o
The One Life. Unity. Sự Sống Duy Nhất. Hợp Nhất
o
o
o
The Major three Rays] Ba Cung Chính
Making seven
o
o
o
o
The Minor four Rays] Bốn Cung Phụ
Tạo thành bảy
o
The Unity of Appearance Sự Thống Nhất của Sắc tướng
With the one Life we shall not concern ourselves. We accept it as a basic truth and we realise that we are on our way back from the unity of form-identified existence, through the varying unfoldments of a conscious response to divine interplay and activity, to a final identification with the one Life. Form awareness has to give place to the qualified radiation of the self-conscious spiritual identity which is that of a son of God, appearing through form. This will be finally superseded by two phases of expression wherein there is:
Chúng ta sẽ không bận tâm với Sự Sống Duy Nhất. Chúng ta chấp nhận nó như một chân lý cơ bản và chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang trên đường trở về từ sự thống nhất của sự tồn tại đồng nhất với hình tướng, qua các sự khai mở khác nhau của một phản ứng có ý thức đối với sự tương tác và hoạt động thiêng liêng, đến một sự đồng nhất cuối cùng với Sự Sống Duy Nhất. Nhận thức hình tướng phải nhường chỗ cho sự bức xạ được định tính của bản sắc tinh thần tự ý thức vốn là của một người con của Thượng đế, xuất hiện qua hình tướng. Điều này cuối cùng sẽ được thay thế bởi hai giai đoạn biểu hiện trong đó có:
1. A sense of divine synthesis, of which our bodily “well-being” [35] is the lowest form of material, yet symbolic, reflection. It is a sense of coordinated blissful satisfaction, based on realised Being.
1. Một cảm thức về sự tổng hợp thiêng liêng, mà trong đó trạng thái “khoẻ mạnh” của thân xác chúng ta [35] chỉ là hình thức thấp nhất của phản ảnh vật chất, song vẫn mang tính biểu tượng. Đó là một cảm thức về sự thoả mãn phúc lạc đã được phối kết, dựa trên Bản Thể được chứng nghiệm.
2. A withdrawal from even this life-awareness to a phase still more intensive and detached, which involves an awareness of the life of God Itself, free from form, but still, in a mysterious sense, aware of quality.
2. Một sự rút lui khỏi ngay cả nhận thức sự sống này sang một giai đoạn còn sâu sắc và tách biệt hơn nữa, liên quan đến một nhận thức về sự sống của chính Thượng Đế, tự do khỏi hình tướng, nhưng, theo một nghĩa bí ẩn, vẫn nhận thức về phẩm chất.
In the language of mysticism it might be expressed this way:
Trong ngôn ngữ của chủ nghĩa thần bí, nó có thể được diễn đạt theo cách này:
“I take a body. That body is alive. I know its life. I therefore know my mother.
“Tôi nhận một cơ thể. Cơ thể đó đang sống. Tôi biết sự sống của nó. Do đó tôi biết mẹ tôi.
“I use a body. That body is not me. I serve the group and in this serving live within the body, detached, a son of God. I know my Self.
“Tôi sử dụng một cơ thể. Cơ thể đó không phải là tôi. Tôi phụng sự nhóm và trong sự phụng sự này, tôi sống bên trong thể xác, tách biệt, một người con của Thượng đế. Tôi biết Chân Ngã của mình.
“I infuse a body. I am its life and in that life shall I see life. That life is known as love. I am the love of God. I know the Father, and know His life is love.
“Tôi phú linh cho một thể. Tôi là sự sống của nó và trong sự sống đó, tôi sẽ thấy sự sống. Sự sống đó được biết đến là tình thương. Tôi là tình thương của Thượng đế. Tôi biết Cha, và biết sự sống của Ngài là tình thương.
“I am the body and its loving life. I am the Self, whose quality is love. I am the life of God Himself. The Mother-Father-Son am I.
“Tôi là thể xác và sự sống yêu thương của nó. Tôi là Chân Ngã, mà phẩm tính là tình thương. Tôi là sự sống của chính Thượng đế. Tôi là Mẹ-Cha-Con.
“Behind these three there stands the unknown God. That God am I.”
“Đằng sau ba ngôi này là Thượng đế ẩn danh. Thượng đế đó chính là Tôi.”
Let us be perfectly clear even at the expense of reiteration. In this treatise, though we may touch upon form and consider its nature, we shall lay emphasis upon self-consciousness as it expresses itself as responsiveness, as awareness of a peculiar kind which we call the “quality of consciousness,” or its inherent characteristic. We have always the subsidiary triplicities, which are only adjectival terms employed to express the quality of the appearing life.
Chúng ta hãy hoàn toàn rõ ràng dù có phải lặp lại. Trong luận thuyết này, mặc dù chúng ta có thể đề cập đến hình tướng và xem xét bản chất của nó, chúng ta sẽ nhấn mạnh vào ngã thức khi nó biểu lộ như là sự đáp ứng, như là sự nhận biết về một loại đặc biệt mà chúng ta gọi là “phẩm tính của tâm thức,” hay đặc tính vốn có của nó. Chúng ta luôn có những bộ ba phụ thuộc, vốn chỉ là những thuật ngữ tính từ được dùng để diễn tả phẩm tính của sự sống đang xuất hiện.
Form
Mutability, conscious response to radiation. Matter.
Hình tướng
Tính biến đổi, sự đáp ứng có ý thức đối với bức xạ. Vật chất.
Self-Consciousness
Responsiveness. Awareness of identity. Soul.
Ngã thức
Tính đáp ứng. Nhận thức về bản sắc. Linh hồn.
Life
Immutability. Emanation. Cause. Source. Spirit.
Sự Sống
Tính bất biến. Xuất lộ/phát xạ. Nguyên nhân. Nguồn. Tinh thần.
[36]
[36]
The synthesis of all these in manifestation we call God, the Isolated, the All-pervading, the Detached and the Withdrawn.
Sự tổng hợp của tất cả những điều này trong biểu hiện chúng ta gọi là Thượng đế, Đấng Cô Lập, Đấng Thấm Nhuần Tất Cả, Đấng Tách Biệt và Đấng Rút Lui.
The above abstract truths are difficult of apprehension, but need here to be expressed, so that our platform is understood and we are not open to the criticism that we neglect reality and regard diversity as the only truth.
Những chân lý trừu tượng trên rất khó lĩnh hội, nhưng cần phải được diễn bày ở đây, để nền tảng của chúng ta được thấu hiểu và chúng ta không bị chỉ trích rằng mình phớt lờ thực tại và xem tính đa dạng là chân lý duy nhất.
We shall now answer five questions that I have formulated and answered for the reader.
Bây giờ chúng ta sẽ trả lời năm câu hỏi mà tôi đã thiết lập và giải đáp cho độc giả.
Question 1. What is the soul? Can we define it? What is its nature?—Câu hỏi 1. Linh hồn là gì? Chúng ta có thể định nghĩa nó không? Bản chất của nó là gì?
Here I shall give but four definitions which will serve as a basis for all that follows.
Ở đây tôi sẽ chỉ đưa ra bốn định nghĩa vốn sẽ dùng làm cơ sở cho tất cả những gì theo sau.
A. The soul can be spoken of as the Son of the Father and of the Mother (Spirit-Matter) and is therefore the embodied life of God, coming into incarnation in order to reveal the quality of the nature of God, which is essential love. This life, taking form, nurtures the quality of love within all forms, and ultimately reveals the purpose of all creation. This is the simplest definition for average humanity, being couched in the language of mysticism, thus linking the truth as found in all religions. It is necessarily inadequate, for it fails to emphasize the truth that what can be posited of man can also be posited of the cosmic reality, and that just as a human appearance on Earth veils both the quality and purpose (in varying degree), so does that synthesis of all forms or appearances, within that unity which we call a solar system, veil the quality and purpose of Deity. It is only when man is no longer deluded by appearance and has freed himself from the veil of illusion that he arrives at a knowledge of the quality of God’s consciousness and at the purpose which it is revealing. This he does in a triple way:
A. Linh hồn có thể được nói đến như là Con của Cha và Mẹ (Tinh thần-Vật chất) và do đó là sự sống hiện thân của Thượng đế, đi vào lâm phàm để hiển lộ phẩm tính của bản chất Thượng đế, vốn là tình thương cốt yếu. Sự sống này, khi khoác lấy hình tướng, nuôi dưỡng phẩm tính tình thương bên trong mọi hình tướng, và cuối cùng hiển lộ mục đích của mọi tạo vật. Đây là định nghĩa đơn giản nhất cho nhân loại trung bình, được diễn đạt bằng ngôn ngữ của thần bí học, do đó liên kết chân lý như được tìm thấy trong tất cả các tôn giáo. Nó nhất thiết là không đầy đủ, vì nó không nhấn mạnh chân lý rằng những gì có thể được giả định về con người cũng có thể được giả định về thực tại vũ trụ, và rằng cũng giống như một sự xuất hiện của con người trên Trái Đất che giấu cả phẩm tính và mục đích (ở các mức độ khác nhau), thì sự tổng hợp của mọi hình tướng hay sự xuất hiện đó, bên trong sự đơn nhất mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời, cũng che giấu phẩm tính và mục đích của Thượng đế. Chỉ khi con người không còn bị lừa dối bởi vẻ bề ngoài và đã tự giải thoát mình khỏi bức màn ảo tưởng, y mới đạt đến sự hiểu biết về phẩm tính của tâm thức Thượng đế và về mục đích mà nó đang hiển lộ. Y thực hiện điều này theo ba cách:
a. He discovers his own soul, the product of the union of his [37] Father in heaven with the Mother or the material nature. This last is the personality. He then, having discovered the personality, discovers the quality of his own soul life, and the purpose for which he has “appeared.”
a. Y khám phá linh hồn của chính mình, sản phẩm của sự kết hợp giữa [37] Cha trên trời với Mẹ hay bản chất vật chất. Cái sau cùng này là phàm ngã. Sau đó, khi đã khám phá ra phàm ngã, y khám phá phẩm tính của đời sống linh hồn mình, và mục đích mà vì đó y đã “xuất hiện.”
b. He finds that this quality expresses itself through seven aspects or basic differentiations, and that this septenate of qualities colours, esoterically, all forms in all kingdoms in nature, thus constituting the totality of the revelations of the divine purpose. This, he finds, is essentially a septenary aggregation of energies, each energy producing differing effects and appearances. This discovery he makes by finding that his own soul is tinctured by one of the seven ray qualities, that he is identified with his ray purpose—whatever it may be—and is expressing a particular type of divine energy.
b. Y nhận thấy rằng phẩm tính này tự biểu lộ qua bảy phương diện hay bảy sự biến phân cơ bản, và rằng bộ bảy phẩm tính này, về mặt huyền linh, tô màu cho tất cả các hình tướng trong mọi giới của tự nhiên, do đó cấu thành tổng thể các mặc khải về mục đích thiêng liêng. Y nhận thấy điều này về cơ bản là một tập hợp thất phân của các năng lượng, mỗi năng lượng tạo ra các hiệu quả và sự xuất hiện khác nhau. Sự khám phá này y thực hiện bằng cách nhận ra rằng linh hồn của chính y được nhuốm màu bởi một trong bảy phẩm tính cung, rằng y được đồng nhất với mục đích cung của mình—bất kể đó là gì—và đang biểu lộ một loại năng lượng thiêng liêng cụ thể.
c. From this point he proceeds to a recognition of the entire septenate, and upon the Path of Initiation he gains a glimpse of a Unity, hitherto unrealised, nor even sensed.
c. Từ điểm này, y tiến tới sự nhận biết toàn bộ bộ bảy, và trên Con Đường Điểm Đạo, y đạt được một cái nhìn thoáng qua về một Sự Hợp Nhất, cho đến nay chưa từng được chứng nghiệm, thậm chí chưa từng được cảm nhận.
Thus from a consciousness of himself, man arrives at an awareness of the interrelation between the seven basic energies or rays; and from that he proceeds to a realisation of the triple deity, until at the final initiation (the fifth) he finds himself consciously at-one with the unified divine intent lying behind all appearances and all qualities. It might be added that initiations, higher than the fifth, reveal a purpose wider and deeper than that which is working out within our solar system. The purpose of our manifested Logos is but a part of a greater intent. It might also be noted that in the fourth kingdom of nature, on the path of evolution and of probation, a man arrives at a knowledge of his individual soul, and glimpses the quality and purpose of that soul. On the path of discipleship and of initiation, he glimpses the quality and purpose of his [38] planetary Life, and discovers himself as a part of a ray Life, Which is appearing through the form of a planet and is embodying an aspect of the divine purpose and energy. After the third initiation he glimpses the quality and purpose of the solar system; he sees his ray life and energy as a part of a greater whole. These are but modes of expressing the emerging quality and the hidden purpose of the graded Lives which inform all appearances and colour them with quality
Vì vậy, từ ý thức về chính mình, con người đạt đến sự nhận biết về mối tương quan giữa bảy năng lượng cơ bản hay bảy cung; và từ đó y tiến tới sự chứng nghiệm về thượng đế tam phân, cho đến khi tại cuộc điểm đạo cuối cùng (lần thứ năm), y thấy mình hợp nhất một cách có ý thức với ý định thiêng liêng thống nhất nằm đằng sau mọi sự xuất hiện và mọi phẩm tính. Có thể nói thêm rằng các cuộc điểm đạo cao hơn lần thứ năm tiết lộ một mục đích rộng lớn hơn và sâu sắc hơn mục đích đang diễn ra trong hệ mặt trời của chúng ta. Mục đích của Thượng đế biểu hiện của chúng ta chỉ là một phần của một ý định vĩ đại hơn. Cũng có thể lưu ý rằng trong giới thứ tư của tự nhiên, trên con đường tiến hóa và con đường dự bị, một người đạt đến sự hiểu biết về linh hồn cá nhân của mình, và thoáng thấy phẩm tính cùng mục đích của linh hồn đó. Trên con đường đệ tử và con đường điểm đạo, y thoáng thấy phẩm tính và mục đích của [38] Sự Sống hành tinh của mình, và khám phá bản thân như một phần của Sự Sống Cung Duy Nhất, Đấng đang xuất hiện thông qua hình tướng của một hành tinh và đang hiện thân cho một phương diện của mục đích và năng lượng thiêng liêng. Sau cuộc điểm đạo thứ ba, y thoáng thấy phẩm tính và mục đích của hệ mặt trời; y thấy sự sống và năng lượng cung của mình như một phần của một tổng thể lớn hơn. Đây chỉ là những phương thức biểu lộ phẩm tính đang trỗi dậy và mục đích ẩn giấu của các Sự Sống đẳng cấp, Những Đấng phú linh cho mọi sự xuất hiện và tô màu chúng bằng phẩm tính.
B. The soul can be regarded as the principle of intelligence—an intelligence whose characteristics are mind and mental awareness, which in turn demonstrate as the power to analyse, to discriminate, to separate, and to distinguish, to choose or to reject, with all the implications conveyed in these terms. As long as a man is identified with the appearance, these aspects of the mental principle produce in him the “great heresy of separateness.” It is the appearance of the form nature that glamours him and completely deludes him. He regards himself as the form, and then proceeds from a realisation of himself as the material form, and as identified with the outer appearance, to a realisation of himself as an insatiable desire. He then becomes identified with his desire body, with his appetites, good and bad, and considers himself as one with his moods, his feelings, his longings, whether they ray out in the direction of the material world or inward toward the world of thought or the Kingdom of the soul. He is torn by a sense of duality. Later, he becomes identified with still another of the appearances,—with the mind body or nature. Thoughts become to him so tangible that he is swayed, turned and influenced by them; and to the world of material appearances, and to the world of the great Illusion is added the world of thought forms. He is then subjected to a triple illusion, and he, the conscious life behind the illusion, begins to unify the forms into one coordinated whole, in order the better to control them.
B. Linh hồn có thể được xem như là nguyên khí thông tuệ—một sự thông tuệ mà các đặc điểm là tâm trí và sự nhận biết của trí tuệ, vốn đến lượt nó biểu thị như là khả năng phân tích, phân biện, tách biệt, và phân biệt, lựa chọn hoặc bác bỏ, với tất cả những hàm ý được truyền tải trong các thuật ngữ này. Chừng nào một người còn đồng nhất với vẻ bề ngoài, các phương diện này của nguyên khí trí tuệ tạo ra trong y “đại tà thuyết về sự chia rẽ.” Chính vẻ bề ngoài của bản chất hình tướng đã gây ảo cảm cho y và hoàn toàn đánh lừa y. Y tự xem mình là hình tướng, và rồi tiến từ việc chứng nghiệm bản thân là hình tướng vật chất, và đồng nhất với vẻ bề ngoài, đến việc chứng nghiệm bản thân là một ham muốn vô tận. Sau đó, y trở nên đồng nhất với thể dục vọng của mình, với những sự thèm muốn của mình, tốt và xấu, và tự coi mình là một với những tâm trạng, cảm xúc, khao khát của mình, cho dù chúng hướng ra thế giới vật chất hay hướng vào thế giới tư tưởng hoặc Vương quốc của linh hồn. Y bị giằng xé bởi ý thức nhị nguyên. Sau đó, y trở nên đồng nhất với một vẻ bề ngoài khác nữa,—với thể trí hay bản chất trí tuệ. Các tư tưởng trở nên quá hữu hình đối với y đến nỗi y bị dao động, bị xoay chuyển và bị ảnh hưởng bởi chúng; và thế giới của các hình tư tưởng được thêm vào thế giới của các vẻ bề ngoài vật chất và thế giới của Đại Ảo Tưởng. Khi đó, y phải chịu một ảo tưởng tam phân, và y, sự sống có ý thức đằng sau ảo tưởng, bắt đầu hợp nhất các hình tướng thành một tổng thể phối hợp, để kiểm soát chúng tốt hơn.
[39]
[39]
Thus the Personality of the soul makes its appearance. He stands then on the verge of the probationary path. He enters the world of quality and of value, and begins to discover the nature of the soul and to shift the emphasis from the appearance to the quality of the Life which has produced it. This identification of the quality with the appearance grows steadily upon the path until the fusion of quality and appearance, of energy and that which it energises, is so perfect that appearance no longer veils the reality, and the soul is now the dominant factor; consciousness is now identified with itself (or with its ray) and not with its phenomenal appearance. Later, the soul itself is superseded by the Monad, and that Monad becomes, in verity, embodied purpose.
Do đó, Phàm ngã của linh hồn xuất hiện. Khi đó, y đứng trên bờ vực của con đường dự bị. Y bước vào thế giới của phẩm tính và giá trị, và bắt đầu khám phá bản chất của linh hồn và chuyển trọng tâm từ vẻ bề ngoài sang phẩm tính của Sự Sống đã tạo ra nó. Sự đồng nhất hóa phẩm tính với vẻ bề ngoài này phát triển đều đặn trên đường đạo cho đến khi sự dung hợp của phẩm tính và vẻ bề ngoài, của năng lượng và cái mà nó cung cấp năng lượng, hoàn hảo đến mức vẻ bề ngoài không còn che giấu thực tại nữa, và linh hồn giờ đây là yếu tố chủ đạo; tâm thức giờ đây đồng nhất với chính nó (hoặc với cung của nó) chứ không phải với vẻ bề ngoài hiện tượng của nó. Sau đó, chính linh hồn được thay thế bởi Chân Thần, và Chân Thần đó trở thành, trong thực tế, mục đích hiện thân.
The process can be expressed by a very simple symbology, as follows:—o.o.o. or o.o...o or o...o.o., thus portraying the separateness of the three aspects. The union, then, of the aspects of appearance—quality—purpose or life, results in an abstraction from the appearance, and therefore the end of phenomenal existence. Ponder on the simple arrangement of these signs, for they portray your life and progress:
Quá trình này có thể được diễn tả bằng một biểu tượng rất đơn giản, như sau:—o.o.o. hoặc o.o...o hoặc o...o.o., qua đó mô tả sự tách biệt của ba phương diện. Sự hợp nhất, sau đó, của các phương diện hình tướng—phẩm tính—mục đích hay sự sống, dẫn đến một sự trừu tượng hóa khỏi vẻ bề ngoài, và do đó là sự kết thúc của sự tồn tại hiện tượng. Hãy suy ngẫm về sự sắp xếp đơn giản của các dấu hiệu này, vì chúng mô tả cuộc sống và sự tiến bộ của bạn:
This is true of the human being, of the Christ in incarnation; it is equally true of the cosmic Christ, of God incarnate in the solar system. In the system a similar fusion and blending is going on, and the separated aspects are entering into an evolutionary relationship, resulting in an eventual synthesis of appearance and quality, and then of quality and purpose. It might be noted here that the Hierarchy as a whole is distinguished by the sign o..oo; the New Group of World [40] Servers by the sign oo..o; and the unevolved masses by o o o. Forget not, that in all three groups, as in nature, there are the intermediate stages composed of those who are on their way to a transitional accomplishment.
Điều này đúng với con người, với Đức Christ khi lâm phàm; điều này cũng đúng như vậy đối với Đức Christ vũ trụ, đối với Thượng đế hiện thân trong hệ mặt trời. Trong hệ thống, một sự dung hợp và hòa quyện tương tự đang diễn ra, và các phương diện tách biệt đang đi vào một mối quan hệ tiến hóa, dẫn đến một sự tổng hợp cuối cùng của vẻ bề ngoài và phẩm tính, và sau đó là của phẩm tính và mục đích. Có thể lưu ý ở đây rằng Thánh Đoàn nói chung được phân biệt bởi dấu hiệu o..oo; Đoàn Người Mới [40] Phụng Sự Thế Gian bởi dấu hiệu oo..o; và quần chúng chưa tiến hóa bởi o o o. Đừng quên rằng, trong cả ba nhóm, cũng như trong tự nhiên, có những giai đoạn trung gian bao gồm những người đang trên đường tới một thành tựu chuyển tiếp.
The work before all students of this Treatise on the Seven Rays is the fusion of quality and appearance, and therefore they need to study the nature of that quality in order to produce a true appearance. In the ancient rules given to mystics in Atlantean times we find these words:
Công việc trước mắt tất cả các học viên của bộ Luận về Bảy Cung này là sự dung hợp của phẩm tính và vẻ bề ngoài, và do đó họ cần nghiên cứu bản chất của phẩm tính đó để tạo ra một vẻ bề ngoài chân thực. Trong các quy luật cổ xưa được trao cho các nhà thần bí vào thời Atlantis, chúng ta tìm thấy những lời này:
“Let the disciple know the nature of his Lord of Love. Seven the aspects of the love of God; seven the colours of that manifesting One; sevenfold the work; seven the energies and sevenfold the Path back to the centre of peace. Let the disciple live in love, and love in life.”
“Đệ tử hãy biết bản chất của Chúa Tể Tình Thương của mình. Bảy là các phương diện của tình yêu thương của Thượng đế; bảy là các màu sắc của Đấng biểu lộ đó; thất phân là công việc; bảy là các năng lượng và thất phân là Con Đường trở về trung tâm bình an. Hãy để đệ tử sống trong tình thương, và yêu thương trong sự sống.”
In those olden days no thought of purpose entered into the minds of men, for the race was not mental nor was it intended so to be. The emphasis was laid upon the quality of the appearance in all preparation for initiation, and the highest initiate of that time endeavoured to express only the quality of God’s love. The Plan was the great mystery. The Christ, cosmic and individual, was sensed and known, but purpose was as yet veiled and unrevealed. The “noble eightfold path” was not known, and only seven steps into the Temple were seen. With the coming in of the Aryan race, the purpose and the plan began to be revealed. Only when the appearance is beginning to be dominated by quality, and consciousness is expressing itself in directed awareness through the form, is the purpose dimly sensed.
Trong những ngày xưa cũ đó, không có tư tưởng nào về mục đích đi vào tâm trí con người, vì giống dân không thuộc về trí tuệ và cũng không được dự định như vậy. Sự nhấn mạnh được đặt vào phẩm tính của vẻ bề ngoài trong mọi sự chuẩn bị cho điểm đạo, và vị điểm đạo đồ cao nhất vào thời đó chỉ nỗ lực để thể hiện phẩm tính tình yêu thương của Thượng đế. Thiên Cơ là đại bí nhiệm. Đức Christ, vũ trụ và cá nhân, được cảm nhận và được biết đến, nhưng mục đích vẫn còn bị che giấu và chưa được tiết lộ. “Bát chánh đạo” cao quý chưa được biết đến, và chỉ bảy bậc vào Thánh Điện được nhìn thấy. Với sự xuất hiện của giống dân Arya, mục đích và thiên cơ bắt đầu được tiết lộ. Chỉ khi vẻ bề ngoài bắt đầu bị chi phối bởi phẩm tính, và tâm thức đang biểu lộ chính nó trong sự nhận biết có định hướng thông qua hình tướng, thì mục đích mới được cảm nhận một cách lờ mờ.
I seek in various ways to convey through the symbol of words the significance of the soul. The soul is therefore the son of God, the product of the marriage of spirit and matter. The soul is an expression of the mind of God, for mind and intellect are terms expressing the cosmic principle of intelligent [41] love,—a love which produces an appearance through the nature of mind and thus is the builder of the separate forms or appearances. The soul also, through the quality of love, produces the fusion of appearance and of quality, of awareness and of form.
Tôi tìm cách bằng nhiều phương thức khác nhau để truyền tải ý nghĩa của linh hồn thông qua biểu tượng của ngôn từ. Do đó, linh hồn là con của Thượng đế, là sản phẩm của cuộc hôn phối giữa tinh thần và vật chất. Linh hồn là một sự biểu đạt của trí của Thượng đế, vì trí tuệ và tri thức là những thuật ngữ biểu đạt nguyên khí vũ trụ của [41] tình thương thông tuệ,—một tình thương tạo ra một vẻ bề ngoài thông qua bản chất của tâm trí và do đó là đấng kiến tạo nên các hình tướng hay các sự xuất hiện tách biệt. Linh hồn cũng vậy, thông qua phẩm tính tình thương, tạo ra sự dung hợp của vẻ bề ngoài và phẩm tính, của sự nhận biết và hình tướng.
C. The soul is (and here words limit and distort) a unit of light, coloured by a particular ray vibration; it is a vibrating centre of energy found within the appearance or form of its entire ray life. It is one of seven groups of millions of lives which in their totality constitute the One Life. From its very nature, the soul is conscious or aware in three directions. It is God-conscious; it is group-conscious; it is self-conscious. This self-conscious aspect is brought to fruition in the phenomenal appearance of a human being; the group-conscious aspect retains the human state of consciousness, but adds to it awareness of its ray life, progressively unfolded; its awareness then is the awareness of love, of quality, of spirit in its relationships; it is God-conscious only potentially, and in that unfoldment lies, for the soul, its own growth upward and outward after its self-conscious aspect is perfected and its group-awareness is recognised. The soul therefore has the following points, or appearances:
C. Linh hồn là (và ở đây ngôn từ giới hạn và làm sai lệch) một đơn vị ánh sáng, được tô màu bởi một rung động cung cụ thể; nó là một trung tâm năng lượng rung động được tìm thấy bên trong vẻ bề ngoài hay hình tướng của toàn bộ sự sống cung của nó. Nó là một trong bảy nhóm của hàng triệu sự sống mà trong tổng thể của chúng cấu thành nên Sự Sống Duy Nhất. Từ chính bản chất của mình, linh hồn có ý thức hay nhận biết theo ba hướng. Nó có ý thức về Thượng đế; nó có tâm thức nhóm; nó tự ý thức. Phương diện tự ý thức này được đưa đến kết quả trong vẻ bề ngoài hiện tượng của một con người; phương diện tâm thức nhóm giữ lại trạng thái tâm thức của con người, nhưng thêm vào đó sự nhận biết về sự sống cung của nó, được khai mở dần dần; sự nhận biết của nó sau đó là sự nhận biết về tình thương, về phẩm tính, về tinh thần trong các mối quan hệ của nó; nó chỉ có ý thức về Thượng đế một cách tiềm tàng, và trong sự mở rộng đó có sự tăng trưởng của chính nó hướng lên trên và hướng ra ngoài sau khi phương diện tự ý thức của nó được hoàn thiện và sự nhận biết nhóm của nó được công nhận. Do đó, linh hồn có các điểm, hay các sự xuất hiện sau:
Aspirants who are studying and training themselves to live the life of service might be regarded as having reached the point where the line is to be found. To visualise this correctly [42] the sign should be regarded as in rapid revolution, thus producing a turning wheel, which is the wheel of life.
Những người chí nguyện đang nghiên cứu và tự rèn luyện để sống cuộc đời phụng sự có thể được coi là đã đạt đến điểm nơi đường kẻ được tìm thấy. Để hình dung điều này một cách chính xác [42], dấu hiệu này nên được xem như đang quay nhanh, do đó tạo ra một bánh xe quay, đó là bánh xe của sự sống.
Let me again repeat:
Hãy để tôi lặp lại một lần nữa:
1. The soul is the son of God, the product of the union of spirit and matter.
1. Linh hồn là con của Thượng đế, sản phẩm của sự kết hợp giữa tinh thần và vật chất.
2. The soul is an embodiment of conscious mind, the expression, if one might so phrase it, of divine intelligent awareness.
2. Linh hồn là một hiện thân của thể trí có ý thức, sự biểu đạt, nếu người ta có thể diễn đạt như vậy, của sự nhận biết thông tuệ thiêng liêng.
3. The soul is a unit of energy, vibrating in unison with one of the seven ray Lives, and coloured by a particular ray light.
3. Linh hồn là một đơn vị năng lượng, rung động hòa hợp với một trong bảy Sự Sống cung, và được tô màu bởi một ánh sáng cung cụ thể.
The personality of the soul is intended to be an embodiment of love, applied with intelligence and producing those “attractive” forms which will serve to express that loving intelligence. The soul in its turn is intended to be the embodiment of divine purpose or will, intelligently applied in the great creative work, which is produced through the power of creative love.
Phàm ngã của linh hồn được dự định là một hiện thân của tình thương, được áp dụng với trí tuệ và tạo ra những hình tướng “thu hút” vốn sẽ phục vụ để biểu đạt trí tuệ yêu thương đó. Linh hồn đến lượt nó được dự định là hiện thân của mục đích hay ý chí thiêng liêng, được áp dụng một cách thông tuệ trong công trình sáng tạo vĩ đại, vốn được tạo ra thông qua quyền năng của tình thương sáng tạo.
Each son of God can say: I am born of the love of the Father for the Mother, of the desire of life for form. I express, therefore, the love and the magnetic attractiveness of the God nature, and the responsiveness of the form nature, and am consciousness itself, aware of Deity or Life.
Mỗi người con của Thượng đế đều có thể nói: Tôi được sinh ra từ tình thương của Cha dành cho Mẹ, từ sự khao khát của sự sống đối với hình tướng. Do đó, tôi biểu lộ tình thương và sự thu hút từ tính của bản chất Thượng đế, và sự phản hồi của bản chất hình tướng, và tôi chính là tâm thức, nhận biết về Thượng đế hay Sự Sống.
Each intelligent point of life can say: I am the product of intelligent will, working through intelligent activity and producing a world of created forms which embody or veil the loving purpose of Deity.
Mỗi điểm sự sống thông tuệ đều có thể nói: Tôi là sản phẩm của ý chí thông tuệ, hoạt động thông qua hoạt động thông tuệ và tạo ra một thế giới của các hình tướng được tạo tác vốn hiện thân hoặc che giấu mục đích yêu thương của Thượng đế.
Each vibrating unit of energy can say: I am part of a divine whole, which in its septenary nature expresses the love and life of the One Reality, coloured by one of the seven qualities of the love of Deity and responsive to the other qualities.
Mỗi đơn vị năng lượng rung động đều có thể nói: Tôi là một phần của một tổng thể thiêng liêng, vốn trong bản chất thất phân của nó biểu lộ tình thương và sự sống của Thực Tại Duy Nhất, được tô màu bởi một trong bảy phẩm tính của tình yêu thương của Thượng đế và đáp ứng với các phẩm tính khác.
For our purposes in this treatise, we must grasp the fact [43] that the world of appearances is energised by and vibrating to the world of qualities or values, which world, in its turn, is energised by or vibrating to the world of purpose or of will. Therefore, as is stated in The Secret Doctrine and in A Treatise on Cosmic Fire, the electric fire of will, and the solar fire of love, in cooperation with fire by friction, produce the world of created and creative forms. These proceed under the law of attractive magnetic love towards the evolutionary accomplishment of a purpose at present inscrutable. This purpose remains unknown only on account of the limitations of the “appearance” which is not yet responsive to the quality. When the illusory appearance and the veiled quality of the life are known and comprehended the underlying purpose will emerge with clarity. Indications of this can be dimly sensed and the attribute of this growing awareness can be noted in the tendency of modern thought to speak of patterns and of plans, of blue prints and synthetic formulations of ideas, and in the tracing of historical developments—national, racial, human and psychological. As we read, ponder and study, the dim outlines of the Plan appear, but until the consciousness has transcended all human limitations and has included the subhuman, as well as the superhuman, within its range of contacts, the true Plan cannot be rightly grasped. The will, lying behind the purpose, cannot be understood until the consciousness has transcended even that of the superhuman man, and has become one with the divine.
Vì mục đích của chúng ta trong luận thuyết này, chúng ta phải nắm bắt sự thật [43] rằng thế giới của những vẻ bề ngoài được cung cấp năng lượng bởi và rung động với thế giới của những phẩm tính hay giá trị, thế giới này, đến lượt nó, được cung cấp năng lượng bởi hoặc rung động với thế giới của mục đích hay ý chí. Do đó, như đã được nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, lửa điện của ý chí, và lửa thái dương của tình thương, hợp tác với lửa ma sát, tạo ra thế giới của các hình tướng được tạo tác và sáng tạo. Những điều này tiến triển dưới định luật của tình yêu từ tính hấp dẫn hướng tới việc hoàn thành một cách tiến hóa một mục đích mà hiện tại là không thể dò thấu. Mục đích này vẫn chưa được biết đến chỉ vì những hạn chế của “vẻ bề ngoài” vốn chưa đáp ứng với phẩm tính. Khi vẻ bề ngoài huyễn hoặc và phẩm tính bị che giấu của sự sống được biết đến và thấu hiểu, mục đích tiềm ẩn sẽ xuất lộ một cách rõ ràng. Những dấu hiệu của điều này có thể được cảm nhận một cách lờ mờ và thuộc tính của sự nhận biết ngày càng tăng này có thể được ghi nhận trong xu hướng của tư tưởng hiện đại khi nói về các mô hình và các kế hoạch, về các bản thiết kế và các công thức tổng hợp của các ý tưởng, và trong việc truy nguyên các sự phát triển lịch sử—quốc gia, chủng tộc, con người và tâm lý. Khi chúng ta đọc, suy ngẫm và nghiên cứu, những phác thảo lờ mờ của Thiên Cơ xuất hiện, nhưng cho đến khi tâm thức đã vượt qua mọi giới hạn của con người và đã bao gồm cả giới dưới nhân loại, cũng như siêu nhân loại, trong phạm vi tiếp xúc của nó, thì Thiên Cơ thực sự vẫn chưa thể được nắm bắt một cách đúng đắn. Ý chí, nằm đằng sau mục đích, không thể được hiểu cho đến khi tâm thức đã vượt qua ngay cả tâm thức của con người siêu phàm, và đã trở thành một với cái thiêng liêng.
Will or the energy of life are synonymous terms and are an abstraction, existing apart from all form expression. The will-to-be emerges from outside the solar system altogether. It is the all-pervading energy of God which informs with a fraction of itself the solar system, and yet remains outside. Plan and purpose concern the emanating energies of that central Life and involve duality,—will or the life urge plus attractive [44] magnetic love which, in its turn, is the response of the vibrating universal substance to the impact of the energy of will. This initial activity precedes the creative process of form building; and the play of the divine will on the ocean of space, matter, or etheric substance produced the first differentiation into the major rays, and their mutual interplay produced the minor four rays. Thus the seven emanations, the seven potencies and the seven rays came into manifestation. They are the seven breaths of the one Life, the seven basic energies; they streamed forth from the centre formed by the impact of the will of God on divine substance, and divided into seven streams of force. The radius of the influence of these seven streams determined the extent or scope of activity of a solar system and “outlined” the limits of the form of the incarnated cosmic Christ. Each of these seven streams or emanations of energy was coloured by a divine quality, an aspect of love, and all of them were needed for the ultimate perfecting of the latent and unrevealed purpose.
Ý chí hay năng lượng của sự sống là những thuật ngữ đồng nghĩa và là một sự trừu tượng, tồn tại tách biệt khỏi mọi biểu lộ hình tướng. Ý-chí-tồn-tại xuất lộ hoàn toàn từ bên ngoài hệ mặt trời. Đó là năng lượng thâm nhập tất cả của Thượng đế, Đấng thấm nhuần hệ mặt trời bằng một phần nhỏ của chính Ngài, nhưng vẫn ở bên ngoài. Thiên cơ và mục đích liên quan đến các năng lượng phát xuất của Sự Sống trung tâm đó và liên quan đến tính nhị nguyên,—ý chí hay sự thúc đẩy của sự sống cộng với tình thương [44] từ tính hấp dẫn, vốn đến lượt nó, là sự đáp ứng của chất liệu vũ trụ rung động đối với tác động của năng lượng ý chí. Hoạt động ban đầu này đi trước quá trình sáng tạo xây dựng hình tướng; và sự tác động của ý chí thiêng liêng lên đại dương không gian, vật chất, hay chất liệu dĩ thái đã tạo ra sự biến phân đầu tiên thành các cung chính, và sự tương tác lẫn nhau của chúng đã tạo ra bốn cung phụ. Như vậy bảy sự phát xuất, bảy tiềm năng và bảy cung đã đi vào biểu hiện. Chúng là bảy hơi thở của Sự Sống duy nhất, bảy năng lượng cơ bản; chúng tuôn ra từ trung tâm được hình thành bởi tác động của ý chí Thượng đế lên chất liệu thiêng liêng, và chia thành bảy dòng lực. Bán kính ảnh hưởng của bảy dòng này xác định phạm vi hay quy mô hoạt động của một hệ mặt trời và “phác thảo” các giới hạn của hình tướng của Đức Christ vũ trụ đang lâm phàm. Mỗi dòng trong bảy dòng hay sự phát xuất năng lượng này được tô màu bởi một phẩm tính thiêng liêng, một phương diện của tình thương, và tất cả chúng đều cần thiết cho sự hoàn thiện tối hậu của mục đích tiềm tàng và chưa được tiết lộ.
The will of Deity coloured the stream of energy units which we call by the name of the Ray of Will or Power, the first ray, and the impact of that stream on the matter of space insured that the hidden purpose of Deity would inevitably and eventually be revealed. It is a ray of such dynamic intensity that we call it the ray of the Destroyer. It is not as yet functioning actively. It will come into full play only when the time comes for the purpose to be safely revealed. Its units of energy in manifestation in the human kingdom are very few. As I earlier said, there is not a true first ray type in incarnation as yet. Its main potency is to be found in the mineral kingdom, and the key to the mystery of the first ray is to be found in radium.
Ý chí của Thượng đế tô màu dòng các đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi bằng cái tên Cung của Ý Chí hay Quyền Năng, cung một, và tác động của dòng đó lên vật chất của không gian đảm bảo rằng mục đích ẩn giấu của Thượng đế chắc chắn và cuối cùng sẽ được tiết lộ. Đó là một cung có cường độ năng động đến mức chúng ta gọi nó là cung của Kẻ Hủy Diệt. Nó chưa hoạt động tích cực. Nó sẽ chỉ phát huy tác dụng đầy đủ khi thời điểm đến để mục đích được tiết lộ một cách an toàn. Các đơn vị năng lượng của nó trong biểu hiện ở giới nhân loại là rất ít. Như tôi đã nói trước đó, chưa có một mẫu người cung một thực sự nào đang lâm phàm. Tiềm năng chính của nó được tìm thấy trong giới kim thạch, và chìa khóa cho bí ẩn của cung một được tìm thấy trong radium.
In the vegetable kingdom the second ray is peculiarly active, producing among other things the magnetic attractiveness [45] of flowers. The mystery of the second ray is found to be hidden in the significance of the perfume of flowers. Perfume and radium are related, being emanatory expressions of ray effects upon differing groupings of material substance. The third ray is, in its turn, peculiarly related to the animal kingdom, producing the tendency to intelligent activity which we note in the higher domestic animals. The correspondence to radioactivity and to emanatory perfumes which we found in the mineral and vegetable kingdoms, we here call devotion, the characteristic of the attractive interplay between the domestic animals and man. Devotees of personalities might more rapidly transmute that devotion into its higher correspondence—love of principles—if they realised that they were only displaying an animal emanation.
Trong giới thực vật, cung hai hoạt động một cách đặc biệt mạnh mẽ, tạo ra – bên cạnh nhiều điều khác – sức hấp dẫn từ tính [45] của các loài hoa. Sự huyền nhiệm của cung hai được ẩn giấu trong thâm nghĩa của hương thơm nơi hoa cỏ. Hương thơm và radium có liên hệ với nhau, vì cả hai đều là những biểu hiện mang tính phát xạ của các hiệu ứng cung tác động lên những tổ hợp khác nhau của chất liệu vật chất. Cung ba, đến lượt nó, lại có mối liên hệ đặc thù với giới động vật, tạo nên khuynh hướng hoạt động có trí tuệ mà chúng ta ghi nhận nơi các loài thú nuôi bậc cao. Sự tương ứng với tính phóng xạ và hương thơm phát xạ mà chúng ta thấy trong giới kim thạch và giới thực vật, ở đây được gọi là sự tận tụy—đặc trưng của sự tương tác mang tính hấp dẫn giữa các loài thú nuôi và con người. Những người tận tụy với các phàm ngã có lẽ sẽ chuyển hoá sự tận tụy ấy sang tương ứng cao hơn của nó—tình yêu đối với các nguyên lý—một cách nhanh chóng hơn, nếu họ nhận ra rằng họ chỉ đang phô bày một sự phát xạ thuộc động vật.
The desire of the Deity expresses itself through the second Ray of Love-Wisdom. Desire is a word which has been prostituted to cover the tendency of humanity to crave material things or those pleasures which bring satisfaction to the sensuous nature. It is applied to those conditions which will satisfy the personality, but in the last analysis, desire is essentially love. This desire expresses itself by attractiveness, by its capacity to draw to itself and into the radius of its influence that which is loved. It is the bond of coherence, and is that principle of magnetic cohesion which lies behind all creative work and which produces the emergence into the light of manifestation of those forms or appearances through which it is possible to satisfy desire. This second ray is pre-eminently the ray of applied consciousness, and works through the creation and development of those forms which are found throughout the universe. They are essentially mechanisms for the development of responsiveness or awareness; they are sensitive machines, responsive to an enveloping environment. This is true of all [46] forms, from that of a crystal to that of a solar system. They have been created in the great process of satisfying desire and of providing the media of contact which will guarantee a progressive satisfaction. In the human family, the effect of this dual interplay of Life (desiring satisfaction) and of form (providing the field of experience) is a consciousness which is striving towards a love of the formless instead of desire for form, and the wise adaptation of all experience to the process of transmuting desire into love. Hence this ray is, par excellence, the dual ray of the solar Logos Himself, and hence colours all manifested forms, directing all consciousness in all forms in all kingdoms of nature, and in all fields of development; it carries the life through the range of forms in that basic search or urge for the attainment of bliss through the satisfaction of desire. This urge and the interaction of the pairs of opposites produced the varying types of conscious reaction to experience which, in their main stages, we call consciousness, animal consciousness, and allied differentiating phrases.
Khao khát của Thượng đế biểu lộ chính Ngài qua cung hai của Bác Ái–Minh Triết. “Khao khát” là một từ đã bị lạm dụng để chỉ khuynh hướng của nhân loại ham muốn các sự vật vật chất hoặc những khoái cảm đem lại sự thoả mãn cho bản chất cảm giác. Nó được áp dụng cho những trạng thái có thể làm thỏa mãn phàm ngã, nhưng, xét đến cùng, khao khát vốn dĩ là tình thương. Khao khát này tự biểu hiện qua sức hấp dẫn, qua khả năng tự lôi kéo về mình và vào trong phạm vi ảnh hưởng của mình cái được thương yêu. Nó là mối dây kết dính, là nguyên lý liên kết từ tính nằm phía sau mọi công trình sáng tạo và tạo ra sự xuất hiện trong ánh sáng của biểu lộ những hình tướng hay những hiện tướng mà qua đó có thể thỏa mãn khao khát. Cung hai này trước hết là cung của tâm thức được vận dụng, và hoạt động thông qua sự tạo lập và phát triển các hình tướng được tìm thấy khắp vũ trụ. Chúng vốn là những cơ chế phục vụ cho sự phát triển của khả năng đáp ứng hay nhận biết; chúng là những cỗ máy nhạy cảm, biết đáp ứng với môi trường bao quanh. Điều này đúng với mọi [46] hình tướng, từ một tinh thể cho đến một hệ mặt trời. Chúng đã được tạo dựng trong tiến trình vĩ đại nhằm thỏa mãn khao khát và cung cấp các môi giới tiếp xúc, bảo đảm sự thỏa mãn ngày càng tăng. Trong nhân loại, hệ quả của sự tương tác kép giữa Sự Sống (khao khát sự thỏa mãn) và hình tướng (cung cấp trường kinh nghiệm) là một tâm thức đang nỗ lực hướng đến tình yêu đối với cái vô hình dạng thay vì ước muốn hình tướng, cùng với sự thích ứng minh triết mọi kinh nghiệm vào tiến trình chuyển hóa khao khát thành tình thương. Vì vậy, cung này, trên tất cả, là cung kép của chính Thái dương Thượng đế, và vì thế nhuộm màu mọi hình tướng biểu lộ, dẫn dắt mọi tâm thức trong mọi hình tướng thuộc mọi giới trong thiên nhiên và trong mọi trường phát triển; nó mang sự sống đi qua mọi cấp độ hình tướng trong cuộc kiếm tìm căn bản hay thúc đẩy bẩm sinh nhằm đạt tới an lạc thông qua sự thỏa mãn khao khát. Chính sự thúc đẩy này và sự tương tác của hai cực đối nghịch đã tạo ra những loại phản ứng có ý thức khác nhau đối với kinh nghiệm, mà trong những giai đoạn chính của chúng, chúng ta gọi là tâm thức, tâm thức động vật, và những cách diễn đạt phân biệt có liên quan.
This second ray is the ray of Deity Itself, and is coloured by distinctive aspects of desire or love. They produce the totality of the manifested appearances, animated by the Life Which determines the quality. The Father, Spirit or Life, wills to seek the satisfaction of desire. The Mother or matter meets the desire and is attracted also by the Father. Their mutual response initiates the creative work, and the Son is born, inheriting from the Father the urge to desire or love, and from the Mother the tendency actively to create forms. Thus, in the language of symbolism, have the form worlds come into being, and through the evolutionary work the process is going forward of satisfying the desire of spirit. Thus in the two major rays of Will and Love we have the two main characteristics of the divine nature, which lie latent behind all the [47] myriad of forms. The aeons will see these two energies steadily dominating all appearance and driving the created world on to a full display of the divine nature. This is true of gods and men.
Cung hai này là cung của Chính Thượng đế, và được tô màu bởi các phương diện đặc biệt của khao khát hay tình thương. Chúng tạo ra tổng thể các vẻ bề ngoài biểu hiện, được hoạt hóa bởi Sự Sống Vốn xác định phẩm tính. Cha, Tinh thần hay Sự Sống, chủ định tìm kiếm sự thỏa mãn khao khát. Mẹ hay vật chất đáp ứng khao khát và cũng bị thu hút bởi Cha. Sự phản hồi lẫn nhau của họ khởi đầu công việc sáng tạo, và Người Con được sinh ra, thừa hưởng từ Cha sự thôi thúc khao khát hay yêu thương, và từ Mẹ khuynh hướng tích cực tạo ra các hình tướng. Do đó, theo ngôn ngữ của biểu tượng, các thế giới hình tướng đã ra đời, và thông qua công việc tiến hóa, quá trình thỏa mãn khao khát của tinh thần đang tiến triển. Do đó, trong hai cung chính của Ý Chí và Tình Thương, chúng ta có hai đặc điểm chính của bản chất thiêng liêng, nằm tiềm tàng đằng sau tất cả [47] vô số các hình tướng. Vô vàn thời đại sẽ thấy hai năng lượng này dần dần thống trị mọi vẻ bề ngoài và thúc đẩy thế giới được tạo tác tiến tới sự hiển thị đầy đủ của bản chất thiêng liêng. Điều này đúng với các Thượng đế và con người.
But in the same way in which the Father contributes to the Son the divine qualities of will and love, so the Mother contributes much also, and the initial duality is increased and the qualities are enhanced by the addition of a quality inherent in matter itself,—the quality or Ray of Intelligent Activity. This is the third of the divine attributes and completes, if I may so express it, the equipment of the appearing forms, and predisposes all creation to an intelligent appreciation of the true goal of desire and to an intelligent use of the technique of form building in order to reveal divine purpose. The Knower (man) is the custodian of that wisdom which will enable him to further the divine plan and bring the will of God to fruition. The field of knowledge is so constituted that it vibrates with intelligent response to the slowly emerging will. Knowledge itself is that which knows its own ends and works towards those ends through the process of experiment, expectation, experience, examination and exaltation which produces a final exit. Words such as these are synthetic symbols, conveying a cosmic story in terms of constructive brevity.
Nhưng cũng giống như cách Người Cha đóng góp cho Người Con các phẩm tính thiêng liêng của ý chí và tình thương, Người Mẹ cũng đóng góp rất nhiều, và tính nhị nguyên ban đầu được gia tăng và các phẩm tính được nâng cao nhờ sự bổ sung của một phẩm tính vốn có trong chính vật chất,—phẩm tính hay Cung của Trí Tuệ Hoạt Động. Đây là thuộc tính thứ ba của các thuộc tính thiêng liêng và hoàn thiện, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, trang bị của các hình tướng đang xuất hiện, và chuẩn bị sẵn cho mọi tạo vật một sự đánh giá thông tuệ về mục tiêu thực sự của khao khát và một sự sử dụng thông tuệ kỹ thuật xây dựng hình tướng để tiết lộ mục đích thiêng liêng. Thức Giả (con người) là người trông coi sự minh triết đó vốn sẽ cho phép y thúc đẩy thiên cơ và mang ý chí của Thượng đế đến kết quả. Lĩnh vực tri thức được cấu tạo sao cho nó rung động với sự phản hồi thông tuệ đối với ý chí đang từ từ xuất lộ. Bản thân tri thức là cái biết được mục đích của chính nó và làm việc hướng tới những mục đích đó thông qua quá trình thử nghiệm, mong đợi, kinh nghiệm, kiểm tra và tôn vinh vốn tạo ra một lối ra cuối cùng. Những từ ngữ như thế này là những biểu tượng tổng hợp, truyền tải một câu chuyện vũ trụ dưới dạng sự ngắn gọn mang tính xây dựng.
Thus the three rays of Will, Love and Intelligence produce appearance, donate quality and, through the life principle which is the underlying aspect of unity, ensure continuity of growth until such time as the will of God has evidenced itself as power, has attracted to itself the desired, has with wisdom utilised the experience of a gradually growing satisfaction, and has intelligently applied the gain of experience to the production of forms more sensitive, more beautiful and more fully expressive of the quality of the life.[48] Each of these rays is dual in time and space, though only the second ray is dual when they are regarded from the standpoint of the final abstraction. In their temporary duality can be seen, for each of them, the interplay which we call cause and effect.
Do đó, ba cung của Ý Chí, Tình Thương và Trí Tuệ tạo ra vẻ bề ngoài, ban tặng phẩm tính và, thông qua nguyên khí sự sống vốn là phương diện cơ bản của sự thống nhất, đảm bảo sự liên tục của sự phát triển cho đến khi ý chí của Thượng đế tự chứng tỏ là quyền năng, đã thu hút về mình điều được khao khát, đã sử dụng với sự minh triết kinh nghiệm của một sự thỏa mãn ngày càng tăng, và đã áp dụng một cách thông tuệ cái đạt được của kinh nghiệm vào việc tạo ra các hình tướng nhạy cảm hơn, đẹp đẽ hơn và biểu đạt đầy đủ hơn phẩm tính của sự sống.[48] Mỗi cung trong số này là nhị nguyên trong thời gian và không gian, mặc dù chỉ có cung hai là nhị nguyên khi chúng được xem xét từ quan điểm của sự trừu tượng hóa cuối cùng. Trong tính nhị nguyên tạm thời của chúng có thể thấy, đối với mỗi cung, sự tương tác mà chúng ta gọi là nguyên nhân và kết quả.
Ray I
Will, dynamically applied, emerges in manifestation as power.
Cung I
Ý Chí, vốn được áp dụng một cách năng động, xuất hiện trong biểu hiện dưới dạng quyền năng.
Ray II
Love, magnetically functioning, produces wisdom.
Cung II
Tình thương/Bác ái, vốn hoạt động bằng từ tính, tạo ra minh triết.
Ray III
Intelligence, potentially found in substance, causes activity.
Cung III
Trí tuệ, vốn tiềm ẩn trong chất liệu, gây ra hoạt động.
The result of the interplay of these three major rays can be seen in the activity of the four minor rays. The Secret Doctrine speaks of the Lords of Knowledge and of Love, and also of the Lords of Ceaseless Devotion. We might, in order more clearly to understand the mystical significance of these names, point out that the dynamic persistent will of the Logos expresses itself through the Lords of Ceaseless Devotion. Here devotion is not the quality to which I referred earlier in this treatise, but is the persistent directed one-pointed will of God, embodied in a Life which is that of the Lord of the first ray. The Lords of Love and of Knowledge are the two great Lives Who embody or ensoul the Love-Wisdom and the creative Intelligence aspects of the two major rays. These three are the sum total of all forms or appearances, the givers of all qualities, and the emerging Life aspect behind the tangible manifestations. They correspond, in the human family, to the three aspects of Personality, Soul and Monad. The Monad is dynamic will or purpose, but remains unrevealed until after the third initiation. The Monad is Life, the sustaining force, a Lord of persevering and ceaseless devotion to the pursuit of a seen and determined objective. The soul is a Lord of love and wisdom, whilst the personality is a Lord of knowledge [49] and of intelligent activity. This use of terms involves the realisation of an achieved goal. It is not true of the present stage as regards expression, for this is the intermediate stage. None are as yet working with full intelligent activity, though some day each will do so. None are as yet manifesting Lords of love, but they sense the ideal and are striving towards its expression. None are as yet Lords of ceaseless will and none realise as yet the plan of the monad nor the true goal towards which all are striving. Some day all will. But potentially every human unit is all these three, and some day the appearances which were called personalities, that mask or veil reality, will fully reveal the qualities of Deity. When that time comes, the purpose for which all creation waits will burst upon the awakened vision, and we shall know the true meaning of bliss, and why the morning stars sang together. Joy is the strong basic note of our particular solar system.
Kết quả của sự tương tác của ba cung chính này có thể được nhìn thấy trong hoạt động của bốn cung phụ. Giáo Lý Bí Nhiệm nói về các Chúa Tể của Tri Thức và của Tình Thương, và cũng về các Chúa Tể của Sự Tận Tụy Không Ngừng. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa thần bí của những cái tên này, chúng ta có thể chỉ ra rằng ý chí kiên trì năng động của Thượng đế tự biểu lộ qua các Chúa Tể của Sự Tận Tụy Không Ngừng. Ở đây sự tận tụy không phải là phẩm tính mà tôi đã đề cập trước đó trong luận thuyết này, mà là ý chí nhất tâm kiên trì được định hướng của Thượng đế, hiện thân trong Sự Sống Duy Nhất vốn là Sự Sống của Chúa Tể cung một. Các Chúa Tể của Tình Thương và của Tri Thức là hai Sự Sống vĩ đại, Những Đấng hiện thân hay phú linh cho các phương diện Bác Ái-Minh Triết và Trí Tuệ sáng tạo của hai cung chính. Ba Đấng này là tổng thể của mọi hình tướng hay vẻ bề ngoài, những người ban tặng mọi phẩm tính, và phương diện Sự Sống đang trỗi dậy đằng sau các biểu hiện hữu hình. Trong gia đình nhân loại, Các Ngài tương ứng với ba phương diện Phàm ngã, Linh hồn và Chân thần. Chân thần là ý chí hay mục đích năng động, nhưng vẫn chưa được tiết lộ cho đến sau cuộc điểm đạo thứ ba. Chân thần là Sự Sống, lực duy trì, một Chúa Tể của sự tận tụy kiên trì và không ngừng nghỉ để theo đuổi một mục tiêu đã thấy và đã xác định. Linh hồn là một Chúa Tể của tình thương và minh triết, trong khi phàm ngã là một Chúa Tể của tri thức [49] và của hoạt động thông tuệ. Việc sử dụng các thuật ngữ này bao hàm sự nhận biết về một mục tiêu đã đạt được. Nó không đúng với giai đoạn hiện tại về mặt biểu hiện, vì đây là giai đoạn trung gian. Chưa có ai đang làm việc với hoạt động thông tuệ trọn vẹn, mặc dù một ngày nào đó mỗi người sẽ làm như vậy. Chưa có ai đang biểu lộ là các Chúa Tể của tình thương, nhưng họ cảm nhận được lý tưởng và đang phấn đấu hướng tới sự biểu hiện của nó. Chưa có ai là các Chúa Tể của ý chí không ngừng và chưa có ai nhận ra kế hoạch của chân thần hay mục tiêu thực sự mà tất cả đang phấn đấu hướng tới. Một ngày nào đó tất cả sẽ làm được. Nhưng về mặt tiềm năng, mọi đơn vị con người đều là cả ba điều này, và một ngày nào đó những vẻ bề ngoài được gọi là phàm ngã, cái mặt nạ hay tấm màn che thực tại đó, sẽ tiết lộ đầy đủ các phẩm tính của Thượng đế. Khi thời điểm đó đến, mục đích mà mọi tạo vật chờ đợi sẽ bùng nổ trước tầm nhìn đã thức tỉnh, và chúng ta sẽ biết ý nghĩa thực sự của phúc lạc, và tại sao các ngôi sao buổi sáng lại cùng nhau ca hát. Niềm vui là âm hưởng cơ bản mạnh mẽ của hệ mặt trời cụ thể của chúng ta.
One of the foundational septenate of rays embodies in itself the principle of harmony, and this fourth Ray of Harmony gives to all forms that which produces beauty and works towards the harmonising of all effects emanating from the world of causes, which is the world of the three major rays. The ray of beauty, of art and harmony is the producer of the quality of organisation through form. It is in the last analysis the ray of mathematical exactitude and is not the ray of the artist, as so many seem to think. The artist is found on all rays, just as is the engineer or the physician, the home-maker or the musician. I want to make this clear, for there is much misunderstanding on this matter.
Một trong bộ bảy cung nền tảng thể hiện trong chính nó nguyên khí hài hòa, và Cung bốn của Hài Hòa này mang lại cho mọi hình tướng cái tạo nên vẻ đẹp và hoạt động hướng tới việc làm hài hòa mọi hiệu quả phát xuất từ thế giới của các nguyên nhân, vốn là thế giới của ba cung chính. Cung của vẻ đẹp, của nghệ thuật và hài hòa là đấng tạo ra phẩm tính của sự tổ chức thông qua hình tướng. Trong phân tích cuối cùng, nó là cung của sự chính xác toán học và không phải là cung của người nghệ sĩ, như rất nhiều người dường như nghĩ. Người nghệ sĩ được tìm thấy trên tất cả các cung, cũng giống như kỹ sư hay bác sĩ, người nội trợ hay nhạc sĩ. Tôi muốn làm rõ điều này, vì có nhiều sự hiểu lầm về vấn đề này.
Each of the great rays has a form of teaching truth to humanity which is its unique contribution, and in this way develops man by a system or technique which is qualified by the ray quality and is therefore specific and unique. Let me point out to you the modes of this group teaching: [50]
Mỗi cung vĩ đại đều có một hình thức dạy chân lý cho nhân loại vốn là sự đóng góp độc đáo của nó, và theo cách này phát triển con người bằng một hệ thống hay kỹ thuật được định tính bởi phẩm tính cung và do đó là cụ thể và độc đáo. Hãy để tôi chỉ ra cho các bạn các phương thức của việc giảng dạy nhóm này: [50]
Ray
Higher Expression
Lower Expression
Cung
Biểu hiện cao hơn
Biểu hiện thấp hơn
I
The science of statesmanship, of government.
Modern diplomacy and politics.
I
Khoa học về chính trị, về cai quản.
Ngoại giao và chính trị hiện đại.
II
The process of initiation as taught by the hierarchy of adepts.
Religion.
II
Tiến trình điểm đạo như được thánh đoàn chân sư giảng dạy.
Tôn giáo.
III
Means of communication or interaction. The radio, telephone, telegraph and the power to travel.
The use and spread of money and gold.
III
Phương tiện truyền thông hoặc tương tác. Radio, điện thoại, điện báo và quyền năng du hành.
Việc sử dụng và lan truyền tiền tệ và vàng.
IV
The Masonic work, based on the formation of the hierarchy, and related to the second ray.
Architectural construction. Modern city planning.
IV
Công việc Hội Tam Điểm, dựa trên sự hình thành thánh đoàn, và liên quan đến cung hai.
Xây dựng kiến trúc. Quy hoạch thành phố hiện đại.
V
The science of the soul. Esoteric psychology.
Modern educational systems and mental science.
V
Khoa học về linh hồn. Tâm Lý Học Nội Môn.
Các hệ thống giáo dục hiện đại và khoa học trí tuệ.
VI
Christianity and diversified religions. (Notice here relation to Ray II.)
Churches and organised religions.
VI
Cơ Đốc giáo và các tôn giáo đa dạng. (Cần lưu ý mối quan hệ với Cung Hai.)
Các nhà thờ và các tôn giáo có tổ chức.
VII
All forms of white magic.
Spiritualism of "phenomena."
VII
Tất cả các hình thức chánh thuật.
Thần linh học của “các hiện tượng.”
The fourth ray is essentially the refiner, the producer of perfection within the form, and the prime manipulator of the energies of God in such a way that the Temple of the Lord is indeed known in its true nature as that which “houses” the Light. Thus the Shekinah will shine forth within the secret place of the Temple in its full glory. Such is the work of the seven Builders. This ray is expressive primarily on the first [51] the formless planes, counting from below upwards, and its true purpose cannot emerge until the soul is awakened and consciousness is adequately recording the known. The planes or manifested spheres of expression are influenced in manifestation in a numerical order:
Cung bốn về cơ bản là đấng tinh luyện, đấng tạo ra sự hoàn hảo bên trong hình tướng, và là người thao túng chính các năng lượng của Thượng đế theo cách mà Thánh Điện của Chúa thực sự được biết đến trong bản chất thật của nó như là cái “chứa đựng” Ánh sáng. Do đó Shekinah sẽ tỏa sáng bên trong nơi bí mật của Thánh Điện với vinh quang trọn vẹn của nó. Đó là công việc của bảy Đấng Kiến Tạo. Cung này biểu hiện chủ yếu trên cõi đầu tiên [51] của các cõi vô sắc tướng, tính từ dưới lên, và mục đích thực sự của nó không thể xuất lộ cho đến khi linh hồn được đánh thức và tâm thức ghi nhận đầy đủ cái đã biết. Các cõi hay các khối cầu biểu hiện được ảnh hưởng trong biểu hiện theo một trật tự số học:
Ray I
Will or Power
Plane of divinity.
Ray II
Love-Wisdom
Plane of the monad.
Ray III
Active Intelligence
Plane of spirit, atma.
Ray IV
Harmony
Plane of the intuition.
Ray V
Concrete Knowledge
Mental Plane.
Ray VI
Devotion, Idealism
Astral Plane.
Ray VII
Ceremonial Order
Physical Plane.
The fifth ray therefore works actively on the plane of the greatest moment to humanity, being, for man, the plane of the soul, and of the higher and the lower mind. It embodies the principle of knowledge, and because of its activity and its close relation to the third Ray of Active Intelligence might be regarded as a ray having a most vital relation to man at this time in particular. It is the ray which—when active, as it was in Lemurian times,—produces individualisation, which is literally the shifting of the evolving life of God into a new sphere of awareness. This particular transference into higher forms of awareness tends, at the beginning, to separativeness.
Do đó, cung năm hoạt động tích cực trên cõi quan trọng nhất đối với nhân loại, vì đối với con người, đó là cõi của linh hồn, và của thượng trí và hạ trí. Nó hiện thân cho nguyên khí tri thức, và vì hoạt động của nó và mối quan hệ chặt chẽ của nó với Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động, nó có thể được coi là một cung có mối quan hệ thiết yếu nhất với con người vào thời điểm cụ thể này. Đó là cung mà—khi hoạt động, như trong thời Lemuria,—tạo ra sự biệt ngã hóa, nghĩa đen là sự chuyển dịch sự sống đang tiến hóa của Thượng đế vào một lãnh vực nhận biết mới. Sự chuyển dịch cụ thể này vào các hình thức nhận biết cao hơn có xu hướng, ngay từ đầu, dẫn đến sự chia rẽ.
The fifth ray has produced what we call science. In science we find a condition which is rare in the extreme. Science is separative in its approach to the differing aspects of the divine manifestation which we call the world of natural phenomena, but it is non-separative in actuality, for there is little warring between the sciences and little competition between scientists. In this the workers in the scientific field differ profoundly from those of the religious. The reason for this is to be found in the fact that the true scientist, being a coordinated personality and working therefore on mental levels, works very close to the soul. The developed personality produces the [52] clear distinctions of the dominant lower mind, but (if one may use such a symbolic way of expression) the close proximity of the soul negates a separative attitude. The religious man is pre-eminently astral or emotional and works in a more separative manner, particularly in this Piscean age which is passing away. When I say the religious man I refer to the mystic and to the man who senses the beatific vision. I refer not to disciples nor to those who are called initiates, for they add to the mystical vision a trained mental apprehension.
Cung năm đã tạo ra cái mà chúng ta gọi là khoa học. Trong khoa học, chúng ta tìm thấy một điều kiện cực kỳ hiếm hoi. Khoa học có tính chia rẽ trong cách tiếp cận của nó đối với các phương diện khác nhau của biểu hiện thiêng liêng mà chúng ta gọi là thế giới của các hiện tượng tự nhiên, nhưng nó thực tế là không chia rẽ, vì có rất ít sự chiến tranh giữa các ngành khoa học và rất ít sự cạnh tranh giữa các nhà khoa học. Về điểm này, những người làm việc trong lĩnh vực khoa học khác biệt sâu sắc với những người trong lĩnh vực tôn giáo. Lý do cho điều này được tìm thấy trong thực tế là nhà khoa học thực thụ, vốn là một phàm ngã đã được phối kết và do đó làm việc trên các cấp độ trí tuệ, làm việc rất gần với linh hồn. Phàm ngã đã phát triển tạo ra [52] những sự phân biệt rõ ràng của hạ trí vượt trội, nhưng (nếu người ta có thể sử dụng một cách diễn đạt tượng trưng như vậy) sự gần gũi của linh hồn phủ nhận một thái độ chia rẽ. Người tôn giáo chủ yếu thuộc về cảm dục hoặc cảm xúc và làm việc theo một cách chia rẽ hơn, đặc biệt là trong thời đại Song Ngư đang trôi qua. Khi tôi nói người tôn giáo, tôi ám chỉ nhà thần bí và người cảm nhận được linh ảnh phúc lạc. Tôi không ám chỉ các đệ tử hay những người được gọi là điểm đạo đồ, vì họ thêm vào linh ảnh thần bí một sự lĩnh hội trí tuệ đã được rèn luyện.
The sixth Ray of Devotion embodies the principle of recognition. By this I mean the capacity to see the ideal reality lying behind the form; this implies a one-pointed application of desire and of intelligence in order to produce an expression of that sensed idea. It is responsible for much of the formulation of the ideas which have led man on, and for much of the emphasis on the appearance which has veiled and hidden those ideals. It is on this ray primarily—as it cycles in and out of manifestation—that the work of distinguishing between appearance and quality is carried forward, and this work has its field of activity upon the astral plane. The complexity of this subject and the acuteness of the feeling evolved become therefore apparent.
Cung sáu của Sự Sùng Tín hiện thân cho nguyên khí của sự nhận biết. Với điều này, tôi muốn nói đến khả năng nhìn thấy thực tại lý tưởng nằm đằng sau hình tướng; điều này ngụ ý một sự áp dụng nhất tâm của khao khát và của trí tuệ để tạo ra một sự biểu đạt của ý tưởng đã cảm nhận đó. Nó chịu trách nhiệm cho phần lớn sự hình thành các ý tưởng đã dẫn dắt con người tiến lên, và cho phần lớn sự nhấn mạnh vào vẻ bề ngoài vốn đã che giấu và ẩn giấu những lý tưởng đó. Chính chủ yếu trên cung này—khi nó quay vào và ra khỏi biểu hiện—mà công việc phân biệt giữa vẻ bề ngoài và phẩm tính được tiến hành, và công việc này có lĩnh vực hoạt động của nó trên cõi cảm dục. Do đó, sự phức tạp của chủ đề này và sự nhạy bén của cảm xúc được phát triển trở nên rõ ràng.
The seventh Ray of Ceremonial Order or Magic embodies a curious quality which is the outstanding characteristic of the particular Life which ensouls this ray. It is the quality or principle which is the coordinating factor unifying the inner quality and the outer tangible form or appearance. This work goes on primarily on etheric levels and involves physical energy. This is the true magical work. I should like to point out that when the fourth ray and the seventh ray come into incarnation together, we shall have a most peculiar period of revelation and of light-bringing. It is said of this time that then “the temple of the Lord will take on an added glory and the Builders will rejoice together.” This will be the high moment [53] of the Masonic work, spiritually understood. The Lost Word will then be recovered and uttered for all to hear, and the Master will arise and walk among His builders in the full light of the glory which shines from the east.
Cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật hiện thân cho một phẩm tính kỳ lạ vốn là đặc điểm nổi bật của Sự Sống cụ thể phú linh cho cung này. Đó là phẩm tính hay nguyên khí là yếu tố phối hợp hợp nhất phẩm tính bên trong và hình tướng hữu hình hay vẻ bề ngoài bên ngoài. Công việc này diễn ra chủ yếu trên các cấp độ dĩ thái và liên quan đến năng lượng vật lý. Đây là công việc huyền thuật thực sự. Tôi muốn chỉ ra rằng khi cung bốn và cung bảy cùng lâm phàm, chúng ta sẽ có một thời kỳ mặc khải và mang lại ánh sáng kỳ lạ nhất. Người ta nói về thời điểm này rằng khi đó “ngôi đền của Chúa sẽ khoác lên một vinh quang gia tăng và các Đấng Kiến Tạo sẽ cùng nhau vui mừng.” Đây sẽ là thời điểm cao trào [53] của công việc Hội Tam Điểm, được hiểu theo nghĩa tinh thần. Linh Từ Đã Mất sau đó sẽ được phục hồi và thốt ra cho tất cả mọi người cùng nghe, và Chân Sư sẽ trỗi dậy và bước đi giữa các thợ xây của Ngài trong ánh sáng trọn vẹn của vinh quang tỏa sáng từ phương đông.
The spiritualising of forms might be regarded as the main work of the seventh ray, and it is this principle of fusion, of coordination and of blending which is active on etheric levels every time a soul comes into incarnation and a child is born on earth.
Việc tinh thần hóa các hình tướng có thể được coi là công việc chính của cung bảy, và chính nguyên khí dung hợp, phối hợp và hòa quyện này hoạt động trên các cấp độ dĩ thái mỗi khi một linh hồn lâm phàm và một đứa trẻ được sinh ra trên trái đất.
D. The soul is the principle of sentiency, underlying all outer manifestation, pervading all forms, and constituting the consciousness of God Himself. When the soul, immersed in substance, is simply sentiency, it produces through its evolutionary interplay an addition, and we find emerging quality and capacity to react to vibration and to environment. This is the soul as it expresses itself in all the subhuman kingdoms in nature.
D. Linh hồn là nguyên khí của tính thụ cảm, nằm dưới mọi biểu hiện bên ngoài, thâm nhập vào mọi hình tướng, và cấu thành tâm thức của chính Thượng đế. Khi linh hồn, đắm chìm trong chất liệu, chỉ đơn giản là tính thụ cảm, nó tạo ra, thông qua sự tương tác tiến hóa của nó, một sự bổ sung, và chúng ta thấy xuất hiện phẩm tính và năng lực phản ứng với rung động và với môi trường. Đây là linh hồn khi nó tự biểu lộ trong tất cả các giới dưới nhân loại trong tự nhiên.
When the soul, an expression of sentiency and quality, adds to these the capacity of detached self-awareness, there appears that self-identified entity which we call a human being.
Khi linh hồn, một sự biểu đạt của tính thụ cảm và phẩm tính, thêm vào những thứ này năng lực tự nhận biết tách biệt, thì xuất hiện thực thể tự đồng nhất mà chúng ta gọi là một con người.
When the soul adds to sentiency, quality and self-awareness, the consciousness of the group, then we have identification with a ray-group, and there appears the disciple, the initiate and the master.
Khi linh hồn thêm vào tính thụ cảm, phẩm tính và sự tự nhận biết, tâm thức của nhóm, thì chúng ta có sự đồng nhất với một nhóm cung, và xuất hiện đệ tử, điểm đạo đồ và chân sư.
When the soul adds to sentiency, quality, self-awareness and group consciousness, a consciousness of divine synthetic purpose (called by us the Plan), then we have that state of being and knowledge which is distinctive of all upon the Path of Initiation, and includes those graded Lives, from the more advanced disciple up to the planetary Logos Himself.
Khi linh hồn thêm vào tính thụ cảm, phẩm tính, sự tự nhận biết và tâm thức nhóm, một tâm thức về mục đích tổng hợp thiêng liêng (được chúng ta gọi là Thiên Cơ), thì chúng ta có trạng thái hiện hữu và tri thức đặc trưng của tất cả những người trên Con Đường Điểm Đạo, và bao gồm những Sự Sống với thứ bậc, từ người đệ tử tiến bộ hơn cho đến chính Hành Tinh Thượng đế.
But forget not that when we make these distinctions it is nevertheless one Soul that is functioning, acting through vehicles of varying capacities, of differentiated refinements and of greater and lesser limitations, in just the same sense as [54] a man is one identity, working sometimes through a physical body and sometimes through a feeling body or a mental body, and sometimes knowing himself to be the Self—a rare and unusual occurrence for the majority.
Nhưng đừng quên rằng khi chúng ta thực hiện những sự phân biệt này, tuy nhiên đó vẫn chỉ là một Linh Hồn đang hoạt động, hành động thông qua các hiện thể có năng lực khác nhau, có sự tinh tế khác biệt và những giới hạn lớn nhỏ khác nhau, cũng giống như [54] một người là một bản sắc, hoạt động đôi khi thông qua một thể xác và đôi khi thông qua một thể cảm giác hay một thể trí, và đôi khi biết mình là Chân Ngã—một sự kiện hiếm hoi và bất thường đối với đa số.
Every form in manifestation does two things:
Mọi hình tướng trong biểu hiện đều làm hai việc:
1. Appropriates, or is pervaded by, as much of the world soul as its capacity will permit. The atom of substance, the molecule or the cell all have soul, but not in the same degree as has an animal; and an animal has soul, but not in the same degree as has a Master, and so on up or down the scale.
1. Chiếm hữu, hoặc được thâm nhập bởi, nhiều linh hồn thế giới nhất mà khả năng của nó cho phép. Nguyên tử của chất liệu, phân tử hay tế bào đều có linh hồn, nhưng không cùng mức độ như một con vật; và một con vật có linh hồn, nhưng không cùng mức độ như một Chân Sư, và cứ thế đi lên hoặc đi xuống thang bậc.
2. Through the interaction between the indwelling soul and the form, two things occur:
2. Thông qua sự tương tác giữa linh hồn nội trú và hình tướng, hai điều xảy ra:
a. Sentiency and quality are expressed according to the type of body and its point of evolution.
a. Tính thụ cảm và phẩm tính được biểu lộ tùy theo loại thể và điểm tiến hóa của nó.
b. The pervading soul drives the body nature into activity, and forces it forward along the path of development, and thus provides for the soul a field of experience and for the body the opportunity to react to the higher soul impulse. Thus the field of expression is benefited, and the soul masters the technique of contact which is its objective in any particular form.
b. Linh hồn thâm nhập thúc đẩy bản chất cơ thể hoạt động, và buộc nó tiến lên con đường phát triển, và do đó cung cấp cho linh hồn một trường kinh nghiệm và cho cơ thể cơ hội để phản ứng với xung lực linh hồn cao hơn. Do đó, trường biểu đạt được hưởng lợi, và linh hồn làm chủ kỹ thuật tiếp xúc vốn là mục tiêu của nó trong bất kỳ hình tướng cụ thể nào.
The soul therefore, viewed from one angle, is an aspect of the body, for there is a soul in every atom comprising all bodies in all kingdoms in nature. The subtle coherent soul which is the result of the bringing together of spirit and matter exists as an entity apart from the body nature, and constitutes (when separated from the body) the etheric body, the double, as it is sometimes called, or the counterpart of the physical body. This is the sum total of the soul of the atoms constituting the physical body. It is the true form; it is the principle of coherence in every form.
Do đó, linh hồn, nhìn từ một góc độ, là một phương diện của cơ thể, vì có một linh hồn trong mỗi nguyên tử bao gồm tất cả các thể trong tất cả các giới của tự nhiên. Linh hồn gắn kết tinh tế vốn là kết quả của sự kết hợp giữa tinh thần và vật chất tồn tại như một thực thể tách biệt khỏi bản chất cơ thể, và cấu thành (khi tách khỏi bản chất cơ thể) thể dĩ thái, cái bóng, như đôi khi nó được gọi, hay đối phần của thể xác. Đây là tổng thể linh hồn của các nguyên tử cấu thành nên thể xác. Nó là hình tướng thực sự; nó là nguyên khí của sự gắn kết trong mọi hình tướng.
The soul, in relation to the human being, is the mind principle [55] in two capacities, or the mind expressing itself in two ways. These two ways are registered and become part of the organised equipment of the human body when it is adequately refined and sufficiently developed:
Linh hồn, trong mối quan hệ với con người, là nguyên khí trí tuệ [55] trong hai năng lực, hay trí tuệ tự biểu lộ theo hai cách. Hai cách này được ghi nhận và trở thành một phần của trang bị có tổ chức của cơ thể con người khi nó được tinh luyện thỏa đáng và phát triển đầy đủ:
1. The lower concrete mind, the mental body, the “chitta” or mind stuff.
1. Hạ trí cụ thể, thể trí, “chitta” hay chất liệu trí tuệ.
2. The higher spiritual or abstract mind.
2. Thượng trí tinh thần hay trí trừu tượng.
These two aspects of the soul, its two basic qualities, bring into being the human kingdom and enable man to contact both the lower kingdoms in nature and the higher spiritual realities. The first, the quality of mind in its lower manifestation, is owned potentially by every atom in every form in every kingdom in nature. It is a part of the body nature, inherent and potential, and is the basis of brotherhood, of absolute unity, of universal synthesis and divine coherence in manifestation. The other, the higher aspect, is the principle of self-awareness, and when combined with the lower aspect produces the self-consciousness of the human being. When the lower aspect has informed and pervaded the forms in the subhuman kingdoms, and when it has worked upon those forms and their latent sentiency so as to produce adequate refinement and sentiency, the vibration becomes so potent that the higher is attracted and there is a fusion or at-one-ing. This is like a higher recapitulation of the initial union of spirit and matter which brought the world into being. A human soul is thus brought into existence and begins its long career. It is now a differentiated entity.
Hai phương diện này của linh hồn, hai phẩm tính cơ bản của nó, mang lại sự tồn tại cho giới nhân loại và cho phép con người tiếp xúc với cả các giới thấp hơn trong tự nhiên và các thực tại tinh thần cao hơn. Cái thứ nhất, phẩm tính của trí tuệ trong biểu hiện thấp hơn của nó, được sở hữu một cách tiềm tàng bởi mọi nguyên tử trong mọi hình tướng trong mọi giới của tự nhiên. Nó là một phần của bản chất cơ thể, vốn có và tiềm tàng, và là cơ sở của tình huynh đệ, của sự thống nhất tuyệt đối, của sự tổng hợp phổ quát và sự gắn kết thiêng liêng trong biểu hiện. Cái kia, phương diện cao hơn, là nguyên khí của sự tự nhận biết, và khi kết hợp với phương diện thấp hơn tạo ra ngã thức của con người. Khi phương diện thấp hơn đã thấm nhuần và thâm nhập các hình tướng trong các giới dưới nhân loại, và khi nó đã tác động lên các hình tướng đó và tính thụ cảm tiềm tàng của chúng để tạo ra sự tinh luyện và tính thụ cảm thỏa đáng, sự rung động trở nên mạnh mẽ đến nỗi cái cao hơn bị thu hút và có sự dung hợp hay sự hợp nhất. Điều này giống như một sự tóm tắt lại ở mức cao hơn sự kết hợp ban đầu của tinh thần và vật chất đã mang thế giới vào sự hiện hữu. Một linh hồn con người do đó được đưa vào sự tồn tại và bắt đầu sự nghiệp lâu dài của mình. Giờ đây nó là một thực thể được biến phân.
“Soul” also is a word used to express the sum total of the psychic nature—the vital body, the emotional nature and the mind stuff. But it is also more than that, once the human stage is reached. It constitutes the spiritual entity, a conscious psychical being, a son of God, possessing life, quality and appearance— [56] a unique manifestation in time and space of the three expressions of the soul as we have just outlined them:
“Linh hồn” cũng là một từ được sử dụng để diễn tả tổng thể bản chất thông linh—thể sinh lực, bản chất cảm xúc và chất liệu trí tuệ. Nhưng nó cũng còn hơn thế nữa, một khi giai đoạn con người đạt được. Nó cấu thành thực thể tinh thần, một sinh linh thông linh có ý thức, một người con của Thượng đế, sở hữu sự sống, phẩm tính và vẻ bề ngoài— [56] một biểu hiện độc đáo trong thời gian và không gian của ba sự biểu đạt của linh hồn như chúng ta vừa phác thảo chúng:
1. The soul of all the atoms, composing the tangible appearance.
1. Linh hồn của tất cả các nguyên tử, cấu thành vẻ bề ngoài hữu hình.
2. The personal soul or the subtle coherent sum total which we call the Personality, composed of the subtle bodies, etheric or vital, astral or emotional, and the lower mental apparatus. These three vehicles humanity shares with the animal kingdom as regards its possession of vitality, sentiency, and potential mind; with the vegetable kingdom as regards vitality and sentiency; and with the mineral kingdom as regards vitality and potential sentiency.
2. Linh hồn cá nhân hay tổng thể gắn kết tinh tế mà chúng ta gọi là Phàm ngã, bao gồm các thể tinh tế, dĩ thái hay sinh lực, cảm dục hay cảm xúc, và bộ máy hạ trí. Ba hiện thể này nhân loại chia sẻ với giới động vật về mặt sở hữu sinh lực, tính thụ cảm, và trí tuệ tiềm tàng; với giới thực vật về mặt sinh lực và tính thụ cảm; và với giới kim thạch về mặt sinh lực và tính thụ cảm tiềm tàng.
3. The soul is also the spiritual being, or the union of life and quality. When there is the union of the three souls, so called, we have a human being.
3. Linh hồn cũng là sinh linh tinh thần, hay sự kết hợp của sự sống và phẩm tính. Khi có sự kết hợp của ba linh hồn, được gọi như vậy, chúng ta có một con người.
Thus in man you have the blending or fusion of life, quality and appearance, or spirit, soul and body, through the medium of a tangible form.
Do đó trong con người, bạn có sự hòa quyện hay dung hợp của sự sống, phẩm tính và vẻ bề ngoài, hay tinh thần, linh hồn và thể xác, thông qua trung gian của một hình tướng hữu hình.
In the process of differentiation these various aspects have attracted attention, and the underlying synthesis has been overlooked or disregarded. Yet all forms are differentiations of the soul, but that soul is one Soul, when viewed and considered spiritually. When studied from the form side, naught but differentiation and separation can be seen. When studied from the consciousness or sentiency aspect, unity emerges. When the human stage is reached and self-awareness is blended with the sentiency of forms and with the tiny consciousness of the atom, some idea of a possible subjective unity begins dimly to dawn on the thinker’s mind. When the stage of discipleship is reached, a man begins to see himself as a sentient part of a sentient whole, and slowly reacts to the purpose and intent [57] of that whole. He grasps that purpose little by little as he swings consciously into the rhythm of the sum total of which he is a part. When more advanced stages and more rarefied and refined forms are possible, the part is lost in the whole; the rhythm of the whole subjects the individual to a uniform participation in the synthetic purpose, but the realisation of individual self-awareness persists and enriches the individual contribution, which is now intelligently and willingly offered, so that the form not only constitutes an aspect of the sum total (which has always and inevitably been the case, even when unrealised), but the conscious thinking entity knows the fact of the unity of consciousness and of the synthesis of life. Thus we have three things to bear in mind as we read and study:
Trong quá trình biến phân, các phương diện khác nhau này đã thu hút sự chú ý, và sự tổng hợp cơ bản đã bị bỏ qua hoặc coi thường. Tuy nhiên, mọi hình tướng đều là sự biến phân của linh hồn, nhưng linh hồn đó là một Linh Hồn, khi được nhìn và xem xét về mặt tinh thần. Khi nghiên cứu từ phía hình tướng, không gì ngoài sự biến phân và chia rẽ có thể được nhìn thấy. Khi nghiên cứu từ phương diện tâm thức hay tính thụ cảm, sự thống nhất xuất hiện. Khi giai đoạn con người đạt được và sự tự nhận biết được hòa quyện với tính thụ cảm của các hình tướng và với tâm thức nhỏ bé của nguyên tử, một ý tưởng nào đó về một sự thống nhất chủ quan khả dĩ bắt đầu lờ mờ xuất hiện trong tâm trí của người tư duy. Khi giai đoạn đệ tử đạt được, một người bắt đầu thấy mình là một phần có cảm giác của một tổng thể có cảm giác, và từ từ phản ứng với mục đích và ý định [57] của tổng thể đó. Y nắm bắt mục đích đó từng chút một khi y xoay chuyển một cách có ý thức vào nhịp điệu của tổng thể mà y là một phần. Khi các giai đoạn tiến bộ hơn và các hình tướng loãng hơn và tinh tế hơn là khả thi, phần được hòa nhập vào trong toàn thể; nhịp điệu của toàn thể buộc cá nhân phải tham gia thống nhất vào mục đích tổng hợp, nhưng sự chứng nghiệm về tự nhận biết cá nhân vẫn tồn tại và làm phong phú thêm sự đóng góp của cá nhân, vốn giờ đây được dâng hiến một cách thông tuệ và tự nguyện, để hình tướng không chỉ cấu thành một phương diện của tổng thể (vốn luôn luôn và chắc chắn là trường hợp, ngay cả khi chưa được nhận ra), mà thực thể tư duy có ý thức biết được sự thật về sự thống nhất của tâm thức và về sự tổng hợp của sự sống. Vì vậy, chúng ta có ba điều cần ghi nhớ khi đọc và nghiên cứu:
1. The synthesis of life.......... spirit.
1. Sự tổng hợp của sự sống.......... tinh thần.
2. The unity of consciousness.....soul.
2. Sự thống nhất của tâm thức.....linh hồn.
3. The integration of forms.......body.
3. Sự tích hợp của các hình tướng.......thể xác.
These three always have been at-one, but the human consciousness has not known it. It is the realisation of these three factors and their integration into the technique of living which is, for man, the objective of his entire evolutionary experience.
Ba điều này luôn luôn là hợp nhất, nhưng tâm thức con người đã không biết điều đó. Chính sự chứng nghiệm về ba yếu tố này và sự tích hợp của chúng vào kỹ thuật sống là mục tiêu, đối với con người, của toàn bộ kinh nghiệm tiến hóa của y.
Let us, talking necessarily in symbols, consider the universal Soul, or the consciousness of the Logos Who brought our universe into being. Let us regard the Deity as pervading the form of His solar system with life, and as being conscious of His work, of His project and His goal. This solar system is an appearance, but God remains transcendent. Within all forms God is immanent, yet persists aloof and withdrawn. Just as a thinking, intelligent human being functions through his body but dwells primarily in his mental consciousness or in his emotional processes, so God dwells withdrawn in His mind nature; the world that He has created and pervaded with His life, goes forward towards the goal for which He has [58] created it. Within, however, the radius of His appearing form, greater activities are going forward; varying states of consciousness and stages of awareness are to be seen; developing degrees of sentiency emerge, and even in the symbolism of the human form we have such differing states of sentiency as are registered by the hair, by the internal organisms in the body, by the nervous system, by the brain, and by the entity we call the self (who registers emotion and thought). In the same way does the Deity, within the solar system, express as wide a divergence of consciousness.
Chúng ta hãy, nói một cách nhất thiết bằng các biểu tượng, xem xét Linh hồn phổ quát, hay tâm thức của Thượng đế, Đấng đã đưa vũ trụ của chúng ta vào sự hiện hữu. Hãy xem Thượng đế như đang thấm nhuần hình tướng của hệ mặt trời của Ngài bằng sự sống, và như đang ý thức về công việc của Ngài, về dự án của Ngài và mục tiêu của Ngài. Hệ mặt trời này là một vẻ bề ngoài, nhưng Thượng đế vẫn siêu việt. Bên trong mọi hình tướng, Thượng đế là nội tại, nhưng vẫn tồn tại tách biệt và rút lui. Cũng giống như một con người tư duy, thông tuệ hoạt động thông qua cơ thể của mình nhưng cư ngụ chủ yếu trong tâm thức trí tuệ hoặc trong các quá trình cảm xúc của mình, thì Thượng đế cũng cư ngụ rút lui trong bản chất tâm trí của Ngài; thế giới mà Ngài đã tạo ra và thấm nhuần sự sống của Ngài, tiến về phía trước hướng tới mục tiêu mà Ngài đã [58] tạo ra nó. Tuy nhiên, trong bán kính của hình tướng đang xuất hiện của Ngài, các hoạt động lớn hơn đang diễn ra; các trạng thái tâm thức và các giai đoạn nhận biết khác nhau được nhìn thấy; các mức độ phát triển của tính thụ cảm xuất hiện, và ngay cả trong biểu tượng của hình tướng con người, chúng ta cũng có những trạng thái thụ cảm khác nhau như được ghi nhận bởi tóc, bởi các cơ quan nội tạng trong cơ thể, bởi hệ thần kinh, bởi bộ não, và bởi thực thể mà chúng ta gọi là cái tôi (người ghi nhận cảm xúc và tư tưởng). Cũng theo cách tương tự, Thượng đế, bên trong hệ mặt trời, biểu lộ một sự khác biệt rộng lớn về tâm thức.
There is a body consciousness; there is a sensory apparatus, registering reaction to the environment; there is a consciousness of moods, of quality, of mental reactions to a world of ideas; there is a higher consciousness of plan and of purpose; there is a consciousness of life.
Có một tâm thức cơ thể; có một bộ máy giác quan, ghi nhận phản ứng với môi trường; có một tâm thức về các tâm trạng, về phẩm tính, về các phản ứng trí tuệ đối với một thế giới của các ý tưởng; có một tâm thức cao hơn về kế hoạch và về mục đích; có một tâm thức về sự sống.
It is interesting to note in connection with the Deity that this sensory response to environment provides the entire basis for astrology and for the effect of the constellations upon the solar system and the interplanetary forces.
Thật thú vị khi lưu ý liên quan đến Thượng đế rằng phản ứng giác quan này đối với môi trường cung cấp toàn bộ cơ sở cho chiêm tinh học và cho hiệu quả của các chòm sao lên hệ mặt trời và các lực liên hành tinh.
We might sum it all up in relation to man as follows:
Chúng ta có thể tóm tắt tất cả trong mối quan hệ với con người như sau:
Man’s form nature reacts in its consciousness to the form nature of Deity. The outer garment of the soul (physical, vital and psychic) is part of the outer garment of God.
Bản chất hình tướng của con người phản ứng trong tâm thức của nó với bản chất hình tướng của Thượng đế. Lớp vỏ bên ngoài của linh hồn (vật lý, sinh lực và thông linh) là một phần của lớp vỏ bên ngoài của Thượng đế.
Man’s self-conscious soul is en rapport with the soul of all things. It is an integral part of the universal Soul, and because of this can become aware of the conscious purpose of Deity; can intelligently cooperate with the will of God, and thus work with the plan of Evolution.
Linh hồn ngã thức của con người giao cảm với linh hồn của vạn vật. Nó là một phần không thể thiếu của Linh hồn phổ quát, và nhờ điều này mà có thể trở nên nhận biết về mục đích có ý thức của Thượng đế; có thể hợp tác một cách thông tuệ với ý chí của Thượng đế, và do đó làm việc với thiên cơ của sự Tiến hóa.
Man’s spirit is one with the life of God and is within him, deep-seated in his soul, as his soul is seated within the body.
Tinh thần của con người là một với sự sống của Thượng đế và ở bên trong y, nằm sâu trong linh hồn y, cũng như linh hồn y nằm trong cơ thể.
This spirit will in some distant time put him en rapport with that aspect of God which is transcendent, and thus each son of God will eventually find his way to that centre—withdrawn [59] and abstracted—where God dwells beyond the confines of the solar system.
Tinh thần này, trong một thời gian xa xôi nào đó, sẽ đưa y vào sự giao cảm với phương diện đó của Thượng đế vốn là siêu việt, và do đó mỗi người con của Thượng đế cuối cùng sẽ tìm được đường đến trung tâm đó—rút lui [59] và trừu tượng—nơi Thượng đế cư ngụ bên ngoài biên giới của hệ mặt trời.
These are words which are formulated in an endeavour to convey an idea of order, of plan, of universal synthesis, of the integration and incorporation of the fragment in the whole, and of the part with the all.
Đây là những từ ngữ được thiết lập trong một nỗ lực để truyền tải một ý tưởng về trật tự, về thiên cơ, về sự tổng hợp phổ quát, về sự tích hợp và sáp nhập của mảnh vụn vào trong cái toàn thể, và của bộ phận với cái tất cả.
Let us endeavour now to answer the second question, remembering as we proceed, that it is not possible for us to do more than enter symbolically into the practical purposes of Deity. As I write for simple aspirants, I cannot convey the truth until such time as their rapport with their own souls is complete, or more complete than is now the case. The effort, however, to grasp that which cannot be expressed in words produces a downpouring of the abstract mind or of the intuition, and this, in its turn, stimulates and develops the brain cells and produces a steady stabilisation of the power to stand in “spiritual being”; then it becomes possible to grasp the inexpressible and to live by its power.
Bây giờ chúng ta hãy cố gắng trả lời câu hỏi thứ hai, ghi nhớ khi chúng ta tiến hành, rằng chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc đi vào các mục đích thực tiễn của Thượng đế một cách tượng trưng. Vì tôi viết cho những người chí nguyện đơn sơ, tôi không thể truyền tải chân lý cho đến khi sự giao cảm của họ với linh hồn của chính họ được trọn vẹn, hoặc trọn vẹn hơn so với hiện nay. Tuy nhiên, nỗ lực để nắm bắt cái không thể diễn tả bằng lời tạo ra một sự tuôn đổ của trí trừu tượng hoặc của trực giác, và điều này, đến lượt nó, kích thích và phát triển các tế bào não và tạo ra sự ổn định đều đặn cho khả năng đứng vững trong “thực thể tinh thần”; khi đó mới có thể nắm bắt được cái không thể diễn tả và sống bằng quyền năng của nó.
Question 2. What are the origin, goal, purpose and plan of the soul?—Câu hỏi 2. Nguồn gốc, mục tiêu, mục đích và kế hoạch của linh hồn là gì?
The seven rays are the sum total of the divine Consciousness, of the universal Mind; They might be regarded as seven intelligent entities through Whom the plan is working out. They embody divine purpose, express the qualities required for the materialising of that purpose, and They create the forms and are the forms through which the divine idea can be carried forward to completion. Symbolically, They may be regarded as constituting the brain of the divine Heavenly Man. They correspond to the ventricles of the brain, to the seven centres within the brain, to the seven centres of force, and to the seven major glands which determine the quality of the physical body. They are the conscious executors of [60] divine purpose; They are the seven Breaths, animating all forms which have been created by Them to carry out the plan.
Bảy cung là tổng thể của Tâm thức thiêng liêng, của Trí Tuệ Vũ Trụ; Các Ngài có thể được coi là bảy thực thể thông tuệ mà qua đó thiên cơ đang được thực hiện. Các Ngài hiện thân cho mục đích thiêng liêng, biểu lộ các phẩm tính cần thiết cho việc vật chất hóa mục đích đó, và Các Ngài tạo ra các hình tướng và là các hình tướng mà qua đó ý tưởng thiêng liêng có thể được đưa đến sự hoàn thành. Về mặt biểu tượng, Các Ngài có thể được coi là cấu thành bộ não của Đấng Thiên Nhân thiêng liêng. Các Ngài tương ứng với các não thất, với bảy trung tâm bên trong bộ não, với bảy trung tâm lực, và với bảy tuyến nội tiết chính xác định phẩm tính của thể xác. Các Ngài là những người thực thi có ý thức của [60] mục đích thiêng liêng; Các Ngài là bảy Hơi Thở, làm sinh động tất cả các hình tướng đã được Các Ngài tạo ra để thực hiện thiên cơ.
It may perhaps be easier to understand the relation of the seven rays to Deity if we remember that man himself (being made in the image of God) is a seven-fold being, capable of seven states of consciousness, expressive of the seven principles or basic qualities which enable him to be aware of the seven planes upon which he is, consciously or unconsciously, functioning. He is a septenate at all times, but his objective is to be consciously aware of all the states of being, to express consciously all the qualities, and to function freely on all the planes.
Có lẽ sẽ dễ hiểu hơn mối quan hệ của bảy cung với Thượng đế nếu chúng ta nhớ rằng bản thân con người (được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế) là một thực thể thất phân, có khả năng có bảy trạng thái tâm thức, biểu lộ bảy nguyên khí hay phẩm tính cơ bản cho phép y nhận biết về bảy cõi mà trên đó y đang hoạt động một cách có ý thức hoặc vô thức,. Y luôn là một bộ bảy, nhưng mục tiêu của y là nhận biết một cách có ý thức về tất cả các trạng thái hiện hữu, biểu lộ một cách có ý thức tất cả các phẩm tính, và hoạt động tự do trên tất cả các cõi.
The seven ray Beings, unlike man, are fully conscious and entirely aware of the purpose and the Plan. They are “ever in deep meditation,” and have reached the point where, through Their advanced stage of development, They are “impelled toward fulfillment.” They are fully self-conscious and group-conscious; They are the sum total of the universal mind; They are “awake and active.” Their goal and Their purpose is such that it is idle for us to speculate about it, for the highest point of achievement for man is the lowest point for Them. These seven Rays, Breaths and Heavenly Men have the task of wrestling with matter in order to subjugate it to divine purpose, and the goal—as far as one can sense it—is to subject the material forms to the play of the life aspect, thus producing those qualities which will carry the will of God to completion. They are therefore the sum total of all the souls within the solar system, and Their activity produces all forms; according to the nature of the form so will be the grade of consciousness. Through the seven rays, the life or spirit aspect flows, cycling through every kingdom in nature and producing thus all states of consciousness in all fields of awareness.
Bảy Thực Thể cung, không giống như con người, hoàn toàn có ý thức và hoàn toàn nhận biết về mục đích và Thiên Cơ. Các Ngài “luôn tham thiền sâu lắng,” và đã đạt đến điểm mà, thông qua giai đoạn phát triển tiến bộ của Các Ngài, Các Ngài được “thúc đẩy hướng tới sự hoàn thành.” Các Ngài hoàn toàn tự ý thức và tâm thức nhóm; Các Ngài là tổng thể của trí tuệ vũ trụ; Các Ngài “tỉnh thức và hoạt động.” Thật vô ích khi chúng ta suy đoán Mục tiêu và mục đích của Các Ngài là như thế nào, vì điểm thành tựu cao nhất đối với con người là điểm thấp nhất đối với Các Ngài. Bảy Cung, Bảy Hơi Thở và Bảy Thiên Nhân này có nhiệm vụ đấu tranh với vật chất để khuất phục nó theo mục đích thiêng liêng, và mục tiêu—theo như người ta có thể cảm nhận—là bắt các hình tướng vật chất phải chịu tác động của phương diện sự sống, do đó tạo ra những phẩm tính sẽ đưa ý chí của Thượng đế đến sự hoàn thành. Do đó, Các Ngài là tổng thể của tất cả các linh hồn trong hệ mặt trời, và hoạt động của Các Ngài tạo ra tất cả các hình tướng; tùy theo bản chất của hình tướng mà cấp độ tâm thức sẽ tương ứng. Thông qua bảy cung, phương diện sự sống hay tinh thần tuôn chảy, luân chuyển qua mọi giới trong tự nhiên và do đó tạo ra mọi trạng thái tâm thức trong mọi lĩnh vực nhận biết.
For the purpose of this treatise students will have to accept [61] the hypothesis that every human being is swept into manifestation on the impulse of some ray, and is coloured by that particular ray quality, which determines the form aspect, indicates the way he should go, and enables him (by the time the third initiation is reached) to have sensed and then to have cooperated with his ray purpose. After the third initiation he begins to sense the synthetic purpose towards which all the seven rays are working; but as this treatise is written for aspirants and disciples, and not for initiates of the third degree, it is needless to speculate upon this ultimate destiny.
Vì mục đích của luận thuyết này, các học viên sẽ phải chấp nhận [61] giả thuyết rằng mọi con người đều bị cuốn vào biểu hiện do xung lực của một cung nào đó, được tô màu bởi phẩm tính cung cụ thể đó, vốn xác định phương diện hình tướng, chỉ ra con đường y nên đi, và cho phép y (vào thời điểm đạt đến cuộc điểm đạo thứ ba) cảm nhận và sau đó hợp tác với mục đích cung của mình. Sau cuộc điểm đạo thứ ba, y bắt đầu cảm nhận được mục đích tổng hợp mà tất cả bảy cung đang hướng tới; nhưng vì luận thuyết này được viết cho những người chí nguyện và đệ tử, chứ không phải cho các điểm đạo đồ bậc ba, nên không cần thiết phải suy đoán về định mệnh tối hậu này.
The human soul is a synthesis of material energy, qualified by intelligent consciousness, plus the spiritual energy which is, in its turn, qualified by one of the seven ray types.
Linh hồn con người là một sự tổng hợp của năng lượng vật chất, được định tính bởi tâm thức thông tuệ, cộng với năng lượng tinh thần mà, đến lượt nó, được định tính bởi một trong bảy loại cung.
Thus the human being emerges, a son of God incarnate in form, with one hand (as the Old Commentary says) holding firmly to the rock of matter and with the other hand plunged into a sea of love. An ancient scripture puts it thus:
Do đó, con người xuất hiện, một người con của Thượng đế hiện thân trong hình tướng, với một tay (như Cổ Luận nói) nắm chặt vào tảng đá của vật chất và tay kia nhúng vào biển tình thương. Một kinh văn cổ xưa diễn đạt như sau:
“When the right hand of the man of matter grasps the flower of life and plucks it for himself, the left hand remains in emptiness.
“Khi bàn tay phải của con người vật chất nắm lấy đóa hoa của sự sống và hái nó cho chính mình, bàn tay trái vẫn trống rỗng.
“When the right hand of the man of matter grasps the golden lotus of the soul, the left descends seeking the flower of life, though he seeks it not for selfish ends.
“Khi bàn tay phải của con người vật chất nắm lấy đóa sen vàng của linh hồn, bàn tay trái hạ xuống tìm kiếm đóa hoa của sự sống, mặc dù y không tìm kiếm nó vì những mục đích ích kỷ.
“When the right hand holds the golden lotus firm and the left hand grasps the flower of life, man finds himself to be the seven-leaved plant which flowers on earth and flowers before the Throne of God.”
“Khi bàn tay phải giữ chặt đóa sen vàng và bàn tay trái nắm lấy đóa hoa của sự sống, con người thấy mình là loài cây bảy lá nở hoa trên trái đất và nở hoa trước Ngai của Thượng đế.”
The purpose of Deity, as it is known to the Creator, is totally unknown to all save the higher initiates. But the purpose of each ray Life may be sensed and defined, subject of course to the limitations of the human mind and to the inadequacy of words. The planned activity of every ray qualifies every form found within its body of manifestation.
Mục đích của Thượng đế, như Đấng Tạo Hóa biết, hoàn toàn không được biết đến đối với tất cả trừ những điểm đạo đồ cao cấp. Nhưng mục đích của mỗi Sự Sống cung có thể được cảm nhận và xác định, tất nhiên là tùy thuộc vào những hạn chế của tâm trí con người và sự không đầy đủ của ngôn từ. Hoạt động được hoạch định của mỗi cung định tính cho mọi hình tướng được tìm thấy trong thể biểu hiện của nó.
We come now to a technical statement which must be accepted for the sake of argument, being incapable of proof. [62] All the Lords of the rays create a body of expression, and thus the seven planets have come into being. These are their major expressions.
Bây giờ chúng ta đến với một tuyên bố kỹ thuật phải được chấp nhận vì mục đích lập luận, vì không thể chứng minh. [62] Tất cả các Chúa Tể của các cung tạo ra một thể biểu đạt, và do đó bảy hành tinh đã ra đời. Đây là những biểu đạt chính của các Ngài.
The Sun (Veiling Vulcan)
Mặt Trời (Che giấu Vulcan)
Jupiter
Sao Mộc
Saturn
Sao Thổ
Mercury
Sao Thủy
Venus
Sao Kim
Mars
Sao Hỏa
The Moon
Mặt Trăng
The energies of these seven Lives however are not confined to their planetary expressions, but sweep around the confines of the solar system just as the life impulses of a human being—his vital forces, his desire impulses, and his mental energies—sweep throughout his body, bringing the various organs into activity and enabling him to carry out his intent, to live his life, and to fulfill the objective for which he created his body of manifestation.
Tuy nhiên, năng lượng của bảy Sự Sống này không giới hạn ở các biểu đạt hành tinh của các Ngài, mà quét quanh biên giới của hệ mặt trời giống như các xung lực sự sống của một con người—các lực sinh khí của y, các xung lực khao khát của y, và các năng lượng trí tuệ của y—quét khắp cơ thể y, đưa các cơ quan khác nhau vào hoạt động và cho phép y thực hiện ý định của mình, sống cuộc đời của mình, và hoàn thành mục tiêu mà vì đó y đã tạo ra thể biểu hiện của mình.
Each of the seven kingdoms in nature reacts to the energy of some particular ray Life. Each of the seven planes similarly reacts; each septenate in nature vibrates to one or another of the initial septenates, for the seven rays establish that process which assigns the limits of influence of all forms. They are that which determines all things, and when I use these words I indicate the necessity of Law. Law is the will of the seven Deities, making its impression upon substance in order to produce a specific intent through the method of the evolutionary process.
Mỗi giới trong bảy giới của tự nhiên phản ứng với năng lượng của một Sự Sống cung cụ thể nào đó. Mỗi cõi trong bảy cõi cũng phản ứng tương tự; mỗi bộ bảy trong tự nhiên rung động với cái này hay cái khác của các bộ bảy ban đầu, vì bảy cung thiết lập quá trình ấn định giới hạn ảnh hưởng của mọi hình tướng. Chúng là cái xác định mọi thứ, và khi tôi sử dụng những từ này, tôi chỉ ra sự cần thiết của Định luật. Định luật là ý chí của bảy vị Thượng đế, tạo ấn tượng của nó lên chất liệu để tạo ra một ý định cụ thể thông qua phương pháp của quá trình tiến hóa.
A. The Three Rays of Aspect—Ba Cung Trạng Thái.
We shall now express the ray purpose in the form of an ancient teaching preserved on leaves that are so old that the writing is slowly fading. I now translate it into modern language though much is lost thereby. [63]
Bây giờ chúng ta sẽ diễn đạt mục đích cung dưới dạng một giáo huấn cổ xưa được bảo tồn trên những chiếc lá cũ đến nỗi chữ viết đang dần phai mờ. Bây giờ tôi dịch nó sang ngôn ngữ hiện đại mặc dù nhiều điều do đó sẽ bị mất đi. [63]
THE FIRST PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH ĐẦU TIÊN CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray I. Will or Power.
Cung I. Ý Chí hay Quyền Năng.
Behind the central sacred sun, hidden within its rays, a form is found. Within that form there glows a point of power which vibrates not as yet but shines as light electric.
Đằng sau mặt trời thiêng liêng trung tâm, ẩn trong các tia của nó, một hình tướng được tìm thấy. Bên trong hình tướng đó rực sáng một điểm quyền năng vốn chưa rung động nhưng chiếu sáng như ánh sáng điện.
Fierce are its rays. It burns all forms, yet touches not the life of God incarnate.
Các tia của nó thật dữ dội. Nó thiêu đốt mọi hình tướng, nhưng không chạm đến sự sống của Thượng đế đang hiện thân.
From the One who is the seven goes forth a word. That word reverberates along the line of fiery essence, and when it sounds within the circle of the human lives it takes the form of affirmation, an uttered fiat or word of power. Thus there is impressed upon the living mold the thought of..... (the hidden, inexpressible ray name.)
Từ Đấng là bảy phát ra một từ. Từ đó vang vọng dọc theo dòng tinh chất lửa, và khi nó vang lên trong vòng tròn của các sự sống con người, nó mang hình thức của sự khẳng định, một mệnh lệnh được thốt ra hay quyền năng từ. Do đó, được in lên khuôn đúc sống động tư tưởng của..... (tên cung ẩn giấu, không thể diễn tả.)
Let dynamic power, electric light, reveal the past, destroy the form that is, and open up the golden door. This door reveals the way which leads towards the centre where dwells the one whose name cannot be heard within the confines of our solar sphere.
Hãy để quyền năng năng động, ánh sáng điện, tiết lộ quá khứ, hủy diệt hình tướng hiện tại, và khai mở cánh cửa vàng. Cánh cửa này tiết lộ con đường dẫn về trung tâm nơi ngự trị của đấng mà tên không thể được nghe thấy trong biên giới của khối cầu thái dương của chúng ta.
His robe of blue veils his eternal purpose, but in the rising and the setting sun his orb of red is seen.
Chiếc áo choàng màu xanh của ngài che giấu mục đích vĩnh cửu của ngài, nhưng trong mặt trời mọc và mặt trời lặn, quả cầu đỏ của ngài được nhìn thấy.
His word is power. His light, electric. The lightning is his symbol. His will is hidden in the counsel of his thought. Nought is revealed.
Lời của ngài là quyền năng. Ánh sáng của ngài, là điện. Tia chớp là biểu tượng của ngài. Ý chí của ngài ẩn trong ý định của tư tưởng ngài. Không gì được tiết lộ.
His power is felt. The sons of men, reacting to his power, send to the utmost bounds of light a question:
Quyền năng của ngài được cảm nhận. Những người con của nhân loại, phản ứng với quyền năng của ngài, gửi đến tận cùng giới hạn của ánh sáng một câu hỏi:
Why this blind power? Why death? Why this decay of forms? Why the negation of the power to hold? Why death, Oh Mighty Son of God?
Tại sao lại là quyền năng mù quáng này? Tại sao lại là cái chết? Tại sao lại là sự tan rả của các hình tướng? Tại sao lại là sự phủ định của quyền năng duy trì? Tại sao lại là cái chết, Ôi Người Con Hùng Mạnh của Thượng đế?
Faintly the answer comes: I hold the keys of life and death. I bind and loose again. I, the Destroyer, am.
Câu trả lời đến một cách nhẹ nhàng: Ta giữ chìa khóa của sự sống và cái chết. Ta buộc chặt và lại thả lỏng. Ta là Kẻ Hủy Diệt.
This ray Lord is not yet in full expression, except as He causes destruction and brings cycles to an end. The Monads of power are much fewer in number than any others. Egos upon the power ray are relatively not so few. They are characterised by a dynamic will, and their power within the human family works out as the force of destruction, but in the last analysis it is a destruction that will produce liberation. We shall see as we continue to study first ray egos and personalities [64] that death and destruction are always to be found in their work, and hence the apparent cruelty and impersonality of their reactions. Form does not count with first ray types; their energy produces death to form, but ushers in great periods of cyclic pralaya; the first ray is the controller of the death drama in all kingdoms—a destruction of forms which brings about release of power and permits “entrance into Light through the gateway of Death.” The intent of the Lord of the first ray is to stand behind His six Brothers, and when They have achieved Their purpose, to shatter the forms which They have built. This He does by passing His power through Their bodies, and Their united effort leads to abstraction and a return to the center whence the initial impulse came. The first ray purpose therefore is to produce death, and some idea of that purpose may be gleaned if we study some of the names by which the ray Lord is called:
Chúa Tể cung này chưa biểu lộ trọn vẹn, ngoại trừ việc Ngài gây ra sự hủy diệt và đưa các chu kỳ đến hồi kết thúc. Các Chân thần quyền năng ít hơn nhiều về số lượng so với bất kỳ loại nào khác. Các Chân ngã trên cung quyền năng tương đối không quá ít. Họ được đặc trưng bởi một ý chí năng động, và quyền năng của họ trong gia đình nhân loại phát huy tác dụng như lực lượng hủy diệt, nhưng trong phân tích cuối cùng, đó là một sự hủy diệt sẽ tạo ra sự giải thoát. Chúng ta sẽ thấy khi tiếp tục nghiên cứu các chân ngã và phàm ngã cung một [64] rằng cái chết và sự hủy diệt luôn được tìm thấy trong công việc của họ, và do đó có sự tàn nhẫn và vô tư dường như trong các phản ứng của họ. Hình tướng không quan trọng đối với các mẫu người cung một; năng lượng của họ tạo ra cái chết cho hình tướng, nhưng khai mở những giai đoạn đại giai kỳ qui nguyên vĩ đại; cung một là người kiểm soát vở kịch cái chết trong tất cả các giới—một sự hủy diệt các hình tướng mang lại sự giải phóng quyền năng và cho phép “bước vào Ánh sáng qua cánh cổng của Cái Chết.” Ý định của Chúa Tể cung một là đứng phía sau sáu Huynh đệ của Ngài, và khi Các Ngài đã đạt được mục đích của mình, thì đập tan các hình tướng mà Các Ngài đã xây dựng. Ngài thực hiện điều này bằng cách truyền quyền năng của mình qua cơ thể của Các Ngài, và nỗ lực thống nhất của Các Ngài dẫn đến sự trừu tượng hóa và sự trở về trung tâm nơi xung lực ban đầu xuất phát. Do đó, mục đích cung một là tạo ra cái chết, và một số ý tưởng về mục đích đó có thể được thu thập nếu chúng ta nghiên cứu một số cái tên mà Chúa Tể cung này được gọi:
The Lord of Death
Chúa Tể của Cái Chết
The Opener of the Door
Đấng Mở Cửa
The Liberator from Form
Đấng Giải Phóng khỏi Hình Tướng
The Great Abstractor
Đấng Trừu Tượng Hóa Vĩ Đại
The Fiery Element, producing shattering
Yếu Tố Lửa, tạo ra sự đập tan
The Crystallizer of the Form
Đấng Làm Kết Tinh Hình Tướng
The Power that touches and withdraws
Quyền Năng chạm vào và rút lui
The Lord of the Burning Ground
Chúa Tể của Vùng Đất Cháy
The Will that breaks into the Garden
Ý Chí đột nhập vào Khu Vườn
The Ravisher of Souls
Kẻ Cướp Đoạt các Linh Hồn
The Finger of God
Ngón Tay của Thượng đế
The Breath that blasts
Hơi Thở làm khô héo
The Lightning which annihilates
Tia Chớp hủy diệt
The Most High
Đấng Tối Cao
The qualities and characteristics of this Lord Who brings release may be gathered from the following six aphorisms which, an ancient legend says, His six Brothers gave to Him, as They begged Him to hold His hand till They had had time to work out Their purposes: [65]
Các phẩm tính và đặc điểm của Chúa Tể Này, Đấng mang lại sự giải phóng, có thể được thu thập từ sáu câu cách ngôn sau đây mà, theo một truyền thuyết cổ xưa, sáu người Anh Em của Ngài đã trao cho Ngài, khi Các Ngài cầu xin Ngài giữ tay lại cho đến khi Các Ngài có thời gian để thực hiện các mục đích của mình: [65]
1. Kill out desire when desire has fulfilled its work. Thou art the one who indicates fulfillment.
1. Diệt trừ ham muốn khi ham muốn đã hoàn thành công việc của nó. Ngươi là kẻ chỉ ra sự hoàn thành.
Quality......clear vision.
Phẩm tính......tầm nhìn rõ ràng.
2. Seek out the gentle way, Oh Lord of Power. Wait for thy brother on the path of Love. He builds the forms that can withstand thy power.
2. Tìm kiếm con đường nhẹ nhàng, Ôi Chúa Tể Quyền Năng. Hãy chờ đợi người anh em của ngươi trên con đường của Tình Thương. Y xây dựng các hình tướng có thể chịu đựng quyền năng của ngươi.
Quality...... dynamic power.
Phẩm tính...... quyền năng năng động.
3. Withhold the hand until the time has come. Then give the gift of death, Oh Opener of the Door.
3. Giữ tay lại cho đến khi thời điểm đến. Sau đó hãy ban tặng món quà của cái chết, Ôi Người Mở Cửa.
Quality......sense of time.
Phẩm tính......ý thức về thời gian.
4. Stand not alone, but with the many join thyself. Thou art the One, the Isolated. Come forth unto thine own.
4. Đừng đứng một mình, mà hãy gia nhập với số đông. Ngươi là Đấng Duy Nhất, Đấng Cô Lập. Hãy đi ra đến với những người của riêng ngươi.
Quality...... solitariness.
Phẩm tính...... sự đơn độc.
5. Lead thine own forth but learn to know thine own. Hate not attachment but see its plan and purpose.
5. Dẫn dắt những người của riêng ngươi đi ra nhưng hãy học cách biết những người của riêng ngươi. Đừng ghét sự luyến ái nhưng hãy thấy kế hoạch và mục đích của nó.
Quality...... detachment.
Phẩm tính...... sự tách biệt.
6. Through thee the life pulsates, the rhythm is imposed. The life is all. Love life in all its forms.
6. Thông qua ngươi, sự sống đập, nhịp điệu được áp đặt. Sự sống là tất cả. Hãy yêu sự sống trong tất cả các hình tướng của nó.
Quality......singleness of purpose.
Phẩm tính......mục đích đơn nhất.
The six qualities enumerated above express the force of this ray as it makes its presence felt in the fourth kingdom in nature. The effects in other kingdoms differ, but we shall confine our attention to the standpoint of humanity. The purpose of the first ray, and its main work, is to produce cessation and the death of all forms in all kingdoms in nature and on all planes. The energy of this ray Lord brings about the death of an ant or of a solar system, of an organisation, a religion, or a government, of a race type or of a planet. His will or purpose works out through the law of periodicity.
Sáu phẩm tính được liệt kê ở trên biểu đạt lực của cung này khi nó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong giới thứ tư của tự nhiên. Các hiệu quả trong các giới khác thì khác nhau, nhưng chúng ta sẽ giới hạn sự chú ý của mình từ quan điểm của nhân loại. Mục đích của cung một, và công việc chính của nó, là tạo ra sự chấm dứt và cái chết của tất cả các hình tướng trong tất cả các giới của tự nhiên và trên tất cả các cõi. Năng lượng của Chúa Tể cung này mang lại cái chết của một con kiến hay của một hệ mặt trời, của một tổ chức, một tôn giáo, hay một chính phủ, của một loại chủng tộc hay của một hành tinh. Ý chí hay mục đích của Ngài phát huy tác dụng thông qua định luật chu kỳ.
THE SECOND PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH THỨ HAI CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray II. Love-Wisdom
Cung II. Bác Ái-Minh Triết
The Word is issuing from the heart of God, emerging from a central point of love. That Word is love itself. Divine desire colours all that life of love. Within the human hierarchy, the affirmation gathers power and sound.
Linh Từ đang phát ra từ trái tim của Thượng đế, xuất lộ từ một điểm trung tâm của tình thương. Linh Từ đó chính là tình thương. Sự khao khát thiêng liêng tô màu tất cả sự sống của tình thương đó. Trong huyền giai nhân loại, sự khẳng định thu thập quyền năng và âm thanh.
The Word in the beginning was. The Word hath dwelt and dwells with God. In Him was light. In Him was life. Within His light we walk. [66]
Linh Từ lúc ban đầu đã hiện hữu. Linh Từ đã ngự và đang ngự với Thượng đế. Trong Ngài là ánh sáng. Trong Ngài là sự sống. Trong ánh sáng của Ngài, chúng ta bước đi. [66]
His symbol is the thunder, the Word that cycles down the ages.
Biểu tượng của Ngài là sấm sét, Linh Từ luân chuyển qua các thời đại.
Some of the names of this ray Lord which convey his purpose are as follows:
Một số tên của Chúa Tể cung này truyền tải mục đích của ngài như sau:
The Displayer of Glory
Đấng Hiển Lộ Vinh Quang
The Lord of Eternal Love
Chúa Tể của Tình Yêu Vĩnh Cửu
The Cosmic Magnet
Nam Châm Vũ Trụ
The Giver of Wisdom
Đấng Ban Tặng Minh Triết
The Radiance in the Form
Sự Tỏa Sáng trong Hình Tướng
The Master Builder
Đấng Đại Kiến Tạo
The Conferrer of Names
Đấng Ban Tên
The Great Geometrician
Nhà Hình Học Vĩ Đại
The One Who hides the Life
Đấng Che Giấu Sự Sống
The Cosmic Mystery
Bí Nhiệm Vũ Trụ
The Light Bringer
Đấng Mang Lại Ánh Sáng
The Son of God Incarnate
Con của Thượng đế Lâm Phàm
The Cosmic Christ
Đức Christ Vũ Trụ
The legend tells us that the six Brothers summarise His qualities in the following aphorisms:
Truyền thuyết cho chúng ta biết rằng sáu Huynh đệ tóm tắt các phẩm tính của Ngài trong các câu cách ngôn sau:
1. Send forth the Word and speak the radiant love of God. Make all men hear.
1. Phát ra Linh Từ và nói lên tình yêu tỏa sáng của Thượng đế. Làm cho tất cả mọi người đều nghe thấy.
Quality......love divine.
Phẩm tính......tình yêu thiêng liêng.
2. Let the glory of the Lord shine forth. Let there be radiant light as well as radiant love.
2. Hãy để vinh quang của Chúa tỏa sáng. Hãy để có ánh sáng tỏa rạng cũng như tình yêu tỏa rạng.
Quality......radiance.
Phẩm tính......sự tỏa rạng.
3. Draw to thyself the object of thy search. Pull forth into the light of day from out the night of time the one thou lovest.
3. Thu hút về phía mình đối tượng tìm kiếm của ngươi. Kéo ra ánh sáng ban ngày từ trong đêm đen của thời gian kẻ mà ngươi yêu thương.
Quality......attraction.
Phẩm tính......sự thu hút.
4. When light and love are shewn forth then let the power within produce the perfect flower. Let the word that heals the form go forth. That secret word that then must be revealed.
4. Khi ánh sáng và tình yêu được hiển lộ thì hãy để quyền năng bên trong tạo ra đóa hoa hoàn hảo. Hãy để lời chữa lành hình tướng vang lên. Từ bí mật đó sau đó phải được tiết lộ.
Quality......the power to save.
Phẩm tính......quyền năng cứu rỗi.
5. Salvation, light, and love, with the magnetic power of God, produce the word of wisdom. Send forth that word, and lead the sons of men from off the path of knowledge on to the path of understanding.
5. Sự cứu rỗi, ánh sáng, và tình yêu, với quyền năng từ tính của Thượng đế, tạo ra lời minh triết. Hãy phát ra lời đó, và dẫn dắt các con của nhân loại từ con đường kiến thức sang con đường thấu hiểu.
Quality......wisdom. [67]
Phẩm tính......minh triết. [67]
6. Within the radius of the love of God, within the circle of the solar system, all forms, all souls, all lives revolve. Let each son of God enter into this wisdom. Reveal to each the Oneness of the many lives.
6. Trong phạm vi tình yêu của Thượng đế, trong vòng tròn của hệ mặt trời, tất cả các hình tướng, tất cả các linh hồn, tất cả các sự sống đều xoay vần. Hãy để mỗi người con của Thượng đế đi vào sự minh triết này. Tiết lộ cho mỗi người sự Nhất Thể của nhiều sự sống.
Quality......expansion or inclusiveness.
Phẩm tính......sự mở rộng hay tính bao gồm.
The third ray, which is one that has a very long cycle, having been in manifestation since A.D. 1425, has a direct effect upon the fifth root race, the Aryan, and has connected with it a set of curious phrases which express its purpose.
Cung ba, vốn là một cung có chu kỳ rất dài, đã ở trong biểu hiện từ năm 1425 sau Công nguyên, có hiệu quả trực tiếp lên giống dân gốc thứ năm, giống dân Arya, và có liên quan với nó một tập hợp các cụm từ kỳ lạ diễn tả mục đích của nó.
THE THIRD PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH THỨ BA CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray III. Active Intelligence or Adaptability
Cung III. Trí Tuệ Hoạt Động hay Khả Năng Thích Nghi
Let the Warden of the South continue with the building.
Hãy để Người Giám Hộ Phương Nam tiếp tục việc xây dựng.
Let him apply the force Which will produce the shining living stone that fits into the temple’s plan with right exactitude. Let him prepare the corner stone and wisely place it in the north, under the eye of God Himself, and subject to the balance of the triangle.
Hãy để Ngài áp dụng lực Vốn sẽ tạo ra viên đá sống động tỏa sáng phù hợp với kế hoạch của ngôi đền với sự chính xác đúng đắn. Hãy để Ngài chuẩn bị viên đá góc và đặt nó một cách khôn ngoan ở phương bắc, dưới con mắt của chính Thượng đế, và chịu sự cân bằng của tam giác.
Let the Researcher of the past uncover the thought of God, hidden deep within the mind of the Kumaras of Love, and thus let him lead the Agnishvattas, waiting within the place of darkness, into the place of light.
Hãy để Nhà Nghiên Cứu quá khứ khám phá tư tưởng của Thượng đế, ẩn sâu trong tâm trí của các Kumaras Tình Thương, và do đó hãy để Ngài dẫn dắt các Agnishvattas, đang chờ đợi trong nơi bóng tối, vào nơi ánh sáng.
Let the Keeper of the sparks breathe with the breath divine upon the points of fire, and let him kindle to a blaze that which is hidden, that which is not seen, and so illumine all the spheres whereon God works.
Hãy để Người Giữ các tia lửa thở bằng hơi thở thiêng liêng lên các điểm lửa, và hãy để Ngài thắp lên thành ngọn lửa cái bị ẩn giấu, cái không được nhìn thấy, và như thế chiếu sáng tất cả các quả cầu nơi Thượng đế làm việc.
I would call attention to the fact that all I can do here is to put into words certain ancient symbols, and so emphasize the process (adopted by the early initiate-teachers) of enunciating a word or sound, which produces a symbolic form, which in its turn, is capable of translation into words. These must in their turn be comprehended intuitively and adapted to individual need, and thus be assimilated into the life practice. Otherwise these ancient and interesting ideas, these interpretative names, and these aphorisms, conveying the “power of qualities”, are worse than useless and serve but to increase responsibility. The capacity to see objective significances and [68] then apply them to life is an expression of the true esoteric sense. If one studies these tabulations and phrases with care, they will be found to convey indication as to one’s individual ray, life tendencies and purpose; if the appeal the various statements make anent a particular ray evoke an intuitive understanding on the part of the student, so that he recognises himself, his ray energy and aspects of his latent and deeply desired spiritual nature, then these communications I am making here as to Purpose, Name and Quality will be profitable and useful.
Tôi muốn lưu ý đến thực tế rằng tất cả những gì tôi có thể làm ở đây là diễn đạt thành lời một số biểu tượng cổ xưa, và vì thế nhấn mạnh quá trình (được các huấn sư-điểm đạo đồ thời kỳ đầu áp dụng) phát âm một từ hoặc âm thanh, tạo ra một hình thức biểu tượng, vốn đến lượt nó, có khả năng dịch sang từ ngữ. Những từ ngữ này đến lượt chúng phải được lĩnh hội bằng trực giác và thích ứng với nhu cầu cá nhân, và do đó được đồng hóa vào thực hành cuộc sống. Nếu không, những ý tưởng cổ xưa và thú vị này, những cái tên diễn giải này, và những câu cách ngôn này, truyền tải “quyền năng của các phẩm tính”, còn tệ hơn là vô dụng và chỉ làm tăng thêm trách nhiệm. Khả năng nhìn thấy những ý nghĩa khách quan và [68] sau đó áp dụng chúng vào cuộc sống là một biểu hiện của giác quan bí truyền thực sự. Nếu một người nghiên cứu các bảng và cụm từ này một cách cẩn thận, chúng sẽ được tìm thấy để truyền tải chỉ dẫn về cung cá nhân, khuynh hướng cuộc sống và mục đích của người đó; nếu sự hấp dẫn mà các tuyên bố khác nhau tạo ra liên quan đến một cung cụ thể gợi lên một sự thấu hiểu trực giác từ phía người học viên, để y nhận ra chính mình, năng lượng cung của mình và các phương diện của bản chất tinh thần tiềm ẩn và khao khát sâu sắc của mình, thì những thông tin liên lạc mà tôi đang thực hiện ở đây về Mục Đích, Tên và Phẩm Tính sẽ có lợi và hữu ích.
Some of the names of the Lord of the third ray indicate His use of force and His real nature. They are as follows:
Một số tên của Chúa Tể cung ba chỉ ra việc sử dụng mãnh lực của Ngài và bản chất thực sự của Ngài. Chúng như sau:
The Keeper of the Records.
Người Giữ các Hồ Sơ.
The Lord of Memory
Chúa Tể của Ký Ức
The Unifier of the lower Four
Đấng Thống Nhất Bốn cái thấp hơn
The Interpreter of That Which is seen
Người Diễn Giải Cái được nhìn thấy
The Lord of Balance
Chúa Tể của Sự Cân Bằng
The Divine Separator
Đấng Phân Chia Thiêng Liêng
The Discriminating Essential Life
Sự Sống Cốt Yếu Phân Biện
The One Who produces Alliance
Đấng tạo ra Liên Minh
The Three-sided Triangle
Tam Giác Ba Cạnh
The Illuminator of the Lotus
Đấng Soi Sáng Hoa Sen
The Builder of the Foundation
Đấng Xây Dựng Nền Móng
The Forerunner of the Light
Đấng Tiên Phong của Ánh Sáng
The One Who veils and yet reveals
Đấng che giấu nhưng lại tiết lộ
The Dispenser of Time
Đấng Phân Phối Thời Gian
The Lord of Space
Chúa Tể của Không Gian
The Universal Mind
Vũ Trụ Trí
The Threefold Wick
Bấc Đèn Tam Phân
The Great Architect of the Universe
Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ Trụ
and many others terms which indicate relation to light, to time, to space, to the manifested Logos, to matter and to the “power which evokes the form.”
và nhiều thuật ngữ khác chỉ ra mối quan hệ với ánh sáng, với thời gian, với không gian, với Thượng đế biểu lộ, với vật chất và với “quyền năng gợi lên hình tướng.”
If all these names are studied in connection with modern developments or modern culture and science, it will become apparent how potent and influential in our day and time is [69] this particular ray Life, and how His energies (having produced the tangible objective worlds) are turned to the manifestation of our modern civilisation, with its material emphasis, its search as to the nature of time and space, and that mental unfoldment which it is the glory and the destiny of our particular race to demonstrate.
Nếu tất cả những cái tên này được nghiên cứu trong mối liên hệ với các sự phát triển hiện đại hoặc văn hóa và khoa học hiện đại, điều sẽ trở nên rõ ràng là [69] Sự Sống cung cụ thể này mạnh mẽ và có ảnh hưởng như thế nào trong ngày và thời đại của chúng ta, và năng lượng của Ngài (đã tạo ra các thế giới khách quan hữu hình) được chuyển hướng sang sự biểu hiện của nền văn minh hiện đại của chúng ta như thế nào, với sự nhấn mạnh vật chất của nó, sự tìm kiếm của nó về bản chất của thời gian và không gian, và sự mở rộng trí tuệ mà đó là vinh quang và định mệnh của giống dân cụ thể của chúng ta để chứng minh.
The qualities which characterise this ray Lord might be enumerated in the following phrases. We must bear in mind that the seventh or synthetic characteristic of each of the rays is denoted by the ray name and is not specifically stated in the other six qualities. His six Brothers, Sons of the one Father, chanted these injunctions to Him on the day of His renewed activity (on what we call the day of creation):
Các phẩm tính đặc trưng cho Chúa Tể cung này có thể được liệt kê trong các cụm từ sau. Chúng ta phải ghi nhớ rằng đặc điểm thứ bảy hoặc tổng hợp của mỗi cung được biểu thị bằng tên cung và không được nêu cụ thể trong sáu phẩm tính kia. Sáu Huynh đệ của Ngài, Những Người Con của một Cha, đã tụng những lời giáo huấn này cho Ngài vào ngày hoạt động đổi mới của Ngài (vào cái mà chúng ta gọi là ngày sáng tạo):
1. Produce the dual form and veil the life. Let form appear, and prove itself divine. All is of God.
1. Tạo ra hình tướng kép và che giấu sự sống. Hãy để hình tướng xuất hiện, và chứng minh chính nó là thiêng liêng. Tất cả là của Thượng đế.
Quality......the power to manifest.
Phẩm tính......quyền năng biểu lộ.
2. Conform the shell to that which dwells within. Let the world egg appear. Let ages pass, then let the soul appear. Let life emerge within a destined time.
2. Làm cho vỏ bọc phù hợp với cái cư ngụ bên trong. Hãy để quả trứng thế giới xuất hiện. Hãy để các thời đại trôi qua, sau đó hãy để linh hồn xuất hiện. Hãy để sự sống xuất lộ trong một thời gian định mệnh.
Quality......the power to evolve.
Phẩm tính......quyền năng tiến hóa.
3. Let mind control. Let the clear shining of the sun of life reveal the mind of God, and set the shining one upon his way. Then lead him to the central point where all is lost within the light supernal.
3. Hãy để tâm trí kiểm soát. Hãy để sự chiếu sáng rõ ràng của mặt trời sự sống tiết lộ tâm trí của Thượng đế, và đặt đấng tỏa sáng lên con đường của mình. Sau đó dẫn y đến điểm trung tâm nơi tất cả bị mất trong ánh sáng thiên thượng.
Quality......mental illumination.
Phẩm tính......sự soi sáng trí tuệ.
4. God and His form are one. Reveal this fact, Oh sovereign Lord of form. God and His form are one. Negate the dual concept. Lend colour to the form. The life is one; the harmony complete. Prove thus the two are one.
4. Thượng đế và hình tướng của Ngài là một. Tiết lộ sự thật này, Ôi Chúa Tể tối cao của hình tướng. Thượng đế và hình tướng của Ngài là một. Phủ định khái niệm nhị nguyên. Cho mượn màu sắc cho hình tướng. Sự sống là một; sự hài hòa trọn vẹn. Chứng minh như thế hai là một.
Quality...... the power to produce synthesis on the physical plane.
Phẩm tính...... quyền năng tạo ra sự tổng hợp trên cõi trần.
5. Produce the garment of the Lord; set forth the robe of many colours. Then separate that robe from That Which hides behind its many folds. Take off the veiling sheaths. Let God be seen. Take Christ from off the cross.
5. Tạo ra trang phục của Chúa; bày ra chiếc áo choàng nhiều màu. Sau đó tách chiếc áo choàng đó khỏi Cái ẩn đằng sau nhiều nếp gấp của nó. Cởi bỏ các lớp vỏ che giấu. Hãy để Thượng đế được nhìn thấy. Đưa Đức Christ ra khỏi thập giá.
Quality......scientific investigation.
Phẩm tính......nghiên cứu khoa học.
6. Let the two paths converge. Balance the pairs of opposites [70] and let the path appear between the two. God and the Path and man are one.
6. Hãy để hai con đường hội tụ. Cân bằng các cặp đối lập [70] và hãy để con đường xuất hiện giữa hai cái đó. Thượng đế và Con Đường và con người là một.
Quality......balance.
Phẩm tính......sự cân bằng.
Thus the three major rays sum up in themselves the process of creation, of energising, through the urge of the divine will; and the work of the four minor rays (as they are called, though with no idea of there being lesser or greater) is to elaborate or differentiate the qualities of the life, and so produce the infinite multiplicity of forms which will enable the life to assume its many points of focus and express—through the process of evolutionary manifestation—its diverse characteristics.
Do đó, ba cung chính tóm tắt trong chính chúng quá trình sáng tạo, cung cấp năng lượng, thông qua sự thúc đẩy của ý chí thiêng liêng; và công việc của bốn cung phụ (như chúng được gọi, mặc dù không có ý tưởng về việc có cái nhỏ hơn hay lớn hơn) là trau chuốt hoặc biến phân các phẩm tính của sự sống, và do đó tạo ra vô số hình tướng sẽ cho phép sự sống đảm nhận nhiều điểm tập trung của nó và biểu lộ—thông qua quá trình biểu hiện tiến hóa—các đặc điểm đa dạng của nó.
B. The Four Rays of Attribute—Bốn Cung Thuộc Tính.
THE FOURTH PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH THỨ TƯ CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray IV. Harmony, Beauty, Art
Cung IV. Hài Hòa, Mỹ Lệ, Nghệ Thuật
Colour, and yet no colour now is seen. Sound and the soundless One meet in an infinite point of peace. Time and the timeless One negate the thoughts of men. But time is not.
Màu sắc, và tuy nhiên không màu sắc nào được nhìn thấy lúc này. Âm thanh và Đấng vô thanh gặp nhau trong một điểm an bình vô hạn. Thời gian và Đấng vô thời gian phủ định những suy nghĩ của con người. Nhưng thời gian không tồn tại.
Form is there found, and yet the psychic sense reveals that which the form is powerless to hide,—the inner synthesis, the all-embracing prism, that point of unity which—when it is duly reached—reveals a further point where all the three are one, and not the two alone.
Hình tướng được tìm thấy ở đó, và tuy nhiên giác quan thông linh tiết lộ cái mà hình tướng không có khả năng che giấu,—sự tổng hợp bên trong, lăng kính bao trùm tất cả, điểm thống nhất mà—khi nó được đạt tới một cách đúng đắn—tiết lộ một điểm xa hơn nơi tất cả ba là một, và không chỉ hai.
Form and its soul are merged. The inner vision watches o’er the fusion, knows the divine relation and sees the two as one. But from that point of high attainment, a higher vision blazes forth before the opened inner eye. The three are one, and not alone the two. Pass on, O pilgrim on the Way.
Hình tướng và linh hồn của nó được hòa nhập. Tầm nhìn bên trong quan sát sự dung hợp, biết mối quan hệ thiêng liêng và thấy hai như là một. Nhưng từ điểm thành tựu cao đó, một tầm nhìn cao hơn rực sáng trước con mắt bên trong đã mở. Ba là một, và không chỉ hai. Hãy đi tiếp, hỡi người hành hương trên Đường Đạo.
In reading these words, the student must bear in mind that the antechamber has been left behind and man stands (when he has allowed the fourth ray to do its work and can therefore function on the fourth or buddhic plane) within the temple of the Lord. He has found a measure of light, but in that light he now sees light, and visions a greater revelation and brilliance. This now becomes the object of his search. [71] He has mastered the uses of duality and has learnt to at-one soul and body into one instrument for spirit. Now he passes on his way to achieve the greater synthesis.
Khi đọc những lời này, học viên phải ghi nhớ rằng tiền sảnh đã bị bỏ lại phía sau và con người đứng (khi y đã cho phép cung bốn thực hiện công việc của nó và do đó có thể hoạt động trên cõi thứ tư hay cõi bồ đề) bên trong Thánh Điện của Chúa. Y đã tìm thấy một mức độ ánh sáng, nhưng trong ánh sáng đó, giờ đây y thấy ánh sáng, và hình dung một sự mặc khải và rực rỡ lớn hơn. Điều này giờ đây trở thành đối tượng tìm kiếm của y. [71] Y đã làm chủ việc sử dụng nhị nguyên và đã học cách hợp nhất linh hồn và thể xác thành một công cụ cho tinh thần. Bây giờ y tiếp tục con đường của mình để đạt được sự tổng hợp lớn hơn.
The Lord of the fourth ray has many names which warrant careful study and much consideration. In less than a hundred years this Lord of harmonising power will have more influence and will offset some of the Saturn disruption of the first decanate of Aquarius. In the meantime a study of His names will produce a simplification of His efforts and build up a body of constructive thought which will facilitate His work when He is again in active manifestation. He is always, however, more or less in power where the human family is concerned, for there is a numerical alliance between the fourth ray, the fourth Creative Hierarchy, or the human monads, and the fourth kingdom in nature. His power is always consequently active.
Chúa Tể của cung bốn có nhiều tên gọi đáng để nghiên cứu cẩn thận và suy ngẫm nhiều. Trong vòng chưa đầy một trăm năm nữa, Chúa Tể của quyền năng hài hòa này sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn và sẽ hóa giải một số sự phá vỡ của Sao Thổ trong thập độ đầu tiên của Bảo Bình. Trong khi chờ đợi, một nghiên cứu về các tên của Ngài sẽ tạo ra một sự đơn giản hóa các nỗ lực của Ngài và xây dựng một thể tư tưởng mang tính xây dựng sẽ tạo điều kiện cho công việc của Ngài khi Ngài trở lại biểu hiện tích cực. Tuy nhiên, Ngài luôn ít nhiều nắm quyền ở nơi liên quan đến gia đình nhân loại, vì có một liên kết số học giữa cung bốn, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hay các chân thần con người, và giới thứ tư trong tự nhiên. Do đó, quyền năng của Ngài luôn hoạt động.
The Perceiver on the Way
Người Nhận Thức trên Đường Đạo
The Link between the Three and Three
Sự Liên Kết giữa Ba và Ba
The Divine Intermediary
Đấng Trung Gian Thiêng Liêng
The Hand of God
Bàn Tay của Thượng đế
The Hidden One
Đấng Ẩn Giấu
The Seed, that is the Flower
Hạt Giống, chính là Đóa Hoa
The Mountain whereon Form dies
Ngọn Núi nơi Hình Tướng chết
The Light within the Light
Ánh Sáng bên trong Ánh Sáng
The Corrector of the Form
Người Chỉnh Sửa Hình Tướng
The One Who marks the parting of the Way
Đấng đánh dấu sự rẽ lối của Con Đường
The Master
Chân Sư
The Dweller in the Holy Place
Đấng Ngụ trong Nơi Thánh
The Lower than the Three, the Highest of the Four
Thấp hơn Ba, Cao nhất của Bốn
The Trumpet of the Lord.
Cây Kèn của Chúa.
The aphorisms connected with this fourth ray are not easy of comprehension. They require an exercise of the intuition and are conveyed by six short and excessively brief commands uttered, curiously enough, late in the creative period [72] and at the time when the fourth Creative Hierarchy came into incarnation:
Các câu cách ngôn liên quan đến cung bốn này không dễ lĩnh hội. Chúng đòi hỏi sự vận dụng trực giác và được truyền tải bằng sáu mệnh lệnh ngắn và cực kỳ ngắn gọn được thốt ra, một cách kỳ lạ, vào cuối thời kỳ sáng tạo [72] và vào thời điểm Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư lâm phàm:
1. Speak low the Word. Speak low.
1. Nói khẽ Linh Từ. Nói khẽ.
Quality......power to penetrate the depths of matter.
Phẩm tính......quyền năng thâm nhập vào chiều sâu của vật chất.
2. Champion desire. Give what is needed to the seeker.
2. Ủng hộ sự khao khát. Hãy ban những gì cần thiết cho người tìm kiếm.
Quality......the dual aspects of desire.
Phẩm tính......các phương diện kép của khao khát.
3. Lower the thread. Unfold the Way. Link man with God. Arise.
3. Hạ sợi dây xuống. Khai mở Con Đường. Liên kết con người với Thượng đế. Hãy trỗi dậy.
Quality......power to reveal the path.
Phẩm tính......quyền năng tiết lộ con đường.
4. All flowers are thine. Settle the roots in mud, the flowers in sun. Prove mud and sun, and roots and flowers are one.
4. Tất cả hoa là của ngươi. Đặt rễ trong bùn, hoa trong nắng. Chứng minh bùn và nắng, và rễ và hoa là một.
Quality......power to express divinity. Growth.
Phẩm tính......quyền năng biểu đạt thiên tính. Sự tăng trưởng.
5. Roll and return, and roll again. Cycle around the circle of the Heavens. Prove all is one.
5. Lăn và trở lại, và lăn lần nữa. Xoay quanh vòng tròn của các Tầng Trời. Chứng minh tất cả là một.
Quality......the harmony of the spheres.
Phẩm tính......sự hài hòa của các khối cầu.
6. Colour the sound. Sound forth the colour. Produce the notes and see them pass into the shades, which in their turn produce the sounds. Thus all are seen as one.
6. Tô màu âm thanh. Phát ra màu sắc. Tạo ra các nốt và thấy chúng chuyển vào các sắc thái, vốn đến lượt chúng tạo ra các âm thanh. Như thế tất cả được nhìn thấy là một.
Quality......the synthesis of true beauty.
Phẩm tính......sự tổng hợp của vẻ đẹp thực sự.
This instruction on the rays is of deeper significance than can as yet be comprehended. Careful systematic study and a sane refraining from the forming of rapid deductions will be the wisest way in which to approach its consideration. It is not possible for me to deal with the definite human psychological applications at this early stage. I am occupied with stating a general outline, with the impartation of ideas, with the grounding of a few basic concepts in the consciousness of the reader, and with an attempt to clothe this most abstruse and difficult subject in such a form that some new rhythm of thought may be set in motion, and some new realisations be grasped and held. These concern at present a prototypal cosmic process, and will lead eventually to an understanding of the part an individual may play in a stupendous cosmic whole.[73] We begin with the universal and end with the particular, which is ever the truly occult method.
Sự hướng dẫn này về các cung có ý nghĩa sâu sắc hơn mức có thể lĩnh hội được vào lúc này. Nghiên cứu có hệ thống cẩn thận và sự kiềm chế lành mạnh khỏi việc hình thành những suy luận nhanh chóng sẽ là cách khôn ngoan nhất để tiếp cận việc xem xét nó. Tôi không thể đề cập đến các ứng dụng tâm lý con người xác định ở giai đoạn đầu này. Tôi đang bận rộn với việc nêu ra một phác thảo chung, với việc truyền đạt các ý tưởng, với việc đặt nền tảng cho một vài khái niệm cơ bản trong tâm thức của độc giả, và với một nỗ lực để khoác cho chủ đề trừu tượng và khó khăn nhất này một hình thức sao cho một nhịp điệu tư tưởng mới nào đó có thể được khởi động, và một số chứng nghiệm mới được nắm bắt và giữ lại. Những điều này hiện tại liên quan đến một quá trình vũ trụ nguyên mẫu, và cuối cùng sẽ dẫn đến sự hiểu biết về vai trò mà một cá nhân có thể đóng trong một tổng thể vũ trụ to lớn.[73] Chúng ta bắt đầu với cái phổ quát và kết thúc với cái cụ thể, đó luôn là phương pháp huyền môn thực sự.
However, all that I am positing about a ray Life may be equally well posited anent a human life, but it should be borne in mind that the pure ray type does not as yet exist, for there is not to be found that perfect form, mechanism or expression of the ray quality, nor that absolutely purified appearance in the human family, except in such rare cases as the Buddha, or Christ, and (in another field of expression) an Alexander or Julius Caesar. Leonardo da Vinci was an analogous expression. The rays concern energy and consciousness, and determine expression, but where the matter utilised and the vehicle informed is as yet imperfectly evolved, there is then limitation and the “tuning out” automatically of much of the energy. The effect of ray force, working through imperfect forms, must be distorted and curtailed and misapplied. Let me illustrate. I have said that first ray energy works out as the destruction of forms; it must be remembered that a pure destroyer is utterly unknown, and mercifully for the race this is so. It is a beneficent condition that as yet a first ray ego is so handicapped and limited by the form nature and the quality of that form nature that it is unable to make adequate or intelligent use of its destructive force. First ray personalities are oft destructive, as well you know, but the energy generated is insufficient to work much harm. Again, pure love is incapable of expression today, its flow being impeded by the form nature. A consideration of these two cases will help the reader to appreciate the situation. But the time is near at hand wherein there will be a fuller expression of ray purpose, type or quality, and therefore a truer appearance.
Tuy nhiên, tất cả những gì tôi đang giả định về Sự Sống Duy Nhất cung có thể được giả định tốt như vậy về một đời sống con người, nhưng cần phải ghi nhớ rằng loại cung thuần khiết vẫn chưa tồn tại, vì chưa tìm thấy hình tướng, cơ chế hay sự biểu đạt hoàn hảo đó của phẩm tính cung, cũng như vẻ bề ngoài hoàn toàn tinh khiết đó trong gia đình nhân loại, ngoại trừ trong những trường hợp hiếm hoi như Đức Phật, hay Đức Christ, và (trong một lĩnh vực biểu đạt khác) một Alexander hay Julius Caesar. Leonardo da Vinci là một biểu đạt tương tự. Các cung liên quan đến năng lượng và tâm thức, và xác định sự biểu đạt, nhưng khi vật chất được sử dụng và vận cụ được phú linh vẫn chưa tiến hóa hoàn hảo, thì sẽ có sự hạn chế và sự “tắt đi” một cách tự động phần lớn năng lượng. Hiệu quả của mãnh lực cung, làm việc thông qua các hình tướng không hoàn hảo, phải bị bóp méo, cắt giảm và áp dụng sai. Hãy để tôi minh họa. Tôi đã nói rằng năng lượng cung một phát huy tác dụng như sự hủy diệt các hình tướng; cần phải nhớ rằng một kẻ hủy diệt thuần túy hoàn toàn không được biết đến, và may mắn thay cho nhân loại là như vậy. Đó là một điều kiện nhân từ khi một chân ngã cung một cho đến nay bị cản trở và hạn chế bởi bản chất hình tướng và phẩm tính của bản chất hình tướng đó đến mức nó không thể sử dụng đầy đủ hoặc thông tuệ lực hủy diệt của mình. Các phàm ngã cung một thường phá hoại, như các bạn biết rõ, nhưng năng lượng được tạo ra không đủ để gây ra nhiều tác hại. Một lần nữa, tình thương thuần khiết không có khả năng biểu đạt ngày nay, dòng chảy của nó bị cản trở bởi bản chất hình tướng. Việc xem xét hai trường hợp này sẽ giúp người đọc đánh giá đúng tình hình. Nhưng thời gian đã gần kề trong đó sẽ có một sự biểu đạt đầy đủ hơn về mục đích, loại hoặc phẩm tính cung, và do đó là một vẻ bề ngoài chân thực hơn.
This is owing to the imminent appearance, or manifestation, of certain great Lives Who will embody the energy of rays two, three, five and seven. They will thus constitute focal [74] points for the inflow of these four types of divine energy and, this will produce a tremendous stimulation of their corresponding and responding units of life. These four Beings, Who will appear as human beings in the field of the modern world, may be looked for before the end of this century and Their united effort will inaugurate definitely the New Age, and usher in the period which will go down in history as the time of glory for the fifth root race. Each of these four Masters, for that They will be, is also subjectively the focal point for a triple inflow of energy from the centre in the Body of God which is symbolically spoken of as “the heart of the Sun.” For each ray is in its turn a triple manifesting entity as is the solar Deity Himself. Love will be Their outstanding characteristic, and through that attractive magnetic force the new forms will come into being which will permit of purer ray types, and thus of more truly expressive appearances. A great deal of the destructive energy extant in the world today is due to the presence on the astral plane of a first ray disciple of the planetary Logos. His work it is to clear the way for the manifestation of these other four major Disciples, Who are primarily Builders; They will enter on Their work when the task of the wreckers of form has been accomplished.
Điều này là do sự xuất hiện sắp tới, hay sự biểu hiện, của một số Sự Sống vĩ đại, Những Đấng sẽ hiện thân năng lượng của các cung hai, ba, năm và bảy. Do đó, Các Ngài sẽ cấu thành các điểm [74] hội tụ cho dòng chảy vào của bốn loại năng lượng thiêng liêng này, và điều này sẽ tạo ra một sự kích thích to lớn đối với các đơn vị sự sống tương ứng và đáp ứng của chúng. Bốn Đấng này, Những Đấng sẽ xuất hiện như những con người trong lĩnh vực của thế giới hiện đại, có thể được mong đợi trước khi kết thúc thế kỷ này và nỗ lực thống nhất của Các Ngài sẽ khai mạc dứt khoát Kỷ Nguyên Mới, và khai mở thời kỳ sẽ đi vào lịch sử như là thời gian vinh quang cho giống dân gốc thứ năm. Mỗi vị trong bốn Chân Sư này, vì Các Ngài sẽ là như vậy, cũng là điểm hội tụ chủ quan cho một dòng chảy năng lượng tam phân từ trung tâm trong Thể của Thượng đế vốn được nói đến một cách tượng trưng là “trái tim của Mặt trời.” Đối với mỗi cung, đến lượt nó, là một thực thể biểu hiện tam phân cũng như chính Thái dương Thượng đế. Tình thương sẽ là đặc điểm nổi bật của Các Ngài, và thông qua lực từ tính hấp dẫn đó, các hình tướng mới sẽ ra đời cho phép các loại cung tinh khiết hơn, và do đó các vẻ bề ngoài biểu đạt chân thực hơn. Một phần lớn năng lượng hủy diệt còn tồn tại trên thế giới ngày nay là do sự hiện diện trên cõi cảm dục của một đệ tử cung một của Hành Tinh Thượng đế. Công việc của đệ tử này là dọn đường cho sự biểu hiện của bốn Đệ tử chính khác này, Những Đấng chủ yếu là các Đấng Kiến Tạo; Các Ngài sẽ bắt đầu công việc của mình khi nhiệm vụ của những người phá hủy hình tướng đã hoàn thành.
I should like here to give a suggestion, for it is necessary that some of the methods of the Hierarchy should begin to be understood. The work of what in the West is called “the Christ Principle” is to build the forms for the expression of quality and life. That is the characteristic work of the second aspect of divinity. The work of the Antichrist is to destroy forms, and this is essentially the work of the first expression of divinity. But the work of the destroyer is not the work of black magic, and when ignorant humanity regards Antichrist as working on the black side, their error is great. His work is as beneficent as that of the building aspect, and it is but man’s [75] hatred of the death of forms which makes him regard the work of the destroyer as “black,” as being against the divine will, and as subversive of the divine programme. The work of the representatives of that mysterious power which we call cosmic evil, and their responding representatives, is indeed worthy of the word “black”; but it is not applicable to the work of Antichrist. It might be added that the work of the black forces wells up from below, whilst the work of the destroyers is impelled from above. The symbols of these two ways are the sword and the cross.
Tôi muốn đưa ra một gợi ý ở đây, vì điều cần thiết rằng một số phương pháp của Thánh Đoàn nên được bắt đầu thấu hiểu. Công việc của cái mà phương Tây gọi là “Nguyên khí Christ” là xây dựng các hình tướng cho sự biểu đạt của phẩm tính và sự sống. Đó là công việc đặc trưng của phương diện thứ hai của thiên tính. Công việc của Vị Anti-Christ là phá hủy các hình tướng, và đây về cơ bản là công việc của sự biểu đạt đầu tiên của thiên tính. Nhưng công việc của kẻ hủy diệt không phải là công việc của hắc thuật, và khi nhân loại vô minh coi Antichrist là làm việc ở phe hắc đạo, sai lầm của họ là rất lớn. Công việc của y cũng nhân từ như công việc của phương diện xây dựng, và chỉ vì [75] sự căm ghét của con người đối với cái chết của các hình tướng khiến y coi công việc của kẻ hủy diệt là “đen tối,” là chống lại ý chí thiêng liêng, và là lật đổ chương trình thiêng liêng. Công việc của các đại diện của quyền năng bí ẩn mà chúng ta gọi là cái ác vũ trụ, và các đại diện đáp ứng của họ, thực sự xứng đáng với từ “hắc ám”; nhưng nó không áp dụng cho công việc của Antichrist. Có thể nói thêm rằng công việc của các lực lượng hắc ám trào lên từ bên dưới, trong khi công việc của các kẻ hủy diệt được thúc đẩy từ bên trên. Biểu tượng của hai con đường này là thanh kiếm và thập giá.
After these preliminary remarks, which are intended to indicate the magnitude of the subject, we shall now proceed to an analysis of the three rays which still remain to be considered.
Sau những nhận xét sơ bộ này, nhằm chỉ ra tầm vóc của chủ đề, chúng ta sẽ tiến hành phân tích ba cung còn lại cần được xem xét.
THE FIFTH PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH THỨ NĂM CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray V. Concrete Knowledge or Science
Cung V. Kiến Thức Cụ Thể hay Khoa Học
The thunders crash around the mountain top; dark clouds conceal the form. The mists, arising from the watery sphere, serve to distort the wondrous...... found within the secret place. The form is there. Its note is sounding forth.
Sấm sét nổ vang quanh đỉnh núi; mây đen che khuất hình tướng. Sương mù, bốc lên từ quả cầu nước, phục vụ để làm sai lệch điều kỳ diệu...... được tìm thấy bên trong nơi bí mật. Hình tướng ở đó. Âm thanh của nó đang vang lên.
A beam of light illuminates the form; the hidden now appears. Knowledge of God and how He veils Himself finds consummation in the thoughts of man. The energies and forces receive their secret names, reveal their inner purpose, and all is seen as rhythm, a returning on itself. The great scroll can now be read. God’s purpose and His plans are fixed, and man can read the form.
Một chùm ánh sáng soi rọi hình tướng; cái ẩn giấu giờ xuất hiện. Kiến thức về Thượng đế và cách Ngài che giấu Chính Ngài tìm thấy sự viên mãn trong tư tưởng của con người. Các năng lượng và mãnh lực nhận được những cái tên bí mật của chúng, tiết lộ mục đích bên trong của chúng, và tất cả được nhìn thấy là nhịp điệu, một sự quay trở lại với chính nó. Cuộn giấy vĩ đại giờ có thể được đọc. Mục đích của Thượng đế và các kế hoạch của Ngài được cố định, và con người có thể đọc hình tướng.
The plan takes form. The plan is form. Its purpose is the revelation of the mind of God. The past reveals the form, but the present indicates the flowing in of energy.
Kế hoạch khoác lấy hình tướng. Kế hoạch là hình tướng. Mục đích của nó là sự mặc khải tâm trí của Thượng đế. Quá khứ tiết lộ hình tướng, nhưng hiện tại chỉ ra dòng chảy vào của năng lượng.
That which is on its way comes as a cloud which veils the sun. But hid behind this cloud of immanence is love, and on the earth is love and in the heaven is love, and this,—the love which maketh all things new—must stand revealed. This is the purpose back of all the acts of this great Lord of Knowledge.
Cái đang trên đường đến như một đám mây che khuất mặt trời. Nhưng ẩn đằng sau đám mây nội tại này là tình thương, và trên trái đất là tình thương và trên thiên đường là tình thương, và điều này,—tình thương làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ—phải được tiết lộ. Đây là mục đích đằng sau tất cả các hành động của Chúa Tể Tri Thức vĩ đại này.
Before enumerating the names of this great Life, I should [76] like to point out that the fifth ray is one of unique and peculiar potency in relation to the human kingdom. The reason is that the fifth plane of mind is the sphere of His major activity and it is on this plane that we find the triple aspects of mind:
Trước khi liệt kê những cái tên của Sự Sống vĩ đại này, tôi [76] muốn chỉ ra rằng cung năm là một cung có quyền năng độc đáo và đặc biệt liên quan đến giới nhân loại. Lý do là cõi trí thứ năm là phạm vi hoạt động chính của Ngài và chính trên cõi này mà chúng ta tìm thấy ba phương diện của trí tuệ:
1. Abstract or higher mind, the embodiment of a higher triad.
1. Trí trừu tượng hay thượng trí, hiện thân của một tam nguyên cao hơn.
2. The concrete or lower mind, the highest aspect of the lower self.
2. Trí cụ thể hay hạ trí, phương diện cao nhất của phàm ngã.
3. The ego or solar Angel, the pure Son of Mind, Who expresses intelligence, both abstractly and concretely, and is the point of unification.
3. Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần, Người Con thuần khiết của Trí Tuệ, Đấng biểu lộ sự thông tuệ, cả một cách trừu tượng và cụ thể, và là điểm thống nhất.
This Life has also much power today in connection with the fifth root-race and with the transference of the consciousness of humanity into the fifth or spiritual kingdom. Students would learn much if they contrasted the building power of the higher mind with the destroying power of the lower. Just as the personality has no other function in the divine plan than to be a channel for, and the medium of expression of, the soul, so the lower mind is intended to be the channel for the pure inflow of higher mind energy.
Ngày nay Sự Sống này cũng có nhiều quyền năng liên quan đến giống dân gốc thứ năm và với sự chuyển dịch tâm thức của nhân loại vào giới thứ năm hay giới tinh thần. Các đạo sinh sẽ học được nhiều điều nếu họ đối chiếu quyền năng xây dựng của thượng trí với quyền năng hủy diệt của hạ trí. Cũng giống như phàm ngã không có chức năng nào khác trong thiên cơ ngoài việc là một kênh dẫn, và là phương tiện biểu đạt của linh hồn, thì hạ trí cũng được dự định là kênh dẫn cho dòng chảy thuần khiết của năng lượng thượng trí.
This fifth ray is a Being of the intensest spiritual light and in His manifestation on this fifth plane, which is peculiarly His, He symbolises the three aspects in a way achieved by no other ray. Through His quality of higher mind, this ray is a pure channel for the divine will. Through the septenary grouping of the solar lives on the mental levels whereon they appear, He brought into functioning activity seven corresponding reflections of the seven centres of Deity, as far as our planet is concerned, a thing which none of His six brother rays have done. This statement means little to you, but the tremendous sacrifice and effort thus involved are paralleled only by the life of the Buddha, and this is one of the reasons why, [77] in this fifth race, love and mind must eventually and mutually reveal each other.
Cung năm này là một Đấng có ánh sáng tinh thần mãnh liệt nhất và trong biểu hiện của Ngài trên cõi thứ năm này, vốn đặc biệt là của Ngài, Ngài tượng trưng cho ba phương diện theo một cách mà không cung nào khác đạt được. Thông qua phẩm tính thượng trí của mình, cung này là một kênh dẫn thuần khiết cho ý chí thiêng liêng. Thông qua sự phân nhóm thất phân của các sự sống thái dương trên các cấp độ trí tuệ nơi chúng xuất hiện, Ngài đã đưa vào hoạt động chức năng bảy sự phản chiếu tương ứng của bảy trung tâm của Thượng đế, trong chừng mực liên quan đến hành tinh của chúng ta, một điều mà không một huynh đệ nào trong sáu huynh đệ cung của Ngài đã làm. Tuyên bố này có ít ý nghĩa đối với bạn, nhưng sự hy sinh và nỗ lực to lớn liên quan được so sánh chỉ với cuộc đời của Đức Phật, và đây là một trong những lý do tại sao, [77] trong giống dân thứ năm này, tình thương và trí tuệ cuối cùng phải tiết lộ lẫn nhau.
Some of the names given to the Lord of this ray are as follows:
Một số tên được đặt cho Chúa Tể của cung này như sau:
The Revealer of Truth
Đấng Tiết Lộ Chân Lý
The great Connector
Đấng Kết Nối vĩ đại
The Divine Intermediary
Đấng Trung Gian Thiêng Liêng
The Crystallizer of Forms
Đấng Làm Kết Tinh các Hình Tướng
The Three-fold Thinker
Người Tư Duy Tam Phân
The Cloud upon the Mountain-top
Đám Mây trên Đỉnh Núi
The Precipitator of the Cross
Đấng Ngưng Tụ Thập Giá
The Dividing Sword
Thanh Kiếm Phân Chia
The Winnower of the Chaff
Người Sàng Lọc Trấu
The Fifth great Judge
Vị Thẩm Phán vĩ đại Thứ Năm
The Rose of God
Hoa Hồng của Thượng đế
The Heavenly One
Đấng Thiên Thượng
The Door into the Mind of God
Cánh Cửa vào Tâm Trí của Thượng đế
The Initiating Energy
Năng Lượng Khởi Đầu
The Ruler of the Third Heaven
Đấng Cai Trị Tầng Trời Thứ Ba
The Guardian of the Door
Đấng Giữ Cửa
The Dispenser of Knowledge
Đấng Phân Phối Tri Thức
The Angel with the Flaming Sword
Thiên Thần với Thanh Kiếm Rực Lửa
The Keeper of the Secret
Đấng Giữ Bí Mật
The Beloved of the Logos
Đấng Được Thượng Đế Yêu Dấu
The Brother from Sirius
Huynh đệ từ Sao Thiên Lang
The Master of the Hierophants
Chân Sư của các Đấng Điểm Đạo
This fifth ray has so many names, owing to His close connection with man (since man was originally created), that it has not been easy to choose those which are of the most use in enabling the student to form an idea of the fifth ray characteristics and mission; but the study of the six aphorisms, and the qualities which they indicate, will show how potent and important is this ray Lord. These six aphorisms were chanted by His six Brothers at that momentous crisis wherein the human family came into existence and the solar Angels sacrificed themselves. Esoterically speaking, they “went down into hell, and found their place in prison.” On that day souls [78] were born. A new kingdom of expression came into being, and the three highest planes and the three lower were brought into a scintillating interchange.
Cung năm này có rất nhiều tên, do mối liên hệ chặt chẽ của Ngài với con người (kể từ khi con người được tạo ra ban đầu), nên không dễ để chọn những cái tên hữu ích nhất trong việc cho phép học viên hình thành một ý tưởng về các đặc điểm và sứ mệnh của cung năm; nhưng việc nghiên cứu sáu câu cách ngôn, và các phẩm tính mà chúng chỉ ra, sẽ cho thấy Chúa Tể cung này mạnh mẽ và quan trọng như thế nào. Sáu câu cách ngôn này được sáu người Huynh Đệ của Ngài xướng tụng vào cuộc khủng hoảng trọng đại đó, trong đó gia đình nhân loại ra đời và các Thái dương Thiên Thần đã hy sinh chính mình. Về mặt huyền linh, các ngài “đã đi xuống địa ngục, và tìm thấy vị trí của mình trong tù ngục.” Vào ngày đó các linh hồn [78] đã được sinh ra. Một giới biểu đạt mới đã ra đời, và ba cõi cao nhất và ba cõi thấp hơn đã được đưa vào một sự trao đổi lấp lánh.
1. God and His Angels now arise and see. Let the mountaintops emerge from out the dense wet mist. Let the sun touch their summits and let them stand in light. Shine forth.
1. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và nhìn thấy. Hãy để các đỉnh núi nổi lên từ đám sương mù ẩm ướt dày đặc. Hãy để mặt trời chạm vào đỉnh của chúng và để chúng đứng trong ánh sáng. Tỏa sáng.
Quality...... emergence into form and out of form.
Phẩm tính...... sự xuất lộ vào hình tướng và ra khỏi hình tướng.
2. God and His Angels now arise and hear. Let a deep murmur rise and let the cry of seeking man enter into their ears. Let man listen. Let man call. Speak loud.
2. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và nghe. Hãy để một tiếng thì thầm sâu lắng trỗi dậy và hãy để tiếng kêu của con người tìm kiếm đi vào tai Các Ngài. Hãy để con người lắng nghe. Hãy để con người gọi. Nói to lên.
Quality......power to make the Voice of the Silence heard.
Phẩm tính......quyền năng làm cho Tiếng Nói của Im Lặng được nghe thấy.
3. God and His Angels now arise and touch. Bring forth the rod of power. Extend it outward toward the sons of men; touch them with fire, then bring them near. Bring forth.
3. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và chạm vào. Mang cây gậy quyền năng ra. Kéo dài nó về phía các con của nhân loại; chạm vào họ bằng lửa, rồi mang họ lại gần. Mang lại.
Quality...... initiating activity.
Phẩm tính...... hoạt động khai mở.
4. God and His Angels now arise and taste. Let all experience come. Let all the ways appear. Discern and choose; dissect and analyse. All ways are one.
4. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và nếm. Hãy để tất cả kinh nghiệm đến. Hãy để tất cả các con đường xuất hiện. Phân biện và lựa chọn; mổ xẻ và phân tích. Tất cả các con đường là một.
Quality......revelation of the way.
Phẩm tính......sự tiết lộ con đường.
5. God and His Angels now arise and sense the odor rising from the burning-ground of man. Let the fire do its work. Draw man within the furnace and let him drop within the rose-red centre the nature that retards. Let the fire burn.
5. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và cảm nhận mùi hương bốc lên từ vùng đất cháy của con người. Hãy để lửa làm công việc của nó. Kéo con người vào trong lò lửa và để y thả vào trung tâm đỏ hồng bản chất làm chậm trễ. Hãy để lửa cháy.
Quality......purification with fire.
Phẩm tính......sự thanh lọc bằng lửa.
6. God and His Angels now arise and fuse the many in the One. Let the blending work proceed. Let that which causes all to be produce the cause of their cessation. Let one temple now emerge. Produce the crowning glory. So let it be.
6. Thượng Đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và dung hợp muôn ngàn vào trong Một. Hãy để công cuộc hòa quyện tiếp tục. Hãy để Đấng tạo ra mọi sự biểu hiện tạo ra nguyên nhân của sự chấm dứt chúng. Hãy để một đền thờ duy nhất xuất hiện. Hãy tạo ra vinh quang tối thượng. Nguyện được như vậy.
Quality......the manifestation of the great white light. (The Shekinah. A.A.B.)
Phẩm tính......sự biểu hiện của ánh sáng trắng vĩ đại. (Shekinah. A.A.B.)
There is much of practical usefulness to the reader in a study of these qualities. When he believes himself to be upon a particular ray, they will indicate to him some of the characteristics for which he may look, and perhaps demonstrate [79] to him what he has to do, what he has to express, and what he has to overcome. These qualities should be studied from two angles: their divine aspect and their reverse aspect or the form side. This ray, for instance, is shown to be the revealer of the way, and it should be remembered therefore that this fifth ray reveals the way down into death or into incarnation (which is the death-like prison of the soul), or it reveals the way up and out of darkness into the pure light of God’s day. I mention this as I am exceedingly anxious that all who read this treatise should make application of this teaching to their daily lives. I am not interested in imparting weird or unusual items of information anent these matters for the delectation of an unhealthy mental appetite. The stocking of the memory with occult detail which serves no useful purpose only strains the brain cells and feeds the pride.
Có nhiều điều hữu ích thực tế cho người đọc trong việc nghiên cứu các phẩm tính này. Khi y tin rằng mình thuộc một cung cụ thể, chúng sẽ chỉ cho y một số đặc điểm mà y có thể tìm kiếm, và có lẽ chứng minh [79] cho y thấy những gì y phải làm, những gì y phải biểu đạt, và những gì y phải vượt qua. Những phẩm tính này nên được nghiên cứu từ hai góc độ: phương diện thiêng liêng của chúng và phương diện ngược lại của chúng hay phía hình tướng. Ví dụ, cung này được cho thấy là người tiết lộ con đường, và do đó cần nhớ rằng cung năm này tiết lộ con đường đi xuống cái chết hoặc đi vào sự lâm phàm (vốn là nhà tù giống như cái chết của linh hồn), hoặc nó tiết lộ con đường đi lên và ra khỏi bóng tối vào ánh sáng tinh khiết của ngày của Thượng đế. Tôi đề cập đến điều này vì tôi cực kỳ lo lắng rằng tất cả những ai đọc luận thuyết này nên áp dụng giáo huấn này vào cuộc sống hàng ngày của họ. Tôi không quan tâm đến việc truyền đạt những thông tin kỳ lạ hoặc bất thường về những vấn đề này để làm hài lòng một sự thèm muốn trí tuệ không lành mạnh. Việc tích trữ trong trí nhớ những chi tiết huyền bí không phục vụ mục đích hữu ích nào chỉ làm căng thẳng các tế bào não và nuôi dưỡng sự kiêu ngạo.
THE SIXTH PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH THỨ SÁU CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray VI. Devotion or Idealism
Cung VI. Sùng Tín hay Chủ Nghĩa Lý Tưởng.
This ray which is just going out of manifestation, is of vital interest to us, for it has set its mark upon our western civilisation in a more definite way than any of the others. It is for us the most familiar and the best known of the rays. The mantram which defines its purpose is unlike the others and might be expressed somewhat as follows:
Cung này vốn đang đi ra khỏi biểu hiện, có sự quan tâm thiết yếu đối với chúng ta, vì nó đã đặt dấu ấn của nó lên nền văn minh phương tây của chúng ta theo một cách xác định hơn bất kỳ cung nào khác. Đối với chúng ta, nó là cung quen thuộc nhất và được biết đến nhiều nhất trong các cung. Mantram xác định mục đích của nó không giống như các cung khác và có thể được diễn đạt đại loại như sau:
The Crusade is on. The warriors march upon their way. They crush and kill all that impedes their way, and aught that rises on their onward path is trampled under foot. March towards the light.
Cuộc Thập Tự Chinh đã bắt đầu. Các chiến binh diễu hành trên con đường của họ. Họ nghiền nát và giết chết tất cả những gì cản trở con đường của họ, và bất cứ thứ gì trỗi dậy trên con đường tiến lên của họ đều bị chà đạp dưới chân. Diễu hành về phía ánh sáng.
The work goes forward. The workers veil their eyes from pity as from fear. The work is all that counts. The form must disappear so that the loving spirit may enter into rest. Naught must arrest the progress of the workers with the plan. They enter upon the work assigned with paean and with song.
Công việc vẫn tiến bước. Những người phụng sự che mắt mình trước nỗi thương xót cũng như trước nỗi sợ hãi. Công việc là điều duy nhất có ý nghĩa. Hình tướng phải tan biến để tinh thần yêu thương có thể bước vào an nghỉ. Không gì được phép ngăn chặn tiến trình của những người phụng sự với Thiên Cơ. Họ bước vào công việc được giao trong khúc hoan ca và tiếng hát.
The cross is reared on high; the form is laid thereon, and [80] on that cross must render up its life. Each builds a cross which forms the cross. They mount upon the cross.
Thập giá được dựng cao; hình tướng được đặt lên đó, và [80] trên thập giá ấy, nó phải trao trả sự sống của mình. Mỗi người xây dựng một thập giá vốn tạo nên thập giá chung. Họ bước lên thập giá ấy.
Through war, through work, through pain and toil, the purpose is achieved. Thus saith the symbol.
Thông qua chiến tranh, thông qua công việc, thông qua đau đớn và nhọc nhằn, mục đích được hoàn thành. Biểu tượng đã phán như thế.
It will be noted how this purpose, when applied by man to himself, works his release. When applied by man to man, it has produced the corrupt and awful story of man’s cruelty to man. In the above mantram you will find the clue to the sixth ray purpose as it appears in the human kingdom, and a close expansive study (note that paradoxical phrase) of the underlying ideas will reveal a little of the larger purpose. The soul is and should be pitiless to its form and its problem. The soul can, however, comprehend the need for pain and difficulty in the world, for he can extend a knowledge of his own technique with himself to the technique of God with His world; but he does nothing knowingly that could possibly increase the world’s pain or sorrow.
Sẽ được lưu ý rằng mục đích này, khi được con người áp dụng cho chính mình, tạo ra sự giải thoát của y. Khi được con người áp dụng cho con người, nó đã tạo ra câu chuyện thối nát và khủng khiếp về sự tàn ác của con người đối với con người. Trong mantram trên, bạn sẽ tìm thấy manh mối cho mục đích cung sáu khi nó xuất hiện trong giới nhân loại, và một nghiên cứu mở rộng chặt chẽ (lưu ý cụm từ nghịch lý đó) về các ý tưởng cơ bản sẽ tiết lộ một chút về mục đích lớn hơn. Linh hồn là và nên tàn nhẫn với hình tướng của nó và vấn đề của nó. Tuy nhiên, linh hồn có thể thấu hiểu sự cần thiết của đau đớn và khó khăn trên thế giới, vì nó có thể mở rộng kiến thức về kỹ thuật của chính nó với bản thân sang kỹ thuật của Thượng đế với thế giới của Ngài; nhưng nó không cố ý làm bất cứ điều gì có thể làm tăng thêm nỗi đau hay nỗi buồn của thế giới.
Some of the names for this beneficent yet somewhat violently energised Lord of a ray are as follows:
Một số tên cho Chúa Tể của một cung nhân từ nhưng được cung cấp năng lượng có phần bạo lực này như sau:
The Negator of Desire
Đấng Phủ Định Ham Muốn
The One Who sees the Right
Đấng thấy Lẽ Phải
The Visioner of Reality
Đấng Tri Kiến Thực Tại
The Divine Robber
Tên Cướp Thiêng Liêng
The Devotee of Life
Kẻ Tận Tụy của Sự Sống
The Hater of Forms
Kẻ Căm Ghét Hình Tướng
The Warrior on the March
Chiến Binh đang Hành Quân
The Sword Bearer of the Logos
Đấng Cầm Gươm của Thượng Đế
The Upholder of the Truth
Đấng Nâng Đỡ Chân Lý
The Crucifier and the Crucified
Đấng Đóng Đinh và Kẻ Bị Đóng Đinh
The Breaker of Stones
Đấng Phá Vỡ Đá
The Imperishable Flaming One
Đấng Rực Lửa Bất Diệt
The One Whom Naught can turn
Đấng mà Không Gì có thể làm lay chuyển
The Implacable Ruler
Đấng Cai Quản Bất Khuất
The General on the Perfect Way
Vị Tướng Quân trên Đường Hoàn Thiện
The One Who leads the Twelve
Đấng dẫn dắt Mười Hai
Curiously enough, this sixth ray Lord has always been a [81] loved enigma to His six Brethren. This comes out in the questions which They addressed to Him on one occasion when They met “under the eye of the Lord” to interchange Their plans for united, divine, harmonious action. They asked these questions in a spirit of heavenly joy and love, but with the intent to throw some light upon the somewhat obscure quality of Their loved Brother.
Thật kỳ lạ thay, Chúa Tể cung sáu này luôn là một [81] bí ẩn được yêu mến đối với sáu vị Huynh Đệ của Ngài. Điều này thể hiện qua những câu hỏi mà Các Ngài đã đặt ra cho Ngài vào một dịp nọ khi Các Ngài gặp nhau "dưới con mắt của Thượng đế" để trao đổi kế hoạch của Các Ngài cho hành động hợp nhất, thiêng liêng và hài hòa. Các Ngài đã hỏi những câu hỏi này trong tinh thần của niềm vui và tình thương nơi thiên thượng, nhưng với ý định làm sáng tỏ phần nào phẩm tính có phần khó hiểu của người Huynh Đệ được yêu mến của Các Ngài.
1. Why is desire red? Why red as blood? Tell us, Oh Son of God, why thy way is red with blood?
1. Tại sao dục vọng lại màu đỏ? Tại sao đỏ như máu? Hãy nói cho chúng tôi biết, hỡi Con của Thượng đế, tại sao con đường của ngài lại đỏ thẫm máu?
Quality......power to kill out desire.
Phẩm tính......quyền năng diệt trừ dục vọng.
2. Why do you turn your back upon the sphere of earth? Is it too small, too poor? Why kick it as a ball upon a playing field?
2. Tại sao ngài quay lưng lại với khối cầu của trái đất? Có phải nó quá nhỏ bé, quá nghèo nàn không? Tại sao lại đá nó như một quả bóng trên sân chơi?
Quality...... spurning that which is not desired.
Phẩm tính...... cự tuyệt những gì không được mong muốn.
3. Why set the cross from earth to heaven? But earth can be a heaven. Why mount the cross and die?
3. Tại sao lại dựng thập giá từ đất lên trời? Nhưng đất có thể là một thiên đường. Tại sao lại leo lên thập giá và chết?
Quality......self-immolation.
Phẩm tính......sự tự hiến tế.
4. Why battle thus with all that is around? Seek you not peace? Why stand between the forces of the night and day? Why thus unmoved and calm, untired and unafraid?
4. Tại sao lại chiến đấu như thế với tất cả những gì xung quanh? Ngài không tìm kiếm hòa bình sao? Tại sao lại đứng giữa các mãnh lực của đêm và ngày? Tại sao lại bất động và bình thản, không mệt mỏi và không sợ hãi như vậy?
Quality..... endurance and fearlessness.
Phẩm tính..... sự bền bỉ và vô úy.
5. See you not God in all, the life in all, and love in all? Why separate yourself and leave behind the loved and the well-known?
5. Ngài không thấy Thượng đế trong tất cả, sự sống trong tất cả, và tình thương trong tất cả sao? Tại sao lại tách mình ra và bỏ lại phía sau những người thân yêu và quen thuộc?
Quality......power to detach oneself.
Phẩm tính......quyền năng tự tách rời.
6. Can you arrest the waters of the sixth great sphere? Can you stem the flood? Can you recover both the raven and the dove? Can you, the Fish, swim free?
6. Ngài có thể ngăn chặn những dòng nước của khối cầu vĩ đại thứ sáu không? Ngài có thể chặn dòng nước lũ không? Ngài có thể phục hồi cả con quạ và con chim bồ câu không? Ngài, Con Cá, có thể bơi tự do không?
Quality......overcoming the waters of the emotional nature.
Phẩm tính......vượt qua những dòng nước của bản chất cảm dục.
This out-going ray of devotion to the ideal, and the incoming ray of magical order or organisation are largely responsible for the type of man’s consciousness today. Man is essentially devoted (to the point of fanaticism) to whatever may be the goal of his life’s attention. This goal may be to achieve discipleship, or to raise a family, or to get money, or to achieve [82] popularity, or any other objective to which he consecrates his time and energy; but whatever it may be, to it he devotes all that he is or has. Man also is essentially and inherently a producer of law and order, though this quality is only just beginning to make its presence felt. This is because mankind is, at last, becoming mentally centred, and hence we have in the world at this time the many and varied attempts to straighten out affairs along business, national, economic, social and other lines, to produce some system and order, and to bring about the re-arranging of all energies with the objective (unrealised consciously as yet) of inaugurating the New Age. Owing, however, to defective mental control and to an almost universal ignorance as to the laws of thought, and in addition, to a profound lack of knowledge as to man’s own nature, man works blindly. The ideals sensed are not correctly interpreted by the mind nor applied in such a way that they are of general and appropriate application. Hence the confusion and the chaotic experimentation going on, and hence also the imposition of personal authority to enforce an individual’s idea of the ideal.
Cung sùng tín đối với lý tưởng đang đi ra, và cung trật tự huyền thuật hay tổ chức đang đi vào chịu trách nhiệm phần lớn cho loại tâm thức của con người ngày nay. Con người về cơ bản là tận tụy (đến mức cuồng tín) với bất cứ điều gì có thể là mục tiêu cho sự chú ý trong cuộc đời y. Mục tiêu này có thể là đạt được địa vị đệ tử, hoặc nuôi nấng một gia đình, hoặc kiếm tiền, hoặc đạt được [82] sự nổi tiếng, hoặc bất kỳ mục tiêu nào khác mà y hiến dâng thời gian và năng lượng của mình; nhưng bất kể đó là gì, y đều dâng hiến tất cả những gì y là hoặc có cho nó. Con người cũng về cơ bản và cố hữu là một người tạo ra luật lệ và trật tự, mặc dù phẩm tính này chỉ mới bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Điều này là do cuối cùng nhân loại đang trở nên tập trung vào trí tuệ, và do đó, vào lúc này chúng ta có nhiều nỗ lực đa dạng trên thế giới nhằm chấn chỉnh các công việc theo các đường hướng kinh doanh, quốc gia, kinh tế, xã hội và các đường hướng khác, nhằm tạo ra một hệ thống và trật tự nào đó, và nhằm mang lại sự sắp xếp lại tất cả các năng lượng với mục tiêu (chưa được nhận thức một cách có ý thức) là khai mở Kỷ Nguyên Mới. Tuy nhiên, do sự kiểm soát trí tuệ khiếm khuyết và sự thiếu hiểu biết gần như phổ quát về các quy luật của tư tưởng, và thêm vào đó, sự thiếu kiến thức sâu sắc về bản chất của chính con người, con người làm việc một cách mù quáng. Những lý tưởng được cảm nhận không được trí tuệ diễn giải một cách chính xác cũng không được áp dụng theo cách sao cho chúng có thể ứng dụng chung và thích hợp. Do đó mới có sự nhầm lẫn và sự thử nghiệm hỗn loạn đang diễn ra, và do đó cũng có sự áp đặt uy quyền cá nhân để thực thi ý tưởng của một cá nhân về cái lý tưởng.
The need today is for sound teaching as to the laws of thought, and the rules which govern the building of those thought-forms which must embody the ideas sent forth from the universal divine Mind. Men must begin on the subjective planes of life to work out the needed order. When this is realised, we shall have every important group of men engaged in world affairs, or in the work of government in all its branches, aided on the mental plane by trained thinkers, so that there may be right application and correct adjustment to the Plan. This time is as yet far away, and hence the distortions and misrepresentations on earth of the Plan as it exists in heaven, to use the Christian phraseology.
Nhu cầu ngày nay là sự giảng dạy đúng đắn về các quy luật của tư tưởng, và các quy luật chi phối việc xây dựng những hình tư tưởng vốn phải thể hiện các ý tưởng được gửi đi từ Trí Tuệ thiêng liêng vũ trụ. Con người phải bắt đầu trên các cõi nội tại của sự sống để thực hiện trật tự cần thiết. Khi điều này được chứng nghiệm, chúng ta sẽ có mọi nhóm người quan trọng tham gia vào các công việc thế giới, hoặc trong công việc chính phủ ở tất cả các chi nhánh của nó, được hỗ trợ trên cõi trí bởi những nhà tư tưởng được huấn luyện, để có thể có sự áp dụng đúng đắn và sự điều chỉnh chính xác đối với Thiên Cơ. Thời điểm này vẫn còn xa, và do đó mới có những sự biến dạng và trình bày sai lệch trên trần gian về Thiên Cơ như nó tồn tại trên thiên đường, theo cách nói của Cơ Đốc giáo.
It was the realisation of the present world need for illumined [83] thinkers and subjective workers which prompted Those Who guide so to direct the incoming spiritual energies that the formation of the esoteric groups everywhere came about; it led also to the publication of the mass of mystical and Oriental literature on meditation and allied topics which has flooded the world today. Hence also the effort that I, a worker on the inner side of life, am making to teach the newer psychology in this treatise, and so show to man what is his equipment and how well suited he is to the work for which he has been created, and which he has as yet failed to comprehend. The force and the effect of the seventh ray influence will, however, reveal to him the magical work, and the next twenty five hundred years will bring about so much change and make possible the working of so many so-called “miracles” that even the outer appearance of the world will be profoundly altered; the vegetation and the animal life will be modified and developed, and much that is latent in the forms of both kingdoms will be brought into expression through the freer flow and the more intelligent manipulation of the energies which create and constitute all forms. The world has been changed beyond belief during the past five hundred years, and during the next two hundred years the changes will be still more rapid and deep-seated, for the growth of the intellectual powers of man is gathering momentum, and Man, the Creator, is coming into possession of His powers.
Chính sự nhận biết về nhu cầu hiện tại của thế giới đối với các [83] nhà tư tưởng được soi sáng và các người hoạt động chủ quan đã thúc đẩy Các Đấng Hướng Dẫn chỉ đạo các năng lượng tinh thần đang đi vào sao cho sự hình thành của các nhóm huyền môn ở khắp mọi nơi diễn ra; nó cũng dẫn đến việc xuất bản khối lượng lớn văn học thần bí và Phương Đông về tham thiền và các chủ đề liên quan vốn đang tràn ngập thế giới ngày nay. Do đó cũng có nỗ lực mà tôi, một người hoạt động ở phía bên trong của sự sống, đang thực hiện để giảng dạy nền tâm lý học mới hơn trong luận thuyết này, và qua đó chỉ cho con người thấy trang thiết bị của y là gì và y thích hợp như thế nào đối với công việc mà y đã được tạo ra để làm, và công việc mà y cho đến nay vẫn chưa hiểu được. Tuy nhiên, mãnh lực và hiệu quả của ảnh hưởng cung bảy sẽ tiết lộ cho y công việc huyền thuật, và hai ngàn năm trăm năm tiếp theo sẽ mang lại nhiều thay đổi và làm cho khả thi sự hoạt động của rất nhiều cái gọi là "phép lạ" đến nỗi ngay cả diện mạo bên ngoài của thế giới cũng sẽ thay đổi sâu sắc; thảm thực vật và đời sống động vật sẽ được sửa đổi và phát triển, và nhiều điều tiềm ẩn trong các hình tướng của cả hai giới sẽ được đưa vào biểu hiện thông qua dòng chảy tự do hơn và sự thao tác thông minh hơn các năng lượng tạo ra và cấu thành nên mọi hình tướng. Thế giới đã thay đổi ngoài sức tưởng tượng trong suốt năm trăm năm qua, và trong hai trăm năm tới, những thay đổi sẽ còn nhanh chóng và sâu sắc hơn nữa, vì sự tăng trưởng các quyền năng trí tuệ của con người đang thu thập đà tiến, và Con Người, Đấng Sáng Tạo, đang đi vào việc sở hữu các quyền năng của Mình.
THE SEVENTH PURPOSE OF DEITY
MỤC ĐÍCH THỨ BẢY CỦA THƯỢNG ĐẾ
Ray VII. Ceremonial Order or Magic
Cung VII. Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật
“Let the Temple of the Lord be built”, the seventh great Angel cried. Then to their places in the north, the south, the west and east, seven great sons of God moved with measured pace and took their seats. The work of building thus began.
"Hãy để Ngôi Đền của Đấng Chúa được xây dựng", vị Thiên Thần vĩ đại thứ bảy kêu lên. Sau đó, bảy người con vĩ đại của Thượng đế di chuyển với nhịp bước đều đặn về vị trí của họ ở phía bắc, phía nam, phía tây và đông, và an tọa. Công việc xây dựng do đó bắt đầu.
The doors were closed. The light shone dim. The temple walls could not be seen. The seven were silent and their forms were veiled. The time had not arrived for the breaking [84] forth of light. The Word could not be uttered. Only between the seven Forms the work went on. A silent call went forth from each to each. Yet still the temple door stayed shut.
Các cánh cửa đã đóng. Ánh sáng chiếu lờ mờ. Các bức tường ngôi đền không thể được nhìn thấy. Bảy vị im lặng và hình tướng của họ bị che khuất. Thời điểm chưa đến để ánh sáng [84] bùng phát. Linh từ không thể được thốt ra. Chỉ giữa bảy Hình Tướng công việc mới tiếp diễn. Một tiếng gọi thầm lặng phát ra từ mỗi vị đến từng vị khác. Tuy nhiên, cửa đền vẫn đóng chặt.
As time went on, the sounds of life were heard. The door was opened, and the door was shut. Each time it opened, the power within the temple grew; each time the light waxed stronger, for one by one the sons of men entered the temple, passed from north to south, from west to east and in the centre of the heart found light, found understanding and the power to work. They entered through the door; they passed before the Seven; they raised the temple’s veil and entered into life.
Khi thời gian trôi qua, những âm thanh của sự sống được nghe thấy. Cánh cửa khai mở, và cánh cửa đóng lại. Mỗi lần nó khai mở, quyền năng bên trong ngôi đền lại lớn lên; mỗi lần ánh sáng lại rực rỡ hơn, vì từng người một, những người con của nhân loại bước vào ngôi đền, đi từ bắc xuống nam, từ tây sang đông và ở trung tâm của trái tim tìm thấy ánh sáng, tìm thấy sự thấu hiểu và quyền năng để làm việc. Họ bước qua cánh cửa; họ đi ngang qua trước Bảy Vị; họ vén bức màn của ngôi đền và bước vào sự sống.
The temple grew in beauty. Its lines, its walls, its decorations, and its height and depth and breadth slowly emerged and entered into light.
Ngôi đền lớn lên trong vẻ đẹp. Các đường nét, các bức tường, các đồ trang trí, và chiều cao, chiều sâu và chiều rộng của nó từ từ xuất lộ và đi vào ánh sáng.
Out from the east, the Word went forth: Open the door to all the sons of men who come from all the darkened valleys of the land and seek the temple of the Lord. Give them the light. Unveil the inner shrine, and through the work of all the craftsmen of the Lord extend the temple’s walls and thus irradiate the world. Sound forth the Word creative and raise the dead to life.
Từ phương đông, Linh từ vang lên: Hãy mở cửa cho tất cả những người con của nhân loại đến từ khắp các thung lũng tăm tối của vùng đất và tìm kiếm ngôi đền của Đấng Chúa Tể. Hãy ban cho họ ánh sáng. Hãy vén màn điện thờ bên trong, và thông qua công việc của tất cả những người thợ thủ công của Đấng Chúa Tể hãy mở rộng các bức tường của ngôi đền và do đó chiếu rọi thế giới. Hãy xướng lên Linh từ sáng tạo và làm cho kẻ chết sống lại.
Thus shall the temple of the light be carried from heaven to earth. Thus shall its walls be reared upon the great plains of the world of men. Thus shall the light reveal and nurture all the dreams of men.
Do đó, ngôi đền của ánh sáng sẽ được mang từ thiên đường xuống trái đất. Do đó, các bức tường của nó sẽ được dựng lên trên những đồng bằng rộng lớn của thế giới con người. Do đó, ánh sáng sẽ tiết lộ và nuôi dưỡng tất cả những giấc mơ của con người.
Then shall the Master in the east awaken those who are asleep. Then shall the warden in the west test and try all the true seekers after light. Then shall the warden in the south instruct and aid the blind. Then shall the gate into the north remain wide open, for there the unseen Master stands with welcoming hand and understanding heart, to lead the pilgrims to the east where the true light shines forth.
Khi đó, Chân sư ở phương đông sẽ đánh thức những kẻ đang ngủ. Khi đó, người giám hộ ở phương tây sẽ thử thách và kiểm tra tất cả những người tìm kiếm ánh sáng chân chính. Khi đó, người giám hộ ở phương nam sẽ hướng dẫn và hỗ trợ người mù. Khi đó, cánh cổng đi vào phương bắc sẽ mở toang, vì ở đó Chân sư vô hình đang đứng với bàn tay chào đón và trái tim thấu hiểu, để dẫn dắt những người hành hương về phương đông nơi ánh sáng chân thật tỏa rạng.
“Why this opening of the temple?” demand the greater Seven. “Because the work is ready; the craftsmen are prepared. God has created in the light. His sons can now create. What can else be done?”
"Tại sao lại mở ngôi đền này?" Bảy Vị lớn hơn yêu cầu. "Bởi vì công việc đã sẵn sàng; những người thợ thủ công đã chuẩn bị. Thượng đế đã sáng tạo trong ánh sáng. Các con của Ngài giờ đây có thể sáng tạo. Còn có thể làm gì khác nữa?"
“Naught!” came the answer from the greater Seven. “Let the work proceed. Let the sons of God create.”
"Không gì cả!" câu trả lời đến từ Bảy Vị lớn hơn. "Hãy để công việc tiến hành. Hãy để các con của Thượng đế sáng tạo."
These words will be noted by many as of deep significance and as indicating a wide intention (during the coming cycle) [85] to open the door wide into the temple of the hidden mystery to man. One by one we shall undergo the esoteric and spiritual counterpart of the psychological factor which is called “a mental test.” That test will demonstrate a man’s usefulness in mental work and power, it will show his capacity to build thought-forms and to vitalise them. This I dealt with in A Treatise on White Magic, and the relation of that treatise to the magical work of the seventh ray and its cycle of activity will become increasingly apparent. A Treatise on White Magic is an attempt to lay down the rules for training and for work which will make it possible for the candidate to the mysteries to enter the temple and to take his place as a creative worker and thus aid in the magical work of the Lord of the Temple.
Những lời này sẽ được nhiều người ghi nhận là có thâm nghĩa sâu sắc và chỉ ra một ý định rộng lớn (trong chu kỳ sắp tới) [85] nhằm mở rộng cánh cửa vào ngôi đền của bí nhiệm ẩn giấu đối với con người. Từng người một, chúng ta sẽ trải qua đối phần huyền bí và tinh thần của yếu tố tâm lý được gọi là "bài kiểm tra trí tuệ". Bài kiểm tra đó sẽ chứng minh sự hữu ích của một người trong công việc trí tuệ và quyền năng trí tuệ, nó sẽ cho thấy năng lực của y trong việc xây dựng các hình tư tưởng và tiếp sinh lực cho chúng. Tôi đã đề cập đến điều này trong Luận về Chánh Thuật, và mối quan hệ của luận thuyết đó với công việc huyền thuật của cung bảy và chu kỳ hoạt động của nó sẽ ngày càng trở nên rõ ràng. Luận về Chánh Thuật là một nỗ lực nhằm đặt ra các quy luật cho việc rèn luyện và làm việc vốn sẽ giúp cho ứng viên đối với các bí nhiệm có thể bước vào ngôi đền và đảm nhận vị trí của mình như một người hoạt động sáng tạo và do đó hỗ trợ trong công việc huyền thuật của Chúa Tể của Ngôi Đền.
The names whereby this ray Lord is known are many, and their meaning is of prime significance today. The work of the future can be seen from a study of these names.
Những cái tên mà qua đó Chúa Tể cung này được biết đến rất nhiều, và ý nghĩa của chúng có tầm quan trọng hàng đầu ngày nay. Công việc của tương lai có thể được nhìn thấy từ việc nghiên cứu những cái tên này.
The Unveiled Magician
Nhà Huyền Thuật Được Tiết Lộ
The Worker in the Magical Art
Người Hoạt Động trong Nghệ Thuật Huyền Thuật
The Creator of the Form
Đấng Sáng Tạo Hình Tướng
The Bestower of Light from the Second Lord
Đấng Ban Tặng Ánh Sáng từ Chúa Tể Thứ Hai
The Manipulator of the Wand
Đấng Thao Tác Đũa Thần
The Watcher in the East
Đấng Canh Giữ ở Phương Đông
The Custodian of the Seventh Plan
Đấng Trông Coi Kế Hoạch Thứ Bảy
The Invoker of Wrath
Đấng Gợi Lên Cơn Thịnh Nộ
The Keeper of the Magical Word
Đấng Giữ Gìn Linh Từ Huyền Thuật
The Temple Guardian
Đấng Bảo Vệ Ngôi Đền
The Representative of God
Đại Diện của Thượng Đế
The One Who lifts to Life
Đấng Nâng lên đến Sự Sống
The Lord of Death
Chúa Tể của Cái Chết
The One Who feeds the Sacred Fire
Đấng Nuôi Dưỡng Ngọn Lửa Thiêng
The Whirling Sphere
Khối Cầu Xoay Chuyển
The Sword of the Initiator
Thanh Gươm của Đấng Điểm Đạo
The Divine Alchemical Worker
Người Thợ Luyện Kim Thiêng Liêng
The Builder of the Square
Đấng Xây Dựng Hình Vuông
The Orienting Force
Mãnh Lực Định Hướng
The Fiery Unifier [86]
Đấng Hợp Nhất Rực Lửa [86]
The Key to the Mystery
Chìa Khóa của Bí Nhiệm
The Expression of the Will
Sự Biểu Hiện của Ý Chí
The Revealer of Beauty
Đấng Tiết Lộ Vẻ Đẹp
This ray Lord has a peculiar power on earth and on the physical plane of divine manifestation. His usefulness to His six Brothers is therefore apparent. He makes Their work appear. He is the most active of all the rays in this world period, and is never out of manifestation for more than fifteen hundred years. It is almost as if He whirled in and out of active work under a very rapid cycle, and His closest relation, symbolically, is to His Brethren of the second and fifth rays in this world period.
Chúa Tể cung này có một quyền năng đặc biệt trên trái đất và trên cõi hồng trần của sự biểu hiện thiêng liêng. Do đó, sự hữu ích của Ngài đối với sáu Huynh Đệ của Ngài là rõ ràng. Ngài làm cho công việc của Các Ngài xuất hiện. Ngài là cung tích cực nhất trong tất cả các cung trong giai kỳ thế giới này, và không bao giờ ngưng biểu hiện quá một ngàn năm trăm năm. Gần như thể Ngài xoay vào và ra khỏi công việc tích cực theo một chu kỳ rất nhanh, và mối quan hệ gần gũi nhất của Ngài, về mặt biểu tượng, là với các Huynh Đệ của Ngài thuộc cung hai và cung năm trong giai kỳ thế giới này.
He builds (using second ray cooperation) through the power of thought (thus cooperating with the Lord of the fifth ray and on the physical plane, which is His own essential and peculiar sphere). In another world period His relation with the other ray Lords may undergo change, but at this time His work will be more easily understood when He is recognised as aiding the building Lord of the second ray and utilising the energies of the Lord of concrete thought.
Ngài xây dựng (sử dụng sự hợp tác của cung hai) thông qua sức mạnh của tư tưởng (do đó hợp tác với Chúa Tể cung năm và trên cõi hồng trần, vốn là phạm vi thiết yếu và đặc biệt của riêng Ngài). Trong một giai kỳ thế giới khác, mối quan hệ của Ngài với các Chúa Tể cung khác có thể trải qua sự thay đổi, nhưng vào lúc này, công việc của Ngài sẽ dễ hiểu hơn khi Ngài được công nhận là đang hỗ trợ Chúa Tể xây dựng của cung hai và sử dụng các năng lượng của Chúa Tể tư tưởng cụ thể.
The aphorisms embodying His qualities run as follows, and were esoterically whispered into His ears when He “left the most high place and descended into the seventh sphere to carry out the work assigned.”
Các câu cách ngôn thể hiện các phẩm tính của Ngài như sau, và đã được thì thầm một cách huyền bí vào tai Ngài khi Ngài "rời khỏi nơi cao nhất và giáng xuống khối cầu thứ bảy để thực hiện công việc được giao."
1. Take thy tools with thee, brother of the building light. Carve deep. Construct and shape the living stone.
1. Hãy mang theo các công cụ của ngươi, hỡi Huynh đệ của ánh sáng xây dựng. Hãy chạm khắc sâu. Hãy kiến tạo và định hình viên đá sống động.
Quality......power to create.
Phẩm tính......quyền năng sáng tạo.
2. Choose well thy workers. Love them all. Pick six to do thy will. Remain the seventh in the east. Yet call the world to enter into that which thou shalt build. Blend all together in the will of God.
2. Hãy chọn kỹ những người thợ của ngươi. Hãy thương yêu tất cả họ. Chọn sáu người để thực hiện ý chí của ngươi. Hãy vẫn là người thứ bảy ở phương đông. Nhưng hãy kêu gọi thế giới bước vào những gì ngươi sẽ xây dựng. Hãy hòa trộn tất cả lại với nhau trong ý chí của Thượng đế.
Quality......power to cooperate.
Phẩm tính......quyền năng hợp tác.
3. Sit in the centre and the east as well. Move not from there.[87] Send out thy force to do thy will and gather back thy forces. Use well the power of thought. Sit still.
3. Hãy ngồi ở trung tâm cũng như ở phương đông. Đừng di chuyển khỏi đó.[87] Hãy gửi lực của ngươi ra để thực hiện ý chí của ngươi và thu hồi lại các lực lượng của ngươi. Hãy sử dụng tốt sức mạnh của tư tưởng. Hãy ngồi yên.
Quality...... power to think.
Phẩm tính...... quyền năng tư duy.
4. See all parts enter into the purpose. Build towards beauty, brother Lord. Make all colours bright and clear. See to the inner glory. Build the shrine well. Use care.
4. Hãy nhìn thấy tất cả các phần đi vào mục đích. Hãy xây dựng hướng tới vẻ đẹp, hỡi người anh em Chúa Tể. Hãy làm cho tất cả các màu sắc tươi sáng và rõ ràng. Hãy chú ý đến vinh quang bên trong. Hãy xây dựng điện thờ thật tốt. Hãy cẩn trọng.
Quality......revelation of the beauty of God.
Phẩm tính......sự tiết lộ vẻ đẹp của Thượng đế.
5. Watch well thy thought. Enter at will into the mind of God. Pluck thence the power, the plan, the part to play. Reveal the mind of God.
5. Hãy canh chừng tư tưởng của ngươi thật kỹ. Hãy tùy ý đi vào trí tuệ của Thượng đế. Hãy lấy từ đó quyền năng, kế hoạch, vai trò cần đóng. Hãy tiết lộ trí tuệ của Thượng đế.
Quality......mental power.
Phẩm tính......quyền năng trí tuệ.
6. Stay in the east. The five have given thee a friendly Word. I, the sixth, tell thee to use it on the dead. Revive the dead. Build forms anew. Guard well that Word. Make all men seek it for themselves.
6. Hãy ở lại phương đông. Năm người kia đã cho ngươi một Linh từ thân thiện. Ta, người thứ sáu, bảo ngươi hãy sử dụng nó trên kẻ chết. Hãy làm cho kẻ chết sống lại. Hãy xây dựng hình tướng một lần nữa. Hãy canh giữ Linh từ đó thật kỹ. Hãy làm cho mọi người tự tìm kiếm nó cho chính họ.
Quality......power to vivify.
Phẩm tính......quyền năng làm cho sinh động.
Thus we have studied a little the work of the seven rays. The teaching has had to be conveyed symbolically and its understanding necessitates an awakened esoteric sense; to comprehend it all is not as yet possible.
Như vậy chúng ta đã nghiên cứu một chút về công việc của bảy cung. Giáo huấn đã phải được truyền đạt một cách tượng trưng và sự thấu hiểu nó đòi hỏi một giác quan huyền bí đã thức tỉnh; việc thấu hiểu tất cả vẫn chưa thể thực hiện được.
The Chohans of the sixth initiation have the guidance of those units of consciousness in whom their particular ray vibration and colour predominate. The vast importance of this fact is often overlooked, even when theoretically acknowledged by aspirants to initiation. Hence the importance of determining the ray of the ego and of the Monad,—something of vital moment after the third initiation. A majority and a minority always exist in every department of life. So it is in the work of the Logos, for at the end of the greater cycle (manvantara) the majority will find their way to the synthetic love ray; a small minority will find their way to the power ray. This minority are destined for an important function. They will constitute the nucleus which (in the next solar system) will constitute the majority, finding their synthesis on ray one. This is a great mystery and not easily understood. [88] Some hint towards its solution will be found hidden in the real meaning of the words “exoteric” and “esoteric.”
Các Chohan của lần điểm đạo thứ sáu hướng dẫn những đơn vị tâm thức mà trong họ, rung động và màu sắc của cung tương ứng với các Ngài chiếm ưu thế. Tầm quan trọng vô cùng lớn lao của sự kiện này thường bị bỏ qua, ngay cả khi những ứng viên điểm đạo chỉ thừa nhận nó về mặt lý thuyết. Do đó, việc xác định cung của chân ngã và của Chân Thần trở thành điều có ý nghĩa sống còn sau lần điểm đạo thứ ba. Một đa số và một thiểu số luôn tồn tại trong mọi lĩnh vực của sự sống. Trong công việc của Thượng đế cũng vậy, vì vào cuối đại chu kỳ (manvantara), đa số sẽ tìm đường đến cung tình thương tổng hợp; một thiểu số nhỏ sẽ tìm đường đến cung quyền năng. Thiểu số này được định sẵn cho một chức năng quan trọng. Họ sẽ cấu thành hạt nhân mà (trong hệ mặt trời tiếp theo) sẽ cấu thành đa số, tìm thấy sự tổng hợp của họ trên cung một. Đây là một bí nhiệm lớn và không dễ hiểu. [88] Một vài gợi ý hướng tới lời giải của nó sẽ được tìm thấy ẩn giấu trong ý nghĩa thực sự của các từ "ngoại môn" và "nội môn."
The fact should be remembered that only five rays dominate at any one time. All manifest, but only five dominate. A distinction should be made between the rays dominating in a solar system and those dominating in a scheme, or a chain. To this reference has been made in A Treatise on Cosmic Fire. Three rays out of the seven synthesise. One ray out of the three will synthesise at the culmination. For the first solar system the third ray was the synthetic ray, but for this solar system the second ray is the synthetic ray, and for the next solar system the first ray will perform a similar function.
Cần ghi nhớ thực tế là chỉ có năm cung chi phối tại bất kỳ thời điểm nào. Tất cả đều biểu hiện, nhưng chỉ có năm cung chi phối. Cần phân biệt giữa các cung chi phối trong một hệ mặt trời và các cung chi phối trong một hệ hành tinh, hoặc một dãy. Điều này đã được đề cập đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Ba cung trong số bảy cung thực hiện sự tổng hợp. Một cung trong số ba cung sẽ tổng hợp tại điểm cực thịnh. Đối với hệ mặt trời đầu tiên, cung ba là cung tổng hợp, nhưng đối với hệ mặt trời này, cung hai là cung tổng hợp, và đối với hệ mặt trời tiếp theo, cung một sẽ thực hiện một chức năng tương tự.
Two rays are largely the goal of human endeavour, the first ray and the second ray. One ray is the goal of the deva or angel evolution, the third ray. All these three rays contact the two poles, and the attainment of the goal at the end of the cycle marks the achievement of the solar Logos. This again is hidden in mystery. The seventh ray and the first ray are very closely allied, with the third ray linking them, so that we have the relation expressed thus,— 1. 3. 7. There is a close association also between rays 2. 4. 6., with the fifth ray in a peculiar position, as a central point of attainment, the home of the ego or soul, the embodied plane of mind, the point of consummation for the personality, and the reflection in the three worlds of the threefold monad.
Hai cung phần lớn là mục tiêu nỗ lực của con người, cung một và cung hai. Một cung là mục tiêu của cuộc tiến hóa deva hay thiên thần, là cung ba. Cả ba cung này đều tiếp xúc với hai cực, và việc đạt được mục tiêu vào cuối chu kỳ đánh dấu thành tựu của Thái dương Thượng đế. Điều này một lần nữa ẩn giấu trong bí nhiệm. Cung bảy và cung một liên kết rất chặt chẽ, với cung ba liên kết chúng, vì vậy chúng ta có mối quan hệ được thể hiện như sau, — 1. 3. 7. Cũng có một sự liên kết chặt chẽ giữa các cung 2. 4. 6., với cung năm ở một vị trí đặc biệt, như một điểm thành tựu trung tâm, ngôi nhà của chân ngã hay linh hồn, cõi trí hiện thân, điểm thành tựu cho phàm ngã, và sự phản chiếu trong ba cõi của chân thần tam phân.