← Externalisation of the Hierarchy

THE RELEASE OF ATOMIC ENERGY—SỰ GIẢI PHÓNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

THE RELEASE OF ATOMIC ENERGY—SỰ GIẢI PHÓNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

August 9, 1945

Ngày 9 tháng Tám, 1945

I would like at this time to touch upon the greatest spiritual event which has taken place since the fourth kingdom of nature, the human kingdom, appeared. I refer to the release of atomic energy, as related in the newspapers this week, August 6, 1945, in connection with the bombing of Japan.

Lúc này tôi muốn đề cập đến biến cố tinh thần vĩ đại nhất đã diễn ra kể từ khi giới thứ tư của thiên nhiên, giới nhân loại, xuất hiện. Tôi nói đến sự giải phóng năng lượng nguyên tử, như đã được tường thuật trên báo chí tuần này, ngày 6 tháng Tám năm 1945, liên quan đến việc ném bom xuống Nhật Bản.

Some years ago I told you that the new era would be ushered in by the scientists of the world and that the inauguration of the kingdom of God on Earth would be heralded by means of successful scientific investigation. By this first step in the releasing of the energy of the atom this has been accomplished, and my prophecy has been justified during this momentous year of our Lord 1945. Let me make one or two statements anent this discovery, leaving you to make your own application and deductions. Little as to the true nature of this happening is as yet known, and still less is understood. Certain ideas and suggested thoughts may be of real value here and enable you to see this stupendous event in better perspective.

Vài năm trước tôi đã nói với các bạn rằng kỷ nguyên mới sẽ được mở ra bởi các nhà khoa học trên thế giới và rằng việc khai mở Thiên Giới trên Trái Đất sẽ được báo trước bằng những cuộc điều tra khoa học thành công. Bằng bước đầu tiên này trong việc giải phóng năng lượng của nguyên tử, điều đó đã được hoàn thành, và lời tiên tri của tôi đã được xác chứng trong năm trọng đại này của Chúa chúng ta 1945. Hãy để tôi đưa ra một hay hai phát biểu liên quan đến khám phá này, để các bạn tự mình áp dụng và suy luận. Hiện nay người ta còn biết rất ít về bản chất thực sự của biến cố này, và lại càng ít được thấu hiểu hơn. Một số ý tưởng và tư tưởng gợi ý có thể thực sự có giá trị ở đây và giúp các bạn nhìn thấy biến cố kỳ vĩ này trong một viễn cảnh tốt hơn.

1. It was the imminence of this “release” of energy which was one of the major subjective factors in the precipitation of this last phase of the war. This world war started in 1914, but its last and most important phase began in 1939. [492] Up till then it was a world war. After that date, and because the forces of evil took advantage of the state of war and belligerency existing on the planet, the real war began, involving the entire three worlds of human evolution and a consequent activity of the Hierarchy. Man’s attention is normally focussed on the externalities of living. Nevertheless, all great discoveries, such as those made in connection with astronomy or in relation to the laws of nature or involving such a revelation as that of radio-activity or the epoch-making event announced this week concerning the first steps taken in the harnessing of cosmic energy, are ever the result of inner pressure emanating from Forces and Lives found in high Places. Such inner pressures themselves function under the laws of the Spirit and not just under what you call natural laws; they are the result of the impelling work of certain great Lives, working in connection with the third aspect of divinity, that of active intelligence, and are concerned with the substance or matter aspect of manifestation. Such activities are motivated from Shamballa. This activity is set in motion by these Lives, working on Their high plane, and it gradually causes a reaction in the various departments of the Hierarchy, particularly those working under third, fifth and seventh ray Masters. Eventually, disciples upon the physical levels of activity become aware of the inner ferment, and this happens either consciously or unconsciously. They become “impressed,” and the scientific work is then started and carried through into the stages of experimentation and final success.

1. Chính tính cận kề của sự “giải phóng” năng lượng này là một trong những yếu tố chủ quan chính trong việc làm ngưng tụ giai đoạn cuối cùng này của chiến tranh. Cuộc thế chiến này bắt đầu vào năm 1914, nhưng giai đoạn cuối cùng và quan trọng nhất của nó bắt đầu vào năm 1939. [492] Cho đến lúc đó, đó là một cuộc thế chiến. Sau thời điểm ấy, và bởi vì các mãnh lực ác độc đã lợi dụng tình trạng chiến tranh và giao tranh đang tồn tại trên hành tinh, cuộc chiến thực sự mới bắt đầu, bao trùm toàn bộ ba cõi giới của tiến hoá nhân loại và kéo theo hoạt động của Thánh Đoàn. Sự chú ý của con người bình thường tập trung vào các khía cạnh bên ngoài của đời sống. Tuy nhiên, mọi khám phá lớn, như những khám phá liên quan đến thiên văn học hay đến các định luật của thiên nhiên hoặc bao hàm một sự mặc khải như phóng xạ, hay biến cố mở thời đại được công bố tuần này liên quan đến những bước đầu tiên trong việc chế ngự năng lượng vũ trụ, đều luôn là kết quả của áp lực nội tại phát ra từ các Mãnh lực và các Sự Sống được tìm thấy ở những Cấp độ cao. Chính những áp lực nội tại ấy hoạt động dưới các định luật của Tinh thần chứ không chỉ dưới điều các bạn gọi là các định luật tự nhiên; chúng là kết quả của công việc thúc đẩy của một số Sự Sống vĩ đại, hoạt động liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, tức trí tuệ linh hoạt, và liên quan đến phương diện chất liệu hay vật chất của biểu hiện. Những hoạt động như thế được thúc đẩy từ Shamballa. Hoạt động này được các Sự Sống ấy khởi động, khi Các Ngài hoạt động trên cõi cao của mình, và dần dần gây ra một phản ứng trong các bộ phận khác nhau của Thánh Đoàn, đặc biệt là những bộ phận hoạt động dưới các Chân sư cung ba, cung năm và cung bảy. Cuối cùng, các đệ tử trên các cấp độ hoạt động hồng trần trở nên nhận biết sự lên men nội tại, và điều này xảy ra một cách hữu thức hay vô thức. Họ trở nên “được gây ấn tượng,” và khi đó công việc khoa học bắt đầu rồi được tiến hành qua các giai đoạn thử nghiệm và thành công cuối cùng.

One point should here be remembered, and that is that this phase applies to both the great White Lodge and the Black Lodge—the one dedicated to the beneficent task of purifying and aiding all lives in the three worlds of material evolution and to the release of the soul in form, and the other to the retardation of the evolutionary process and to the continuous crystallising of the material forms which hide and veil the anima mundi. Both groups have been profoundly interested and implicated in this matter of the release of energy from the atom and the liberation of its [493] inner aspect, but their motives and objectives were widely different.

Ở đây nên nhớ một điểm, đó là giai đoạn này áp dụng cho cả Thánh đoàn lẫn Hắc đoàn—một bên hiến mình cho nhiệm vụ từ thiện là thanh lọc và trợ giúp mọi sự sống trong ba cõi của tiến hoá vật chất và cho sự giải phóng linh hồn trong hình tướng, còn bên kia thì nhằm làm chậm tiến trình tiến hoá và liên tục kết tinh các hình tướng vật chất che giấu và phủ màn anima mundi. Cả hai nhóm đều hết sức quan tâm và can dự sâu sắc vào vấn đề giải phóng năng lượng từ nguyên tử và giải phóng [493] phương diện nội tại của nó, nhưng động cơ và mục tiêu của họ thì hoàn toàn khác nhau.

2. The imminence of this release—inevitable and under direction—produced an enormous tension in hierarchical circles because (to express the idea colloquially) a race was on between the Dark Forces and the Forces of Light to acquire possession of the techniques necessary to bring about this liberation of needed energy. Had the Dark Forces triumphed, and had the Axis Powers obtained possession of the needed scientific formulas, it would have led to a major planetary disaster. The released energy would have been used first of all to bring about the complete destruction of all opposing the forces of evil, and then it would have been prostituted to the preservation of an increasingly materialistic and non-idealistic civilisation. Germany could not be trusted with this power, for all her motives were compelling wrong.

2. Sự cận kề của cuộc giải phóng này—không thể tránh khỏi và dưới sự chỉ đạo—đã tạo ra một sự căng thẳng to lớn trong các vòng tròn của Thánh đoàn, bởi vì (nói theo cách thông tục để diễn đạt ý này) đã diễn ra một cuộc chạy đua giữa các Lực lượng Bóng tối và các Lực lượng Ánh sáng nhằm giành quyền sở hữu các kỹ thuật cần thiết để đem lại sự giải phóng năng lượng cần thiết này. Nếu các lực lượng bóng tối thắng thế, và nếu các Cường quốc Trục chiếm được các công thức khoa học cần thiết, điều đó hẳn đã dẫn đến một thảm họa hành tinh lớn. Năng lượng được giải phóng trước hết sẽ được dùng để gây ra sự hủy diệt hoàn toàn mọi kẻ chống lại các lực lượng ác, rồi sau đó sẽ bị làm ô uế để duy trì một nền văn minh ngày càng duy vật và không lý tưởng. Không thể giao quyền năng này cho nước Đức, vì mọi động cơ của họ đều sai lầm một cách cưỡng bách.

You might here fall back on the trite religious platitude that the innate good in humanity and mankind’s inherent divinity would eventually have triumphed, because naught can finally overcome the universal trend to good. You are prone to forget that if the evil forces possess potencies which can destroy form in the three worlds on such a wide scale that the souls of advanced aspirants and disciples, and those of initiates seeking incarnation, cannot come into outer expression during a particular world crisis, then you have direfully affected the time-schedule of the evolutionary process; you will have greatly delayed (perhaps for millennia of years) the manifestation of the kingdom of God. The time had come for that manifestation, and hence the powerful activity of the dark forces.

Ở đây, có thể bạn sẽ quay về với lời sáo ngữ tôn giáo tầm thường rằng điều thiện bẩm sinh trong nhân loại và thiên tính cố hữu của loài người rốt cuộc hẳn sẽ thắng thế, bởi vì không gì cuối cùng có thể vượt thắng khuynh hướng phổ quát hướng thiện. Bạn dễ quên rằng nếu các lực lượng ác sở hữu những tiềm lực có thể hủy diệt hình tướng trong ba cõi giới trên một quy mô rộng đến mức các linh hồn của những người chí nguyện và đệ tử tiến bộ, cũng như các linh hồn của những điểm đạo đồ đang tìm cách nhập thể, không thể đi vào biểu hiện bên ngoài trong một cuộc khủng hoảng thế giới nhất định, thì khi đó bạn đã tác động tai hại đến thời biểu của tiến trình tiến hoá; bạn sẽ làm chậm lại rất nhiều (có lẽ hàng ngàn năm) sự biểu hiện của Thiên Giới. Thời điểm cho sự biểu hiện đó đã đến, và vì thế mới có hoạt động mãnh liệt của các lực lượng bóng tối.

This attempt to hinder the planned progress constituted a definite menace and indicated a supreme danger and problem. The evil forces were closer to success than any of you have ever dreamed. They were so close to success in 1942 that there were four months when the members of the spiritual Hierarchy had made every possible arrangement to withdraw from human contact for an indefinite [494] and unforeseen period of time; the plans for a closer contact with the evolutionary process in the three worlds and the effort to blend and fuse the two divine centres, the Hierarchy and Humanity, into one working, collaborating whole seemed doomed to destruction. Their fusion would have meant the appearance of the Kingdom of God on earth; the obstacles to this fusion, owing to the active tension of the dark forces, seemed at that time insuperable; we believed that man would go down to defeat, owing to his selfishness and his misuse of the principle of free will. We made all preparations to withdraw, and yet at the same time we struggled to get humanity to choose rightly and to see the issues clearly.

Nỗ lực ngăn cản sự tiến bộ đã được hoạch định này tạo thành một mối đe dọa rõ rệt và cho thấy một hiểm nguy cùng một vấn đề tối thượng. Các lực lượng ác đã tiến gần đến thành công hơn bất kỳ ai trong các bạn từng mơ tưởng. Họ đã gần thành công đến mức vào năm 1942 đã có bốn tháng mà các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần đã thực hiện mọi sắp đặt có thể để rút khỏi sự tiếp xúc với nhân loại trong một thời kỳ không xác định [494] và không thể tiên liệu; các kế hoạch nhằm tiếp xúc chặt chẽ hơn với tiến trình tiến hoá trong ba cõi thấp và nỗ lực hòa trộn và dung hợp hai trung tâm thiêng liêng, Thánh đoàn và Nhân loại, thành một toàn thể hoạt động và cộng tác dường như đã bị định sẵn để hủy diệt. Sự dung hợp của họ hẳn đã có nghĩa là sự xuất hiện của Thiên Giới trên trần gian; các chướng ngại đối với sự dung hợp này, do sự căng thẳng tích cực của các lực lượng bóng tối, vào lúc đó dường như không thể vượt qua; chúng tôi tin rằng con người sẽ đi đến thất bại, do tính ích kỷ của y và do y lạm dụng nguyên khí tự do ý chí. Chúng tôi đã chuẩn bị mọi sự để rút lui, nhưng đồng thời vẫn đấu tranh để khiến nhân loại chọn đúng và thấy rõ các vấn đề.

The necessity to withdraw was averted. I may not say in what manner, beyond telling you that the Lords of Liberation took certain unexpected steps. This They were led to do owing to the invocative powers of humanity, used consciously by all those upon the side of the will-to-good and unconsciously by all men of goodwill. Owing to these steps, the efforts of those fighting in the realm of science for the establishing of true knowledge and right human relations were aided. The trend of the power to know and to discover (a definite form of energy) was deflected away from the demanding evocative minds of those seeking to destroy the world of men, leading to a form of mental paralysis. Those seeking to emphasise the right values and to save humanity were simultaneously stimulated to the point of success.

Sự cần thiết phải rút lui đã được ngăn chặn. Tôi không thể nói bằng cách nào, ngoài việc cho bạn biết rằng các Đấng Giải Thoát đã thực hiện một số bước đi bất ngờ. Các Ngài được dẫn dắt làm như vậy do quyền năng khẩn cầu của nhân loại, được dùng một cách hữu thức bởi tất cả những ai đứng về phía Ý Chí-hướng Thiện và một cách vô thức bởi mọi người thiện chí. Nhờ những bước đi này, các nỗ lực của những người đang chiến đấu trong lĩnh vực khoa học để thiết lập tri thức chân chính và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người đã được trợ giúp. Khuynh hướng của quyền năng biết và khám phá (một hình thức năng lượng xác định) đã được lái chệch đi khỏi những trí tuệ gợi lên đầy đòi hỏi của những kẻ tìm cách hủy diệt thế giới loài người, dẫn đến một dạng tê liệt trí tuệ. Đồng thời, những người tìm cách nhấn mạnh các giá trị đúng đắn và cứu nhân loại đã được kích thích đến mức thành công.

In these very few words I have disposed of a stupendous world event, and in this brief paragraph I have summed up the working out of a specialised divine activity.

Trong rất ít lời này, tôi đã đề cập đến một biến cố thế giới vĩ đại, và trong đoạn ngắn này tôi đã tóm lược sự vận hành của một hoạt động thiêng liêng chuyên biệt.

3. When the sun moved northward that year (1942), the great White Lodge knew that the battle had been won. Their preparations were halted and the Masters then organised for renewed effort (through Their disciples) to bring about those conditions wherein that which was new and that which was in line with loving divine purpose could freely move forward. The war was not won by the surrender of [495] Germany. That was only the outer result of inner happenings. The war was won by the Forces of Light when the mental potency of the forces of evil was overcome and the “energy of the future” was directed or impelled by Those Who were seeking the higher human values and the spiritual good of mankind. Four factors lie behind the momentous happening of the release of this form of atomic energy, through the medium of what is erroneously and unscientifically called the “splitting of the atom.” There are other factors, but you may find the following four of real interest:

3. Khi mặt trời chuyển về phương bắc trong năm đó (1942), Thánh đoàn vĩ đại biết rằng trận chiến đã thắng. Các sự chuẩn bị của Các Ngài được dừng lại và khi ấy các Chân sư tổ chức lại cho một nỗ lực mới (thông qua các đệ tử của Các Ngài) nhằm tạo ra những điều kiện trong đó điều gì là mới mẻ và điều gì phù hợp với thiên ý đầy bác ái có thể tự do tiến lên. Cuộc chiến không được thắng nhờ sự đầu hàng của [495] nước Đức. Điều đó chỉ là kết quả bên ngoài của các diễn biến bên trong. Cuộc chiến được các Lực lượng Ánh sáng chiến thắng khi tiềm lực trí tuệ của các lực lượng ác bị vượt qua và “năng lượng của tương lai” được định hướng hay được thúc đẩy bởi Những Đấng đang tìm kiếm các giá trị nhân loại cao hơn và thiện ích tinh thần của nhân loại. Có bốn yếu tố nằm phía sau biến cố trọng đại là sự giải phóng hình thức năng lượng nguyên tử này, thông qua trung gian của điều được gọi một cách sai lầm và phi khoa học là “sự phân tách nguyên tử”. Còn có những yếu tố khác, nhưng bốn yếu tố sau đây có thể thật sự khiến bạn quan tâm:

a. There was a clearly directed inflow of extra-planetary energy released by the Lords of Liberation, to Whom invocation had been successfully made; through the impact of this energy upon the atomic substance being dealt with by the investigating scientists, changes were brought about which enabled them to achieve success. The experiments being carried forward were therefore both subjective and objective.

a. Đã có một dòng năng lượng ngoài hành tinh được định hướng rõ rệt do các Đấng Giải Thoát giải phóng, là Những Đấng đã được khẩn cầu thành công; thông qua tác động của năng lượng này lên chất liệu nguyên tử đang được các nhà khoa học khảo cứu xử lý, những biến đổi đã được tạo ra khiến họ đạt được thành công. Vì vậy, các thí nghiệm đang được tiến hành vừa có tính chủ quan vừa có tính khách quan.

b. A concerted effort was made by a number of disciples who were working in fifth and seventh ray ashrams, and this enabled them to impress lesser disciples in the scientific field and helped them to surmount the well-nigh insuperable difficulties with which they were confronted.

b. Một nỗ lực phối hợp đã được thực hiện bởi một số đệ tử đang làm việc trong các ashram cung năm và cung bảy, và điều này giúp họ gây ấn tượng lên các đệ tử nhỏ hơn trong lĩnh vực khoa học và giúp họ vượt qua những khó khăn gần như không thể vượt qua mà họ đang đối diện.

c. There was also a weakening of the tension which had hitherto successfully held the forces of evil together, and a growing inability of the evil group at the head of the Axis Powers to surmount the incidental war fatigue. This brought about, first of all, a steady deterioration of their minds, and then of their brains and nervous systems. None of the men involved in the direction of the Axis effort in Europe is today normal psychologically; they are all suffering from some form of physical deterioration, and this has been a real factor in their defeat, though one that may be difficult for you to realise. It is not so in the case of the Japanese, whose psychological make-up is totally different, [496] as are their nervous systems, which are of fourth rootrace quality. They will be and are being defeated by physical war measures and by the destruction physically of their war potential and the death of the form aspect. This destruction.... and the consequent release of their imprisoned souls, is a necessary happening; it is the justification of the use of the atomic bomb upon the Japanese population. The first use of this released energy has been destructive, but I would remind you that it has been the destruction of forms and not the destruction of spiritual values and the death of the human spirit—as was the goal of the Axis effort.

c. Cũng đã có sự suy yếu của sức căng vốn trước đây đã giữ các lực lượng ác lại với nhau một cách thành công, và sự bất lực ngày càng tăng của nhóm ác đứng đầu các Cường quốc Trục trong việc vượt qua sự mệt mỏi chiến tranh tất nhiên phát sinh. Điều này trước hết dẫn đến sự suy thoái đều đặn của trí tuệ họ, rồi sau đó của bộ não và hệ thần kinh của họ. Không một người nào trong số những kẻ dính líu đến việc chỉ đạo nỗ lực của phe Trục tại châu Âu ngày nay còn bình thường về mặt tâm lý; tất cả họ đều đang chịu đựng một dạng suy thoái thể xác nào đó, và đây là một yếu tố thực sự trong thất bại của họ, dù điều này có thể khó để bạn chứng nghiệm. Trường hợp người Nhật thì không như vậy, vì cấu tạo tâm lý của họ hoàn toàn khác, [496] cũng như hệ thần kinh của họ, vốn mang phẩm tính của giống dân gốc thứ tư. Họ sẽ bị và đang bị đánh bại bằng các biện pháp chiến tranh hồng trần và bằng sự hủy diệt về mặt thể xác đối với tiềm lực chiến tranh của họ cùng cái chết của phương diện hình tướng. Sự hủy diệt này.... và sự giải phóng tiếp theo của các linh hồn bị giam cầm của họ, là một biến cố cần thiết; đó là sự biện minh cho việc sử dụng bom nguyên tử lên dân chúng Nhật Bản. Việc sử dụng đầu tiên của năng lượng được giải phóng này đã mang tính hủy diệt, nhưng tôi muốn nhắc bạn rằng đó là sự hủy diệt các hình tướng chứ không phải sự hủy diệt các giá trị tinh thần và cái chết của tinh thần con người—như mục tiêu của nỗ lực phe Trục.

Forget not that all success (both good and bad) is dependent upon the sustaining of the point of tension. This point of tension involves the dynamic focussing of all mental, emotional and physical energies at a central point of planned activity. This, by the way, is the objective of all true meditation work. It is in this act of tension that the German people failed. This cost them the war; their tension broke because the group of evil forces who were impressing the negative German people were unable to attain the point of tension which the Hierarchy could reach when it was reinforced through the action of the Lords of Liberation.

Đừng quên rằng mọi thành công (cả tốt lẫn xấu) đều tùy thuộc vào việc duy trì điểm tập trung nhất tâm. Điểm tập trung nhất tâm này bao hàm sự tập trung năng động của mọi năng lượng trí tuệ, cảm xúc và thể xác vào một điểm trung tâm của hoạt động đã được hoạch định. Nhân tiện, đó là mục tiêu của mọi công việc tham thiền chân chính. Chính trong hành động căng thẳng này mà dân tộc Đức đã thất bại. Điều đó khiến họ thua trận; sức căng của họ bị đứt gãy vì nhóm các lực lượng ác đang gây ấn tượng lên dân tộc Đức tiêu cực đã không thể đạt đến điểm tập trung nhất tâm mà Thánh đoàn có thể đạt tới khi được tăng cường nhờ hành động của các Đấng Giải Thoát.

d. Another factor was the constant, invocative demand and the prayers (articulate and inarticulate) of humanity itself. Men, impelled largely by fear and the innate mobilising of the human spirit against slavery, reached such a pitch of demanding energy that a channel was created which greatly facilitated the work of the Hierarchy, under the direct influence of the Lords of Liberation.

d. Một yếu tố khác là sự đòi hỏi khẩn cầu liên tục và những lời cầu nguyện (thành lời và không thành lời) của chính nhân loại. Con người, phần lớn bị thúc đẩy bởi sợ hãi và bởi sự huy động bẩm sinh của tinh thần con người chống lại ách nô lệ, đã đạt đến một mức năng lượng đòi hỏi cao đến nỗi một kênh dẫn đã được tạo ra, tạo điều kiện rất lớn cho công việc của Thánh đoàn dưới ảnh hưởng trực tiếp của các Đấng Giải Thoát.

4. The release of the energy of the atom is as yet in an extremely embryonic stage; humanity little knows the extent or the nature of the energies which have been tapped and released. There are many types of atoms, constituting [497] the “world substance”; each can release its own type of force; this is one of the secrets which the new age will in time reveal, but a good and sound beginning has been made. I would call your attention to the words, “the liberation of energy.” It is liberation which is the keynote of the new era, just as it has ever been the keynote of the spiritually oriented aspirant. This liberation has started by the release of an aspect of matter and the freeing of some of the soul forces within the atom. This has been, for matter itself, a great and potent initiation, paralleling those initiations which liberate or release the souls of men.

4. Sự giải phóng năng lượng của nguyên tử hiện vẫn còn ở một giai đoạn cực kỳ phôi thai; nhân loại hầu như không biết mức độ hay bản chất của các năng lượng đã được khai mở và giải phóng. Có nhiều loại nguyên tử, cấu thành [497] “chất liệu thế giới”; mỗi loại có thể giải phóng loại mãnh lực riêng của nó; đây là một trong những bí mật mà kỷ nguyên mới theo thời gian sẽ mặc khải, nhưng một khởi đầu tốt đẹp và vững chắc đã được thực hiện. Tôi muốn thu hút sự chú ý của bạn đến những lời “sự giải phóng năng lượng”. Chính sự giải phóng là chủ âm của kỷ nguyên mới, cũng như từ trước đến nay nó luôn là chủ âm của người chí nguyện được định hướng tinh thần. Sự giải phóng này đã bắt đầu bằng việc giải phóng một phương diện của vật chất và giải thoát một số mãnh lực linh hồn bên trong nguyên tử. Đối với chính vật chất, đây là một cuộc điểm đạo lớn lao và mãnh liệt, song song với những cuộc điểm đạo giải thoát hay giải phóng các linh hồn của loài người.

In this process of planetary initiation humanity has carried its work as the world saviour down into the world of substance, and has affected those primary units of life of which all forms are made.

Trong tiến trình điểm đạo hành tinh này, nhân loại đã mang công việc của mình với tư cách là đấng cứu thế của thế giới đi xuống tận thế giới chất liệu, và đã tác động đến những đơn vị sự sống sơ cấp mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành.

5. You will now understand the meaning of the words used by so many of you in the second of the Great Invocations: The hour of service of the saving force has now arrived. This “saving force” is the energy which science has released into the world for the destruction, first of all, of those who continue (if they do) to defy the Forces of Light working through the United Nations. Then—as time goes on—this liberated energy will usher in the new civilisation, the new and better world and the finer, more spiritual conditions. The highest dreams of those who love their fellowmen can become practical possibilities through the right use of this liberated energy, if the real values are taught, emphasised and applied to daily living. This “saving force” has now been made available by science, and my earlier prophecy substantiated.

5. Giờ đây bạn sẽ hiểu ý nghĩa của những lời mà rất nhiều người trong các bạn đã dùng trong câu thứ hai của Đại Khấn Nguyện: Giờ phụng sự của mãnh lực cứu rỗi nay đã đến. “Mãnh lực cứu rỗi” này là năng lượng mà khoa học đã giải phóng vào thế giới để trước hết hủy diệt những kẻ vẫn tiếp tục (nếu họ còn tiếp tục) thách thức các Lực lượng Ánh sáng đang hoạt động thông qua Liên Hiệp Quốc. Rồi sau đó—khi thời gian trôi qua—năng lượng được giải phóng này sẽ mở ra nền văn minh mới, thế giới mới và tốt đẹp hơn, cùng những điều kiện tinh tế hơn, tinh thần hơn. Những giấc mơ cao đẹp nhất của những ai yêu thương đồng loại mình có thể trở thành những khả năng thực tiễn nhờ việc sử dụng đúng đắn năng lượng được giải phóng này, nếu các giá trị chân thực được giảng dạy, được nhấn mạnh và được áp dụng vào đời sống hằng ngày. “Mãnh lực cứu rỗi” này nay đã được khoa học làm cho khả dụng, và lời tiên tri trước đây của tôi đã được xác chứng.

(See “A Treatise on White Magic”, published in 1934, beginning on page 333, where the following statements appear:

(Xem “Luận về Chánh Thuật”, xuất bản năm 1934, bắt đầu từ trang 333, nơi có những phát biểu sau đây:

It might be noted that three great discoveries are imminent and during the next two generations will revolutionise modern thought and life.

Cần lưu ý rằng ba khám phá lớn đang cận kề và trong hai thế hệ tới sẽ làm cách mạng hóa tư tưởng và đời sống hiện đại.

One is already sensed and is the subject of experiment and investigation, the releasing of the energy of the atom. This will completely change the economic and political situation in the world, for the latter is largely dependent upon the former. Our mechanical civilisation will be simplified, and an era ushered in which will be free from the incubus of money (its possession and its non-possession), and the human family will recognise universally its status as a bridging kingdom between the three lower kingdoms of nature and the fifth or spiritual kingdom. There will be time and freedom for a soul culture which will supersede apart modern methods of education, and the significance of soul powers and the development of the superhuman consciousness will engross the attention of educators and students everywhere.

Một khám phá đã được cảm nhận và đang là đối tượng của thí nghiệm và khảo cứu, đó là sự giải phóng năng lượng của nguyên tử. Điều này sẽ hoàn toàn thay đổi tình hình kinh tế và chính trị trên thế giới, vì tình hình sau phần lớn tùy thuộc vào tình hình trước. Nền văn minh cơ giới của chúng ta sẽ được đơn giản hóa, và một kỷ nguyên sẽ mở ra, thoát khỏi gánh nặng của tiền bạc (sự sở hữu nó và sự không sở hữu nó), và gia đình nhân loại sẽ nhìn nhận một cách phổ quát địa vị của mình như một giới bắt cầu giữa ba giới thấp của thiên nhiên và giới thứ năm hay giới tinh thần. Sẽ có thời gian và tự do cho một nền văn hóa linh hồn, nền văn hóa này sẽ thay thế các phương pháp giáo dục hiện đại, và ý nghĩa của các quyền năng linh hồn cùng sự phát triển của tâm thức siêu nhân sẽ thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục và đạo sinh ở khắp nơi.

A second discovery will grow out of the present investigations as to light and colour.

Một khám phá thứ hai sẽ phát sinh từ các khảo cứu hiện nay về ánh sáng và màu sắc.

The third development, which will be the last probably to take place, will be more strictly in the realm of what the occultists called magic. It will grow out of the study of sound and the effect of sound, and will put into man's hands a tremendous instrument in the world of creation.)

Sự phát triển thứ ba, có lẽ sẽ là điều xảy ra sau cùng, sẽ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực mà các nhà huyền bí học gọi là huyền thuật. Nó sẽ phát sinh từ việc nghiên cứu âm thanh và tác động của âm thanh, và sẽ đặt vào tay con người một công cụ to lớn trong thế giới sáng tạo.)

[498]As I said above, the first use of this energy has been material destruction; this was inevitable and desirable; old forms (obstructing the good) have had to be destroyed; the wrecking and disappearance of that which is bad and undesirable must ever precede the building of the good and desirable and the longed-for emergence of that which is new and better.

[498]Như tôi đã nói ở trên, việc sử dụng đầu tiên của năng lượng này là sự hủy diệt vật chất; điều đó là không thể tránh khỏi và đáng mong muốn; các hình tướng cũ (ngăn trở điều thiện) đã phải bị hủy diệt; sự đập tan và biến mất của điều xấu xa và không mong muốn luôn phải đi trước việc xây dựng điều tốt đẹp và đáng mong muốn cùng sự xuất hiện được mong đợi từ lâu của điều mới mẻ và tốt đẹp hơn.

The constructive use of this energy and its harnessing for the betterment of humanity is its real purpose; this living energy of substance itself, hitherto shut up within the atom and imprisoned in these ultimate forms of life, can be turned wholly into that which is good and can bring about such a revolutionising of the modes of human experience that (from one angle alone) it will necessitate and bring about an entirely new economic world structure.

Việc sử dụng có tính xây dựng năng lượng này và việc khai thác nó để cải thiện nhân loại mới là mục đích thực sự của nó; năng lượng sống của chính chất liệu này, từ trước đến nay bị giam kín trong nguyên tử và bị cầm tù trong những hình thức tối hậu của sự sống này, có thể được chuyển hoàn toàn thành điều thiện và có thể đem lại một sự cách mạng hóa các phương thức kinh nghiệm của con người đến mức (chỉ xét từ một góc độ thôi) nó sẽ đòi hỏi và tạo ra một cơ cấu kinh tế thế giới hoàn toàn mới.

It lies in the hands of the United Nations to protect this released energy from misuse and to see that its power is not prostituted to selfish ends and purely material purposes. It is a “saving force” and has in it the potency of rebuilding, of rehabilitation and of reconstruction. Its right use can abolish destitution, bring civilised comfort (and not useless luxury) to all upon our planet; its expression in forms of right living, if motivated by right human relations, will produce beauty, warmth, colour, the abolition of the present forms of disease, the withdrawal of mankind from all activities which involve living or working underground, and will bring to an end all human slavery, all need to work or fight for possessions and things, and will render possible a state of life which will leave man free to pursue the higher aims of the Spirit. The prostituting of life to the task of providing the bare necessities or to [499] making it possible for a few rich and privileged people to have too much when others have too little, will come to an end; men everywhere can now be released into a state of life which will give them leisure and time to follow spiritual objectives, to realise richer cultural life, and to attain a broader mental perspective.

Việc bảo vệ năng lượng được giải phóng này khỏi bị lạm dụng và bảo đảm rằng quyền năng của nó không bị làm ô uế vì những mục đích ích kỷ và thuần túy vật chất nằm trong tay Liên Hiệp Quốc. Nó là một “mãnh lực cứu rỗi” và chứa trong nó tiềm lực tái thiết, phục hồi và kiến thiết lại. Việc sử dụng đúng đắn nó có thể xóa bỏ cảnh cùng khốn, đem lại sự tiện nghi văn minh (chứ không phải xa hoa vô ích) cho mọi người trên hành tinh chúng ta; sự biểu hiện của nó trong các hình thức sống đúng đắn, nếu được thúc đẩy bởi các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, sẽ tạo ra vẻ đẹp, sự ấm áp, màu sắc, sự xóa bỏ các dạng bệnh tật hiện nay, việc rút nhân loại ra khỏi mọi hoạt động liên quan đến sống hay làm việc dưới lòng đất, và sẽ chấm dứt mọi chế độ nô lệ của con người, mọi nhu cầu phải lao động hay chiến đấu vì của cải và vật dụng, đồng thời làm cho một trạng thái sống trở nên khả hữu, trong đó con người được tự do theo đuổi các mục tiêu cao hơn của Tinh thần. Việc làm ô uế sự sống bằng nhiệm vụ chỉ để cung cấp những nhu cầu tối thiểu hoặc để [499] làm cho một số ít người giàu có và đặc quyền có quá nhiều trong khi những người khác có quá ít, sẽ chấm dứt; con người ở khắp nơi nay có thể được giải phóng vào một trạng thái sống cho họ sự nhàn rỗi và thời gian để theo đuổi các mục tiêu tinh thần, để chứng nghiệm một đời sống văn hóa phong phú hơn, và để đạt được một viễn tượng trí tuệ rộng lớn hơn.

But, my brothers, men will fight to prevent this; the reactionary groups in every country will neither recognise the need for, nor desire this new world order which the liberation of cosmic energy (even on this initial tiny scale) can make possible; the vested interests, the big cartels, trusts and monopolies that controlled the past few decades, preceding this world war, will mobilise their resources and fight to the death to prevent the extinction of their sources of income; they will not permit, if they can help it, the passing of the control of this illimitable power into the hands of the masses, to whom it rightly belongs. The selfish interests among the big stockholders, the banking firms and the wealthy organised churches will oppose all change, except in so far as it will benefit them and bring more financial gain to their coffers.

Nhưng, Huynh đệ của Tôi, con người sẽ chiến đấu để ngăn cản điều này; các nhóm phản động ở mọi quốc gia sẽ không nhìn nhận nhu cầu của trật tự thế giới mới này, cũng không mong muốn nó, là điều mà sự giải phóng năng lượng vũ trụ (dù chỉ ở quy mô nhỏ bé ban đầu này) có thể làm cho trở nên khả hữu; các quyền lợi cố hữu, các cartel lớn, các trust và các độc quyền đã kiểm soát vài thập niên vừa qua trước cuộc chiến tranh thế giới này, sẽ huy động tài nguyên của họ và chiến đấu đến chết để ngăn chặn sự tuyệt diệt các nguồn lợi tức của họ; họ sẽ không cho phép, nếu có thể ngăn được, việc chuyển quyền kiểm soát quyền năng vô hạn này vào tay quần chúng, là những người mà nó thuộc về một cách chính đáng. Những quyền lợi ích kỷ trong số các cổ đông lớn, các công ty ngân hàng và các giáo hội có tổ chức giàu có sẽ chống lại mọi thay đổi, trừ phi sự thay đổi đó có lợi cho họ và mang thêm lợi lộc tài chính vào két bạc của họ.

Signs of this opposition can already be seen in the utterances of certain powerful men who are today encouraging a gloomy outlook in London and in Washington and elsewhere; the Vatican, that wealthy and reactionary ecclesiastical organisation, has already expressed its disfavour, because that Church knows—as do all the vested and monied interests—that their days are numbered, provided humanity governs its decisions during the next fifty years by the idea of the greatest good to the greatest number. World decisions must therefore, in the future, be based upon a steady determination to further right human relations and to prevent selfish control, financial or ecclesiastical, by any group of men, anywhere, in any country. We believe the determination of Great Britain, the United States, and Canada, who are in possession of the secrets, is along these lines.

Những dấu hiệu của sự chống đối này đã có thể thấy trong các phát biểu của một số người quyền lực hiện đang khuyến khích một cái nhìn ảm đạm tại Luân Đôn, tại Washington và ở nơi khác; Vatican, tổ chức giáo hội giàu có và phản động ấy, đã bày tỏ sự bất bình của mình, bởi vì Giáo hội đó biết—cũng như mọi quyền lợi cố hữu và tiền bạc đều biết—rằng ngày tàn của họ đã được đếm, miễn là nhân loại điều hành các quyết định của mình trong năm mươi năm tới bằng ý tưởng về điều thiện lớn nhất cho số đông nhất. Vì vậy, trong tương lai, các quyết định thế giới phải được đặt trên nền tảng của một quyết tâm bền bỉ nhằm thúc đẩy các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và ngăn chặn sự kiểm soát ích kỷ, về tài chính hay giáo hội, bởi bất kỳ nhóm người nào, ở bất cứ đâu, trong bất kỳ quốc gia nào. Chúng tôi tin rằng quyết tâm của Anh Quốc, Hoa Kỳ và Canada, là những nước đang nắm giữ các bí mật này, đang đi theo những đường hướng đó.

These few suggestions will give you much food for thought and real ground for happy, confident, forward thinking. [500] Organise now for the goodwill work. The future of the world lies in the hands of the men of goodwill and in those who have unselfish purpose everywhere. This release of energy will eventually make money, as we know it, of no moment whatsoever; money has proved itself (owing to man’s limitations) a producer of evil and the sower of dissension and discontent in the world. This new released energy can prove itself a “saving force” for all mankind, releasing from poverty, ugliness, degradation, slavery and despair; it will destroy the great monopolies, take the curse out of labour, and open the door into that golden age for which all men wait. It will level all the artificial layers of modern society and liberate men from the constant anxiety and gruelling toil which have been responsible for so much disease and death. When these new and better conditions are established, then men will be free to live and move in beauty and to seek the “Lighted Way.”

Vài gợi ý này sẽ cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm và nền tảng thực sự cho tư duy vui tươi, tự tin và hướng tới phía trước. [500] Hãy tổ chức ngay bây giờ cho công việc thiện chí. Tương lai của thế giới nằm trong tay những người thiện chí và trong tay những ai có mục đích vô ngã ở khắp nơi. Sự giải phóng năng lượng này cuối cùng sẽ khiến tiền bạc, như chúng ta biết, hoàn toàn không còn quan trọng; tiền bạc đã chứng tỏ chính nó (do những giới hạn của con người) là kẻ sản sinh điều ác và là kẻ gieo rắc bất hòa cùng bất mãn trong thế giới. Năng lượng mới được giải phóng này có thể chứng tỏ chính nó là một “mãnh lực cứu rỗi” cho toàn thể nhân loại, giải thoát khỏi nghèo đói, xấu xí, suy đồi, nô lệ và tuyệt vọng; nó sẽ phá hủy các độc quyền lớn, cất bỏ lời nguyền khỏi lao động, và mở cánh cửa vào kỷ nguyên hoàng kim mà mọi người đang chờ đợi. Nó sẽ san bằng mọi tầng lớp nhân tạo của xã hội hiện đại và giải phóng con người khỏi nỗi lo âu thường trực và sự lao nhọc kiệt quệ vốn đã gây ra quá nhiều bệnh tật và cái chết. Khi những điều kiện mới và tốt đẹp hơn này được thiết lập, khi ấy con người sẽ được tự do sống và vận động trong vẻ đẹp và tìm kiếm “Con Đường được Soi Sáng.”

SECTION FOUR — STAGES IN THE EXTERNALISATION OF THE HIERARCHY—PHẦN BỐN — CÁC GIAI ĐOẠN TRONG SỰ HIỂN LỘ của Thánh đoàn

THE SUBJECTIVE BASIS OF THE NEW WORLD RELIGION—NỀN TẢNG CHỦ QUAN CỦA TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI

December 1919

Tháng Mười Hai 1919

Introductory Statements

Những Phát Biểu Mở Đầu

[502] Those thoughtforms which will materialise as the religion of the New Age already exist on the mental plane and are in process of precipitation upon the physical plane. Their lineaments can already be discerned. The wise Guides of the race, working under the Christ and having in view the need of the public for a form, seek at this time to hold just as much as may be of the old form and lineaments, as much, that is, as is consistent with evolution and progress. In the West, what the Great Ones seek to break is not the form of Christianity but the grip of the Churches on the minds of the masses. The old forms of thought and of interpretation are now too restricted and too tightening in their hold upon the imprisoned and struggling life. That life must break forth. It cannot be confined by the ancient restrictions. Yet at this time there does not exist the need for an utterly new venture or for an entirely new presentation of truth. Nature and evolution move with gentle gradations and not with breaks and uncorrelated manifestations in the world of forms. In all the progressing developments, the old outlines can be seen—enlarged, purified and more beautiful, yet recognisable as the old form on a higher turn of the spiral. It is not the freak cults, nor the widely divergent sects, nor the bands of advanced religious revolutionaries who can meet the crying need of the many enquirers today. What is required is the re-vivification of the [503] old forms, and their infusion with fresh life; the old organisations must be awakened to the hour of opportunity and must change from static organisations to living organisms. The old rituals must be revived and brought up to date (in the esoteric sense of the word) and the religious students of the world must be graduated into a higher school, given the occult interpretations, and taught that, after all, the truth has been present all the time, but hidden and misinterpreted.

[502] Những hình tư tưởng sẽ hiện hình thành tôn giáo của Kỷ Nguyên Mới đã hiện hữu trên cõi trí và đang trong tiến trình ngưng tụ xuống cõi hồng trần. Các đường nét của chúng đã có thể được phân biện. Các Đấng Hướng Đạo minh triết của nhân loại, làm việc dưới quyền Đức Christ và lưu tâm đến nhu cầu của công chúng đối với một hình tướng, hiện đang tìm cách giữ lại càng nhiều càng tốt hình thức và đường nét cũ, nghĩa là giữ lại chừng nào còn phù hợp với tiến hoá và tiến bộ. Ở phương Tây, điều mà Các Đấng Cao Cả tìm cách phá vỡ không phải là hình thức của Cơ Đốc giáo mà là sự kìm giữ của các Giáo hội trên trí tuệ của quần chúng. Những hình thức tư tưởng và diễn giải cũ nay đã quá hạn hẹp và quá siết chặt trong sự nắm giữ của chúng đối với sự sống bị giam cầm và đang vật lộn. Sự sống đó phải bùng vỡ ra. Nó không thể bị giam giữ bởi những hạn chế cổ xưa. Tuy nhiên, vào lúc này không có nhu cầu cho một cuộc phiêu lưu hoàn toàn mới hay cho một sự trình bày chân lý hoàn toàn mới. Bản chất và tiến hoá vận động bằng những cấp độ nhẹ nhàng chứ không bằng những đứt đoạn và những biểu hiện không tương quan trong thế giới hình tướng. Trong mọi phát triển đang tiến triển, vẫn có thể thấy những đường nét cũ—được mở rộng, thanh lọc và đẹp hơn, nhưng vẫn có thể nhận ra là hình thức cũ ở một vòng xoắn cao hơn. Không phải các giáo phái kỳ quặc, cũng không phải các tông phái quá dị biệt, cũng không phải các nhóm những nhà cách mạng tôn giáo cấp tiến là những người có thể đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của nhiều người đang tìm hiểu ngày nay. Điều cần thiết là sự phục sinh của [503] các hình thức cũ, và sự thấm nhuần chúng bằng sự sống mới; các tổ chức cũ phải được đánh thức trước giờ cơ hội và phải thay đổi từ những tổ chức tĩnh tại thành những cơ thể sống động. Các nghi lễ cũ phải được phục hưng và cập nhật (theo nghĩa huyền bí của từ này) và các đạo sinh tôn giáo của thế giới phải được tốt nghiệp vào một trường học cao hơn, được trao cho các diễn giải huyền bí, và được dạy rằng rốt cuộc chân lý đã luôn hiện diện ở đó, nhưng bị che giấu và bị diễn giải sai.

It is surely easier to swing the masses into step and give them the newer light of truth if that light is poured on to familiar ground. All must be given the chance to see and hear, and be offered the opportunity to weigh and judge the significance of reality. It is not just the two or three of supreme importance, or who have the nerve to take the needed forward steps, who must receive prime consideration, but the truth must be stepped down and adapted in such a way that the advanced minds, the enquiring minds, and the reactionary masses may have opportunity proffered them, to the measure of their receptivity. Did not the greatest of all the Great Ones do this Himself in the synagogue and with His disciples in Judean days?

Chắc chắn sẽ dễ hơn để đưa quần chúng bước đều và trao cho họ ánh sáng chân lý mới hơn nếu ánh sáng đó được rót xuống trên nền đất quen thuộc. Tất cả phải được trao cơ hội để thấy và nghe, và được cung cấp cơ hội để cân nhắc và phán đoán ý nghĩa của thực tại. Không chỉ hai hay ba người có tầm quan trọng tối cao, hay những người có thần kinh đủ mạnh để thực hiện những bước tiến cần thiết, mới phải được xem xét trước tiên, mà chân lý phải được hạ thấp xuống và thích ứng theo cách sao cho các trí tuệ tiến bộ, các trí tuệ tìm hiểu, và quần chúng phản động đều được trao cơ hội, tùy theo mức độ tiếp nhận của họ. Chẳng phải Đấng vĩ đại nhất trong tất cả các Đấng Cao Cả đã tự mình làm điều này trong hội đường và với các đệ tử của Ngài vào những ngày ở xứ Judea đó sao?

The aspirants and disciples of the world must realise that the hour has struck, and that the forces of the Christ are being marshalled for a supreme endeavour. These forces include both the human and the angel evolutions. It might be of use if I were to give you some idea of the scheme of preparation for the transition period between the old age and the new as it is in process of completion in the Council Chamber of the Great Lord. Your acceptance and understanding of it and of its symbolic implications are dependent upon your capacity to assimilate truth, to use your intuition, and thus to assist in the work itself when the right time comes.

Những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới phải nhận ra rằng giờ đã điểm, và rằng các lực lượng của Đức Christ đang được tập hợp cho một nỗ lực tối thượng. Các lực lượng này bao gồm cả hai cuộc tiến hoá nhân loại và thiên thần. Sẽ hữu ích nếu tôi cho bạn một vài ý niệm về kế hoạch chuẩn bị cho thời kỳ chuyển tiếp giữa kỷ nguyên cũ và kỷ nguyên mới như nó đang được hoàn tất trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Vĩ Đại. Sự chấp nhận và thấu hiểu của bạn về nó và về các hàm ý biểu tượng của nó tùy thuộc vào khả năng đồng hóa chân lý, sử dụng trực giác của bạn, và nhờ đó trợ giúp trong chính công việc ấy khi thời điểm thích hợp đến.

One event is already in process of manifesting. The Christ and His disciples, the Masters of Wisdom and the Great Companions, are approaching nearer to the physical plane. The work of mental preparation for that event, and [504] the construction of the thoughtform of the advent or second Coming, has now been completed. There remains the precipitation of that event, its appearance on astral levels and its materialisation on the physical plane. I would ask all of you who read these words anent the second Coming, to reserve opinion as to the exact nature of that event. Keep the concept impersonal and link not that appearance to a personality or to an individual. If you make the mistake of attaching the meaning to an individual, you will limit your understanding and fail in right recognition of group purpose. The work of pouring out the principle of love (which is the Christ principle) and of lifting the masses in their consciousness to the pitch where they can understand and welcome that love-principle is the main work of the new age, and it will inaugurate the age of brotherhood and mould humanity into the likeness of the Christ. That the oriental peoples may call this great Official by another name than that of “The Christ” has no bearing on reality and alters not the fact of His influence and His esoteric coming.

Một biến cố đã đang trong tiến trình biểu hiện. Đức Christ và các đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh triết và các Đại Đồng Hành, đang tiến gần hơn đến cõi hồng trần. Công việc chuẩn bị về mặt trí tuệ cho biến cố đó, và [504] việc kiến tạo hình tư tưởng về cuộc giáng lâm hay lần Đến thứ hai, nay đã hoàn tất. Điều còn lại là sự ngưng tụ của biến cố đó, sự xuất hiện của nó trên các cấp độ cảm dục và sự hiện hình của nó trên cõi hồng trần. Tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn, những người đọc những lời này liên quan đến lần Đến thứ hai, hãy giữ lại ý kiến về bản chất chính xác của biến cố đó. Hãy giữ khái niệm ấy ở trạng thái phi cá nhân và đừng liên kết sự xuất hiện đó với một phàm ngã hay một cá nhân. Nếu bạn phạm sai lầm khi gắn ý nghĩa ấy vào một cá nhân, bạn sẽ giới hạn sự thấu hiểu của mình và thất bại trong việc nhận ra đúng mục đích nhóm. Công việc tuôn đổ nguyên khí bác ái (là nguyên khí Christ) và nâng quần chúng trong tâm thức của họ lên đến mức họ có thể thấu hiểu và hoan nghênh nguyên khí bác ái đó là công việc chính của kỷ nguyên mới, và nó sẽ khai mở kỷ nguyên huynh đệ và nhào nặn nhân loại theo hình ảnh của Đức Christ. Việc các dân tộc phương Đông có thể gọi vị Đại Chức Sắc này bằng một tên khác thay vì “Đức Christ” không ảnh hưởng gì đến thực tại và không làm thay đổi sự kiện về ảnh hưởng của Ngài và sự đến một cách huyền bí của Ngài.

Certain of the Masters have the work under Their control, and through Their grouped disciples are already actively engaged in the work of preparation. The Master Morya, the Master K.H. and the Master Jesus are the three working at this time in closest cooperation with the Christ. With them work the Master Hilarion, He Whom you call the Master D.K., and another Master Who is specially linked with the work of preparation in the sacred land of India. One of the English Masters is also exceptionally active, and the Master in America is laying His plans toward an active participation in the work. These consecrated Workers form a nucleus around the Christ and direct much of the preparatory work. It is not possible for me to tell you the lines of Their activity; I can but give you evidence which may later he demonstrated as true. These Masters are definitely preparing Themselves for the task of outer activity and are intensifying Their work on the astral plane. To this fact can be traced the interest people are now showing in occultism and in the work of the Masters; more and more people [505] are becoming sensitive to and conscious of Their presence, and more and more are finding their way into the groups of disciples.

Một số Chân sư đang kiểm soát công việc này, và thông qua các nhóm đệ tử của Các Ngài, các Ngài đã tích cực tham gia vào công việc chuẩn bị. Chân sư Morya, Chân sư K.H. và Chân sư Jesus là ba vị hiện đang làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ nhất với Đức Christ. Cùng làm việc với các Ngài có Chân sư Hilarion, Đấng mà bạn gọi là Chân sư DK, và một Chân sư khác có liên hệ đặc biệt với công việc chuẩn bị tại thánh địa Ấn Độ. Một trong các Chân sư người Anh cũng đặc biệt hoạt động, và Chân sư tại Mỹ đang hoạch định kế hoạch của Ngài để tham gia tích cực vào công việc. Những Người Hoạt Động được thánh hiến này tạo thành một hạt nhân quanh Đức Christ và chỉ đạo phần lớn công việc chuẩn bị. Tôi không thể nói cho bạn biết các đường lối hoạt động của Các Ngài; tôi chỉ có thể đưa ra cho bạn những bằng chứng mà về sau có thể được chứng minh là đúng. Những Chân sư này đang chuẩn bị rõ rệt cho nhiệm vụ hoạt động bên ngoài và đang tăng cường công việc của Các Ngài trên cõi cảm dục. Chính từ sự kiện này mà có thể truy nguyên mối quan tâm mà con người hiện đang biểu lộ đối với huyền bí học và công việc của các Chân sư; ngày càng nhiều người [505] trở nên nhạy cảm với và hữu thức về sự hiện diện của Các Ngài, và ngày càng nhiều người tìm được đường vào các nhóm đệ tử.

The Master Morya is at this time acting as the inspirer of the great national executives throughout the world. E’en those whose ideals coincide not with yours are being welded into the world plan, and much of their immediate work is organising the individual nations and welding them into an homogeneous whole, preparatory to their entrance into the great international thoughtform. All who work with far vision and all who hold before any seething and bewildered nation an ideal for the whole are under His wide inspiration. Internationalism is the aim of His endeavour. With Him works the great Angel or Deva of the spiritual plane, referred to in the Treatise on Cosmic Fire as the Lord Agni; He seeks to touch with the hidden spiritual fire the head centres of all intuitive statesmen. Three great groups of angels—the gold, the flame coloured and the white and gold—work on mental levels with those lesser angels or devas who vitalise thoughtforms and who keep alive the thoughts of the Guides of the race for the benefit of humanity.

Chân sư Morya hiện đang hành động như nguồn cảm hứng cho các nhà điều hành quốc gia lớn trên khắp thế giới. Ngay cả những người có lý tưởng không trùng với lý tưởng của bạn cũng đang được hàn gắn vào kế hoạch thế giới, và phần lớn công việc trước mắt của họ là tổ chức các quốc gia riêng lẻ và hàn gắn chúng thành một toàn thể đồng nhất, chuẩn bị cho việc họ bước vào hình tư tưởng quốc tế vĩ đại. Tất cả những ai làm việc với tầm nhìn xa và tất cả những ai giữ trước một quốc gia đang sôi sục và hoang mang một lý tưởng cho toàn thể đều ở dưới nguồn cảm hứng rộng lớn của Ngài. Chủ nghĩa quốc tế là mục tiêu của nỗ lực của Ngài. Cùng làm việc với Ngài là vị Thiên Thần hay deva vĩ đại của cõi tinh thần, được nhắc đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ là Chúa Agni; vị này tìm cách chạm bằng ngọn lửa tinh thần ẩn tàng vào các trung tâm đầu của mọi chính khách trực giác. Ba nhóm thiên thần lớn—màu vàng, màu lửa và trắng-vàng—làm việc trên các cấp độ trí tuệ với những thiên thần hay deva nhỏ hơn, là những vị tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng và giữ cho các tư tưởng của các Đấng Hướng Đạo của nhân loại luôn sống động vì lợi ích của nhân loại.

The Master K.H., the Chohan on the teaching ray and He Who will be the next world teacher, is already active in His line of endeavour. He is attempting to transmute the thoughtform of religious dogma, to permeate the churches with the idea of the Coming, and bring to a sorrowing world the vision of the Great Helper, the Christ. He works with the rose devas and with the blue devas on astral levels, with the wise help of the great guardian Angel of that plane, called (in Hindu terminology) the Lord Varuna. The activity of the astral plane is being much intensified and the angels of devotion, in whom the aspect of divine love is pre-eminent, work with the astral bodies of all those who are ready to strengthen and redirect their spiritual aspiration and desire. They are the angels who guard the sanctuaries of all the churches, cathedrals, temples and mosques of the world. They are now increasing the momentum of their vibration for the raising of the consciousness of the attendant [506] congregations. The Master K.H. works also with the prelates of the great Catholic Churches—Greek, Roman and Anglican—with the leaders of the Protestant communions, with the foremost workers in the field of education, and also through, and with, the dominant demagogues and organisers of the people. His interests lie with all those who, with unselfish intent, strive after the ideal, and who live for the helping of others.

Chân sư K.H., vị Chohan trên cung giáo huấn và là Đấng sẽ là Đức Chưởng Giáo kế tiếp, đã đang hoạt động trong đường lối nỗ lực của Ngài. Ngài đang cố gắng chuyển hoá hình tư tưởng của giáo điều tôn giáo, thấm nhuần các giáo hội bằng ý niệm về Đấng Đang Đến, và mang đến cho một thế giới đau khổ linh ảnh về Đấng Đại Phụ Trợ, Đức Christ. Ngài làm việc với các deva màu hồng và các deva màu lam trên các cấp độ cảm dục, với sự trợ giúp minh triết của vị Thiên Thần hộ vệ vĩ đại của cõi đó, được gọi (theo thuật ngữ Ấn giáo) là Chúa Varuna. Hoạt động của cõi cảm dục đang được tăng cường rất nhiều và các thiên thần của lòng sùng tín, nơi họ phương diện bác ái thiêng liêng là nổi trội, đang làm việc với các thể cảm dục của tất cả những ai sẵn sàng tăng cường và tái định hướng khát vọng cùng dục vọng tinh thần của mình. Họ là những thiên thần canh giữ các thánh điện của mọi giáo hội, đại giáo đường, đền thờ và thánh đường Hồi giáo trên thế giới. Hiện nay họ đang gia tăng động lượng rung động của mình để nâng cao tâm thức của các hội chúng [506] tham dự. Chân sư K.H. cũng làm việc với các giáo phẩm của các Giáo hội Công giáo lớn—Hy Lạp, La Mã và Anh giáo—với các nhà lãnh đạo của các cộng đồng Tin Lành, với những người hoạt động hàng đầu trong lĩnh vực giáo dục, và cũng thông qua, và cùng với, các nhà mị dân và tổ chức quần chúng có thế lực. Mối quan tâm của Ngài hướng đến tất cả những ai, với ý định vô ngã, phấn đấu theo lý tưởng, và sống để giúp đỡ người khác.

The Master Jesus works especially with the masses of the Christian people who inhabit the occidental countries, and who gather in the churches. He is distinctively a great leader, an organiser, and a wise general executive. A special group of devas work under His command, and His connection with all true church leaders and executives is very close. He acts ceaselessly on the inner esoteric council of the churches, and with Him the groups of violet angels cooperate. In church matters He Himself carries out the behests of the Christ, saving Him much and working as His intermediary. This will seem logical to you, for His destiny is closely interwoven with the Christian Church and it marks the culmination of His work for the West. No one knows or understands so fully and wisely as He the problems of the Western culture, nor the needs of the people who carry forward the destiny of Christianity.

Chân sư Jesus làm việc đặc biệt với quần chúng tín đồ Cơ Đốc sống tại các quốc gia phương Tây và tụ họp trong các giáo hội. Ngài rõ rệt là một nhà lãnh đạo lớn, một nhà tổ chức, và một nhà điều hành tổng quát minh triết. Một nhóm deva đặc biệt làm việc dưới quyền chỉ huy của Ngài, và mối liên hệ của Ngài với mọi nhà lãnh đạo và điều hành giáo hội chân chính là rất chặt chẽ. Ngài hoạt động không ngừng trong hội đồng nội môn bên trong của các giáo hội, và cùng với Ngài các nhóm thiên thần tím hợp tác. Trong các vấn đề của giáo hội, chính Ngài thực hiện các mệnh lệnh của Đức Christ, giúp Ngài đỡ nhiều việc và hoạt động như trung gian của Ngài. Điều này sẽ có vẻ hợp lý đối với bạn, vì định mệnh của Ngài gắn bó chặt chẽ với Giáo hội Cơ Đốc và nó đánh dấu sự viên mãn công việc của Ngài cho phương Tây. Không ai biết hay thấu hiểu đầy đủ và minh triết như Ngài các vấn đề của nền văn hóa phương Tây, cũng như các nhu cầu của những người đang tiếp tục vận mệnh của Cơ Đốc giáo.

The Master Hilarion is actively occupied in the field of America, stimulating the intuitive perception of its people. He has under observation all those who are true psychics, and who develop their powers for the good of the community. He controls and transmutes the great active movements which endeavour to strip the veil from the world of the unseen. He impresses the minds of those whose vision will justify His effort. And He has much to do with various psychical research movements throughout the world. With the aid of certain groups of angels, He works to open up the world of departed souls to the seeker, and much that has of late convinced the materialistic world of life beyond has emanated from Him.

Chân sư Hilarion đang tích cực bận rộn trong lĩnh vực của nước Mỹ, kích thích sự nhận thức trực giác của dân chúng nơi đó. Ngài đang quan sát tất cả những ai là người thông linh chân chính, và phát triển các quyền năng của họ vì lợi ích của cộng đồng. Ngài kiểm soát và chuyển hoá các phong trào hoạt động lớn đang cố gắng vén bức màn khỏi thế giới vô hình. Ngài gây ấn tượng lên trí tuệ của những người mà tầm nhìn của họ sẽ biện minh cho nỗ lực của Ngài. Và Ngài có liên hệ nhiều với các phong trào nghiên cứu thông linh khác nhau trên khắp thế giới. Với sự trợ giúp của một số nhóm thiên thần, Ngài làm việc để mở ra thế giới của các linh hồn đã ra đi cho người tìm kiếm, và phần lớn những gì gần đây đã thuyết phục thế giới duy vật về sự sống bên kia đều phát xuất từ Ngài.

He Whom you call the Master D.K. works much with [507] those who heal with pure altruism; He occupies Himself with those who are active in the laboratories of the world, with great philanthropic world movements such as the Red Cross, and with the rapidly developing welfare movements. His work also embraces teaching, and He does much at this time to train the various disciples of the world, taking the disciples of many of the Masters and so relieving Them temporarily, in this hour of crisis, from Their teaching responsibilities. Many of the healing angels, such as those referred to in the Bible, cooperate with Him.

Đấng mà bạn gọi là Chân sư DK làm việc nhiều với [507] những người chữa lành bằng lòng vị tha thuần khiết; Ngài bận tâm với những người đang hoạt động trong các phòng thí nghiệm của thế giới, với các phong trào từ thiện thế giới lớn như Hội Hồng Thập Tự, và với các phong trào phúc lợi đang phát triển nhanh chóng. Công việc của Ngài cũng bao gồm việc giảng dạy, và hiện nay Ngài làm nhiều việc để huấn luyện các đệ tử khác nhau trên thế giới, tiếp nhận các đệ tử của nhiều Chân sư và nhờ đó tạm thời giải phóng Các Ngài, trong giờ khủng hoảng này, khỏi các trách nhiệm giảng dạy của mình. Nhiều thiên thần chữa lành, như những vị được nhắc đến trong Kinh Thánh, hợp tác với Ngài.

The Master Who works in and for India labours with the minds of the politicians, educators and religious dreamers and idealists. He strengthens the efforts of all those who work for the liberation of the submerged masses, provided their methods are constructive and not destructive, and that the gains desired are not furthered at the expense of any part of the human family. He labours not to exalt one section of the populace at the expense of another, but works towards brotherhood and the right understanding of the requirements of all souls, be they far advanced along the path, or just starting upon their planetary pilgrimage under the Law of Rebirth.

Chân sư làm việc trong và cho Ấn Độ lao động với trí tuệ của các chính khách, các nhà giáo dục và các nhà mơ mộng tôn giáo cùng các nhà lý tưởng. Ngài tăng cường các nỗ lực của tất cả những ai làm việc cho sự giải phóng các quần chúng bị dìm xuống, miễn là phương pháp của họ có tính xây dựng chứ không phá hoại, và những thành quả mong muốn không được thúc đẩy bằng cái giá phải trả của bất kỳ phần nào trong gia đình nhân loại. Ngài không lao động để tôn cao một bộ phận dân chúng này bằng cái giá của bộ phận khác, mà làm việc hướng tới tình huynh đệ và sự thấu hiểu đúng đắn các nhu cầu của mọi linh hồn, dù họ đã tiến rất xa trên đường đạo hay chỉ mới bắt đầu cuộc hành hương hành tinh của mình dưới Định luật Tái Sinh.

One of the English Masters has in hand the definite guidance of the Anglo-Saxon peoples towards a joint destiny. The future for the Anglo-Saxon is great and not yet has the highest flow of the tide of its civilisation been reached. History holds much glory for England and America when they work together for world good, not supplanting each other or interfering with each other’s empire but working in the fullest unison for the preservation of the peace of the world and the right handling of world problems in the field of economics and of education.

Một trong các Chân sư người Anh đang nắm trong tay sự hướng dẫn rõ rệt các dân tộc Anglo-Saxon hướng tới một định mệnh chung. Tương lai của người Anglo-Saxon là vĩ đại và đỉnh triều cao nhất của nền văn minh của họ vẫn chưa đạt đến. Lịch sử còn giữ nhiều vinh quang cho nước Anh và nước Mỹ khi họ cùng làm việc vì thiện ích thế giới, không thay thế nhau hay can thiệp vào đế quốc của nhau mà làm việc trong sự nhất trí trọn vẹn nhất để bảo tồn hòa bình thế giới và xử lý đúng đắn các vấn đề thế giới trong lĩnh vực kinh tế và giáo dục.

As the seventh Ray of Organisation and of ceremonial work is now coming into prominence and manifestation, the work of the Master on that ray is that of synthesising, on the physical plane, all parts of the plan. The Master Rakoczi takes of the general plan as it is outlined in the inner Council Chamber and approximates it to the possible. [508] He might be regarded as acting as the General Manager for the carrying out of the plans of the executive council of the Christ.

Vì cung bảy của Tổ chức và công việc nghi lễ hiện đang trở nên nổi bật và biểu hiện, nên công việc của Chân sư trên cung đó là tổng hợp, trên cõi hồng trần, mọi phần của kế hoạch. Chân sư Rakoczi tiếp nhận kế hoạch tổng quát như nó được phác thảo trong Phòng Hội Đồng bên trong và đưa nó đến gần với điều khả thi. [508] Có thể xem Ngài như đang hành động như Tổng Quản Lý cho việc thực hiện các kế hoạch của hội đồng điều hành của Đức Christ.

It might be of interest here to point out that when He comes Whom angels and men await, and Whose work it is to inaugurate the new age and so complete the work He began in Palestine two thousand years ago, He will bring with Him some of the great Angels, as well as certain of the Masters. The angels have ever been active in Biblical history, and will again enter into the lives of human beings with more power than has lately been the case. The call has gone out for them again to approach humanity, and with their heightened vibration and superior knowledge unite their forces with those of the Christ and His disciples for the helping of the race. They have, for instance, much to communicate anent colour and sound, and the effect of these two forces on the etheric bodies of men and animals and flowers. When what they have to impart is apprehended by the race, physical ills and sickness will be offset. The group of violet angels or devas who work on the four etheric levels will be especially active and they will work in the four main groups of men who are in incarnation at any given time. Four rays dominate at any period, with one of the four more potent than the other three. You have this idea symbolised in the four castes in India and you will find also that these four castes are found universally throughout the planet.

Ở đây, có thể sẽ thú vị nếu chỉ ra rằng khi Đấng mà thiên thần và loài người chờ đợi đến, và công việc của Ngài là khai mở kỷ nguyên mới và nhờ đó hoàn tất công việc Ngài đã bắt đầu tại Palestine hai ngàn năm trước, Ngài sẽ mang theo với Ngài một số Đại Thiên Thần, cũng như một số Chân sư. Các thiên thần từ lâu đã hoạt động trong lịch sử Kinh Thánh, và sẽ lại đi vào đời sống của con người với quyền năng lớn hơn so với thời gian gần đây. Lời kêu gọi đã được gửi đến họ một lần nữa để tiến gần nhân loại, và với rung động được nâng cao cùng tri thức vượt trội của mình, hợp nhất các mãnh lực của họ với các mãnh lực của Đức Christ và các đệ tử của Ngài để trợ giúp nhân loại. Chẳng hạn, họ có nhiều điều để truyền đạt liên quan đến màu sắc và âm thanh, và tác động của hai mãnh lực này lên các thể dĩ thái của người, thú và hoa. Khi điều họ phải truyền đạt được nhân loại lĩnh hội, các bệnh tật hồng trần sẽ được hóa giải. Nhóm các thiên thần tím hay deva làm việc trên bốn cấp độ dĩ thái sẽ đặc biệt hoạt động và họ sẽ làm việc trong bốn nhóm chính của loài người đang lâm phàm vào bất kỳ thời điểm nào. Bốn cung chi phối trong bất kỳ thời kỳ nào, với một trong bốn cung mạnh hơn ba cung kia. Bạn có ý niệm này được biểu tượng hóa trong bốn đẳng cấp ở Ấn Độ và bạn cũng sẽ thấy rằng bốn đẳng cấp này hiện diện phổ quát trên khắp hành tinh.

These four groups of angels are a band of servers, pledged to the service of the Christ, and their work is to contact men and to teach them along certain lines.

Bốn nhóm thiên thần này là một đoàn phụng sự, đã thệ nguyện phụng sự Đức Christ, và công việc của họ là tiếp xúc với con người và dạy họ theo một số đường lối nhất định.

a. They will teach humanity to see etherically, and this they will do by heightening human vibration by interaction with their own.

a. Họ sẽ dạy nhân loại thấy bằng dĩ thái, và họ sẽ làm điều này bằng cách nâng cao rung động của con người qua sự tương tác với rung động của chính họ.

b. They will give instruction in the effect of colour in the healing of disease, and particularly the efficiency of violet light in lessening human ills and in curing those physical plane sicknesses which originate in the etheric body. [509]

b. Họ sẽ chỉ dạy về tác động của màu sắc trong việc chữa bệnh, và đặc biệt là hiệu quả của ánh sáng tím trong việc làm giảm các bệnh tật của con người và chữa trị những chứng bệnh cõi hồng trần bắt nguồn trong thể dĩ thái. [509]

c. They will also demonstrate to the materialistic thinkers of the world the fact that the superconscious world exists and that angels and men who are out of incarnation and possess no physical bodies can be contacted and known.

c. Họ cũng sẽ chứng minh cho các nhà tư tưởng duy vật của thế giới sự kiện rằng thế giới siêu thức có tồn tại và rằng các thiên thần và những người không còn lâm phàm và không có thể xác có thể được tiếp xúc và nhận biết.

d. They will train human beings in the knowledge of superhuman physics so that weight shall be for them transmuted. Motion will become more rapid, speed will be accompanied by noiselessness and smoothness, and hence fatigue will be eliminated. In the human control of etheric levels lies the overcoming of fatigue and the power to transcend time. Until this prophecy is a fact and recognised as such, the meaning of the above words will remain obscure.

d. Họ sẽ huấn luyện con người trong tri thức về vật lý siêu nhân để trọng lượng được chuyển hoá đối với họ. Chuyển động sẽ trở nên nhanh hơn, tốc độ sẽ đi kèm với sự không tiếng động và êm ái, và vì thế sự mệt mỏi sẽ bị loại bỏ. Trong việc con người kiểm soát các cấp độ dĩ thái có sự vượt thắng mệt mỏi và quyền năng siêu vượt thời gian. Cho đến khi lời tiên tri này trở thành sự kiện và được nhìn nhận như vậy, ý nghĩa của những lời trên sẽ vẫn còn tối nghĩa.

e. They will teach humanity how rightly to nourish the body and to draw from the surrounding ethers the requisite food. Man will concentrate his attention upon the etheric body and the work and health of the physical body will become increasingly automatic.

e. Họ sẽ dạy nhân loại cách nuôi dưỡng thể xác một cách đúng đắn và rút từ các dĩ thái xung quanh thức ăn cần thiết. Con người sẽ tập trung sự chú ý của mình vào thể dĩ thái và công việc cùng sức khỏe của thể xác sẽ ngày càng trở nên tự động.

f. They will also teach human beings as individuals and as a race to expand their consciousness to include the superphysical. In the accomplishment of this, the separating web (the veil of the temple) which divides the physical plane from the unseen world will be recognised as a fact in nature by the scientist. Its purpose will be acknowledged. Eventually it will be destroyed, by man discovering how to penetrate it. The date is imminent.

f. Họ cũng sẽ dạy con người, với tư cách cá nhân và như một nhân loại, mở rộng tâm thức của mình để bao gồm cái siêu hồng trần. Trong việc hoàn thành điều này, tấm màng ngăn cách (bức màn của ngôi đền) chia cắt cõi hồng trần với thế giới vô hình sẽ được nhà khoa học nhìn nhận như một sự kiện trong bản chất. Mục đích của nó sẽ được thừa nhận. Cuối cùng nó sẽ bị phá hủy, nhờ con người khám phá ra cách xuyên qua nó. Ngày đó đã cận kề.

Through the increasing sensitivity of men and through the steady thinning of the separating veil, more and more during the coming years will the telepathic faculties of men and their power to respond to inner inspiration be developed and demonstrated. By the growth of intuitional telepathy and the increasing comprehension of the power of colour and sound will the work of the Christ and of the Great Ones be contacted and understood, and the peoples released from the thraldom of the past and enabled to enter into the liberty of the Kingdom of God. [510]

Thông qua sự nhạy cảm ngày càng tăng của con người và thông qua sự mỏng dần đều đặn của bức màn ngăn cách, trong những năm sắp tới, các năng lực viễn cảm của con người và quyền năng đáp ứng với cảm hứng bên trong của họ sẽ ngày càng được phát triển và chứng minh. Nhờ sự tăng trưởng của viễn cảm trực giác và sự thấu hiểu ngày càng tăng về quyền năng của màu sắc và âm thanh mà công việc của Đức Christ và của Các Đấng Cao Cả sẽ được tiếp xúc và thấu hiểu, và các dân tộc sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của quá khứ và được giúp đi vào tự do của Thiên Giới. [510]

Religious Organisations in the New Age

Các Tổ Chức Tôn Giáo trong Kỷ Nguyên Mới

Let us now return to our consideration of the spread of the deepened religious ideals and the growth of the new religious organisms. In the process of transmuting the old form and so releasing the imprisoned life, there are two things which are steadily held in view by the Guides of our evolution:

Giờ đây chúng ta hãy trở lại với việc xem xét sự lan rộng của các lý tưởng tôn giáo được đào sâu và sự tăng trưởng của các cơ thể tôn giáo mới. Trong tiến trình chuyển hoá hình thức cũ và nhờ đó giải phóng sự sống bị giam cầm, có hai điều luôn được các Đấng Hướng Đạo của tiến hoá chúng ta giữ vững trong tầm nhìn:

First, that the general public serves or is dominated by the concrete mind and is unable to grasp abstractions. It is the form which matters to them the most, for they are conservative and cling to the familiar. The church is intended to serve the masses and is not intended to be of use (except as a field of service) to the esotericists of the world, for they heed not the form to the same extent, having contacted somewhat the inner compelling life.

Thứ nhất, công chúng nói chung phụng sự hay bị chi phối bởi trí cụ thể và không thể nắm bắt các điều trừu tượng. Đối với họ, hình thức là điều quan trọng nhất, vì họ bảo thủ và bám chặt vào cái quen thuộc. Giáo hội được dự định để phụng sự quần chúng và không được dự định để hữu ích (ngoại trừ như một lĩnh vực phụng sự) cho các nhà bí truyền học của thế giới, vì họ không chú ý đến hình thức ở cùng mức độ như vậy, do đã phần nào tiếp xúc được với sự sống cưỡng bách bên trong.

Secondly, the church movement, like all else, is but a temporary expedient and serves but as a transient resting place for the evolving life. Eventually, there will appear the Church Universal, and its definite outlines will appear towards the close of this century. In this connection, forget not the wise prophecy of H.P.B. as touching events at the close of this century. This Church will be nurtured into activity by the Christ and His disciples when the outpouring of the Christ principle, the true second Coming, has been accomplished. No date for the advent do I set, but the time will not be long.

Thứ hai, phong trào giáo hội, cũng như mọi thứ khác, chỉ là một phương tiện tạm thời và chỉ phụng sự như một nơi nghỉ chân thoáng qua cho sự sống đang tiến hoá. Cuối cùng, Giáo hội Phổ quát sẽ xuất hiện, và những đường nét rõ rệt của nó sẽ hiện ra vào gần cuối thế kỷ này. Trong mối liên hệ này, đừng quên lời tiên tri minh triết của H.P.B. liên quan đến các biến cố vào cuối thế kỷ này. Giáo hội này sẽ được Đức Christ và các đệ tử của Ngài nuôi dưỡng vào hoạt động khi lần tuôn đổ của nguyên khí Christ, tức lần Đến thứ hai chân chính, đã được hoàn thành. Tôi không ấn định ngày nào cho cuộc giáng lâm, nhưng thời gian sẽ không còn lâu.

The Christian church in its many branches can serve as a St. John the Baptist, as a voice crying in the wilderness, and as a nucleus through which world illumination may be accomplished. I indicate the hope. I do not assert a fact. Its work is intended to be the holding of a broad platform. The church must show a wide tolerance, and teach no revolutionary doctrines or cling to any reactionary ideas. The [511] church as a teaching factor should take the great basic doctrines and (shattering the old forms in which they are expressed and held) show their true and inner spiritual significance. The prime work of the church is to teach, and teach ceaselessly, preserving the outer appearance in order to reach the many who are accustomed to church usages. Teachers must be trained; Bible knowledge must be spread; the sacraments must be mystically interpreted, and the power of the church to heal must be demonstrated.

Giáo hội Cơ Đốc trong nhiều nhánh của nó có thể phụng sự như một Thánh John the Baptist, như một tiếng kêu trong hoang địa, và như một hạt nhân qua đó sự soi sáng thế giới có thể được hoàn thành. Tôi chỉ ra niềm hy vọng. Tôi không khẳng định một sự kiện. Công việc của nó được dự định là duy trì một nền tảng rộng lớn. Giáo hội phải biểu lộ sự khoan dung rộng rãi, và không dạy các giáo lý cách mạng cũng không bám chặt vào bất kỳ ý tưởng phản động nào. Giáo hội [511] với tư cách là một yếu tố giảng dạy nên tiếp nhận các giáo lý căn bản lớn và (phá vỡ những hình thức cũ trong đó chúng được diễn đạt và nắm giữ) chỉ ra ý nghĩa tinh thần chân thực và bên trong của chúng. Công việc chính của giáo hội là giảng dạy, và giảng dạy không ngừng, bảo tồn sắc tướng bên ngoài để tiếp cận số đông đã quen với các tập quán giáo hội. Các huấn sư phải được đào luyện; tri thức Kinh Thánh phải được truyền bá; các bí tích phải được diễn giải một cách thần bí, và quyền năng chữa lành của giáo hội phải được chứng minh.

The three main channels through which the preparation for the new age is going on might be regarded as the Church, the Masonic Fraternity and the educational field. All of them are as yet in relatively static condition, and all are as yet failing to meet the need and to respond to the inner pressure. But in all of these three movements, disciples of the Great Ones are to be found and they are steadily gathering momentum and will before long enter upon their designated task.

Ba kênh chính qua đó sự chuẩn bị cho kỷ nguyên mới đang diễn ra có thể được xem là Giáo hội, Huynh đệ Hội Tam Điểm và lĩnh vực giáo dục. Tất cả chúng hiện vẫn còn ở trong tình trạng tương đối tĩnh tại, và tất cả hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như chưa đáp ứng với áp lực bên trong. Nhưng trong cả ba phong trào này đều có thể tìm thấy các đệ tử của Các Đấng Cao Cả và họ đang đều đặn tích lũy động lượng và chẳng bao lâu nữa sẽ bước vào nhiệm vụ đã được chỉ định của mình.

The Masonic Movement when it can be divorced from politics and social ends and from its present paralysing condition of inertia, will meet the need of those who can, and should, wield power. It is the custodian of the law; it is the home of the Mysteries and the seat of initiation. It holds in its symbolism the ritual of Deity, and the way of salvation is pictorially preserved in its work. The methods of Deity are demonstrated in its Temples, and under the All-seeing Eye the work can go forward. It is a far more occult organisation than can be realised, and is intended to be the training school for the coming advanced occultists. In its ceremonials lies hid the wielding of the forces connected with the growth and life of the kingdoms of nature and the unfoldment of the divine aspects in man. In the comprehension of its symbolism will come the power to cooperate with the divine plan. It meets the need of those who work on the first Ray of Will or Power.

Phong Trào Tam Điểm, khi có thể được tách khỏi chính trị và các mục tiêu xã hội cùng khỏi tình trạng tê liệt hiện nay của tính trì trệ, sẽ đáp ứng nhu cầu của những người có thể, và nên, nắm giữ quyền lực. Nó là người gìn giữ định luật; nó là ngôi nhà của các Mầu Nhiệm và là trụ sở của điểm đạo. Nó nắm giữ trong biểu tượng học của mình nghi lễ của Thượng đế, và con đường cứu rỗi được bảo tồn bằng hình ảnh trong công việc của nó. Các phương pháp của Thượng đế được chứng minh trong các Đền của nó, và dưới Con Mắt Thấy Hết, công việc có thể tiến hành. Nó là một tổ chức huyền bí hơn nhiều so với điều có thể được nhận ra, và được dự định là trường đào luyện cho các nhà huyền bí học cấp tiến sắp đến. Trong các nghi lễ của nó ẩn giấu việc vận dụng các mãnh lực liên hệ với sự tăng trưởng và sự sống của các giới trong thiên nhiên và sự khai mở các phương diện thiêng liêng trong con người. Trong sự thấu hiểu biểu tượng học của nó sẽ đến quyền năng hợp tác với Thiên Cơ. Nó đáp ứng nhu cầu của những người làm việc trên Cung một của Ý Chí hay Quyền Lực.

The Church finds its mission in the helping of the devotee, in aiding the great public which is innately religious and of good will. It hides in its heart those who vibrate to [512] the great love ray, the second Ray of Love-Wisdom. Christ Himself works through it and by its means seeks to contact the vast Christian public. It is the leaven in His hands to leaven the whole lump, and being in a form comprehended by the people, it can touch the great masses of seeking souls.

Giáo hội tìm thấy sứ mệnh của mình trong việc trợ giúp người sùng tín, trong việc hỗ trợ công chúng rộng lớn vốn bẩm sinh có tính tôn giáo và thiện chí. Nó ẩn giấu trong lòng mình những người rung động theo [512] cung bác ái vĩ đại, cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Chính Đức Christ làm việc thông qua nó và bằng phương tiện của nó tìm cách tiếp xúc với công chúng Cơ Đốc rộng lớn. Nó là men trong tay Ngài để làm dậy cả khối bột, và vì ở trong một hình thức mà dân chúng có thể hiểu được, nó có thể chạm đến những quần chúng lớn của các linh hồn đang tìm kiếm.

By means of the educational work of the world, the Great Lord seeks to reach those of the intelligent public who cannot be reached by means of ceremonial and symbolism, as in Masonry, or by religious means and ritual, as in the Church. It touches the masses and those in whom the intelligence aspect predominates to the lessening of the other two aspects. It aids those men who are predominantly on the third Ray of Intelligent Activity.

Bằng phương tiện của công việc giáo dục của thế giới, Đức Chúa Tể Vĩ Đại tìm cách tiếp cận những người trong công chúng thông minh mà không thể được tiếp cận bằng nghi lễ và biểu tượng như trong Tam Điểm, hay bằng phương tiện tôn giáo và nghi thức như trong Giáo hội. Nó chạm đến quần chúng và những người trong đó phương diện trí tuệ chiếm ưu thế đến mức làm giảm bớt hai phương diện kia. Nó trợ giúp những người chủ yếu thuộc cung ba của Hoạt Động Thông Tuệ.

In all these bodies there are to be found esoteric groups who are the custodians of the inner teaching and whose uniformity in aspiration and in technique is one. These inner groups consist of occult students and of those who are in direct or occasional touch with the Masters and of those whose souls are in sufficient control so that the will of the Hierarchy may be communicated and gradually filter down to the channel of the physical brain. These groups which constitute the true inner esoteric group are many, but their membership is yet small, for the fact that a student may belong to any of the outer esoteric groups so-called is no indication of his true esoteric status. When the few who are the true esoteric students of the world know the difference between etheric and astral forms, between mental clairaudience and clairvoyance and their astral counterparts, between the elementals of thought and the elementals of nature, then will the Christ and His church have a real esoteric group on the physical plane and the outer organisations receive the needed stimulation. That is why it is necessary to work with the students at this time and train them in the nature of true occultism. When we understand better the significance of time in prevision, and of force in movement, and when we comprehend more fully the laws that control the subtler bodies, and through them therefore the laws that function on the planes whereon those bodies express [513] themselves, then will there be more intelligent and more useful work offered in cooperation with the Occult Hierarchy.

Trong tất cả các thể này đều có thể tìm thấy những nhóm huyền bí, là những người gìn giữ giáo huấn nội môn và có sự nhất quán làm một trong khát vọng và trong kỹ thuật. Những nhóm bên trong này gồm các đạo sinh huyền bí học, những người có tiếp xúc trực tiếp hoặc từng lúc với các Chân sư, và những người mà linh hồn đủ sức kiểm soát để ý chí của Thánh đoàn có thể được truyền đạt và dần dần thấm xuống kênh của bộ não hồng trần. Những nhóm này, cấu thành nhóm huyền bí nội môn chân chính, thì có nhiều, nhưng thành viên của chúng vẫn còn ít; vì việc một đạo sinh có thể thuộc về bất kỳ nhóm huyền bí bên ngoài nào như người ta vẫn gọi, không phải là dấu hiệu cho thấy địa vị nội môn thực sự của y. Khi số ít những người là đạo sinh nội môn chân chính của thế giới biết được sự khác biệt giữa các hình tướng dĩ thái và cảm dục, giữa thông nhĩ trí tuệ và thông nhãn cùng các đối phần cảm dục của chúng, giữa các hành khí của tư tưởng và các hành khí của tự nhiên, thì khi ấy Đức Christ và giáo hội của Ngài sẽ có một nhóm huyền bí thực sự trên cõi hồng trần và các tổ chức bên ngoài sẽ nhận được sự kích thích cần thiết. Đó là lý do vì sao vào lúc này cần phải làm việc với các đạo sinh và huấn luyện họ về bản chất của huyền bí học chân chính. Khi chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của thời gian trong sự tiên tri, và của mãnh lực trong chuyển động, và khi chúng ta thấu hiểu đầy đủ hơn các định luật kiểm soát những thể vi tế hơn, và nhờ đó các định luật vận hành trên những cõi mà các thể ấy biểu lộ [513] chính chúng, thì khi ấy sẽ có công việc thông minh hơn và hữu ích hơn được hiến dâng trong sự hợp tác với Thánh đoàn Huyền bí.

In the esoteric group, which is composed of the true spiritual esotericists found in all exoteric occult groups, in the church, by whatever name it may be called, and in Masonry you have the three paths leading to initiation. As yet they are not used, and one of the things that will eventuate—when the new universal religion has sway and the nature of esotericism is understood—will be the utilisation of the banded esoteric organisms, the Masonic organism and the Church organism as initiating centres. These three groups converge as their inner sanctuaries are approached. There is no dissociation between the One Universal Church, the sacred inner Lodge of all true Masons, and the innermost circles of the esoteric societies. Three types of men have their need met, three major rays are expressed, and the three paths to the Master are trodden, leading all three to the same portal and the same Hierophant.

Trong nhóm huyền bí, được cấu thành bởi những nhà bí truyền học tinh thần chân chính hiện diện trong mọi nhóm huyền bí ngoại môn, trong giáo hội, dù được gọi bằng tên gì đi nữa, và trong Hội Tam Điểm, các bạn có ba con đường dẫn đến điểm đạo. Cho đến nay chúng vẫn chưa được sử dụng, và một trong những điều sẽ xảy ra—khi tôn giáo phổ quát mới có ảnh hưởng và bản chất của huyền bí học được thấu hiểu—sẽ là việc sử dụng các cơ cấu huyền bí liên kết, cơ cấu Tam Điểm và cơ cấu Giáo hội như những trung tâm điểm đạo. Ba nhóm này hội tụ khi các thánh điện nội tại của chúng được tiếp cận. Không có sự tách biệt nào giữa Giáo hội Phổ quát Duy nhất, Thánh đoàn nội tại thiêng liêng của mọi Tam Điểm chân chính, và những vòng tròn thâm sâu nhất của các hội huyền bí. Nhu cầu của ba loại người được đáp ứng, ba cung chính được biểu lộ, và ba con đường đến với Chân sư được bước đi, cả ba đều dẫn đến cùng một cổng vào và cùng một Đấng Điểm đạo.

It must not be forgotten that only those souls who are on the Probationary Path or the Path of Discipleship will form the nucleus of the coming world religion. It exists on the inner planes for the purpose of gathering out of all the churches those who have reached the point in evolution where they can consciously and of their own free will place their feet upon that PATH which leads to the centre of peace; who can in full awareness turn their eyes upon the Great Lord, and transmute the life of worldly endeavour into the life of service. The first detachment gathered into the coming Church will be found to be a part of the present great band of servers. These have, down the ages, been associated with the Christ in His work. Remember always the fact of the work He did in connection with the last advent, and remember likewise that in the turning of the cyclic wheel, in the evolution of the spiral, similar conditions will eventuate, the same needs arise, and the same egos incarnate that were present in the days of old in Palestine. The numbers of those associated with Him will be greatly increased, [514] for all who knew Him in earlier incarnations in the ancient East, all whom He cured or taught, all who contacted Him or in any way incurred karma with Him or with the Master Jesus, will have the opportunity to cooperate at this time. Each sincere aspirant who is closely connected with the present Church organisations, who feels a close link with the Christ and who loves Him, can be practically sure that in Palestine they saw Him, knew Him and mayhap served and loved Him.

Không được quên rằng chỉ những linh hồn đang ở trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử mới tạo thành hạt nhân của tôn giáo thế giới sắp đến. Nó tồn tại trên các cõi nội tại nhằm mục đích tập hợp từ mọi giáo hội những người đã đạt đến điểm tiến hoá mà tại đó họ có thể một cách hữu thức và bằng ý chí tự do của chính mình đặt chân lên CON ĐƯỜNG dẫn đến trung tâm của hòa bình; những người có thể, trong sự tỉnh thức trọn vẹn, hướng mắt về Đức Chúa Tể Vĩ Đại, và chuyển hoá đời sống nỗ lực thế tục thành đời sống phụng sự. Đoàn đầu tiên được tập hợp vào Giáo hội sắp đến sẽ được thấy là một phần của đại đoàn phụng sự hiện nay. Qua các thời đại, những người này đã liên kết với Đức Christ trong công việc của Ngài. Hãy luôn ghi nhớ sự kiện về công việc Ngài đã làm liên quan đến lần giáng lâm trước, và cũng hãy nhớ rằng trong sự xoay chuyển của bánh xe chu kỳ, trong sự tiến hoá của đường xoắn ốc, những điều kiện tương tự sẽ xảy ra, những nhu cầu giống nhau sẽ phát sinh, và những chân ngã từng hiện diện trong những ngày xưa ở Palestine sẽ lại nhập thể. Số người liên kết với Ngài sẽ tăng lên rất nhiều, [514] vì tất cả những ai đã biết Ngài trong các kiếp trước ở phương Đông cổ đại, tất cả những ai Ngài đã chữa lành hoặc dạy dỗ, tất cả những ai đã tiếp xúc với Ngài hoặc bằng cách nào đó đã tạo nghiệp quả với Ngài hay với Chân sư Jesus, sẽ có cơ hội hợp tác vào lúc này. Mỗi người chí nguyện chân thành có liên hệ mật thiết với các tổ chức Giáo hội hiện nay, cảm thấy một mối liên kết gần gũi với Đức Christ và yêu kính Ngài, có thể gần như chắc chắn rằng tại Palestine họ đã thấy Ngài, biết Ngài và có lẽ đã phụng sự và yêu kính Ngài.

The sacraments, properly understood, serve to strengthen this link and realisation, and such a one as that of Baptism (when entered upon with understanding) will draw forth oft a response from the Great Lord Himself. It is almost as if a golden strand were directed from His heart to the heart of the servant—a strand unbreakable and unfathomable and which, with each administration of any of the holy rites in the succession of lives, becomes stronger, broader and brighter. Eventually these many strands will become reabsorbed into their source when the Body of the Christ—one of the seven Heavenly Men on the second or monadic plane—is completed in full expression, for each one linked to Him becomes, in a vital sense, a cell in His Body. This the initiate Paul truly sensed and knew. Via this strand passes the power to strengthen, to stimulate, to vivify and to bless, and this is the true apostolic succession. All true disciples are priests unto the Lord.

Các bí tích, khi được hiểu đúng, giúp củng cố mối liên kết và sự chứng nghiệm này, và một bí tích như Phép Rửa Tội (khi được tiếp nhận với sự thấu hiểu) thường sẽ khơi dậy một đáp ứng từ chính Đức Chúa Tể Vĩ Đại. Gần như thể một sợi chỉ vàng được hướng từ tim Ngài đến tim của người phụng sự—một sợi không thể đứt và không thể dò thấu, và với mỗi lần cử hành bất kỳ nghi thức thánh nào trong chuỗi các kiếp sống, nó trở nên mạnh hơn, rộng hơn và sáng hơn. Cuối cùng, nhiều sợi ấy sẽ được tái hấp thu vào nguồn của chúng khi Thể của Đức Christ—một trong bảy Đấng Thiên Nhân trên cõi thứ hai hay cõi chân thần—được hoàn tất trong sự biểu lộ trọn vẹn, vì mỗi người được liên kết với Ngài trở thành, theo một ý nghĩa thiết yếu, một tế bào trong Thể của Ngài. Điểm đạo đồ Paul đã thực sự cảm nhận và biết điều này. Qua sợi chỉ ấy truyền qua quyền năng để tăng cường, kích thích, tiếp sinh lực và ban phúc, và đó là sự kế truyền tông đồ chân chính. Mọi đệ tử chân chính đều là tư tế của Chúa.

There is no question therefore that the work to be done in familiarising the general public with the nature of the Mysteries is of paramount importance at this time. These Mysteries will be restored to outer expression through the medium of the Church and the Masonic Fraternity, if those groups leave off being organisations with material purpose, and become organisms with living objectives. When the Great One comes with His disciples and initiates we shall have (after a period of intensive work on the physical plane beginning around the year 1940) the restoration of the Mysteries and their exoteric presentation, as a consequence of the first initiation. Why can this be so? Because the Christ, [515] as you know, is the Hierophant of the first and second initiations and He will, if the preparatory work is faithfully and well done, administer the first initiation in the inner sanctuaries of those two bodies. Many faithful workers will, during His period of work on earth, take this first initiation, and some few will take the second. The race has now reached a point where many souls are on the Probationary Path and need but the heightening of their vibration (made possible by His Presence) to reach the portal of the Path itself.

Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa rằng công việc cần làm để giúp công chúng nói chung quen thuộc với bản chất của các Mầu Nhiệm là điều tối quan trọng vào lúc này. Các Mầu Nhiệm này sẽ được phục hồi vào biểu hiện bên ngoài qua trung gian của Giáo hội và Huynh đệ đoàn Tam Điểm, nếu các nhóm ấy thôi là những tổ chức có mục đích vật chất và trở thành những cơ thể sống với những mục tiêu sinh động. Khi Đấng Cao Cả đến cùng các đệ tử và điểm đạo đồ của Ngài, chúng ta sẽ có (sau một thời kỳ công việc mãnh liệt trên cõi hồng trần bắt đầu vào khoảng năm 1940) sự phục hồi các Mầu Nhiệm và sự trình bày ngoại môn của chúng, như một hệ quả của lần điểm đạo thứ nhất. Tại sao điều này có thể như vậy? Bởi vì Đức Christ, [515] như các bạn biết, là Đấng Điểm đạo của lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, và Ngài sẽ, nếu công việc chuẩn bị được thực hiện trung tín và tốt đẹp, ban lần điểm đạo thứ nhất trong các thánh điện nội tại của hai cơ cấu ấy. Nhiều người hoạt động trung tín sẽ, trong thời kỳ Ngài làm việc trên trần gian, nhận lần điểm đạo thứ nhất này, và một số ít sẽ nhận lần điểm đạo thứ hai. Nhân loại hiện nay đã đạt đến một điểm mà nhiều linh hồn đang ở trên Con Đường Dự Bị và chỉ cần sự nâng cao rung động của họ (được làm cho khả hữu bởi Hiện Diện của Ngài) để đạt đến cổng vào của chính Con Đường.

And now what is it that you all can do? What is the condition surrounding the aspirants of the world today? We have a world full of unrest, a world full of pain, sorrow and strife, a world in which the emotional bodies of humanity are in a condition of tremendous disturbance, a world in which animals, men, women and children suffer, agonise and die; a world in which hunger, sin, sickness, famine, rapine, and murder stalk unarrested; a world in which the forms of religion exist but the life has gone, in which science is prostituted to the ends of money and hate, and in which the produce of the earth is not for the sustenance of the race but for the nourishing of the purses of the few; a world in which faith is oft the subject of scoffing, in which unselfishness is regarded as the attribute of a fool, and in which love is exploited in its lowest expression, sex. Is this the atmosphere in which the Christ and His disciples can breathe? Is this a condition in which They can find harmonious influences? Is this a state of affairs in which They can work and live? Are the vibrations extant upon this planet similar to Theirs and to which They can respond? We know that it is not so and that much must be done to facilitate Their work. What then can we do?

Và giờ đây, tất cả các bạn có thể làm gì? Điều kiện bao quanh những người chí nguyện của thế giới ngày nay là gì? Chúng ta có một thế giới đầy bất an, một thế giới đầy đau đớn, buồn khổ và xung đột, một thế giới trong đó các thể cảm dục của nhân loại ở trong tình trạng xáo trộn ghê gớm, một thế giới trong đó thú vật, những người nam và nữ và trẻ em đau khổ, quằn quại và chết đi; một thế giới trong đó đói khát, tội lỗi, bệnh tật, nạn đói, cướp bóc và giết chóc hoành hành không bị ngăn chặn; một thế giới trong đó các hình thức tôn giáo vẫn tồn tại nhưng sự sống đã rời đi, trong đó khoa học bị lạm dụng cho những mục đích của tiền bạc và hận thù, và trong đó sản vật của đất không nhằm nuôi sống nhân loại mà nhằm làm đầy túi tiền của số ít; một thế giới trong đó đức tin thường là đối tượng chế giễu, trong đó tính vô ngã bị xem là thuộc tính của kẻ ngu, và trong đó tình thương bị khai thác ở biểu hiện thấp nhất của nó là tình dục. Đây có phải là bầu khí quyển mà Đức Christ và các đệ tử của Ngài có thể hít thở không? Đây có phải là một điều kiện mà Các Ngài có thể tìm thấy những ảnh hưởng hài hòa không? Đây có phải là một tình trạng mà Các Ngài có thể làm việc và sống không? Những rung động hiện tồn trên hành tinh này có tương tự với rung động của Các Ngài và để Các Ngài có thể đáp ứng không? Chúng ta biết rằng không phải như vậy và còn nhiều điều phải làm để tạo thuận lợi cho công việc của Các Ngài. Vậy thì chúng ta có thể làm gì?

First, teach the law of evolution and its inevitable corollary, perfected men. Men must be taught that such Great Souls exist, and exist entirely to serve Their fellowmen. The public must be familiarised with Their names and attributes, with Their work and purpose, and men must be told that They are coming forth for the salvation of the world.

Trước hết, hãy dạy định luật tiến hoá và hệ quả tất yếu của nó là những con người hoàn thiện. Con người phải được dạy rằng những Đại Hồn như thế có tồn tại, và tồn tại hoàn toàn để phụng sự đồng loại của Các Ngài. Công chúng phải được làm cho quen thuộc với danh xưng và phẩm tính của Các Ngài, với công việc và mục đích của Các Ngài, và con người phải được cho biết rằng Các Ngài đang xuất hiện vì sự cứu rỗi thế giới.

[516] Secondly, disciples and aspirants must on every hand live harmoniously and love. The violent vibrations of our surroundings must be stilled by a strong counter vibration of love, remembering ever that as we work on the side of evolution, the power of the Godhead itself is with us, available for use. Naught can withstand the steady pressures of love and harmony when they are applied long enough. It is not spasmodic efforts that count. It is the long-sustained, unvarying pressure which eventually breaks down opposition and the walls of separativeness.

[516] Thứ hai, các đệ tử và người chí nguyện ở khắp nơi phải sống hài hòa và yêu thương. Những rung động dữ dội của môi trường quanh ta phải được làm lắng dịu bằng một phản rung động mạnh mẽ của tình thương, luôn ghi nhớ rằng khi chúng ta làm việc về phía tiến hoá, chính quyền năng của Thượng đế cũng ở cùng chúng ta, sẵn sàng để sử dụng. Không gì có thể chống lại áp lực bền bỉ của tình thương và hòa hợp khi chúng được áp dụng đủ lâu. Không phải những nỗ lực bột phát mới đáng kể. Chính áp lực kéo dài, không thay đổi, cuối cùng sẽ phá vỡ sự chống đối và những bức tường của tính chia rẽ.

Thirdly, esoteric organisations must stand for all that tends to unity. All types of work, all the exterior efforts of the many organisations must meet with loving cooperation and assistance. We stand in a world of endeavour as focal points for love. Our objective is the helping of the Great Ones and the rendering to Them of that intelligent assistance which will make Their plans for humanity materialise. Through us, They choose to work for the uplift of the world, and through the esoteric groups there must be the putting forth of that intensified spiritual effort which will stem the tide of evil and avert the possible difficulties that lurk in the darkness of the present chaos. The living organism of aspirants and disciples can provide a centre of peace, power and love, of practical help and spiritual uplift such as the world has not hitherto seen. Such is the hope. See you do it.

Thứ ba, các tổ chức huyền bí phải đứng về mọi điều có xu hướng dẫn đến hợp nhất. Mọi loại công việc, mọi nỗ lực bên ngoài của nhiều tổ chức phải được đón nhận bằng sự hợp tác và trợ giúp đầy yêu thương. Chúng ta đứng trong một thế giới nỗ lực như những tiêu điểm của tình thương. Mục tiêu của chúng ta là trợ giúp Các Đấng Cao Cả và dâng cho Các Ngài sự trợ giúp thông minh sẽ làm cho các kế hoạch của Các Ngài đối với nhân loại được hiện hình. Qua chúng ta, Các Ngài chọn làm việc để nâng cao thế giới, và qua các nhóm huyền bí phải có sự phát ra nỗ lực tinh thần tăng cường ấy, nỗ lực sẽ chặn đứng làn sóng điều ác và ngăn ngừa những khó khăn có thể xảy ra đang ẩn nấp trong bóng tối của tình trạng hỗn loạn hiện nay. Cơ thể sống của những người chí nguyện và đệ tử có thể cung cấp một trung tâm hòa bình, quyền năng và tình thương, của sự trợ giúp thực tiễn và nâng cao tinh thần mà thế giới từ trước đến nay chưa từng thấy. Đó là niềm hy vọng. Hãy liệu mà thực hiện điều đó.

Definite work must also be done in healing, in exorcising, in curing mental and astral diseases, and it must be demonstrated to the world that the ancient power to heal still lies in the hands of those who consistently follow the Christ. Those who use this power only for the sake of the little ones, taking and seeking no personal reward, can manifest the ancient way to heal which has small resemblance to the modern methods of the mental schools.

Cũng phải có công việc xác định trong việc chữa lành, trừ tà, chữa các bệnh trí tuệ và cảm dục, và phải chứng minh cho thế giới thấy rằng quyền năng chữa lành cổ xưa vẫn còn nằm trong tay những người kiên trì đi theo Đức Christ. Những người sử dụng quyền năng này chỉ vì lợi ích của những kẻ bé nhỏ, không nhận và không tìm kiếm phần thưởng cá nhân nào, có thể biểu lộ con đường chữa lành cổ xưa vốn rất ít giống với các phương pháp hiện đại của những trường phái trí tuệ.

Preparation too must be given to the developing of the higher psychic powers, and through the trained expression of those powers can proof be given to the scientists of the world of the latent forces in man which can be utilised by those who wisely and sanely follow in the footsteps of the [517] Christ, the greatest Psychic of all time. Hospitals and schools will appear under the direct guidance of the Masters; Teachers Who can heal will come forth, and others will appear who will train the minds of the pupils to be responsive to direct inspiration from above. The faculty of the intuition must be developed scientifically.

Sự chuẩn bị cũng phải được trao cho việc phát triển các năng lực thông linh cao hơn, và qua sự biểu lộ được huấn luyện của các năng lực ấy, có thể đưa ra bằng chứng cho các nhà khoa học thế giới về những mãnh lực tiềm ẩn trong con người mà những ai khôn ngoan và lành mạnh bước theo dấu chân của [517] Đức Christ, Nhà Thông Linh vĩ đại nhất mọi thời đại, có thể sử dụng. Các bệnh viện và trường học sẽ xuất hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của các Chân sư; những Huấn sư có thể chữa lành sẽ xuất hiện, và những người khác sẽ xuất hiện để huấn luyện trí tuệ của học sinh trở nên đáp ứng với cảm hứng trực tiếp từ trên cao. Năng lực trực giác phải được phát triển một cách khoa học.

Finally, Church members and members of the Masonic Fraternities must familiarise themselves with the inner significance of the various rites, ceremonies, colours and rituals, and with the work performed upon the floor of the temple. They must know why such and such things are done in due order and the reason for the various precedences, the words, gestures and acts.

Sau cùng, các thành viên Giáo hội và các thành viên của các Huynh đệ đoàn Tam Điểm phải làm cho mình quen thuộc với ý nghĩa nội tại của các nghi thức, lễ nghi, màu sắc và nghi lễ khác nhau, cũng như với công việc được thực hiện trên nền đền thờ. Họ phải biết vì sao những điều như thế được thực hiện theo đúng trật tự và lý do của các thứ tự ưu tiên khác nhau, các lời nói, cử chỉ và hành động.

Should there be a real and true response to these practical suggestions, it may be possible for the work to go forward more rapidly than at present seems possible. Much trouble and stress may be averted if the aspirants of the world measure up to their proffered opportunity and make due sacrifice and effort. Much preliminary work has to be done. There must be much heavy work, ploughing the soil and weeding out that which is undesirable.

Nếu có một đáp ứng thực sự và chân chính đối với những gợi ý thực tiễn này, thì có thể công việc sẽ tiến triển nhanh hơn điều hiện nay dường như có thể. Nhiều rắc rối và căng thẳng có thể được ngăn ngừa nếu những người chí nguyện của thế giới xứng đáng với cơ hội được trao cho họ và thực hiện sự hy sinh cùng nỗ lực thích đáng. Còn rất nhiều công việc sơ bộ phải làm. Phải có rất nhiều công việc nặng nhọc, cày xới đất và nhổ bỏ những gì không mong muốn.

This may take seven years. The work to be done in that period will be silent educational work, and the diligent propaganda that the Church and analogous organisations can do. Classes must be held by the occultists of the world in which the teaching is stepped down to meet the need of the little ones; the broad platform upon which the Church should stand should be proclaimed, and instruction should be given in the meaning of its ceremonies and teachings. Then will follow seven years of germination of the seed sown, a period of growth and developing influences. This brings us to the period of thirteen years from now for the cycle of fourteen began the year before I proffered you these suggestions. Should the work progress as desired, it may mark the time of the near appearing of the Great Lord and the close sound of His feet.

Điều này có thể mất bảy năm. Công việc phải làm trong thời kỳ đó sẽ là công việc giáo dục âm thầm, và sự truyền bá siêng năng mà Giáo hội và các tổ chức tương tự có thể thực hiện. Các lớp học phải được những nhà huyền bí học của thế giới tổ chức, trong đó giáo huấn được hạ thấp xuống để đáp ứng nhu cầu của những kẻ bé nhỏ; nền tảng rộng lớn mà Giáo hội nên đứng trên đó phải được công bố, và phải có sự chỉ dạy về ý nghĩa của các nghi lễ và giáo huấn của nó. Sau đó sẽ là bảy năm nảy mầm của hạt giống đã gieo, một thời kỳ tăng trưởng và phát triển các ảnh hưởng. Điều này đưa chúng ta đến thời kỳ mười ba năm kể từ bây giờ vì chu kỳ mười bốn năm đã bắt đầu từ năm trước khi tôi đưa ra cho các bạn những gợi ý này. Nếu công việc tiến triển như mong muốn, điều đó có thể đánh dấu thời điểm Đấng Chúa Tể Vĩ Đại sắp xuất hiện và tiếng bước chân của Ngài đã ở rất gần.

These Servers who watch on the inner side, the disciples and initiates engaged in this work, watch with loving care all [518] who struggle in the thick of the fray. They are like the Headquarters Staff who follow the battle from a secure eminence. In Their security lies your ultimate success, for They hold in Their hands the solution of many problems, and apply the solution when the battle goes contrary. One thing always I appeal to you to remember, for it is of vital importance. It is the fact that in the destruction of the form lies hid the secret of all evolutionary growth. This is not a truism. You can see it in constant expression. The Masters utilise the form (a form of Church organisation, a Masonic Fraternity, an esoteric group) as much as may be. They seek to work through it, imprisoning the life within the containing walls for just as long as the purpose is served and the race is instructed through that form. Then comes the time when the form may no longer serve the intent, when the structure atrophies, crystallises, and becomes vulnerable and easily destroyed. So it goes, and a new form takes its place. Watch and see if this is not ever so. In the infancy of the race the forms for long endured. Evolution moved more slowly. But now on this upward trend the form has but short duration. It lives vitally for but a brief period; with rapidity it moves through its cycle; with rapidity it disintegrates and is succeeded by another. This rapidity will increase and not decrease as the consciousness, or inner expanding realised life of the race, vibrates to a more rapid rate of rhythm.

Những Người Phụng Sự này đang quan sát ở phía nội tại, các đệ tử và điểm đạo đồ đang dấn thân trong công việc này, dõi theo với sự chăm sóc đầy yêu thương tất cả [518] những ai đang vật lộn giữa cơn chiến trận dữ dội. Họ giống như Bộ Tham Mưu Tổng Hành Dinh theo dõi trận chiến từ một vị trí cao an toàn. Chính trong sự an toàn của Các Ngài có sự thành công tối hậu của các bạn, vì Các Ngài nắm trong tay giải pháp của nhiều vấn đề, và áp dụng giải pháp khi trận chiến diễn biến bất lợi. Có một điều tôi luôn kêu gọi các bạn ghi nhớ, vì nó có tầm quan trọng thiết yếu. Đó là sự kiện rằng trong sự hủy diệt của hình tướng ẩn giấu bí mật của mọi tăng trưởng tiến hoá. Đây không phải là một lời sáo rỗng. Các bạn có thể thấy nó biểu lộ không ngừng. Các Chân sư sử dụng hình tướng (một hình tướng tổ chức Giáo hội, một Huynh đệ đoàn Tam Điểm, một nhóm huyền bí) nhiều nhất có thể. Các Ngài tìm cách làm việc qua nó, giam giữ sự sống bên trong những bức tường bao chứa chừng nào mục đích còn được phụng sự và nhân loại còn được giáo dục qua hình tướng ấy. Rồi đến lúc hình tướng không còn có thể phục vụ ý định nữa, khi cấu trúc bị teo lại, kết tinh, và trở nên dễ tổn thương và dễ bị phá hủy. Cứ thế mà diễn ra, và một hình tướng mới thay thế nó. Hãy quan sát và xem có phải luôn luôn như vậy không. Trong thời thơ ấu của nhân loại, các hình tướng tồn tại rất lâu. Tiến hoá diễn ra chậm hơn. Nhưng giờ đây trên đà đi lên này, hình tướng chỉ có thời gian tồn tại ngắn. Nó sống một cách sinh động chỉ trong một thời gian ngắn; nó nhanh chóng đi qua chu kỳ của mình; nó nhanh chóng tan rã và được kế tiếp bởi một hình tướng khác. Sự nhanh chóng này sẽ gia tăng chứ không giảm đi khi tâm thức, hay sự sống được chứng nghiệm đang mở rộng bên trong của nhân loại, rung động theo một nhịp điệu ngày càng nhanh hơn.

This will be tremendously increased during the vital and unusual cycle upon which we entered in 1918, which will be tremendously speeded up in 1925, and will climax in a peculiar sense in 1934. We shall then enter upon three years of excessive endeavour in an effort to hasten the Coming and to prepare mankind for the great day of opportunity. You who know of these times and can interpret them aright in the light of the illumined intuition, must unite together for the rendering of Service and for the helping of the Brotherhood, of which the Christ is the divine Leader, and of which the Masters, the initiates, disciples and aspirants are the working and living organism on the physical plane. [519]

Điều này sẽ được gia tăng mạnh mẽ trong chu kỳ thiết yếu và khác thường mà chúng ta đã bước vào năm 1918, sẽ được tăng tốc rất mạnh vào năm 1925, và sẽ đạt đỉnh theo một ý nghĩa đặc biệt vào năm 1934. Khi ấy chúng ta sẽ bước vào ba năm nỗ lực quá mức trong một cố gắng nhằm thúc đẩy Sự Quang Lâm và chuẩn bị nhân loại cho ngày cơ hội lớn lao. Các bạn, những người biết về những thời kỳ này và có thể giải thích chúng một cách đúng đắn dưới ánh sáng của trực giác được soi sáng, phải hợp nhất với nhau để phụng sự và trợ giúp Huynh đệ Đoàn, mà Đức Christ là vị Lãnh Đạo thiêng liêng, và mà các Chân sư, các điểm đạo đồ, đệ tử và người chí nguyện là cơ thể sống và hoạt động trên cõi hồng trần. [519]

~

~

THE EXTERNALISATION OF THE ASHRAMS—SỰ NGOẠI HIỆN CỦA CÁC ASHRAM

January 1946

Tháng Giêng năm 1946

In these words I refer to an aspect of the amazing enterprise upon which the Hierarchy is embarked within this cycle: Its appearance, expression and activity upon the physical plane for the first time since it withdrew into the subjective side of life and focussed itself on the mental plane (instead of the physical) during the days of ancient Atlantis and after the war between the Lords of the Shining Countenance and Lords of the Dark Face, as The Secret Doctrine calls it. For millions of years, as a result of the triumph of evil in those days, the Hierarchy has stood in silence behind world events, occupied with the following work—a work which will eventually be carried on exoterically instead of esoterically:

Trong những lời này tôi đề cập đến một phương diện của công cuộc kỳ diệu mà Thánh đoàn đang dấn thân trong chu kỳ này: sự xuất hiện, biểu lộ và hoạt động của Thánh đoàn trên cõi hồng trần lần đầu tiên kể từ khi Thánh đoàn rút vào mặt chủ quan của sự sống và tập trung vào cõi trí (thay vì cõi hồng trần) trong những ngày của Atlantis cổ đại và sau cuộc chiến giữa các Đấng Chúa Tể của Gương Mặt Rạng Ngời và các Đấng Chúa Tể của Gương Mặt Tối Tăm, như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi như vậy. Trong hàng triệu năm, do kết quả của sự thắng thế của điều ác trong những ngày ấy, Thánh đoàn đã đứng im lặng phía sau các biến cố thế giới, bận rộn với công việc sau đây—một công việc mà cuối cùng sẽ được tiến hành một cách ngoại môn thay vì nội môn:

1. The Hierarchy stands as a wall between humanity and excessive evil. Forget not that as humanity is thus protected that protection extends to all the subhuman kingdoms, of which the fourth kingdom, the human, is the Macrocosm. The excessive evil, emanating from cosmic sources, requires the trained skill of the Hierarchy and the fiat of Shamballa to prevent it flooding over disastrously.

1. Thánh đoàn đứng như một bức tường giữa nhân loại và điều ác quá mức. Đừng quên rằng khi nhân loại được bảo vệ như vậy thì sự bảo vệ ấy cũng mở rộng đến mọi giới dưới nhân loại, mà giới thứ tư, giới nhân loại, là Đại thiên địa. Điều ác quá mức, phát ra từ các nguồn vũ trụ, đòi hỏi kỹ năng được huấn luyện của Thánh đoàn và sắc lệnh của Shamballa để ngăn nó tràn ngập một cách tai hại.

2. The Hierarchy works constantly at the task of awakening the consciousness aspect in all forms, so that it is awakened, expanded and intelligently employed.

2. Thánh đoàn không ngừng làm việc trong nhiệm vụ đánh thức phương diện tâm thức trong mọi hình tướng, để nó được đánh thức, mở rộng và được sử dụng một cách thông minh.

3. The Hierarchy directs world events, as far as mankind will permit (for the free will and free decision of mankind may not be ignored), so that the unfolding consciousness may express itself through developing and adequate social, political, religious and economic world forms. They give direction; They throw a light; They impress those who are in contact with Them, and through the inflow of ideas and through revelation They definitely influence the tide of human affairs.

3. Thánh đoàn chỉ đạo các biến cố thế giới, trong chừng mực nhân loại cho phép (vì ý chí tự do và quyết định tự do của nhân loại không thể bị bỏ qua), để tâm thức đang khai mở có thể biểu lộ qua các hình tướng thế giới xã hội, chính trị, tôn giáo và kinh tế đang phát triển và thích hợp. Các Ngài đưa ra định hướng; Các Ngài chiếu rọi một ánh sáng; Các Ngài gây ấn tượng lên những ai tiếp xúc với Các Ngài, và qua sự tuôn đổ của các ý tưởng và qua sự mặc khải, Các Ngài chắc chắn ảnh hưởng đến dòng chảy của các công việc nhân loại.

4. The Hierarchy directs and controls, more than is realised, the unfolding cyclic cultures and their resultant civilisations. These can then provide adequate forms, temporarily [520] useful for the emerging soul of humanity. The format of cultures and civilisations receives special attention.

4. Thánh đoàn chỉ đạo và kiểm soát, nhiều hơn người ta nhận ra, các nền văn hóa chu kỳ đang khai mở và các nền văn minh phát sinh từ đó. Khi ấy chúng có thể cung cấp những hình tướng thích hợp, tạm thời [520] hữu ích cho linh hồn đang xuất hiện của nhân loại. Khuôn mẫu của các nền văn hóa và văn minh nhận được sự chú ý đặc biệt.

5. The Hierarchy receives and transmits energies and consequent forces from Shamballa, with resultant effects within the Hierarchy itself, and also with effects upon humanity and upon the soul of all things to be found in all kingdoms.

5. Thánh đoàn tiếp nhận và truyền chuyển các năng lượng và các mãnh lực hệ quả từ Shamballa, với những tác động phát sinh trong chính Thánh đoàn, và cũng với những tác động lên nhân loại và lên linh hồn của mọi sự vật được tìm thấy trong mọi giới.

6. The Hierarchy receives that esoteric “Fire of God” which brings to an end cycles, ideologies, organisations and civilisations when the due and right time comes. This They do in order to make place for that which is better and which will prove adequate and not limiting to the awakening consciousness and the emerging life.

6. Thánh đoàn tiếp nhận “Lửa của Thượng đế” huyền bí, thứ mang đến sự chấm dứt cho các chu kỳ, các ý hệ, các tổ chức và các nền văn minh khi đến đúng thời điểm thích đáng. Các Ngài làm điều này để nhường chỗ cho điều tốt đẹp hơn và sẽ chứng tỏ là thích hợp chứ không hạn chế đối với tâm thức đang thức tỉnh và sự sống đang xuất hiện.

7. The Hierarchy prepares men for initiation by:

7. Thánh đoàn chuẩn bị con người cho điểm đạo bằng cách:

a. Receiving them into the Ashrams of the Masters.

a. Tiếp nhận họ vào các ashram của các Chân sư.

b. Offering Their disciples opportunity to serve in relation to the emerging Plan.

b. Trao cho các đệ tử của Các Ngài cơ hội phụng sự liên hệ với Thiên Cơ đang xuất hiện.

c. Inaugurating through the means of the disciples of the period those new presentations of the training needed for initiation. Each major cycle receives new forms of the same ancient, yet basic, teaching. This present one is such a cycle, and much of my own work is in connection with this.

c. Khởi xướng, qua phương tiện là các đệ tử của thời kỳ, những cách trình bày mới về sự huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Mỗi chu kỳ chính đều nhận những hình thức mới của cùng một giáo huấn cổ xưa nhưng căn bản. Chu kỳ hiện nay là một chu kỳ như thế, và phần lớn công việc riêng của tôi có liên quan đến điều này.

All of these activities and functions of the Hierarchy are well known to many of you theoretically, and to some at first hand—which is a good and useful thing to recognise. These activities have all been carried on “behind the veil” and are, of course, only a very small part of the total work of the Hierarchy. Much of it would be entirely incomprehensible to you. However, if the disciples of this modern world, and the initiates, can measure up to their present and presented opportunity, it should be possible for all of this not only to be carried forward in the full light of day, but with the cooperation and the understanding acceptance of the intelligent people everywhere, and also with the devoted acquiescence (though blind acceptance) of the man in the street.

Tất cả những hoạt động và chức năng này của Thánh đoàn đều được nhiều người trong các bạn biết đến về mặt lý thuyết, và với một số người là bằng kinh nghiệm trực tiếp—đó là điều tốt và hữu ích để nhận ra. Tất cả những hoạt động này đều đã được tiến hành “sau bức màn” và dĩ nhiên chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ công việc của Thánh đoàn. Phần lớn trong đó sẽ hoàn toàn không thể hiểu nổi đối với các bạn. Tuy nhiên, nếu các đệ tử của thế giới hiện đại này, và các điểm đạo đồ, có thể xứng đáng với cơ hội hiện tại và được trao cho họ, thì có lẽ tất cả điều này không những có thể được tiến hành trong ánh sáng ban ngày trọn vẹn, mà còn với sự hợp tác và chấp nhận thấu hiểu của những người thông minh ở khắp nơi, và cả với sự thuận phục tận tụy (dù là chấp nhận mù quáng) của người bình thường ngoài phố.

[521] Something of this, something of the new activities which will be brought to the attention of disciples in physical bodies, something of the scope of the undertaking of externalisation, something of what all of you can do to prepare the way for this major change, and something of the tremendous difficulties involved, I am seeking to convey to you, if I can.

[521] Một phần nào đó của điều này, một phần nào đó của những hoạt động mới sẽ được đưa đến sự chú ý của các đệ tử trong thể xác, một phần nào đó về tầm mức của công cuộc ngoại hiện, một phần nào đó về điều mà tất cả các bạn có thể làm để chuẩn bị con đường cho sự thay đổi lớn lao này, và một phần nào đó về những khó khăn to lớn liên quan, tôi đang tìm cách truyền đạt cho các bạn, nếu tôi có thể.

One of the things now occupying the attention of the Masters is the externalisation of their ashrams on the outer plane. This is preparatory to later envisioned developments. If this can be done then other developments may be possible. An extension of the ashram is desired. It was with this in view that I inaugurated a new activity in May 1941 and chose so many of my disciples resident in New York. I also began to give out the teaching on the stages of discipleship (Discipleship in the New Age, Vol. I, Section III) and suggested that the group members meet together for one full afternoon around the time of the full moon each month, and to do this in a quiet and unhurried spirit. I desired that they spend the entire afternoon in conference, mutual understanding, discussion of group problems as these affect group service, and—above all—make an attempt (through deep united meditation and the pooling of knowledge) to approach closer to the Hierarchy. This would aid them to work together as a group for world aiding and to do it together. I asked them to study the relation which exists between a Master and His disciples.

Một trong những điều hiện đang chiếm sự chú ý của các Chân sư là sự ngoại hiện các ashram của các Ngài trên cõi bên ngoài. Điều này là sự chuẩn bị cho những phát triển về sau đã được hình dung. Nếu điều này có thể được thực hiện thì những phát triển khác có thể trở nên khả hữu. Một sự mở rộng của ashram là điều được mong muốn. Chính với mục đích này mà tôi đã khởi xướng một hoạt động mới vào tháng Năm năm 1941 và chọn rất nhiều đệ tử của tôi cư trú tại New York. Tôi cũng bắt đầu đưa ra giáo huấn về các giai đoạn của địa vị đệ tử (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, Phần III) và gợi ý rằng các thành viên nhóm nên gặp nhau trong trọn một buổi chiều vào khoảng thời gian trăng tròn mỗi tháng, và làm điều này trong tinh thần yên tĩnh và không vội vã. Tôi mong muốn họ dành trọn buổi chiều để hội ý, thấu hiểu lẫn nhau, thảo luận các vấn đề của nhóm trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến sự phụng sự của nhóm, và—trên hết—cố gắng (qua tham thiền hợp nhất sâu sắc và sự góp chung tri thức) đến gần Thánh đoàn hơn. Điều này sẽ giúp họ làm việc cùng nhau như một nhóm để trợ giúp thế giới và làm điều đó cùng nhau. Tôi đã yêu cầu họ nghiên cứu mối liên hệ tồn tại giữa một Chân sư và các đệ tử của Ngài.

These groups, indicated for externalisation, exist on the inner side as part of one inner Group; they must be externalised for service purposes. The fact that this externalisation is possible indicates certain developments which are the result of the past, of the unfoldment of humanity’s developing powers to recognise Reality, of the invocative cry of the masses everywhere, plus the directed invocation of the spiritual people of the world, and the effect of the world war (1914-1945). All these factors have wrought a great destruction in the materialistic world and have produced a very real expansion in the human consciousness; also, as one [522] of the Masters, unknown to you, remarked at a meeting of Members of the Hierarchy a few weeks ago, “One of the gates is open; those who are ready can come in, but we now can go through it also, and can go to them in a new sense and more directly. May Shamballa help us.”

Những nhóm này, được chỉ định để ngoại hiện, tồn tại ở phía nội tại như một phần của một Nhóm nội tại; chúng phải được ngoại hiện vì mục đích phụng sự. Sự kiện rằng sự ngoại hiện này là khả hữu cho thấy một số phát triển nhất định là kết quả của quá khứ, của sự khai mở các năng lực đang phát triển của nhân loại để nhận biết Thực Tại, của tiếng kêu khẩn cầu của quần chúng ở khắp nơi, cộng với sự khẩn cầu có định hướng của những người tinh thần trên thế giới, và tác động của cuộc thế chiến (1914-1945). Tất cả những yếu tố này đã gây ra một sự hủy diệt lớn trong thế giới duy vật và đã tạo ra một sự mở rộng rất thực trong tâm thức con người; đồng thời, như một [522] trong các Chân sư, không được các bạn biết đến, đã nhận xét tại một cuộc họp của các Thành viên Thánh đoàn vài tuần trước đây: “Một trong những cánh cổng đã mở; những ai sẵn sàng có thể đi vào, nhưng giờ đây chúng ta cũng có thể đi qua đó, và có thể đến với họ theo một ý nghĩa mới và trực tiếp hơn. Cầu mong Shamballa trợ giúp chúng ta.”

It is realised by all in the Hierarchy that the major test connected with a higher initiation confronts Them. Disciples should attempt to realise the tremendous sacrifice involved in this outward move of the Hierarchy into secular existence. The higher the state of initiation, the harder it will be for the initiate concerned. It is, for instance, less of an effort for me to contact you than it would be for some of the Chohans, such as the Masters M. and K.H. I am nearer to you, because I am still utilising the same physical body in which I took the fifth initiation, nearly ninety years ago. Chohans have taken a still higher initiation and are focal points of powerful Ashrams; Their task of adjustment is very much harder. Their invocative appeal to the Lord of the World in His Council Chamber at Shamballa has been mounting for some time. It has been called “The Appeal for Alignment” because the Members of the Hierarchy feel and know that this great return to Earth which has been arranged for the Hierarchy after so long an absence, will call for a fuller expression of the spiritual will than even They realise; They know that it will require the cooperation of Shamballa as well as the cooperation of humanity.

Mọi người trong Thánh đoàn đều nhận ra rằng thử thách lớn liên hệ với một điểm đạo cao hơn đang đối diện Các Ngài. Các đệ tử nên cố gắng nhận ra sự hy sinh to lớn liên quan đến sự chuyển động ra bên ngoài này của Thánh đoàn vào đời sống thế tục. Trạng thái điểm đạo càng cao, điều đó sẽ càng khó đối với điểm đạo đồ liên hệ. Chẳng hạn, đối với tôi việc tiếp xúc với các bạn ít tốn công hơn so với một số Chohan, như các Chân sư M. và K.H. Tôi gần các bạn hơn, vì tôi vẫn còn sử dụng chính thể xác mà trong đó tôi đã nhận lần điểm đạo thứ năm, gần chín mươi năm trước. Các Chohan đã nhận một điểm đạo còn cao hơn nữa và là những tiêu điểm của các ashram đầy quyền năng; nhiệm vụ điều chỉnh của Các Ngài khó khăn hơn rất nhiều. Lời khẩn cầu của Các Ngài hướng đến Đức Chúa Tể Thế Giới trong Phòng Hội Đồng của Ngài tại Shamballa đã gia tăng từ một thời gian nay. Nó đã được gọi là “Lời Khẩn Cầu cho Sự Chỉnh Hợp” vì các Thành viên của Thánh đoàn cảm thấy và biết rằng sự trở về Trái Đất vĩ đại này đã được sắp đặt cho Thánh đoàn sau một thời gian vắng mặt quá lâu, sẽ đòi hỏi một sự biểu lộ đầy đủ hơn của ý chí tinh thần hơn cả điều mà chính Các Ngài nhận ra; Các Ngài biết rằng điều đó sẽ đòi hỏi sự hợp tác của Shamballa cũng như sự hợp tác của nhân loại.

What I have to say about the externalisation of the Hierarchy and its Ashrams could well be divided for the sake of clarity into the following points which will form the basis of the instruction. We shall attempt to follow this outline.

Điều tôi phải nói về sự ngoại hiện của Thánh đoàn và các ashram của nó có thể được chia ra, vì mục đích rõ ràng, thành những điểm sau đây, là những điểm sẽ tạo thành cơ sở của giáo huấn. Chúng ta sẽ cố gắng theo dàn ý này.

Hierarchical Adjustment and Alignment:

Sự Điều Chỉnh và Chỉnh Hợp của Thánh đoàn:

Within Itself.

Bên trong chính Thánh đoàn.

In connection with the Council Chamber of Sanat Kumara. Little can be said about this.

Liên hệ với Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara. Có rất ít điều có thể nói về việc này.

In relation with humanity.

Liên hệ với nhân loại.

You will note that this involves the three planetary centres. [523]

Các bạn sẽ lưu ý rằng điều này bao gồm ba trung tâm hành tinh. [523]

Hierarchical preparation at the Wesak Festival.

Sự chuẩn bị của Thánh đoàn tại Lễ Hội Wesak.

The Mode of Approach towards Externalisation.

Phương thức Tiếp Cận đối với sự Ngoại Hiện.

Steps in the externalisation process.

Các bước trong tiến trình ngoại hiện.

Approach via certain Ashrams.

Tiếp cận qua một số ashram nhất định.

In the consciousness of the disciple in physical expression.

Trong tâm thức của đệ tử đang biểu lộ trong thể xác.

Through dissemination of information of a preparatory nature.

Qua việc phổ biến thông tin có tính chuẩn bị.

The Externalisation itself. This involves:

Chính sự Ngoại Hiện. Điều này bao gồm:

The Return of the Christ.

Sự Quang Lâm của Đức Christ.

The Ashrams concerned at the Coming.

Các ashram liên hệ trong Sự Quang Lâm.

The organisation of the implicated Ashrams into due form on earth.

Sự tổ chức các ashram liên hệ thành hình thức thích hợp trên trần gian.

The externalisation of the Ashrams.

Sự ngoại hiện của các ashram.

Adjustment of the Ashrams and the Masters to exoteric living.

Sự điều chỉnh của các ashram và các Chân sư đối với đời sống ngoại môn.

It will involve also adjustment by disciples and aspirants to the increased stimulation, and the enunciation of certain basic statements.

Điều này cũng sẽ bao gồm sự điều chỉnh của các đệ tử và người chí nguyện đối với sự kích thích gia tăng, và sự tuyên bố một số mệnh đề căn bản.

The Work of the Externalised Ashrams.

Công việc của các ashram đã ngoại hiện.

Creating and vitalising the new world religion.

Tạo dựng và tiếp sinh lực cho tôn giáo thế giới mới.

The gradual reorganising of the social order.

Tái tổ chức dần dần trật tự xã hội.

The public inauguration of the system of initiation.

Công khai khởi xướng hệ thống điểm đạo.

The exoteric training of disciples and of humanity in this new cycle.

Huấn luyện ngoại môn các đệ tử và nhân loại trong chu kỳ mới này.

We can begin on our first point, but only those students who are an integral part of the Hierarchy and in active communication with some Ashram can profit in any measure by information on this subject. For example, those of you who are affiliated with my Ashram (or that of another of the Masters), and going through your preliminary training and functioning on the periphery of the hierarchical centre can get a general idea and develop (if you attempt to do so) an [524] intuitive perception of the proposed hierarchical integrity and future functioning.

Chúng ta có thể bắt đầu với điểm thứ nhất, nhưng chỉ những đạo sinh là một phần không thể tách rời của Thánh đoàn và đang giao tiếp tích cực với một ashram nào đó mới có thể thu được lợi ích ở mức độ nào đó từ thông tin về chủ đề này. Chẳng hạn, những ai trong các bạn có liên kết với ashram của tôi (hoặc của một Chân sư khác), và đang trải qua sự huấn luyện sơ bộ của mình và hoạt động ở chu vi của trung tâm Thánh đoàn, có thể có được một ý niệm tổng quát và phát triển (nếu các bạn cố gắng làm như vậy) một [524] linh thị trực giác về tính toàn vẹn được dự kiến của Thánh đoàn và hoạt động tương lai của nó.

Resent not my words “functioning on the periphery,” for they indicate great opportunity for service. The Masters need many such as you on the outskirts of Their Ashrams, to aid in hierarchical endeavour, because you can reach the general public more easily than They can do, and you can step down the teaching far more adequately than could more advanced disciples. You and disciples like you are a definite part of the Hierarchy; as you function in an Ashram you have a most useful place, and I would beg you to have this ever in mind. I will, therefore, give you whatever information I can and which is permissible, but shall of necessity have to leave much unsaid.

Đừng phật ý vì lời tôi nói “hoạt động ở chu vi,” vì điều đó chỉ ra cơ hội lớn lao để phụng sự. Các Chân sư cần nhiều người như các bạn ở vùng ngoài của các ashram của Các Ngài, để trợ giúp trong nỗ lực của Thánh đoàn, bởi vì các bạn có thể tiếp cận công chúng nói chung dễ dàng hơn Các Ngài, và các bạn có thể hạ thấp giáo huấn xuống một cách thích hợp hơn nhiều so với các đệ tử tiến bộ hơn. Các bạn và những đệ tử như các bạn là một phần xác định của Thánh đoàn; khi các bạn hoạt động trong một ashram, các bạn có một vị trí rất hữu ích, và tôi tha thiết xin các bạn luôn ghi nhớ điều này. Vì vậy, tôi sẽ cung cấp cho các bạn bất kỳ thông tin nào tôi có thể và được phép cung cấp, nhưng tất yếu sẽ phải để nhiều điều không nói ra.

Hierarchical Adjustment and Alignment

Sự Điều Chỉnh và Chỉnh Hợp của Thánh đoàn

What do I mean by the use of the word “adjustment” in connection with the Hierarchy? Adjustment to karma, to the personality, to the soul, to circumstances in the three worlds, to the impact of astral forces, or to the thought currents of those not oriented to the Kingdom of God, does not constitute part of the training of Those Who are beyond the third degree of initiation. Initiates on and beyond that level have transcended reaction along these lines, whilst those below the third initiation are in process of rapid adjustment. I use the word 'adjustment' here definitely in the sense of reorientation, and in this sense much can be noted.

Tôi muốn nói gì khi dùng từ “điều chỉnh” liên hệ với Thánh đoàn? Điều chỉnh đối với nghiệp quả, đối với phàm ngã, đối với linh hồn, đối với hoàn cảnh trong ba cõi giới, đối với tác động của các mãnh lực cảm dục, hay đối với các dòng tư tưởng của những người không định hướng về Thiên Giới, không cấu thành một phần của sự huấn luyện của Những Đấng vượt quá cấp điểm đạo thứ ba. Các điểm đạo đồ ở cấp đó và cao hơn đã vượt qua phản ứng theo những đường hướng ấy, trong khi những người dưới lần điểm đạo thứ ba đang ở trong tiến trình điều chỉnh nhanh chóng. Ở đây tôi dùng từ “điều chỉnh” rõ ràng theo nghĩa định hướng lại, và theo nghĩa này có thể ghi nhận được nhiều điều.

For aeons and for countless cycles, the Hierarchy has functioned withdrawn into a silence on the higher levels of the mental plane and on the buddhic levels where contact has had to be made with Them by those disciples who have, by discipline, development and service, fitted themselves to establish such a relationship. This reorientation and emergence into physical plane publicity is going to demand much from the Members of the Hierarchy. Just as it has not been easy for me to establish and retain contact with you, even when you have established the right to such a contact, [525] so—for Them—it is going to be still more difficult to be in touch with those who are not even disciples.

Trong các đại kiếp và vô số chu kỳ, Thánh đoàn đã hoạt động trong sự rút lui vào im lặng trên các cấp cao hơn của cõi trí và trên các cấp Bồ đề, nơi mà những đệ tử đã tự làm cho mình thích hợp để thiết lập một mối liên hệ như thế bằng kỷ luật, phát triển và phụng sự, mới phải tạo được tiếp xúc với Các Ngài. Sự định hướng lại này và sự xuất hiện vào công khai trên cõi hồng trần sẽ đòi hỏi rất nhiều nơi các Thành viên của Thánh đoàn. Cũng như đối với tôi việc thiết lập và duy trì tiếp xúc với các bạn không phải là điều dễ dàng, ngay cả khi các bạn đã thiết lập được quyền đối với một tiếp xúc như thế, [525] thì đối với Các Ngài, việc tiếp xúc với những người thậm chí còn chưa phải là đệ tử sẽ còn khó khăn hơn nữa.

For aeons and for cycles, the Members of the Hierarchy have been submitting Themselves to the needed training in order to react correctly when fuller contact has been established by Shamballa with the Hierarchy. I would have you note the phrasing here. That contact has now been established as a result of the inflow of certain extra-planetary forces and by an “act of determined direction,” emanating from the Council Chamber of the Lord of the World. Misunderstand me not. The Hierarchy has always been in touch with the “Place of Purpose” (as it has been called) through the medium of its Chohans and its senior Directors, such as the Christ, the Manu and the Lord of Civilisation. These great Beings have steadily revealed this purpose to the Members of the Hierarchy so that They have been able to grasp and work out the emerging Plan. But even to the Masters the Shamballa force has had to be stepped down, just as the force of the Hierarchy requires modifying for the average disciple and aspirant, if they are to respond constructively to it.

Trong các đại kiếp và các chu kỳ, các Thành viên của Thánh đoàn đã tự đặt mình dưới sự huấn luyện cần thiết để đáp ứng đúng đắn khi sự tiếp xúc đầy đủ hơn đã được Shamballa thiết lập với Thánh đoàn. Tôi muốn các bạn lưu ý cách diễn đạt ở đây. Sự tiếp xúc ấy nay đã được thiết lập như là kết quả của sự tuôn đổ vào của một số mãnh lực ngoài hành tinh và bởi một “hành động định hướng kiên quyết,” phát ra từ Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới. Đừng hiểu lầm tôi. Thánh đoàn luôn luôn tiếp xúc với “Nơi của Thiên Ý” (như nó đã được gọi) qua trung gian các Chohan và các Vị Chỉ Đạo cao cấp của mình, như Đức Christ, Đức Manu và Chúa Tể của Văn Minh. Những Đấng Vĩ Đại này đã đều đặn mặc khải Thiên Ý này cho các Thành viên của Thánh đoàn để Các Ngài có thể nắm bắt và triển khai Thiên Cơ đang xuất hiện. Nhưng ngay cả đối với các Chân sư, mãnh lực Shamballa cũng phải được hạ thấp xuống, cũng như mãnh lực của Thánh đoàn cần được điều chỉnh đối với đệ tử và người chí nguyện trung bình, nếu họ muốn đáp ứng với nó một cách xây dựng.

Today, however, things are somewhat changed. New inflowing energies and the partial “sealing” of evil in its own place (a sealing which will be progressively effective) have made a closer relationship possible. The Masters are somewhat freer from certain of the arduous labours of the past cycles. Some of the available inflowing Shamballa forces are being absorbed directly by humanity and by certain of the subhuman kingdoms, particularly the mineral kingdom. This latter absorption will lead eventually, when complete, to those volcanic episodes and those basic earthquakes which will change the face of the earth by the time the sixth rootrace comes into manifestation. It is this direct inflow to the kingdoms functioning exoterically in the three worlds which has relieved and will to some extent relieve the otherwise overpowering pressure upon the Hierarchy, and will also act as a great aligning antahkarana between the three planetary centres. It is to this alignment I refer in this instruction—[526] the alignment of the three centres upon this planet and the adjustments that this necessitates and inevitably enforces.

Tuy nhiên, ngày nay mọi việc đã phần nào thay đổi. Những năng lượng mới đang tuôn vào và sự “niêm phong” một phần điều ác vào đúng chỗ của nó (một sự niêm phong sẽ ngày càng hữu hiệu) đã làm cho một mối liên hệ gần gũi hơn trở nên khả hữu. Các Chân sư phần nào được tự do hơn khỏi một số lao nhọc gian khổ của các chu kỳ trước. Một số mãnh lực Shamballa đang tuôn vào hiện có đang được nhân loại và một số giới dưới nhân loại hấp thu trực tiếp, đặc biệt là giới kim thạch. Sự hấp thu sau này cuối cùng, khi hoàn tất, sẽ dẫn đến những đợt phun trào núi lửa và những trận động đất căn bản sẽ làm thay đổi bộ mặt trái đất vào thời điểm giống dân gốc thứ sáu xuất hiện. Chính sự tuôn vào trực tiếp này đến các giới đang hoạt động ngoại môn trong ba cõi giới đã làm giảm nhẹ và sẽ phần nào làm giảm nhẹ áp lực vốn nếu không sẽ đè nặng quá mức lên Thánh đoàn, và cũng sẽ hoạt động như một antahkarana chỉnh hợp lớn giữa ba trung tâm hành tinh. Chính sự chỉnh hợp này mà tôi đề cập trong giáo huấn này—[526] sự chỉnh hợp của ba trung tâm trên hành tinh này và những điều chỉnh mà điều đó đòi hỏi và tất yếu áp đặt.

For the sake of humanity in the first place, and secondarily for the development of the subhuman kingdoms, the Hierarchy has made certain difficult adjustments and alignments between the planetary centres, and these have been compulsory in their effects. Therefore, bear in mind that the adjustments which the Hierarchy may impose upon itself bear small resemblance to the adjustments which you have to make in relation to your personality life. They are all hallmarked by the idea of service to the whole. The Hierarchy in its true sense has no personality through which to express itself, and this greatly complicates the problems which have to be faced as it contemplates exoteric manifestation and work.

Trước hết vì lợi ích của nhân loại, và thứ yếu vì sự phát triển của các giới dưới nhân loại, Thánh đoàn đã thực hiện một số điều chỉnh và chỉnh hợp khó khăn giữa các trung tâm hành tinh, và các tác động của chúng là bắt buộc. Vì vậy, hãy ghi nhớ rằng những điều chỉnh mà Thánh đoàn có thể tự áp đặt lên chính mình rất ít giống với những điều chỉnh mà các bạn phải thực hiện liên hệ với đời sống phàm ngã của mình. Tất cả chúng đều mang dấu ấn của ý tưởng phụng sự toàn thể. Thánh đoàn theo ý nghĩa chân thực của nó không có phàm ngã để qua đó biểu lộ chính mình, và điều này làm phức tạp rất nhiều những vấn đề phải đối diện khi Thánh đoàn suy tính đến sự biểu hiện và công việc ngoại môn.

Adjustments and Alignments within the Hierarchy

Những Điều Chỉnh và Chỉnh Hợp bên trong Thánh đoàn

What, in the last analysis, is this Hierarchy? It is a great salvaging corps of dedicated, liberated Units of Life, working in group formation with all forms and lives in all kingdoms and with all souls particularly. As the Hierarchy so works, its emphasis is solely on the consciousness aspect of all forms; its present agency of salvage and of service is the mind, as it expresses itself through the minds of all humanitarians, all aspirants, all disciples (of all rays and degrees) and of all initiates; the Hierarchy also can express itself through the medium of thought currents and ideas and through them impose its hierarchical concepts upon the embryonic minds of the general and average public; and it also directs the educational work of all nations, so that the undeveloped masses can become—in due turn—the intelligent general public.

Rốt cuộc, Thánh đoàn này là gì? Đó là một đoàn thể cứu vớt vĩ đại gồm những Đơn Vị Sự Sống tận hiến, được giải thoát, làm việc trong đội hình nhóm với mọi hình tướng và sự sống trong mọi giới và đặc biệt với mọi linh hồn. Khi Thánh đoàn làm việc như vậy, sự nhấn mạnh của nó chỉ đặt trên phương diện tâm thức của mọi hình tướng; tác nhân cứu vớt và phụng sự hiện nay của nó là trí tuệ, khi nó biểu lộ qua trí tuệ của mọi nhà nhân đạo, mọi người chí nguyện, mọi đệ tử (thuộc mọi cung và mọi cấp độ) và mọi điểm đạo đồ; Thánh đoàn cũng có thể biểu lộ chính mình qua trung gian các dòng tư tưởng và các ý tưởng và qua đó áp đặt các khái niệm của Thánh đoàn lên trí tuệ còn phôi thai của công chúng nói chung và trung bình; và Thánh đoàn cũng chỉ đạo công việc giáo dục của mọi quốc gia, để quần chúng chưa phát triển có thể đến lượt mình trở thành công chúng thông minh.

The Hierarchy works, as you know, in or through three major departments, each possessing its full Personnel, and under three Great Lords. I have dealt with this in some detail in Initiation, Human and Solar, as well as elsewhere [527] in my writings; more information at this point is needless and of no real service to you.

Như các bạn biết, Thánh đoàn làm việc trong hoặc qua ba ban chính, mỗi ban có đầy đủ Nhân sự của mình, và dưới quyền ba Đức Chúa Tể Vĩ Đại. Tôi đã bàn đến điều này khá chi tiết trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, cũng như ở nơi khác [527] trong các trước tác của tôi; thêm thông tin ở điểm này là không cần thiết và không thực sự hữu ích cho các bạn.

The Hierarchy works also through the seven major Ashrams and their affiliated Ashrams, and these “seven which are the forty-nine” represent in their totality the seven rays with their subrays, and are the custodians, transmitters and distributors of the seven ray energies to the seven planetary centres and—via these seven centres—to those in the fourth kingdom in nature (as they gradually unfold over the aeons) and then, via these, to the seven centres in individual man. Such is the synthesis.

Thánh đoàn cũng làm việc qua bảy ashram chính và các ashram liên kết của chúng, và “bảy cái là bốn mươi chín” này trong tổng thể của chúng biểu hiện bảy cung cùng các cung phụ của chúng, và là những người gìn giữ, truyền chuyển và phân phối các năng lượng bảy cung đến bảy trung tâm hành tinh và—qua bảy trung tâm này—đến những người trong giới thứ tư trong thiên nhiên (khi họ dần dần khai mở qua các đại kiếp) và rồi, qua những người này, đến bảy trung tâm trong từng con người. Đó là sự tổng hợp.

The seven major centres or Ashrams within the Hierarchy are each presided over by Masters of Chohan rank; the seven subsidiary centres or Ashrams are presided over by Masters and Adepts (of the fifth and fourth initiations), aided by initiates of the third degree and certain picked and senior disciples. Several of the seven affiliated Ashrams are, as yet, incomplete as regards personnel, but vacancies are rapidly being filled as the spiritual effects of the world war (1914-1945) make themselves felt. These effects are very real and have been a source of great encouragement to hierarchical workers.

Bảy trung tâm hay ashram chính trong Thánh đoàn, mỗi trung tâm đều do các Chân sư cấp Chohan chủ trì; bảy trung tâm hay ashram phụ thuộc do các Chân sư và chân sư (ở lần điểm đạo thứ năm và thứ tư) chủ trì, được trợ giúp bởi các điểm đạo đồ cấp ba và một số đệ tử được chọn lựa và cao cấp. Một số trong bảy ashram liên kết, cho đến nay, vẫn chưa hoàn chỉnh về mặt nhân sự, nhưng các chỗ trống đang nhanh chóng được lấp đầy khi các tác động tinh thần của cuộc thế chiến (1914-1945) bắt đầu được cảm nhận. Những tác động này rất thực và đã là nguồn khích lệ lớn cho những người hoạt động của Thánh đoàn.

Before the Hierarchy can emerge (as is the intention), the relation between a major Ashram and its subsidiary Ashrams must be firmly established, whilst that between a major Ashram and other major Ashrams has to be brought more definitely and unquestionably closer to Shamballa, and under the influence of that great first ray centre. The energy which will align and adjust the subsidiary forty-nine Ashrams is that of the second Ray of Love-Wisdom. That, however, which will bring about a similar adjusting and aligning impetus in the seven major Ashrams is the energy of the first Ray of Will or Power. I have here given you a most important item of occult information, but one which is of no importance to you individually; it serves, however, to present proof of the significant occult relation between the three planetary centres. Just as the third planetary centre, Humanity, has now reached a point of intelligent development [528] so that a closer rapport can be set up between it and the Hierarchy, so the Hierarchy also has moved forward as a unit so that a closer corresponding rapport can also be set up between It and Shamballa. Just as the rapport between the Hierarchy and Humanity is established via aspirants, disciples and initiates in physical existence who are responding to the love-wisdom of the universe in some measure and who work via the intelligent people in incarnation primarily, so rapport between Shamballa and the Hierarchy is being more closely established via the senior Ashrams, and not via the secondary ones. You have, therefore, a situation which might be depicted somewhat as follows:

Trước khi Thánh đoàn có thể xuất hiện (như là ý định), mối liên hệ giữa một ashram chính và các ashram phụ thuộc của nó phải được thiết lập vững chắc, trong khi mối liên hệ giữa một ashram chính và các ashram chính khác phải được đưa đến gần Shamballa hơn một cách rõ rệt và không thể nghi ngờ, và ở dưới ảnh hưởng của trung tâm cung một vĩ đại ấy. Năng lượng sẽ chỉnh hợp và điều chỉnh bốn mươi chín ashram phụ thuộc là năng lượng của cung hai Bác Ái – Minh Triết. Tuy nhiên, năng lượng sẽ mang lại một xung lực điều chỉnh và chỉnh hợp tương tự trong bảy ashram chính là năng lượng của Cung một Ý Chí hay Quyền Năng. Ở đây tôi đã cung cấp cho các bạn một dữ kiện huyền bí rất quan trọng, nhưng là điều không quan trọng đối với riêng từng cá nhân các bạn; tuy nhiên, nó giúp đưa ra bằng chứng về mối liên hệ huyền bí có ý nghĩa giữa ba trung tâm hành tinh. Cũng như trung tâm hành tinh thứ ba, Nhân loại, hiện nay đã đạt đến một điểm phát triển thông minh [528] để có thể thiết lập một mối tương giao gần gũi hơn giữa nó và Thánh đoàn, thì Thánh đoàn cũng đã tiến lên như một đơn vị để một mối tương giao tương ứng gần gũi hơn cũng có thể được thiết lập giữa Nó và Shamballa. Cũng như mối tương giao giữa Thánh đoàn và Nhân loại được thiết lập qua những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ đang tồn tại trong thể xác, những người đang đáp ứng ở một mức độ nào đó với bác ái-minh triết của vũ trụ và làm việc chủ yếu qua những người thông minh đang lâm phàm, thì mối tương giao giữa Shamballa và Thánh đoàn cũng đang được thiết lập chặt chẽ hơn qua các ashram cao cấp, chứ không phải qua các ashram thứ yếu. Vì vậy, các bạn có một tình huống có thể được mô tả phần nào như sau:

I. First Planetary Centre........... Shamballa

I. Trung tâm Hành tinh Thứ nhất........... Shamballa

working through

làm việc qua

1. The seven Rays or the seven Spirits before the Throne.

1. Bảy Cung hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

2. Certain great Intermediaries.

2. Một số Đấng Trung Gian vĩ đại.

3. The Council Chamber of the Lord of the World.

3. Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới.

II. Second Planetary Centre........ Hierarchy

II. Trung tâm Hành tinh Thứ hai........ Thánh đoàn

working through

làm việc qua

1. The seven major Chohans and Their Ashrams.

1. Bảy Chohan chính và các ashram của Các Ngài.

2. The forty-nine Masters of the secondary Ashrams.

2. Bốn mươi chín Chân sư của các ashram thứ yếu.

3. The sum total of the secondary Ashrams.

3. Tổng số các ashram thứ yếu.

III. Third Planetary Centre......... Humanity

III. Trung tâm Hành tinh Thứ ba......... Nhân loại

working through

làm việc qua

1. Disciples in manifestation—of the seven ray types.

1. Các đệ tử đang biểu hiện—thuộc bảy loại cung.

2. The New Group of World Servers.

2. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

3. The sum total of humanitarians, educators and men of goodwill.

3. Tổng số các nhà nhân đạo, các nhà giáo dục và những người thiện chí.

This is but a rough picture and one which is not totally correct; it will, however, show you certain direct lines of contact and of relationship which are true and which will suffice to [529] give you a vague and general idea of the new alignment being set up between the three major planetary centres, requiring new adjustments.

Đây chỉ là một bức tranh phác thảo và không hoàn toàn chính xác; tuy nhiên, nó sẽ cho các bạn thấy một số đường tiếp xúc và liên hệ trực tiếp vốn là chân thực và sẽ đủ để [529] cho các bạn một ý niệm mơ hồ và tổng quát về sự chỉnh hợp mới đang được thiết lập giữa ba trung tâm hành tinh chính, đòi hỏi những điều chỉnh mới.

At this particular time, the emphasis of the needed alignments and adjustments with which the Hierarchy is faced is being placed upon activity within the Hierarchy Itself. The secondary Ashrams are being stimulated; new ones are being gradually formed, for there are not as yet forty-nine minor Ashrams; vacancies in the major Ashrams are being filled as rapidly as possible from the ranks of those working in minor Ashrams and the places of these latter are being taken by accepted disciples who are being fitted for this work through experience, difficulties and the tension of world service. All these changes necessitate much adjustment. The interior work of hierarchical alignment is in the charge of the Chohans of the Major Ashrams, whilst the task of superintending the interior adjustments incident to new alignments and the admission of new personnel is being watched over and directed by the forty-nine Masters who are in charge of minor Ashrams—either Ashrams with what is regarded as a full complement of workers, or Ashrams in process of attaining that full complement, or embryonic Ashrams of which there are already quite a few.

Vào thời điểm đặc biệt này, sự nhấn mạnh của những chỉnh hợp và điều chỉnh cần thiết mà Thánh đoàn đang phải đối diện được đặt vào hoạt động bên trong chính Thánh đoàn. Các ashram thứ yếu đang được kích thích; những ashram mới đang dần dần được hình thành, vì hiện chưa có đủ bốn mươi chín ashram nhỏ; các chỗ trống trong các ashram chính đang được lấp đầy nhanh nhất có thể từ hàng ngũ những người làm việc trong các ashram nhỏ và vị trí của những người sau này đang được thay thế bởi các đệ tử được chấp nhận, những người đang được chuẩn bị cho công việc này qua kinh nghiệm, khó khăn và sự căng thẳng của phụng sự thế giới. Tất cả những thay đổi này đòi hỏi rất nhiều điều chỉnh. Công việc nội tại của sự chỉnh hợp Thánh đoàn do các Chohan của các ashram chính phụ trách, trong khi nhiệm vụ giám sát các điều chỉnh nội tại phát sinh từ những chỉnh hợp mới và việc tiếp nhận nhân sự mới đang được theo dõi và chỉ đạo bởi bốn mươi chín Chân sư phụ trách các ashram nhỏ—hoặc là các ashram được xem là có đủ số người hoạt động, hoặc là các ashram đang trong tiến trình đạt đến đủ số đó, hoặc là các ashram phôi thai mà hiện đã có khá nhiều.

One of the results of this hierarchical alignment and adjustment will be the establishment, for the first time, of a fluid interplay and movement between the three planetary centres. Chohans are today passing out of the Hierarchy into the Council Chamber of the Lord of the World, or on to one or other of the Seven Paths; senior Masters in charge of Ashrams are taking higher grades of initiation and taking the rank of Chohans; initiates above the third degree are rapidly taking the fourth and fifth initiations and becoming Masters (taking both initiations in one life), and their places are being taken by lesser initiates; these, in their turn, have been training disciples to take their places, until in this process of substitution and replacement we arrive at the door which symbolically stands between humanity and the Hierarchy, and today stands wide open, so that accepted [530] disciples are taking initiation, pledged disciples are being accepted, and accepting disciples are taking their pledges.

Một trong những kết quả của sự chỉnh hợp và điều chỉnh có tính chất Thánh đoàn này sẽ là việc thiết lập, lần đầu tiên, một sự tương tác và vận động linh động giữa ba trung tâm hành tinh. Các Chohan ngày nay đang rời khỏi Thánh Đoàn để đi vào Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới, hoặc tiến lên một trong Bảy Con Đường; các Chân sư cao cấp phụ trách các Ashram đang tiếp nhận những cấp điểm đạo cao hơn và đảm nhận cấp bậc Chohan; các điểm đạo đồ trên cấp ba đang nhanh chóng tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư và lần điểm đạo thứ năm và trở thành Chân sư (tiếp nhận cả hai lần điểm đạo trong một kiếp sống), và chỗ của họ đang được các điểm đạo đồ thấp hơn thay thế; đến lượt mình, những vị này đã huấn luyện các đệ tử để thay thế chỗ của họ, cho đến khi trong tiến trình thay thế và bổ sung này, chúng ta đi đến cánh cửa tượng trưng đứng giữa nhân loại và Thánh Đoàn, và ngày nay đang mở rộng, đến nỗi các đệ tử [530] được chấp nhận đang tiếp nhận điểm đạo, các đệ tử đã tuyên thệ đang được chấp nhận, và các đệ tử đang chấp nhận đang tuyên thệ.

Thus a great and new movement is proceeding and a tremendously increased interplay and interaction is taking place. This will go on until A.D. 2025. During the years intervening between now and then very great changes will be seen taking place, and at the great General Assembly of the Hierarchy—held as usual every century—in 2025 the date in all probability will be set for the first stage of the externalisation of the Hierarchy. The present cycle (from now until that date) is called technically “The Stage of the Forerunner”. It is preparatory in nature, testing in its methods, and intended to be revelatory in its techniques and results. You can see therefore that Chohans, Masters, initiates, world disciples, disciples and aspirants affiliated with the Hierarchy are all at this time passing through a cycle of great activity.

Do đó, một vận động lớn lao và mới mẻ đang diễn ra, và một sự tương tác và tác động qua lại gia tăng mạnh mẽ đang xảy ra. Điều này sẽ tiếp tục cho đến năm 2025 sau Công nguyên. Trong những năm từ nay đến lúc đó, người ta sẽ thấy những thay đổi rất lớn đang diễn ra, và tại Đại Hội Đồng toàn thể của Thánh Đoàn—được tổ chức như thường lệ mỗi thế kỷ một lần—vào năm 2025, rất có thể ngày tháng sẽ được ấn định cho giai đoạn đầu tiên của Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn. Chu kỳ hiện nay (từ nay đến ngày đó) về mặt kỹ thuật được gọi là “Giai Đoạn của Người Đi Trước”. Về bản chất, nó có tính chuẩn bị, có tính thử nghiệm trong các phương pháp, và nhằm mang tính mặc khải trong các kỹ thuật và kết quả của nó. Vì vậy, bạn có thể thấy rằng các Chohan, các Chân sư, các điểm đạo đồ, các đệ tử thế gian, các đệ tử và những người chí nguyện liên kết với Thánh Đoàn đều đang đi qua một chu kỳ hoạt động lớn lao vào lúc này.

In the adjustment necessitated by the rapidly advancing alignment, the Members of the Hierarchy are fitting Themselves for the objective work of public expression. This entails far more difficulty than you might imagine or anticipate, because it entails the development of that form of “resistance to the pull of the lower vibration” of which you can know nothing, for that lower vibration is a necessary aspect of your normal expression—little as you may like to realise this. You need to realise that there is nothing in the Masters or higher initiates which can respond to any vibration of this nature. Though They cannot absorb it or react to it or re-develop it again, it can cause Them the acutest discomfort and pain; that is the reason why the Son of God was called in The Old Testament a “man of sorrows and acquainted with grief”. This did not in reality refer to His sufferings for poor miserable humanity (as orthodox theology so selfishly interprets it) but to the fact that He had to submit Himself to contact with humanity. The Hierarchy is therefore, along all lines (many of which I may not indicate or upon which I may not enlarge), preparing Itself for the experience of physical manifestation; It is also endeavouring to “create” the needed responsive apparatus which will be of such a nature that [531] Members of the Hierarchy may function with the minimum of difficulty on earth and will experience the least possible measure of handicap; They will thus be enabled to give full time and attention to the work to be done by Them in physical manifestation.

Trong sự điều chỉnh do sự chỉnh hợp đang tiến triển nhanh chóng đòi hỏi, các Thành Viên của Thánh Đoàn đang tự thích nghi cho công việc khách quan của sự biểu lộ công khai. Điều này bao hàm nhiều khó khăn hơn bạn có thể tưởng tượng hay dự liệu, bởi vì nó đòi hỏi sự phát triển của hình thức “kháng cự đối với sức hút của rung động thấp” mà bạn không thể biết gì về nó, vì rung động thấp đó là một phương diện cần thiết của sự biểu lộ bình thường của bạn—dù bạn có thể không thích chứng nghiệm điều này đến đâu. Bạn cần chứng nghiệm rằng trong các Chân sư hay các điểm đạo đồ cao cấp không có gì có thể đáp ứng với bất kỳ rung động nào thuộc bản chất này. Dù Các Ngài không thể hấp thụ nó, hay phản ứng với nó, hay tái phát triển nó lần nữa, nó vẫn có thể gây cho Các Ngài sự khó chịu và đau đớn sắc bén nhất; đó là lý do vì sao Con của Thượng đế trong Cựu Ước được gọi là “người của sầu khổ và quen thuộc với ưu phiền”. Điều này thực ra không ám chỉ những đau khổ của Ngài vì nhân loại nghèo khổ đáng thương (như thần học chính thống đã ích kỷ diễn giải), mà là vì Ngài đã phải tự đặt mình vào sự tiếp xúc với nhân loại. Vì vậy, Thánh Đoàn đang chuẩn bị, trên mọi tuyến hoạt động (nhiều tuyến trong số đó tôi không thể nêu ra hoặc không thể khai triển), cho kinh nghiệm biểu hiện hồng trần; Thánh Đoàn cũng đang nỗ lực “tạo ra” bộ máy đáp ứng cần thiết, có bản chất sao cho [531] các Thành Viên của Thánh Đoàn có thể hoạt động trên Trái Đất với mức khó khăn tối thiểu và sẽ trải nghiệm mức cản trở ít nhất có thể; nhờ đó Các Ngài sẽ có thể dành trọn thời gian và sự chú ý cho công việc mà Các Ngài phải thực hiện trong biểu hiện hồng trần.

They are endeavouring also to establish a closer telepathic rapport and a more intimate (though strictly impersonal) relationship with Their disciples on all rays, so that there can be a free interplay of thought and a consequent better hierarchical integrity and one which—no matter what may happen in the three worlds—cannot be disrupted or in any way lessened.

Các Ngài cũng đang nỗ lực thiết lập một mối tương quan viễn cảm chặt chẽ hơn và một mối liên hệ mật thiết hơn (dù hoàn toàn vô ngã) với các đệ tử của Các Ngài trên mọi cung, để có thể có một sự tương tác tư tưởng tự do và do đó có được một sự toàn vẹn Thánh đoàn tốt hơn, một sự toàn vẹn mà—bất kể điều gì có thể xảy ra trong ba cõi thấp—không thể bị phá vỡ hay suy giảm theo bất kỳ cách nào.

Although for Them no astral plane exists and glamour is entirely non-existent, They have to learn to do a most peculiar thing: to work on the astral plane (because it exists for humanity and for the animal kingdom), to traverse this region of glamour and then to “demonstrate light in dissipating fog” in a manner for which there has hitherto been no call. None of this information may make much sense to you, but I am simply seeking to go on record for the sake of those who will come after you. There is little more that I may give you anent adjustment and alignment within the Hierarchy. It is rapidly proceeding, and just in so far as disciples demonstrate upon the outer physical plane and in the three worlds their affiliation with an Ashram will they share in this dual process. Are you prepared for this?

Mặc dù đối với Các Ngài không có cõi cảm dục nào tồn tại và ảo cảm hoàn toàn không hiện hữu, Các Ngài vẫn phải học làm một điều hết sức đặc biệt: làm việc trên cõi cảm dục (vì nó tồn tại đối với nhân loại và đối với giới động vật), đi xuyên qua vùng ảo cảm này và rồi “biểu hiện ánh sáng trong việc làm tiêu tan sương mù” theo một cách mà từ trước đến nay chưa từng có nhu cầu. Có thể không điều nào trong thông tin này có nhiều ý nghĩa đối với bạn, nhưng tôi chỉ đơn giản tìm cách ghi lại điều này vì lợi ích của những người sẽ đến sau bạn. Tôi không thể cho bạn thêm bao nhiêu nữa về sự điều chỉnh và chỉnh hợp bên trong Thánh Đoàn. Nó đang tiến hành nhanh chóng, và đệ tử càng biểu hiện trên cõi hồng trần bên ngoài và trong ba cõi thấp sự liên kết của mình với một Ashram đến mức nào, họ sẽ chia sẻ trong tiến trình kép này đến mức ấy. Bạn đã sẵn sàng cho điều này chưa?

In Connection with the Council Chamber of Sanat Kumara, the Lord of the World

Liên quan đến Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới

As this subject concerns one of the seven goals towards which the Masters aim after They have attained the fifth initiation, it will be obvious to you that there is little that I can say about it. One of the seven Paths for which the Way of the Higher Evolution prepares the senior initiates is the Path of Earth Service. This Path, as you know, keeps the Masters attached to service in the three worlds for a period much longer than the average. It involves tremendous sacrifice. [532] Just as the disciple has to live a dual life, with one part of his reflective nature and awareness centred in the life of the Hierarchy and the other part of his mental responsiveness equally centred on life in the three worlds, and this simultaneously, so the Master, when He chooses this Path, forms a constituent part of the Council Chamber of the Lord of the World and at the same time works consciously in the three worlds, via the Hierarchy (of which He remains also a part), and with the human and subhuman kingdoms in nature. As evolution proceeds, He will work increasingly via humanity because humanity will be shouldering its responsibilities as the Macrocosm of the lesser microcosm. This dual activity entails much specialised training, and as the initiatory process becomes exoteric and men everywhere recognise it and participate in it, the training which Members of the Hierarchy also undergo will not be so secret and mysterious as it is today. But the time has not yet come to publicise it.

Vì chủ đề này liên quan đến một trong bảy mục tiêu mà các Chân sư nhắm đến sau khi Các Ngài đã đạt lần điểm đạo thứ năm, hiển nhiên là tôi có rất ít điều có thể nói về nó. Một trong bảy Con Đường mà Con đường Tiến Hóa Cao Siêu chuẩn bị cho các điểm đạo đồ cao cấp là Con Đường Phụng Sự Địa Cầu. Như bạn biết, Con Đường này giữ các Chân sư gắn bó với sự phụng sự trong ba cõi thấp trong một thời gian dài hơn nhiều so với mức trung bình. Nó bao hàm sự hy sinh to lớn. [532] Cũng như đệ tử phải sống một đời sống kép, với một phần của bản chất phản chiếu và sự nhận biết của y tập trung vào sự sống của Thánh Đoàn và phần kia của sự đáp ứng trí tuệ của y cũng tập trung vào đời sống trong ba cõi thấp, và điều này diễn ra đồng thời, thì Chân sư cũng vậy, khi Ngài chọn Con Đường này, Ngài tạo thành một phần cấu thành của Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới và đồng thời làm việc một cách hữu thức trong ba cõi thấp, thông qua Thánh Đoàn (mà Ngài vẫn cũng là một phần của nó), và với các giới nhân loại và dưới nhân loại trong thiên nhiên. Khi tiến hoá tiếp diễn, Ngài sẽ ngày càng làm việc thông qua nhân loại, bởi vì nhân loại sẽ gánh vác các trách nhiệm của mình với tư cách là Đại thiên địa của tiểu thiên địa nhỏ hơn. Hoạt động kép này đòi hỏi nhiều huấn luyện chuyên biệt, và khi tiến trình điểm đạo trở nên công khai và những người nam và nữ ở khắp nơi nhận ra nó và tham dự vào nó, thì sự huấn luyện mà các Thành Viên của Thánh Đoàn cũng trải qua sẽ không còn bí mật và huyền nhiệm như ngày nay. Nhưng thời điểm để công bố điều đó vẫn chưa đến.

Only certain further generalisations are here possible, some of which are already known to you because they are so broad that their inclusions and implications are obvious. This, for instance, concerns the “centre where the Will of God is known”. Here at Shamballa work Those Who have unified Their personality will and Their spiritual will with the universal will, and such a unification inevitably brings knowledge. It is, however, not knowledge as you understand it. It is a blend of wisdom based on knowledge, understanding based on intuitive perception, and identification based on alignment, esoterically comprehended. For this peculiar condition or awareness we have no word in any language, and only the utilisation (the trained utilisation) of the abstract mind can possibly convey to you even an embryonic factual conception. But that type of imaginative conception will become more common during the next two centuries, and my words here will therefore serve an ultimate purpose. Those Who form the Council Chamber of the Great Lord are under no misapprehension as to His will because They [533] see it whole. Paul, the initiate, hints at this when writing one of the Epistles; he is in touch then with certain Members of the Hierarchy and is concerned with the theme of Love, which is the fundamental hierarchical theme and motive. He says to Them: “Now we see through a glass darkly, but then face to face; now we know in part, but then shall we know even as we are known.” He there points towards the future progress of the Hierarchy—a progress which remains as yet only a vague promise, lacking form and shape. But he wrote for initiates to whom love was a growing, vital concern, and to whom love and its practice meant light and the basic motif of all living, divine activity. It is not possible to reveal the will of God and the motivating Purpose of His manifesting Self, except to Those Who have demonstrated perfected love and Who register no sense of disunion or the faintest reaction to separateness.

Chỉ có thể nêu ra ở đây một số khái quát thêm nữa, trong đó có vài điều bạn đã biết vì chúng quá rộng đến nỗi những gì chúng bao hàm và hàm ý đều hiển nhiên. Chẳng hạn, điều này liên quan đến “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến”. Tại Shamballa, những Đấng đang làm việc ở đó là những Đấng đã hợp nhất ý chí phàm ngã của Các Ngài và ý chí tinh thần của Các Ngài với ý chí vũ trụ, và sự hợp nhất như thế tất yếu mang lại tri thức. Tuy nhiên, đó không phải là tri thức như bạn hiểu. Đó là một sự hòa trộn của minh triết dựa trên tri thức, của thấu hiểu dựa trên linh thị trực giác, và của sự đồng hoá dựa trên chỉnh hợp, được thấu hiểu một cách huyền bí. Đối với trạng thái hay sự nhận biết đặc biệt này, chúng ta không có từ nào trong bất kỳ ngôn ngữ nào, và chỉ có việc sử dụng (việc sử dụng đã được huấn luyện) trí trừu tượng mới có thể truyền đạt cho bạn dù chỉ là một quan niệm phôi thai nhưng thực tế. Nhưng loại quan niệm bằng sự tưởng tượng đó sẽ trở nên phổ biến hơn trong hai thế kỷ tới, và vì vậy những lời tôi nói ở đây sẽ phục vụ một mục đích tối hậu. Những Đấng tạo thành Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Vĩ Đại không hề hiểu sai về ý chí của Ngài vì Các Ngài [533] thấy nó trong toàn thể. Điểm đạo đồ Paul đã gợi ý điều này khi viết một trong các Thư Tín; lúc đó ông đang tiếp xúc với một số Thành Viên của Thánh Đoàn và quan tâm đến chủ đề Bác ái, vốn là chủ đề và động cơ căn bản của Thánh đoàn. Ông nói với Các Ngài: “Hiện nay chúng ta thấy qua một tấm kính mờ tối, nhưng rồi sẽ mặt đối mặt; hiện nay chúng ta biết từng phần, nhưng rồi chúng ta sẽ biết như chính chúng ta được biết.” Ở đó ông chỉ về sự tiến bộ tương lai của Thánh Đoàn—một sự tiến bộ mà hiện vẫn chỉ là một lời hứa mơ hồ, thiếu hình dạng và khuôn mẫu. Nhưng ông viết cho các điểm đạo đồ, những người mà bác ái là một mối quan tâm sống động đang tăng trưởng, và đối với họ bác ái cùng việc thực hành nó có nghĩa là ánh sáng và là mô-típ căn bản của mọi hoạt động thiêng liêng đang sống. Không thể mặc khải ý chí của Thượng đế và Thiên Ý thúc đẩy Bản Ngã biểu lộ của Ngài, ngoại trừ cho những Đấng đã biểu lộ bác ái hoàn hảo và không ghi nhận bất kỳ cảm giác bất hòa nào hay phản ứng dù mờ nhạt nhất đối với sự phân ly.

At Shamballa, the Great Lives Who function there not only see manifestation whole and apart from all the limitations of time, but They feel all the major evolutionary impulses which are bringing the developing world into line with the divine Will. They embody those impulses not in terms of progressive movement, but in terms of one great divine and spiritual reaction. This idea can perhaps be best understood by you in terms of the Eternal AUM which is the symbol of the Eternal NOW. You have been told, and it has been demonstrated, that the AUM is composed of one major Sound, three minor sounds, and seven subsidiary vibratory tones. So it is with the Will of God which is embodied and held in synthesis by the Members of the Council Chamber. To Them, as They “hold the Will of God in solution, it is one clear note; as They see that Will in motion, it is three abiding chords, carrying outwards into all the worlds the Purpose of the ONE Who for aeons will abide; as They impel that Will to demonstrate, it is seven vibratory tones, drawing out into the reflected worlds the structure of the Plan. And thus the note, the chords and tone produce the Plan, reveal the Purpose and indicate God’s Will.” This [534] is a quotation from certain of the ancient Archives which constitute the study of the Masters; they relate to the nature of Shamballa, its work and emanating energies.

Tại Shamballa, các Sự Sống Vĩ Đại đang hoạt động ở đó không những thấy toàn bộ sự biểu hiện tách khỏi mọi giới hạn của thời gian, mà Các Ngài còn cảm nhận mọi xung lực tiến hoá chủ yếu đang đưa thế giới đang phát triển vào sự phù hợp với Ý Chí thiêng liêng. Các Ngài hiện thân những xung lực đó không theo nghĩa vận động tiến bộ, mà theo nghĩa một phản ứng thiêng liêng và tinh thần vĩ đại duy nhất. Có lẽ bạn có thể hiểu ý tưởng này rõ nhất qua Linh từ AUM Vĩnh Cửu, là biểu tượng của Hiện Tại Vĩnh Cửu. Bạn đã được bảo, và điều đó đã được chứng minh, rằng AUM được cấu thành bởi một Âm thanh chính, ba âm thanh phụ, và bảy âm điệu rung động thứ yếu. Ý Chí của Thượng đế cũng như vậy, được hiện thân và được các Thành Viên của Phòng Hội Đồng nắm giữ trong tổng hợp. Đối với Các Ngài, khi Các Ngài “giữ Ý Chí của Thượng đế trong trạng thái hòa tan, nó là một âm điệu rõ ràng duy nhất; khi Các Ngài thấy Ý Chí đó trong vận động, nó là ba hợp âm thường tồn, mang Thiên Ý của Đấng Duy Nhất, Đấng sẽ trường tồn qua các đại kiếp, tỏa ra khắp mọi thế giới; khi Các Ngài thúc đẩy Ý Chí đó biểu hiện, nó là bảy âm điệu rung động, kéo cấu trúc của Thiên Cơ vào các thế giới phản chiếu. Và như thế âm điệu, các hợp âm và thanh âm tạo ra Thiên Cơ, mặc khải Thiên Ý và chỉ ra Ý Chí của Thượng đế.” Đây [534] là một trích dẫn từ một số Cổ Luận cấu thành môn học của các Chân sư; chúng liên quan đến bản chất của Shamballa, công việc của nó và các năng lượng phát xạ từ đó.

Shamballa, as it constitutes the synthesis of understanding where our Earth is concerned, is also the centre where the highest Will of the Solar Logos is imposed upon the Will of our planetary Logos, Who is, as you know, only a centre in His greater body of manifestation. With this item of information you can have no possible concern; the Masters Themselves are only learning the Will of the planetary Logos; the objective of effort in Shamballa is, however, the apprehension of solar Purpose, the Plan of which is working out on the highest levels of our planetary system, just as the Will, Purpose and Plan of Shamballa work out on the three lowest levels of our planetary system. Again, this item of information serves only to indicate hierarchical objectives, and those objectives extend away from time and space into the Mind of God Himself.

Shamballa, vì nó cấu thành sự tổng hợp của thấu hiểu liên quan đến Trái Đất của chúng ta, cũng là trung tâm nơi Ý Chí cao nhất của Thái dương Thượng đế được áp đặt lên Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đấng mà như bạn biết, chỉ là một trung tâm trong thể biểu hiện lớn hơn của Ngài. Với mẩu thông tin này, bạn không thể có bất kỳ mối quan tâm nào; chính các Chân sư cũng chỉ đang học Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế; tuy nhiên, mục tiêu của nỗ lực tại Shamballa là lĩnh hội Thiên Ý thái dương, mà Thiên Cơ của nó đang được triển khai trên các cấp độ cao nhất của hệ hành tinh chúng ta, cũng như Ý Chí, Thiên Ý và Thiên Cơ của Shamballa được triển khai trên ba cấp độ thấp nhất của hệ hành tinh chúng ta. Một lần nữa, mẩu thông tin này chỉ nhằm chỉ ra các mục tiêu của Thánh đoàn, và những mục tiêu ấy vươn ra khỏi thời gian và không gian để đi vào chính Trí của Thượng đế.

There are certain synonyms which here may serve to develop your synthetic thinking and so bring in a definite measure of enlightenment.

Có một số từ đồng nghĩa ở đây có thể giúp phát triển tư duy tổng hợp của bạn và nhờ đó mang lại một mức độ soi sáng nhất định.

[table 534]

[table 534]

It will be apparent to you how little you can understand of the Shamballa intention when you realise that it is not easy for you to see any true distinction between unity and synthesis and, at the same time, how impossible it is for me [535] to make the distinction clear. All I can say is that synthesis is, whilst unity is achieved and is the reward of action and effort. As you progress upon the Path of Initiation the meaning of unity clarifies. As you direct yourself towards the Way of the Higher Evolution synthesis emerges. More than that it would be useless for me to say.

Bạn sẽ thấy rõ mình có thể hiểu rất ít về ý định của Shamballa khi nhận ra rằng bạn không dễ gì thấy được bất kỳ sự phân biệt chân thực nào giữa hợp nhất và tổng hợp, đồng thời cũng thấy tôi [535] không thể nào làm cho sự phân biệt ấy trở nên rõ ràng. Tất cả những gì tôi có thể nói là tổng hợp là, còn hợp nhất thì được thành tựu và là phần thưởng của hành động và nỗ lực. Khi bạn tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo, ý nghĩa của hợp nhất trở nên sáng tỏ. Khi bạn hướng mình về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, tổng hợp xuất hiện. Nói hơn thế nữa sẽ là vô ích.

This problem of the apparently impenetrable darkness of intention as grasped by Shamballa, of meaning, of inscrutability, of a spiritual imperviousness which holds, in spite of all fluctuations in the three worlds of human evolution and the remaining two of superhuman unfoldment, provides a situation to which the Hierarchy has to make adjustment through alignment. You are, in your small way, making your adjustment to the Hierarchy through a steady construction of the antahkarana, and in so doing are aiding in the construction of the antahkarana which unites Humanity and the Hierarchy—the first few strands of which were established through the sacrifices of certain of the Sons of God when the Hierarchy was founded on Earth. Today, the Hierarchy is working at the establishing of the linking strands between Itself and Shamballa, and good progress has already been made. It might be said here that for the past seven hundred years the chain of Hierarchy has been complete; by this I mean that the planetary rainbow bridge uniting the three major centres has existed. The task ahead of all these three major centres, working in alignment through adjustment, is to strengthen and beautify (if I may so express it), to electrify this bridge, thus producing full planetary intercommunication between the three centres and the four minor centres, so that “the weight of the Will of God, the momentum of the Purpose of Sanat Kumara and the Plan of His Representatives may progress unimpeded from point to point, from sphere to sphere and from glory to glory.”

Vấn đề về bóng tối dường như không thể xuyên thấu của ý định như được Shamballa nắm bắt, của ý nghĩa, của tính bất khả tri, của một sự bất khả xuyên thấu tinh thần đang giữ vững, bất chấp mọi dao động trong ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại và hai cõi còn lại của sự khai mở siêu nhân, tạo nên một tình huống mà Thánh Đoàn phải điều chỉnh thông qua chỉnh hợp. Theo cách nhỏ bé của mình, bạn đang điều chỉnh với Thánh Đoàn thông qua việc xây dựng đều đặn antahkarana, và khi làm như vậy, bạn đang trợ giúp trong việc xây dựng antahkarana nối kết Nhân Loại và Thánh Đoàn—những sợi đầu tiên của nó đã được thiết lập qua sự hy sinh của một số Con của Thượng đế khi Thánh Đoàn được thành lập trên Trái Đất. Ngày nay, Thánh Đoàn đang làm việc để thiết lập các sợi nối kết giữa Chính Nó và Shamballa, và đã đạt được tiến bộ tốt. Ở đây có thể nói rằng trong bảy trăm năm qua, chuỗi của Thánh đoàn đã hoàn chỉnh; ý tôi là cây cầu vồng hành tinh nối kết ba trung tâm chính đã tồn tại. Nhiệm vụ phía trước của cả ba trung tâm chính này, đang làm việc trong chỉnh hợp thông qua điều chỉnh, là củng cố và làm đẹp (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy), điện hóa cây cầu này, nhờ đó tạo ra sự liên lạc hành tinh trọn vẹn giữa ba trung tâm và bốn trung tâm phụ, để cho “sức nặng của Ý Chí của Thượng đế, động lượng của Thiên Ý của Đức Sanat Kumara và Thiên Cơ của các Đại Diện của Ngài có thể tiến triển không bị ngăn trở từ điểm này sang điểm khác, từ khối cầu này sang khối cầu khác và từ vinh quang này sang vinh quang khác.”

It is this complete establishment of relationship between Shamballa, the Hierarchy and Humanity which brought about the planetary crisis through which the world has just passed and, from some standpoints, is still passing. [536] Shamballa, as I have told you, can now reach Humanity, the third major centre, directly, and therefore has two points of planetary contact: the first, via the Hierarchy, as has been for long the case, and secondly, in a straight line, carrying energy direct to Humanity, without any transmission and consequent modifying of impact, as has also been the case hitherto. When this direct line of spiritual, dynamic, electrical energy made its first impact on earth (after the Great Council held in 1825), it first of all awakened men’s thinking in a new and comprehensive way, producing the great ideologies; it aroused their massed desire, and registered obstruction on the physical plane. It found its course impeded and discovered it was faced with barriers. This energy from Shamballa, being an aspect of the ray of the destroyer, proceeded to “burn up” in the fires of destruction, all such hindrances upon the planes in the three worlds. This was the deeply esoteric and unrecognised cause of the war—the beneficent bringing to an end of the impediments to the free flow of spiritual energy down into the third centre; this was the factor which called “evil from its hidden place” and brought the opposing forces to the surface of existence, prior to their “sealing”. To the extent that this was so, mankind in the World War (1914-1945) was the unhappy victim of spiritual circumstance; however, from the angle of man’s historical past, humanity was the engineer of its own fate; but it took both the esoteric activity of Shamballa and the exoteric activity of humanity over a millennia of years to precipitate the conditions which made this new alignment possible and brought about the sealing (still being carried slowly forward), and plunged mankind into the vortex of war. This impelling downpouring energy from the highest centre penetrated not only to the heart of humanity, but into the very depths of the mineral kingdom, implicating also the animal and the vegetable expressions of divine life.

Chính sự thiết lập trọn vẹn mối liên hệ giữa Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại này đã gây ra cuộc khủng hoảng hành tinh mà thế giới vừa mới đi qua và, từ một số quan điểm, vẫn còn đang đi qua. [536] Như tôi đã nói với bạn, Shamballa giờ đây có thể vươn tới Nhân Loại, trung tâm chính thứ ba, một cách trực tiếp, và do đó có hai điểm tiếp xúc hành tinh: thứ nhất, thông qua Thánh Đoàn, như từ lâu vẫn là trường hợp; và thứ hai, theo một đường thẳng, mang năng lượng trực tiếp đến Nhân Loại, không qua bất kỳ sự truyền dẫn nào và do đó không có sự điều chỉnh tác động, như trước đây vẫn từng xảy ra. Khi đường trực tiếp của năng lượng tinh thần, năng động, điện lực này tạo ra tác động đầu tiên trên Trái Đất (sau Đại Hội Đồng được tổ chức năm 1825), trước hết nó đánh thức tư duy của những người nam và nữ theo một cách mới và bao quát, tạo ra các hệ tư tưởng lớn; nó khơi dậy dục vọng tập thể của họ, và ghi nhận sự cản trở trên cõi hồng trần. Nó thấy con đường của mình bị ngăn trở và phát hiện rằng nó đang đối diện với các rào cản. Năng lượng này từ Shamballa, vốn là một phương diện của cung của đấng hủy diệt, đã tiến hành “thiêu hủy” trong những ngọn lửa hủy diệt mọi chướng ngại như thế trên các cõi trong ba cõi thấp. Đây là nguyên nhân sâu xa, huyền bí và không được nhận biết của chiến tranh—sự chấm dứt đầy lợi ích đối với các chướng ngại ngăn cản dòng chảy tự do của năng lượng tinh thần đi xuống trung tâm thứ ba; đây là yếu tố đã gọi “điều ác từ nơi ẩn giấu của nó” và đưa các lực đối kháng lên bề mặt tồn tại, trước khi chúng bị “niêm phong”. Trong chừng mực điều này là như vậy, nhân loại trong Thế Chiến (1914-1945) là nạn nhân bất hạnh của hoàn cảnh tinh thần; tuy nhiên, xét từ góc độ quá khứ lịch sử của con người, nhân loại là kẻ tạo nên số phận của chính mình; nhưng phải cần đến cả hoạt động huyền bí của Shamballa lẫn hoạt động ngoại môn của nhân loại trong hơn một ngàn năm mới làm ngưng tụ những điều kiện khiến sự chỉnh hợp mới này trở nên khả hữu và đưa đến sự niêm phong (vẫn đang được tiến hành chậm rãi), đồng thời đẩy nhân loại vào cơn lốc chiến tranh. Năng lượng thúc đẩy tuôn đổ này từ trung tâm cao nhất không chỉ xuyên thấu đến trái tim nhân loại, mà còn đi vào tận chiều sâu của giới kim thạch, đồng thời liên lụy cả các biểu hiện động vật và thực vật của sự sống thiêng liêng.

Because of this direct impact between Shamballa and Humanity, by-passing the Hierarchy, the Hierarchy was left free for the work of rehabilitation and salvaging, for reconstruction and for the application of the regenerative forces of [537] resurrection. The Hierarchy needed and welcomed this interlude and recognised it as an essential aspect of the Plan.

Chính vì tác động trực tiếp này giữa Shamballa và Nhân Loại, bỏ qua Thánh Đoàn, mà Thánh Đoàn được để tự do cho công việc phục hồi và cứu vãn, cho tái thiết và cho việc áp dụng các mãnh lực tái sinh của [537] phục sinh. Thánh Đoàn cần và hoan nghênh khoảng gián đoạn này và nhận ra nó như một phương diện thiết yếu của Thiên Cơ.

The “cycle of Shamballa impact” is now over; the appeal of humanity to the Christ and His Hierarchy has again refocussed the energy of Shamballa via the Hierarchy, and the direct work of the Hierarchy with Humanity can again take on fresh meaning, can be re-established on new and somewhat different lines, and thus definitely bring in that “new heaven and new earth” for which men have so long waited. This will take time, but the new energies and their emerging qualities are adequate to the task, and will alleviate much and bring about great changes in due course of time. You will note, therefore, that the Hierarchy has been faced with three adjustments as the result of being deliberately “put out of alignment,” though only temporarily, with both Shamballa and Humanity. This was symbolised for us at the Crucifixion when the Saviour hung pendant between heaven and earth. These adjustments are:

“Chu kỳ tác động của Shamballa” nay đã chấm dứt; lời khẩn cầu của nhân loại hướng đến Đức Christ và Thánh Đoàn của Ngài lại một lần nữa tái tập trung năng lượng của Shamballa thông qua Thánh Đoàn, và công việc trực tiếp của Thánh Đoàn với Nhân Loại lại có thể mang một ý nghĩa mới, có thể được tái lập trên những đường hướng mới và phần nào khác trước, và nhờ đó chắc chắn mang vào “trời mới và đất mới” mà con người đã chờ đợi từ lâu. Điều này sẽ cần thời gian, nhưng các năng lượng mới và những phẩm tính đang xuất hiện của chúng đủ sức đảm đương nhiệm vụ, và theo thời gian sẽ làm dịu bớt nhiều điều và mang lại những thay đổi lớn lao. Vì vậy, bạn sẽ lưu ý rằng Thánh Đoàn đã phải đối diện với ba sự điều chỉnh do kết quả của việc bị cố ý “đưa ra khỏi chỉnh hợp”, dù chỉ tạm thời, với cả Shamballa lẫn Nhân Loại. Điều này đã được tượng trưng cho chúng ta trong cuộc Đóng Đinh khi Đấng Cứu Thế treo lơ lửng giữa trời và đất. Những sự điều chỉnh này là:

1. Adjustment to those extra-planetary energies which were released into the highest centre. This was made possible by two factors:

1. Điều chỉnh với những năng lượng ngoài hành tinh đã được giải phóng vào trung tâm cao nhất. Điều này được thực hiện nhờ hai yếu tố:

a. The direct impact between Shamballa and Humanity or between will and intelligence. This is an important point to recognise.

a. Tác động trực tiếp giữa Shamballa và Nhân Loại hay giữa ý chí và trí tuệ. Đây là một điểm quan trọng cần nhận ra.

b. The temporary quiescence of the love principle, as the Hierarchy waited for the results and effects of this direct impact upon the earth.

b. Sự tĩnh lặng tạm thời của nguyên khí bác ái, khi Thánh Đoàn chờ đợi các kết quả và hiệu ứng của tác động trực tiếp này trên Trái Đất.

This was effectively carried out with much destruction in the world of forms.

Điều này đã được thực hiện hữu hiệu với nhiều sự hủy diệt trong thế giới hình tướng.

2. Adjustment to certain basic changes within the Hierarchy Itself in preparation for the process of externalisation which was begun this century.

2. Điều chỉnh với một số thay đổi căn bản bên trong chính Thánh Đoàn để chuẩn bị cho tiến trình ngoại hiện đã được khởi sự trong thế kỷ này.

3. Adjustment to a disciplined and reoriented humanity, [538] working today in the dark, it is needless to say, groping along unknown ways, appealing to the Hierarchy for more light and understanding, but awakened and alert for changes.

3. Điều chỉnh với một nhân loại đã được rèn luyện và tái định hướng, [538] ngày nay đang làm việc trong bóng tối, không cần phải nói, đang dò dẫm trên những con đường chưa biết, đang khẩn cầu Thánh Đoàn ban thêm ánh sáng và thấu hiểu, nhưng đã được đánh thức và tỉnh thức trước những thay đổi.

These adjustments are proceeding with rapidity; the technique being employed is realignment, through a definite action of the Will, as far as Shamballa is concerned, and by an outpouring of Love, as far as humanity is concerned. This Act of the Will is carried out by the three Heads of Departments in the Hierarchy, under the guidance of the Christ and by the Chohans of the seven major Ashrams. They constitute a group of ten to Whom this task has been committed, for the reason that They are the only Members of the Hierarchy Who possess the needed qualifications and in Whom the Will aspect is adequately developed. The task of pouring out the Love principle in a new and dynamic manner is being carried out by all the Masters and by all initiates who have taken the third initiation. This stream of love will focus itself each coming Full Moon in a special act or demonstration of love.

Những sự điều chỉnh này đang tiến hành nhanh chóng; kỹ thuật được sử dụng là tái chỉnh hợp, thông qua một hành động xác định của Ý Chí, xét về Shamballa, và bằng một lần tuôn đổ của Bác ái, xét về nhân loại. Hành Động của Ý Chí này được thực hiện bởi ba Vị Đứng Đầu các Ban trong Thánh Đoàn, dưới sự hướng dẫn của Đức Christ và bởi các Chohan của bảy Ashram chính. Các Ngài tạo thành một nhóm mười Vị mà nhiệm vụ này đã được giao phó, vì lý do rằng Các Ngài là những Thành Viên duy nhất của Thánh Đoàn sở hữu những phẩm tính cần thiết và trong Các Ngài phương diện Ý Chí đã được phát triển đầy đủ. Nhiệm vụ tuôn đổ nguyên khí Bác ái theo một cách mới và năng động đang được thực hiện bởi tất cả các Chân sư và bởi mọi điểm đạo đồ đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba. Dòng bác ái này sẽ tự tập trung vào mỗi kỳ Trăng Tròn sắp tới trong một hành động hay biểu hiện đặc biệt của bác ái.

You will note also how fully occupied the Hierarchy is with work, preparatory to emergence, and with those plans and activities which will lead to renewed interior activity, based not on lack of previous unity and integrity, but on the absorption of new energies, made available via Shamballa, of these extra-planetary forces to which I have earlier referred. This task of reorganisation prior to moving outward, will be completed by May, 1946. Then the task of the new alignment with humanity will be started and the great work undertaken which will proceed for several hundred years.

Bạn cũng sẽ lưu ý Thánh Đoàn bận rộn đến mức nào với công việc chuẩn bị cho sự xuất hiện, và với những kế hoạch và hoạt động sẽ dẫn đến hoạt động nội tại được đổi mới, dựa không phải trên sự thiếu hợp nhất và toàn vẹn trước đây, mà trên sự hấp thụ các năng lượng mới, được cung cấp thông qua Shamballa, của những mãnh lực ngoài hành tinh mà tôi đã đề cập trước đó. Nhiệm vụ tái tổ chức này trước khi tiến ra bên ngoài sẽ được hoàn tất vào tháng Năm năm 1946. Sau đó, nhiệm vụ chỉnh hợp mới với nhân loại sẽ được khởi sự và công trình lớn sẽ được đảm nhận, kéo dài trong vài trăm năm.

In Relation with Humanity

Liên hệ với Nhân Loại

I shall not deal here with the work to be done in centuries to come in and through humanity, which is the goal of all these adjustments—at least as far as your present interest is concerned. I shall touch only upon the activities of the Hierarchy as it establishes—on a more powerful [539] basis—a more direct contact with mankind. Since 1925 the Hierarchy has directed Its thoughts to men, but It has not vitalised, as It will eventually do, the religious movements or churches in all lands, or the educational work in all countries, or any of the activities which are concerned with the aiding of humanity through welfare movements. It was felt that it was necessary for mankind to show the Hierarchy, as well as themselves, the nature of the impulses towards love and selflessness which may have been already established, and to do this free of hierarchical prompting and influence, and in this way demonstrating that they possessed that which might be depended upon as innate and as present in a living, creative manner. The demonstration has been good; humanity has shown creative love, of which goodwill and humanitarian efforts are the lowest aspects. The showing has been better than was anticipated, and this new and vital re-alignment between the Hierarchy and Humanity becomes now beautifully possible and can be carried forward without danger. The Hierarchy is now the Custodian of far greater power than heretofore, on account of Its adjustment to Shamballa.

Ở đây tôi sẽ không bàn đến công việc phải được thực hiện trong những thế kỷ sắp tới trong và thông qua nhân loại, vốn là mục tiêu của tất cả những sự điều chỉnh này—ít nhất là trong phạm vi mối quan tâm hiện nay của bạn. Tôi chỉ đề cập đến các hoạt động của Thánh Đoàn khi Thánh Đoàn thiết lập—trên một [539] nền tảng mạnh mẽ hơn—một sự tiếp xúc trực tiếp hơn với nhân loại. Từ năm 1925, Thánh Đoàn đã hướng tư tưởng của Chính Nó đến những người nam và nữ, nhưng Thánh Đoàn chưa tiếp sinh lực, như cuối cùng Nó sẽ làm, cho các phong trào tôn giáo hay các giáo hội ở mọi xứ sở, hay cho công việc giáo dục ở mọi quốc gia, hay cho bất kỳ hoạt động nào liên quan đến việc trợ giúp nhân loại thông qua các phong trào phúc lợi. Người ta cảm thấy rằng cần để nhân loại cho Thánh Đoàn thấy, cũng như cho chính họ thấy, bản chất của những xung lực hướng đến bác ái và vô ngã có thể đã được thiết lập rồi, và làm điều này mà không có sự thúc đẩy và ảnh hưởng của Thánh đoàn, và bằng cách đó chứng tỏ rằng họ sở hữu điều gì đó có thể được tin cậy như là bẩm sinh và hiện diện theo một cách sống động, sáng tạo. Sự biểu lộ đó đã tốt; nhân loại đã cho thấy bác ái sáng tạo, mà thiện chí và các nỗ lực nhân đạo là những phương diện thấp nhất của nó. Sự biểu lộ ấy tốt hơn dự kiến, và sự tái chỉnh hợp mới mẻ và sống động này giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại giờ đây trở nên khả hữu một cách tốt đẹp và có thể được tiến hành mà không nguy hiểm. Thánh Đoàn hiện là Đấng Gìn Giữ một quyền năng lớn hơn nhiều so với trước đây, do sự điều chỉnh của Nó với Shamballa.

This hierarchical readjustment to humanity is being carried out at this time in the Ashrams by the setting up of magnetic centres which, through their directed activity, will influence humanity in the coming large scale process of reorientation. In studying this, you must remember that these are not centres or concentrations of forces, but groups of disciples whose quality is oriented towards mankind and whose potency of thought will act magnetically upon aspirants and humanitarians and, through them and their goodwill activities, will reach and impress men everywhere. The adjustment being at this time undertaken, therefore, is between hierarchical groups and groups of men and women upon earth; it is intended, as you have been told, that Humanity itself will be the world-saviour, working with the aid of the Hierarchy—as yet invisibly behind the scenes. When this interim work of salvage is accomplished, then the Hierarchy will externalise Itself.

Sự tái điều chỉnh của Thánh đoàn với nhân loại này đang được thực hiện vào lúc này trong các Ashram bằng việc thiết lập các trung tâm từ tính mà, thông qua hoạt động có định hướng của chúng, sẽ ảnh hưởng đến nhân loại trong tiến trình tái định hướng quy mô lớn sắp tới. Khi nghiên cứu điều này, bạn phải nhớ rằng đây không phải là các trung tâm hay các điểm tập trung của mãnh lực, mà là các nhóm đệ tử có phẩm tính được định hướng về phía nhân loại và có năng lực tư tưởng sẽ tác động từ tính lên những người chí nguyện và những người làm công tác nhân đạo, và thông qua họ cùng các hoạt động thiện chí của họ, sẽ vươn tới và gây ấn tượng lên những người nam và nữ ở khắp nơi. Vì vậy, sự điều chỉnh đang được thực hiện vào lúc này là giữa các nhóm Thánh đoàn và các nhóm những người nam và nữ trên Trái Đất; như bạn đã được bảo, điều được dự định là chính Nhân Loại sẽ là đấng cứu thế gian, làm việc với sự trợ giúp của Thánh Đoàn—vẫn còn vô hình phía sau hậu trường. Khi công việc cứu vãn tạm thời này được hoàn thành, khi ấy Thánh Đoàn sẽ ngoại hiện Chính Nó.

[540] You can imagine the adjustments, therefore, going on in all the Ashrams in preparation for all this and—though I touch not upon it—you can imagine the general effect of these inter-hierarchical adjustments and alignments upon disciples and aspirants upon the earth; they are the first, needless to say, who will respond to this activity. As all this is taking place in the present difficult period of world rehabilitation, the immensity of the problem involved and the quality of the tension are abnormal. It is not easy for disciples today; of this the Hierarchy is well aware. This fact also involves for Them still another aspect of hierarchical adjustment. They have—for the sake of the work to be done—to establish a closer alignment between the inner Ashrams and the outer groups, between Themselves and Their senior disciples carrying the burden of the outer world service; this alignment has also to be extended between senior disciples and initiates and the workers on earth.

[540] Vì vậy, bạn có thể hình dung những sự điều chỉnh đang diễn ra trong tất cả các Ashram để chuẩn bị cho toàn bộ điều này và—dù tôi không đề cập đến nó—bạn có thể hình dung ảnh hưởng chung của những sự điều chỉnh và chỉnh hợp liên-Thánh đoàn này lên các đệ tử và những người chí nguyện trên Trái Đất; dĩ nhiên, họ là những người đầu tiên sẽ đáp ứng với hoạt động này. Vì tất cả điều này đang diễn ra trong giai đoạn khó khăn hiện nay của sự phục hồi thế giới, nên tầm mức to lớn của vấn đề liên quan và phẩm tính của sự căng thẳng là bất thường. Ngày nay đối với các đệ tử không hề dễ dàng; Thánh Đoàn hoàn toàn ý thức điều đó. Sự kiện này cũng bao hàm đối với Các Ngài thêm một phương diện khác của sự điều chỉnh Thánh đoàn. Vì lợi ích của công việc phải làm, Các Ngài phải thiết lập một sự chỉnh hợp chặt chẽ hơn giữa các Ashram bên trong và các nhóm bên ngoài, giữa Chính Các Ngài và các đệ tử cao cấp của Các Ngài đang gánh vác gánh nặng của công việc phụng sự thế giới bên ngoài; sự chỉnh hợp này cũng phải được mở rộng giữa các đệ tử cao cấp và các điểm đạo đồ với những người hoạt động trên Trái Đất.

The pureness of the motives animating the Hierarchy will constantly emerge with greater clarity in your minds, as you attempt to understand, even in a small measure, Their problems. There are other problems of which you can know nothing—problems related to the new energies pouring into our planet, impersonally and dynamically; problems of fresh tensions, incident to stronger and new alignments; problems concerned with human enlightenments and reactions in the face of the darkness which evil initiated; problems of increased personnel, disturbing the rhythm but necessitated by the demand for workers; problems connected with the growth and training of the Members of the Hierarchy upon the Way of the Higher Evolution; other problems incident to the planetary crisis, to the Initiation of the Lord of the World Himself, and to the amazing demonstration of the success of the evolutionary process up to the present time. This success has been proven by the alignment for direct interplay of the three major planetary centres—Shamballa, the Hierarchy and Humanity.

Sự thuần khiết của các động cơ làm sinh động Thánh Đoàn sẽ không ngừng xuất hiện ngày càng rõ ràng hơn trong tâm trí bạn, khi bạn cố gắng thấu hiểu, dù chỉ ở một mức độ nhỏ, những vấn đề của Các Ngài. Có những vấn đề khác mà bạn không thể biết gì về chúng—những vấn đề liên quan đến các năng lượng mới đang tuôn vào hành tinh chúng ta, một cách vô ngã và năng động; những vấn đề về các sức căng mới, phát sinh từ những chỉnh hợp mạnh hơn và mới hơn; những vấn đề liên quan đến sự giác ngộ của nhân loại và các phản ứng của họ trước bóng tối mà điều ác đã khởi xướng; những vấn đề về nhân sự gia tăng, làm xáo trộn nhịp điệu nhưng lại cần thiết do nhu cầu về người hoạt động; những vấn đề gắn với sự tăng trưởng và huấn luyện của các Thành Viên của Thánh Đoàn trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu; những vấn đề khác phát sinh từ cuộc khủng hoảng hành tinh, từ cuộc Điểm Đạo của chính Đức Chúa Tể Thế Giới, và từ sự biểu hiện đáng kinh ngạc của thành công của tiến trình tiến hoá cho đến thời điểm hiện nay. Thành công này đã được chứng minh bằng sự chỉnh hợp để có sự tương tác trực tiếp của ba trung tâm hành tinh chính—Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại.