← Externalisation of the Hierarchy

THE ASHRAMS CONCERNED AT THE COMING—CÁC ASHRAM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ QUANG LÂM

THE ASHRAMS CONCERNED AT THE COMING—CÁC ASHRAM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ QUANG LÂM

June 1948

Tháng Sáu 1948

The Full Moon is upon us and the thoughts of the world (to a far larger extent than you realise) are directed towards the Christ. It is upon His concerns that I speak to you today, inextricably bound up, as they are, with the concerns of humanity, and this by His Own choice. Many today in all lands are turning their thoughts consciously to Him; others are aware of a vague turning towards some divine Person or Power Who must and should help mankind in its hour of need. There is a rising, an ascension of the spirit of man everywhere which is better known to us than to you, whose values and reactions are not so spiritual. The strength, the power and the special energies which He received at that dramatic moment when He, the Buddha and the Lord of the World created a Triangle of Light at the time of the Wesak Festival, will be released by Him at the hour of the Full Moon of June. This Light has been concentrated upon the “centre which we call the race of men,” but it has not yet been released. At the Full Moon it will be poured out all over the Earth. During the interim between reception and distribution, [643] it has been transformed into the energy of goodwill and into that light which will illumine the minds of men.

Trăng Tròn đang ở trên chúng ta và tư tưởng của thế giới (ở mức độ lớn hơn nhiều so với các bạn nhận ra) đang hướng về Đức Christ. Hôm nay tôi nói với các bạn về những mối quan tâm của Ngài, vốn gắn bó không thể tách rời với những mối quan tâm của nhân loại, và điều này là do chính sự lựa chọn của Ngài. Ngày nay nhiều người ở mọi xứ sở đang có ý thức hướng tư tưởng về Ngài; những người khác nhận biết một sự quay về mơ hồ hướng tới một Đấng hay một Quyền năng thiêng liêng nào đó phải và nên giúp nhân loại trong giờ phút cần thiết của mình. Ở khắp nơi đang có một sự dâng lên, một sự thăng lên của tinh thần con người mà chúng tôi biết rõ hơn các bạn, những người mà các giá trị và phản ứng chưa được tinh thần đến thế. Sức mạnh, quyền năng và những năng lượng đặc biệt mà Ngài đã tiếp nhận vào khoảnh khắc đầy kịch tính khi Ngài, Đức Phật và Đức Chúa Tể Thế Giới tạo thành một Tam Giác Ánh Sáng vào dịp Lễ Hội Wesak, sẽ được Ngài giải phóng vào giờ Trăng Tròn tháng Sáu. Ánh Sáng này đã được tập trung vào “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại,” nhưng chưa được giải phóng. Vào lúc Trăng Tròn, nó sẽ được tuôn đổ khắp Trái Đất. Trong khoảng thời gian giữa tiếp nhận và phân phối, [643] nó đã được chuyển hóa thành năng lượng thiện chí và thành ánh sáng sẽ soi sáng trí tuệ của con người.

The Great Invocation—now being used by so many—has greatly facilitated the receptivity of men; the creative appearance of effective goodwill can, however, be some time in manifesting. Nevertheless, nothing can arrest its subtle working and its eventual widespread appearance, on a scale great enough to be effective throughout the whole world. This greatly to be desired expression of divine purpose will be fulfilled if humanity (as a whole) stands in steady expectancy, wise activity, and makes broad and brotherly decisions. As I have often told you, the final decisions in world affairs have to be made through mankind’s deliberate choice; no compulsion is ever exerted by the Hierarchy or by the disciples of the Christ to force men to take some desirable action. Man’s free will must be preserved. In an unique manner, men are today facing a period of the freeing of the human soul, or a period of its imprisonment indefinitely; the right decision will lead to the Kingdom of God, and the other to a retrogression which will deify the past and prolong past wrong action.

Đại Khấn Nguyện—hiện đang được rất nhiều người sử dụng—đã tạo điều kiện rất lớn cho tính tiếp nhận của con người; tuy nhiên, sự xuất hiện sáng tạo của thiện chí hữu hiệu có thể cần một thời gian mới biểu hiện. Dầu vậy, không gì có thể ngăn chặn hoạt động vi tế của nó và sự xuất hiện rộng khắp cuối cùng của nó, trên một quy mô đủ lớn để có hiệu quả trên toàn thế giới. Sự biểu lộ rất đáng mong muốn này của thiên ý sẽ được hoàn thành nếu nhân loại (xét như một toàn thể) đứng trong sự mong đợi vững vàng, hoạt động minh triết, và đưa ra những quyết định rộng rãi và huynh đệ. Như tôi thường nói với các bạn, các quyết định cuối cùng trong những vấn đề thế giới phải được thực hiện qua sự lựa chọn có chủ ý của nhân loại; Thánh đoàn hay các đệ tử của Đức Christ không bao giờ dùng sự cưỡng bách để ép con người thực hiện một hành động đáng mong muốn nào đó. Ý chí tự do của con người phải được bảo tồn. Theo một cách độc đáo, ngày nay con người đang đối diện một thời kỳ giải phóng linh hồn nhân loại, hoặc một thời kỳ giam hãm nó vô thời hạn; quyết định đúng sẽ dẫn đến Thiên Giới, còn quyết định kia sẽ dẫn đến một sự thoái bộ, thần thánh hóa quá khứ và kéo dài những hành động sai lầm của quá khứ.

This outpouring of spiritual energy passes through the groups or (to use a technical word which is relatively unimportant) through the Ashrams of all the Masters of the Wisdom, the Disciples of the Christ. It is then transformed or transmuted by them so as to meet adequately the needs of the different types of people who compose humanity and who are represented in the Ashrams by different Masters. Through all the Masters and through all disciples this energy passes, so that all—at their many different stages—may receive the needed stimulation. They precipitate certain specialised aspects of this newly received energy, and they therefore will be peculiarly active in the coming period.

Sự tuôn đổ năng lượng tinh thần này đi qua các nhóm hay (dùng một từ kỹ thuật tương đối không quan trọng) qua các ashram của tất cả các Chân sư Minh Triết, các Đệ tử của Đức Christ. Sau đó nó được các Ngài chuyển đổi hay chuyển hoá để đáp ứng thích đáng những nhu cầu của các loại người khác nhau cấu thành nhân loại và được đại diện trong các ashram bởi các Chân sư khác nhau. Năng lượng này đi qua tất cả các Chân sư và qua tất cả các đệ tử, để mọi người—ở nhiều giai đoạn khác nhau của họ—có thể nhận được sự kích thích cần thiết. Các Ngài làm ngưng tụ một số phương diện chuyên biệt của năng lượng mới tiếp nhận này, và do đó các Ngài sẽ đặc biệt hoạt động mạnh trong thời kỳ sắp tới.

Five of the Masters and Their five Ashrams are primarily involved in this preparatory work. There is first of all the Ashram of the Master K.H., which is the presiding Ashram in this work, owing to the fact that it is a second ray Ashram, and therefore upon the same line of spiritual energy and descent as the Christ Himself. Another reason is that the [644] Master K.H. will assume the role of World Teacher in the distant future when the Christ moves on to higher and more important work than dealing with the consciousness of humanity. Next comes the Master Morya and His Ashram, because the whole procedure is projected from Shamballa, and He is in close touch with that dynamic centre. The Master R., as the Lord of Civilisation, is necessarily closely involved in this preparatory work, and also because He is what has been called the Regent of Europe. Another Ashram is also very deeply concerned in this work; I have, at times, referred to the Master Who was responsible for the organisation of Labour. This work He began to do in the latter part of the nineteenth century, but left it to carry forward of its own momentum when Russia entered the field and laid an undue emphasis upon the proletariat during the revolution and in the later years of the first quarter of the twentieth century. I (D.K.) am the fifth Master concerned in this special work and am, as it were, the liaison officer between those active and conscious disciples who are working in the world of outer affairs and those directly responsible to the Christ for the desired work of preparation. Certain disciples from these five Ashrams or groups have been (and will be) especially trained for the work of contacting the public.

Năm vị Chân sư và năm ashram của Các Ngài chủ yếu tham dự vào công việc chuẩn bị này. Trước hết là ashram của Chân sư K.H., là ashram chủ trì trong công việc này, do sự kiện đây là một ashram cung hai, và vì vậy ở trên cùng một đường năng lượng tinh thần và giáng hạ như chính Đức Christ. Một lý do khác là [644] Chân sư K.H. sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo trong tương lai xa khi Đức Christ chuyển sang công việc cao hơn và quan trọng hơn là xử lý tâm thức của nhân loại. Kế đến là Chân sư Morya và ashram của Ngài, vì toàn bộ tiến trình này được phóng chiếu từ Shamballa, và Ngài tiếp xúc mật thiết với trung tâm năng động đó. Chân sư R., với tư cách Chúa Tể của Văn Minh, tất nhiên có liên hệ mật thiết với công việc chuẩn bị này, và cũng bởi vì Ngài là Đấng từng được gọi là Nhiếp Chính của châu Âu. Một ashram khác cũng rất sâu sắc liên quan đến công việc này; đôi khi tôi đã nhắc đến Chân sư chịu trách nhiệm về việc tổ chức Lao động. Công việc này Ngài bắt đầu thực hiện vào phần sau của thế kỷ mười chín, nhưng đã để nó tiếp tục theo đà vận động riêng khi Nga bước vào vũ đài và đặt một sự nhấn mạnh quá mức lên giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng và trong những năm sau đó của phần tư đầu thế kỷ hai mươi. Tôi (D.K.) là vị Chân sư thứ năm liên quan đến công việc đặc biệt này và, có thể nói, là viên chức liên lạc giữa những đệ tử tích cực và hữu thức đang làm việc trong thế giới của các công việc bên ngoài và những vị trực tiếp chịu trách nhiệm trước Đức Christ về công việc chuẩn bị mong muốn. Một số đệ tử từ năm ashram hay nhóm này đã được (và sẽ được) huấn luyện đặc biệt cho công việc tiếp xúc công chúng.

The stimulation which can be given will be released at the coming Full Moon. The five specialised energies are as follows:

Sự kích thích có thể được ban ra sẽ được giải phóng vào kỳ Trăng Tròn sắp tới. Năm năng lượng chuyên biệt như sau:

1. The Energy of Love-Wisdom. This energy always has an effect upon every type of human being in the world. Its effect is to stimulate the tendency towards goodwill and to produce a mental development which can transmute the knowledge—garnered down the ages—into wisdom. It is wisdom which is needed today. Those who are now attempting to foster goodwill in themselves and others will be stimulated into wise action. You can see, therefore, that the outpouring of this energy is the first and greatest need. It can reach mankind because the Founders of all the world religions (I refer not to their many diversifications) are banded together in [645] unison with the Christ, Their Lord and Master; through Their united and directed effort, these energies will flow. Forget not that Christ represents the energy of love and the Buddha that of wisdom.

1. Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng này luôn luôn có tác động lên mọi loại người trong thế giới. Tác động của nó là kích thích khuynh hướng hướng tới thiện chí và tạo ra một sự phát triển trí tuệ có thể chuyển hoá tri thức—được tích lũy qua các thời đại—thành minh triết. Chính minh triết là điều ngày nay cần đến. Những ai hiện đang cố gắng nuôi dưỡng thiện chí nơi chính mình và nơi người khác sẽ được kích thích đi đến hành động minh triết. Vì vậy, các bạn có thể thấy rằng sự tuôn đổ năng lượng này là nhu cầu đầu tiên và lớn nhất. Nó có thể đến được với nhân loại vì những Đấng Sáng Lập của mọi tôn giáo trên thế giới (tôi không nói đến vô số sự phân hóa của các tôn giáo ấy) đang liên kết với nhau [645] trong sự đồng nhất với Đức Christ, Chúa Tể và Chân sư của Các Ngài; nhờ nỗ lực hợp nhất và có định hướng của Các Ngài, những năng lượng này sẽ tuôn chảy. Đừng quên rằng Đức Christ tượng trưng cho năng lượng bác ái và Đức Phật tượng trưng cho năng lượng minh triết.

2. The Energy of Will or Power. The outpouring of this energy, owing to the “little wills” of the majority of men and the developed strenuous wills of certain present world Leaders, will not have as wide or potent an effect or contact as may the others. Its inflow will, however, serve to bring about a “fixed intention” on the part of many to work ceaselessly for true peace and understanding. These people will therefore aid in the task of implementing goodwill. It will, nevertheless, strengthen the will of the selfish, ambitious and obstinate men who are in positions of power and influence, and produce increased trouble—at least temporarily. The salvation of the world and the production of the needed security will be brought about in the long run by the mass of men everywhere, in all lands; it will be the result of an intensified educational process. Humanity, as yet, does not know how to handle wisely the energy of the will-to-power, and it is largely this that has handicapped the manifestation of the will-to-good. The Shamballa force is too strong for those who are naturally wilful. In the case of certain potent men, this energy reaches them directly, and is not stepped down for them through contact with the Hierarchy of Love; it naturally expresses itself in the political fields and in the realm of governments, through rulers, officials, statesmen and politicians. When the “little wills” of the intelligentsia, of those who serve the public in some capacity or other, and those above all who are working in some connection with the United Nations, become strengthened, stimulated and focussed on goodwill, the union of the two energies of Love-Wisdom and of Will can bring about the needed changes in the planetary life. This is not an immediate happening, but it is not a visioning of the impossible.

2. Năng lượng của Ý chí hay Quyền năng. Sự tuôn đổ năng lượng này, do những “ý chí nhỏ bé” của đa số con người và những ý chí mãnh liệt đã phát triển của một số Nhà Lãnh Đạo thế giới hiện nay, sẽ không có tác động hay tiếp xúc rộng lớn và mạnh mẽ như các năng lượng khác. Tuy nhiên, dòng chảy vào của nó sẽ giúp đem lại một “ý định cố định” nơi nhiều người để làm việc không ngừng cho hòa bình và sự thấu hiểu chân chính. Vì vậy, những người này sẽ hỗ trợ trong nhiệm vụ thực hiện thiện chí. Dầu vậy, nó cũng sẽ làm mạnh thêm ý chí của những kẻ ích kỷ, tham vọng và ngoan cố đang ở các vị trí quyền lực và ảnh hưởng, và tạo ra nhiều rắc rối hơn—ít nhất là tạm thời. Sự cứu rỗi của thế giới và việc tạo ra sự an toàn cần thiết về lâu dài sẽ được thực hiện bởi quần chúng ở khắp nơi, trong mọi xứ sở; đó sẽ là kết quả của một tiến trình giáo dục được tăng cường. Nhân loại, cho đến nay, chưa biết cách xử lý một cách minh triết năng lượng của ý chí-quyền lực, và phần lớn chính điều này đã cản trở sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện. Mãnh lực Shamballa quá mạnh đối với những ai vốn có ý chí cứng cỏi. Trong trường hợp của một số người đầy quyền lực, năng lượng này đến với họ trực tiếp, và không được hạ thấp cường độ cho họ qua tiếp xúc với Huyền Giai của Bác Ái; dĩ nhiên nó biểu lộ trong các lĩnh vực chính trị và trong phạm vi các chính phủ, qua những người cai trị, viên chức, chính khách và chính trị gia. Khi những “ý chí nhỏ bé” của giới trí thức, của những người phụng sự công chúng dưới hình thức này hay hình thức khác, và nhất là của những người đang làm việc trong một mối liên hệ nào đó với Liên Hiệp Quốc, được tăng cường, kích thích và tập trung vào thiện chí, thì sự hợp nhất của hai năng lượng Bác Ái – Minh Triết và Ý chí có thể đem lại những thay đổi cần thiết trong sự sống hành tinh. Đây không phải là điều xảy ra ngay tức khắc, nhưng cũng không phải là một linh ảnh về điều bất khả.

3. The Energy of Active Intelligence. This third type of energy is the easiest one for modern humanity to receive—which is perhaps a sad commentary upon man’s aspirations. [646] The proof of this lies in the fact that much of this type of energy (through the selfish perception and desires of mankind) has been crystallised into money. Human intelligence has served on the side of materialism and not on the side of the spiritual values. Money is the concretised expression of the third type of spiritual energy. This particular expression appeared first in the ancient and equally materialistic system of barter and exchange; then, in later civilisations (predominantly including ours) we have the appearance of money, made first from the products of the mineral kingdom, and then later came paper money, made from the products of the vegetable kingdom. This has culminated in the modern preoccupation with money. There is very deep occult meaning to be found in the statement in the New Testament that “the love of money is the root of all evil”. It is largely money and selfishness which lie behind the present disastrous economic situation. Great financiers are in reality those in whom the receipt of money, or of this type of energy, constitutes the line of least resistance, plus the will to make vast fortunes, which cannot be gainsaid. They will to make a fortune; they bring their intelligence to bear upon their goal, and naught can stop them. Many of them are purely selfish; some regard their money as a trust to be used for others and are amazingly generous in a philanthropic and humanitarian sense. These men are receptive to the first type of energy, and frequently all the three types find a channel through them, and the world is greatly benefited; such men are nevertheless very rare. It still remains for the crystallised aspect of this third energy—money—to be used on a large scale for the furtherance of the work of the Hierarchy. It is at this point and in connection with money that the great test of goodwill should demonstrate.

3. Năng lượng của Trí Tuệ Hoạt Động. Loại năng lượng thứ ba này là loại dễ tiếp nhận nhất đối với nhân loại hiện đại—điều này có lẽ là một lời bình khá buồn về những khát vọng của con người. [646] Bằng chứng của điều này nằm ở chỗ phần lớn loại năng lượng này (qua nhận thức ích kỷ và dục vọng của nhân loại) đã kết tinh thành tiền bạc. Trí tuệ con người đã phục vụ cho phía vật chất chủ nghĩa chứ không phục vụ cho phía các giá trị tinh thần. Tiền bạc là biểu hiện cụ thể hóa của loại năng lượng tinh thần thứ ba. Biểu hiện đặc biệt này trước hết xuất hiện trong hệ thống trao đổi và đổi chác cổ xưa cũng mang tính vật chất như nhau; rồi trong các nền văn minh về sau (chủ yếu bao gồm cả nền văn minh của chúng ta), chúng ta có sự xuất hiện của tiền, trước tiên làm từ các sản phẩm của giới kim thạch, rồi sau đó là tiền giấy, làm từ các sản phẩm của giới thực vật. Điều này đã lên đến tột đỉnh trong sự bận tâm hiện đại đối với tiền bạc. Có một ý nghĩa huyền bí rất sâu xa trong lời phát biểu trong Tân Ước rằng “lòng yêu tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác”. Phần lớn chính tiền bạc và tính ích kỷ nằm phía sau tình trạng kinh tế tai hại hiện nay. Những nhà tài chính lớn thực ra là những người nơi họ việc tiếp nhận tiền bạc, hay loại năng lượng này, cấu thành con đường ít trở ngại nhất, cộng với ý chí tạo ra những gia tài khổng lồ không thể phủ nhận. Họ muốn làm giàu; họ đem trí tuệ của mình tập trung vào mục tiêu ấy, và không gì có thể ngăn họ. Nhiều người trong số họ hoàn toàn ích kỷ; một số xem tiền của mình như một sự ủy thác để dùng cho người khác và rộng lượng đến kinh ngạc theo nghĩa từ thiện và nhân đạo. Những người này tiếp nhận loại năng lượng thứ nhất, và thường cả ba loại đều tìm được một kênh qua họ, và thế giới được lợi ích rất lớn; tuy nhiên những người như thế rất hiếm. Vẫn còn phải chờ để phương diện kết tinh của năng lượng thứ ba này—tiền bạc—được sử dụng trên quy mô lớn cho sự thúc đẩy công việc của Thánh đoàn. Chính tại điểm này và liên quan đến tiền bạc mà phép thử lớn của thiện chí phải được chứng minh.

4. The energy which produces order. This is the energy of the seventh ray or power of divinity. At this time, its major expression will come through the relationships and adjustments required between capital and labour, and labour will be primarily involved. This energy is being assimilated in the Ashram of the Master Whom I mentioned above; at the [647] inception of the industrial era He was responsible for the formation of the labour movement—a movement bringing into relation the workers of the world. It is interesting to have in mind that today labour functions internationally; it is a group which learns with rapidity and has in it the seeds of vast good; it is probably the group which will place goodwill in the forefront of human thinking—upon a pinnacle of thought. This Master to Whom I refer belongs to the Ashram of the Master R. He relieves Him of this phase of the work to be done.

4. Năng lượng tạo ra trật tự. Đây là năng lượng của cung bảy hay quyền năng của thiên tính. Vào lúc này, biểu hiện chính của nó sẽ đến qua những mối quan hệ và những điều chỉnh cần thiết giữa tư bản và lao động, và lao động sẽ là phía chủ yếu liên quan. Năng lượng này đang được đồng hóa trong ashram của Chân sư mà tôi đã nhắc đến ở trên; vào [647] lúc khởi đầu của kỷ nguyên công nghiệp, Ngài chịu trách nhiệm về việc hình thành phong trào lao động—một phong trào đưa những người lao động trên thế giới vào mối liên hệ với nhau. Thật thú vị khi ghi nhớ rằng ngày nay lao động hoạt động trên bình diện quốc tế; đó là một nhóm học hỏi rất nhanh và trong nó có những hạt giống của điều thiện lớn lao; có lẽ đó là nhóm sẽ đặt thiện chí lên hàng đầu trong tư tưởng nhân loại—trên một đỉnh cao của tư tưởng. Chân sư mà tôi nói đến thuộc ashram của Chân sư R. Ngài thay cho Chân sư R. trong phương diện công việc này cần được thực hiện.

5. The energy of right human relations. This energy is a subsidiary expression of the energy of Love-Wisdom—the first of the great outpouring energies. It emanates, therefore, from the subsidiary Ashram for which I am responsible. I have written and taught much about it, and with some success. “Right human relations” is not simply goodwill, as people seem to think; it is a product or result of goodwill and the instigator of constructive changes between individuals, communities and nations. About it I need not write, for you have enough teaching from me to guide you. Your daily actions will be those of goodwill, directed towards the establishing of right human relations if you are rightly oriented within the race of men and towards the spiritual Hierarchy.

5. Năng lượng của những quan hệ đúng đắn giữa người với người. Năng lượng này là một biểu hiện phụ của năng lượng Bác Ái – Minh Triết—năng lượng đầu tiên trong đại tuôn đổ các năng lượng. Vì vậy, nó phát xuất từ ashram phụ mà tôi chịu trách nhiệm. Tôi đã viết và giảng dạy nhiều về nó, và với một mức thành công nào đó. “Những quan hệ đúng đắn giữa người với người” không chỉ đơn giản là thiện chí, như người ta dường như nghĩ; nó là sản phẩm hay kết quả của thiện chí và là tác nhân khởi phát những thay đổi xây dựng giữa cá nhân, cộng đồng và quốc gia. Về điều này tôi không cần viết thêm, vì các bạn đã có đủ giáo huấn từ tôi để hướng dẫn các bạn. Những hành động hằng ngày của các bạn sẽ là những hành động thiện chí, hướng tới việc thiết lập những quan hệ đúng đắn giữa người với người nếu các bạn được định hướng đúng trong nhân loại và hướng về Huyền Giai Tinh Thần.

These energies—along with others at this time far less potent and therefore of only secondary importance—will greatly stimulate the hearts and minds of men. It is the task of the Members of the Hierarchy to distribute these energies (once they are released by the Christ) to the working disciples on the physical plane and to the myriad aspirants in training for discipleship and to the members of the New Group of World Servers. Members of the New Group of World Servers consist of those who are completely dedicated to the service of humanity and to the establishing of right human relations under hierarchical impression; aspirants and quite a few disciples have diversified interests and only serve part time. To all these groups is committed the task of implementing the work and directing the energies for which the Christ is responsible. The objectives of the Hierarchy in this [648] divine act of massed impression and stimulation are briefly three, as follows:

Những năng lượng này—cùng với những năng lượng khác hiện nay kém mạnh hơn nhiều và do đó chỉ có tầm quan trọng thứ yếu—sẽ kích thích mạnh mẽ trái tim và trí tuệ của con người. Nhiệm vụ của các Thành viên của Thánh đoàn là phân phối những năng lượng này (một khi được Đức Christ giải phóng) cho các đệ tử đang làm việc trên cõi hồng trần và cho vô số người chí nguyện đang được huấn luyện cho địa vị đệ tử và cho các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian gồm những người hoàn toàn hiến mình cho việc phụng sự nhân loại và cho việc thiết lập những quan hệ đúng đắn giữa người với người dưới sự cảm ứng của Thánh đoàn; còn những người chí nguyện và khá nhiều đệ tử thì có những mối quan tâm đa dạng và chỉ phụng sự bán thời gian. Cho tất cả các nhóm này được giao phó nhiệm vụ thực hiện công việc và định hướng các năng lượng mà Đức Christ chịu trách nhiệm. Các mục tiêu của Thánh đoàn trong [648] hành vi thiêng liêng của sự cảm ứng và kích thích tập thể này, nói vắn tắt, có ba điều như sau:

1. To bring about those conditions which will make the coming of the Christ possible. The blended influence of these energies will bring about what may at first appear to be undesirable results, because the remaining opposition of the Forces of Evil is still active and must be overcome; this may necessitate drastic measures, but great good will eventually appear.

1. Tạo ra những điều kiện sẽ làm cho sự quang lâm của Đức Christ trở nên khả hữu. Ảnh hưởng hòa trộn của những năng lượng này lúc đầu có thể tạo ra những kết quả dường như không mong muốn, vì sự chống đối còn lại của Các Mãnh Lực của Ác Vật vẫn còn hoạt động và phải được vượt qua; điều này có thể đòi hỏi những biện pháp quyết liệt, nhưng cuối cùng điều thiện lớn lao sẽ xuất hiện.

2. To prepare the minds of men so that they may be ready for the influence of the Avatar about Whom the Scriptures speak. He is called the Avatar of Synthesis and His influence will be spread through the work and the activity of the Christ.

2. Chuẩn bị trí tuệ của con người để họ có thể sẵn sàng cho ảnh hưởng của Đấng Hoá Thân mà Thánh Kinh đã nói đến. Ngài được gọi là Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp và ảnh hưởng của Ngài sẽ được lan truyền qua công việc và hoạt động của Đức Christ.

It must be remembered that synthesis is an aspect of the first divine characteristic, the Will, or rather, the Will-to-Good. This energy or influence, which the Christ Himself will wield (and for which He has been long preparing Himself), produces cohesion, a drawing together and a tendency to fusion and union. The separateness of humanity, and its selfishness, had reached such vast proportions, and its effects were so completely dominated by the Forces of Evil, that—in response to the massed inchoate demand of humanity—the Hierarchy called for spiritual interposition. The endless selfish propaganda, in speech or in writing, most of it materialistic, nationalistic and basically untrue and wrongly motivated, became such a clamour that it reached to spheres usually impervious to the sounds of earth; the Avatar of Synthesis was called in to aid.

Cần nhớ rằng tổng hợp là một phương diện của đặc tính thiêng liêng thứ nhất, Ý chí, hay đúng hơn là Ý Chí-hướng Thiện. Năng lượng hay ảnh hưởng này, mà chính Đức Christ sẽ vận dụng (và Ngài đã chuẩn bị cho điều đó từ lâu), tạo ra sự kết dính, sự kéo lại gần nhau và khuynh hướng hướng tới dung hợp và hợp nhất. Tính chia rẽ của nhân loại, và tính ích kỷ của nó, đã đạt đến những tỷ lệ quá lớn, và các hậu quả của nó đã bị Các Mãnh Lực của Ác Vật chi phối quá hoàn toàn, đến nỗi—đáp lại nhu cầu tập thể còn mơ hồ của nhân loại—Thánh đoàn đã kêu gọi sự can thiệp tinh thần. Sự tuyên truyền ích kỷ bất tận, bằng lời nói hay chữ viết, phần lớn mang tính vật chất, dân tộc chủ nghĩa và về căn bản là không chân thật và có động cơ sai lạc, đã trở thành một tiếng ồn ào đến mức vươn tới những cõi giới thường không thấm được âm thanh của địa cầu; Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp đã được kêu gọi đến để trợ giúp.

The main objective and the immediate task of the Christ is to bring to an end the separateness which exists between man and man, family and family, community and community, and nation and nation. This is a simple statement, and one that can be understood easily by the most ignorant; it is simple also in that it provides a practical objective and task [649] for the smallest and the most unimportant of the sons of men; all can cooperate if they will. It is nevertheless a task which has required the mobilising of the entire planetary Hierarchy, and the assistance also of a great Being Who would normally work on levels of consciousness higher than those on which Christ and His disciples labour.

Mục tiêu chính và nhiệm vụ trước mắt của Đức Christ là chấm dứt sự chia rẽ đang tồn tại giữa người với người, gia đình với gia đình, cộng đồng với cộng đồng, và quốc gia với quốc gia. Đây là một phát biểu đơn giản, và là điều mà người ngu dốt nhất cũng có thể dễ dàng hiểu được; nó cũng đơn giản ở chỗ nó cung cấp một mục tiêu và nhiệm vụ thực tiễn [649] cho người nhỏ bé nhất và ít quan trọng nhất trong những người con của nhân loại; tất cả đều có thể cộng tác nếu họ muốn. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đã đòi hỏi sự huy động toàn bộ Thánh đoàn hành tinh, và cả sự trợ giúp của một Đấng Vĩ Đại vốn bình thường sẽ làm việc trên những cấp độ tâm thức cao hơn những cấp độ mà Đức Christ và các đệ tử của Ngài lao động.

3. To stimulate the aspiration in the hearts of men so that human receptivity to the good, the beautiful and the true may be greatly increased. These energies will bring in the new creative era, which will sweep into expression as soon as world tension has subsided; then men will be free to think and to create the new forms for the new ideals; then they will bring into manifestation in words, in colour, in music and in sculptured forms the new revelation and the new world which the coming of Christ will inaugurate.

3. Kích thích khát vọng trong trái tim con người để tính tiếp nhận của nhân loại đối với điều thiện, điều mỹ và điều chân thật có thể được gia tăng rất nhiều. Những năng lượng này sẽ mang vào kỷ nguyên sáng tạo mới, sẽ tràn vào biểu lộ ngay khi căng thẳng thế giới lắng xuống; khi ấy con người sẽ tự do suy nghĩ và sáng tạo những hình tướng mới cho những lý tưởng mới; khi ấy họ sẽ đưa vào biểu hiện bằng lời nói, màu sắc, âm nhạc và những hình khắc điêu những mặc khải mới và thế giới mới mà sự quang lâm của Đức Christ sẽ khai mở.

It will be obvious (if you have considered my words with care) that a great spiritual movement is under way—perhaps the greatest of all time, if we except the great spiritual crisis which brought the fourth kingdom into being, the human kingdom. I have mentioned above only three of the most important results for which the Hierarchy hopes. Humanity is deemed to have reached a point in evolution where much can be done, because the minds of men—for the first time on a worldwide scale—are sensitive to spiritual impression; the opportunity of the moment is unique, because minds everywhere are showing themselves superlatively receptive to both good and evil. Men are not today governed so much by blind impulse as by considered thought. There have always been small groups and rare souls who have demonstrated the capacity to respond to spiritual impression. The line of least resistance for the masses is the selfish impulse, and there lies the major point of attack by the Forces of Light.

Sẽ hiển nhiên (nếu các bạn đã suy xét lời tôi cẩn thận) rằng một phong trào tinh thần lớn lao đang diễn ra—có lẽ là lớn nhất mọi thời đại, nếu loại trừ cuộc khủng hoảng tinh thần vĩ đại đã đưa giới thứ tư vào hiện hữu, tức giới nhân loại. Ở trên tôi chỉ đề cập đến ba trong số những kết quả quan trọng nhất mà Thánh đoàn hy vọng. Nhân loại được xem là đã đạt đến một điểm tiến hoá mà ở đó có thể làm được nhiều điều, vì trí tuệ của con người—lần đầu tiên trên quy mô toàn thế giới—nhạy cảm với sự cảm ứng tinh thần; cơ hội của thời điểm này là độc nhất, vì trí tuệ ở khắp nơi đang tỏ ra tiếp nhận ở mức cao nhất đối với cả điều thiện lẫn điều ác. Ngày nay con người không còn bị chi phối quá nhiều bởi xung động mù quáng như bởi tư tưởng có cân nhắc. Luôn luôn đã có những nhóm nhỏ và những linh hồn hiếm hoi chứng tỏ khả năng đáp ứng với sự cảm ứng tinh thần. Con đường ít trở ngại nhất đối với quần chúng là xung động ích kỷ, và ở đó là điểm tấn công chủ yếu của Các Mãnh Lực của Ánh sáng.

The totalitarian powers have always realised and exploited this capacity of human beings to be responsive to [650] good or bad impression. By impressing certain doctrines, certain principles and certain beliefs on their people, and by withholding the truth or the facts and ignoring the realities, they contrive to swing their people into an acceptance which means—for the controlling initiators—immense power.

Các cường quốc toàn trị luôn luôn nhận ra và khai thác khả năng này của con người là có thể đáp ứng với [650] cảm ứng tốt hay xấu. Bằng cách gây cảm ứng những giáo lý, những nguyên lý và những niềm tin nhất định lên dân chúng của họ, và bằng cách che giấu chân lý hay sự kiện và phớt lờ các thực tại, họ xoay chuyển dân chúng của mình đến chỗ chấp nhận, điều này có nghĩa là—đối với những điểm đạo đồ kiểm soát—một quyền lực to lớn.

Other nations, the so-called democracies, are in a state of great confusion, split into political, religious and social parties, listening to the teaching, the dreams and the plans of every person who has an idea and thrusts himself forward into the public consciousness, having no true or good policy, tainted by selfishness (personal or national, and sometimes both), and demanding the settlement of material affairs with small attention—if any—to the recognised spiritual goals and values.

Các quốc gia khác, những nền gọi là dân chủ, đang ở trong tình trạng vô cùng hỗn loạn, bị chia rẽ thành các đảng phái chính trị, tôn giáo và xã hội, lắng nghe giáo huấn, giấc mơ và kế hoạch của bất kỳ ai có một ý tưởng và tự đẩy mình vào tâm thức công chúng, không có chính sách chân chính hay tốt đẹp nào, bị nhuốm tính ích kỷ (cá nhân hay quốc gia, và đôi khi cả hai), và đòi giải quyết các vấn đề vật chất mà ít hoặc không chú ý gì đến các mục tiêu và giá trị tinh thần đã được thừa nhận.

There is fortunately a growing body of those of all faiths, or of no religious faith, to be found in every continent and nation who are aware of the stirring of this spiritual movement—linking humanity and the Hierarchy. This is due to their reaction to spiritual hope, to the expectancy and to the curiously widespread belief that divine intervention is possible and at hand. As the momentum of this spiritual activity develops, so will the responsiveness among men develop, and if the reaction is that which is hoped for, it will be the masses everywhere who will slowly unite to bring about the conditions needed for the reappearance of the Prince of Peace, bringing with Him the potency and the benediction of the Avatar of Synthesis. The number of these semi-enlightened people is growing fast; desperation is hastening their response to help from on high, and in due time their numbers will be so great that totalitarianism, as well as chaotic democracy, will not be able to stand against them.

May thay, đang có một tập thể ngày càng lớn gồm những người thuộc mọi tín ngưỡng, hoặc không theo tín ngưỡng tôn giáo nào, có mặt ở mọi châu lục và quốc gia, nhận biết được sự khuấy động của phong trào tinh thần này—nối kết nhân loại và Thánh đoàn. Điều này là do phản ứng của họ trước hy vọng tinh thần, trước sự mong đợi và trước niềm tin khá phổ biến rằng sự can thiệp thiêng liêng là có thể và đang ở gần. Khi đà phát triển của hoạt động tinh thần này tăng lên, thì tính đáp ứng nơi con người cũng sẽ tăng lên, và nếu phản ứng là điều được hy vọng, thì chính quần chúng ở khắp nơi sẽ dần dần hợp nhất để tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tái lâm của Hoàng Tử Hòa Bình, mang theo cùng Ngài quyền năng và phúc lành của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp. Số lượng những người bán giác ngộ này đang tăng nhanh; sự tuyệt vọng đang thúc đẩy phản ứng của họ trước sự trợ giúp từ cõi cao, và đến lúc thích hợp số lượng của họ sẽ lớn đến mức chủ nghĩa toàn trị, cũng như nền dân chủ hỗn loạn, sẽ không thể đứng vững chống lại họ.

This is no mystical or visionary dream with which I am presenting you. It involves hard business sense on the physical plane, a practical commonsense, a cessation of the constant presentation of a beautiful future in a mythical heaven of idleness and uselessness. The bringing in of the Kingdom of God, the preparation for the coming of the Christ and the salvaging of mankind demand courage, organisation, [651] business acumen, psychology and persistence; it needs trained workers and much money; it calls for carefully considered programmes, possessing long range vision, plus sensible modern procedures. It is to this that all with true vision and a love of humanity are called today; it means the spreading of an intelligently cultivated goodwill and the fostering of those conditions, attitudes and points of view which will inevitably bring about right human relations.

Đây không phải là một giấc mơ thần bí hay viễn kiến mà tôi đang trình bày với các bạn. Nó liên quan đến óc kinh doanh cứng rắn trên cõi hồng trần, một lẽ thường thực tiễn, một sự chấm dứt việc liên tục trình bày một tương lai đẹp đẽ trong một thiên đường huyền thoại của sự nhàn rỗi và vô dụng. Việc mang Thiên Giới vào, việc chuẩn bị cho sự quang lâm của Đức Christ và việc cứu vãn nhân loại đòi hỏi can đảm, tổ chức, [651] năng lực kinh doanh, tâm lý học và sự kiên trì; nó cần những người hoạt động được huấn luyện và nhiều tiền bạc; nó đòi hỏi những chương trình được cân nhắc cẩn thận, có tầm nhìn xa, cộng với những thủ tục hiện đại hợp lý. Đây là điều mà tất cả những ai có tầm nhìn chân chính và tình thương đối với nhân loại được kêu gọi ngày nay; điều đó có nghĩa là sự lan truyền một thiện chí được nuôi dưỡng một cách thông minh và việc vun bồi những điều kiện, thái độ và quan điểm chắc chắn sẽ đem lại những quan hệ đúng đắn giữa người với người.

I would call your careful attention to one most important matter. The moment that a point of balance is reached, the moment that those who stand for separateness and materialism, for totalitarianism or for any imposed regime (and consequently an evil unity), and those who stand for the freedom of the human soul, for the rights of the individual, for brotherhood and right human relations, are equal in force, in position and in influence, then the doors of the Hierarchy (symbolically speaking) will open, and the Christ with His disciples will come. This balance has to reach a point upon mental levels; it has to be reached by those who can think, who can influence, and in whose hands lies the responsibility for what the masses below the mental level know and believe. The unskilled labourer, the numerous people who never think, who are only young in the experience of incarnation, and the multitudes who evade thought even when they are capable of it, lie in the hands of two vast and dominant groups: the totalitarians and the democracies.

Tôi muốn kêu gọi sự chú ý cẩn trọng của các bạn đến một vấn đề cực kỳ quan trọng. Ngay khi đạt đến một điểm quân bình, ngay khi những người đứng về phía chia rẽ và vật chất chủ nghĩa, về phía chủ nghĩa toàn trị hay bất kỳ chế độ nào bị áp đặt (và do đó là một sự hợp nhất xấu ác), và những người đứng về phía tự do của linh hồn con người, về phía các quyền của cá nhân, về phía tình huynh đệ và những quan hệ đúng đắn giữa người với người, ngang nhau về lực lượng, vị thế và ảnh hưởng, thì các cánh cửa của Thánh đoàn (nói theo biểu tượng) sẽ mở ra, và Đức Christ cùng các đệ tử của Ngài sẽ đến. Sự quân bình này phải đạt đến một điểm trên các cấp độ trí tuệ; nó phải được đạt tới bởi những người có thể suy nghĩ, có thể gây ảnh hưởng, và trong tay họ là trách nhiệm về điều mà quần chúng dưới mức trí tuệ biết và tin. Người lao động không lành nghề, vô số người không bao giờ suy nghĩ, những người chỉ mới trẻ trong kinh nghiệm lâm phàm, và đám đông trốn tránh tư tưởng ngay cả khi họ có khả năng làm điều đó, đều nằm trong tay hai nhóm to lớn và chi phối: những người toàn trị và những nền dân chủ.

The consequences of attaining a point of balance are very close today. Organised evil is not in power; organised good is still quite ineffective, largely owing to the failure of the religions of the world to give a true picture of Christ’s mission; therefore the struggle for control is with us now. If the forces of evil, plus the groups of men who seek control of the human spirit (no matter in what country they are found, and they can be found in every single country without exception), become dominant, the doors of evil will open and the life of man will lose its meaning; death will settle down upon our planet—death both spiritual and [652] mental. If the forces of good, the work of the New Group of World Servers, and the activities of men of goodwill everywhere prevail, the doors of the spiritual Hierarchy will open and—to use a Biblical phrase—the Hosts of the Lord will issue forth. The Christ Will Come.

Hậu quả của việc đạt đến một điểm quân bình ngày nay đã rất gần. Điều ác có tổ chức không nắm quyền; điều thiện có tổ chức vẫn còn khá vô hiệu, phần lớn do sự thất bại của các tôn giáo trên thế giới trong việc đưa ra một bức tranh chân thực về sứ mệnh của Đức Christ; vì vậy cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát đang ở với chúng ta ngay bây giờ. Nếu các mãnh lực của điều ác, cộng với các nhóm người tìm cách kiểm soát tinh thần con người (bất kể họ ở quốc gia nào, và họ có thể được tìm thấy trong mọi quốc gia không ngoại lệ), trở nên chi phối, thì các cánh cửa của điều ác sẽ mở ra và sự sống của con người sẽ mất ý nghĩa; cái chết sẽ phủ xuống hành tinh của chúng ta—cái chết cả về tinh thần lẫn [652] trí tuệ. Nếu các mãnh lực của điều thiện, công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và các hoạt động của những người thiện chí ở khắp nơi thắng thế, thì các cánh cửa của Huyền Giai Tinh Thần sẽ mở ra và—dùng một cụm từ Kinh Thánh—Đạo Binh của Chúa sẽ xuất hiện. Đức Christ Sẽ Quang Lâm.

ORGANISING THE ASHRAMS INTO FORM ON EARTH—TỔ CHỨC CÁC ASHRAM THÀNH HÌNH TƯỚNG TRÊN TRÁI ĐẤT

June 1949

Tháng Sáu 1949

I would ask you, at the time of this Full Moon of June to spend a little time in visualising the situation which is likely to come about on Earth if and when (as a result of the preparatory work done by and for humanity), the Hierarchy is externalised or manifests itself as a definite and recognised organisation upon the physical plane. What will happen in the world if and when the Masters of the Wisdom function objectively and physically among people in—for instance—our great cities? For millions of years, They have worked behind the scenes, utilising the minds, brains and physical equipment of Their disciples in order to carry out Their beneficent purposes. Such workers under hierarchical inspiration are by no means mediumistic in their nature, but have established a right relationship with their own souls and with the Master of their Ashram. They are responsive to hierarchical impression; they know the plans which the Masters are endeavouring to carry out, and their cooperation is willingly and consciously given; they are left entirely free to work as they see fit—after due recognition of the information and the inspiration given.

Tôi muốn yêu cầu các bạn, vào lúc Trăng Tròn tháng Sáu này, dành ít thời gian để hình dung tình huống có thể xảy ra trên Trái Đất nếu và khi (do kết quả của công việc chuẩn bị được thực hiện bởi và cho nhân loại), Thánh đoàn được ngoại hiện hay biểu lộ như một tổ chức xác định và được công nhận trên cõi hồng trần. Điều gì sẽ xảy ra trong thế giới nếu và khi các Chân sư Minh Triết hoạt động một cách khách quan và bằng thể xác giữa con người trong—chẳng hạn—các thành phố lớn của chúng ta? Trong hàng triệu năm, Các Ngài đã làm việc phía sau hậu trường, sử dụng trí tuệ, bộ não và trang bị hồng trần của các đệ tử của Các Ngài để thực hiện các mục đích từ thiện của mình. Những người hoạt động như thế dưới sự cảm ứng của Thánh đoàn tuyệt nhiên không có bản chất đồng tử, mà đã thiết lập một mối liên hệ đúng đắn với chính linh hồn của họ và với Chân sư của ashram họ. Họ đáp ứng với sự cảm ứng của Thánh đoàn; họ biết các kế hoạch mà các Chân sư đang cố gắng thực hiện, và sự hợp tác của họ được trao ra một cách tự nguyện và có ý thức; họ được để hoàn toàn tự do làm việc theo cách họ thấy thích hợp—sau khi đã nhận biết đúng đắn thông tin và cảm hứng được ban ra.

Will this system of working on behalf of humanity come to an end? In what manner will the effective and needed changes be made? How will the proposed organisation take place? Of how much of these changes and organisation will average humanity be aware? These and many similar questions almost automatically arise in your minds, and it is essentially necessary that the creative imagination [653] of the advanced man, of aspirants, of probationary disciples (as well as that of the working disciple), does not run riot, creating those thoughtforms which could intervene between the true vision and the work to be done, and interfere therefore with the needed manifestation. It is exceedingly important that the following facts should be realised: the thinking of those who are preparing humanity for the reappearance of the Christ must be most closely guarded and controlled; wishful thinking and the formulation of plans in line with ordinary human methods and techniques must not be permitted at this time. The first lesson, therefore, which you have to learn in this work of preparation, is controlled thought and sensitivity to hierarchical impression.

Hệ thống làm việc thay mặt cho nhân loại này có chấm dứt không? Những thay đổi hữu hiệu và cần thiết sẽ được thực hiện theo cách nào? Tổ chức được đề nghị sẽ diễn ra ra sao? Nhân loại trung bình sẽ nhận biết được bao nhiêu về những thay đổi và tổ chức này? Những câu hỏi này và nhiều câu hỏi tương tự gần như tự động nảy sinh trong trí tuệ các bạn, và điều thiết yếu là sự tưởng tượng sáng tạo [653] của con người tiến bộ, của những người chí nguyện, của các đệ tử dự bị (cũng như của đệ tử đang hoạt động), không được chạy loạn, tạo ra những hình tư tưởng có thể xen vào giữa linh ảnh chân thực và công việc phải làm, và do đó cản trở sự biểu lộ cần thiết. Điều cực kỳ quan trọng là phải nhận ra những sự kiện sau đây: tư tưởng của những người đang chuẩn bị nhân loại cho sự tái lâm của Đức Christ phải được canh giữ và kiểm soát hết sức chặt chẽ; không được cho phép lối suy nghĩ theo ước muốn và việc hình thành các kế hoạch theo những phương pháp và kỹ thuật thông thường của con người vào lúc này. Vì vậy, bài học đầu tiên mà các bạn phải học trong công việc chuẩn bị này là tư tưởng được kiểm soát và tính nhạy cảm đối với sự cảm ứng của Thánh đoàn.

The sole task which confronts you and all aspirants and disciples, is to prepare humanity for two events:

Nhiệm vụ duy nhất đang đối diện các bạn và tất cả những người chí nguyện cùng các đệ tử là chuẩn bị nhân loại cho hai biến cố:

1. The organisation of certain of the Masters’ Ashrams in the different countries of the world wherein they can render effective service.

1. Việc tổ chức một số ashram của các Chân sư tại các quốc gia khác nhau trên thế giới, nơi các ashram ấy có thể phụng sự một cách hữu hiệu.

2. The reappearance of the Christ at a date somewhat later than the externalisation of the Ashrams and their physical plane organisation.

2. Sự tái lâm của Đức Christ vào một thời điểm muộn hơn đôi chút so với sự ngoại hiện của các ashram và sự tổ chức của chúng trên cõi hồng trần.

How, where, when and in what manner the Masters will make Their appearance is none of your affair. Their plans are laid, and They look for and expect no unthinking and unintelligent obstructions and assumptions from those to whom the task of preparation is committed. They have seen to it that the teaching of the New Age has been given to aspirants and disciples in the world, for distribution; They are rapidly admitting new disciples into Their Ashrams, and as fast as is desirable and permissible (for the Hierarchy works ever under law) They are passing them into the halls of initiation.

Các Chân sư sẽ xuất hiện như thế nào, ở đâu, khi nào và theo cách nào không phải là việc của các bạn. Kế hoạch của Các Ngài đã được đặt ra, và Các Ngài không tìm kiếm cũng không mong đợi những cản trở và giả định thiếu suy nghĩ và thiếu thông minh từ những người được giao phó nhiệm vụ chuẩn bị. Các Ngài đã bảo đảm rằng giáo huấn của Kỷ Nguyên Mới đã được ban ra cho những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới để phân phối; Các Ngài đang nhanh chóng thu nhận những đệ tử mới vào các ashram của mình, và nhanh đến mức mong muốn và được phép (vì Thánh đoàn luôn luôn hoạt động dưới định luật), Các Ngài đang đưa họ vào các phòng điểm đạo.

At the same time, competent disciples are searching the world for sensitive and willing aspirants; these disciples are laying their emphasis upon intelligence and spiritual freedom, working out as free and understanding cooperation; [654] these disciples will not be sidetracked by the devotion—unintelligently expressed—of the neophyte upon the occult way. It is occult students for whom search is now being made, and not mystics; it is for clear-thinking men and women that the call has gone forth, and not for the fanatic or for the person who sees nothing but the ideal, and who is unable to work successfully with situations and things as they are, and who cannot, therefore, apply the necessary and unavoidable compromise.

Đồng thời, những đệ tử có năng lực đang tìm kiếm khắp thế giới những người chí nguyện nhạy cảm và thiện chí; những đệ tử này nhấn mạnh vào trí tuệ và tự do tinh thần, triển khai như một sự hợp tác tự do và thấu hiểu; [654] những đệ tử này sẽ không bị đưa chệch hướng bởi lòng sùng tín—được biểu lộ một cách thiếu thông minh—của người sơ cơ trên con đường huyền bí học. Điều hiện đang được tìm kiếm là những đạo sinh huyền bí học chứ không phải các nhà thần bí; lời kêu gọi đã được gửi đến những người nam và nữ suy nghĩ sáng suốt, chứ không phải đến kẻ cuồng tín hay người không thấy gì ngoài lý tưởng, và không thể làm việc thành công với các tình huống và sự vật như chúng đang là, và do đó không thể áp dụng sự thỏa hiệp cần thiết và không thể tránh khỏi.

The coming or the advent of the Hierarchy on earth will not bring the sudden and the beneficent changes which the enthusiastic desire. Every necessary evolutionary move is always a slow move. At no time will the Hierarchy infringe the natural processes of evolutionary growth or the normally slow development of the various kingdoms in nature towards divine expression. The Masters will, however, take advantage of all the points attained by these kingdoms, and They will (at certain critical times) utilise the more advanced specimens of the natural types—in a selective process—in order to bring in something new, better or different. This applies to the human kingdom just as much as it does to the vegetable, for instance. There is a line of thought for you in this statement.

Sự quang lâm hay sự đến của Thánh đoàn trên địa cầu sẽ không mang lại những thay đổi đột ngột và tốt lành mà những người nhiệt thành mong muốn. Mọi bước tiến hoá cần thiết luôn luôn là một bước tiến chậm. Không lúc nào Thánh đoàn xâm phạm các tiến trình tự nhiên của sự tăng trưởng tiến hoá hay sự phát triển vốn chậm chạp bình thường của các giới khác nhau trong thiên nhiên hướng tới biểu lộ thiêng liêng. Tuy nhiên, các Chân sư sẽ tận dụng mọi điểm đã đạt được bởi các giới này, và Các Ngài sẽ (vào những thời điểm khủng hoảng nhất định) sử dụng những mẫu mực tiến bộ hơn của các loại hình tự nhiên—trong một tiến trình chọn lọc—để mang vào một điều gì đó mới, tốt hơn hay khác biệt. Điều này áp dụng cho giới nhân loại cũng nhiều như đối với giới thực vật chẳng hạn. Trong phát biểu này có một đường tư tưởng dành cho các bạn.

One major technique employed by the Hierarchy is a constantly applied stimulation. Of this, the effect of the sun upon all life-forms is a symbol. It must however be remembered that the Masters have, therefore, to apply such stimulation scientifically, working first in one direction and then in another, modifying the stimulation and the inpouring stream of energy to meet a need; this They do in order to produce the desired result, and to bring to fruition that which is latent within the individual. They work with seven major types of energy; five of these are now in full use and two of them are rapidly coming into effective service. It must be borne in mind that I am here referring to the use of stimulating, vivifying, fructifying and mutable energies under what is called (esoterically) “scientific impression.” These energies are: [655]

Một kỹ thuật chính được Thánh đoàn sử dụng là sự kích thích được áp dụng liên tục. Về điều này, tác động của mặt trời lên mọi hình tướng sự sống là một biểu tượng. Tuy nhiên, cần nhớ rằng vì thế các Chân sư phải áp dụng sự kích thích ấy một cách khoa học, làm việc trước theo một hướng rồi theo hướng khác, điều chỉnh sự kích thích và dòng năng lượng tuôn vào để đáp ứng một nhu cầu; Các Ngài làm điều này nhằm tạo ra kết quả mong muốn, và làm cho điều tiềm tàng bên trong cá nhân trổ sinh kết quả. Các Ngài làm việc với bảy loại năng lượng chính; năm loại trong số đó hiện đang được sử dụng đầy đủ và hai loại đang nhanh chóng đi vào phụng sự hữu hiệu. Cần ghi nhớ rằng ở đây tôi đang nói đến việc sử dụng các năng lượng kích thích, tiếp sinh lực, làm kết trái và linh động dưới điều được gọi (một cách huyền bí) là “sự cảm ứng khoa học.” Những năng lượng này là: [655]

1. The energy of prana; this is the life-giving energy from the Sun which deals out both life and death, health and disease, according to the quality of the substance or material form upon which it makes its impact. This impact and its results are today entirely automatic in application and effectiveness, and are regarded as functioning “below the threshold of the consciousness” of humanity, and necessarily of the Hierarchy. Its rhythm is established and its effects are well known and proven. The direction of this energy will eventually be in the hands of that great planetary centre, Humanity; therefore, to mankind will then be committed the responsibility for its distribution to the sub-human kingdoms in nature.

1. Năng lượng của prana; đây là năng lượng ban sự sống từ Mặt Trời, phân phát cả sự sống lẫn cái chết, sức khỏe lẫn bệnh tật, tùy theo phẩm tính của chất liệu hay hình tướng vật chất mà nó tác động vào. Sự tác động này và các kết quả của nó ngày nay hoàn toàn tự động trong việc áp dụng và hiệu quả, và được xem là hoạt động “dưới ngưỡng tâm thức” của nhân loại, và tất nhiên cả của Thánh đoàn. Nhịp điệu của nó đã được thiết lập và các tác động của nó đã được biết rõ và chứng minh. Việc định hướng năng lượng này cuối cùng sẽ nằm trong tay trung tâm hành tinh vĩ đại là Nhân loại; vì vậy, khi ấy trách nhiệm phân phối nó cho các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên sẽ được giao phó cho nhân loại.

2. The energy of the emotions or that of the astral plane. This energy is today in a condition of extra-ordinary activity, producing basic changes upon all sides, stimulating desire (both good and bad), and governing, via the solar plexus centre, all that lies below the diaphragm in the human vehicle of expression upon etheric and physical levels. This, when combined with a powerful inflow of the energy of prana, produces and stimulates every aspect of the animal magnetism with which every physical form is equipped; when combined with the energy of mind, it produces a magnetic personality, and this in both the good and the bad sense.

2. Năng lượng của cảm xúc hay năng lượng của cõi cảm dục. Năng lượng này ngày nay đang ở trong tình trạng hoạt động phi thường, tạo ra những thay đổi căn bản ở mọi phía, kích thích dục vọng (cả tốt lẫn xấu), và cai quản, qua trung tâm tùng thái dương, tất cả những gì nằm dưới cơ hoành trong vận cụ biểu lộ của con người trên các cấp độ dĩ thái và hồng trần. Khi kết hợp với một dòng chảy mạnh của năng lượng prana, nó tạo ra và kích thích mọi phương diện của từ điện động vật mà mọi hình tướng hồng trần đều được trang bị; khi kết hợp với năng lượng của trí tuệ, nó tạo ra một phàm ngã từ tính, và điều này theo cả nghĩa tốt lẫn nghĩa xấu.

3. The energy of the mental plane. This is rapidly coming into an unique potency and its effects today are reaching down into the very depths of humanity, thus bringing to the surface the mental capacity which is latent in and hitherto unused by the masses of men everywhere. It can be described as pouring into the human consciousness by means of four divisions of mental energy:

3. Năng lượng của cõi trí. Năng lượng này đang nhanh chóng đạt đến một quyền lực độc đáo và các tác động của nó ngày nay đang vươn xuống tận những chiều sâu của nhân loại, do đó đưa lên bề mặt năng lực trí tuệ vốn tiềm tàng trong và từ trước đến nay chưa được quần chúng ở khắp nơi sử dụng. Có thể mô tả nó như đang tuôn vào tâm thức con người qua bốn phân bộ của năng lượng trí tuệ:

a. The energy of ideological thought.

a. Năng lượng của tư tưởng ý thức hệ.

b. The energy of religious formulations; these are [656] in process of creating great changes in the minds of men concerning the religious concepts of the world and the new spiritual values.

b. Năng lượng của các công thức tôn giáo; những công thức này đang [656] trong tiến trình tạo ra những thay đổi lớn trong trí tuệ con người liên quan đến các khái niệm tôn giáo của thế giới và các giá trị tinh thần mới.

c. The energy which is today producing the struggle for freedom and liberation from environing conditions. This may express itself as the world fight (at this time) for the freedom of the will of men, as it expresses itself in the press, in speech, in government, or in the struggle for a deepened spiritual life for man. This “energy of liberation” was sensed, registered and voiced for humanity by Franklin D. Roosevelt in The Four Freedoms, so much discussed by men today; he thereby laid the foundation for the new civilisation and the new world culture.

c. Năng lượng hiện đang tạo ra cuộc đấu tranh cho tự do và giải phóng khỏi các điều kiện bao quanh. Điều này có thể biểu lộ như cuộc chiến đấu của thế giới (vào lúc này) cho tự do của ý chí con người, như nó biểu lộ trong báo chí, trong diễn thuyết, trong chính quyền, hay trong cuộc đấu tranh cho một đời sống tinh thần sâu sắc hơn cho con người. “Năng lượng giải phóng” này đã được Franklin D. Roosevelt cảm nhận, ghi nhận và phát biểu cho nhân loại trong Bốn Quyền Tự Do, điều đang được con người bàn luận rất nhiều ngày nay; nhờ đó ông đã đặt nền tảng cho nền văn minh mới và nền văn hóa thế giới mới.

d. The energy of the spiritual Hierarchy of the planet, as it is applied today by the Hierarchy in the transmutation of the sad and sorry past of humanity into the glorious prospect of the New Era. This is, as you may well imagine, a sevenfold energy, emanating from and directed by the seven major Ashrams, under the direction of the Christ and of the senior Masters and Chohans, deciding in council the method, the extent and the quality of the distribution of the energy involved; They decide also where it should make its impact so as to achieve the best and the most constructive results. It is with this sevenfold energy that the Hierarchy will work in preparation for its physical plane manifestation and for the reappearance of the Christ.

d. Năng lượng của Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh, như hiện nay được Thánh Đoàn vận dụng trong việc chuyển hoá quá khứ buồn thảm và đáng thương của nhân loại thành viễn cảnh huy hoàng của Kỷ Nguyên Mới. Như các bạn hẳn có thể hình dung, đây là một năng lượng thất phân, phát ra từ và được định hướng bởi bảy ashram lớn, dưới sự chỉ đạo của Đức Christ và các Chân sư cùng các Chohan cao cấp, những Đấng quyết định trong hội đồng về phương pháp, mức độ và phẩm tính của sự phân phối năng lượng liên hệ; Các Ngài cũng quyết định nơi nào năng lượng ấy nên tạo tác động để đạt được những kết quả tốt đẹp và có tính xây dựng nhất. Chính với năng lượng thất phân này mà Thánh Đoàn sẽ hoạt động để chuẩn bị cho sự biểu hiện trên cõi hồng trần của mình và cho sự tái lâm của Đức Christ.

4. The energy of humanity itself, organised and directed by the advanced thinkers and workers in all and every (and this I reiterate) branch of human executive work; in every educational process and in all political regimes. I would most definitely emphasise the widespread nature of this energy contact because esoteric students have very frequently [657] the erroneous idea that the Hierarchy works only through the medium of esoteric and so-called occult groups. The more advanced a man may be, the more sensitive to impress he becomes, and the human race has now reached a point of sensitivity never before attained. This has happened through the agency of the energies listed above. Disciples and aspirants and the intelligentsia everywhere and in every land are today—consciously or unconsciously—responsive to these four energies; the closer they are affiliated with some Ashram in the Hierarchy, the more the sevenfold hierarchical energies can be distributed to the rest of the human family. It is therefore in this field that the major hierarchical endeavour will—during the next fifty years—express itself. Here, consequently, lies the fundamental problem confronting the Hierarchy, for these energies must be most carefully directed and their resultant impact be most scientifically considered if over-stimulation is to be avoided.

4. Năng lượng của chính nhân loại, được tổ chức và định hướng bởi các nhà tư tưởng và người hoạt động tiến bộ trong mọi ngành (và điều này tôi nhắc lại) của công việc điều hành nhân loại; trong mọi tiến trình giáo dục và trong mọi chế độ chính trị. Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh bản chất phổ biến rộng rãi của sự tiếp xúc năng lượng này bởi vì các đạo sinh huyền bí học rất thường [657] có ý niệm sai lầm rằng Thánh Đoàn chỉ hoạt động qua trung gian của các nhóm huyền bí học và cái gọi là các nhóm occult. Con người càng tiến bộ thì càng trở nên nhạy bén với sự cảm ứng, và nhân loại hiện nay đã đạt đến một điểm nhạy cảm chưa từng có trước đây. Điều này đã xảy ra nhờ tác nhân của các năng lượng được liệt kê ở trên. Các đệ tử, người chí nguyện và giới trí thức ở khắp nơi và trong mọi quốc gia ngày nay—một cách hữu thức hay vô thức—đều đáp ứng với bốn năng lượng này; họ càng liên kết chặt chẽ với một ashram nào đó trong Thánh Đoàn, thì các năng lượng thất phân của Thánh Đoàn càng có thể được phân phối đến phần còn lại của gia đình nhân loại. Vì vậy, chính trong lĩnh vực này mà nỗ lực chủ yếu của Thánh Đoàn sẽ—trong năm mươi năm tới—biểu lộ. Do đó, chính ở đây có vấn đề căn bản đang đối diện với Thánh Đoàn, vì các năng lượng này phải được định hướng hết sức cẩn trọng và tác động kết quả của chúng phải được cân nhắc một cách khoa học nhất nếu muốn tránh sự kích thích quá mức.

5. The energy of the second aspect of divinity, vaguely called by the mystics of the past era “the Christ consciousness.” This naturally focusses through the Christ Himself, standing as the Representative in the Hierarchy of the solar energy of love-wisdom. It is a form of peculiar, magnetic energy of which mankind today knows little; nevertheless, upon this energy much speculation has been permitted and many false thoughtforms have been built. It is a dangerous energy because of its exceeding potency and also because this inflowing energy has to use the vehicle of the substance of the three lower worlds, and its area of influence is on the three lower planes of human existence. This at first necessarily produces conflict, and its first major conflict is now impending. I have dealt with this conflict elsewhere when discussing with you the fourth Ray of Harmony through Conflict. (A Treatise on the Seven Rays, Volume V.) The use of this second fundamental energy (which is the primary energy of our present solar system, focussing [658] upon our planetary life) presents to Christ Himself a great test of His skill in action; its use constitutes the major test or task which faces Him when He reappears and has the responsibility of releasing its potencies on earth. The task of all disciples is consequently to promote wisdom, and this they must learn to do under the influence of the Buddha. He taught the primary lesson of mental discrimination and detachment—two basic qualities which must be called into activity during this amazing preparatory period with which all aspirants are today confronted.

5. Năng lượng của phương diện thứ hai của thiên tính, được các nhà thần bí của thời đại trước gọi một cách mơ hồ là “tâm thức Christ.” Điều này tự nhiên tập trung qua chính Đức Christ, Đấng đứng như Đấng Đại Diện trong Thánh Đoàn cho năng lượng thái dương của bác ái-minh triết. Đây là một dạng năng lượng đặc biệt, từ tính mà ngày nay nhân loại biết rất ít; tuy nhiên, người ta đã cho phép có rất nhiều suy đoán về năng lượng này và nhiều hình tư tưởng sai lầm đã được xây dựng quanh nó. Đây là một năng lượng nguy hiểm vì uy lực quá lớn của nó, và cũng vì năng lượng tuôn vào này phải sử dụng vận cụ bằng chất liệu của ba cõi thấp, và phạm vi ảnh hưởng của nó nằm trên ba cõi thấp của sự tồn tại nhân loại. Điều này lúc đầu tất yếu tạo ra xung đột, và cuộc xung đột lớn đầu tiên của nó hiện đang sắp xảy ra. Tôi đã bàn đến cuộc xung đột này ở nơi khác khi thảo luận với các bạn về cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột. (Luận về Bảy Cung, Tập V.) Việc sử dụng năng lượng căn bản thứ hai này (vốn là năng lượng chủ yếu của hệ mặt trời hiện nay của chúng ta, tập trung [658] vào sự sống hành tinh của chúng ta) đặt ra cho chính Đức Christ một thử thách lớn về kỹ năng trong hành động của Ngài; việc sử dụng nó tạo thành thử thách hay nhiệm vụ lớn lao mà Ngài phải đối diện khi Ngài tái lâm và mang trách nhiệm giải phóng các tiềm lực của nó trên Trái Đất. Vì thế, nhiệm vụ của mọi đệ tử là thúc đẩy minh triết, và họ phải học cách làm điều này dưới ảnh hưởng của Đức Phật. Ngài đã dạy bài học căn bản về sự phân biện trí tuệ và sự tách rời—hai phẩm tính cơ bản phải được đưa vào hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị kỳ diệu này mà mọi người chí nguyện ngày nay đang phải đối diện.

These are, therefore, the points which all groups of disciples and spiritual workers must learn to present to seeking humanity. They concern the creating and the vitalising of the new world religion. This theme lies at the root of all that is new: discrimination between the mental approach and the soul approach, thus learning that true detachment which was symbolically but erroneously applied by all monastic orders throughout the world (both occidental and oriental) during the past few centuries, applied therefore in time and space but having no relation to the inner spiritual import. The true monastic spirit and discipline will emerge later in the historical processes of humanity.

Vì vậy, đây là những điểm mà mọi nhóm đệ tử và người hoạt động tinh thần phải học cách trình bày cho nhân loại đang tìm kiếm. Chúng liên quan đến việc sáng tạo và tiếp sinh lực cho tôn giáo thế giới mới. Chủ đề này nằm ở gốc rễ của mọi điều mới mẻ: sự phân biện giữa cách tiếp cận trí tuệ và cách tiếp cận của linh hồn, nhờ đó học được sự tách rời chân chính mà mọi dòng tu trên khắp thế giới (cả phương Tây lẫn phương Đông) trong vài thế kỷ qua đã áp dụng một cách tượng trưng nhưng sai lầm, do đó được áp dụng trong thời gian và không gian nhưng không liên hệ gì đến ý nghĩa tinh thần nội tại. Tinh thần và kỷ luật tu viện chân chính sẽ xuất hiện về sau trong các tiến trình lịch sử của nhân loại.

6. The energy of the first divine aspect (that of will or power) now being applied with the most scrupulous care by Shamballa. This energy of the will is—as you have been taught—the potency of the life in all beings; it has in the past only been permitted to make contact with “the substance of humanity” via the Hierarchy. Lately, direct impact has been permitted experimentally and of this the world war (1914-1945) was the first evidence, clarifying issues, presenting opportunity, purifying human thinking and destroying the old and worn-out civilisation. It is an exceedingly dangerous energy and cannot be applied in fuller measure until the race of men has learned to respond more adequately to the energy of the second aspect of love-wisdom, and therefore to the rule of the Kingdom of God. [659]

6. Năng lượng của phương diện thiêng liêng thứ nhất (đó là ý chí hay quyền năng) hiện đang được Shamballa vận dụng với sự cẩn trọng nghiêm ngặt nhất. Năng lượng của ý chí này—như các bạn đã được dạy—là uy lực của sự sống trong mọi hữu thể; trong quá khứ, nó chỉ được phép tiếp xúc với “chất liệu của nhân loại” qua trung gian Thánh Đoàn. Gần đây, tác động trực tiếp đã được cho phép trên phương diện thử nghiệm, và bằng chứng đầu tiên của điều này là cuộc thế chiến (1914-1945), làm sáng tỏ các vấn đề, trình bày cơ hội, thanh lọc tư tưởng nhân loại và phá hủy nền văn minh cũ kỹ, hao mòn. Đây là một năng lượng cực kỳ nguy hiểm và không thể được vận dụng ở mức đầy đủ hơn cho đến khi nhân loại học được cách đáp ứng thích đáng hơn với năng lượng của phương diện thứ hai là bác ái-minh triết, và do đó với sự cai quản của Thiên Giới. [659]

7. There remains another energy which can only be applied very much later on and only if the activity of the six preceding energies fulfil their purpose. With it we cannot here deal, for the future is too uncertain, and in any case, it will only come into activity in the middle of the Aquarian Age.

7. Vẫn còn một năng lượng khác chỉ có thể được vận dụng vào một thời điểm muộn hơn rất nhiều và chỉ khi hoạt động của sáu năng lượng đi trước hoàn thành mục đích của chúng. Ở đây chúng ta không thể bàn đến nó, vì tương lai còn quá bất định, và trong mọi trường hợp, nó chỉ đi vào hoạt động vào giữa Kỷ Nguyên Bảo Bình.

These energies, along with the five specialised energies referred to in my June (1948) Full Moon Message will swing into great activity as the years slip away. The year 1952 will see the five specialised energies assuming great potency.

Các năng lượng này, cùng với năm năng lượng chuyên biệt được nhắc đến trong Thông Điệp Trăng Tròn tháng Sáu (1948) của tôi, sẽ đi vào hoạt động mạnh mẽ khi năm tháng trôi qua. Năm 1952 sẽ chứng kiến năm năng lượng chuyên biệt ấy đạt tới uy lực lớn lao.

I would again call your attention to the fact that the evocative power of the Great Invocation (now used by so many hundreds of thousands) and the sound of its mantric rhythm is increasingly responsible for this work; a great deal of the resultant effectiveness is due to the fact that humanity is using this mantram in steadily increasing numbers, and this—combined with its scientific use by the Hierarchy—is very fruitful in results. It is well here to bear in mind that (to quote an old sentence by one of the Masters) “where the focus is, so will be the anchorage where descending potencies under mantric inspiration are concerned.” This means that, due to the effort of countless thousands of men and women everywhere, energies hitherto unable to penetrate deeper into substance than the hierarchical substance and the levels of the higher mental plane can now, for the first time, be successfully anchored on dense physical levels or at least upon etheric levels. This is a fact and is far more important than you are perhaps able to appreciate.

Tôi lại muốn lưu ý các bạn đến sự kiện rằng quyền năng gợi lên của Đại Khấn Nguyện (nay đang được nhiều trăm ngàn người sử dụng) và âm thanh của nhịp điệu mantram của nó ngày càng chịu trách nhiệm cho công việc này; phần lớn hiệu quả đạt được là do nhân loại đang sử dụng mantram này với số lượng tăng đều, và điều này—kết hợp với việc sử dụng nó một cách khoa học bởi Thánh Đoàn—đem lại kết quả rất phong phú. Ở đây cần ghi nhớ rằng (để trích một câu cũ của một trong các Chân sư) “nơi nào có tiêu điểm, nơi đó sẽ có điểm neo giữ khi các uy lực giáng xuống dưới cảm hứng mantram được xét đến.” Điều này có nghĩa là, do nỗ lực của vô số ngàn người nam và nữ ở khắp nơi, các năng lượng trước đây không thể xuyên sâu vào chất liệu hơn chất liệu của Thánh Đoàn và các cấp độ của cõi thượng trí, nay lần đầu tiên có thể được neo giữ thành công trên các cấp độ hồng trần đậm đặc hoặc ít nhất trên các cấp độ dĩ thái. Đây là một sự kiện và quan trọng hơn nhiều so với điều có lẽ các bạn có thể đánh giá.

I have earlier told you that the five Masters concerned with the initial stages of the organisation of the Hierarchy on earth are the Master K.H., the Master Morya, the Master R., the Master Who started the labour movement in the modern world, and myself, the so-called Master D.K.

Trước đây tôi đã nói với các bạn rằng năm Chân sư liên hệ đến các giai đoạn đầu của việc tổ chức Thánh Đoàn trên Trái Đất là Chân sư K.H., Chân sư Morya, Chân sư R., Chân sư đã khởi xướng phong trào lao động trong thế giới hiện đại, và tôi, cái gọi là Chân sư D.K.

The division of labour is here of great interest. In my June message for 1948, I referred to the five specialised energies which were at that time released to carry forward their [660] impersonal task. Each of these energies is concerned with the desired organisation, for it must ever be remembered that though the organisation which we are considering is concerned with the interior or subjective work of the Hierarchy, the repercussions and the resultant effects will take place on earth, with physical plane effects, because the old occult truism “as above, so below” will be rapidly and objectively demonstrated. This result and the effects produced will constitute one of the modes whereby the Hierarchy will prove its factual presence on earth.

Sự phân công lao động ở đây rất đáng quan tâm. Trong thông điệp tháng Sáu năm 1948 của tôi, tôi đã nhắc đến năm năng lượng chuyên biệt lúc bấy giờ được giải phóng để xúc tiến [660] nhiệm vụ vô ngã của chúng. Mỗi năng lượng này đều liên hệ đến tổ chức mong muốn, vì phải luôn ghi nhớ rằng tuy tổ chức mà chúng ta đang xét đến liên quan đến công việc bên trong hay chủ quan của Thánh Đoàn, nhưng các phản ứng dội lại và các hiệu quả kết quả sẽ diễn ra trên Trái Đất, với các hiệu quả trên cõi hồng trần, bởi vì chân lý huyền bí cổ xưa “trên sao, dưới vậy” sẽ nhanh chóng được chứng minh một cách khách quan. Kết quả này và các hiệu quả được tạo ra sẽ cấu thành một trong những phương thức mà qua đó Thánh Đoàn sẽ chứng minh sự hiện diện thực tế của mình trên Trái Đất.

The Ashram of the Master K.H. is already assuming an increased stimulating potency, but it will nevertheless be one of the last to manifest objectively on the physical plane. The mission of that Ashram is to produce the energy which will make possible and definite the Reappearance of the Christ. That reappearance is the major preoccupation of the Master K.H. and His group of initiates and disciples. The first step taken by the Ashram was embodied—as far as all of you are concerned—in the pamphlet entitled The Reappearance of the Christ (Wesak Message, May 1947). To this must be added the vitalisation and the stimulation of the two-thousand-year-old thoughtform which men, down the centuries, have created in anticipation of His coming or advent. The movement toward expectancy and preparation is now rapidly gaining momentum. This was the first concrete result of the combined desire of this second ray Ashram. However, the work being done in this Ashram is more definitely concerned with three lines of activity. These are:

Ashram của Chân sư K.H. hiện đã đang đảm nhận một uy lực kích thích gia tăng, nhưng tuy vậy sẽ là một trong những ashram cuối cùng biểu hiện một cách khách quan trên cõi hồng trần. Sứ mạng của ashram đó là tạo ra năng lượng sẽ làm cho sự Tái Lâm của Đức Christ trở nên khả hữu và xác định. Sự tái lâm đó là mối bận tâm chính yếu của Chân sư K.H. và nhóm điểm đạo đồ cùng đệ tử của Ngài. Bước đầu tiên do ashram thực hiện đã được thể hiện—xét theo phương diện của tất cả các bạn—trong tập sách nhỏ nhan đề Sự Tái Lâm của Đức Christ (Thông Điệp Wesak, tháng Năm 1947). Cần phải thêm vào đó việc tiếp sinh lực và kích thích hình tư tưởng hai ngàn năm tuổi mà con người, qua các thế kỷ, đã tạo ra trong sự mong đợi sự đến hay giáng lâm của Ngài. Phong trào hướng đến sự mong đợi và chuẩn bị hiện đang nhanh chóng tăng đà. Đây là kết quả cụ thể đầu tiên của khát vọng kết hợp của ashram cung hai này. Tuy nhiên, công việc đang được thực hiện trong ashram này liên hệ rõ rệt hơn đến ba đường hoạt động. Đó là:

1. The preparation of the many combined Ashrams, leading to externalisation.

1. Sự chuẩn bị của nhiều ashram kết hợp, dẫn đến ngoại hiện.

2. The formulation of the techniques and disciplines which will be of service to the initiate or disciple who is making the primary effort to function objectively, to work before the screen of life and not behind the scenes, as hitherto, and to develop that [661] “resistant capacity” which is needed to withstand the violent impacts of physical plane living.

2. Sự hình thành các kỹ thuật và kỷ luật sẽ phụng sự cho điểm đạo đồ hay đệ tử đang nỗ lực ban đầu để hoạt động một cách khách quan, để làm việc trước bức màn của sự sống chứ không phải sau hậu trường như từ trước đến nay, và để phát triển [661] “năng lực kháng cự” cần thiết nhằm chịu đựng các tác động dữ dội của đời sống trên cõi hồng trần.

3. The mental and spiritual registration of the plans of the Christ, and the consequent development of that skill in action which will permit these plans to materialise correctly.

3. Sự ghi nhận về mặt trí tuệ và tinh thần các kế hoạch của Đức Christ, và hệ quả là sự phát triển kỹ năng trong hành động cho phép các kế hoạch này hiện hình một cách đúng đắn.

Within the second ray Ashram of the Master K.H. and His affiliated groups (such as the Ashram for which I am responsible) it is the energy of wisdom which is being effectively used. It might be said that this dual energy, hitherto a fused and blended energy, is today working as a true duality. The energy of wisdom is active within all the Ashrams (on all rays and under all the Masters); the energy of love is directed primarily towards the third great planetary centre, Humanity, stimulating the aura of that mass of living units so that their “magnetic appeal will be the outstanding quality of their divine approach.” The directing Agents for this dual activity are the Master K.H. and a chosen group of His senior initiates and disciples, of whom I am not one, because I have another task committed to me.

Trong ashram cung hai của Chân sư K.H. và các nhóm liên kết với Ngài (chẳng hạn như ashram mà tôi chịu trách nhiệm), chính năng lượng minh triết đang được sử dụng một cách hữu hiệu. Có thể nói rằng năng lượng nhị phân này, từ trước đến nay là một năng lượng được dung hợp và hòa trộn, ngày nay đang hoạt động như một nhị nguyên tính thực sự. Năng lượng minh triết đang hoạt động trong mọi ashram (trên mọi cung và dưới mọi Chân sư); năng lượng bác ái được hướng chủ yếu về trung tâm hành tinh lớn thứ ba, Nhân loại, kích thích hào quang của khối đơn vị sống ấy để “sức hấp dẫn từ tính của họ sẽ là phẩm tính nổi bật trong cách tiếp cận thiêng liêng của họ.” Các Tác Nhân chỉ đạo cho hoạt động nhị phân này là Chân sư K.H. và một nhóm được chọn gồm các điểm đạo đồ và đệ tử cao cấp của Ngài, trong số đó không có tôi, vì tôi có một nhiệm vụ khác được giao phó.

The Master K.H. is therefore constantly in close association with the Christ, the Head of the Hierarchy. Christ is today, with the aid of the Lord of the World and the Buddha, preparing Himself for the most difficult task with which He has ever been confronted. It is not a matter of the Christ issuing forth from the High Place where He is today to be found, and suddenly appearing among men; it is not a case of His taking infant form and growing into His work with advancing years; it is not a case of His being instantly recognised and acclaimed by millions of miserable human beings awaiting liberation. None of these ideas or hopes form any part of His plan, nor are they possible. No Member of the Hierarchy, and certainly not its Supreme Head, attempts to bring about results which are doomed to failure; presented thus, they would be bound to fail, because the point of sensitivity of humanity makes [662] failure inevitable—if success is expected along these most ordinary lines.

Vì vậy, Chân sư K.H. luôn luôn ở trong sự liên kết mật thiết với Đức Christ, Đầu của Thánh Đoàn. Ngày nay Đức Christ, với sự trợ giúp của Đức Chúa Tể Thế Giới và Đức Phật, đang chuẩn bị cho chính Ngài đối diện với nhiệm vụ khó khăn nhất mà Ngài từng phải đương đầu. Không phải là vấn đề Đức Christ xuất hiện từ Nơi Chốn Cao Cả nơi ngày nay Ngài đang hiện diện, rồi đột ngột xuất hiện giữa loài người; không phải là trường hợp Ngài mang hình hài trẻ thơ và lớn lên trong công việc của mình theo năm tháng; cũng không phải là trường hợp Ngài được tức khắc nhận ra và tung hô bởi hàng triệu con người khốn khổ đang chờ đợi sự giải thoát. Không một ý tưởng hay hy vọng nào trong số này tạo thành bất kỳ phần nào trong kế hoạch của Ngài, và chúng cũng không khả thi. Không Thành Viên nào của Thánh Đoàn, và chắc chắn không phải là Đầu Tối Cao của Thánh Đoàn, lại cố gắng tạo ra những kết quả đã định trước là thất bại; nếu được trình bày như thế, chúng ắt sẽ thất bại, bởi vì điểm nhạy cảm của nhân loại khiến [662] sự thất bại trở nên không thể tránh khỏi—nếu người ta mong đợi thành công theo những đường lối quá thông thường này.

Skill in action, wise and understanding judgment, the adaptation of present affairs to the desired future, the coordination of the work to be done, and the clear enunciation of the platform upon which the new teaching must be founded, plus the survey (if I may so express it) of the foundations upon which the new structure of the coming civilisation must be founded—it is with these things that the Christ is at this time concerned. You can realise, therefore, the tremendous and cooperative activity with which the Master K.H. and His Ashram are concerned. The stimulation of that activity comes from two directions: necessarily from Shamballa, from the Buddha and from the Avatar of Synthesis, and increasingly from the world of men, as expectancy, hope and demand combine to make their united appeal.

Kỹ năng trong hành động, sự phán đoán minh triết và thấu hiểu, sự thích ứng của các sự vụ hiện tại với tương lai mong muốn, sự phối hợp công việc cần làm, và sự tuyên bố rõ ràng nền tảng trên đó giáo huấn mới phải được xây dựng, cộng thêm sự khảo sát (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) các nền móng trên đó cấu trúc mới của nền văn minh sắp đến phải được đặt nền—đó là những điều mà Đức Christ hiện đang quan tâm. Vì vậy, các bạn có thể nhận ra hoạt động to lớn và có tính hợp tác mà Chân sư K.H. và ashram của Ngài đang đảm trách. Sự kích thích đối với hoạt động đó đến từ hai hướng: tất yếu là từ Shamballa, từ Đức Phật và từ Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp, và ngày càng nhiều từ thế giới loài người, khi sự mong đợi, hy vọng và nhu cầu kết hợp lại để tạo nên lời kêu gọi hợp nhất của họ.

The Ashram or group centre through which the Master Morya works is also exceedingly busy. It is obvious to you that as this is a first ray Ashram, the energy coming from the Avatar of Synthesis will make its primary impact upon this Ashram, which provides the line of least resistance. There, it is scientifically stepped down or broken down, prior to distribution to the Ashrams of the five Masters engaged in the work of preparation.

Ashram hay trung tâm nhóm mà qua đó Chân sư Morya hoạt động cũng cực kỳ bận rộn. Hiển nhiên đối với các bạn rằng vì đây là một ashram cung một, nên năng lượng đến từ Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp sẽ tạo tác động đầu tiên của nó lên ashram này, vốn cung cấp con đường ít trở ngại nhất. Tại đó, nó được hạ giảm hay phân giải một cách khoa học trước khi được phân phối đến các ashram của năm Chân sư đang tham gia công việc chuẩn bị.

The highest aspect possible of assimilation by the Hierarchy is directed by the Masters towards the Christ and is used by Him in His individual and planned preparatory work. Though He demonstrated when here before that His mission or work had a group or brotherhood objective, it is well known in hierarchical circles that first ray synthesis is something higher still than unity, and that even the Christ has somewhat to grasp anent this new potency—coming both from Shamballa or from the Father (as the Christ used to call that emanating source), and also from extra-planetary sources. Above all, He has the difficult task of training or adapting His physical vehicle so that it can assimilate this extra-ordinary high potency and, at the same time, keep it [663] in a condition in which He can move outward on the physical plane among men.

Phương diện cao nhất có thể được Thánh Đoàn đồng hoá được các Chân sư hướng về Đức Christ và được Ngài sử dụng trong công việc chuẩn bị có kế hoạch và mang tính cá nhân của Ngài. Mặc dù khi còn ở đây trước kia Ngài đã chứng minh rằng sứ mạng hay công việc của Ngài có mục tiêu nhóm hay huynh đệ đoàn, nhưng trong các giới Thánh Đoàn người ta đều biết rõ rằng sự tổng hợp cung một còn là điều gì đó cao hơn cả sự hợp nhất, và ngay cả Đức Christ cũng còn phải nắm bắt phần nào liên quan đến uy lực mới này—đến từ cả Shamballa hay từ Đức Cha (như Đức Christ từng gọi nguồn phát xạ ấy), và cũng từ các nguồn ngoài hành tinh. Trên hết, Ngài có nhiệm vụ khó khăn là huấn luyện hay thích nghi vận cụ hồng trần của Ngài để nó có thể đồng hoá uy lực cao siêu phi thường này và đồng thời giữ nó [663] trong tình trạng để Ngài có thể đi ra ngoài trên cõi hồng trần giữa loài người.

The Christian Church has laid so much emphasis on Christ’s unique position as the one and only Son of God that great error has crept in and has been fostered for centuries; Christ Himself foresaw the possibility of this error and tried to offset it by pointing out that we are all the “Sons of God” and that “greater things than I do shall you do”—a statement which no commentators have ever understood or adequately explained. The occult fact is that there is no being on Earth, from the very lowest form of life to the very highest, who is not moving onward towards a greater and finer expression of divinity, and Christ Himself is no exception to this universal evolutionary law. He is therefore, at this time and because He is preparing to raise the entire human family nearer to God, laying Himself open to certain powerful inflowing energies, absorbing into Himself streams of spiritual force, and undergoing a dynamic stimulation which is entirely new to Him; this constitutes His testing for the exalted initiation which now confronts Him; it constitutes also the sacrifice He is making in order to complete His work on Earth and bring a new salvation to humanity.

Giáo hội Cơ Đốc đã nhấn mạnh quá nhiều vào vị trí độc nhất của Đức Christ như là Con duy nhất của Thượng đế đến nỗi một sai lầm lớn đã len vào và được nuôi dưỡng suốt nhiều thế kỷ; chính Đức Christ đã thấy trước khả năng của sai lầm này và đã cố hóa giải nó bằng cách chỉ ra rằng tất cả chúng ta đều là “Các Con của Thượng đế” và rằng “các ngươi sẽ làm những việc lớn hơn Ta”—một lời tuyên bố mà chưa một nhà chú giải nào từng hiểu hay giải thích đầy đủ. Sự kiện huyền bí là không có hữu thể nào trên Trái Đất, từ hình thức sự sống thấp nhất đến hình thức cao nhất, lại không đang tiến lên hướng tới một biểu hiện thiên tính lớn lao và tinh tế hơn, và chính Đức Christ cũng không là ngoại lệ đối với định luật tiến hoá phổ quát này. Vì vậy, vào lúc này và bởi vì Ngài đang chuẩn bị nâng toàn thể gia đình nhân loại đến gần Thượng đế hơn, Ngài đang mở mình ra trước một số năng lượng tuôn vào đầy quyền lực, hấp thụ vào chính mình các dòng mãnh lực tinh thần, và trải qua một sự kích thích năng động hoàn toàn mới mẻ đối với Ngài; điều này cấu thành sự thử thách của Ngài cho cuộc điểm đạo cao cả hiện đang đối diện với Ngài; nó cũng cấu thành sự hi sinh mà Ngài đang thực hiện để hoàn tất công việc của Ngài trên Trái Đất và mang lại một sự cứu rỗi mới cho nhân loại.

The Christ is working, therefore, in very close cooperation with the Master Morya, and also with the Manu (one of the three Heads of the Hierarchy), and these three—the Christ, the Manu and the Master Morya—create a triangle of energies into which (and through which) the energy of the Avatar of Synthesis can pour, finding right direction under Their combined efforts.

Vì vậy, Đức Christ đang hoạt động trong sự hợp tác rất mật thiết với Chân sư Morya, và cũng với Đức Manu (một trong ba Đầu của Thánh Đoàn), và ba Đấng này—Đức Christ, Đức Manu và Chân sư Morya—tạo thành một tam giác năng lượng mà vào đó (và qua đó) năng lượng của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp có thể tuôn đổ, tìm được sự định hướng đúng đắn dưới nỗ lực kết hợp của Các Ngài.

On the physical plane, the initiates and the disciples working in the Ashram of the Master Morya are primarily occupied with the expression of synthesis in the world of politics and of government, and with offsetting wrong approaches to synthesis, seeking to preserve freedom in unity. It is a subjective synthesis for which they work—a synthesis which will express itself in an outer differentiation. This synthesis will define the many aspects of the essential, basic [664] unity which, working out under the stimulation of the energy of synthesis, will bring about eventual peace and understanding on earth—a peace which will preserve individual and national cultures, but which will subordinate them to the good of the whole of humanity.

Trên cõi hồng trần, các điểm đạo đồ và đệ tử hoạt động trong ashram của Chân sư Morya chủ yếu bận tâm với sự biểu lộ của tổng hợp trong thế giới chính trị và chính quyền, và với việc hóa giải các cách tiếp cận sai lầm đối với tổng hợp, tìm cách bảo tồn tự do trong hợp nhất. Họ hoạt động vì một sự tổng hợp chủ quan—một sự tổng hợp sẽ biểu lộ trong một sự biến phân bên ngoài. Sự tổng hợp này sẽ xác định nhiều phương diện của sự hợp nhất [664] căn bản, cốt yếu mà, khi được triển khai dưới sự kích thích của năng lượng tổng hợp, sẽ mang lại hòa bình và thấu hiểu sau cùng trên Trái Đất—một nền hòa bình sẽ bảo tồn các nền văn hóa cá nhân và quốc gia, nhưng sẽ đặt chúng dưới lợi ích của toàn thể nhân loại.

We come now to the preparatory work being done by the Master Who started what is called by you “the labour movement.” This is regarded by the Hierarchy as one of the most successful attempts in all history to awaken the masses of men (in the brackets called middle class and lower class) to general betterment, and thus set up a momentum which would, occultly speaking, “swing them into light.”

Giờ đây chúng ta đến với công việc chuẩn bị đang được thực hiện bởi Chân sư đã khởi xướng điều mà các bạn gọi là “phong trào lao động.” Điều này được Thánh Đoàn xem là một trong những nỗ lực thành công nhất trong toàn bộ lịch sử nhằm đánh thức quần chúng (trong các ngoặc gọi là tầng lớp trung lưu và hạ lưu) hướng đến sự cải thiện chung, và nhờ đó thiết lập một đà lực mà, nói theo huyền bí học, sẽ “đưa họ vào ánh sáng.”

Along with the development of the labour movement, mass education came into being, with the result that—from the angle of developed intelligence—the entire level of conscious awareness was universally raised. There is still much illiteracy, but the average citizen in all the western democracies and in the Soviet Union is as well educated as the intellectual man in the Middle Ages. You have, in this activity, an outstanding instance of how the Masters work, for (to the average onlooker) the labour movement arose from within the masses and the working classes; it was a spontaneous development, based upon the thinking and the teaching of a mere handful of men who were regarded primarily as agitators and trouble makers; they were in reality a group of disciples (many of them unconscious of their esoteric status) who were cooperating with the Law of Evolution and also with the hierarchical Plan. They were not particularly advanced disciples, but they were affiliated with some Ashram (according to their ray), and were therefore subject to impression. Had they been advanced disciples or initiates, their work would have been futile, for their presentation of the Plan would not have been adapted to the level of the intelligence of the then totally uneducated masses composing labour.

Cùng với sự phát triển của phong trào lao động, giáo dục đại chúng đã ra đời, với kết quả là—xét từ góc độ trí tuệ phát triển—toàn bộ mức độ nhận biết hữu thức đã được nâng cao trên phạm vi toàn cầu. Vẫn còn nhiều nạn mù chữ, nhưng công dân trung bình trong mọi nền dân chủ phương Tây và trong Liên Xô được giáo dục tốt ngang với người trí thức thời Trung Cổ. Trong hoạt động này, các bạn có một minh họa nổi bật về cách các Chân sư hoạt động, vì (đối với người quan sát trung bình) phong trào lao động dường như phát sinh từ bên trong quần chúng và giai cấp lao động; đó là một sự phát triển tự phát, dựa trên tư tưởng và giáo huấn của chỉ một nhóm rất ít người vốn chủ yếu bị xem là những kẻ kích động và gây rối; trên thực tế họ là một nhóm đệ tử (nhiều người trong số họ không ý thức được địa vị bí truyền của mình) đang hợp tác với Định luật Tiến hoá và cũng với Thiên Cơ của Thánh Đoàn. Họ không phải là những đệ tử đặc biệt tiến bộ, nhưng họ liên kết với một ashram nào đó (theo cung của họ), và do đó chịu sự cảm ứng. Nếu họ là những đệ tử tiến bộ hay điểm đạo đồ, công việc của họ hẳn đã vô ích, vì cách họ trình bày Thiên Cơ sẽ không thích ứng với trình độ trí tuệ của quần chúng lao động lúc bấy giờ hoàn toàn không được giáo dục.

This Master works primarily with the intelligentsia, and He is therefore a third ray Master—upon the Ray of Active Intelligence. His Ashram is occupied with the problems [665] of industry, and the goal of all the thinking, all the planning and all the work of impressing receptive minds is directed towards spiritualising the concepts of the labour party in every country, and of industrialists, thus turning them towards the goal of right sharing, as a major step towards right human relations. This Master therefore cooperates with the Master R.—Who is the Head of the third ray Ashram, and Who is also one of the Triangle of Forces which controls the greater Ashram of the Hierarchy Itself. The Ashram of this Master (Who has always withheld His name from public knowledge) is a lesser Ashram within the major third ray Ashram, just as my Ashram lies within the ring-pass-not of the Ashram of the Master K.H. This Master is necessarily an Englishman, for the industrial revolution started nearly one hundred years ago in England, and the potency of the work done is related to its mass effect and to the results achieved in every land by labour and its methods. All the great labour organisations, national and international, are loosely knit together subjectively, because in each group this Master has His disciples who are working constantly to hold the movement in line with the divine Plan. It is well to bear in mind that all great movements on earth demonstrate both good and evil; the evil has to be subdued and dissipated, or relegated to its right proportional place, before that which is good and in line with hierarchical planning can find true expression. What is true of the individual is true also of groups. Before the soul can express itself through the medium of the personality, that personality has to be subdued, controlled, purified and dedicated to service. It is this controlling, subduing process which is going on now, and it is vociferously fought by the selfish and ambitious elements.

Chân sư này hoạt động chủ yếu với giới trí thức, và vì vậy Ngài là một Chân sư cung ba—trên Cung Trí Tuệ Hoạt Động. Ashram của Ngài bận tâm với các vấn đề [665] công nghiệp, và mục tiêu của mọi tư duy, mọi hoạch định và mọi công việc cảm ứng các tâm trí tiếp nhận đều hướng đến việc tinh thần hóa các quan niệm của đảng lao động ở mọi quốc gia, và của các nhà công nghiệp, nhờ đó hướng họ đến mục tiêu chia sẻ đúng đắn, như một bước lớn hướng tới các mối quan hệ đúng đắn của con người. Vì vậy, Chân sư này hợp tác với Chân sư R.—Đấng là Đầu của ashram cung ba, và cũng là một trong Tam Giác Mãnh Lực kiểm soát ashram lớn hơn của chính Thánh Đoàn. Ashram của Chân sư này (Đấng luôn giữ kín danh tính của Ngài trước công chúng) là một ashram nhỏ hơn bên trong ashram lớn cung ba, cũng như ashram của tôi nằm trong vòng-giới-hạn của ashram Chân sư K.H. Chân sư này tất yếu là một người Anh, vì cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu gần một trăm năm trước tại Anh, và uy lực của công việc được thực hiện liên hệ đến hiệu quả quần chúng của nó và đến các kết quả mà lao động và các phương pháp của nó đạt được ở mọi quốc gia. Tất cả các tổ chức lao động lớn, quốc gia và quốc tế, đều được kết nối lỏng lẻo với nhau trên phương diện chủ quan, bởi vì trong mỗi nhóm, Chân sư này đều có các đệ tử của Ngài đang không ngừng hoạt động để giữ cho phong trào đi đúng đường với Thiên Cơ. Cần ghi nhớ rằng mọi phong trào lớn trên Trái Đất đều biểu lộ cả thiện lẫn ác; cái ác phải được chế ngự và làm tiêu tan, hoặc bị đẩy về đúng vị trí tương xứng của nó, trước khi điều thiện và phù hợp với hoạch định của Thánh Đoàn có thể tìm được biểu hiện chân chính. Điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với các nhóm. Trước khi linh hồn có thể biểu lộ qua trung gian phàm ngã, phàm ngã đó phải được chế ngự, kiểm soát, thanh lọc và hiến dâng cho phụng sự. Chính tiến trình kiểm soát và chế ngự này đang diễn ra hiện nay, và nó bị chống đối dữ dội bởi các thành phần ích kỷ và đầy tham vọng.

Nevertheless, the work of this Master is outstandingly successful in preparing the intellectual principle of the masses for eventual right recognition of the Christ. A right sense of values is being developed, and in the right direction of this potent labour group in every land lies the foundation of the new civilisation.

Tuy nhiên, công việc của Chân sư này thành công nổi bật trong việc chuẩn bị nguyên khí trí tuệ của quần chúng cho sự nhận biết đúng đắn về Đức Christ trong tương lai. Một ý thức đúng đắn về các giá trị đang được phát triển, và trong sự định hướng đúng đắn của nhóm lao động đầy uy lực này ở mọi quốc gia có nền tảng của nền văn minh mới.

[666] The Ashram of this Master is therefore occupied with worldwide economic problems, and also with a direct attack upon the basic materialism to be found in the modern world. The problems of barter and exchange, the significance of money, the value of gold (a basic symbol of the third Ray of Active Intelligence), the production of right attitudes towards material living, and the entire process of right distribution are among the many problems dealt with in this Ashram; the work done is enormous and of great importance in preparing men’s mind for the return of the Christ and for the New Age which He will inaugurate. Capitalists and labour leaders, financial experts and thinking workers, and members of all the differing ideologies which are prevalent in the world today are to be found actively working within this Ashram. Many of them are what the orthodox religious man or the hide-bound occult student would regard as non-spiritual, yet all of them are in reality deeply spiritual in the correct sense, but they care not for labels, for schools of thought nor for academic, esoteric teaching. They exemplify within themselves a livingness which is the hallmark of discipleship.

[666] Vì vậy, ashram của Chân sư này bận tâm với các vấn đề kinh tế toàn cầu, và cũng với một cuộc tấn công trực tiếp vào chủ nghĩa duy vật căn bản đang hiện diện trong thế giới hiện đại. Các vấn đề về trao đổi và giao dịch, ý nghĩa của tiền bạc, giá trị của vàng (một biểu tượng căn bản của cung ba Trí Tuệ Hoạt Động), việc tạo ra các thái độ đúng đắn đối với đời sống vật chất, và toàn bộ tiến trình phân phối đúng đắn là một số trong nhiều vấn đề được bàn đến trong ashram này; công việc được thực hiện là vô cùng to lớn và rất quan trọng trong việc chuẩn bị tâm trí con người cho sự trở lại của Đức Christ và cho Kỷ Nguyên Mới mà Ngài sẽ khai mở. Các nhà tư bản và các lãnh tụ lao động, các chuyên gia tài chính và những người lao động biết suy nghĩ, cùng các thành viên của mọi hệ tư tưởng khác nhau đang thịnh hành trong thế giới ngày nay đều có thể được tìm thấy đang hoạt động tích cực trong ashram này. Nhiều người trong số họ là những người mà tín đồ tôn giáo chính thống hay đạo sinh huyền bí học bảo thủ sẽ xem là không tinh thần, tuy nhiên tất cả họ trên thực tế đều sâu sắc tinh thần theo nghĩa đúng đắn, nhưng họ không quan tâm đến nhãn hiệu, trường phái tư tưởng hay giáo huấn bí truyền mang tính học thuật. Họ biểu hiện trong chính mình một sức sống là dấu ấn của địa vị đệ tử.

The time has come when the first and major principle governing true esotericism must be grasped as conditioning all hierarchical workers: Right Motive.

Đã đến lúc nguyên lý đầu tiên và chủ yếu chi phối huyền bí học chân chính phải được nắm bắt như là yếu tố tác động lên mọi người hoạt động của Thánh Đoàn: Động cơ đúng đắn.

The time has come when the quality of ashramic work is recognised, first of all, as being: Selfless Service.

Đã đến lúc phẩm tính của công việc ashram trước hết được nhận ra là: Phụng sự vô ngã.

The time has come when men everywhere must realise that entry into a Master’s Ashram is dependent upon Intelligence, plus right motive and service.

Đã đến lúc con người ở khắp nơi phải nhận ra rằng việc bước vào ashram của một Chân sư tùy thuộc vào Trí tuệ, cộng với động cơ đúng đắn và phụng sự.

When these three factors are present in any human being, the Masters know that good material is presented to Them for training. Today the world is full of such men and women, and in them lies the dominant hope of the future.

Khi ba yếu tố này hiện diện nơi bất kỳ con người nào, các Chân sư biết rằng trước Các Ngài là chất liệu tốt để huấn luyện. Ngày nay thế giới đầy những người nam và nữ như thế, và trong họ có niềm hy vọng chủ yếu của tương lai.

One more point I would like to discuss. Through the work of this Master and His Ashram the “sealing of the door where evil dwells” will come about, because it is essentially this group which (if I dare so express it) is coping [667] with raw materialism and the false values which it engenders. The door has to be sealed by a vast mass of coordinated human forces, and not by one or two enlightened men. This fact must be grasped by you. The energy of love-wisdom, the energy of the second ray, can and will bring in the Kingdom of God; the energy of the divine will can and will galvanise with its dynamic potency the entire human family to the point where a group transition will take place from the fourth into the fifth kingdom. It is nevertheless this third ray energy, as wielded in the Ashram of this English Master, under the direction of the Mahachohan, the Lord of Civilisation, which will force a right attitude toward materialism, which will bring about a balance between the material values and the spiritual, and which will eventually thrust back into futility the Forces of Evil which have for so long distracted the world of men. I am choosing my words with care.

Còn một điểm nữa tôi muốn bàn đến. Qua công việc của Chân sư này và ashram của Ngài, “việc niêm phong cánh cửa nơi điều ác ngự trị” sẽ được thực hiện, bởi vì về bản chất chính nhóm này (nếu tôi dám diễn đạt như vậy) đang đối phó [667] với chủ nghĩa duy vật thô sơ và các giá trị sai lầm mà nó sinh ra. Cánh cửa ấy phải được niêm phong bởi một khối lớn các mãnh lực nhân loại được phối hợp, chứ không phải bởi một hay hai người giác ngộ. Các bạn phải nắm được sự kiện này. Năng lượng bác ái-minh triết, năng lượng cung hai, có thể và sẽ mang Thiên Giới vào; năng lượng của ý chí thiêng liêng có thể và sẽ làm rung chuyển bằng uy lực năng động của nó toàn thể gia đình nhân loại đến mức một cuộc chuyển tiếp theo nhóm sẽ diễn ra từ giới thứ tư sang giới thứ năm. Tuy nhiên, chính năng lượng cung ba này, như được vận dụng trong ashram của vị Chân sư người Anh này, dưới sự chỉ đạo của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Nền Văn Minh, sẽ buộc phải có một thái độ đúng đắn đối với chủ nghĩa duy vật, sẽ mang lại sự quân bình giữa các giá trị vật chất và tinh thần, và cuối cùng sẽ đẩy lùi vào vô hiệu các Mãnh Lực của Điều Ác vốn đã làm xao động thế giới loài người quá lâu. Tôi đang chọn lời rất cẩn trọng.

You will note, therefore, how the three divine aspects are united in one great movement to bring in the Kingdom of God, and that the first step towards this longed-for consummation is the appearance of the Masters upon the physical plane, and then, somewhat later, the reappearance of the Christ.

Vì vậy, các bạn sẽ lưu ý cách ba phương diện thiêng liêng được hợp nhất trong một phong trào lớn để mang Thiên Giới vào, và rằng bước đầu tiên hướng tới sự thành tựu được mong mỏi từ lâu này là sự xuất hiện của các Chân sư trên cõi hồng trần, rồi sau đó, muộn hơn đôi chút, là sự tái lâm của Đức Christ.

We now come to a consideration of the vast Ashram controlled by the Master R. He is the Lord of Civilisation and His is the task of bringing in the new civilisation for which all men wait. It is a third ray Ashram, and therefore enfolds within its ring-pass-not all the Ashrams to be found upon the third Ray of Active Intelligence, upon the fifth Ray of Concrete Science and upon the seventh Ray of Ceremonial Order. All these Ashrams are working under the general direction of the Master R. He works primarily through the Masters of these three types of ray energy. He Himself at this time is occupied with seventh ray energy, which is the order-producing energy upon our planet.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét ashram rộng lớn do Chân sư R. kiểm soát. Ngài là Chúa Tể của Nền Văn Minh và nhiệm vụ của Ngài là mang vào nền văn minh mới mà mọi người đều chờ đợi. Đây là một ashram cung ba, và vì vậy bao hàm trong vòng-giới-hạn của nó mọi ashram thuộc cung ba Trí Tuệ Hoạt Động, cung năm Khoa Học Cụ Thể và cung bảy Trật Tự Nghi Lễ. Tất cả các ashram này đều hoạt động dưới sự chỉ đạo chung của Chân sư R. Ngài hoạt động chủ yếu qua các Chân sư của ba loại năng lượng cung này. Chính Ngài vào lúc này đang bận tâm với năng lượng cung bảy, là năng lượng tạo ra trật tự trên hành tinh chúng ta.

This is the Ray of Ceremonial Order, and through the activity of its energy, when correctly directed and used, a right rhythm is being imposed upon all aspects of human [668] living. An effort is being constantly made to arrest the ugly chaos of the present and to produce the ordered beauty of the future. The major weapon now being used by the combined Forces of Evil is chaos, disruption, lack of established security, and consequent fear. The potency of these evil forces is exceedingly great because they belong to no one group of people and to all the ideologies. The chaos produced by indifference, the chaos produced by uncertainty, the chaos produced by fear, by starvation, by insecurity, by watching others suffer innocently, and the chaos produced by the warring and conflicting ambitious elements in every nation (without exception)—these are the factors with which the Master R. is attempting to deal; the task is one of supreme difficulty. The entire rhythm of international thinking has to be altered, and that constitutes a slow and arduous task; the evil personalities which, in every country, are responsible for the chaos and uncertainty, have eventually to be replaced by those who can work in cooperation with the rhythm of the seventh ray, and thus produce ordered beauty.

Đây là Cung Trật Tự Nghi Lễ, và qua hoạt động của năng lượng này, khi được định hướng và sử dụng đúng đắn, một nhịp điệu đúng đắn đang được áp đặt lên mọi phương diện của đời sống [668] nhân loại. Một nỗ lực liên tục đang được thực hiện để chặn đứng sự hỗn loạn xấu xí của hiện tại và tạo ra vẻ đẹp có trật tự của tương lai. Vũ khí chủ yếu hiện đang được các Mãnh Lực của Điều Ác phối hợp sử dụng là hỗn loạn, tan rã, thiếu an ninh được thiết lập, và hậu quả là sợ hãi. Uy lực của các mãnh lực ác này cực kỳ lớn vì chúng không thuộc riêng một nhóm người nào mà thuộc về mọi hệ tư tưởng. Sự hỗn loạn do điềm nhiên tạo ra, sự hỗn loạn do bất định tạo ra, sự hỗn loạn do sợ hãi, do đói khát, do bất an, do chứng kiến người khác vô tội đau khổ, và sự hỗn loạn do các thành phần đầy tham vọng hiếu chiến và xung đột trong mọi quốc gia tạo ra (không ngoại lệ)—đó là những yếu tố mà Chân sư R. đang cố gắng xử lý; nhiệm vụ này cực kỳ khó khăn. Toàn bộ nhịp điệu của tư tưởng quốc tế phải được thay đổi, và điều đó tạo thành một công việc chậm chạp và gian khổ; các phàm ngã xấu ác, trong mọi quốc gia, chịu trách nhiệm về sự hỗn loạn và bất định ấy, cuối cùng phải được thay thế bởi những người có thể hoạt động trong sự hợp tác với nhịp điệu của cung bảy, và nhờ đó tạo ra vẻ đẹp có trật tự.

The task is further complicated by the fact that in the substitution of order for chaos, national cultures must be preserved and the outline of the new civilisation presented to the people. This major Ashram is therefore confronted with two elements in every land and nation: those people who hold on to the bad old things of the past, and those who work for the extreme opposite of this point of view and for that which is new. Under the influence of this seventh ray energy balance has to be brought about and preserved, so that the “noble middle way” of right action and of right human relations can be safely trodden. The task of the Master R. is, however, lightened by the fact that the seventh ray is now coming into activity and its potency is increasing year by year. His task is also aided by the intelligent work done by the Ashram of the English Master Who works consistently with the awakening and the arising masses.

Nhiệm vụ còn phức tạp hơn bởi sự kiện rằng trong việc thay thế hỗn loạn bằng trật tự, các nền văn hóa quốc gia phải được bảo tồn và đường nét của nền văn minh mới phải được trình bày cho dân chúng. Vì vậy, ashram lớn này phải đối diện với hai thành phần trong mọi quốc gia và dân tộc: những người bám giữ những điều cũ kỹ xấu xa của quá khứ, và những người hoạt động cho cực đối lập của quan điểm ấy và cho điều mới mẻ. Dưới ảnh hưởng của năng lượng cung bảy này, sự quân bình phải được mang lại và được duy trì, để “trung đạo cao quý” của hành động đúng đắn và các mối quan hệ đúng đắn của con người có thể được bước đi một cách an toàn. Tuy nhiên, nhiệm vụ của Chân sư R. được làm nhẹ bớt bởi sự kiện rằng cung bảy hiện đang đi vào hoạt động và uy lực của nó tăng lên từng năm. Nhiệm vụ của Ngài cũng được hỗ trợ bởi công việc trí tuệ do ashram của vị Chân sư người Anh đang kiên trì hoạt động với quần chúng đang thức tỉnh và trỗi dậy thực hiện.

Every October and every March, the Master R. gathers [669] together His council of helpers, the Masters and the senior initiates in the Ashrams of the third, the fifth and the seventh rays. Though He is the Head of the third Ray of Aspect and is in control, therefore, of the two Rays of Attribute mentioned above, He does not Himself wield these forces, because He is One of the three Heads of the Hierarchy and His work cannot be confined to the activity of any one ray. He works through the Ashrams of these rays, but He Himself works primarily in cooperation with the Christ and the Manu.

Mỗi tháng Mười và mỗi tháng Ba, Chân sư R. tập hợp [669] hội đồng phụ tá của Ngài, gồm các Chân sư và các điểm đạo đồ cao cấp trong các ashram của cung ba, cung năm và cung bảy. Mặc dù Ngài là Đầu của Cung Trạng Thái thứ ba và do đó kiểm soát hai Cung Thuộc Tính được nhắc đến ở trên, chính Ngài không trực tiếp vận dụng các mãnh lực này, bởi vì Ngài là Một trong ba Đầu của Thánh Đoàn và công việc của Ngài không thể bị giới hạn vào hoạt động của bất kỳ một cung nào. Ngài hoạt động qua các ashram của các cung này, nhưng chính Ngài hoạt động chủ yếu trong sự hợp tác với Đức Christ và Đức Manu.

Now we come to the work which I (D.K.), a second ray Master, am attempting to do. With what energies am I working? What is the goal towards which I am striving under the direction of the three great Lords of the Hierarchy? I am working with the energy of right human relations; this is a definite and integral part of the energy of the second ray. It is a magnetic type of energy and draws men together for betterment and for right understanding. It is also related in a peculiar way to the energy of the first Ray of Will or Power. Perhaps this will be clearer to you if I point out that the will-to-good is an aspect of the Ray of Will, but that goodwill is an attribute of the second Ray of Love-Wisdom, thus relating that ray to the first ray.

Giờ đây chúng ta đến với công việc mà tôi (D.K.), một Chân sư cung hai, đang cố gắng thực hiện. Tôi đang làm việc với những năng lượng nào? Mục tiêu mà tôi đang phấn đấu dưới sự chỉ đạo của ba Đấng Chúa Tể lớn của Thánh Đoàn là gì? Tôi đang làm việc với năng lượng của các mối quan hệ đúng đắn của con người; đây là một phần xác định và toàn vẹn của năng lượng cung hai. Đây là một loại năng lượng từ tính và kéo con người lại với nhau để cải thiện và để thấu hiểu đúng đắn. Nó cũng liên hệ theo một cách đặc biệt với năng lượng của Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng. Có lẽ điều này sẽ rõ hơn với các bạn nếu tôi chỉ ra rằng ý chí-hướng thiện là một phương diện của Cung Ý Chí, nhưng thiện chí là một thuộc tính của cung hai Bác Ái – Minh Triết, do đó liên kết cung ấy với cung một.

There is no need for me to enlarge upon the work which I am doing in and through my Ashram; you know it well, for I have frequently outlined it, and my books present the goal adequately for this generation.

Tôi không cần phải nói rộng thêm về công việc mà tôi đang làm trong và qua ashram của tôi; các bạn biết rõ điều đó, vì tôi đã thường xuyên phác họa nó, và các sách của tôi trình bày mục tiêu ấy đầy đủ cho thế hệ này.

In this particular though relatively short cycle, my Ashram is in a key position. It is closely linked to the first ray Ashram of the Master Morya, through the work of Men of Goodwill and through all goodwill movements in the world at this time. Goodwill is essentially an expression of the second Ray of Love-Wisdom, and is therefore an aspect of all the Ashrams in that great second ray Ashram, the Hierarchy. But all goodwill work is today being galvanised also into violent activity through the dynamic energy of the first ray, expressing the will-to-good.

Trong chu kỳ đặc biệt tuy tương đối ngắn này, ashram của tôi ở vào một vị trí then chốt. Nó được liên kết chặt chẽ với ashram cung một của Chân sư Morya, qua công việc của những Người Thiện Chí và qua mọi phong trào thiện chí trong thế giới vào lúc này. Thiện chí về bản chất là một biểu hiện của cung hai Bác Ái – Minh Triết, và vì vậy là một phương diện của mọi ashram trong ashram cung hai vĩ đại ấy, tức Thánh Đoàn. Nhưng mọi công việc thiện chí ngày nay cũng đang được làm rung chuyển vào hoạt động mãnh liệt bởi năng lượng năng động của cung một, biểu lộ ý chí-hướng thiện.

You have, therefore, this dynamic type of energy channelled [670] through the Ashram for which I am responsible. This Ashram works also in close cooperation with that of the Master R. because the intelligent activity of the energy of goodwill is our objective, and its expression through intelligence, applied with wisdom and with skill in action, is the task demanded of all men and women of goodwill throughout the world. When the Labour Movement is swept by the energy of goodwill, basic changes in world affairs will take place. I would ask all workers for goodwill to attempt to reach labour in all countries with these ideas, correctly presented.

Vì vậy, các bạn có loại năng lượng năng động này được dẫn truyền [670] qua ashram mà tôi chịu trách nhiệm. Ashram này cũng hoạt động trong sự hợp tác mật thiết với ashram của Chân sư R. bởi vì hoạt động trí tuệ của năng lượng thiện chí là mục tiêu của chúng tôi, và sự biểu lộ của nó qua trí tuệ, được vận dụng với minh triết và với kỹ năng trong hành động, là nhiệm vụ được đòi hỏi nơi mọi người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới. Khi Phong Trào Lao Động được quét qua bởi năng lượng thiện chí, những thay đổi căn bản trong các sự vụ thế giới sẽ diễn ra. Tôi muốn yêu cầu mọi người hoạt động cho thiện chí cố gắng tiếp cận lao động ở mọi quốc gia với những ý tưởng này, được trình bày một cách đúng đắn.

I have tried here to give you some idea of the synthesis of this hierarchical work for humanity, and thereby give to all men and women of goodwill the needed courage to go forward.

Ở đây tôi đã cố gắng cho các bạn một ý niệm nào đó về sự tổng hợp của công việc Thánh Đoàn này đối với nhân loại, và nhờ đó đem đến cho mọi người nam và nữ thiện chí lòng can đảm cần thiết để tiến bước.

You ask me (and rightly) of what use is all this information to men and to the aspirant who is trying to serve? The one thing which humanity needs today is the realisation that there IS a Plan which is definitely working out through all world happenings, and that all that has occurred in man’s historical past, and all that has happened lately, is assuredly in line with that Plan. Necessarily also, if such a Plan exists, it pre-supposes Those Who are responsible for the originating of the Plan and for its successful carrying forward. From the standpoint of average humanity, who think in terms of earthly happiness, the Plan should be something joyful and something which would make material life easier. To the spiritual Hierarchy, the Plan involves those arrangements or circumstances which will raise and expand the consciousness of mankind and enable men, therefore, to discover the spiritual values for themselves and to make the needed changes of their own free will, and thus produce the demanded betterment of the environment, consistent with the unfolding spiritual recognition.

Các bạn hỏi tôi (và đúng như vậy) rằng tất cả thông tin này có ích gì cho con người và cho người chí nguyện đang cố gắng phụng sự? Điều duy nhất mà nhân loại cần ngày nay là sự nhận ra rằng có một Thiên Cơ đang nhất định được triển khai qua mọi biến cố thế giới, và rằng tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ lịch sử của con người, và tất cả những gì mới xảy ra gần đây, chắc chắn đều phù hợp với Thiên Cơ ấy. Tất yếu, nếu một Thiên Cơ như vậy tồn tại, thì nó cũng giả định có Những Đấng chịu trách nhiệm khởi nguyên Thiên Cơ và xúc tiến nó thành công. Từ quan điểm của nhân loại trung bình, những người suy nghĩ theo hạnh phúc trần thế, Thiên Cơ hẳn phải là điều gì đó vui tươi và điều gì đó làm cho đời sống vật chất dễ dàng hơn. Đối với Thánh Đoàn tinh thần, Thiên Cơ bao hàm những sắp xếp hay hoàn cảnh sẽ nâng cao và mở rộng tâm thức của nhân loại và do đó giúp con người tự mình khám phá ra các giá trị tinh thần và thực hiện những thay đổi cần thiết bằng chính ý chí tự do của mình, nhờ đó tạo ra sự cải thiện môi trường được đòi hỏi, phù hợp với sự nhận biết tinh thần đang khai mở.

Nothing of true value is to be gained by any arbitrary or autocratic activity on the part of the spiritual Hierarchy. That is one of the lessons to be learnt, as the work of the totalitarian powers—in the past and today—and its effects [671] are noted. Under the totalitarian system, freedom is curtailed or abolished, the free will of the individual is denied and prevented expression, the individual is regarded as the appurtenance of the all-powerful State and held in that position by police regimentation; individual development is of value only in so far as the interests of the State are served, but the individual himself—as an independent divine unit of humanity—is non-existent, from the totalitarian point of view. Would you, therefore, have the spiritual Hierarchy of our planet work along totalitarian lines, enforcing peace and comfort, taking steps to arrest evil by force and working for the material well-being of men? Or would you have the Masters lead humanity itself, through right understanding, to take the needed action, even if it involves trial and error and a much slower process? Would you have mankind standing on its own feet as intelligent agents of the divine Plan? Or would you have them treated as irresponsible children who must be energetically protected against themselves? Is it not better for the rapidly awakening intelligence and activity of men (in every land) to be trained to recognise the essential unity of all human beings, and so be led to take the action needed which will endorse that unity, which will work for the entire group of human beings in all lands everywhere, and which will also and at the same time preserve the individual and the national cultures, alongside a universal civilisation and a world-wide system of divine recognition? It is toward this general freedom and the intelligent activity of the free individual that the Hierarchy is steadily and successfully working; the concept of unity and of united activity for the good of all is far more widely grasped and understood than you perhaps realise. The totalitarian approach works toward an imposed unity and one which will include all peoples and bind them down to a uniformity of belief—politically, economically and socially—and which will and does basically ignore the spiritual values, putting the State in the place of that divine spiritual centre where spiritual reality is to be found.

Không điều gì có giá trị chân thực lại có thể đạt được bằng bất kỳ hoạt động độc đoán hay chuyên quyền nào từ phía Thánh Đoàn tinh thần. Đó là một trong những bài học cần phải học, khi công việc của các cường quốc toàn trị—trong quá khứ và ngày nay—và các hiệu quả [671] của nó được ghi nhận. Dưới hệ thống toàn trị, tự do bị hạn chế hay bị xóa bỏ, ý chí tự do của cá nhân bị phủ nhận và bị ngăn cản biểu lộ, cá nhân bị xem như vật phụ thuộc của Nhà nước toàn năng và bị giữ trong vị trí đó bằng sự quản thúc của cảnh sát; sự phát triển cá nhân chỉ có giá trị trong chừng mực nó phụng sự lợi ích của Nhà nước, nhưng bản thân cá nhân—như một đơn vị thiêng liêng độc lập của nhân loại—thì không tồn tại theo quan điểm toàn trị. Vậy thì, các bạn có muốn Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta hoạt động theo đường lối toàn trị, áp đặt hòa bình và tiện nghi, thực hiện các bước để ngăn chặn điều ác bằng vũ lực và hoạt động vì phúc lợi vật chất của con người không? Hay các bạn muốn các Chân sư dẫn dắt chính nhân loại, qua sự thấu hiểu đúng đắn, để thực hiện hành động cần thiết, dù điều đó bao hàm thử và sai và một tiến trình chậm hơn nhiều? Các bạn có muốn nhân loại đứng trên đôi chân của chính mình như những tác nhân thông minh của Thiên Cơ thiêng liêng không? Hay các bạn muốn họ bị đối xử như những đứa trẻ vô trách nhiệm phải được bảo vệ mạnh mẽ chống lại chính mình? Chẳng phải tốt hơn sao khi trí tuệ và hoạt động đang nhanh chóng thức tỉnh của con người (ở mọi quốc gia) được huấn luyện để nhận ra sự hợp nhất cốt yếu của mọi con người, và nhờ đó được dẫn dắt để thực hiện hành động cần thiết nhằm xác nhận sự hợp nhất ấy, hoạt động vì toàn thể nhóm nhân loại ở mọi nơi trên khắp thế giới, và đồng thời cũng bảo tồn các nền văn hóa cá nhân và quốc gia, song song với một nền văn minh phổ quát và một hệ thống nhận biết thiêng liêng trên toàn thế giới? Chính hướng tới sự tự do tổng quát này và hoạt động trí tuệ của cá nhân tự do mà Thánh Đoàn đang kiên trì và thành công hoạt động; khái niệm về hợp nhất và hoạt động hợp nhất vì lợi ích của tất cả đang được nắm bắt và thấu hiểu rộng rãi hơn nhiều so với điều có lẽ các bạn nhận ra. Cách tiếp cận toàn trị hướng tới một sự hợp nhất bị áp đặt và là sự hợp nhất sẽ bao gồm mọi dân tộc và trói buộc họ vào một sự đồng nhất về niềm tin—về chính trị, kinh tế và xã hội—và sẽ cũng như đang căn bản phớt lờ các giá trị tinh thần, đặt Nhà nước vào vị trí của trung tâm tinh thần thiêng liêng nơi thực tại tinh thần được tìm thấy.

The method of the Hierarchy is to work through individuals [672] and through groups for the production of such a widespread spiritual recognition that men everywhere will accept as factual the inner government of the planet, and will work together for the founding of the Kingdom of God in objective manifestation on Earth—and not in some distant time and some vague heaven. This is no mystical or impossible dream, but is simply the recognition and the externalisation of that which has been for ever present, which definitely took objective form when Christ was with us two thousand years ago, and which will proceed to universal recognition when He is with us again in the immediate future.

Phương pháp của Thánh Đoàn là hoạt động qua các cá nhân [672] và qua các nhóm để tạo ra một sự nhận biết tinh thần rộng khắp đến mức con người ở khắp nơi sẽ chấp nhận như một sự kiện chính quyền nội tại của hành tinh, và sẽ cùng nhau hoạt động để thiết lập Thiên Giới trong biểu hiện khách quan trên Trái Đất—chứ không phải trong một thời gian xa xôi nào đó và một cõi trời mơ hồ nào đó. Đây không phải là một giấc mơ thần bí hay bất khả thi, mà chỉ đơn giản là sự nhận biết và ngoại hiện của điều vốn hiện diện từ muôn đời, điều đã nhất định mang hình thức khách quan khi Đức Christ ở cùng chúng ta hai ngàn năm trước, và điều sẽ tiến tới sự công nhận phổ quát khi Ngài lại ở cùng chúng ta trong tương lai gần trước mắt.

Therefore, all who work and struggle for the good of humanity and under the direction of the Hierarchy, take heart and renew your courage. The Hierarchy not only stands (as oft I have told you), but It is approaching daily and yearly closer to humanity. The power of the focussed, spiritual unity of the Hierarchy can be felt today in many ways; it is largely responsible for the patient effort of all humanitarian workers and of all who vision unity in the face of great odds, and in spite of the fatigued lethargy and the pessimism which conditions, too hard for human endurance, have imposed upon men’s minds. The Hierarchy stands and works. The Masters are working according to Plan—a Plan which is founded in the past history of the race and can there be traced; a Plan which necessitated because of human selfishness, the drastic horror of the war (1914-1945); a Plan which today can and will bridge the gulf which now exists between the unsatisfactory, selfish and material past and that new future which will demonstrate a large measure of world unity, and which will steadily and with skill in action substitute the spiritual values for those which have hitherto held sway.

Vì vậy, tất cả những ai hoạt động và đấu tranh vì lợi ích của nhân loại và dưới sự chỉ đạo của Thánh Đoàn, hãy vững lòng và làm mới lại dũng khí của mình. Thánh Đoàn không những đứng vững (như tôi đã thường nói với các bạn), mà còn đang tiến lại gần nhân loại hơn từng ngày và từng năm. Quyền năng của sự hợp nhất tinh thần tập trung của Thánh Đoàn ngày nay có thể được cảm nhận theo nhiều cách; nó phần lớn chịu trách nhiệm cho nỗ lực kiên nhẫn của mọi người hoạt động nhân đạo và của tất cả những ai có tầm nhìn về hợp nhất trước những nghịch cảnh lớn lao, và bất chấp sự trì trệ mệt mỏi cùng tính bi quan mà những điều kiện quá sức chịu đựng của con người đã áp đặt lên tâm trí con người. Thánh Đoàn đứng vững và hoạt động. Các Chân sư đang hoạt động theo Thiên Cơ—một Thiên Cơ được đặt nền trong lịch sử quá khứ của nhân loại và có thể được truy ra ở đó; một Thiên Cơ mà do tính ích kỷ của con người đã đòi hỏi sự kinh hoàng khốc liệt của chiến tranh (1914-1945); một Thiên Cơ mà ngày nay có thể và sẽ bắt cầu qua vực thẳm hiện đang tồn tại giữa quá khứ không thỏa đáng, ích kỷ và duy vật với tương lai mới sẽ biểu lộ một mức độ lớn lao của sự hợp nhất thế giới, và sẽ đều đặn và với kỹ năng trong hành động thay thế các giá trị tinh thần cho những giá trị từ trước đến nay đã thống trị.

The guarantee of this is the developing intelligence of men everywhere fighting blindly for freedom and for understanding, and receiving ever the inner assurance, knowledge [673] and aid of Those Who are working out (as always) those situations and conditions wherein mankind can best arrive at divine expression.

Sự bảo đảm cho điều này là trí tuệ đang phát triển của con người ở khắp nơi đang mù quáng chiến đấu cho tự do và cho sự thấu hiểu, và luôn luôn nhận được sự bảo đảm nội tại, tri thức [673] và trợ giúp của Những Đấng đang triển khai (như vẫn luôn thế) những tình huống và điều kiện trong đó nhân loại có thể đạt đến biểu hiện thiêng liêng một cách tốt nhất.

THE EFFECTS OF THE EXTERNALISATION—CÁC HIỆU QUẢ CỦA SỰ HIỂN LỘ CỦA THÁNH ĐOÀN

September 1949

Tháng Chín 1949

In my previous instruction upon this theme I dealt with the various energies which would be brought into activity or utilised when the Masters emerged from the silence in which They have guarded Themselves for so many thousands of years. The point to be grasped is that the energies with which I dealt will be used in a new and more vital manner. These energies are ever present and ever active, but they swing into activity sequentially and under law and order, and some are more prominent at one time than others; they act vitally and energetically in the needed programme which the plans of the Hierarchy may entail in any particular cycle.

Trong huấn thị trước đây của tôi về chủ đề này, tôi đã bàn đến các năng lượng khác nhau sẽ được đưa vào hoạt động hay được sử dụng khi các Chân sư xuất hiện khỏi sự im lặng mà trong đó Các Ngài đã tự giữ mình suốt nhiều ngàn năm. Điểm cần nắm bắt là các năng lượng mà tôi đã bàn đến sẽ được sử dụng theo một cách mới mẻ và sinh động hơn. Các năng lượng này luôn hiện diện và luôn hoạt động, nhưng chúng đi vào hoạt động theo trình tự và dưới định luật cùng trật tự, và có những năng lượng nổi bật hơn vào một thời điểm so với những năng lượng khác; chúng hoạt động một cách sinh động và mãnh liệt trong chương trình cần thiết mà các kế hoạch của Thánh Đoàn có thể đòi hỏi trong bất kỳ chu kỳ đặc biệt nào.

These energies bring about what we idly call the “events” of the day; they condition our passing civilisations and are so much a part of the world in which we live and move and have our being that events, as expressions of directed energies, mean little to us, except in so far as they may affect adversely our personalities. They connote simply a way of life in any specific time. These energies were started on their activities in the very night of time; they established—each of them—their needed cyclic rhythm; they are responsible for the activity of substance on matter or of the action of the vital or etheric body upon matter; they are the lowest formulated expression of the creative Intelligence, embodying the principle of life or livingness because they essentially are life itself and life in action. Forget not that dense matter is not a principle; it is only that which is responsive to the creative principle.

Các năng lượng này mang lại điều mà chúng ta một cách hời hợt gọi là các “biến cố” trong ngày; chúng tác động lên các nền văn minh thoáng qua của chúng ta và là một phần của thế giới mà chúng ta sống, vận động và hiện hữu trong đó đến mức các biến cố, như những biểu hiện của các năng lượng được định hướng, chẳng có nhiều ý nghĩa đối với chúng ta, ngoại trừ trong chừng mực chúng có thể ảnh hưởng bất lợi đến các phàm ngã của chúng ta. Chúng chỉ đơn giản hàm ý một lối sống trong bất kỳ thời kỳ đặc thù nào. Các năng lượng này đã khởi sự hoạt động của chúng từ trong đêm tối của thời gian; mỗi năng lượng đã thiết lập nhịp điệu chu kỳ cần thiết của riêng nó; chúng chịu trách nhiệm cho hoạt động của chất liệu trên vật chất hay cho tác động của thể sinh lực hay thể dĩ thái lên vật chất; chúng là biểu hiện được hình thành thấp nhất của Trí Tuệ sáng tạo, hiện thân nguyên khí của sự sống hay tính sống động bởi vì về bản chất chúng chính là sự sống và sự sống trong hành động. Đừng quên rằng vật chất đậm đặc không phải là một nguyên khí; nó chỉ là cái đáp ứng với nguyên khí sáng tạo.

When, however, the externalisation of the Hierarchy begins to take place (and it will be spread over quite a long [674] period of time), the impact of these substantial energies on matter will be radically altered because they will be—for the first time in history—directed from etheric levels, from the etheric body of the planet in the three worlds; hitherto, these energies have been directed from the buddhic plane which is the lowest of the cosmic etheric levels. Fundamentally, direction will still be from the buddhic plane, but the detailed and focussed direction will be given from within the three worlds and upon the physical plane; this will be the task of the externalised Ashrams, organised to function openly.

Tuy nhiên, khi sự hiển lộ của Thánh Đoàn bắt đầu diễn ra (và nó sẽ trải rộng trong một [674] khoảng thời gian khá dài), tác động của các năng lượng chất liệu này lên vật chất sẽ thay đổi một cách triệt để bởi vì chúng sẽ—lần đầu tiên trong lịch sử—được định hướng từ các cấp độ dĩ thái, từ thể dĩ thái của hành tinh trong ba cõi giới; cho đến nay, các năng lượng này đã được định hướng từ cõi Bồ đề, là cấp thấp nhất của các cấp độ dĩ thái vũ trụ. Về căn bản, sự định hướng vẫn sẽ từ cõi Bồ đề, nhưng sự định hướng chi tiết và tập trung sẽ được đưa ra từ bên trong ba cõi giới và trên cõi hồng trần; đây sẽ là nhiệm vụ của các ashram ngoại hiện, được tổ chức để hoạt động công khai.

It was the knowledge that this important development was imminent which made the Hierarchy in the last century widen the area or the scope of its teaching activity and thus bring to the consciousness of modern man the knowledge of what occultism essentially means. The keynotes upon which the occult philosophy is built are:

Chính tri thức rằng sự phát triển quan trọng này sắp xảy ra đã khiến Thánh Đoàn trong thế kỷ trước mở rộng phạm vi hay tầm mức của hoạt động giáo huấn của mình và nhờ đó đưa vào tâm thức của con người hiện đại tri thức về điều mà huyền bí học thực chất hàm ý. Các chủ âm trên đó triết học huyền bí được xây dựng là:

1. There is naught in manifestation except organised energy

1. Không có gì trong biểu hiện ngoại trừ năng lượng được tổ chức

2. Energy follows or conforms itself to thought

2. Năng lượng đi theo hay tự thích ứng với tư tưởng

3. The occultist works in energy and with energies.

3. Nhà huyền bí học hoạt động trong năng lượng và với các năng lượng.

The thought of God brought the universe of energies into organised form upon the highest of the seven planes, or upon the first cosmic etheric level. These energies have for untold aeons been directed from the fourth or lowest of the cosmic etheric planes, the plane which we call the buddhic and regard as the first definitely spiritual plane, in our usually erroneous thought; this direction has been under impression from Shamballa, and the Masters have “manipulated these energies in conformity with the Plan, which is the blueprint of the Purpose.”

Tư tưởng của Thượng đế đã đưa vũ trụ các năng lượng vào hình thức có tổ chức trên cõi cao nhất trong bảy cõi, hay trên cấp độ dĩ thái vũ trụ thứ nhất. Các năng lượng này trong vô số đại kiếp đã được định hướng từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư hay thấp nhất, cõi mà chúng ta gọi là cõi Bồ đề và xem là cõi tinh thần xác định đầu tiên, trong lối suy nghĩ thường sai lầm của chúng ta; sự định hướng này đã ở dưới sự cảm ứng từ Shamballa, và các Chân sư đã “vận dụng các năng lượng này phù hợp với Thiên Cơ, vốn là bản thiết kế của Thiên Ý.”

In the great Approach of the Hierarchy to humanity and its imminent appearance upon the physical plane, the centre of direction will also necessarily approach still nearer, and—as a result of the future hierarchical manifestation—centres of energy direction will be found wherever the Ashram of a Master is located in any part of the world. This is a statement [675] of profound significance; it is an indication of hierarchical policy and a mode whereby modern science (working as it does with energies) can be brought into cooperative association and relation with an Ashram upon the physical plane, knowing it for what it is—an entirely new departure.

Trong cuộc Tiếp Cận vĩ đại của Thánh đoàn đối với nhân loại và sự xuất hiện sắp xảy ra của Thánh đoàn trên cõi hồng trần, trung tâm chỉ đạo cũng tất yếu sẽ tiến lại gần hơn nữa, và—do kết quả của sự biểu hiện tương lai của Thánh đoàn—các trung tâm chỉ đạo năng lượng sẽ được tìm thấy ở bất cứ nơi nào ashram của một Chân sư tọa lạc tại bất kỳ phần nào trên thế giới. Đây là một phát biểu [675] có thâm nghĩa sâu xa; nó là một chỉ dấu về chính sách của Thánh đoàn và là một phương thức nhờ đó khoa học hiện đại (vốn đang làm việc với các năng lượng) có thể được đưa vào sự cộng tác và liên hệ với một ashram trên cõi hồng trần, biết nó đúng như bản chất của nó—một khởi sự hoàn toàn mới.

Earlier I stated that the physical plane areas or localities which constitute the present modern exits for energies, through which directed energies can pass to carry out the creative process, are five in number: New York, London, Geneva, Darjeeling and Tokyo. These five form a five-pointed star of interlocking energies, symbolic of the major divisions of our modern civilisation. I would have you bear in mind that all that I am here giving you anent energy is in relation to the human kingdom and to nothing else; I am not relating these energies to the other kingdoms in nature; I am here concerned with physical plane utilisation of energy through the power of directed thinking and on behalf of the evolution and well-being of mankind. At each one of these five centres one of the Masters will be found present, with His Ashram, and a vortex of spiritual forces will there be organised to hasten and materialise the plans of the Christ for the new and coming world cycle.

Trước đây tôi đã nói rằng các khu vực hay địa phương trên cõi hồng trần cấu thành những lối thoát hiện đại hiện nay cho các năng lượng, qua đó các năng lượng được chỉ đạo có thể đi qua để thực hiện tiến trình sáng tạo, có số lượng là năm: New York, London, Geneva, Darjeeling và Tokyo. Năm nơi này tạo thành một ngôi sao năm cánh của các năng lượng đan xen, biểu tượng cho các phân khu chính của nền văn minh hiện đại của chúng ta. Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng tất cả những gì tôi đang trình bày ở đây với các bạn liên quan đến năng lượng đều chỉ liên hệ với giới nhân loại và không liên hệ với điều gì khác; tôi không liên hệ các năng lượng này với các giới khác trong thiên nhiên; ở đây tôi quan tâm đến việc sử dụng năng lượng trên cõi hồng trần thông qua quyền năng của tư tưởng được chỉ đạo và vì sự tiến hoá cùng phúc lợi của nhân loại. Tại mỗi một trong năm trung tâm này, sẽ có sự hiện diện của một Chân sư cùng với ashram của Ngài, và tại đó một xoáy lực của các mãnh lực tinh thần sẽ được tổ chức để thúc đẩy và hiện hình các kế hoạch của Đức Christ cho chu kỳ thế giới mới đang đến.

The organising of these five centres will be done slowly and gradually. A senior disciple will appear and will work quietly at the foundation work, gathering around him the needed agents, aspirants and assistants. All these workers at any particular centre will be trained to think, and the effort now present in the educational and social world to force men to think for themselves is a general part of this training process. Until a man can do his own thinking and deciding, he cannot be an intelligent, willing and understanding cooperator, working with an ashram and controlling and directing the creative process. If the new heavens and the new earth are to be a fact in manifestation and in reality, it means a great re-creating process must get under way, and this is the concept lying behind the teaching anent the five centres on Earth and the part which they will play in rebuilding and reorganising the world.

Việc tổ chức năm trung tâm này sẽ được thực hiện một cách chậm rãi và dần dần. Một đệ tử cao cấp sẽ xuất hiện và sẽ âm thầm làm công việc đặt nền móng, quy tụ quanh y những tác nhân, người chí nguyện và phụ tá cần thiết. Tất cả những người hoạt động này tại bất kỳ trung tâm đặc thù nào cũng sẽ được huấn luyện để suy nghĩ, và nỗ lực hiện đang có mặt trong thế giới giáo dục và xã hội nhằm buộc con người phải tự suy nghĩ lấy là một phần tổng quát của tiến trình huấn luyện này. Chừng nào một người chưa thể tự suy nghĩ và tự quyết định, y không thể là một cộng tác viên thông minh, tự nguyện và thấu hiểu, làm việc với một ashram và kiểm soát cũng như chỉ đạo tiến trình sáng tạo. Nếu trời mới và đất mới phải là một sự kiện trong biểu hiện và trong thực tại, điều đó có nghĩa là một tiến trình tái sáng tạo vĩ đại phải được khởi động, và đó là ý niệm nằm sau giáo huấn liên quan đến năm trung tâm trên Trái Đất và vai trò mà chúng sẽ đảm nhiệm trong việc tái thiết và tái tổ chức thế giới.

[676] As the next few years bring into focus the hierarchical intention, disciples and aspirants must look for those men and those few women who will be working as a group along spiritual lines in or near one or other of these five localities.

[676] Khi vài năm sắp tới đưa ý định của Thánh đoàn vào tiêu điểm, các đệ tử và người chí nguyện phải tìm kiếm những người nam và vài người nữ sẽ làm việc như một nhóm theo các đường lối tinh thần trong hoặc gần một trong năm địa phương này.

Initial opposition to the founding of these centres of clear thinking men and women, working freely and understandingly with one of the Masters or senior initiates, is already unhappily present; it is to be found in the narrowness, the biassed information and the lack of freedom of the totalitarian schools of thought. This was inevitable, for the Black Lodge ever endeavours to parallel, offset and undo the work of the White Lodge, and hitherto quite successfully. But the cycle of success is slowly closing because the energy of goodwill, emanated by the Will-to-Good, is rapidly becoming effective.

Sự chống đối ban đầu đối với việc thành lập các trung tâm của những người nam và nữ có tư tưởng sáng suốt, làm việc tự do và với sự thấu hiểu cùng một trong các Chân sư hay các điểm đạo đồ cao cấp, đáng tiếc thay đã hiện diện rồi; nó được tìm thấy trong tính hẹp hòi, thông tin thiên lệch và sự thiếu tự do của các trường phái tư tưởng toàn trị. Điều này là không thể tránh khỏi, vì Hắc đoàn luôn luôn cố gắng song hành, hóa giải và phá hủy công việc của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, và cho đến nay khá thành công. Nhưng chu kỳ thành công ấy đang dần khép lại vì năng lượng thiện chí, phát ra từ Ý Chí-hướng Thiện, đang nhanh chóng trở nên hữu hiệu.

In London, in New York, in Geneva and Darjeeling and in Tokyo, a Master will eventually be found, organising a major energy centre; at the same time His Ashram will continue to function upon buddhic levels, for the entire personnel has not been alerted for externalisation. The Ashram will therefore be working on two levels—and yet that is not a correct statement of fact, as there are no levels, as well you know, but only states of consciousness. Ask me not how this can be; ponder on the relation of this dual and simultaneous appearance by attempting to grasp the nature of the manifested form of the planetary Logos in the Person of Sanat Kumara. Sanat Kumara is not the personality of the planetary Logos, for personality as you understand it is not existent in His case. It is not the soul of the planetary Logos, because that soul is the anima mundi and the soul of all forms in all kingdoms. Sanat Kumara, the Eternal Youth, can be seen by Those Who have the right, presiding, for instance, over the Council in Shamballa, yet at the same time He is present as the life and the informing intelligence upon and within our planet.

Tại London, tại New York, tại Geneva và Darjeeling, và tại Tokyo, cuối cùng sẽ có một Chân sư được tìm thấy đang tổ chức một trung tâm năng lượng lớn; đồng thời ashram của Ngài sẽ tiếp tục hoạt động trên các cấp độ Bồ đề, vì toàn thể nhân sự chưa được chuẩn bị cho sự ngoại hiện. Do đó ashram sẽ hoạt động trên hai cấp độ—tuy nhiên đó không phải là một phát biểu đúng với sự kiện, vì như các bạn biết rõ, không có các cấp độ, mà chỉ có các trạng thái tâm thức. Đừng hỏi tôi điều này có thể như thế nào; hãy suy ngẫm về mối liên hệ của sự xuất hiện nhị nguyên và đồng thời này bằng cách cố gắng nắm bắt bản chất của hình tướng biểu hiện của Đức Hành Tinh Thượng Đế trong Thân vị của Đức Sanat Kumara. Đức Sanat Kumara không phải là phàm ngã của Đức Hành Tinh Thượng Đế, vì phàm ngã như các bạn hiểu không hiện hữu trong trường hợp của Ngài. Ngài cũng không phải là linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế, vì linh hồn ấy là anima mundi và là linh hồn của mọi hình tướng trong mọi giới. Đức Sanat Kumara, Thanh Niên Vĩnh Cửu, có thể được nhìn thấy bởi Những Đấng có quyền, chẳng hạn đang chủ tọa Hội Đồng tại Shamballa, nhưng đồng thời Ngài hiện diện như sự sống và trí tuệ thấm nhuần trên và trong hành tinh của chúng ta.

You have therefore five points where the externalisation of the Ashrams will take place and eventually be focussed. From these points, as time elapses, other Ashrams, subsidiary [677] in nature, will be found emerging, sponsored and founded by disciples and initiates from these five Ashrams, and representing the three major rays and two minor rays. To start with, they will be founded through the presence in these localities of some senior or world disciple; it must be remembered that the forerunner of all movements which appear upon the physical plane is an educational propaganda, therefore some disciple upon the second ray will come into action, first of all, in all these five points; he will be followed by a disciple upon the seventh ray. All world movements are, as well you know, externalisations of subjective ideas and concepts and of phases of formulated thinking; and the appearance of the Hierarchy upon earth in tangible form is no exception to this rule.

Vì vậy các bạn có năm điểm nơi sự ngoại hiện của các ashram sẽ diễn ra và cuối cùng được tập trung. Từ những điểm này, theo thời gian, các ashram khác, có tính phụ thuộc [677] về bản chất, sẽ được thấy đang xuất hiện, được bảo trợ và thành lập bởi các đệ tử và điểm đạo đồ từ năm ashram này, và đại diện cho ba cung chính và hai cung phụ. Lúc đầu, chúng sẽ được thành lập qua sự hiện diện tại các địa phương này của một số đệ tử cao cấp hay đệ tử thế giới; cần nhớ rằng người đi trước của mọi phong trào xuất hiện trên cõi hồng trần là một sự tuyên truyền giáo dục, vì thế trước hết một đệ tử thuộc cung hai sẽ đi vào hoạt động tại cả năm điểm này; tiếp theo y sẽ là một đệ tử thuộc cung bảy. Mọi phong trào thế giới, như các bạn biết rõ, đều là những sự ngoại hiện của các ý tưởng và khái niệm chủ quan cùng các giai đoạn của tư tưởng đã được hình thành; và sự xuất hiện của Thánh đoàn trên địa cầu dưới hình thức hữu hình cũng không phải là ngoại lệ đối với quy luật này.

Disciples in these Ashrams have been in training for nearly one hundred and fifty years to do this work; some have managed to keep the originating idea and impulse clear and untainted by their own thinking, and have adhered—even in their own intimate thoughts—to the hierarchical programme, as presented to them by their Masters or the senior initiates. Others have not possessed so clear a reasoning faculty or so active an intuitive perception and—whilst grasping certain major concepts such as world unity or hierarchical gradations and control—have distorted the truth and produced the many ideologies which have wracked the world during the past century; even this distortion is, however, being turned to good, for it produced a redoubled effort on the part of the Hierarchy to offset it; it led to an increased forcing process by means of which many earnest and willing aspirants reached the grade of accepted disciple; it produced also a ferment of thought in the world which has served to awaken the mentality of the masses to possibilities and to horizons hitherto only visioned by advanced and initiate thinkers. The man in the street today has absorbed ideologies to an unforeseen extent, and the attempt to make him an active factor in our modern civilisation is not too harmful in view of the time element, as divinely conceived, and from the point of view of the staunch and basic integrity of the divine human being. [678] Time and divinity, events and instinctual goodness, will in the long run triumph. The intermediate agonies are distressing but not final, and they are not triumphant from the angle of the dark Forces. These Forces face (as a result of the war and of the resurrecting human spirit) a vista of nearing and inevitable defeat.

Các đệ tử trong những ashram này đã được huấn luyện gần một trăm năm mươi năm để làm công việc này; một số đã xoay xở giữ cho ý tưởng và xung lực khởi nguyên được rõ ràng và không bị ô nhiễm bởi tư tưởng riêng của họ, và đã gắn bó—ngay cả trong những tư tưởng thân mật nhất của họ—với chương trình của Thánh đoàn như được các Chân sư của họ hay các điểm đạo đồ cao cấp trình bày cho họ. Những người khác không có được năng lực lý luận sáng rõ đến thế hay tri giác trực giác linh hoạt đến thế, và—trong khi nắm bắt được một số khái niệm lớn như sự hợp nhất thế giới hay các cấp bậc và sự kiểm soát của Thánh đoàn—đã bóp méo chân lý và tạo ra nhiều hệ tư tưởng đã làm thế giới điêu đứng trong thế kỷ qua; tuy nhiên, ngay cả sự bóp méo này cũng đang được chuyển thành điều thiện, vì nó đã tạo ra một nỗ lực gấp đôi từ phía Thánh đoàn để hóa giải nó; nó dẫn đến một tiến trình thúc ép gia tăng nhờ đó nhiều người chí nguyện chân thành và tự nguyện đã đạt đến cấp bậc đệ tử được chấp nhận; nó cũng tạo ra một sự lên men tư tưởng trong thế giới, điều đã giúp đánh thức trí tuệ của quần chúng trước những khả năng và những chân trời mà trước đây chỉ được linh thị bởi các nhà tư tưởng tiến bộ và các điểm đạo đồ. Người bình thường trên đường phố ngày nay đã hấp thụ các hệ tư tưởng đến một mức độ không ngờ, và nỗ lực biến y thành một yếu tố tích cực trong nền văn minh hiện đại của chúng ta không quá tai hại nếu xét đến yếu tố thời gian, như được quan niệm một cách thiêng liêng, và từ quan điểm về tính toàn vẹn vững chắc và căn bản của con người thiêng liêng. [678] Thời gian và thiên tính, các biến cố và sự thiện lành bản năng, về lâu dài sẽ chiến thắng. Những cơn hấp hối trung gian thì đau đớn nhưng không phải là chung cuộc, và chúng cũng không chiến thắng từ góc độ của các Mãnh lực tối tăm. Các Mãnh lực này đang đối diện (do kết quả của chiến tranh và của tinh thần nhân loại phục sinh) với một viễn cảnh thất bại gần kề và không thể tránh khỏi.

Already the centres in London and in New York are showing signs of life, and disciples are active in both places and along all lines of human expression. The centre in Geneva is also active, but not so thoroughly and inclusively; it waits for a greater calm and a firmer sense of security in Europe.

Ngay lúc này các trung tâm tại London và New York đang cho thấy những dấu hiệu của sự sống, và các đệ tử đang hoạt động ở cả hai nơi và trên mọi tuyến biểu hiện của con người. Trung tâm tại Geneva cũng đang hoạt động, nhưng chưa triệt để và bao gồm đến thế; nó đang chờ một sự bình ổn lớn hơn và một cảm thức an toàn vững chắc hơn tại châu Âu.

The centre in Darjeeling is what is termed occultly “vibrating”, but this is in response to the relative nearness and propinquity of the Himalayan Brotherhood; whilst in Tokyo there is small activity as yet, and what there is is of no great moment. The work at this centre will actually be brought into being through the work of the Triangles. By that I do not mean that it will be a centre of the Triangle work, but that the concentrated meditative activity of the people engaged in the Triangle activities will magnetically draw out that which must appear when a centre is organised. They are in fact creating the needed atmosphere, and that is ever a preliminary step. Once the atmosphere or the air in which to breathe and move is existent, then the living form can appear.

Trung tâm tại Darjeeling là điều mà về mặt huyền bí được gọi là “đang rung động”, nhưng điều này là để đáp ứng với sự gần gũi tương đối và cận kề của Huynh đệ Đoàn Himalaya; trong khi đó tại Tokyo hiện vẫn còn ít hoạt động, và những gì có đó không mấy quan trọng. Công việc tại trung tâm này thực sự sẽ được đưa vào hiện hữu thông qua công việc của các Tam Giác. Qua đó tôi không có ý nói rằng nó sẽ là một trung tâm của công việc Tam Giác, mà là hoạt động tham thiền tập trung của những người dấn thân vào các hoạt động Tam Giác sẽ từ tính lôi kéo ra điều phải xuất hiện khi một trung tâm được tổ chức. Thực ra họ đang tạo ra bầu khí quyển cần thiết, và đó luôn luôn là một bước sơ khởi. Một khi bầu khí quyển hay không khí để thở và vận động đã hiện hữu, khi ấy hình tướng sống động có thể xuất hiện.

Objectively, therefore, the second ray work of teaching is the first to be organised. Subjectively, the first ray workers are already active, for the work of the first ray with its disturbing and destroying activity prepares the way; pain and disruption ever precede birth, and the agents of the first ray have been working for nearly two hundred years. The agents of the second ray started their preparation around the year 1825 and moved outward in force soon after 1860. From that date on, great concepts and new ideas, and the modern ideologies and arguments for and against aspects of the truth, have characterised modern thought and produced the present [679] mental chaos and the many conflicting schools and ideologies, with their attendant movements and organisations; out of all these, order and truth and the new civilisation will emerge. This civilisation will emerge as the result of mass thinking; it will no longer be a civilisation “imposed” by an oligarchy of any kind. This will be a new phenomenon and one for which the Hierarchy has had to wait, prior to reappearing. Had the Hierarchy come before this era of thought and of massed discussion and the fight to further creative ideas, the tenets and the truths for which the Hierarchy stands could be regarded as being also “imposed” upon humanity, and therefore as infringing human freedom. This will not now be the case, and the Hierarchy will come forth into exoteric manifestation because humanity has, of its own free will, developed a quality analogous to that of the Hierarchy and therefore magnetic to that spiritual organisation. Goodwill will draw forth from its holy secret hiding place the Exponents of Love, and thus the new world will come into being.

Do đó, về mặt khách quan, công việc giảng dạy của cung hai là công việc đầu tiên được tổ chức. Về mặt chủ quan, các người hoạt động cung một đã hoạt động rồi, vì công việc của cung một với hoạt động gây xáo trộn và hủy diệt của nó chuẩn bị con đường; đau đớn và đổ vỡ luôn luôn đi trước sự sinh ra, và các tác nhân của cung một đã làm việc gần hai trăm năm. Các tác nhân của cung hai bắt đầu sự chuẩn bị của họ vào khoảng năm 1825 và tiến ra ngoài một cách mạnh mẽ ngay sau năm 1860. Từ thời điểm đó trở đi, các khái niệm lớn và các ý tưởng mới, cùng các hệ tư tưởng hiện đại và những lập luận thuận và chống các phương diện của chân lý, đã đặc trưng cho tư tưởng hiện đại và tạo ra tình trạng [679] hỗn loạn trí tuệ hiện nay cùng nhiều trường phái và hệ tư tưởng xung đột, với các phong trào và tổ chức đi kèm; từ tất cả những điều này, trật tự và chân lý cùng nền văn minh mới sẽ xuất hiện. Nền văn minh này sẽ xuất hiện như kết quả của tư tưởng quần chúng; nó sẽ không còn là một nền văn minh bị “áp đặt” bởi một chế độ đầu sỏ dưới bất kỳ hình thức nào. Đây sẽ là một hiện tượng mới và là điều mà Thánh đoàn đã phải chờ đợi trước khi tái xuất hiện. Nếu Thánh đoàn đến trước kỷ nguyên của tư tưởng và thảo luận quần chúng cùng cuộc đấu tranh nhằm thúc đẩy các ý tưởng sáng tạo này, thì các giáo điều và chân lý mà Thánh đoàn đại diện có thể cũng bị xem là bị “áp đặt” lên nhân loại, và do đó xâm phạm tự do của con người. Giờ đây điều này sẽ không còn như vậy, và Thánh đoàn sẽ bước ra biểu hiện ngoại môn vì nhân loại, bằng chính ý chí tự do của mình, đã phát triển một phẩm tính tương tự với phẩm tính của Thánh đoàn và do đó có tính từ tính đối với tổ chức tinh thần ấy. Thiện chí sẽ kéo từ nơi ẩn náu bí mật thiêng liêng của nó ra những Đấng Biểu Dương Tình Thương, và như thế thế giới mới sẽ đi vào hiện hữu.

These subsidiary ashrams are already being attempted in various parts of the world. It is necessary for you to remember that the members of these ashrams will not all be on the teaching line, but will be composed of disciples upon many rays; the attempt to form coherent and integrated ashrams is based upon the recognition of the initial difficulty of the various ray aspirants to comprehend each other’s point of view and mode of working, and to think in the many differing terms and modes of thought. There are, however, three fundamental requirements which must condition and colour all the ashrams, no matter what the ray:

Những ashram phụ thuộc này hiện đã đang được thử thành lập tại nhiều nơi trên thế giới. Các bạn cần nhớ rằng các thành viên của những ashram này sẽ không phải tất cả đều thuộc tuyến giảng dạy, mà sẽ gồm các đệ tử trên nhiều cung; nỗ lực hình thành các ashram mạch lạc và tích hợp được đặt nền trên sự nhận biết khó khăn ban đầu của những người chí nguyện thuộc các cung khác nhau trong việc hiểu quan điểm và phương thức làm việc của nhau, cũng như suy nghĩ theo nhiều thuật ngữ và phương thức tư tưởng khác biệt. Tuy nhiên, có ba đòi hỏi căn bản phải tác động và nhuộm màu mọi ashram, bất kể cung nào:

1. An internal group unity, conducive to a synthesis of understanding between the various ashrams. There springs out of a unified group objective a sense of loyalty to the Hierarchy and a uniformly disciplined life. I said uniform, brother of mine, for the discipline is that of spiritual inclination and an inspired intention which produces a similarity in the livingness [680] of the units in the ashram; this is, of course, diversified by the ray quality of the aspirants and disciples and by personality tradition. Ponder on those last two words.

1. Một sự hợp nhất nhóm nội tại, có lợi cho một tổng hợp của sự thấu hiểu giữa các ashram khác nhau. Từ một mục tiêu nhóm hợp nhất nảy sinh một cảm thức trung thành với Thánh đoàn và một đời sống được kỷ luật đồng đều. Tôi đã nói đồng đều, huynh đệ của tôi, vì kỷ luật ấy là kỷ luật của khuynh hướng tinh thần và một ý định được cảm hứng, điều tạo ra một sự tương đồng trong tính sống động [680] của các đơn vị trong ashram; dĩ nhiên điều này được đa dạng hóa bởi phẩm tính cung của các người chí nguyện và đệ tử và bởi truyền thống phàm ngã. Hãy suy ngẫm về hai từ cuối ấy.

2. Similarity of objective. By that I mean an apprehension and appreciation of the hierarchical Plan and of the contribution each ashram has to make for its materialisation on earth; to this must be added an united ashramic similarity of instinctual and intuitive telepathic rapport with the senior Members of the ashram—the Masters and initiates of high degree, and through Them—with the Christ. I would here call to your attention that the mental inclination of all the esotericists in the world for the past one hundred years has been directed towards individual rapport with a Master, and this because of the necessity of discovering the ashram with which the aspirant must make contact.

2. Sự tương đồng về mục tiêu. Qua đó tôi muốn nói đến sự nắm bắt và trân trọng Thiên Cơ của Thánh đoàn và sự đóng góp mà mỗi ashram phải thực hiện cho việc hiện hình Thiên Cơ ấy trên địa cầu; vào đó phải thêm một sự tương đồng ashram hợp nhất về mối liên hệ viễn cảm bản năng và trực giác với các Thành Viên cao cấp của ashram—các Chân sư và các điểm đạo đồ cấp cao, và qua Các Ngài—với Đức Christ. Ở đây tôi muốn lưu ý các bạn rằng khuynh hướng trí tuệ của tất cả các nhà bí truyền học trên thế giới trong một trăm năm qua đã được hướng đến mối liên hệ cá nhân với một Chân sư, và điều này là do nhu cầu khám phá ashram mà người chí nguyện phải tiếp xúc.

This attitude has now widened in its approach mentally, by the many diversified disciples in the many different ashrams, into a group movement or a group inclination towards the Christ, the major and most important factor in the implementation of the hierarchical Plan. This mental approach is not the same thing as the constant aspirational preoccupation of the earnest Christian follower with the thought of Christ. It is something quite different.

Hiện nay thái độ này đã được mở rộng trong cách tiếp cận trí tuệ của nó, bởi nhiều đệ tử đa dạng trong nhiều ashram khác nhau, thành một phong trào nhóm hay một khuynh hướng nhóm hướng về Đức Christ, yếu tố chính và quan trọng nhất trong việc thực thi Thiên Cơ của Thánh đoàn. Cách tiếp cận trí tuệ này không phải là cùng một điều với sự bận tâm khát vọng thường xuyên của người tín đồ Cơ Đốc chân thành với tư tưởng về Đức Christ. Nó là một điều hoàn toàn khác.

It is a unified group endeavour, generated in each ashram and fostered by all alike, to bring the entire group—as a band of world servers—into the aura of the thought currents of the Christ, as He formulates His ideas, creates the thoughtform needed prior to manifestation, and makes His arrangements for His reappearing. This is not the same thing as establishing a telepathic rapport between an individual disciple and the Christ, for that is not needed or desirable. The unity of aim, the desire to serve, the recognition of the present focussed intention of the Hierarchy (under the guidance of the Christ), become an invocative, magnetic state of group consciousness; this evokes from the Christ and His informed Masters an identification of Their united thought with the group aspiration. This is the higher spiritual correspondence of what is called in the three worlds kama-manas.

Đó là một nỗ lực nhóm hợp nhất, được phát sinh trong mỗi ashram và được tất cả cùng nuôi dưỡng, nhằm đưa toàn thể nhóm—như một đoàn người phụng sự thế gian—vào trong hào quang của các dòng tư tưởng của Đức Christ, khi Ngài hình thành các ý tưởng của Ngài, tạo ra hình tư tưởng cần thiết trước khi biểu hiện, và thực hiện các sắp xếp cho sự tái xuất hiện của Ngài. Điều này không giống như việc thiết lập một mối liên hệ viễn cảm giữa một đệ tử cá nhân và Đức Christ, vì điều đó không cần thiết cũng không đáng mong muốn. Sự hợp nhất về mục tiêu, ước muốn phụng sự, sự nhận biết ý định tập trung hiện nay của Thánh đoàn (dưới sự hướng dẫn của Đức Christ), trở thành một trạng thái tâm thức nhóm có tính khẩn cầu và từ tính; điều này gợi lên từ Đức Christ và các Chân sư được Ngài thấm nhuần một sự đồng hóa tư tưởng hợp nhất của Các Ngài với khát vọng của nhóm. Đây là sự tương ứng tinh thần cao hơn của điều được gọi trong ba cõi giới là kama-manas.

[681] This is not, I realise, an easy thing to understand when divorced from the usual Christian concept of the relation of Christ to the individual aspirant. The idea may perhaps be clarified for you by reminding yourselves that some of you who read these words know me and have found your way into my Ashram, under the guidance of your own soul and my ready recognition. Others all over the world, through their spiritual intuition and their desire to serve and to know, have brought into their recognised area of consciousness the teaching which is given in my books. Their relation to me is symbolic of the type of relation which disciples and aspirants can and do establish with the Christ. Though the analogy is far from perfect, it is possible to recognise the correspondence in its many gradations of reciprocal sensitivity.

[681] Tôi nhận ra đây không phải là điều dễ hiểu khi tách rời khỏi quan niệm Cơ Đốc thông thường về mối liên hệ của Đức Christ với người chí nguyện cá nhân. Có lẽ ý tưởng này sẽ được làm sáng tỏ cho các bạn nếu các bạn tự nhắc mình rằng một số người trong các bạn đang đọc những lời này biết tôi và đã tìm được đường vào ashram của tôi, dưới sự hướng dẫn của chính linh hồn các bạn và với sự nhận biết sẵn sàng của tôi. Những người khác trên khắp thế giới, thông qua trực giác tinh thần của họ và ước muốn phụng sự và hiểu biết, đã đưa giáo huấn được trình bày trong các sách của tôi vào trong phạm vi tâm thức được nhận biết của họ. Mối liên hệ của họ với tôi là biểu tượng cho loại liên hệ mà các đệ tử và người chí nguyện có thể và thực sự thiết lập với Đức Christ. Dù sự tương đồng này còn xa mới hoàn hảo, vẫn có thể nhận ra sự tương ứng trong nhiều cấp độ nhạy cảm hỗ tương của nó.

3. A fundamental and basic similarity of sympathetic response by the units in all ashrams to the needs of humanity, to the quality of the programme for their development which the objective demands, and to the nature of goodwill and understanding (intelligently applied); all these qualities are not handicapped by undue emotional sensitivity.

3. Một sự tương đồng căn bản và cơ bản về đáp ứng cảm thông của các đơn vị trong mọi ashram đối với các nhu cầu của nhân loại, đối với phẩm tính của chương trình phát triển của họ mà mục tiêu đòi hỏi, và đối với bản chất của thiện chí và sự thấu hiểu (được áp dụng một cách thông minh); tất cả những phẩm tính này không bị cản trở bởi sự nhạy cảm cảm xúc quá mức.

These three conditions will be found in all the ashrams and will unite the members within any ashram to those in other ashrams in a measure or rhythm of telepathic relation. From this unified and central position a rapidly deepening telepathic relation will inevitably be established and sustained by the group, with the ashram and with the Christ, on the one hand, and with humanity, on the other. With this as a foundational and conditioning quality, the work can proceed as required.

Ba điều kiện này sẽ được tìm thấy trong mọi ashram và sẽ hợp nhất các thành viên trong bất kỳ ashram nào với những người trong các ashram khác trong một mức độ hay nhịp điệu của mối liên hệ viễn cảm. Từ vị trí hợp nhất và trung tâm này, một mối liên hệ viễn cảm ngày càng sâu sắc sẽ tất yếu được thiết lập và duy trì bởi nhóm, với ashram và với Đức Christ, một mặt, và với nhân loại, mặt khác. Với điều này như một phẩm tính nền tảng và tác động, công việc có thể tiến hành theo như được đòi hỏi.

You will note, therefore, why I have so consistently emphasised, during the past thirty years of teaching, the necessity for the development of a truly spiritual and psychic sensitivity, plus the unfoldment of the faculty of a scientific telepathic rapport. I have thereby laid the foundation of the Science of Impression, with the illumined and rightly oriented mind as the interpreter, the analyser and the transmitter. [682]

Do đó các bạn sẽ lưu ý vì sao trong ba mươi năm giảng dạy qua tôi đã nhấn mạnh rất nhất quán đến sự cần thiết phải phát triển một sự nhạy cảm tinh thần và thông linh đích thực, cộng với sự khai mở năng lực về một mối liên hệ viễn cảm khoa học. Qua đó tôi đã đặt nền móng cho Khoa Học về Ấn Tượng, với trí tuệ được soi sáng và được định hướng đúng đắn như người diễn giải, người phân tích và người truyền đạt. [682]

ASHRAMIC ADJUSTMENT TO EXOTERIC LIVING—SỰ ĐIỀU CHỈNH ASHRAM ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGOẠI MÔN

October 1949

Tháng Mười 1949

We now come to another point in our study of this subject: This concerns one of the most difficult problems confronting the Masters at this time; it presents also an unique problem to the Christ. The daily physical life of the Masters, of the Christ, and of those Members of the Hierarchy (initiates and accepted disciples) Who function in physical bodies, has had its orientation upon the subjective levels of life; the majority of Them, and particularly the senior Members of the Hierarchy, do not as a rule intermingle largely with the public or walk the streets of our great cities. They work as I do from my retreat in the Himalayas, and from there I have influenced and helped far more people than I could possibly have reached had I walked daily in the midst of the noise and chaos of human affairs. I lead a normal and, I believe, useful life as the senior executive in a large lamasery, but my main work has lain elsewhere—widespread in the world of men; I reach this vast number of human beings through the medium of the books which I have written, through the groups which I have started and impulsed, such as Men of Goodwill and the Triangles, and through my disciples who talk and spread the truth as I have sought to present it.

Giờ đây chúng ta đi đến một điểm khác trong việc nghiên cứu chủ đề này: Điều này liên quan đến một trong những vấn đề khó khăn nhất đang đối diện các Chân sư vào lúc này; nó cũng đặt ra một vấn đề độc nhất cho Đức Christ. Đời sống hồng trần hằng ngày của các Chân sư, của Đức Christ, và của những Thành Viên của Thánh đoàn (các điểm đạo đồ và các đệ tử được chấp nhận) là Những Đấng hoạt động trong các thể xác, đã có sự định hướng của mình trên các cấp độ chủ quan của sự sống; đa số Các Ngài, và đặc biệt là các Thành Viên cao cấp của Thánh đoàn, theo quy luật không giao tiếp nhiều với công chúng hay đi lại trên các đường phố của những thành phố lớn của chúng ta. Các Ngài làm việc như tôi làm từ nơi ẩn cư của tôi tại Himalaya, và từ đó tôi đã ảnh hưởng và giúp đỡ nhiều người hơn rất nhiều so với điều tôi có thể đạt tới nếu tôi đi lại hằng ngày giữa tiếng ồn và sự hỗn loạn của các công việc nhân loại. Tôi sống một đời sống bình thường và, tôi tin là, hữu ích với tư cách là người điều hành cao cấp trong một tu viện lớn của Lạt-ma, nhưng công việc chính của tôi nằm ở nơi khác—lan rộng trong thế giới của những người nam và nữ; tôi tiếp cận số lượng lớn lao những con người này qua trung gian các sách tôi đã viết, qua các nhóm mà tôi đã khởi xướng và thúc đẩy, như Men of Goodwill và các Tam Giác, và qua các đệ tử của tôi là những người nói ra và truyền bá chân lý như tôi đã tìm cách trình bày nó.

So it has been with the work of all the Masters, except two or three Who have undergone special training in order to do some special preparatory work for the externalisation of the Hierarchy. The English Master is one of these, and another Master also Who works, relatively unknown, in North America. I have referred to Him before as the Master P.—though that is not, in reality, His initial.

Công việc của tất cả các Chân sư đều đã như thế, ngoại trừ hai hay ba Vị đã trải qua sự huấn luyện đặc biệt để thực hiện một số công việc chuẩn bị đặc biệt cho Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn. Chân sư người Anh là một trong số đó, và còn một Chân sư khác nữa đang làm việc, tương đối vô danh, tại Bắc Mỹ. Trước đây tôi đã nhắc đến Ngài như Chân sư P.—mặc dù đó thực ra không phải là chữ cái đầu của Ngài.

This rule of solitariness or of withdrawing applies to all the Masters and to the Christ, for it is in the solitude of the mind, and as far as possible in the solitude of physical location, that the various branches of the great White Lodge have chosen to work ever since Atlantean days. It is not the solitude of a separative spirit, but the solitude that comes from [683] the ability to be non-separative, and from the faculty of identification with the soul of all beings and of all forms. This can best be accomplished in the intense quiet of those “protected” areas where the Masters in the various branches of the Brotherhood have chosen to dwell. This solitude and physical isolation enables Them to work almost entirely from the level of the buddhic or intuitional plane, perfecting the Science of Impression, influencing and working through those minds which are susceptible to Their mental impression. This applies equally to Masters in physical vehicles and to Those Who have “no anchorage” in the three worlds; it applies also to disciples who are in or out of the body, according to their destiny, immediate karma or form of service. St. Paul, for instance, was in the initiate stage of learning rightly to withdraw and to work in what Patanjali calls “isolated unity” when he spoke of himself once as “being caught up into the third heaven” and there learning the untold beauties of the divine life.

Quy luật cô tịch hay rút lui này áp dụng cho tất cả các Chân sư và cho Đức Christ, vì chính trong sự cô tịch của trí tuệ, và càng nhiều càng tốt trong sự cô tịch của vị trí hồng trần, mà các phân nhánh khác nhau của Thánh đoàn đã chọn làm việc kể từ thời Atlantis. Đó không phải là sự cô tịch của một tinh thần phân ly, mà là sự cô tịch phát sinh từ [683] khả năng không phân ly, và từ năng lực đồng hóa với linh hồn của mọi hữu thể và mọi hình tướng. Điều này có thể được hoàn thành tốt nhất trong sự tĩnh lặng mãnh liệt của những khu vực “được bảo vệ” nơi các Chân sư trong các phân nhánh khác nhau của Huynh đệ Đoàn đã chọn cư ngụ. Sự cô tịch và cô lập hồng trần này giúp Các Ngài làm việc gần như hoàn toàn từ cấp độ của cõi Bồ đề hay cõi trực giác, hoàn thiện Khoa Học về Ấn Tượng, ảnh hưởng và làm việc thông qua những trí tuệ nhạy cảm với ấn tượng trí tuệ của Các Ngài. Điều này áp dụng như nhau cho các Chân sư trong các vận cụ hồng trần và cho Những Đấng “không có neo đậu” trong ba cõi giới; nó cũng áp dụng cho các đệ tử ở trong hay ngoài thể xác, tùy theo định mệnh, nghiệp quả trước mắt hay hình thức phụng sự của họ. Chẳng hạn, Thánh Paul đang ở trong giai đoạn điểm đạo học cách rút lui đúng đắn và làm việc trong điều mà Patanjali gọi là “hợp nhất cô lập” khi ông từng nói về chính mình như “được cất lên tầng trời thứ ba” và ở đó học biết những vẻ đẹp không thể kể xiết của sự sống thiêng liêng.

The problem, therefore, before the Masters and Their disciples is to work (when the externalisation takes place) in the midst of physical plane existence, no longer withdrawn, isolated and protected, but functioning openly in the middle of events and physical realities and all the diversity of contacts which the three worlds present. It is perhaps helpful to remember that when the Christ was in physical presence on earth two thousand years ago, the population of the world was relatively small compared to that today; contact between peoples was practically nil, and where it existed was usually of a strictly military or commercial nature, with a somewhat exclusive interchange of scholastic ideas and personnel between the rare centres of learning. It was easy in those days to withdraw into the desert and to disappear into the unfrequented place and to recharge and revitalise the spirit, to touch again closely the Sources of inspiration on the higher levels of consciousness, and thus reorient the working instrument in the three worlds to the higher field of contact and inspiration. Much of this can be noted in the Gospel story of the life of Christ and of the Master Jesus.

Vì vậy, vấn đề trước các Chân sư và các đệ tử của Các Ngài là phải làm việc (khi sự ngoại hiện diễn ra) giữa lòng sự tồn tại trên cõi hồng trần, không còn rút lui, cô lập và được bảo vệ nữa, mà hoạt động công khai giữa các biến cố và các thực tại hồng trần cùng mọi sự đa dạng của các tiếp xúc mà ba cõi giới trình bày. Có lẽ sẽ hữu ích nếu nhớ rằng khi Đức Christ hiện diện bằng thể xác trên địa cầu cách đây hai ngàn năm, dân số thế giới tương đối nhỏ so với ngày nay; sự tiếp xúc giữa các dân tộc hầu như không có, và nơi nào có thì thường mang tính quân sự hay thương mại nghiêm ngặt, với một sự trao đổi phần nào độc quyền về các ý tưởng học thuật và nhân sự giữa các trung tâm học tập hiếm hoi. Trong những ngày ấy, thật dễ dàng để rút vào sa mạc và biến mất vào nơi ít người lui tới, để nạp lại và tiếp sinh lực cho tinh thần, để lại gần một lần nữa các Nguồn cảm hứng trên các cấp độ cao hơn của tâm thức, và như thế tái định hướng công cụ hoạt động trong ba cõi giới đến trường tiếp xúc và cảm hứng cao hơn. Nhiều điều trong số này có thể được ghi nhận trong câu chuyện Phúc Âm về cuộc đời của Đức Christ và của Chân sư Jesus.

[684] When the Christ reappears and the Hierarchy externalises itself on earth, conditions will be totally different; there are today no empty spaces; the population of the world is enormously enlarged and is growing from year to year; no locality is isolated or unattainable; the jungles are open territory to the explorer and to the numerous commercial agents; vast cities cover the planet and oceans are traversed by multitudes of ships; the airways of the world are travelled by millions of passengers annually; the land is divided into minute sections by railroads, highways, speedways and myriads of lesser roads and streets. In fact, every living unit in the world is in touch with thousands of other units and can—through the many means of information—be in touch with millions; the news presses grind out the news from hour to hour and the eyes of millions are ceaselessly glued to the printed page at all hours of the day or night; the ears of other millions are daily and hourly attuned to the voice of the radio. Only the inner perceptive sense remains inactive, for only advanced humanity lives constantly in touch with the world of spiritual perception and intention.

[684] Khi Đức Christ tái xuất hiện và Thánh đoàn ngoại hiện trên địa cầu, các điều kiện sẽ hoàn toàn khác; ngày nay không còn những khoảng trống; dân số thế giới đã tăng lên vô cùng lớn và đang tăng từ năm này sang năm khác; không có địa phương nào là cô lập hay không thể tiếp cận; các khu rừng rậm là lãnh thổ mở cho nhà thám hiểm và cho vô số đại diện thương mại; những thành phố rộng lớn bao phủ hành tinh và các đại dương bị vượt qua bởi vô số tàu thuyền; các đường hàng không của thế giới được hàng triệu hành khách đi lại hằng năm; đất liền bị chia thành những phần nhỏ li ti bởi đường sắt, xa lộ, đường cao tốc và vô số đường nhỏ cùng phố xá. Thực vậy, mọi đơn vị sống trong thế giới đều tiếp xúc với hàng ngàn đơn vị khác và có thể—qua nhiều phương tiện thông tin—tiếp xúc với hàng triệu; báo chí liên tục nghiền ra tin tức từng giờ và mắt của hàng triệu người không ngừng dán vào trang in vào mọi giờ trong ngày hay đêm; tai của hàng triệu người khác hằng ngày và hằng giờ được chỉnh hợp với tiếng nói của radio. Chỉ có giác quan tri giác bên trong là vẫn bất hoạt, vì chỉ có nhân loại tiến bộ mới sống thường xuyên trong tiếp xúc với thế giới của tri giác và ý định tinh thần.

The conditions, therefore, confronting the Hierarchy constitute a serious and drastic problem. As far as we can, we will attempt to consider these conditions, for some understanding of the problem is necessary if right work is to be done.

Do đó, các điều kiện đang đối diện Thánh đoàn cấu thành một vấn đề nghiêm trọng và quyết liệt. Chúng ta sẽ cố gắng, trong khả năng có thể, xem xét những điều kiện này, vì một số hiểu biết về vấn đề là cần thiết nếu công việc đúng đắn phải được thực hiện.

Necessarily, the problem is one of a change in the orientation of perception but not necessarily in modes of living or in any definitely physical plane adjustments. Hierarchical orientation has for some centuries been one of a very strict internal consolidation, in order that the magnetic aura of the Hierarchy may unfailingly respond to impression from Shamballa, and also be of so potent a nature that it can form a protective screen around the human family. Forget not the nature of the protective service which the Masters have assumed on behalf of mankind, standing between humanity and the emanations and influences and the magnetic aura of the Black Lodge.

Tất yếu, vấn đề là một sự thay đổi trong định hướng của tri giác nhưng không nhất thiết là trong các phương thức sống hay trong bất kỳ sự điều chỉnh rõ rệt nào trên cõi hồng trần. Định hướng của Thánh đoàn trong vài thế kỷ qua là một sự củng cố nội tại rất nghiêm ngặt, để cho hào quang từ tính của Thánh đoàn có thể đáp ứng không sai chạy với ấn tượng từ Shamballa, và cũng có bản chất mạnh mẽ đến mức có thể tạo thành một màn chắn bảo vệ quanh gia đình nhân loại. Đừng quên bản chất của công việc bảo vệ mà các Chân sư đã đảm nhận thay cho nhân loại, đứng giữa nhân loại và các phát xạ cùng ảnh hưởng và hào quang từ tính của Hắc đoàn.

This internal consolidation has been greatly strengthened [685] during the past one hundred years. Because of this, and because of the resultant clarity of impression and of the potent out-going influence, the Plan for humanity—as a Whole—was imparted with emphasis to disciples in the Ashrams, and by them was formulated clearly and presented to humanity.

Sự củng cố nội tại này đã được tăng cường rất nhiều [685] trong một trăm năm qua. Chính vì điều này, và vì sự sáng rõ của ấn tượng cùng ảnh hưởng phát ra mạnh mẽ do đó mà có, Thiên Cơ cho nhân loại—như một Toàn Thể—đã được truyền đạt một cách nhấn mạnh cho các đệ tử trong các ashram, và bởi họ đã được hình thành rõ ràng và trình bày cho nhân loại.

H.P.B. (one of the first working disciples to go forth on the externalisation impulse and with first ray energy driving him) gave the background of the Plan, under impression from me; the more detailed structure and the sweep of the hierarchical intention have been given by me in the books which A.A.B. has introduced under her own name to the public (in so doing acting under my instructions). For the first time in human history, the purpose of past events—historical and psychological—can be clearly noted as the foundation for all present happenings, thus bringing the mysterious Law of Karma in an easy manner to public attention. The present can also be seen, indicating the way of the future and revealing clearly the Will-to-Good which is animating the entire evolutionary process—a process in which humanity (again for the first time) is intelligently participating and cooperating. It is this cooperative participation, even if unconsciously rendered, which has made it possible for the Hierarchy to grasp the opportunity to bring to an end the long silence which has persisted since Atlantean days; the Masters can now begin to undertake to renew an ancient “sharing of the secrets,” and to prepare humanity for a civilisation which will be distinguished by a constant intellectual perception of truth, and which will cooperate with the externalised Ashrams in the various parts of the world.

H.P.B. (một trong những đệ tử hoạt động đầu tiên đi ra theo xung lực ngoại hiện và với năng lượng cung một thúc đẩy y) đã đưa ra bối cảnh của Thiên Cơ, dưới ấn tượng từ tôi; cấu trúc chi tiết hơn và tầm bao quát của ý định của Thánh đoàn đã được tôi trình bày trong các sách mà A.A.B. đã giới thiệu với công chúng dưới tên riêng của bà (khi làm như vậy là hành động theo chỉ thị của tôi). Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, mục đích của các biến cố quá khứ—lịch sử và tâm lý—có thể được nhận thấy rõ ràng như nền tảng cho mọi diễn biến hiện tại, nhờ đó đưa Định luật Nghiệp quả huyền nhiệm đến trước sự chú ý của công chúng một cách dễ dàng. Hiện tại cũng có thể được nhìn thấy, chỉ ra con đường của tương lai và mặc khải rõ ràng Ý Chí-hướng Thiện đang làm sinh động toàn bộ tiến trình tiến hoá—một tiến trình mà trong đó nhân loại (một lần nữa là lần đầu tiên) đang tham gia và cộng tác một cách thông minh. Chính sự tham gia cộng tác này, dù được thực hiện một cách vô thức, đã khiến Thánh đoàn có thể nắm lấy cơ hội để chấm dứt sự im lặng kéo dài từ thời Atlantis; giờ đây các Chân sư có thể bắt đầu đảm nhận việc làm mới lại một “sự chia sẻ các bí mật” cổ xưa, và chuẩn bị nhân loại cho một nền văn minh sẽ được phân biệt bởi một tri giác trí tuệ thường hằng về chân lý, và sẽ cộng tác với các ashram ngoại hiện tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới.

The internal consolidation is now being somewhat loosened, if I may use such an inadequate expression, and a majority of the Members of the Hierarchy are withdrawing Their close attention from reception of impression from Shamballa and are now orienting Themselves—in an entirely new and directed manner—to the fourth kingdom in nature. At the same time, a very powerful minority of Masters are entering into a much closer association with the Council of Sanat Kumara.

Sự củng cố nội tại hiện nay đang được nới lỏng phần nào, nếu tôi có thể dùng một cách diễn đạt không đầy đủ như thế, và đa số các Thành Viên của Thánh đoàn đang rút sự chú ý gần gũi của Các Ngài khỏi việc tiếp nhận ấn tượng từ Shamballa và hiện đang định hướng chính mình—theo một cách hoàn toàn mới và có chỉ đạo—về giới thứ tư trong thiên nhiên. Đồng thời, một thiểu số rất mạnh mẽ các Chân sư đang đi vào một sự liên kết gần gũi hơn nhiều với Hội Đồng của Đức Sanat Kumara.

[686] In this way the potent and dynamic influence of Shamballa will be strengthened instead of lessened by the reorientation of the majority of the Masters and initiates. These statements have, of course, implications which will not be understood by you and which will necessarily pass unnoticed; you will respond, however, to the realisation that the minority—in renewed and closer contact with Shamballa—have to master the technique of relationship; this will entail much use of the sacrificial will. The reason is that They are (on a higher turn of the spiral) submitting to a forcing process which will make great demands upon Them, but which will serve to release the majority to a new and more potent form of immediate Earth service. In other words: a few of the Masters and higher initiates are undergoing a special and applied stimulation and are undertaking work for which the united Ashrams, in their higher brackets, have hitherto been responsible. This subjects Them to a great strain and forces Them to use the will aspect of Their divine natures in entirely new and unknown ways. They relinquish much, in order to enable the entire Hierarchy to give far more in radiance, guidance, and magnetic invocative strength than has even before been the case.

[686] Bằng cách này, ảnh hưởng mạnh mẽ và năng động của Shamballa sẽ được tăng cường thay vì suy giảm bởi sự tái định hướng của đa số các Chân sư và điểm đạo đồ. Dĩ nhiên, những phát biểu này có những hàm ý mà các bạn sẽ không hiểu và tất yếu sẽ không được chú ý; tuy nhiên, các bạn sẽ đáp ứng với sự nhận ra rằng thiểu số ấy—trong sự tiếp xúc được làm mới và gần gũi hơn với Shamballa—phải làm chủ kỹ thuật của mối liên hệ; điều này sẽ đòi hỏi sử dụng nhiều ý chí hi sinh. Lý do là Các Ngài đang (trên một vòng xoắn cao hơn) phục tùng một tiến trình thúc ép sẽ đặt lên Các Ngài những đòi hỏi lớn lao, nhưng sẽ giúp giải phóng đa số cho một hình thức phụng sự Trái Đất trực tiếp mới mẻ và mạnh mẽ hơn. Nói cách khác: một vài Chân sư và các điểm đạo đồ cao cấp đang trải qua một sự kích thích đặc biệt và được áp dụng, và đang đảm nhận công việc mà cho đến nay các ashram hợp nhất, trong các cấp cao của chúng, vẫn chịu trách nhiệm. Điều này đặt Các Ngài dưới một sức căng lớn và buộc Các Ngài phải sử dụng phương diện ý chí của bản chất thiêng liêng của Các Ngài theo những cách hoàn toàn mới và chưa biết. Các Ngài từ bỏ nhiều điều để giúp toàn thể Thánh đoàn có thể ban phát nhiều hơn rất nhiều về sự bức xạ, sự hướng dẫn và sức mạnh từ tính khẩn cầu so với trước đây.

The majority of the Masters and initiates, in Their turn, also relinquish much in order to work exoterically among men. They subject Themselves voluntarily to an active stimulation from the senior “contacting minority” but relinquish the “joy of Shamballic contact”. Temporarily, the training which the majority have been receiving in “cosmic orientation,” in the use of the will-to-be (a meaningless phrase to you), and in the “bliss of receptivity to the will-to-good of Sanat Kumara” is given up. The entire attitude of the group of Masters, initiates and disciples who are to be responsible for the externalisation of the Hierarchy and for the preparation for the reappearance of the Christ is focussed upon the expert use of the Science of Contact. This time, the science is used upon a wide and telepathic scale, with the souls of men, and upon the technique of expressing spiritually the nature of “isolated unity” in the cities, jungles and the [687] massed inhabited areas of the earth. This involves, as you can well imagine, the use of an expert ability to remain untouched by the evil rampant upon the physical plane, and yet to remain in complete sympathetic and understanding contact with all humanity and with all events that affect humanity. It was prophecy which impelled the Christ to say, when last in public appearance among men, that His disciples were “in the world and yet not of the world”; Christ depicted in simple yet profoundly revealing terms the life of the Members of His Ashrams (the entire Hierarchy) when again He would walk with Them in the plain sight of humanity. He pictured Them as one with the Father (the Council of Life in Shamballa), and yet as one with Him (as the hierarchical Head), and as one also with all that breathes and that inhabits form. I advise all disciples who seek to cooperate with the impending activity of the Hierarchy to study with care the seventeenth chapter of the Gospel of St. John; this was written by that disciple of love, under the influence of the energy emanating from the buddhic vehicle of the Christ, which is also—as you have been told—identical with the buddhic vehicle of the Buddha. The identity of the two vehicles is symbolic of the entire teaching anent “isolated unity” and divine participation, which the Masters in Their Ashrams are teaching Their disciples of all grades, these days, as the first step toward the externalisation of Their activities.

Đến lượt mình, đa số các Chân sư và điểm đạo đồ cũng từ bỏ nhiều điều để làm việc ngoại môn giữa loài người. Các Ngài tự nguyện đặt mình dưới một sự kích thích tích cực từ “thiểu số tiếp xúc” cao cấp nhưng từ bỏ “niềm hoan hỉ của sự tiếp xúc Shamballa”. Tạm thời, sự huấn luyện mà đa số đã nhận được trong “định hướng vũ trụ”, trong việc sử dụng ý chí-tồn-tại (một cụm từ vô nghĩa đối với các bạn), và trong “chí phúc của sự tiếp nhận đối với ý chí-hướng thiện của Đức Sanat Kumara” được từ bỏ. Toàn bộ thái độ của nhóm Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử sẽ chịu trách nhiệm về sự ngoại hiện của Thánh đoàn và về việc chuẩn bị cho sự tái xuất hiện của Đức Christ được tập trung vào việc sử dụng thành thạo Khoa Học về Tiếp Xúc. Lần này, khoa học ấy được sử dụng trên một quy mô rộng lớn và viễn cảm, với các linh hồn của loài người, và trên kỹ thuật biểu lộ một cách tinh thần bản chất của “hợp nhất cô lập” trong các thành phố, rừng rậm và những [687] khu vực đông dân cư tập trung của địa cầu. Điều này bao hàm, như các bạn có thể dễ dàng hình dung, việc sử dụng một năng lực thành thạo để vẫn không bị chạm đến bởi điều ác đang hoành hành trên cõi hồng trần, nhưng vẫn duy trì sự tiếp xúc hoàn toàn cảm thông và thấu hiểu với toàn thể nhân loại và với mọi biến cố ảnh hưởng đến nhân loại. Chính lời tiên tri đã thúc đẩy Đức Christ nói, khi lần cuối xuất hiện công khai giữa loài người, rằng các đệ tử của Ngài “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”; Đức Christ đã mô tả bằng những từ ngữ đơn giản nhưng mặc khải sâu xa đời sống của các Thành Viên trong các ashram của Ngài (toàn thể Thánh đoàn) khi một lần nữa Ngài sẽ cùng bước đi với Các Ngài trong tầm mắt rõ ràng của nhân loại. Ngài mô tả Các Ngài như một với Đức Cha (Hội Đồng của Sự Sống tại Shamballa), nhưng cũng là một với Ngài (với tư cách là Đầu của Thánh đoàn), và cũng là một với tất cả những gì đang thở và đang cư ngụ trong hình tướng. Tôi khuyên tất cả các đệ tử đang tìm cách cộng tác với hoạt động sắp đến của Thánh đoàn hãy cẩn thận nghiên cứu chương mười bảy của Phúc Âm Thánh John; chương này được viết bởi đệ tử của tình thương ấy, dưới ảnh hưởng của năng lượng phát ra từ vận cụ Bồ đề của Đức Christ, mà cũng là—như các bạn đã được bảo—đồng nhất với vận cụ Bồ đề của Đức Phật. Sự đồng nhất của hai vận cụ là biểu tượng cho toàn bộ giáo huấn liên quan đến “hợp nhất cô lập” và sự tham dự thiêng liêng, điều mà các Chân sư trong các ashram của Các Ngài đang dạy cho các đệ tử thuộc mọi cấp bậc của Các Ngài trong những ngày này, như bước đầu tiên hướng tới sự ngoại hiện các hoạt động của Các Ngài.

An intensive training process, therefore, is being carried out in every ashram and along identical lines, resulting in the “isolation,” occultly understood, of certain Masters and initiates. They have been thus isolated in order that They may work more readily and easily with Shamballa; They can thus form a dynamic and galvanic storehouse of energy (the energy of the divine Will) and thus make it available for the use of the other Members of the Hierarchy, as They stand in “isolated unity” upon the highways of Earth, and thus are “in the world and yet not of the world”. The learning of this lesson calls into activity the sacrificial will of both the hierarchical groups; this remains the binding cord between Them and that aspect of the antahkarana along which energy can [688] flow in a new and electric fashion from Shamballa, via the hierarchical minority referred to above, and into the large group of Masters and initiates and disciples to whom is committed the task of consolidation. All this constitutes—for the Members of the Hierarchy—a definite process of testing out and of trial, prior to and preparatory to some of the higher initiations.

Do đó, một tiến trình huấn luyện chuyên sâu đang được thực hiện trong mọi ashram và theo những đường lối giống hệt nhau, dẫn đến sự “cô lập”, theo nghĩa huyền bí, của một số Chân sư và điểm đạo đồ. Các Ngài đã được cô lập như thế để có thể làm việc dễ dàng và thuận lợi hơn với Shamballa; nhờ vậy Các Ngài có thể tạo thành một kho chứa năng lượng năng động và điện hóa (năng lượng của Ý Chí thiêng liêng) và như thế làm cho nó sẵn sàng để các Thành Viên khác của Thánh đoàn sử dụng, khi Các Ngài đứng trong “hợp nhất cô lập” trên các đại lộ của Trái Đất, và như thế “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”. Việc học bài học này gọi vào hoạt động ý chí hi sinh của cả hai nhóm trong Thánh đoàn; điều này vẫn là sợi dây ràng buộc giữa Các Ngài và phương diện ấy của antahkarana dọc theo đó năng lượng có thể [688] tuôn chảy theo một cách mới mẻ và điện lực từ Shamballa, qua thiểu số của Thánh đoàn đã được nói đến ở trên, và vào nhóm lớn các Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử được giao phó nhiệm vụ củng cố. Tất cả điều này cấu thành—đối với các Thành Viên của Thánh đoàn—một tiến trình thử nghiệm và khảo luyện rõ rệt, trước và để chuẩn bị cho một số lần điểm đạo cao hơn.

Again, the Members of the Hierarchy are not only sensitive to impression from the two other planetary centres (Shamballa and Humanity), but They are acutely aware of the Forces of Evil which are fighting furiously against the externalisation of the spiritual work. The energy which cosmic evil generates is active along three main channels:

Một lần nữa, các Thành Viên của Thánh đoàn không chỉ nhạy cảm với ấn tượng từ hai trung tâm hành tinh kia (Shamballa và Nhân loại), mà Các Ngài còn nhận biết sâu sắc các Mãnh lực Ác đang chiến đấu dữ dội chống lại sự ngoại hiện của công việc tinh thần. Năng lượng mà ác vũ trụ tạo ra hoạt động theo ba kênh chính:

1. From the centre of cosmic evil upon the cosmic astral plane. Of this centre you can know nothing, and its emanations and its magnetic aura can only be understood and recognised or interpreted by the senior Masters and by initiates of still higher rank. As the potency of the astral plane (which is so familiar to us all) weakens, and glamour and illusion are negated by a rapid spiritualising of humanity, the power of cosmic evil will correspondingly weaken and the Forces of Evil will be unable to reach the planet with their present easy effort. It is against the impact of this emanating evil that the Hierarchy stands in protection of humanity. Hitherto it has been the task of Shamballa, working through the Hierarchy, to protect humanity from the “intention to destroy” of the cosmic Forces of Evil, but—in the coming cycle and as a result of the triumph of the Forces of Light in the world war—the potency of Shamballa can be combined with that of the “protecting Agents of Light.”

1. Từ trung tâm của ác vũ trụ trên cõi cảm dục vũ trụ. Về trung tâm này các bạn không thể biết gì, và các phát xạ cùng hào quang từ tính của nó chỉ có thể được hiểu, nhận biết hay diễn giải bởi các Chân sư cao cấp và các điểm đạo đồ có cấp bậc còn cao hơn nữa. Khi tiềm lực của cõi cảm dục (vốn quá quen thuộc với tất cả chúng ta) suy yếu, và ảo cảm cùng ảo tưởng bị phủ nhận bởi sự tinh thần hóa nhanh chóng của nhân loại, thì quyền lực của ác vũ trụ cũng sẽ suy yếu tương ứng và các Mãnh lực Ác sẽ không thể tiếp cận hành tinh với sự dễ dàng như hiện nay. Chính chống lại tác động của điều ác phát ra này mà Thánh đoàn đứng ra bảo vệ nhân loại. Cho đến nay, nhiệm vụ của Shamballa, hoạt động qua Thánh đoàn, là bảo vệ nhân loại khỏi “ý định hủy diệt” của các Mãnh lực Ác vũ trụ, nhưng—trong chu kỳ sắp tới và do kết quả của chiến thắng của các Mãnh lực Ánh sáng trong cuộc thế chiến—tiềm lực của Shamballa có thể được kết hợp với tiềm lực của các “Tác Nhân bảo vệ của Ánh sáng”.

2. From the Black Lodge which is the externalisation of the centre of cosmic evil on Earth. Just as the White Lodge is the representative or correspondence of the cosmic centre of light upon Sirius (the true Great White Lodge), so the Black Lodge is also representative of ancient and cosmic evil. The Black Lodge is also far more advanced in externalisation than is the White Lodge, because materialism and matter are, [689] for it, the line of least resistance. The Black Lodge is therefore far more firmly anchored upon the physical plane than is the Hierarchy. It requires a much greater effort for the White Lodge to “clothe itself in matter and work and walk on material levels” than for the Black Lodge. Owing, however, to the spiritual growth of mankind and to the steady, even if slow, orientation of mankind to the spiritual Hierarchy, the time has come when the Hierarchy can materialise and meet the enemy of good upon an even footing; the Hierarchy need not be further handicapped by working in substance whilst the Forces of Evil work both in substance and in matter. Once the reappearance of the Christ and of the Hierarchy is an accomplished fact, these Forces of Evil face sure defeat. The reason for this is that the trend of human living and thought is turning steadily towards the subjective spiritual values, even if these values are interpreted in terms of material well-being at present and of better living conditions for all—with peace and security also for all. The Black Lodge or the planetary centre of evil works almost entirely upon the astral plane, and is impressed directly and guided in detail from the cosmic astral plane.

2. Từ Hắc đoàn là sự ngoại hiện của trung tâm ác vũ trụ trên Trái Đất. Cũng như Thánh đoàn là đại diện hay sự tương ứng của trung tâm ánh sáng vũ trụ trên Sirius (Thánh đoàn vĩ đại chân chính), thì Hắc đoàn cũng là đại diện của ác cổ xưa và vũ trụ. Hắc đoàn cũng tiến xa hơn nhiều trong sự ngoại hiện so với Thánh đoàn, vì chủ nghĩa vật chất và vật chất là [689] con đường ít trở ngại nhất đối với nó. Do đó Hắc đoàn được neo giữ trên cõi hồng trần vững chắc hơn nhiều so với Thánh đoàn. Thánh đoàn cần một nỗ lực lớn hơn nhiều để “mặc lấy vật chất và làm việc cũng như bước đi trên các cấp độ vật chất” so với Hắc đoàn. Tuy nhiên, do sự tăng trưởng tinh thần của nhân loại và do sự định hướng vững chắc, dù chậm, của nhân loại về Thánh đoàn Tinh Thần, thời điểm đã đến khi Thánh đoàn có thể hiện hình và đối đầu với kẻ thù của điều thiện trên một thế ngang bằng; Thánh đoàn không cần bị cản trở thêm nữa bởi việc làm việc trong chất liệu trong khi các Mãnh lực Ác làm việc cả trong chất liệu lẫn trong vật chất. Một khi sự tái xuất hiện của Đức Christ và của Thánh đoàn trở thành một sự kiện đã hoàn tất, các Mãnh lực Ác này sẽ đối diện với thất bại chắc chắn. Lý do là xu hướng của đời sống và tư tưởng nhân loại đang đều đặn quay về các giá trị tinh thần chủ quan, dù hiện nay các giá trị ấy được diễn giải theo các thuật ngữ của phúc lợi vật chất và các điều kiện sống tốt hơn cho mọi người—cùng với hòa bình và an ninh cũng cho mọi người. Hắc đoàn hay trung tâm ác của hành tinh hoạt động gần như hoàn toàn trên cõi cảm dục, và được gây ấn tượng trực tiếp cũng như được hướng dẫn chi tiết từ cõi cảm dục vũ trụ.

3. From the negative or purely material forces of the planet, which are not necessarily either good or bad but which have been used instinctually and oft unconsciously by humanity for purely material ends, and are therefore basically anti-spiritual and subject to the influence of human desire—a desire oriented towards selfishness, and therefore towards separateness. This form of evil is being combated today by the New Group of World Servers. Of this battle you know something because every thinking man and woman is immediately implicated.

3. Từ các mãnh lực tiêu cực hay thuần vật chất của hành tinh, vốn không nhất thiết là thiện hay ác nhưng đã được nhân loại sử dụng theo bản năng và thường là vô thức cho các mục đích thuần vật chất, và do đó về căn bản là phản tinh thần và chịu ảnh hưởng của dục vọng con người—một dục vọng được định hướng về tính ích kỷ, và do đó về sự phân ly. Hình thức ác này ngày nay đang được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chiến đấu chống lại. Về trận chiến này các bạn biết đôi điều vì mọi người nam và nữ biết suy nghĩ đều trực tiếp bị cuốn vào.

I have spoken of the evil present in the planet in very simple terms, and there are phases of it to which I have not referred; the interlocking and inter-penetrating of the grades of evil are far more numerous and intricate than you surmise.

Tôi đã nói về điều ác hiện diện trong hành tinh bằng những thuật ngữ rất đơn giản, và có những phương diện của nó mà tôi chưa đề cập đến; sự đan xen và xuyên nhập của các cấp độ ác thì nhiều hơn và phức tạp hơn các bạn hình dung rất nhiều.

In summing up, I would say that the present reorientation of the Hierarchy, in relation both to Shamballa and to [690] Humanity, ushers in the cycle of complete defeat of cosmic evil upon our planet, leaving only an isolated and weakened Black Lodge to die a slow death; this permits the purification of human desire to such an extent that “matter will be redeemed by the sacrificial will of Those Who know, by the will-to-good of Those Who are, and by the goodwill of those sons of men who have turned their faces to the light and who in turn reflect that light.”

Tóm lại, tôi muốn nói rằng sự tái định hướng hiện nay của Thánh đoàn, trong mối liên hệ với cả Shamballa lẫn [690] Nhân loại, mở ra chu kỳ thất bại hoàn toàn của ác vũ trụ trên hành tinh chúng ta, chỉ để lại một Hắc đoàn cô lập và suy yếu chết dần; điều này cho phép sự thanh lọc dục vọng con người đến mức “vật chất sẽ được cứu chuộc bởi ý chí hi sinh của Những Đấng biết, bởi ý chí-hướng thiện của Những Đấng hiện hữu, và bởi thiện chí của những người con của nhân loại đã quay mặt về phía ánh sáng và đến lượt họ phản chiếu ánh sáng ấy.”

As all disciples know, one of the problems with which they are constantly confronted is an extreme sensitivity to the thought currents of those with whom they are immediately in contact. The more advanced the disciple, the greater is his problem. The theory that if one lives and works on a high level of consciousness one is immune to that which emanates from the lower level does not in practice hold good. The occult law proclaims that the greater can always include the lesser, and just as that is true of the planetary Logos (Who is the sum total of all lesser forms within His manifested universe), so the same law applies also to all human beings. The disciple, therefore, can always include that which emanates from those who are below him on the ladder of evolution. The more a disciple is under the influence of the Law of Love, the more easily does he tune in and absorb the thoughts and register the desires of those around him, and particularly of those who are tied to him in the bonds of affection and of karmic relation. As disciples proceed from initiation to initiation, the will aspect fortifies the intellect and directs the expression of the energy of love, and thus the problem lessens, for the initiate learns certain protective rules which are not available to the neophyte. The latter must learn, first of all, how to identify himself with others, as the basis of a higher identification which conditions the senior initiates in the scale of being.

Như mọi đệ tử đều biết, một trong những vấn đề mà họ liên tục phải đối diện là sự nhạy cảm cực độ đối với các dòng tư tưởng của những người mà họ tiếp xúc trực tiếp. Đệ tử càng tiến bộ thì vấn đề của y càng lớn. Lý thuyết cho rằng nếu người ta sống và làm việc trên một cấp độ tâm thức cao thì người ta miễn nhiễm với điều phát ra từ cấp độ thấp hơn, trên thực tế không đứng vững. Định luật huyền bí tuyên bố rằng cái lớn hơn luôn luôn có thể bao gồm cái nhỏ hơn, và cũng như điều đó đúng với Hành Tinh Thượng đế (Đấng là tổng thể của mọi hình tướng nhỏ hơn trong vũ trụ biểu hiện của Ngài), thì cùng định luật ấy cũng áp dụng cho mọi con người. Do đó đệ tử luôn luôn có thể bao gồm điều phát ra từ những người ở dưới y trên chiếc thang tiến hoá. Đệ tử càng ở dưới ảnh hưởng của Định luật Bác ái, y càng dễ chỉnh hợp và hấp thụ các tư tưởng cũng như ghi nhận các dục vọng của những người quanh y, và đặc biệt là của những người gắn bó với y trong các mối dây tình cảm và quan hệ nghiệp quả. Khi các đệ tử tiến từ điểm đạo này sang điểm đạo khác, phương diện ý chí củng cố trí tuệ và chỉ đạo sự biểu lộ của năng lượng bác ái, và như thế vấn đề giảm bớt, vì điểm đạo đồ học được một số quy luật bảo vệ mà người sơ cơ không có được. Trước hết, người sơ cơ phải học cách đồng hóa mình với người khác, như nền tảng của một sự đồng hóa cao hơn vốn tác động lên các điểm đạo đồ cao cấp trong thang bậc hiện hữu.

The preparation of the Members of the Ashrams found within the Hierarchy, Who must emerge from Their retreats and live among men in the ordinary intercourse of daily life, has necessitated much discussion and instituted a drastic training system within the Ashrams. Into the nature of this training [691] I cannot enter, for it differs for disciples upon the various rays and the theme is too large at this point for our purpose. The problem has been how to preserve the sympathetic, sensitive rapport and to lay the basis for the higher, inclusive identification, and yet at the same time preserve a spiritual detachment which will enable the disciple to do his needed work, unhampered and unimpeded by the distress, the anxiety or the thought activity evoked by the minds and the desires of those with whom he is working.

Việc chuẩn bị cho các Thành Viên của các ashram trong Thánh đoàn, là Những Đấng phải bước ra khỏi nơi ẩn cư của Các Ngài và sống giữa loài người trong sự giao tiếp thông thường của đời sống hằng ngày, đã đòi hỏi nhiều thảo luận và thiết lập một hệ thống huấn luyện quyết liệt trong các ashram. Về bản chất của sự huấn luyện này [691] tôi không thể đi vào, vì nó khác nhau đối với các đệ tử trên các cung khác nhau và chủ đề này quá rộng đối với mục đích của chúng ta ở đây. Vấn đề là làm sao duy trì mối liên hệ cảm thông, nhạy cảm và đặt nền tảng cho sự đồng hóa cao hơn, bao gồm hơn, nhưng đồng thời vẫn giữ được một sự tách rời tinh thần sẽ giúp đệ tử thực hiện công việc cần thiết của y mà không bị cản trở hay ngăn ngại bởi nỗi đau khổ, sự lo âu hay hoạt động tư tưởng được khơi dậy bởi trí tuệ và dục vọng của những người mà y đang làm việc cùng.

The necessary detachment cannot be based upon the innate instinct of self-preservation, even when that is carried into the realm of the soul; it must be motivated by an occult absorption in the task, and implemented by the will which keeps the channel of contact open between the disciple and the ashram and between the disciple and his sphere of activity; this channel must be kept entirely clear of all lower identifications. This might be termed a method of eliminating all tendencies to register anything save a wise apprehension of the point in evolution of those contacted; a sound appreciation of the problem to be faced on their behalf, and a process of directing the needed energy of love in such a manner that the stream of projected love not only aids the recipient, but protects the disciple from undue contact; it will then evoke in the person to be helped, or the group to be aided, no reciprocal personality expression; instead, it lifts the entire quality of the personality life or the group life on the purificatory way on to higher levels of awareness.

Sự tách rời cần thiết không thể dựa trên bản năng bẩm sinh của sự tự bảo tồn, ngay cả khi điều đó được mang vào lĩnh vực của linh hồn; nó phải được thúc đẩy bởi một sự chuyên chú huyền bí vào nhiệm vụ, và được thực hiện bởi ý chí giữ cho kênh tiếp xúc giữa đệ tử và ashram cũng như giữa đệ tử và khối cầu hoạt động của y luôn mở; kênh này phải được giữ hoàn toàn trong sáng khỏi mọi sự đồng hóa thấp hơn. Điều này có thể được gọi là một phương pháp loại bỏ mọi khuynh hướng ghi nhận bất cứ điều gì ngoài một sự nắm bắt khôn ngoan về điểm tiến hoá của những người được tiếp xúc; một sự đánh giá lành mạnh về vấn đề cần phải đối diện thay cho họ, và một tiến trình chỉ đạo năng lượng bác ái cần thiết theo cách mà dòng bác ái được phóng chiếu không những giúp người tiếp nhận, mà còn bảo vệ đệ tử khỏi sự tiếp xúc quá mức; khi ấy nó sẽ không gợi lên nơi người được giúp đỡ, hay nhóm được trợ giúp, một biểu lộ phàm ngã đáp ứng lại; thay vào đó, nó nâng toàn bộ phẩm tính của đời sống phàm ngã hay đời sống nhóm trên con đường thanh lọc lên các cấp độ nhận biết cao hơn.

A great part of the work to be done by the disciples who are emerging from the ashrams, and will continue thus to emerge, is of a purificatory nature at this time, and increasingly so for the rest of this century. On the Path of Probation, the aspirant is taught to purify himself and his three vehicles of contact; upon acceptance into an ashram, a large measure of the needed purification has been achieved. From then on, no emphasis should be laid by the disciple on the purification of his own nature, for this would produce too close and intimate a self-focus and tend to an over-stimulation of the personality vehicles. But the lessons learnt upon the [692] Probationary Path will be found by him to be simply the foundation for the Science of Purification or—if I may use a word made familiar to you through the war experience—of De-contamination. This will be brought into full expression by the working disciples who will be responsible for the preparation of the world for the reappearance. This purificatory process falls into the following stages:

Một phần lớn công việc phải được thực hiện bởi các đệ tử đang bước ra từ các ashram, và sẽ tiếp tục bước ra như thế, hiện nay có bản chất thanh lọc, và ngày càng như vậy trong phần còn lại của thế kỷ này. Trên Con Đường Dự Bị, người chí nguyện được dạy phải thanh lọc chính mình và ba vận cụ tiếp xúc của mình; khi được chấp nhận vào một ashram, một phần lớn sự thanh lọc cần thiết đã được hoàn thành. Từ đó trở đi, đệ tử không nên nhấn mạnh vào việc thanh lọc bản chất riêng của mình, vì điều này sẽ tạo ra một sự tập trung vào bản thân quá gần gũi và thân mật và có khuynh hướng kích thích quá mức các vận cụ phàm ngã. Nhưng những bài học đã học trên [692] Con Đường Dự Bị sẽ được y thấy chỉ đơn giản là nền tảng cho Khoa Học về Thanh Lọc hay—nếu tôi có thể dùng một từ đã trở nên quen thuộc với các bạn qua kinh nghiệm chiến tranh—về Sự Khử Nhiễm. Điều này sẽ được đưa vào biểu lộ đầy đủ bởi các đệ tử hoạt động sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị thế giới cho sự tái xuất hiện. Tiến trình thanh lọc này rơi vào các giai đoạn sau:

1. The stage wherein the tainted area, the hidden evil, or the diseased factors are recognised and duly contacted in order to ascertain the extent of the purificatory measures required. This is a point of danger for the disciple.

1. Giai đoạn trong đó khu vực bị nhiễm, điều ác ẩn giấu, hay các yếu tố bệnh hoạn được nhận biết và được tiếp xúc đúng mức để xác định mức độ của các biện pháp thanh lọc cần thiết. Đây là một điểm nguy hiểm đối với đệ tử.

2. The process of discovering the magnetic areas, magnetised in past centuries, and even aeons, by Members of the Hierarchy. This is done so as to make available the transmission of energies there stored. In the cycle which is now close at hand, these magnetic centres will be largely tapped or utilised by the world disciples responsible for the purificatory work.

2. Tiến trình khám phá các khu vực từ tính, đã được từ hóa trong các thế kỷ quá khứ, và thậm chí qua các đại kiếp, bởi các Thành Viên của Thánh đoàn. Điều này được thực hiện để làm cho sự truyền dẫn các năng lượng được cất giữ ở đó trở nên khả dụng. Trong chu kỳ hiện đang rất gần, các trung tâm từ tính này phần lớn sẽ được khai thác hay sử dụng bởi các đệ tử thế giới chịu trách nhiệm về công việc thanh lọc.

3. The stage wherein the disciple withdraws his attention from the source of difficulty and concentrates upon certain mantric usages and certain hierarchical formulas, thus setting loose the energies needed to destroy the germs of evil, latent or active, thus eliminating certain materialistic tendencies, and strengthening the soul of all that is to be purified and the life to be found within every form. It is wise to remember that, for instance, as the Master works with His disciples and strengthens the life within them and evokes their soul into potency from latency, every form and every atom within their various bodies is equally energised and aided. It is this fundamental process which will guide the disciples and the initiates in the coming work of world purification.

3. Giai đoạn trong đó đệ tử rút sự chú ý của y khỏi nguồn gốc của khó khăn và tập trung vào một số cách dùng mantram và một số công thức của Thánh đoàn, nhờ đó giải phóng các năng lượng cần thiết để hủy diệt những mầm mống của điều ác, tiềm ẩn hay đang hoạt động, nhờ đó loại bỏ một số khuynh hướng duy vật, và làm mạnh linh hồn của tất cả những gì cần được thanh luyện cùng sự sống được tìm thấy bên trong mọi hình tướng. Thật khôn ngoan khi nhớ rằng, chẳng hạn, khi Chân sư làm việc với các đệ tử của Ngài và làm mạnh sự sống bên trong họ và gợi linh hồn của họ từ trạng thái tiềm ẩn thành năng lực hữu hiệu, thì mọi hình tướng và mọi nguyên tử bên trong các thể khác nhau của họ cũng đều được tiếp năng lượng và trợ giúp như nhau. Chính tiến trình căn bản này sẽ hướng dẫn các đệ tử và các điểm đạo đồ trong công việc thanh luyện thế giới sắp tới.

4. The stage of withdrawing of the purifying energies; this is to be followed by a period of stabilising the purified form and starting the life and soul within it on a new cycle of spiritual growth.

4. Giai đoạn rút các năng lượng thanh luyện; tiếp theo đó là một thời kỳ ổn định hình tướng đã được thanh luyện và khởi động sự sống cùng linh hồn bên trong nó vào một chu kỳ tăng trưởng tinh thần mới.

[693] I have worded all this in such a manner that it will be evident that the work to be done is not confined only to humanity, but also to the forms of life in the other kingdoms in nature.

[693] Tôi đã diễn đạt tất cả điều này theo cách khiến rõ ràng rằng công việc cần được thực hiện không chỉ giới hạn nơi nhân loại, mà còn nơi các hình tướng sự sống trong các giới khác của bản chất.

The study of this Science of Applied Purification is one which is engrossing the attention of all the ashrams at this time; disciples in the first ray ashram, in the second ray ashram and in the seventh ray ashram are peculiarly active along these lines, for the destruction of evil is the work of the first ray, and in so destroying its effects purity is achieved; the fostering of good then becomes possible and is the work of the second ray, of the Builders; and the bringing of spiritual energy into contact with substance, and consequently with matter, is the unique work of the seventh ray because it is now in manifestation. The rays which are active and in manifestation at this time and in this cycle are there in conformity to the Plan and in preparation for the externalisation of the Hierarchy and the reappearance of the Christ. These rays are particularly involved, and therefore the initiates and the disciples in the ashrams of the Masters are also particularly implicated.

Việc nghiên cứu Khoa Học Thanh Luyện Ứng Dụng này hiện đang thu hút sự chú ý của mọi ashram vào lúc này; các đệ tử trong ashram cung một, trong ashram cung hai và trong ashram cung bảy đặc biệt hoạt động mạnh theo các đường hướng này, vì sự hủy diệt điều ác là công việc của cung một, và khi hủy diệt các hiệu quả của nó thì sự thanh khiết được đạt tới; khi ấy việc nuôi dưỡng điều thiện trở nên khả hữu và đó là công việc của cung hai, của các đấng kiến tạo; còn việc đưa năng lượng tinh thần vào tiếp xúc với chất liệu, và do đó với vật chất, là công việc độc đáo của cung bảy vì hiện nay nó đang biểu hiện. Các cung đang hoạt động và đang biểu hiện vào lúc này và trong chu kỳ này hiện diện phù hợp với Thiên Cơ và để chuẩn bị cho Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn và sự tái lâm của Đức Christ. Các cung này đặc biệt có liên quan, và vì thế các điểm đạo đồ và các đệ tử trong các ashram của các Chân sư cũng đặc biệt bị cuốn vào.

The Science of Applied Purification is also the Science of Applied Energy, with the specific objective in view of “eliminating the undesirable and that which hinders the entrance of the light, and thus providing space and entry for the desired, for the good, the beautiful and the true”. In the application of this science there is of course no infringement of the human prerogative of free will. This ancient science is concerned primarily with the purification and with the redemption of matter, and it is entirely in the hands of human beings, under the direction of the Hierarchy. This direction may be consciously or unconsciously registered. The Science of Redemption (to which I have several times earlier referred) is in reality the applied art of esotericism and of spiritual living which is already being taught to mankind; they are steadily learning to redeem the bodies through which they function. It is in reality the art or science of relationship [694] between the Life and the lives, as H.P.B. expresses it.

Khoa Học Thanh Luyện Ứng Dụng cũng là Khoa Học Năng Lượng Ứng Dụng, với mục tiêu chuyên biệt là “loại bỏ điều không mong muốn và điều cản trở sự đi vào của ánh sáng, nhờ đó tạo không gian và lối vào cho điều được mong muốn, cho điều thiện, điều đẹp và điều chân thật”. Trong việc áp dụng khoa học này, dĩ nhiên không có sự xâm phạm nào đến đặc quyền tự do ý chí của con người. Khoa học cổ xưa này chủ yếu liên quan đến sự thanh luyện và sự cứu chuộc vật chất, và hoàn toàn nằm trong tay con người, dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn. Sự chỉ đạo này có thể được ghi nhận một cách hữu thức hoặc vô thức. Khoa Học Cứu Chuộc (mà trước đây tôi đã nhiều lần đề cập đến) thực ra là nghệ thuật ứng dụng của huyền bí học và của đời sống tinh thần vốn đã đang được giảng dạy cho nhân loại; họ đang đều đặn học cách cứu chuộc các thể mà qua đó họ hoạt động. Thực ra đó là nghệ thuật hay khoa học về mối liên hệ [694] giữa Sự sống và các sự sống, như H.P.B. đã diễn đạt.

As far as the other kingdoms in nature are concerned, the purification is applied by the Hierarchy, through the medium of human beings, and this can be seen in process at this time. This present activity, carried on now largely unconsciously, will be redoubled and carried forward consciously by trained initiates and disciples, working through and with aspirants. It is this that is now being studied in the various hierarchical ashrams, and when applied—after 1975—will bring about great and important changes in world living.

Đối với các giới khác trong bản chất, sự thanh luyện được Thánh đoàn áp dụng qua trung gian con người, và điều này hiện có thể thấy đang diễn ra. Hoạt động hiện nay này, hiện được tiến hành phần lớn một cách vô thức, sẽ được tăng gấp bội và được đẩy mạnh một cách hữu thức bởi các điểm đạo đồ và đệ tử đã được huấn luyện, làm việc xuyên qua và cùng với các người chí nguyện. Chính điều này hiện đang được nghiên cứu trong các ashram khác nhau của Thánh đoàn, và khi được áp dụng—sau năm 1975—sẽ mang lại những thay đổi lớn lao và quan trọng trong đời sống thế giới.

Another matter to which the Hierarchy is at this time attending, in view of the coming adjustments required, is the discovery of aspirants and those who are close to accepted discipleship in all lands, in order that the language problem will present little difficulty. Having discovered such people, Their next step is to subject them to a process of training in telepathic susceptibility, so that they will be sensitive to hierarchical impression. At the same time, their intuition will require stimulation but—as the intuition is useless and inaccessible without a high grade intelligence—all these people must be sought for upon mental levels. The possession of the abstract mind is not sufficient. It is useful, in that it guarantees the ability of the aspirant to construct the antahkarana; it is nevertheless quite possible to possess a well developed abstract consciousness and yet to be quite devoid of all intuitive perception.

Một vấn đề khác mà Thánh đoàn hiện đang lưu tâm, xét theo những điều chỉnh sắp tới cần có, là việc khám phá những người chí nguyện và những người gần đạt đến địa vị đệ tử được chấp nhận ở mọi xứ sở, để vấn đề ngôn ngữ sẽ ít gây khó khăn. Sau khi tìm ra những người như vậy, bước kế tiếp của Các Ngài là đặt họ vào một tiến trình huấn luyện về tính nhạy cảm viễn cảm, để họ sẽ nhạy bén với ấn tượng của Thánh đoàn. Đồng thời, trực giác của họ sẽ cần được kích thích nhưng—vì trực giác là vô dụng và không thể tiếp cận nếu không có một trí thông minh cấp cao—tất cả những người này phải được tìm kiếm trên các cấp độ trí tuệ. Việc sở hữu trí trừu tượng là chưa đủ. Nó hữu ích, vì nó bảo đảm khả năng của người chí nguyện trong việc xây dựng antahkarana; tuy nhiên, hoàn toàn có thể sở hữu một tâm thức trừu tượng phát triển tốt mà vẫn hoàn toàn thiếu mọi tri giác trực giác.

For example, this is the major limitation of Z.... He is a sound abstract thinker and they are somewhat rare, being usually impractical idealists. He is not, however, the least intuitive as yet. He could easily be—given certain needed surrenders.

Thí dụ, đây là hạn chế lớn của Z.... Ông là một nhà tư tưởng trừu tượng vững vàng và những người như vậy khá hiếm, vì họ thường là những nhà lý tưởng thiếu thực tế. Tuy nhiên, cho đến nay ông hoàn toàn chưa có trực giác chút nào. Ông có thể dễ dàng trở thành như thế—nếu có những sự từ bỏ cần thiết.

Basically speaking, the intuition is not the revealer of esoteric truths. They come along another line of spiritual perception. The intuition is essentially the organ of group perception and that which eventually elevates the personality to its rightful position as the agent of the Soul in the group. [695] Z... has a sound theory as to group attitudes and group work, and he will be exceedingly surprised at these comments of mine. But—as long as he insulates himself from warm group contacts and fails to seek (in the name of service) the love of the group, and as long as he fails to recognise error and his own part in any current mistakes whenever they occur, and as long as he transfers responsibility to others when he is himself to blame, he will fail to register intuitive information, because his personality reactions will intervene. He must not be deceived by the fact that people like him on the platform; that is group work, but not essentially working with the group. He must learn that at present he is the onlooker at the group and as yet not a part of it, and that he is primarily focussed on “delivering the goods” (if I may use your American phrase) to his personality and its acclaim, and not to the group. This will be hard for him to realise and he must be given time. He wants to make good, spiritually and esoterically, but needs to grasp the fact that this is done through love and understanding and not through the intellect. He is insulated by his own strong desire to make good, according to his own theories and to his personality, thus proving to himself the grasp his soul may have over that personality. This creates barriers, but the insulating and separating wall between him and his co-workers is very thin and could easily be “rent in twain,” if his pride would permit and if he would descend to a recognition of equality with all the group with whom he is associated, and with the most unimportant members of that group; this he does not yet do—in spite of what he believes about himself.

Nói một cách căn bản, trực giác không phải là cái mặc khải các chân lý huyền bí. Chúng đến theo một đường lối tri giác tinh thần khác. Trực giác về bản chất là cơ quan của tri giác nhóm và là điều cuối cùng nâng phàm ngã lên vị trí đúng đắn của nó như là tác nhân của Linh hồn trong nhóm. [695] Z... có một lý thuyết vững về các thái độ nhóm và công việc nhóm, và ông sẽ hết sức ngạc nhiên trước những nhận xét này của tôi. Nhưng—chừng nào ông còn tự cô lập mình khỏi những tiếp xúc nhóm nồng ấm và không tìm kiếm (nhân danh phụng sự) tình thương của nhóm, và chừng nào ông còn không nhận ra sai lầm và phần trách nhiệm của chính mình trong bất kỳ lỗi lầm hiện hành nào mỗi khi chúng xảy ra, và chừng nào ông còn chuyển trách nhiệm sang người khác khi chính ông đáng trách, thì ông sẽ không ghi nhận được thông tin trực giác, bởi vì các phản ứng phàm ngã của ông sẽ xen vào. Ông không được tự đánh lừa mình bởi sự kiện là người ta thích ông trên diễn đàn; điều đó là công việc nhóm, nhưng không phải về bản chất là làm việc với nhóm. Ông phải học rằng hiện nay ông là người đứng nhìn nhóm chứ chưa phải là một phần của nó, và rằng ông chủ yếu tập trung vào việc “giao hàng cho tốt” (nếu tôi có thể dùng cụm từ Mỹ của bạn) cho phàm ngã của ông và sự tán thưởng dành cho nó, chứ không phải cho nhóm. Điều này sẽ khó để ông chứng nghiệm và phải cho ông thời gian. Ông muốn thành công, về mặt tinh thần và huyền bí, nhưng cần nắm được sự kiện rằng điều này được thực hiện qua tình thương và sự thấu hiểu chứ không phải qua trí tuệ. Ông bị cô lập bởi chính ham muốn mạnh mẽ muốn thành công của mình, theo các lý thuyết riêng và theo phàm ngã của mình, nhờ đó tự chứng minh cho mình thấy sự nắm giữ mà linh hồn của ông có thể có đối với phàm ngã ấy. Điều này tạo ra các rào cản, nhưng bức tường cách ly và ngăn cách giữa ông với các cộng sự của ông rất mỏng và có thể dễ dàng “bị xé làm đôi,” nếu lòng kiêu hãnh của ông cho phép và nếu ông chịu hạ mình để nhìn nhận sự bình đẳng với toàn thể nhóm mà ông liên kết, và với những thành viên ít quan trọng nhất của nhóm ấy; điều này ông vẫn chưa làm—bất chấp điều ông tin về chính mình.

The searchlight of the Hierarchy is sweeping the planet at this time singling out men and women, here and there, from the mass of men. They indicate esoteric possibility, and in their lives love of humanity and love of the Christ is a basic and fundamental factor.

Ánh đèn pha của Thánh đoàn hiện đang quét khắp hành tinh, chọn ra những người nam và nữ, đây đó, từ khối đông nhân loại. Họ biểu lộ khả năng huyền bí, và trong đời sống của họ, tình thương đối với nhân loại và tình thương đối với Đức Christ là một yếu tố căn bản và nền tảng.

The ordinary devoted person, who constantly pledges and dedicates himself to the Christ or to the Masters in a spirit of adoration, will not be chosen for this specific training. Their own attitudes and development come violently [696] between them and their objective. The man who forgets about himself, and who is more interested in helping unhappy human beings, but who is nevertheless staunchly convinced of the factor of the unseen worlds, is the man for whom search is at this time being made.

Người sùng tín bình thường, kẻ liên tục cam kết và hiến dâng mình cho Đức Christ hay cho các Chân sư trong tinh thần tôn thờ, sẽ không được chọn cho sự huấn luyện chuyên biệt này. Chính các thái độ và sự phát triển của họ chen vào một cách mãnh liệt [696] giữa họ và mục tiêu của họ. Người quên mình, và quan tâm nhiều hơn đến việc giúp đỡ những con người bất hạnh, nhưng đồng thời vẫn kiên định tin chắc vào yếu tố của các thế giới vô hình, mới là người hiện đang được tìm kiếm.

When these men and women are found, the work of the discovering initiate is to see to it that information comes to the aspirant in some form or another anent the hierarchical Plan, concerning the reappearance of the Christ (under some name familiar to the aspirant’s religious background), and about the fundamental and needed occult truths—with particular emphasis upon the Law of Cause and Effect, and secondarily upon the Law of Rebirth. The Law of Cause and Effect is of far greater importance than the Law of Rebirth, because it necessitates action upon the part of the aspirant, and that action inevitably conditions the future. There is nothing he can do about the Law of Rebirth but submit to it and be grateful that opportunity continues to present itself.

Khi những người nam và nữ này được tìm thấy, công việc của điểm đạo đồ khám phá ra họ là bảo đảm rằng thông tin đến với người chí nguyện dưới hình thức này hay hình thức khác liên quan đến Thiên Cơ của Thánh đoàn, về sự tái lâm của Đức Christ (dưới một danh xưng nào đó quen thuộc với nền tảng tôn giáo của người chí nguyện), và về các chân lý huyền bí căn bản và cần thiết—đặc biệt nhấn mạnh vào Định luật Nhân Quả, và thứ yếu là Định luật Tái Sinh. Định luật Nhân Quả quan trọng hơn nhiều so với Định luật Tái Sinh, bởi vì nó đòi hỏi hành động nơi người chí nguyện, và hành động đó tất yếu tác động lên tương lai. Không có gì y có thể làm đối với Định luật Tái Sinh ngoài việc thuận phục nó và biết ơn rằng cơ hội vẫn tiếp tục tự trình hiện.

As regards the many other adjustments which Members of the Hierarchy in all Their many differing grades will have to make in what might be called Their personality lives and habits, I have naught to say. I know well the questions which will arise in your minds, and I would like to touch upon one or two of them. For instance, some of you are asking:

Về nhiều điều chỉnh khác mà các Thành Viên của Thánh đoàn ở mọi cấp bậc khác nhau của Các Ngài sẽ phải thực hiện trong điều có thể gọi là đời sống và thói quen phàm ngã của Các Ngài, tôi không có gì để nói. Tôi biết rõ những câu hỏi sẽ nảy sinh trong tâm trí các bạn, và tôi muốn chạm đến một hay hai câu trong số đó. Chẳng hạn, một số bạn đang hỏi:

1. How will these Members of the Hierarchy in Their various grades appear on earth? Will They come through the methods of ordinary birth, of childhood and maturity? Some initiates may follow this ordinary pattern, some are already passing through it today and are in the stages of infancy and adolescence; to them will be given a large share of the preparatory work. Some will not pass through these relatively limiting phases, but will pass back and forth between the outer world and the world of hierarchical endeavour; they will be sometimes present in physical bodies and sometimes not. This method of activity will not be possible as long as [697] the present rules of national and civilian identification, of passports and of drastic airport and seaport inspection are required by the authorities; such people as these “transitting initiates” would not be able to identify themselves. This form of appearance is therefore postponed for some time. Some of the Masters will create what is called in the language of the East the “mayavirupa”—a vehicle of expression which is built of atomic physical and astral substance and of concrete mental substance. This They can create at will, use at will and cause to vanish at will; Their problem is not, therefore, so acute in the matter of appearing and of reappearing as is that of the initiate who cannot thus create to suit his purpose and his service.

1. Các Thành Viên này của Thánh đoàn trong các cấp bậc khác nhau của Các Ngài sẽ xuất hiện trên trần gian như thế nào? Các Ngài sẽ đến qua những phương pháp sinh ra, thơ ấu và trưởng thành thông thường chăng? Một số điểm đạo đồ có thể theo khuôn mẫu thông thường này, một số hiện nay đã đang trải qua nó và đang ở trong các giai đoạn ấu thơ và thiếu niên; cho họ sẽ được giao một phần lớn công việc chuẩn bị. Một số sẽ không trải qua các giai đoạn tương đối hạn chế này, mà sẽ qua lại giữa thế giới bên ngoài và thế giới của nỗ lực Thánh đoàn; đôi khi họ hiện diện trong các thể xác và đôi khi thì không. Phương pháp hoạt động này sẽ không thể thực hiện được chừng nào [697] các quy định hiện nay về nhận diện quốc gia và dân sự, về hộ chiếu và về việc kiểm tra nghiêm ngặt tại sân bay và hải cảng còn được nhà chức trách đòi hỏi; những người như các “điểm đạo đồ quá cảnh” này sẽ không thể tự nhận diện mình. Vì vậy, hình thức xuất hiện này bị hoãn lại một thời gian. Một số Chân sư sẽ tạo ra cái được gọi trong ngôn ngữ phương Đông là “mayavirupa”—một vận cụ biểu đạt được cấu tạo bằng chất liệu hồng trần nguyên tử và cảm dục, cùng chất liệu trí cụ thể. Các Ngài có thể tạo ra nó theo ý muốn, sử dụng nó theo ý muốn và làm cho nó biến mất theo ý muốn; vì thế vấn đề của Các Ngài trong việc xuất hiện và tái xuất hiện không gay gắt như vấn đề của điểm đạo đồ không thể tạo ra như vậy để phù hợp với mục đích và sự phụng sự của mình.

2. Will all the Members of the Hierarchy make Their appearance at the same time? Certainly not. The appearing of these initiates and Masters will begin with isolated members appearing and living among men, coming forth one by one, doing the required work, returning through the portals of apparent death to the inner subjective Ashram, and then again appearing by one or other of the methods mentioned above. This process has been going on for some time and began around the year 1860. The work of these disciples in the human consciousness is already being recognised, and already they have succeeded in changing the consciousness and the thinking of many millions. Their ideas are already permeating world thinking. I would remind you also (for your encouragement) that I myself am among this number of working initiates (for, in the last analysis, that is all that any Master is), and that I, from my physical anchorage, i.e., my physical body and my location in northern India, and in collaborating with a disciple, A.A.B., and also with F.B., have done much to bring certain concepts (old and yet new in their presentation) to the consciousness of humanity. I have also done much to stimulate from latency to potency the instinctual goodwill of men. I mention this for this is not a unique achievement; there are many other Masters Who—with Their [698] disciples—are to be found today actively functioning in human affairs and struggling, under adverse conditions, to change the trend of human thinking from a frank materialism to a genuine spiritual aspiration.

2. Có phải tất cả các Thành Viên của Thánh đoàn sẽ xuất hiện cùng một lúc không? Chắc chắn là không. Sự xuất hiện của các điểm đạo đồ và Chân sư này sẽ bắt đầu bằng việc các thành viên riêng lẻ xuất hiện và sống giữa loài người, lần lượt từng người một bước ra, làm công việc cần thiết, quay trở lại qua các cánh cổng của cái chết bề ngoài vào Ashram chủ quan nội tại, rồi lại xuất hiện bằng một trong những phương pháp đã nêu ở trên. Tiến trình này đã diễn ra từ một thời gian nay và bắt đầu vào khoảng năm 1860. Công việc của các đệ tử này trong tâm thức nhân loại đã được nhận biết, và họ đã thành công trong việc thay đổi tâm thức và tư tưởng của nhiều triệu người. Các ý tưởng của họ đã đang thấm vào tư tưởng thế giới. Tôi cũng muốn nhắc các bạn (để khích lệ các bạn) rằng chính tôi cũng ở trong số những điểm đạo đồ đang hoạt động này (vì, xét cho cùng, đó là tất cả những gì bất kỳ Chân sư nào cũng là), và rằng tôi, từ chỗ neo đậu hồng trần của mình, tức là thể xác của tôi và vị trí của tôi ở miền bắc Ấn Độ, và trong sự cộng tác với một đệ tử, A.A.B., và cả với F.B., đã làm nhiều để đưa một số khái niệm (cũ nhưng vẫn mới trong cách trình bày) vào tâm thức của nhân loại. Tôi cũng đã làm nhiều để kích thích thiện chí bản năng của con người từ trạng thái tiềm ẩn thành năng lực hữu hiệu. Tôi nêu điều này ra vì đây không phải là một thành tựu độc nhất; còn nhiều Chân sư khác nữa, cùng với các đệ tử [698] của Các Ngài, hiện nay đang được thấy hoạt động tích cực trong các công việc của nhân loại và đang vật lộn, dưới những điều kiện bất lợi, để chuyển hướng tư tưởng của con người từ một chủ nghĩa duy vật công khai sang một khát vọng tinh thần chân chính.

There are many other questions arising in the minds of my readers, and the less advanced they are the greater the questioning and the greater the emphasis upon the materialistic, and therefore non-important, aspects of this entire subject. With them I have no intention of dealing, though I know well what they are, and so does A.A.B. They are of no vitality, and will answer themselves in due time.

Còn nhiều câu hỏi khác nảy sinh trong tâm trí các độc giả của tôi, và họ càng kém tiến bộ thì sự chất vấn càng lớn và sự nhấn mạnh càng đặt vào các phương diện duy vật, và do đó không quan trọng, của toàn bộ đề tài này. Với họ tôi không có ý định bàn đến, dù tôi biết rõ chúng là gì, và A.A.B. cũng vậy. Chúng không có sinh lực, và đến lúc thích hợp sẽ tự trả lời lấy.

When the task of the preparation of men’s minds is further advanced, when the knowledge of the existence of the Masters and Their hierarchical endeavour and of the united Hierarchy of our planet are a commonly recognised truth, and when active goodwill is recognised as a real national asset in all lands, then the speed of the externalisation of the Hierarchy will be greatly increased; then the five spiritual centres will begin to take definite form, and will call also for recognition; the groups there working will be known, and they will also be in close touch with each other. From that time on, the network of initiates and disciples under the direction of the Masters will be worldwide, and in every field of human expression the opinion of these men and women, and of the Masters presiding at the five centres and in Their affiliated groups, will be regarded as of immense value by all governmental, economic and social organisations.

Khi nhiệm vụ chuẩn bị tâm trí con người được tiến xa hơn, khi tri thức về sự hiện hữu của các Chân sư và nỗ lực của Thánh đoàn của Các Ngài cùng Thánh đoàn hợp nhất của hành tinh chúng ta trở thành một chân lý được công nhận rộng rãi, và khi thiện chí tích cực được nhìn nhận như một tài sản quốc gia thực sự ở mọi xứ sở, thì tốc độ của Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn sẽ được gia tăng rất nhiều; khi ấy năm trung tâm tinh thần sẽ bắt đầu mang hình thức xác định, và cũng sẽ đòi hỏi được công nhận; các nhóm đang làm việc ở đó sẽ được biết đến, và họ cũng sẽ liên lạc chặt chẽ với nhau. Từ lúc đó trở đi, mạng lưới các điểm đạo đồ và đệ tử dưới sự chỉ đạo của các Chân sư sẽ có tính toàn cầu, và trong mọi lĩnh vực biểu đạt của con người, ý kiến của những người nam và nữ này, và của các Chân sư chủ trì tại năm trung tâm cùng trong các nhóm liên kết của Các Ngài, sẽ được mọi tổ chức chính quyền, kinh tế và xã hội xem là có giá trị vô cùng lớn lao.

Then—under a great wave of spiritual inspiration—the divine spirit of expectancy for the reappearance of the Christ will sweep through the world; it will then be regarded as credible and creditable, and His coming will provide the germ for all world hope; the reason for this will be that the most respected, enlightened and cultured people on the planet will be looking for Him. And then, my brothers, He will come, bringing new energies of love and compassion and implementing the spirit of fresh enlightenment; to [699] these important events must also be added the new revelation for which all men wait and to which they will be able to respond, owing to the needed and new stimulation.

Khi ấy—dưới một làn sóng lớn của cảm hứng tinh thần—tinh thần thiêng liêng của sự mong đợi về sự tái lâm của Đức Christ sẽ quét khắp thế giới; khi ấy điều đó sẽ được xem là đáng tin và đáng được tin, và sự quang lâm của Ngài sẽ cung cấp mầm giống cho mọi hy vọng của thế giới; lý do là vì những người được kính trọng nhất, giác ngộ nhất và có văn hóa nhất trên hành tinh sẽ mong đợi Ngài. Và rồi, Huynh đệ của Tôi, Ngài sẽ đến, mang theo những năng lượng mới của tình thương và lòng từ bi và thực thi tinh thần của sự giác ngộ mới mẻ; vào [699] những biến cố quan trọng này cũng phải thêm vào sự mặc khải mới mà mọi người đều chờ đợi và mà họ sẽ có thể đáp ứng, nhờ sự kích thích mới và cần thiết.

Many who are reading this section of my instructions will be disappointed (so futile and silly is the human mind in so many cases) because I do not choose to consider now the means whereby the Members of the Hierarchy will adjust Themselves to modern living conditions, as to what food They will eat and whether They will marry or not marry. One thing only will I say: They will take modern life and what it means and will proceed to demonstrate how that life (the normal product of the evolutionary process) can be lived divinely; They will express the highest ideal of marriage (I would here remind you that many of the Masters are married and have raised families) and demonstrate the principle which underlies the perpetuation of the race of men; They will also show how all life is one life, that the form nature is ever a sacrificial unity in the vast scheme of divine manifestation; They will show us also that whatever we do, whether we eat or drink, all must be done under correct, temperate and natural law and in a spirit of loving understanding, and ever to the glory of God. They will express ordered, temperate living in all things, and will demonstrate also the possibility of the existence of people on earth who have no wrong inclinations and no bad qualities in their natures. They will stand forth as living examples of goodwill, of true love, of intelligent applied wisdom, of high good nature and humour, and of normalcy. They may indeed be so normal that recognition of what They are may escape notice.

Nhiều người đang đọc phần Huấn Thị này của tôi sẽ thất vọng (vì trí tuệ con người trong nhiều trường hợp thật vô ích và ngớ ngẩn) bởi vì hiện nay tôi không chọn xem xét những phương tiện nhờ đó các Thành Viên của Thánh đoàn sẽ tự điều chỉnh với các điều kiện sinh hoạt hiện đại, như việc Các Ngài sẽ ăn thức ăn gì và liệu Các Ngài có kết hôn hay không. Chỉ có một điều tôi sẽ nói: Các Ngài sẽ chấp nhận đời sống hiện đại và ý nghĩa của nó rồi tiến tới chứng minh cách đời sống ấy (sản phẩm bình thường của tiến trình tiến hoá) có thể được sống một cách thiêng liêng; Các Ngài sẽ biểu lộ lý tưởng cao nhất của hôn nhân (ở đây tôi xin nhắc các bạn rằng nhiều Chân sư đã kết hôn và nuôi dạy gia đình) và chứng minh nguyên lý nằm dưới sự duy trì nòi giống của nhân loại; Các Ngài cũng sẽ cho thấy mọi sự sống là một sự sống, rằng bản chất hình tướng luôn luôn là một hợp nhất hi sinh trong đại thể của sự biểu hiện thiêng liêng; Các Ngài cũng sẽ cho chúng ta thấy rằng bất cứ điều gì chúng ta làm, dù ăn hay uống, tất cả đều phải được thực hiện dưới định luật đúng đắn, điều độ và tự nhiên và trong tinh thần thấu hiểu đầy yêu thương, và luôn luôn vì vinh quang của Thượng đế. Các Ngài sẽ biểu lộ đời sống có trật tự, điều độ trong mọi sự, và cũng sẽ chứng minh khả năng hiện hữu trên trần gian của những con người không có khuynh hướng sai lầm và không có phẩm tính xấu trong bản chất của họ. Các Ngài sẽ đứng ra như những tấm gương sống động của thiện chí, của tình thương chân thật, của minh triết ứng dụng một cách thông minh, của thiện tính cao đẹp và óc hài hước, và của sự bình thường. Quả thật, Các Ngài có thể bình thường đến mức việc nhận ra Các Ngài là ai có thể không được chú ý.

They will, finally, demonstrate to all around Them the significance of right motive, the beauty of selfless service and a vivid intellectual perception. This, my brothers, is such a platitudinous statement, from the point of view of the nice well-meaning person, that its value may escape your attention. Yet it is a statement that, any initiate will tell you, warrants your closest attention and consideration—a [700] consideration which must be followed by an effort to express these same qualities upon your way towards the Door of Initiation.

Cuối cùng, Các Ngài sẽ chứng minh cho tất cả những người quanh mình thấy thâm nghĩa của động cơ đúng đắn, vẻ đẹp của sự phụng sự vô ngã và một tri giác trí tuệ sinh động. Điều này, Huynh đệ của Tôi, là một phát biểu quá đỗi tầm thường, theo quan điểm của người tử tế đầy thiện ý, đến nỗi giá trị của nó có thể thoát khỏi sự chú ý của các bạn. Tuy nhiên, đó là một phát biểu mà bất kỳ điểm đạo đồ nào cũng sẽ nói với các bạn rằng đáng cho các bạn chú ý và suy xét kỹ lưỡng nhất—một [700] sự suy xét phải được tiếp theo bằng nỗ lực biểu lộ chính những phẩm tính ấy trên con đường của các bạn tiến tới Cửa Điểm Đạo.

The Work of the Externalised Ashrams

Công Việc của các Ashram Ngoại Hiện

The barest outline must here suffice. I have dealt with the proposed work of the externalised Ashrams at some length in the foregoing pages and also in several of my other books, (Letters on Occult Meditation, Letters VIII and IX. A Treatise on Cosmic Fire, Pages 747-760. A Treatise on the Seven Rays,” Volume V: (“The Rays and the Initiations”)) and a more detailed presentation will not be possible at this time. The approaching externalisation will bring about an increased stimulation which will necessarily affect disciples and aspirants and will involve a period of adjustment to this higher vibration. Adjustment to the increased livingness will be facilitated by the enunciation of certain basic statements for the guidance of disciples, aspirants and people of goodwill.

Ở đây chỉ một phác thảo sơ lược nhất là đủ. Tôi đã bàn đến công việc được đề nghị của các Ashram ngoại hiện khá dài trong các trang trước và cả trong vài sách khác của tôi, (Thư về Tham Thiền Huyền Bí, Thư VIII và IX. Luận về Lửa Vũ Trụ, Trang 747-760. Luận về Bảy Cung,” Tập V: (“Các Cung và các Điểm Đạo”)) và hiện nay không thể trình bày chi tiết hơn. Sự ngoại hiện đang đến gần sẽ mang lại một sự kích thích gia tăng, điều tất yếu sẽ ảnh hưởng đến các đệ tử và người chí nguyện và sẽ bao hàm một thời kỳ điều chỉnh với rung động cao hơn này. Sự điều chỉnh với mức sống động gia tăng sẽ được tạo thuận lợi nhờ việc tuyên bố một số mệnh đề căn bản để hướng dẫn các đệ tử, người chí nguyện và những người có thiện chí.

Specifically, the externalised Ashrams will be active along four major lines:

Cụ thể, các Ashram ngoại hiện sẽ hoạt động theo bốn đường hướng chính:

1. Creating and vitalising the new world religion.

1. Tạo lập và tiếp sinh lực cho tôn giáo thế giới mới.

2. The gradual reorganising of the social order—an order free from oppression, the persecution of minorities, materialism and pride.

2. Tái tổ chức dần dần trật tự xã hội—một trật tự không có áp bức, bách hại các nhóm thiểu số, chủ nghĩa duy vật và lòng kiêu hãnh.

3. The public inauguration of the system of initiation. This will involve the growth and comprehension of symbolism.

3. Công khai khai mở hệ thống điểm đạo. Điều này sẽ bao hàm sự phát triển và thấu hiểu biểu tượng học.

4. The exoteric training of disciples and of humanity in this new cycle.

4. Huấn luyện ngoại môn cho các đệ tử và cho nhân loại trong chu kỳ mới này.

Meanwhile, what is it that you, my brothers, must do in this interim period? What is your work and your goal? Let me emphasise one or two points:

Trong khi đó, các bạn, Huynh đệ của Tôi, phải làm gì trong giai đoạn chuyển tiếp này? Công việc và mục tiêu của các bạn là gì? Hãy để tôi nhấn mạnh một hay hai điểm:

The material goal which all who love their fellowmen and serve the Hierarchy must ever have in mind and at [701] heart is the defeat of totalitarianism. I do not say the defeat of Communism, but the defeat of that evil process which involves the imposition of ideas, and which can be the method of the democratic nations and of the churches everywhere, just as much as it is the method of the U.S.S.R. This we call totalitarianism. I would ask you to have this distinction clearly in your minds. Your material goal is the defeat of all that infringes human free will and which keeps humanity in ignorance; it applies equally to any established system—Catholic or Protestant—which imposes its concepts and its will upon its adherents. Totalitarianism is the basis of evil today; it is found in all systems of government, of education; it is found in the home and in the community. I refer not here to the laws which make group relations sound, possible and right; such laws are essential to community and national well-being and are not totalitarian in nature. I refer to the imposition of the will of the few upon the total mass of the people. The defeat of this undesirable tendency everywhere is your definite material goal.

Mục tiêu vật chất mà tất cả những ai yêu thương đồng loại và phụng sự Thánh đoàn phải luôn ghi nhớ và khắc sâu [701] trong tim là sự đánh bại chủ nghĩa toàn trị. Tôi không nói là đánh bại Chủ nghĩa Cộng sản, mà là đánh bại tiến trình xấu xa bao hàm sự áp đặt các ý tưởng, và điều này có thể là phương pháp của các quốc gia dân chủ và của các giáo hội ở khắp nơi cũng nhiều như nó là phương pháp của Liên Xô. Đây là điều chúng ta gọi là chủ nghĩa toàn trị. Tôi muốn các bạn giữ sự phân biệt này thật rõ trong tâm trí. Mục tiêu vật chất của các bạn là đánh bại mọi điều xâm phạm tự do ý chí của con người và giữ nhân loại trong vô minh; điều đó áp dụng ngang nhau cho bất kỳ hệ thống đã được thiết lập nào—Công giáo hay Tin Lành—mà áp đặt các quan niệm và ý chí của nó lên các tín đồ. Chủ nghĩa toàn trị là nền tảng của điều ác ngày nay; nó được tìm thấy trong mọi hệ thống chính quyền, giáo dục; nó được tìm thấy trong gia đình và trong cộng đồng. Ở đây tôi không nói đến các luật lệ làm cho các quan hệ nhóm trở nên lành mạnh, khả hữu và đúng đắn; những luật lệ như thế là thiết yếu cho phúc lợi cộng đồng và quốc gia và không có bản chất toàn trị. Tôi nói đến sự áp đặt ý chí của thiểu số lên toàn khối dân chúng. Sự đánh bại khuynh hướng không mong muốn này ở khắp nơi là mục tiêu vật chất xác định của các bạn.

Your spiritual goal is the establishing of the Kingdom of God. One of the first steps towards this is to prepare men’s minds to accept the fact that the reappearance of the Christ is imminent. You must tell men everywhere that the Masters and Their groups of disciples are actively working to bring order out of chaos. You must tell them that there IS a Plan, and that nothing can possibly arrest the working out of that Plan. You must tell them that the Hierarchy stands, and that It has stood for thousands of years, and is the expression of the accumulated wisdom of the ages. You must tell them above all else that God is love, that the Hierarchy is love, and that Christ is coming because He loves humanity.

Mục tiêu tinh thần của các bạn là thiết lập Thiên Giới. Một trong những bước đầu tiên hướng tới điều này là chuẩn bị tâm trí con người để chấp nhận sự kiện rằng sự tái lâm của Đức Christ đang cận kề. Các bạn phải nói với con người ở khắp nơi rằng các Chân sư và các nhóm đệ tử của Các Ngài đang tích cực làm việc để đem trật tự ra từ hỗn loạn. Các bạn phải nói với họ rằng CÓ một Thiên Cơ, và không gì có thể ngăn chặn sự triển khai của Thiên Cơ ấy. Các bạn phải nói với họ rằng Thánh đoàn vẫn đứng vững, và đã đứng vững suốt hàng ngàn năm, và là biểu hiện của minh triết tích lũy qua các thời đại. Trên hết mọi điều, các bạn phải nói với họ rằng Thượng đế là tình thương, rằng Thánh đoàn là tình thương, và rằng Đức Christ đang đến vì Ngài yêu thương nhân loại.

This is the message which you must give at this time. And with this responsibility I leave you. Work, my brothers.

Đó là thông điệp mà các bạn phải trao truyền vào lúc này. Và với trách nhiệm ấy tôi để các bạn lại. Hãy làm việc, Huynh đệ của Tôi.