. Chức năng của thể dĩ thái là tiếp nhận các xung lực năng lượng và bị cuốn vào hoạt động bởi các xung lực hay các dòng mãnh lực này, phát ra từ một nguồn khởi phát nào đó. Thể dĩ thái thực ra không là gì khác ngoài năng lượng. Nó được cấu thành bởi vô số sợi chỉ mãnh lực hay những dòng năng lượng nhỏ bé, được giữ trong mối liên hệ với thể cảm dục, thể trí và với linh hồn nhờ tác dụng phối hợp của chúng. Đến lượt mình, các dòng năng lượng này tác động lên thể xác và đưa nó vào một loại hoạt động nào đó, tùy theo bản chất và quyền năng của bất kỳ loại năng lượng nào đang chi phối thể dĩ thái vào bất kỳ thời điểm riêng biệt nào.

Through the etheric body, therefore, circulates energy emanating from some mind. With humanity in the mass, response is made unconsciously to the rulings of the Universal Mind; this is complicated in our time and age by a growing responsiveness to the mass ideas—called sometimes public opinion—of the rapidly evolving human mentality. Within the human family are also found those who respond to that inner group of Thinkers, Who, working in mental matter, control from the subjective side of life, the emergence of the great Plan and the manifestation of divine purpose.

Vì vậy, qua thể dĩ thái lưu chuyển năng lượng phát ra từ một trí tuệ nào đó. Với nhân loại nói chung, sự đáp ứng được thực hiện một cách vô thức đối với các chỉ đạo của Vũ Trụ Trí; điều này trong thời đại chúng ta lại càng phức tạp hơn bởi một sự đáp ứng ngày càng tăng đối với các ý tưởng quần chúng—đôi khi được gọi là dư luận—của trí tuệ nhân loại đang tiến hoá nhanh chóng. Trong gia đình nhân loại cũng có những người đáp ứng với nhóm các Đấng Tư Tưởng bên trong ấy, những Đấng, hoạt động trong chất liệu trí tuệ, kiểm soát từ mặt chủ quan của sự sống sự xuất hiện của Thiên Cơ vĩ đại và sự biểu lộ của thiên ý.

This group of Thinkers falls into seven main divisions and is presided over by three great Lives or super-conscious entities. These Three are the Manu, the Christ and the Mahachohan. These three work primarily through the method of influencing the minds of the adepts and initiates. These latter, in Their turn, influence the disciples of the world and these disciples, each in his own place and on his own responsibility, work out their concept of the Plan and seek to give expression to it as far as possible. These disciples have hitherto [186] worked very much alone except when karmic relationships have revealed them to each other and telepathic intercommunication has been fundamentally confined to the Hierarchy of adepts and initiates, both in and out of incarnation, and to Their individual work with Their disciples.

Nhóm các Đấng Tư Tưởng này được chia thành bảy phân bộ chính và được chủ trì bởi ba Sự Sống vĩ đại hay các thực thể siêu hữu thức. Ba Đấng này là Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan. Ba Đấng này hoạt động chủ yếu bằng phương pháp ảnh hưởng lên trí tuệ của các chân sư và các điểm đạo đồ. Đến lượt mình, các vị sau này ảnh hưởng đến các đệ tử của thế gian, và các đệ tử ấy, mỗi người ở vị trí riêng của mình và với trách nhiệm riêng của mình, triển khai quan niệm của mình về Thiên Cơ và tìm cách biểu lộ nó chừng nào có thể. Cho đến nay các đệ tử này [186] đã làm việc phần lớn một mình, ngoại trừ khi các mối liên hệ nghiệp quả làm lộ ra họ với nhau, và sự giao tiếp viễn cảm về căn bản chỉ giới hạn trong Thánh Đoàn các chân sư và các điểm đạo đồ, cả đang lâm phàm lẫn không lâm phàm, và trong công việc riêng của Các Ngài với các đệ tử của mình.

These groups, therefore, which have hitherto worked entirely subjectively, can and will be duplicated externally, and, the new groups will come into being largely as an externalisation—experimental as yet—of the groups which have functioned behind the scenes, motivated from the central group, the Hierarchy of Masters.

Vì vậy, các nhóm này, vốn cho đến nay đã làm việc hoàn toàn một cách chủ quan, có thể và sẽ được sao lại ra bên ngoài, và các nhóm mới sẽ xuất hiện phần lớn như một sự ngoại hiện—hiện vẫn còn có tính thử nghiệm—của các nhóm đã hoạt động phía sau hậu trường, được thúc đẩy từ nhóm trung tâm là Thánh Đoàn các Chân sư.

This experiment is primarily as yet one of group integration and the method whereby it can be developed. The reason why Those on the Inner Side are now experimenting with this group idea is because it is definitely a New Age trend. They are seeking to utilise the increasing bias of the human being towards coherence and integration. It must be remembered, however, and with constancy, that unless there is a subjective coherence, all outer forms must eventually disintegrate or never cohere at all. It is only the subjective links and the subjective work that determines success, and these must (particularly in the new group work) be based on egoic relations and not on personal attachments and predilections. These help where there is at the same time a recognition of the egoic relation. Where that exists, then something can be formed which is immortal and as lasting as the soul itself.

Thử nghiệm này hiện nay trước hết là một thử nghiệm về sự tích hợp nhóm và về phương pháp nhờ đó nó có thể được phát triển. Lý do khiến Những Đấng ở Mặt Bên Trong hiện đang thử nghiệm với ý tưởng nhóm này là vì đó rõ ràng là một xu hướng của Kỷ Nguyên Mới. Các Ngài đang tìm cách sử dụng khuynh hướng ngày càng tăng của con người hướng tới sự gắn kết và tích hợp. Tuy nhiên, phải luôn luôn ghi nhớ rằng nếu không có sự gắn kết chủ quan, mọi hình tướng bên ngoài cuối cùng đều phải tan rã hoặc sẽ không bao giờ gắn kết được. Chỉ có các liên kết chủ quan và công việc chủ quan mới quyết định thành công, và những điều này phải (đặc biệt trong công việc nhóm mới) được đặt trên các mối liên hệ chân ngã chứ không phải trên các gắn bó và thiên hướng cá nhân. Những điều này có ích khi đồng thời có sự nhận biết về mối liên hệ chân ngã. Nơi nào điều đó hiện hữu, thì có thể hình thành một điều gì đó bất tử và bền lâu như chính linh hồn.

One practical point should be made clear. These groups will for some time be what might be called “pattern-groups” and, therefore, must be formed very slowly and with much care. Each person forming part of the new groups will be tested and tried and subjected to much pressure. This will be necessary if the groups are to stand through this transition period of the present. It will not be easy for disciples to form these groups. The methods and techniques will be so different to those of the past. People may evince real desire to participate in the group life and to form part of the group activity, but their real difficulty will consist in bringing their personal life and vibration into conformity with the group life and rhythm. The narrow path which all disciples have to tread (and in the early stages these groups will consist primarily of those on the Probationary Path or the Path of Discipleship) requires obedience to certain instructions which have been handed down to us from the ancient past. These are followed willingly and with the eyes open, but no rigid adherence to the letter of the law is ever asked or expected. Flexibility within certain self-imposed limits is always needed, yet that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning.

Một điểm thực tiễn cần được làm rõ. Trong một thời gian, các nhóm này sẽ là điều có thể gọi là “nhóm mô hình” và vì vậy phải được hình thành rất chậm và hết sức cẩn trọng. Mỗi người tạo thành một phần của các nhóm mới sẽ được kiểm tra, thử thách và chịu nhiều áp lực. Điều này sẽ cần thiết nếu các nhóm phải đứng vững qua giai đoạn chuyển tiếp hiện nay. Sẽ không dễ cho các đệ tử hình thành các nhóm này. Các phương pháp và kỹ thuật sẽ rất khác với quá khứ. Mọi người có thể biểu lộ ước muốn chân thành được tham gia vào đời sống nhóm và trở thành một phần của hoạt động nhóm, nhưng khó khăn thực sự của họ sẽ nằm ở việc đưa đời sống cá nhân và rung động của mình vào sự phù hợp với đời sống và nhịp điệu của nhóm. Con đường hẹp mà mọi đệ tử phải bước đi (và trong các giai đoạn đầu, các nhóm này chủ yếu sẽ gồm những người trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử) đòi hỏi sự tuân theo một số chỉ dẫn đã được truyền lại cho chúng ta từ quá khứ xa xưa. Những điều này được tuân theo một cách tự nguyện và với đôi mắt mở rộng, nhưng không bao giờ đòi hỏi hay mong đợi một sự bám chặt cứng nhắc vào văn tự của định luật. Sự linh hoạt trong những giới hạn tự áp đặt nào đó luôn luôn cần thiết, tuy nhiên sự linh hoạt ấy không được bị khởi động bởi bất kỳ quán tính phàm ngã nào hay bởi sự chất vấn của trí tuệ.

This great group training experiment, now being initiated on earth through a new activity of the Hierarchy, will demonstrate to the watching Guides of the race just how far the disciples and aspirants of the world are ready to submerge their personal interests in group good; how sensitive they are, as a group, to instruction and guidance; how free the channels of communication are between the groups on the outer plane and the Inner Group, and between them also and the masses whom they are expected eventually to reach. A Masters group of disciples, on the inner side of life, forms an integrated organism, characterised by mutual love, life and interplay. The relationships in that group are entirely mental and astral, and hence the limitations of the etheric force body and of the physical brain and dense physical body are not felt. This leads to a greater inner facility in understanding and to a reciprocal interplay. It is wise here to remember that the astral potency is far more strongly felt than on the physical levels, and hence the emphasis laid upon emotional-desire [188] control in all treatises on discipleship and on preparation for that state.

Thử nghiệm lớn lao về huấn luyện nhóm này, hiện đang được khởi sự trên trái đất qua một hoạt động mới của Thánh Đoàn, sẽ chứng minh cho các Đấng Hướng Dẫn đang quan sát nhân loại thấy các đệ tử và người chí nguyện của thế gian sẵn sàng đến mức nào để dìm các lợi ích cá nhân của mình vào thiện ích của nhóm; họ nhạy cảm đến mức nào, với tư cách một nhóm, đối với sự chỉ dạy và hướng dẫn; các kênh giao tiếp giữa các nhóm trên cõi bên ngoài và Nhóm Bên Trong thông suốt đến đâu, và giữa họ với quần chúng mà cuối cùng họ được kỳ vọng sẽ tiếp cận cũng như vậy. Một nhóm đệ tử của một Chân sư, ở mặt bên trong của sự sống, tạo thành một cơ thể tích hợp, được đặc trưng bởi tình thương, sự sống và sự tương tác hỗ tương. Các mối liên hệ trong nhóm ấy hoàn toàn thuộc trí tuệ và cảm dục, và do đó các giới hạn của thể mãnh lực dĩ thái, của bộ não hồng trần và của thể xác đậm đặc không được cảm nhận. Điều này dẫn đến một sự dễ dàng nội tại lớn hơn trong việc thấu hiểu và đến một sự tương tác hỗ tương. Ở đây nên nhớ một cách khôn ngoan rằng tiềm lực cảm dục được cảm nhận mạnh hơn nhiều so với trên các cấp độ hồng trần, và vì thế mới có sự nhấn mạnh đặt trên việc kiểm soát [188] cảm xúc-dục vọng trong mọi luận thuyết về địa vị đệ tử và về sự chuẩn bị cho trạng thái ấy.

Now an effort is being made to see if such a group activity and interplay can be set up on the physical plane, which will consequently include the physical body apparatus and the brain. The difficulties are, therefore, great. What has to be the technique employed in handling this more difficult situation, which is only possible because the work of the Masters’ groups has been so effective? Much may depend upon just how far we will react to this interplay and how much it will mean to us in our lives. This embodies a most practical occult method of work. The astral-physical brain reactions should be regarded as non-existent and allowed to lapse below the threshold of the group consciousness, there to die for lack of attention. The emphasis is held steadily on mental and egoic relations.

Hiện nay đang có một nỗ lực nhằm xem liệu một hoạt động nhóm và sự tương tác như thế có thể được thiết lập trên cõi hồng trần hay không, và do đó sẽ bao gồm bộ máy thể xác và bộ não. Vì vậy, các khó khăn là rất lớn. Kỹ thuật nào phải được sử dụng để xử lý tình huống khó khăn hơn này, vốn chỉ khả hữu vì công việc của các nhóm Chân sư đã hữu hiệu đến thế? Nhiều điều có thể tùy thuộc vào việc chúng ta sẽ đáp ứng đến mức nào với sự tương tác này và nó sẽ có ý nghĩa đến đâu đối với chúng ta trong đời sống. Điều này bao hàm một phương pháp làm việc huyền bí rất thực tiễn. Các phản ứng của bộ não cảm dục-hồng trần phải được xem như không hiện hữu và được để cho lắng xuống dưới ngưỡng của tâm thức nhóm, ở đó chúng sẽ chết đi vì thiếu sự chú ý. Sự nhấn mạnh được giữ vững đều đặn trên các mối liên hệ trí tuệ và chân ngã.

c. THE EXPERIMENTAL NATURE OF THE GROUPS—BẢN CHẤT THỬ NGHIỆM CỦA CÁC NHÓM

I have said that these groups constitute an experiment. This experiment is fourfold in nature and a concise statement about it may clarify conjecture:

Tôi đã nói rằng các nhóm này cấu thành một thử nghiệm. Thử nghiệm này có bản chất tứ phân, và một phát biểu ngắn gọn về nó có thể làm sáng tỏ những phỏng đoán:

I. They are an experiment in founding or starting focal points in the human family through which certain energies can flow out into the entire race of men. These energies are ten in number.

I. Chúng là một thử nghiệm trong việc thiết lập hay khởi tạo các điểm hội tụ trong gia đình nhân loại, qua đó một số năng lượng nhất định có thể tuôn chảy ra toàn thể nhân loại. Các năng lượng này có số lượng là mười.

II. They are an experiment in inaugurating certain new techniques in work and in modes of communication.. It is to be noted that in these last three words is summed up the whole story. These groups are intended to facilitate interrelation or communication as follows:

II. Chúng là một thử nghiệm trong việc khai mở một số kỹ thuật mới trong công việc và trong các phương thức giao tiếp. Cần lưu ý rằng trong ba từ cuối này toàn bộ câu chuyện đã được tóm gọn. Các nhóm này nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho sự tương liên hay giao tiếp như sau:

1. They will be occupied with an endeavor to facilitate communication between individuals so that the rules [189] and methods whereby speech can be transcended may become known and the new way of intercourse be brought about. Eventually communication will be from:

1. Họ sẽ bận tâm với một nỗ lực nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho sự giao tiếp giữa các cá nhân để các quy luật [189] và phương pháp nhờ đó lời nói có thể được vượt qua trở nên được biết đến và phương thức giao tiếp mới được mang lại. Cuối cùng sự giao tiếp sẽ diễn ra từ:

a. Soul to soul, on the higher levels of the mental plane. This involves complete alignment, so that soul-mind-brain are completely at-one.

a. Linh hồn đến linh hồn, trên các cấp độ cao hơn của cõi trí. Điều này bao hàm sự chỉnh hợp hoàn toàn, để linh hồn-trí tuệ-bộ não hoàn toàn là một.

b. Mind to mind, on the lower levels of the mental plane. This involves the complete integration of the personality or lower self, so that mind and brain are at-one.

b. Trí tuệ đến trí tuệ, trên các cấp độ thấp hơn của cõi trí. Điều này bao hàm sự tích hợp hoàn toàn của phàm ngã hay phàm ngã, để trí tuệ và bộ não là một.

Students must remember these two distinctive contacts, and bear in mind also that the greater contact need not necessarily include the lesser. Telepathic communication between the different aspects of the human being is entirely possible at varying stages of unfoldment.

Các đạo sinh phải ghi nhớ hai tiếp xúc phân biệt này, và cũng phải nhớ rằng tiếp xúc lớn hơn không nhất thiết bao gồm tiếp xúc nhỏ hơn. Giao tiếp viễn cảm giữa các phương diện khác nhau của con người hoàn toàn có thể xảy ra ở những giai đoạn khai mở khác nhau.

2. They will work at the establishment of communication between that plane which is the plane of illumination and pure reason (the buddhic plane) and the plane of illusion which is the astral plane. It should be remembered that our great task is to dispel the world illusion through the pouring in of illumination or of light. When enough groups have been started that have this for their objective, there will then be found upon the physical plane, those channels of communication which will act as the mediators between the world of light and the world of illusion. They will be transmitters of that type of energy which will break up the existing maya or illusion and dissipate the ancient thought-forms. They will release the light and peace which will illumine the astral plane and so dispel the illusory nature of its life.

2. Họ sẽ làm việc để thiết lập sự giao tiếp giữa cõi là cõi của sự soi sáng và lý trí thuần túy (cõi Bồ đề) và cõi của ảo tưởng là cõi cảm dục. Cần nhớ rằng nhiệm vụ lớn lao của chúng ta là xua tan ảo tưởng thế gian qua sự tuôn đổ của sự soi sáng hay ánh sáng. Khi đủ số nhóm được khởi lập với mục tiêu này, khi đó trên cõi hồng trần sẽ tìm thấy những kênh giao tiếp đóng vai trò trung gian giữa thế giới ánh sáng và thế giới ảo tưởng. Họ sẽ là những kênh truyền dẫn loại năng lượng sẽ phá vỡ ảo lực hay ảo tưởng hiện hữu và làm tiêu tan các hình tư tưởng cổ xưa. Họ sẽ giải phóng ánh sáng và hòa bình sẽ soi sáng cõi cảm dục và như thế xua tan bản chất ảo tưởng của đời sống nơi đó.

3. Through other groups another type of energy must flow, producing another type of interrelation and communication. These groups will bring about the right healing of the personalities of individuals, in all aspects of their nature. [190] The work intended is the intelligent transmission of energy to various parts of the nature—mental, astral and physical—of the human being, through the right circulation and organisation of force. Healing must eventually be carried forward by groups which act as the intermediaries between the plane of spiritual energy (either soul energy, intuitional energy, or will energy) and the patient or group of patients. This last point is to be noted. The group idea must always be remembered, for this will distinguish the New Age methods from the past; the work will be group work for the group. The members will work as souls and not as individuals. They will learn to communicate healing energy from the reservoir of living force to the patients.

3. Qua các nhóm khác, một loại năng lượng khác phải tuôn chảy, tạo ra một loại tương liên và giao tiếp khác. Các nhóm này sẽ mang lại sự trị liệu đúng đắn cho các phàm ngã của các cá nhân, trong mọi phương diện của bản chất họ. [190] Công việc được dự định là sự truyền dẫn năng lượng một cách thông minh đến các phần khác nhau của bản chất—trí tuệ, cảm dục và hồng trần—của con người, qua sự lưu chuyển và tổ chức đúng đắn của mãnh lực. Cuối cùng việc trị liệu phải được tiến hành bởi các nhóm hoạt động như những trung gian giữa cõi năng lượng tinh thần (hoặc năng lượng linh hồn, năng lượng trực giác, hay năng lượng ý chí) và bệnh nhân hay nhóm bệnh nhân. Điểm cuối cùng này cần được lưu ý. Ý tưởng nhóm phải luôn luôn được ghi nhớ, vì điều này sẽ phân biệt các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới với quá khứ; công việc sẽ là công việc nhóm cho nhóm. Các thành viên sẽ làm việc như những linh hồn chứ không như những cá nhân. Họ sẽ học cách truyền đạt năng lượng trị liệu từ kho chứa mãnh lực sống đến các bệnh nhân.

4. Other groups of communicators will act as transmitters of two aspects of divine energy,—knowledge and wisdom. These must be thought of in terms of energy. Their work will concern itself with the education of the masses, as a direct intermediary between the higher mind and the lower mind, and with the building of the antaskarana; and their task is that of linking the three points of interest upon the mental plane,—the higher mind, the soul, and the lower mind—so that there is established a group antaskarana between the kingdom of souls and the world of men.

4. Các nhóm giao tiếp khác sẽ hoạt động như những kênh truyền dẫn hai phương diện của năng lượng thiêng liêng,—tri thức và minh triết. Những điều này phải được nghĩ đến theo ý nghĩa năng lượng. Công việc của họ sẽ đề cập đến việc giáo dục quần chúng, như một trung gian trực tiếp giữa thượng trí và hạ trí, và với việc xây dựng antaskarana; và nhiệm vụ của họ là nối kết ba điểm quan trọng trên cõi trí,—thượng trí, linh hồn, và hạ trí—để một antaskarana nhóm được thiết lập giữa giới các linh hồn và thế giới loài người.

5. Political work will occupy other groups more specifically than does any other branch of work. These groups communicate the “quality of imposition” and an authority that is lacking in many other branches of this divine group activity. The work is largely first ray work. It embodies the method whereby the divine Will works out in the consciousness of races and nations. Members of this group will have much first ray in their constitution. Their work is to act as channels of communication between the department of the Manu and the [191] race of men. It is a noble thing to be channels of the Will of God.

5. Công việc chính trị sẽ chiếm lĩnh một số nhóm một cách chuyên biệt hơn bất kỳ ngành công việc nào khác. Các nhóm này truyền đạt “phẩm tính áp đặt” và một quyền uy còn thiếu trong nhiều ngành khác của hoạt động nhóm thiêng liêng này. Công việc này phần lớn là công việc cung một. Nó bao hàm phương pháp nhờ đó Ý Chí thiêng liêng được triển khai trong tâm thức của các nhân loại và các quốc gia. Các thành viên của nhóm này sẽ có nhiều cung một trong cấu tạo của mình. Công việc của họ là hoạt động như những kênh giao tiếp giữa bộ phận của Đức Manu và [191] nhân loại. Làm kênh dẫn của Ý Chí của Thượng đế là một điều cao quý.

6. Some groups will be, in a pronounced sense, channels between the activity of the second ray, that of the World Teacher (at the present time, the Christ holds this office) and the world of men. The energy of the second ray must pour through such groups of students and believers and allied groups of thinkers and workers, and there will be many of these. This fact is to be noted. There will be many such groups. The platform of the new world religion will be built by them.

6. Một số nhóm sẽ, theo một ý nghĩa nổi bật, là những kênh giữa hoạt động của cung hai, tức hoạt động của Đức Chưởng Giáo (hiện nay Đức Christ đang giữ chức vụ này) và thế giới loài người. Năng lượng của cung hai phải tuôn qua những nhóm đạo sinh và tín đồ như thế cùng các nhóm liên kết gồm những nhà tư tưởng và người hoạt động, và sẽ có nhiều nhóm như vậy. Điều này cần được lưu ý. Sẽ có nhiều nhóm như vậy. Nền tảng của tôn giáo thế giới mới sẽ được họ xây dựng.

7. A few groups will have an interesting function, but one which will not materialise for a long while, or not until the work of the building forces of the Universe are better understood. This will be coincident with the development of etheric vision. These groups will act as channels of communication or intermediaries between the energies which constitute the forces which construct the forms, the fabricators of the outer garment of God, and human spirits. The possibility is, therefore, to be noted that the main initial work will be concerned with the problem of reincarnation. That problem deals with the taking of an outer garment or form under the Law of Rebirth. Therefore, when these groups are organised, it will be with that subject that the members will at first work. They will make a deeper and different study than has heretofore been undertaken on the Law of Rebirth.

7. Một vài nhóm sẽ có một chức năng thú vị, nhưng là chức năng sẽ không hiện hình trong một thời gian dài, hoặc không cho đến khi công việc của các mãnh lực kiến tạo của Vũ Trụ được thấu hiểu rõ hơn. Điều này sẽ trùng hợp với sự phát triển của thông nhãn dĩ thái. Các nhóm này sẽ hoạt động như những kênh giao tiếp hay những trung gian giữa các năng lượng cấu thành các mãnh lực xây dựng các hình tướng, những đấng tạo tác ngoại y của Thượng đế, và các tinh thần nhân loại. Vì vậy, cần lưu ý khả năng rằng công việc khởi đầu chính sẽ liên quan đến vấn đề tái sinh. Vấn đề đó đề cập đến việc khoác lấy một ngoại y hay hình tướng dưới Định luật Tái Sinh. Do đó, khi các nhóm này được tổ chức, lúc đầu các thành viên sẽ làm việc với chính đề tài ấy. Họ sẽ nghiên cứu Định luật Tái Sinh sâu hơn và khác hơn so với những gì từ trước đến nay đã được thực hiện.

8. Some groups of energy communicators and transmitters will carry illumination between groups of thinkers. They are illuminators of group thoughts. They transmit energy from one thought centre to another. They transmit, above everything else, the energy of ideas. That is their major function. The world of ideas is a world of dynamic force centres. This should not be forgotten. These ideas have to be contacted and [192] noted. Their energy has to be assimilated and transmitted and this is the function of those force centres which will express themselves along these lines of activity.

8. Một số nhóm các nhà giao tiếp và truyền dẫn năng lượng sẽ mang sự soi sáng giữa các nhóm nhà tư tưởng. Họ là những đấng soi sáng các tư tưởng nhóm. Họ truyền năng lượng từ một trung tâm tư tưởng đến một trung tâm khác. Trên hết, họ truyền năng lượng của các ý tưởng. Đó là chức năng chính của họ. Thế giới các ý tưởng là một thế giới của các trung tâm mãnh lực năng động. Điều này không nên bị quên lãng. Các ý tưởng này phải được tiếp xúc và [192] ghi nhận. Năng lượng của chúng phải được đồng hóa và truyền dẫn, và đó là chức năng của những trung tâm mãnh lực sẽ biểu lộ theo các đường hoạt động này.

9. Groups working in another category will have for their specific work the stimulating of the minds of men so that alignment can take place. They act primarily as channels of communication between the soul of man and the soul in any form. They will be the great psychometrical workers, for a psychometrist is one whose soul is sensitive to the soul in other forms of life,—human and non-human. They evoke the soul of the past, primarily, linking it with the present, and finding it also indicative of the future.

9. Các nhóm hoạt động trong một loại khác sẽ có công việc chuyên biệt là kích thích trí tuệ của loài người để sự chỉnh hợp có thể diễn ra. Họ hoạt động chủ yếu như những kênh giao tiếp giữa linh hồn con người và linh hồn trong bất kỳ hình tướng nào. Họ sẽ là những nhà trắc tâm vĩ đại, vì một người trắc tâm là người mà linh hồn nhạy cảm với linh hồn trong các hình thức sống khác,—nhân loại và phi nhân loại. Họ gợi lên linh hồn của quá khứ trước hết, nối kết nó với hiện tại, và cũng nhận ra trong đó dấu hiệu của tương lai.

10. Members of other groups will be communicators between the third aspect of Deity as it expresses itself through the creative process and the world of human thought. They will link or blend life and form creatively. Today, unknowingly and without any true understanding, they bring about a concretisation of the energy of desire, which, in its turn, brings about the concretisation of money. This, consequently, necessitates the materialisation of things. They have a most difficult task and that is why it is only during the past one hundred and fifty years that the science of world finance has made its appearance. They will deal with the divine aspect of money. They will regard money as the means whereby divine purpose can be carried forward. They will handle money as the agency through which the building forces of the universe can carry forward the work needed; and (herein lies the clue) those building forces will be increasingly occupied with the building of the subjective Temple of the Lord rather than with the materialising of that which meets mans desire. This distinction merits consideration.

10. Các thành viên của những nhóm khác sẽ là những nhà giao tiếp giữa phương diện thứ ba của Thượng đế khi nó biểu lộ qua tiến trình sáng tạo và thế giới tư tưởng nhân loại. Họ sẽ nối kết hay dung hợp sự sống và hình tướng một cách sáng tạo. Ngày nay, một cách vô thức và không có sự thấu hiểu chân chính nào, họ mang lại sự cụ thể hóa năng lượng của dục vọng, điều đến lượt nó mang lại sự cụ thể hóa của tiền bạc. Vì vậy, điều này đòi hỏi sự hiện hình của vạn vật. Họ có một nhiệm vụ rất khó khăn, và đó là lý do vì sao chỉ trong một trăm năm mươi năm qua khoa học tài chính thế giới mới xuất hiện. Họ sẽ đề cập đến phương diện thiêng liêng của tiền bạc. Họ sẽ xem tiền bạc như phương tiện nhờ đó thiên ý có thể được triển khai. Họ sẽ xử lý tiền bạc như tác nhân qua đó các mãnh lực kiến tạo của vũ trụ có thể tiến hành công việc cần thiết; và chính trong đó có đầu mối, các mãnh lực kiến tạo ấy sẽ ngày càng bận tâm đến việc xây dựng Đền Thờ chủ quan của Chúa hơn là hiện hình điều đáp ứng dục vọng của con người. Sự phân biệt này đáng được suy ngẫm.

III. They are the externalisation of an inner existing condition. [193] It must be realised that these Groups are not a cause but an effect. That they may themselves have an initiatory effect as they work upon the physical plane is no doubt true, but they themselves are the product of inner activity and of subjective aggregations of force which must perforce become objective. The work of the group members is to keep, as a group, in close rapport with the inner groups, which form nevertheless, one large, active group. This central group force will then pour through the groups in so far as the group members, as a group—

III. Chúng là sự ngoại hiện của một tình trạng hiện tồn bên trong. [193] Cần phải chứng nghiệm rằng các Nhóm này không phải là nguyên nhân mà là kết quả. Quả thật, chính chúng có thể tự mình tạo ra một hiệu quả điểm đạo khi hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng bản thân chúng là sản phẩm của hoạt động nội tại và của những tập hợp mãnh lực chủ quan vốn tất phải trở thành khách quan. Công việc của các thành viên trong nhóm là duy trì, với tư cách một nhóm, sự liên hệ mật thiết với các nhóm nội tại, tuy nhiên các nhóm này hợp thành một nhóm lớn duy nhất, năng động. Khi ấy, mãnh lực nhóm trung tâm này sẽ tuôn qua các nhóm trong chừng mực mà các thành viên nhóm, với tư cách một nhóm—

a. Keep en rapport with the inner sources of power;

a. Giữ được sự liên hệ với các nguồn quyền năng nội tại;

b. Never lose sight of the group objective, whatever that objective may be;

b. Không bao giờ đánh mất mục tiêu của nhóm, dù mục tiêu ấy là gì;

c. Cultivate a dual capacity to apply the laws of the soul to the individual life, and the laws of the group to the group life;

c. Trau dồi năng lực kép là áp dụng các định luật của linh hồn vào đời sống cá nhân, và các định luật của nhóm vào đời sống nhóm;

d. Use all forces which may flow into the group in service, and learn, therefore, to register that force and use it correctly.

d. Sử dụng trong phụng sự mọi mãnh lực có thể tuôn vào nhóm, và do đó học cách ghi nhận mãnh lực ấy và sử dụng nó một cách đúng đắn.

[End of LOTSWC 24 EP II 193

[End of LOTSWC 24 EP II 193

[Beginning of LOTSWC 25 EP II 193

[Beginning of LOTSWC 25 EP II 193

[-> Bình Giảng 25]

Would the following sequence of statements convey anything to our minds in this connection? It is a statement of fact and is not in the least symbolic in its terminology, except in so far as all words are inadequate symbols of inner truths.

Liệu chuỗi mệnh đề sau đây có chuyển tải điều gì đó đến trí tuệ chúng ta trong mối liên hệ này chăng? Đây là một phát biểu sự kiện và hoàn toàn không có tính biểu tượng trong thuật ngữ của nó, ngoại trừ ở chỗ mọi ngôn từ đều là những biểu tượng bất toàn của các chân lý nội tại.

1. Each group has its inner counterpart.

1. Mỗi nhóm đều có đối phần nội tại của nó.

2. This inner counterpart is a complete whole. The outer result is only partial.

2. Đối phần nội tại này là một toàn thể hoàn chỉnh. Kết quả bên ngoài chỉ là từng phần.

3. These inner groups, forming one group, are each of them expressive of, or governed by certain laws, embodying, the controlling factors in group work. A law is only an expression or manifestation of force, applied under the power of thought by a thinker or group of thinkers.

3. Các nhóm nội tại này, hợp thành một nhóm, mỗi nhóm đều biểu lộ hoặc được chi phối bởi một số định luật nhất định, hiện thân cho các yếu tố kiểm soát trong công việc nhóm. Một định luật chỉ là sự biểu lộ hay sự hiển lộ của mãnh lực, được áp dụng dưới quyền năng của tư tưởng bởi một thức giả hay một nhóm thức giả.

[194]

[194]

4. These inner groups, embodying differing types of force, and working synthetically to express certain laws, are an effort to bring in new and different conditions, and hence produce a new civilisation. This is the New Age that the Aquarian Age will see consummated.

4. Các nhóm nội tại này, hiện thân cho những loại mãnh lực khác nhau, và hoạt động một cách tổng hợp để biểu lộ một số định luật nhất định, là một nỗ lực nhằm đưa vào những điều kiện mới và khác biệt, và do đó tạo ra một nền văn minh mới. Đây là Kỷ Nguyên Mới mà Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến được hoàn tất.

5. The outer groups are a tentative and experimental effort to see how far humanity is ready for such an endeavor.

5. Các nhóm bên ngoài là một nỗ lực thử nghiệm và thực nghiệm để xem nhân loại đã sẵn sàng đến đâu cho một cố gắng như thế.

IV. They are also an experiment which has for its objective the manifestation of certain types of energy which will produce cohesion, or an at-one-ment, upon earth. The present distraught condition in the world, the international impasse, the religious dissatisfaction, the economic and social upheaval of the past few decades, are all the result of energies that are so potent owing to their immense momentum—that they can only be brought into rhythmic activity by the imposition of stronger and more definitely directed energies. When the groups are functioning adequately and have achieved, not only an internal group unity, but also harmony between the groups themselves, then some peculiar and esoteric work can be done.

IV. Chúng cũng là một thử nghiệm có mục tiêu là biểu lộ một số loại năng lượng nhất định sẽ tạo ra sự cố kết, hay sự hợp nhất, trên Trái Đất. Tình trạng rối loạn hiện nay trên thế giới, sự bế tắc quốc tế, sự bất mãn tôn giáo, sự đảo lộn kinh tế và xã hội trong vài thập niên qua, tất cả đều là kết quả của những năng lượng mạnh mẽ đến mức—do động lượng to lớn của chúng—chúng chỉ có thể được đưa vào hoạt động nhịp điệu bằng sự áp đặt của những năng lượng mạnh hơn và được định hướng rõ rệt hơn. Khi các nhóm hoạt động đầy đủ và đã đạt được không những sự hợp nhất nội bộ của nhóm mà còn cả sự hài hòa giữa chính các nhóm với nhau, thì một số công việc đặc thù và huyền bí có thể được thực hiện.

Such are some of the plans which the Hierarchy are attempting to carry forward and in which all true disciples and aspirants can have a part. They are brought to our attention in order to evoke our lasting cooperation.

Đó là một vài kế hoạch mà Thánh Đoàn đang cố gắng xúc tiến và trong đó mọi đệ tử chân chính và người chí nguyện đều có thể góp phần. Chúng được đưa ra trước sự chú ý của chúng ta để gợi lên sự hợp tác bền vững của chúng ta.

d. ASTROLOGY AND THE NEW GROUPS—CHIÊM TINH HỌC VÀ CÁC NHÓM MỚI

This Law of Group Progress embodies one of the energies which have gradually been released over the past two centuries. A fuller tide was swept into activity at the time of the May, 1936, full moon and now the growth of the group idea, both in its good and bad aspects, can be imminently expected. As has several times been pointed out to students, this law [195] is connected with a certain realised impulse in the minds of men, and this is, in its turn, the effect of various types of energy, which are playing upon the earth. The name “Law of Group Progress” is the phrase given by human beings to a particular type of energy which is producing the coherence of units in a group, thus forming them into one living organism. The recognitions eventuating are those of group affinity, group objective, and group goal. It is, in the last analysis, the emergence into the subjective consciousness of the same type of energy which produces that aspect of cohesive action which demonstrates as tribal, national or racial unity. In this case, however, the determining factor is not of a physical connotation nor have these groups a physical plane basis. They are based on a group idealism which can only be consciously registered when the units in the group are beginning to function upon the mental plane and are developing the capacity to “think things through”—that is, to register in the brain that which the soul has imparted to the mind. We have here a definition of the meditation process as it should be followed by those who, through alignment, have made some measure of soul contact. These groups are functioning entirely through a subjective relation, which produces a subjective integration and activity.

Định luật Tiến Bộ Nhóm này hiện thân cho một trong những năng lượng đã dần dần được giải phóng trong hai thế kỷ qua. Một làn sóng đầy đủ hơn đã được cuốn vào hoạt động vào kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1936 và giờ đây sự tăng trưởng của ý niệm nhóm, trong cả phương diện tốt lẫn xấu của nó, có thể được chờ đợi sẽ sớm xảy ra. Như đã nhiều lần được chỉ ra cho các đạo sinh, định luật này [195] gắn liền với một xung lực đã được chứng nghiệm trong trí tuệ con người, và điều này đến lượt nó lại là kết quả của nhiều loại năng lượng khác nhau đang tác động lên Trái Đất. Tên gọi “Định luật Tiến Bộ Nhóm” là cụm từ do con người đặt cho một loại năng lượng đặc thù đang tạo ra sự cố kết của các đơn vị trong một nhóm, nhờ đó hình thành họ thành một cơ thể sống duy nhất. Những sự nhận biết phát sinh là nhận biết về sự tương hợp nhóm, mục tiêu nhóm, và cứu cánh nhóm. Xét đến cùng, đó là sự xuất hiện trong tâm thức chủ quan của cùng một loại năng lượng tạo ra phương diện hành động cố kết được biểu lộ thành sự hợp nhất bộ lạc, quốc gia hay chủng tộc. Tuy nhiên, trong trường hợp này, yếu tố quyết định không mang ý nghĩa hồng trần, và các nhóm này cũng không có nền tảng trên cõi hồng trần. Chúng dựa trên một lý tưởng nhóm chỉ có thể được ghi nhận một cách hữu thức khi các đơn vị trong nhóm bắt đầu hoạt động trên cõi trí và đang phát triển năng lực “suy nghĩ thấu đáo mọi sự”—nghĩa là ghi nhận trong bộ não điều mà linh hồn đã truyền đạt cho trí tuệ. Ở đây chúng ta có một định nghĩa về tiến trình tham thiền như nó nên được thực hành bởi những ai, thông qua chỉnh hợp, đã đạt được một mức độ tiếp xúc với linh hồn. Các nhóm này hoạt động hoàn toàn thông qua một mối liên hệ chủ quan, tạo ra sự tích hợp và hoạt động chủ quan.

When we come to study the astrological implications in connection with these laws, we shall discover that the energies of the zodiacal signs have a specific effect upon the energy of a Being, Whose purpose works out into manifestation through these laws, which are regarded by us as great and inevitable natural laws and also spiritual laws. This effect produces a blending of energies which is both balancing and, at the same time, impelling.

Khi chúng ta đi đến nghiên cứu các hàm ý chiêm tinh liên quan đến các định luật này, chúng ta sẽ khám phá rằng các năng lượng của các dấu hiệu hoàng đạo có một tác động đặc thù lên năng lượng của một Đấng, mà mục đích của Ngài được triển khai thành biểu hiện thông qua các định luật này, vốn được chúng ta xem là những định luật tự nhiên vĩ đại và tất yếu, đồng thời cũng là các định luật tinh thần. Tác động này tạo ra một sự hòa trộn năng lượng vừa quân bình vừa đồng thời thúc đẩy.

In December, 1935, the energies of Capricorn were augmented by the pouring in of forces from a still greater constellation [196] which is—to our zodiac—what the zodiac is to the earth. This augmentation will take place again in 1942. It must be remembered that, from certain angles, the circle of twelve signs or constellations constitutes a special unity which revolves within our universe of heavens as our planet revolves in the centre of our circle of influences. By means of this augmentation—during the coming Aquarian zodiacal cycle—groups on earth can avail themselves of the tide of Capricornian influences which will flow into our radius of registration every seven years. The one just past, gave a tremendous impetus to the work of the New Group of World Servers, and was the cause of the very good reaction in the world to their particular impulse. This worked out in every nation and in every group as a marked tendency to good will. In 1942, there will come another planetary inflow of which we all are begged to avail ourselves, and for which we are urged to make due preparation. This “week of group impact” occurring every seven years, will run from December 21st till December 28th, and if this should at any time fall at the period of the full moon, the opportunity will be most significant. This possibility must be watched. This week should be regarded as pre-eminently the “festival week” of the New Group of World Servers, and after 1942 advantage must be taken of this period, and special preparation made. This fact invites the attention of all of us.

Vào tháng Mười Hai năm 1935, các năng lượng của Ma Kết đã được tăng cường bởi sự tuôn vào của các mãnh lực từ một chòm sao còn lớn hơn nữa [196] mà đối với hoàng đạo của chúng ta, nó cũng như hoàng đạo đối với Trái Đất. Sự tăng cường này sẽ lại diễn ra vào năm 1942. Cần nhớ rằng, từ một số góc độ, vòng tròn mười hai dấu hiệu hay chòm sao tạo thành một hợp nhất đặc biệt quay trong vũ trụ thiên giới của chúng ta cũng như hành tinh chúng ta quay trong trung tâm vòng ảnh hưởng của mình. Nhờ sự tăng cường này—trong chu kỳ hoàng đạo Bảo Bình sắp tới—các nhóm trên Trái Đất có thể tận dụng làn sóng ảnh hưởng Ma Kết sẽ tuôn vào bán kính ghi nhận của chúng ta mỗi bảy năm. Lần vừa qua đã tạo một xung lực to lớn cho công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và là nguyên nhân của phản ứng rất tốt trên thế giới đối với xung lực đặc thù của họ. Điều này được biểu lộ trong mọi quốc gia và mọi nhóm như một khuynh hướng thiện chí rõ rệt. Vào năm 1942, sẽ có một lần tuôn đổ hành tinh khác mà tất cả chúng ta đều được yêu cầu tận dụng, và được khuyến khích chuẩn bị thích đáng. “Tuần lễ tác động nhóm” này, diễn ra mỗi bảy năm, sẽ kéo dài từ ngày 21 tháng Mười Hai đến ngày 28 tháng Mười Hai, và nếu vào bất kỳ lúc nào nó rơi vào thời kỳ trăng tròn, thì cơ hội sẽ vô cùng có ý nghĩa. Khả năng này phải được theo dõi. Tuần lễ này nên được xem nổi bật là “tuần lễ lễ hội” của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và sau năm 1942 phải tận dụng giai đoạn này, đồng thời có sự chuẩn bị đặc biệt. Sự kiện này mời gọi sự chú ý của tất cả chúng ta.

These new groups are appearing everywhere all over the world. The groups upon the outer plane, with their diversity of names and stated aims, are not connected with this inner group which is sponsoring or “projecting” the new groups, except in so far as they have a definite, even if nebulous, connection. This becomes always possible where there are three members of the New Group of World Servers found in any one exoteric group; it then becomes “linked by a [197] triple thread of golden light” to the New Group of World Servers, and can in some measure be used. This great and spiritual grouping of servers is, on the physical plane, only very loosely linked. On the astral plane the linking is stronger and is based upon love of humanity; on the mental plane the major linking takes place, from the angle of the three worlds as a whole. It will be apparent, therefore, that certain developments must have taken place in the individual before he can consciously become a functioning member of the New Group of World Servers, which is the principal group at this time definitely working under the Law of Group Progress.

Các nhóm mới này đang xuất hiện khắp nơi trên toàn thế giới. Các nhóm trên cõi bên ngoài, với sự đa dạng về tên gọi và mục tiêu được tuyên bố của họ, không liên kết với nhóm nội tại này, nhóm đang bảo trợ hay “phóng chiếu” các nhóm mới, ngoại trừ trong chừng mực họ có một liên hệ xác định, dù còn mơ hồ. Điều này luôn trở nên khả hữu ở nơi nào có ba thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được tìm thấy trong bất kỳ nhóm ngoại môn nào; khi đó nhóm ấy trở nên “được nối kết bằng một [197] sợi dây tam phân của ánh sáng vàng” với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và có thể được sử dụng ở một mức độ nào đó. Sự tập hợp phụng sự vĩ đại và tinh thần này, trên cõi hồng trần, chỉ được nối kết rất lỏng lẻo. Trên cõi cảm dục, sự nối kết mạnh hơn và dựa trên tình thương đối với nhân loại; trên cõi trí, sự nối kết chủ yếu diễn ra, xét từ góc độ ba cõi thấp như một toàn thể. Do đó, hiển nhiên là một số phát triển nhất định phải đã diễn ra nơi cá nhân trước khi y có thể một cách hữu thức trở thành một thành viên hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là nhóm chính hiện nay đang hoạt động một cách xác định dưới Định luật Tiến Bộ Nhóm.

1. He must have the heart centre awakened, and be so outgoing in his “behaviour” that the heart is rapidly linked up with the heart centres of at least eight other people. Groups of nine awakened aspirants can then be occultly absorbed in the heart centre of the planetary Logos. Through it, His life can flow and the group members can contribute their quota of energy to the life influences circulating throughout His body. The above piece of information is only of interest to those who are spiritually awakened, and will mean little or nothing to those who are asleep.

1. Y phải có trung tâm tim được thức tỉnh, và phải hướng ngoại trong “hành vi” của mình đến mức trái tim được nối kết nhanh chóng với các trung tâm tim của ít nhất tám người khác. Khi ấy, các nhóm gồm chín người chí nguyện đã thức tỉnh có thể được hấp thu một cách huyền bí vào trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế. Qua đó, sự sống của Ngài có thể tuôn chảy và các thành viên nhóm có thể đóng góp phần năng lượng của mình vào các ảnh hưởng sự sống đang lưu chuyển khắp thể của Ngài. Mẩu thông tin trên chỉ có ý nghĩa đối với những ai đã được thức tỉnh về tinh thần, và sẽ có rất ít hoặc không có ý nghĩa gì đối với những ai còn đang ngủ.

2. The head centre must also be in process of awakening, and the ability to “hold the mind steady in the light” must be somewhat developed.

2. Trung tâm đầu cũng phải đang trong tiến trình thức tỉnh, và năng lực “giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng” phải được phát triển phần nào.

3. Some forms of creative activity must likewise be found and the server must be active along some humanitarian, artistic, literary, philosophic or scientific lines.

3. Tương tự, cũng phải tìm thấy một số hình thức hoạt động sáng tạo, và người phụng sự phải hoạt động trong một số lĩnh vực nhân đạo, nghệ thuật, văn chương, triết học hay khoa học.

All this involves personality integration and alignment and that magnetic, attractive appeal which is distinctive of all disciples in some form or another. In this way from the [198] standpoint of esotericism, certain great triangles of energy will be found in the individual and consequently increasingly in humanity. Then too the “forces of creative life” will circulate from the “point within the head” (the head centre) along the “line to the heart” and then, with the throat centre, form a “triangle of fiery light”. Such is the Way of Group Progress, and when this is being consummated, then the Law of Group Progress begins definitely to function and to control. It might be of interest, if we here listed the recognised effects of the five laws with which we have been dealing:

Tất cả điều này bao hàm sự tích hợp phàm ngã và chỉnh hợp, cùng với sức hấp dẫn từ tính lôi cuốn vốn là nét đặc trưng của mọi đệ tử dưới hình thức này hay hình thức khác. Theo cách này, từ [198] quan điểm huyền bí học, nơi cá nhân và do đó ngày càng nơi nhân loại, sẽ tìm thấy một số tam giác năng lượng lớn. Đồng thời, “các mãnh lực của sự sống sáng tạo” sẽ lưu chuyển từ “điểm bên trong đầu” (trung tâm đầu) dọc theo “đường đến tim” rồi cùng với trung tâm cổ họng tạo thành một “tam giác ánh sáng rực lửa”. Đó là Con đường Tiến Bộ Nhóm, và khi điều này đang được hoàn tất, thì Định luật Tiến Bộ Nhóm bắt đầu hoạt động và kiểm soát một cách xác định. Có lẽ sẽ là điều đáng quan tâm nếu ở đây chúng ta liệt kê các hiệu quả đã được nhận biết của năm định luật mà chúng ta đã bàn đến:

Law

Effect

General

Physical Effect

Reaction

Quality

1. Sacrifice

World Saviours

The Christ

Deliberate death. “I die daily”

Love for the Saviour. Desire to follow

Selflessness.

Physical Plane Unity

The Masses

2. Magnetic

Impulse Idealism

World Religion

Schools of Thought

Churches

Love of Ideas

Organizations

Devotion Philosophy

Etheric or Vital Unity.

The Aspirants

3. Service

Humanitarian Activity

The Red Cross and allied activities

Love of Humanity

Sympathy. Compassion

Astral Unity

The Probationers

4. Repulse

The fight against evil.

Crusades of

all kinds

Love of

Good

Discrimination

Mental Unity.

The Disciples.

5. Group Progress

New Groups

New Group of World Servers.

Love of

Inclusiveness

Synthesis.

Soul Unity

The Initiates.

6. The Law of Expansive Response—Định luật Đáp Ứng Mở Rộng

We can now, with great brevity, however, touch upon the sixth law and the seventh, for we will speak of them together. The other five laws have worked out into a definite activity upon the physical plane. The effect or consequences of the impulses behind them produce the working out of the [199] purpose of the Most High, and can be recognised upon the plane of phenomena. They can all be so recognised, but at this time, the conscious awareness of humanity is such that only in five instances can the effect of these laws be noted, and then only by the most advanced of the world aspirants. The disciple and the initiate can dimly begin to recognise the effect of the sixth and the seventh laws, but no one else at this time.

Giờ đây, với sự ngắn gọn tối đa, chúng ta có thể đề cập đến định luật thứ sáu và thứ bảy, vì chúng ta sẽ nói về chúng cùng nhau. Năm định luật kia đã triển khai thành một hoạt động xác định trên cõi hồng trần. Hiệu quả hay hậu quả của các xung lực đứng sau chúng tạo ra sự triển khai của [199] mục đích của Đấng Tối Cao, và có thể được nhận biết trên cõi hiện tượng. Tất cả chúng đều có thể được nhận biết như thế, nhưng vào lúc này, sự nhận biết hữu thức của nhân loại là như vậy nên chỉ trong năm trường hợp hiệu quả của các định luật này mới có thể được ghi nhận, và khi ấy cũng chỉ bởi những người chí nguyện tiến bộ nhất của thế giới. Đệ tử và điểm đạo đồ có thể mơ hồ bắt đầu nhận ra hiệu quả của định luật thứ sáu và thứ bảy, nhưng hiện nay không ai khác có thể làm được.

These two laws are not capable of interpretation as above, because only those who are initiated or in preparation for initiation can begin to understand them. The enlightenment which is the result of initiation is necessary before one can touch the idea behind these expressions of purpose. We shall not, therefore, take any time dealing with The Law of Expansive Response, or with The Law of the Lower Four, beyond giving two ancient stanzas which will convey much to the initiate but may only be sounding words and meaningless symbolic phrases to the average reader and student.

Hai định luật này không thể được diễn giải như trên, bởi vì chỉ những ai đã được điểm đạo hoặc đang chuẩn bị cho điểm đạo mới có thể bắt đầu thấu hiểu chúng. Sự giác ngộ là kết quả của điểm đạo là điều cần thiết trước khi người ta có thể chạm đến ý tưởng đứng sau những biểu lộ mục đích này. Vì vậy, chúng ta sẽ không dành thời gian để bàn đến Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, hay Định luật của Bốn Thấp, ngoài việc đưa ra hai bài kệ cổ sẽ chuyển tải nhiều điều đến điểm đạo đồ nhưng đối với độc giả và đạo sinh trung bình có thể chỉ là những lời vang lên và những cụm từ biểu tượng vô nghĩa.

“The Sun, in all its glory, has arisen and cast its beams athwart the Eastern sky. The union of the pairs of opposites produce, in the cycles of the time and space, both clouds and mists. These veil a mighty conflagration....

“Mặt Trời, trong tất cả vinh quang của nó, đã mọc lên và phóng các tia sáng ngang qua bầu trời phương Đông. Sự hợp nhất của các cặp đối cực tạo ra, trong các chu kỳ của thời gian và không gian, cả mây lẫn sương mù. Chúng che phủ một đám cháy lớn lao....

The flood pours forth. The ark floats free...the flames devour. The three stand free; and then again the mists envelop.

Dòng lũ tuôn ra. Con thuyền trôi tự do...ngọn lửa thiêu đốt. Ba vị đứng tự do; rồi một lần nữa sương mù bao phủ.

Above the clouds of earth, a sign shines forth....Only the eye of vision sees this sign. Only the heart at peace can hear the thunder of the Voice which issues from the dark depths of the cloud. Only an understanding of the law which elevates and lifts can teach the man of fire and son of water to enter into mist. From thence he climbs on to the mountain top and there again stands free.

Phía trên những đám mây của đất, một dấu hiệu chiếu sáng....Chỉ con mắt của tầm nhìn mới thấy được dấu hiệu này. Chỉ trái tim an bình mới có thể nghe tiếng sấm của Tiếng Nói phát ra từ những vực sâu tối tăm của đám mây. Chỉ sự thấu hiểu định luật nâng lên và cất cao mới có thể dạy con người của lửa và con của nước đi vào sương mù. Từ đó y leo lên đỉnh núi và ở đó lại đứng tự do.

The triple freedom thus achieved has naught to do with earth, or water, or with fire. It is a freedom, triple in its kind, which greets the man who passes freely from the sphere of earth into the ocean of the watery sphere, and [200] thence on to the burning ground of sacrifice. The sun augments the fire; it dissipates the mist and dries the earth. And thus the work is done.”

Sự tự do tam phân đạt được như thế không liên quan gì đến đất, hay nước, hay lửa. Đó là một sự tự do, tam phân trong bản chất của nó, chào đón con người đi tự do từ khối cầu của đất vào đại dương của khối cầu nước, và [200] từ đó tiến vào vùng đất cháy của hi sinh. Mặt Trời tăng cường lửa; nó làm tiêu tan sương mù và làm khô đất. Và như thế công việc được hoàn tất.”

7. The Law of the Lower Four—Định luật của Bốn Thấp

“Four sons of God went forth. But only one returned. Four Saviours merged themselves in two, and then the two became the One.”

“Bốn Con của Thượng đế đã đi ra. Nhưng chỉ một vị trở về. Bốn Đấng Cứu Thế hòa nhập chính mình vào hai, rồi hai trở thành Một.”

These two ancient writings—one mystical and the other occult—convey but little to most minds, and this we can easily see. Therefore it does not profit us to consider them too carefully. The time is not yet. These are given us, how in stimulating comprehension.

Hai bản văn cổ này—một thần bí và một huyền bí—chỉ chuyển tải rất ít đến phần lớn trí tuệ, và điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy. Vì vậy, việc xem xét chúng quá cẩn thận không đem lại lợi ích cho chúng ta. Thời điểm vẫn chưa đến. Chúng được trao cho chúng ta, tuy nhiên, nhằm kích thích sự thấu hiểu.

We stand today on the verge of great things. Humanity is on its way with renewed impetus. It stands no longer at the crossroads, but irrevocable decisions have been made, and the race is moving forward along a path which will lead it eventually into light and peace. It will find its way into “the peace which passeth understanding” because it will be a peace which is independent of outer conditions and which is not based upon what present humanity defines as peace. The peace which lies ahead of the race is the peace of serenity and of joy—a serenity, based upon spiritual understanding; and a serenity is not an astral condition but a soul reaction. These qualities are not achieved as the result of disciplining the emotional nature, but demonstrate as a natural, automatic realignment. These two qualities of the soul—serenity and joy—are the indications that the soul, the ego, the One Who stands alone, is controlling or dominating the personality, circumstance, and all environing conditions of life in the three worlds.

Ngày nay chúng ta đang đứng trên ngưỡng của những điều lớn lao. Nhân loại đang tiến bước với một xung lực mới. Nhân loại không còn đứng ở ngã tư đường nữa, mà những quyết định không thể đảo ngược đã được đưa ra, và nhân loại đang tiến lên trên một con đường cuối cùng sẽ dẫn mình vào ánh sáng và bình an. Nhân loại sẽ tìm được đường vào “sự bình an vượt quá mọi thấu hiểu” bởi vì đó sẽ là một sự bình an độc lập với các điều kiện bên ngoài và không dựa trên điều mà nhân loại hiện nay định nghĩa là bình an. Sự bình an đang chờ phía trước nhân loại là sự bình an của tĩnh lặng và hoan hỉ—một sự tĩnh lặng dựa trên sự thấu hiểu tinh thần; và sự tĩnh lặng không phải là một trạng thái cảm dục mà là một phản ứng của linh hồn. Những phẩm tính này không đạt được như là kết quả của việc rèn luyện bản chất cảm xúc, mà biểu lộ như một sự tái chỉnh hợp tự nhiên, tự động. Hai phẩm tính này của linh hồn—sự tĩnh lặng và sự hoan hỉ—là những dấu hiệu cho thấy linh hồn, chân ngã, Đấng đứng một mình, đang kiểm soát hay chi phối phàm ngã, hoàn cảnh, và mọi điều kiện sự sống bao quanh trong ba cõi thấp.

[End of LOTSWC 25 EP II

[End of LOTSWC 25 EP II

III. The Five Groups of Souls—Năm Nhóm Linh Hồn

We now begin our study of the five groups of souls. For purposes of classification and comparison, we shall divide our earth humanity into the following groups:

Chúng ta bây giờ bắt đầu nghiên cứu về năm nhóm linh hồn. Để phục vụ cho mục đích phân loại và so sánh, chúng ta sẽ chia nhân loại trên Trái Đất thành các nhóm sau:

1. Lemurian Egos—our true Earth Humanity.

1. Chân ngã Lemuria—nhân loại địa cầu chân chính của chúng ta.

2. Egos which came in—on Atlantis.

2. Chân ngã xuất hiện—trong thời Atlantis.

3. Moon chain Egos—from the moon.

3. Chân ngã thuộc Dãy Nguyệt Cầu—đến từ Mặt Trăng.

4. Egos—from other planets.

4. Chân ngã—đến từ các hành tinh khác.

5. Rare and advanced Egos—awaiting incarnation.

5. Chân ngã hiếm hoi và tiên tiến—đang chờ đợi nhập thể.

We enter, therefore, upon a brief consideration of a subject that, to the ordinary psychologist and student who is not familiar with the occult teaching and terms, will sound fanciful and unintelligent. The reason for this is that we are considering the origin of the souls which are expressing themselves through human beings, of the selves who are functioning through form and are therefore intangible and—scientifically speaking—non-provable. They are only to be inferred by those who can accept inference, deduction and conclusions which cannot be demonstrated, with the type of human equipment now in use. Modern psychology, speaking generally, regards the soul in one or another of the following ways:—

Do đó, chúng ta bước vào một sự xem xét ngắn gọn về một chủ đề mà, đối với các nhà tâm lý học thông thường và những sinh viên không quen thuộc với giáo lý và thuật ngữ huyền bí, sẽ có vẻ kỳ ảo và khó hiểu. Lý do cho điều này là vì chúng ta đang xem xét nguồn gốc của các linh hồn đang biểu lộ chính mình thông qua con người, của những bản ngã đang hoạt động thông qua hình tướng và do đó là phi vật chất, và—nói theo khoa học—không thể chứng minh được. Chúng chỉ có thể được suy luận bởi những người có thể chấp nhận sự suy luận, suy diễn và các kết luận không thể chứng minh bằng các phương tiện của con người hiện đang có. Tâm lý học hiện đại, nói chung, xem xét linh hồn theo một trong những cách sau đây:

1. Either non-existent, the only obvious and provable thing being the intelligent mechanism.

1. Hoặc là không tồn tại, điều duy nhất rõ ràng và có thể chứng minh là bộ máy thông minh.

2. As being the sum total of the conscious reactions of the cells of the body—the sentiency of the organism, in other words.

2. Như tổng thể các phản ứng có ý thức của các tế bào trong cơ thể—nói cách khác là sự cảm nhận của cơ thể sống.

3. As a gradually evolving self, conveying life and, as time elapses, awareness; it is regarded as being conditioned by the body and as a product of the evolution of that [202] body during the ages. It does not, however, exist in the lower types of human beings, and it possibly possesses immortality, but that is not provable and may not be posited as a fact.

3. Như một bản ngã đang tiến hóa dần dần, truyền tải sự sống, và theo thời gian, phát triển nhận thức; nó được coi là bị chi phối bởi cơ thể và là sản phẩm của sự tiến hóa [202] của cơ thể đó trong suốt các thời đại. Tuy nhiên, nó không tồn tại trong các kiểu người thấp kém, và có thể sở hữu sự bất tử, nhưng điều đó không thể chứng minh và không thể được coi là một sự thật hiển nhiên.

4. As a definite Self, an entity, informing a body, functioning at various levels of human consciousness, and having continuity, immortality and potentiality.

4. Như là một Bản Ngã xác định, một thực thể, thấm nhuần một cơ thể, hoạt động trên nhiều cấp độ khác nhau của tâm thức con người, và có tính liên tục, bất tử và tiềm năng.

The occult teaching accepts all these hypotheses as correct, but as relative in time and space, and as having reference to different forms of divine life and to differing aspects of those forms. It is with the occult teaching, right or wrong, that we are at present engaged, and our premises and conclusions can be stated in the following propositions:

Giáo lý huyền môn chấp nhận tất cả những giả thuyết này là đúng, nhưng chỉ trong giới hạn của thời gian và không gian, và liên quan đến các hình tướng khác nhau của sự sống thiêng liêng cũng như những khía cạnh khác nhau của những hình tướng đó. Hiện tại, chúng ta đang tập trung vào giáo lý huyền môn, dù nó đúng hay sai, và các tiền đề cũng như kết luận của chúng ta có thể được trình bày trong các mệnh đề sau:

1. Every human being, in or out of incarnation, is a “fragment of divinity,” and an outpost of the divine consciousness, functioning in time and space for purposes of expression.

1. Mỗi con người, dù đang nhập thể hay không, đều là một “mảnh của Thượng đế,” và là một tiền đồn của tâm thức thiêng liêng, hoạt động trong thời gian và không gian nhằm mục đích biểu lộ.

2. All these souls, selves, or human beings are found, as we have seen, on one or other of the seven emanations of spiritual energy, issuing forth from God at the beginning of an era of creative activity. They return to their emanating Source when that particular cycle is brought to a close.

2. Tất cả các linh hồn, bản ngã, hay con người này, như chúng ta đã thấy, tồn tại trên một trong bảy dòng xuất lộ của năng lượng tinh thần, phát xuất từ Thượng đế vào lúc khởi đầu của một chu kỳ sáng tạo. Chúng quay trở về Nguồn gốc phát xuất khi chu kỳ đó khép lại.

3. In the interim between emanation and reabsorption, these souls pass through various experiences until such time as they can “shine forth in all their exactitude of truth.”

3. Trong khoảng thời gian giữa sự xuất lộ và sự tái nhập, các linh hồn này trải qua nhiều kinh nghiệm khác nhau cho đến khi chúng có thể “tỏa sáng trong toàn bộ sự chính xác của chân lý.”

4. They are called, as has been stated, in A Treatise on Cosmic Fire (See page 855.)

4. Chúng được gọi, như đã được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ (xem trang 855), là:

1. Lotuses of revelation.

1. Những Hoa Sen của sự mặc khải.

2. Lotuses with perfume.

2. Những Hoa Sen có hương thơm.

3. Radiant lotuses.

3. Những Hoa Sen rạng rỡ.

[203]

[203]

4. Lotuses wherein the flower is on the point of opening.

4. Những Hoa Sen mà bông hoa đang chuẩn bị nở.

5. Lotuses of closed and sealed condition.

5. Những Hoa Sen ở trạng thái đóng kín và niêm kín.

6. The colourless lotuses.

6. Những Hoa Sen không màu.

7. Lotuses in bud.

7. Những Hoa Sen còn trong nụ.

5. These souls, cycling through various forms of life in the long evolutionary process arrive eventually at full, self-conscious existence. By this we mean that they are self-determined, self-conditioned, and self-aware. They are also conscious of and responsive to their environment.

5. Các linh hồn này, chu du qua nhiều hình tướng của sự sống trong quá trình tiến hóa lâu dài, cuối cùng đạt đến sự tồn tại hoàn toàn tự nhận thức. Điều này có nghĩa là chúng có khả năng tự quyết định, tự điều chỉnh, và tự nhận thức về chính mình. Chúng cũng nhận biết và đáp ứng với môi trường xung quanh.

6. Once this conscious awareness is achieved, then progress becomes more rapid. It should be borne in mind that many human beings are not thus aware. The groupings which arise out of this awareness (limiting our ideas entirely to those within the radius of the human family) can be expressed as follows:—

6. Khi sự nhận thức này được đạt tới, tiến trình phát triển trở nên nhanh chóng hơn. Cần lưu ý rằng nhiều con người chưa đạt đến mức độ nhận thức này. Các nhóm hình thành từ sự nhận thức này (giới hạn trong phạm vi gia đình nhân loại) có thể được biểu thị như sau:

1. The souls who live but whose consciousness sleeps. These are the dormant human beings whose intelligence is of such a low order, and their awareness of themselves and of life is so dim and nebulous, that only the lowest forms of human existence come into this category. Racially, nationally, and tribally they do not exist as pure types, but occasionally such a person emerges in the slums of our great cities. They are like a “throw back” and never appear among what are called the natural savages, or the peasantry.

1. Những linh hồn sống nhưng tâm thức vẫn ngủ. Đây là những con người mà trí thông minh còn ở mức rất thấp, và sự nhận thức về bản thân cũng như cuộc sống của họ rất mờ nhạt và không rõ ràng đến mức chỉ những hình thái thấp nhất của sự tồn tại con người mới thuộc loại này. Về mặt chủng tộc, quốc gia, và bộ lạc, họ không tồn tại như những kiểu mẫu thuần khiết, nhưng đôi khi một người như vậy xuất hiện trong các khu ổ chuột của những thành phố lớn. Họ giống như một “sự thoái hóa,” và không xuất hiện giữa những “người hoang dã tự nhiên” hay tầng lớp nông dân.

2. The souls who are simply aware of physical plane life and of sensation. These people are slow, inert, inarticulate, bewildered by their [204] environment, but they are not bewildered, as are the more advanced and emotional types, by events. They have no sense of time or of purpose; they can seldom be trained along any mental line, and they very rarely exhibit skill in any direction. They can dig and carry, under direction; they eat, sleep and procreate, following the natural instincts of the animal body. Emotionally, however, they are asleep, and mentally they are totally unawakened. These too are relatively rare, though several thousands of them can be found upon our planet. They can be recognised through their complete incapacity to respond to emotional and mental training and culture.

2. Những linh hồn chỉ nhận biết về đời sống trên cõi trần và các cảm giác. Họ chậm chạp, trì trệ, không có khả năng diễn đạt, bị bối rối trước môi trường xung quanh, nhưng không bị bối rối bởi các sự kiện như những kiểu người phát triển hơn. Họ không có cảm giác về thời gian hay mục đích; họ hiếm khi có thể được đào tạo theo bất kỳ hướng trí tuệ nào, và rất hiếm khi thể hiện được kỹ năng nào. Họ có thể đào và khuân vác dưới sự hướng dẫn; họ ăn, ngủ và sinh sản, chỉ tuân theo các bản năng tự nhiên của cơ thể. Tuy nhiên, về mặt cảm xúc, họ vẫn đang ngủ, và về mặt trí tuệ, họ hoàn toàn chưa thức tỉnh. Những người này cũng khá hiếm hoi, dù có thể tìm thấy hàng nghìn người trên hành tinh của chúng ta. Họ có thể được nhận ra qua sự hoàn toàn không có khả năng đáp ứng với việc huấn luyện và giáo dục về cảm xúc và trí tuệ.

3. The souls who are beginning to integrate and who are emotionally and psychically alive. In them, of course, the animal nature is awake and the desire nature is becoming rampant. These people are to be found in all races to a small extent, and a number of them can be found among the negroes, which race contains a large number of those who are today relatively children. These are child souls, and though the mental equipment is there and some of them can be trained to use it, the preponderance of the life emphasis is entirely upon physical activity as it is motivated by the desire for satisfaction of some kind, and by a shallow “wish-life” or desire nature, almost entirely oriented towards the physical [205] life. These souls are the modern correspondences to the old Lemurian cultures.

3. Những linh hồn đang bắt đầu tích hợp và có sự sống động về mặt cảm xúc và tâm linh. Tất nhiên, trong họ bản chất thú vật đã thức tỉnh và bản chất dục vọng đang trở nên mạnh mẽ. Những người này có mặt ở mọi chủng tộc với số lượng ít, và một số có thể tìm thấy trong giống dân da đen, vốn bao gồm một số lượng lớn những linh hồn hiện nay còn tương đối trẻ thơ. Đây là những linh hồn trẻ, và dù có trí tuệ nhưng phần lớn cuộc sống của họ vẫn hướng về hoạt động thể chất, được thúc đẩy bởi ham muốn thỏa mãn nào đó, và một “cuộc sống mơ ước” hay một bản chất dục vọng nông cạn, gần như hoàn toàn tập trung vào đời sống vật lý. Những linh hồn này là tương ứng hiện đại của nền văn hóa Lemuria cổ xưa.

4. The souls who are primarily emotional. The mind nature is not functioning strongly, and only rarely does it swing into activity, and the physical body is slipping steadily into the realm of the unconscious. In every race and nation there are millions of such souls in existence. They may be regarded as the modern Atlanteans.

4. Những linh hồn chủ yếu mang tính cảm xúc. Bản chất trí tuệ chưa hoạt động mạnh, chỉ thỉnh thoảng mới hoạt động, và thể xác đang dần rơi vào trạng thái vô thức. Ở mọi quốc gia và chủng tộc, có hàng triệu linh hồn như vậy tồn tại. Họ có thể được xem như những người Atlantis hiện đại.

5. Those souls who can now be classed as intelligent human beings, capable of mental application, if trained, and showing that they can think when need arises. They are still, nevertheless, predominantly emotional. They constitute the bulk of modern humanity at this time. They are the average citizens of our modern world,—good, well-intentioned, capable of intense emotional activity, with the feeling nature almost over-developed, and oscillating between the life of the senses and that of the mind. They swing between the poles of experience. Their lives are spent in an astral turmoil, but they have steadily increasing interludes wherein the mind can momentarily make itself felt, and thus at need effect important decisions. These are the nice good people, who are, nevertheless, largely controlled by the mass consciousness, because they are relatively unthinking. They can be regimented and standardised with facility by orthodox religion and government [206] and are the “sheep” of the human family.

5. Những linh hồn có thể được xếp vào nhóm những con người có trí tuệ, có khả năng áp dụng tư duy nếu được huấn luyện, và cho thấy rằng họ có thể suy nghĩ khi cần thiết. Tuy nhiên, họ vẫn chủ yếu bị chi phối bởi cảm xúc. Họ chiếm phần lớn nhân loại hiện nay. Họ là những công dân trung bình của thế giới hiện đại—tốt bụng, có ý định tốt, có khả năng hoạt động cảm xúc mãnh liệt, với bản chất cảm xúc gần như phát triển quá mức, và dao động giữa đời sống cảm giác và đời sống trí tuệ. Họ lắc lư giữa hai thái cực kinh nghiệm. Cuộc sống của họ chìm trong những cơn bão tố cảm xúc, nhưng họ ngày càng có những khoảng thời gian ngắn trong đó trí tuệ có thể tạm thời phát huy tác động, và do đó, khi cần, có thể đưa ra những quyết định quan trọng. Đây là những con người tốt, nhưng phần lớn bị kiểm soát bởi tâm thức quần chúng, vì họ tương đối thiếu suy nghĩ độc lập. Họ có thể dễ dàng bị chi phối và tiêu chuẩn hóa bởi các tôn giáo chính thống và các chính phủ, và là “bầy cừu” của gia đình nhân loại.

6. The souls who think, and who are minds. These are steadily increasing in number and gaining in power as our educational processes and our scientific discoveries bring results, and expand human awareness. They constitute the cream of the human family, and are the people who are achieving success in some department of human life. They are writers, artists, thinkers in various fields of human knowledge and aspiration, politicians, religious leaders, scientists, skilled workers and artisans, and all those who, though in the front rank, yet take ideas and propositions and work with them for the ultimate benefit of the human family. They are the world aspirants, and those who are beginning to get the ideal of service into their consciousness.

6. Những linh hồn có khả năng tư duy và là những trí tuệ thực thụ. Số lượng của họ ngày càng tăng và ảnh hưởng của họ ngày càng lớn khi các quá trình giáo dục và những khám phá khoa học mang lại kết quả và mở rộng nhận thức của con người. Họ tạo nên tinh hoa của gia đình nhân loại và là những người đang đạt được thành công trong một lĩnh vực nào đó của đời sống nhân loại. Họ là những nhà văn, nghệ sĩ, nhà tư tưởng trong nhiều lĩnh vực tri thức và khát vọng của con người, các chính trị gia, nhà lãnh đạo tôn giáo, nhà khoa học, công nhân lành nghề và nghệ nhân, cùng tất cả những ai, dù đứng ở vị trí hàng đầu, vẫn tiếp nhận các ý tưởng và đề xuất, rồi làm việc với chúng vì lợi ích cuối cùng của nhân loại. Họ là những người chí nguyện của thế giới, và là những người bắt đầu nhận thức lý tưởng về phụng sự.

7. Those souls whose sense of awareness on the physical plane is now of such an order that they can pass on to the Probationary Path. They are the mystics, conscious of duality, torn between the pairs of opposites, but who are yet unable to rest until they are polarised in the soul. These are the sensitive, struggling people, who long for release from failure and from existence in the world today. Their mind natures are alive and active but they cannot yet control them as they should and the higher illumination remains as yet a joyous hope and final possibility.

7. Những linh hồn có mức độ nhận thức trên cõi trần đã đạt đến mức họ có thể bước vào Con Đường Dự Bị. Họ là những nhà thần bí, có ý thức về nhị nguyên, bị giằng xé giữa hai cực đối lập, nhưng không thể nghỉ ngơi cho đến khi họ được phân cực trong linh hồn. Đây là những con người nhạy cảm, đang đấu tranh, khao khát được giải thoát khỏi thất bại và khỏi sự tồn tại trong thế giới hiện nay. Bản chất trí tuệ của họ sống động và năng động, nhưng họ vẫn chưa thể kiểm soát nó như mong muốn, và sự soi sáng cao hơn vẫn chỉ là một niềm hy vọng vui mừng và một khả năng cuối cùng.

[207]

8. Souls whose intelligence and love nature is becoming so awakened and integrated that they can begin to tread the Path of Discipleship. They are the practical mystics, or the occultists, of modern times.

8. Những linh hồn có trí tuệ và bản chất bác ái đang thức tỉnh và hòa hợp đến mức họ có thể bắt đầu bước vào Con Đường Đệ Tử. Họ là những nhà thần bí thực tiễn, hoặc những nhà huyền môn của thời đại hiện đại.

9. The souls who are initiate into the mysteries of the kingdom of God. These are souls who are not only conscious of their vehicles of expression, the integrated personality, and conscious also of themselves as souls, but they know, past all controversy, that there is no such thing as “my soul and your soul,” but simply “the Soul”. They know this not only as a mental proposition, and as a sensed reality, but also as a fact in their own consciousness.

9. Những linh hồn đã được điểm đạo vào các huyền nhiệm của Thiên Giới. Đây là những linh hồn không chỉ có ý thức về các thể biểu lộ của họ, tức là phàm ngã đã được tích hợp, và cũng có ý thức về chính họ với tư cách là linh hồn, mà họ còn biết chắc chắn rằng không có cái gọi là “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn,” mà chỉ có “Linh Hồn.” Họ biết điều này không chỉ như một giả thuyết trí tuệ, và như một thực tại được cảm nhận, mà còn như một sự thật trong chính tâm thức của họ.

10. The souls who have achieved release from all the limitations of the form nature and who dwell eternally in the consciousness of the One Soul, withdrawn from identification with any aspiration of the form life, no matter how highly developed. They can and do use the form at will for the purposes of the general good. These are the Masters of Life, the perfected adepts.

10. Những linh hồn đã đạt được sự giải thoát khỏi mọi giới hạn của bản chất hình tướng và luôn sống trong tâm thức của Một Linh Hồn, không còn đồng nhất với bất kỳ khát vọng nào của đời sống hình tướng, dù ở mức phát triển cao đến đâu. Họ có thể và thực sự sử dụng hình tướng theo ý muốn vì lợi ích chung. Đây là những Chân Sư của Sự Sống, những điểm đạo đồ hoàn thiện.

Higher than this we need not go, except by inference. A detailed analysis is not, however, in order, owing to the limitations of men’s minds. The above is only a wide generalisation, and the various groupings shade into each other in a bewildering way. The varieties of intermediate types are myriad, but this analysis will serve as a skeleton structure upon which to build.

Cao hơn nữa, chúng ta không cần bàn đến, ngoại trừ bằng suy luận. Một sự phân tích chi tiết không phù hợp vào lúc này do những hạn chế của trí tuệ con người. Những điều trên chỉ là một khái quát rộng, và các nhóm khác nhau hòa lẫn vào nhau theo một cách phức tạp. Các loại trung gian là vô số, nhưng sự phân tích này sẽ đóng vai trò như một khung sườn để xây dựng sự hiểu biết.

[208]

7. In the development of the race at this time, we can now study the types, the qualities of these souls, the apparatus of response which they must use, and the nature of the mechanism of contact which they have constructed in order to enable them to function in the world as we know it today. Science and religion together are producing that latest of the sciences which we call psychology. For this, the time is now ripe.

7. Trong sự phát triển của nhân loại vào thời điểm này, chúng ta có thể nghiên cứu các loại linh hồn, phẩm tính của chúng, cơ cấu phản ứng mà chúng phải sử dụng, cũng như bản chất của cơ chế tiếp xúc mà chúng đã kiến tạo để có thể hoạt động trong thế giới như chúng ta biết ngày nay. Khoa học và tôn giáo cùng nhau đang tạo ra một ngành khoa học mới nhất mà chúng ta gọi là tâm lý học. Thời điểm cho điều này đã đến.

8. All these manifesting souls have come forth from some Source at some time in their cyclic expressions. This, to the modern thinker, is purely speculative, and can be regarded probably unprofitable; it may also be interesting, but is presumably imaginative. May I say here that the occultist regards all the above affirmative statements as constituting an exact and proven science, but as being presented in symbolic form for the consideration of the minds of men. Esotericists and theosophists would do well to remember this, and to realise that their divisions and groupings, their affirmations and statements about occult teaching, and their pronouncements as to time and place are largely symbolical and must be thus considered.

8. Tất cả các linh hồn đang biểu hiện này đều đã xuất phát từ một Nguồn nào đó vào một thời điểm nào đó trong quá trình biểu lộ theo chu kỳ của họ. Điều này, đối với những người tư duy hiện đại, hoàn toàn mang tính suy đoán và có thể được xem là không có giá trị thực tiễn; nó có thể thú vị, nhưng có lẽ chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Tôi xin nói rằng, đối với nhà huyền môn, tất cả các tuyên bố khẳng định trên đều cấu thành một ngành khoa học chính xác và đã được chứng minh, nhưng được trình bày dưới dạng biểu tượng để phù hợp với trí tuệ con người. Những nhà nội môn và Thông Thiên Học nên ghi nhớ điều này và nhận ra rằng các sự phân chia và phân nhóm của họ, các tuyên bố và giáo lý huyền bí, cũng như các phát biểu của họ về thời gian và địa điểm phần lớn chỉ mang tính biểu tượng và cần được hiểu theo cách đó.

9. The process whereby the soul nature and the form nature meet and blend is termed individualisation.

9. Quá trình mà trong đó bản chất linh hồn và bản chất hình tướng gặp gỡ và hòa trộn được gọi là sự biệt ngã hóa.

1. Individualisation is the emergence of the soul upon the path of outgoing, through the medium of a form. Thus through the use of a form, expression in the three worlds becomes possible.

1. Biệt ngã hóa là sự xuất hiện của linh hồn trên con đường phát triển ra bên ngoài, thông qua trung gian của một hình tướng. Nhờ sử dụng một hình tướng, sự biểu lộ trong ba cõi giới trở nên khả thi.

2. Initiation is the process whereby a soul, having exhausted the resources of form life, and [209] having thus achieved mastery and expression, returns again to its source. This the soul does through the medium of five stages, steps or initiations which are the correspondence in the interior life of the soul to the five stages whereby expression is developed in the strictly human races, beginning with the Lemurian stage, passing through the Atlantean and the Aryan, and so on through the two final races upon our planet in this world cycle.

2. Điểm đạo là quá trình mà theo đó một linh hồn, sau khi đã sử dụng hết các tài nguyên của đời sống hình tướng và [209] nhờ vậy đạt được sự làm chủ và biểu lộ trọn vẹn, quay trở lại với nguồn gốc của mình. Linh hồn thực hiện điều này thông qua năm giai đoạn, bước hoặc lần điểm đạo, tương ứng với năm giai đoạn mà trong đó sự biểu lộ được phát triển trong các giống dân hoàn toàn nhân loại, bắt đầu với giai đoạn Lemuria, đi qua thời kỳ Atlantis và Arya, và tiếp tục qua hai giống dân cuối cùng trên hành tinh của chúng ta trong chu kỳ thế giới này.

In connection with individualisation the following points should be remembered:—

Liên quan đến biệt ngã hóa, cần ghi nhớ các điểm sau:

1. Individualisation upon the moon chain took place in the fifth race of the third round.

1. Biệt ngã hóa trên dãy mặt trăng diễn ra trong giống dân thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ ba.

2. In Lemurian days, individualisation took place because it was the third root race and the fourth round.

2. Vào thời kỳ Lemuria, biệt ngã hóa diễn ra vì đó là giống dân gốc thứ ba và cuộc tuần hoàn thứ tư.

3. In Atlantis, the door of initiation opened, and forced initiation became the objective of the best of the human family. Those who could or can thus become initiate are the “lights which ever radiate.” In Lemurian days it was the “lights which ever burn” that came into being.

3. Trong thời kỳ Atlantis, cánh cửa điểm đạo mở ra, và sự điểm đạo bắt buộc trở thành mục tiêu của những cá nhân ưu tú nhất trong gia đình nhân loại. Những ai có thể hoặc đã trở thành điểm đạo đồ được gọi là “những ánh sáng luôn tỏa rạng.” Vào thời kỳ Lemuria, đó là “những ánh sáng luôn bừng cháy” đã xuất hiện.

4. In our race we find the “lights which ever shine.” This is the individualisation of the sixth race types who came in the second round.

4. Trong giống dân hiện tại, chúng ta tìm thấy “những ánh sáng luôn tỏa sáng.” Đây là sự biệt ngã hóa của các loại linh hồn thuộc giống dân thứ sáu, những người đã đến vào cuộc tuần hoàn thứ hai.

It is well to remember that the soul who came into incarnation in old Atlantis individualised upon that chain which is called the moon chain. This was a period of unfoldment so much earlier than that of our earth that we know nothing about it. These egos, therefore, did not individualise on our [210] earth at all but came into our cycle of evolution as human beings,—of a low order as far as the lowest of our present humanity is concerned, but somewhat higher than the egos which individualised upon ancient Lemuria.

Điều đáng ghi nhớ là các linh hồn đến nhập thể vào Atlantis cổ đại đã biệt ngã hóa trên dãy mặt trăng. Đây là một giai đoạn phát triển quá xa so với sự phát triển của trái đất chúng ta đến mức chúng ta không biết gì về nó. Do đó, những chân ngã này không biệt ngã hóa trên [210] trái đất của chúng ta mà đã đi vào chu kỳ tiến hóa của chúng ta với tư cách là con người—ở cấp độ thấp hơn so với những con người thấp nhất hiện nay, nhưng vẫn cao hơn những chân ngã đã biệt ngã hóa trong thời Lemuria cổ đại.

It might be of interest here to note that Christ was the first of our earth humanity to achieve the goal, whereas the Buddha was the last of the moon chain humanity to do so. As far as the development of these two sons of God was concerned, so rapid was the development of the Christ that in Atlantean days He found Himself upon the Path of Probation as did also the Buddha. He, coming into incarnation from the moon chain (having been held in what the occult teaching calls “pralaya” till that time), entered upon the probationary Path a very short time ahead of His Brother, the Christ. From the angle of evolution the rapid unfoldment of the evolution of Christ was, and has been, totally unparallelled. It has never been duplicated, though there are people living today upon the planet who are beginning to develop now with equal rapidity (but not earlier, so that they have a background of slow individual development, which is only now being accelerated). This rapidity is, however, a different matter altogether, for many of the disciples today came into this earth evolution from the moon chain where already much had been unfolded. They have not worked up to their present point from Lemurian times as the Christ has done. He, therefore, stands uniquely alone.

Điều có thể thú vị ở đây là ghi nhận rằng Đức Christ là người đầu tiên trong nhân loại trái đất đạt đến mục tiêu, trong khi Đức Phật là người cuối cùng của nhân loại dãy mặt trăng đạt được điều đó. Xét về sự phát triển của hai Đấng Con của Thượng Đế này, sự phát triển của Đức Christ diễn ra nhanh đến mức vào thời Atlantis, Ngài đã tìm thấy chính mình trên Con Đường Dự Bị, cũng như Đức Phật. Ngài, sau khi nhập thể từ dãy mặt trăng (vì đã được giữ lại trong trạng thái “pralaya” theo giáo lý huyền môn cho đến lúc đó), đã bước vào Con Đường Dự Bị chỉ một thời gian rất ngắn trước người Anh Em của mình, Đức Christ. Xét từ góc độ tiến hóa, sự phát triển nhanh chóng của Đức Christ là không gì sánh kịp và chưa từng được lặp lại, dù ngày nay trên hành tinh có những con người đang phát triển với tốc độ tương đương (nhưng không phải sớm hơn, vì họ có nền tảng của sự phát triển cá nhân chậm chạp, hiện đang được đẩy nhanh). Tuy nhiên, sự tăng tốc này là một vấn đề hoàn toàn khác, vì nhiều đệ tử ngày nay đã đến với sự tiến hóa của trái đất từ dãy mặt trăng, nơi họ đã phát triển rất nhiều trước đó. Họ không phát triển từ thời Lemuria như Đức Christ đã làm. Do đó, Ngài hoàn toàn đứng riêng biệt.

Just how and why egos come into our planetary evolution from earlier cycles and from other planetary systems is a subject of the greatest interest, but it is of no real importance to the students of this Treatise. We shall not therefore consider it or deal with it. It is of a speculative nature and utterly past their possible corroboration or capacity to check. There is no standard of comparison nor can they judge by inference [211] what is important. All that can be said is that the three major monadic types came into being, either from the moon chain or during the Lemurian stage of individualisation, and that these three determine much that is transpiring today. All that it is here possible to do is to give some information which may throw a light on the subject, and colour our general thought, but which it is impossible either to check or accept except as being inferential or possible. All this can later be determined by the student when his knowledge and powers are greater than they are at present and adequate for that purpose.

Việc các chân ngã đi vào sự tiến hóa hành tinh của chúng ta từ các chu kỳ trước và từ các hệ hành tinh khác như thế nào và vì lý do gì là một chủ đề vô cùng thú vị, nhưng không thực sự quan trọng đối với các sinh viên của Luận thuyết này. Do đó, chúng ta sẽ không xem xét hoặc bàn luận về vấn đề này. Nó mang tính suy đoán và hoàn toàn vượt ra ngoài khả năng xác minh hoặc kiểm chứng của con người. Không có tiêu chuẩn so sánh, cũng như họ không thể suy luận [211] điều gì là quan trọng. Điều duy nhất có thể nói là ba loại chân thần chính đã xuất hiện, hoặc từ dãy mặt trăng hoặc trong giai đoạn biệt ngã hóa của thời Lemuria, và ba loại này quyết định nhiều điều đang diễn ra ngày nay. Điều duy nhất có thể thực hiện ở đây là cung cấp một số thông tin có thể làm sáng tỏ chủ đề này và định hình tư duy chung của chúng ta, nhưng không thể kiểm chứng hoặc chấp nhận nó ngoại trừ trên cơ sở suy luận hoặc khả thi. Tất cả những điều này sau này có thể được xác định bởi các sinh viên khi kiến thức và năng lực của họ lớn hơn hiện tại và đủ để thực hiện điều đó.

The three major types are, as is well known, those of will or power, of love-wisdom and of active intelligence. The following facts must, therefore, be remembered:—

Ba loại chính đó, như đã biết, bao gồm: chân thần của ý chí hay quyền năng, chân thần của bác ái-minh triết, và chân thần của trí tuệ hoạt động. Những điểm sau đây cần được ghi nhớ:

1. That egos of all types individualised upon the moon chain, but that the egos of active intelligence constituted 75% of the total, the remaining 25% being divided between the other two.

1. Rằng các chân ngã thuộc mọi loại đều đã biệt ngã hóa trên dãy mặt trăng, nhưng 75% tổng số thuộc về loại trí tuệ hoạt động, trong khi 25% còn lại được chia đều giữa hai loại kia.

2. That in Lemurian times, the egos of love-wisdom preponderated, and in their turn constituted 75%, with the remaining 25% being the egos of active intelligence. Very few indeed, practically a negligible number, individualised along the line of power or will at that time.

2. Rằng vào thời Lemuria, các chân ngã của bác ái-minh triết chiếm ưu thế, tạo thành 75%, trong khi 25% còn lại là các chân ngã của trí tuệ hoạt động. Rất ít chân ngã, gần như không đáng kể, biệt ngã hóa theo dòng quyền năng hay ý chí vào thời điểm đó.

3. There was a very large influx of individualising egos in early Atlantean days and they were practically all of the power-will type. It might be stated that 80% of those who entered human evolution at that time were egos who were expressing the will aspect of deity, and that the remaining 20% were along the line of love-wisdom.

3. Đã có một sự gia tăng rất lớn về số lượng chân ngã biệt ngã hóa vào thời kỳ đầu Atlantis, và hầu hết họ thuộc dòng quyền năng - ý chí. Có thể nói rằng 80% số người đi vào sự tiến hóa nhân loại lúc bấy giờ là các chân ngã biểu lộ khía cạnh ý chí của Thượng Đế, trong khi 20% còn lại thuộc dòng bác ái-minh triết.

These all, with the egos which individualised upon the moon chain and which came in steadily, as the planetary conditions fitted them, until the final stages of the Atlantean period, [212] constitute the bulk of our modern humanity, plus some rare egos which drift into our planetary evolution for some reason or other, and never become properly adapted to or fitted into our planetary life. They persistently remain abnormalities.

Những chân ngã này, cùng với các chân ngã đã biệt ngã hóa trên dãy mặt trăng và tiếp tục đến đều đặn khi điều kiện hành tinh phù hợp cho đến giai đoạn cuối của thời kỳ Atlantis, [212] tạo thành phần lớn nhân loại hiện đại của chúng ta, cùng với một số ít chân ngã đặc biệt trôi dạt vào tiến hóa hành tinh của chúng ta vì một lý do nào đó, nhưng không bao giờ thực sự thích nghi hoặc hòa nhập vào đời sống hành tinh của chúng ta. Họ kiên trì duy trì trạng thái bất thường.

Two happenings of great import will occur before so very long. The door will be opened, for the admittance of rare and peculiar souls who will bring into our world civilisation new aspects and rare and new qualities of Deity, though it will not be opened for ordinary individualisation. These rare and unexpected types will cause much bewilderment to our psychologists. It should here be pointed out that individualisation is a crisis and not an unfoldment. This is of real importance and should be borne in mind in all consideration of this difficult subject. It is the result of development, but such development need not lead to this particular crisis. What causes this crisis in the lives of souls remains as yet hidden in the consciousness of the planetary Logos and is only revealed at initiation. There are as yet characteristics and qualities of the planetary Logos which remain incomprehensible to us.

Hai sự kiện quan trọng sẽ xảy ra trong một tương lai không xa. Một cánh cửa sẽ được mở ra để đón nhận những linh hồn hiếm hoi và đặc biệt, những người sẽ mang đến cho nền văn minh của chúng ta các khía cạnh mới và phẩm tính hiếm có và độc đáo của Thượng Đế, mặc dù cánh cửa này không mở ra cho sự biệt ngã hóa thông thường. Những loại linh hồn đặc biệt và không mong đợi này sẽ gây nhiều bối rối cho các nhà tâm lý học của chúng ta. Ở đây cần nhấn mạnh rằng biệt ngã hóa là một cuộc khủng hoảng chứ không phải một sự phát triển dần dần. Đây là một điểm rất quan trọng và cần được ghi nhớ khi xem xét chủ đề khó khăn này. Đó là kết quả của một quá trình phát triển, nhưng không phải bất kỳ sự phát triển nào cũng dẫn đến cuộc khủng hoảng đặc biệt này. Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng này trong đời sống của các linh hồn vẫn còn ẩn giấu trong tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế và chỉ được tiết lộ qua các giai đoạn điểm đạo. Hiện vẫn còn những đặc tính và phẩm tính của Hành Tinh Thượng Đế mà chúng ta không thể hiểu được.

When the animal kingdom, viewing it from the angle of the whole and not from the angle of species, had reached a particular stage of development, then there was an inrush into the planetary life of the energy of all the seven rays simultaneously. This occurs very rarely and the tremendous stimulation then undergone by the sensitive forms of life (and of these the animal was at that time the most sensitive), produced the emergence of a new form, that of infant humanity. It was the reaction of that kingdom, as expressed through its indwelling life, the animal Being (who is the informing Life of that kingdom in nature), which produced individualisation in the more advanced animal-man of the time.

Khi giới động vật—xét từ góc độ tổng thể chứ không phải từ góc độ của từng loài riêng lẻ—đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định, thì có một dòng năng lượng của cả bảy cung đồng thời đổ vào sự sống hành tinh. Điều này rất hiếm khi xảy ra, và sự kích thích mạnh mẽ mà các dạng sống nhạy cảm nhất thời đó trải qua (trong đó động vật là dạng sống nhạy cảm nhất vào thời điểm đó) đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của một dạng sống mới—loài người sơ khai. Chính phản ứng của giới động vật, được biểu lộ qua sự sống nội tại của nó, tức là Thực Thể Động Vật (Đấng truyền linh hồn cho giới động vật trong tự nhiên), đã tạo ra biệt ngã hóa trong những con người-thú phát triển nhất vào thời điểm đó.

The statements found in occult books that dogs and other [213] animals responded to the divine impulse through an activity of the will or of love, may be symbolic in nature, but are not correct literally, as so many devout occult students may think. Such specific forms of life did not exist in those far off times, particularly upon the moon chain. The consideration of species and of types may not be permitted; it is futile and a waste of time. What really occurred was a reaction throughout the entire animal kingdom to the inpouring of the three major types of energy, which expressed themselves through the usual seven types and thus called forth response from those forms of life which were energised through the medium of the three major centres—heart, head and throat—of the Being who is the informing life. A tremendous surging upward and a going-forth in response ensued, which enabled a new kingdom to emerge.

Những tuyên bố trong các sách huyền môn rằng loài chó và các động vật khác [213] đã phản ứng lại xung động thiêng liêng thông qua hoạt động của ý chí hoặc tình thương có thể mang tính biểu tượng, nhưng không đúng theo nghĩa đen như nhiều học viên huyền môn sùng đạo có thể nghĩ. Những dạng sống cụ thể như vậy không tồn tại trong những thời kỳ xa xưa đó, đặc biệt là trên dãy mặt trăng. Việc xem xét các loài và các chủng loại không được phép; điều đó là vô ích và lãng phí thời gian. Điều thực sự đã xảy ra là toàn bộ giới động vật đã phản ứng với sự tuôn đổ của ba loại năng lượng chính, vốn tự biểu lộ qua bảy dòng năng lượng thông thường, và nhờ đó đã kích thích những dạng sống được tiếp sinh lực thông qua ba trung tâm chính—tim, đầu và cổ họng—của Thực Thể đang truyền linh hồn cho giới động vật. Một sự trỗi dậy mạnh mẽ và một sự vươn lên đã xảy ra, dẫn đến sự xuất hiện của một giới mới trong tự nhiên.

A creative act is ever the result of inspiration being seized upon, recognised for what it is, and developed by the form side, and understood and fostered by the brain and the heart of man. Some new thing is thus produced. The instinctive creative act of the physical body is not here discussed. In this way, through a response to inspiration, the animal kingdom came into being. First, there was the pouring in of energy, stimulating and inspiring; then there came the recognition of the responding form, resulting in an initiated activity, and then there was the production of that which had not been theretofore. Thus a new kingdom in nature appeared.

Một hành động sáng tạo luôn là kết quả của sự linh hứng được nắm bắt, được nhận diện đúng bản chất, và được phát triển bởi hình tướng, đồng thời được hiểu và nuôi dưỡng bởi bộ não và trái tim của con người. Một điều gì đó mới mẻ sẽ được tạo ra theo cách này. Ở đây, chúng ta không bàn đến hành động sáng tạo mang tính bản năng của thể xác. Theo cách này, thông qua phản ứng với linh hứng, giới động vật đã ra đời. Đầu tiên, có một sự đổ vào của năng lượng, kích thích và truyền linh hứng; sau đó, có sự nhận diện của hình tướng phản ứng, dẫn đến một hoạt động khởi xướng, và cuối cùng, có sự sản sinh ra một điều chưa từng có trước đó. Như vậy, một giới mới trong tự nhiên đã xuất hiện.

This same thing it is that is again happening today in the world. There is a pouring in of spiritual energy, vitalising, transforming, and rendering humanity creative. Initiatory work becomes possible and a new and higher kingdom can appear upon the earth. But all this is due, as before, to the pouring in of a triple energy in seven ways. The potency of [214] these forces lies behind the disruption of the present time, but a new kingdom in nature will be born.

Điều tương tự cũng đang xảy ra ngày nay trên thế giới. Có một dòng năng lượng tinh thần đang tuôn đổ, mang tính sinh động, biến đổi và làm cho nhân loại trở nên sáng tạo. Công việc khởi xướng trở nên khả thi và một giới mới, cao hơn có thể xuất hiện trên trái đất. Nhưng tất cả điều này, cũng như trước đây, là kết quả của sự đổ vào của ba loại năng lượng chính theo bảy phương cách khác nhau. Chính sức mạnh của [214] những mãnh lực này đang đứng đằng sau sự hỗn loạn của thời điểm hiện tại, nhưng một giới mới trong tự nhiên sẽ ra đời.

The interest of this, psychologically speaking, does not lie in the historicity of the facts stated, but in the appearance upon earth today of the higher types at present found amongst men everywhere. Egos of will are relatively and naturally few; egos of love are becoming more frequent in appearance; intelligent egos are widely distributed. There is a balance now being established between the egos of love and of intelligence, and these together must and will inaugurate the new civilisation which will be the field for the culture of the kingdom of God on earth. The coming of this kingdom will be as much a precipitation of an inner reality as an unseen factor, such as a germ, working within a human body. This precipitation and culturing of the germ kingdom is slowly happening.

Điều đáng quan tâm trong vấn đề này, xét theo góc độ tâm lý học, không nằm ở tính lịch sử của các sự kiện đã nêu, mà ở sự xuất hiện trên trái đất ngày nay của các loại linh hồn cao cấp hơn hiện diện khắp nơi trong nhân loại. Các chân ngã thuộc loại ý chí tương đối ít và hiếm; các chân ngã thuộc loại bác ái đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn; các chân ngã thuộc loại trí tuệ hoạt động thì phân bố rộng khắp. Hiện đang có một sự cân bằng được thiết lập giữa các chân ngã của bác ái và của trí tuệ, và chính họ phải và sẽ khai sinh ra nền văn minh mới, nơi sẽ là môi trường nuôi dưỡng của Thiên Giới trên trái đất. Sự xuất hiện của giới này sẽ giống như sự ngưng tụ của một thực tại nội tại, giống như một yếu tố vô hình—như một mầm giống—hoạt động bên trong cơ thể con người. Quá trình ngưng tụ và nuôi dưỡng giới này đang diễn ra một cách chậm rãi.

IV. Rules for Inducing Soul Control

In considering the rules which can induce soul control, it is not my intention to recapitulate the many rules which the aspirant must follow as he perseveres in his endeavor to tread the path to the source—that path to what the Buddhists call Nirvana. This Path is, in fact, but the beginning of that higher Way which leads to a life incomprehensible, even to the most developed of the Beings in our planetary Hierarchy. Nor is it essential that we emphasize the details of living which must control the man who is seeking to function as a soul in command of the personality. These have oft been adequately outlined by disciples down the ages, and reduced to many words. They have also been dealt with in my earlier book A Treatise on White Magic and other books. Our immediate problem is the application of these rules for discipleship and a steady [215] progress in their practical technique. My present purpose is a far more difficult one, for this Treatise is written for the future more than for present students. I seek to indicate the basic rules determining the hierarchical government, and conditioning, therefore, world affairs. We are here concerned therefore with the subtle activities of energies which, on the inner side, actuate the outer activities and bring about those events in the world of men which later form history.

Khi xem xét các quy luật có thể gây ra sự kiểm soát của linh hồn, tôi không có ý định nhắc lại nhiều quy luật mà người chí nguyện phải tuân theo khi y kiên trì trong nỗ lực bước đi trên con đường đến nguồn cội—con đường dẫn đến điều mà Phật tử gọi là Niết Bàn. Thật ra, Con Đường này chỉ mới là sự khởi đầu của Con đường cao hơn dẫn đến một sự sống không thể hiểu nổi, ngay cả đối với những Đấng phát triển nhất trong Thánh Đoàn hành tinh của chúng ta. Cũng không thiết yếu phải nhấn mạnh các chi tiết của đời sống vốn phải kiểm soát con người đang tìm cách hoạt động như một linh hồn chỉ huy phàm ngã. Những điều này đã thường được các đệ tử qua các thời đại phác họa đầy đủ và diễn đạt thành nhiều lời. Chúng cũng đã được bàn đến trong cuốn sách trước đây của tôi là Luận về Chánh Thuật và các sách khác. Vấn đề trước mắt của chúng ta là việc áp dụng các quy luật này cho địa vị đệ tử và sự [215] tiến bộ vững chắc trong kỹ thuật thực hành của chúng. Mục đích hiện nay của tôi còn khó hơn nhiều, vì bộ Luận này được viết cho tương lai hơn là cho các đạo sinh hiện tại. Tôi tìm cách chỉ ra các quy luật căn bản quyết định sự cai quản của Thánh đoàn, và do đó tác động lên các công việc thế giới. Vì vậy, ở đây chúng ta quan tâm đến các hoạt động vi tế của những năng lượng mà ở mặt nội tại, thúc đẩy các hoạt động bên ngoài và đem lại những biến cố trong thế giới loài người, về sau hình thành nên lịch sử.

The problem before the Hierarchy is twofold and can be expressed in two questions:—

Vấn đề trước Thánh Đoàn có hai mặt và có thể được diễn đạt bằng hai câu hỏi:—

1. How can the consciousness of humanity be expanded so that it can be developed from the germ of self-consciousness (such as it was at individualisation) and be brought up to that of complete group consciousness and identification as occurs when the final initiation is undergone?

1. Làm thế nào tâm thức của nhân loại có thể được mở rộng để nó có thể được phát triển từ mầm mống của ngã thức (như đã có vào lúc biệt ngã hóa) và được nâng lên đến tâm thức nhóm hoàn toàn và sự đồng hoá như xảy ra khi lần điểm đạo cuối cùng được trải qua?

2. How can the ascending energy of the fourth kingdom in nature be brought into such close rapport with the descending energy of spirit that another great expression—a group expression—of Deity may emerge through man into manifestation?

2. Làm thế nào năng lượng đi lên của giới thứ tư trong thiên nhiên có thể được đưa vào sự liên hệ mật thiết đến thế với năng lượng đi xuống của tinh thần để một biểu lộ lớn lao khác—một biểu lộ nhóm—của Thượng đế có thể xuất hiện qua con người vào biểu hiện?

Two points should therefore here be noted:—First, that the attention of the members of the Hierarchy who work at this time with mankind is not centred upon the individual aspirant in any manner which could be interpreted as personal interest. Interest in him is evoked just in so far as he is occupied with matters which concern group good. The second point is one well known and often stressed of late. At this time we are passing through a period of unprecedented opportunity and crisis, and the attention of the Hierarchy is consequently focussed upon men in an exceedingly one-pointed manner as They attempt to capitalise, for the benefit [216] of man, upon this opportunity. Herein lie both responsibility and the ground for hope.

Do đó, ở đây cần lưu ý hai điểm:—Thứ nhất, sự chú ý của các thành viên Thánh Đoàn hiện đang làm việc với nhân loại không tập trung vào người chí nguyện cá nhân theo bất kỳ cách nào có thể được diễn giải là sự quan tâm cá nhân. Sự quan tâm đến y chỉ được gợi lên trong chừng mực y bận tâm đến những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhóm. Điểm thứ hai là điều đã được biết rõ và thường được nhấn mạnh gần đây. Vào lúc này, chúng ta đang đi qua một thời kỳ cơ hội và khủng hoảng chưa từng có, và vì thế sự chú ý của Thánh Đoàn được tập trung vào con người một cách hết sức nhất tâm khi Các Ngài cố gắng tận dụng, vì lợi ích [216] của con người, cơ hội này. Chính trong điều này có cả trách nhiệm lẫn nền tảng của hy vọng.

The rules, therefore, which we are to consider are not the laws of the soul or the laws controlling the stages of human development upon the Path. They have a much wider scope, and pertain to the broad sweep of the evolutionary cycle as it concerns the human family as a whole, particularly in relation to its contribution to the entire evolutionary scheme. However—owing to the lack of trained understanding—we shall have to confine ourselves to the consideration of these rules solely as they govern human unfoldment.

Vì vậy, các quy luật mà chúng ta sẽ xem xét không phải là các định luật của linh hồn hay các định luật kiểm soát các giai đoạn phát triển của con người trên Con Đường. Chúng có phạm vi rộng lớn hơn nhiều, và liên quan đến toàn bộ tiến trình rộng lớn của chu kỳ tiến hoá khi nó liên hệ đến toàn thể gia đình nhân loại, đặc biệt trong mối liên hệ với sự đóng góp của nó vào toàn bộ hệ thống tiến hoá. Tuy nhiên—do thiếu sự thấu hiểu đã được huấn luyện—chúng ta sẽ phải giới hạn mình trong việc xem xét các quy luật này chỉ trong chừng mực chúng chi phối sự khai mở của con người.

What we are seeking to reveal (if possible) is some of the factors which govern the effort which the Hierarchy of Control and the Custodians of the Plan utilise, as They proceed to work with the factors already present in man, and the energies already in objective use on this planet. What we shall say will not be of great simplicity, for it is hard, even for the advanced disciple, to see the purpose of certain of these factors. That which is here set forth on these matters must await later developments during the coming century, and certain lines of scientific and spiritual unfoldment must eventuate before the hidden implications can be adequately comprehended. If it seems simple and clear it might be wise to distrust the obvious interpretation. The matter is abstruse. It is well to ponder on the thought here presented, but not to be quick to assume understanding. There are many ways in which the work of the Hierarchy can be expressed, and according to the type of mind will be the interpretation.

Điều chúng ta đang tìm cách mặc khải (nếu có thể) là một số yếu tố chi phối nỗ lực mà Thánh Đoàn Kiểm Soát và các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ sử dụng khi Các Ngài tiến hành làm việc với những yếu tố đã hiện diện trong con người, và những năng lượng đã được sử dụng một cách khách quan trên hành tinh này. Điều chúng ta sẽ nói sẽ không thật đơn giản, vì ngay cả đối với đệ tử tiến bộ, cũng khó thấy được mục đích của một số yếu tố này. Điều được trình bày ở đây về các vấn đề này phải chờ những phát triển sau này trong thế kỷ tới, và một số đường hướng khai mở khoa học và tinh thần nhất định phải xuất hiện trước khi các hàm ý ẩn kín có thể được thấu hiểu một cách đầy đủ. Nếu điều đó có vẻ đơn giản và rõ ràng thì có lẽ nên dè dặt với cách diễn giải hiển nhiên. Vấn đề này rất thâm áo. Nên suy ngẫm về tư tưởng được trình bày ở đây, nhưng đừng vội cho rằng mình đã thấu hiểu. Có nhiều cách để công việc của Thánh Đoàn được biểu lộ, và sự diễn giải sẽ tùy theo loại trí tuệ.