HIERARCHICAL PREPARATION AT THE WESAK FESTIVAL—SỰ CHUẨN BỊ CỦA THÁNH ĐOÀN TẠI LỄ HỘI WESAK
April-May 1946
Tháng Tư-Tháng Năm 1946
[541] I have delayed writing my usual Wesak message until this late date because of a certain event in the Hierarchy which was maturing and which necessitated my entire attention. This event was connected with the Wesak Festival and involved among other matters the formation of a new Ashram in which the Wisdom aspect would be of particular importance and not the Love aspect; this Ashram would also be related in a peculiar manner to the Buddha. It had to be formed at this time in order to be the recipient, and then the custodian, of certain “endowments” which the Buddha will bring at the time of the May Full Moon. The endowments concern the will-to-good of the Lord of the World, the Ancient of Days, though they do not concern goodwill as you understand that phrase. This Ashram, when duly formed and established, will enable the Members of the Hierarchy to respond to this aspect of the divine Purpose—the Purpose which as you know lies behind and implements the Plan; this Ashram, related to the Buddha, will be specifically under the close supervision of the Christ, and also of the Lord of Civilisation—at this time the Master R. They are the only two Members of the Hierarchy able to register the divine Purpose (in regard to its immediate objectives) in such a manner that the entire Hierarchy can be informed and can then work unitedly and intelligently at its implementation. More than this I may not tell you about this particular hierarchical move, affecting as it does both Shamballa and the Hierarchy.
[541] Tôi đã trì hoãn việc viết thông điệp Wesak thường lệ của tôi cho đến thời điểm muộn này vì một biến cố nào đó trong Thánh Đoàn đang chín muồi và đòi hỏi toàn bộ sự chú ý của tôi. Biến cố này liên quan đến Lễ Hội Wesak và bao hàm, trong số những điều khác, việc hình thành một Ashram mới trong đó phương diện minh triết sẽ đặc biệt quan trọng chứ không phải phương diện bác ái; Ashram này cũng sẽ liên hệ theo một cách đặc biệt với Đức Phật. Nó phải được hình thành vào lúc này để trở thành nơi tiếp nhận, rồi sau đó là nơi gìn giữ, một số “ân ban” mà Đức Phật sẽ mang đến vào thời điểm Trăng Tròn tháng Năm. Những ân ban này liên quan đến Ý Chí-hướng Thiện của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, dù chúng không liên quan đến thiện chí như bạn hiểu cụm từ đó. Ashram này, khi được hình thành và thiết lập đúng mức, sẽ giúp các Thành Viên của Thánh Đoàn đáp ứng với phương diện này của Thiên Ý—Thiên Ý mà như bạn biết, nằm phía sau và thực hiện Thiên Cơ; Ashram này, liên hệ với Đức Phật, sẽ đặc biệt dưới sự giám sát chặt chẽ của Đức Christ, và cũng của Chúa Tể của Văn Minh—vào lúc này là Chân sư R. Các Ngài là hai Thành Viên duy nhất của Thánh Đoàn có thể ghi nhận Thiên Ý thiêng liêng (liên quan đến các mục tiêu trước mắt của nó) theo cách sao cho toàn thể Thánh Đoàn có thể được thông báo và rồi có thể cùng nhau làm việc một cách hợp nhất và thông minh để thực hiện nó. Tôi không thể nói với bạn thêm gì nữa về sự chuyển động đặc biệt này của Thánh đoàn, vì nó ảnh hưởng đến cả Shamballa lẫn Thánh Đoàn.
This Wesak Festival is of supreme importance because it is the first Festival since the war ended, because it takes place at a time when a definite orientation of the Hierarchy will take place, and because a fresh tide of spiritual impulse and directed second ray energy will flood the entire Hierarchy; the work, therefore, to be done by the Hierarchy will be far more effective. This you may anticipate and upon this you can count.
Lễ Hội Wesak này có tầm quan trọng tối cao vì đây là Lễ Hội đầu tiên kể từ khi chiến tranh chấm dứt, vì nó diễn ra vào thời điểm khi một sự định hướng xác định của Thánh Đoàn sẽ diễn ra, và vì một làn sóng mới của xung lực tinh thần và năng lượng cung hai có định hướng sẽ tràn ngập toàn thể Thánh Đoàn; do đó, công việc mà Thánh Đoàn phải thực hiện sẽ hữu hiệu hơn nhiều. Bạn có thể dự liệu điều này và có thể trông cậy vào điều đó.
[542] But—as you may well have surmised—it is the Full Moon of June which is (this year) the season of prime and outstanding importance; it is in many ways easier for Western believers and esotericists to tune in and participate in the activities of the Hierarchy when closely connected with the Christ than it is in those related to the Buddha. The main intention in these early stages of keeping the Eastern Festival of Wesak is to familiarise the Western world with the fact of the presence of the Buddha and with His activities in connection with humanity. Such great progress has, however, taken place in the spiritual development of humanity that the Buddha need no longer continue with His task unless He so desires—and then only for a period of years, known to Him and the Lord of the World. He could cease His annual contact with the Hierarchy at this time, if He so chose, owing to the direct contact now established between the Hierarchy and Shamballa. This, however, He does not immediately choose to do. For a few decades longer He will cooperate with the Christ in widening the channel of contact between Shamballa, the Hierarchy and Humanity. After that, He will “proceed to His Own place” in the solar Hierarchy and will no longer visit the Himalayas annually, as has been His custom for so many centuries. The Eastern Festival of Wesak (Vaisaka) and the Christian day of remembrance, Good Friday, will fade out of the consciousness of humanity in due time; they are both festivals related to aspects of the first Ray of Power or Will. The abolition of the fear of death and the establishment of a close relation of the Hierarchy with Shamballa will render obsolete these ancient ceremonial rites.
[542] Nhưng—như bạn hẳn đã suy đoán—chính Trăng Tròn tháng Sáu mới là (trong năm nay) mùa có tầm quan trọng hàng đầu và nổi bật; theo nhiều cách, đối với các tín đồ phương Tây và các nhà bí truyền học, việc chỉnh hợp và tham gia vào các hoạt động của Thánh Đoàn khi gắn chặt với Đức Christ dễ hơn là với những hoạt động liên quan đến Đức Phật. Ý định chính trong những giai đoạn đầu của việc giữ Lễ Hội Wesak phương Đông là làm cho thế giới phương Tây quen thuộc với sự kiện về sự hiện diện của Đức Phật và với các hoạt động của Ngài liên quan đến nhân loại. Tuy nhiên, đã có tiến bộ lớn lao trong sự phát triển tinh thần của nhân loại đến mức Đức Phật không còn cần phải tiếp tục nhiệm vụ của Ngài nữa, trừ phi Ngài mong muốn như vậy—và khi đó cũng chỉ trong một thời kỳ năm tháng mà Ngài và Đức Chúa Tể Thế Giới biết rõ. Ngài có thể chấm dứt sự tiếp xúc hằng năm của Ngài với Thánh Đoàn vào lúc này, nếu Ngài chọn như thế, do sự tiếp xúc trực tiếp hiện đã được thiết lập giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Tuy nhiên, Ngài không lập tức chọn làm như vậy. Trong thêm vài thập niên nữa, Ngài sẽ hợp tác với Đức Christ trong việc mở rộng kênh tiếp xúc giữa Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Sau đó, Ngài sẽ “đi đến nơi riêng của Ngài” trong Thánh đoàn thái dương và sẽ không còn viếng dãy Himalaya hằng năm nữa, như đã là tập quán của Ngài trong rất nhiều thế kỷ. Lễ Hội Wesak phương Đông (Vaisaka) và ngày tưởng niệm của Kitô giáo, Thứ Sáu Tuần Thánh, theo thời gian sẽ phai mờ khỏi tâm thức nhân loại; cả hai đều là những lễ hội liên quan đến các phương diện của Cung một Quyền Năng hay Ý Chí. Việc xóa bỏ nỗi sợ chết và việc thiết lập một mối liên hệ chặt chẽ của Thánh Đoàn với Shamballa sẽ làm cho những nghi lễ cổ xưa này trở nên lỗi thời.
In this message I would like to consider with you primarily the Festival of the Christ, held at the time of the Full Moon of June, and the work of the Christ as He prepares Himself for the fulfilment of His true mission on Earth. The Christian Church has so distorted that mission and ruthlessly perverted the intention for which He originally manifested that a consideration of that mission is deeply needed and should be revolutionary in its effects. Starting [543] with St. Paul, the theologians interpreted His words in such a manner that they served to bridge the gap between the spiritual future of the world and the Jewish dispensation which should have been passing out. So effective has been their work that the teachings of the loving, simple Son of God have been largely ignored; the failure of Christianity can be traced to its Jewish background (emphasised by St. Paul), which made it full of propaganda instead of loving action, which taught the blood sacrifice instead of loving service, and which emphasised the existence of a wrathful God, needing to be placated by death, and which embodied the threats of the Old Testament Jehovah in the Christian teaching of hell fire.
Trong thông điệp này, tôi muốn cùng bạn chủ yếu xem xét Lễ Hội của Đức Christ, được tổ chức vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu, và công việc của Đức Christ khi Ngài chuẩn bị cho việc hoàn thành sứ mệnh chân thực của Ngài trên Trái Đất. Giáo hội Kitô giáo đã bóp méo sứ mệnh đó đến mức và xuyên tạc tàn nhẫn ý định mà vì đó Ngài đã biểu hiện ban đầu, đến nỗi việc xem xét sứ mệnh ấy là vô cùng cần thiết và nên mang tính cách mạng trong các hiệu quả của nó. Bắt đầu [543] với Thánh Paul, các nhà thần học đã diễn giải lời Ngài theo cách khiến chúng phục vụ cho việc bắc cầu khoảng cách giữa tương lai tinh thần của thế giới và chế độ Do Thái lẽ ra phải đang biến mất. Công việc của họ đã hữu hiệu đến mức giáo huấn của Con của Thượng đế đầy bác ái và đơn sơ phần lớn đã bị phớt lờ; sự thất bại của Kitô giáo có thể được truy nguyên về nền tảng Do Thái của nó (được Thánh Paul nhấn mạnh), điều đã khiến nó đầy tuyên truyền thay vì hành động bác ái, dạy về sự hy sinh bằng máu thay vì phụng sự bằng bác ái, và nhấn mạnh sự hiện hữu của một Thượng đế đầy thịnh nộ, cần được xoa dịu bằng cái chết, đồng thời đưa những lời đe dọa của Jehovah trong Cựu Ước vào giáo huấn Kitô giáo về lửa địa ngục.
This situation is one which the Christ is seeking to alter; it has been in preparation for His instituting a new and more correct presentation of divine truth that I have sought—with love and understanding—to point out the faults of the world religions, with their obsolete theologies and their lack of love, and to indicate the evils of Judaism. The present world faiths must return to their early simplicity, and orthodox Judaism, with its deep-seated hate, must slowly disappear; all must be changed in preparation for the revelation which Christ will bring.
Đây là tình trạng mà Đức Christ đang tìm cách thay đổi; chính để chuẩn bị cho việc Ngài thiết lập một sự trình bày mới và đúng đắn hơn về chân lý thiêng liêng mà tôi đã tìm cách—với bác ái và thấu hiểu—chỉ ra những sai lầm của các tôn giáo thế giới, với các thần học lỗi thời và sự thiếu bác ái của chúng, và chỉ ra những điều ác của Do Thái giáo. Các đức tin thế giới hiện nay phải trở về với sự đơn giản ban đầu của chúng, và Do Thái giáo chính thống, với lòng căm ghét ăn sâu của nó, phải từ từ biến mất; tất cả đều phải được thay đổi để chuẩn bị cho sự mặc khải mà Đức Christ sẽ mang đến.
The first things which the Christ will do, beginning with this full Moon of June, will be to prepare all people everywhere (if possible through their regenerated, religious institutions) for the revelation for which all humanity waits.
Những điều đầu tiên mà Đức Christ sẽ làm, bắt đầu từ kỳ Trăng Tròn tháng Sáu này, sẽ là chuẩn bị cho mọi người ở khắp nơi (nếu có thể thông qua các định chế tôn giáo đã được tái sinh của họ) cho sự mặc khải mà toàn thể nhân loại đang chờ đợi.
It is this revelation which lies behind all the activities which now engross the attention of the Hierarchy. There have been many revelations of divine purpose down the ages, each of which uniquely altered the point of view and the pattern of living for men everywhere. There was the ancient revelation, given through the people of India, as to the existence of the Self and the Not-Self—a revelation which is now coming to have meaning through the teaching of modern psychology; there was the revelation of the Ten Commandments, given through the Jews and—because of the negativity shown then and today by the Jews—given [544] in a negative and not a positive form. The Christ endeavoured to offset and bring to an end the need for the Ten Commandments, by giving us the eleventh commandment; this, if kept, would entail the keeping of all the others. There was the revelation which Christ Himself gave, summing it up for us in His life of service, in the love which He preached and in His constant repudiation of theological Judaism (the Sadducees and the Pharisees). This difficulty with Judaism still persists and is symbolised for us in the failure to recognise the Messiah when He came to them in their own country and let it be known that He came to the whole world and not to the Jews alone.
Chính sự mặc khải này nằm phía sau mọi hoạt động hiện đang thu hút sự chú ý của Thánh Đoàn. Đã có nhiều sự mặc khải về Thiên Ý qua các thời đại, mỗi sự mặc khải đều độc đáo làm thay đổi quan điểm và mô hình sống của những người nam và nữ ở khắp nơi. Đã có sự mặc khải cổ xưa, được ban qua dân tộc Ấn Độ, về sự hiện hữu của Ngã và Phi-Ngã—một sự mặc khải hiện nay đang bắt đầu có ý nghĩa thông qua giáo huấn của tâm lý học hiện đại; đã có sự mặc khải về Mười Điều Răn, được ban qua người Do Thái và—do tính tiêu cực mà người Do Thái đã biểu lộ khi ấy và ngày nay—được ban [544] dưới hình thức phủ định chứ không phải khẳng định. Đức Christ đã cố gắng hóa giải và chấm dứt nhu cầu đối với Mười Điều Răn bằng cách ban cho chúng ta điều răn thứ mười một; nếu điều này được tuân giữ, nó sẽ bao hàm việc tuân giữ tất cả những điều kia. Đã có sự mặc khải mà chính Đức Christ đã ban, được Ngài tóm kết cho chúng ta trong đời sống phụng sự của Ngài, trong bác ái mà Ngài rao giảng và trong sự bác bỏ liên tục của Ngài đối với Do Thái giáo thần học (những người Sadducee và Pharisee). Khó khăn này với Do Thái giáo vẫn còn tồn tại và được tượng trưng cho chúng ta trong sự thất bại không nhận ra Đấng Messiah khi Ngài đến với họ tại chính đất nước của họ và cho biết rằng Ngài đến vì toàn thế giới chứ không chỉ riêng người Do Thái.
For this new revelation the Christ is preparing as are all the members of the Hierarchy, from the highest Chohan down to the humblest accepted disciple; it is for this that all the ashrams are getting ready; it is for this also that (in a weak and feeble manner) Christian people, those of the other world faiths, and spiritually minded people are likewise preparing.
Cho sự mặc khải mới này, Đức Christ đang chuẩn bị cũng như mọi thành viên của Thánh Đoàn, từ vị Chohan cao nhất cho đến đệ tử được chấp nhận khiêm tốn nhất; chính vì điều này mà tất cả các ashram đang chuẩn bị; cũng chính vì điều này mà (dù theo một cách yếu ớt và mỏng manh) những người Kitô giáo, những người thuộc các đức tin thế giới khác, và những người có tâm trí tinh thần cũng đang chuẩn bị.
Therefore, we have isolated (if I may use such a word) three activities to which the Christ is at this time dedicated:
Vì vậy, chúng ta đã tách riêng ra (nếu tôi có thể dùng một từ như thế) ba hoạt động mà Đức Christ hiện đang hiến mình cho:
1. The reorganisation of the world religions—if in any way possible—so that their out-of-date theologies, their narrow-minded emphasis and their ridiculous belief that they know what is in the Mind of God may be offset, in order that the churches may eventually be the recipients of spiritual inspiration.
1. Tái tổ chức các tôn giáo thế giới—nếu bằng bất kỳ cách nào có thể—để các thần học lỗi thời, sự nhấn mạnh hẹp hòi và niềm tin lố bịch của họ rằng họ biết điều gì ở trong Trí của Thượng đế có thể được hóa giải, hầu cho các giáo hội cuối cùng có thể trở thành những nơi tiếp nhận cảm hứng tinh thần.
2. The gradual dissolution—again if in any way possible—of the orthodox Jewish faith, with its obsolete teaching, its separative emphasis, its hatred of the Gentiles and its failure to recognise the Christ. In saying this I do not fail to recognise those Jews throughout the world who acknowledge the evils and who are not orthodox in their thinking; they belong to the aristocracy of spiritual belief to which the Hierarchy itself belongs. [545]
2. Sự tan rã dần dần—một lần nữa, nếu bằng bất kỳ cách nào có thể—của đức tin Do Thái chính thống, với giáo huấn lỗi thời, sự nhấn mạnh phân ly, lòng căm ghét đối với dân ngoại và sự thất bại trong việc nhận ra Đức Christ. Khi nói điều này, tôi không quên những người Do Thái trên khắp thế giới thừa nhận những điều ác ấy và không chính thống trong tư duy của họ; họ thuộc về tầng lớp quý tộc của niềm tin tinh thần mà chính Thánh Đoàn cũng thuộc về. [545]
3. Preparation for a revelation which will inaugurate the new era and set the note for the new world religion.
3. Chuẩn bị cho một sự mặc khải sẽ khai mở kỷ nguyên mới và đặt chủ âm cho tôn giáo thế giới mới.
To these three efforts of the Hierarchy, superintended by the Christ, another two must be added, of perhaps even greater importance. The first one is the reaction of the Hierarchy itself to the new relationship established between It and Shamballa and to that new, direct and potent channel which has lately been induced by the efforts of the Hierarchy and human invocativeness. The second activity is one leading towards a much closer relation between the Hierarchy and Humanity; this will lead eventually to the externalisation of certain of the Ashrams, and later to the appearance of the Hierarchy on earth, bringing the new revelation.
Vào ba nỗ lực này của Thánh Đoàn, được Đức Christ giám sát, phải thêm vào hai nỗ lực khác, có lẽ còn quan trọng hơn nữa. Nỗ lực thứ nhất là phản ứng của chính Thánh Đoàn đối với mối liên hệ mới được thiết lập giữa Nó và Shamballa và đối với kênh mới, trực tiếp và mạnh mẽ đó vừa mới được tạo ra bởi các nỗ lực của Thánh Đoàn và tính khẩn cầu của nhân loại. Hoạt động thứ hai là hoạt động dẫn đến một mối liên hệ gần gũi hơn nhiều giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại; điều này cuối cùng sẽ dẫn đến sự ngoại hiện của một số ashram, và sau đó là sự xuất hiện của Thánh Đoàn trên Trái Đất, mang theo sự mặc khải mới.
These various efforts may appear to the casual reader as relatively unimportant. This is a superficial point of view and one which meets with little sympathy from the Hierarchy. That the Jews should be rid of fear is of major importance; that they should know and recognise the Christ as the Messiah, and therefore find for themselves that the religion they follow is destructive of many of the finer values, is likewise of major importance; that orthodox Judaism, along with all the other faiths, should realise that there is no desire to make them Christian (in the ordinary sense of the term), but that they should all move towards some loving synthesis and eliminate their mutual antagonisms and rivalries is equally urgent, and this statement includes the Christian faiths as well. That the Vatican cease its political scheming, its exploitation of the masses and its emphasis upon ignorance is as important; that the manifold divisions of the Protestant churches be bridged is imperative. If none of these things happen, humanity is headed towards a religious war which will make the past war appear like child’s play; antagonisms and hatreds will embroil entire populations and the politicians of all the nations will take full advantage of the situation to precipitate a war which may well prove the end of humanity. There are [546] no hatreds so great or so deep as those fostered by religion.
Đối với người đọc hời hợt, những nỗ lực khác nhau này có thể có vẻ tương đối không quan trọng. Đó là một quan điểm nông cạn và là điều nhận được rất ít thiện cảm từ Thánh Đoàn. Việc người Do Thái thoát khỏi sợ hãi là điều cực kỳ quan trọng; việc họ biết và nhận ra Đức Christ là Đấng Messiah, và do đó tự mình nhận ra rằng tôn giáo họ đang theo là phá hoại nhiều giá trị tinh tế hơn, cũng là điều cực kỳ quan trọng; việc Do Thái giáo chính thống, cùng với tất cả các đức tin khác, nhận ra rằng không có mong muốn biến họ thành Kitô hữu (theo nghĩa thông thường của từ này), mà là để tất cả cùng tiến tới một sự tổng hợp đầy bác ái nào đó và loại bỏ những đối kháng và cạnh tranh lẫn nhau của họ, cũng cấp bách không kém, và phát biểu này cũng bao gồm cả các đức tin Kitô giáo. Việc Vatican chấm dứt những mưu đồ chính trị, sự khai thác quần chúng và sự nhấn mạnh vào vô minh của nó cũng quan trọng như vậy; việc nhiều chia rẽ của các giáo hội Tin Lành được bắc cầu là điều cấp thiết. Nếu không điều nào trong những điều này xảy ra, nhân loại đang hướng đến một cuộc chiến tranh tôn giáo sẽ khiến cuộc chiến vừa qua trông như trò chơi trẻ con; những đối kháng và hận thù sẽ cuốn toàn bộ dân cư vào vòng xung đột và các chính trị gia của mọi quốc gia sẽ tận dụng triệt để tình hình để làm ngưng tụ một cuộc chiến có thể rất có thể chứng tỏ là sự kết thúc của nhân loại. Không có những hận thù nào lớn và sâu bằng những hận thù được nuôi dưỡng bởi tôn giáo.
The Christ, therefore, has to add to all the many objectives which occupy His attention still another—the effort to avert a final war. This incipient war is contrary to the will-to-good of the Lord of the World and any world plan; it can be averted by goodwill. This is the most important statement in this message, as far as humanity is concerned.
Vì vậy, Đức Christ phải thêm vào tất cả nhiều mục tiêu đang chiếm lĩnh sự chú ý của Ngài một mục tiêu khác nữa—nỗ lực ngăn chặn một cuộc chiến cuối cùng. Cuộc chiến đang manh nha này trái với Ý Chí-hướng Thiện của Đức Chúa Tể Thế Giới và với bất kỳ kế hoạch thế giới nào; nó có thể được ngăn chặn bằng thiện chí. Đây là phát biểu quan trọng nhất trong thông điệp này, xét theo phương diện nhân loại.
Great and stirring events are imminent, and they will take place when the effect of the new Invocation is more pronounced and its use more general. This is primarily the responsibility of those who are affiliated with the three movements which demonstrate the part I have sought to take in the world preparation. These are: The Arcane School, and this refers primarily to the books for which I am responsible; the Triangles, which constitutes a deeply esoteric mode of working, yet one of extreme simplicity; and the Goodwill movement, which has in it a factor of major importance in that this movement (embracing already as it does many, many thousands) seeks to promote right human relations with its acute and immediate appeal to the masses; it is this that the masses want essentially, and is oft what lies behind the things which they do and the plans which they make, so often ignorantly and disastrously.
Những biến cố lớn lao và khuấy động đang cận kề, và chúng sẽ diễn ra khi hiệu quả của Đại Khấn Nguyện trở nên rõ rệt hơn và việc sử dụng nó trở nên phổ biến hơn. Trách nhiệm này trước hết thuộc về những người liên kết với ba phong trào biểu lộ phần việc mà tôi đã tìm cách đảm nhận trong sự chuẩn bị của thế giới. Đó là: Trường Arcane, và điều này chủ yếu liên quan đến những cuốn sách mà tôi chịu trách nhiệm; các Tam Giác, vốn cấu thành một phương thức làm việc sâu sắc huyền bí nhưng lại cực kỳ đơn giản; và phong trào Thiện chí, trong đó có một yếu tố cực kỳ quan trọng ở chỗ phong trào này (đã bao gồm rất, rất nhiều ngàn người) tìm cách thúc đẩy những tương quan nhân loại đúng đắn bằng lời kêu gọi sắc bén và trực tiếp của nó đối với quần chúng; chính điều này là điều quần chúng thực sự mong muốn, và thường là điều nằm phía sau những việc họ làm và những kế hoạch họ lập ra, rất thường là một cách vô minh và tai hại.
You will note that my outstanding theme is that of world planning; this is the main preoccupation of the Hierarchy. This planning falls into two categories, and for these the Christ is responsible. These are:
Bạn sẽ lưu ý rằng chủ đề nổi bật của tôi là hoạch định thế giới; đây là mối bận tâm chính của Thánh Đoàn. Sự hoạch định này thuộc hai phạm trù, và Đức Christ chịu trách nhiệm về chúng. Đó là:
1. The esoteric preparation for the physical appearance or the material emergence of the Hierarchy on earth; with this activity the Buddha is definitely associated as it is connected with His final service to mankind.
1. Sự chuẩn bị huyền bí cho sự xuất hiện hồng trần hay sự xuất hiện vật chất của Thánh Đoàn trên Trái Đất; với hoạt động này, Đức Phật chắc chắn có liên hệ vì nó gắn với sự phụng sự cuối cùng của Ngài đối với nhân loại.
2. The establishing, by all means available, of right human relations; this, as it is achieved, will swing the Ashrams gradually into external activity as need arises, and it involves the constant cooperation of the Masters.
2. Việc thiết lập, bằng mọi phương tiện sẵn có, những tương quan nhân loại đúng đắn; khi điều này được thành tựu, nó sẽ dần dần đưa các ashram vào hoạt động bên ngoài khi nhu cầu phát sinh, và nó bao hàm sự hợp tác liên tục của các Chân sư.
[547] Since 1931 I have hinted at much of this, and my activities (carried forward with these things in view) have followed the sequence outlined below:
[547] Từ năm 1931, tôi đã gợi ý nhiều điều trong số này, và các hoạt động của tôi (được tiến hành với những điều này trong tầm nhìn) đã theo trình tự được phác ra dưới đây:
1. I attempted to reach certain people in order to see how far an ashram could function in external form on earth. It has proved only a partial success and the results of my experiment have been given in the book, Discipleship in the New Age. The effects of the experiment upon the individuals involved have not proved encouraging; the effect upon the esotericists and aspirants of the world has been most successful and has greatly enhanced the sense of reality, so essential to the recognition of the hitherto unseen Hierarchy.
1. Tôi đã cố gắng tiếp cận một số người để xem một ashram có thể hoạt động đến đâu trong hình thức bên ngoài trên Trái Đất. Điều đó chỉ chứng tỏ là một thành công từng phần và các kết quả của thí nghiệm của tôi đã được trình bày trong cuốn Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Các hiệu quả của thí nghiệm đối với những cá nhân liên quan không chứng tỏ là đáng khích lệ; hiệu quả đối với các nhà bí truyền học và những người chí nguyện trên thế giới thì rất thành công và đã tăng cường mạnh mẽ ý thức về thực tại, điều rất thiết yếu cho việc nhận ra Thánh Đoàn vốn từ trước đến nay chưa được thấy.
2. I published books which gave the new esoteric teaching, founded on the past, of service today, and indicative of the future. In those books I isolated for the new generation of esoteric students the “truths” which were true, extracting them from the mass of imaginative thinking and consequent formulation of thoughtforms which esotericists (since the time of H.P.B.) have so consistently created and presented to the enquiring public as truths. I indicated the new truths which were of significance for the future and for which the truths of the past were a needed foundation, and gave enough in outline and in “seed” concepts to show the lines along which the new world religion, the new political regimes and the new social order could be set up. I gave you the blueprints. I enunciated these as principles, leaving men free—as must ever be the case—to work out the details according to their contributing civilisations and their peculiar national cultures, which should unitedly create a beautiful whole and not provide barriers of separativeness as is today the case. I finally brought to the attention of the public the idea that the externalisation of the Hierarchy was a major hierarchical project, for which due preparation would have to be made.
2. Tôi đã xuất bản những cuốn sách trình bày giáo huấn huyền bí mới, được đặt nền trên quá khứ, về sự phụng sự ngày nay, và chỉ ra tương lai. Trong những cuốn sách đó, tôi đã tách riêng cho thế hệ mới của các đạo sinh huyền bí những “chân lý” vốn là chân lý, rút chúng ra khỏi khối tư duy tưởng tượng và sự hình thành các hình tư tưởng do đó mà các nhà bí truyền học (từ thời H.P.B.) đã kiên trì tạo ra và trình bày cho công chúng ham tìm hiểu như là chân lý. Tôi đã chỉ ra những chân lý mới có ý nghĩa đối với tương lai và đối với đó những chân lý của quá khứ là nền tảng cần thiết, và đã đưa ra đủ dưới dạng phác thảo và trong các khái niệm “hạt giống” để cho thấy những đường hướng mà theo đó tôn giáo thế giới mới, các chế độ chính trị mới và trật tự xã hội mới có thể được thiết lập. Tôi đã trao cho bạn các bản thiết kế. Tôi đã công bố chúng như những nguyên lý, để con người tự do—như luôn luôn phải như vậy—triển khai các chi tiết theo các nền văn minh đóng góp của họ và các nền văn hóa dân tộc đặc thù của họ, những điều lẽ ra phải cùng nhau tạo nên một toàn thể đẹp đẽ chứ không tạo ra các rào cản phân ly như hiện nay. Cuối cùng, tôi đã đưa ra trước sự chú ý của công chúng ý tưởng rằng sự ngoại hiện của Thánh Đoàn là một dự án lớn của Thánh đoàn, mà sự chuẩn bị thích đáng sẽ phải được thực hiện.
3. The world war then reached a final stage; the first stage was from 1914-1918; it then proceeded in a subterranean [548] fashion, only to erupt once more in 1939, continuing with extreme fierceness and cruelty till 1945, when the power to continue the fight ended and the atomic bomb wrote finis to the world chapter of disaster. That atomic bomb (though used only twice destructively) ended the resistance of the powers of evil because its potency is predominantly etheric. Its uses are twofold at this time:
3. Chiến tranh thế giới sau đó đã đạt đến giai đoạn cuối; giai đoạn thứ nhất là từ 1914-1918; rồi nó tiếp tục theo một [548] cách ngầm bên dưới, chỉ để bùng nổ một lần nữa vào năm 1939, tiếp diễn với sự dữ dội và tàn bạo cực độ cho đến năm 1945, khi quyền năng tiếp tục chiến đấu chấm dứt và bom nguyên tử đã viết chữ finis cho chương tai họa của thế giới. Quả bom nguyên tử đó (dù chỉ được dùng hai lần theo cách hủy diệt) đã chấm dứt sự kháng cự của các quyền lực của điều ác vì tiềm lực của nó chủ yếu là dĩ thái. Những công dụng của nó hiện nay có hai mặt:
a. As the forerunner of that release of energy which will change the mode of human living and inaugurate the new age wherein we shall not have civilisations and their emerging cultures but a world culture and an emerging civilisation, thus demonstrating the true synthesis which underlies humanity. The atomic bomb emerged from a first ray Ashram, working in conjunction with a fifth ray group; from the long range point of view, its intent was and is purely beneficent.
a. Như là tiền phong của sự giải phóng năng lượng sẽ làm thay đổi phương thức sống của nhân loại và khai mở kỷ nguyên mới, trong đó chúng ta sẽ không còn có các nền văn minh và các nền văn hóa đang xuất hiện của chúng, mà là một nền văn hóa thế giới và một nền văn minh đang xuất hiện, nhờ đó biểu lộ sự tổng hợp chân chính làm nền tảng cho nhân loại. Bom nguyên tử đã xuất hiện từ một ashram cung một, hoạt động phối hợp với một nhóm cung năm; xét theo quan điểm lâu dài, mục đích của nó đã và đang hoàn toàn mang tính lợi ích.
b. As a means in the hands of the United Nations to enforce the outer forms of peace, and thus give time for teaching on peace and on the growth of goodwill to take effect. The atomic bomb does not belong to the three nations who perfected it and who own the secrets at present—the United States of America, Great Britain and Canada. It belongs to the United Nations for use (or let us rather hope, simply for threatened use) when aggressive action on the part of any nation rears its ugly head. It does not essentially matter whether that aggression is the gesture of any particular nation or group of nations or whether it is generated by the political groups of any powerful religious organisation, such as the Church of Rome, who are as yet unable to leave politics alone and attend to the business for which all religions are responsible—leading human beings closer to the God of Love.
b. Như một phương tiện trong tay Liên Hiệp Quốc để cưỡng chế các hình thức hòa bình bên ngoài, và nhờ đó tạo thời gian để giáo huấn về hòa bình và về sự tăng trưởng của thiện chí phát huy hiệu quả. Bom nguyên tử không thuộc về ba quốc gia đã hoàn thiện nó và hiện đang nắm giữ các bí mật ấy—Hoa Kỳ, Anh Quốc và Canada. Nó thuộc về Liên Hiệp Quốc để sử dụng (hay đúng hơn, chúng ta hãy hy vọng, chỉ để đe dọa sử dụng) khi hành động xâm lược của bất kỳ quốc gia nào ngóc đầu xấu xí lên. Về bản chất, không mấy quan trọng việc sự xâm lược ấy là cử chỉ của một quốc gia riêng biệt nào hay của một nhóm quốc gia, hoặc do các nhóm chính trị của một tổ chức tôn giáo quyền lực nào tạo ra, chẳng hạn như Giáo hội La Mã, vốn cho đến nay vẫn chưa thể để yên chính trị và chuyên tâm vào công việc mà mọi tôn giáo đều có trách nhiệm—dẫn dắt con người đến gần hơn với Thượng đế của Tình thương.
4. The world war now being ostensibly over and the work of restoration, leading to resurrection, being slowly implemented, the work of the Hierarchy is to foster that enthusiasm [549] in the hearts of people everywhere which will enable them to work wholeheartedly for right human relations and the spread of that simple but tonic quality, goodwill. It is enthusiasm in the spiritual sense which is lacking today, even among those who see the Mind of Christ and the Plans of the Hierarchy as existing in factual usefulness; those who have for years read my teachings on goodwill with real belief in what I say but who evidence no willingness to sacrifice time or money, block the growth of the movement. It is the task of the Hierarchy to promote goodwill as the first step in Their plans, and it is that quality which is today closest to the heart of Christ; “goodwill to men,” or rather among men, was the primary stage in the threefold promise made by the angels at His Birth:
4. Nay chiến tranh thế giới bề ngoài đã chấm dứt, và công cuộc phục hồi, dẫn đến phục sinh, đang được thực hiện chậm rãi, công việc của Thánh đoàn là nuôi dưỡng sự nhiệt thành [549] trong lòng con người ở khắp nơi, điều sẽ giúp họ toàn tâm toàn ý hoạt động cho các tương quan nhân loại đúng đắn và cho sự lan rộng của phẩm tính đơn giản nhưng đầy sinh lực ấy, tức thiện chí. Chính sự nhiệt thành theo nghĩa tinh thần là điều đang thiếu ngày nay, ngay cả nơi những người thấy Trí của Đức Christ và các Thiên Cơ của Thánh đoàn là những thực tại hữu dụng; những người trong nhiều năm đã đọc giáo huấn của tôi về thiện chí với niềm tin chân thật vào điều tôi nói nhưng lại không biểu lộ sự sẵn lòng hy sinh thời gian hay tiền bạc, đang ngăn trở sự phát triển của phong trào. Nhiệm vụ của Thánh đoàn là thúc đẩy thiện chí như bước đầu tiên trong các kế hoạch của Các Ngài, và chính phẩm tính ấy ngày nay gần với trái tim của Đức Christ nhất; “thiện chí đối với loài người,” hay đúng hơn là giữa loài người với nhau, là giai đoạn đầu tiên trong lời hứa tam phân do các thiên thần công bố lúc Ngài Giáng Sinh:
a. Goodwill, leading to right human relations, leading to
a. Thiện chí, dẫn đến các tương quan nhân loại đúng đắn, dẫn đến
b. Peace on Earth, leading to
b. Hòa bình trên Trái Đất, dẫn đến
c. Glory to God.
c. Vinh quang cho Thượng đế.
Analysed, these words simply mean that goodwill will result in right human relations in that centre which we call Humanity; this will produce the possibility of that peace which characterises the Hierarchy appearing on earth, and leading to the glory of God, which animates the activity of Shamballa, the centre where the Will of God is known. Therefore, intelligent relationship, practical love and the full expression of the divine will are bound to occur, if the correct sequence of activities is followed. At present, even the first of them remains a hope. The factors of the failure of the religious and political groups and the apathy of the mass of men have greatly complicated the task of the Hierarchy.
Khi được phân tích, những lời này chỉ đơn giản có nghĩa là thiện chí sẽ đưa đến các tương quan nhân loại đúng đắn trong trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân loại; điều này sẽ tạo ra khả năng cho thứ hòa bình vốn đặc trưng cho Thánh đoàn khi xuất hiện trên trần gian, và dẫn đến vinh quang của Thượng đế, điều làm sinh động hoạt động của Shamballa, trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến. Do đó, mối liên hệ thông tuệ, tình thương thực tiễn và sự biểu lộ trọn vẹn của ý chí thiêng liêng nhất định sẽ xảy ra, nếu trình tự hoạt động đúng đắn được tuân theo. Hiện nay, ngay cả điều đầu tiên trong số đó vẫn chỉ là một hy vọng. Các yếu tố thất bại của các nhóm tôn giáo và chính trị cùng sự thờ ơ của quần chúng đã làm cho nhiệm vụ của Thánh đoàn trở nên phức tạp hơn rất nhiều.
5. My personal work has been to bring all this to the attention of the general public through my interpretation of the Problems of Humanity and bring it to the point where simplicity of purpose, an inspiring and flaming ardour and a minimum of organisation may implement the new presentation of goodwill as it affects and changes the sovereign [550] world religions which are forgetful of the words of the Christ, “My kingdom is not of this world”; as it permeates into the political conferences of world statesmen and rulers, and as it governs the decisions of science and economics. In so doing and in the direful task of pointing out mistakes and errors of ancient standing, wrong and disastrous attitudes and human separativeness, an inevitable opposition has been evoked; had there been none, my efforts would have been futile. I have said naught that is not true and I retract no single word which I have said. There are many who prefer the esoteric truths anent the antahkarana, the world constitution, the doctrine of man, the Law of Rebirth and the many intricate teachings related to world planning. These they have received in full measure from me. There are others who desire information anent the Hierarchy, the work and standing of the Masters, the training to be given to disciples and initiates. This again they have received. I have now dealt in the past few years with world abuses and the problems with which humanity is faced in this period of restoration—of God’s plan for man, and not of former conditions.
5. Công việc cá nhân của tôi là đưa tất cả điều này đến sự chú ý của công chúng rộng rãi qua cách tôi diễn giải Những Vấn Đề của Nhân Loại và đưa nó đến mức mà sự đơn giản trong mục đích, một nhiệt tâm truyền cảm hứng và rực lửa, cùng một mức tổ chức tối thiểu có thể thực hiện được sự trình bày mới về thiện chí khi nó tác động và làm thay đổi các tôn giáo [550] thế giới có chủ quyền, vốn đã quên lời của Đức Christ: “Nước của ta không thuộc về thế gian này”; khi nó thấm vào các hội nghị chính trị của các chính khách và nhà cai trị thế giới, và khi nó chi phối các quyết định của khoa học và kinh tế. Khi làm như vậy, và trong nhiệm vụ nghiệt ngã là chỉ ra những sai lầm và lỗi lạc có từ lâu đời, những thái độ sai trái và tai hại cùng tính chia rẽ của con người, một sự chống đối tất yếu đã được gợi lên; nếu không có điều đó, những nỗ lực của tôi hẳn đã vô ích. Tôi đã không nói điều gì không đúng sự thật và tôi không rút lại một lời nào trong những gì tôi đã nói. Có nhiều người ưa thích các chân lý huyền bí liên quan đến antahkarana, hiến pháp thế giới, giáo lý về con người, Định luật Tái Sinh và nhiều giáo huấn phức tạp liên hệ đến việc hoạch định thế giới. Những điều ấy họ đã nhận được đầy đủ từ tôi. Có những người khác mong muốn thông tin liên quan đến Thánh đoàn, công việc và địa vị của các Chân sư, sự huấn luyện dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ. Điều này họ cũng đã nhận được. Nay trong vài năm qua, tôi đã đề cập đến các lạm dụng của thế giới và những vấn đề mà nhân loại đang phải đối diện trong giai đoạn phục hồi này—phục hồi kế hoạch của Thượng đế cho con người, chứ không phải các điều kiện cũ trước đây.
It is interesting to note that when the Hierarchy seeks to meet the need of the masses for better conditions, and to aid in the changing of ecclesiastical and political abuses, men are apt then to withdraw their interest because the task is hard, or to repudiate the statements anent that which is evil because (from their point of view) it is not possible for the Hierarchy to find fault or take a stand against wrong, just as many repudiated the fact that the Hierarchy took its stand, during the war, upon the side of the Forces fighting for the freedom of humanity and refused in any way to endorse those fighting on the side of darkness.
Điều đáng lưu ý là khi Thánh đoàn tìm cách đáp ứng nhu cầu của quần chúng về những điều kiện tốt đẹp hơn, và trợ giúp trong việc thay đổi các lạm dụng của giáo hội và chính trị, thì con người lại có khuynh hướng rút lui sự quan tâm của mình vì nhiệm vụ ấy khó khăn, hoặc bác bỏ các phát biểu liên quan đến điều ác vì (theo quan điểm của họ) Thánh đoàn không thể tìm lỗi hay đứng lên chống lại điều sai trái, cũng như nhiều người đã bác bỏ sự kiện rằng Thánh đoàn đã đứng về phía các Lực lượng chiến đấu cho tự do của nhân loại trong chiến tranh, và từ chối bằng bất kỳ cách nào ủng hộ những kẻ chiến đấu về phía bóng tối.
The Hierarchy is a great fighting body today, fighting for the souls of men, fighting all that blocks the expansion of the human consciousness, fighting all that limits human freedom (I said not license) and fighting to remove those factors and barriers which militate against the return of [551] the Christ and the emergence of the Hierarchy as a fully functioning body on earth. There is nothing weak, vacillating, sentimental or neutral in the attitude of the Hierarchy; this must be grasped by humanity, and the strength and insight as well as the love of the Hierarchy must be counted upon.
Thánh đoàn ngày nay là một tập thể chiến đấu vĩ đại, chiến đấu cho linh hồn con người, chiến đấu chống lại mọi điều ngăn cản sự mở rộng của tâm thức nhân loại, chiến đấu chống lại mọi điều giới hạn tự do của con người (tôi không nói là sự buông thả) và chiến đấu để loại bỏ những yếu tố và rào cản chống lại sự trở lại của [551] Đức Christ và sự xuất hiện của Thánh đoàn như một tập thể hoạt động trọn vẹn trên trần gian. Trong thái độ của Thánh đoàn không có gì là yếu đuối, dao động, đa cảm hay trung lập; nhân loại phải nắm được điều này, và phải trông cậy vào sức mạnh và minh triết cũng như tình thương của Thánh đoàn.
I have in the above remarks enumerated for you certain of the objectives facing the Hierarchy at this time and involving the personal attention of the Christ; they all have a potent and beneficent effect upon humanity. Let me enumerate them in concise form, because it is essential that there be clear perception of the emerging values on the part of workers of all grades and kinds in the world, for otherwise perception is not possible. To each point enumerated I will append in a few brief words the reason why it is regarded as important:
Trong những nhận xét trên, tôi đã liệt kê cho các bạn một số mục tiêu đang đặt ra trước Thánh đoàn vào lúc này và đòi hỏi sự chú tâm cá nhân của Đức Christ; tất cả đều có tác động mạnh mẽ và lợi ích đối với nhân loại. Hãy để tôi liệt kê chúng một cách ngắn gọn, vì điều cốt yếu là những người hoạt động ở mọi cấp độ và mọi loại hình trên thế giới phải có nhận thức rõ ràng về các giá trị đang xuất hiện, nếu không thì nhận thức là điều không thể. Với mỗi điểm được liệt kê, tôi sẽ thêm vào vài lời ngắn gọn về lý do tại sao nó được xem là quan trọng:
1. The Reorganisation of the World Religions.
1. Sự Tái Tổ Chức các Tôn Giáo Thế Giới.
Reasons
Lý do
a. To make way for the World Religion, universal religion.
a. Để dọn đường cho Tôn giáo Thế giới, tôn giáo phổ quát.
b. To return humanity to the simplicity which is in Christ.
b. Để đưa nhân loại trở về với sự đơn giản vốn có trong Đức Christ.
c. To rid the world of theology and ecclesiasticism.
c. Để giải thoát thế giới khỏi thần học và chủ nghĩa giáo quyền.
2. The Gradual Dissolution of Orthodox Judaism.
2. Sự Tan Rã Dần Dần của Do Thái Giáo Chính Thống.
Reasons
Lý do
a. Because of its presentation of a wrathful Jehovah, caring only for his chosen people. This is a basic evil. The Lord of the World, the God in whom we live and move and have our being, is totally otherwise.
a. Vì cách nó trình bày một Jehovah đầy thịnh nộ, chỉ quan tâm đến dân tộc được chọn của mình. Đây là một điều ác căn bản. Đức Chúa Tể Thế Giới, Thượng đế mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, hoàn toàn khác hẳn.
b. Because of its separativeness.
b. Vì tính chia rẽ của nó.
c. Because it is so ancient that its teachings are largely obsolete.
c. Vì nó quá cổ xưa nên các giáo huấn của nó phần lớn đã lỗi thời.
d. Because when the Jews become spiritual they will greatly benefit mankind, for they are found in every land.
d. Vì khi người Do Thái trở nên tinh thần, họ sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho nhân loại, bởi họ hiện diện ở mọi quốc gia.
3. Preparation for a New Revelation.
3. Chuẩn Bị cho một Sự Mặc Khải Mới.
Reasons
Lý do
a. Because where there is no vision the people perish. [552]
a. Vì nơi nào không có tầm nhìn, ở đó dân chúng sẽ diệt vong. [552]
b. Because human expectancy indicates its emerging presence.
b. Vì sự mong đợi của nhân loại cho thấy sự hiện diện đang xuất hiện của nó.
c. Because the new Invocation will inevitably bring it to us.
c. Vì Khấn Nguyện mới chắc chắn sẽ mang nó đến với chúng ta.
4. The Reaction of the Hierarchy to Shamballa.
4. Phản Ứng của Thánh đoàn đối với Shamballa.
Reasons
Lý do
a. Produces a direct channel.
a. Tạo ra một kênh trực tiếp.
b. Conditions the inflow of power energy.
b. Tác động đến dòng tuôn đổ của năng lượng quyền lực.
c. Relates the will-to-good to goodwill.
c. Liên kết Ý Chí-hướng Thiện với thiện chí.
d. Creates new constructive tensions and new ashrams.
d. Tạo ra những điểm tập trung nhất tâm mang tính kiến tạo mới và những ashram mới.
5. A Closer Relation of the Hierarchy to Humanity.
5. Một Mối Liên Hệ Gần Gũi Hơn giữa Thánh đoàn và Nhân loại.
Reasons
Lý do
a. Produces (in the near future) the externalisation of certain ashrams.
a. Tạo ra (trong tương lai gần) sự ngoại hiện của một số ashram.
b. Leads to the reappearance of the Hierarchy on earth.
b. Dẫn đến sự tái xuất hiện của Thánh đoàn trên trần gian.
c. Recognises that man’s point of development warrants this.
c. Thừa nhận rằng điểm tiến hoá của con người bảo đảm cho điều này.
d. Presents a nearing opportunity for revelation.
d. Trình bày một cơ hội đang đến gần cho sự mặc khải.
6. An Effort to avert War.
6. Một Nỗ Lực nhằm Ngăn Chặn Chiến Tranh.
Reasons
Lý do
a. Because the next war would annihilate the greater part of the human race.
a. Vì cuộc chiến tiếp theo sẽ hủy diệt phần lớn nhân loại.
b. Because, having a religious basis, the hate involved would be greater far than anything hitherto known.
b. Vì, do có nền tảng tôn giáo, lòng hận thù liên quan sẽ lớn hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì từng được biết đến cho đến nay.
c. Because Shamballa would be involved, and this has never been the case.
c. Vì Shamballa sẽ bị cuốn vào, và điều này chưa từng xảy ra.
You can see therefore how critical, spiritually, are these times, and how urgent is the task which confronts the Hierarchy and its workers on earth. The war may be over in the physical sense, but great issues are still involved and undetermined and can lead either to peace or to a renewal of those conditions in which wars are generated and which, once generated, cannot be avoided.
Do đó, bạn có thể thấy những thời kỳ này quan trọng đến mức nào về mặt tinh thần, và nhiệm vụ đang đối diện với Thánh đoàn cùng những người hoạt động của Thánh đoàn trên trần gian cấp bách đến mức nào. Chiến tranh có thể đã chấm dứt theo nghĩa hồng trần, nhưng những vấn đề lớn vẫn còn liên quan và chưa được quyết định, và có thể dẫn đến hòa bình hoặc dẫn đến sự tái diễn của những điều kiện trong đó chiến tranh được tạo ra và một khi đã được tạo ra thì không thể tránh khỏi.
It is with all these foregoing factors in mind that we [553] approach the next two great Festivals: the Wesak Festival and Christ’s Unique Occasion. One point I must make here, and I make it with great joy: this year 1946 marks the beginning of a cycle in which humanity is more closely involved in the Festivals than ever before and in which they can take a much more important part than ever before. The Wesak Festival has long been kept in many countries and—as time goes on and the instruction of the masses proceeds—the meeting held at the time of the May Full Moon will assume great importance, but its keynote will be changed. What the new keynote will be has not yet been announced, and will not be for 35 years. As I earlier pointed out, its significance, and that of Good Friday, belong to the past and their usefulness is nearly finished. It is the intention of the Buddha and the Christ that in each country there should eventually be someone who will act as Their Representative at the time of the two Festivals, so that the distribution of spiritual energy from the first great Aspect or Ray will be direct from the Buddha (and later Shamballa) to the Christ, and then from the Christ to those disciples in every country who can be overshadowed, and so act as channels for the direct current of energy.
Chính với tất cả những yếu tố nói trên trong tâm trí mà chúng ta [553] tiếp cận hai Đại Lễ sắp tới: Đại Lễ Wesak và Dịp Độc Đáo của Đức Christ. Có một điểm tôi phải nêu ra ở đây, và tôi nêu ra với niềm hoan hỉ lớn lao: năm 1946 này đánh dấu sự khởi đầu của một chu kỳ trong đó nhân loại gắn bó với các Đại Lễ chặt chẽ hơn bao giờ hết và trong đó họ có thể tham gia một phần quan trọng hơn bao giờ hết. Đại Lễ Wesak từ lâu đã được cử hành ở nhiều quốc gia và—khi thời gian trôi qua và việc giáo huấn quần chúng tiến triển—cuộc hội họp được tổ chức vào lúc Trăng Tròn tháng Năm sẽ mang tầm quan trọng lớn lao, nhưng chủ âm của nó sẽ được thay đổi. Chủ âm mới sẽ là gì thì chưa được công bố, và sẽ không được công bố trong 35 năm nữa. Như tôi đã chỉ ra trước đây, ý nghĩa của nó, cũng như của Thứ Sáu Tuần Thánh, thuộc về quá khứ và tính hữu dụng của chúng gần như đã chấm dứt. Ý định của Đức Phật và Đức Christ là cuối cùng ở mỗi quốc gia sẽ có một người hành động như Đại Diện của Các Ngài vào thời điểm của hai Đại Lễ, để sự phân phối năng lượng tinh thần từ Phương diện hay cung lớn thứ nhất sẽ trực tiếp từ Đức Phật (và về sau là Shamballa) đến Đức Christ, rồi từ Đức Christ đến những đệ tử ở mọi quốc gia có thể được phủ bóng, và nhờ đó hành động như những kênh dẫn cho dòng năng lượng trực tiếp.
The same procedure will be followed at the time of the Full Moon of June, except that Shamballa will not be so involved, and with the difference that at the May Festival it will be a first ray disciple who will be overshadowed, and at the June Festival a second ray disciple will represent the Christ in every land. This can mean either the soul or the personality ray of the disciple.
Cùng một thủ tục sẽ được tuân theo vào lúc Trăng Tròn tháng Sáu, ngoại trừ việc Shamballa sẽ không can dự nhiều như vậy, và với sự khác biệt là tại Đại Lễ tháng Năm, một đệ tử cung một sẽ được phủ bóng, còn tại Đại Lễ tháng Sáu, một đệ tử cung hai sẽ đại diện cho Đức Christ ở mọi quốc gia. Điều này có thể hàm ý hoặc cung linh hồn hoặc cung phàm ngã của đệ tử.
It has not been possible to organise this development this year, but next year a beginning can be made, even if only three or four countries can work under this inspiration. The effects of this development will be far-reaching, though not immediately apparent to the onlooker.
Năm nay chưa thể tổ chức được sự phát triển này, nhưng sang năm có thể bắt đầu, dù chỉ có ba hay bốn quốc gia có thể hoạt động dưới nguồn cảm hứng này. Các hiệu quả của sự phát triển này sẽ rất sâu rộng, dù không lập tức hiển nhiên đối với người quan sát.
This year, at the great Festival in the Himalayas at which the Buddha will appear as usual, He has let it be known that His main duty is to bring the initial inflow of the threefold energy which the Invocation invokes and will [554] continue to invoke for many decades. From the Mind of God, Light will flow through Him to the waiting world of men—that human centre whose eternal mission is to bring light to all created lives. From the Heart of God, He will bring to the Hierarchy, via the Christ, that deep unending inflow of Love which will make it possible for the Hierarchy to perform its hard task and externalise itself. It is not possible for human beings to realise the sacrifice and the hardship which this emergence will entail, and only a vast inflow of divine love can make it possible.
Năm nay, tại Đại Lễ lớn ở Hy Mã Lạp Sơn, nơi Đức Phật sẽ xuất hiện như thường lệ, Ngài đã cho biết rằng nhiệm vụ chính của Ngài là mang đến dòng tuôn đổ ban đầu của năng lượng tam phân mà Khấn Nguyện đang khẩn cầu và sẽ [554] tiếp tục khẩn cầu trong nhiều thập niên. Từ Trí của Thượng đế, Ánh sáng sẽ tuôn chảy qua Ngài đến thế giới đang chờ đợi của loài người—trung tâm nhân loại ấy, có sứ mệnh vĩnh cửu là mang ánh sáng đến cho mọi sự sống được tạo thành. Từ Trái Tim của Thượng đế, Ngài sẽ mang đến cho Thánh đoàn, qua Đức Christ, dòng tuôn đổ Tình thương sâu xa và bất tận ấy, điều sẽ làm cho Thánh đoàn có thể thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình và ngoại hiện chính mình. Con người không thể chứng nghiệm được sự hy sinh và gian khổ mà sự xuất hiện này sẽ kéo theo, và chỉ một dòng tuôn đổ rộng lớn của tình thương thiêng liêng mới có thể làm cho điều đó trở nên khả hữu.
An effort also will be made to relate Shamballa, “the Centre where the Will of God is known,” directly to the New Group of World Servers, via those Ashrams which are working along the lines of outer, practical goodwill. The reception of this energising will-to-good should produce a definite “stepping-up” or increase of goodwill and enable the Goodwill movement to proceed with greater momentum this coming autumn and winter; it will take the entire summer for the needed assimilation by those engineering this movement all over the world.
Một nỗ lực cũng sẽ được thực hiện để liên kết trực tiếp Shamballa, “Trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến,” với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, qua những ashram đang hoạt động theo các đường lối thiện chí thực tiễn bên ngoài. Việc tiếp nhận Ý Chí-hướng Thiện đầy năng lực này sẽ tạo ra một sự “nâng cấp” rõ rệt hay gia tăng thiện chí và giúp phong trào Thiện chí tiến lên với đà mạnh hơn vào mùa thu và mùa đông sắp tới; sẽ cần trọn mùa hè để những người đang điều hành phong trào này trên khắp thế giới đồng hóa điều cần thiết ấy.
The absorption of the Love which flows from the Heart of God to the Hierarchy will necessarily have widespread effects; however, one of the most immediate will affect the Triangles and increase the potency of the network of light and of goodwill, already in existence. You can see, therefore, from all the above, how much closer the Buddha is coming this year to humanity. He now finds it possible to permit human beings to know His specific objective; this has never before been the case. It is the result of war and the efforts of the Hierarchy to bring out in the human being certain ennobling qualities and spiritual reactions which the stress of war could evoke. This year will mark a unique and peculiar opportunity, based on the fact that there has not yet been time for people to slip back into the old ways of thinking or for the setting up of any reactionary structures. This may not be the case next year and therefore it would be wise to take as full advantage as possible of the coming Festivals. Those who have faith and vision are asked [555] to link up (imaginatively, because anything else would scarcely be possible) with the Buddha, then offer themselves as channels for the spiritual potencies which He will bring.
Sự hấp thụ Tình thương tuôn chảy từ Trái Tim của Thượng đế đến Thánh đoàn tất yếu sẽ có những hiệu quả lan rộng; tuy nhiên, một trong những hiệu quả tức thời nhất sẽ tác động đến các Tam Giác và làm tăng hiệu lực của mạng lưới ánh sáng và thiện chí vốn đã hiện hữu. Do đó, từ tất cả những điều trên, bạn có thể thấy năm nay Đức Phật đang đến gần nhân loại hơn biết bao. Nay Ngài thấy có thể cho phép con người biết mục tiêu cụ thể của Ngài; trước đây điều này chưa từng xảy ra. Đó là kết quả của chiến tranh và những nỗ lực của Thánh đoàn nhằm khơi dậy nơi con người một số phẩm tính cao quý và những đáp ứng tinh thần mà áp lực chiến tranh có thể gợi lên. Năm nay sẽ đánh dấu một cơ hội độc nhất và đặc biệt, dựa trên sự kiện là vẫn chưa có đủ thời gian để con người trượt trở lại những lối suy nghĩ cũ hoặc để thiết lập bất kỳ cấu trúc phản động nào. Sang năm có thể không còn như vậy nữa, và vì thế sẽ là khôn ngoan nếu tận dụng tối đa các Đại Lễ sắp tới. Những ai có đức tin và tầm nhìn được yêu cầu [555] liên kết (bằng sự hình dung, vì bất cứ cách nào khác hầu như đều không thể) với Đức Phật, rồi hiến mình làm những kênh dẫn cho các tiềm lực tinh thần mà Ngài sẽ mang đến.
The Festival of June which is so uniquely Christ’s, and which emphasises His relationship to humanity, in reality covers three whole days, each with a different keynote:
Đại Lễ tháng Sáu, vốn độc đáo một cách riêng biệt của Đức Christ và nhấn mạnh mối liên hệ của Ngài với nhân loại, trên thực tế bao gồm trọn ba ngày, mỗi ngày với một chủ âm khác nhau:
1. The keynote of Love in its hierarchical sense—free from sentiment, emotion and personal emphasis—a love that sacrifices and understands, that acts with strength and decision, and that works on behalf of the whole and not in the interests of any group or individual.
1. Chủ âm của Tình thương theo nghĩa của Thánh đoàn—thoát khỏi tình cảm, cảm xúc và sự nhấn mạnh cá nhân—một tình thương biết hy sinh và thấu hiểu, hành động với sức mạnh và quyết đoán, và hoạt động vì toàn thể chứ không vì lợi ích của bất kỳ nhóm hay cá nhân nào.
2. The keynote of Resurrection, emphasising the new note of livingness, of the living Christ and of that “life more abundantly” which the war has made possible by forcing a return to the real values.
2. Chủ âm của Phục Sinh, nhấn mạnh nốt mới của sự sống động, của Đức Christ hằng sống và của “sự sống dồi dào hơn” mà chiến tranh đã làm cho trở nên khả hữu bằng cách buộc phải quay về với các giá trị chân thực.
3. The keynote of Contact, of a closer relation between Christ and His people, between the Hierarchy and Humanity.
3. Chủ âm của Tiếp Xúc, của một mối liên hệ gần gũi hơn giữa Đức Christ và dân của Ngài, giữa Thánh đoàn và Nhân loại.
The word “keynote” has been deliberately chosen and signifies the sound which preceded each major inflow at the May Festival; these energies will be released at a solemn ceremony on each of the three days. At each ceremony the Christ will say the new Invocation alone, and then the united Hierarchy will intone the stanza alone, invoking light, love and the will-to-good (one on each of the three days). Those disciples or initiates who happen to be interested and watching the Triangles or the Goodwill movement will have them in their minds as they say the first and third stanzas, and the New Group of World Servers will receive some attention when the second stanza is chanted.
Từ “chủ âm” đã được chọn một cách có chủ ý và biểu thị âm thanh đi trước mỗi lần tuôn đổ lớn tại Đại Lễ tháng Năm; các năng lượng này sẽ được giải phóng trong một nghi lễ trang nghiêm vào mỗi ngày trong ba ngày ấy. Trong mỗi nghi lễ, Đức Christ sẽ một mình đọc Khấn Nguyện mới, rồi toàn thể Thánh đoàn hợp nhất sẽ một mình xướng bài kệ, khẩn cầu ánh sáng, tình thương và ý chí-hướng thiện (mỗi thứ vào một trong ba ngày). Những đệ tử hay điểm đạo đồ nào tình cờ quan tâm và theo dõi các Tam Giác hoặc phong trào Thiện chí sẽ giữ chúng trong tâm trí khi họ đọc bài kệ thứ nhất và thứ ba, còn Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ nhận được một phần chú ý khi bài kệ thứ hai được xướng lên.
I would call your attention, therefore, to the interest shown by the Hierarchy in the embryonic efforts in which you are engaged and which I started; I would point out, however, that the attention paid is not exclusive, but that [556] wherever two or three are gathered together in the name of the Master of the Hierarchy, energy will flow; that wherever goodwill is a goal and evokes effort in no matter what form, the energy of the will-to-good will make itself felt, and that the New Group of World Servers is a far larger group than just the few known to you. Today its numbers are several million.
Do đó, tôi muốn lưu ý bạn đến sự quan tâm mà Thánh đoàn dành cho những nỗ lực còn phôi thai mà bạn đang dấn thân và do tôi khởi xướng; tuy nhiên, tôi cũng muốn chỉ ra rằng sự chú ý ấy không mang tính độc quyền, mà ở [556] bất cứ nơi nào có hai hay ba người tụ họp nhân danh Chúa Tể của Thánh đoàn, năng lượng sẽ tuôn chảy; ở bất cứ nơi nào thiện chí là mục tiêu và gợi lên nỗ lực dưới bất kỳ hình thức nào, năng lượng của Ý Chí-hướng Thiện sẽ tự biểu lộ, và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một nhóm lớn hơn rất nhiều so với chỉ vài người mà bạn biết. Ngày nay số lượng của nhóm này lên đến vài triệu người.
The result of this solemn three days of invocation will be followed by a climaxing day wherein the Hierarchy will unitedly, and led by the Christ, pronounce the entire Invocation, prefacing each stanza with its appropriate keynote, again sounded in unison. These notes you cannot know, but if, for instance, a very large number of the New Group of World Servers were brought together, their united OM might approximate the appropriate keynote.
Kết quả của ba ngày khẩn cầu trang nghiêm này sẽ được tiếp nối bởi một ngày cao điểm, trong đó Thánh đoàn sẽ hợp nhất, dưới sự dẫn dắt của Đức Christ, đọc toàn bộ Khấn Nguyện, mở đầu mỗi bài kệ bằng chủ âm thích hợp của nó, lại được xướng lên đồng thanh. Bạn không thể biết những âm điệu này, nhưng nếu, chẳng hạn, một số lượng rất lớn Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được tập hợp lại, thì tiếng OM hợp nhất của họ có thể gần với chủ âm thích hợp.
It will be apparent to you, therefore, that in the new cycle now beginning with the climaxing of the war and the formation of the United Nations, the Festivals of May and June not only become more closely linked, but the procedure has been changed and the effect on humanity intensified. I would have all who care to meet together at these Festivals to try and do so subjectively (wherever they may find themselves) and to participate intelligently in the ordained ceremonies. I would ask all to think imaginatively and to act as if they were accepted disciples or at least on the periphery of some ashram. I am asking you to take part in these two ceremonies with a full play of the imagination; these ceremonies will later be externalised at some centre in every country. A trained nucleus and a devoted band of believers is in process of being gathered together (though only as yet in the consciousness of the Hierarchy), and though at the present time there will be no outer ceremonies or any knowledge as to who will be chosen in the various lands to represent the Hierarchy, in deed and in truth, the first step towards human participation is being made this year.
Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng trong chu kỳ mới hiện đang bắt đầu với cao điểm của chiến tranh và sự hình thành Liên Hiệp Quốc, các Đại Lễ tháng Năm và tháng Sáu không những trở nên gắn kết chặt chẽ hơn, mà thủ tục cũng đã được thay đổi và hiệu quả đối với nhân loại được tăng cường. Tôi mong tất cả những ai muốn tụ họp vào các Đại Lễ này hãy cố gắng làm như vậy một cách chủ quan (dù họ ở đâu) và tham gia một cách thông tuệ vào các nghi lễ đã được ấn định. Tôi mong tất cả hãy suy nghĩ bằng sự hình dung và hành động như thể họ là những đệ tử được chấp nhận hoặc ít nhất đang ở nơi chu vi của một ashram nào đó. Tôi đang yêu cầu bạn tham gia vào hai nghi lễ này với sự vận dụng trọn vẹn của sự tưởng tượng; về sau các nghi lễ này sẽ được ngoại hiện tại một trung tâm ở mỗi quốc gia. Một hạt nhân được huấn luyện và một nhóm tín đồ tận tụy đang được tập hợp lại (dù hiện nay mới chỉ trong tâm thức của Thánh đoàn), và dù vào lúc này sẽ chưa có các nghi lễ bên ngoài hay bất kỳ hiểu biết nào về việc ai sẽ được chọn ở các quốc gia khác nhau để đại diện cho Thánh đoàn, nhưng trên thực tế và trong chân lý, bước đầu tiên hướng đến sự tham gia của con người đang được thực hiện trong năm nay.
The knowledge of this will give purpose and fixed intention to all of you who have for years kept these [557] Festivals. In truth, I bring you the invitation of the Hierarchy to share in Their ancient work, and not—as in the past—to play the part of interested onlookers. I would warn you that, if you do succeed in any measure of participation, it will be necessary to guard yourselves from overstimulation and to take steps wisely to use, on behalf of humanity, the energy with which you may be charged.
Sự hiểu biết này sẽ mang lại mục đích và ý định cố định cho tất cả các bạn, những người trong nhiều năm đã giữ gìn các [557] Đại Lễ này. Thật vậy, tôi mang đến cho bạn lời mời của Thánh đoàn để chia sẻ công việc cổ xưa của Các Ngài, chứ không phải—như trong quá khứ—đóng vai những người quan sát quan tâm. Tôi muốn cảnh báo bạn rằng, nếu bạn thực sự thành công trong một mức độ tham gia nào đó, thì sẽ cần phải tự bảo vệ mình khỏi sự kích thích quá mức và khôn ngoan thực hiện các bước để sử dụng, vì lợi ích của nhân loại, năng lượng mà bạn có thể được nạp vào.
This knowledge will be particularly useful to those who are occupied with any of the groups and organisations which are responsive to hierarchical interests. True participation may lead to the sudden conviction of the reality of that which I have told you; faith and belief and common-sense will then no longer be needed, and you will know.
Sự hiểu biết này sẽ đặc biệt hữu ích cho những ai đang bận tâm với bất kỳ nhóm hay tổ chức nào đáp ứng với các mối quan tâm của Thánh đoàn. Sự tham gia chân thực có thể dẫn đến niềm xác tín đột ngột về tính thực tại của điều tôi đã nói với bạn; khi đó đức tin, niềm tin và lẽ thường sẽ không còn cần thiết nữa, và bạn sẽ biết.
I have here told you the things which the Christ has planned for the immediate future. I have told you also some of the things which He and the Masters must do as preparatory steps to the new world which can and will supersede the old unhappy world that lies immediately behind us. I have chosen to speak to you of these activities in which it is now possible for you to share, with the exception of those which affect the relation between Shamballa and the Hierarchy. However, those who are initiates of the third degree (and there are quite a few working on the earth among men at this time) can share in all of them.
Ở đây tôi đã nói với bạn những điều mà Đức Christ đã hoạch định cho tương lai gần. Tôi cũng đã nói với bạn một số điều mà Ngài và các Chân sư phải làm như những bước chuẩn bị cho thế giới mới, thế giới có thể và sẽ thay thế thế giới cũ bất hạnh đang ở ngay phía sau chúng ta. Tôi đã chọn nói với bạn về những hoạt động mà nay bạn có thể chia sẻ, ngoại trừ những hoạt động ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa Shamballa và Thánh đoàn. Tuy nhiên, những ai là điểm đạo đồ cấp ba (và hiện nay có khá nhiều người như vậy đang hoạt động trên trần gian giữa loài người) có thể chia sẻ trong tất cả các hoạt động ấy.
This is an intensely practical message and calls for your renewed pledge to serve humanity and to find your way into an Ashram where that service may be directed. It calls for sacrifice until it hurts, and where it touches you the most; it calls for a joyous sense of unity with that station of power and light which we call the Hierarchy and which stands ready—as never before—to share with humanity that power and that light to the limit of human capacity to use it.
Đây là một thông điệp hết sức thực tiễn và kêu gọi bạn tái cam kết phụng sự nhân loại và tìm đường đi vào một ashram nơi sự phụng sự ấy có thể được định hướng. Nó kêu gọi sự hy sinh cho đến khi đau đớn, và ở nơi nó chạm đến bạn sâu nhất; nó kêu gọi một ý thức hoan hỉ về sự hợp nhất với trạm quyền lực và ánh sáng mà chúng ta gọi là Thánh đoàn, và Thánh đoàn ấy đang sẵn sàng—hơn bao giờ hết—chia sẻ với nhân loại quyền lực và ánh sáng ấy đến giới hạn khả năng sử dụng của con người.
I beg you, in closing, to aid in two matters which are of importance to Him Whom all disciples, initiates and spiritual men have loved and followed for nearly three thousand years, the Christ. (I am referring here to His appearance as Shri Krishna and as one other who was little known [558] but who did a great work in still earlier centuries.) It is work in preparation for His coming.
Trước khi kết thúc, tôi khẩn cầu bạn trợ giúp trong hai vấn đề quan trọng đối với Đấng mà mọi đệ tử, điểm đạo đồ và những người tinh thần đã yêu mến và đi theo trong gần ba ngàn năm, tức Đức Christ. (Ở đây tôi đang nói đến sự xuất hiện của Ngài như Shri Krishna và như một Đấng khác ít được biết đến [558] nhưng đã thực hiện một công việc lớn lao trong những thế kỷ còn sớm hơn nữa.) Đó là công việc chuẩn bị cho sự quang lâm của Ngài.
I beg you to shoulder the responsibility of distributing the Invocation on as large a scale as possible and in every country. It is of great potency, and when used by men of all faiths can aid in the process of averting war. I ask you also to make possible the wide distribution of the book The Problems of Humanity which I have written, for they strengthen the hands of those who are already seeking to deal with these problems and they bring the need to the attention of the unawakened. This will require sacrifice, for it calls for the expenditure of money; even the Hierarchy works through normal channels and needs money, and even the Christ has need of financial resources in order to reach the needy sons of men. I ask your aid and I await your decision.
Tôi khẩn cầu bạn gánh lấy trách nhiệm phổ biến Khấn Nguyện trên quy mô lớn nhất có thể và ở mọi quốc gia. Nó có mãnh lực rất lớn, và khi được những người thuộc mọi đức tin sử dụng, nó có thể trợ giúp trong tiến trình ngăn chặn chiến tranh. Tôi cũng yêu cầu bạn làm cho việc phổ biến rộng rãi cuốn sách Những Vấn Đề của Nhân Loại mà tôi đã viết trở nên khả hữu, vì chúng tăng cường tay cho những người đã đang tìm cách xử lý các vấn đề này và đưa nhu cầu ấy đến sự chú ý của những người chưa thức tỉnh. Điều này sẽ đòi hỏi sự hy sinh, vì nó đòi hỏi phải chi tiền; ngay cả Thánh đoàn cũng hoạt động qua các kênh bình thường và cần tiền, và ngay cả Đức Christ cũng cần các nguồn tài chính để tiếp cận những người con khốn khó của nhân loại. Tôi cầu xin sự trợ giúp của bạn và chờ đợi quyết định của bạn.
That He Whom we serve may be nearer to all of us than ever before, that the work of establishing right human relations may proceed apace, and that light and love may stream forth from Shamballa and the Hierarchy over all of you who love your fellowmen is the earnest wish, accompanied by my blessing, for you at this season of the will-to-good.*
Nguyện cho Đấng mà chúng ta phụng sự ở gần tất cả chúng ta hơn bao giờ hết, nguyện cho công việc thiết lập các tương quan nhân loại đúng đắn tiến triển mau lẹ, và nguyện cho ánh sáng cùng tình thương tuôn đổ từ Shamballa và Thánh đoàn xuống trên tất cả các bạn, những người yêu thương đồng loại mình—đó là ước nguyện chân thành, kèm theo phúc lành của tôi, dành cho bạn trong mùa của Ý Chí-hướng Thiện này.*
*NOTE: “The Tibetan has asked me to make clear that when he is speaking of the Christ he is referring to His official name as Head of the Hierarchy. The Christ works for all men, irrespective of their faith; He does not belong to the Christian world that any more than to the Buddhist, the Mohammedan or any other faith. There is no need for any man to join the Christian Church in order to be affiliated with Christ. The requirements are to love your fellowmen, lead a disciplined life, recognise the divinity in all faiths and all beings, and rule your daily life with Love.” A.A.B
*LƯU Ý: “Chân sư Tây Tạng đã yêu cầu tôi làm rõ rằng khi ngài nói về Đức Christ thì ngài đang nói đến danh xưng chính thức của Ngài với tư cách là Đầu của Thánh đoàn. Đức Christ hoạt động cho mọi người, bất kể đức tin của họ; Ngài không thuộc về thế giới Cơ Đốc giáo hơn là thuộc về Phật giáo, Hồi giáo hay bất kỳ đức tin nào khác. Không cần bất kỳ ai phải gia nhập Giáo hội Cơ Đốc để được liên kết với Đức Christ. Những đòi hỏi là phải yêu thương đồng loại, sống một đời sống có kỷ luật, thừa nhận thiên tính trong mọi đức tin và mọi hữu thể, và cai quản đời sống hằng ngày của mình bằng Tình thương.” A.A.B
Mode of Approach Toward Externalisation (August 1946)
Phương Thức Tiếp Cận hướng tới Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn (Tháng Tám 1946)
One of the most important things emerging from the theme of this amazing and imminent event (the reappearance of the Hierarchy on the physical plane) is the factor of the developments and the adjustments going on within [559] the Hierarchy Itself in preparation for this happening. Incidentally, I would here point out that what will take place, and what is already tentatively taking place, is the externalisation of the Ashrams. The great official departments, such as the teaching department or that of emerging civilisations, will not at this time reappear. Their activities will still, for a long time, be retained within the Hierarchy upon Its own plane. The first step is the appearance of certain Ashrams, controlled by certain Masters, upon the physical plane, evoking general recognition and guaranteeing to the public the fact of the Hierarchy and the restoration of the Mysteries. Later, if these steps prove successful, other and more important reappearances will be possible, beginning with the return of the Christ.
Một trong những điều quan trọng nhất đang xuất hiện từ chủ đề của biến cố kỳ diệu và sắp xảy ra này (sự tái xuất hiện của Thánh đoàn trên cõi hồng trần) là yếu tố những phát triển và những điều chỉnh đang diễn ra bên trong [559] chính Thánh đoàn để chuẩn bị cho biến cố ấy. Nhân đây, tôi muốn chỉ ra rằng điều sẽ diễn ra, và điều đã đang diễn ra một cách thử nghiệm, là sự ngoại hiện của các ashram. Các ban ngành chính thức lớn, chẳng hạn như ban giáo huấn hay ban các nền văn minh đang xuất hiện, sẽ không tái xuất hiện vào lúc này. Hoạt động của chúng vẫn sẽ còn, trong một thời gian dài, được giữ lại bên trong Thánh đoàn trên cõi riêng của Thánh đoàn. Bước đầu tiên là sự xuất hiện của một số ashram, do một số Chân sư kiểm soát, trên cõi hồng trần, gợi lên sự công nhận rộng rãi và bảo đảm cho công chúng về sự kiện của Thánh đoàn và sự phục hồi các Mầu Nhiệm. Về sau, nếu những bước này chứng tỏ thành công, những sự tái xuất hiện khác và quan trọng hơn sẽ trở nên khả hữu, bắt đầu bằng sự trở lại của Đức Christ.
But in the meantime, great and momentous happenings are taking place within the Hierarchy and in relation to Its Membership. Disciples upon the periphery of any Ashram are apt to be unobservant of the training and attitudes of Those Who are senior to them in an Ashram; They frequently overlook the fact that They too—from the Christ down to the humblest initiate—are in process of steady and increasing hierarchical discipline, training and instruction. Because the senior disciples and initiates have reached a goal which has seemed for long quite unattainable to the average aspirant, it is assumed that they have attained; the fact that they have only passed a milestone upon the endless Way of Bliss is entirely forgotten. But, owing to the impulsion of life itself, progress ever continues; knowledge must ever be transmuted into wisdom; love must ever be accompanied by divine will; planning must ever give way to divine purpose; light must ever be succeeded by life; from the Hierarchy, the initiate must pass to Shamballa, and from Shamballa he will follow one or other of the seven Paths; the Path of Evolution gives place to the Way of the Higher Evolution; planetary recognitions eventually expand into solar contacts; the Christ-consciousness eventually unfolds into something so all-inclusive that we have as yet no word [560] for it or any need of words; recognition of the Father and of monadic being causes all lesser recognitions to fade out, and soul-consciousness and progressive life in form are no longer goals but are left far behind.
Nhưng trong lúc này, những biến cố lớn lao và trọng đại đang diễn ra bên trong Thánh đoàn và liên quan đến Thành viên của Thánh đoàn. Các đệ tử ở chu vi của bất kỳ ashram nào thường không quan sát được sự huấn luyện và các thái độ của Những Đấng cao hơn họ trong một ashram; họ thường bỏ qua sự kiện rằng chính Các Ngài nữa—từ Đức Christ xuống đến điểm đạo đồ khiêm tốn nhất—đều đang trong tiến trình kỷ luật, huấn luyện và giáo huấn của Thánh đoàn ngày càng vững chắc và gia tăng. Bởi vì các đệ tử và điểm đạo đồ cao cấp đã đạt đến một mục tiêu từ lâu dường như hoàn toàn không thể đạt được đối với người chí nguyện trung bình, nên người ta cho rằng họ đã đạt đích; sự kiện rằng họ chỉ mới vượt qua một cột mốc trên Con Đường Chí Phúc vô tận hoàn toàn bị quên lãng. Nhưng do xung lực của chính sự sống, sự tiến bộ luôn tiếp tục; tri thức luôn phải được chuyển hoá thành minh triết; tình thương luôn phải đi kèm với ý chí thiêng liêng; hoạch định luôn phải nhường chỗ cho Thiên Ý; ánh sáng luôn phải được tiếp nối bởi sự sống; từ Thánh đoàn, điểm đạo đồ phải đi đến Shamballa, và từ Shamballa y sẽ theo một trong bảy Con Đường; Con Đường Tiến Hóa nhường chỗ cho Con đường Tiến Hóa Cao Siêu; những nhận thức hành tinh cuối cùng mở rộng thành những tiếp xúc thái dương; tâm thức Christ cuối cùng khai mở thành một điều gì đó bao gồm đến mức hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ [560] nào cho nó, cũng không cần đến từ ngữ; sự nhận biết về Cha và về hiện hữu chân thần khiến mọi nhận biết nhỏ hơn phai mờ đi, và tâm thức linh hồn cùng đời sống tiến bộ trong hình tướng không còn là mục tiêu nữa mà bị bỏ lại rất xa phía sau.
In spite of all this, it is necessary to remember that the gain of all experience for ever persists, nothing is ever lost; that which life in form has conferred is still in the possession of the immortal spiritual entity; that which the soul-consciousness has enfolded and included is still the rich endowment of Being, centred now in the Monad; hierarchical experience is merged into the purposes of the Council Chamber at Shamballa, but ability to work in the Hierarchy ever lasts because the hierarchical constitution and institution condition all manifestation—for what reason this is so, no one knows, but so is the divine Will.
Dù tất cả là như vậy, vẫn cần nhớ rằng thành quả của mọi kinh nghiệm mãi mãi vẫn tồn tại, không gì từng bị mất đi; điều mà đời sống trong hình tướng đã ban cho vẫn còn nằm trong sở hữu của thực thể tinh thần bất tử; điều mà tâm thức linh hồn đã bao hàm và gồm chứa vẫn là thiên phú phong phú của Bản Thể, nay tập trung trong chân thần; kinh nghiệm của Thánh đoàn được hòa nhập vào các mục đích của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, nhưng khả năng hoạt động trong Thánh đoàn vẫn luôn tồn tại vì cơ cấu và định chế của Thánh đoàn tác động lên mọi biểu hiện—vì lý do nào mà điều này là như vậy thì không ai biết, nhưng ý chí thiêng liêng là như thế.
In synthesis and in the all-inclusive awareness of the great Life which enfolds all that is, everything (except what we know as evil) is persistent and for ever endures.
Trong tổng hợp và trong nhận biết bao gồm tất cả của Sự sống vĩ đại bao trùm mọi cái đang hiện hữu, mọi thứ (ngoại trừ điều mà chúng ta biết là ác) đều bền vững và tồn tại mãi mãi.
You will have noted (if you are true students of what I have given out to the world) that information anent the Hierarchy has fallen into three major categories:
Bạn hẳn đã lưu ý (nếu bạn là những đạo sinh chân chính của những gì tôi đã truyền ra cho thế giới) rằng thông tin liên quan đến Thánh đoàn đã rơi vào ba phạm trù lớn:
1. The work of the Hierarchy in relation to man and to the three worlds of human evolution.
1. Công việc của Thánh đoàn liên hệ với con người và với ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại.
2. The interior constitution of the Hierarchy and its internal activity.
2. Cơ cấu nội tại của Thánh đoàn và hoạt động bên trong của Thánh đoàn.
3. Its superior relation to Shamballa and to extra-planetary livingness.
3. Mối liên hệ cao hơn của Thánh đoàn với Shamballa và với sự sống ngoài hành tinh.
A great deal that has been conveyed to you in the two final categories has been merged by you into an interested but totally impractical realisation that the Hierarchy apparently has a life of its own which proceeds independently of humanity and that it also has its own goals and objectives which are no concern of yours. These deductions are dependent upon your domination by the separative mind, for in reality the work and the activity proceeding in all three centres—Shamballa, the Hierarchy and Humanity—are [561] merged, fused and interdependent; they are all mutually evocative and invocative.
Rất nhiều điều đã được truyền đạt cho bạn trong hai phạm trù cuối cùng đã bị bạn hòa lẫn thành một sự chứng nghiệm đầy quan tâm nhưng hoàn toàn không thực tiễn rằng Thánh đoàn dường như có một đời sống riêng, tiến hành độc lập với nhân loại, và rằng Thánh đoàn cũng có những mục tiêu và cứu cánh riêng không liên quan gì đến bạn. Những suy luận này phụ thuộc vào việc bạn bị trí tuệ chia rẽ chi phối, vì trên thực tế công việc và hoạt động đang diễn ra trong cả ba trung tâm—Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại—đều [561] hòa nhập, dung hợp và phụ thuộc lẫn nhau; tất cả đều gợi lên lẫn nhau và khẩn cầu lẫn nhau.
The fact, for instance, that the Hierarchy is approaching closer to humanity and will eventually make an appearance upon the physical plane is due, not only to hierarchical intent, but to the demand of mankind and to the strong vibration and note which humanity has set up. To that extent, humanity controls some of the activities of the Hierarchy and thus precipitates action. At the same time, all that is happening can be traced to Shamballa, is inherent in divine purpose and is impulsed and impelled by Shamballa energy, distributed throughout the planet, via the Hierarchy in the majority of cases. Both the Hierarchy and Humanity are brought under the influence of extra-planetary forces which make their impact upon the planet, via Shamballa. Therefore, a great interdependence emerges, of which the head, heart and solar plexus centres in the individual man’s etheric body are symbols; their unified relation keeps the man functioning and demonstrating as a coherent whole at a particular level of consciousness. It is essential that students endeavour to grasp this, and so develop within themselves at least the rudiments of this synthetic unified grasp of living conditions and of a vital situation.
Chẳng hạn, sự kiện rằng Thánh đoàn đang đến gần nhân loại hơn và cuối cùng sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần không chỉ do ý định của Thánh đoàn, mà còn do nhu cầu của nhân loại và do rung động cùng âm điệu mạnh mẽ mà nhân loại đã tạo ra. Đến mức đó, nhân loại kiểm soát một số hoạt động của Thánh đoàn và nhờ đó làm ngưng tụ hành động. Đồng thời, mọi điều đang xảy ra đều có thể được truy nguyên về Shamballa, vốn tiềm tàng trong Thiên Ý và được thúc đẩy, thôi động bởi năng lượng Shamballa, được phân phối khắp hành tinh qua Thánh đoàn trong đa số trường hợp. Cả Thánh đoàn lẫn Nhân loại đều bị đặt dưới ảnh hưởng của các mãnh lực ngoài hành tinh tác động lên hành tinh qua Shamballa. Do đó, một sự phụ thuộc lẫn nhau lớn lao xuất hiện, mà các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương trong thể dĩ thái của con người cá nhân là những biểu tượng; mối liên hệ hợp nhất của chúng giữ cho con người hoạt động và biểu lộ như một toàn thể nhất quán ở một cấp độ tâm thức nhất định. Điều cốt yếu là các đạo sinh phải cố gắng nắm bắt điều này, và nhờ đó phát triển trong chính mình ít nhất những mầm mống của sự nắm bắt tổng hợp và hợp nhất này về các điều kiện sống và về một tình huống sinh động.
These instructions can aid all earnest aspirants and disciples to develop this type of understanding with as much speed and accuracy as possible. It is distinctive of the hierarchical type of mind: concerned with itself as a divine group, conscious of the pull and evocative power of the highest centre, Shamballa, responsive to the demands of humanity, and sensitive to the “call” of that third major centre through which the life of the planetary Logos expresses itself. The consciousness of the Master is therefore preoccupied with three main lines of responsibility, but only one of them is innate within the living organism of which He is a part; that aspect of His life is invocative in two directions: towards Shamballa and towards Humanity; to Him, the other two centres are evocative.
Những chỉ dẫn này có thể giúp tất cả những người chí nguyện và đệ tử chân thành phát triển loại thấu hiểu này với tốc độ và độ chính xác cao nhất có thể. Đây là đặc trưng của loại trí tuệ của Thánh đoàn: quan tâm đến chính mình như một nhóm thiêng liêng, ý thức được sức hút và quyền năng gợi lên của trung tâm cao nhất là Shamballa, đáp ứng với những đòi hỏi của nhân loại, và nhạy cảm với “tiếng gọi” của trung tâm lớn thứ ba, qua đó sự sống của Hành Tinh Thượng đế biểu lộ chính mình. Do đó, tâm thức của Chân sư bận tâm với ba đường trách nhiệm chính, nhưng chỉ một trong số đó là bẩm sinh trong cơ thể sống mà Ngài là một phần của nó; phương diện ấy trong đời sống của Ngài mang tính khẩn cầu theo hai hướng: hướng về Shamballa và hướng về Nhân loại; đối với Ngài, hai trung tâm kia mang tính gợi lên.
Today, human beings as a whole are so loudly invocative [562] that the entire trend of the life of the Hierarchy and Its plans to date have been subjected to change, to postponement as far as certain interior and purely hierarchical determinations are concerned, and to a hastening of certain plans which were slated (if I may use such a word) to take place several centuries later than this but which—owing to the unexpected preparedness of humanity—can take place, not prematurely really, but securely and in the fullness of time; this fullness of time, as regards the particular planning with which we are dealing, is from now until the year 2025 A.D.—a brief period of time indeed in which to see the consummation of the larger purpose of the planetary Logos, working through the three major centres within His body of manifestation. This purpose was threefold in nature:
Ngày nay, con người nói chung đang khẩn cầu mạnh mẽ đến mức [562] toàn bộ xu hướng của đời sống Thánh đoàn và các kế hoạch của Thánh đoàn cho đến nay đã phải chịu sự thay đổi, sự trì hoãn trong chừng mực liên quan đến một số quyết định bên trong và thuần túy của Thánh đoàn, và sự thúc đẩy nhanh hơn đối với một số kế hoạch vốn đã được dự định (nếu tôi có thể dùng một từ như vậy) sẽ diễn ra muộn hơn vài thế kỷ so với hiện nay, nhưng do sự sẵn sàng bất ngờ của nhân loại, nay có thể diễn ra, không phải thật sự là quá sớm, mà là một cách vững chắc và đúng vào thời điểm viên mãn; thời điểm viên mãn này, xét theo việc hoạch định cụ thể mà chúng ta đang bàn đến, là từ nay đến năm 2025 sau Công nguyên—quả là một khoảng thời gian rất ngắn để chứng kiến sự hoàn tất mục đích lớn hơn của Hành Tinh Thượng đế, đang hoạt động qua ba trung tâm lớn trong thể biểu hiện của Ngài. Mục đích này có bản chất tam phân:
1. It involved the ability of Those in the Council Chamber at Shamballa to react to and absorb certain extra-planetary energies and to use them in an intra-planetary sense. It had not been anticipated by the Directing Agents of these forces that our planetary Logos would achieve a certain goal so early in time and space as He has.
1. Nó liên quan đến khả năng của Những Đấng trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa trong việc đáp ứng và hấp thụ một số năng lượng ngoài hành tinh và sử dụng chúng theo nghĩa nội hành tinh. Các Tác Nhân Chỉ Đạo của những mãnh lực này đã không dự liệu rằng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta sẽ đạt được một mục tiêu nào đó sớm đến thế trong thời gian và không gian như Ngài đã làm.
2. It involved a great expansion, numerically and in the consciousness of the Hierarchy. This predicates a great influx of initiates and disciples and a tremendous inflow of what is esoterically called “angelic essence” from the deva kingdom, under the direction of certain great Devas who have affiliated during the past two hundred years with the Hierarchy. This again had not been expected so early. The result of this happening has been that the door of initiation through which mankind passes stands wider open (symbolically speaking) than ever before, and at the same time, the Masters are passing with greater rapidity on to the Way of the Higher Evolution; this is due to the fact that initiates are fitting themselves so rapidly to take Their places, and disciples are moving on into initiate position so fast, that a great pressing forward has become legitimate.
2. Nó liên quan đến một sự mở rộng lớn lao, cả về số lượng lẫn trong tâm thức của Thánh đoàn. Điều này giả định một dòng tuôn đổ lớn của các điểm đạo đồ và đệ tử cùng một dòng tuôn đổ to lớn của cái mà về mặt huyền bí được gọi là “tinh chất thiên thần” từ giới thiên thần, dưới sự chỉ đạo của một số Đại Thiên thần đã liên kết với Thánh đoàn trong hai trăm năm qua. Điều này nữa cũng đã không được mong đợi sớm đến vậy. Kết quả của biến cố này là cánh cửa điểm đạo mà qua đó nhân loại đi vào nay mở rộng hơn (nói theo biểu tượng) bao giờ hết, đồng thời các Chân sư đang tiến nhanh hơn trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu; điều này là do các điểm đạo đồ đang nhanh chóng tự thích nghi để thay thế vị trí của Các Ngài, và các đệ tử đang tiến vào địa vị điểm đạo đồ nhanh đến mức một sự thúc đẩy tiến lên mạnh mẽ đã trở nên chính đáng.
3. It involved, finally, a great awakening in the human family and a major spiritual reorientation. This again had [563] been believed possible of accomplishment when the sun passed into Capricorn about 2300 years hence. But—it has already taken place and necessarily has brought about a basic adjustment in the plans of the Hierarchy and a renewed emphasis upon the purpose, as registered in Shamballa.
3. Cuối cùng, nó liên quan đến một sự thức tỉnh lớn lao trong gia đình nhân loại và một sự tái định hướng tinh thần quan trọng. Điều này nữa [563] đã từng được tin là có thể hoàn thành khi mặt trời đi vào Ma Kết khoảng 2300 năm nữa. Nhưng—điều đó đã xảy ra rồi và tất yếu đã mang lại một sự điều chỉnh căn bản trong các kế hoạch của Thánh đoàn cùng một sự nhấn mạnh mới vào mục đích như đã được ghi nhận tại Shamballa.
This, being factual, and the time ripe for decision, has caused an intra-planetary ferment and great activity in the three major centres. In the last analysis (and this is the factor of supreme importance) this development—this unexpected right absorption of spiritual energy, and this seizing of spiritual opportunity—is due to humanity itself; above everything else, it is the readiness of mankind for that which is new, and humanity’s determination to create a new and better world, adapted more adequately to their “renewed” spiritual nature, that is responsible for all the activity.
Điều này, vì là sự kiện, và vì thời điểm quyết định đã chín muồi, đã gây ra một sự sôi động nội hành tinh và hoạt động lớn lao trong ba trung tâm chính. Xét cho cùng (và đây là yếu tố có tầm quan trọng tối thượng), sự phát triển này—sự hấp thụ đúng đắn bất ngờ này của năng lượng tinh thần, và sự nắm bắt cơ hội tinh thần này—là do chính nhân loại; trên hết mọi điều khác, chính sự sẵn sàng của nhân loại đối với điều mới mẻ, và quyết tâm của nhân loại trong việc tạo ra một thế giới mới và tốt đẹp hơn, thích ứng đầy đủ hơn với bản chất tinh thần “được đổi mới” của họ, là điều chịu trách nhiệm cho toàn bộ hoạt động này.
In this section of our training themes (if I may call them so) we shall deal primarily with the response and the subsequent activity of the Hierarchy in relation to humanity. This will take the form of a new Approach and a reappearance exoterically.
Trong phần này của các chủ đề huấn luyện của chúng ta (nếu tôi có thể gọi như vậy), chúng ta sẽ chủ yếu đề cập đến sự đáp ứng và hoạt động tiếp theo của Thánh đoàn trong mối liên hệ với nhân loại. Điều này sẽ mang hình thức của một Sự Tiếp Cận mới và một sự tái xuất hiện công khai.
It would be wise, therefore, to keep the following ideas constantly in mind; I will enumerate them sequentially and for the sake of clarity:
Do đó, sẽ là khôn ngoan nếu luôn ghi nhớ những ý tưởng sau đây; tôi sẽ liệt kê chúng tuần tự và vì mục đích rõ ràng:
1. The work of the Hierarchy, throughout the ages, has been fundamentally threefold in nature:
1. Công việc của Thánh đoàn, xuyên suốt các thời đại, về cơ bản có bản chất tam phân:
a. A constant effort to set up a closer and more understanding relation with Shamballa. This involves:
a. Một nỗ lực không ngừng nhằm thiết lập một mối liên hệ gần gũi hơn và thấu hiểu hơn với Shamballa. Điều này bao gồm:
An unfoldment of the will aspect in conjunction with a full use of intelligent love.
Sự khai mở phương diện ý chí kết hợp với việc sử dụng trọn vẹn tình thương thông tuệ.
A constant adaptation of the developing Plan to the emerging, energising Purpose.
Sự thích nghi không ngừng của Thiên Cơ đang phát triển với Thiên Ý đang xuất hiện và tiếp sinh lực.
An increasing ability to transmit energy from Shamballa to the three worlds, from the cosmic etheric levels to the cosmic dense physical planes. [564]
Khả năng ngày càng tăng trong việc truyền dẫn năng lượng từ Shamballa đến ba cõi giới, từ các cấp độ dĩ thái vũ trụ đến các cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ. [564]
b. To unfold—within the periphery of the hierarchical centre—a life, a plan and a technique which will train all who find their way into an Ashram, which is in itself an aspect of the life of the Hierarchy. This ancient and intelligent effort has created and conditioned what you know as the Hierarchy. However, it is constantly subject to change in response to new situations and developments.
b. Khai mở—trong chu vi của trung tâm Thánh đoàn—một đời sống, một kế hoạch và một kỹ thuật sẽ huấn luyện tất cả những ai tìm được đường vào một ashram, mà tự nó là một phương diện của đời sống Thánh đoàn. Nỗ lực cổ xưa và thông tuệ này đã tạo ra và tác động lên điều mà bạn biết là Thánh đoàn. Tuy nhiên, nó luôn luôn chịu sự thay đổi để đáp ứng với những tình huống và phát triển mới.
c. To represent, finally, within the Hierarchy, the qualities of all the seven Rays, through the medium of the seven major Ashrams and their allied and subsidiary Ashrams.
c. Cuối cùng, biểu hiện trong Thánh đoàn các phẩm tính của cả bảy cung, qua trung gian của bảy ashram chính và các ashram liên kết và phụ thuộc của chúng.
There are many other aspects of the hierarchical constitution and objectives, but these three are the ones with which we are at this time the most concerned.
Còn nhiều phương diện khác của cơ cấu và các mục tiêu của Thánh đoàn, nhưng ba phương diện này là những điều mà hiện nay chúng ta quan tâm nhất.
2. Today, the relation of Shamballa to the Hierarchy is closer than at any previous time, owing to the following factors:
2. Ngày nay, mối liên hệ của Shamballa với Thánh đoàn gần gũi hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây, do các yếu tố sau:
a. The one-pointed work and plan—pursued by the three great departments in the Hierarchy (the department of the Manu, that of the Christ, and that of the Lord of Civilisation)—in which the three Leaders have unitedly acted as a Triangle of transmission between the Council Chamber of the Lord of the World and the Hierarchy. They are, all three, Members of the Council, though none of Them is yet working at the very centre of affairs; in order to be of greater service in Their own sphere, They have taken Their stand upon the periphery of the Council’s influence.
a. Công việc và kế hoạch nhất tâm—được theo đuổi bởi ba ban ngành lớn trong Thánh đoàn (ban của Đức Manu, ban của Đức Christ, và ban của Chúa Tể Văn Minh)—trong đó ba Vị Lãnh Đạo đã cùng nhau hành động như một Tam Giác truyền dẫn giữa Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới và Thánh đoàn. Cả ba Vị đều là Thành viên của Hội Đồng, dù chưa Vị nào trong Các Ngài đang hoạt động tại chính trung tâm của công việc; để có thể phụng sự lớn hơn trong phạm vi riêng của Các Ngài, Các Ngài đã đứng tại chu vi ảnh hưởng của Hội Đồng.
b. The invocative work carried out both consciously and unconsciously by humanity itself, which has been of such a potency that it has penetrated beyond the ring-pass-not (symbolically understood) of the Hierarchy to Shamballa itself, and has evoked response. This invocative [565] work reached a high point of potency as a result of the world war (1914-1945) and its note and appeal are still persistent.
b. Công việc khẩn cầu được thực hiện cả một cách có ý thức lẫn vô thức bởi chính nhân loại, vốn có mãnh lực mạnh đến mức đã xuyên vượt ra ngoài vòng-giới-hạn (hiểu theo biểu tượng) của Thánh đoàn đến chính Shamballa, và đã gợi lên sự đáp ứng. Công việc khẩn cầu [565] này đã đạt đến một đỉnh cao về mãnh lực do kết quả của chiến tranh thế giới (1914-1945) và âm điệu cùng lời kêu gọi của nó vẫn còn dai dẳng.
c. The rapid development of integration among advanced people, which has forced many on to the Path of Discipleship, and therefore into certain of the Ashrams, and has likewise enabled many disciples to take initiation.
c. Sự phát triển nhanh chóng của sự tích hợp nơi những người tiến bộ, điều đã đẩy nhiều người vào Con Đường Đệ Tử, và do đó vào một số ashram, đồng thời cũng giúp nhiều đệ tử có thể nhận điểm đạo.
3. The recognition by a very much larger number of the general public of the fact of the Hierarchy; this has established a new type of relation between the Hierarchy and humanity. Hitherto the relation was dependent upon recognition, by advanced aspirants, of the nature of their position in relation to the Hierarchy; today, the recognition of thousands who are not in any way advanced aspirants or in any sense prepared for affiliation with the Hierarchy has created a new type of problem; it connotes to the Hierarchy a promising development, though at the same time an embarrassing one, requiring as it does a different mode of adjustment to human demands than that entailed by the admittance of disciples to Their Ashrams; it requires the attention of certain disciples and initiates in all the Ashrams and the ability of the Hierarchy to penetrate and dissipate the thick cloud of inchoate thoughtforms which the bewildered, interested and curious public have created anent Them.
3. Sự công nhận của một số lượng công chúng rộng lớn hơn rất nhiều về sự kiện của Thánh đoàn; điều này đã thiết lập một loại quan hệ mới giữa Thánh đoàn và nhân loại. Trước đây, mối quan hệ ấy phụ thuộc vào sự nhận biết, nơi những người chí nguyện tiến bộ, về bản chất vị trí của họ trong mối liên hệ với Thánh đoàn; ngày nay, sự công nhận của hàng ngàn người không hề là những người chí nguyện tiến bộ theo bất kỳ cách nào, cũng không hề được chuẩn bị để liên kết với Thánh đoàn theo bất kỳ nghĩa nào, đã tạo ra một loại vấn đề mới; đối với Thánh đoàn, điều này hàm ý một sự phát triển đầy hứa hẹn, nhưng đồng thời cũng gây lúng túng, vì nó đòi hỏi một phương thức điều chỉnh khác đối với các đòi hỏi của con người so với phương thức được kéo theo bởi việc tiếp nhận các đệ tử vào các ashram của Các Ngài; nó đòi hỏi sự chú tâm của một số đệ tử và điểm đạo đồ trong mọi ashram và khả năng của Thánh đoàn trong việc xuyên thấu và làm tiêu tan đám mây dày đặc của những hình tư tưởng chưa định hình mà công chúng bối rối, quan tâm và tò mò đã tạo ra liên quan đến Các Ngài.
4. The use by the Hierarchy of the destroyer aspect of divinity, the first Ray, in such a manner that it is in fact a creative factor and one which, in the last analysis, not only releases the life from its previous limitations, but also calls in—under the Law of Balance—the building activity of the second Ray. The work of destruction is now practically accomplished and over, and the work of the Builders is beginning.
4. Việc Thánh đoàn sử dụng phương diện hủy diệt của thiên tính, cung một, theo cách mà trên thực tế nó là một yếu tố sáng tạo và là yếu tố mà xét cho cùng không những giải phóng sự sống khỏi những giới hạn trước đây của nó, mà còn triệu gọi—dưới Định luật Quân Bình—hoạt động kiến tạo của cung hai. Công việc hủy diệt nay trên thực tế đã hoàn tất và chấm dứt, và công việc của các đấng kiến tạo đang bắt đầu.
5. The New Group of World Servers has been created as an [566] intermediate body between the Hierarchy and the general public. This group is divided into two lesser groups:
5. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được tạo ra như một [566] tập thể trung gian giữa Thánh đoàn và công chúng rộng rãi. Nhóm này được chia thành hai nhóm nhỏ hơn:
a. Those disciples and workers who are already integrated into some one of the Ashrams.
a. Những đệ tử và người hoạt động đã được tích hợp vào một ashram nào đó.
b. Intelligent and humanitarian aspirants and workers in world affairs and in all departments.
b. Những người chí nguyện và những người hoạt động thông minh, nhân đạo trong các công việc thế giới và trong mọi lĩnh vực.
These two groups unitedly form a transmitting agency through which the Hierarchy can reach the mass of men with the new concepts, the techniques of the new civilisation and the basic propositions under which humanity will move forward into greater light.
Hai nhóm này hợp nhất lại thành một cơ quan truyền dẫn, qua đó Thánh Đoàn có thể tiếp cận quần chúng nhân loại bằng các khái niệm mới, các kỹ thuật của nền văn minh mới và những mệnh đề căn bản mà dưới đó nhân loại sẽ tiến bước vào ánh sáng lớn hơn.
6. The recognition by humanity of its major problems, and the increasing ability of the general public to view these problems in terms of One Humanity, of the whole. This ability indicates to the Hierarchy the position of Humanity upon the Path at this time and the readiness of mankind for the new revelation—to be followed later by the restoration of the Mysteries.
6. Sự nhận biết của nhân loại về các vấn đề lớn lao của mình, và khả năng ngày càng tăng của công chúng nói chung trong việc nhìn các vấn đề ấy theo thuật ngữ của Một Nhân Loại, của toàn thể. Khả năng này cho Thánh Đoàn thấy vị trí của Nhân Loại trên Con Đường vào lúc này và sự sẵn sàng của loài người đối với sự mặc khải mới—về sau sẽ được tiếp nối bằng sự phục hồi các Mầu Nhiệm.
7. The new orientation of the human family within itself to the concept of the One Humanity and the intensely alert spiritual demand which is today distinctive of mankind everywhere, and which has forced the Hierarchy to come to certain basic decisions and to readjust Itself to a much closer cooperation with the human centre of life and purpose.
7. Sự định hướng mới của gia đình nhân loại trong chính nội bộ mình hướng tới khái niệm Một Nhân Loại, và nhu cầu tinh thần mãnh liệt, tỉnh thức cao độ, ngày nay là nét đặc trưng của nhân loại ở khắp nơi, điều đã buộc Thánh Đoàn phải đi đến một số quyết định căn bản và tự điều chỉnh để hợp tác chặt chẽ hơn nhiều với trung tâm nhân loại của sự sống và mục đích.
It is interesting to note (though it is of no immediate moment) that the work of destruction initiated by the Hierarchy during the past one hundred and seventy-five years (therefore since the year 1775) has in it the seeds—as yet a very long way from any germination—of the final act of destruction which will take place when the Hierarchy will be so completely fused and blended with Humanity that the hierarchical form will no longer be required. The three [567] major centres will then become the two, and the Hierarchy will disappear and only Shamballa and Humanity will remain, only spirit or life, and substance as an expression of intelligent love will be left. This corresponds to the experience of the individual initiate at the fourth initiation, when the causal body, the soul body, disappears and only the monad and its expression, the personality (a fusion of soul and form) are left. This event of final dissolution will take place only at the close of our planetary existence, when the door to individualisation is finally closed for a pralayic period and the Way of the Higher Evolution will be more closely trodden than the Path of Initiation.
Điều đáng lưu ý (dù hiện giờ không có tầm quan trọng trực tiếp) là công việc hủy diệt do Thánh Đoàn khởi xướng trong một trăm bảy mươi lăm năm qua (vì vậy từ năm 1775) chứa trong nó những hạt giống—hiện vẫn còn rất xa mới nảy mầm—của hành vi hủy diệt cuối cùng sẽ diễn ra khi Thánh Đoàn được dung hợp và hòa nhập hoàn toàn với Nhân Loại đến mức hình thức thánh đoàn sẽ không còn cần thiết nữa. Khi đó ba trung tâm lớn [567] sẽ trở thành hai, và Thánh Đoàn sẽ biến mất, chỉ còn lại Shamballa và Nhân Loại, chỉ còn tinh thần hay sự sống, và chất liệu như một biểu hiện của bác ái thông minh. Điều này tương ứng với kinh nghiệm của điểm đạo đồ cá nhân ở lần điểm đạo thứ tư, khi thể nguyên nhân, thể linh hồn, biến mất và chỉ còn chân thần cùng biểu hiện của nó là phàm ngã (một sự dung hợp của linh hồn và hình tướng). Biến cố tan rã cuối cùng này chỉ xảy ra vào lúc kết thúc sự tồn tại hành tinh của chúng ta, khi cánh cửa dẫn đến biệt ngã hóa được đóng lại dứt khoát trong một giai kỳ qui nguyên và Con đường Tiến Hóa Cao Siêu sẽ được bước đi sát sao hơn Con Đường Điểm Đạo.
Therefore, my brothers, the closer relation of the Hierarchy to Shamballa, the stimulation of its own interior life, and the readiness of humanity for revelation and for certain unexpected development, will condition the cycle into which we are now entering. This is, therefore, the most amazing period in the history of humanity. Added to this, it must be borne in mind that we are entering another greater round of the Zodiac, and this coincides with the lesser zodiacal activity because Aquarius governs the greater immediate cycle of 25,000 years and is also the sign into which the sun is now moving for a period of 2300 years—a most amazing happening and full of import in our planetary history; it is a coincidence of which our planetary Logos is well aware and of which He is making full and intelligent use. It is a cycle also wherein, for the first time, the three major planetary centres—Shamballa, Hierarchy and Humanity—are in direct and unimpeded relation, for today the alignment is correct and adjusted for the first time in planetary history. Even if this be only temporarily so, something has been initiated, the effects of which will never be lost. It is a cycle also in which the planetary Logos, having successfully taken initiation and thus affected His entire planetary life, has also established certain extra-planetary relationships which are necessarily incomprehensible to you and of no moment whatsoever to the individual human being, but which will eventually create a situation in which our planet will become [568] a sacred planet. This process, as it unfolds and develops, will have a potent subjective and deeply spiritual effect upon every kingdom in nature and in the realm also of supernature.
Vì vậy, Huynh đệ của Tôi, mối liên hệ gần gũi hơn của Thánh Đoàn với Shamballa, sự kích thích đời sống nội tại của chính nó, và sự sẵn sàng của nhân loại đối với mặc khải và đối với một số phát triển bất ngờ, sẽ tác động lên chu kỳ mà hiện nay chúng ta đang bước vào. Do đó, đây là giai đoạn kỳ diệu nhất trong lịch sử nhân loại. Thêm vào đó, cần ghi nhớ rằng chúng ta đang bước vào một cuộc tuần hoàn lớn hơn khác của Hoàng Đạo, và điều này trùng hợp với hoạt động hoàng đạo nhỏ hơn bởi vì Bảo Bình chi phối chu kỳ lớn trực tiếp 25.000 năm và cũng là dấu hiệu hoàng đạo mà mặt trời hiện đang tiến vào trong một thời kỳ 2300 năm—một biến cố hết sức kỳ diệu và đầy ý nghĩa trong lịch sử hành tinh của chúng ta; đó là một sự trùng hợp mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hoàn toàn ý thức và đang sử dụng một cách trọn vẹn, thông minh. Đây cũng là một chu kỳ trong đó, lần đầu tiên, ba trung tâm hành tinh lớn—Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại—ở trong mối liên hệ trực tiếp và không bị ngăn trở, vì ngày nay sự chỉnh hợp là đúng đắn và được điều chỉnh lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh. Dù điều này chỉ là tạm thời, một điều gì đó đã được khởi xướng mà các hiệu quả của nó sẽ không bao giờ mất đi. Đây cũng là một chu kỳ trong đó Hành Tinh Thượng đế, sau khi đã thành công tiếp nhận điểm đạo và do đó tác động đến toàn bộ sự sống hành tinh của Ngài, cũng đã thiết lập một số liên hệ ngoài hành tinh mà tất yếu các bạn không thể hiểu nổi và hoàn toàn không quan trọng gì đối với con người cá nhân, nhưng rốt cuộc sẽ tạo ra một tình huống trong đó hành tinh của chúng ta sẽ trở thành [568] một hành tinh thiêng liêng. Tiến trình này, khi khai mở và phát triển, sẽ có một tác động chủ quan mạnh mẽ và sâu sắc về mặt tinh thần lên mọi giới trong thiên nhiên và cả trong lĩnh vực siêu nhiên nữa.
Let us now proceed with our consideration of our theme, after our study of these basic premises.
Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục xem xét chủ đề của mình, sau khi đã nghiên cứu các tiền đề căn bản này.
Steps in the Externalisation Process
Các bước trong tiến trình Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn
For some time, ever since 1425 A.D., ( a date to which I referred earlier) the Hierarchy has been aware that the time would come when this projected move would take place. Preparations have gone steadily forward. A point to be remembered is that this impulsed intention (emanating in the first place from Shamballa) came as a major disturbance to the rhythm of many tens of thousands of years; it has been a basic conditioning factor. The Masters, however, Who will make the move outwards into contact with the world are not the Ones Who registered the initial impulse from Shamballa, nor are the three Heads of the great departments the same. The earlier Masters initiated the needed steps of preparation, and the work has gone steadily forward since.
Trong một thời gian, kể từ năm 1425 sau Công nguyên (một niên đại mà tôi đã nhắc đến trước đây), Thánh Đoàn đã biết rằng sẽ đến lúc cuộc chuyển động được dự phóng này diễn ra. Các sự chuẩn bị đã tiến hành đều đặn. Một điểm cần ghi nhớ là ý định được thúc đẩy này (trước hết phát xuất từ Shamballa) đã đến như một sự xáo trộn lớn đối với nhịp điệu của nhiều chục ngàn năm; nó đã là một yếu tố tác động căn bản. Tuy nhiên, các Chân sư sẽ thực hiện cuộc chuyển động ra bên ngoài để tiếp xúc với thế giới không phải là những Đấng đã ghi nhận xung lực ban đầu từ Shamballa, và ba vị Đứng Đầu các đại ban ngành cũng không phải là như cũ. Các Chân sư trước kia đã khởi xướng những bước chuẩn bị cần thiết, và công việc đã tiến hành đều đặn từ đó đến nay.
You might well ask what were these steps and along what lines has the preparation gone? The first steps concerned internal preparation. Though the Masters of the Wisdom have all passed through the human experience and are simply men who have achieved a relative measure of perfection, there are aspects of physical contact which They have completely transcended and utterly negated. There is nothing in the three worlds with which They have any affinity, except the affinity of life and the impulse of love for all beings. Recovery of certain facilities of activity has been deemed necessary. For instance, the five senses, where a Master is concerned, exist and are used at need, but the contact established and maintained with disciples and senior aspirants in the world (through whom They primarily work) is largely telepathic; hearing and sight, as you understand [569] their uses, are not involved. The science of impression, with its greatly increased effectiveness over individual contact through the senses, has entirely superseded the more strictly human method. Except in the case of Masters working on the physical plane and in a physical body, the outer physical senses are in abeyance; for the majority of Masters Who still use these senses, the use is strictly limited; Their work is still almost entirely subjective and the mode of telepathic interplay and of impression is practically all the means which They employ to reach Their working agents. Therefore, the recovery of past usages of a more physical nature has been one of the preparatory moves.
Các bạn hẳn sẽ hỏi những bước ấy là gì và sự chuẩn bị đã tiến hành theo những đường hướng nào? Những bước đầu tiên liên quan đến sự chuẩn bị nội tại. Dù các Chân sư Minh Triết đều đã đi qua kinh nghiệm nhân loại và đơn giản là những con người đã đạt được một mức độ tương đối hoàn thiện, vẫn có những phương diện của tiếp xúc hồng trần mà Các Ngài đã hoàn toàn vượt qua và triệt tiêu. Trong ba cõi giới không có gì mà Các Ngài có sự tương hợp, ngoại trừ sự tương hợp của sự sống và xung lực bác ái đối với mọi chúng sinh. Việc phục hồi một số khả năng hoạt động nào đó đã được xem là cần thiết. Chẳng hạn, năm giác quan, xét nơi một Chân sư, vẫn tồn tại và được dùng khi cần, nhưng sự tiếp xúc được thiết lập và duy trì với các đệ tử và những người chí nguyện cao cấp trong thế giới (qua họ Các Ngài chủ yếu làm việc) phần lớn là bằng viễn cảm; thính giác và thị giác, theo cách các bạn hiểu [569] công dụng của chúng, không can dự vào. Khoa học về sự ấn tượng, với hiệu quả tăng lên rất nhiều so với tiếp xúc cá nhân qua các giác quan, đã hoàn toàn thay thế phương pháp thuần nhân loại hơn. Ngoại trừ trường hợp các Chân sư làm việc trên cõi hồng trần và trong một thể xác hồng trần, các giác quan hồng trần bên ngoài ở trong trạng thái đình chỉ; đối với đa số Chân sư vẫn còn sử dụng các giác quan này, việc sử dụng bị giới hạn nghiêm ngặt; công việc của Các Ngài vẫn hầu như hoàn toàn chủ quan và phương thức tương tác viễn cảm cùng sự ấn tượng thực tế là toàn bộ phương tiện mà Các Ngài dùng để tiếp cận các tác nhân làm việc của mình. Vì vậy, việc phục hồi những cách sử dụng trước kia có tính hồng trần hơn đã là một trong những bước chuẩn bị.
Another has been the achievement of a wide culture and understanding of the current civilisation which will be coming into activity and control when the intended project is carried out. You have been told—and told correctly—that the Masters do not trouble Themselves to attain proficiency in all educational subjects—in modern history, for instance, or the newest scientific procedures, or in the use of foreign languages. In all Their Ashrams there are those who can supply Them with any specified knowledge which They may need at any given time or for any specific purpose. This will still remain true of Those Who have attained the rank of Master, but it is not true of all the senior initiates, many of whom, as they passed into higher grades and under instruction from a Master, have retained their worldly knowledge, besides specialising in certain strictly mundane approaches to worldly affairs. For instance, there are adepts who are authorities upon modern financial matters, and these initiates of the fourth degree are competently preparing to institute later those newer techniques and modes of financial interplay which will supersede the present disastrous methods; they will inaugurate a system of barter and exchange, of which modern money is the travestied symbol. This newer method of financial relationships will be comprehensively human and it will supersede big business and private enterprise. It will at the same time, however, retain those phases of modern enterprise which will draw out the initiative and [570] the resourcefulness of the individual. Other initiates have specialised in the various languages, and two of them are authorities in basic English; this is the form of the English language which will eventually take the place of other languages in all forms of international and business intercourse without in any way obliterating the individual national languages in daily use in any country.
Một bước khác là đạt được một nền văn hóa rộng và sự thấu hiểu nền văn minh hiện tại, nền văn minh sẽ đi vào hoạt động và nắm quyền kiểm soát khi dự án dự định được thực hiện. Các bạn đã được bảo—và bảo đúng—rằng các Chân sư không bận tâm đạt đến sự thành thạo trong mọi môn học giáo dục—chẳng hạn trong lịch sử hiện đại, hay các quy trình khoa học mới nhất, hay trong việc sử dụng các ngoại ngữ. Trong mọi ashram của Các Ngài đều có những người có thể cung cấp cho Các Ngài bất kỳ tri thức chuyên biệt nào mà Các Ngài có thể cần vào bất cứ lúc nào hay cho bất kỳ mục đích cụ thể nào. Điều này vẫn đúng đối với Những Đấng đã đạt đến cấp bậc Chân sư, nhưng không đúng với tất cả các điểm đạo đồ cao cấp, nhiều vị trong số họ, khi đã bước vào các cấp cao hơn và dưới sự huấn luyện của một Chân sư, vẫn giữ lại tri thức thế gian của mình, đồng thời chuyên môn hóa trong một số cách tiếp cận thuần túy thế tục đối với các công việc thế giới. Chẳng hạn, có những chân sư là những nhà thẩm quyền về các vấn đề tài chính hiện đại, và các điểm đạo đồ cấp bốn này đang chuẩn bị một cách thành thạo để về sau thiết lập những kỹ thuật và phương thức tương tác tài chính mới hơn, sẽ thay thế các phương pháp tai hại hiện nay; họ sẽ khai mở một hệ thống trao đổi và đổi chác mà tiền tệ hiện đại chỉ là biểu tượng bị xuyên tạc của nó. Phương pháp mới này của các quan hệ tài chính sẽ mang tính nhân loại toàn diện và sẽ thay thế đại doanh nghiệp và tư doanh. Tuy nhiên, đồng thời nó vẫn sẽ giữ lại những phương diện của doanh nghiệp hiện đại có thể khơi dậy sáng kiến và [570] sự tháo vát của cá nhân. Những điểm đạo đồ khác đã chuyên môn hóa về các ngôn ngữ khác nhau, và hai vị trong số họ là những nhà thẩm quyền về tiếng Anh căn bản; đây là hình thức tiếng Anh rốt cuộc sẽ thay thế các ngôn ngữ khác trong mọi hình thức giao tiếp quốc tế và thương mại mà không hề xóa bỏ các ngôn ngữ dân tộc riêng biệt vẫn được dùng hằng ngày ở bất kỳ quốc gia nào.
Two things must be realised as the interested student considers this event of externalisation:
Có hai điều phải được chứng nghiệm khi đạo sinh quan tâm xem xét biến cố ngoại hiện này:
1. The senior Members of the Hierarchy will not at first be the ones who will make the needed approach. Under Their direction and Their close supervision, this approach will be made—in the early stages—by initiates of and under the degree of the third initiation, and also by those disciples who will be chosen and designated to implement Their efforts and so will work under Their direction. It is only in the later stages, and when the time has come for the return into recognised physical expression of the Christ, leading to the definite restoration of the Mysteries, that certain of the senior Members of the Hierarchy will appear and take outer and recognisable physical control of world affairs. The time for this will be dependent necessarily upon the success of the steps taken by the members of the Hierarchy who are not so advanced.
1. Trước hết, các Thành Viên cao cấp của Thánh Đoàn sẽ không phải là những vị thực hiện sự tiếp cận cần thiết. Dưới sự chỉ đạo và giám sát chặt chẽ của Các Ngài, sự tiếp cận này sẽ được thực hiện—trong các giai đoạn đầu—bởi các điểm đạo đồ ở và dưới cấp của lần điểm đạo thứ ba, và cũng bởi những đệ tử sẽ được chọn và chỉ định để thực thi các nỗ lực của Các Ngài và như thế sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo của Các Ngài. Chỉ trong các giai đoạn sau, và khi thời điểm đã đến cho sự trở lại trong biểu hiện hồng trần được công nhận của Đức Christ, dẫn đến sự phục hồi dứt khoát các Mầu Nhiệm, thì một số Thành Viên cao cấp của Thánh Đoàn mới xuất hiện và nắm quyền kiểm soát hồng trần bên ngoài, có thể nhận biết được, đối với các công việc thế giới. Thời điểm này tất yếu sẽ tùy thuộc vào sự thành công của các bước do những thành viên của Thánh Đoàn chưa tiến hóa cao như vậy thực hiện.
2. Members of the Hierarchy, whether working in the early stages or later when the true externalisation takes place, will work as members of the human family and not as proclaimed members of the kingdom of God or of souls, known to us as the Hierarchy; they will appear in office of some kind or another; they will be the current politicians, business men, financiers, religious teachers or churchmen; they will be scientists and philosophers, college professors and educators; they will be the mayors of cities and the custodians of all public ethical movements. The spiritual forcefulness of their lives, their clear, pure wisdom, the sanity and the modern acceptableness of their proposed measures in any department in which they choose to function, will be so [571] convincing that little impediment will be set in the way of their undertakings.
2. Các thành viên của Thánh Đoàn, dù làm việc trong các giai đoạn đầu hay về sau khi sự ngoại hiện thực sự diễn ra, sẽ làm việc như những thành viên của gia đình nhân loại chứ không phải như những thành viên được công bố của Thiên Giới hay của các linh hồn, mà chúng ta biết là Thánh Đoàn; họ sẽ xuất hiện trong một loại chức vụ nào đó; họ sẽ là các chính trị gia đương thời, các doanh nhân, nhà tài chính, huấn sư tôn giáo hay giáo sĩ; họ sẽ là các nhà khoa học và triết gia, giáo sư đại học và nhà giáo dục; họ sẽ là các thị trưởng thành phố và những người bảo hộ mọi phong trào đạo đức công cộng. Sức mạnh tinh thần trong đời sống của họ, minh triết sáng tỏ và thuần khiết của họ, sự lành mạnh và tính có thể chấp nhận được theo tinh thần hiện đại của các biện pháp họ đề xuất trong bất kỳ lĩnh vực nào họ chọn để hoạt động, sẽ [571] có sức thuyết phục đến mức rất ít trở ngại được đặt trên con đường các công việc họ đảm nhận.
At the present stage of preparation, the task of the disciple who is charged with laying the foundation for the New Age methods and with the labour of getting ready for the first group of Ashram members, is hard indeed. He stands for so much that is deemed visionary and impossible; the difficulties which confront him seem impossible; he teaches truths whose first effect is necessarily destructive, because he endeavours to rid humanity of old forms of religious, economic and political doctrine; his impersonality—which recognises faults as well as virtues—enrages many and often those from whom he had expected understanding and a true impartiality; his failure to be impressed or attentive to old rites and ceremonies, to ancient and obsolete but precious ideas, and his constant warfare on conditioning glamours and illusions meet, in these early stages, with little encouragement. He works frequently alone and usually with little recognition and lacks time for his own personal hierarchical contacts; he is not necessarily connected with any so-called esoteric groups and—if he is—his task is that much harder; only advanced disciples with a full and conscious constant contact with their particular Ashram are able to work in this way. Occult bodies and esoteric groups are, at this time, the most glamoured of any of the world groups; the work of any disciple in such groups is bound, in the early stages, to be destructive. The present occult groups which came into existence prior to 1919 will eventually all disappear; the members who are true and sound, broad-minded and sane, and rightly oriented and dedicated, will find their way into esoteric bodies which are free from dogmatism and doctrines and which are recipients of hierarchical life.
Ở giai đoạn chuẩn bị hiện nay, nhiệm vụ của đệ tử được giao phó việc đặt nền móng cho các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới và lao động chuẩn bị cho nhóm thành viên ashram đầu tiên quả thật rất khó khăn. Y đại diện cho quá nhiều điều bị xem là viển vông và bất khả; những khó khăn đối diện với y dường như không thể vượt qua; y giảng dạy những chân lý mà tác động đầu tiên tất yếu là phá hủy, bởi vì y cố gắng giải thoát nhân loại khỏi các hình thức cũ của giáo lý tôn giáo, kinh tế và chính trị; tính vô ngã của y—vốn nhận ra cả lỗi lầm lẫn đức hạnh—làm nhiều người nổi giận và thường là chính những người mà y đã mong đợi sự thấu hiểu và một tính vô tư chân chính; việc y không bị gây ấn tượng hay không chú ý đến các nghi lễ và lễ thức cũ, đến những ý tưởng cổ xưa và lỗi thời nhưng quý giá, và cuộc chiến không ngừng của y chống lại các ảo cảm và ảo tưởng đang tác động, trong các giai đoạn đầu này, chỉ nhận được rất ít khích lệ. Y thường làm việc một mình và thường ít được công nhận, lại thiếu thời gian cho các tiếp xúc thánh đoàn cá nhân của chính mình; y không nhất thiết liên hệ với bất kỳ nhóm gọi là huyền bí nào và—nếu có—nhiệm vụ của y lại càng khó hơn; chỉ những đệ tử tiến bộ với sự tiếp xúc đầy đủ, có ý thức và thường xuyên với ashram riêng của họ mới có thể làm việc theo cách này. Các tổ chức huyền bí và các nhóm bí truyền hiện nay là những nhóm bị ảo cảm nhiều nhất trong mọi nhóm trên thế giới; công việc của bất kỳ đệ tử nào trong các nhóm như thế, ở các giai đoạn đầu, tất phải mang tính phá hủy. Các nhóm huyền bí hiện nay đã xuất hiện trước năm 1919 rốt cuộc đều sẽ biến mất; những thành viên chân thật và lành mạnh, có đầu óc rộng mở và lành mạnh, được định hướng đúng và tận hiến, sẽ tìm được đường vào các tổ chức bí truyền không có giáo điều và tín lý, và là những nơi tiếp nhận sự sống thánh đoàn.
The preparatory work of externalisation, therefore, falls into three phases or stages, as far as relation to mankind is concerned:
Vì vậy, công việc chuẩn bị cho sự ngoại hiện rơi vào ba giai đoạn hay ba chặng, xét theo mối liên hệ với nhân loại:
First. The present stage in which a few isolated disciples and initiates, scattered all over the world, are doing [572] the important task of destruction, plus the enunciation of principles. They are preparing the way for the first organised body of disciples and initiates who—coming from certain Ashrams—will proceed with the next phase of the work.
Thứ nhất. Giai đoạn hiện nay trong đó một vài đệ tử và điểm đạo đồ biệt lập, rải rác khắp thế giới, đang thực hiện [572] nhiệm vụ quan trọng là phá hủy, cộng với việc tuyên bố các nguyên lý. Họ đang chuẩn bị con đường cho tổ chức đầu tiên gồm các đệ tử và điểm đạo đồ, những người—đến từ một số ashram—sẽ tiến hành giai đoạn kế tiếp của công việc.
Second. The stage of the first real externalisation upon a large and organised scale will succeed upon the above endeavours. These disciples and initiates will be the real Builders of the new world, of the new civilisation; they will assume leadership in most countries and take high office in all departments of human life. This they will do by the free choice of the people and by virtue of their advanced and proven merit. By this means, gradually the Hierarchy will take over the control upon the physical plane—subjectively as well as objectively—of the direction of human affairs. This direction will be in virtue of their known and approved capacity and will not involve the imposition of any hierarchical control or authority; it will simply signify the free recognition by free people of certain spiritual qualities and effective activities which they believe signify that these men are adequate to the demanded job, and whom they therefore choose as directing agents in the new and coming world. Freedom of choice under the authority of a spiritual livingness which demonstrates competency will be distinctive of the attitude of the general public. Men will be put into high office and into positions of power not because they are disciples or initiates, but because they are wise and intelligent servants of the public, with an internal awareness, a deeply religious and inclusive consciousness, and a well-trained mind with an obedient brain.
Thứ hai. Giai đoạn của sự ngoại hiện thực sự đầu tiên trên quy mô lớn và có tổ chức sẽ tiếp nối các nỗ lực nói trên. Các đệ tử và điểm đạo đồ này sẽ là những đấng kiến tạo thực sự của thế giới mới, của nền văn minh mới; họ sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo ở hầu hết các quốc gia và nắm giữ chức vụ cao trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại. Họ sẽ làm điều này do sự lựa chọn tự do của dân chúng và nhờ công trạng tiến bộ đã được chứng minh của họ. Bằng phương tiện này, dần dần Thánh Đoàn sẽ nắm quyền kiểm soát trên cõi hồng trần—chủ quan cũng như khách quan—đối với sự định hướng các công việc nhân loại. Sự định hướng này sẽ dựa trên năng lực đã được biết đến và thừa nhận của họ và sẽ không bao hàm việc áp đặt bất kỳ sự kiểm soát hay quyền uy thánh đoàn nào; nó chỉ đơn giản biểu thị sự công nhận tự do của những con người tự do đối với một số phẩm tính tinh thần và các hoạt động hữu hiệu mà họ tin là cho thấy những người này thích hợp với công việc được đòi hỏi, và vì thế họ chọn làm các tác nhân chỉ đạo trong thế giới mới đang đến. Tự do lựa chọn dưới thẩm quyền của một sinh hoạt tinh thần chứng tỏ năng lực sẽ là nét đặc trưng trong thái độ của công chúng nói chung. Con người sẽ được đặt vào chức vụ cao và vào các vị trí quyền lực không phải vì họ là đệ tử hay điểm đạo đồ, mà vì họ là những người phụng sự công chúng khôn ngoan và thông minh, với một nhận biết nội tại, một tâm thức sâu sắc tôn giáo và bao gồm, cùng một trí tuệ được huấn luyện tốt với một bộ não biết vâng phục.
This stage of hierarchical appearance is dependent upon the effective service of the first group of isolated and hard-working disciples who are the senior members of the New Group of World Servers and who are today working among the sons of men. This second group will take over from them, and theirs will be the task of instituting a more unified preparation for the return of the Christ. The first group prepare humanity for the possibility; the second group [573] definitely prepare for the return itself. They will build for a future which will arise out of the wreckage of the past, which wreckage they will remove; they will instill certain basic concepts anent right human relations into men’s minds. Their immediate group work, when they are coming into power and recognition, will consist of a sweetening and a clarification of the political situation and the presentation of those ideas which will eventually lead to a fusion of those principles which govern a democracy and which also condition the hierarchical method—which is somewhat different; this effort will produce a third political situation which will not be entirely dependent upon the choices of an unintelligent public or on the control which the hierarchical technique evidently involves. The mode of this new type of political guidance will later appear.
Giai đoạn xuất hiện này của Thánh Đoàn tùy thuộc vào sự phụng sự hữu hiệu của nhóm đầu tiên gồm những đệ tử biệt lập và làm việc cần mẫn, là các thành viên cao cấp của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và hiện nay đang hoạt động giữa những người con của nhân loại. Nhóm thứ hai này sẽ tiếp nhận công việc từ họ, và nhiệm vụ của họ sẽ là thiết lập một sự chuẩn bị thống nhất hơn cho sự trở lại của Đức Christ. Nhóm thứ nhất chuẩn bị nhân loại cho khả thể ấy; nhóm thứ hai [573] chuẩn bị dứt khoát cho chính sự trở lại. Họ sẽ xây dựng cho một tương lai sẽ phát sinh từ đống đổ nát của quá khứ, mà chính đống đổ nát ấy họ sẽ dọn bỏ; họ sẽ gieo vào trí óc con người một số khái niệm căn bản liên quan đến các quan hệ nhân loại đúng đắn. Công việc nhóm trước mắt của họ, khi họ bước vào quyền lực và được công nhận, sẽ gồm việc làm dịu và làm sáng tỏ tình hình chính trị cùng việc trình bày những ý tưởng mà rốt cuộc sẽ dẫn đến một sự dung hợp các nguyên lý chi phối một nền dân chủ và cũng tác động lên phương pháp thánh đoàn—vốn có phần khác biệt; nỗ lực này sẽ tạo ra một tình huống chính trị thứ ba, không hoàn toàn lệ thuộc vào các lựa chọn của một công chúng thiếu trí tuệ hay vào sự kiểm soát mà kỹ thuật thánh đoàn hiển nhiên bao hàm. Phương thức của loại hình hướng dẫn chính trị mới này về sau sẽ xuất hiện.
This second group will implement the new religion; by the time they come into control the old theological activities will have been completely broken; Judaism will be fast disappearing; Buddhism will be spreading and becoming increasingly dogmatic; Christianity will be in a state of chaotic divisions and upheavals. When this takes place and the situation is acute enough, the Master Jesus will take certain initial steps towards reassuming control of His Church; the Buddha will send two trained disciples to reform Buddhism; other steps will also be taken in this department of religions and of education, over which the Christ rules, and He will move to restore the ancient spiritual landmarks, to eliminate that which is nonessential, and to reorganise the entire religious field—again in preparation for the restoration of the Mysteries. These Mysteries, when restored, will unify all faiths.
Nhóm thứ hai này sẽ thực thi tôn giáo mới; vào lúc họ nắm quyền kiểm soát, các hoạt động thần học cũ sẽ bị phá vỡ hoàn toàn; Do Thái giáo sẽ nhanh chóng biến mất; Phật giáo sẽ lan rộng và ngày càng trở nên giáo điều; Cơ Đốc giáo sẽ ở trong tình trạng phân hóa và xáo trộn hỗn loạn. Khi điều này xảy ra và tình hình đủ gay gắt, Chân sư Jesus sẽ thực hiện một số bước đầu tiên để tái đảm nhận quyền kiểm soát Giáo hội của Ngài; Đức Phật sẽ gửi hai đệ tử đã được huấn luyện để cải cách Phật giáo; những bước khác cũng sẽ được thực hiện trong lĩnh vực tôn giáo và giáo dục này, mà Đức Christ cai quản, và Ngài sẽ hành động để phục hồi các cột mốc tinh thần cổ xưa, loại bỏ những gì không thiết yếu, và tái tổ chức toàn bộ lĩnh vực tôn giáo—một lần nữa để chuẩn bị cho sự phục hồi các Mầu Nhiệm. Các Mầu Nhiệm này, khi được phục hồi, sẽ hợp nhất mọi tín ngưỡng.
Groups of spiritually-minded financiers who are conscious members of an Ashram will take hold of the world economic situation and bring about great and needed changes. All these activities, built upon the preparatory work of the first group, are also preparatory in nature.
Các nhóm tài chính gia có tinh thần, là những thành viên có ý thức của một ashram, sẽ nắm lấy tình hình kinh tế thế giới và mang lại những thay đổi lớn lao, cần thiết. Tất cả các hoạt động này, được xây dựng trên công việc chuẩn bị của nhóm thứ nhất, cũng đều có tính chuẩn bị.
Third. The stage wherein Christ and the Masters of [574] the Wisdom can make public appearance and begin to work publicly, openly and outwardly in the world of men. The time of Their coming will be dependent upon the success of the work undertaken by the first two groups; it is not possible for me to prophesy anent this matter. So many factors are involved: the earnest work of the two groups, the readiness and the willingness of mankind to learn, the rapidity with which the forces of restoration and of resurrection can rehabilitate the world, the responsiveness of advanced humanitarians and intelligentsia to the opportunity to rebuild, to recreate and to reorganise the factors which the new culture and the new civilisation will demand. Even the Hierarchy Itself, with all Its sources of information, does not know how long this will take, but They are ready to move at any time.
Thứ ba. Giai đoạn trong đó Đức Christ và các Chân sư [574] Minh Triết có thể xuất hiện công khai và bắt đầu làm việc công khai, cởi mở và bên ngoài trong thế giới loài người. Thời điểm Các Ngài đến sẽ tùy thuộc vào sự thành công của công việc do hai nhóm đầu đảm nhận; tôi không thể tiên tri về vấn đề này. Có quá nhiều yếu tố liên quan: công việc tha thiết của hai nhóm, sự sẵn sàng và thiện chí học hỏi của nhân loại, tốc độ mà các mãnh lực phục hồi và phục sinh có thể tái thiết thế giới, sự đáp ứng của những người nhân đạo tiến bộ và giới trí thức đối với cơ hội tái xây dựng, tái tạo và tái tổ chức các yếu tố mà nền văn hóa mới và nền văn minh mới sẽ đòi hỏi. Ngay cả chính Thánh Đoàn, với mọi nguồn thông tin của mình, cũng không biết điều này sẽ mất bao lâu, nhưng Các Ngài sẵn sàng hành động vào bất cứ lúc nào.
In the meantime, as the first group struggles with the immediate problem in the outer world, and the second group—still within the confines of the Hierarchy Itself—makes due interior preparation and applies to its chosen membership the needed training and the desired reorientation, the Christ and the Masters are occupied with the task of preparing for the restoration of the Mysteries. This restoration will fall into three phases and will cover and include in its symbolism all phases of human unfoldment. The story of mankind will be pictorialised. These three phases correspond broadly and in a general sense to the three degrees of the Blue Lodge in Masonry. The analogy is not entirely accurate, owing to the unavoidable degeneracy of Masonry, but with the restoration of the Mysteries, Masonry also will come into its own. These phases are:
Trong khi đó, khi nhóm thứ nhất vật lộn với vấn đề trước mắt trong thế giới bên ngoài, và nhóm thứ hai—vẫn còn trong phạm vi của chính Thánh Đoàn—thực hiện sự chuẩn bị nội tại thích đáng và áp dụng cho các thành viên được chọn của mình sự huấn luyện cần thiết cùng sự tái định hướng mong muốn, thì Đức Christ và các Chân sư đang bận rộn với nhiệm vụ chuẩn bị cho sự phục hồi các Mầu Nhiệm. Sự phục hồi này sẽ rơi vào ba giai đoạn và sẽ bao trùm, bao gồm trong biểu tượng của nó mọi giai đoạn của sự khai mở nhân loại. Câu chuyện của nhân loại sẽ được mô tả bằng hình ảnh. Ba giai đoạn này tương ứng một cách khái quát và tổng quát với ba cấp của Blue Lodge trong Hội Tam Điểm. Sự tương đồng này không hoàn toàn chính xác, do sự suy đồi không thể tránh khỏi của Hội Tam Điểm, nhưng với sự phục hồi các Mầu Nhiệm, Hội Tam Điểm cũng sẽ lấy lại vị trí xứng đáng của mình. Các giai đoạn ấy là:
1. The stage of a general recognition of light in all departments of human living. This is inferred in the first stanza of the new Invocation. If the ritual of the E.A. is studied in the light of this information the significance will emerge. The poor and destitute candidate emerges into the light.
1. Giai đoạn của sự công nhận phổ quát về ánh sáng trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại. Điều này được hàm ý trong bài kệ đầu tiên của Khẩn Cầu mới. Nếu nghi thức của E.A. được nghiên cứu dưới ánh sáng của thông tin này thì ý nghĩa sẽ hiện ra. Ứng viên nghèo khổ và túng thiếu bước ra ánh sáng.
2. The stage of complete economic reorientation; in this, humanity is relieved of all economic anxiety and is free to [575] receive its due wages and the right reward of all service rendered in the building of the Temple of the Lord; this building proceeds with rapidity.
2. Giai đoạn của sự tái định hướng kinh tế hoàn toàn; trong đó, nhân loại được giải thoát khỏi mọi lo âu kinh tế và được tự do [575] nhận tiền công xứng đáng của mình cùng phần thưởng đúng đắn cho mọi sự phụng sự đã cống hiến trong việc xây dựng Đền Thờ của Chúa; công trình xây dựng này tiến hành nhanh chóng.
3. The stage wherein the reward of light is received and the reward of service rendered; spiritual status is recognised through the medium of what is regarded as a major initiation, for which the first two initiatory degrees are only preparatory. This first great initiation will be objectively staged and the general public will recognise it as the major rite and ritual of the new religious institution of the period. This is the stage where the forces of resurrection are active, when the Lord is with His people and Christ has returned to earth. Religion is then recognised as an attitude governing all phases of human experience.
3. Giai đoạn trong đó phần thưởng của ánh sáng được nhận lãnh và phần thưởng của sự phụng sự được ban trao; địa vị tinh thần được công nhận qua trung gian của điều được xem là một điểm đạo lớn, mà hai cấp điểm đạo đầu chỉ là sự chuẩn bị. Lần điểm đạo lớn đầu tiên này sẽ được dàn dựng một cách khách quan và công chúng nói chung sẽ công nhận nó như nghi lễ và nghi thức trọng đại của định chế tôn giáo mới của thời kỳ ấy. Đây là giai đoạn mà các mãnh lực phục sinh hoạt động, khi Chúa ở cùng dân Ngài và Đức Christ đã trở lại trần gian. Khi đó tôn giáo được công nhận như một thái độ chi phối mọi phương diện của kinh nghiệm nhân loại.
Approach, via Certain Ashrams
Sự tiếp cận, qua một số ashram nhất định
Students must not proceed on the assumption that in the process of externalisation there is a general moving forward of the entire Hierarchy onto the physical plane. Such is not the case. The whole effort is as yet (and will be for some time) experimental, and only a few of the Ashrams and a certain number of the trained disciples and initiates will be involved at first. It still remains to be proved how ready humanity is for this attempt. The Christian concept of the return of a triumphant Christ, coming in the clouds of heaven to Jerusalem, there to reign for a thousand years, is true in one way and utterly false as to design, location and method. Christ will return; the Jerusalem referred to (literally “the place of peace”) is not the chief city of a small country called Palestine or the Holy Land; the word is simply symbolic of a peaceful world—a world which, through its own self-initiated efforts, has attained a general quietude and has acquired a certain measure of right human relations. His coming in the air might be interpreted literally to mean that at the right time He will come by plane from the place on earth where He has been for many generations, watching over the sons of men; the words “every [576] eye shall see Him” might mean that, by the time He comes, television will have been perfected and He will then be seen, by its means, from even the most distant spot on earth. To the orthodox Christian, the above will sound like the rankest blasphemy, but the question immediately arises: Why should it be blasphemy for Him to use modern methods? Whilst on earth before, He conformed to the customs of His time. “Riding on the clouds of Heaven” may sound more picturesque and apparently require a greater expression of divinity, but why use such a means when a plane will equally well fulfil the purpose and carry the prophecy to completion? A great deal of reactionary stupidity will have to be eliminated before He can come, and it will be as the new generation assert their hold over human thinking. But it is not the event or the stage of Christ’s appearing with which we are now dealing, but with the preparatory stages and with the task of fitting the world (which means, in this case, preparing the human consciousness) for the presence in physical activity and manifestation of the Hierarchy—in full force and with its esoteric equipment.
Các đạo sinh không được giả định rằng trong tiến trình ngoại hiện có một sự tiến ra chung của toàn thể Thánh Đoàn lên cõi hồng trần. Không phải như vậy. Toàn bộ nỗ lực này hiện vẫn (và sẽ còn trong một thời gian) mang tính thử nghiệm, và lúc đầu chỉ một vài ashram cùng một số đệ tử và điểm đạo đồ đã được huấn luyện sẽ tham dự. Vẫn còn phải chứng minh xem nhân loại sẵn sàng đến mức nào cho nỗ lực này. Quan niệm Cơ Đốc về sự trở lại của một Đức Christ khải hoàn, đến trong mây trời tới Jerusalem để trị vì ở đó một ngàn năm, là đúng theo một cách và hoàn toàn sai về ý đồ, địa điểm và phương pháp. Đức Christ sẽ trở lại; Jerusalem được nói đến (nghĩa đen là “nơi chốn bình an”) không phải là thành phố chính của một quốc gia nhỏ gọi là Palestine hay Thánh Địa; từ này chỉ đơn giản là biểu tượng của một thế giới hòa bình—một thế giới mà qua chính những nỗ lực tự khởi xướng của mình đã đạt được một sự yên tĩnh chung và có được một mức độ nào đó của các quan hệ nhân loại đúng đắn. Việc Ngài đến trong không trung có thể được hiểu theo nghĩa đen là vào đúng thời điểm Ngài sẽ đến bằng máy bay từ nơi trên trái đất mà Ngài đã ở đó qua nhiều thế hệ, dõi theo những người con của nhân loại; những lời “mọi [576] mắt sẽ thấy Ngài” có thể có nghĩa là vào lúc Ngài đến, truyền hình sẽ đã được hoàn thiện và khi đó Ngài sẽ được nhìn thấy, bằng phương tiện ấy, từ cả những nơi xa xôi nhất trên trái đất. Đối với tín đồ Cơ Đốc chính thống, điều trên sẽ nghe như sự báng bổ tột bậc, nhưng câu hỏi lập tức nảy sinh là: Tại sao lại là báng bổ nếu Ngài sử dụng các phương pháp hiện đại? Khi còn ở trần gian trước đây, Ngài đã tuân theo các tập tục của thời đại mình. “Cưỡi trên mây trời” có thể nghe có vẻ nên thơ hơn và dường như đòi hỏi một biểu hiện thiên tính lớn hơn, nhưng tại sao lại dùng một phương tiện như thế khi một chiếc máy bay cũng hoàn toàn có thể hoàn thành mục đích và đưa lời tiên tri đến chỗ viên mãn? Rất nhiều sự ngu xuẩn phản động sẽ phải được loại bỏ trước khi Ngài có thể đến, và điều đó sẽ xảy ra khi thế hệ mới khẳng định được ảnh hưởng của mình trên tư duy nhân loại. Nhưng hiện nay chúng ta không bàn đến biến cố hay giai đoạn Đức Christ xuất hiện, mà bàn đến các giai đoạn chuẩn bị và nhiệm vụ làm cho thế giới thích hợp (nghĩa là, trong trường hợp này, chuẩn bị tâm thức nhân loại) cho sự hiện diện trong hoạt động và biểu hiện hồng trần của Thánh Đoàn—trong toàn bộ mãnh lực và với trang bị huyền bí của nó.
In the early stages, the task of preparation is arduous and difficult. Things will be relatively easy for the senior Members of the Hierarchy when They find the right time for Their appearance. In the meantime, the world disciples have to take the world—as it is at this time—and slowly and laboriously instill the new ideas, incite to better methods of human relations, help dissipate the aftermath of war, hold before the eyes of distraught humanity the new vision of hope and of spiritual enlightenment, offset the scheming of reactionary and conservative politicians and churchmen, and teach the youth of the age the new modes of living, indicating to them the better values, and thus slowly and gradually bringing in the new order.
Trong các giai đoạn đầu, nhiệm vụ chuẩn bị là gian khổ và khó khăn. Mọi việc sẽ tương đối dễ dàng đối với các Thành Viên cao cấp của Thánh Đoàn khi Các Ngài tìm được thời điểm thích hợp để xuất hiện. Trong khi đó, các đệ tử thế giới phải tiếp nhận thế giới—như nó hiện đang là—và chậm rãi, nhọc nhằn gieo vào đó các ý tưởng mới, khơi dậy những phương pháp tốt hơn về các quan hệ nhân loại, giúp làm tiêu tan hậu quả chiến tranh, giữ trước mắt nhân loại đang hoảng loạn linh ảnh mới về hy vọng và giác ngộ tinh thần, hóa giải những mưu toan của các chính trị gia và giáo sĩ phản động, bảo thủ, và dạy cho thanh niên của thời đại những phương thức sống mới, chỉ cho họ những giá trị tốt đẹp hơn, và như thế chậm rãi, dần dần đưa trật tự mới vào.
Among the seven major Ashrams and their subsidiary and affiliated Ashrams only a few have undertaken to send their disciples and their initiates at this time to carry out this initiatory task. The three major Ashrams so engaged are: [577]
Trong số bảy ashram lớn và các ashram phụ thuộc, liên kết của chúng, chỉ có một vài ashram đã đảm nhận việc gửi các đệ tử và điểm đạo đồ của mình vào lúc này để thực hiện nhiệm vụ điểm đạo này. Ba ashram lớn đang tham gia là: [577]
1. The Ashram of the Master K.H. This is the second ray Ashram and—with that of the Master M.—the most powerful in the Hierarchy; it controls the building forces.
1. Ashram của Chân sư K.H. Đây là ashram cung hai và—cùng với ashram của Chân sư M.—là ashram mạnh nhất trong Thánh Đoàn; nó kiểm soát các mãnh lực kiến tạo.
2. The first ray Ashram, that of the Master M. He is the custodian of the principle of synthesis, the work of which is that of organic fusion, and this is ever needed to supplement that of the building agents.
2. Ashram cung một, của Chân sư M. Ngài là người gìn giữ nguyên lý tổng hợp, công việc của nguyên lý này là dung hợp hữu cơ, và điều đó luôn cần thiết để bổ sung cho công việc của các tác nhân kiến tạo.
3. The Ashram of a Master on the fifth ray, the custodian, among other things, of science and of that which relates and brings into expression the duality of spirit-matter. This Ashram has an important part to play in the work of preparation, for it is through the scientific use of energy that the world will be rebuilt and the factual nature of the Hierarchy be proved.
3. Ashram của một Chân sư trên cung năm, người gìn giữ, trong nhiều điều khác, khoa học và điều liên hệ, đưa vào biểu hiện tính nhị nguyên của tinh thần-vật chất. Ashram này có một phần việc quan trọng trong công tác chuẩn bị, vì chính qua việc sử dụng năng lượng một cách khoa học mà thế giới sẽ được tái thiết và bản chất sự kiện của Thánh Đoàn sẽ được chứng minh.
Through the pressure of education (second ray energy), through the growth of the concept of synthesis (first ray energy), and through the correct use of energy (fifth ray energy), this world can be brought into a condition of preparedness for the externalisation of the Hierarchy.
Qua áp lực của giáo dục (năng lượng cung hai), qua sự tăng trưởng của khái niệm tổng hợp (năng lượng cung một), và qua việc sử dụng đúng đắn năng lượng (năng lượng cung năm), thế giới này có thể được đưa vào một tình trạng sẵn sàng cho Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn.
The efforts of the disciples coming from the Ashram of K.H. will be largely directed towards the general public, but they will work primarily through educators in all countries and through those concerned with the teaching of religion. Educators touch those preparing for all types of activity. The task will be necessarily slow, particularly at first, but the second ray endowment of these disciples (as that of all disciples on this ray) is a steady persistence which brooks no discouragement, even when discouragement makes its appearance. Such disciples refuse to discontinue their effort or to change the spiritually-ordained plans, even when the obstacles to accomplishment seem insuperable. Disciples will come deliberately into incarnation and will take office in institutions of higher learning and in the churches, and will exert such pressure that old and obsolete methods, ancient outworn theologies and selfish and competitive techniques [578] will be ended and the sciences of cooperation, of right human relations and of correct adjustment to life through meditation and right vision will supersede the present methods of learning; this will lead to no damage to the acquisition of academic knowledge or the right apprehension of spiritual truth. The vision will be different and the goals of a higher order, but the best that is now taught along the lines of art, religion and science will still be available; they will, however, be presented with a greater enlightenment and a better emphasis. They will meet the people’s need. The churches, being today headed towards failure and lacking vision, will eventually and inevitably crash upon the rocks of unwarranted and abused authority, yet out of the wreckage will emerge those true and spiritually enlightened churchmen who—with vision and sure knowledge, free from dogmatism and hating ecclesiastical authority—will develop the new world religion.
Các nỗ lực của những đệ tử đến từ ashram của K.H. phần lớn sẽ hướng đến công chúng nói chung, nhưng họ sẽ làm việc chủ yếu qua các nhà giáo dục ở mọi quốc gia và qua những người quan tâm đến việc giảng dạy tôn giáo. Các nhà giáo dục chạm đến những người đang chuẩn bị cho mọi loại hoạt động. Nhiệm vụ này tất yếu sẽ chậm, đặc biệt lúc đầu, nhưng thiên bẩm cung hai của các đệ tử này (cũng như của mọi đệ tử trên cung này) là một sự kiên trì bền bỉ không chấp nhận nản lòng, ngay cả khi nản lòng xuất hiện. Những đệ tử như thế từ chối ngừng nỗ lực của mình hay thay đổi các kế hoạch được tinh thần ấn định, ngay cả khi các chướng ngại đối với sự thành tựu dường như không thể vượt qua. Các đệ tử sẽ cố ý đi vào lâm phàm và sẽ đảm nhận chức vụ trong các cơ sở giáo dục cao hơn và trong các giáo hội, và sẽ gây áp lực đến mức các phương pháp cũ và lỗi thời, các thần học cổ xưa đã mòn mỏi và các kỹ thuật ích kỷ, cạnh tranh [578] sẽ chấm dứt, còn các khoa học về hợp tác, về các quan hệ nhân loại đúng đắn và về sự thích ứng đúng đắn với đời sống qua tham thiền và tầm nhìn đúng đắn sẽ thay thế các phương pháp học tập hiện nay; điều này sẽ không gây tổn hại gì cho việc tiếp thu tri thức học thuật hay sự lĩnh hội đúng đắn chân lý tinh thần. Tầm nhìn sẽ khác và các mục tiêu sẽ thuộc một trật tự cao hơn, nhưng những gì tốt đẹp nhất hiện nay được giảng dạy theo các đường hướng nghệ thuật, tôn giáo và khoa học vẫn sẽ còn sẵn có; tuy nhiên, chúng sẽ được trình bày với sự soi sáng lớn hơn và sự nhấn mạnh tốt hơn. Chúng sẽ đáp ứng nhu cầu của con người. Các giáo hội, vì ngày nay đang hướng đến thất bại và thiếu tầm nhìn, rốt cuộc và tất yếu sẽ đâm vào những ghềnh đá của quyền uy vô căn cứ và bị lạm dụng, tuy nhiên từ đống đổ nát ấy sẽ xuất hiện những giáo sĩ chân chính và được soi sáng về mặt tinh thần, những người—với tầm nhìn và tri thức chắc chắn, không có giáo điều và căm ghét quyền uy giáo hội—sẽ phát triển tôn giáo thế giới mới.
Paralleling these activities (and disciples on this ray are already taking the needed steps) will come that of the disciples and initiates who are working under the direction of the Master M. Their work lies in the field of right human relations and in the production of that synthesis of effort which will create a new intuitional consciousness and—consequently—a changing political consciousness and situation in which the family of nations will stand together for certain basic values. These are fundamentally three in number:
Song song với các hoạt động này (và các đệ tử trên cung này đã đang thực hiện những bước cần thiết) sẽ là hoạt động của các đệ tử và điểm đạo đồ làm việc dưới sự chỉ đạo của Chân sư M. Công việc của họ nằm trong lĩnh vực các quan hệ nhân loại đúng đắn và trong việc tạo ra sự tổng hợp nỗ lực sẽ tạo nên một tâm thức trực giác mới và—do đó—một tâm thức chính trị và tình hình chính trị đang thay đổi, trong đó gia đình các quốc gia sẽ đứng cùng nhau vì một số giá trị căn bản. Về cơ bản, các giá trị này có ba:
1. The freedom of the individual. These freedoms have been voiced for us in the words of that great first ray disciple, Franklin D. Roosevelt. They are the four essential freedoms.
1. Tự do của cá nhân. Những quyền tự do này đã được phát biểu cho chúng ta bằng lời của vị đệ tử cung một vĩ đại ấy, Franklin D. Roosevelt. Đó là bốn quyền tự do thiết yếu.
2. Right international interplay, necessitating finally the abolition of war.
2. Sự tương tác quốc tế đúng đắn, rốt cuộc đòi hỏi phải bãi bỏ chiến tranh.
3. Clean political regimes, free from graft, selfish ambition and dirty political manoeuvring.
3. Các chế độ chính trị trong sạch, không có tham nhũng, tham vọng ích kỷ và những mưu mẹo chính trị bẩn thỉu.
In the achievement of these ends (and only major issues will be considered, leaving the lesser and unimportant effects [579] to be dealt with later) the disciples of synthesis and the instigators of right political relationships will work in close cooperation with disciples upon the second ray whose task it is to educate the general public in the truer values. A trained and enlightened public, shouldering right responsibility, will elect only those men whose vision is in line with the new ethics, the new science of right human relations, and who recognise as a basic political tenet the equality of all men—an equality founded on a universal and basic divinity.
Trong việc đạt được các mục tiêu này (và chỉ những vấn đề lớn mới được xem xét, còn các hiệu quả nhỏ hơn và không quan trọng [579] sẽ được xử lý sau) các đệ tử của tổng hợp và những người khởi xướng các quan hệ chính trị đúng đắn sẽ làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ với các đệ tử trên cung hai, những người có nhiệm vụ giáo dục công chúng nói chung về các giá trị chân thực hơn. Một công chúng được huấn luyện và soi sáng, gánh vác trách nhiệm đúng đắn, sẽ chỉ bầu chọn những người có tầm nhìn phù hợp với nền đạo đức mới, khoa học mới về các quan hệ nhân loại đúng đắn, và những người công nhận như một tín điều chính trị căn bản sự bình đẳng của mọi người—một sự bình đẳng đặt nền trên một thiên tính phổ quát và căn bản.
Allied to the efforts of these two groups of disciples and initiates will be those disciples on the fifth ray, whose task it will be to lead mankind into the benefits of the atomic age. The occultist has ever proclaimed that the field wherein the Hierarchy works is that of energy; they have taught that there is nothing in existence but energy in some form or other, and that all we see, all with which we daily work (including our own material natures, mental, emotional and physical), and all that produces phenomena is energy in relation to forces, or forces as they are directed by energy.
Liên kết với các nỗ lực của hai nhóm đệ tử và điểm đạo đồ này sẽ là những đệ tử trên cung năm, những người có nhiệm vụ dẫn dắt nhân loại vào những lợi ích của thời đại nguyên tử. Nhà huyền bí học từ lâu vẫn tuyên bố rằng lĩnh vực trong đó Thánh Đoàn hoạt động là lĩnh vực năng lượng; họ đã dạy rằng không có gì hiện hữu ngoài năng lượng dưới hình thức này hay hình thức khác, và rằng mọi điều chúng ta thấy, mọi điều chúng ta hằng ngày làm việc với (kể cả bản chất vật chất của chính chúng ta, trí tuệ, cảm xúc và hồng trần), và mọi điều tạo ra hiện tượng đều là năng lượng trong mối liên hệ với các mãnh lực, hay các mãnh lực khi được năng lượng chỉ đạo.
This the emerging group of disciples will incontrovertibly prove; by their efforts the new civilisation will be created, in which humanity will have time for freedom, for the deeper educational considerations and for a political activity of the spiritual kind; science will produce a world wherein labour (as we now know it) will be abolished and every phase of man’s life will be implemented by science—not in order to make him more comfortable or more like a robot or more selfish, but as an aspect and outgrowth of true freedom; men will be free to think, to establish new modes of cultural interests, and free also to unfold the higher abstract mind and to interpret its conclusions through the medium of the trained lower concrete mind.
Điều này nhóm đệ tử đang xuất hiện sẽ chứng minh một cách không thể bác bỏ; nhờ các nỗ lực của họ, nền văn minh mới sẽ được tạo dựng, trong đó nhân loại sẽ có thời gian cho tự do, cho những suy xét giáo dục sâu xa hơn và cho một hoạt động chính trị thuộc loại tinh thần; khoa học sẽ tạo ra một thế giới trong đó lao động (như chúng ta hiện biết) sẽ bị bãi bỏ và mọi phương diện của đời sống con người sẽ được khoa học thực thi—không phải để làm cho y thoải mái hơn hay giống một người máy hơn hoặc ích kỷ hơn, mà như một phương diện và sự phát triển của tự do chân chính; con người sẽ được tự do suy nghĩ, tự do thiết lập những phương thức quan tâm văn hóa mới, và cũng tự do khai mở trí trừu tượng cao hơn và diễn giải các kết luận của nó qua trung gian của hạ trí cụ thể đã được huấn luyện.
The united work of these three groups of disciples and initiates prepares the way for the externalisation of the Hierarchy; this preparation is already under way and taking definite form, though as yet the efforts are embryonic and the workers very few in numbers. A beginning has nevertheless [580] been made and great changes will take place during the next twenty-five years; these will indicate the general structure of the new world of culture, will emphasise as normal the higher concepts of the so-called “visionary” world planner and lay the foundation for the work of the other Ashrams, when the time for an expanded effort arrives.
Công việc hợp nhất của ba nhóm đệ tử và điểm đạo đồ này chuẩn bị con đường cho sự ngoại hiện của Thánh Đoàn; sự chuẩn bị này đã đang được tiến hành và mang hình thức xác định, dù hiện nay các nỗ lực vẫn còn phôi thai và số người hoạt động còn rất ít. Tuy nhiên, một sự khởi đầu đã [580] được thực hiện và những thay đổi lớn sẽ diễn ra trong hai mươi lăm năm tới; những thay đổi này sẽ chỉ ra cấu trúc chung của thế giới văn hóa mới, sẽ nhấn mạnh như điều bình thường các khái niệm cao hơn của nhà hoạch định thế giới được gọi là “viển vông”, và đặt nền móng cho công việc của các ashram khác khi thời điểm cho một nỗ lực mở rộng đến.
When the three major Ashrams have done their work, and this work—in spite of the difference of ray—is largely educational, then the other Ashrams will slowly send in their representatives to cooperate and to continue with the task. The first Ashram to do so will be that of the third ray; by the time disciples appear from that Ashram the world will be ready for an all-over financial adjustment; the “principle of sharing” will be a recognised motivating concept of the new civilisation. This will not involve beautiful, sweet and humanitarian attitudes. The world will still be full of selfish and self-seeking people, but public opinion will be such that certain fundamental ideals will motivate business, being forced upon business by public opinion; the fact that the new general ideas will in many cases be governed by the expediency of interplay will not basically matter. It is the sharing that is of importance. When the “adjuster of finances” (as an advanced disciple from this Ashram is called in the Hierarchy) appears, he will find conditions greatly changed from those now prevalent, and this to the following extent:
Khi ba ashram lớn đã hoàn thành công việc của mình, và công việc này—bất chấp sự khác biệt về cung—phần lớn mang tính giáo dục, thì các ashram khác sẽ chậm rãi gửi các đại diện của mình đến để hợp tác và tiếp tục nhiệm vụ. Ashram đầu tiên làm như vậy sẽ là ashram cung ba; vào lúc các đệ tử từ ashram đó xuất hiện, thế giới sẽ sẵn sàng cho một sự điều chỉnh tài chính toàn diện; “nguyên lý chia sẻ” sẽ là một khái niệm thúc đẩy được công nhận của nền văn minh mới. Điều này sẽ không bao hàm những thái độ đẹp đẽ, ngọt ngào và nhân đạo. Thế giới vẫn sẽ đầy những người ích kỷ và mưu cầu tư lợi, nhưng dư luận sẽ ở mức khiến một số lý tưởng căn bản thúc đẩy kinh doanh, bị dư luận ép buộc lên kinh doanh; việc các ý tưởng chung mới trong nhiều trường hợp sẽ bị chi phối bởi tính lợi hại của sự tương tác sẽ không quan trọng về căn bản. Điều quan trọng là sự chia sẻ. Khi “người điều chỉnh tài chính” (như một đệ tử tiến bộ từ ashram này được gọi trong Thánh Đoàn) xuất hiện, y sẽ thấy các điều kiện đã thay đổi rất nhiều so với hiện nay, và ở mức độ sau đây:
1. The principle of barter and of exchange (to the benefit of all concerned) will control.
1. Nguyên lý đổi chác và trao đổi (vì lợi ích của tất cả những người liên hệ) sẽ chi phối.
2. Owing to the development of atomic energy on behalf of human welfare, national currencies will have been largely superseded, not only by a system of barter but by a universal monetary exchange—representative of the bartered goods when they are relatively small and unimportant—and by a planned scale of related values. National material assets and the needed commodities will all be provided for under an entirely new system.
2. Do sự phát triển của năng lượng nguyên tử vì phúc lợi nhân loại, các đồng tiền quốc gia phần lớn sẽ bị thay thế, không chỉ bởi một hệ thống đổi chác mà còn bởi một hệ thống trao đổi tiền tệ phổ quát—đại diện cho các hàng hóa được trao đổi khi chúng tương đối nhỏ và không quan trọng—và bởi một thang giá trị có liên hệ được hoạch định. Các tài sản vật chất quốc gia và các hàng hóa cần thiết đều sẽ được cung ứng theo một hệ thống hoàn toàn mới.
3. Private enterprise will still exist, but will be regulated; the great public utilities, the major material [581] resources and the sources of planetary wealth—iron, steel, oil and wheat, for instance—will be owned in the first place by a governing, controlling international group; they will, however, be prepared for international consumption by national groups chosen by the people and under international direction.
3. Tư doanh vẫn sẽ tồn tại, nhưng sẽ được điều tiết; các tiện ích công cộng lớn, các tài nguyên vật chất [581] chủ yếu và các nguồn của cải hành tinh—chẳng hạn như sắt, thép, dầu mỏ và lúa mì—trước hết sẽ thuộc sở hữu của một nhóm quốc tế quản trị, kiểm soát; tuy nhiên, chúng sẽ được các nhóm quốc gia do dân chúng lựa chọn và dưới sự chỉ đạo quốc tế chuẩn bị cho tiêu dùng quốc tế.
Upon this subject I have no time to give, and besides this, anything I could say would be regarded as visionary and impractical in a world which has not yet been subjected to the educational processes of the disciples and initiates on the first, second and fifth rays or to the fundamental changes which the new generation of young people (now growing up) will shortly inaugurate.
Về chủ đề này tôi không có thời gian để nói thêm, và ngoài ra, bất cứ điều gì tôi có thể nói cũng sẽ bị xem là viển vông và không thực tế trong một thế giới chưa được đặt dưới các tiến trình giáo dục của các đệ tử và điểm đạo đồ trên cung một, cung hai và cung năm, hay dưới những thay đổi căn bản mà thế hệ thanh niên mới (hiện đang lớn lên) sẽ sớm khởi xướng.
Upon this threefold condition of the basic control of the products of the planet, these third ray disciples, working under the senior initiates above mentioned, will build the new structure of material relationships—a most difficult task, owing to the evil “pull” of the substantial assets and the continued control, even though greatly lessened, of human selfishness. This “pull” is regarded esoterically as evil because it embodies the principle of imprisonment and has, for untold aeons, engrossed the attention of the human being, to the exclusion of all true values.
Trên điều kiện tam phân này của sự kiểm soát căn bản đối với các sản phẩm của hành tinh, các đệ tử cung ba này, làm việc dưới các điểm đạo đồ cao cấp đã nói ở trên, sẽ xây dựng cấu trúc mới của các quan hệ vật chất—một nhiệm vụ hết sức khó khăn, do sức “hút” xấu xa của các tài sản vật chất và sự kiểm soát tiếp tục, dù đã giảm nhiều, của tính ích kỷ con người. Sức “hút” này được xem một cách huyền bí là xấu xa vì nó hiện thân nguyên lý giam hãm và trong vô số đại kiếp đã cuốn hút sự chú ý của con người, loại trừ mọi giá trị chân thực.
Later, disciples and initiates of the seventh ray and of the sixth ray will come into physical incarnation. The only Ashram which will be then unrepresented—and this for a long time—will be the fourth. As the fourth ray is, however, the constant ray of the human family, its influence is consistently present, and this Ashram is equally constantly aware of and influential in human affairs; it will come into full expression when the intuition of the human being, emanating as an energy from the fourth or buddhic plane, has been evoked by the human soul and is a recognised asset in human consciousness. The fourth ray will come into manifestation before many generations have passed, but only from the angle of its incarnating Monad, and not from the angle of its active Ashram.
Về sau, các đệ tử và điểm đạo đồ của cung bảy và cung sáu sẽ đi vào lâm phàm. Ashram duy nhất khi đó vẫn chưa có đại diện—và sẽ còn như vậy trong một thời gian dài—là ashram cung bốn. Tuy nhiên, vì cung bốn là cung thường trực của gia đình nhân loại, ảnh hưởng của nó luôn hiện diện, và ashram này cũng luôn ý thức và có ảnh hưởng trong các công việc nhân loại; nó sẽ đi vào biểu hiện đầy đủ khi trực giác của con người, phát ra như một năng lượng từ cõi phụ thứ tư hay cõi Bồ đề, đã được linh hồn con người gợi lên và là một tài sản được công nhận trong tâm thức nhân loại. Cung bốn sẽ đi vào biểu hiện trước khi nhiều thế hệ trôi qua, nhưng chỉ từ góc độ chân thần đang lâm phàm của nó, chứ không phải từ góc độ ashram đang hoạt động của nó.
[582] Once the contact—in physical manifestation and physical recognition—has been established, a system of “appearances and of abstractions” will be instituted by the Hierarchy, producing what might be regarded as a circulation of its life and representatives between the two major planetary centres, the Hierarchy and Humanity. According to the need upon the physical planet, and upon the acceptance of certain designs, will an Ashram be prominently active or relatively inactive.
[582] Một khi sự tiếp xúc—trong biểu hiện hồng trần và sự công nhận hồng trần—đã được thiết lập, một hệ thống “xuất hiện và trừu xuất” sẽ được Thánh Đoàn thiết lập, tạo ra điều có thể được xem như một sự lưu thông của sự sống và các đại diện của nó giữa hai trung tâm hành tinh lớn, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Tùy theo nhu cầu trên hành tinh hồng trần, và tùy theo sự chấp nhận một số đồ án nhất định, mà một ashram sẽ hoạt động nổi bật hay tương đối không hoạt động.
The ancient activities of the Hierarchy will still persist—the activities of preparing disciples and initiates for initiation and for participating consciously in hierarchical effort; the Schools of the Mysteries (as outlined by me in Letters on Occult Meditation) will come into being and practice, but this will be temporarily a secondary activity; the full expression of ashramic energy will be directed to practical world affairs and to the education of the general public, and not in the early stages to esoteric matters. In the last analysis, there is for the Master and His disciples no such thing as esotericism, except in so far as Shamballa is concerned. There is only definite and planned work with the consciousness of all forms, and—where humanity is involved—this is regarded as a process of education, leading to an expansion of perception and the changing of acquired academic knowledge into an overshadowing and conditioning wisdom. The implementing of human affairs to bring about this unfoldment in consciousness is in the hands of disciples who are undergoing the process themselves, and it is not in the hands of the Masters, Whose consciousness is fully expanded—a consciousness entering a higher and greatly different phase, connected with Being and Life and the purposes of Shamballa.
Các hoạt động cổ xưa của Thánh Đoàn vẫn sẽ tiếp tục—các hoạt động chuẩn bị đệ tử và điểm đạo đồ cho điểm đạo và cho việc tham gia một cách có ý thức vào nỗ lực thánh đoàn; các Trường Mầu Nhiệm (như tôi đã phác họa trong Letters on Occult Meditation) sẽ xuất hiện và được thực hành, nhưng đây sẽ tạm thời là một hoạt động thứ yếu; biểu hiện đầy đủ của năng lượng ashram sẽ được hướng vào các công việc thực tiễn của thế giới và vào việc giáo dục công chúng nói chung, chứ không phải trong các giai đoạn đầu vào các vấn đề bí truyền. Xét cho cùng, đối với Chân sư và các đệ tử của Ngài, không có cái gọi là huyền bí học, ngoại trừ trong chừng mực liên quan đến Shamballa. Chỉ có công việc xác định và có kế hoạch với tâm thức của mọi hình tướng, và—khi nhân loại có liên quan—điều này được xem như một tiến trình giáo dục, dẫn đến sự mở rộng tri giác và sự chuyển đổi tri thức học thuật đã thu nhận thành một minh triết phủ bóng và tác động. Việc thực thi các công việc nhân loại để mang lại sự khai mở này trong tâm thức nằm trong tay các đệ tử đang tự mình trải qua tiến trình ấy, chứ không nằm trong tay các Chân sư, những Đấng có tâm thức đã được mở rộng hoàn toàn—một tâm thức đang đi vào một giai đoạn cao hơn và rất khác, liên hệ với Bản Thể và Sự sống cùng các mục đích của Shamballa.
Approach Towards Externalisation in the Disciple’s Consciousness
Sự tiếp cận hướng tới ngoại hiện trong tâm thức của đệ tử
I find it necessary here to make one point clear. The disciples sent out from the various ashrams do not arrive on earth conscious of a high mission or knowing well the nature of the task to which they have been subjectively assigned. In [583] the case of certain disciples who will be of special world prominence and who are of initiate rank, they may attain to a conviction of mission (if I may call it so) in their extreme youth and thus be oriented towards their life task from the very start; that conviction will grow and deepen and clarify as the years go by. But it must be remembered that the majority of disciples will not so react. They will come into incarnation with certain gifts and innate talents and with certain firmly rooted ideas, endowed with irrevocable ideals and a brain which is responsive to a well-developed mind. They will, normally and through natural trends and predilections, find their way into that field of human activity wherein they are intended to work and in which they are to bring about certain basic changes in line with hierarchical intent. This hierarchical intent will usually be unknown to them (though this may not always be the case), but the work to be done will seem to them impelling and necessary and something which they must do at all costs. They will find their way into politics, into the educational movements and into science; they will work as humanitarians, as social workers and in the field of finance, but they will follow these lines of activity through natural inclination and not because they are being “obedient” to instruction from some Master. They will be successful in their endeavour because the potency of the Hierarchy will be behind them, and there is much that the inner Ashram can accomplish for its outer working disciples in the way of opening doors, implementing efforts and arranging contacts, and other facilities; this is ill done, however, without any evidence of the inner impulsion. Recognition of the inner effort will be dependent upon the status in the Ashram of the disciple. When the disciple is a very advanced one, he may become aware of his high mission and know it to be no fanatical and self-initiated intention, but a definite task undertaken in response to ashramic planning. Such cases will usually be the exception and not the rule, particularly in the early stages. Such hierarchical workers will gather around them lesser disciples who will work along the same lines, through community of interest but not [584] through recognition of similar instructions—a very different thing. In the one case, the consciousness of mission is developed through periods of definite planning with the Ashram and in consultation with the Master or His senior workers. In the more usual case, the disciple re-acts and works in response to impression, being at this stage totally unaware from whence the impression comes; he regards it as an activity of his own mind acting as a directing agent in all the planned activities, the life theme and purpose which are his service dynamic.
Tôi thấy cần phải làm rõ một điểm ở đây. Các đệ tử được gửi ra từ các ashram khác nhau không đến trần gian với ý thức về một sứ mệnh cao cả hay biết rõ bản chất của nhiệm vụ mà họ đã được giao phó một cách chủ quan. Trong [583] trường hợp một số đệ tử sẽ có tầm nổi bật đặc biệt trên thế giới và thuộc cấp điểm đạo đồ, họ có thể đạt đến một xác tín về sứ mệnh (nếu tôi có thể gọi như vậy) ngay từ tuổi thanh xuân và do đó được định hướng về nhiệm vụ đời mình ngay từ đầu; xác tín ấy sẽ tăng trưởng, sâu sắc hơn và sáng tỏ hơn theo năm tháng. Nhưng cần nhớ rằng đa số đệ tử sẽ không phản ứng như vậy. Họ sẽ đi vào lâm phàm với một số thiên phú và tài năng bẩm sinh cùng một số ý tưởng bén rễ vững chắc, được phú cho những lý tưởng không thể đảo ngược và một bộ não đáp ứng với một trí tuệ phát triển tốt. Họ sẽ, một cách bình thường và qua các khuynh hướng, sở thích tự nhiên, tìm được đường vào lĩnh vực hoạt động nhân loại mà họ được dự định làm việc trong đó và nơi họ sẽ mang lại một số thay đổi căn bản phù hợp với ý định của Thánh Đoàn. Ý định thánh đoàn này thường sẽ không được họ biết đến (dù điều này không phải lúc nào cũng vậy), nhưng công việc phải làm sẽ có vẻ thôi thúc và cần thiết đối với họ, như một điều mà họ phải làm bằng mọi giá. Họ sẽ tìm đường vào chính trị, vào các phong trào giáo dục và vào khoa học; họ sẽ làm việc như những người nhân đạo, như những người hoạt động xã hội và trong lĩnh vực tài chính, nhưng họ sẽ theo đuổi các đường hoạt động này do khuynh hướng tự nhiên chứ không phải vì họ đang “vâng lời” chỉ thị từ một Chân sư nào đó. Họ sẽ thành công trong nỗ lực của mình vì uy lực của Thánh Đoàn ở phía sau họ, và nội ashram có thể làm được nhiều điều cho các đệ tử hoạt động bên ngoài của mình trong việc mở cửa, thực thi các nỗ lực và sắp xếp các tiếp xúc, cùng những thuận lợi khác; tuy nhiên, điều này được làm một cách khéo léo mà không có bất kỳ bằng chứng nào về xung lực nội tại. Sự nhận biết nỗ lực bên trong sẽ tùy thuộc vào địa vị của đệ tử trong ashram. Khi đệ tử là một người rất tiến bộ, y có thể trở nên ý thức về sứ mệnh cao cả của mình và biết rằng đó không phải là một ý định cuồng tín và tự khởi xướng, mà là một nhiệm vụ xác định được đảm nhận để đáp ứng với kế hoạch ashram. Những trường hợp như vậy thường sẽ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, đặc biệt trong các giai đoạn đầu. Những người hoạt động thánh đoàn như thế sẽ quy tụ quanh mình các đệ tử nhỏ hơn, những người sẽ làm việc theo cùng các đường hướng, do sự đồng nhất về quan tâm chứ không [584] phải do nhận biết các chỉ thị tương tự—một điều rất khác. Trong trường hợp thứ nhất, ý thức về sứ mệnh được phát triển qua những giai đoạn hoạch định xác định với ashram và trong sự tham khảo với Chân sư hay các cộng sự cao cấp của Ngài. Trong trường hợp thông thường hơn, đệ tử phản ứng và làm việc để đáp ứng với sự ấn tượng, ở giai đoạn này hoàn toàn không biết sự ấn tượng đến từ đâu; y xem đó là một hoạt động của chính trí tuệ mình, hoạt động như một tác nhân chỉ đạo trong mọi hoạt động có kế hoạch, chủ đề đời sống và mục đích vốn là động lực phụng sự của y.
One major characteristic is, however, present in all these working disciples and aspirants; this is a wide humanitarianism and a determination to aid in the cause of human welfare. One interesting distinction will later emerge and condition the new age in contradistinction to past and present methods. Disciples and aspirants will not be dedicated to purely humanitarian and welfare work. That will be a motive and not an objective in work. They will not give up their days and efforts solely to the relief of human necessity. All phases of human living—politics, finance and science, as well as religion—will be recognised to be their immediate and spectacular task, but the motivation in the future will not be primarily business success or personality ambition but the impulse to subordinate these to the general effort and to aid humanity as a whole, with a long range vision.
Tuy nhiên, có một đặc điểm lớn hiện diện nơi tất cả các đệ tử và người chí nguyện đang hoạt động này; đó là một tinh thần nhân đạo rộng lớn và một quyết tâm trợ giúp cho chính nghĩa phúc lợi nhân loại. Về sau sẽ xuất hiện một sự phân biệt thú vị và tác động lên kỷ nguyên mới, trái ngược với các phương pháp quá khứ và hiện tại. Các đệ tử và người chí nguyện sẽ không tận hiến cho công việc thuần túy nhân đạo và phúc lợi. Điều đó sẽ là một động cơ chứ không phải một mục tiêu trong công việc. Họ sẽ không dành trọn ngày tháng và nỗ lực của mình chỉ cho việc cứu trợ nhu cầu nhân loại. Mọi phương diện của đời sống nhân loại—chính trị, tài chính và khoa học, cũng như tôn giáo—sẽ được công nhận là nhiệm vụ trực tiếp và nổi bật của họ, nhưng động cơ trong tương lai sẽ không chủ yếu là thành công kinh doanh hay tham vọng phàm ngã mà là xung lực đặt những điều ấy dưới nỗ lực chung và trợ giúp toàn thể nhân loại, với một tầm nhìn xa.
It is this growing spirit of humanitarianism which will lie behind all movements towards world socialisation in the various nations. This movement is symptomatic of a change in the orientation of man’s thinking, and therein lies its major value. It is not indicative of a new technique of government in reality, and this particular phase of it is ephemeral; it is at the same time foundational to the new world order which will emerge out of all these experiments which human thinking is at this time evolving.
Chính tinh thần nhân đạo đang tăng trưởng này sẽ nằm phía sau mọi phong trào hướng tới xã hội hóa thế giới trong các quốc gia khác nhau. Phong trào này là triệu chứng của một sự thay đổi trong định hướng tư duy của con người, và chính trong đó có giá trị lớn lao của nó. Thực ra nó không biểu thị một kỹ thuật cai quản mới, và phương diện đặc biệt này của nó chỉ là tạm thời; đồng thời nó lại là nền tảng cho trật tự thế giới mới sẽ xuất hiện từ tất cả các thử nghiệm mà tư duy nhân loại hiện đang tiến hóa.
These are the things which will be in the consciousness of disciples commissioned by the Hierarchy to bring about the needed changes and the new orientation, and not any [585] recognition of Masters and Their orders or of any hierarchical and ashramic background.
Đó là những điều sẽ có trong tâm thức của các đệ tử được Thánh Đoàn ủy nhiệm mang lại những thay đổi cần thiết và sự định hướng mới, chứ không phải bất kỳ [585] sự nhận biết nào về các Chân sư và mệnh lệnh của Các Ngài hay về bất kỳ hậu cảnh thánh đoàn và ashram nào.
Whilst in incarnation such disciples stand free to serve one-pointedly and wholeheartedly that section or phase of human effort in which their lot and life-trend appear to cast them. They may be quite unconscious of any spiritual objective (so-called today) except the recognition that they love their fellowmen; this love will condition all they do and will motivate their every effort.
Trong khi đang lâm phàm, các đệ tử như thế được tự do phụng sự một cách nhất tâm và hết lòng cho phần hay giai đoạn nỗ lực nhân loại mà số phận và khuynh hướng đời sống của họ dường như đặt họ vào đó. Họ có thể hoàn toàn không ý thức về bất kỳ mục tiêu tinh thần nào (theo cách gọi ngày nay), ngoại trừ việc nhận ra rằng họ yêu thương đồng loại của mình; tình thương này sẽ tác động lên mọi điều họ làm và sẽ thúc đẩy mọi nỗ lực của họ.
From the standpoint of the Master, they can be reached, impressed and directed, and most definitely they are so reached; from their own standpoint they are simply busy, energetic people, gifted with a good mind, profoundly interested in their chosen life task and proving themselves capable of effective work along some particular line, able to influence and direct others in similar activity and definitely bringing about changes in the branch of human endeavour with which they are concerned, thus lifting underlying principles on to higher levels. This is straight hierarchical work. It affects on broad lines the consciousness of humanity.
Từ quan điểm của Chân sư, họ có thể được tiếp cận, được gây ấn tượng và được hướng dẫn, và chắc chắn là họ được tiếp cận như thế; từ quan điểm của chính họ, họ chỉ đơn giản là những người bận rộn, năng động, được phú cho một trí tuệ tốt, hết sức quan tâm đến nhiệm vụ đời sống mà họ đã chọn và chứng tỏ mình có khả năng làm việc hữu hiệu theo một đường lối đặc biệt nào đó, có thể ảnh hưởng và hướng dẫn những người khác trong hoạt động tương tự và rõ ràng tạo ra những thay đổi trong ngành nỗ lực nhân loại mà họ quan tâm, nhờ đó nâng các nguyên lý nền tảng lên những cấp độ cao hơn. Đây là công việc trực tiếp của Thánh đoàn. Nó tác động theo những đường nét rộng lớn lên tâm thức của nhân loại.
These disciples may be conscious that their effort and their thinking are part of a forward-moving evolutionary endeavour; to that extent they are mission-conscious, but the value of this attitude is that it relates them, in consciousness, to many others, similarly motivated and conscious of a similar vision. It is of course wise to remember that all such disciples are pronounced ray types and are integrated personalities in the highest sense of the word. They will work on earth as high grade personalities, under the impact of strong motives which emanate from the soul in response to impression from the Ashram, but of this, in their physical brains, they know nothing and care less. Part of their effectiveness in service is due to the fact that they are not preoccupied with soul contact and with the idea of academic service. Their eyes are on the job to be done, their hearts are with their fellowmen, and their heads are busy with methods, techniques and practices which will raise the entire [586] level of endeavour in their chosen field. Hence their inevitable success.
Các đệ tử này có thể ý thức rằng nỗ lực và tư tưởng của họ là một phần của một cố gắng tiến hoá đang tiến về phía trước; đến mức đó, họ có ý thức về sứ mệnh, nhưng giá trị của thái độ này là nó liên hệ họ, trong tâm thức, với nhiều người khác, cũng được thúc đẩy tương tự và ý thức về một tầm nhìn tương tự. Dĩ nhiên, cần nhớ một cách khôn ngoan rằng mọi đệ tử như thế đều là những kiểu cung nổi bật và là những Phàm ngã tích hợp theo ý nghĩa cao nhất của từ này. Họ sẽ làm việc trên Trái Đất như những phàm ngã cấp cao, dưới tác động của những động cơ mạnh mẽ phát ra từ linh hồn để đáp ứng với ấn tượng từ ashram, nhưng về điều này, trong bộ não hồng trần của họ, họ không biết gì và cũng chẳng bận tâm. Một phần hiệu quả của họ trong phụng sự là do sự kiện rằng họ không bận tâm quá mức đến việc tiếp xúc với linh hồn và với ý niệm phụng sự theo kiểu học viện. Mắt họ hướng vào công việc cần làm, tim họ hướng về đồng loại, và đầu óc họ bận rộn với các phương pháp, kỹ thuật và thực hành sẽ nâng toàn bộ cấp độ [586] nỗ lực trong lĩnh vực họ đã chọn. Do đó thành công của họ là điều không thể tránh khỏi.
Disciples who are intensely interested in personal responsiveness to the soul, who work diligently at the problem of soul contact, who are busy with the art of serving consciously and who make service a goal, who are keenly alive to the fact of the Ashram and to the Master, will not be asked to do this work of preparing for the externalisation of the Hierarchy. Advanced disciples who are stabilised in the Ashram, and who are so used to the Master that He assumes in their consciousness no undue prominence, can be trusted to work along right lines in the world and do the work of preparation. They cannot be sidetracked or deflected from one-pointed attention to the task in hand by any soul call or urge; hence they are free to do the intended work.
Những đệ tử đặc biệt quan tâm đến sự đáp ứng cá nhân đối với linh hồn, chuyên cần làm việc với vấn đề tiếp xúc linh hồn, bận rộn với nghệ thuật phụng sự một cách hữu thức và lấy phụng sự làm mục tiêu, tha thiết sống động với sự kiện về ashram và về Chân sư, sẽ không được yêu cầu làm công việc chuẩn bị cho Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn này. Những đệ tử tiến bộ đã được ổn định trong ashram, và đã quá quen với Chân sư đến mức Ngài không chiếm một vị trí nổi bật quá mức nào trong tâm thức của họ, thì có thể được tin cậy để làm việc theo những đường lối đúng đắn trong thế giới và thực hiện công việc chuẩn bị. Họ không thể bị lôi chệch hướng hay bị chuyển hướng khỏi sự chú tâm nhất tâm vào nhiệm vụ trước mắt bởi bất kỳ tiếng gọi hay thúc đẩy nào của linh hồn; vì thế họ được tự do làm công việc đã được dự định.
The situation, therefore, in relation to the consciousness of disciples in the intensely difficult, though interesting, period with which humanity is faced could be summed up in the following statements:
Vì vậy, tình hình liên quan đến tâm thức của các đệ tử trong giai đoạn cực kỳ khó khăn nhưng đầy thú vị mà nhân loại đang phải đối diện có thể được tóm lược trong các phát biểu sau đây:
1. The disciple is not motivated by any desire to externalise the Hierarchy or to see the Ashram with which he is affiliated functioning physically on the outer plane. He may be totally unaware of this hierarchical intention. If he is aware of this underlying purpose, it is entirely secondary in his consciousness. The good of humanity and a stabilised spiritual future for mankind are his major life incentives.
1. Đệ tử không được thúc đẩy bởi bất kỳ ham muốn nào muốn ngoại hiện Thánh đoàn hay muốn thấy ashram mà y liên kết hoạt động một cách hồng trần trên cõi bên ngoài. Y có thể hoàn toàn không biết gì về ý định của Thánh đoàn này. Nếu y có biết về mục đích nền tảng này, thì nó hoàn toàn là thứ yếu trong tâm thức của y. Điều thiện của nhân loại và một tương lai tinh thần ổn định cho loài người là những động lực chính trong đời sống của y.
2. The disciple is strictly humanitarian in his outlook. He works for the One Humanity and though aware possibly that he is affiliated with the Hierarchy, his loyalties, his service and his life intention are directed entirely to the cause of human betterment. In this attitude he is coming to resemble the Masters Whose life directive is not hierarchical possibilities but adherence to the purposes of Shamballa, in action, in relationships and to the Plan for all living units in the three worlds.
2. Đệ tử có quan điểm hoàn toàn nhân đạo. Y làm việc cho Một Nhân Loại, và dù có thể ý thức rằng y liên kết với Thánh đoàn, lòng trung thành, sự phụng sự và ý hướng đời sống của y hoàn toàn hướng đến sự nghiệp cải thiện nhân loại. Trong thái độ này, y đang trở nên giống các Chân sư, những Đấng mà định hướng đời sống không phải là các khả năng của Thánh đoàn mà là sự tuân thủ các mục đích của Shamballa trong hành động, trong các mối liên hệ và đối với Thiên Cơ dành cho mọi đơn vị sự sống trong ba cõi thấp.
3. The intuition of the disciple is alert and active; the new ideas and the vital fresh concepts are foremost in his mind. [587] He almost automatically repudiates the reactionary and conservative thinking of the past and—without fanaticism and undue emphasis—he lives, talks and instructs along the new lines of right human relations.
3. Trực giác của đệ tử tỉnh táo và hoạt động; những ý tưởng mới và những khái niệm mới mẻ đầy sinh lực đứng hàng đầu trong trí y. [587] Gần như một cách tự động, y bác bỏ lối suy nghĩ phản động và bảo thủ của quá khứ và—không cuồng tín cũng không nhấn mạnh quá mức—y sống, nói và giảng dạy theo những đường lối mới của các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người.
4. The disciple, occupied with hierarchical plans for the future, has a completely open mind as regards the growth of true psychic powers. He deplores and represses all negative conditions and forms of thinking as he contacts them in his environment, but he encourages the growth of all forms of higher sensory perception which expand the human consciousness and enrich its content.
4. Đệ tử, bận tâm với các kế hoạch của Thánh đoàn cho tương lai, có một tâm trí hoàn toàn cởi mở đối với sự phát triển của các năng lực thông linh chân chính. Y lấy làm tiếc và kiềm chế mọi trạng thái tiêu cực và mọi hình thức tư tưởng mà y tiếp xúc trong môi trường của mình, nhưng y khuyến khích sự phát triển của mọi hình thức tri giác cảm quan cao hơn, những điều mở rộng tâm thức con người và làm phong phú nội dung của nó.
5. According to his hierarchical status, he will become increasingly a channel of power in the world. His own ashramic life will deepen as his world service develops. The statement in the Bible (or rather injunction) to “take root downward and bear fruit upward” has for him a deeply occult significance.
5. Tùy theo địa vị trong Thánh đoàn của mình, y sẽ ngày càng trở thành một kênh mãnh lực trong thế giới. Đời sống ashram riêng của y sẽ sâu sắc hơn khi sự phụng sự thế gian của y phát triển. Lời trong Kinh Thánh (hay đúng hơn là lời huấn thị) “hãy bén rễ xuống dưới và sinh quả lên trên” đối với y mang một ý nghĩa huyền bí sâu xa.
I am not here touching upon the growth of a disciple as a disciple, or on his individual progress on the Path; I am considering the type of consciousness with which he faces the task which confronts him. Unless he fulfils within himself the requirements enumerated in this section of our study, he will not be one of the workers in this interlude between the old age and the new.
Ở đây tôi không đề cập đến sự tăng trưởng của một đệ tử với tư cách là một đệ tử, hay đến sự tiến bộ cá nhân của y trên Con Đường; tôi đang xét đến loại tâm thức mà y dùng để đối diện với nhiệm vụ đang đặt ra trước y. Trừ phi y tự mình đáp ứng được các đòi hỏi được liệt kê trong phần này của cuộc nghiên cứu của chúng ta, y sẽ không phải là một trong những người hoạt động trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thời đại cũ và thời đại mới này.
The Dissemination of Information of a Preparatory Nature
Sự Phổ Biến Thông Tin Có Tính Chuẩn Bị
Those who do the work of reaching humanity with the needed information fall into two main groups:
Những người làm công việc tiếp cận nhân loại bằng thông tin cần thiết thuộc vào hai nhóm chính:
1. Disciples and convinced aspirants who are today working in the field of occultism.
1. Các đệ tử và những người chí nguyện xác tín hiện đang làm việc trong lĩnh vực huyền bí học.
2. Those disciples and initiates who will emerge from the three Ashrams and whose work is largely to act as the vanguard of the Hierarchy and precede it into outer manifestation. This will begin in the year 1975, if the disciples now active will do their work adequately.
2. Những đệ tử và điểm đạo đồ sẽ xuất hiện từ ba ashram và công việc của họ phần lớn là hành động như đội tiên phong của Thánh đoàn và đi trước Thánh đoàn vào sự biểu hiện bên ngoài. Điều này sẽ bắt đầu vào năm 1975, nếu các đệ tử hiện đang hoạt động làm công việc của mình một cách đầy đủ.
[588] Much has already been done in familiarising the general public with the concept of the Hierarchy. Much of it has been done in such a manner as to bring the whole subject into disrepute, as well you know. The groups now occupied with the dissemination of occult teaching would be well-advised to change their methods if—beneath their pronounced ignorance and their love of the spectacular—there lies a true belief and a real humanitarian desire. Information anent the Hierarchy should take the following lines:
[588] Nhiều việc đã được thực hiện để làm cho công chúng nói chung quen thuộc với khái niệm về Thánh đoàn. Phần lớn việc đó đã được thực hiện theo cách khiến toàn bộ chủ đề này bị mất uy tín, như các bạn đều biết rõ. Những nhóm hiện đang bận rộn với việc phổ biến giáo huấn huyền bí sẽ được khuyên nên thay đổi phương pháp của mình nếu—bên dưới sự thiếu hiểu biết rõ rệt và lòng yêu thích điều giật gân của họ—có một niềm tin chân thật và một ước muốn nhân đạo đích thực. Thông tin liên quan đến Thánh đoàn nên đi theo các đường lối sau:
1. Emphasis should be laid on the evolution of humanity with peculiar attention to its goal, perfection. This is not the idealistic perfection of the visionary mystic, but the control of the instrument, man in incarnation, by the indwelling and overshadowing soul. The constitution of man should be increasingly taught.
1. Nên nhấn mạnh vào sự tiến hoá của nhân loại với sự chú ý đặc biệt đến mục tiêu của nó là sự hoàn thiện. Đây không phải là sự hoàn thiện lý tưởng của nhà thần bí mộng tưởng, mà là sự kiểm soát công cụ, con người đang lâm phàm, bởi linh hồn nội tại và phủ bóng. Hiến pháp của con người nên ngày càng được giảng dạy.
2. The relation of the individual soul to all souls should be taught, and with it the recognition that the long-awaited kingdom of God is simply the appearance of soul-controlled men on earth in everyday life and at all stages of that control.
2. Mối liên hệ của linh hồn cá nhân với mọi linh hồn nên được giảng dạy, và cùng với đó là sự nhận biết rằng Thiên Giới được mong đợi từ lâu chỉ đơn giản là sự xuất hiện của những người được linh hồn kiểm soát trên Trái Đất trong đời sống hằng ngày và ở mọi giai đoạn của sự kiểm soát đó.
3. From a recognition of this relationship, the fact of the spiritual Hierarchy can then be deduced and the normality of its existence emphasised. The fact will appear that the Kingdom has always been present but has remained unrecognised, owing to the relatively few people who express, as yet, its quality.
3. Từ sự nhận biết mối liên hệ này, sự kiện về Thánh đoàn tinh thần khi đó có thể được suy ra và tính bình thường của sự hiện hữu của nó được nhấn mạnh. Sự kiện sẽ xuất hiện rằng Thiên Giới luôn luôn hiện diện nhưng vẫn không được nhận ra, do số người biểu lộ phẩm tính của nó cho đến nay còn tương đối ít.
4. When this recognition has become general, the idea (by this time permanently present in the human consciousness everywhere) and good sense also will testify to the fact of the presence of Those Who have achieved the goal; Their demonstration of divinity will be regarded as normal, as constituting a universal objective, and as the guarantee of humanity’s future achievement; degrees of this divine expression can then be pointed out, ranging from that of the probationary disciple, through disciples, to Those Who have achieved mastery, and up to and inclusive of the Christ.
4. Khi sự nhận biết này trở nên phổ biến, thì ý tưởng (đến lúc đó hiện diện thường trực trong tâm thức nhân loại ở khắp nơi) và lẽ thường cũng sẽ làm chứng cho sự kiện về sự hiện diện của Những Đấng đã đạt mục tiêu; sự biểu lộ thiên tính của Các Ngài sẽ được xem là bình thường, là cấu thành một mục tiêu phổ quát, và là sự bảo đảm cho thành tựu tương lai của nhân loại; khi đó có thể chỉ ra các mức độ của sự biểu lộ thiêng liêng này, từ mức của đệ tử dự bị, qua các đệ tử, đến Những Đấng đã đạt chân sư vị, và lên đến, bao gồm cả Đức Christ.
5. Thus gradually the idea or concept of the existence, in bodily presence, of the Masters will be inculcated and steadily [589] accepted; a new attitude to the Christ will be developed which will be inclusive of all the best that the past has given to us but which will integrate men into a more sane and acceptable approach to the entire problem.
5. Như thế, dần dần ý tưởng hay khái niệm về sự hiện hữu, trong sự hiện diện bằng thể xác, của các Chân sư sẽ được truyền dạy và đều đặn [589] được chấp nhận; một thái độ mới đối với Đức Christ sẽ được phát triển, bao gồm tất cả những gì tốt đẹp nhất mà quá khứ đã trao cho chúng ta nhưng sẽ tích hợp con người vào một cách tiếp cận lành mạnh và có thể chấp nhận hơn đối với toàn bộ vấn đề.
6. The time will come when the fact of the presence on earth of the Christ as Head of the Hierarchy and the Director of the Kingdom of God will be accepted; men will also realise the truth of the present revolutionary statement that at no time has He ever left the earth.
6. Thời gian sẽ đến khi sự kiện về sự hiện diện trên Trái Đất của Đức Christ với tư cách là Đầu của Thánh đoàn và là Đấng Điều Hành Thiên Giới sẽ được chấp nhận; con người cũng sẽ nhận ra chân lý của phát biểu cách mạng hiện nay rằng chưa bao giờ Ngài rời khỏi Trái Đất.
7. Emphasis will also increasingly be laid upon the unfolding Plan, and men will be brought to its recognition through a study of the evolution of the human family, through a close consideration of historical processes, and through a comparative analysis of ancient and modern civilisations and cultures. The thread of purpose will be noted and followed through, century after century, integrating not only history into one complete story of the revelation of divine qualities through the medium of humanity, but integrating with it and into it all world philosophies, the central theme of all creative art, the symbolism of architecture and the conclusions of science.
7. Sự nhấn mạnh cũng sẽ ngày càng được đặt vào Thiên Cơ đang khai mở, và con người sẽ được dẫn đến chỗ nhận ra nó qua việc nghiên cứu sự tiến hoá của gia đình nhân loại, qua việc xem xét kỹ các tiến trình lịch sử, và qua sự phân tích so sánh các nền văn minh và văn hóa cổ đại và hiện đại. Sợi chỉ của mục đích sẽ được ghi nhận và lần theo qua thế kỷ này sang thế kỷ khác, không những tích hợp lịch sử thành một câu chuyện hoàn chỉnh về sự mặc khải các phẩm tính thiêng liêng qua trung gian nhân loại, mà còn tích hợp với nó và vào trong nó mọi triết học thế giới, chủ đề trung tâm của mọi nghệ thuật sáng tạo, biểu tượng học của kiến trúc và các kết luận của khoa học.
This approach of the central fact of human evolution—the steady growth of divinity and the revelation through man of divine powers—will offset the fanciful, fantastic presentation of the Hierarchy which has coloured all the occult movements and the various Theosophical and Rosicrucian presentations. The subject will be presented in a manner acceptable and reasonable. It will not be a slower process, but the reverse. The results of the old and foolish way of introducing the subject has greatly retarded the intended work. Men, however, in the future, will accept with rapidity and thankfully what is reasonable and which has its roots in the past, can be proven by history, and which presents a true and possible hope for the future.
Cách tiếp cận này đối với sự kiện trung tâm của tiến hoá nhân loại—sự tăng trưởng đều đặn của thiên tính và sự mặc khải các quyền năng thiêng liêng qua con người—sẽ hóa giải cách trình bày đầy tưởng tượng và kỳ quái về Thánh đoàn đã nhuốm màu mọi phong trào huyền bí và các cách trình bày khác nhau của Thông Thiên Học và Rosicrucian. Chủ đề này sẽ được trình bày theo một cách có thể chấp nhận và hợp lý. Tiến trình đó sẽ không chậm hơn, mà ngược lại. Kết quả của lối giới thiệu chủ đề cũ kỹ và ngu xuẩn đã làm chậm đáng kể công việc được dự định. Tuy nhiên, trong tương lai, con người sẽ nhanh chóng và với lòng biết ơn chấp nhận điều gì là hợp lý, có gốc rễ trong quá khứ, có thể được lịch sử chứng minh, và trình bày một hy vọng chân thực và khả hữu cho tương lai.
It can be expected that the orthodox Christian will at first reject the theories about the Christ which occultism presents; at the same time, this same orthodox Christian [590] will find it increasingly difficult to induce the intelligent masses of people to accept the impossible Deity and the feeble Christ which historical Christianity has endorsed. A Christ Who is present and living, Who is known to those who follow Him, Who is a strong and able executive and not a sweet and sentimental sufferer, Who has never left us but Who has worked for two thousand years through the medium of His disciples, the inspired men and women of all faiths, all religions and all religious persuasions; Who has no use for fanaticism or hysterical devotion but Who loves all men persistently, intelligently and optimistically, Who sees divinity in them all and Who comprehends the techniques of the evolutionary development of the human consciousness (mental, emotional and physical, producing civilisations and cultures appropriate to a particular point in evolution)—these ideas the intelligent public can and will accept.
Có thể dự đoán rằng người Kitô hữu chính thống lúc đầu sẽ bác bỏ các lý thuyết về Đức Christ mà huyền bí học trình bày; đồng thời, chính người Kitô hữu chính thống ấy [590] sẽ ngày càng thấy khó khăn hơn trong việc khiến quần chúng thông minh chấp nhận một Thượng đế bất khả và một Đức Christ yếu ớt mà Kitô giáo lịch sử đã tán thành. Một Đức Christ hiện diện và sống động, Đấng được những người theo Ngài biết đến, Đấng là một nhà điều hành mạnh mẽ và có năng lực chứ không phải một người chịu khổ dịu dàng và đa cảm, Đấng chưa bao giờ rời bỏ chúng ta mà đã làm việc suốt hai ngàn năm qua qua trung gian các đệ tử của Ngài, những người nam và nữ được cảm hứng của mọi đức tin, mọi tôn giáo và mọi khuynh hướng tôn giáo; Đấng không dùng đến sự cuồng tín hay lòng sùng mộ cuồng loạn nhưng yêu thương mọi người một cách bền bỉ, thông minh và lạc quan, Đấng thấy thiên tính trong tất cả họ và Đấng thấu hiểu các kỹ thuật của sự phát triển tiến hoá của tâm thức con người (trí tuệ, cảm xúc và hồng trần, tạo ra các nền văn minh và văn hóa thích hợp với một điểm tiến hoá nhất định)—những ý tưởng này công chúng thông minh có thể và sẽ chấp nhận.
They will prepare and work for conditions in the world in which Christ can move freely among men, in bodily Presence; He need not then remain in His present retreat in Central Asia. They can and will accept with ease the unity of all faiths when the relationship of the Buddha and the Christ is correctly presented; then the picture of a Christ demanding a unique position, to the exclusion of all other sons of God, will fade out in the wonder of the true apostolic succession, in which many sons of God, on different rays, of differing nationalities and with varying missions, are to be seen historically leading humanity along the path of divine unfoldment and nearer to God, the Source.
Họ sẽ chuẩn bị và làm việc cho những điều kiện trong thế giới mà trong đó Đức Christ có thể tự do đi lại giữa loài người, trong Hiện Diện bằng thể xác; khi đó Ngài không cần phải ở lại nơi ẩn cư hiện nay của Ngài tại Trung Á. Họ có thể và sẽ dễ dàng chấp nhận sự hợp nhất của mọi đức tin khi mối liên hệ giữa Đức Phật và Đức Christ được trình bày đúng đắn; khi đó hình ảnh một Đức Christ đòi hỏi một địa vị độc nhất, loại trừ mọi con của Thượng đế khác, sẽ phai mờ trước sự kỳ diệu của sự kế thừa tông truyền chân chính, trong đó nhiều con của Thượng đế, trên các cung khác nhau, thuộc các quốc tịch khác nhau và với các sứ mệnh khác nhau, được thấy trong lịch sử đang dẫn dắt nhân loại trên con đường khai mở thiêng liêng và đến gần hơn với Thượng đế, Cội Nguồn.
Temporarily, the fact of God Immanent will engross the attention of all true spiritual teachers, and the fact of that divine immanence making itself felt in perfection through the Christ and other divine Representatives will for a time relegate the teaching on God Transcendent into the background. Undue emphasis has been placed on this major truth, to the exclusion of the nearer and more practical truth of God in every man and in every form in every kingdom in nature; much evil has eventuated by the failure to lay the emphasis upon God Immanent. Later on, when the [591] truth of the Christ indwelling every man and revealed in perfection through the historical Christ and His great Brothers down the ages has been accepted, the teaching of God Transcendent, which is the secret mystery in the custody of Shamballa, will be revealed and emphasised. The two halves of a perfect Whole will then be recognised by humanity.
Tạm thời, sự kiện về Thượng đế Nội Tại sẽ thu hút sự chú ý của mọi huấn sư tinh thần chân chính, và sự kiện về tính nội tại thiêng liêng ấy đang tự biểu lộ một cách mạnh mẽ qua Đức Christ và các Đấng Đại Diện thiêng liêng khác sẽ trong một thời gian đẩy giáo huấn về Thượng đế Siêu Việt vào hậu cảnh. Sự nhấn mạnh quá mức đã được đặt lên chân lý lớn lao này, loại trừ chân lý gần gũi và thực tiễn hơn về Thượng đế trong mỗi con người và trong mọi hình tướng ở mọi giới trong thiên nhiên; nhiều điều ác đã phát sinh do không nhấn mạnh vào Thượng đế Nội Tại. Về sau, khi [591] chân lý về Đức Christ ngự trong mỗi con người và được biểu lộ hoàn hảo qua Đức Christ lịch sử và các Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài qua các thời đại đã được chấp nhận, thì giáo huấn về Thượng đế Siêu Việt, vốn là huyền nhiệm bí mật được Shamballa gìn giữ, sẽ được mặc khải và nhấn mạnh. Khi đó hai nửa của một Toàn Thể hoàn hảo sẽ được nhân loại nhận ra.
The key to the Hierarchy and Its reappearance on earth in physical form, and the consequent materialisation of the kingdom of God among men, is the simple truth of God Immanent. It is the clue to the evolutionary process, and the eternal hope of all forms in all kingdoms in nature. This is the central truth, the convincing truth, and the revealing truth which will underlie all information anent the Hierarchy, and this the coming generation of disciples will distribute. If this truth is factual and possible of demonstration, then the fact of the Hierarchy is proved and the authenticity of the eternal existence of the kingdom of God on earth is established.
Chìa khóa của Thánh đoàn và sự tái xuất hiện của Thánh đoàn trên Trái Đất trong hình thể hồng trần, và hệ quả là sự hiện hình của Thiên Giới giữa loài người, chính là chân lý đơn giản về Thượng đế Nội Tại. Đó là đầu mối của tiến trình tiến hoá, và là niềm hy vọng vĩnh cửu của mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên. Đây là chân lý trung tâm, chân lý thuyết phục, và chân lý mặc khải sẽ làm nền tảng cho mọi thông tin liên quan đến Thánh đoàn, và thế hệ đệ tử sắp đến sẽ phân phối điều này. Nếu chân lý này là sự kiện và có thể được chứng minh, thì sự kiện về Thánh đoàn được xác lập và tính chân thực của sự hiện hữu vĩnh cửu của Thiên Giới trên Trái Đất được thiết lập.