← Externalisation of the Hierarchy

THE RETURN OF THE CHRIST—SỰ TÁI LÂM CỦA ĐỨC CHRIST

THE RETURN OF THE CHRIST—SỰ TÁI LÂM CỦA ĐỨC CHRIST

May 1947

Tháng Năm 1947

(Part of this message and the one following it on page 612 appear in the chapters III and VII of ‘The Reappearance of the Christ’. Chronologically they belong in the historical sequence here given.)

(Một phần của thông điệp này và thông điệp tiếp theo ở trang 612 xuất hiện trong các chương III và VII của ‘Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ’. Theo trình tự thời gian, chúng thuộc về chuỗi lịch sử được nêu ở đây.)

Year after year I have written you (and all who care to listen) a message which has often been prophetic, always related to the fundamental spiritual union of the East and the West, of the Buddha and the Christ, and which has consistently laid emphasis upon the immediate spiritual opportunity. Every year I have prepared these messages with great care, and in their synthesis there emerges (if you have read them in order and intelligently) a picture of the spiritual life of the world. It is a picture which involves the knowable past, which concerns the immediate present, and carries forward into a future of spiritual unfoldment, transcending in [592] expression all that has hitherto been known, because it has ever been based on the reality, on the fact of God Immanent.

Năm này qua năm khác tôi đã viết cho các bạn (và cho tất cả những ai muốn lắng nghe) một thông điệp thường mang tính tiên tri, luôn luôn liên hệ đến sự hợp nhất tinh thần căn bản giữa Đông và Tây, giữa Đức Phật và Đức Christ, và nhất quán nhấn mạnh vào cơ hội tinh thần trước mắt. Mỗi năm tôi đã chuẩn bị những thông điệp này rất cẩn thận, và trong sự tổng hợp của chúng nổi lên (nếu các bạn đã đọc chúng theo thứ tự và một cách thông minh) một bức tranh về đời sống tinh thần của thế giới. Đó là một bức tranh bao gồm quá khứ khả tri, liên quan đến hiện tại trước mắt, và vươn tới một tương lai của sự khai mở tinh thần, vượt xa trong [592] biểu hiện mọi điều từ trước đến nay đã được biết đến, bởi vì nó luôn luôn dựa trên thực tại, trên sự kiện về Thượng đế Nội Tại.

God Transcendent, greater, vaster and more inclusive than His created world, is universally recognised and has been generally emphasised; all faiths can say with Shri Krishna (speaking as God, the Creator) that “having pervaded the whole universe with a fragment of Myself, I remain.” This God Transcendent has dominated the religious thinking of millions of simple and spiritually-minded people down the centuries which have elapsed since humanity began to press forward towards divinity.

Thượng đế Siêu Việt, lớn lao hơn, bao la hơn và bao gồm hơn thế giới do Ngài sáng tạo, được nhìn nhận một cách phổ quát và nói chung đã được nhấn mạnh; mọi đức tin đều có thể nói cùng Shri Krishna (nói với tư cách là Thượng đế, Đấng Sáng Tạo) rằng “sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ bằng một mảnh của Chính Ta, Ta vẫn còn đó.” Thượng đế Siêu Việt này đã chi phối tư tưởng tôn giáo của hàng triệu người đơn sơ và có tâm hướng tinh thần qua các thế kỷ đã trôi qua kể từ khi nhân loại bắt đầu tiến bước hướng tới thiên tính.

Slowly, there is dawning upon the awakening consciousness of humanity, the great paralleling truth of God Immanent—divinely “pervading” all forms, conditioning from within all kingdoms in nature, expressing innate divinity through human beings and—two thousand years ago—portraying the nature of that divine Immanence in the Person of the Christ. Today, as an outcome of this unfolding divine Presence, there is entering into the minds of men everywhere a new concept: that of Christ in us, the hope of Glory. There is a growing and developing belief that Christ is in us, as He was in the Master Jesus, and this belief will alter world affairs and mankind’s entire attitude to life.

Chậm rãi, chân lý song hành vĩ đại về Thượng đế Nội Tại đang ló rạng trong tâm thức đang thức tỉnh của nhân loại—một cách thiêng liêng “thấm nhuần” mọi hình tướng, tác động từ bên trong lên mọi giới trong thiên nhiên, biểu lộ thiên tính bẩm sinh qua con người và—hai ngàn năm trước—miêu tả bản chất của tính Nội Tại thiêng liêng ấy trong Con Người của Đức Christ. Ngày nay, như một kết quả của Hiện Diện thiêng liêng đang khai mở này, một khái niệm mới đang đi vào tâm trí con người ở khắp nơi: đó là Đức Christ trong chúng ta, niềm hy vọng của Vinh Quang. Có một niềm tin đang tăng trưởng và phát triển rằng Đức Christ ở trong chúng ta, như Ngài đã ở trong Chân sư Jesus, và niềm tin này sẽ làm thay đổi các công việc thế gian và toàn bộ thái độ của nhân loại đối với cuộc sống.

The wonder of that Life lived two thousand years ago is still with us and has lost none of its freshness; it is an eternal inspiration, hope, encouragement and example. The love He demonstrated still holds the thinking world in thrall, even though relatively few have really attempted to demonstrate the same quality of love as He did—a love that leads unerringly to world service, to complete self-forgetfulness and to radiant, magnetic living. The words He spoke were few and simple, and all men can understand them, but their significance has largely been lost in the intricate legalities and discussions of St. Paul, and the lengthy disputations of theological commentators since He lived and left us—or apparently left us.

Sự kỳ diệu của Cuộc Sống đã được sống cách đây hai ngàn năm vẫn còn ở với chúng ta và không mất đi chút tươi mới nào; đó là một nguồn cảm hứng, hy vọng, khích lệ và gương mẫu vĩnh cửu. Tình thương mà Ngài đã biểu lộ vẫn còn giữ thế giới tư tưởng trong sự say mê, mặc dù tương đối ít người thực sự cố gắng biểu lộ cùng phẩm tính tình thương như Ngài đã làm—một tình thương dẫn dắt không sai lầm đến phụng sự thế gian, đến sự quên mình hoàn toàn và đến đời sống rạng ngời, từ tính. Những lời Ngài nói thì ít và đơn giản, và mọi người đều có thể hiểu, nhưng ý nghĩa của chúng phần lớn đã bị đánh mất trong những pháp lý phức tạp và các cuộc thảo luận của Thánh Paul, và trong những cuộc tranh biện dài dòng của các nhà bình giải thần học kể từ khi Ngài sống và rời bỏ chúng ta—hay dường như đã rời bỏ chúng ta.

Yet—today Christ is nearer to humanity than at any other time in human history; He is closer than the most [593] aspiring and hopeful disciple knows, and can draw closer still if what I here propose to write is understood and brought to the attention of men everywhere. For Christ belongs to humanity, to the world of men, and not only to the churches and faiths throughout the world.

Tuy nhiên—ngày nay Đức Christ gần với nhân loại hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử loài người; Ngài gần hơn cả điều mà đệ tử [593] đầy khát vọng và hy vọng nhất biết được, và còn có thể đến gần hơn nữa nếu điều tôi đề nghị viết ở đây được hiểu và được đưa đến sự chú ý của con người ở khắp nơi. Vì Đức Christ thuộc về nhân loại, thuộc về thế giới loài người, chứ không chỉ thuộc về các giáo hội và các đức tin trên khắp thế giới.

Around Him—in that High Place on Earth where He has His abiding place—are gathered today all His great Disciples, the Masters of the Wisdom, and all Those liberated Sons of God Who, down the ages, have passed from darkness to Light, from the unreal to the Real, and from death to Immortality; They stand ready to carry out His bidding and to obey the Master of all the Masters and the Teacher alike of Angels and of men. The Exponents and the Representatives of all the world faiths are there waiting—under His guidance—to reveal to all those who today struggle in the maelstrom of world affairs, and who seek to solve the world crisis, that they are not alone. God Transcendent is working through the Christ and the Spiritual Hierarchy to bring relief; God Immanent in all men is standing on the verge of certain stupendous Recognitions.

Quanh Ngài—tại Nơi Cao Cả trên Trái Đất nơi Ngài cư ngụ—ngày nay quy tụ tất cả các Đại Đệ Tử của Ngài, các Chân sư Minh Triết, và tất cả Những Con của Thượng đế đã được giải thoát, những Đấng qua các thời đại đã đi từ bóng tối đến Ánh sáng, từ cái không thực đến Thực Tại, và từ cái chết đến Bất Tử; Các Ngài đứng sẵn sàng thực hiện mệnh lệnh của Ngài và vâng phục Chân sư của mọi Chân sư và là Huấn sư của cả Thiên thần lẫn loài người. Những Đấng Trình Bày và Những Đấng Đại Diện của mọi đức tin thế giới đều đang ở đó chờ đợi—dưới sự hướng dẫn của Ngài—để mặc khải cho tất cả những ai ngày nay đang vật lộn trong cơn xoáy của các công việc thế gian, và đang tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng thế giới, rằng họ không đơn độc. Thượng đế Siêu Việt đang làm việc qua Đức Christ và Huyền Giai Tinh Thần để mang lại sự cứu trợ; Thượng đế Nội Tại trong mọi người đang đứng trên bờ của những Sự Nhận Biết chắc chắn và vĩ đại.

The great Apostolic Succession of the Knowers of God is poised today for renewed activity—a Succession of Those Who have lived on earth, accepted the fact of God Transcendent, discovered the reality of God Immanent, portrayed in Their Own lives the divine characteristics of the Christ life and (because They lived on earth as He did and does) have “entered for us within the veil, leaving us an example that we too should follow His steps,” and Theirs. We too belong eventually in that great Succession.

Sự Kế Thừa Tông Truyền vĩ đại của các thức giả về Thượng đế ngày nay đang sẵn sàng cho hoạt động mới—một Sự Kế Thừa của Những Đấng đã sống trên Trái Đất, chấp nhận sự kiện về Thượng đế Siêu Việt, khám phá thực tại của Thượng đế Nội Tại, biểu lộ trong chính đời sống của Các Ngài những đặc tính thiêng liêng của đời sống Đức Christ và (bởi vì Các Ngài đã sống trên Trái Đất như Ngài đã sống và đang sống) đã “vào bên trong bức màn vì chúng ta, để lại cho chúng ta một tấm gương để chính chúng ta cũng noi theo bước chân của Ngài,” và của Các Ngài. Cuối cùng, chúng ta cũng thuộc về sự Kế Thừa vĩ đại ấy.

You may wonder why, at this hour of the Festival of the Buddha, I am writing to you anent His great Brother, the Christ. I am doing it with deliberation because the eyes of all spiritual Knowers are fixed upon Him, because the Buddha Himself is standing behind Him in humble recognition of the divine task which He is on the verge of consummating, and because of the imminence of that spiritual accomplishment. I write thus because not only are all those who are functioning consciously in the Kingdom of God [594] aware of His plans, but because those great spiritual Beings Who live and dwell in the “Father’s House,” in the “centre where the Will of God is known,” are also mobilised and organised to assist His work. The spiritual line of succession from the throne of the Ancient of Days down to the humblest disciple (gathered with others at the feet of the Christ) is today focussed on the task of helping humanity.

Các bạn có thể tự hỏi vì sao, vào giờ phút của Lễ Hội Đức Phật này, tôi lại viết cho các bạn liên quan đến Người Anh Cả vĩ đại của Ngài là Đức Christ. Tôi làm điều đó một cách có chủ ý vì mắt của mọi thức giả tinh thần đều hướng về Ngài, vì chính Đức Phật đang đứng phía sau Ngài trong sự nhìn nhận khiêm cung đối với nhiệm vụ thiêng liêng mà Ngài sắp hoàn tất, và vì sự gần kề của thành tựu tinh thần ấy. Tôi viết như vậy vì không những tất cả những ai đang hoạt động một cách hữu thức trong Thiên Giới [594] đều biết về các kế hoạch của Ngài, mà còn vì những Đấng Tinh thần vĩ đại sống và cư ngụ trong “Nhà của Cha,” trong “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến,” cũng đang được huy động và tổ chức để trợ giúp công việc của Ngài. Dòng kế thừa tinh thần từ ngai của Đấng Thái Cổ xuống đến đệ tử khiêm nhường nhất (đang tụ họp với những người khác dưới chân Đức Christ) ngày nay đều tập trung vào nhiệm vụ giúp đỡ nhân loại.

The great moment for which He has so patiently waited has almost arrived; the “end of the age” to which He referred when speaking to His small group of disciples—“Lo! I am with you all the days even unto the end of the age”—has come and today He stands and waits, knowing that the hour has come when He will “see of the travail of His soul and be satisfied.” May I repeat: Right through the spiritual succession of the Sons of God there is naught to be seen and felt but expectancy and preparation.

Khoảnh khắc vĩ đại mà Ngài đã kiên nhẫn chờ đợi gần như đã đến; “sự kết thúc của thời đại” mà Ngài đã nói đến khi nói với nhóm đệ tử nhỏ của Ngài—“Này! Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”—đã đến và ngày nay Ngài đứng đó chờ đợi, biết rằng giờ đã đến khi Ngài sẽ “thấy sự lao khổ của linh hồn mình và được thỏa lòng.” Xin cho phép tôi lặp lại: Suốt toàn bộ dòng kế thừa tinh thần của các Con của Thượng đế, không có gì được thấy và cảm nhận ngoài sự mong đợi và chuẩn bị.

From the Father’s House (the Shamballa of the esotericist) the fiat has gone forth: “The hour has come.” From the kingdom of God where reigns the Christ, the answer has been flung back: CFather, Thy will be done”; down in our struggling, bewildered, unhappy world of men, the cry is ceaselessly rising: “May Christ return to Earth.” Thus in the three great spiritual centres—the Father’s House, the Kingdom of God, and awakening Humanity—there is but one Purpose, one idea and one united expectancy....

Từ Nhà của Cha (Shamballa của nhà bí truyền học), mệnh lệnh đã được ban ra: “Giờ đã đến.” Từ Thiên Giới nơi Đức Christ cai quản, câu trả lời đã được tung trở lại: “Lạy Cha, ý Cha được nên”; xuống trong thế giới loài người đang vật lộn, hoang mang và bất hạnh của chúng ta, tiếng kêu không ngừng dâng lên: “Xin cho Đức Christ trở lại Trái Đất.” Như vậy, trong ba trung tâm tinh thần lớn—Nhà của Cha, Thiên Giới, và Nhân Loại đang thức tỉnh—chỉ có một Mục Đích, một ý tưởng và một sự mong đợi hợp nhất....

I write here in no fanatical or adventist spirit; I speak not as a speculative theologian or an exponent of one phase of religious wishful thinking. I speak because the time is ripe and because the appeal of simple faithful hearts has penetrated to the highest spiritual sphere and set in motion energies and forces which cannot now be stopped; I speak because the invocative cry of distressed humanity is today of such a volume and sound that—united to the wisdom and the knowledge of the spiritual Hierarchy—it has given rise to certain activities in the Father’s House. These will result in the glory of God, in the transformation of the divine will-to-good into human goodwill and resultant peace on Earth.

Tôi viết ở đây không phải trong tinh thần cuồng tín hay chờ đợi ngày tái lâm; tôi không nói như một nhà thần học suy đoán hay một người trình bày một khía cạnh nào đó của tư duy tôn giáo đầy ước vọng. Tôi nói vì thời điểm đã chín muồi và vì lời kêu cầu của những tấm lòng đơn sơ trung tín đã xuyên thấu đến cõi tinh thần cao nhất và khởi động những năng lượng và mãnh lực mà nay không thể ngăn chặn được nữa; tôi nói vì tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại đau khổ ngày nay có âm lượng và âm điệu lớn đến mức—khi hợp nhất với minh triết và tri thức của Huyền Giai Tinh Thần—nó đã làm phát sinh những hoạt động nhất định trong Nhà của Cha. Những điều này sẽ dẫn đến vinh quang của Thượng đế, đến sự chuyển đổi ý chí-hướng thiện thiêng liêng thành thiện chí của con người và kết quả là hòa bình trên Trái Đất.

[595] A new chapter in the great book of spiritual living is about to be written; a new expansion of consciousness is an imminent happening; a fresh recognition of divine attentiveness is now possible to humanity, and a revealing expectancy will prove the accuracy of the Biblical statement, “every eye shall see Him.” The religious livingness or spiritual history of mankind can be summarised for us by a series of recognitions—recognition of Those Who, down the ages, have constituted the Apostolic Succession, culminating for us in the great religious leaders who have come out among us since 700 B.C. and founded the great modern world faiths, and—above all else—in the Christ Himself Who embodied the perfection of God Immanent, plus awareness of God Transcendent; recognition of those major spiritual concepts of love, life and relationship which have hovered ever in the background of man’s thinking and which are now on the verge of right expression; recognition of the true brotherhood of man, based on the one divine life, working through the one soul and expressing itself through the one humanity; recognition, therefore, of relationship both to the divine life throughout the world and to mankind itself. It is this developing spiritual attitude which will lead to right human relations and eventual world peace.

[595] Một chương mới trong cuốn sách lớn về đời sống tinh thần sắp được viết ra; một sự mở rộng tâm thức mới là một biến cố sắp xảy ra; một sự nhận biết mới mẻ về sự lưu tâm thiêng liêng nay đã có thể có đối với nhân loại, và một sự mong đợi đầy mặc khải sẽ chứng minh tính chính xác của lời Kinh Thánh: “mọi mắt sẽ thấy Ngài.” Sức sống tôn giáo hay lịch sử tinh thần của nhân loại có thể được tóm lược cho chúng ta bằng một loạt những sự nhận biết—nhận biết về Những Đấng qua các thời đại đã cấu thành Sự Kế Thừa Tông Truyền, đạt đỉnh đối với chúng ta nơi các vị lãnh đạo tôn giáo vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta từ năm 700 trước Công nguyên và sáng lập các đức tin lớn hiện đại của thế giới, và—trên hết mọi sự—nơi chính Đức Christ, Đấng đã hiện thân cho sự hoàn hảo của Thượng đế Nội Tại, cộng với sự nhận biết về Thượng đế Siêu Việt; nhận biết về những khái niệm tinh thần lớn lao là tình thương, sự sống và mối liên hệ, những điều luôn lơ lửng ở hậu cảnh tư tưởng của con người và nay đang ở ngưỡng biểu lộ đúng đắn; nhận biết về tình huynh đệ chân chính của loài người, dựa trên một sự sống thiêng liêng duy nhất, hoạt động qua một linh hồn duy nhất và biểu lộ qua một nhân loại duy nhất; do đó, nhận biết về mối liên hệ vừa với sự sống thiêng liêng khắp thế giới vừa với chính nhân loại. Chính thái độ tinh thần đang phát triển này sẽ dẫn đến các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người và cuối cùng là hòa bình thế giới.

Today another recognition is becoming possible. It is the recognition everywhere of the imminent return of Christ (if such a phrase can be true of One Who has never left us) and of the new spiritual opportunities which this event will make possible.

Ngày nay một sự nhận biết khác đang trở nên khả hữu. Đó là sự nhận biết ở khắp nơi về sự trở lại gần kề của Đức Christ (nếu một cụm từ như thế có thể đúng đối với Đấng chưa bao giờ rời bỏ chúng ta) và về những cơ hội tinh thần mới mà biến cố này sẽ làm cho trở nên khả hữu.

The basis for this recognition lies in the deep-seated conviction, innate in the human consciousness, that some great Teacher, some Saviour, Revealer, Lawgiver or divine Representative must come forth from the world of spiritual realities, because of human need and human demand. Always, down the centuries, at the hour of man’s greatest need and in response to his voiced demand, a divine Son of God has come forth and under many different names. Then the Christ came and apparently left us, with His work unfinished and His vision for mankind not yet consummated. For two [596] thousand years it has seemed as if all His work had been blocked, frustrated, and of no avail—for the growth of the churches during the centuries is no guarantee of the spiritual success at which He aimed. It needed more than theological interpretations and the numerical growth of the world religions (including Christianity and Buddhism) to prove His world mission successfully carried forward. It all seemed impossible, necessitating three conditions; in these a test of His work could be attempted; today these three conditions are proven facts.

Nền tảng cho sự nhận biết này nằm trong niềm xác tín ăn sâu, bẩm sinh trong tâm thức con người, rằng một Huấn sư vĩ đại nào đó, một Đấng Cứu Thế, Đấng Mặc Khải, Đấng Ban Luật hay Đấng Đại Diện thiêng liêng nào đó phải xuất hiện từ thế giới của các thực tại tinh thần, do nhu cầu và lời kêu gọi của con người. Luôn luôn, qua các thế kỷ, vào giờ phút nhu cầu lớn nhất của con người và để đáp lại lời kêu gọi được cất lên của y, một Con thiêng liêng của Thượng đế đã xuất hiện dưới nhiều danh xưng khác nhau. Rồi Đức Christ đã đến và dường như rời bỏ chúng ta, với công việc của Ngài chưa hoàn tất và linh ảnh của Ngài cho nhân loại chưa được hoàn thành. Trong hai [596] ngàn năm, dường như toàn bộ công việc của Ngài đã bị ngăn trở, bị làm thất bại và không đem lại kết quả—vì sự phát triển của các giáo hội qua các thế kỷ không phải là bảo đảm cho thành công tinh thần mà Ngài nhắm đến. Cần nhiều hơn những cách giải thích thần học và sự tăng trưởng về số lượng của các tôn giáo thế giới (bao gồm Kitô giáo và Phật giáo) mới có thể chứng minh sứ mệnh thế giới của Ngài được tiếp tục thành công. Tất cả dường như là bất khả, đòi hỏi ba điều kiện; trong đó có thể thử nghiệm công việc của Ngài; ngày nay ba điều kiện này là những sự kiện đã được chứng minh.

First: a general planetary situation which has (unfortunately owing to man’s selfishness) proved to be so catastrophic in nature that humanity has been forced to recognise the cause and source of the disaster; secondly, a spiritual awakening which would have its impulse in the deepest depths of man’s consciousness, and such is the case today as a result of the world war (1914-1945); thirdly, a steadily mounting invocative cry, prayer or demand, directed toward high spiritual sources, no matter by what names such sources may be called.

Thứ nhất: một tình hình hành tinh chung mà (đáng tiếc do tính ích kỷ của con người) đã chứng tỏ có tính chất thảm khốc đến mức nhân loại buộc phải nhận ra nguyên nhân và nguồn gốc của thảm họa; thứ hai, một sự thức tỉnh tinh thần có xung lực từ những tầng sâu nhất của tâm thức con người, và ngày nay đúng là như vậy do kết quả của chiến tranh thế giới (1914-1945); thứ ba, một tiếng kêu khẩn cầu, lời cầu nguyện hay yêu cầu ngày càng dâng cao, hướng về các nguồn tinh thần cao cả, bất kể những nguồn ấy được gọi bằng tên gì.

Today, all these three conditions have been fulfilled and humanity faces renewed opportunity. The disaster which has overtaken mankind is universal and widespread; no one has escaped, and all men are involved in some way or another—physically, economically and socially. The spiritual awakening of men everywhere (within or without the world faiths, and largely outside of them) is general and complete, and a turning to God is to be seen on every hand. Finally, these two causes have aroused—as never before—the invocative cry of humanity; it is clearer, purer and more selfless than at any other time in human history, because it is based on clearer thinking and common distress. True religion is again emerging in the hearts of men in every land; this recognition of a divine hope and background may possibly take people back into the churches and world faiths, but it will most certainly take them back to God.

Ngày nay, cả ba điều kiện này đều đã được hoàn tất và nhân loại đang đối diện với cơ hội được đổi mới. Thảm họa đã giáng xuống loài người là phổ quát và lan rộng; không ai thoát khỏi, và mọi người đều bị cuốn vào bằng cách này hay cách khác—về mặt hồng trần, kinh tế và xã hội. Sự thức tỉnh tinh thần của con người ở khắp nơi (trong hay ngoài các đức tin thế giới, và phần lớn ở ngoài chúng) là phổ biến và trọn vẹn, và việc quay về với Thượng đế có thể được thấy ở khắp nơi. Cuối cùng, hai nguyên nhân này đã khơi dậy—chưa từng có trước đây—tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại; nó rõ ràng hơn, tinh khiết hơn và vô ngã hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử loài người, bởi vì nó dựa trên tư duy sáng suốt hơn và nỗi khổ chung. Tôn giáo chân chính đang lại xuất hiện trong lòng người ở mọi xứ sở; sự nhận biết này về một hy vọng và nền tảng thiêng liêng có thể đưa con người trở lại các giáo hội và các đức tin thế giới, nhưng chắc chắn sẽ đưa họ trở lại với Thượng đế.

Religion is the name, surely, which we give to the invocative appeal of humanity which leads to the evocative response [597] of the Spirit of God. This Spirit works in every human heart and in all groups. It works through the spiritual Hierarchy of the planet; it impels the Head of the Hierarchy, the Christ, to take action, and the action which He is taking will lead to His return, with His disciples.

Tôn giáo chắc chắn là tên gọi mà chúng ta dùng cho lời kêu cầu khẩn cầu của nhân loại, lời kêu cầu dẫn đến sự đáp ứng gợi lên [597] của Tinh thần của Thượng đế. Tinh thần này hoạt động trong mọi trái tim con người và trong mọi nhóm. Nó hoạt động qua Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh; nó thúc đẩy Đầu của Thánh đoàn, Đức Christ, hành động, và hành động mà Ngài đang thực hiện sẽ dẫn đến sự trở lại của Ngài, cùng với các đệ tử của Ngài.

I wonder if you appreciate the import of what I have just said? The idea of the return of Christ is a most familiar one, and the concept of a returning Son of God in response to human need has its place in the teaching of the majority of the world faiths. Ever since He apparently departed to the sphere where the faithful have put Him, little groups of these people have reasoned themselves into the belief that on such and such a date He will come back, and ever their prophecies and expectancies have been doomed to failure. He has not come. Such people have been laughed at by the crowd and rebuked by the intelligent. Their eyes have not seen Him and there has been no tangible indication of His Presence. Today, I tell you that He will come; that plans for His coming are already set on foot, but I set no date or hour. The time is known only to the two or three, but “in such an hour as ye think not, He will come.” (Matt. XXIV. 44)

Tôi tự hỏi liệu các bạn có nhận ra tầm quan trọng của điều tôi vừa nói không? Ý tưởng về sự trở lại của Đức Christ là một ý tưởng rất quen thuộc, và khái niệm về một Con của Thượng đế trở lại để đáp ứng nhu cầu của con người có chỗ đứng trong giáo huấn của đa số các đức tin thế giới. Kể từ khi Ngài dường như ra đi đến cõi mà những người trung tín đã đặt Ngài vào đó, những nhóm nhỏ trong số họ đã tự lý luận để tin rằng vào ngày này hay ngày kia Ngài sẽ trở lại, và những lời tiên đoán cùng mong đợi của họ luôn luôn bị định sẵn là thất bại. Ngài đã không đến. Những người như thế đã bị đám đông chế nhạo và bị người thông minh quở trách. Mắt họ đã không thấy Ngài và không có dấu hiệu hữu hình nào về Hiện Diện của Ngài. Ngày nay, tôi nói với các bạn rằng Ngài sẽ đến; rằng các kế hoạch cho sự đến của Ngài đã được khởi sự, nhưng tôi không nêu ngày hay giờ. Thời điểm chỉ được biết bởi hai hay ba Đấng, nhưng “vào giờ các ngươi không ngờ, Ngài sẽ đến.” (Matt. XXIV. 44)

I tell you, first of all, a truth hard for the orthodox thinker of any faith to accept: He cannot return because He has always been here upon our Earth, watching over the spiritual destiny of humanity; He has never left us, but in physical body and securely concealed (though not hidden), He has guided the affairs of the spiritual Hierarchy, of His disciples and workers who are unitedly pledged with Him to Earth Service. He can only reappear. It is a spiritual fact that those who have passed from the cave of the tomb into the fullness of the resurrection life can be seen, and at the same time evade the vision of the believer; seeing and recognition are two very different things, and one of the great recognitions of mankind in the near future is the recognition that always He has been with us and shared with us the familiar usefulness and peculiar characteristics of our civilisation and its many gifts to man.

Trước hết, tôi nói với các bạn một chân lý khó được người tư tưởng chính thống của bất kỳ đức tin nào chấp nhận: Ngài không thể trở lại vì Ngài luôn luôn ở đây trên Trái Đất của chúng ta, dõi theo vận mệnh tinh thần của nhân loại; Ngài chưa bao giờ rời bỏ chúng ta, nhưng trong thể xác hồng trần và được che giấu an toàn (dù không ẩn khuất), Ngài đã hướng dẫn các công việc của Huyền Giai Tinh Thần, của các đệ tử và những người hoạt động của Ngài, những người cùng với Ngài hiệp nhất cam kết phụng sự Trái Đất. Ngài chỉ có thể tái xuất hiện. Đó là một sự kiện tinh thần rằng những ai đã đi từ hang mộ vào sự viên mãn của đời sống phục sinh có thể được nhìn thấy, đồng thời lại tránh khỏi tầm nhìn của người tín đồ; thấy và nhận ra là hai điều rất khác nhau, và một trong những sự nhận biết lớn lao của nhân loại trong tương lai gần là sự nhận biết rằng Ngài luôn luôn ở với chúng ta và chia sẻ với chúng ta tính hữu dụng quen thuộc cùng những đặc tính đặc thù của nền văn minh chúng ta và nhiều tặng phẩm của nó cho con người.

[598] The early signs of His approach with His disciples can already be discerned by those who note and rightly interpret the signs of the times. There is (among these signs) the coming together spiritually of those who love their fellowmen. This is in reality the organising of the outer physical army of the Lord—an army which has no weapons but those of love, of right speech and right human relations. This unknown organisation has proceeded with phenomenal speed during the aftermath of war, because humanity is sick of hate and of controversy.

[598] Những dấu hiệu đầu tiên về sự tiếp cận của Ngài cùng với các đệ tử của Ngài đã có thể được nhận ra bởi những ai ghi nhận và giải thích đúng các dấu hiệu của thời đại. Trong số những dấu hiệu này có sự quy tụ về mặt tinh thần của những người yêu thương đồng loại. Thực ra đây là sự tổ chức đạo quân hồng trần bên ngoài của Chúa—một đạo quân không có vũ khí nào ngoài tình thương, lời nói đúng đắn và các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người. Tổ chức vô danh này đã tiến triển với tốc độ phi thường trong thời kỳ hậu chiến, bởi vì nhân loại đã chán ghét hận thù và tranh chấp.

The general staff of the Christ is already active in the form of the New Group of World Servers; they are as potent a body of forerunners as has ever preceded a great world Figure into the arena of mankind’s living. Their work and influence is already seen and felt in every land, and nothing can destroy that which they have accomplished. The spiritual and organising effect of sound in the form of expressed and voiced invocation has been also attempted since 1935, and the energy of the invocative cry of humanity has been directed into those channels which reach from Earth to that High Place where dwells the Christ. From there, it has been transmitted on to those still higher spheres where the attention of the Lord of the World, the Ancient of Days, the Father of all, plus the Creative Energies and Living Beings Who dwell there with Him, can be focussed on humanity and those steps can be taken which will embody more rapidly the Purposes of God.

Bộ tham mưu của Đức Christ đã hoạt động rồi dưới hình thức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; họ là một tập thể tiền phong mạnh mẽ không kém bất kỳ tập thể nào từng đi trước một Nhân Vật thế giới vĩ đại vào đấu trường đời sống của nhân loại. Công việc và ảnh hưởng của họ đã được thấy và cảm nhận ở mọi xứ sở, và không gì có thể phá hủy điều họ đã hoàn thành. Hiệu quả tinh thần và tổ chức của âm thanh dưới hình thức khẩn cầu được phát biểu và cất lên cũng đã được thử nghiệm từ năm 1935, và năng lượng của tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại đã được hướng vào những kênh vươn từ Trái Đất đến Nơi Cao Cả nơi Đức Christ cư ngụ. Từ đó, nó đã được truyền tiếp đến những cõi còn cao hơn nữa, nơi sự chú ý của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, Cha của muôn loài, cùng với các Năng Lượng Sáng Tạo và các Hữu Thể Sống đang cư ngụ ở đó với Ngài, có thể được tập trung vào nhân loại và những bước đi có thể được thực hiện để hiện thân nhanh hơn các Mục Đích của Thượng đế.

For the first time in human history, the demand of the people of the Earth is so potent and so in line with divine direction in time and space that the end is inevitably sure; the looked-for spiritual Representative must come forth, and this time He will not come alone but will be accompanied by Those Whose lives and words will evoke recognition in every department of human thinking. The symbolic prophecies found in all the world Scriptures anent this imminent event will prove their veracity; their symbolism will nevertheless elicit re-interpretation, and circumstances and happenings will not necessarily be exactly as the Scriptures [599] would appear to indicate. For instance, He will come indeed “in the clouds of the air” as the Christian Scriptures say (Matt. XXIV. 30), but of what great interest is that when millions come and go in the clouds each hour of the day and of the night? I mention this as one of the outstanding prophecies and one of the most familiar; it is, however, one which means little in our modern civilisation. The fact that is of importance is that He will come.

Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, yêu cầu của dân chúng trên Trái Đất mạnh mẽ đến thế và phù hợp với định hướng thiêng liêng trong thời gian và không gian đến thế, nên kết quả chắc chắn không thể tránh khỏi; Đấng Đại Diện tinh thần được mong đợi phải xuất hiện, và lần này Ngài sẽ không đến một mình mà sẽ đi cùng với Những Đấng mà đời sống và lời nói của Các Ngài sẽ gợi lên sự nhận biết trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người. Những lời tiên tri biểu tượng được tìm thấy trong mọi Kinh điển thế giới liên quan đến biến cố gần kề này sẽ chứng minh tính chân thực của chúng; tuy nhiên, biểu tượng của chúng sẽ đòi hỏi được giải thích lại, và các hoàn cảnh cùng biến cố sẽ không nhất thiết đúng y như Kinh điển [599] dường như chỉ ra. Chẳng hạn, quả thật Ngài sẽ đến “trong mây trời” như Kinh điển Kitô giáo nói (Matt. XXIV. 30), nhưng điều đó có gì đáng quan tâm lớn lao khi hàng triệu người đi và đến trong mây mỗi giờ của ngày và đêm? Tôi nêu điều này như một trong những lời tiên tri nổi bật và quen thuộc nhất; tuy nhiên, đó là một lời tiên tri có ít ý nghĩa trong nền văn minh hiện đại của chúng ta. Sự kiện quan trọng là Ngài sẽ đến.

The Wesak Festival has been held, down the centuries, in the well-known valley in the Himalayas (if the faithful would only believe it) in order:

Lễ Hội Wesak đã được cử hành qua các thế kỷ trong thung lũng nổi tiếng ở dãy Himalaya (nếu những người trung tín chịu tin điều đó) nhằm:

1. To substantiate the fact of Christ’s physical existence among us ever since His so-called departure.

1. Xác thực sự kiện về sự hiện hữu hồng trần của Đức Christ giữa chúng ta kể từ sau cái gọi là sự ra đi của Ngài.

2. To prove (on the physical plane) the factual solidarity of the Eastern and Western approaches to God. Both the Christ and the Buddha are then present.

2. Chứng minh (trên cõi hồng trần) sự đoàn kết thực sự của các cách tiếp cận Thượng đế của Đông phương và Tây phương. Cả Đức Christ lẫn Đức Phật đều hiện diện khi ấy.

3. To form a rallying-point and a meeting-place for those who annually—in synthesis and symbolically—link up and represent the Father’s House, the Kingdom of God, and Humanity.

3. Tạo thành một điểm tập hợp và một nơi gặp gỡ cho những ai hằng năm—trong sự tổng hợp và một cách biểu tượng—liên kết và đại diện cho Nhà của Cha, Thiên Giới và Nhân Loại.

4. To demonstrate the nature of the work of Christ as the great and chosen Intermediary, standing as the Representative of the spiritual Hierarchy and as the Leader of the New Group of World Servers, and in His Person voicing their demand for the recognition of the factual existence of the Kingdom of God here and now.

4. Chứng minh bản chất công việc của Đức Christ với tư cách là Đấng Trung Gian vĩ đại và được tuyển chọn, đứng như Đấng Đại Diện của Huyền Giai Tinh Thần và như Đấng Lãnh Đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và trong chính Con Người của Ngài cất lên yêu cầu của họ về sự nhìn nhận sự hiện hữu thực sự của Thiên Giới ở đây và ngay bây giờ.

Perhaps one of the major messages I have for all of you who read my words is this great truth and fact of the physical Presence on Earth at this time of the Christ, of His group of Disciples and Executives, of Their representative activities on behalf of mankind and of Their close relationship. This relationship comes out at certain of the great spiritual Festivals where relationship includes not only the Kingdom of God but also the Father and the Father’s Home. There is the Festival of Easter; the Festival of the Buddha [600] Who, in physical Presence, expresses the spiritual solidarity of our planet; and the Festival in June, peculiarly the Festival of the Christ, when He—as Leader of the New Group of World Servers—employs the new Invocation on behalf of all men of goodwill in all lands; at the same time, He gathers up the inchoate and unexpressed demands of those masses who seek a new and better way of life. They want love in daily living, right human relations, and an understanding of the underlying Plan.

Có lẽ một trong những thông điệp chính mà tôi dành cho tất cả các bạn đang đọc lời tôi là chân lý và sự kiện lớn lao này về Hiện Diện hồng trần trên Trái Đất vào lúc này của Đức Christ, của nhóm Đệ Tử và các Đấng Điều Hành của Ngài, về các hoạt động đại diện của Các Ngài thay mặt cho nhân loại và về mối liên hệ gần gũi của Các Ngài. Mối liên hệ này xuất hiện tại một số Đại Lễ tinh thần, nơi mối liên hệ không chỉ bao gồm Thiên Giới mà còn cả Cha và Nhà của Cha. Có Lễ Phục Sinh; Lễ của Đức Phật [600] Đấng, trong Hiện Diện hồng trần, biểu lộ sự đoàn kết tinh thần của hành tinh chúng ta; và Lễ vào tháng Sáu, đặc biệt là Lễ của Đức Christ, khi Ngài—với tư cách là Đấng Lãnh Đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—sử dụng Đại Khấn Nguyện mới thay mặt cho tất cả những người thiện chí ở mọi xứ sở; đồng thời, Ngài thu nhận những yêu cầu còn mơ hồ và chưa được diễn đạt của những quần chúng đang tìm kiếm một lối sống mới và tốt đẹp hơn. Họ muốn có tình thương trong đời sống hằng ngày, các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người, và sự thấu hiểu Thiên Cơ nền tảng.

It is these physical happenings which are of moment, and not the vague hopes and promises of the theological faiths. It is the physical Presence upon our planet of such recognised spiritual Figures as the Lord of the World, the Ancient of Days; the seven Spirits Who are before the throne of God; of the Buddha, the spiritual leader of the East, and the Christ, the spiritual leader of the West, which I bring at this climaxing time to your attention. To you I say that the vague belief in Their existence, the dreamy speculations as to Their work and Their interest in human welfare, and the unconvinced, yet hopeful, wishful thinking of believers (and also unbelievers), will soon give place to certain knowledge, to visual recognition, to provable signs of executive work, and to the reorganisation (by men of unusual potency) of the political, religious, economic and social life of the planet.

Chính những biến cố hồng trần này mới là điều quan trọng, chứ không phải những hy vọng và lời hứa mơ hồ của các đức tin thần học. Chính Hiện Diện hồng trần trên hành tinh chúng ta của những Nhân Vật tinh thần được nhìn nhận như Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ; Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế; của Đức Phật, vị lãnh đạo tinh thần của Đông phương, và Đức Christ, vị lãnh đạo tinh thần của Tây phương, là điều mà vào thời điểm cao trào này tôi muốn đưa ra trước sự chú ý của các bạn. Với các bạn, tôi nói rằng niềm tin mơ hồ vào sự hiện hữu của Các Ngài, những suy đoán mộng mơ về công việc của Các Ngài và sự quan tâm của Các Ngài đối với phúc lợi con người, cùng lối tư duy đầy ước vọng nhưng chưa xác tín của những người tin (và cả những người không tin), sẽ sớm nhường chỗ cho tri thức chắc chắn, cho sự nhận biết bằng mắt thấy, cho những dấu hiệu có thể chứng minh được của công việc điều hành, và cho sự tái tổ chức (bởi những người có năng lực phi thường) đời sống chính trị, tôn giáo, kinh tế và xã hội của hành tinh.

All this will not come as the result of some proclamation or some stupendous planetary event which will force human beings everywhere to say: Lo! He is there! Lo! Here are the signs of His divinity! for that would evoke only antagonism and laughter, resistance or fanatical credulity. It will come as a recognition of potency in leadership, through dynamic but logical changes in world affairs, and through action taken by the masses of the people from the depths of their own consciousness.

Tất cả điều này sẽ không đến như kết quả của một lời tuyên bố nào đó hay một biến cố hành tinh vĩ đại nào đó buộc con người ở khắp nơi phải nói: Kìa! Ngài ở đó! Kìa! Đây là những dấu hiệu về thiên tính của Ngài! vì điều đó chỉ gợi lên sự đối kháng và chế giễu, sự kháng cự hay lòng cả tin cuồng tín. Nó sẽ đến như một sự nhận biết về năng lực trong lãnh đạo, qua những thay đổi năng động nhưng hợp lý trong các công việc thế gian, và qua hành động do quần chúng nhân dân thực hiện từ những tầng sâu của chính tâm thức họ.

Many years ago I indicated that the Christ would come in three ways, or rather, that the fact of His Presence could be proved in three distinctive phases.

Nhiều năm trước tôi đã chỉ ra rằng Đức Christ sẽ đến theo ba cách, hay đúng hơn, rằng sự kiện về Hiện Diện của Ngài có thể được chứng minh trong ba giai đoạn riêng biệt.

I said then that the first move which the Hierarchy [601] would make would be the stimulation of the spiritual consciousness in man, the evocation of humanity’s spiritual demands on a large scale, and the nurturing—on a worldwide scale—of the Christ consciousness in the human heart. This has already been done, and with most effective results. Of the factual nature of this process the vociferous demands of men of goodwill, of welfare workers and of those pledged to international cooperation, to the relief of world distress and to the establishment of right human relations are the undeniable expression. That phase of the preparatory work which is indicative of His coming has now reached a stage where nothing can arrest its progress or slow down its momentum. In spite of appearances, this uprising of the Christ-consciousness has been successful, and what may appear as reverse activity is of no importance in the long run, and only of a temporary nature.

Khi ấy tôi đã nói rằng bước đi đầu tiên mà Thánh đoàn [601] sẽ thực hiện là kích thích tâm thức tinh thần trong con người, gợi lên những yêu cầu tinh thần của nhân loại trên quy mô lớn, và nuôi dưỡng—trên quy mô toàn cầu—tâm thức Christ trong trái tim con người. Điều này đã được thực hiện rồi, và với những kết quả rất hữu hiệu. Bản chất thực sự của tiến trình này được biểu lộ không thể phủ nhận qua những yêu cầu mạnh mẽ của những người thiện chí, của những người hoạt động phúc lợi và của những ai cam kết với sự hợp tác quốc tế, với việc cứu trợ nỗi khổ thế giới và với việc thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người. Giai đoạn công việc chuẩn bị mang tính chỉ dấu cho sự đến của Ngài nay đã đạt đến một mức mà không gì có thể ngăn chặn sự tiến triển của nó hay làm chậm động lực của nó. Bất chấp vẻ bề ngoài, sự trỗi dậy này của tâm thức Christ đã thành công, và điều có thể có vẻ như hoạt động ngược chiều thì về lâu dài không quan trọng, và chỉ có tính tạm thời.

The second move of the Hierarchy, I told you, would be the impressing of the minds of enlightened men everywhere by spiritual ideas embodying the new truths, by the “descent” (if I may so call it) of the new concepts which will govern human living, and by the over-shadowing of all world disciples and the New Group of World Servers by the Christ Himself. You will recall how, in the Bible story, Christ symbolically evoked the recognition of John the Baptist and imparted the things of the Kingdom of God to the disciples who walked to Emmaus, though they recognised not their Companion. This planned move of the Hierarchy is also progressing well; men and women everywhere and in every department of life are enunciating those new truths which should in the future guide human living; they are building those new organisations, movements and groups—large or small—which will familiarise the mass of men with the reality of the need and the mode of meeting it. This they are doing because they are driven thereto by the warmth of their hearts and their loving response to human distress; without formulating it thus to themselves, they are nevertheless working to bring into visibility the Kingdom of God on earth. No denial of these facts is possible, [602] in view of the multiplicity of this type of organisations, books and speeches.

Tôi đã nói với các bạn rằng bước đi thứ hai của Thánh đoàn sẽ là gây ấn tượng lên tâm trí của những người được soi sáng ở khắp nơi bằng các ý tưởng tinh thần hiện thân cho những chân lý mới, bằng “sự giáng xuống” (nếu tôi có thể gọi như vậy) của những khái niệm mới sẽ chi phối đời sống con người, và bằng sự phủ bóng của chính Đức Christ lên mọi đệ tử thế giới và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Các bạn sẽ nhớ cách mà, trong câu chuyện Kinh Thánh, Đức Christ đã biểu tượng gợi lên sự nhận biết của John the Baptist và truyền đạt những điều thuộc Thiên Giới cho các đệ tử đang đi đến Emmaus, dù họ không nhận ra Người Bạn Đồng Hành của mình. Bước đi có kế hoạch này của Thánh đoàn cũng đang tiến triển tốt đẹp; những người nam và nữ ở khắp nơi và trong mọi lĩnh vực đời sống đang công bố những chân lý mới ấy, những điều trong tương lai sẽ hướng dẫn đời sống con người; họ đang xây dựng những tổ chức, phong trào và nhóm mới ấy—lớn hay nhỏ—những điều sẽ làm cho quần chúng quen thuộc với thực tại của nhu cầu và phương thức đáp ứng nó. Họ làm điều này vì được thúc đẩy bởi sự ấm áp của trái tim và sự đáp ứng đầy thương yêu của họ đối với nỗi khổ của con người; dù không tự diễn đạt như thế với chính mình, họ vẫn đang làm việc để đưa Thiên Giới trên Trái Đất vào sự hiển lộ. Không thể phủ nhận những sự kiện này, [602] xét đến số lượng rất lớn của loại tổ chức, sách vở và diễn thuyết này.

Thirdly, I told you that Christ might come in person and walk among men as He did before. This has not yet taken place, but plans are being laid which will enable Him to do so. Those plans do not involve the birth of some nice child in some nice home on earth; they will not produce the wild claims and the credulous recognition of the well-meaning and the unintelligent, as is so frequently the case today, nor will someone appear and say: This is the Christ. He is here or He is there. I would point out to you, however, that the widespread appearance of such tales and claims, though undesirable, misleading and wrong, nevertheless demonstrates human expectancy of the imminence of His coming. Belief in His coming is basic in the human consciousness. How He will come, in what manner, I may not and should not say. The exact moment has not yet arrived, nor has the method of His appearance been determined. The factual nature of the two earlier and preparatory moves, already made by the Hierarchy under His direction, are the guarantee that He will come and that—when He does—mankind will be ready.

Thứ ba, tôi đã nói với các bạn rằng Đức Christ có thể đích thân đến và đi lại giữa loài người như Ngài đã từng làm trước đây. Điều này chưa xảy ra, nhưng các kế hoạch đang được đặt ra để giúp Ngài có thể làm như vậy. Những kế hoạch ấy không liên quan đến việc sinh ra một đứa trẻ dễ thương nào đó trong một mái nhà dễ thương nào đó trên Trái Đất; chúng sẽ không tạo ra những lời tuyên bố hoang dại và sự công nhận cả tin của những người thiện chí nhưng thiếu trí tuệ, như điều thường xảy ra ngày nay, cũng sẽ không có ai xuất hiện và nói: Đây là Đức Christ. Ngài ở đây hay Ngài ở kia. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra với các bạn rằng sự xuất hiện rộng khắp của những câu chuyện và lời tuyên bố như thế, dù không đáng mong muốn, gây lầm lạc và sai lầm, nevertheless chứng tỏ sự mong đợi của con người về sự gần kề của sự đến của Ngài. Niềm tin vào sự đến của Ngài là điều căn bản trong tâm thức con người. Ngài sẽ đến như thế nào, theo cách nào, tôi không thể và không nên nói. Thời điểm chính xác vẫn chưa đến, và phương pháp xuất hiện của Ngài cũng chưa được quyết định. Bản chất thực sự của hai bước đi sớm hơn và có tính chuẩn bị, vốn đã được Thánh đoàn thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ngài, là sự bảo đảm rằng Ngài sẽ đến và rằng—khi Ngài đến—nhân loại sẽ sẵn sàng.

For a brief moment, I would like to summarise certain aspects of the work He set in motion two thousand years ago, because it holds the clue to His future work. Some of it is well known to you, for it has been emphasised by the world faiths and particularly by teachers of the Christian faith. But all of them have made His work appear difficult for man to grasp, and the undue emphasis laid upon His divinity (an emphasis which He Himself never made) has made it appear that He and He only, and no one else, could possibly do the same things. Theologians have forgotten that He Himself stated that “greater things shall ye do, because I go unto the Father” (John XIV. 12). He here indicates that this passing to the Father’s House would result in such an inflow of spiritual strength, insight and creative accomplishment in men, that their deeds would surpass His. Because of the distortion of His teaching and its remote relation to man, [603] we have not yet done those “greater things.” Some day we assuredly will, and—along certain lines—we already have. Let me relate some of the things He did which we can do, and which He will aid.

Trong chốc lát, tôi muốn tóm lược một số phương diện của công việc mà Ngài đã khởi xướng cách đây hai ngàn năm, bởi vì điều đó nắm giữ đầu mối cho công việc tương lai của Ngài. Một phần trong đó các bạn đã biết rõ, vì đã được các đức tin thế giới và đặc biệt là các huấn sư của đức tin Kitô giáo nhấn mạnh. Nhưng tất cả họ đã làm cho công việc của Ngài có vẻ khó để con người nắm bắt, và sự nhấn mạnh quá mức đặt lên thiên tính của Ngài (một sự nhấn mạnh mà chính Ngài chưa bao giờ đặt ra) đã khiến có vẻ như Ngài và chỉ một mình Ngài, chứ không ai khác, mới có thể làm những điều tương tự. Các nhà thần học đã quên rằng chính Ngài đã nói: “các ngươi sẽ làm những việc lớn hơn, vì Ta đi về cùng Cha” (John XIV. 12). Ở đây Ngài chỉ ra rằng việc đi vào Nhà của Cha này sẽ dẫn đến một dòng tuôn đổ mãnh lực tinh thần, linh thị và thành tựu sáng tạo vào con người đến mức các việc làm của họ sẽ vượt hơn việc của Ngài. Do sự bóp méo giáo huấn của Ngài và mối liên hệ xa cách của nó với con người, [603] chúng ta vẫn chưa làm được những “việc lớn hơn” ấy. Một ngày nào đó chắc chắn chúng ta sẽ làm được, và—trên một số phương diện—chúng ta đã làm rồi. Hãy để tôi kể ra một số điều Ngài đã làm mà chúng ta có thể làm, và Ngài sẽ trợ giúp.

1. For the first time in human history, the love of God was embodied in a man, and Christ inaugurated the era of love. That expression of divine love is still in the making; the world is not yet full of love and few there are that understand the true meaning of the word. But—speaking symbolically—when the United Nations has emerged into factual and actual power, the welfare of the world will then be assured. What is that welfare but love in action? What are right human relations but love among men, groups and nations? What is international cooperation but love on a world scale? Those are the things which the love of God in Christ expressed, and those are the things which we are working here today to bring into being. We are attempting to do it on a vast scale, and this in spite of opposition—an opposition which can only temporarily succeed, such is the potency of the awakened spirit of man. These are the things which the Hierarchy, in its already successful procedures, is aiding and will continue to aid.

1. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tình thương của Thượng đế đã nhập thể trong một con người, và Đức Christ đã khai mở kỷ nguyên của tình thương. Sự biểu lộ tình thương thiêng liêng ấy vẫn còn đang được hình thành; thế giới vẫn chưa tràn đầy tình thương và rất ít người hiểu ý nghĩa đích thực của từ này. Nhưng—nói theo biểu tượng—khi Liên Hiệp Quốc vươn lên thành một quyền lực thực sự và hữu hiệu, thì phúc lợi của thế giới sẽ được bảo đảm. Phúc lợi ấy là gì nếu không phải là tình thương trong hành động? Những tương quan nhân loại đúng đắn là gì nếu không phải là tình thương giữa người với người, giữa các nhóm và giữa các quốc gia? Sự hợp tác quốc tế là gì nếu không phải là tình thương trên quy mô thế giới? Đó là những điều mà tình thương của Thượng đế trong Đức Christ đã biểu lộ, và đó là những điều mà ngày nay chúng ta đang hoạt động ở đây để làm cho thành hiện thực. Chúng ta đang cố gắng thực hiện điều đó trên một quy mô rộng lớn, bất chấp sự chống đối—một sự chống đối chỉ có thể tạm thời thành công, mạnh mẽ đến thế là tinh thần đã thức tỉnh của con người. Đó là những điều mà Thánh Đoàn, trong những phương thức đã thành công của mình, đang trợ giúp và sẽ tiếp tục trợ giúp.

2. Christ taught also that the Kingdom of God is on Earth and told us to seek that Kingdom first and let all things go for its sake. That Kingdom has ever been with us, composed of all those who, down the ages, have sought spiritual goals, liberated themselves from the limitations of the physical body, emotional controls and the obstructive mind. Its citizens are those who today (unknown to the majority) live in physical bodies, work for the welfare of humanity, use love instead of emotion as their general technique, and compose that great body of “illumined Minds” which guide the destiny of the world. The Kingdom of God is not something which will descend on earth when men are good enough! It is something which is functioning efficiently today and demanding recognition. It is an organised body which is already evoking recognition from those people who [604] do seek first the Kingdom of God and discover thereby that the Kingdom they seek is already here. Christ and His disciples are known by many to be physically present on Earth and the Kingdom which They rule, with its laws and modes of activity are familiar to many, and have been throughout the centuries.

2. Đức Christ cũng dạy rằng Thiên Giới ở trên Trái Đất và bảo chúng ta hãy tìm kiếm Thiên Giới ấy trước hết, và vì nó mà để mọi sự khác qua một bên. Thiên Giới ấy luôn luôn ở cùng chúng ta, gồm tất cả những ai qua các thời đại đã tìm kiếm các mục tiêu tinh thần, đã tự giải thoát mình khỏi những giới hạn của thể xác, những sự chi phối của cảm xúc và trí tuệ gây cản trở. Công dân của giới ấy là những người ngày nay (không được đa số biết đến) đang sống trong các thể xác, làm việc cho phúc lợi của nhân loại, dùng tình thương thay cho cảm xúc như kỹ thuật chung của họ, và hợp thành đại tập thể những “Trí Tuệ được soi sáng” hướng dẫn vận mệnh thế giới. Thiên Giới không phải là điều gì đó sẽ giáng xuống trần gian khi con người đủ tốt! Đó là một thực tại đang hoạt động hữu hiệu ngày nay và đang đòi hỏi được công nhận. Đó là một tập thể có tổ chức, hiện đã khơi dậy sự công nhận nơi những người [604] thực sự tìm kiếm Thiên Giới trước hết và nhờ đó khám phá rằng Thiên Giới mà họ tìm kiếm đã ở đây rồi. Đức Christ và các đệ tử của Ngài được nhiều người biết là đang hiện diện bằng thể xác trên Trái Đất, và Vương Quốc mà Các Ngài cai quản, cùng với các định luật và phương thức hoạt động của nó, đã quen thuộc với nhiều người, và đã như vậy suốt nhiều thế kỷ.

Christ is the World Healer and Saviour. He works because He is the embodied soul of all Reality. He works today, as he worked in Palestine two thousand years ago, through groups. There He worked through the three beloved disciples, through the twelve apostles, through the chosen seventy, and the interested five hundred.... Now He works through His Masters and Their groups, and thereby greatly intensifies His efforts. He can and will work through all groups just in so far as they fit themselves for planned service, for the distribution of love, and come into conscious alignment with the great potency of the inner groups.

Đức Christ là Đấng Chữa Lành và Cứu Rỗi của Thế Gian. Ngài hoạt động vì Ngài là linh hồn nhập thể của toàn thể Thực Tại. Ngài hoạt động ngày nay, cũng như Ngài đã hoạt động tại Palestine hai ngàn năm trước, thông qua các nhóm. Khi ấy Ngài hoạt động qua ba đệ tử yêu dấu, qua mười hai tông đồ, qua bảy mươi người được chọn, và qua năm trăm người quan tâm.... Nay Ngài hoạt động qua các Chân sư của Ngài và các nhóm của Các Ngài, và nhờ đó tăng cường rất lớn nỗ lực của mình. Ngài có thể và sẽ hoạt động qua mọi nhóm trong chừng mực họ tự làm cho mình thích hợp với sự phụng sự có kế hoạch, với việc phân phối tình thương, và đi vào sự chỉnh hợp hữu thức với mãnh lực lớn lao của các nhóm bên trong.

Esotericists, occult students, Rosicrucians and Theosophists have always proclaimed the physical Presence of the Christ, but have so distorted the teaching by dogmatic assertions on unimportant details and by ridiculous claims, that they have evoked little recognition of the underlying truth, nor have they portrayed a Kingdom which is attractive. Yet that Kingdom exists and is not a place of disciplines or golden harps and peopled by unintelligent fanatics, but a field of service and a place where every man has full scope for the exercise of his divinity in human service.

Các nhà bí truyền học, các đạo sinh huyền bí học, các hội viên Rosicrucian và các nhà Thông Thiên Học từ lâu vẫn công bố Sự Hiện Diện bằng thể xác của Đức Christ, nhưng họ đã bóp méo giáo huấn ấy quá nhiều bằng những khẳng định giáo điều về các chi tiết không quan trọng và bằng những tuyên bố lố bịch, đến nỗi họ chỉ khơi dậy rất ít sự công nhận đối với chân lý nền tảng, và cũng không trình bày được một Vương Quốc có sức hấp dẫn. Tuy nhiên, Vương Quốc ấy có thật và không phải là một nơi của kỷ luật khổ hạnh hay những cây đàn hạc vàng và đầy những kẻ cuồng tín thiếu trí tuệ, mà là một cánh đồng phụng sự và một nơi mà mỗi người đều có đầy đủ phạm vi để thực thi thiên tính của mình trong sự phụng sự nhân loại.

3. At the Transfiguration, Christ revealed the glory which is innate in all men. The triple lower nature—physical, emotional and mental—is there shown as prostrate before the glory which was revealed. In that moment, wherein Christ Immanent was in the physical form, wherein humanity was represented by the three apostles, a Voice came from the Father’s Home in recognition of the revealed divinity and the Sonship of the Transfigured Christ. On this innate divinity, upon this recognised Sonship, is the brotherhood of all men based—one life, one glory which shall be revealed, [605] and one divine relationship. Today, on a large scale (even when by-passing the implications of divinity) the glory of man and his fundamental relationships are already a fact in the human consciousness. Accompanying those characteristics which as yet remain deplorable and which would appear to negate all claims to divinity, is the wonder of man’s achievement, of his triumph over nature. The glory of scientific attainment and the magnificent evidence of creative art—both modern and ancient—leave no room to question man’s divinity. Here then are the “greater things” of which Christ spoke, and here again is the triumph of the Christ within the human heart.

3. Trong cuộc Biến hình, Đức Christ đã mặc khải vinh quang vốn nội tại trong mọi người. Bản chất thấp tam phân—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—được cho thấy là phủ phục trước vinh quang đã được mặc khải. Trong khoảnh khắc ấy, khi Đức Christ Nội Tại ở trong hình tướng hồng trần, khi nhân loại được đại diện bởi ba vị tông đồ, một Tiếng Nói đã đến từ Nhà của Đức Cha để công nhận thiên tính được mặc khải và tư cách Con của Đức Christ Biến Hình. Trên thiên tính nội tại này, trên tư cách Con đã được công nhận này, tình huynh đệ của toàn thể nhân loại được đặt nền tảng—một sự sống, một vinh quang sẽ được mặc khải, [605] và một mối liên hệ thiêng liêng. Ngày nay, trên một quy mô lớn (ngay cả khi bỏ qua các hàm ý của thiên tính), vinh quang của con người và các mối liên hệ căn bản của y đã là một sự kiện trong tâm thức nhân loại. Đi kèm với những đặc tính vẫn còn đáng buồn và dường như phủ nhận mọi khẳng định về thiên tính, là điều kỳ diệu trong những thành tựu của con người, trong chiến thắng của y trước thiên nhiên. Vinh quang của thành tựu khoa học và bằng chứng huy hoàng của nghệ thuật sáng tạo—cả hiện đại lẫn cổ xưa—không để lại chỗ nào cho việc nghi ngờ thiên tính của con người. Vậy nên đây là những “điều lớn lao hơn” mà Đức Christ đã nói đến, và ở đây một lần nữa là chiến thắng của Đức Christ trong trái tim con người.

Why this triumph of the Christ consciousness must always be spoken of in terms of religion, of church-going and of orthodox belief is one of the incredible triumphs of the forces of evil. To be a citizen of the Kingdom of God does not mean that one must necessarily be a member of some one of the orthodox churches. The divine Christ in the human heart can express itself in many different departments of human living—in politics, in the arts, in economic expression and in true social living, in science and in religion. It might be wise here to remember that the only time it is recorded that Christ (as an adult) visited the Temple of the Jews, He created a disturbance! Humanity is passing from glory to glory and, in the long panorama of history, this is strikingly observable. The glory is today revealed in every department of human activity, and the Transfiguration of those who are on the crest of the human wave of civilisation is very close at hand.

Tại sao chiến thắng của tâm thức Christ này lại luôn luôn phải được nói đến bằng ngôn ngữ của tôn giáo, của việc đi nhà thờ và của niềm tin chính thống, là một trong những chiến thắng khó tin của các mãnh lực của điều ác. Là một công dân của Thiên Giới không có nghĩa là nhất thiết phải là thành viên của một trong các giáo hội chính thống nào đó. Đức Christ thiêng liêng trong trái tim con người có thể biểu lộ chính mình trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống nhân loại—trong chính trị, trong nghệ thuật, trong biểu hiện kinh tế và trong đời sống xã hội chân chính, trong khoa học và trong tôn giáo. Có lẽ ở đây nên nhớ rằng lần duy nhất được ghi lại khi Đức Christ (lúc trưởng thành) viếng Đền Thờ của người Do Thái, Ngài đã gây ra một sự xáo trộn! Nhân loại đang đi từ vinh quang này sang vinh quang khác và, trong toàn cảnh dài rộng của lịch sử, điều này có thể được quan sát một cách nổi bật. Vinh quang ngày nay được mặc khải trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, và cuộc Biến hình của những ai đang ở trên đỉnh làn sóng văn minh nhân loại đã rất gần kề.

4. Finally, in the triumph of the Crucifixion or (as it is more accurately called in the East) the Great Renunciation, Christ, for the first time, anchored on earth a tenuous thread of the divine Will, as it issued from the Father’s House (Shamballa), passed into the understanding custody of the Kingdom of God, and through the medium of the Christ was brought to the attention of mankind. Through the instrumentality of certain great Sons of God the three divine aspects or characteristics of the divine Trinity—will, [606] love and intelligence—have become a part of human thinking and aspiration. Christians are apt to forget that the crisis in the final hours of the Christ was not in those spent upon the Cross, but during those spent in the Garden of Gethsemane, when His will—in agony and almost despair—was submerged in that of the Father. “Father,” He said, “not my will but Thine be done.” (Luke XXII. 42.)

4. Sau cùng, trong chiến thắng của cuộc Đóng Đinh hay (như được gọi chính xác hơn ở phương Đông) Sự Từ Bỏ Vĩ Đại, Đức Christ, lần đầu tiên, đã neo trên trần gian một sợi chỉ mong manh của Ý Chí thiêng liêng, khi nó phát ra từ Nhà của Đức Cha (Shamballa), đi vào sự gìn giữ đầy thấu hiểu của Thiên Giới, và qua trung gian của Đức Christ được đưa đến sự chú ý của nhân loại. Qua công cụ của một số Con của Thượng đế vĩ đại, ba phương diện hay đặc tính thiêng liêng của Tam Vị thiêng liêng—ý chí, [606] tình thương và trí tuệ—đã trở thành một phần trong tư tưởng và khát vọng của nhân loại. Các tín đồ Cơ Đốc giáo thường quên rằng cuộc khủng hoảng trong những giờ phút cuối cùng của Đức Christ không nằm ở những giờ trên Thập Giá, mà ở những giờ trong Vườn Gethsemane, khi ý chí của Ngài—trong đau đớn và gần như tuyệt vọng—đã bị nhấn chìm trong ý chí của Đức Cha. “Lạy Cha,” Ngài nói, “xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha.” (Luke XXII. 42.)

Something new, yet planned for from the very depth of time, happened then in that quiet garden; Christ, representing mankind, anchored or established the Father’s will on earth and made it possible for intelligent humanity to carry it out. Hitherto, that Will had been known in the Father’s House; it had been recognised and adapted to world need by the spiritual Hierarchy, working under the Christ, and thus took shape as the divine Plan. Today, because of what Christ did in His moment of crisis hundreds of years ago, humanity can add its efforts to the working out of that Plan. The will-to-good of the Father’s House can become the goodwill of the Kingdom of God and be transformed into right human relations by intelligent humanity. Thus the direct line or thread of God’s will reaches now from the highest place to the lowest point and can, in due time, become a cable of ascension for the sons of men and of descent for the loving, living spirit of God.

Khi ấy, trong khu vườn tĩnh lặng đó, một điều mới mẻ nhưng đã được hoạch định từ tận chiều sâu của thời gian đã xảy ra; Đức Christ, đại diện cho nhân loại, đã neo giữ hay thiết lập ý chí của Đức Cha trên trần gian và làm cho nhân loại trí tuệ có thể thực hiện nó. Trước đó, Ý Chí ấy đã được biết đến trong Nhà của Đức Cha; nó đã được Thánh Đoàn tinh thần, hoạt động dưới quyền Đức Christ, công nhận và thích ứng với nhu cầu thế giới, và như thế đã thành hình như Thiên Cơ. Ngày nay, nhờ điều Đức Christ đã làm trong khoảnh khắc khủng hoảng của Ngài hàng trăm năm trước, nhân loại có thể thêm nỗ lực của mình vào việc thực hiện Thiên Cơ ấy. Ý Chí-hướng Thiện của Nhà của Đức Cha có thể trở thành thiện chí của Thiên Giới và được chuyển đổi thành những tương quan nhân loại đúng đắn bởi nhân loại trí tuệ. Như vậy, đường dây hay sợi chỉ trực tiếp của ý chí Thượng đế nay vươn từ nơi cao nhất đến điểm thấp nhất và, đúng thời điểm, có thể trở thành một dây cáp thăng lên cho những người con của nhân loại và là đường giáng xuống cho tinh thần sống động đầy yêu thương của Thượng đế.

I would have you forget distance, remoteness and vagueness and realise that I am talking of exact and literal happenings on our planet. I am dealing with recognitions and occurrences and with factual events which are the conscious possession of many. The Christ of history and the Christ in the human heart are planetary facts.

Tôi muốn các bạn quên đi khoảng cách, sự xa xôi và tính mơ hồ, và chứng nghiệm rằng tôi đang nói về những sự kiện chính xác và theo nghĩa đen trên hành tinh chúng ta. Tôi đang bàn đến những sự công nhận và những biến cố, cùng những sự kiện thực tế mà nhiều người đang sở hữu một cách hữu thức. Đức Christ của lịch sử và Đức Christ trong trái tim con người là những sự kiện hành tinh.

There is one aspect of this return of the Christ which is never touched upon and to which no reference is ever made. I, a humble disciple of the Christ, would like here to speak of it. It is the factor of what this coming out again among men, this return to outer everyday activity, will mean to the Christ as He faces it. How will He feel when the hour of His appearance arrives?

Có một phương diện của sự trở lại này của Đức Christ mà không bao giờ được đề cập đến và cũng không bao giờ được nhắc tới. Tôi, một đệ tử khiêm tốn của Đức Christ, muốn nói về nó ở đây. Đó là yếu tố liên quan đến việc sự xuất hiện trở lại giữa loài người này, sự trở lại với hoạt động thường nhật bên ngoài này, sẽ có ý nghĩa gì đối với chính Đức Christ khi Ngài đối diện với nó. Ngài sẽ cảm thấy thế nào khi giờ xuất hiện của Ngài đến?

[607] There is a great initiation spoken of in the New Testament, to which we have given the name of the Ascension. Of it we know nothing. Only a few items of information are brought to us in the Gospel story: the fact of the mountain top, of attendant watchers, and of the words of Christ, assuring them that He was not leaving them. Then the clouds received Him out of their sight. There were none present who could go further with Him. Their consciousness could not penetrate to the place where He had chosen to go; they even misinterpreted His words and only in a vague and mystical sense has humanity ever understood His disappearance or the significance of His persistent but unobserved Presence. The watchers were assured by two of the Knowers of God Who were also present that He would come again in like manner. He ascended. The clouds received Him and today the clouds which cover our planet are waiting to reveal Him.

[607] Có một cuộc điểm đạo lớn được nói đến trong Tân Ước, mà chúng ta đã đặt tên là Sự Thăng Thiên. Về điều đó chúng ta không biết gì cả. Chỉ có vài chi tiết thông tin được đưa đến cho chúng ta trong câu chuyện Phúc Âm: sự kiện đỉnh núi, những người quan sát đi kèm, và lời của Đức Christ bảo đảm với họ rằng Ngài không rời bỏ họ. Rồi những đám mây đã đón Ngài khuất khỏi tầm mắt họ. Không ai hiện diện ở đó có thể đi xa hơn với Ngài. Tâm thức của họ không thể xuyên thấu đến nơi mà Ngài đã chọn để đi tới; họ thậm chí còn hiểu sai lời Ngài và chỉ trong một ý nghĩa mơ hồ và thần bí mà nhân loại từng hiểu sự biến mất của Ngài hay ý nghĩa của Sự Hiện Diện bền bỉ nhưng không được nhận thấy của Ngài. Những người quan sát được hai thức giả của Thượng đế cũng hiện diện ở đó bảo đảm rằng Ngài sẽ trở lại theo cùng cách ấy. Ngài đã thăng lên. Những đám mây đã đón Ngài, và ngày nay những đám mây bao phủ hành tinh chúng ta đang chờ để mặc khải Ngài.

He is now waiting to descend. This descent into our unhappy world of men can present Him with no alluring picture. From the quiet mountain retreat where He has waited, guided and watched over humanity, and where He has trained His disciples, initiates and the New Group of World Servers, He must come forth and take His place prominently on the world stage, and take His part in the great drama which is there being played. This time, He will play His part, not in obscurity as He previously did, but before the eyes of the entire world. Because of the smallness of our little planet, and because of the prevalence of the radio, television and the rapidity of communication, His part will be watched by all, and the prospect must surely, for Him, hold certain horror, must present its tests and major adjustments, plus painful and unavoidable experience. He does not come as the omnipotent God of man’s ignorant creation, but as the Christ, the Founder of the Kingdom of God on Earth, to complete the work He started, and again to demonstrate divinity in far more difficult circumstances.

Hiện nay Ngài đang chờ để giáng xuống. Sự giáng xuống này vào thế giới bất hạnh của loài người chúng ta không thể trình ra trước Ngài một bức tranh hấp dẫn nào. Từ nơi ẩn cư yên tĩnh trên núi, nơi Ngài đã chờ đợi, hướng dẫn và canh chừng nhân loại, và nơi Ngài đã huấn luyện các đệ tử, các điểm đạo đồ và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian của mình, Ngài phải bước ra và đảm nhận vị trí nổi bật trên sân khấu thế giới, và tham gia vào vở đại kịch đang được diễn ra ở đó. Lần này, Ngài sẽ đóng vai của mình không phải trong âm thầm như trước kia, mà trước mắt toàn thế giới. Vì hành tinh nhỏ bé của chúng ta quá nhỏ, và vì sự phổ biến của radio, truyền hình và tốc độ truyền thông, vai trò của Ngài sẽ được mọi người theo dõi, và viễn cảnh ấy hẳn phải, đối với Ngài, chứa đựng một nỗi kinh hoàng nào đó, phải trình ra những thử thách và những điều chỉnh lớn lao, cộng thêm những kinh nghiệm đau đớn và không thể tránh khỏi. Ngài không đến như vị Thượng đế toàn năng do sự ngu dốt của con người tạo dựng, mà đến như Đức Christ, Đấng Sáng Lập Thiên Giới trên Trái Đất, để hoàn tất công việc Ngài đã khởi sự, và một lần nữa chứng minh thiên tính trong những hoàn cảnh khó khăn hơn rất nhiều.

The Christ suffers, however, far more from those in [608] His Own household than from those in the outer world; His work is more impeded by the advanced aspirant than by the intelligent thinker. It was not the cruelty of the outer world of men which caused the depths of sorrow to the Christ; it was His Own disciples, plus the massed sorrow—spread over the entire cycle of living—past, present and future—of humanity.

Tuy nhiên, Đức Christ chịu đau khổ nhiều hơn từ những người [608] trong chính gia đình của Ngài hơn là từ những người ở thế giới bên ngoài; công việc của Ngài bị cản trở nhiều hơn bởi người chí nguyện tiến bộ hơn là bởi nhà tư tưởng thông minh. Không phải sự tàn nhẫn của thế giới bên ngoài của loài người đã gây nên chiều sâu đau buồn cho Đức Christ; mà là chính các đệ tử của Ngài, cộng với nỗi buồn khổ tích tụ của nhân loại—trải rộng trên toàn bộ chu kỳ sống—quá khứ, hiện tại và tương lai.

He comes to correct the mistakes and the misrepresentations of those who have dared to interpret His simple words in terms of their own ignorance, and to recognise those whose faithful service has made His return possible. He too is facing a major test, preparatory to a great initiation, and when He has passed the test and fulfilled His task He will pass to a still more exalted position in the Father’s House or to some distant place of service where only the most exalted can follow Him; His present position will then be taken by the One Whom He has prepared and trained.

Ngài đến để sửa chữa những sai lầm và những xuyên tạc của những kẻ đã dám giải thích những lời đơn giản của Ngài theo sự ngu dốt của riêng họ, và để công nhận những ai mà sự phụng sự trung tín của họ đã làm cho sự trở lại của Ngài trở nên khả hữu. Chính Ngài cũng đang đối diện với một thử thách lớn, chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo lớn, và khi Ngài đã vượt qua thử thách và hoàn thành nhiệm vụ của mình, Ngài sẽ chuyển sang một vị trí còn cao siêu hơn nữa trong Nhà của Đức Cha hoặc đến một nơi phụng sự xa xôi nào đó mà chỉ những Đấng cao siêu nhất mới có thể theo Ngài; khi ấy vị trí hiện tại của Ngài sẽ được đảm nhận bởi Đấng mà Ngài đã chuẩn bị và huấn luyện.

But before all this can happen He must again enter the public arena, play His part in world affairs and prove the scope of His mission. He will gather around Him, in the flesh, His chosen associates and advisors; these will not be the ones who gathered around Him in those earlier simpler days, but those members of our human family who today recognise Him and are preparing to work with Him as far as in them lies. It is a different world to which He is now planning to return and this is largely due to the intellectual development of the mass of men. This presents Him with stupendous difficulties, for the intellects of men must now be reached and not just their hearts (as in the earlier days), if the Will of God is to be intelligently carried out on Earth. His major task is surely the establishing of right human relations in every department of human living. I would ask you to use your divine imagination and endeavour to think out what must be the implications of the task which confronts Him; I would ask you to ponder on the difficulties which He must inevitably face—the difficulty, above all, of mass intellectual wrong emphasis.

Nhưng trước khi tất cả điều này có thể xảy ra, Ngài phải một lần nữa bước vào đấu trường công cộng, đóng vai của mình trong các công việc thế giới và chứng minh tầm mức sứ mệnh của Ngài. Ngài sẽ quy tụ quanh mình, trong xác thân, những cộng sự viên và cố vấn được chọn; họ sẽ không phải là những người đã tụ họp quanh Ngài trong những ngày đơn giản hơn trước kia, mà là những thành viên của gia đình nhân loại chúng ta ngày nay nhận biết Ngài và đang chuẩn bị làm việc với Ngài trong mức độ khả năng của họ. Thế giới mà Ngài hiện đang dự định trở lại là một thế giới khác, và điều này phần lớn là do sự phát triển trí tuệ của đại đa số loài người. Điều đó đặt ra cho Ngài những khó khăn khổng lồ, vì giờ đây trí tuệ của con người phải được tiếp cận chứ không chỉ trái tim của họ (như trong những ngày trước kia), nếu Ý Chí của Thượng Đế phải được thực hiện một cách thông minh trên Trái Đất. Nhiệm vụ chính của Ngài chắc chắn là thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại. Tôi muốn các bạn dùng sự tưởng tượng sáng tạo thiêng liêng của mình và cố gắng suy nghĩ xem những hàm ý của nhiệm vụ đang đối diện Ngài phải là gì; tôi muốn các bạn suy ngẫm về những khó khăn mà Ngài tất yếu phải đối mặt—trên hết là khó khăn của sự nhấn mạnh sai lầm về trí tuệ nơi quần chúng.

[609] He, the Representative of the love of God, is asked to work again in the world arena wherein His earlier message has been negated, forgotten or misinterpreted for two thousand years, and wherein hate and separativeness have distinguished all men everywhere. This will plunge Him into a foreign atmosphere and into a situation wherein all His divine resources will be needed and will be tried to the uttermost. The generally accepted idea that He will return as a triumphant warrior, omnipotent and irresistible, has surely no basis in fact. That He will ultimately lead His people, humanity, into Jerusalem is a fact, founded on a secure foundation; but it will not be into a Jewish city called Jerusalem, but into “the place of peace” (as the word Jerusalem means). A careful consideration of the world situation today, and a dedicated use of the imagination, will reveal to the sincere thinker how appalling is the task which He has undertaken. But He has again “set His face to go up to Jerusalem” (Luke IX. 51); He will again appear and guide mankind into a civilisation and a state of consciousness in which right human relations and worldwide cooperation for the good of all will be the universal keynote. He will—through the New Group of World Servers and the men of goodwill—complete His association with the Will of God (His Father’s business) in such a manner that the eternal will-to-good will be translated by humanity into goodwill and right relations. Then His task will be done; He will be free again to leave us, this time not to return, but to leave the world of men in the hands of that great spiritual Server Who will be the new Head of the Hierarchy, the Church Invisible.

[609] Ngài, Đấng Đại Diện cho tình thương của Thượng đế, được yêu cầu lại hoạt động trong đấu trường thế giới, nơi thông điệp trước kia của Ngài đã bị phủ nhận, bị quên lãng hoặc bị xuyên tạc suốt hai ngàn năm, và nơi hận thù cùng tính chia rẽ đã đánh dấu mọi người ở khắp nơi. Điều này sẽ đẩy Ngài vào một bầu khí quyển xa lạ và vào một tình huống trong đó mọi nguồn lực thiêng liêng của Ngài sẽ cần đến và sẽ bị thử thách đến mức cùng cực. Quan niệm thường được chấp nhận rằng Ngài sẽ trở lại như một chiến binh chiến thắng, toàn năng và không thể cưỡng lại, chắc chắn không có cơ sở trong thực tế. Việc cuối cùng Ngài sẽ dẫn dắt dân của Ngài, tức nhân loại, vào Jerusalem là một sự thật, được đặt trên nền tảng vững chắc; nhưng đó sẽ không phải là một thành phố Do Thái gọi là Jerusalem, mà là “nơi chốn của hòa bình” (như từ Jerusalem có nghĩa). Sự xem xét cẩn trọng tình hình thế giới ngày nay, cùng với việc sử dụng sự tưởng tượng một cách tận hiến, sẽ cho nhà tư tưởng chân thành thấy nhiệm vụ mà Ngài đã đảm nhận đáng sợ đến mức nào. Nhưng Ngài lại một lần nữa đã “quyết tâm đi lên Jerusalem” (Luke IX. 51); Ngài sẽ lại xuất hiện và hướng dẫn nhân loại vào một nền văn minh và một trạng thái tâm thức trong đó những tương quan nhân loại đúng đắn và sự hợp tác toàn cầu vì lợi ích của tất cả sẽ là chủ âm phổ quát. Ngài sẽ—thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người nam và nữ thiện chí—hoàn tất sự liên kết của Ngài với Ý Chí của Thượng Đế (công việc của Cha Ngài) theo cách mà Ý Chí-hướng Thiện vĩnh cửu sẽ được nhân loại chuyển dịch thành thiện chí và những tương quan đúng đắn. Khi đó nhiệm vụ của Ngài sẽ hoàn tất; Ngài sẽ lại được tự do rời chúng ta, lần này không trở lại nữa, mà để lại thế giới loài người trong tay Đấng Phụng Sự tinh thần vĩ đại sẽ là vị Tân Thủ Lãnh của Thánh Đoàn, Giáo Hội Vô Hình.

The question now arises: In what way can we be of service? How can we aid during this preparatory stage?

Câu hỏi nay được đặt ra là: Chúng ta có thể phụng sự bằng cách nào? Chúng ta có thể trợ giúp ra sao trong giai đoạn chuẩn bị này?

On this point I have but little to say. The whole idea of His return is so familiar to you in its anticipatory nature (though not in the factual details as I have hinted them to you) that I find it hard to say anything practical or which will arrest your attention.

Về điểm này tôi chỉ có ít điều để nói. Toàn bộ ý tưởng về sự trở lại của Ngài quá quen thuộc với các bạn trong tính chất được mong đợi của nó (dù không phải trong các chi tiết thực tế như tôi đã gợi ý cho các bạn) đến nỗi tôi thấy khó nói điều gì thực tiễn hoặc có thể thu hút sự chú ý của các bạn.

[610] What the members of the spiritual Hierarchy are doing is much indeed; those disciples who are in conscious touch with the Masters of the Wisdom—or, if you prefer the term, with the senior disciples of the Christ—are working day and night in order to establish such confidence, correct attitudes and understanding of the divine spiritual “push” or enterprise that His way will be made easier. They and their groups of lesser disciples, aspirants and students of the realities stand unitedly behind the Christ and can thus enable Him to accomplish His purpose. Their major realisation is that of a cyclic crisis in the spiritual life of our planet; it is one which has been anticipated in the Father’s House (Shamballa) for thousands of years. They have registered the fact that, for the first time in human history, all the three spiritual centres or groups through which God works are unitedly focussed on the same objective. Shamballa, the Spiritual Hierarchy, and Humanity (the Father’s House, the Kingdom of God, and the world of men) are all striving in one vast movement for an intensification of the Light of the World. This Light will irradiate in a fashion unknown before, not only the Father’s House, which is the source of all our planetary light, but also the spiritual centre from which have come all Those Teachers and World Saviours Who have stood before men and said, as did Hermes, the Buddha and the Christ: “I am the Light of the World.” This light will now flood the world of men, bringing illumination to men’s minds and light into the dark places of human living.

[610] Điều mà các thành viên của Thánh Đoàn tinh thần đang làm quả thật rất nhiều; những đệ tử đang tiếp xúc hữu thức với các Chân sư Minh Triết—hoặc, nếu các bạn thích thuật ngữ ấy, với các đệ tử cao cấp của Đức Christ—đang làm việc ngày đêm để thiết lập sự tin cậy, những thái độ đúng đắn và sự thấu hiểu về “xung lực” hay công cuộc tinh thần thiêng liêng, để con đường của Ngài được dễ dàng hơn. Họ và các nhóm gồm những đệ tử nhỏ hơn, những người chí nguyện và những đạo sinh của các thực tại đang hiệp nhất đứng sau Đức Christ và nhờ đó có thể giúp Ngài hoàn thành mục đích của mình. Chứng nghiệm chủ yếu của họ là về một cuộc khủng hoảng theo chu kỳ trong đời sống tinh thần của hành tinh chúng ta; đó là một cuộc khủng hoảng đã được dự liệu trong Nhà của Đức Cha (Shamballa) từ hàng ngàn năm. Họ đã ghi nhận sự kiện rằng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cả ba trung tâm tinh thần hay ba nhóm mà qua đó Thượng đế hoạt động đều đang cùng tập trung vào một mục tiêu. Shamballa, Thánh Đoàn Tinh Thần, và Nhân Loại (Nhà của Đức Cha, Thiên Giới, và thế giới loài người) đều đang nỗ lực trong một chuyển động rộng lớn duy nhất nhằm tăng cường Ánh Sáng của Thế Gian. Ánh Sáng này sẽ chiếu rọi theo một cách chưa từng biết trước đây, không chỉ Nhà của Đức Cha, vốn là nguồn của mọi ánh sáng hành tinh của chúng ta, mà còn cả trung tâm tinh thần từ đó đã xuất hiện tất cả những Đấng Huấn Sư và Đấng Cứu Rỗi Thế Gian đã đứng trước loài người và nói, như Hermes, Đức Phật và Đức Christ đã nói: “Ta là Ánh Sáng của Thế Gian.” Ánh sáng này giờ đây sẽ tràn ngập thế giới loài người, mang sự soi sáng đến cho trí tuệ con người và ánh sáng vào những nơi tối tăm của đời sống nhân loại.

It is light and—above all else—“life more abundantly” which Christ will bring, and until He brings it we know not what it signifies; we cannot realise the revelation which this will entail and the new possibilities which will open before us. But through Him, light and life are on their way, to be interpreted and applied in terms of goodwill and of right human relations. For this the spiritual Hierarchy is preparing. This time the Christ will not come alone, for His co-workers will come with Him. His experience and Theirs will be the reverse of the previous one, for this time [611] every eye will see Him, every ear will hear Him, and every mind will pass judgment upon Him.

Chính ánh sáng và—trên hết mọi sự—“sự sống dồi dào hơn” là điều Đức Christ sẽ mang đến, và cho đến khi Ngài mang điều đó đến, chúng ta không biết nó hàm ý gì; chúng ta không thể chứng nghiệm sự mặc khải mà điều này sẽ kéo theo và những khả năng mới sẽ mở ra trước chúng ta. Nhưng qua Ngài, ánh sáng và sự sống đang trên đường đến, để được diễn giải và áp dụng theo thiện chí và những tương quan nhân loại đúng đắn. Vì điều này mà Thánh Đoàn tinh thần đang chuẩn bị. Lần này Đức Christ sẽ không đến một mình, vì các cộng sự viên của Ngài sẽ đến cùng Ngài. Kinh nghiệm của Ngài và của họ sẽ ngược lại với lần trước, vì lần này [611] mọi mắt sẽ thấy Ngài, mọi tai sẽ nghe Ngài, và mọi trí tuệ sẽ phán xét Ngài.

Therefore I say that you can freely aid in the reconstruction work which the Christ proposes, if you will familiarise yourselves and all men whom you can contact with the following facts:

Vì vậy tôi nói rằng các bạn có thể tự do trợ giúp trong công cuộc tái thiết mà Đức Christ đề xuất, nếu các bạn làm cho chính mình và tất cả những người mà các bạn có thể tiếp xúc trở nên quen thuộc với các sự kiện sau đây:

1. That the return of Christ is imminent.

1. Rằng sự trở lại của Đức Christ đã gần kề.

2. That the Christ, immanent in every heart, can be evoked in recognition of His appearance.

2. Rằng Đức Christ, nội tại trong mọi trái tim, có thể được gợi lên để công nhận sự xuất hiện của Ngài.

3. That the circumstances of His return are only symbolically related in the world Scriptures; this may produce a vital change in the preconceived ideas of humanity.

3. Rằng các hoàn cảnh của sự trở lại của Ngài chỉ được liên hệ một cách biểu tượng trong các Thánh Kinh của thế giới; điều này có thể tạo ra một thay đổi sống còn trong những ý niệm có sẵn của nhân loại.

4. That the major required preparation is a world at peace; however, that peace must be based on an educated goodwill, which will lead inevitably to right human relations, and therefore to the establishment (figuratively speaking) of lines of light between nation and nation, religion and religion, group and group, and man and man.

4. Rằng sự chuẩn bị chủ yếu cần có là một thế giới hòa bình; tuy nhiên, hòa bình ấy phải được đặt trên nền tảng của một thiện chí được giáo dục, điều sẽ tất yếu dẫn đến những tương quan nhân loại đúng đắn, và do đó dẫn đến việc thiết lập (nói theo nghĩa bóng) những đường ánh sáng giữa quốc gia với quốc gia, tôn giáo với tôn giáo, nhóm với nhóm, và người với người.

If you can succeed in presenting these four ideas to the world at large, thus overcoming the intelligent criticism that all that is said is too vague, prophetic, and visionary, you will do much. It is possible, surely, that the ancient truism, “the mind is the slayer of the real” may be fundamentally true where the mass of humanity is concerned, and that the purely intellectual approach (which rejects the vision and refuses to accept the unprovable) may be far more at fault than the anticipations of the Knowers of God and the expectant multitude.

Nếu các bạn có thể thành công trong việc trình bày bốn ý tưởng này cho thế giới nói chung, nhờ đó vượt qua sự phê bình thông minh cho rằng tất cả những gì được nói ra đều quá mơ hồ, quá tiên tri và quá viễn kiến, thì các bạn sẽ làm được rất nhiều. Chắc hẳn có thể là chân lý cổ xưa, “trí tuệ là kẻ sát hại cái thực,” về căn bản là đúng khi liên quan đến đại đa số nhân loại, và rằng cách tiếp cận thuần túy trí tuệ (vốn bác bỏ linh ảnh và từ chối chấp nhận điều không thể chứng minh) có thể sai lầm nhiều hơn hẳn những dự cảm của các thức giả của Thượng đế và của đám đông đang mong đợi.

The intelligence of divinity is vested in the spiritual Hierarchy, and that Hierarchy is today composed of Those Who have united in Themselves both the intellect and the intuition, the practical and the apparently impractical, the factual way of life and the way of the man who sees a vision. There are also the people who must be found in the market [612] place of daily life; these are the people who must be trained in the divine recognitions which are essentially physical plane responses to the new expansions of consciousness. The Christ Who will return will not be like the Christ Who (apparently) departed. He will not be a “man of sorrows”; He will not be a silent, pensive figure; He will be the enunciator of spiritual statements which will not necessitate interpretation (and give rise to misinterpretation) because He will be present to indicate the true meaning.

Trí tuệ của thiên tính được ký thác trong Thánh Đoàn tinh thần, và Thánh Đoàn ấy ngày nay gồm những Đấng đã hợp nhất trong chính Các Ngài cả trí tuệ lẫn trực giác, cái thực tiễn lẫn cái dường như không thực tiễn, lối sống thực tế và con đường của con người nhìn thấy linh ảnh. Cũng có những người phải được tìm thấy nơi chợ [612] của đời sống hằng ngày; đây là những người phải được huấn luyện trong những sự công nhận thiêng liêng vốn chủ yếu là những đáp ứng của cõi hồng trần đối với những sự mở rộng mới của tâm thức. Đức Christ sẽ trở lại sẽ không giống Đức Christ đã (dường như) ra đi. Ngài sẽ không là một “người của đau khổ”; Ngài không là một hình tượng trầm lặng, trầm tư; Ngài sẽ là Đấng tuyên xướng những phát biểu tinh thần không cần đến sự diễn giải (và gây ra sự diễn giải sai) bởi vì Ngài sẽ hiện diện để chỉ ra ý nghĩa chân thực.

He has been for two thousand years the supreme Head of the Church Invisible, the spiritual Hierarchy, composed of disciples of all faiths. He recognises and loves those who are not Christian but who retain their allegiance to their Founders—the Buddha, Mohammed, and others. He cares not what the faith is, if the objective is love of God and of humanity. If men look for the Christ Who left His disciples centuries ago they will fail to recognise the Christ Who is in process of returning. The Christ has no religious barriers in His consciousness. It matters not to Him of what faith a man may call himself.

Suốt hai ngàn năm, Ngài đã là vị Thủ Lãnh tối cao của Giáo Hội Vô Hình, Thánh Đoàn tinh thần, gồm các đệ tử của mọi tín ngưỡng. Ngài công nhận và yêu thương những người không phải là tín đồ Cơ Đốc nhưng vẫn giữ lòng trung thành với các Đấng Sáng Lập của họ—Đức Phật, Mohammed, và những vị khác. Ngài không quan tâm tín ngưỡng là gì, nếu mục tiêu là tình thương đối với Thượng đế và đối với nhân loại. Nếu con người tìm kiếm Đức Christ đã rời các đệ tử của Ngài nhiều thế kỷ trước, họ sẽ không nhận ra Đức Christ đang trong tiến trình trở lại. Đức Christ không có những rào cản tôn giáo trong tâm thức của Ngài. Đối với Ngài, một người tự xưng thuộc tín ngưỡng nào không quan trọng.

The Son of God is on His way and He cometh not alone. His advance guard is already here and the Plan which they must follow is already made and clear. Let recognition be the aim.

Con của Thượng đế đang trên đường đến và Ngài không đến một mình. Đội tiên phong của Ngài đã ở đây rồi và Thiên Cơ mà họ phải theo đã được lập ra và rõ ràng. Hãy lấy sự công nhận làm mục tiêu.

PREPARATION FOR THE REAPPEARANCE OF THE CHRIST—CHUẨN BỊ CHO SỰ TÁI XUẤT HIỆN CỦA ĐỨC CHRIST

June 1947

Tháng Sáu 1947

I have much to say here as a sequence to my previous communication to you—and here I am speaking to all aspirants and disciples. The opportunity is so great at this time that I seek to face you with your choices, leaving you free to make up your own minds. What you decide will, however, affect definitely the remainder of your life activity. Herein lies your challenge. What I have to say is of a relatively simple nature—so simple that it may seem to you as [613] in the nature of an anti-climax. Yet simple as the problem may be, it is most difficult to solve. Your reaction to what I have to say will depend upon the nature of your sense of values, and not upon any capacity for abstruse reasoning. The average human aspirant and the intelligent human being are apt to emphasise the present complexity of human affairs and events; these they believe are engulfing men in every land. They thus provide—for themselves—an answerable alibi.

Ở đây tôi có nhiều điều để nói như một sự tiếp nối thông điệp trước của tôi gửi đến các bạn—và ở đây tôi đang nói với tất cả những người chí nguyện và các đệ tử. Cơ hội vào lúc này lớn lao đến nỗi tôi muốn đặt các bạn trước những chọn lựa của mình, để các bạn tự do quyết định. Tuy nhiên, điều các bạn quyết định sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến phần còn lại của hoạt động đời sống các bạn. Chính trong đó có thách thức của các bạn. Điều tôi phải nói có tính chất tương đối đơn giản—đơn giản đến mức có thể dường như với các bạn [613] là một sự hụt hẫng. Tuy nhiên, dù vấn đề có thể đơn giản đến đâu, nó lại cực kỳ khó giải quyết. Phản ứng của các bạn đối với điều tôi sắp nói sẽ tùy thuộc vào bản chất của ý thức về giá trị của các bạn, chứ không tùy thuộc vào bất kỳ khả năng lý luận sâu xa nào. Người chí nguyện trung bình và con người thông minh thường nhấn mạnh đến sự phức tạp hiện tại của các công việc và biến cố nhân loại; họ tin rằng những điều này đang nhấn chìm con người ở mọi xứ sở. Như thế họ tự cung cấp cho mình một cái cớ có thể biện minh được.

The emphasis of what I have to say is related to the message which I recently sent out re the Return of the Christ. That message carried its own challenge and the questions which it aroused in every sincere human heart are:

Trọng tâm điều tôi phải nói liên hệ đến thông điệp mà gần đây tôi đã gửi ra về sự Trở Lại của Đức Christ. Thông điệp ấy mang theo chính thách thức của nó, và những câu hỏi mà nó khơi dậy trong mọi trái tim con người chân thành là:

1. How can I personally meet this challenge?

1. Cá nhân tôi có thể đáp ứng thách thức này như thế nào?

2. What can I specifically do?

2. Cụ thể tôi có thể làm gì?

3. What are the steps which I and every aspirant should take?

3. Tôi và mọi người chí nguyện nên thực hiện những bước nào?

These questions mean one thing to one person and another thing to another. Some of the replies will emerge as you read what I have to say. I am writing here for people who are disciples of the Christ, but my words can convey meaning to all sincere thinkers and Christian believers.

Những câu hỏi này có nghĩa này với người này và nghĩa khác với người khác. Một số câu trả lời sẽ xuất hiện khi các bạn đọc điều tôi phải nói. Ở đây tôi viết cho những người là đệ tử của Đức Christ, nhưng lời tôi có thể chuyển tải ý nghĩa đến mọi nhà tư tưởng chân thành và mọi tín đồ Cơ Đốc.

The complexities and difficulties of this post-war period are very great. The closer an aspirant is to the source of spiritual light and power, the more difficult is his problem, and at the same time the clearer will be his understanding of the facts. Looking away from the detail of the foreground, which ever assumes undue proportions, and divorcing oneself from those details as they deluge one’s daily life with perplexities and anxieties, the problem is relatively simple and twofold in nature.

Những phức tạp và khó khăn của thời kỳ hậu chiến này là rất lớn. Người chí nguyện càng gần nguồn ánh sáng và quyền năng tinh thần bao nhiêu thì vấn đề của y càng khó bấy nhiêu, và đồng thời sự thấu hiểu của y về các sự kiện sẽ càng rõ ràng hơn. Khi nhìn xa khỏi các chi tiết ở tiền cảnh, vốn luôn mang những tỷ lệ quá mức, và tách mình ra khỏi những chi tiết ấy khi chúng tràn ngập đời sống hằng ngày của một người bằng những điều rối rắm và lo âu, thì vấn đề tương đối đơn giản và có tính nhị phân.

First of all, the outer, physical war is only just over; two years is a short time since the firing ceased and no country has as yet recovered from its dire effects. There is no true intercourse between nations and no true understanding. Today the United States permits the raising of [614] funds in order to arm the Zionists against Great Britain, an ally and a friendly power; it is authorising propaganda against Russia, also an allied and friendly power. There is no true effort anywhere (carried on with fixed determination and right compromise) to bring to an end those economic conditions which are the major cause of war and which are responsible for breeding hatred among nations.

Trước hết, cuộc chiến tranh bên ngoài, hồng trần, chỉ vừa mới chấm dứt; hai năm là một thời gian ngắn kể từ khi tiếng súng ngừng nổ và chưa có quốc gia nào hồi phục khỏi những hậu quả khủng khiếp của nó. Không có sự giao tiếp chân thực giữa các quốc gia và không có sự thấu hiểu chân thực. Ngày nay Hoa Kỳ cho phép quyên [614] tiền để vũ trang cho những người Zionist chống lại Anh Quốc, một đồng minh và một cường quốc thân hữu; nước này cho phép tuyên truyền chống lại Nga, cũng là một đồng minh và một cường quốc thân hữu. Không ở đâu có nỗ lực chân thực nào (được tiến hành với quyết tâm kiên định và sự thỏa hiệp đúng đắn) nhằm chấm dứt những điều kiện kinh tế là nguyên nhân chính của chiến tranh và là nguyên nhân gây sinh hận thù giữa các quốc gia.

Secondly (and of still more importance from the angle of the spiritual values, though less easily perceived), the Forces of Evil are still active; they may have been driven back, but they are still powerful; they are still subtly working and are still striving for a firmer foothold; they are still cleverly feeding world anxiety and world insecurity in order to create another point of world tension.

Thứ hai (và còn quan trọng hơn nhiều từ góc độ các giá trị tinh thần, dù khó nhận thấy hơn), các Mãnh Lực của Điều Ác vẫn còn hoạt động; chúng có thể đã bị đẩy lùi, nhưng chúng vẫn còn mạnh; chúng vẫn đang hoạt động một cách tinh vi và vẫn đang cố gắng giành lấy một chỗ đứng vững chắc hơn; chúng vẫn đang khéo léo nuôi dưỡng sự lo âu và bất an của thế giới để tạo ra một điểm tập trung nhất tâm khác của thế giới.

Until these two sources of world tension are recognised and correctly handled, the life of the aspirant, and still more of the disciple, is exceedingly hard. You may retort (and truly) that the life of all who suffered through the war, the fate of the starving people who are still taking the brunt of the attack in Europe—the inhabitants of Great Britain, Italy, China, Poland, and the Balkans, plus Germany and Japan, who are responsible for the difficulty, and all who are engulfed in the results of Germany’s attack upon the world—is hard beyond endurance, and must therefore be shared by all aspirants and disciples. That is indeed true. But the more advanced thinkers and workers have far more than the general fate to endure. They—if they open their hearts and minds—participate not only in the difficulties confronting the mass of men everywhere, but they are also aware of the spiritual possibilities ahead, of the task to be completed in sealing “the door where evil dwells,” and of the stupendous and unique circumstances which are faced by those who recognise and accept the imminent return of the Christ.

Chừng nào hai nguồn căng thẳng thế giới này chưa được nhận ra và xử lý đúng đắn, đời sống của người chí nguyện, và còn hơn thế nữa của đệ tử, vẫn cực kỳ khó khăn. Các bạn có thể đáp lại (và đúng như vậy) rằng đời sống của tất cả những ai đã chịu khổ qua chiến tranh, số phận của những người đang chết đói vẫn còn đang gánh chịu phần nặng nề của cuộc tấn công ở châu Âu—cư dân của Anh Quốc, Ý, Trung Hoa, Ba Lan, và vùng Balkan, cộng thêm Đức và Nhật, những nước chịu trách nhiệm về khó khăn này, và tất cả những ai bị nhấn chìm trong hậu quả của cuộc tấn công của Đức lên thế giới—đều khó khăn vượt quá sức chịu đựng, và vì thế phải được mọi người chí nguyện và đệ tử cùng chia sẻ. Điều đó quả thật đúng. Nhưng những nhà tư tưởng và người hoạt động tiến bộ hơn phải chịu đựng nhiều hơn số phận chung. Họ—nếu mở lòng và mở trí—không chỉ tham dự vào những khó khăn đang đối diện đại đa số loài người ở khắp nơi, mà còn ý thức được những khả năng tinh thần ở phía trước, nhiệm vụ phải hoàn thành trong việc niêm phong “cánh cửa nơi điều ác ngự trị,” và những hoàn cảnh to lớn và độc nhất mà những ai nhận ra và chấp nhận sự trở lại gần kề của Đức Christ đang phải đối diện.

As the disciple confronts both the inner and the outer events and possibilities, he is apt to register a sense of complete frustration; he longs to help, but knows not what [615] to do; his grasp of the menacing difficulties, his analysis of his resources and of those with whom he works, and his clarity of perception as to the forces ranged against him, make him feel inclined to sit back and say: What is the use of any effort I can make? Why not let the two forces of good and evil, of the Black Lodge and the Spiritual Hierarchy, fight it out alone? Why not permit the pressure of the evolutionary current, eventually and at long last, to bring cessation to the fight and the triumph of the good? Why attempt to do it now?

Khi đệ tử đối diện cả những biến cố và khả năng bên trong lẫn bên ngoài, y thường ghi nhận một cảm giác hoàn toàn thất vọng; y khao khát được giúp đỡ, nhưng không biết [615] phải làm gì; sự nắm bắt của y về những khó khăn đe dọa, sự phân tích của y về các nguồn lực của mình và của những người cùng làm việc với y, và sự rõ ràng trong nhận thức của y về các mãnh lực xếp hàng chống lại y, khiến y cảm thấy muốn ngồi lùi lại và nói: Mọi nỗ lực tôi có thể làm thì có ích gì? Tại sao không để cho hai mãnh lực thiện và ác, của Hắc đoàn và Thánh Đoàn Tinh Thần, tự chiến đấu với nhau? Tại sao không để áp lực của dòng tiến hoá cuối cùng và sau một thời gian dài mang lại sự chấm dứt cuộc chiến và chiến thắng của điều thiện? Tại sao lại cố gắng làm điều đó ngay bây giờ?

These are natural reactions when considering the present field of conflict, the prevalent greed and the international and racial antagonisms, and the selfish motives which control so many national units, plus the dull apathy of the masses, and in particular, the growing suspicion and distrust between the United States and Russia—a situation in which both groups are almost equally to blame. This war-generating situation is fostered behind the scenes by the highly clever and strongly anti-communistic power of the Roman Catholic Church, with its organised political plans—plans which are growing notably in the United States. To these, the intelligent thinker adds the reactionary activities in every land, and the fight for oil which governs the policies of Russia, the United States and Great Britain. To these factors must be added today the struggle between Hindu and Moslem for the control of India, and the fight over Palestine—fomented by the Zionists, and not by the Jews as a whole—a fight in which the Zionists prevented the displaced Jewish persons (only 20% of the whole) from discovering how welcome they are in many countries throughout the world; a fight which has greed and not any love of Palestine behind it, and which is governed by financial interests and not by the humanitarian spirit which the Zionists claim and which would force them to accept the offers made by Great Britain, Canada, Chile, Belgium and many other lands.

Đó là những phản ứng tự nhiên khi xem xét chiến trường hiện tại, lòng tham đang lan tràn và những đối kháng quốc tế và chủng tộc, cùng những động cơ ích kỷ đang kiểm soát quá nhiều đơn vị quốc gia, cộng thêm sự thờ ơ trì trệ của quần chúng, và đặc biệt là sự nghi ngờ và mất lòng tin ngày càng tăng giữa Hoa Kỳ và Nga—một tình huống trong đó cả hai nhóm gần như đều có lỗi như nhau. Tình huống tạo chiến tranh này được nuôi dưỡng sau hậu trường bởi quyền lực rất khôn khéo và chống cộng mạnh mẽ của Giáo hội Công giáo La Mã, với những kế hoạch chính trị có tổ chức của nó—những kế hoạch đang phát triển đáng kể tại Hoa Kỳ. Vào đó, nhà tư tưởng thông minh còn thêm các hoạt động phản động ở mọi xứ sở, và cuộc tranh giành dầu mỏ đang chi phối chính sách của Nga, Hoa Kỳ và Anh Quốc. Vào các yếu tố này ngày nay còn phải thêm cuộc đấu tranh giữa người Hindu và người Hồi giáo để kiểm soát Ấn Độ, và cuộc tranh chấp về Palestine—do những người Zionist kích động, chứ không phải bởi toàn thể người Do Thái—một cuộc tranh chấp trong đó những người Zionist đã ngăn cản những người Do Thái bị di dời (chỉ chiếm 20% toàn bộ) khám phá ra rằng họ được chào đón biết bao tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới; một cuộc tranh chấp mà đằng sau nó là lòng tham chứ không phải bất kỳ tình yêu nào đối với Palestine, và bị chi phối bởi các quyền lợi tài chính chứ không phải bởi tinh thần nhân đạo mà những người Zionist tuyên bố và điều lẽ ra buộc họ phải chấp nhận những đề nghị do Anh Quốc, Canada, Chile, Bỉ và nhiều quốc gia khác đưa ra.

These factors, when realised by thinking men and women, produce a deep discouragement and a sense of futility and hopelessness. Instead, they should be faced [616] with courage, with truth and understanding, as well as with the willingness to speak factually, with simplicity and with love in the effort to expose the truth and clarify the problems which must be solved. The opposing forces of entrenched evil must be routed before He for Whom all men wait, the Christ, can come.

Những yếu tố này, khi được những người nam và nữ biết suy nghĩ nhận ra, tạo ra một sự chán nản sâu sắc và một cảm giác vô ích, vô vọng. Thay vào đó, chúng nên được đối diện [616] <i]với lòng can đảm, với chân lý và sự thấu hiểu, cũng như với thiện chí nói ra sự thật một cách thực tế, đơn giản và với tình thương trong nỗ lực phơi bày chân lý và làm sáng tỏ những vấn đề phải được giải quyết. Những mãnh lực đối nghịch của điều ác cố thủ phải bị đánh tan trước khi Ngài, Đấng mà mọi người đang chờ đợi, Đức Christ, có thể đến.

The knowledge that He is ready and anxious publicly to appear to His loved humanity only adds to the sense of general frustration, and another very vital question arises: For what period of time must we endure, struggle and fight? The reply comes with clarity; He will come unfailingly when a measure of peace has been restored, when the principle of sharing is at least in process of controlling economic affairs, and when the churches have begun to clean house. Then He can and will come; then the Kingdom of God will be publicly recognised and will no longer be a thing of dreams and of ideals.

Sự hiểu biết rằng Ngài đã sẵn sàng và tha thiết muốn công khai xuất hiện với nhân loại yêu dấu của Ngài chỉ càng làm tăng cảm giác thất vọng chung, và một câu hỏi rất quan trọng khác nảy sinh: Chúng ta còn phải chịu đựng, đấu tranh và chiến đấu trong bao lâu nữa? Câu trả lời đến một cách rõ ràng; Ngài chắc chắn sẽ đến khi một mức độ hòa bình nào đó đã được phục hồi, khi nguyên tắc chia sẻ ít nhất đang trong tiến trình kiểm soát các công việc kinh tế, và khi các giáo hội đã bắt đầu dọn dẹp nhà cửa. Khi đó Ngài có thể và sẽ đến; khi đó Thiên Giới sẽ được công khai công nhận và sẽ không còn là một điều của mộng tưởng và lý tưởng nữa.

Aspirants are prone to ask the question as to why the Christ does not come—in the pomp and ceremony which the churches ascribe to the event—and by His coming demonstrate His divine power, prove convincingly the authority and the potency of God, and thus end the cycle of agony and distress. The answers to this are many. It must be remembered that the main objective of the Christ will not be to demonstrate power but to make public the already existent Kingdom of God. Again, when He came before He was unrecognised, and is there any guarantee that this time it would be different? You may ask why would He not be recognised? Because men’s eyes are blinded with the tears of self-pity and not of contrition; because the hearts of men are still corroded with a selfishness which the agony of war has not cured; because the standards of value are the same as in the corrupt Roman Empire which saw His first appearance, only in those days these standards were localised and not universal; because those who could recognise Him and who hope and long for His coming are not willing to make the needed sacrifices, and thus ensure the success of His advent.

Những người chí nguyện thường đặt câu hỏi tại sao Đức Christ không đến—trong sự huy hoàng và nghi lễ mà các giáo hội gán cho biến cố ấy—và bằng sự đến của Ngài chứng minh quyền năng thiêng liêng của mình, chứng tỏ một cách thuyết phục thẩm quyền và uy lực của Thượng đế, và như thế chấm dứt chu kỳ đau đớn và khổ sở. Có nhiều câu trả lời cho điều này. Cần nhớ rằng mục tiêu chính của Đức Christ sẽ không phải là chứng minh quyền năng mà là công khai Thiên Giới vốn đã hiện hữu. Hơn nữa, khi Ngài đến trước kia, Ngài đã không được nhận ra, và có gì bảo đảm rằng lần này sẽ khác? Các bạn có thể hỏi tại sao Ngài lại không được nhận ra? Bởi vì mắt con người bị làm mù bởi những giọt nước mắt tự thương hại chứ không phải bởi sự ăn năn; bởi vì trái tim con người vẫn còn bị ăn mòn bởi một tính ích kỷ mà nỗi đau chiến tranh chưa chữa lành; bởi vì các tiêu chuẩn giá trị vẫn giống như trong Đế quốc La Mã suy đồi đã chứng kiến lần xuất hiện đầu tiên của Ngài, chỉ khác là trong những ngày ấy các tiêu chuẩn này mang tính địa phương chứ không phổ quát; bởi vì những ai có thể nhận ra Ngài và hy vọng, khao khát sự đến của Ngài lại không sẵn lòng thực hiện những hy sinh cần thiết, và như thế bảo đảm sự thành công cho cuộc giáng lâm của Ngài.

[617] Another factor militating against His being recognised, and one which will probably surprise you, is the fact that there are so many exceedingly good people in the world today, so many selfless workers and disciples and so many truly saintly people, that the spiritual competition would call forth a degree of holiness on His part which would negate His appropriation of a physical body of a calibre which would enable Him to manifest among men. This was not the case two thousand years ago; it is, however, the case today, so great is human advancement and the success of the evolutionary process. To enable Him today to walk among men requires a world which will have in it enough effective workers and spiritually-minded people to change the atmosphere of our planet; then and only then, the Christ can and will, come. I am not, however, presenting you with an impossibility.

[617] Một yếu tố khác chống lại việc Ngài được nhận ra, và có lẽ sẽ làm các bạn ngạc nhiên, là sự kiện ngày nay có quá nhiều người cực kỳ tốt trên thế giới, quá nhiều người hoạt động vô ngã và đệ tử, và quá nhiều người thật sự thánh thiện, đến nỗi sự cạnh tranh tinh thần sẽ đòi hỏi nơi Ngài một mức độ thánh thiện mà sẽ phủ nhận việc Ngài sử dụng một thể xác có phẩm cấp cho phép Ngài biểu lộ giữa loài người. Điều này không phải là trường hợp cách đây hai ngàn năm; tuy nhiên, ngày nay lại là như vậy, lớn lao đến thế là sự tiến bộ của con người và thành công của tiến trình tiến hoá. Để ngày nay Ngài có thể đi lại giữa loài người đòi hỏi một thế giới trong đó có đủ những người hoạt động hữu hiệu và những người có tâm trí tinh thần để thay đổi bầu khí quyển của hành tinh chúng ta; khi đó và chỉ khi đó, Đức Christ mới có thể và sẽ đến. Tuy nhiên, tôi không trình bày với các bạn một điều bất khả.

Modern esotericism and the success of scientific, spiritual living are now so widely recognised that the consciousness of men everywhere has been profoundly affected; this will be increasingly so as the hope of His coming and the preparation for it spread among men. The situation indicates no divine frustration (of which that of the world disciples might be the reflection), nor does it indicate any inability to appear. Rather, it indicates the wonder of the divinity in man and the success of the divine plan for man. Divinity, however, awaits the expression of man’s free will.

Huyền bí học hiện đại và thành công của đời sống tinh thần khoa học hiện nay đã được công nhận rộng rãi đến mức tâm thức con người ở khắp nơi đã bị tác động sâu sắc; điều này sẽ ngày càng như vậy khi niềm hy vọng về sự đến của Ngài và sự chuẩn bị cho nó lan rộng giữa loài người. Tình hình không cho thấy sự thất vọng thiêng liêng nào (mà sự thất vọng của các đệ tử thế giới có thể là phản ánh), cũng không cho thấy bất kỳ sự bất lực nào trong việc xuất hiện. Trái lại, nó cho thấy điều kỳ diệu của thiên tính trong con người và sự thành công của Thiên Cơ dành cho con người. Tuy nhiên, thiên tính chờ đợi sự biểu lộ của ý chí tự do của con người.

Another answer is that when Christ comes forth from the Place of Power, bringing His disciples, the Masters of the Wisdom, with Him, that Place of Love and Power will be situated on earth, and will be publicly recognised; the effects of that appearance and of that recognition will be terrific, calling forth an equally terrific onslaught and effort by the Forces of Evil—unless humanity itself has first sealed “the door where evil dwells.” This must be done by the establishing of right human relations.

Một câu trả lời khác là khi Đức Christ bước ra từ Nơi Quyền Năng, mang theo các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh Triết, nơi Tình Thương và Quyền Năng ấy sẽ tọa lạc trên trần gian, và sẽ được công khai công nhận; những hiệu quả của sự xuất hiện ấy và của sự công nhận ấy sẽ vô cùng dữ dội, gọi ra một cuộc tấn công và nỗ lực cũng dữ dội tương đương từ các Mãnh Lực của Điều Ác—trừ phi chính nhân loại trước hết đã niêm phong “cánh cửa nơi điều ác ngự trị.” Điều này phải được thực hiện bằng việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn.

Still another reply, upon which I would ask you to ponder, is that Christ and the spiritual Hierarchy never—no matter what the incentive may be—infringe upon the [618] divine right of humanity to achieve freedom by fighting for freedom, individually, nationally and internationally. When true freedom covers the earth, we shall see the end of tyranny, politically and religiously. I refer here not to modern democracy, which is at present a philosophy of wishful thinking, but to that state of the realm in which the people themselves will rule; these people will not tolerate authoritarianism in any church, or totalitarianism in any political system or government; they will not accept or permit the rule of any body of men who undertake to tell them what they must believe in order to be saved, or what government they must accept. I say not that these desirable objectives must be accomplished facts on earth before Christ comes. I do say that this attitude to religion and politics must be generally accepted as necessary to all men, and that steps must have been successfully taken in the direction of right human relations.

Còn một câu trả lời nữa, mà tôi muốn các bạn suy ngẫm, là Đức Christ và Thánh Đoàn tinh thần không bao giờ—dù động cơ là gì—xâm phạm [618] quyền thiêng liêng của nhân loại được đạt tới tự do bằng cách chiến đấu cho tự do, trên bình diện cá nhân, quốc gia và quốc tế. Khi tự do chân chính bao phủ địa cầu, chúng ta sẽ thấy chấm dứt bạo quyền, cả về chính trị lẫn tôn giáo. Ở đây tôi không nói đến nền dân chủ hiện đại, hiện nay chỉ là một triết lý của ước muốn viển vông, mà nói đến trạng thái của quốc gia trong đó chính người dân sẽ cai quản; những người dân ấy sẽ không dung thứ chủ nghĩa độc đoán trong bất kỳ giáo hội nào, hay chủ nghĩa toàn trị trong bất kỳ hệ thống chính trị hay chính phủ nào; họ sẽ không chấp nhận hay cho phép sự cai trị của bất kỳ tập thể người nào tự nhận quyền bảo họ phải tin điều gì để được cứu rỗi, hay phải chấp nhận chính phủ nào. Tôi không nói rằng những mục tiêu đáng mong muốn này phải là những sự kiện đã hoàn tất trên trần gian trước khi Đức Christ đến. Tôi quả thật nói rằng thái độ này đối với tôn giáo và chính trị phải được nhìn nhận rộng rãi là cần thiết cho mọi người, và rằng những bước đi phải được thực hiện thành công theo hướng những tương quan nhân loại đúng đắn.

These are the things which the New Group of World Servers, the disciples, the aspirants and the men of goodwill everywhere must believe and teach in preparation for His coming.

Đó là những điều mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, các đệ tử, những người chí nguyện và những người nam và nữ thiện chí ở khắp nơi phải tin tưởng và giảng dạy để chuẩn bị cho sự đến của Ngài.

There is, therefore, nothing to offset the sense of frustration (which is undeniably present and based on factual conditions) but the acceptance and the development of a state of mind which will be founded on a belief in the veracity of the historical records which bear witness to many advents at crucial times in human affairs, and to many world Saviours—of Whom the Christ was the greatest. The right and constructive attitude must also be based on an innate recognition of the existence of the Christ and of His Presence with us at all times; it must be grounded in the knowledge that the war—with all its unspeakable horrors, its cruelties and its cataclysmic disasters—was but the broom of the Father of all, sweeping away obstructions in the path of His returning Son. It would have been well-nigh impossible to prepare for the coming in the face of the pre-war conditions. Upon these facts the New Group of World Servers must today take their stand. They must recognise the obstructing factors, [619] but must also refuse to be frustrated by them; they must be aware of the hindrances (many of them financial and based on material greed), and then employ such skill in action and such business acumen that these hindrances will be overcome; they must walk clear-eyed through world difficulties and—holding His five-pointed star before them—pass unscathed and successful through the midst of all frustrating factors.

Vì vậy, không có gì để hóa giải cảm giác thất vọng (vốn chắc chắn hiện diện và dựa trên những điều kiện thực tế) ngoài việc chấp nhận và phát triển một trạng thái tâm trí được đặt nền trên niềm tin vào tính chân thực của các ghi chép lịch sử làm chứng cho nhiều cuộc giáng lâm vào những thời điểm then chốt trong các công việc nhân loại, và cho nhiều Đấng Cứu Rỗi thế gian—mà Đức Christ là vĩ đại nhất. Thái độ đúng đắn và xây dựng cũng phải được đặt nền trên một sự công nhận nội tại về sự hiện hữu của Đức Christ và về Sự Hiện Diện của Ngài với chúng ta vào mọi lúc; nó phải được đặt nền trên tri thức rằng chiến tranh—với tất cả những kinh hoàng không thể nói nên lời, những tàn bạo và những thảm họa mang tính đại hồng thủy của nó—chỉ là cây chổi của Đức Cha của tất cả, đang quét sạch những chướng ngại trên con đường của Người Con đang trở lại của Ngài. Hầu như không thể nào chuẩn bị cho sự đến ấy trong bối cảnh các điều kiện trước chiến tranh. Trên những sự kiện này, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ngày nay phải đứng vững. Họ phải nhận ra các yếu tố cản trở, [619] nhưng cũng phải từ chối để bị chúng làm cho thất vọng; họ phải ý thức được các chướng ngại (nhiều trong số đó là tài chính và dựa trên lòng tham vật chất), rồi vận dụng kỹ năng trong hành động và sự sắc bén trong công việc đến mức các chướng ngại ấy sẽ được vượt qua; họ phải bước đi với đôi mắt sáng suốt xuyên qua những khó khăn của thế giới và—giữ ngôi sao năm cánh của Ngài trước mặt—đi qua giữa mọi yếu tố gây thất vọng mà không hề hấn gì và thành công.

I seek not here to deal with the usual spiritual frustrations or wish to waste time with the ordinary platitudes and the well understood replies, which do not aid because they remain platitudes and are not translated into action. I shall deal here with only two factors which condition the present opportunity; these can be regarded as so completely hindering that, unless they are removed, there will be a long delay before Christ can return. They are:

Ở đây tôi không tìm cách bàn đến những sự thất vọng tinh thần thông thường hay muốn lãng phí thời gian với những lời sáo rỗng quen thuộc và những câu trả lời đã được hiểu rõ, vốn không giúp ích gì vì chúng vẫn chỉ là sáo ngữ và không được chuyển thành hành động. Ở đây tôi sẽ chỉ bàn đến hai yếu tố tác động lên cơ hội hiện tại; chúng có thể được xem là cản trở hoàn toàn đến mức, nếu không được loại bỏ, sẽ có một sự trì hoãn lâu dài trước khi Đức Christ có thể trở lại. Chúng là:

1. The inertia of the average aspirant or spiritually-minded man.

1. Tính trì trệ của người chí nguyện trung bình hay người có tâm trí tinh thần.

2. The lack of money for the work of preparation.

2. Sự thiếu tiền cho công việc chuẩn bị.

Both these hindrances are fundamentally based on one and the same thing: materialism—one on the materialism of physical effort, and the other on that of a world attitude.

Cả hai chướng ngại này về căn bản đều dựa trên cùng một điều: chủ nghĩa vật chất—một cái dựa trên chủ nghĩa vật chất của nỗ lực hồng trần, và cái kia dựa trên chủ nghĩa vật chất của một thái độ thế giới.

Let us keep these themes simple and down on the level at which most people work and think today; let us be intensely practical and force ourselves to look at conditions as they are, thus arriving at a better knowledge of ourselves and of our motives.

Chúng ta hãy giữ những chủ đề này đơn giản và ở ngay cấp độ mà phần lớn mọi người đang làm việc và suy nghĩ ngày nay; hãy cực kỳ thực tiễn và buộc mình nhìn vào các điều kiện như chúng đang là, nhờ đó đi đến một tri thức tốt hơn về chính mình và về các động cơ của mình.

1. The Inertia of the Average Spiritually-Minded Man

1. Tính trì trệ của người có tâm trí tinh thần trung bình

The average aspirant, man of goodwill, or disciple, is constantly aware of the challenge of the times and the opportunity which spiritual events may offer. The desire to do good and to accomplish spiritual ends is ceaselessly gnawing away within his consciousness. No one who loves his fellowmen, who has a dream of seeing the Kingdom of [620] God materialise on earth, or who is conscious of the awakening of the masses—slow though it may be—to the higher spiritual values, but is thoroughly dissatisfied. He realises that what he contributes of help to these desirable objectives is little indeed. He knows that his spiritual life is a side issue; it is something which he keeps carefully to himself and which he is frequently afraid to mention to his nearest and his dearest; he tries to dovetail his spiritual efforts into his ordinary outer life, struggling to find time and opportunity for it in a gentle, futile and innocuous manner. He finds himself helpless before the task of organising and rearranging his affairs so that the spiritual way of living may dominate; he searches for alibis for himself and eventually rationalises himself so successfully that he ends by deciding that he is doing the best he can in the given circumstances. The truth is that he is doing so little that probably one hour out of the twenty-four (or perhaps two) would cover the time given to the Master’s work; he hides behind the alibi that his home obligations prevent his doing more, and he does not realise that—given tact and loving understanding—his home environment can and must be the field in which he triumphs; he forgets that there exist no circumstances in which the spirit of man can be defeated or in which the aspirant cannot meditate, think, talk and prepare the way for the coming of the Christ, provided he cares enough and knows the meaning of sacrifice and silence. Circumstances and environment offer no true obstacle to the spiritual life.

Người chí nguyện trung bình, người thiện chí, hay đệ tử, luôn luôn ý thức được thách thức của thời đại và cơ hội mà các biến cố tinh thần có thể đem lại. Ước muốn làm điều thiện và hoàn thành các mục tiêu tinh thần không ngừng gặm nhấm trong tâm thức y. Không ai yêu thương đồng loại, có giấc mơ thấy Thiên Giới [620] hiện hình trên trần gian, hay ý thức được sự thức tỉnh của quần chúng—dù có chậm đến đâu—đối với các giá trị tinh thần cao hơn, mà lại không hoàn toàn bất mãn. Y nhận ra rằng điều y đóng góp để trợ giúp cho những mục tiêu đáng mong muốn ấy quả thật quá ít. Y biết rằng đời sống tinh thần của mình chỉ là một vấn đề phụ; đó là điều y giữ cẩn thận cho riêng mình và thường sợ nhắc đến với những người gần gũi và thân yêu nhất; y cố gắng lồng ghép các nỗ lực tinh thần của mình vào đời sống bên ngoài thông thường, vật lộn để tìm thời gian và cơ hội cho nó theo một cách nhẹ nhàng, vô ích và vô hại. Y thấy mình bất lực trước nhiệm vụ tổ chức và sắp xếp lại công việc của mình sao cho lối sống tinh thần có thể chi phối; y tìm kiếm những cái cớ cho chính mình và cuối cùng biện minh cho mình thành công đến mức kết thúc bằng việc quyết định rằng y đang làm hết sức mình trong những hoàn cảnh đã cho. Sự thật là y làm quá ít đến nỗi có lẽ một giờ trong hai mươi bốn giờ (hoặc có thể hai giờ) là đủ bao trùm thời gian dành cho công việc của Chân sư; y ẩn sau cái cớ rằng những bổn phận gia đình ngăn cản y làm nhiều hơn, và y không nhận ra rằng—nếu có sự khéo léo và thấu hiểu đầy yêu thương—môi trường gia đình của y có thể và phải là cánh đồng nơi y chiến thắng; y quên rằng không có hoàn cảnh nào trong đó tinh thần của con người có thể bị đánh bại hay trong đó người chí nguyện không thể tham thiền, suy nghĩ, nói năng và chuẩn bị con đường cho sự đến của Đức Christ, miễn là y đủ quan tâm và biết ý nghĩa của hy sinh và im lặng. Hoàn cảnh và môi trường không tạo ra chướng ngại thực sự nào cho đời sống tinh thần.

Perhaps he hides behind the alibi of poor health, and frequently behind that of imaginary ills. He gives so much time to the care of himself that the hours which could be given to the Master’s work are directly and seriously curtailed; he is so preoccupied with feeling tired, or tending a cold, or with fancied heart difficulties, that his “body consciousness” steadily develops until it eventually dominates his life; it is then too late to do anything. This is particularly the case with people who have reached their fiftieth year or over; the trouble then is predominantly with women. It is [621] an alibi which it is hard not to use, for many feel tired and ailing and this, as the years go by, is apt to get worse. The only cure for the creeping inertia is to ignore the body and take your joy in the livingness of service. This leads to a longer life. I speak here not of definite disease or of serious physical liabilities; to these right care and attention must be duly given; I speak to the thousands of ailing men and women who are preoccupied with taking care of themselves, and so waste hours of the time which could be given to the service of humanity. I ask those who are seeking to tread the Path of Discipleship to release those many hours spent in needless self-care into the service of the Hierarchy.

Có lẽ y ẩn mình sau cái cớ sức khỏe kém, và thường còn sau cả những bệnh tật tưởng tượng. Y dành quá nhiều thời gian để chăm sóc bản thân đến nỗi những giờ lẽ ra có thể dành cho công việc của Chân sư bị cắt giảm trực tiếp và nghiêm trọng; y quá bận tâm với cảm giác mệt mỏi, hay chăm sóc một cơn cảm lạnh, hay với những rối loạn tim mạch do tưởng tượng ra, đến nỗi “tâm thức thể xác” của y phát triển đều đặn cho đến khi cuối cùng chi phối đời sống của y; khi ấy thì đã quá muộn để làm gì nữa. Điều này đặc biệt đúng với những người đã bước sang tuổi năm mươi hoặc hơn; khi đó, rắc rối chủ yếu lại thuộc về phụ nữ. Đó là [621] một cái cớ rất khó không dùng đến, vì nhiều người cảm thấy mệt mỏi và đau yếu, và điều này, khi năm tháng trôi qua, dễ trở nên tệ hơn. Phương thuốc duy nhất cho tính trì trệ đang len lỏi ấy là phớt lờ thể xác và tìm niềm vui của bạn trong sức sống của sự phụng sự. Điều này dẫn đến một đời sống lâu dài hơn. Ở đây tôi không nói đến bệnh tật rõ rệt hay những nhược điểm hồng trần nghiêm trọng; đối với những điều ấy, sự chăm sóc và lưu tâm đúng mức phải được dành cho một cách thích đáng; tôi đang nói với hàng ngàn những người nam và nữ đau yếu luôn bận tâm chăm sóc bản thân, và vì thế lãng phí những giờ thời gian lẽ ra có thể dành cho việc phụng sự nhân loại. Tôi yêu cầu những ai đang tìm cách bước đi trên Con Đường Đệ Tử hãy giải phóng nhiều giờ đã tiêu tốn vào việc chăm sóc bản thân không cần thiết ấy để đưa vào việc phụng sự Thánh Đoàn.

Still another alibi leading to inertia is the fear people have of speaking about the things of the Kingdom of God to others; they are afraid of being rebuffed, or of being thought peculiar, or of intruding. They therefore preserve silence, lose opportunity, and never discover how ready people are for the discussion of realities, for the comfort and hope which the thought of Christ’s return can bring, or for the sharing of spiritual light. This is essentially a form of spiritual cowardice, but it is so widespread that it is responsible for the loss of millions of hours of world service.

Một cái cớ khác nữa dẫn đến tính trì trệ là nỗi sợ mà người ta có khi nói với người khác về những điều thuộc Thiên Giới; họ sợ bị gạt đi, hay bị cho là kỳ quặc, hay bị xem là xâm phạm. Vì thế họ giữ im lặng, đánh mất cơ hội, và không bao giờ khám phá ra rằng con người sẵn sàng biết bao cho việc thảo luận về các thực tại, cho sự an ủi và hy vọng mà tư tưởng về sự trở lại của Đức Christ có thể mang đến, hay cho việc chia sẻ ánh sáng tinh thần. Về bản chất, đây là một hình thức hèn nhát tinh thần, nhưng nó quá phổ biến đến nỗi phải chịu trách nhiệm cho sự mất mát hàng triệu giờ phụng sự thế giới.

There are, brother of mine, other alibis, but the three above noted are the most common; the release of the majority of aspirants from these hindering conditions would bring to the service of the Christ (to use the language of the labour union) so many man-hours and so much overtime endeavour that the task of those who admit no alibis would be greatly lightened and the coming of the Christ would be much nearer than it is today. What we call inertia is not simply psychological in nature. The qualities of matter or substance itself are involved. Inertia is the slowest and the lowest aspect of material substance and is called in the Eastern philosophy, the quality of tamas. It has to be transmuted into a higher quality, that of activity or (giving it its technical term) its rajasic quality, and this leads later on to the highest quality of rhythm or sattva. To the rhythm of life under which the Christ and the spiritual Hierarchy operate, and which [622] vibrates in harmony with human need and hierarchical response, I call you not. I do, however, call you to demonstrate the quality of activity and to refuse to hide behind alibis. It is essential that all aspirants recognise that in the place where they now are, among the people who are their karmic associates, and with the psychological and physical equipment with which they are endowed, they can and must work. I shall not labour this subject. There is no possible coercion or undue pressure exerted in the service of the Hierarchy. The situation is clear and simple. There are at the present time three great activities going on:

Còn có những cái cớ khác nữa, huynh đệ của tôi, nhưng ba điều nêu trên là thông thường nhất; việc giải thoát đa số người chí nguyện khỏi những điều kiện cản trở này sẽ đem vào việc phụng sự Đức Christ (nói theo ngôn ngữ của công đoàn lao động) biết bao nhiêu giờ công và biết bao nỗ lực làm thêm giờ, đến nỗi nhiệm vụ của những ai không chấp nhận cái cớ nào sẽ được nhẹ đi rất nhiều và sự quang lâm của Đức Christ sẽ gần hơn nhiều so với ngày nay. Điều chúng ta gọi là quán tính không chỉ đơn giản có bản chất tâm lý học. Các phẩm tính của vật chất hay của chính chất liệu cũng có liên quan. Quán tính là phương diện chậm nhất và thấp nhất của chất liệu vật chất và trong triết học Đông phương được gọi là phẩm tính tamas. Nó phải được chuyển hoá thành một phẩm tính cao hơn, đó là hoạt động hay (nói theo thuật ngữ kỹ thuật của nó) phẩm tính rajas, và điều này về sau dẫn đến phẩm tính cao nhất là nhịp điệu hay sattva. Tôi không kêu gọi bạn đến với nhịp điệu của sự sống mà dưới đó Đức Christ và Thánh đoàn tinh thần hoạt động, và vốn [622] rung động hài hòa với nhu cầu của nhân loại và sự đáp ứng của Thánh đoàn. Tuy nhiên, tôi kêu gọi bạn biểu lộ phẩm tính hoạt động và từ chối ẩn sau những cái cớ. Điều cốt yếu là mọi người chí nguyện phải nhận ra rằng ngay tại nơi họ đang ở, giữa những người là các cộng sự nghiệp quả của họ, và với bộ máy tâm lý và hồng trần mà họ được phú cho, họ có thể và phải làm việc. Tôi sẽ không nói dài thêm về đề tài này. Trong việc phụng sự Thánh Đoàn, không có sự cưỡng ép nào khả dĩ có được hay áp lực quá mức nào được thi hành. Tình hình rõ ràng và đơn giản. Hiện nay có ba hoạt động lớn đang diễn ra:

First, the activity to be felt in the “centre where the will of God is known,” that will-to-good which has carried all creation on toward a greater glory and a steadily deepening, intelligent responsiveness; this today is creatively endeavouring to bring in the new world order, the order of the Kingdom of God under the physical supervision of the Christ. This might be regarded as the externalisation of the spiritual Hierarchy of our planet. Of this, the return of the Christ to visible activity will be the sign and the symbol.

Thứ nhất, hoạt động được cảm nhận trong “trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến,” tức Ý Chí-hướng Thiện đã đưa toàn thể tạo vật tiến về một vinh quang lớn hơn và một sự đáp ứng thông minh ngày càng sâu sắc; ngày nay nó đang nỗ lực một cách sáng tạo để đưa vào trật tự thế giới mới, trật tự của Thiên Giới dưới sự giám sát hồng trần của Đức Christ. Điều này có thể được xem như sự ngoại hiện của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta. Dấu hiệu và biểu tượng của điều này sẽ là sự trở lại của Đức Christ vào hoạt động hữu hình.

Secondly, the critical activity which is conditioning the spiritual Hierarchy, from the Christ Himself down to the lowest aspirant to be found on the periphery of that centre where the love of God has full play. There it is fully realised that (in the words of St. Paul) “the whole creation groaneth and travaileth in pain together until now, waiting for the manifestation of the Sons of God”. It is for that manifestation that They now prepare, these “Sons of God Who are the Sons of Men”; it is for this coming forth to outer active service that They are already—one by one—entering into outer activity upon the physical plane. They are not recognised for what They are, but They go about the Father’s business, demonstrating goodwill, seeking to enlarge the horizon of humanity, and thus prepare the way for the One Whom They serve, the Christ, the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men.

Thứ hai, hoạt động có tính quyết định đang tác động lên Thánh đoàn tinh thần, từ chính Đức Christ cho đến người chí nguyện thấp nhất có thể được tìm thấy ở chu vi của trung tâm nơi tình thương của Thượng đế được biểu lộ trọn vẹn. Tại đó người ta hoàn toàn nhận ra rằng (theo lời Thánh Paul) “muôn vật thọ tạo cùng than thở và quặn đau cho đến nay, chờ đợi sự biểu lộ của các Con của Thượng đế”. Chính cho sự biểu lộ ấy mà Các Ngài hiện đang chuẩn bị, những “Con của Thượng đế là những người con của nhân loại” này; chính cho sự xuất hiện này vào phụng sự tích cực bên ngoài mà Các Ngài đã—từng vị một—đi vào hoạt động bên ngoài trên cõi hồng trần. Các Ngài không được nhận biết đúng như bản chất của Các Ngài, nhưng Các Ngài đang làm công việc của Cha, biểu lộ thiện chí, tìm cách mở rộng chân trời của nhân loại, và như thế chuẩn bị con đường cho Đấng mà Các Ngài phụng sự, Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư và là Huấn sư của cả thiên thần lẫn loài người.

Thirdly, there is humanity itself, “the centre which we call the race of men”—a centre at present full of chaos, turmoil [623] and confusion, a humanity full of pain, bewilderment, disturbance, yet mentally aware of infinite possibilities, emotionally fighting for that plan which seems to them to be the best, but with no sense of coherency or any realisation that it must be the one world for the one humanity. They desire simply emotional peace, security in which to live and work, and a vision of a future which will satisfy some inchoate sense of divine persistence. They are physically ill, deprived for the most part of the essentials of normal wholesome living, wracked with the sense of financial insecurity and—consciously or unconsciously—invoking the Father of all on behalf of themselves and of the rest of the world.

Thứ ba, là chính nhân loại, “trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại”—một trung tâm hiện đầy hỗn loạn, xáo trộn [623] và rối ren, một nhân loại đầy đau đớn, bối rối, bất an, nhưng về trí tuệ thì ý thức được những khả năng vô hạn, về cảm xúc thì chiến đấu cho kế hoạch dường như là tốt nhất đối với họ, nhưng không có ý thức về tính nhất quán hay bất kỳ sự chứng nghiệm nào rằng đó phải là một thế giới cho một nhân loại. Họ chỉ mong muốn sự bình an cảm xúc, sự an toàn để sống và làm việc, và một linh ảnh về tương lai sẽ thỏa mãn một cảm nhận mơ hồ nào đó về sự bền bỉ thiêng liêng. Về thể xác, họ đau yếu, phần lớn bị tước mất những điều thiết yếu của một đời sống bình thường lành mạnh, bị dày vò bởi cảm giác bất an tài chính và—một cách hữu thức hay vô thức—đang khẩn cầu Cha của muôn loài thay cho chính họ và cho phần còn lại của thế giới.

The solution is the return of the Christ. This is the ascertained will of God; it is the desire of Christ Himself and of His disciples, the Masters of the Wisdom; it is the unrealised demand of men in all lands. Where there is unification of purpose, of spiritual intention and of realised need, then there is only one thing which can arrest that return, and that is the failure of mankind to prepare the stage for that stupendous event, to clear the highways, familiarise the people with the idea, and bring about the required measure of peace on Earth—a peace based upon right human relations.

Giải pháp là sự trở lại của Đức Christ. Đây là ý chí đã được xác định của Thượng đế; đó là ước muốn của chính Đức Christ và của các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh Triết; đó là đòi hỏi chưa được nhận ra của con người ở mọi xứ sở. Nơi nào có sự hợp nhất về mục đích, về ý hướng tinh thần và về nhu cầu đã được chứng nghiệm, thì chỉ có một điều có thể ngăn cản sự trở lại ấy, và đó là sự thất bại của nhân loại trong việc chuẩn bị sân khấu cho biến cố kỳ vĩ đó, dọn sạch các nẻo đường, làm cho dân chúng quen thuộc với ý tưởng ấy, và đem lại mức độ hòa bình cần thiết trên Trái Đất—một nền hòa bình dựa trên những tương quan nhân loại đúng đắn.

2. The Lack of Money for the Work of Preparation

2. Sự Thiếu Tiền Cho Công Việc Chuẩn Bị

We come now to the second of the major hindrances: the lack of financial support for the Christ’s workers and disciples in all lands as they endeavour to release spiritual energy and bring a new order out of the present world chaos. This is perhaps the major difficulty, and it appears at times an insuperable one; it involves the problem of true financial trusteeship and the deflection of adequate sums of money into channels which will definitely aid in the work of preparation for the return of the Christ. It is for this reason that I closed the previous section of this article with the words “right human relations.”

Giờ đây chúng ta đến với trở ngại lớn thứ hai: sự thiếu hỗ trợ tài chính cho những người hoạt động và các đệ tử của Đức Christ ở mọi xứ sở khi họ nỗ lực giải phóng năng lượng tinh thần và đem lại một trật tự mới từ sự hỗn loạn hiện nay của thế giới. Có lẽ đây là khó khăn lớn nhất, và đôi khi nó dường như không thể vượt qua; nó liên quan đến vấn đề quyền quản thác tài chính chân chính và việc chuyển hướng những khoản tiền thích đáng vào những kênh chắc chắn sẽ hỗ trợ công việc chuẩn bị cho sự trở lại của Đức Christ. Chính vì lý do này mà tôi đã kết thúc phần trước của bài viết này bằng những lời “những tương quan nhân loại đúng đắn.”

The problem is therefore a peculiarly hard one, for the [624] spiritual workers of the world have not only to train people to give according to the need and their means, but in many cases they have first of all to provide them with a motive so magnetic in its appeal that they must perforce give; they have also to provide the trust, foundation and organisation through which the money given may be administered. This presents them with a most impressively difficult task and one which is responsible for the present impasse. The impasse is not, however, based only on the novelty of raising funds in preparation for the return of the Christ, but it is based also on the trained selfishness of the majority of those who own the world’s wealth and who—even if they give—do so because it fosters prestige or indicates financial success. It must be remembered here that every generalisation presupposes exceptions.

Vì vậy, đây là một vấn đề đặc biệt khó khăn, bởi vì [624] những người hoạt động tinh thần của thế giới không những phải huấn luyện con người cho đi tùy theo nhu cầu và khả năng của họ, mà trong nhiều trường hợp trước hết còn phải cung cấp cho họ một động cơ có sức hấp dẫn từ tính đến nỗi họ buộc phải cho đi; họ cũng phải cung cấp sự tín nhiệm, nền tảng và tổ chức qua đó số tiền được cho có thể được quản lý. Điều này đặt trước họ một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và chính là nguyên nhân của tình trạng bế tắc hiện nay. Tuy nhiên, sự bế tắc này không chỉ dựa trên tính mới mẻ của việc gây quỹ để chuẩn bị cho sự trở lại của Đức Christ, mà còn dựa trên tính ích kỷ đã được rèn luyện của đa số những người sở hữu của cải thế giới và những người—ngay cả khi họ cho đi—cũng làm như vậy vì điều đó nuôi dưỡng uy tín hay cho thấy thành công tài chính. Cần nhớ ở đây rằng mọi sự khái quát đều giả định có ngoại lệ.

Generalising, and therefore over-simplifying the subject, we can assume that money finds its way into four main channels of expenditures:

Khái quát hóa, và do đó đơn giản hóa quá mức đề tài này, chúng ta có thể giả định rằng tiền bạc tìm đường đi vào bốn kênh chi tiêu chính:

1. Into the myriad homes of the world in the form of wages, salaries or inherited wealth. All this is at present most unevenly balanced, producing extreme riches and extreme poverty.

1. Vào vô số gia đình trên thế giới dưới hình thức tiền công, lương bổng hay của cải thừa kế. Tất cả điều này hiện nay mất cân bằng rất lớn, tạo ra sự giàu có cực độ và sự nghèo khổ cực độ.

2. Into great capitalistic systems and monopolies to be found as towering structures in most lands. Whether this capital is owned by the government, or by a municipality, or by a handful of wealthy men or by the great labour unions matters not. Little of it is yet spent in reality for the betterment of human living, or for the inculcation of the values which will lead to right human relations.

2. Vào các hệ thống tư bản lớn và các độc quyền có thể thấy như những cơ cấu đồ sộ ở hầu hết các quốc gia. Dù số vốn này thuộc sở hữu của chính phủ, hay của một đô thị, hay của một nhóm nhỏ những người giàu có, hay của các công đoàn lao động lớn, điều đó không quan trọng. Rất ít trong số đó thực sự được chi dùng cho việc cải thiện đời sống con người, hay cho việc gieo cấy những giá trị sẽ dẫn đến những tương quan nhân loại đúng đắn.

3. Into the churches and religious groups throughout the world. Here (again speaking in general terms and at the same time recognising the existence of a small spiritually-minded minority) the money is deflected into the material aspects of the work, into [625] the multiplying and preservation of ecclesiastical structures, into salaries and general overhead, and only a percentage of it really goes into the teaching of the people, into a living demonstration of the fact of His return—for centuries a definite doctrine of the churches. That return has been anticipated down the ages, and might have occurred ere now had the churches and religious organisations everywhere done their duty.

3. Vào các giáo hội và các nhóm tôn giáo trên khắp thế giới. Ở đây (lại nói một cách tổng quát và đồng thời thừa nhận sự hiện hữu của một thiểu số nhỏ có tinh thần) tiền bạc bị chuyển hướng vào các phương diện vật chất của công việc, vào [625] việc nhân lên và duy trì các cơ cấu giáo hội, vào lương bổng và chi phí chung, và chỉ một tỷ lệ phần trăm của nó thực sự đi vào việc giáo huấn dân chúng, vào sự biểu lộ sống động của sự kiện Ngài sẽ trở lại—một giáo lý xác định của các giáo hội từ nhiều thế kỷ nay. Sự trở lại ấy đã được mong đợi qua các thời đại, và có lẽ đã có thể xảy ra trước đây nếu các giáo hội và các tổ chức tôn giáo ở khắp nơi đã làm tròn bổn phận của mình.

4. Into philanthropic, educational and medical work. All of this has been exceedingly good and greatly needed, and the debt of the world to the public-spirited men who have made these institutions possible is great indeed. All of this has been a step in the right direction and an expression of the divine will-to-good. It is, however, frequently money misused and misdirected and the values developed have been largely institutional and concrete. They have been limited by the separative tenets of the donors or the religious prejudices of those who control the disbursement of the funds. In the quarrelling over ideas, religious theories and ideologies, the true assistance of the One Humanity is overlooked.

4. Vào công việc từ thiện, giáo dục và y tế. Tất cả điều này đều vô cùng tốt đẹp và rất cần thiết, và món nợ của thế giới đối với những người nam có tinh thần công ích đã làm cho các định chế này trở nên khả hữu quả thật rất lớn. Tất cả điều này là một bước đi đúng hướng và là một biểu hiện của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng. Tuy nhiên, tiền bạc ấy thường bị sử dụng sai và định hướng sai, và những giá trị được phát triển phần lớn mang tính định chế và cụ thể. Chúng bị giới hạn bởi những giáo điều phân ly của những người hiến tặng hoặc bởi những thành kiến tôn giáo của những người kiểm soát việc phân phối quỹ. Trong sự tranh cãi về các ý tưởng, các lý thuyết tôn giáo và các hệ tư tưởng, sự trợ giúp chân chính cho Một Nhân Loại bị bỏ quên.

The fact remains that had the directing agencies through whose hands the money of the world is channelled any vision of the spiritual realities, of the one humanity and the one world, and had their objective been the stimulation of right human relations, the mass of men everywhere would be responding to a vision very different from the present one; we would not be faced as we are today with the expenditures—running into countless billions—necessitated by the need to restore physically, not only the physical bodies of countless millions of men, but entire cities, transportation systems and centres responsible for the reorganisation of human living.

Sự thật vẫn là nếu các cơ quan chỉ đạo qua tay họ mà tiền bạc của thế giới được chuyển dẫn có bất kỳ tầm nhìn nào về các thực tại tinh thần, về một nhân loại và một thế giới, và nếu mục tiêu của họ là kích thích những tương quan nhân loại đúng đắn, thì quần chúng ở khắp nơi đã đáp ứng với một linh ảnh rất khác với hiện nay; chúng ta đã không phải đối diện như ngày nay với những khoản chi tiêu—lên đến vô số hàng tỷ—do nhu cầu phải phục hồi về mặt hồng trần, không chỉ các thể xác của vô số hàng triệu người, mà cả những thành phố nguyên vẹn, các hệ thống giao thông và các trung tâm chịu trách nhiệm cho việc tái tổ chức đời sống con người.

Equally, it can be said that if the spiritual values and the spiritual responsibilities attached to money (in large [626] quantities or in small) had been properly appreciated and taught in homes and schools, we would not have had the appalling statistics of the money spent, prior to the war in every country in the world (and spent today in the Western Hemisphere), on candy, liquor, cigarettes, recreation, unnecessary clothes and luxuries. These statistics run into hundreds of millions of dollars every year. A quota of this money, necessitating the minimum of sacrifice, would enable the disciples of the Christ and the New Group of World Servers to prepare the way for His coming and to educate the minds and hearts of men in every land in right human relations.

Cũng có thể nói rằng nếu các giá trị tinh thần và các trách nhiệm tinh thần gắn liền với tiền bạc (dù với số lượng lớn [626] hay nhỏ) đã được đánh giá đúng và được dạy dỗ trong gia đình và trường học, thì chúng ta đã không có những thống kê kinh hoàng về số tiền đã được chi, trước chiến tranh ở mọi quốc gia trên thế giới (và ngày nay được chi ở Tây Bán Cầu), cho kẹo bánh, rượu, thuốc lá, giải trí, quần áo không cần thiết và xa xỉ phẩm. Những con số thống kê này lên đến hàng trăm triệu đô la mỗi năm. Một phần của số tiền này, chỉ đòi hỏi mức hy sinh tối thiểu, sẽ giúp các đệ tử của Đức Christ và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chuẩn bị con đường cho sự quang lâm của Ngài và giáo dục tâm trí và trái tim của con người ở mọi xứ sở về những tương quan nhân loại đúng đắn.

Money—as with all else in human living—has been tainted by selfishness and grabbed for selfish individual or national ends. Of this, the world war (1914-1945) is the proof, for although there was much talk of “saving the world for democracy” and “fighting a war to end war,” the main motive was self-protection and self-preservation, the hope of gain, the satisfaction of ancient hatreds, and the regaining of territory. The two years which have elapsed since the war have proved this to be so. The United Nations is occupied with rapacious demands from all sides, with the angling of the nations for place and power, and for the possession of the natural resources of the Earth—coal, oil, etc., and also with the underground activities of the great Powers and of the capitalists which they all create.

Tiền bạc—cũng như mọi thứ khác trong đời sống con người—đã bị nhuốm bẩn bởi tính ích kỷ và bị chộp lấy cho những mục đích ích kỷ cá nhân hay quốc gia. Chiến tranh thế giới (1914-1945) là bằng chứng cho điều này, vì mặc dù đã có nhiều lời nói về việc “cứu thế giới cho nền dân chủ” và “chiến đấu một cuộc chiến để chấm dứt chiến tranh,” động cơ chính vẫn là tự bảo vệ và tự tồn, hy vọng thu lợi, thỏa mãn những hận thù cổ xưa, và giành lại lãnh thổ. Hai năm đã trôi qua kể từ chiến tranh đã chứng minh điều này là đúng. Liên Hiệp Quốc đang bận rộn với những đòi hỏi tham lam từ mọi phía, với sự tranh giành vị thế và quyền lực của các quốc gia, và để chiếm hữu các tài nguyên thiên nhiên của Trái Đất—than đá, dầu mỏ, v.v., và cả với những hoạt động ngầm của các Cường quốc và của các nhà tư bản mà tất cả họ đều tạo ra.

Yet all the time, the one humanity—no matter what the place of residence, what the colour of the skin, or what the religious beliefs—is clamouring for peace, justice and a sense of security. All this, the right use of money and a realisation on the part of many of their financial responsibility (a responsibility based on the spiritual values) would rapidly give them. With the exception of a few great far-sighted philanthropists, and of a mere handful of enlightened statesmen, churchmen and educators, this sense of financial responsibility is to be found nowhere.

Tuy nhiên, suốt thời gian đó, một nhân loại—bất kể nơi cư trú, màu da, hay tín ngưỡng tôn giáo—đang kêu gào đòi hòa bình, công lý và cảm giác an toàn. Tất cả điều này, việc sử dụng tiền bạc đúng đắn và sự nhận ra nơi nhiều người về trách nhiệm tài chính của họ (một trách nhiệm dựa trên các giá trị tinh thần) sẽ nhanh chóng đem lại cho họ. Ngoại trừ một vài nhà từ thiện vĩ đại có tầm nhìn xa, và chỉ một số rất ít chính khách, giáo sĩ và nhà giáo dục được soi sáng, cảm thức trách nhiệm tài chính này không thể tìm thấy ở đâu cả.

The time has now come when money must be re-valued and its usefulness channelled into new directions. The voice [627] of the people must prevail, but it must be a people educated in the true values, in the significances of a right culture, and in the need for right human relations. It is therefore essentially a question of right education and correct training in world citizenship—a thing that has not yet been undertaken. Who can give this training? Russia would gladly train the world in the ideals of communism, and would gather all the money in the world into the coffers of the proletariat, eventually producing the greatest capitalistic system the world has ever seen. Great Britain would gladly train the world in the British concepts of justice and fair play and world trade, and would do it more cleverly than any other nation because of vast experience. The United States would also gladly undertake to force the American brand of democracy upon the world, using her vast capital and resources in so doing, and gathering into her banks the financial results of her wide-spread financial dealings, preserving them safely by the threat of the atomic bomb and the shaking of the mailed fist over the rest of the world. France will keep Europe in a state of unrest as she seeks to regain her lost prestige and garner all she can from the victory of the other allied nations. Thus, my brother, the story goes—each nation fighting for itself and rating each other in terms of resources and finance. In the meantime, humanity starves, remains uneducated, is brought up on false values and the wrong use of money; until these things are being righted, the return of the Christ is not possible.

Giờ đây đã đến lúc tiền bạc phải được tái định giá và tính hữu dụng của nó được chuyển dẫn vào những hướng mới. Tiếng nói [627] của dân chúng phải thắng thế, nhưng đó phải là một dân chúng được giáo dục về các giá trị chân chính, về thâm nghĩa của một nền văn hóa đúng đắn, và về nhu cầu của những tương quan nhân loại đúng đắn. Vì vậy, về bản chất đây là vấn đề giáo dục đúng đắn và huấn luyện chính xác về công dân thế giới—một điều chưa hề được thực hiện. Ai có thể trao sự huấn luyện này? Nước Nga sẽ sẵn lòng huấn luyện thế giới theo các lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, và sẽ gom toàn bộ tiền bạc của thế giới vào kho bạc của giai cấp vô sản, cuối cùng tạo ra hệ thống tư bản lớn nhất mà thế giới từng thấy. Đại Anh sẽ sẵn lòng huấn luyện thế giới theo các quan niệm Anh quốc về công lý, tinh thần fair play và thương mại thế giới, và sẽ làm điều đó khéo léo hơn bất kỳ quốc gia nào khác vì có kinh nghiệm to lớn. Hoa Kỳ cũng sẽ sẵn lòng đảm nhận việc áp đặt kiểu dân chủ Mỹ lên thế giới, dùng nguồn vốn và tài nguyên khổng lồ của mình để làm như vậy, và gom vào các ngân hàng của mình những kết quả tài chính từ các giao dịch tài chính rộng khắp, giữ chúng an toàn bằng lời đe dọa bom nguyên tử và cái nắm đấm bọc sắt rung lên trước phần còn lại của thế giới. Nước Pháp sẽ giữ châu Âu trong tình trạng bất an khi tìm cách giành lại uy tín đã mất và thu gom mọi thứ có thể từ chiến thắng của các quốc gia đồng minh khác. Cứ thế, huynh đệ của tôi, câu chuyện tiếp diễn—mỗi quốc gia chiến đấu cho chính mình và đánh giá nhau theo tài nguyên và tài chính. Trong khi đó, nhân loại đói khát, vẫn không được giáo dục, được nuôi dưỡng bằng những giá trị sai lầm và việc sử dụng tiền bạc sai lầm; cho đến khi những điều này được sửa chữa, sự trở lại của Đức Christ là điều không thể.

In the face of this disturbing financial situation, what is the answer to the problem? There are men and women to be found in every land, every government, every church and religion, and every educational foundation who have the answer. What hope is there for them and for the work with which they have been entrusted? How can the people of the world, the men of goodwill and of spiritual vision help? Is there anything they can do to change the thinking of the world in regard to money, and to deflect it into channels where it will be rightly used? The answer lies within these people themselves.

Trước tình hình tài chính đầy xáo trộn này, đâu là câu trả lời cho vấn đề? Có những người nam và nữ ở mọi xứ sở, mọi chính phủ, mọi giáo hội và tôn giáo, và mọi quỹ giáo dục có câu trả lời. Có hy vọng nào cho họ và cho công việc đã được giao phó cho họ không? Những người dân của thế giới, những người thiện chí và có tầm nhìn tinh thần, có thể giúp như thế nào? Có điều gì họ có thể làm để thay đổi tư duy của thế giới về tiền bạc, và chuyển hướng nó vào những kênh nơi nó sẽ được sử dụng đúng đắn không? Câu trả lời nằm ngay trong chính những con người này.

[628] There are two groups who can do much: those already using the financial resources of the world, if they will catch the new vision and also see the handwriting on the wall which is bringing the old order down in destruction; and secondly, the mass of the good, kindly people in all classes and spheres of influence.

[628] Có hai nhóm có thể làm được nhiều điều: những người đã đang sử dụng các nguồn tài chính của thế giới, nếu họ nắm bắt được linh ảnh mới và cũng thấy được chữ viết trên tường đang đưa trật tự cũ đến chỗ sụp đổ; và thứ hai, quần chúng gồm những người tốt bụng, tử tế trong mọi giai cấp và mọi phạm vi ảnh hưởng.

The power of the little man and of the unimportant citizen is not yet truly grasped, yet there is a vast opportunity before them if they have the courage and the patience to do the needed work.

Quyền năng của người nhỏ bé và của công dân không quan trọng vẫn chưa thực sự được nắm bắt, tuy nhiên trước mặt họ có một cơ hội to lớn nếu họ có can đảm và kiên nhẫn để làm công việc cần thiết.

These men and women of goodwill and spiritual inclination must reject the thought of their relative uselessness, insignificance and futility, and realise that now (in the critical and crucial moment that has come) they can work potently. The Forces of Evil are defeated, though not yet “sealed” behind the door where humanity can put them and which the New Testament foretold would happen. The world is in the balance again. Evil is seeking every avenue available for a new approach but—and this I say with confidence and insistence—the little people of the world, enlightened and selfless in their viewpoint, exist in sufficient numbers to make their power felt—if they will. There are millions of spiritually-minded men and women in every country who, when they come to the point of approaching in mass formation this question of money, can permanently rechannel it. There are writers and thinkers in all lands who can add their powerful help, and who will if correctly approached. There are esoteric students and devoted church people to whom appeal can be made for aid in preparing the way for the return of the Christ, particularly if the aid required is the expenditure of money and time for the establishing of right human relations and the growth and spread of goodwill.

Những người nam và nữ thiện chí và có khuynh hướng tinh thần này phải bác bỏ ý nghĩ về sự vô dụng tương đối, sự không đáng kể và tính vô hiệu của mình, và nhận ra rằng giờ đây (trong thời khắc gay go và quyết định đã đến) họ có thể làm việc một cách mạnh mẽ. Các Mãnh Lực của Điều Ác đã bị đánh bại, dù chưa bị “niêm phong” sau cánh cửa nơi nhân loại có thể đặt chúng vào và điều mà Tân Ước đã tiên báo sẽ xảy ra. Thế giới lại đang ở thế cân bằng. Điều ác đang tìm mọi con đường có thể cho một cách tiếp cận mới nhưng—và tôi nói điều này với sự tin chắc và nhấn mạnh—những người nhỏ bé của thế giới, được soi sáng và vô ngã trong quan điểm của mình, hiện hữu với số lượng đủ để làm cho quyền năng của họ được cảm nhận—nếu họ muốn. Có hàng triệu người nam và nữ có tinh thần ở mọi quốc gia, những người mà khi đi đến chỗ tiếp cận vấn đề tiền bạc này trong đội hình quần chúng, có thể chuyển hướng nó một cách lâu dài. Có những nhà văn và nhà tư tưởng ở mọi xứ sở có thể thêm sự trợ giúp mạnh mẽ của họ, và họ sẽ làm như vậy nếu được tiếp cận đúng cách. Có những đạo sinh huyền bí học và những tín đồ nhà thờ tận tụy mà người ta có thể kêu gọi giúp đỡ trong việc chuẩn bị con đường cho sự trở lại của Đức Christ, đặc biệt nếu sự trợ giúp cần thiết là việc chi dùng tiền bạc và thời gian để thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn và sự tăng trưởng cùng lan rộng của thiện chí.

A great campaign to raise money is not demanded, but the selfless work of thousands of apparently unimportant people is required. I would say, my brothers, that the most needed quality is courage; it takes courage to put aside diffidence, shyness and the dislike of presenting a point of view, particularly a point of view connected with money. It is here [629] that the majority fail. It is relatively easy today to raise money for the Red Cross, for hospitals and for educational institutions. It is exceedingly difficult to raise money for the spread of goodwill, or to secure financial sources and the right use of money for forward looking ideas, such as the return of the Christ. Therefore I say that the first prerequisite is courage.

Không đòi hỏi một chiến dịch lớn để gây quỹ, nhưng cần đến công việc vô ngã của hàng ngàn người dường như không quan trọng. Tôi muốn nói, hỡi các huynh đệ của tôi, rằng phẩm tính cần thiết nhất là can đảm; cần có can đảm để gạt sang một bên sự rụt rè, nhút nhát và sự không thích trình bày một quan điểm, đặc biệt là một quan điểm liên quan đến tiền bạc. Chính ở đây [629] mà đa số thất bại. Ngày nay tương đối dễ gây quỹ cho Hội Chữ thập đỏ, cho bệnh viện và cho các cơ sở giáo dục. Nhưng vô cùng khó gây quỹ cho việc lan truyền thiện chí, hay bảo đảm các nguồn tài chính và việc sử dụng tiền bạc đúng đắn cho những ý tưởng hướng về tương lai, như sự trở lại của Đức Christ. Vì vậy tôi nói rằng điều kiện tiên quyết thứ nhất là can đảm.

The second requirement for the workers of the Christ is to make those sacrifices and arrangements which will enable them to give to the limit of their capacity; there must not be simply a trained ability to present the subject, but each worker must practise what he preaches. If, for instance, the millions of people who love the Christ and seek to serve His cause gave at least a tiny sum of money each year, there would be adequate funds for His work; the needed trusts and the spiritually-minded trustees would then automatically appear. The difficulty is not with the organising of the money and work; it lies with the seeming inability of people to give. For one reason or another, they give little or nothing, even when interested in such a cause as that of the return of the Christ; fear, or the love of purchasing, or the desire to give presents, or failure to realise that many small sums mount up into very large sums—all these things militate against financial generosity, and the reason always seems adequate. Therefore, the second prerequisite is for everyone to give as they can.

Yêu cầu thứ hai đối với những người hoạt động của Đức Christ là phải thực hiện những hy sinh và sắp xếp cần thiết để họ có thể cho đi đến giới hạn khả năng của mình; không được chỉ đơn thuần có khả năng đã được rèn luyện để trình bày đề tài, mà mỗi người hoạt động phải thực hành điều mình rao giảng. Chẳng hạn, nếu hàng triệu người yêu mến Đức Christ và tìm cách phụng sự chính nghĩa của Ngài mỗi năm đều cho đi ít nhất một khoản tiền nhỏ, thì sẽ có đủ quỹ cho công việc của Ngài; khi đó những quỹ tín thác cần thiết và những người quản thác có tinh thần sẽ tự động xuất hiện. Khó khăn không nằm ở việc tổ chức tiền bạc và công việc; nó nằm ở sự dường như bất lực của con người trong việc cho đi. Vì lý do này hay lý do khác, họ cho rất ít hoặc không cho gì cả, ngay cả khi quan tâm đến một chính nghĩa như sự trở lại của Đức Christ; sợ hãi, hay lòng ham mua sắm, hay mong muốn tặng quà, hay không nhận ra rằng nhiều khoản nhỏ cộng lại thành những khoản rất lớn—tất cả những điều này đều chống lại sự rộng lượng về tài chính, và lý do lúc nào cũng có vẻ đầy đủ. Vì vậy, điều kiện tiên quyết thứ hai là mọi người phải cho đi tùy theo khả năng của mình.

Thirdly, the metaphysical schools and the esoteric groups have given much thought to this business of directing money into channels which appeal to them. The question is often asked: Why do the Unity School of thought, the Christian Science Church, and many New Thought movements always manage to accumulate the required funds, whilst other groups, and particularly the esoteric groups, do not? Why do truly spiritual workers seem unable to materialise what they need? The answer is a simple one. Those groups and workers who are the closest to the spiritual ideal are as a house divided against itself. Their main interest is on abstract spiritual levels, and they have not apparently grasped the fact that the physical plane, when motivated from the spiritual levels, is of equal importance. The large metaphysical [630] schools are focussed on making a material demonstration, and so great is their emphasis and so one-pointed is their approach that they get what they demand; they have to learn that the demand and its answer must be the result of spiritual purpose, and that that which is demanded must not be for the use of the separated self or for a separative organisation or church. In the new age which is upon us, prior to the return of the Christ, the demand for financial support must be for the bringing about of right human relations and goodwill, and not for the growth of any particular organisation. The organisations so demanding must work with the minimum of overhead and central plant, and the workers for the minimum yet reasonable salary. Not many such organisations exist today, but the few now functioning can set an example which will be rapidly followed, as the desire for the return of the Christ grows. Therefore the third prerequisite is the service of the one humanity.

Thứ ba, các trường phái siêu hình học và các nhóm huyền bí học đã suy nghĩ nhiều về việc chuyển hướng tiền bạc vào những kênh hấp dẫn đối với họ. Câu hỏi thường được đặt ra là: Tại sao trường phái tư tưởng Unity, Giáo hội Christian Science, và nhiều phong trào Tư tưởng Mới luôn xoay xở tích lũy được những khoản quỹ cần thiết, trong khi các nhóm khác, và đặc biệt là các nhóm huyền bí học, lại không làm được? Tại sao những người hoạt động thực sự tinh thần dường như không thể hiện hình điều họ cần? Câu trả lời rất đơn giản. Những nhóm và những người hoạt động gần với lý tưởng tinh thần nhất lại như một ngôi nhà tự chia rẽ chống lại chính mình. Mối quan tâm chính của họ ở trên các cấp độ tinh thần trừu tượng, và dường như họ chưa nắm bắt được sự kiện rằng cõi hồng trần, khi được thúc đẩy từ các cấp độ tinh thần, cũng quan trọng ngang nhau. Các trường phái siêu hình học lớn [630] tập trung vào việc tạo ra một sự biểu lộ vật chất, và sự nhấn mạnh của họ lớn đến mức, cách tiếp cận của họ nhất tâm đến mức, họ đạt được điều họ đòi hỏi; họ phải học rằng sự đòi hỏi và câu trả lời của nó phải là kết quả của mục đích tinh thần, và điều được đòi hỏi không được dành cho việc sử dụng của bản ngã phân ly hay cho một tổ chức hay giáo hội phân ly. Trong kỷ nguyên mới đang đến với chúng ta, trước sự trở lại của Đức Christ, sự đòi hỏi hỗ trợ tài chính phải là để đem lại những tương quan nhân loại đúng đắn và thiện chí, chứ không phải cho sự phát triển của bất kỳ tổ chức riêng biệt nào. Những tổ chức đưa ra đòi hỏi như thế phải hoạt động với mức chi phí chung và cơ sở trung tâm tối thiểu, và những người hoạt động với mức lương tối thiểu nhưng hợp lý. Ngày nay không có nhiều tổ chức như vậy, nhưng số ít hiện đang hoạt động có thể nêu gương sẽ nhanh chóng được noi theo, khi khát vọng về sự trở lại của Đức Christ tăng lên. Vì vậy điều kiện tiên quyết thứ ba là phụng sự một nhân loại.

The fourth prerequisite must be the careful presentation of the cause for which the financial support is required. People may have the courage to speak, but an intelligent presentation is of equal importance. The major point to be emphasised in the preparatory work for the return of Christ is the establishing of right human relations. This has already been started by men of goodwill all over the world, under their many names, and here I have done naught but indicate another motive for presentation.

Điều kiện tiên quyết thứ tư phải là sự trình bày cẩn trọng về chính nghĩa mà sự hỗ trợ tài chính được yêu cầu cho nó. Con người có thể có can đảm để nói, nhưng sự trình bày thông minh cũng quan trọng không kém. Điểm chính cần được nhấn mạnh trong công việc chuẩn bị cho sự trở lại của Đức Christ là việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn. Điều này đã được những người thiện chí trên khắp thế giới khởi sự, dưới nhiều tên gọi khác nhau của họ, và ở đây tôi chỉ làm điều duy nhất là nêu ra một động cơ khác để trình bày.

We come now to the fifth prerequisite: a vital and sure belief in humanity as a whole. There must be no pessimism as to the future of mankind or distress over the disappearance of the old order. The good, the true and the beautiful is on its way, and for it mankind is responsible, and not some outer divine intervention. Humanity is sound and rapidly awakening. We are passing through the stage where everything is being proclaimed from the housetops—as the Christ stated would be the case—and as we listen or read of the flood of filth, crime, sensual pleasure or luxury buying, we are apt to be discouraged; it is wise to remember that it is wholesome for all this to come to the surface and for us all to know about [631] it. It is like the psychological cleansing of the subconscious to which individuals submit themselves, and it presages the inauguration of a new and better day.

Giờ đây chúng ta đến với điều kiện tiên quyết thứ năm: một niềm tin sống động và chắc chắn vào toàn thể nhân loại. Không được có sự bi quan nào về tương lai của nhân loại hay sự đau buồn về sự biến mất của trật tự cũ. Điều thiện, điều chân và điều mỹ đang trên đường đến, và nhân loại chịu trách nhiệm cho điều đó, chứ không phải một sự can thiệp thiêng liêng nào từ bên ngoài. Nhân loại lành mạnh và đang nhanh chóng thức tỉnh. Chúng ta đang đi qua giai đoạn mà mọi sự đều được công bố từ trên mái nhà—như Đức Christ đã nói sẽ là như vậy—và khi chúng ta lắng nghe hay đọc về dòng thác của sự ô uế, tội ác, khoái lạc nhục dục hay việc mua sắm xa xỉ, chúng ta dễ nản lòng; thật khôn ngoan khi nhớ rằng việc tất cả những điều này nổi lên bề mặt và để tất cả chúng ta biết về [631] nó là điều lành mạnh. Nó giống như sự thanh lọc tâm lý của tiềm thức mà các cá nhân tự đặt mình vào, và nó báo trước sự khai mở của một ngày mới và tốt đẹp hơn.

There is work to do, and the men of goodwill, of spiritual instinct, and of truly Christian training must do it. They must inaugurate the era of the use of money for the spiritual Hierarchy, and carry that need into the realms of invocation. Invocation is the highest type of prayer there is, and a new form of divine appeal which a knowledge of meditation has now made possible. To this end I will give you a short form of spiritual demand which I would ask you all to use in the place of any prayer, meditation or invocation for money which you may have hitherto used. It is short and powerful, but requires a unified group or a truly integrated personality to use it....

Có công việc phải làm, và những người thiện chí, có bản năng tinh thần, và được huấn luyện Kitô giáo chân chính phải làm điều đó. Họ phải khai mở kỷ nguyên sử dụng tiền bạc cho Thánh đoàn tinh thần, và đưa nhu cầu đó vào các lĩnh vực của sự khẩn cầu. Khẩn Cầu là loại cầu nguyện cao nhất hiện có, và là một hình thức thỉnh cầu thiêng liêng mới mà tri thức về tham thiền nay đã làm cho khả hữu. Nhằm mục đích này, tôi sẽ trao cho bạn một hình thức ngắn của sự thỉnh cầu tinh thần mà tôi muốn tất cả các bạn sử dụng thay cho bất kỳ lời cầu nguyện, bài tham thiền hay lời khẩn cầu về tiền bạc nào mà trước đây các bạn có thể đã dùng. Nó ngắn và mạnh mẽ, nhưng đòi hỏi một nhóm hợp nhất hoặc một phàm ngã thực sự tích hợp để sử dụng nó....

I have naught to add in the way of an appeal for funds, courage or understanding. If the courage of the Christ, as He faces return to this physical outer world, if the need of humanity for right human relations, and the sacrificing work of the disciples of the Christ are not enough to fire you and to energise you and those whom you can reach, there is nothing that I can say which will be of any use.

Tôi không có gì để thêm vào như một lời kêu gọi về quỹ, về can đảm hay về sự thấu hiểu. Nếu lòng can đảm của Đức Christ, khi Ngài đối diện với việc trở lại thế giới hồng trần bên ngoài này, nếu nhu cầu của nhân loại về những tương quan nhân loại đúng đắn, và công việc hy sinh của các đệ tử của Đức Christ không đủ để nung cháy bạn và tiếp sinh lực cho bạn cùng những người mà bạn có thể tiếp cận, thì không có điều gì tôi có thể nói sẽ hữu ích.

WORK IN THE COMING DECADES—CÔNG VIỆC TRONG NHỮNG THẬP NIÊN SẮP TỚI

April 1948

Tháng Tư 1948

This is the last Wesak Message which I intend to give you. In 1949, I shall have completed thirty years of carefully planned and meticulously outlined work; this work I undertook under cyclic law (related to the periodical giving out of the esoteric teaching) in order to aid humanity and the work of the Hierarchy, to both of which I happen to belong.

Đây là Thông Điệp Wesak cuối cùng mà tôi dự định trao cho các bạn. Vào năm 1949, tôi sẽ hoàn tất ba mươi năm công việc được hoạch định cẩn trọng và phác thảo tỉ mỉ; công việc này tôi đảm nhận theo định luật chu kỳ (liên hệ đến việc định kỳ ban truyền giáo huấn huyền bí) nhằm trợ giúp nhân loại và công việc của Thánh Đoàn, cả hai điều mà tôi tình cờ đều thuộc về.

On November 19th, 1919, I made my first contact with A.A.B. (much to her distress and dismay), and I have worked steadily with her ever since. The books which I then planned have been well-nigh finished; the various phases of the work which were a part of the preparation for the reappearance of [632] the Christ have taken form and should go forward with gathering momentum during the next twenty years.

Vào ngày 19 tháng 11 năm 1919, tôi đã tiếp xúc lần đầu với A.A.B. (khiến bà vô cùng lo lắng và kinh ngạc), và từ đó đến nay tôi đã làm việc đều đặn với bà. Những cuốn sách mà khi ấy tôi đã hoạch định gần như đã hoàn tất; những giai đoạn khác nhau của công việc vốn là một phần của sự chuẩn bị cho sự tái lâm của [632] Đức Christ đã thành hình và nên được tiếp tục với đà ngày càng tăng trong hai mươi năm tới.

The two major ideas which it was my task to bring to the attention of humanity everywhere throughout the world have been securely anchored (if I may be permitted to use such a term), and these constitute by far the most important aspect of the work which I have done. These formulated ideas are:

Hai ý tưởng lớn mà nhiệm vụ của tôi là đưa đến sự chú ý của nhân loại khắp thế giới đã được neo giữ vững chắc (nếu tôi được phép dùng một thuật ngữ như vậy), và chúng tạo thành phương diện quan trọng nhất của công việc mà tôi đã làm. Những ý tưởng được định thức này là:

1. The announcement of the existence (hitherto unrecognised) of the New Group of World Servers. This is an effective group of workers, intermediate between Humanity and the spiritual Hierarchy of the planet.

1. Sự công bố về sự hiện hữu (cho đến nay chưa được nhận biết) của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đây là một nhóm người hoạt động hữu hiệu, trung gian giữa Nhân loại và Thánh đoàn tinh thần của hành tinh.

2. The statement, sent out lately, in connection with the Reappearance of the Christ, and for the immediate consolidation of the work of preparation.

2. Tuyên bố được gửi ra gần đây, liên quan đến Sự Tái Lâm của Đức Christ, và nhằm sự củng cố tức thời công việc chuẩn bị.

All else that I have done in the service of the Hierarchy is of secondary importance to these two statements of spiritual fact.

Mọi điều khác mà tôi đã làm trong việc phụng sự Thánh Đoàn đều có tầm quan trọng thứ yếu so với hai tuyên bố này về sự kiện tinh thần.

The fifth volume of A Treatise on the Seven Rays remains to be finished, as does the second volume of Discipleship in the New Age; there is nothing else; what remains, therefore, can easily be accomplished before my term of thirty years comes to an end. Other work awaits me under the reorganisation of all the hierarchical efforts incident to the reappearance of the Christ and the closer relationship which will then be established between humanity and the Hierarchy. The work of hierarchical reorganisation is at present largely internal and concerns not humanity at this time.

Quyển thứ năm của Luận về Bảy Cung vẫn còn phải hoàn tất, cũng như quyển thứ hai của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới; ngoài ra không còn gì khác; vì vậy, những gì còn lại có thể dễ dàng hoàn thành trước khi thời hạn ba mươi năm của tôi chấm dứt. Những công việc khác đang chờ tôi trong cuộc tái tổ chức mọi nỗ lực của Thánh Đoàn liên quan đến sự tái lâm của Đức Christ và mối liên hệ gần gũi hơn khi ấy sẽ được thiết lập giữa nhân loại và Thánh Đoàn. Công việc tái tổ chức của Thánh Đoàn hiện nay phần lớn là nội tại và lúc này không liên quan đến nhân loại.

I have made it entirely clear to all of you what is the work which you should do and I have no intention (in this final message) of pleading with you to do it—beyond asking you to carry on where I leave off. I refer of course to my exoteric work.

Tôi đã làm cho tất cả các bạn hoàn toàn rõ ràng công việc mà các bạn nên làm và tôi không có ý định (trong thông điệp cuối cùng này) nài ép các bạn phải làm điều đó—ngoài việc yêu cầu các bạn tiếp tục từ chỗ tôi dừng lại. Dĩ nhiên tôi đang nói đến công việc ngoại môn của tôi.

That the work which I am now doing was definitely ending [633] in 1949 was quite unknown to A.A.B. and has no relation whatsoever to the fact that her health is precarious. It has, however, some relation to the fact that she has resumed more active work as a disciple in the Ashram of her own Master, after twenty-eight years of service in mine. Before I began the work of the past three decades, I knew exactly the time I had in which to bring about the results desired by the Hierarchy; all has been meticulously carried out under a most clearly visioned plan.

Việc công việc mà tôi hiện đang làm chắc chắn sẽ kết thúc [633] vào năm 1949 là điều A.A.B. hoàn toàn không biết và không có bất kỳ liên hệ nào với sự kiện sức khỏe của bà bấp bênh. Tuy nhiên, nó có phần liên hệ đến sự kiện rằng bà đã tiếp tục công việc tích cực hơn như một đệ tử trong ashram của chính Chân sư của bà, sau hai mươi tám năm phụng sự trong ashram của tôi. Trước khi tôi bắt đầu công việc của ba thập niên vừa qua, tôi biết chính xác thời gian mình có để đem lại những kết quả mà Thánh Đoàn mong muốn; mọi sự đã được thực hiện tỉ mỉ theo một kế hoạch được thấy rõ ràng nhất.

First, there was the necessity to find the nucleus of people through whom I had to work; the first step was therefore the writing of certain books which would carry the new teaching, and act therefore as a selective agent for the discovery of those who would work in the new emerging cycle.

Trước hết, cần phải tìm ra hạt nhân của những người mà qua họ tôi phải làm việc; vì vậy bước đầu tiên là viết một số sách nhất định sẽ chuyển tải giáo huấn mới, và do đó hoạt động như một tác nhân chọn lọc để khám phá những ai sẽ làm việc trong chu kỳ mới đang xuất hiện.

The starting of the Arcane School by A.A.B. was only incidental to this objective; its aim is to train those disciples who can implement the Plan and thus prepare for the reappearance of the Christ; the Arcane School can therefore provide a trained body of workers.

Việc A.A.B. khởi lập Trường Arcane chỉ là điều phụ thuộc vào mục tiêu này; mục đích của nó là huấn luyện những đệ tử có thể thực hiện Thiên Cơ và như thế chuẩn bị cho sự tái lâm của Đức Christ; vì vậy Trường Arcane có thể cung cấp một tập thể người hoạt động đã được huấn luyện.

Ten years after that, I began to expand the range of contacts, and the teaching began to reach thinkers on continents other than the American. As a result, I began to form my own Ashram and to find people in all countries who were disciples, qualified as such, but who needed the impact of the influence of a second ray Ashram. When this was done, the major part of the second decade of my work became possible, and I therefore wrote a pamphlet entitled The New Group of World Servers. In it I called attention to the fact that there existed upon the Earth, in every nation, men and women who (in some form or another) recognised the spiritual Hierarchy of the planet, who had a quality of non-separateness, definitely present or else rapidly developing, and who were gathered together in no limiting organisation but primarily by their trend of thought and the habit of their activity. They constituted a group who were subjectively, spiritually, practically and openly creating a new form of human relationship. This new relation resulted in mutual understanding and a mental cooperation which recognised [634] no barriers or national limitations. On the inner side of spiritual incentive and endeavour, they work today as one group; on the outer side of world affairs, they may not be aware of each other physically, or arrive at any open contact, yet they are animated by the same principles and are carrying forward—in all nations and in every great department of human thinking and planning—a similar work.

Mười năm sau đó, tôi bắt đầu mở rộng phạm vi tiếp xúc, và giáo huấn bắt đầu đến với những nhà tư tưởng ở các châu lục ngoài châu Mỹ. Kết quả là, tôi bắt đầu hình thành ashram riêng của mình và tìm ra những người ở mọi quốc gia là các đệ tử, đủ tư cách như thế, nhưng cần đến tác động của ảnh hưởng từ một ashram cung hai. Khi điều này được thực hiện, phần lớn của thập niên thứ hai trong công việc của tôi trở nên khả hữu, và vì vậy tôi đã viết một tập sách nhỏ nhan đề Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Trong đó tôi đã lưu ý đến sự kiện rằng trên Trái Đất, trong mọi quốc gia, có những người nam và nữ mà (dưới hình thức này hay hình thức khác) nhận biết Thánh đoàn tinh thần của hành tinh, có phẩm tính bất phân ly hiện diện rõ rệt hoặc đang phát triển nhanh chóng, và không được tập hợp trong một tổ chức giới hạn nào mà chủ yếu bởi khuynh hướng tư tưởng và thói quen hoạt động của họ. Họ tạo thành một nhóm đang một cách chủ quan, tinh thần, thực tiễn và công khai tạo ra một hình thức mới của tương quan nhân loại. Mối tương quan mới này dẫn đến sự thấu hiểu lẫn nhau và một sự hợp tác trí tuệ không thừa nhận [634] rào cản hay giới hạn quốc gia nào. Ở mặt nội tại của động lực và nỗ lực tinh thần, ngày nay họ làm việc như một nhóm duy nhất; ở mặt bên ngoài của các công việc thế giới, họ có thể không biết nhau về mặt hồng trần, hay không đi đến bất kỳ sự tiếp xúc công khai nào, tuy nhiên họ được sinh động hóa bởi cùng những nguyên lý và đang xúc tiến—trong mọi quốc gia và trong mọi lĩnh vực lớn của tư tưởng và hoạch định của con người—một công việc tương tự.

In this decade of my work, two major activities were inaugurated: the creation of the Triangles and the formation of Men of Goodwill, (Since 1951 this work has been carried forward under the title of World Goodwill.) and these are just on the verge of a major creative activity. They constitute an effort to energise and relate members and adherents of the New Group of World Servers (and particularly in the organisation of men of goodwill), to find and mobilise the groups formed by the New Group of World Servers throughout the world, so as to bring added strength to all of them by swinging into a massed effort men of prayer, men of good intention, and those who believe in the divine will-to-good, plus those who implement it through love—no matter what they mean by that vague term. Thus a nucleus of a great synthesis was brought about in this second decade, and it will have lasting effects upon human living and design. Owing to planetary frustration and the enhanced activity of the Forces of Evil, the work of the Triangles and of the men of goodwill has been more slowly formulated than had been originally expected, but this has been through no fault of theirs; this period of frustration will be over before very long and a greatly increased momentum will be the result. For this increased response upon the part of the public, you should now lay your plans.

Trong thập niên này của công việc tôi, hai hoạt động lớn đã được khai mở: việc tạo lập các Tam Giác và việc hình thành Những Người Thiện Chí, (Từ năm 1951 công việc này đã được tiếp tục dưới danh hiệu Thiện Chí Thế Giới.) và những hoạt động này đang ở ngay ngưỡng của một hoạt động sáng tạo lớn. Chúng tạo thành một nỗ lực nhằm tiếp sinh lực và liên kết các thành viên và những người ủng hộ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian (đặc biệt trong tổ chức những người thiện chí), nhằm tìm ra và huy động các nhóm do Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hình thành trên khắp thế giới, để đem thêm sức mạnh cho tất cả họ bằng cách đưa vào một nỗ lực tập thể những người cầu nguyện, những người có thiện ý, và những người tin vào Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng, cộng với những người thực hiện nó qua tình thương—dù họ muốn nói gì bởi thuật ngữ mơ hồ ấy. Như vậy một hạt nhân của một tổng hợp lớn đã được tạo ra trong thập niên thứ hai này, và nó sẽ có những ảnh hưởng lâu dài lên đời sống và thiết kế của con người. Do sự ngăn trở của hành tinh và hoạt động gia tăng của các Mãnh Lực của Điều Ác, công việc của các Tam Giác và của những người thiện chí đã được định thức chậm hơn so với dự kiến ban đầu, nhưng điều này không phải do lỗi của họ; giai đoạn ngăn trở này sẽ không kéo dài lâu nữa và kết quả sẽ là một đà tiến tăng lên rất nhiều. Chính cho sự đáp ứng gia tăng này từ phía công chúng mà giờ đây các bạn nên đặt kế hoạch của mình.

In the third and final decade of my work, the time and opportunity came to announce, in a new and more emphatic manner, what all the world religions have proclaimed, that—with due preparation and the establishment of a pronounced tendency towards right human relations—the time had come when the Christ could again appear and take His rightful place as World Teacher. The emphasis has never before been [635] laid upon the needed work of preparation. The results of this pronouncement have not yet had time to make themselves felt, but the next ten years will reveal the full import of what has been done.

Trong thập niên thứ ba và cuối cùng của công việc tôi, thời gian và cơ hội đã đến để công bố, theo một cách mới và nhấn mạnh hơn, điều mà mọi tôn giáo thế giới đều đã tuyên xưng, rằng—với sự chuẩn bị thích đáng và việc thiết lập một khuynh hướng rõ rệt hướng tới những tương quan nhân loại đúng đắn—thời điểm đã đến khi Đức Christ có thể lại xuất hiện và đảm nhận vị trí chính đáng của Ngài là Đức Chưởng Giáo. Trước đây chưa bao giờ sự nhấn mạnh [635] được đặt lên công việc chuẩn bị cần thiết. Những kết quả của lời tuyên bố này chưa có thời gian để tự biểu lộ, nhưng mười năm tới sẽ cho thấy đầy đủ tầm quan trọng của điều đã được thực hiện.

With that pronouncement my planned work was brought to a finish; the book (The Reappearance of the Christ.) which will indicate the proximity of this happening and the lines along which the new world religion will be promoted is now in the press. I would call your attention to the fact that the general concept of a World Saviour (always attached to the office of the Christ, no matter by what name the exalted Son of God may be called in any world cycle) is in reality closely related to the far more important function of World Teacher. People love to be saved, for it ignores their own immediate responsibility, which teaching definitely emphasises. It must be remembered that it is the teaching given by the Christ which saves humanity—not any symbolic death upon a cross. Men must save themselves by their reaction and their response to the teaching given in its purity by the Christ; this is a point which should be forcefully instilled by all of you; it is not man-made interpretations which save a man, but his self-initiated application of his own understanding of the teaching. This must be brought today to the consciousness of as many human beings as the followers of the Christ can reach.

Với lời tuyên bố đó, công việc đã hoạch định của tôi được đưa đến chỗ hoàn tất; cuốn sách (Sự Tái Lâm của Đức Christ.) sẽ chỉ ra sự gần kề của biến cố này và những đường hướng theo đó tôn giáo thế giới mới sẽ được xúc tiến hiện đang được in. Tôi muốn lưu ý các bạn đến sự kiện rằng khái niệm tổng quát về một Đấng Cứu Thế của Thế Gian (luôn luôn gắn với chức vụ của Đức Christ, bất kể người Con cao cả của Thượng đế ấy có thể được gọi bằng tên gì trong bất kỳ chu kỳ thế giới nào) trên thực tế liên hệ chặt chẽ với chức năng quan trọng hơn nhiều là Đức Chưởng Giáo. Con người thích được cứu, vì điều đó bỏ qua trách nhiệm trực tiếp của chính họ, trong khi giáo huấn thì nhất định nhấn mạnh điều ấy. Phải nhớ rằng chính giáo huấn do Đức Christ ban ra cứu rỗi nhân loại—chứ không phải bất kỳ cái chết biểu tượng nào trên thập giá. Con người phải tự cứu mình bằng phản ứng và sự đáp ứng của họ đối với giáo huấn được Đức Christ ban ra trong sự tinh tuyền của nó; đây là một điểm mà tất cả các bạn nên khắc sâu một cách mạnh mẽ; không phải những diễn giải do con người tạo ra cứu một người, mà là việc người ấy tự khởi xướng áp dụng sự thấu hiểu của chính mình về giáo huấn. Điều này ngày nay phải được đưa đến tâm thức của càng nhiều người càng tốt mà những người theo Đức Christ có thể tiếp cận.

Here you have a brief account of the work which I undertook on behalf of the Hierarchy and for the Christ, Whom I most reverently regard as my Master. This work has not been unsuccessfully carried forward; many of you who read these words have done what you could to help and of this I am not unmindful nor is the Hierarchy ungrateful. Perhaps—with a still clearer picture in your minds—you will find yourselves able to do still more.

Ở đây các bạn có một tường thuật ngắn gọn về công việc mà tôi đã đảm nhận thay mặt cho Thánh Đoàn và cho Đức Christ, Đấng mà tôi hết sức cung kính xem là Chân sư của tôi. Công việc này đã không được xúc tiến một cách thất bại; nhiều người trong các bạn đang đọc những lời này đã làm điều mình có thể để giúp đỡ và tôi không quên điều đó, Thánh Đoàn cũng không vô ơn. Có lẽ—với một bức tranh còn rõ ràng hơn trong tâm trí các bạn—các bạn sẽ thấy mình có thể làm được nhiều hơn nữa.

I intend to indicate (still briefly) what should be done in the next two decades, but would like first of all to touch upon the state of the world and refer to its condition, because they have both handicapped hierarchical effort and particularly what I sought to do (which was a major hierarchical [636] enterprise), and yet at the same time they have cleared the way in a most extra-ordinary manner for the appearance of the Christ.

Tôi dự định nêu ra (vẫn một cách ngắn gọn) điều nên được thực hiện trong hai thập niên tới, nhưng trước hết muốn đề cập đến tình trạng của thế giới và nói đến điều kiện của nó, bởi vì cả hai đã làm cản trở nỗ lực của Thánh Đoàn và đặc biệt là điều tôi tìm cách thực hiện (vốn là một công cuộc [636] lớn của Thánh Đoàn), nhưng đồng thời lại dọn đường một cách hết sức phi thường cho sự xuất hiện của Đức Christ.

When I began my exoteric work in 1919, I had not expected to be frustrated by the second world war, or rather by the final phase of World War I. The Hierarchy had hoped that the lesson had been severe enough to force those changes which were essential to the future of mankind. But humanity had not learned the needed lessons. As I have often told you, the Hierarchy—because of the divine principle of free will in humanity—cannot foretell how men will act in times of crisis; the Hierarchy cannot enforce the good way of life against normal human desire, for this good way of action must come from out the very depths of human thinking and feeling, and must emerge as a free and non-supervised endeavour; the Hierarchy may not take those possible steps which will prevent men making mistakes, for it is through those mistakes that men learn “by the means of evil that good is best,” as your great initiate-poet has expressed it. All that the Hierarchy can do is to present the needed teaching which will direct man’s thinking along right lines, to point the way of true relationships, and at the same time demonstrate objectively the nature of the bad way. This the Hierarchy has always done. As a spiritual group, They can and do set Their faces against selfishness, greed, and against all that seeks to imprison the human spirit and impair its freedom. To illustrate—the Hierarchy demonstrated against the totalitarianism which the two great Powers, Germany and Japan expressed when they precipitated the second world war. This They still do and will continue to do when any aspect of totalitarian greed and aggressiveness in any form (subtle and undeclared or openly demonstrated) attempts to limit the freedom of the individual, the free spiritual man, no matter what his point in evolution.

Khi tôi bắt đầu công việc ngoại môn của mình vào năm 1919, tôi đã không ngờ sẽ bị ngăn trở bởi cuộc thế chiến thứ hai, hay đúng hơn là bởi giai đoạn cuối của Thế chiến thứ nhất. Thánh Đoàn đã hy vọng rằng bài học ấy đủ nghiêm khắc để buộc phải có những thay đổi thiết yếu cho tương lai của nhân loại. Nhưng nhân loại đã không học được những bài học cần thiết. Như tôi thường nói với các bạn, Thánh Đoàn—do nguyên lý thiêng liêng của ý chí tự do trong nhân loại—không thể tiên đoán con người sẽ hành động ra sao trong những thời kỳ khủng hoảng; Thánh Đoàn không thể áp đặt lối sống tốt đẹp trái với ham muốn bình thường của con người, vì lối hành động tốt đẹp này phải xuất phát từ chính chiều sâu của tư tưởng và cảm xúc con người, và phải nổi lên như một nỗ lực tự do và không bị giám sát; Thánh Đoàn không được phép thực hiện những bước đi khả dĩ có thể ngăn con người phạm sai lầm, vì chính qua những sai lầm ấy mà con người học được “nhờ phương tiện của điều ác mà điều thiện là tốt nhất,” như nhà thơ điểm đạo đồ vĩ đại của các bạn đã diễn tả. Tất cả những gì Thánh Đoàn có thể làm là trình bày giáo huấn cần thiết sẽ hướng tư tưởng của con người theo những đường lối đúng đắn, chỉ ra con đường của những tương quan chân chính, và đồng thời biểu lộ một cách khách quan bản chất của con đường sai lầm. Thánh Đoàn luôn luôn làm điều này. Là một nhóm tinh thần, Các Ngài có thể và thực sự quay mặt chống lại tính ích kỷ, lòng tham, và chống lại mọi điều tìm cách giam hãm tinh thần con người và làm suy giảm tự do của nó. Để minh họa—Thánh Đoàn đã biểu lộ sự phản đối đối với chủ nghĩa toàn trị mà hai Cường quốc lớn là Đức và Nhật đã biểu hiện khi họ làm bùng nổ cuộc thế chiến thứ hai. Các Ngài vẫn đang làm như vậy và sẽ tiếp tục làm như vậy khi bất kỳ phương diện nào của lòng tham và sự xâm lược toàn trị dưới bất kỳ hình thức nào (tinh vi và không tuyên bố hay công khai biểu lộ) tìm cách hạn chế tự do của cá nhân, của con người tinh thần tự do, bất kể điểm tiến hoá của y là gì.

Toward the end of the second decade of my work, totalitarianism reared anew its most evil head, and perforce, the Hierarchy took sides against this primary principle of evil, though never against any group of human beings. Please [637] note this. The point I seek to make is that the Hierarchy is inflexibly against any demonstration of the principle of non- freedom, no matter what form it takes, but is ever on the side of humanity. The spirit of evil which animated German actions evoked every possible opposition from the Forces of Light and from their source, the Hierarchy. Today this totalitarian evil is expressing itself through the planning of the Russian oligarchy, through the Zionist movement, and through all groups which seek to fetter and imprison the spirit of man; but the people under the sway of this evil influence and the scheming of these evil groups are never regarded in any light different to that of the rest of mankind. They are looked upon as glamoured, or as weak and ignorant (which they undoubtedly are), but they are never separated off in the thinking and planning of the Hierarchy from the rest of mankind. The evil must not be permitted or allowed to triumph, but the unhappy and glamoured exponents of this evil are loved, along with the rest of mankind. This is a point which is hard for the illogical thinker to understand, but it expresses most truly the attitude of the Christ and of all who serve His cause.

Về cuối thập niên thứ hai của công việc tôi, chủ nghĩa toàn trị lại ngẩng lên cái đầu cực ác của nó, và do đó, Thánh Đoàn đã đứng về phía chống lại nguyên lý sơ đẳng của điều ác này, dù không bao giờ chống lại bất kỳ nhóm người nào. Xin [637] lưu ý điều này. Điểm tôi muốn nêu ra là Thánh Đoàn kiên quyết chống lại bất kỳ sự biểu lộ nào của nguyên lý không-tự do, bất kể nó mang hình thức gì, nhưng luôn luôn đứng về phía nhân loại. Tinh thần của điều ác đã sinh động hóa các hành động của nước Đức đã gợi lên mọi sự chống đối khả dĩ từ các Mãnh Lực của Ánh Sáng và từ nguồn của các mãnh lực ấy là Thánh Đoàn. Ngày nay điều ác toàn trị này đang biểu lộ qua sự hoạch định của giới đầu sỏ Nga, qua phong trào Zionist, và qua mọi nhóm tìm cách xiềng xích và giam hãm tinh thần con người; nhưng những người dân dưới sự chi phối của ảnh hưởng xấu xa này và những mưu đồ của các nhóm ác ấy không bao giờ được nhìn nhận dưới bất kỳ ánh sáng nào khác với phần còn lại của nhân loại. Họ được nhìn như đang ở trong ảo cảm, hay như yếu đuối và vô minh (điều mà chắc chắn họ là như vậy), nhưng họ không bao giờ bị tách riêng trong tư tưởng và hoạch định của Thánh Đoàn khỏi phần còn lại của nhân loại. Điều ác không được phép hay để cho chiến thắng, nhưng những kẻ bất hạnh và bị ảo cảm ấy, là những người biểu hiện điều ác này, vẫn được yêu thương cùng với phần còn lại của nhân loại. Đây là một điểm mà nhà tư tưởng phi lý khó hiểu được, nhưng nó biểu lộ rất chân thực thái độ của Đức Christ và của tất cả những ai phụng sự chính nghĩa của Ngài.

With the focussed entrance of greed and of totalitarian ruthlessness into the world arena, much that I had planned and much that all of you were attempting to do, met with frustration; the work of all disciples was in many ways greatly hindered and handicapped, though not from the long range vision, but only from the angle of short range action. I would ask you to have this in mind. The vision stands even when immediate action is blocked.

Với sự xâm nhập tập trung của lòng tham và sự tàn nhẫn toàn trị vào vũ đài thế giới, nhiều điều tôi đã hoạch định và nhiều điều tất cả các bạn đã cố gắng làm đã gặp phải sự ngăn trở; công việc của mọi đệ tử đã bị cản trở và làm khó khăn rất nhiều theo nhiều cách, dù không phải từ tầm nhìn dài hạn, mà chỉ từ góc độ hành động ngắn hạn. Tôi muốn các bạn ghi nhớ điều này. Tầm nhìn vẫn đứng vững ngay cả khi hành động tức thời bị chặn lại.

Today it would appear, from all the indications and from the dominant world trends, that the still unconquered greed of certain of the more powerful nations is undeniably rampant, and that we are therefore facing another period of frustration and of major world difficulty. Feeling against Russia is running high among the Western Powers and is largely her own fault, though it is primarily based upon two main factors—one of them bad and the other good.

Ngày nay, từ mọi dấu hiệu và từ những xu hướng thế giới chi phối, dường như lòng tham vẫn chưa bị chinh phục của một số quốc gia hùng mạnh hơn đang hoành hành không thể phủ nhận, và vì vậy chúng ta đang đối diện với một giai đoạn ngăn trở khác và với những khó khăn lớn của thế giới. Cảm xúc chống Nga đang dâng cao trong các Cường quốc phương Tây và phần lớn là do lỗi của chính nước này, dù chủ yếu dựa trên hai yếu tố chính—một xấu và một tốt.

The bad reaction is based on the same old triplicity of [638] fear, greed and jealousy and—from the angle of those three phases of selfishness—is entirely justified. That fact, in itself, supplies a major difficulty. Think this out.

Phản ứng xấu dựa trên cùng bộ ba cũ của [638] sợ hãi, tham lam và ghen tị và—xét từ góc độ của ba phương diện ích kỷ ấy—hoàn toàn có cơ sở. Chính sự kiện đó tự nó đã tạo nên một khó khăn lớn. Hãy suy ngẫm điều này.

The good reaction is based on the frustration of the idea or concept of developing a unified peaceful world—a world in which there would be no war and in which men could live at peace with each other and in security, and in which men everywhere could work, relatively unopposed, towards right human relations. This super-world and this unified humanity is a true ideal, but is not a feasible project.

Phản ứng tốt dựa trên sự ngăn trở của ý tưởng hay khái niệm về việc phát triển một thế giới hòa bình hợp nhất—một thế giới trong đó sẽ không có chiến tranh và trong đó con người có thể sống hòa bình với nhau và trong an toàn, và trong đó con người ở khắp nơi có thể làm việc, tương đối không bị cản trở, hướng tới những tương quan nhân loại đúng đắn. Siêu thế giới này và nhân loại hợp nhất này là một lý tưởng chân chính, nhưng không phải là một dự án khả thi.

Spiritual workers should face the various world alternatives:

Những người hoạt động tinh thần nên đối diện với các khả năng lựa chọn khác nhau của thế giới:

1. An all-dominant Russia, whose regime would cover the planet, enforcing her totalitarian interpretation of communistic doctrine (there is a right and true interpretation), refusing freedom to the individual in the interest of the State, and—because of a low opinion of the human masses—everywhere standardising her interpretation of democracy.

1. Một nước Nga thống trị toàn diện, với chế độ bao trùm hành tinh, áp đặt cách diễn giải toàn trị của mình về giáo lý cộng sản chủ nghĩa (vốn có một cách diễn giải đúng đắn và chân chính), khước từ tự do của cá nhân vì quyền lợi của Nhà nước, và—do có quan niệm thấp kém về quần chúng nhân loại—ở khắp nơi tiêu chuẩn hóa cách diễn giải của mình về dân chủ.

2. A world in which all nations live in an armed armistice, in which distrust is forever rampant and in which science is prostituted to the art of destruction. In this world an explosion must and will eventually take place which will destroy humanity as once before it was destroyed, according to the Bible and the other world Scriptures and the hierarchical records.

2. Một thế giới trong đó mọi quốc gia sống trong một cuộc đình chiến có vũ trang, trong đó sự ngờ vực luôn luôn lan tràn và trong đó khoa học bị đồi bại hóa để phục vụ nghệ thuật hủy diệt. Trong thế giới này, rốt cuộc một vụ bùng nổ tất phải và sẽ xảy ra, hủy diệt nhân loại như đã từng bị hủy diệt trước đây, theo Kinh Thánh và các Thánh Kinh khác của thế giới cùng các ghi chép của Thánh đoàn.

3. A world in which the United States proves itself to be the controlling factor, after wiping out Russia, which she can well do if she acts now. It will be a predominantly capitalistic world, run by several nations but headed by the United States. A capitalistic nation is not necessarily wrong; capital has its place, and Russia (the enemy of capitalism) is by no means free from capitalistic bias. The motives of the United States are very mixed motives: greed of money or its equivalent, such as oil, and at the same time sincerely good intentions for the establishment of human freedom in a democratic world—modelled, of course, on American democracy. Other motives are an appreciation of the armed fist and, at [639] the same time, a longing for economic sharing and for that essential kindness which is such a strong American characteristic—a mass characteristic. These mixed motives will produce eventually a very confused world, one in which it will be found that humanity has learned very little as the result of the World War (1914-1945) and is acquiescent to the cycle of well-intentioned money control.

3. Một thế giới trong đó Hoa Kỳ chứng tỏ mình là yếu tố kiểm soát, sau khi quét sạch nước Nga, điều mà bà hoàn toàn có thể làm nếu hành động ngay bây giờ. Đó sẽ là một thế giới chủ yếu mang tính tư bản, do nhiều quốc gia điều hành nhưng đứng đầu là Hoa Kỳ. Một quốc gia tư bản không nhất thiết là sai; tư bản có chỗ đứng của nó, và nước Nga (kẻ thù của chủ nghĩa tư bản) tuyệt nhiên không thoát khỏi thiên kiến tư bản. Các động cơ của Hoa Kỳ rất pha tạp: lòng tham tiền bạc hay những thứ tương đương, như dầu mỏ, và đồng thời là những ý định tốt chân thành nhằm thiết lập tự do của con người trong một thế giới dân chủ—dĩ nhiên được khuôn theo nền dân chủ Mỹ. Những động cơ khác là sự coi trọng nắm đấm vũ lực và, đồng thời, là khát vọng chia sẻ kinh tế cùng lòng tử tế thiết yếu vốn là một đặc tính Mỹ rất mạnh—một đặc tính quần chúng. Những động cơ pha tạp này rốt cuộc sẽ tạo ra một thế giới rất hỗn loạn, trong đó người ta sẽ thấy rằng nhân loại đã học được rất ít từ kết quả của Thế Chiến (1914-1945) và cam chịu trước chu kỳ kiểm soát tiền bạc với thiện ý bề ngoài.

4. A world divided into “blocs” for mutual aid and economic sharing. Of this, the proposed treaty between Great Britain, France and the Benelux countries is a tentative sample, though tainted by objectionable motives, from the angle of the Hierarchy. Fear is the major factor producing this treaty, but it has in it nevertheless the seeds of hope. There is nothing intrinsically wrong in any group of nations standing together for mutual aid and economic cooperation. The wrong factor comes in when they stand united against any other group of nations, and therefore against any group of human beings. It is this attitude, engineered and fostered by Russia, which has lead to the relatively new concept of blocs against. Along this line, and with this attitude of antagonistic groupings, only disaster can lie.

4. Một thế giới bị chia thành các “khối” để tương trợ lẫn nhau và chia sẻ kinh tế. Về điều này, hiệp ước được đề nghị giữa Anh, Pháp và các nước Benelux là một mẫu thử tạm thời, tuy bị nhuốm những động cơ đáng phản đối, xét từ góc độ của Thánh đoàn. Sợ hãi là yếu tố chính tạo ra hiệp ước này, nhưng dầu vậy trong đó vẫn có những hạt giống của hy vọng. Tự thân, không có gì sai trái trong việc bất kỳ nhóm quốc gia nào đứng cùng nhau để tương trợ và hợp tác kinh tế. Yếu tố sai lầm xuất hiện khi họ đứng liên kết chống lại bất kỳ nhóm quốc gia nào khác, và do đó chống lại bất kỳ nhóm người nào. Chính thái độ này, do Nga đạo diễn và nuôi dưỡng, đã dẫn đến khái niệm tương đối mới về các khối chống đối. Theo đường hướng này, và với thái độ kết nhóm đối kháng như thế, chỉ có tai họa mới có thể ở đó.

Blocs in themselves can be good and proper if they follow lines of natural cleavages, of language differences and of cultural distinctions. They can be essentially right if they are formed for economic, educational, religious and social aims and can therefore provide no true cause for alarm. Such blocs would be cultural and not militaristic, economic and not greedy, and they could provide a normal and progressive movement away from the separative nationalism of the past and towards the distant creation of the One World, and the One Humanity. This will some day be seen, but the time is not yet. Mankind is not ready for some super-government, nor can it yet provide the unselfish and trained statesmen that such a government would require. As yet, there are more seeds of danger in this concept than there are of helpfulness. Nevertheless, it is a dream which will some day materialise, after the creation and the functioning of blocs have proved how men should work and live together.

Các khối tự thân có thể là tốt và thích đáng nếu chúng đi theo những đường phân chia tự nhiên, những khác biệt ngôn ngữ và những phân biệt văn hóa. Chúng có thể là đúng đắn về căn bản nếu được hình thành vì các mục tiêu kinh tế, giáo dục, tôn giáo và xã hội, và do đó không thể tạo ra nguyên nhân báo động thực sự nào. Những khối như thế sẽ mang tính văn hóa chứ không quân phiệt, mang tính kinh tế chứ không tham lam, và chúng có thể tạo ra một chuyển động bình thường và tiến bộ rời xa chủ nghĩa dân tộc chia rẽ của quá khứ để hướng tới sự sáng tạo xa xôi của Một Thế Giới và Một Nhân Loại. Một ngày nào đó điều này sẽ được nhìn thấy, nhưng thời điểm ấy chưa đến. Nhân loại chưa sẵn sàng cho một siêu-chính phủ, cũng chưa thể cung cấp những chính khách vô tư và được huấn luyện mà một chính phủ như thế đòi hỏi. Hiện nay, trong khái niệm này có nhiều hạt giống nguy hiểm hơn là hữu ích. Tuy nhiên, đó là một giấc mơ mà một ngày nào đó sẽ hiện hình, sau khi việc tạo lập và vận hành các khối đã chứng minh con người nên làm việc và sống cùng nhau như thế nào.

[640] The United Nations is still the hope of the world and can remain so; it is a great field of experimentation, but is suffering today from an initial error. That error was the admitting of a totalitarian Power into its nations. For seven long and terrible years the Forces of Light had been fighting totalitarianism. In the early days of the post-war period the Nations compromised with principles and admitted Russia to the United Nations. Had they proceeded to unite all the other nations of the world on the sure ground of economic reform, of needed national reorganisation and of regional groups (a better term than “blocs”), Russia would have been forced to conform, for her very existence would have been at stake. An initial error can lead to much trouble, and it is this type of trouble which the United Nations today faces.

[640] Liên Hiệp Quốc vẫn là hy vọng của thế giới và có thể tiếp tục như vậy; đó là một cánh đồng thử nghiệm lớn, nhưng ngày nay đang chịu khổ vì một sai lầm ban đầu. Sai lầm ấy là việc chấp nhận một Cường quốc toàn trị vào trong các quốc gia của mình. Suốt bảy năm dài và khủng khiếp, Các Mãnh Lực của Ánh sáng đã chiến đấu chống chủ nghĩa toàn trị. Trong những ngày đầu của thời kỳ hậu chiến, các Quốc gia đã thỏa hiệp với các nguyên lý và chấp nhận Nga vào Liên Hiệp Quốc. Nếu họ đã tiến hành liên kết tất cả các quốc gia khác trên thế giới trên nền tảng vững chắc của cải cách kinh tế, của sự tái tổ chức quốc gia cần thiết và của các nhóm khu vực (một thuật ngữ tốt hơn “khối”), thì Nga đã buộc phải tuân theo, vì chính sự tồn tại của bà sẽ bị đe dọa. Một sai lầm ban đầu có thể dẫn đến nhiều rắc rối, và chính loại rắc rối này mà Liên Hiệp Quốc ngày nay đang đối diện.

I have here given you the possibilities with which the work is challenged and confronted, and again I must refuse to foretell what will happen. It is not permitted. I have felt it necessary to summarise the situation because it is in this world that you and all men of goodwill will have to work for the next twenty years; this period of settlement will not be an easy one in which the disciples of the Christ have to prepare for His appearance. The two decades ahead of you are those in which you must bring to fruition the seeds which I have planted. Though I shall not be actively and outwardly working with you or communicating with you as I have done over the past thirty years, you will have my books (which will then be finished) and the relation which I now hold to you and to all the activities which I have helped you to inaugurate will remain basically the same; it will be more subjective but many in the world today know the means of reaching me.

Ở đây tôi đã nêu cho các bạn những khả năng mà công việc đang bị thách thức và đối mặt, và một lần nữa tôi phải từ chối tiên đoán điều gì sẽ xảy ra. Điều đó không được phép. Tôi thấy cần phải tóm lược tình hình vì chính trong thế giới này mà bạn và tất cả những người thiện chí sẽ phải làm việc trong hai mươi năm tới; thời kỳ dàn xếp này sẽ không dễ dàng, trong đó các đệ tử của Đức Christ phải chuẩn bị cho sự xuất hiện của Ngài. Hai thập niên trước mắt các bạn là thời kỳ trong đó các bạn phải làm cho những hạt giống mà tôi đã gieo trổ sinh kết quả. Dù tôi sẽ không còn tích cực và công khai làm việc với các bạn hay liên lạc với các bạn như tôi đã làm trong ba mươi năm qua, các bạn sẽ có các sách của tôi (lúc ấy sẽ hoàn tất) và mối liên hệ mà hiện nay tôi giữ với các bạn và với mọi hoạt động mà tôi đã giúp các bạn khởi xướng sẽ về căn bản vẫn như cũ; nó sẽ chủ quan hơn nhưng ngày nay nhiều người trên thế giới biết phương tiện để tiếp cận tôi.

The Christ, Whom I serve as a disciple, and the spiritual Hierarchy, of which I am a member, are drawing steadily nearer to humanity; in the past I have used the statement to reassure you, “The Hierarchy stands”; today I say to you, “The Hierarchy is near.”

Đức Christ, Đấng mà tôi phụng sự với tư cách một đệ tử, và Huyền Giai Tinh Thần mà tôi là một thành viên, đang đều đặn tiến gần hơn đến nhân loại; trước đây tôi đã dùng lời khẳng định để trấn an các bạn: “Thánh đoàn vẫn đứng vững”; hôm nay tôi nói với các bạn, “Thánh đoàn đang ở gần.”

The work that must be done in the two coming decades is as follows, and I shall not enlarge upon it because you have [641] been trained to do it; you know what to do and the responsibility is yours—as will be my unfailing help.

Công việc phải được thực hiện trong hai thập niên sắp tới như sau, và tôi sẽ không nói rộng thêm vì các bạn đã [641] được huấn luyện để làm điều đó; các bạn biết phải làm gì và trách nhiệm là của các bạn—cũng như sự trợ giúp không hề sai chạy của tôi.

1. Prepare men for the reappearance of the Christ. This is your first and greatest duty. The most important part of that work is teaching men—on a large scale—to use the Invocation so that it becomes a world prayer and focusses the invocative demand of humanity.

1. Chuẩn bị con người cho sự tái lâm của Đức Christ. Đây là bổn phận đầu tiên và lớn lao nhất của các bạn. Phần quan trọng nhất của công việc ấy là dạy con người—trên quy mô lớn—sử dụng Đại Khấn Nguyện để nó trở thành một lời cầu nguyện thế giới và tập trung nhu cầu khẩn cầu của nhân loại.

2. Enlarge the work of the Triangles so that, subjectively and etherically, light and goodwill may envelop the earth.

2. Mở rộng công việc của các Tam Giác để, một cách chủ quan và trên cõi dĩ thái, ánh sáng và thiện chí có thể bao bọc Trái Đất.

3. Promote ceaselessly the work of World Goodwill, so that every nation may have its group of men and women dedicated to the establishing of right human relations. You have the nucleus, and expansion must be undertaken. You have the principle of goodwill present throughout the world; the task will be heavy indeed but far from impossible.

3. Không ngừng thúc đẩy công việc của Thiện Chí Thế Giới, để mỗi quốc gia có thể có nhóm những người nam và nữ hiến mình cho việc thiết lập các quan hệ đúng đắn giữa người với người. Các bạn đã có hạt nhân, và phải tiến hành mở rộng. Các bạn đã có nguyên lý thiện chí hiện diện khắp thế giới; nhiệm vụ quả thật sẽ nặng nề nhưng tuyệt không phải là bất khả.

4. Undertake the constant distribution of my books, which contain much of the teaching for the New Age. In the last analysis, the books are your working tools and the instruments whereby you will train your workers. See that they are kept in steady circulation.

4. Đảm nhận việc phân phối liên tục các sách của tôi, vốn chứa đựng nhiều giáo huấn cho Kỷ Nguyên Mới. Rốt cuộc, các sách ấy là công cụ làm việc của các bạn và là những phương tiện nhờ đó các bạn sẽ huấn luyện những người hoạt động của mình. Hãy bảo đảm rằng chúng luôn được lưu hành đều đặn.

5. Endeavour to make the Wesak Festival (at the time of the May Full Moon) a universal festival and known to be of value to all men of all faiths. It is the festival in which the two divine Leaders, of the East and of the West, collaborate together and work in the closest spiritual union; the Christ and the Buddha use this festival each year as the point of inspiration for the coming year’s work. See that you do likewise. The spiritual energies are then uniquely available.

5. Cố gắng làm cho Lễ Hội Wesak (vào lúc Trăng Tròn tháng Năm) trở thành một lễ hội phổ quát và được biết là có giá trị đối với mọi người thuộc mọi tín ngưỡng. Đây là lễ hội trong đó hai Vị Lãnh Đạo thiêng liêng của Đông phương và Tây phương cộng tác với nhau và làm việc trong sự hợp nhất tinh thần mật thiết nhất; mỗi năm Đức Christ và Đức Phật dùng lễ hội này như điểm cảm hứng cho công việc của năm sắp tới. Hãy bảo đảm rằng các bạn cũng làm như vậy. Khi ấy các năng lượng tinh thần sẵn có một cách độc đáo.

6. Discover the members of the New Group of World Servers, whenever possible, and strengthen their hands. Look for them in every nation and expressing many lines of thought and points of view. Remember always that in doctrine and dogma, and in techniques and methods, they may differ widely from you, but in love of their fellowmen, in practical goodwill and in devotion to the establishing of right human relations they stand with you, they are your equals, and can probably teach you much.

6. Khám phá các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, bất cứ khi nào có thể, và tăng cường sức mạnh cho họ. Hãy tìm họ trong mọi quốc gia và đang biểu lộ qua nhiều đường lối tư tưởng và nhiều quan điểm. Hãy luôn nhớ rằng về giáo lý và tín điều, về kỹ thuật và phương pháp, họ có thể khác các bạn rất xa, nhưng trong tình thương đối với đồng loại, trong thiện chí thực tiễn và trong sự tận tụy đối với việc thiết lập các quan hệ đúng đắn giữa người với người, họ đứng cùng các bạn, họ là những người ngang hàng với các bạn, và có lẽ còn có thể dạy cho các bạn nhiều điều.

[642] And now: What shall I say to you in closing, my comrades, my brothers and my co-disciples? I have said to you so much over the past years that there is little left to say; you have all you need wherewith to carry on the work, impulsed from the Hierarchy, through what I have attempted to do. I can only say that I have confidence in you and that I expect no slackening of effort from you. You are dedicated and consecrated and will remain so, for the closeness of the Hierarchy and the nearness of the Christ indicate to you increased sources of strength.

[642] Và giờ đây: Tôi sẽ nói gì với các bạn để kết thúc, hỡi các bạn đồng hành, các Huynh đệ của Tôi và các đệ tử đồng môn của tôi? Tôi đã nói với các bạn quá nhiều trong những năm qua đến nỗi hầu như chẳng còn gì để nói nữa; các bạn có mọi điều mình cần để tiếp tục công việc, được thúc đẩy từ Thánh đoàn qua điều tôi đã cố gắng thực hiện. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi tin tưởng nơi các bạn và tôi không mong thấy nơi các bạn bất kỳ sự chùng xuống nào trong nỗ lực. Các bạn đã hiến dâng và thánh hiến, và sẽ vẫn như vậy, vì sự gần gũi của Thánh đoàn và sự cận kề của Đức Christ chỉ cho các bạn những nguồn sức mạnh gia tăng.

May the blessing of the One Whom we all serve rest upon you all and upon all disciples everywhere, and may you do your full share in helping men to pass from darkness into light and from death to immortality.

Nguyện phúc lành của Đấng mà tất cả chúng ta phụng sự ngự trên tất cả các bạn và trên mọi đệ tử ở khắp nơi, và nguyện các bạn làm trọn phần việc của mình trong việc giúp con người đi từ bóng tối vào ánh sáng và từ cái chết đến sự bất tử.