Table of Contents
Table of Contents
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN
THE GREAT INVOCATIONS— CÁC ĐẠI KHẤN NGUYỆN
THE GREAT INVOCATION— ĐẠI KHẤN NGUYỆN
SECTION ONE — INTRODUCTORY REMARKS
THE PERIOD OF TRANSITION—THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP
A CHALLENGING OPPORTUNITY—MỘT CƠ HỘI ĐẦY THÁCH THỨC
SEED GROUPS IN THE NEW AGE—CÁC NHÓM HẠT GIỐNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
SECTION TWO — THE GENERAL WORLD PICTURE
THE CAUSES OF THE WORLD DIFFICULTY—NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA KHÓ KHĂN THẾ GIỚI
THE HIDDEN SOURCE OF THE OUTER TURMOIL—NGUỒN GỐC ẨN KHUẤT CỦA SỰ HỖN LOẠN BÊN NGOÀI
THE SPIRITUAL TREND OF HUMAN DESTINY—XU HƯỚNG TINH THẦN CỦA ĐỊNH MỆNH NHÂN LOẠI
CONFLICT BETWEEN FORCES OF ANCIENT ORIGIN—XUNG ĐỘT GIỮA CÁC MÃNH LỰC CÓ NGUỒN GỐC CỔ XƯA
THE WORLD CRISIS—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI
CALL TO A UNITED ACT OF SERVICE—LỜI KÊU GỌI CHO MỘT HÀNH ĐỘNG PHỤNG SỰ HỢP NHẤT
THE COMING WORLD ORDER—TRẬT TỰ THẾ GIỚI SẮP ĐẾN
THE WORLD CRISIS FROM HIERARCHICAL VIEWPOINT—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI TỪ QUAN ĐIỂM CỦA THÁNH ĐOÀN
THE WORLD CRISIS TODAY—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI NGÀY NAY
SECTION THREE — FORCES BEHIND THE EVOLUTIONARY PROGRESS OF THE RACE— PHẦN BA — CÁC MÃNH LỰC ĐẰNG SAU SỰ TIẾN HOÁ CỦA NHÂN LOẠI
THE DOCTRINE OF AVATARS—GIÁO LÝ VỀ CÁC ĐẤNG HOÁ THÂN
THE WORK OF RECONSTRUCTION—CÔNG VIỆC TÁI THIẾT
PRACTICAL STEPS IN THE RECONSTRUCTION WORK—CÁC BƯỚC THỰC TIỄN TRONG CÔNG VIỆC TÁI THIẾT
PREPARATION FOR FUTURE ACTIVITY AND WORK—SỰ CHUẨN BỊ CHO HOẠT ĐỘNG VÀ CÔNG VIỆC TƯƠNG LAI
AN IMPENDING CRUCIAL DECISION—MỘT QUYẾT ĐỊNH HỆ TRỌNG SẮP ĐẾN
THE ONLY WAY TO VICTORY—CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐẾN CHIẾN THẮNG
THE SIGNIFICANCE OF THE WESAK FESTIVAL—Ý NGHĨA CỦA LỄ HỘI WESAK
THE CAUSE OF THE WORLD CATASTROPHE—NGUYÊN NHÂN CỦA THẢM HỌA THẾ GIỚI
THE INTERLUDE BETWEEN WAR AND PEACE—GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP GIỮA CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH
AN IMMINENT SPIRITUAL EVENT—MỘT BIẾN CỐ TINH THẦN SẮP XẢY RA
A SPECIAL WESAK MESSAGE—MỘT THÔNG ĐIỆP WESAK ĐẶC BIỆT
THE NEW WORLD RELIGION—TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI
FACTORS IN THE WORLD SITUATION—CÁC YẾU TỐ TRONG TÌNH HÌNH THẾ GIỚI
THE TASK OF IMPLEMENTING THE WILL-TO-GOOD—NHIỆM VỤ THỰC THI Ý CHÍ-HƯỚNG THIỆN
THE CYCLE OF CONFERENCES—CHU KỲ CÁC HỘI NGHỊ
AN EASTER MESSAGE—THÔNG ĐIỆP PHỤC SINH
THE RELEASE OF ATOMIC ENERGY—SỰ GIẢI PHÓNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
SECTION FOUR — STAGES IN THE EXTERNALISATION OF THE HIERARCHY— PHẦN BỐN — CÁC GIAI ĐOẠN TRONG SỰ HIỂN LỘ của Thánh đoàn
THE SUBJECTIVE BASIS OF THE NEW WORLD RELIGION—NỀN TẢNG CHỦ QUAN CỦA TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI
THE EXTERNALISATION OF THE ASHRAMS—SỰ NGOẠI HIỆN CỦA CÁC ASHRAM
HIERARCHICAL PREPARATION AT THE WESAK FESTIVAL—SỰ CHUẨN BỊ CỦA THÁNH ĐOÀN TẠI LỄ HỘI WESAK
THE RETURN OF THE CHRIST—SỰ TÁI LÂM CỦA ĐỨC CHRIST
PREPARATION FOR THE REAPPEARANCE OF THE CHRIST—CHUẨN BỊ CHO SỰ TÁI XUẤT HIỆN CỦA ĐỨC CHRIST
WORK IN THE COMING DECADES—CÔNG VIỆC TRONG NHỮNG THẬP NIÊN SẮP TỚI
THE ASHRAMS CONCERNED AT THE COMING—CÁC ASHRAM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ QUANG LÂM
ORGANISING THE ASHRAMS INTO FORM ON EARTH—TỔ CHỨC CÁC ASHRAM THÀNH HÌNH TƯỚNG TRÊN TRÁI ĐẤT
THE EFFECTS OF THE EXTERNALISATION—CÁC HIỆU QUẢ CỦA SỰ HIỂN LỘ CỦA THÁNH ĐOÀN
ASHRAMIC ADJUSTMENT TO EXOTERIC LIVING—SỰ ĐIỀU CHỈNH ASHRAM ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGOẠI MÔN
THE ARCANE SCHOOL
INDEX
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với các bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người nam và nữ khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (xét theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi những nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền đi rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt ấy. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) còn biết tôi dưới một tên gọi và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai tên của tôi.
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Con Đường lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá phải trả là gì. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi giữa các huấn sư, nhưng tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng không nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dành cho tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng mộ ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y vẫn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn ấy cho đến khi y chuyển hoá lòng sùng mộ cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—không phải đối với Chân sư.
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.
Những quyển sách tôi đã viết được gửi ra mà không hề đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thật và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng là phần của các bạn, bằng thực hành đúng đắn và bằng việc vận dụng trực giác. Cả tôi lẫn A.A.B. đều hoàn toàn không quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với giọng đầy kính sợ) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được trao ra trong các giáo huấn thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà tại đó các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế giới, và làm bừng lên trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo huấn ấy. Nhưng không phải cách khác. Nếu các phát biểu ấy cuối cùng được xác chứng, hoặc được xem là đúng dưới sự kiểm nghiệm của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt và đúng. Nhưng nếu không phải vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận điều được nói ra.
AUGUST 1934
THÁNG TÁM 1934
THE GREAT INVOCATIONS— CÁC ĐẠI KHẤN NGUYỆN
Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
Cầu xin các Mãnh lực Ánh sáng mang lại sự soi sáng cho nhân loại.
Let the Spirit of Peace be spread abroad.
Cầu xin Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi.
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
Cầu mong những người thiện chí ở khắp mọi nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
Cầu mong sự tha thứ về phía tất cả mọi người là chủ âm vào thời điểm này.
Let power attend the efforts of the Great Ones.
Cầu xin quyền năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
So let it be, and help us to do our part. — 1935
Hãy để như vậy, và giúp chúng tôi làm phần việc của mình. — 1935
* * * * *
Let the Lords of Liberation issue forth.
Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.
Let Them bring succour to the sons of men.
Cầu xin Các Ngài mang lại sự cứu giúp cho những người con của nhân loại.
Let the Rider from the Secret Place come forth,
Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Bí mật xuất hiện,
And coming, save.
Và khi đến, hãy cứu rỗi.
Come forth, O Mighty One.
Hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
~
~
Let the souls of men awaken to the Light,
Cầu xin linh hồn của con người thức tỉnh trước Ánh sáng,
And may they stand with massed intent.
Và cầu mong họ đứng vững với ý định tập trung.
Let the fiat of the Lord go forth:
Cầu xin sắc lệnh của Đức Chúa Tể được ban hành:
The end of woe has come!
Sự kết thúc của đau khổ đã đến!
Come forth, O Mighty One.
Hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
~
~
The hour of service of the Saving Force has now arrived.
Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi đã đến.
Let it be spread abroad, O Mighty One.
Hãy để nó được lan tỏa khắp nơi, hỡi Đấng Đại Hùng.
Let Light and Love and Power and Death
Cầu xin Ánh sáng và Tình thương và Quyền năng và Cái chết
Fulfil the purpose of the Coming One.
Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.
The WILL to save is here.
Ý CHÍ cứu rỗi đang ở đây.
The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.
TÌNH THƯƠNG để thực hiện công việc được lan tỏa rộng rãi.
The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.
SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết sự thật cũng đang ở đây.
Come forth, O Mighty One and blend these three.
Hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng và hòa trộn ba điều này.
Construct a great defending wall.
Xây dựng một bức tường phòng thủ vĩ đại.
The rule of evil now must end. — 1940
Sự cai trị của cái ác bây giờ phải kết thúc. — 1940
* * * * *
Current Great Invocation — 1945
Đại Khấn Nguyện hiện hành — 1945
THE GREAT INVOCATION— ĐẠI KHẤN NGUYỆN
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí của Thượng đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin ánh sáng tuôn chảy vào tâm trí của con người.
Let Light descend on Earth
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống Trái Đất
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Trái tim của Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin tình thương tuôn chảy vào trái tim của con người.
May Christ return to Earth.
Cầu mong Đức Christ trở lại Trái Đất.
From the centre where the Will of God is known
Từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng đế được biết
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin thiên ý hướng dẫn các ý chí nhỏ bé của con người—
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên ý mà các Chân sư biết và phụng sự.
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là loài người
Let the Plan of Love and Light work out
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu xin nó đóng cánh cửa nơi cái ác ngự trị.
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth
Cầu xin Ánh sáng và Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Lời Khấn Nguyện hoặc Lời Cầu nguyện trên không thuộc về bất kỳ người hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của Lời Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và trong sự biểu hiện của một số chân lý trung tâm mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí tuệ cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi biểu hiện bên ngoài, sức mạnh thúc đẩy của vũ trụ là Tình thương; chân lý rằng một Cá thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Cơ đốc gọi là Đức Christ, và đã thể hiện tình thương đó để chúng ta có thể thấu hiểu; chân lý rằng cả tình thương và trí tuệ đều là những hiệu ứng của những gì được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể được thực hiện.”
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
SECTION ONE — INTRODUCTORY REMARKS
THE PERIOD OF TRANSITION—THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP
March 1934
Tháng Ba 1934
[3] One of the results of the world condition at this time is the speeding up of all the atomic lives upon and within the planet. This necessarily involves the increased vibratory activity of the human mechanism, with a consequent effect upon the psychic nature, producing an abnormal sensitivity and psychic awareness. It would be of value here to remember that the condition of humanity at this time is not the result of simply one factor, but of several—all of them being active simultaneously, because this period marks the close of one age and the inauguration of the new.
[3] Một trong những kết quả của tình trạng thế giới vào lúc này là sự tăng tốc của mọi sự sống nguyên tử trên và trong hành tinh. Điều này tất yếu kéo theo sự gia tăng hoạt động rung động của bộ máy con người, với hậu quả là ảnh hưởng lên bản chất thông linh, tạo ra một sự nhạy cảm bất thường và nhận biết thông linh. Ở đây, sẽ hữu ích nếu nhớ rằng tình trạng của nhân loại vào lúc này không phải là kết quả của chỉ một yếu tố đơn lẻ, mà của nhiều yếu tố—tất cả đều đang hoạt động đồng thời, bởi vì giai đoạn này đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên và sự khai mở của kỷ nguyên mới.
The factors to which I refer are, primarily, three in number:
Các yếu tố mà tôi đề cập đến, trước hết, có ba:
1. This is a transition period between the passing out of the Piscean Age, with its emphasis upon authority and belief, and the coming in of the Aquarian Age, with its emphasis upon individual understanding and direct knowledge. The activity of these forces, characteristic of the two signs, produces in the atoms of the human body a corresponding activity. We are on the verge of new knowledges and the atoms of the body are being tuned up for reception. Those atoms which are predominantly Piscean are beginning to slow down their activity and to be “occultly withdrawn,” as it is called, or abstracted, whilst those which are responsive to the New Age tendencies are, in their turn, being stimulated and their vibratory activity increased. [4]
1. Đây là một thời kỳ chuyển tiếp giữa sự qua đi của Kỷ Nguyên Song Ngư, với sự nhấn mạnh vào quyền uy và niềm tin, và sự đến của Kỷ Nguyên Bảo Bình, với sự nhấn mạnh vào sự thấu hiểu cá nhân và tri thức trực tiếp. Hoạt động của các mãnh lực này, đặc trưng cho hai dấu hiệu ấy, tạo ra trong các nguyên tử của thể người một hoạt động tương ứng. Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của những tri thức mới và các nguyên tử của thể đang được điều chỉnh để tiếp nhận. Những nguyên tử chủ yếu thuộc Song Ngư đang bắt đầu làm chậm hoạt động của chúng và được “rút lui một cách huyền bí,” như cách gọi, hay được trừu xuất, trong khi những nguyên tử đáp ứng với các khuynh hướng của Kỷ Nguyên Mới thì đến lượt chúng được kích thích và hoạt động rung động của chúng được gia tăng. [4]
2. The world war marked a climax in the history of mankind, and its subjective effect was far more potent than has hitherto been grasped. Through the power of prolonged sound, carried forward as a great experiment on the battlefields all over the world during a period of four years (1914-1918), and through the intense emotional strain of the entire planetary populace, the web of etheric matter (called the “veil of the temple”) which separates the physical and astral planes was rent or torn asunder, and the amazing process of unifying the two worlds of physical plane living and of astral plane experience was begun and is now slowly going on. It will be obvious, therefore, that this must bring about vast changes and alterations in the human consciousness. Whilst it will usher in the age of understanding, of brotherhood and of illumination, it will also bring about states of reaction and the letting loose of psychic forces which today menace the uncontrolled and ignorant, and warrant the sounding of a note of warning and of caution.
2. Cuộc thế chiến đã đánh dấu một cao điểm trong lịch sử nhân loại, và ảnh hưởng chủ quan của nó mạnh mẽ hơn rất nhiều so với điều từ trước đến nay đã được nhận thức. Nhờ quyền năng của âm thanh kéo dài, được duy trì như một đại thí nghiệm trên các chiến trường khắp thế giới trong suốt bốn năm (1914-1918), và nhờ sự căng thẳng cảm xúc mãnh liệt của toàn thể dân cư hành tinh, tấm lưới vật chất dĩ thái (được gọi là “bức màn của ngôi đền”) vốn ngăn cách cõi hồng trần và cõi cảm dục đã bị xé rách hay tách toạc, và tiến trình kỳ diệu hợp nhất hai thế giới của đời sống cõi hồng trần và kinh nghiệm cõi cảm dục đã được bắt đầu và hiện đang chậm rãi tiếp diễn. Vì vậy, hiển nhiên điều này phải mang lại những thay đổi và biến đổi to lớn trong tâm thức con người. Trong khi nó sẽ mở ra kỷ nguyên của sự thấu hiểu, của tình huynh đệ và của sự soi sáng, nó cũng sẽ mang lại những trạng thái phản ứng và sự giải phóng các mãnh lực thông linh hiện nay đang đe dọa những kẻ không được kiểm soát và thiếu hiểu biết, và biện minh cho việc cất lên một lời cảnh báo và thận trọng.
3. A third factor is as follows. It has been known for a long time by the mystics of all the world religions and by esoteric students everywhere, that certain members of the planetary Hierarchy are approaching closer to the earth at this time. By this I want you to infer that the thought, or the mental attention, of the Christ and of certain of His great disciples, the Masters of the Wisdom, is directed or focussed at this time on human affairs, and that some of Them are also preparing to break Their long silence and may appear later among men. This necessarily has a potent effect, first of all upon Their disciples and on those who are attuned to and synchronized with Their Minds, and secondly, it should be remembered that the energy which flows through these focal points of the Divine Will will have a dual effect and be destructive as well as constructive, according to the quality of the bodies which react to it. Different types of men respond distinctively to any inflow of energy, and a tremendous psychic stimulation is at this time going on, with results both divinely beneficent and sadly destructive.
3. Một yếu tố thứ ba là như sau. Từ lâu, các nhà thần bí của mọi tôn giáo thế giới và các đạo sinh nội môn ở khắp nơi đã biết rằng một số thành viên của Thánh Đoàn hành tinh đang tiến gần trái đất hơn vào lúc này. Qua đó, tôi muốn các bạn suy ra rằng tư tưởng, hay sự chú ý trí tuệ, của Đức Christ và của một số đại đệ tử của Ngài, các Chân sư Minh Triết, hiện đang được hướng đến hay tập trung vào các công việc của nhân loại, và một số Các Ngài cũng đang chuẩn bị phá vỡ sự im lặng lâu dài của mình và có thể sẽ xuất hiện sau này giữa những người nam và nữ. Điều này tất yếu có một ảnh hưởng mạnh mẽ, trước hết lên các đệ tử của Các Ngài và lên những ai được chỉnh hợp và đồng bộ với Trí của Các Ngài, và thứ hai, cần nhớ rằng năng lượng tuôn chảy qua các tiêu điểm của Ý Chí thiêng liêng này sẽ có tác động kép và sẽ vừa phá hủy vừa xây dựng, tùy theo phẩm tính của các thể phản ứng với nó. Những loại người khác nhau đáp ứng một cách khác biệt với bất kỳ luồng năng lượng tuôn vào nào, và vào lúc này đang diễn ra một sự kích thích thông linh to lớn, với những kết quả vừa thiêng liêng, đầy phúc lành, vừa đáng buồn, có tính hủy diệt.
[5] It might be added also that certain astrological relationships between the constellations are releasing new types of force which are playing through our solar system and on to our planet and thereby making possible developments hitherto frustrated in expression, and bringing about the demonstration of latent powers and the manifestation of new knowledges. All this must be most carefully borne in mind by the worker in the field of human affairs if the present crisis is to be rightly appreciated and its splendid opportunities rightly employed. I have felt it wise to write a few words concerning the condition to be found in the world today especially in connection with esoteric, occult and mystical groups and the spiritualistic movement.
[5] Cũng có thể nói thêm rằng một số tương quan chiêm tinh giữa các chòm sao đang giải phóng những loại mãnh lực mới đang vận hành xuyên qua hệ mặt trời của chúng ta và đến hành tinh của chúng ta, nhờ đó làm cho những phát triển trước đây bị ngăn trở trong biểu hiện nay trở nên khả hữu, và mang lại sự biểu lộ của những quyền năng tiềm ẩn cùng sự xuất hiện của những tri thức mới. Tất cả điều này phải được người hoạt động trong lĩnh vực công việc nhân loại ghi nhớ hết sức cẩn trọng nếu cuộc khủng hoảng hiện nay được đánh giá đúng và những cơ hội huy hoàng của nó được sử dụng đúng đắn. Tôi thấy là khôn ngoan khi viết vài lời về tình trạng có thể thấy trong thế giới ngày nay, đặc biệt liên quan đến các nhóm nội môn, huyền bí và thần bí, cùng phong trào thần linh học.
All true spiritual thinkers and workers are much concerned at this time about the growth of crime on every hand, by the display of the lower psychic powers, by the apparent deterioration of the physical body, as shown in the spread of disease, and by the extraordinary increase in insanity, neurotic conditions and mental unbalance. All this is the result of the tearing of the planetary web, and at the same time it is a part of the evolutionary plan and the providing of the opportunity whereby humanity may take its next step forward. The Hierarchy of Adepts has been divided in opinion (if so unsuitable a word can be applied to a group of souls and brothers who know no sense of separateness, but only differ over problems of “skill in action”) over the present world condition. Some believe it to be premature and consequently undesirable and providing a difficult situation, whilst others take Their stand upon the basic soundness of humanity and regard the present crisis as inevitable and brought about by the developments in man himself; They look upon the condition as educational and as constituting only a temporary problem which—as it is solved—will lead mankind on the way to a still more glorious future. But there is, at the same time, no denying the fact that great and frequently devastating forces have been let loose upon the earth, and that the effect is a cause of grave concern to all the Masters, Their disciples and workers.
Mọi nhà tư tưởng và người hoạt động tinh thần chân chính hiện nay đều rất quan tâm đến sự gia tăng tội ác khắp nơi, đến sự phô bày các quyền năng thông linh thấp, đến sự suy thoái rõ rệt của thể xác như được thấy trong sự lan rộng của bệnh tật, và đến sự gia tăng bất thường của chứng điên loạn, các trạng thái thần kinh và sự mất quân bình trí tuệ. Tất cả điều này là kết quả của sự xé rách tấm lưới hành tinh, đồng thời nó cũng là một phần của kế hoạch tiến hoá và là sự cung cấp cơ hội nhờ đó nhân loại có thể bước bước kế tiếp về phía trước. Thánh đoàn các chân sư đã có sự khác biệt quan điểm (nếu một từ không thích hợp như vậy có thể được áp dụng cho một nhóm linh hồn và huynh đệ không biết đến cảm thức phân ly, mà chỉ khác nhau về các vấn đề “thiện xảo trong hành động”) về tình trạng thế giới hiện nay. Một số tin rằng điều đó là quá sớm và do đó không đáng mong muốn, tạo ra một tình huống khó khăn, trong khi những vị khác đứng trên nền tảng lành mạnh căn bản của nhân loại và xem cuộc khủng hoảng hiện nay là không thể tránh khỏi và do chính những phát triển trong con người gây ra; Các Ngài nhìn tình trạng ấy như có tính giáo dục và chỉ cấu thành một vấn đề tạm thời mà—khi được giải quyết—sẽ dẫn dắt nhân loại trên con đường hướng đến một tương lai còn huy hoàng hơn nữa. Nhưng đồng thời, không thể phủ nhận sự kiện rằng những mãnh lực lớn lao và thường có sức tàn phá đã được giải phóng trên trái đất, và ảnh hưởng của chúng là nguyên nhân gây mối quan ngại sâu sắc cho tất cả các Chân sư, các đệ tử và những người hoạt động của Các Ngài.
[6] The difficulty can, in the main, be traced back to the overstimulation and the undue strain placed upon the mechanism of the bodies, which the world of souls (in physical incarnation) have to employ as they seek to manifest on the physical plane and so respond to their environment. The flow of energy, pouring through from the astral plane and (in a lesser degree) from the lower mental plane, is brought in contact with bodies that are unresponsive at first, and over-responsive later; it pours into brain cells which, from lack of use, are unaccustomed to the powerful rhythm imposed upon them; and humanity’s equipment of knowledge is so poor that the majority have not sense enough to proceed with caution and to progress slowly. Therefore, they are soon in danger and difficulty; their natures are oft so impure or so selfish that the new powers which are beginning to make their presence felt, and so opening up new avenues of awareness and contact, are subordinated to purely selfish ends and prostituted to mundane objectives. The glimpses vouchsafed to the man of that which lies behind the veil are misinterpreted and the information gained is misused and distorted by wrong motives. But whether a person is unintentionally a victim of force or brings himself in touch with it deliberately, he pays the price of his ignorance or temerity in the physical body, even though his soul may “go marching on.”
[6] Khó khăn này, về cơ bản, có thể truy nguyên về sự kích thích quá mức và sức căng quá độ đặt lên bộ máy của các thể mà thế giới các linh hồn (đang lâm phàm) phải sử dụng khi họ tìm cách biểu hiện trên cõi hồng trần và do đó đáp ứng với môi trường của mình. Dòng năng lượng tuôn xuống từ cõi cảm dục và (ở mức độ ít hơn) từ cõi hạ trí tiếp xúc với những thể lúc đầu không đáp ứng, rồi về sau lại đáp ứng quá mức; nó tuôn vào các tế bào não vốn do thiếu sử dụng nên không quen với nhịp điệu mạnh mẽ áp đặt lên chúng; và trang bị tri thức của nhân loại lại quá nghèo nàn đến nỗi đa số không đủ ý thức để tiến hành một cách thận trọng và tiến bộ chậm rãi. Vì vậy, họ sớm rơi vào nguy hiểm và khó khăn; bản chất của họ thường quá ô uế hoặc quá ích kỷ đến nỗi những quyền năng mới đang bắt đầu làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận, và do đó mở ra những con đường mới của nhận biết và tiếp xúc, lại bị lệ thuộc vào những mục đích hoàn toàn ích kỷ và bị lạm dụng cho những mục tiêu thế tục. Những thoáng thấy được ban cho con người về điều nằm sau bức màn bị diễn giải sai, và thông tin thu được bị sử dụng sai và bóp méo bởi những động cơ sai lạc. Nhưng dù một người vô tình là nạn nhân của mãnh lực hay cố ý đưa mình tiếp xúc với nó, y vẫn phải trả giá cho sự thiếu hiểu biết hay liều lĩnh của mình trong thể xác, cho dù linh hồn của y có thể “vẫn tiếp tục tiến bước.”
It is of no use at this time to close one’s eyes to the immediate problem or to endeavour to lay the blame for the sad failures, the occult wrecks, for the half-demented psychics, the hallucinated mystics and the feeble-minded dabblers in esotericism at the door of their own stupidity, or upon the backs of some teachers, groups or organisations. Much blame can indeed be placed here and there, but it is the part of wisdom to face facts and to realise the cause of that which is everywhere transpiring and which can be stated as follows.
Vào lúc này, việc nhắm mắt trước vấn đề cấp bách hay cố gắng đổ lỗi cho những thất bại đáng buồn, những đổ vỡ huyền bí, những nhà thông linh nửa điên loạn, những nhà thần bí bị ảo giác và những kẻ dabble yếu kém trong huyền bí học cho sự ngu xuẩn của chính họ, hay đổ lên lưng một số huấn sư, nhóm hay tổ chức nào đó, đều không ích gì. Quả thật có thể quy trách nhiệm ở đây đó, nhưng phần của minh triết là đối diện với sự kiện và nhận ra nguyên nhân của điều đang diễn ra khắp nơi, và có thể được phát biểu như sau.
The cause of the growth of the lower psychism and of the increasing sensitivity of humanity at this time is the sudden inflow of a new form of astral energy through the rent veil which has, until a short while ago, safeguarded the [7] many. Add to this the inadequacy of the mass of human vehicles to meet the newly imposed strain and some idea of the problem can be grasped.
Nguyên nhân của sự phát triển của thông linh thấp và của sự gia tăng nhạy cảm của nhân loại vào lúc này là sự tuôn vào đột ngột của một dạng năng lượng cảm dục mới xuyên qua bức màn bị xé rách, vốn cho đến một thời gian ngắn trước đây đã bảo vệ [7] số đông. Hãy cộng thêm vào đó sự bất cập của khối đông các vận cụ con người trong việc chịu đựng sức căng mới được áp đặt, và người ta có thể nắm được phần nào vấn đề.
Let it not be forgotten, however, that there is another side to the picture. The inflow of this energy has brought many hundreds of people into a new and deeper spiritual realisation; it has opened a door through which many will pass before long and take their second initiation, and it has let a flood of light into the world—a light which will go on increasing for the next thirty years, bringing assurance of immortality and a fresh revelation of the divine potencies in the human being. Thus is the New Age dawning. Access to levels of inspiration, hitherto untouched, has been facilitated. The stimulation of the higher faculties (and this on a large scale) is now possible, and the coordination of the personality with the soul and the right use of energy can go forward with renewed understanding and enterprise. Ever the race is to the strong, and always the many are called and the few chosen. This is the occult law.
Tuy nhiên, đừng quên rằng còn có một mặt khác của bức tranh. Sự tuôn vào của năng lượng này đã đưa hàng trăm người vào một sự chứng nghiệm tinh thần mới mẻ và sâu sắc hơn; nó đã mở ra một cánh cửa mà chẳng bao lâu nữa nhiều người sẽ đi qua và nhận lần điểm đạo thứ hai của mình, và nó đã để cho một dòng ánh sáng tràn vào thế giới—một ánh sáng sẽ tiếp tục gia tăng trong ba mươi năm tới, mang lại sự xác tín về tính bất tử và một sự mặc khải mới về những tiềm năng thiêng liêng trong con người. Như thế Kỷ Nguyên Mới đang rạng đông. Việc tiếp cận những cấp độ cảm hứng trước đây chưa từng chạm tới đã được tạo điều kiện. Sự kích thích các năng lực cao hơn (và điều này trên quy mô lớn) nay đã trở nên khả hữu, và sự phối hợp của phàm ngã với linh hồn cùng việc sử dụng đúng năng lượng có thể tiến hành với sự thấu hiểu và nỗ lực mới. Cuộc đua luôn thuộc về kẻ mạnh, và luôn luôn nhiều người được gọi mà ít người được chọn. Đó là quy luật huyền bí.
We are now in a period of tremendous spiritual potency and of opportunity to all upon the probationary path and the path of discipleship. It is the hour wherein a clarion call goes forth to man to be of good cheer and of goodwill, for deliverance is on the way. But it is also the hour of danger and of menace for the unwary and the unready, for the ambitious, the ignorant, and for those who selfishly seek the Way and who refuse to tread the path of service with pure motive. Lest this widespread upheaval and consequent disaster to so many should seem to you unfair, let me remind you that this one life is but a second of time in the larger and wider existence of the soul, and that those who fail and are disrupted by the impact of the powerful forces now flooding our earth will nevertheless have their vibration “stepped up” to better things along with the mass of those who achieve, even if their physical vehicles are destroyed in the process. The destruction of the body is not the worst disaster that can overcome a man.
Hiện nay chúng ta đang ở trong một thời kỳ có tiềm lực tinh thần to lớn và là cơ hội cho tất cả những ai ở trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử. Đây là giờ phút mà một tiếng kèn hiệu vang lên kêu gọi con người hãy vui lòng và thiện chí, vì sự giải thoát đang trên đường đến. Nhưng đây cũng là giờ phút nguy hiểm và đe dọa đối với những kẻ bất cẩn và chưa sẵn sàng, đối với những kẻ đầy tham vọng, thiếu hiểu biết, và đối với những ai ích kỷ tìm kiếm Con Đường mà từ chối bước đi trên con đường phụng sự với động cơ thanh khiết. Nếu sự biến động lan rộng này và tai họa kéo theo đối với quá nhiều người có vẻ bất công với các bạn, thì xin nhắc các bạn rằng một kiếp sống này chỉ là một giây thời gian trong sự hiện hữu lớn lao và rộng lớn hơn của linh hồn, và rằng những ai thất bại và bị tan vỡ bởi tác động của các mãnh lực mạnh mẽ hiện đang tràn ngập trái đất của chúng ta, dẫu vậy rung động của họ vẫn sẽ được “nâng lên” hướng đến những điều tốt đẹp hơn cùng với khối đông những người thành đạt, ngay cả khi các vận cụ hồng trần của họ bị hủy diệt trong tiến trình ấy. Sự hủy diệt thể xác không phải là tai họa tồi tệ nhất có thể giáng xuống con người.
It is not my purpose to cover the whole ground possible [8] in relation to the situation in the field of psychism caused by the inflow of astral energy at this time. I seek to confine myself to the effect of this inflow on aspirants and sensitives. These two words—aspirants and sensitives—are employed by me in this article to distinguish the awakened seeker after control and mastery from the lower type of psychic, who is controlled and mastered. It is necessary here to remind you that psychism, so-called, can be divided into the following two groups:
Mục đích của tôi không phải là bao quát toàn bộ phạm vi có thể có [8] liên quan đến tình hình trong lĩnh vực thông linh do sự tuôn vào của năng lượng cảm dục vào lúc này gây ra. Tôi tìm cách giới hạn mình vào ảnh hưởng của sự tuôn vào này trên những người chí nguyện và những người nhạy cảm. Hai từ này—người chí nguyện và người nhạy cảm—được tôi dùng trong bài viết này để phân biệt người tìm đạo đã thức tỉnh đang tìm kiếm sự kiểm soát và làm chủ với loại nhà thông linh thấp hơn, là kẻ bị kiểm soát và bị làm chủ. Ở đây cần nhắc các bạn rằng cái gọi là thông linh có thể được chia thành hai nhóm sau đây:
Higher Psychism Lower Psychism
Thông linh cao Thông linh thấp
Divine Animal
Thiêng liêng Thú tính
Controlled Uncontrolled
Được kiểm soát Không được kiểm soát
Positive Negative
Tích cực Tiêu cực
Intelligently applied Automatic
Được áp dụng một cách thông minh Tự động
Mediatorship Mediumship
Vai trò trung gian Đồng tử
These distinctions are little understood, nor is the fact appreciated that both groups of qualities indicate our divinity. All are expressions of God.
Những phân biệt này ít được thấu hiểu, và người ta cũng không nhận ra sự kiện rằng cả hai nhóm phẩm tính đều chỉ ra thiên tính của chúng ta. Tất cả đều là những biểu hiện của Thượng đế.
There are certain psychic powers which men share in common with the animals; these powers are inherent in the animal body and are instinctual, but they have, for the vast majority, dropped below the threshold of consciousness and are unrealised and therefore useless. These are the powers, for instance, of astral clairvoyance and clairaudience, and the seeing of colours and similar phenomena. Clairvoyance and clairaudience are also possible on mental levels, and we then call it telepathy, and the seeing of symbols, for all visioning of geometrical forms is mental clairvoyance. All these powers are, however, tied up with the human mechanism or response apparatus, and serve to put the man in touch with aspects of the phenomenal world for which the response mechanism, which we call the personality, exists. They are the product of the activity of the divine soul in man, which takes the form of what we call “the animal soul,” which really corresponds to the Holy Ghost aspect in the human microcosmic trinity. All these powers have their [9] higher spiritual correspondences, which manifest when the soul becomes consciously active and controls its mechanism through the mind and the brain. When astral clairvoyance and clairaudience are not below the threshold of consciousness, but are actively used and functioning, it means that the solar plexus centre is open and active. When the corresponding mental faculties are present in consciousness, then it means that the throat centre and the centre between the eyebrows are becoming “awake” and active. But the higher psychic powers, such as spiritual perception with its infallible knowledge, the intuition with its unerring judgment, and psychometry of the higher kind with its power to reveal the past and the future, are the prerogatives of the divine soul. These higher powers come into play when the head and heart centres, as well as the throat centre, are brought into activity as the result of meditation and service. Let the student, however, remember two things:
Có một số quyền năng thông linh mà con người cùng chia sẻ với loài vật; những quyền năng này vốn có trong thể động vật và mang tính bản năng, nhưng đối với đại đa số, chúng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và không được nhận ra, vì thế vô dụng. Chẳng hạn, đó là những quyền năng của thông nhãn cảm dục và thông nhĩ cảm dục, cùng việc thấy màu sắc và những hiện tượng tương tự. Thông nhãn và thông nhĩ cũng có thể có trên các cấp độ trí tuệ, và khi đó chúng ta gọi đó là viễn cảm, và là việc thấy các biểu tượng, vì mọi sự nhìn thấy các hình học đều là thông nhãn trí tuệ. Tuy nhiên, tất cả những quyền năng này đều gắn với bộ máy con người hay bộ máy đáp ứng, và có tác dụng đưa con người tiếp xúc với những phương diện của thế giới hiện tượng mà bộ máy đáp ứng, cái mà chúng ta gọi là phàm ngã, tồn tại để phục vụ. Chúng là sản phẩm của hoạt động của linh hồn thiêng liêng trong con người, linh hồn này mang hình thức của cái mà chúng ta gọi là “linh hồn động vật,” vốn thực sự tương ứng với phương diện Chúa Thánh Thần trong bộ ba vi mô của con người. Tất cả những quyền năng này đều có [9] những tương ứng tinh thần cao hơn của chúng, biểu lộ khi linh hồn trở nên hoạt động một cách hữu thức và kiểm soát bộ máy của nó qua trí tuệ và bộ não. Khi thông nhãn và thông nhĩ cảm dục không ở dưới ngưỡng tâm thức, mà được sử dụng tích cực và đang hoạt động, điều đó có nghĩa là trung tâm tùng thái dương đang mở và hoạt động. Khi các năng lực trí tuệ tương ứng hiện diện trong tâm thức, thì điều đó có nghĩa là trung tâm cổ họng và trung tâm giữa hai chân mày đang trở nên “thức tỉnh” và hoạt động. Nhưng những quyền năng thông linh cao hơn, như tri giác tinh thần với tri thức không sai lầm của nó, trực giác với phán đoán không lầm lạc của nó, và thuật trắc tâm loại cao với quyền năng tiết lộ quá khứ và tương lai, là đặc quyền của linh hồn thiêng liêng. Những quyền năng cao hơn này đi vào hoạt động khi các trung tâm đầu và tim, cũng như trung tâm cổ họng, được đưa vào hoạt động như là kết quả của tham thiền và phụng sự. Tuy nhiên, đạo sinh hãy nhớ hai điều:
That the greater can always include the lesser, but the purely animal psychic does not include the higher.
Điều lớn hơn luôn có thể bao gồm điều nhỏ hơn, nhưng nhà thông linh thuần túy thú tính thì không bao gồm điều cao hơn.
That between the lowest type of negative mediumship and the highest type of inspired teacher and seer are found a vast diversity of grades, and that the centres are not uniformly developed in humanity.
Giữa loại đồng tử tiêu cực thấp nhất và loại huấn sư được cảm hứng cùng nhà thông nhãn cao nhất có một sự đa dạng rất lớn về các cấp độ, và các trung tâm không phát triển đồng đều trong nhân loại.
The complexity of the subject is great, but the general situation can be grasped, the significance of the opportunity proffered can be understood, and the right use of knowledge be employed to bring good out of the present critical period, and thus the psychic and spiritual growth of man be fostered and nurtured.
Tính phức tạp của chủ đề này là rất lớn, nhưng tình hình tổng quát có thể được nắm bắt, ý nghĩa của cơ hội được trao có thể được thấu hiểu, và việc sử dụng đúng tri thức có thể được vận dụng để rút ra điều tốt từ giai đoạn khủng hoảng hiện nay, và như thế sự tăng trưởng thông linh và tinh thần của con người có thể được nuôi dưỡng và phát triển.
Two questions should, I believe, at this time engross the attention of all workers in the field of esotericism and those who are engaged with the training of students and aspirants.
Tôi tin rằng vào lúc này, hai câu hỏi nên thu hút sự chú ý của tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực huyền bí học và những ai đang dấn thân vào việc huấn luyện đạo sinh và người chí nguyện.
I. How shall we train our sensitives and psychics so that the dangers can be avoided and men can go safely forward to their new and glorious heritage? [10]
I. Làm thế nào chúng ta có thể huấn luyện những người nhạy cảm và những nhà thông linh của mình để tránh được các nguy hiểm và để con người có thể tiến bước an toàn đến gia tài mới và huy hoàng của mình? [10]
II. How can esoteric schools or “disciplines,” as they are sometimes called, make right use of the opportunity?
II. Làm thế nào các trường nội môn hay các “kỷ luật,” như đôi khi chúng được gọi, có thể sử dụng đúng cơ hội này?
Let us speak first of the training and safeguarding of our psychics and sensitives.
Trước hết, hãy nói về việc huấn luyện và bảo vệ những nhà thông linh và những người nhạy cảm của chúng ta.
I. The Training of Psychics
I. Sự Huấn Luyện Các Nhà Thông Linh
The first thing to be borne in mind is that negative, unintelligent mediumship and psychism reduces its exponent to the level of an automaton; it is dangerous and inadvisable because it deprives man of his free will and his positivity, and militates against his acting as a free intelligent human being. The man is not acting in these cases as a channel for his own soul, but is little better than an instinctual animal, if he is not literally an empty shell, which an obsessing entity can occupy and use. When speaking thus I am dealing with the very lowest type of animal mediumship of which there is far too much these days, and which is the cause of concern to the best minds in all the movements which foster mediumship. A mediumship which is entered into with a fully conscious focussed attitude and in which the medium, knowingly and intelligently, vacates his body to an entering entity of whom he is fully aware and who takes possession with his conscious permission in order to serve some spiritual end and help his fellowmen can be right and good. But how often is this type of mediumship to be seen? Few mediums know the technique governing the passing in or out of an informing entity, nor do they know how to carry on this work in such a way that never for a moment are they unaware of what they themselves are doing and the purpose of their activity. Definitely and with purpose they lend their body temporarily to another soul for service, preserving their own integrity all the time. The highest expression of this type of activity was the giving of his body by the disciple Jesus for the use of the Christ. It is in the word service that the whole story lies, and the safeguard. When this true mediumship is better understood, we shall have the medium passing out of his body in full [11] waking consciousness through the orifice at the top of his head, and not, as is now the case in the majority of instances, through the solar plexus, with no preservation of awareness of the transaction, nor any recollection of what has transpired.
Điều đầu tiên cần ghi nhớ là đồng tử tính và thông linh tiêu cực, thiếu trí tuệ làm hạ thấp người biểu hiện nó xuống mức một cái máy tự động; nó nguy hiểm và không nên khuyến khích vì nó tước đi tự do ý chí và tính tích cực của con người, đồng thời chống lại việc y hành động như một con người tự do và thông minh. Trong những trường hợp này, con người không hành động như một kênh dẫn cho chính linh hồn của mình, mà còn kém hơn một con vật bản năng, nếu y không thực sự chỉ là một vỏ rỗng mà một thực thể ám nhập có thể chiếm lấy và sử dụng. Khi nói như vậy, tôi đang đề cập đến loại đồng tử tính thú tính thấp nhất mà ngày nay có quá nhiều, và là nguyên nhân gây lo ngại cho những trí tuệ ưu tú nhất trong mọi phong trào cổ vũ đồng tử tính. Một loại đồng tử tính được thực hiện với một thái độ hoàn toàn hữu thức và tập trung, trong đó đồng tử, một cách có hiểu biết và thông minh, rời khỏi thể của mình cho một thực thể đi vào mà y hoàn toàn biết rõ và thực thể ấy chiếm hữu với sự cho phép hữu thức của y nhằm phụng sự một mục đích tinh thần nào đó và giúp đỡ đồng loại, thì có thể là đúng và tốt. Nhưng loại đồng tử tính này được thấy thường xuyên đến mức nào? Ít có đồng tử nào biết kỹ thuật chi phối sự ra vào của một thực thể phú linh, cũng không biết cách tiến hành công việc này sao cho không bao giờ, dù chỉ trong chốc lát, họ không ý thức được chính mình đang làm gì và mục đích của hoạt động của mình là gì. Một cách dứt khoát và có chủ đích, họ tạm thời cho một linh hồn khác mượn thể của mình để phụng sự, trong khi vẫn luôn bảo toàn sự toàn vẹn của chính mình. Biểu hiện cao nhất của loại hoạt động này là việc đệ tử Jesus hiến thể của mình cho Đức Christ sử dụng. Chính trong từ phụng sự mà toàn bộ câu chuyện nằm ở đó, và cũng là sự bảo vệ. Khi loại đồng tử tính chân chính này được hiểu rõ hơn, chúng ta sẽ có đồng tử rời khỏi thể mình trong trạng thái [11] tỉnh thức hoàn toàn qua lỗ mở ở đỉnh đầu, chứ không phải, như hiện nay trong đa số trường hợp, qua tùng thái dương, mà không giữ được nhận biết về sự việc diễn ra, cũng không có ký ức nào về điều đã xảy ra.
We shall then have the temporary entrance of a new tenant along the line of a synchronous vibration through the entrance in the head, and the subsequent use of the instrument of the loaned body in service of some kind or another. But this procedure will never be followed in order to satisfy idle curiosity, or an equally idle grief, based on personal loneliness and self-pity. At present many of the lower kind of mediums are exploited by the curious or unhappy public, and those peculiar human beings whose consciousness is centred entirely below the diaphragm and whose solar plexus is indeed their brain (as it is the brain of the animal) are forced to act as mediums to satisfy the love of sensation or desire for comfort of their almost equally unintelligent fellowmen.
Khi đó, chúng ta sẽ có sự đi vào tạm thời của một người cư ngụ mới theo đường rung động đồng bộ qua lối vào ở đầu, và sau đó là việc sử dụng công cụ là thể được cho mượn ấy trong một loại phụng sự nào đó. Nhưng thủ tục này sẽ không bao giờ được làm theo để thỏa mãn sự tò mò nhàn rỗi, hay một nỗi buồn cũng nhàn rỗi không kém, dựa trên sự cô đơn cá nhân và lòng tự thương hại. Hiện nay, nhiều đồng tử loại thấp đang bị công chúng tò mò hay bất hạnh khai thác, và những con người kỳ lạ ấy, có tâm thức hoàn toàn tập trung dưới cơ hoành và mà tùng thái dương thực sự là bộ não của họ (cũng như nó là bộ não của loài vật), bị buộc phải hành động như đồng tử để thỏa mãn lòng ham cảm giác hay mong muốn được an ủi của những đồng loại gần như cũng thiếu trí tuệ như họ.
At the same time, there are mediums of a very much higher order whose lives are offered in service to advanced souls on the other side of the veil and who give themselves so that their fellowmen may learn of them; thus, on both sides of the veil of separation, are souls aided and given opportunity to hear or serve. But these, too, would profit by a more intelligent training and by a more accurate understanding of the technique of their work and the organisation of their bodies. They would then be better channels and more dependable intermediaries.
Đồng thời, có những đồng tử thuộc một cấp độ cao hơn rất nhiều, những người hiến dâng đời mình để phụng sự các linh hồn tiến hóa ở phía bên kia bức màn và hiến mình để đồng loại có thể học biết về họ; như thế, ở cả hai phía của bức màn phân cách, các linh hồn đều được giúp đỡ và được trao cơ hội để nghe hoặc phụng sự. Nhưng ngay cả những người này cũng sẽ được lợi nhờ một sự huấn luyện thông minh hơn và một sự thấu hiểu chính xác hơn về kỹ thuật công việc của họ và về tổ chức các thể của họ. Khi đó họ sẽ là những kênh dẫn tốt hơn và những trung gian đáng tin cậy hơn.
Above all, let the psychics in the world today grasp the necessity of controlling and of not being controlled; let them realise that all that they do can be done by any trained disciple of the Ageless Wisdom should the occasion warrant it, and circumstances justify such an expenditure of force. Psychics are easily deceived. For example, it is of course obvious that on the astral plane there is a thoughtform of myself, your Tibetan brother. All who have received the disciples’ degree monthly instructions, all who read the books which I have sent out into the world with the aid of A.A.B., [12] also all who are working in my personal group of disciples have naturally and automatically aided in the construction of this astral thoughtform. It is not me, nor is it linked to me, nor do I use it. I have definitely disassociated myself from it and do not employ it as a means of contacting those I teach, for I work from choice entirely on mental levels thereby undoubtedly limiting my range of contacts but increasing the effectiveness of my work. This astral thoughtform is a distortion of me and my work, needless to say, and resembles an animated and galvanised shell.
Trên hết, hãy để các nhà thông linh trong thế giới ngày nay nắm bắt sự cần thiết phải kiểm soát chứ không bị kiểm soát; hãy để họ nhận ra rằng mọi điều họ làm đều có thể được bất kỳ đệ tử nào đã được huấn luyện trong Minh Triết Ngàn Đời thực hiện nếu hoàn cảnh đòi hỏi và tình huống biện minh cho sự tiêu dùng mãnh lực như vậy. Các nhà thông linh rất dễ bị lừa dối. Chẳng hạn, dĩ nhiên là hiển nhiên rằng trên cõi cảm dục có một hình tư tưởng về chính tôi, người huynh đệ Tây Tạng của các bạn. Tất cả những ai đã nhận các chỉ dẫn hàng tháng dành cho cấp độ đệ tử, tất cả những ai đọc những quyển sách mà tôi đã gửi ra thế giới với sự trợ giúp của A.A.B., [12] cũng như tất cả những ai đang làm việc trong nhóm đệ tử cá nhân của tôi, tự nhiên và tự động đều đã góp phần xây dựng hình tư tưởng cảm dục này. Nó không phải là tôi, cũng không được nối kết với tôi, và tôi không sử dụng nó. Tôi đã dứt khoát tách rời mình khỏi nó và không dùng nó như một phương tiện để tiếp xúc với những người tôi dạy, vì theo sự lựa chọn, tôi hoàn toàn làm việc trên các cấp độ trí tuệ, do đó chắc chắn giới hạn phạm vi tiếp xúc của tôi nhưng lại gia tăng hiệu quả công việc của tôi. Hình tư tưởng cảm dục này là một sự bóp méo về tôi và công việc của tôi, không cần phải nói, và giống như một cái vỏ được làm cho sống động và bị kích hoạt.
Because there is in this form much emotional substance and also a certain amount of mental substance, it can make a wide appeal and its validity is such that like all shells, for instance, which are contacted in the seance room, it masquerades as myself and where the intuition is unawakened the illusion is complete and real. Devotees can therefore tune in with great facility on this illusory form and be completely deceived. Its vibration is of a relatively high order. Its mental effect is like a beautiful parody of myself and serves to place the deluded devotees in touch with the scroll of the astral light, which is the reflection of the akashic records. These latter are the eternal scroll whereon the plan for our world is inscribed and from which those of us who teach gather our data and much of our information. This, the astral light distorts and steps down. Because this is a distorted image and functions in the three worlds of form and has no source of validity higher than those of form, it has in it the seeds of separativeness and of disaster. Forms of flattery are sent out from it, ideas of separateness, those thoughts which feed ambition and which foster love of power, and those germs of desire and personal longing (which divide groups) emerge from contact with it. The results to those who are deceived thereby are sad.
Bởi vì trong hình tướng này có nhiều chất liệu cảm xúc và cũng có một lượng chất liệu trí tuệ nhất định, nó có thể tạo được sức hấp dẫn rộng rãi, và tính có vẻ xác thực của nó đến mức, giống như mọi vỏ bọc chẳng hạn được tiếp xúc trong buổi gọi hồn, nó giả dạng thành chính tôi, và nơi nào trực giác chưa được đánh thức thì ảo tưởng trở nên hoàn toàn và có vẻ chân thực. Vì vậy, những người sùng tín có thể rất dễ dàng bắt nhịp với hình tướng ảo huyễn này và bị lừa dối hoàn toàn. Rung động của nó thuộc một trật tự tương đối cao. Tác động trí tuệ của nó giống như một sự mô phỏng đẹp đẽ về tôi và khiến những người sùng tín bị mê lầm tiếp xúc với cuộn ghi chép của ánh sáng cảm dục, vốn là sự phản chiếu của các hồ sơ akasha. Những hồ sơ sau này là cuộn ghi chép vĩnh cửu, trên đó kế hoạch cho thế giới chúng ta được ghi khắc, và từ đó những người trong chúng tôi đang giảng dạy thu thập dữ liệu và phần lớn thông tin của mình. Điều này, ánh sáng cảm dục làm méo mó và hạ thấp xuống. Bởi vì đây là một hình ảnh méo mó và hoạt động trong ba cõi giới của hình tướng, và không có nguồn xác thực nào cao hơn các nguồn của hình tướng, nên trong nó có những hạt giống của tính chia rẽ và của tai họa. Từ nó phát ra những hình thức tâng bốc, những ý tưởng về sự tách biệt, những tư tưởng nuôi dưỡng tham vọng và khuyến khích lòng ham quyền lực, cùng những mầm mống của dục vọng và khát khao cá nhân (vốn chia rẽ các nhóm) nảy sinh từ sự tiếp xúc với nó. Kết quả đối với những ai bị nó lừa dối là đáng buồn.
I would like to point out also that trance mediumship, as it is called, must inevitably be superseded by that mediumship which is offered by the man or woman who is clairvoyant or clairaudient on the astral plane, and who therefore in full waking consciousness and with the physical brain alert and [13] active can offer himself as an intermediary between men in physical plane bodies (and therefore blind and deaf on the subtler levels) and those who, having discarded their bodies, are cut off from physical communication. This type of psychic can communicate with both groups and their value and their usefulness as mediums is beyond computation when they are singleminded, unselfish, pure and dedicated to service. But in the training to which they subject themselves they must avoid the present negative methods, and instead of “sitting for development” in a blank and waiting silence, they should endeavour to work positively as souls, remaining in conscious and intelligent possession of the lower mechanism of their bodies; they must know which centre in that body they use whilst working psychically, and they must learn to look out, as souls, upon the world of illusion in which they are undertaking to work; from their high and pure position let them see clearly, hear truly and report accurately, and so serve their age and generation, and make the astral plane a familiar and well-known place of activity, accustoming mankind to a state of existence wherein are found their fellowmen, experiencing, living and following the Path.
Tôi cũng muốn chỉ ra rằng đồng tử xuất thần, như người ta gọi, tất yếu phải được thay thế bằng loại trung gian do người nam hay người nữ thông nhãn hoặc thông nhĩ trên cõi cảm dục đảm nhiệm, và vì vậy trong trạng thái tâm thức thức tỉnh trọn vẹn, với bộ não hồng trần tỉnh táo và [13] hoạt động, có thể hiến mình làm trung gian giữa những người ở trong các thể cõi hồng trần (và vì thế mù và điếc trên các cấp độ vi tế hơn) với những người, sau khi đã bỏ lại thể xác, bị cắt đứt khỏi sự giao tiếp hồng trần. Loại người thông linh này có thể giao tiếp với cả hai nhóm, và giá trị cùng tính hữu ích của họ với tư cách là trung gian là không thể tính được khi họ nhất tâm, vô kỷ, thanh khiết và hiến mình cho sự phụng sự. Nhưng trong sự huấn luyện mà họ tự đặt mình vào, họ phải tránh các phương pháp tiêu cực hiện nay, và thay vì “ngồi để phát triển” trong một sự im lặng trống rỗng và chờ đợi, họ nên cố gắng hoạt động một cách tích cực như những linh hồn, vẫn giữ quyền sở hữu có ý thức và thông minh đối với bộ máy thấp của các thể mình; họ phải biết mình sử dụng trung tâm nào trong thể ấy khi hoạt động thông linh, và họ phải học cách nhìn ra, như những linh hồn, vào thế giới ảo tưởng mà họ đang đảm nhận làm việc trong đó; từ vị trí cao và thanh khiết của mình, hãy để họ thấy rõ ràng, nghe chân thực và tường thuật chính xác, và như thế phụng sự thời đại cùng thế hệ của mình, đồng thời làm cho cõi cảm dục trở thành một nơi hoạt động quen thuộc và được biết rõ, khiến nhân loại quen dần với một trạng thái hiện hữu nơi đó có những đồng loại của họ đang trải nghiệm, đang sống và đang theo đuổi Con Đường.
I cannot here write concerning the technique of that training. The subject is too vast for a brief article. I do say, with emphasis, that a more careful and wise training is needed and a more intelligent use of the knowledge which is available, if sought after. I appeal to all who are interested in the growth of psychic knowledge to study, and think, and experiment, and teach, and learn until such time as the entire level of psychic phenomena has been lifted out of its present ignorant, speculative and negative position to one of potent assurance, proved technique, and spiritual expression. I appeal to such movements as the Psychical Research Societies in the world and the vast Spiritualistic Movement to lay the emphasis on divine expression and not so much on phenomena; let them approach the subject from the angle of service and carry their researches into the realm of energy, and cease to pander so much to the public. The opportunity [14] offered them is great and the need of their work is vital. The service rendered has been real and essential, but if these movements are to avail themselves of the coming inflow of spiritual energy, they must shift their attention into the realm of true values. The training of the intellect and the presenting to the world of a group of intelligent psychics should be a main objective, and the astral plane will then be, for them, only a stage on the way to that world wherein all the spiritual Guides and Masters are found, and from whence all souls go forth to incarnation and all souls return from the place of experience and of experiment.
Tôi không thể viết ở đây về kỹ thuật của sự huấn luyện đó. Đề tài này quá rộng lớn đối với một bài viết ngắn. Tôi quả quyết, với sự nhấn mạnh, rằng cần có một sự huấn luyện cẩn trọng và minh triết hơn, và một cách sử dụng thông minh hơn đối với tri thức sẵn có, nếu được tìm kiếm. Tôi kêu gọi tất cả những ai quan tâm đến sự tăng trưởng của tri thức thông linh hãy học hỏi, suy nghĩ, thử nghiệm, giảng dạy và học tập cho đến khi toàn bộ cấp độ của các hiện tượng thông linh được nâng ra khỏi vị thế hiện nay là vô minh, suy đoán và tiêu cực, để đạt tới một vị thế của sự xác tín mạnh mẽ, kỹ thuật đã được chứng minh, và biểu hiện tinh thần. Tôi kêu gọi những phong trào như các Hội Nghiên Cứu Tâm Linh trên thế giới và phong trào Thần linh học rộng lớn hãy đặt trọng tâm vào biểu hiện thiêng liêng chứ không quá chú trọng vào hiện tượng; hãy để họ tiếp cận đề tài này từ góc độ phụng sự và đưa các nghiên cứu của mình vào lĩnh vực năng lượng, đồng thời chấm dứt việc quá chiều theo công chúng. Cơ hội [14] dành cho họ là lớn lao và nhu cầu đối với công việc của họ là thiết yếu. Sự phụng sự đã được thực hiện là có thật và thiết yếu, nhưng nếu các phong trào này muốn tận dụng dòng năng lượng tinh thần sắp đổ vào, họ phải chuyển sự chú ý của mình sang lĩnh vực của các giá trị chân thực. Việc huấn luyện trí tuệ và trình bày cho thế giới một nhóm những người thông linh thông minh phải là một mục tiêu chính, và khi đó cõi cảm dục đối với họ sẽ chỉ là một chặng trên đường đến thế giới nơi tất cả các Đấng Hướng Dẫn tinh thần và các Chân sư hiện diện, và từ đó mọi linh hồn đi ra để nhập thể, và mọi linh hồn trở về từ nơi trải nghiệm và thử nghiệm.
It might be asked what ground this training should cover. I would suggest that teaching should be given as to the nature of man and the purpose and objectives of the soul; training can be offered as to the technique of expression, and careful instruction also given as to the use of the centres in the etheric body and in the development of the ability to preserve inviolate the attitude of the positive onlooker, who is always the directing, controlling factor. There will have to be careful analysis of the type and character of the psychic, and then the application of differentiated and suitable methods so that he may progress with the least hindrance. Training schools and classes which seek to develop the student must be graded according to his point in evolution, and his passing into a group, optimistically hoping that something will happen to him whilst in it, will have to cease.
Người ta có thể hỏi sự huấn luyện này nên bao quát những lĩnh vực nào. Tôi xin đề nghị rằng nên có sự giảng dạy về bản chất con người và mục đích cùng các mục tiêu của linh hồn; có thể đưa ra sự huấn luyện về kỹ thuật biểu hiện, và cũng nên có sự chỉ dẫn cẩn trọng về việc sử dụng các trung tâm trong thể dĩ thái và về sự phát triển khả năng giữ nguyên vẹn thái độ của người quan sát tích cực, vốn luôn là yếu tố chỉ đạo và kiểm soát. Sẽ phải có sự phân tích cẩn thận về loại hình và tính cách của người thông linh, rồi sau đó áp dụng những phương pháp phân biệt và thích hợp để y có thể tiến bộ với ít trở ngại nhất. Các trường huấn luyện và lớp học tìm cách phát triển đạo sinh phải được phân cấp theo điểm tiến hoá của y, và việc y bước vào một nhóm, với hy vọng lạc quan rằng điều gì đó sẽ xảy ra cho mình khi ở trong đó, sẽ phải chấm dứt.
The goal for the low-grade negative psychic should be the training of the mind and the closing of the solar plexus until such time as he can function as a true mediator; if this involves the temporary cessation of his mediumistic powers (and consequently of his commercial exploitation), then so much the better for him, viewing him as an immortal soul, with a spiritual destiny and usefulness.
Mục tiêu đối với người thông linh tiêu cực cấp thấp phải là sự huấn luyện trí tuệ và việc đóng tùng thái dương lại cho đến khi y có thể hoạt động như một trung gian chân chính; nếu điều này bao hàm sự chấm dứt tạm thời các năng lực đồng tử của y (và do đó chấm dứt việc khai thác thương mại các năng lực ấy), thì điều đó càng tốt cho y, nếu nhìn y như một linh hồn bất tử, với một định mệnh tinh thần và tính hữu dụng.
The instruction given to the intelligent medium and psychic should lead him to a full understanding of himself and of his powers; it should develop those powers without risk and with care, and he should be stabilised in the position [15] of the positive controlling factor. His clairvoyant and clairaudient powers should gradually be perfected, and the right interpretation of what he sees and contacts on the plane of illusion, the astral plane, should be cultivated.
Sự chỉ dạy dành cho người đồng tử và người thông linh thông minh phải dẫn y đến sự thấu hiểu đầy đủ về chính mình và về các năng lực của mình; nó phải phát triển các năng lực ấy không có rủi ro và với sự cẩn trọng, và y phải được ổn định trong vị trí [15] của yếu tố kiểm soát tích cực. Các năng lực thông nhãn và thông nhĩ của y phải dần dần được hoàn thiện, và sự diễn giải đúng đắn về những gì y thấy và tiếp xúc trên cõi ảo tưởng, tức cõi cảm dục, phải được vun bồi.
Thus we shall gradually find emerging in the world a large body of trained psychics whose powers are understood and who function on the astral plane with as much intelligence as they function on the physical plane, and who are preparing themselves for the expression of the higher psychic powers—spiritual perception and telepathy. These people will constitute eventually a body of linking souls, mediating between those who cannot see and hear on the astral plane because they are the prisoners of the physical body and those who are equally the prisoners of the astral plane, lacking the physical response apparatus.
Như vậy, chúng ta sẽ dần dần thấy xuất hiện trên thế giới một số lượng lớn những người thông linh đã được huấn luyện, mà các năng lực của họ được thấu hiểu và họ hoạt động trên cõi cảm dục với nhiều trí tuệ cũng như khi họ hoạt động trên cõi hồng trần, và họ đang chuẩn bị cho sự biểu hiện của các năng lực thông linh cao hơn—tri giác tinh thần và viễn cảm. Những người này rốt cuộc sẽ cấu thành một tập thể các linh hồn nối kết, làm trung gian giữa những người không thể thấy và nghe trên cõi cảm dục vì họ là tù nhân của thể xác hồng trần, và những người cũng là tù nhân của cõi cảm dục, vì thiếu bộ máy đáp ứng hồng trần.
The great need, therefore, is not that we should cease to consult and train our psychics and mediums, but that we should train them rightly and guard them intelligently and so link, through their means, the two worlds of the physical and the astral. (A Treatise on the Seven Rays, Vol II (Esoteric Psychology), pp. 555-598)
Vì vậy, nhu cầu lớn lao không phải là chúng ta nên ngừng tham khảo và huấn luyện những người thông linh và các đồng tử của mình, mà là chúng ta phải huấn luyện họ đúng đắn và bảo vệ họ một cách thông minh, và như thế nối kết, thông qua họ, hai thế giới hồng trần và cảm dục. (Luận về Bảy Cung, Tập II (Tâm Lý Học Nội Môn), tr. 555-598)
II. Esoteric Schools and Disciplines
II. Các Trường Huyền Bí và Kỷ Luật
Our second question relates to the work of the esoteric schools or “disciplines,” as they are sometimes called, and the training and safeguarding of the aspirants found working in them.
Câu hỏi thứ hai của chúng ta liên quan đến công việc của các trường huyền bí hay “kỷ luật”, như đôi khi chúng được gọi như vậy, và việc huấn luyện cùng bảo vệ những người chí nguyện đang làm việc trong đó.
I would like first of all to make one point clear. The great hindrance to the work of the majority of the esoteric schools at this time is their sense of separateness and their intolerance of other schools and methods. The leaders of these schools need to absorb the following fact. All schools which recognise the influence of the trans-Himalayan Lodge and whose workers are linked, consciously or unconsciously, with such Masters of the Wisdom as the Master Morya or the Master K.H., form one school and are part of one “discipline.” There is therefore no essential conflict of interests, and on [16] the inner side—if they are in any way functioning effectively—the various schools and presentations are regarded as a unity. There is no basic difference in teaching, even if the terminology used may vary, and the technique of work is fundamentally identical. If the work of the Great Ones is to go forward as desired in these days of stress and of world need, it is imperative that these various groups should begin to recognise their real unity in goal, guidance and technique, and that their leaders should realise that it is fear of other leaders and the desire that their group should be numerically the most important which prompts the frequent use of the words, “This is a different discipline,” or, “Their work is not the same as ours.” It is this attitude which is hindering the true growth of spiritual life and understanding among the many students gathered into the many outer organisations. At this time, the “great heresy of separateness” taints them. The leaders and members talk in terms of “our” and “your,” of this “discipline” and that, and of this method being right (usually their own) and the other method which may be right, but it is probably doubtful, if not positively wrong. Each regards their own group as specifically pledged to them and to their mode of instruction, and threaten their members with dire results if they cooperate with the membership of other groups. Instead, they should recognise that all students in analogous schools and working under the same spiritual impulses are members of the one school and are linked together in a basic subjective unity. The time must come when these various (and at present) separative esoteric bodies will have to proclaim their identity, when the leaders and workers and secretaries will meet with each other and learn to know and understand each other. Some day this recognition and understanding will bring them to the point where they will endeavour to supplement each other’s efforts, exchange ideas with each other, and so in truth and in deed constitute one great college of esotericism in the world, with varying classes and grades but all occupied with the work of training aspirants and preparing them for discipleship, or superintending the work of disciples as they prepare [17] themselves to take initiation. Then will cease the present attempts to hinder each other’s work by comparison of methods and of techniques, by criticism and defamation, by warning and the cult of fear, and the insistence on exclusiveness. It is these attitudes and methods which at this time are hindering the entrance of the pure light of truth.
Trước hết tôi muốn làm rõ một điểm. Trở ngại lớn đối với công việc của đa số các trường huyền bí vào lúc này là ý thức chia rẽ của họ và sự bất khoan dung của họ đối với các trường và phương pháp khác. Những người lãnh đạo các trường này cần hấp thụ sự kiện sau đây. Tất cả các trường công nhận ảnh hưởng của Thánh đoàn xuyên Hy Mã Lạp Sơn và những người hoạt động của họ được nối kết, có ý thức hay vô thức, với những Chân sư Minh Triết như Chân sư Morya hay Chân sư KH, đều tạo thành một trường và là một phần của một “kỷ luật”. Vì vậy, không có xung đột quyền lợi cốt yếu nào, và về mặt bên trong—nếu họ đang hoạt động hữu hiệu theo bất kỳ cách nào—các trường và các cách trình bày khác nhau được xem như một hợp nhất. Không có khác biệt căn bản nào trong giáo huấn, dù thuật ngữ được dùng có thể khác nhau, và kỹ thuật làm việc về cơ bản là đồng nhất. Nếu công việc của Các Đấng Cao Cả muốn tiến triển như mong muốn trong những ngày căng thẳng và nhu cầu thế giới này, thì điều tối quan trọng là các nhóm khác nhau này phải bắt đầu nhận ra sự hợp nhất thực sự của họ trong mục tiêu, sự hướng dẫn và kỹ thuật, và những người lãnh đạo của họ phải nhận ra rằng chính nỗi sợ các lãnh đạo khác và mong muốn nhóm của mình phải là nhóm quan trọng nhất về số lượng đã thúc đẩy việc thường xuyên sử dụng những lời như: “Đây là một kỷ luật khác,” hoặc, “Công việc của họ không giống công việc của chúng ta.” Chính thái độ này đang cản trở sự tăng trưởng chân thực của đời sống tinh thần và sự thấu hiểu nơi nhiều đạo sinh được tập hợp trong nhiều tổ chức bên ngoài. Vào lúc này, “Đại Tà thuyết về sự chia rẽ” đang làm ô nhiễm họ. Những người lãnh đạo và các thành viên nói theo kiểu “của chúng tôi” và “của các bạn”, về “kỷ luật” này và kỷ luật kia, và về phương pháp này là đúng (thường là của chính họ) còn phương pháp kia có thể đúng, nhưng có lẽ đáng ngờ, nếu không phải là hoàn toàn sai. Mỗi bên xem nhóm riêng của mình như được cam kết đặc biệt với họ và với phương thức chỉ dạy của họ, và đe dọa các thành viên của mình bằng những hậu quả nghiêm trọng nếu họ hợp tác với thành viên của các nhóm khác. Thay vào đó, họ nên nhận ra rằng tất cả các đạo sinh trong những trường tương tự và đang làm việc dưới cùng những xung lực tinh thần đều là thành viên của một trường duy nhất và được nối kết với nhau trong một hợp nhất chủ quan căn bản. Thời điểm phải đến khi các tổ chức huyền bí khác nhau này (và hiện nay còn mang tính chia rẽ) sẽ phải công bố bản sắc chung của mình, khi những người lãnh đạo, người hoạt động và thư ký sẽ gặp gỡ nhau và học cách biết nhau và thấu hiểu nhau. Một ngày nào đó, sự công nhận và thấu hiểu này sẽ đưa họ đến chỗ cố gắng bổ sung cho nỗ lực của nhau, trao đổi ý tưởng với nhau, và như thế trong chân lý và trong hành động cấu thành một đại học viện huyền bí học trên thế giới, với những lớp và cấp độ khác nhau nhưng tất cả đều bận tâm đến công việc huấn luyện những người chí nguyện và chuẩn bị họ cho địa vị đệ tử, hoặc giám sát công việc của các đệ tử khi họ chuẩn bị [17] để tự mình tiếp nhận điểm đạo. Khi đó sẽ chấm dứt những nỗ lực hiện nay nhằm cản trở công việc của nhau bằng cách so sánh các phương pháp và kỹ thuật, bằng chỉ trích và phỉ báng, bằng cảnh báo và sự sùng bái nỗi sợ, và bằng sự khăng khăng đòi tính độc quyền. Chính những thái độ và phương pháp này hiện đang cản trở sự đi vào của ánh sáng thuần khiết của chân lý.
Aspirants in these schools present a different problem from that of ordinary psychism and mediumship. These men and women have offered themselves for intellectual training and have subjected themselves to a forcing process which is intended to bring the full flower of the soul into premature blossoming, and this in order more rapidly and effectively to serve the race, and to cooperate with the plan of the Hierarchy. Such students thereby lay themselves open to dangers and difficulties which would have been avoided had they chosen to go the slower and equally sure way. This fact should be realised by all workers in such schools and the problem carefully explained to the entering aspirant, so that he may be on his guard and adhere with care to the rules and instructions. He should not be permitted to be afraid or to refuse to subject himself to this forcing process, but he should enter upon it with his eyes wide open and should be taught to avail himself of the safeguards offered and the experience of the older students.
Những người chí nguyện trong các trường này nêu ra một vấn đề khác với vấn đề của thông linh và đồng tử thông thường. Những người nam và nữ này đã hiến mình cho sự huấn luyện trí tuệ và đã đặt mình vào một tiến trình thúc ép nhằm đưa bông hoa trọn vẹn của linh hồn nở ra một cách sớm hơn bình thường, và điều này để phụng sự nhân loại nhanh chóng và hữu hiệu hơn, cũng như để hợp tác với kế hoạch của Thánh đoàn. Do đó, những đạo sinh như vậy tự đặt mình trước những nguy hiểm và khó khăn mà lẽ ra đã tránh được nếu họ chọn đi theo con đường chậm hơn nhưng cũng chắc chắn như vậy. Sự kiện này cần được tất cả những người hoạt động trong các trường ấy nhận thức, và vấn đề phải được giải thích cẩn thận cho người chí nguyện mới vào, để y có thể cảnh giác và cẩn trọng tuân theo các quy luật và chỉ dẫn. Không nên để y sợ hãi hay từ chối đặt mình vào tiến trình thúc ép này, nhưng y phải bước vào đó với đôi mắt mở to và phải được dạy cách tận dụng những biện pháp bảo vệ được cung cấp cùng kinh nghiệm của các đạo sinh lớn tuổi hơn.
The emphasis in all esoteric schools is necessarily, and rightly, laid upon meditation. Technically speaking, meditation is the process whereby the head centre is awakened, brought under control and used. When this is the case, the soul and the personality are coordinated and fused, and at-one-ment takes place, producing in the aspirant a tremendous inflow of spiritual energy, galvanising his whole being into activity, and bringing to the surface the latent good and also evil. Herein lies much of the problem and much of the danger. Hence also the stress laid in such true schools upon the need of purity and truth. Over-emphasis has been laid upon the need for physical purity, and not sufficient emphasis laid upon the avoidance of all fanaticism and intolerance. These two qualities hinder the student far more than [18] can wrong diet, and they feed the fires of separativeness more than any other one factor.
Sự nhấn mạnh trong mọi trường huyền bí tất yếu, và đúng đắn, được đặt vào tham thiền. Nói theo kỹ thuật, tham thiền là tiến trình nhờ đó trung tâm đầu được đánh thức, được đưa vào sự kiểm soát và được sử dụng. Khi điều này xảy ra, linh hồn và phàm ngã được phối hợp và dung hợp, và sự hợp nhất diễn ra, tạo ra nơi người chí nguyện một dòng năng lượng tinh thần tuôn vào mãnh liệt, làm toàn thể bản thể của y bừng hoạt động, và đưa lên bề mặt điều thiện tiềm ẩn cũng như điều ác. Chính trong đó có phần lớn vấn đề và phần lớn nguy hiểm. Do đó cũng có sự nhấn mạnh trong các trường chân chính như vậy vào nhu cầu thanh khiết và chân thật. Người ta đã quá nhấn mạnh vào nhu cầu thanh khiết hồng trần, mà không nhấn mạnh đủ vào việc tránh mọi cuồng tín và bất khoan dung. Hai phẩm tính này cản trở đạo sinh nhiều hơn [18] là chế độ ăn uống sai lầm, và chúng nuôi ngọn lửa chia rẽ nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác.
Meditation involves the living of a one-pointed life always and every day. This perforce puts an undue strain on the brain cells for it brings quiescent cells into activity and awakens the brain consciousness to the light of the soul. This process of ordered meditation, when carried forward over a period of years and supplemented by meditative living and one-pointed service, will successfully arouse the entire system, and bring the lower man under the influence and control of the spiritual man; it will awaken also the centres of force in the etheric body and stimulate into activity that mysterious stream of energy which sleeps at the base of the spinal column. When this process is carried forward with care and due safeguards, and under direction, and when the process is spread over a long period of time there is little risk of danger, and the awakening will take place normally and under the law of being itself. If, however, the tuning up and awakening is forced, or is brought about by exercises of various kinds before the student is ready and before the bodies are coordinated and developed, then the aspirant is headed towards disaster. Breathing exercises or pranayama training should never be undertaken without expert guidance and only after years of spiritual application, devotion and service; concentration upon the centres in the force body (with a view to their awakening) is ever to be avoided; it will cause overstimulation and the opening of doors on to the astral plane which the student may have difficulty in closing. I cannot impress too strongly upon aspirants in all occult schools that the yoga for this transition period is the yoga of one-pointed intent, of directed purpose, of a constant practice of the Presence of God, and of ordered regular meditation carried forward systematically and steadily over years of effort.
Tham thiền bao hàm việc sống một đời sống nhất tâm luôn luôn và mỗi ngày. Điều này tất nhiên đặt một áp lực quá mức lên các tế bào não vì nó đưa những tế bào đang yên lặng vào hoạt động và đánh thức tâm thức của não bộ trước ánh sáng của linh hồn. Tiến trình tham thiền có trật tự này, khi được tiếp tục trong một thời kỳ nhiều năm và được bổ sung bằng đời sống tham thiền cùng sự phụng sự nhất tâm, sẽ đánh thức thành công toàn bộ hệ thống, và đưa phàm nhân dưới ảnh hưởng và sự kiểm soát của con người tinh thần; nó cũng sẽ đánh thức các trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái và kích thích vào hoạt động dòng năng lượng huyền nhiệm đang ngủ ở đáy cột sống. Khi tiến trình này được thực hiện với sự cẩn trọng và những biện pháp bảo vệ thích đáng, dưới sự hướng dẫn, và khi tiến trình được trải ra trong một thời gian dài thì hầu như không có nguy cơ nguy hiểm, và sự thức tỉnh sẽ diễn ra bình thường và theo chính định luật của hiện hữu. Tuy nhiên, nếu sự chỉnh hợp và thức tỉnh bị cưỡng ép, hoặc được tạo ra bằng những bài tập đủ loại trước khi đạo sinh sẵn sàng và trước khi các thể được phối hợp và phát triển, thì người chí nguyện đang hướng đến tai họa. Các bài tập hô hấp hay sự huấn luyện pranayama không bao giờ được thực hiện nếu không có sự hướng dẫn của chuyên gia, và chỉ sau nhiều năm áp dụng tinh thần, sùng tín và phụng sự; sự tập trung vào các trung tâm trong thể mãnh lực (với mục đích đánh thức chúng) luôn luôn phải tránh; nó sẽ gây kích thích quá mức và mở ra những cánh cửa vào cõi cảm dục mà đạo sinh có thể khó đóng lại. Tôi không thể nhấn mạnh quá mức với những người chí nguyện trong mọi trường huyền bí rằng yoga cho giai đoạn chuyển tiếp này là yoga của ý định nhất tâm, của mục đích được định hướng, của sự thực hành liên tục Hiện Diện của Thượng đế, và của tham thiền đều đặn có trật tự được tiến hành một cách hệ thống và bền bỉ qua nhiều năm nỗ lực.
When this is done with detachment and is paralleled by a life of loving service, the awakening of the centres and the raising of the sleeping fire of kundalini will go forward with safety and sanity and the whole system will be brought to [19] the requisite stage of “aliveness.” I cannot too strongly advise students against the following of intensive meditation processes for hours at a time, or against practices which have for their objective the arousing of the fires of the body, the awakening of a particular centre and the moving of the serpent fire. The general world stimulation is so great at this time and the average aspirant is so sensitive and finely organised that excessive meditation, a fanatical diet, the curtailing of the hours of sleep or undue interest in and emphasis upon psychic experience will upset the mental balance and often do irretrievable harm.
Khi điều này được thực hiện với sự tách rời và song hành với một đời sống phụng sự đầy bác ái, sự thức tỉnh các trung tâm và sự nâng lên của lửa kundalini đang ngủ sẽ tiến triển một cách an toàn và lành mạnh, và toàn bộ hệ thống sẽ được đưa đến [19] giai đoạn “sống động” cần thiết. Tôi không thể khuyên các đạo sinh quá mạnh mẽ chống lại việc theo đuổi các tiến trình tham thiền chuyên sâu hàng giờ liền, hay chống lại những thực hành có mục tiêu là khơi dậy các ngọn lửa của thể, đánh thức một trung tâm đặc biệt và làm chuyển động hỏa xà. Sự kích thích chung của thế giới hiện nay quá lớn, và người chí nguyện trung bình lại quá nhạy cảm và được tổ chức quá tinh tế, đến nỗi việc tham thiền quá mức, một chế độ ăn cuồng tín, việc cắt giảm giờ ngủ hoặc sự quan tâm quá mức và nhấn mạnh quá mức vào kinh nghiệm thông linh sẽ làm mất quân bình trí tuệ và thường gây tổn hại không thể cứu vãn.
Let the students in esoteric schools settle down to steady, quiet, unemotional work. Let them refrain from prolonged hours of study and of meditation. Their bodies are as yet incapable of the requisite tension, and they only damage themselves. Let them lead normal busy lives, remembering in the press of daily duties and service who they are essentially and what are their goal and objectives. Let them meditate regularly every morning, beginning with a period of fifteen minutes and never exceeding forty minutes. Let them forget themselves in service, and let them not concentrate their interest upon their own psychic development. Let them train their minds with a normal measure of study and learn to think intelligently, so that their minds can balance their emotions and enable them to interpret correctly that which they contact as their measure of awareness increases and their consciousness expands.
Hãy để các đạo sinh trong các trường huyền bí an định vào công việc đều đặn, yên lặng, không cảm xúc. Hãy để họ tránh những giờ học tập và tham thiền kéo dài. Các thể của họ hiện chưa đủ khả năng chịu đựng sự căng thẳng cần thiết, và họ chỉ đang làm hại chính mình. Hãy để họ sống những đời sống bình thường bận rộn, ghi nhớ giữa áp lực của các bổn phận hằng ngày và sự phụng sự rằng về bản chất họ là ai và mục tiêu cùng các đích nhắm của họ là gì. Hãy để họ tham thiền đều đặn mỗi sáng, bắt đầu với một thời kỳ mười lăm phút và không bao giờ vượt quá bốn mươi phút. Hãy để họ quên mình trong sự phụng sự, và đừng tập trung mối quan tâm của mình vào sự phát triển thông linh riêng. Hãy để họ huấn luyện trí tuệ của mình bằng một mức độ học tập bình thường và học cách suy nghĩ thông minh, để trí tuệ của họ có thể quân bình cảm xúc và giúp họ diễn giải đúng đắn điều họ tiếp xúc khi mức độ nhận biết của họ gia tăng và tâm thức của họ mở rộng.
Students need to remember that devotion to the Path or to the Master is not enough. The Great Ones are looking for intelligent cooperators and workers more than They are looking for devotion to Their Personalities, and a student who is walking independently in the light of his own soul is regarded by Them as a more dependable instrument than a devoted fanatic. The light of his soul will reveal to the earnest aspirant the unity underlying all groups, and enable him to eliminate the poison of intolerance which taints and hinders so many; it will cause him to recognise the spiritual fundamentals which guide the steps of humanity; it will force [20] him to overlook the intolerance and the fanaticism and separativeness which characterise the small mind and the beginner upon the Path, and help him so to love them that they will begin to see more truly and enlarge their horizon; it will enable him to estimate truly the esoteric value of service and teach him above all to practise that harmlessness which is the outstanding quality of every son of God. A harmlessness that speaks no word that can damage another person, that thinks no thought which could poison or produce misunderstanding, and which does no action which could hurt the least of his brethren—this is the main virtue which will enable the esoteric student to tread with safety the difficult path of development. Where the emphasis is laid upon service to one’s fellowmen and the trend of the life force is outward to the world, then there is freedom from danger and the aspirant can safely meditate and aspire and work. His motive is pure, and he is seeking to decentralise his personality and shift the focus of his attention away from himself to the group. Thus the life of the soul can pour through him, and express itself as love to all beings. He knows himself to be a part of a whole and the life of that whole can flow through him consciously, leading him to a realisation of brotherhood and of his oneness in relation to all manifested lives.
Các đạo sinh cần nhớ rằng sự sùng tín đối với Con Đường hay đối với Chân sư là chưa đủ. Các Đấng Cao Cả đang tìm kiếm những người hợp tác và hoạt động thông minh hơn là tìm kiếm sự sùng tín đối với các Phàm ngã của Các Ngài, và một đạo sinh đang bước đi độc lập trong ánh sáng của chính linh hồn mình được Các Ngài xem là một công cụ đáng tin cậy hơn một kẻ cuồng tín sùng đạo. Ánh sáng của linh hồn y sẽ mặc khải cho người chí nguyện chân thành sự hợp nhất nằm bên dưới mọi nhóm, và giúp y loại bỏ chất độc của sự bất khoan dung đang làm ô nhiễm và cản trở quá nhiều người; nó sẽ khiến y nhận ra những nền tảng tinh thần hướng dẫn bước chân của nhân loại; nó sẽ buộc [20] y bỏ qua sự bất khoan dung, cuồng tín và chia rẽ vốn đặc trưng cho trí tuệ nhỏ hẹp và người mới bắt đầu trên Con Đường, và giúp y yêu thương họ đến mức họ sẽ bắt đầu thấy chân thực hơn và mở rộng chân trời của mình; nó sẽ giúp y ước lượng đúng giá trị huyền bí của sự phụng sự và trên hết dạy y thực hành tính vô tổn hại, vốn là phẩm tính nổi bật của mọi con của Thượng đế. Một tính vô tổn hại không nói lời nào có thể làm hại người khác, không nghĩ tư tưởng nào có thể đầu độc hay gây hiểu lầm, và không làm hành động nào có thể làm tổn thương người nhỏ bé nhất trong các huynh đệ của mình—đó là đức hạnh chính sẽ giúp đạo sinh huyền bí bước đi an toàn trên con đường phát triển khó khăn. Nơi nào trọng tâm được đặt vào sự phụng sự đồng loại và xu hướng của mãnh lực sự sống hướng ra ngoài về phía thế giới, thì ở đó có sự tự do khỏi nguy hiểm và người chí nguyện có thể an toàn tham thiền, khát vọng và làm việc. Động cơ của y là thanh khiết, và y đang tìm cách phi tập trung vào bản thân nơi phàm ngã của mình và chuyển trọng điểm chú ý của mình ra khỏi bản thân để hướng về nhóm. Như vậy, sự sống của linh hồn có thể tuôn qua y, và biểu hiện thành tình thương đối với mọi hữu thể. Y biết mình là một phần của một toàn thể, và sự sống của toàn thể ấy có thể tuôn qua y một cách có ý thức, dẫn y đến sự chứng nghiệm về tình huynh đệ và về sự hợp nhất của y trong tương quan với mọi sự sống biểu hiện.
THE PRESENT URGENCY
TÍNH CẤP BÁCH HIỆN NAY
October 10, 1934
Ngày 10 tháng 10 năm 1934
I have somewhat to say to those who are the recipients of my words as embodied in my books and pamphlets and who, with mental interest and devotion, follow out as far as may be my line of thought.
Tôi có đôi điều muốn nói với những ai là người tiếp nhận lời tôi như được thể hiện trong các sách và tập sách nhỏ của tôi, và những người, với sự quan tâm trí tuệ và lòng sùng tín, theo đuổi đường lối tư tưởng của tôi xa đến mức có thể.
I have for years—ever since 1919—sought to aid you to the best of my ability. The Hierarchy (a name covering the working disciples of all degrees) has for hundreds of generations sought to aid humanity, and since the fifteenth century has steadily approached closer to the physical plane [21] and sought to make a deeper impact on the human consciousness. This has resulted in a recognition which has in it (at this time) the seeds of world salvation. Until the fifteenth century, the pull and the magnetic appeal was from the side of the watching Elder Brothers. Today, so numerous are the inner and outer disciples, and so many are the world aspirants, the pull and the magnetic appeal are largely equalised, and what will happen in the world unfoldment and in the recognitions by the races will be the result of mutual interplay of the two intents (I am choosing my words with care)—the intent of the Masters to help humanity, and that of the world aspirants and disciples to aid in that helping.
Trong nhiều năm—kể từ năm 1919—tôi đã tìm cách trợ giúp các bạn hết khả năng của mình. Thánh đoàn (một danh xưng bao trùm các đệ tử đang hoạt động ở mọi cấp độ) đã trong hàng trăm thế hệ tìm cách trợ giúp nhân loại, và từ thế kỷ mười lăm đã đều đặn tiến gần hơn tới cõi hồng trần [21] và tìm cách tạo một tác động sâu sắc hơn lên tâm thức con người. Điều này đã dẫn đến một sự nhận biết mà trong đó hiện nay có những hạt giống của sự cứu rỗi thế giới. Cho đến thế kỷ mười lăm, lực hút và sức hấp dẫn từ tính đến từ phía các Huynh Trưởng đang quan sát. Ngày nay, số lượng đệ tử bên trong và bên ngoài đông đảo đến thế, và số người chí nguyện thế gian nhiều đến thế, nên lực hút và sức hấp dẫn từ tính phần lớn đã được quân bình, và điều sẽ xảy ra trong sự khai mở của thế giới và trong những sự nhận biết của các nhân loại sẽ là kết quả của sự tương tác hỗ tương giữa hai ý định ấy (tôi chọn lời rất cẩn thận)—ý định của các Chân sư muốn trợ giúp nhân loại, và ý định của những người chí nguyện và đệ tử thế gian muốn trợ giúp trong sự trợ giúp đó.
Esoterically speaking, a point of contact, a moment of “spiritual intercourse,” is imminent, and out of that moment a new world can be born.
Nói theo huyền bí học, một điểm tiếp xúc, một khoảnh khắc của “sự giao cảm tinh thần”, đang cận kề, và từ khoảnh khắc ấy một thế giới mới có thể được sinh ra.
If that can be brought about, then there can be re-established on earth the condition which was brought to an end in earlier days, when the Hierarchy (in order to further man’s mental development) withdrew behind the scenes for a period. If this spiritual contact can be brought about, it means that the Hierarchy will no longer be hidden and unknown, but will be recognised as present upon the physical plane. This would at first be necessarily on a small scale, and the recognition will be confined to the aspirants and disciples. Increasingly the New Group of World Servers will be active in every nation and found functioning throughout the entire world.
Nếu điều đó có thể được thực hiện, thì trên địa cầu có thể tái lập tình trạng đã chấm dứt trong những ngày xưa, khi Thánh đoàn (để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của con người) đã rút lui ra sau hậu trường trong một thời kỳ. Nếu sự tiếp xúc tinh thần này có thể được thực hiện, điều đó có nghĩa là Thánh đoàn sẽ không còn bị che giấu và không được biết đến nữa, mà sẽ được công nhận là hiện diện trên cõi hồng trần. Điều này lúc đầu tất yếu sẽ ở quy mô nhỏ, và sự công nhận sẽ chỉ giới hạn trong những người chí nguyện và các đệ tử. Ngày càng nhiều, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ hoạt động trong mọi quốc gia và được thấy đang hoạt động trên khắp toàn thế giới.
The two thoughts which I seek to impress upon your minds are, first, the re-establishing of this closer relation, and secondly, the work of a practical kind that each of you can do to bring about this general recognition. I seek to emphasise the point that the final activity which will bring about this spiritual event must come from the outer plane of physical life. All of us who are occupied with the Plan for “the next three years” are seeking earnestly for those who can help us and to whom appeal can be made for the putting forth of that final last effort which will bring the desired and anticipated result.
Hai tư tưởng mà tôi tìm cách khắc sâu vào trí tuệ các bạn là, thứ nhất, việc tái lập mối liên hệ gần gũi hơn này, và thứ hai, công việc có tính thực tiễn mà mỗi người trong các bạn có thể làm để đem lại sự công nhận chung này. Tôi tìm cách nhấn mạnh điểm rằng hoạt động cuối cùng sẽ đem lại biến cố tinh thần này phải đến từ bình diện bên ngoài của đời sống hồng trần. Tất cả chúng tôi, những người đang bận tâm với Thiên Cơ cho “ba năm tới”, đang tha thiết tìm kiếm những ai có thể giúp chúng tôi và những ai có thể được kêu gọi để đưa ra nỗ lực cuối cùng ấy, nỗ lực sau chót ấy, vốn sẽ đem lại kết quả mong muốn và được chờ đợi.
[22] I would preface what I have to say with the reminder that I only make a suggestion and that naught that I say carries with it the slightest weight of authority; and also that I am aware of the frequent futility of such appeals for cooperation. The history of the world of thought evidences the fact that men are oft thrilled and enlightened and aided by ideas and by the promise of a developing future, but that when their aid is sought in the materialising of the idea, then their hope and interest fade out on the mental plane, or—if it reaches the world of emotion and of strong desire—the sacrifice required to bring the hope to birth on the physical plane is lacking or too feeble to produce the longed-for result.
[22] Tôi muốn mở đầu điều tôi sắp nói bằng lời nhắc rằng tôi chỉ đưa ra một gợi ý, và không điều gì tôi nói mang theo dù chỉ chút ít trọng lượng của thẩm quyền; và cũng rằng tôi ý thức được sự vô ích thường xuyên của những lời kêu gọi hợp tác như vậy. Lịch sử của thế giới tư tưởng chứng minh sự kiện rằng con người thường được kích động, soi sáng và trợ giúp bởi các ý tưởng và bởi lời hứa về một tương lai đang phát triển, nhưng khi sự trợ giúp của họ được tìm kiếm trong việc hiện hình ý tưởng ấy, thì hy vọng và sự quan tâm của họ phai nhạt trên cõi trí, hoặc—nếu nó chạm tới thế giới cảm xúc và dục vọng mạnh mẽ—thì sự hy sinh cần thiết để đưa hy vọng ấy ra đời trên cõi hồng trần lại thiếu vắng hoặc quá yếu để tạo ra kết quả được mong mỏi.
What I have to say as a result of the urgency upon me to bring about a more intensive cooperation upon the part of those who read with interest the pamphlet The Next Three Years, (”A Treatise on White Magic”, pp. 401-433. A Treatise on the Seven Rays, Vol. I (Esoteric Psychology), pp. 170-189) carries not the smallest fraction of authority. I only appeal to you in the hope of intensifying your effort for the space of the next two years (one has already passed), because after the early autumn of 1936, any effort along this particular line will either have failed or will no longer be required in this particular form.
Điều tôi phải nói, do tính cấp bách thúc đẩy tôi phải đem lại một sự hợp tác mãnh liệt hơn từ phía những người đọc với sự quan tâm tập sách nhỏ Ba Năm Tới, (“Luận về Chánh Thuật”, tr. 401-433. Luận về Bảy Cung, Tập I (Tâm Lý Học Nội Môn), tr. 170-189), không mang dù chỉ phần nhỏ nhất của thẩm quyền. Tôi chỉ kêu gọi các bạn với hy vọng tăng cường nỗ lực của các bạn trong khoảng hai năm tới (một năm đã trôi qua), bởi vì sau đầu mùa thu năm 1936, bất kỳ nỗ lực nào theo đường lối đặc biệt này hoặc sẽ đã thất bại, hoặc sẽ không còn cần thiết dưới hình thức đặc biệt này nữa.
My sole responsibility is to put the opportunity before the world aspirants, to point out to them the inherent possibilities of this particular situation, to indicate lines of helpful activity, and then (having so done) to withdraw the power of my mind and thought, and so leave each aspirant free to come to his own decisions.
Trách nhiệm duy nhất của tôi là đặt cơ hội này trước những người chí nguyện thế gian, chỉ ra cho họ những khả năng vốn có của tình huống đặc biệt này, nêu ra những đường lối hoạt động hữu ích, rồi sau đó (sau khi đã làm như vậy) rút mãnh lực trí tuệ và tư tưởng của tôi lại, và như thế để mỗi người chí nguyện tự do đi đến quyết định riêng của mình.
The pamphlet The Next Three Years is going forth today upon its mission. Its objective is to educate public opinion. It carries both inspiration and the power to produce cleavages in the life—cleavages which will produce new activities and the cessation of old attitudes of mind. A possible happening is indicated—the formation upon the physical plane of that group of aspirants and disciples which, [23] given time and opportunity, can salvage a distressed world and bring light and understanding to humanity. As to this, I need say no more.
Tập sách nhỏ Ba Năm Tới hôm nay đang lên đường thực hiện sứ mệnh của nó. Mục tiêu của nó là giáo dục công luận. Nó mang theo cả cảm hứng lẫn quyền năng tạo ra những sự phân tách trong đời sống—những sự phân tách sẽ tạo ra những hoạt động mới và sự chấm dứt những thái độ trí tuệ cũ. Một khả năng có thể xảy ra được nêu ra—sự hình thành trên cõi hồng trần của nhóm những người chí nguyện và đệ tử mà, [23] nếu được cho thời gian và cơ hội, có thể cứu vãn một thế giới đang khốn đốn và mang ánh sáng cùng sự thấu hiểu đến cho nhân loại. Về điều này, tôi không cần nói thêm nữa.
All of you have read the plan as it is embodied in the pamphlet, and the challenge to faith and the appeal to your service is before you. The next two years will see the decision as to whether the fusion of the inner and the outer groups of world servers can be made, or whether more time must elapse before the earlier ancient cooperation between the Hierarchy and humanity can be re-established.
Tất cả các bạn đã đọc kế hoạch như nó được trình bày trong tập sách nhỏ, và thách thức đối với đức tin cùng lời kêu gọi đối với sự phụng sự của các bạn đang ở trước mặt các bạn. Hai năm tới sẽ cho thấy quyết định liệu sự dung hợp của các nhóm người phụng sự thế gian bên trong và bên ngoài có thể được thực hiện hay không, hay liệu phải cần thêm thời gian trước khi sự hợp tác cổ xưa trước kia giữa Thánh đoàn và nhân loại có thể được tái lập.
I speak with love and almost anxiety, and with a wider knowledge of the present urgency than you can possibly have. I couch what I have to say to you in the form of certain questions, which I ask that you should put to yourselves with quietness and sincerity.
Tôi nói với tình thương và gần như với sự lo âu, và với một tri thức rộng hơn về tính cấp bách hiện nay so với điều các bạn có thể có. Tôi trình bày điều tôi muốn nói với các bạn dưới hình thức một số câu hỏi, mà tôi yêu cầu các bạn hãy tự đặt ra cho mình trong sự tĩnh lặng và chân thành.
1. Do I really and in truth desire the establishment of this closer interplay between the inner and outer worlds? If so, what am I prepared to do in order to bring this about?
1. Tôi có thực sự và chân thật mong muốn thiết lập sự tương tác gần gũi hơn này giữa các thế giới bên trong và bên ngoài không? Nếu có, tôi sẵn sàng làm gì để đem lại điều này?
2. Is there any way in which I can make a definite contribution towards this desired end? Recognising my special circumstances what more can I give in
2. Có cách nào để tôi có thể đóng góp một phần xác định vào mục đích mong muốn này không? Nhận ra hoàn cảnh đặc biệt của mình, tôi còn có thể cống hiến thêm gì trong
a. Meditation
a. Tham thiền
b. Understanding of the Plan
b. Sự thấu hiểu Thiên Cơ
c. Love of my fellowmen?
c. Tình thương đối với đồng loại của tôi?
Forget not that meditation clarifies the mind as to the fact and nature of the Plan, that understanding brings that Plan into the world of desire, and that love releases the form which will make the Plan materialise upon the physical plane. To these three expressions of your soul I call you. All of you, without exception, can serve in these three ways, if you so desire.
Xin đừng quên rằng tham thiền làm sáng tỏ trí tuệ về sự kiện và bản chất của Thiên Cơ, rằng sự thấu hiểu đưa Thiên Cơ ấy vào thế giới của dục vọng, và rằng tình thương giải phóng hình tướng sẽ làm cho Thiên Cơ hiện hình trên cõi hồng trần. Tôi kêu gọi các bạn đến với ba biểu hiện này của linh hồn các bạn. Tất cả các bạn, không ngoại lệ, đều có thể phụng sự theo ba cách này, nếu các bạn mong muốn.
3. The objective of all the work to be done at this time is to educate public opinion and to familiarise the thinking people of the world with the urgency and the opportunity of the next two years. If this is indeed so, what am I doing to make this possible? To elaborate this question: [24]
3. Mục tiêu của toàn bộ công việc phải làm vào lúc này là giáo dục công luận và làm cho những người biết suy nghĩ trên thế giới quen thuộc với tính cấp bách và cơ hội của hai năm tới. Nếu quả thật là như vậy, tôi đang làm gì để khiến điều này trở nên khả thi? Để khai triển câu hỏi này: [24]
a. Have I spoken to all I could in my environment, or have I been held back by fear?
a. Tôi đã nói với tất cả những ai tôi có thể nói trong môi trường của mình chưa, hay tôi đã bị giữ lại bởi nỗi sợ?
b. Have I made possible the wide distribution of the pamphlet on this subject? Its distribution in its present form is possible only until the fall of 1936, and the time is therefore short.
b. Tôi đã làm cho việc phân phát rộng rãi tập sách nhỏ về đề tài này trở nên khả thi chưa? Việc phân phát nó dưới hình thức hiện nay chỉ có thể thực hiện cho đến mùa thu năm 1936, và vì vậy thời gian là ngắn.
c. Have I aided in a material and financial way as far as is possible? Can I do more than I have done so far to help to meet this requirement?
c. Tôi đã trợ giúp về mặt vật chất và tài chính trong mức có thể chưa? Tôi có thể làm nhiều hơn những gì mình đã làm cho đến nay để giúp đáp ứng nhu cầu này không?
d. What more of my time can I give to help this work, to aid those who are distributing the pamphlet, or to gather people together for discussion? Can I not dedicate some time every day to this definite idea and service?
d. Tôi còn có thể dành thêm bao nhiêu thời gian để giúp công việc này, để trợ giúp những người đang phân phát tập sách nhỏ, hay để tập hợp mọi người lại để thảo luận? Tôi không thể hiến dâng một ít thời gian mỗi ngày cho ý tưởng và sự phụng sự xác định này sao?
Responding to my appeal will involve sacrifice, but all who grasp the Plan are today spending themselves in the effort to lift humanity up to another rung of the ladder and into greater light. Their hands need strengthening, their work needs helping, and there is not one of you who cannot do more than you are doing, through the aid of meditation, money and thought, to salvage the world, to educate public opinion and so bring in the New Day.
Đáp ứng lời kêu gọi của tôi sẽ bao hàm sự hy sinh, nhưng tất cả những ai nắm bắt Thiên Cơ ngày nay đều đang dốc cạn mình trong nỗ lực nâng nhân loại lên một nấc thang khác và vào ánh sáng lớn hơn. Bàn tay của họ cần được tăng sức, công việc của họ cần được trợ giúp, và không một ai trong các bạn lại không thể làm nhiều hơn điều mình đang làm, qua sự trợ giúp của tham thiền, tiền bạc và tư tưởng, để cứu vãn thế giới, giáo dục công luận và như thế đem Ngày Mới vào.
~
~
A CHALLENGING OPPORTUNITY—MỘT CƠ HỘI ĐẦY THÁCH THỨC
April 1935
Tháng 4 năm 1935
During the Wesak Festival this year, Those Who are seeking to lift humanity nearer to the Light and to expand the consciousness of mankind, will be gathering Their forces for a renewed approach with its inevitable consequences. These consequences are the stimulation of the human family to a fresh spiritual effort; the process and the exalted Personnel involved have been described by me in my previous message (A Treatise on the Seven Rays, Vol. II, Esoteric Psychology, pp. 683-688); They will also bring about the strengthening of the New Group of World Servers so that they can work with greater effectiveness, vision the Plan with greater clarity and—within themselves as a group—bring [25] about greater integration. Thus they can aid in carrying out the plans of the Council of the Hierarchy to meet the immediate human emergency. As I told you before, the plans for humanity are not laid down, for humanity determines its own destiny; the effort is directed towards establishing a closer relationship between humanity and the Hierarchy.
Trong Lễ Hội Wesak năm nay, Những Đấng đang tìm cách nâng nhân loại đến gần Ánh Sáng hơn và mở rộng tâm thức của loài người sẽ tập hợp các mãnh lực của Các Ngài cho một sự tiếp cận mới với những hệ quả tất yếu của nó. Những hệ quả này là sự kích thích gia đình nhân loại đến một nỗ lực tinh thần mới mẻ; tiến trình và các Đấng cao cả liên hệ đã được tôi mô tả trong thông điệp trước đây của mình (Luận về Bảy Cung, Tập II, Tâm Lý Học Nội Môn, tr. 683-688); Các Ngài cũng sẽ đem lại sự tăng cường cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian để họ có thể làm việc hữu hiệu hơn, hình dung Thiên Cơ rõ ràng hơn và—trong chính họ như một nhóm—đem [25] lại sự tích hợp lớn hơn. Như vậy họ có thể trợ giúp trong việc thực hiện các kế hoạch của Hội Đồng Thánh đoàn nhằm đáp ứng tình trạng khẩn cấp tức thời của nhân loại. Như tôi đã nói với các bạn trước đây, các kế hoạch cho nhân loại không được ấn định sẵn, vì nhân loại tự quyết định định mệnh của mình; nỗ lực được hướng đến việc thiết lập một mối liên hệ gần gũi hơn giữa nhân loại và Thánh đoàn.
It is possible for all aspirants and disciples to participate in this effort to the extent of rendering the task of the Masters easier by their clarity of thinking, their renewed spiritual effort, and the rededication of themselves to the task of service. To this effort I call you. It is a continuing effort which will be spread over many years. The opportunity will be offered to all true servers and aspirants and, above all, to the New Group of World Servers to participate in the establishing of the necessary momentum in the immediate cycle.
Mọi người chí nguyện và đệ tử đều có thể tham gia vào nỗ lực này trong chừng mực làm cho nhiệm vụ của các Chân sư trở nên dễ dàng hơn nhờ sự sáng rõ trong tư tưởng của họ, nỗ lực tinh thần được đổi mới của họ, và sự tái hiến dâng bản thân họ cho nhiệm vụ phụng sự. Tôi kêu gọi các bạn đến với nỗ lực này. Đây là một nỗ lực liên tục sẽ trải dài qua nhiều năm. Cơ hội sẽ được trao cho mọi người phụng sự chân chính và người chí nguyện, và trên hết là cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, để tham gia vào việc thiết lập động lực cần thiết trong chu kỳ trước mắt.
I call you, therefore, to a month of inner silence, of introspective thought, of self-control and of meditation, to self-forgetfulness and attentiveness to opportunity and not to your own inner aspiration to achieve. I call you to concentrate upon the world need for peace, mutual understanding and illumination and to forget utterly your own needs—mental, emotional and physical. I call you to prayer and to fasting, though along what lines your abstinence should go is for you to decide. For the five days of meditation, I call you to a more complete fasting, to a grave silence, to an inner focalisation, to a purity of thought and to an active spirit of loving kindness which will make you a pure channel. Thus will the work of the Hierarchy be facilitated and the door opened to the regenerative forces of Those extra-planetary Beings Who offer Their help at this time and particularly during 1936. The response of this Festival will submit a gauge of opportunity for the guidance of the Great Ones. (This theme is developed in the book, A Treatise on the Seven Rays, Vol. II, Esoteric Psychology, pp. 629-751, which contains the writings from May, 1935, to April, 1938, inclusive.)
Vì vậy, tôi kêu gọi các bạn đến với một tháng của sự im lặng bên trong, của tư tưởng hướng nội, của tự chủ và của tham thiền, đến với sự quên mình và sự chú tâm đến cơ hội chứ không phải đến khát vọng bên trong của riêng các bạn muốn thành tựu. Tôi kêu gọi các bạn tập trung vào nhu cầu của thế giới về hòa bình, sự thấu hiểu lẫn nhau và sự soi sáng, và hoàn toàn quên đi những nhu cầu riêng của các bạn—về trí tuệ, cảm xúc và hồng trần. Tôi kêu gọi các bạn cầu nguyện và ăn chay, dù việc kiêng cữ của các bạn nên theo đường lối nào thì các bạn phải tự quyết định. Trong năm ngày tham thiền, tôi kêu gọi các bạn đến với một sự ăn chay trọn vẹn hơn, một sự im lặng trang nghiêm, một sự tập trung bên trong, một sự thanh khiết trong tư tưởng và một tinh thần bác ái tích cực sẽ làm cho các bạn trở thành một kênh dẫn thanh khiết. Như vậy công việc của Thánh đoàn sẽ được tạo điều kiện thuận lợi và cánh cửa sẽ được mở ra cho các mãnh lực tái sinh của Những Đấng ngoài hành tinh đang trao sự trợ giúp của Các Ngài vào lúc này và đặc biệt trong năm 1936. Sự đáp ứng của Lễ Hội này sẽ cung cấp một thước đo về cơ hội để hướng dẫn Các Đấng Cao Cả. (Chủ đề này được khai triển trong sách Luận về Bảy Cung, Tập II, Tâm Lý Học Nội Môn, tr. 629-751, bao gồm các bài viết từ tháng 5 năm 1935 đến tháng 4 năm 1938.)
One practical thing also I will ask of you. Will you say, each night and morning, with all your heart’s desire [26] and with the attention of your mind as well, the following words. Their united saying will set up a rhythm and a momentum of great potency.
Tôi cũng xin các bạn một điều thực tiễn. Các bạn có sẵn lòng đọc lên, mỗi tối và mỗi sáng, với tất cả khát vọng của trái tim [26] và cả với sự chú tâm của trí tuệ, những lời sau đây không. Việc cùng nhau đọc lên sẽ thiết lập một nhịp điệu và một động lực có mãnh lực lớn.
Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
Nguyện các Mãnh Lực của Ánh Sáng mang sự soi sáng đến cho nhân loại.
Let the Spirit of Peace be spread abroad.
Nguyện Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi.
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
Nguyện những người nam và nữ thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
Nguyện sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này.
Let power attend the efforts of the Great Ones.
Nguyện quyền năng đi cùng những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
So let it be, and help us to do our part.
Nguyện điều ấy thành tựu, và xin giúp chúng con làm phần việc của mình.
These words sound simple, but the “Forces of Light” is the name for certain new Powers which are being invoked by the Hierarchy at this time, Whose potencies can be brought into great activity at the May full moon if due effort is made. The Spirit of Peace which is invoked is an inter-planetary Agent of great power Whose cooperation has been promised if all aspirants and disciples can cooperate to break through the shell of separation and hatred which holds our planet in thrall.
Những lời này nghe có vẻ đơn giản, nhưng “Các Mãnh Lực của Ánh Sáng” là danh xưng của một số Quyền Năng mới đang được Thánh đoàn khẩn cầu vào lúc này, mà các tiềm lực của Các Ngài có thể được đưa vào hoạt động lớn lao vào kỳ trăng tròn tháng Năm nếu có nỗ lực thích đáng. Đấng Tinh thần Hòa Bình được khẩn cầu là một Tác Nhân liên-hành-tinh có quyền năng lớn, Đấng đã hứa hợp tác nếu tất cả những người chí nguyện và đệ tử có thể hợp tác để xuyên thủng lớp vỏ chia rẽ và hận thù đang giam giữ hành tinh chúng ta trong vòng nô lệ.
May I therefore close with these simple words: Please give us your aid, my brothers.
Vì vậy, xin cho phép tôi kết thúc bằng những lời đơn giản này: Xin hãy cho chúng tôi sự trợ giúp của các bạn, các huynh đệ của tôi.
~
~
SEED GROUPS IN THE NEW AGE—CÁC NHÓM HẠT GIỐNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
July 1937
Tháng 7 năm 1937
Earlier I gave you some thoughts anent the new groups which come into functioning activity under The Law of Group Progress. This law has a peculiarly close relation to the new Aquarian Age. (“A Treatise on the Seven Rays”, Vol. II, (“Esoteric Psychology”), pp. 174-194)
Trước đây tôi đã trao cho các bạn một số tư tưởng liên quan đến các nhóm mới đi vào hoạt động chức năng dưới Định luật Tiến Bộ Nhóm. Định luật này có một mối liên hệ đặc biệt gần gũi với Kỷ nguyên Bảo Bình mới. (“Luận về Bảy Cung”, Tập II, (“Tâm Lý Học Nội Môn”), tr. 174-194)
Groups have always existed in the world, as for instance the family group unit, but they have been predominantly third ray groups with, therefore, a dominant outer expression and control, and originating as the result of desire. [27] Their focus has been outstandingly material, and that has been part of the intended plan. Right objectivity and expression has been the goal, and still is, of the evolutionary process. But the groups now forming are a second ray activity and are building groups—building the forms of expression in the new age. They are not the result of desire, as the term is usually understood, for they are founded basically on a mental impulse. They are subjective in fact and not objective in nature. They are distinguished by quality more than by form. That they may eventually produce potent objective effects is to be desired and such is their intent in our minds, but—at the present stage which is that of germination—they are subjective and (occultly speaking) they are “working in the dark.” At some distant date, groups will emerge which will be first ray groups, animated by the will aspect and consequently still more subjective in nature and more esoteric in origin, but with these we need not concern ourselves.
Các nhóm luôn luôn tồn tại trên thế giới, chẳng hạn như đơn vị nhóm gia đình, nhưng chúng chủ yếu là các nhóm cung ba với, do đó, một biểu hiện và sự kiểm soát bên ngoài chi phối, và phát sinh như kết quả của dục vọng. [27] Trọng tâm của chúng nổi bật là vật chất, và đó là một phần của kế hoạch đã được dự định. Tính khách quan và biểu hiện đúng đắn đã là mục tiêu, và vẫn là mục tiêu, của tiến trình tiến hoá. Nhưng các nhóm hiện đang hình thành là một hoạt động cung hai và là các nhóm kiến tạo—kiến tạo các hình thức biểu hiện trong kỷ nguyên mới. Chúng không phải là kết quả của dục vọng, theo nghĩa thông thường của từ này, vì về căn bản chúng được đặt nền trên một xung lực trí tuệ. Chúng thực sự là chủ quan chứ không khách quan về bản chất. Chúng được phân biệt bởi phẩm tính hơn là bởi hình tướng. Việc cuối cùng chúng có thể tạo ra những hiệu quả khách quan mạnh mẽ là điều đáng mong muốn, và đó là ý định của chúng trong trí tuệ chúng tôi, nhưng—ở giai đoạn hiện nay là giai đoạn nảy mầm—chúng là chủ quan và (nói theo huyền bí học) chúng đang “làm việc trong bóng tối.” Vào một ngày xa xôi nào đó, sẽ xuất hiện những nhóm là các nhóm cung một, được sinh động bởi phương diện ý chí và do đó còn chủ quan hơn về bản chất và bí truyền hơn về nguồn gốc, nhưng chúng ta không cần bận tâm đến chúng.
These seed groups are embryonic and therefore, like germinating seeds, their activity is at present dual. Every seed demonstrates its life by putting out two outward evidences of its internal life and activity, and these seed groups are no exception to this universal law. Their activity is evidenced in a relation to the Hierarchy and their relation to each other. Not yet have they succeeded in emerging into outer plane activity. Their inner life is not adequately strong, but they are, as says the scripture, “taking root downwards” in order to “bear fruit upwards.”
Các nhóm hạt giống này còn ở giai đoạn phôi thai và vì vậy, giống như những hạt giống đang nảy mầm, hoạt động của chúng hiện nay là nhị phân. Mọi hạt giống đều biểu lộ sự sống của nó bằng cách đưa ra hai bằng chứng bên ngoài của sự sống và hoạt động bên trong của nó, và các nhóm hạt giống này cũng không là ngoại lệ đối với định luật phổ quát này. Hoạt động của chúng được biểu lộ trong mối liên hệ với Thánh đoàn và trong mối liên hệ của chúng với nhau. Chúng vẫn chưa thành công trong việc xuất hiện vào hoạt động trên bình diện bên ngoài. Sự sống bên trong của chúng chưa đủ mạnh, nhưng chúng, như kinh thư nói, đang “đâm rễ xuống dưới” để “mang quả lên trên.”
Should these groups develop as intended, should the corporate life of the members persist in right integral relation and should continuance be their keynote, then these seed groups, tiny as they may be, will come to flower, and—through an eventual “scattering of the seed,” succeed finally in “covering the earth with verdure.” I am speaking here in the language of symbolism which is, as you well know, the language of truth. One small plant which, in its turn, succeeds in producing a seed, through rightful fruition can thus reproduce itself in multiple order. Be not therefore [28] unduly impressed by the smallness of the effort. A tiny seed is a potent force—if duly tended, rightly nurtured and ripened by sun and water within the soil—its potencies are unpredictable.
Nếu các nhóm này phát triển như đã được dự định, nếu sự sống tập thể của các thành viên vẫn duy trì trong mối liên hệ toàn vẹn đúng đắn và nếu sự tiếp tục là chủ âm của chúng, thì các nhóm hạt giống này, nhỏ bé đến đâu đi nữa, sẽ nở hoa, và—qua một “sự gieo rắc hạt giống” cuối cùng—rốt cuộc sẽ thành công trong việc “phủ xanh mặt đất.” Ở đây tôi đang nói bằng ngôn ngữ biểu tượng, vốn như các bạn biết rõ, là ngôn ngữ của chân lý. Một cây nhỏ, đến lượt nó, thành công trong việc tạo ra một hạt giống, nhờ sự kết trái đúng đắn có thể như vậy tự tái tạo mình theo trật tự đa bội. Vì vậy, đừng [28] quá ấn tượng bởi sự nhỏ bé của nỗ lực. Một hạt giống bé nhỏ là một mãnh lực mạnh mẽ—nếu được chăm sóc đúng cách, được nuôi dưỡng đúng đắn và được mặt trời cùng nước trong lòng đất làm cho chín muồi—thì các tiềm lực của nó là không thể dự đoán.
Certain germ ideas are emerging into the human consciousness. These differ peculiarly from those of the past, and it is these widely different ideas which are the distinctive characteristics of the new age, the Aquarian Age. Hitherto the great ideas which succeeded finally in controlling a race in any age have been the gift of the intuitive sons of men to their generation. Advanced human beings have then seized upon the intuited idea, subordinated it to the process of mentation, made it desirable, and then have seen it come into being through the “agency of recognition,” as it is occultly called. One illumined mind would sense the divine idea, needed for the growth of the racial consciousness, and then would give it form; the few would recognise it and thus foster its growth; the many would eventually desire it and it then could manifest experimentally and sporadically all over the civilised world of any age, wherever culture of any kind made itself felt. Thus the idea was manifested.
Một số ý tưởng mầm đang xuất hiện vào tâm thức con người. Chúng khác biệt một cách đặc biệt với những ý tưởng của quá khứ, và chính những ý tưởng rất khác biệt này là các đặc trưng nổi bật của kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên Bảo Bình. Cho đến nay, những ý tưởng lớn cuối cùng thành công trong việc kiểm soát một nhân loại trong bất kỳ thời đại nào đều là món quà của những người con trực giác của nhân loại dành cho thế hệ của họ. Khi đó, những con người tiến bộ nắm lấy ý tưởng được trực giác nhận ra, đặt nó dưới tiến trình tư duy, làm cho nó trở nên đáng mong muốn, rồi sau đó thấy nó đi vào hiện hữu qua “tác nhân của sự công nhận”, như nó được gọi trong huyền bí học. Một trí tuệ được soi sáng sẽ cảm nhận ý tưởng thiêng liêng cần thiết cho sự tăng trưởng của tâm thức chủng tộc, rồi sau đó sẽ trao cho nó hình tướng; số ít sẽ công nhận nó và như thế nuôi dưỡng sự tăng trưởng của nó; số đông cuối cùng sẽ ham muốn nó và khi đó nó có thể biểu hiện một cách thử nghiệm và rải rác khắp thế giới văn minh của bất kỳ thời đại nào, ở bất cứ nơi nào văn hóa dưới bất kỳ hình thức nào tạo được ảnh hưởng. Như vậy ý tưởng đã được biểu hiện.
Two ways in which these determining ideas in the past came into being and played their part in leading the race onward might be mentioned. One was through the teaching of some teacher who founded a school of thought, thus working through the minds of a chosen few, and through them eventually coloured the thoughts of the men of his time. Of such a teacher, Plato, Aristotle, Socrates and many others are outstanding examples. Another method was the evocation of the desire of the masses for that which is deemed desirable and their mass reorientation towards a fuller life expression. This life expression, founded on some voiced idea, was embodied in an ideal life. Thus the work of the Saviours of the world came into expression, and this brought about the emergence of a world religion.
Có thể nêu ra hai cách mà các ý tưởng quyết định này trong quá khứ đã đi vào hiện hữu và đóng vai trò của chúng trong việc dẫn dắt nhân loại tiến lên. Một cách là qua giáo huấn của một huấn sư nào đó đã sáng lập một trường phái tư tưởng, như thế làm việc qua trí tuệ của một số ít được chọn, và qua họ cuối cùng nhuộm màu tư tưởng của những người cùng thời với ông. Trong số những huấn sư như vậy, Plato, Aristotle, Socrates và nhiều người khác là những ví dụ nổi bật. Một phương pháp khác là gợi lên dục vọng của quần chúng đối với điều được xem là đáng mong muốn và sự tái định hướng tập thể của họ hướng tới một biểu hiện sự sống đầy đủ hơn. Biểu hiện sự sống này, được đặt nền trên một ý tưởng được phát biểu, đã được thể hiện trong một đời sống lý tưởng. Như vậy công việc của các Đấng Cứu Thế của thế giới đã đi vào biểu hiện, và điều này đã đem lại sự xuất hiện của một tôn giáo thế giới.
The first method was strictly mental, and even today remains so; the masses, for instance, know little of Plato and his theories in spite of the fact that he has moulded human [29] minds—either through acquiescence in his theories or through refutation of them—down the ages. The other method is strictly emotional and so more easily colours the mass consciousness. An instance of this was the message of the love of God which Christ enunciated and the emotional reaction of the masses to His life, His message, and His sacrifice. Thus the need of the mental few and the emotional many has been met down the ages. In every case, the origin of the work effected and the medium whereby the race has been guided has been a human-divine consciousness; the medium has been a Personality Who knew and felt and was at-one with the world of ideas, with the inner world order, and with God’s plan. The result of these two techniques of activity has been the emanation of a stream of force, coming from some layer or level of the world consciousness—the mental or the emotional planes—which are aspects of the consciousness of the manifesting deity. This impact of force has evoked a response from those who function upon one or other of these levels of awareness. Today, as the integration of the human family proceeds and as the mental level of contact becomes more potent, there is to be found a powerful human reaction to schools of thought and a lessened reaction to the methods of orthodox religion. This is due to the fact that the trend of the human consciousness is (if I might so express it) away from the emotional to the mental levels of consciousness, and this, as far as the masses are concerned, will go on increasing.
Phương pháp thứ nhất hoàn toàn là trí tuệ, và ngay cả ngày nay vẫn như vậy; chẳng hạn quần chúng biết rất ít về Plato và các lý thuyết của ông mặc dù ông đã nhào nặn các trí tuệ con người—hoặc qua sự chấp nhận các lý thuyết của ông hoặc qua sự bác bỏ chúng—suốt các thời đại. Phương pháp kia hoàn toàn là cảm xúc và vì vậy dễ nhuộm màu tâm thức quần chúng hơn. Một ví dụ về điều này là thông điệp về tình thương của Thượng đế mà Đức Christ đã công bố và phản ứng cảm xúc của quần chúng đối với đời sống, thông điệp và sự hy sinh của Ngài. Như vậy nhu cầu của số ít trí tuệ và số đông cảm xúc đã được đáp ứng qua các thời đại. Trong mọi trường hợp, nguồn gốc của công việc được thực hiện và phương tiện nhờ đó nhân loại được dẫn dắt đều là một tâm thức nhân-thần; phương tiện ấy là một Phàm ngã biết, cảm nhận và hợp nhất với thế giới các ý tưởng, với trật tự nội tại của thế giới, và với Thiên Cơ của Thượng đế. Kết quả của hai kỹ thuật hoạt động này là sự phát xạ của một dòng mãnh lực, đến từ một lớp hay cấp độ nào đó của tâm thức thế giới—các cõi trí hay cảm xúc—vốn là những phương diện của tâm thức của Thượng đế biểu hiện. Tác động của mãnh lực này đã gợi lên một sự đáp ứng từ những ai hoạt động trên một hay cấp độ kia của nhận biết ấy. Ngày nay, khi sự tích hợp của gia đình nhân loại đang tiến triển và khi cấp độ tiếp xúc trí tuệ trở nên mạnh mẽ hơn, người ta thấy có một phản ứng mạnh mẽ của con người đối với các trường phái tư tưởng và một phản ứng giảm bớt đối với các phương pháp của tôn giáo chính thống. Điều này là do xu hướng của tâm thức con người đang (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) rời khỏi các cấp độ cảm xúc để hướng tới các cấp độ trí tuệ của tâm thức, và điều này, xét về phía quần chúng, sẽ còn tiếp tục gia tăng.
The time has now come when there are enough people to be found who—having themselves made the religious and the mental approaches to truth definite factors in their consciousness in some small measure, and having established enough soul contact so that they can begin to touch the world of ideas (upon the intuitional levels of consciousness)—can employ a new technique. Together and as a group they can become sensitive to the incoming new ideas which it is intended should condition the new age that is upon us; together and as a group they can establish the ideals and develop the techniques and methods of the new schools of [30] thought which will determine the new culture; together and as a group they can bring these ideas and ideals into the consciousness of the masses, so that schools of thought and world religions can be blended into one, and the new civilisation can emerge. It will be the product of the mental and emotional fusion of the techniques of the Piscean Age, and it will thus produce an eventual manifestation upon the physical plane of the plan of God for the immediate future. This is the vision which lies behind the experiment being carried on in the new seed groups.
Hiện nay đã đến lúc có thể tìm thấy đủ số người—những người tự mình đã biến các tiếp cận tôn giáo và trí tuệ đối với chân lý thành những yếu tố xác định trong tâm thức của họ ở một mức độ nào đó, và đã thiết lập được đủ sự tiếp xúc với linh hồn để họ có thể bắt đầu chạm đến thế giới của các ý tưởng (trên các cấp độ trực giác của tâm thức)—có thể sử dụng một kỹ thuật mới. Cùng nhau và như một nhóm, họ có thể trở nên nhạy cảm với những ý tưởng mới đang đi vào mà dự định sẽ tác động lên kỷ nguyên mới đang đến với chúng ta; cùng nhau và như một nhóm, họ có thể thiết lập các lý tưởng và phát triển các kỹ thuật cùng phương pháp của những trường phái tư tưởng [30] mới sẽ quyết định nền văn hóa mới; cùng nhau và như một nhóm, họ có thể đưa những ý tưởng và lý tưởng này vào tâm thức của quần chúng, để các trường phái tư tưởng và các tôn giáo thế giới có thể được dung hợp thành một, và nền văn minh mới có thể xuất hiện. Nó sẽ là sản phẩm của sự dung hợp trí tuệ và cảm xúc của các kỹ thuật của Kỷ Nguyên Song Ngư, và như thế cuối cùng sẽ tạo ra một biểu hiện trên cõi hồng trần của kế hoạch của Thượng đế cho tương lai gần. Đây là linh ảnh nằm phía sau cuộc thử nghiệm đang được tiến hành trong các Nhóm hạt giống mới.
Looking at the whole problem from another angle, it might be stated that the effort of the past has been to raise the consciousness of humanity through the pioneering efforts of its foremost sons. The effort of the future will be to bring down into manifestation the consciousness of the soul through the pioneering efforts of certain groups. It has therefore, as you will readily understand, to be a group effort because the soul is group conscious and not individually conscious; the newer truths of the Aquarian Age can only be grasped as a result of group endeavour. This is relatively a new thing. In the past, a man had a vision and sought to materialise it with the aid of those whom he could impress and influence to think as he did; a man sensed an idea or intuited an idea and then tried to give it form, later calling in the help of those who saw his idea as an ideal; a man had a great ambition which was, in reality, a dim grasping of a part of God’s general plan, and he then became a group leader or a ruler, with the assistance of those who succumbed to his power or to his right to guide, lead and dominate them. And so, progressively, the race has been led from point to point and from stage to stage of unfoldment until today many are seeing the vision, sensing the plan, and dreaming dreams which they can work out together. This they can do because they recognise each other, because they are beginning to know themselves and each other as souls, because their understanding is united and because (and this is of prime importance) the light of the intellect, the light of knowledge, the light of the intuition and the light of understanding is [31] evoked within them; it enters not from without; and in that light, together, they see Light. It is a group activity, a group recognition, and the result of group at-one-ment.
Xem xét toàn bộ vấn đề từ một góc độ khác, có thể nói rằng nỗ lực của quá khứ là nâng cao tâm thức của nhân loại qua những nỗ lực tiên phong của các con ưu tú nhất của mình. Nỗ lực của tương lai sẽ là đưa tâm thức của linh hồn xuống biểu hiện qua những nỗ lực tiên phong của một số nhóm nhất định. Vì vậy, như bạn sẽ dễ dàng hiểu, điều đó phải là một nỗ lực nhóm bởi vì linh hồn có tâm thức nhóm chứ không có tâm thức cá nhân; những chân lý mới hơn của Kỷ Nguyên Bảo Bình chỉ có thể được nắm bắt như là kết quả của nỗ lực nhóm. Đây tương đối là một điều mới. Trong quá khứ, một người có một linh ảnh và tìm cách hiện hình nó với sự trợ giúp của những người mà ông có thể gây ấn tượng và ảnh hưởng để suy nghĩ như ông; một người cảm nhận một ý tưởng hoặc trực giác được một ý tưởng rồi cố gắng ban cho nó hình tướng, sau đó kêu gọi sự trợ giúp của những người thấy ý tưởng của ông như một lý tưởng; một người có một tham vọng lớn mà thực ra là một sự nắm bắt mơ hồ một phần của kế hoạch tổng quát của Thượng đế, và rồi ông trở thành một lãnh tụ nhóm hay một người cai quản, với sự trợ giúp của những người khuất phục trước quyền lực của ông hoặc trước quyền được hướng dẫn, lãnh đạo và chi phối họ của ông. Và cứ thế, dần dần, nhân loại đã được dẫn dắt từ điểm này sang điểm khác và từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của sự khai mở cho đến ngày nay khi nhiều người đang thấy linh ảnh, cảm nhận kế hoạch, và mơ những giấc mơ mà họ có thể cùng nhau thực hiện. Họ có thể làm được điều này vì họ nhận ra nhau, vì họ đang bắt đầu biết chính mình và biết nhau như những linh hồn, vì sự thấu hiểu của họ được hợp nhất và vì (và điều này cực kỳ quan trọng) ánh sáng của trí năng, ánh sáng của tri thức, ánh sáng của trực giác và ánh sáng của sự thấu hiểu được [31] gợi lên bên trong họ; nó không đi vào từ bên ngoài; và trong ánh sáng đó, cùng nhau, họ thấy Ánh sáng. Đó là một hoạt động nhóm, một sự nhận biết nhóm, và là kết quả của sự hợp nhất nhóm.
All this is, however, so new and relatively so rare that these groups remain as yet in an embryonic stage. We call them the seed groups of the new age. There are many such, as I told you before, but all as yet so small and so undeveloped that the success of their effort remains for the future to decide. This applies also to the groups which I began to build in 1931 (Discipleship in the New Age, Vols. I and II).
Tuy nhiên, tất cả điều này quá mới mẻ và tương đối quá hiếm đến nỗi các nhóm này hiện vẫn còn ở giai đoạn phôi thai. Chúng tôi gọi họ là các nhóm hạt giống của kỷ nguyên mới. Có nhiều nhóm như thế, như tôi đã nói với các bạn trước đây, nhưng tất cả hiện vẫn còn quá nhỏ và quá chưa phát triển đến nỗi sự thành công của nỗ lực của họ vẫn còn để tương lai quyết định. Điều này cũng áp dụng cho các nhóm mà tôi đã bắt đầu xây dựng vào năm 1931 (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I và II).
It will be apparent to you therefore why it was necessary for the initial or first group to lay the emphasis upon telepathic rapport, because upon that rapport, understandingly cultivated and developed, the success of these seed groups must depend. It does not mean that their success depends upon the established success of the first group, but upon the comprehension by all the groups of the meaning and purpose and techniques of telepathy. (See Telepathy and the Etheric Vehicle)
Do đó, bạn sẽ thấy rõ vì sao điều cần thiết là nhóm khởi đầu hay nhóm thứ nhất phải đặt trọng tâm vào sự liên kết viễn cảm, bởi vì sự thành công của các nhóm hạt giống này phải tùy thuộc vào sự liên kết ấy, được vun bồi và phát triển một cách thấu hiểu. Điều đó không có nghĩa là sự thành công của họ tùy thuộc vào sự thành công đã được xác lập của nhóm thứ nhất, mà tùy thuộc vào sự lĩnh hội của tất cả các nhóm về ý nghĩa, mục đích và các kỹ thuật của viễn cảm. (Xem Telepathy and the Etheric Vehicle)
The founding upon the inner planes of a school of telepathy to which humanity can become sensitive, even if unconsciously so, is part of the task which the first group, the Telepathic Communicators, has undertaken. They are the custodians of the group purpose, and work on mental levels. The second group, the Trained Observers, has the objective to see clearly through the use of the intuition; they serve on astral levels. The third group, the Magnetic Healers, has the objective of working with forces on the physical plane. The other six groups will be mentioned later.
Việc thiết lập trên các cõi nội tại một trường học viễn cảm mà nhân loại có thể trở nên nhạy cảm với nó, dù là một cách vô thức, là một phần của nhiệm vụ mà nhóm thứ nhất, Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm, đã đảm nhận. Họ là những người gìn giữ mục đích nhóm, và hoạt động trên các cấp độ trí tuệ. Nhóm thứ hai, Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, có mục tiêu là thấy rõ qua việc sử dụng trực giác; họ phụng sự trên các cấp độ cảm dục. Nhóm thứ ba, các Nhà Chữa Lành Từ Tính, có mục tiêu là làm việc với các mãnh lực trên cõi hồng trần. Sáu nhóm còn lại sẽ được đề cập sau.
You have become somewhat accustomed to the concept of these groups. The novelty is dying out and you are apt to ask yourselves whether there is, in the last analysis, anything really new in them. I will give you further on three reasons for the fact of their being a step in advance of anything hitherto possible on the physical plane. This may re-establish their importance in your minds and enable you to carry forward your work with fresh ardour. I have stated [32] that these groups constitute an experiment and that they are connected paramountly with the work of the new age as it will express itself through the coming civilisation and the future culture. It might be of value here if I pointed out the distinction which exists between a civilisation and a culture.
Các bạn đã phần nào quen với khái niệm về các nhóm này. Tính mới lạ đang phai dần và các bạn dễ tự hỏi liệu rốt cuộc có điều gì thật sự mới trong đó hay không. Sau đây tôi sẽ đưa ra cho các bạn ba lý do cho sự kiện rằng họ là một bước tiến vượt lên trên bất cứ điều gì từ trước đến nay có thể có trên cõi hồng trần. Điều này có thể tái lập tầm quan trọng của họ trong tâm trí các bạn và giúp các bạn tiếp tục công việc với nhiệt tâm mới. Tôi đã nói [32] rằng các nhóm này cấu thành một cuộc thử nghiệm và rằng họ được nối kết chủ yếu với công việc của kỷ nguyên mới như nó sẽ biểu lộ qua nền văn minh sắp đến và nền văn hóa tương lai. Ở đây sẽ có ích nếu tôi chỉ ra sự phân biệt hiện hữu giữa một nền văn minh và một nền văn hóa.
A civilisation is an expression of a mass level of consciousness as that consciousness works out in physical plane awareness, physical plane adjustments, relationships and methods of living. A culture is essentially an expression of the intellectually and vitally mental significances and the state of consciousness of the mentally polarised people of the race, of the intelligentsia or of those who constitute the link between the inner world of soul life and the outer world of tangible phenomena. In those words the raison d’être of the mental plane is concisely stated. Its function in this connection will be increasingly understood during the next few decades.
Một nền văn minh là một biểu hiện của một cấp độ tâm thức quần chúng khi tâm thức ấy tự triển khai trong nhận biết cõi hồng trần, trong các sự thích nghi, các mối liên hệ và các phương pháp sống trên cõi hồng trần. Một nền văn hóa về bản chất là một biểu hiện của những thâm nghĩa trí tuệ và sinh động của trí tuệ cùng trạng thái tâm thức của những người phân cực trí tuệ trong nhân loại, của giới trí thức hoặc của những người tạo thành chiếc cầu nối giữa thế giới nội tại của đời sống linh hồn và thế giới bên ngoài của các hiện tượng hữu hình. Trong những lời ấy, raison d’être của cõi trí được phát biểu một cách súc tích. Chức năng của nó trong mối liên hệ này sẽ ngày càng được thấu hiểu trong vài thập niên tới.
The masses are negative to the plane of desire and of feeling, and the civilisation of any age is largely the exteriorisation of that particular level of consciousness. The intelligentsia are positive and their positive mental orientation produces the culture of their time, or their race or their community. We have therefore in the human family:
Quần chúng thì thụ động đối với cõi dục vọng và cảm xúc, và nền văn minh của bất kỳ thời đại nào phần lớn là sự ngoại hiện của cấp độ tâm thức đặc thù ấy. Giới trí thức thì tích cực và định hướng trí tuệ tích cực của họ tạo ra nền văn hóa của thời đại họ, hay của nhân loại họ hoặc cộng đồng họ. Vì vậy, trong gia đình nhân loại chúng ta có:
Masses... Negative... responsive to desire... Civilisation
Quần chúng... Thụ động... đáp ứng với dục vọng... Nền văn minh
Intellectuals... Positive... responsive to mind... Culture
Giới trí thức... Tích cực... đáp ứng với trí tuệ... Nền văn hóa
In these you have the two poles which distinguish the race, and it is through the interplay between these two that human activity, progress and development is generated and carried forward.
Trong đó các bạn có hai cực phân biệt nhân loại, và chính qua sự tương tác giữa hai cực này mà hoạt động, tiến bộ và phát triển của con người được phát sinh và tiếp tục.
There is another grouping which should not be overlooked. The spiritually minded people of the world are negative to the higher spiritual world as it expresses itself through or calls forth the higher type of desire which we call aspiration. This produces those exponents of the spiritual nature who constitute—in the aggregate—the Church of Christ or the world religions in the exoteric sense and in any [33] race or time. Positive to this group and giving them the keynote of the culture of their particular age on this higher turn of the spiral are the esotericists and aspirants throughout the world. These are responsive to the mind aspect. In this way the spiritual culture and the resultant civilisation comes into being and to it the lower becomes responsive. You have, therefore, the masses and the intellectuals together negative in their turn to the positive impression of the deeper civilisation and culture as it is expressed through the religions of the world and the groups of idealistic esoteric seekers after reality. These latter are the glory of every age and the positive germ of the subjective unfolding impulse which is basically the source of all current phenomenal appearance.
Có một sự phân nhóm khác không nên bị bỏ qua. Những người có tâm trí tinh thần trên thế giới thì thụ động đối với thế giới tinh thần cao hơn khi nó biểu lộ qua hoặc gợi lên loại dục vọng cao hơn mà chúng ta gọi là khát vọng. Điều này tạo ra những người biểu hiện bản chất tinh thần, những người hợp lại thành—xét trên tổng thể—Giáo hội của Đức Christ hoặc các tôn giáo thế giới theo nghĩa ngoại môn và trong bất kỳ [33] nhân loại hay thời đại nào. Tích cực đối với nhóm này và ban cho họ chủ âm của nền văn hóa của thời đại đặc thù của họ trên vòng xoắn cao hơn này là các nhà bí truyền học và những người chí nguyện trên khắp thế giới. Những người này đáp ứng với phương diện trí tuệ. Theo cách đó, nền văn hóa tinh thần và nền văn minh phát sinh từ đó đi vào hiện hữu và cái thấp hơn trở nên đáp ứng với nó. Vì vậy, các bạn có quần chúng và giới trí thức cùng nhau, đến lượt mình, thụ động trước ấn tượng tích cực của nền văn minh và văn hóa sâu xa hơn như nó được biểu lộ qua các tôn giáo thế giới và các nhóm những người tìm kiếm thực tại theo lý tưởng và huyền bí học. Những người sau này là vinh quang của mọi thời đại và là mầm tích cực của xung lực khai mở chủ quan vốn về căn bản là nguồn gốc của mọi sắc tướng hiện tượng hiện hành.
This group of religionists and esoteric aspirants in their turn constitute the negative pole to the positive impression and energy of the planetary or occult Hierarchy. Consequently, we have:
Đến lượt mình, nhóm những người theo tôn giáo và những người chí nguyện huyền bí này cấu thành cực âm đối với ấn tượng và năng lượng tích cực của Thánh đoàn hành tinh hay huyền bí. Do đó, chúng ta có:
Negative Groups Positive Groups
Các Nhóm Thụ động Các Nhóm Tích cực
The Masses The Intelligentsia
Quần chúng Giới trí thức
The Churches and religions The Esotericists, aspirants and occultists
Các giáo hội và tôn giáo Các nhà bí truyền học, người chí nguyện và nhà huyền bí học
The Esotericists, in their turn The Planetary Hierarchy
Đến lượt mình, các nhà bí truyền học Thánh đoàn Hành tinh
Broadly speaking, these groups divide themselves into the extroverted groups and the introverted groups, into the objective and the subjective levels of consciousness, and into the major divisions of the phenomenal world and the world of spiritual realities.
Nói một cách khái quát, các nhóm này tự phân chia thành các nhóm hướng ngoại và các nhóm hướng nội, thành các cấp độ tâm thức khách quan và chủ quan, và thành các phân bộ lớn của thế giới hiện tượng và thế giới của các thực tại tinh thần.
The problem before the Hierarchy at the beginning of the new or Aquarian Age was how to fuse and blend these two distinct groups, attitudes or states of consciousness so that from their fusion a third group could emerge which would be exterior in its activity and yet consciously alive to the interior values; they should be able to function upon the outer plane of appearances and, at the same time, be equally awake and active upon the inner plane of reality and of spiritual living.
Vấn đề đặt ra trước Thánh đoàn vào lúc bắt đầu kỷ nguyên mới hay Kỷ Nguyên Bảo Bình là làm thế nào để dung hợp và hòa trộn hai nhóm, hai thái độ hay hai trạng thái tâm thức riêng biệt này để từ sự dung hợp của chúng có thể xuất hiện một nhóm thứ ba, nhóm này sẽ hướng ngoại trong hoạt động của mình nhưng vẫn hữu thức sống động đối với các giá trị nội tại; họ phải có khả năng hoạt động trên cõi bên ngoài của các sắc tướng và đồng thời cũng tỉnh thức và hoạt động ngang nhau trên cõi nội tại của thực tại và của đời sống tinh thần.
This type of dual functioning is the easiest activity for [34] the Members of the Hierarchy and constitutes the sine qua non prior to association with that Hierarchy. It was realised that many people could be trained in the appreciation of this possibility and slowly developed to the point where theory could pass into practice. Yet these people would not be equipped throughout their natures in such a way that they were ready to become part of the occult Hierarchy, even in the stage of accepted disciples.
Loại hoạt động kép này là hoạt động dễ dàng nhất đối với [34] các Thành viên của Thánh đoàn và cấu thành sine qua non trước khi liên kết với Thánh đoàn đó. Người ta nhận ra rằng nhiều người có thể được huấn luyện để đánh giá khả năng này và dần dần được phát triển đến mức lý thuyết có thể chuyển thành thực hành. Tuy nhiên, những người này sẽ không được trang bị trong toàn bộ bản chất của họ theo cách khiến họ sẵn sàng trở thành một phần của Thánh đoàn huyền bí, ngay cả ở giai đoạn đệ tử được chấp nhận.
It was the realisation of the need for a bridging group which would be neither entirely negative nor entirely positive which prompted some of the Masters (Who are connected with the Hierarchy) to form the New Group of World Servers. These people belong to neither group and yet they can function more or less in relation to both. This, as you well know, has been done with quite a measure of success and this large group now exists and is magnetic enough to draw forth response from the mass of world aspirants and servers (who represent the current civilisation and current culture) and at the same time to absorb and thus transmit knowledge, wisdom, force and light from the Planetary Hierarchy.
Chính sự nhận ra nhu cầu về một nhóm bắt cầu, nhóm sẽ không hoàn toàn thụ động cũng không hoàn toàn tích cực, đã thúc đẩy một số Chân sư (Những Đấng có liên hệ với Thánh đoàn) thành lập Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Những người này không thuộc về nhóm nào cả, nhưng họ có thể hoạt động ít nhiều trong mối liên hệ với cả hai. Điều này, như các bạn biết rõ, đã được thực hiện với một mức độ thành công đáng kể và nhóm lớn này hiện đang tồn tại và đủ từ tính để khơi dậy đáp ứng từ khối đông những người chí nguyện và người phụng sự thế giới (những người đại diện cho nền văn minh hiện tại và nền văn hóa hiện tại) đồng thời hấp thu và như thế truyền đạt tri thức, minh triết, mãnh lực và ánh sáng từ Thánh đoàn Hành tinh.
It has now been deemed possible to form groups within the New Group of World Servers whose members can begin to prepare themselves to express both the phenomenal and the impulsive, the negative and the positive, the material and the spiritual with such a measure of success that, in due time, there can exist on earth a replica of the Hierarchy, its methods and techniques of work. Such is the purpose of the groups which I have formed, and of other groups throughout the world who—in a different way and form, and employing perchance a different phraseology—yet are motivated and actuated as are the seed groups for which I have made myself responsible.
Hiện nay người ta đã thấy có thể thành lập các nhóm bên trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà các thành viên của chúng có thể bắt đầu chuẩn bị để biểu lộ cả hiện tượng lẫn xung lực, cái âm lẫn cái dương, cái vật chất lẫn cái tinh thần với một mức độ thành công đến nỗi, đúng thời điểm, trên trái đất có thể tồn tại một bản sao của Thánh đoàn, các phương pháp và kỹ thuật làm việc của Thánh đoàn. Đó là mục đích của các nhóm mà tôi đã thành lập, và của các nhóm khác trên khắp thế giới, những nhóm—dưới một cách thức và hình thức khác, và có lẽ dùng một thuật ngữ khác—nhưng vẫn được thúc đẩy và vận hành như các nhóm hạt giống mà tôi đã tự nhận trách nhiệm.
The three reasons for their importance might therefore be stated as follows:
Ba lý do cho tầm quan trọng của họ vì thế có thể được nêu như sau:
1. They constitute the germ of life which will result in the emergence of the Hierarchy at a later date [35] upon earth, coming forth from the seclusion of the ages to function again in the light of physical day.
1. Họ cấu thành mầm sống sẽ dẫn đến sự xuất hiện của Thánh đoàn vào một ngày sau đó [35] trên trái đất, bước ra khỏi sự ẩn cư của các thời đại để lại hoạt động trong ánh sáng ban ngày của cõi hồng trần.
2. They are a bridging group, bridging between the negative mass of mankind and the positive agency of the Hierarchy. That is the reason why, in these groups, emphasis is laid upon service because that embodies response to the mass and its need, and upon soul contact because that embodies response to the world of souls, as typified for us in the occult Hierarchy.
2. Họ là một nhóm bắt cầu, bắt cầu giữa khối đông thụ động của nhân loại và tác nhân tích cực của Thánh đoàn. Đó là lý do vì sao trong các nhóm này, trọng tâm được đặt vào phụng sự bởi vì điều đó bao hàm sự đáp ứng với quần chúng và nhu cầu của họ, và vào tiếp xúc linh hồn bởi vì điều đó bao hàm sự đáp ứng với thế giới các linh hồn, như được tiêu biểu cho chúng ta trong Thánh đoàn huyền bí.
3. They also hold within themselves as a group the seeds of the coming civilisation and the germ of the new culture. The germ of the life of the new age is there, within the husk of the old age and the old forms. Hence the opportunity, the service and the problems of these groups.
3. Họ cũng nắm giữ bên trong chính mình như một nhóm những hạt giống của nền văn minh sắp đến và mầm của nền văn hóa mới. Mầm sống của kỷ nguyên mới ở đó, bên trong lớp vỏ của kỷ nguyên cũ và các hình tướng cũ. Do đó có cơ hội, sự phụng sự và các vấn đề của những nhóm này.
Let me endeavour to indicate to you in what manner these groups can measure up to the threefold demand or opportunity mentioned above.
Hãy để tôi cố gắng chỉ cho các bạn thấy bằng cách nào những nhóm này có thể đáp ứng yêu cầu hay cơ hội tam phân đã được nêu ở trên.
1. They conceal and nurture the germ or seed of the new civilisation of the Aquarian Age.
1. Họ che giấu và nuôi dưỡng mầm hay hạt giống của nền văn minh mới của Kỷ Nguyên Bảo Bình.
2. They bridge between the old groups and the new group, between the mass of men (of whom the foremost find their way into the New Group of World Servers) and the Planetary Hierarchy.
2. Họ bắt cầu giữa các nhóm cũ và nhóm mới, giữa khối đông nhân loại (mà những người ưu tú nhất trong đó tìm được đường vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian) và Thánh đoàn Hành tinh.
3. They will constitute in the future an aspect of the Hierarchy and its work upon the outer physical plane.
3. Trong tương lai họ sẽ cấu thành một phương diện của Thánh đoàn và công việc của Thánh đoàn trên cõi hồng trần bên ngoài.
You will note that the first opportunity concerns the spirit aspect or the vital impulsive life aspect of divinity; that the second concerns the soul aspect or the subjective consciousness aspect of divinity; whilst the third concerns the body aspect or the physical expression, through consciousness, of the divine life. The first three groups which I have formed are intended to be small reflections of these three aspects from the angle of modern need and the meeting of that need.
Các bạn sẽ lưu ý rằng cơ hội thứ nhất liên quan đến phương diện tinh thần hay phương diện sự sống xung lực thiết yếu của thiên tính; cơ hội thứ hai liên quan đến phương diện linh hồn hay phương diện tâm thức chủ quan của thiên tính; còn cơ hội thứ ba liên quan đến phương diện thể hay sự biểu lộ hồng trần, qua tâm thức, của sự sống thiêng liêng. Ba nhóm đầu tiên mà tôi đã thành lập được dự định là những phản ánh nhỏ của ba phương diện này từ góc độ của nhu cầu hiện đại và việc đáp ứng nhu cầu đó.
[36] I have indicated somewhat the intended work of the first group from the angle of telepathic interplay (Telepathy and the Etheric Vehicle). The method of communication between the Members of the Hierarchy has to be externalised, eventually, upon earth and this is one of the tasks of the group. It might be of service to you if I outlined a little more clearly what is the purpose of the new seed groups, in terms of the new age civilisation and culture so that the practical results might be visioned with clarity and some new ideals emerge as to the quality of the coming new world order.
[36] Tôi đã phần nào chỉ ra công việc dự định của nhóm thứ nhất từ góc độ sự tương tác viễn cảm (Telepathy and the Etheric Vehicle). Phương pháp giao tiếp giữa các Thành viên của Thánh đoàn cuối cùng phải được ngoại hiện trên trái đất, và đây là một trong những nhiệm vụ của nhóm. Sẽ có ích cho các bạn nếu tôi phác họa rõ hơn một chút mục đích của các nhóm hạt giống mới, xét theo nền văn minh và văn hóa của kỷ nguyên mới, để các kết quả thực tiễn có thể được hình dung rõ ràng và một số lý tưởng mới có thể xuất hiện liên quan đến phẩm tính của trật tự thế giới mới sắp đến.
The second group, the trained observers, will inaugurate the era of light and of a free control of the astral plane, with its quality of freedom from illusion and glamour. This freedom will be brought about when “right observation” takes the place of the disturbed vision of the present, and glamour will be dissipated through the “right direction” of the light of the soul throughout the plane of illusion. The Aquarian Age will be predominantly the age of synthesis and light.
Nhóm thứ hai, các nhà quan sát lão luyện, sẽ khai mở kỷ nguyên của ánh sáng và của sự kiểm soát tự do đối với cõi cảm dục, với phẩm tính giải thoát khỏi ảo tưởng và ảo cảm. Sự giải thoát này sẽ được mang lại khi “quan sát đúng” thay thế linh ảnh xáo trộn của hiện tại, và ảo cảm sẽ được làm tiêu tan qua “sự định hướng đúng” của ánh sáng linh hồn xuyên khắp cõi ảo tưởng. Kỷ Nguyên Bảo Bình chủ yếu sẽ là kỷ nguyên của tổng hợp và ánh sáng.
The third group carries the initial impulse through “into the light of day” and will bring the physical world into a condition whereby “the healing of the nations through the arising of the sun of righteousness” will become possible, because the laws of healing (which are basic and fundamental) can be applied and worked out in all departments of life upon the outer levels of appearance—for disease is only found in the world of phenomena.
Nhóm thứ ba mang xung lực ban đầu đi xuyên “vào ánh sáng ban ngày” và sẽ đưa thế giới hồng trần vào một tình trạng mà theo đó “sự chữa lành các quốc gia qua sự mọc lên của mặt trời công chính” sẽ trở nên khả hữu, bởi vì các định luật chữa lành (vốn căn bản và nền tảng) có thể được áp dụng và triển khai trong mọi lĩnh vực của đời sống trên các cấp độ bên ngoài của sắc tướng—vì bệnh tật chỉ được tìm thấy trong thế giới hiện tượng.
As regards telepathic communication between the Members of the Hierarchy: Within itself, the Hierarchy functions practically entirely on the plane of mind. This is necessarily essential and for two reasons:
Liên quan đến giao tiếp viễn cảm giữa các Thành viên của Thánh đoàn: Trong chính nội bộ mình, Thánh đoàn hoạt động gần như hoàn toàn trên cõi trí. Điều này tất yếu là thiết yếu, và vì hai lý do:
1. The members of the Hierarchy have freed themselves from the limitations of brain activity and brain consciousness. They can, therefore, in their essential Selves and when they so choose, carry on simultaneously two different lines of activity—both [37] of real import. They can pursue their normal avocations upon the physical plane (if functioning in physical bodies) and when so doing are conditioned in the performance of those activities by the brain limitations of time consciousness and space consciousness. But they can also work upon the mental plane with the chitta or mind stuff, and can do this at the same time as they are conditioned and limited by their physical mechanism. They are then entirely freed from the time consciousness and from any such limitations as space relations within the solar system.
1. Các thành viên của Thánh đoàn đã giải thoát chính mình khỏi những giới hạn của hoạt động não bộ và tâm thức não bộ. Vì vậy, trong Chân ngã cốt yếu của mình và khi Các Ngài chọn như thế, Các Ngài có thể đồng thời tiến hành hai đường hoạt động khác nhau—cả hai [37] đều có tầm quan trọng thực sự. Các Ngài có thể theo đuổi những công việc bình thường của mình trên cõi hồng trần (nếu đang hoạt động trong các thể xác) và khi làm như vậy thì bị điều kiện hóa trong việc thực hiện các hoạt động ấy bởi những giới hạn của não bộ về tâm thức thời gian và tâm thức không gian. Nhưng Các Ngài cũng có thể hoạt động trên cõi trí với chitta hay chất liệu trí, và có thể làm điều này đồng thời với việc bị điều kiện hóa và giới hạn bởi bộ máy hồng trần của mình. Khi đó Các Ngài hoàn toàn được giải thoát khỏi tâm thức thời gian và khỏi bất kỳ giới hạn nào như các quan hệ không gian trong hệ mặt trời.
2. The focus of their polarisation is on the mental plane and they function there as sons of mind or of manas. Their normal mode of intercourse is through the medium of telepathic understanding. This is the normal technique of a divine and free manasaputra.
2. Tiêu điểm phân cực của Các Ngài ở trên cõi trí và Các Ngài hoạt động ở đó như những Con của Trí Tuệ hay của manas. Phương thức giao tiếp bình thường của Các Ngài là qua trung gian của sự thấu hiểu viễn cảm. Đây là kỹ thuật bình thường của một manasaputra thiêng liêng và tự do.
This is all made possible when a human being has polarised himself in the soul consciousness, when the egoic lotus is unfolding and when, therefore, the mental method of working is that of mental relationship or telepathy.
Tất cả điều này trở nên khả hữu khi một con người đã tự phân cực mình trong tâm thức linh hồn, khi Hoa Sen Chân Ngã đang khai mở và khi, do đó, phương pháp làm việc trí tuệ là phương pháp của mối liên hệ trí tuệ hay viễn cảm.
I earlier told you that, as the race achieves increasingly a mental polarisation through the developing attractive power of the mental principle, the use of language for the conveying of thoughts between equals or of communicating with superiors will fall into disuse. It will continue to be used in reaching the masses and those not functioning on the plane of mind. Already voiceless prayer and aspiration and worship are deemed of higher value than the pleadings and proclamations of voiced expression. It is for this stage in the unfoldment of the race for which preparation must be made, and the laws, techniques and processes of telepathic communication must be made plain so that they can be intelligently and theoretically understood. The method of communication between members of the Hierarchy is a tenfold process, and only in the contribution of the ten [38] groups (the nine and the synthesising tenth) will their share in the externalising process, as it is to take place in the world, be completed.
Trước đây tôi đã nói với các bạn rằng, khi nhân loại ngày càng đạt được sự phân cực trí tuệ qua quyền năng hấp dẫn đang phát triển của nguyên khí trí tuệ, việc sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt tư tưởng giữa những người ngang hàng hoặc để giao tiếp với những người bề trên sẽ dần dần không còn được dùng nữa. Nó sẽ tiếp tục được dùng khi tiếp cận quần chúng và những người không hoạt động trên cõi trí. Ngay từ bây giờ, cầu nguyện, khát vọng và thờ phụng không lời đã được xem là có giá trị cao hơn những lời van nài và tuyên bố bằng lời nói. Chính cho giai đoạn này trong sự khai mở của nhân loại mà phải có sự chuẩn bị, và các định luật, kỹ thuật và tiến trình của giao tiếp viễn cảm phải được làm sáng tỏ để chúng có thể được thấu hiểu một cách thông minh và về mặt lý thuyết. Phương pháp giao tiếp giữa các thành viên của Thánh đoàn là một tiến trình thập phân, và chỉ trong sự đóng góp của mười [38] nhóm (chín nhóm và nhóm thứ mười tổng hợp) thì phần việc của họ trong tiến trình ngoại hiện, như nó sẽ diễn ra trong thế giới, mới được hoàn tất.
From certain angles the work of the second group (the Trained Observers) is exceedingly hard, harder perhaps than that of any other group—except that which is engaged in political work. In the latter field the work of the first Ray of Will or Power is beginning to make its presence felt, and hence the great difficulty. The energy which works out in political activity is not yet understood. The work of the Destroyer Aspect has been kept relatively in the background and only during the past half century has it become definitely active. This became possible because the whole world, practically speaking, was involved and only in the region or realm of synthesis can the first Ray function. This is a point to be remembered and one that is little grasped as yet. I wonder if you can appreciate the importance of the two statements anent the first Ray found in this short paragraph? I oft give you so much real information of which you remain oblivious.
Từ một số góc độ, công việc của nhóm thứ hai (Các Nhà Quan Sát Lão Luyện) cực kỳ khó khăn, có lẽ khó hơn công việc của bất kỳ nhóm nào khác—ngoại trừ nhóm đang dấn thân vào công việc chính trị. Trong lĩnh vực sau, công việc của Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng đang bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và do đó có khó khăn lớn. Năng lượng tự triển khai trong hoạt động chính trị vẫn chưa được thấu hiểu. Công việc của Phương diện Hủy Diệt đã được giữ tương đối ở hậu trường và chỉ trong nửa thế kỷ qua nó mới trở nên hoạt động rõ rệt. Điều này trở nên khả hữu vì toàn thế giới, nói một cách thực tế, đã bị cuốn vào và chỉ trong khu vực hay lĩnh vực của tổng hợp thì Cung một mới có thể hoạt động. Đây là một điểm cần được ghi nhớ và là một điểm hiện vẫn còn ít được nắm bắt. Tôi tự hỏi liệu các bạn có thể đánh giá được tầm quan trọng của hai phát biểu liên quan đến Cung một được tìm thấy trong đoạn ngắn này không? Tôi thường ban cho các bạn rất nhiều thông tin thực sự mà các bạn vẫn không nhận ra.
The second group is wrestling with glamour. The processes of light and their relation to group glamour and to individual glamour form a very close connection. Right illumination—which is another name or aspect of right direction—will take the place of glamour, and the objective (personally considered) of this group of disciples is to bring “light into dark places” and illumination into their lives. It is not my intention here to deal with the problem of glamour. With that I have concerned myself in the instructions to this group (Glamour: A World Problem).
Nhóm thứ hai đang vật lộn với ảo cảm. Các tiến trình của ánh sáng và mối liên hệ của chúng với ảo cảm nhóm và với ảo cảm cá nhân tạo thành một liên hệ rất chặt chẽ. Sự soi sáng đúng—vốn là một tên gọi hay phương diện khác của sự định hướng đúng—sẽ thay thế ảo cảm, và mục tiêu (xét về cá nhân) của nhóm đệ tử này là mang “ánh sáng vào những nơi tối tăm” và sự soi sáng vào đời sống của họ. Ở đây tôi không có ý định bàn đến vấn đề ảo cảm. Về điều đó tôi đã đề cập trong các huấn thị dành cho nhóm này (Glamour: A World Problem).
The task of this group of disciples is closely connected with the astral task of the Hierarchy. This is, at this time, the dissipation of the world illusion. That has been its problem since Atlantean times, and the climaxing of its effort is imminent and immediate. It takes the form (for all illusions take to themselves form of some kind or other) of the “pouring in of light,” esoterically understood. This is an illusion and at the same time a great and significant [39] spiritual fact. Hence we have today upon the physical plane the emergence of much light everywhere; we have festivals of illumination, and a consistent endeavour on the part of all spiritual workers to enlighten mankind, and a great deal of talk on the part of educators anent illumination of a mental kind. The keynote of this effort to eliminate world glamour was sounded by Christ when He said (following the example of Hermes, Who initiated the process of enlightenment for our race, the Aryan), “I am the Light of the World.”
Nhiệm vụ của nhóm đệ tử này có liên hệ chặt chẽ với nhiệm vụ cảm dục của Thánh đoàn. Hiện nay, đó là làm tiêu tan ảo tưởng thế giới. Đó đã là vấn đề của Thánh đoàn từ thời Atlantis, và cao điểm của nỗ lực ấy đang cận kề và tức thời. Nó mang hình thức (vì mọi ảo tưởng đều tự khoác lấy cho mình một loại hình tướng nào đó) là “sự tuôn đổ của ánh sáng,” được hiểu theo nghĩa huyền bí. Đây là một ảo tưởng và đồng thời là một sự kiện tinh thần [39] vĩ đại và đầy thâm nghĩa. Vì thế ngày nay trên cõi hồng trần chúng ta có sự xuất hiện của nhiều ánh sáng ở khắp nơi; chúng ta có các lễ hội soi sáng, và một nỗ lực nhất quán từ phía tất cả những người hoạt động tinh thần nhằm soi sáng nhân loại, cùng rất nhiều lời bàn từ phía các nhà giáo dục liên quan đến sự soi sáng thuộc loại trí tuệ. Chủ âm của nỗ lực này nhằm loại bỏ ảo cảm thế giới đã được Đức Christ xướng lên khi Ngài nói (noi theo gương Hermes, Đấng đã khởi xướng tiến trình soi sáng cho nhân loại chúng ta, nhân loại Arya), “Ta là Ánh Sáng của Thế Gian.”
Disciples must learn the significance of illumination, received in meditation, and the necessity to work with light as a group for the dissipation of glamour. Hermes and Christ undertook this work of astral enlightenment and are constantly occupied with this task. Their work in the new age is to be aided by the intensive activity of certain groups of which this second group is one. Later, when the new civilisation is nearing appearance, these groups will all have in them two key persons or points of energy through which the forces of Hermes and the will of Christ will be focussed, and through which They will be enabled to work. When this takes place, the task of dissipating the world glamour will be much more rapid than it is today. In the meantime groups of disciples can “nurture and conceal,” thus protecting from trouble the germ or seed of the new Aquarian culture and civilisation along this particular line of freedom. Again, I repeat, they must do this along with other groups, working along similar lines, either consciously or unconsciously.
Các đệ tử phải học ý nghĩa của sự soi sáng, được tiếp nhận trong tham thiền, và sự cần thiết phải làm việc với ánh sáng như một nhóm để làm tiêu tan ảo cảm. Hermes và Đức Christ đã đảm nhận công việc soi sáng cảm dục này và luôn luôn bận rộn với nhiệm vụ ấy. Công việc của Các Ngài trong kỷ nguyên mới sẽ được hỗ trợ bởi hoạt động mãnh liệt của một số nhóm mà nhóm thứ hai này là một trong số đó. Về sau, khi nền văn minh mới đang tiến gần đến sự xuất hiện, tất cả các nhóm này sẽ có trong mình hai nhân vật chủ chốt hay hai điểm năng lượng qua đó các mãnh lực của Hermes và ý chí của Đức Christ sẽ được hội tụ, và qua đó Các Ngài sẽ có thể hoạt động. Khi điều này xảy ra, nhiệm vụ làm tiêu tan ảo cảm thế giới sẽ nhanh hơn nhiều so với ngày nay. Trong khi đó, các nhóm đệ tử có thể “nuôi dưỡng và che giấu,” nhờ đó bảo vệ khỏi rắc rối mầm hay hạt giống của nền văn hóa và nền văn minh mới của Kỷ Nguyên Bảo Bình dọc theo đường lối tự do đặc thù này. Một lần nữa, tôi nhắc lại, họ phải làm điều này cùng với các nhóm khác, hoạt động theo những đường lối tương tự, hoặc hữu thức hoặc vô thức.
The second task of this group of disciples is to act as a bridge for forces which are seeking etheric expression and which emanate from soul levels, via the mind. I have earlier pointed out in A Treatise on White Magic that the astral plane is itself an illusion. When the first task of the groups working with world glamour is accomplished this will be evident. I can give you as yet no real idea of the underlying meaning, for you are all working in some measure upon the plane of illusion and of glamour, and for you the world [40] illusion exists and the astral plane is for you a fact. But this I can say: for the initiate members of the Great White Lodge the astral plane does not exist. They do not work on that level of consciousness, for the astral plane is a definite state of awareness even if (from the spiritual angle) it has no true being. It embodies the great creative work of humanity down the ages, and is the product of the 'false' imagination and the work of the lower psychic nature. Its instrument of creative work is the sacral and the solar plexus centres. When the energies, finding expression through these two centres, have been transmuted and carried to the throat and heart by advancing humanity, then the foremost people of the race will know that the astral plane has no true existence; they will then work free from its impression, and the task of freeing humanity from the thraldom of its own creation will proceed apace. In the meantime a group of disciples is being slowly built up (of which this second group is a part and in which it can play an important function, and occupy a key position), which can gradually aid in the task of dispelling the great illusion and can act also as a bridging group so that those who are freeing themselves from glamour can find their way into the vortex of influence wielded by the group, empowered thus to work. Then three things can happen:
Nhiệm vụ thứ hai của nhóm đệ tử này là hoạt động như một chiếc cầu cho các mãnh lực đang tìm kiếm sự biểu lộ dĩ thái và phát ra từ các cấp độ linh hồn, qua trung gian của trí tuệ. Trước đây trong Luận về Chánh Thuật tôi đã chỉ ra rằng chính cõi cảm dục tự nó là một ảo tưởng. Khi nhiệm vụ thứ nhất của các nhóm làm việc với ảo cảm thế giới được hoàn thành thì điều này sẽ hiển nhiên. Hiện giờ tôi chưa thể cho các bạn một ý niệm thực sự nào về ý nghĩa nền tảng, vì tất cả các bạn đều đang hoạt động ở một mức độ nào đó trên cõi ảo tưởng và ảo cảm, và đối với các bạn thế giới [40] ảo tưởng hiện hữu và cõi cảm dục là một sự kiện. Nhưng tôi có thể nói điều này: đối với các thành viên điểm đạo của Thánh đoàn, cõi cảm dục không hiện hữu. Các Ngài không hoạt động trên cấp độ tâm thức đó, vì cõi cảm dục là một trạng thái nhận biết xác định dù rằng (xét từ góc độ tinh thần) nó không có hiện hữu chân thực. Nó hiện thân cho công trình sáng tạo vĩ đại của nhân loại qua các thời đại, và là sản phẩm của sự tưởng tượng “sai lầm” và công việc của bản chất thông linh thấp. Công cụ sáng tạo của nó là các trung tâm xương cùng và tùng thái dương. Khi các năng lượng, tìm thấy sự biểu lộ qua hai trung tâm này, đã được chuyển hoá và mang lên trung tâm cổ họng và tim bởi nhân loại đang tiến hóa, thì những người ưu tú nhất của nhân loại sẽ biết rằng cõi cảm dục không có hiện hữu chân thực; khi đó họ sẽ hoạt động tự do khỏi ấn tượng của nó, và nhiệm vụ giải thoát nhân loại khỏi sự nô lệ của chính sáng tạo của mình sẽ tiến triển nhanh chóng. Trong khi đó, một nhóm đệ tử đang được xây dựng chậm rãi (mà nhóm thứ hai này là một phần và trong đó nó có thể đóng một chức năng quan trọng, và giữ một vị trí then chốt), nhóm này có thể dần dần hỗ trợ trong nhiệm vụ xua tan đại ảo tưởng và cũng có thể hoạt động như một nhóm bắt cầu để những ai đang tự giải thoát khỏi ảo cảm có thể tìm được đường vào xoáy lực ảnh hưởng do nhóm vận dụng, nhờ đó được trao quyền để hoạt động. Khi đó ba điều có thể xảy ra:
1. Those who thus approach the group will find their efforts to live free from glamour greatly helped and intensified by the group assistance.
1. Những ai nhờ đó tiếp cận nhóm sẽ thấy các nỗ lực sống tự do khỏi ảo cảm của họ được sự trợ giúp của nhóm hỗ trợ và tăng cường rất nhiều.
2. They will swell the number of those so working and hasten the processes of dissipation.
2. Họ sẽ làm tăng số lượng những người đang làm việc như thế và thúc đẩy nhanh các tiến trình làm tiêu tan.
3. The Hierarchy will be enabled then to work more closely upon earth and to approach much nearer to mankind.
3. Khi đó Thánh đoàn sẽ có thể hoạt động gần gũi hơn trên trái đất và tiến đến gần nhân loại hơn nhiều.
The third function of this second group lies in a more distant future. The Hierarchy has necessarily a department of workers whose major task it is to work solely in the world of illusion and with astral matter. This department came into being in Atlantean days when the great controversy [41] took place between those who embodied the consciousness or soul aspect of deity and those who were similarly representative of the matter aspect of deity. Symbolically speaking, the left-hand and the right-hand paths came into being; white and black magic were brought into conflict with each other and the pairs of opposites (always existent in manifestation) became active factors in the consciousness of advanced humanity. The battle of discrimination was opened, and humanity became active upon the field of Kurukshetra. Where there is no conscious response to a condition and no registered awareness, there is no problem of responsibility, as far as the soul is concerned. In Atlantean times, this condition was evoked and hence the problem facing the race today; hence the task of the Hierarchy to free the souls of men from the surrounding glamour and to enable them to achieve liberation. The culmination of the issue and the controversy, then initiated, is now upon us.
Chức năng thứ ba của nhóm thứ hai này nằm trong một tương lai xa hơn. Thánh đoàn tất yếu có một ban những người hoạt động mà nhiệm vụ chính của họ là chỉ làm việc trong thế giới ảo tưởng và với vật chất cảm dục. Ban này đã đi vào hiện hữu trong thời Atlantis khi cuộc tranh luận lớn [41] diễn ra giữa những người hiện thân cho phương diện tâm thức hay linh hồn của thiên tính và những người tương tự đại diện cho phương diện vật chất của thiên tính. Nói theo biểu tượng, tả đạo và chánh đạo đã đi vào hiện hữu; Chánh Thuật và Hắc thuật được đưa vào xung đột với nhau và các cặp đối lập (vốn luôn hiện hữu trong biểu hiện) trở thành những yếu tố hoạt động trong tâm thức của nhân loại tiến bộ. Trận chiến của sự phân biện được mở ra, và nhân loại trở nên hoạt động trên chiến trường Kurukshetra. Nơi nào không có đáp ứng hữu thức đối với một tình trạng và không có nhận biết được ghi nhận, thì nơi đó không có vấn đề trách nhiệm, xét theo linh hồn. Trong thời Atlantis, tình trạng này đã được gợi lên và do đó có vấn đề đang đối diện với nhân loại ngày nay; do đó có nhiệm vụ của Thánh đoàn là giải thoát các linh hồn của con người khỏi ảo cảm bao quanh và giúp họ đạt được giải thoát. Sự lên đến đỉnh điểm của vấn đề và cuộc tranh luận khi ấy được khởi xướng hiện đang ở trước mắt chúng ta.
The third function, therefore, of the group can be grasped at this time, and eventually this branch of the hierarchical effort can find due expression upon earth.
Vì vậy, chức năng thứ ba của nhóm hiện có thể được nắm bắt, và cuối cùng nhánh nỗ lực này của Thánh đoàn có thể tìm được sự biểu lộ thích đáng trên trái đất.
From the above analysis of opportunity it is evident how the groups have a definite place in the plans of the Hierarchy. By developing spiritual sensitivity, and achieving freedom from glamour, the disciples who are members of these groups can raise the racial consciousness and bring in illumination. It should be remembered that it is inspiration which is the goal of all true telepathic work, and illumination which is the reward of effort and the real instrument for the dissipation of world glamour. Thus these groups can nurture the germ of the future culture, act also as bridging units, and externalise certain departmental activities of the planetary Hierarchy—the next great desire of its Members.
Từ sự phân tích trên về cơ hội, rõ ràng là các nhóm có một vị trí xác định trong các kế hoạch của Thánh đoàn. Bằng cách phát triển tính nhạy cảm tinh thần, và đạt được sự giải thoát khỏi ảo cảm, các đệ tử là thành viên của những nhóm này có thể nâng cao tâm thức chủng tộc và mang lại sự soi sáng. Cần nhớ rằng chính cảm hứng là mục tiêu của mọi công việc viễn cảm chân chính, và sự soi sáng là phần thưởng của nỗ lực và là công cụ thực sự để làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Như thế các nhóm này có thể nuôi dưỡng mầm của nền văn hóa tương lai, cũng hoạt động như những đơn vị bắt cầu, và ngoại hiện một số hoạt động ban ngành của Thánh đoàn hành tinh—ước muốn lớn tiếp theo của các Thành viên của Thánh đoàn.
Turning now to the work of the third group, we find ourselves concerned with the task of the magnetic healers of the world. This has been dealt with elsewhere (Esoteric Healing). I will here refer to one or two points of more general interest, and to their threefold opportunity. It is [42] of interest to note that the work of this group is perhaps one of the hardest to carry through, although from another angle it is far easier than the task of most of the other groups, because the consciousness of the bulk of humanity is found to be predominantly upon the plane of illusion and therefore, as the Old Commentary says:
Giờ đây chuyển sang công việc của nhóm thứ ba, chúng ta thấy mình quan tâm đến nhiệm vụ của các nhà chữa lành từ tính của thế giới. Điều này đã được bàn đến ở nơi khác (Trị Liệu Huyền Môn). Ở đây tôi sẽ đề cập đến một hoặc hai điểm có tính chất tổng quát hơn, và đến cơ hội tam phân của họ. Điều [42] đáng chú ý là công việc của nhóm này có lẽ là một trong những công việc khó thực hiện nhất, mặc dù từ một góc độ khác nó dễ hơn nhiều so với nhiệm vụ của hầu hết các nhóm khác, bởi vì tâm thức của phần lớn nhân loại được thấy là chủ yếu ở trên cõi ảo tưởng và do đó, như Cổ Luận nói:
“They who work to bring in light and yet are surrounded by the maya of the senses, work from the point of present being and need not to move out or in, or up or down. They simply stand.”
“Những ai làm việc để mang ánh sáng vào mà vẫn bị bao quanh bởi ảo lực của các giác quan, làm việc từ điểm hiện hữu hiện tại và không cần phải di chuyển ra hay vào, lên hay xuống. Họ chỉ đơn giản đứng vững.”
The healers of the world upon the physical plane have to work upon that plane and their task is that of bringing through the energies of life, emanating from the soul plane, via the mind, but excluding the emotional. These energies have to be brought through into physical consciousness and, from the physical level, do their necessary and magnetic work. The task of the healers, if successful, involves:
Các nhà chữa lành của thế giới trên cõi hồng trần phải làm việc trên cõi đó và nhiệm vụ của họ là đưa xuyên qua các năng lượng của sự sống, phát ra từ cõi linh hồn, qua trung gian của trí tuệ, nhưng loại trừ cảm xúc. Những năng lượng này phải được đưa xuyên vào tâm thức hồng trần và, từ cấp độ hồng trần, thực hiện công việc cần thiết và từ tính của chúng. Nhiệm vụ của các nhà chữa lành, nếu thành công, bao hàm:
1. The bringing through of healing divine energy.
1. Đưa xuyên qua năng lượng chữa lành thiêng liêng.
2. The exclusion of the astral world, and therefore illusion.
2. Loại trừ thế giới cảm dục, và do đó loại trừ ảo tưởng.
3. The utilisation of the healing energy in full waking consciousness upon the physical plane.
3. Sử dụng năng lượng chữa lành trong tâm thức thức tỉnh trọn vẹn trên cõi hồng trần.
Most of the healers in the world are working as follows:
Hầu hết các nhà chữa lành trên thế giới đang làm việc như sau:
1. As purely physical healers, dealing with the vital forces of the physical body, and with their own consciousness polarised in the etheric body.
1. Như những nhà chữa lành thuần túy hồng trần, đề cập đến các mãnh lực sinh lực của thể xác, với tâm thức của chính họ được phân cực trong thể dĩ thái.
2. As emotional astral psychics, with the consciousness polarised upon the astral plane, and utilising the astral body and working in and with glamour and illusion. The effect of their work, if successful (and I would have you note that “if,” for I deal with the idea of relative permanency) may be one of two things:
2. Như những nhà thông linh cảm dục xúc cảm, với tâm thức được phân cực trên cõi cảm dục, sử dụng thể cảm dục và hoạt động trong và với ảo cảm cùng ảo tưởng. Hiệu quả công việc của họ, nếu thành công (và tôi muốn các bạn lưu ý chữ “nếu” đó, vì tôi đang đề cập đến ý tưởng về tính bền vững tương đối) có thể là một trong hai điều:
a. They may cure the physical ills in the patient which are of such a nature that the inner astral desire (and [43] therefore the lower desire) has eventuated in physical disease, experienced in some aspect or organ of the physical body.
a. Họ có thể chữa khỏi các bệnh tật hồng trần nơi bệnh nhân vốn có bản chất sao cho dục vọng cảm dục bên trong (và [43] do đó là dục vọng thấp) đã dẫn đến bệnh tật hồng trần, được trải nghiệm trong một phương diện hay cơ quan nào đó của thể xác.
b. They may intensify the effect of the illusion of desire in the physical brain consciousness and cause such a violent increase of the active energies that death may occur before so very long. This is quite a frequent happening. Nevertheless death is a cure, remember this.
b. Họ có thể làm tăng cường hiệu quả của ảo tưởng dục vọng trong tâm thức não bộ hồng trần và gây ra một sự gia tăng dữ dội của các năng lượng hoạt động đến nỗi cái chết có thể xảy ra không bao lâu sau đó. Điều này xảy ra khá thường xuyên. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cái chết là một sự chữa lành.
Under these two categories the bulk of the world healers are found—sometimes doing good, oft doing harm, even if not realising it, and even if (as is usually the case) of good intention. There are three other categories of healers, however, to add to the two above:
Dưới hai loại này có thể tìm thấy phần lớn các nhà chữa lành của thế giới—đôi khi làm điều tốt, thường gây hại, ngay cả khi không nhận ra điều đó, và ngay cả khi (như thường là trường hợp) có ý định tốt. Tuy nhiên, còn có ba loại nhà chữa lành khác cần thêm vào hai loại trên:
3. Mental healers in the true sense of the word. Most mental healers unduly flatter themselves and work not with their minds at all. They have much mental theory and astral methods. Desire is the motivating power and not mental impulse. The true mental healer only brings about his results when he knows something of illumination in the technical and academic sense, and of the power of light to dispel illusion. Disease is not an illusion; it is a definite effect of a real cause from the standpoint of average humanity. When healers can work mentally, they deal with the causes of disease and not with the effects.
3. Các nhà chữa lành trí tuệ theo đúng nghĩa của từ này. Hầu hết các nhà chữa lành trí tuệ tâng bốc mình quá mức và thực ra hoàn toàn không làm việc bằng trí tuệ của họ. Họ có nhiều lý thuyết trí tuệ và phương pháp cảm dục. Dục vọng là động lực thúc đẩy chứ không phải xung lực trí tuệ. Nhà chữa lành trí tuệ chân chính chỉ tạo ra kết quả khi y biết đôi điều về sự soi sáng theo nghĩa kỹ thuật và học thuật, và về quyền năng của ánh sáng trong việc làm tiêu tan ảo tưởng. Bệnh tật không phải là một ảo tưởng; nó là một hiệu quả xác định của một nguyên nhân thực sự theo quan điểm của nhân loại trung bình. Khi các nhà chữa lành có thể làm việc bằng trí tuệ, họ đề cập đến các nguyên nhân của bệnh tật chứ không phải các hiệu quả.
4. Those healers whose soul contact is established and who work through the souls of people, enabling them therefore:
4. Những nhà chữa lành mà sự tiếp xúc linh hồn đã được thiết lập và những người làm việc qua linh hồn của con người, nhờ đó giúp họ:
a. To stand in spiritual being
a. Đứng vững trong hiện hữu tinh thần
b. To work, free from illusion
b. Hoạt động tự do khỏi ảo tưởng
c. To achieve true perspective upon the physical plane
c. Đạt được viễn cảnh chân chính trên cõi hồng trần
d. To coordinate the personality and the soul so that the will of the inner spiritual man can work out upon the physical plane.
d. Phối hợp phàm ngã và linh hồn để ý chí của con người tinh thần nội tại có thể tự triển khai trên cõi hồng trần.
5. Those who can work (as is eventually intended that this third group should work) definitely as outposts of the consciousness [44] of the Hierarchy of Masters. This work will be done in group formation and with a united synthesised effort. The personal effect of such healers is therefore:
5. Những người có thể làm việc (như cuối cùng được dự định để nhóm thứ ba này làm việc) một cách xác định như những tiền đồn của tâm thức [44] của Thánh đoàn các Chân sư. Công việc này sẽ được thực hiện trong đội hình nhóm và với một nỗ lực hợp nhất, tổng hợp. Vì vậy, hiệu quả cá nhân của những nhà chữa lành như thế là:
a. To coordinate the personality of the patient. They are themselves coordinated.
a. Phối hợp phàm ngã của bệnh nhân. Chính họ cũng được phối hợp.
b. To bring about contact with the soul, on the part of the patient. They are themselves vitally in contact.
b. Mang lại sự tiếp xúc với linh hồn nơi bệnh nhân. Chính họ cũng đang tiếp xúc thiết yếu.
c. To fuse and blend the personality and the soul and thus provide an instrument for the distribution of spiritual energy. They are themselves thus fused.
c. Dung hợp và hòa trộn phàm ngã với linh hồn và như thế cung cấp một công cụ để phân phối năng lượng tinh thần. Chính họ cũng được dung hợp như thế.
d. To understand and use the laws of true spiritual healing through intelligent activity upon the mental plane, through freedom from glamour, and through such a right use of force that the instrument of the soul (the personality) becomes vitally magnetic.
d. Thấu hiểu và sử dụng các định luật của sự chữa lành tinh thần chân chính qua hoạt động thông minh trên cõi trí, qua sự giải thoát khỏi ảo cảm, và qua việc sử dụng mãnh lực đúng đắn đến mức công cụ của linh hồn (phàm ngã) trở nên có từ tính thiết yếu.
I would remind you that such effort in the early stages (and those stages are the present ones) results inevitably in the development of a critical spirit through the intelligent effort being made and the discriminative recognition of glamour in many cases, because only through such an effort can analysis of a right kind eventually be achieved and criticism be eliminated. In the meantime, those thus in training are oft a difficulty and a problem both to themselves and to their friends and co-workers. But this phase is temporary and leads to a more lasting relationship and to the emergence of that true magnetic link and love which must heal and lift and stimulate all that it may contact.
Tôi muốn nhắc các bạn rằng nỗ lực như thế trong các giai đoạn đầu (và những giai đoạn ấy là các giai đoạn hiện nay) tất yếu dẫn đến sự phát triển của một tinh thần phê phán do nỗ lực thông minh đang được thực hiện và sự nhận biết phân biện về ảo cảm trong nhiều trường hợp, bởi vì chỉ qua một nỗ lực như thế thì sự phân tích đúng đắn cuối cùng mới có thể đạt được và sự chỉ trích mới có thể bị loại bỏ. Trong khi đó, những người đang được huấn luyện như thế thường là một khó khăn và một vấn đề đối với chính họ cũng như đối với bạn bè và các cộng sự của họ. Nhưng giai đoạn này chỉ là tạm thời và dẫn đến một mối liên hệ bền vững hơn và đến sự xuất hiện của mối liên kết từ tính chân chính cùng tình thương vốn phải chữa lành, nâng cao và kích thích mọi điều mà nó có thể tiếp xúc.
In the coming Aquarian Age we shall see humanity producing a culture which is sensitive to the finer and higher spiritual values, a civilisation which is free from glamour and from much of the illusion which today colours the Aryan peoples, and a racial life which will be embodied in those forms which will bridge the gap at present existing; it will be free from what we now know as disease of the worst kind, though death and certain forms of bodily breakdown which may eventually end in death will, of course, still be prevalent. The overcoming of death is not contingent upon the elimination [45] of bodily ills, but upon the establishing of that continuity of consciousness which carries over from the physical plane of life to the inner subjective existence. Of this state of being, groups such as this third group can be the custodian and their problem is therefore:
Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp đến, chúng ta sẽ thấy nhân loại tạo ra một nền văn hóa nhạy cảm với các giá trị tinh thần tinh tế và cao hơn, một nền văn minh giải thoát khỏi ảo cảm và khỏi phần lớn ảo tưởng hiện đang nhuốm màu các dân tộc Arya, và một đời sống chủng tộc sẽ được hiện thân trong những hình tướng sẽ bắt cầu khoảng cách hiện đang tồn tại; nó sẽ giải thoát khỏi điều mà hiện nay chúng ta biết là bệnh tật thuộc loại tồi tệ nhất, dù dĩ nhiên cái chết và một số dạng suy sụp thể xác cuối cùng có thể dẫn đến cái chết vẫn sẽ còn phổ biến. Việc vượt thắng cái chết không tùy thuộc vào sự loại bỏ [45] các bệnh tật thể xác, mà tùy thuộc vào việc thiết lập sự liên tục của tâm thức, sự liên tục này mang qua từ cõi hồng trần của đời sống sang hiện hữu chủ quan nội tại. Đối với trạng thái hiện hữu này, các nhóm như nhóm thứ ba này có thể là người gìn giữ và do đó vấn đề của họ là:
1. To establish that state of personality development which will lead to magnetic living upon the physical plane.
1. Thiết lập trạng thái phát triển phàm ngã sẽ dẫn đến đời sống từ tính trên cõi hồng trần.
2. To study the laws of life, which are the laws of health and of right relationship.
2. Nghiên cứu các định luật của sự sống, vốn là các định luật của sức khỏe và của mối liên hệ đúng đắn.
3. To develop that continuity of consciousness which will “open the doors of life and dispel the fear of the known and of that which disappears.”
3. Phát triển sự liên tục của tâm thức sẽ “mở các cánh cửa của sự sống và làm tiêu tan nỗi sợ hãi đối với điều đã biết và đối với điều biến mất.”
From the angle of the work of the world healers, the above is a statement of opportunity. This they face as the nucleus or one of the germs or seeds of the new civilisation and the coming culture. It embodies the objective of all their work, and their contribution to the united work of the groups.
Từ góc độ công việc của các nhà chữa lành thế giới, điều trên là một phát biểu về cơ hội. Họ đối diện với điều này như hạt nhân hay một trong những mầm hoặc hạt giống của nền văn minh mới và nền văn hóa sắp đến. Nó hiện thân cho mục tiêu của toàn bộ công việc của họ, và cho sự đóng góp của họ vào công việc hợp nhất của các nhóm.
Equally so, they can bridge the gap at present existing in the racial consciousness between
Tương tự như vậy, họ có thể bắt cầu khoảng cách hiện đang tồn tại trong tâm thức chủng tộc giữa
1. Life and death.
1. Sự sống và cái chết.
2. The sick and the well. This is between
2. Người bệnh và người khỏe. Điều này là giữa
a. The physically sick and the inwardly well, which is the case with a few—a very few—of the advanced people, or the disciples of the world and the senior aspirants.
a. Người bệnh về thể xác và người lành mạnh bên trong, là trường hợp của một số ít—rất ít—người tiến bộ, hay các đệ tử của thế giới và những người chí nguyện cao cấp.
b. The physically well and the psychically sick, which is sometimes the case, but of singular rarity.
b. Người khỏe mạnh về thể xác và người bệnh về thông linh, điều này đôi khi xảy ra, nhưng cực kỳ hiếm.
c. The physically sick, the psychologically sick, and the overshadowing soul. This situation is often found today.
c. Người bệnh về thể xác, người bệnh về tâm lý, và linh hồn phủ bóng. Tình huống này ngày nay thường được tìm thấy.
3. The physical plane and the world of souls, because of the development of a sound instrument and the dissipation of those causes which work out as effects in the physical body as disease, and act as barriers to the inflow of soul energy and the entrance of soul awareness into the brain activity.
3. Cõi hồng trần và thế giới các linh hồn, nhờ sự phát triển của một công cụ lành mạnh và sự làm tiêu tan những nguyên nhân tự triển khai thành các hiệu quả trong thể xác như bệnh tật, và hoạt động như những rào cản đối với dòng chảy vào của năng lượng linh hồn và sự đi vào của nhận biết linh hồn trong hoạt động não bộ.
[46] This bridging work, when it occurs today, is often simply a fortunate but fortuitous happening and is not the result of a consciously planned bridging work. But it is the intent of the Hierarchy that the groups which will be later formed, and which are today in process of forming (including this third group of mine) can aid in this process, if such is the will of the constituent parts.
[46] Công việc bắt cầu này, khi xảy ra ngày nay, thường chỉ đơn giản là một sự việc may mắn nhưng ngẫu nhiên và không phải là kết quả của một công việc bắt cầu được hoạch định hữu thức. Nhưng đó là chủ đích của Thánh đoàn rằng các nhóm sẽ được thành lập về sau, và hiện nay đang trong tiến trình hình thành (bao gồm cả nhóm thứ ba này của tôi), có thể hỗ trợ trong tiến trình này, nếu đó là ý chí của các thành phần cấu thành.
Finally, every initiate is a magnetic healer. This is a statement of fact. Though the members of the Hierarchy have each of Them Their duly appointed functions and Their planned activity (dependent upon Ray, upon race and upon dedication) there is one activity which They share in common and that is the power to heal. Their ability to act as magnetic healers works out in various ways, predominantly in the realm of psychological readjustments and psychic disentanglements, and—only incidentally and as a result of the two above activities—in the processes of bodily healing. You will note from the above, that the healing work done by the initiate members of the Great White Lodge is threefold—psychological, bringing in the soul; psychic, releasing the lower psychic nature from illusion so that the psyche or soul can have full sway; physical, as the result of the inner psychological and psychic adjustments.
Cuối cùng, mọi điểm đạo đồ đều là một nhà chữa lành từ tính. Đây là một phát biểu sự kiện. Dù các thành viên của Thánh đoàn mỗi vị đều có các chức năng được chỉ định thích đáng và hoạt động đã được hoạch định của riêng mình (tùy thuộc vào cung, vào nhân loại và vào sự hiến dâng) thì vẫn có một hoạt động mà Các Ngài cùng chia sẻ, và đó là quyền năng chữa lành. Khả năng của Các Ngài trong việc hoạt động như những nhà chữa lành từ tính được triển khai theo nhiều cách, chủ yếu trong lĩnh vực các sự điều chỉnh lại tâm lý và các sự tháo gỡ thông linh, và—chỉ là ngẫu nhiên và như kết quả của hai hoạt động trên—trong các tiến trình chữa lành thể xác. Từ điều trên, các bạn sẽ lưu ý rằng công việc chữa lành do các thành viên điểm đạo của Thánh đoàn thực hiện là tam phân—tâm lý, mang linh hồn vào; thông linh, giải phóng bản chất thông linh thấp khỏi ảo tưởng để psyche hay linh hồn có thể hoàn toàn làm chủ; thể xác, như kết quả của các điều chỉnh nội tại về tâm lý và thông linh.
This triple healing activity is intended to be the objective of all groups working as this third group, the magnetic healers, should work; thus will be brought about an emergence of hierarchical effort into outer activity. Thus you will note, my brother, that the work of the first three groups just discussed, and viewing them as constituting one unit, produces a synthetic endeavour in the three worlds, and leads from the plane of the soul to the plane of outer expression.
Hoạt động chữa lành tam phân này được dự định là mục tiêu của mọi nhóm hoạt động như nhóm thứ ba này, các nhà chữa lành từ tính, nên hoạt động; như thế sẽ mang lại sự xuất hiện của nỗ lực Thánh đoàn vào hoạt động bên ngoài. Như vậy các bạn sẽ lưu ý, Huynh đệ của Tôi, rằng công việc của ba nhóm đầu tiên vừa được bàn đến, khi xem họ như cấu thành một đơn vị, tạo ra một nỗ lực tổng hợp trong ba cõi giới, và dẫn từ cõi linh hồn đến cõi biểu hiện bên ngoài.
~
~
THE WORK OF THE SEED GROUPS
CÔNG VIỆC CỦA CÁC NHÓM HẠT GIỐNG
January 1938
Tháng Giêng 1938
We have been endeavouring to apprehend a little more intelligently the work of the new age seed groups, their interrelation [47] and their work as part of the new age “set-up,” if I might employ such a term. We considered with some care the three major groups. We saw that each of them had three tasks to perform and we attempted a slight analysis of their planned undertakings. Now we can do the same with the remaining groups, particularly with the fourth and fifth which have education and political work as their projects. And then we will only briefly indicate the triple intended purpose of the sixth, seventh, eighth and ninth groups. We will not take time to consider the tenth, which will be composed of the key people in the other groups, beyond stating that when its twenty-seven members (three from each group) are chosen and put in rapport with each other, there should come to all the groups such a quickening of their life that they will become one living vibrant organism.
Chúng ta đã cố gắng nắm bắt một cách thông minh hơn đôi chút công việc của các nhóm hạt giống của kỷ nguyên mới, mối liên hệ qua lại [47] của họ và công việc của họ như một phần của “cơ cấu” của kỷ nguyên mới, nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy. Chúng ta đã xem xét khá cẩn thận ba nhóm chính. Chúng ta đã thấy rằng mỗi nhóm trong số họ có ba nhiệm vụ phải thực hiện và chúng ta đã thử phân tích sơ lược các công việc dự định của họ. Giờ đây chúng ta có thể làm điều tương tự với các nhóm còn lại, đặc biệt là nhóm thứ tư và thứ năm, những nhóm có giáo dục và công việc chính trị làm dự án của mình. Và rồi chúng ta sẽ chỉ ngắn gọn nêu ra mục đích tam phân dự định của các nhóm thứ sáu, thứ bảy, thứ tám và thứ chín. Chúng ta sẽ không dành thời gian để xem xét nhóm thứ mười, nhóm sẽ được cấu thành bởi những người chủ chốt trong các nhóm khác, ngoài việc nói rằng khi hai mươi bảy thành viên của nó (ba người từ mỗi nhóm) được chọn và được đặt vào sự liên kết với nhau, thì đối với tất cả các nhóm sẽ có một sự làm sinh động đời sống của họ nhanh chóng đến mức họ sẽ trở thành một cơ thể sống động rung động duy nhất.
The fourth group has ahead of it a rich and most interesting course of study and an illuminating objective. Its instructions (See Education in the New Age) will evoke more interested response from a larger group of readers than perhaps will be the case in the instructions of any of the other groups, except those of the sixth whose subject is religion in the new age, and the third (See Esoteric Healing). I give them in the order of their importance. They will be more definitely popular and meet a more general need. The interest which the teaching on education will evoke will be owing to the fact that education is today widely recognised as the major moulding factor, next to economic pressure and circumstance, and there is a widespread interest in progressive education and in the new ideals which should—and will—eventually govern educators.
Nhóm thứ tư có trước mặt mình một chương trình nghiên cứu phong phú và hết sức thú vị cùng một mục tiêu soi sáng. Các huấn thị của nhóm này (Xem Education in the New Age) sẽ gợi lên sự đáp ứng quan tâm hơn từ một nhóm độc giả lớn hơn có lẽ so với trường hợp các huấn thị của bất kỳ nhóm nào khác, ngoại trừ nhóm thứ sáu có chủ đề là tôn giáo trong kỷ nguyên mới, và nhóm thứ ba (Xem Trị Liệu Huyền Môn). Tôi nêu chúng theo thứ tự tầm quan trọng của chúng. Chúng sẽ rõ rệt là phổ biến hơn và đáp ứng một nhu cầu tổng quát hơn. Sự quan tâm mà giáo huấn về giáo dục sẽ gợi lên là do sự kiện rằng ngày nay giáo dục được công nhận rộng rãi là yếu tố tạo khuôn mẫu chủ yếu, chỉ sau áp lực và hoàn cảnh kinh tế, và có một mối quan tâm rộng khắp đối với giáo dục tiến bộ và đối với những lý tưởng mới mà cuối cùng nên—và sẽ—chi phối các nhà giáo dục.
There is a definite stirring among the masses and the life of the mind (note that phrase) is now more active and potent than ever before. For this there is an occult reason of a most interesting nature.
Có một sự khuấy động rõ rệt trong quần chúng và đời sống của trí tuệ (hãy lưu ý cụm từ đó) hiện nay năng động và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đối với điều này có một lý do huyền bí có bản chất hết sức thú vị.
Those of you who have studied The Secret Doctrine will remember that in that momentous period wherein animal-man made the great transition into the human family and [48] humanity came into being, developing the germ of individuality, the seed of self-consciousness and embryo intellect, we are told that this event was brought about in three ways:
Những ai trong các bạn đã nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ nhớ rằng trong giai đoạn trọng đại ấy, khi người-thú thực hiện cuộc chuyển tiếp lớn lao vào gia đình nhân loại và [48] nhân loại xuất hiện, phát triển mầm biệt ngã hóa, hạt giống của ngã thức và trí tuệ phôi thai, chúng ta được cho biết rằng biến cố này đã được mang lại theo ba cách:
1. The seed of mind was implanted in some of the aspiring animal-men by the Hierarchy, and these animal men became human beings, of a very low order to be sure, but still men. They were “sparked,” if I might so express it, and a point of light appeared where before there was none. Before there was only a diffused atomic light but no central point of light within the head, and no indication of the higher centres. These individuals, along with the more advanced humanity which came to the planet in Atlantean times (having individualised elsewhere), constitute the most advanced humanity of our present period. They represent culture and understanding, no matter where it is found, or in what class or race.
1. Hạt giống trí tuệ đã được Thánh đoàn cấy vào một số người-thú chí nguyện, và những người-thú này trở thành con người, dĩ nhiên thuộc một cấp rất thấp, nhưng vẫn là con người. Họ đã được “đánh lửa”, nếu tôi có thể diễn tả như vậy, và một điểm sáng xuất hiện nơi trước đó không có. Trước đó chỉ có một ánh sáng nguyên tử khuếch tán chứ không có điểm sáng trung tâm nào bên trong đầu, và không có dấu hiệu nào của các trung tâm cao hơn. Những cá nhân này, cùng với nhân loại tiến bộ hơn đã đến hành tinh này vào thời Atlantis (đã biệt ngã hóa ở nơi khác), cấu thành phần nhân loại tiến bộ nhất của thời kỳ hiện nay của chúng ta. Họ đại diện cho văn hóa và sự thấu hiểu, bất kể điều đó được tìm thấy ở đâu, hay trong giai cấp hoặc nhân loại nào.
2. The instinctual nature of animal-man (found active among those who had not reached the stage of any conscious aspiration) was suddenly stimulated or vitalised by the coming into expression of the first group and the directed attention of the Hierarchy, working under the ancient Law that “energy follows thought.” Thus gradually, with a remarkable rapidity, instinct became blended into, or resolved into, its higher expression—the intellect. Thus in due course of time a large group of animal-men became human beings. They today represent civilisation and the masses of ordinary intelligent people, educated under the mass systems of the present time, able occasionally to think and rise to mental emergencies, yet not highly cultured. They constitute the so-called general public which we designate by the words “upper and lower middle class” people, the professional classes and the bourgeoisie everywhere.
2. Bản chất bản năng của người-thú (được thấy hoạt động nơi những kẻ chưa đạt đến giai đoạn có bất kỳ khát vọng hữu thức nào) đã đột ngột được kích thích hoặc tiếp sinh lực bởi sự đi vào biểu hiện của nhóm thứ nhất và sự chú tâm có định hướng của Thánh đoàn, hoạt động dưới Định luật cổ xưa rằng “năng lượng đi theo tư tưởng.” Như vậy dần dần, với một tốc độ đáng kinh ngạc, bản năng được hòa lẫn vào, hay được phân giải thành, biểu hiện cao hơn của nó—trí tuệ. Như vậy, theo thời gian, một nhóm lớn người-thú đã trở thành con người. Ngày nay họ đại diện cho nền văn minh và quần chúng những người thông minh bình thường, được giáo dục dưới các hệ thống đại chúng của thời nay, đôi khi có thể suy nghĩ và vươn lên trước những tình huống khẩn cấp về trí tuệ, tuy nhiên không có văn hóa cao. Họ cấu thành cái gọi là công chúng nói chung mà chúng ta chỉ định bằng các từ “tầng lớp trung lưu trên và dưới”, các giai cấp chuyên môn và giai cấp tư sản ở khắp nơi.
3. At the same time there is to be found a vast number of people who are human beings but who are not the result of either of these two processes. They are the product of the slow moving influences of life itself, of what we are apt to call the evolutionary urge, innate in matter itself. They [49] have painfully and with infinitely slow processes evolved out of the animal condition into that of human beings, with an awakening conscience, an urge to betterment, and an embryonic mind of such a nature that it can respond to simple educational processes, when available, and is so responding. They are the illiterate masses, the still savage races and the low grade human beings who are met with in their millions on our planet.
3. Đồng thời cũng có thể thấy một số lượng rất lớn người là con người nhưng không phải là kết quả của một trong hai tiến trình này. Họ là sản phẩm của những ảnh hưởng chậm chạp của chính sự sống, của điều mà chúng ta thường gọi là xung lực tiến hoá, vốn bẩm sinh trong chính vật chất. Họ [49] đã đau đớn và qua những tiến trình chậm vô cùng mà tiến hoá từ trạng thái động vật lên trạng thái con người, với lương tâm đang thức tỉnh, một thúc đẩy hướng đến sự cải thiện, và một trí tuệ phôi thai có bản chất đến mức có thể đáp ứng với những tiến trình giáo dục đơn giản, khi có sẵn, và hiện đang đáp ứng như vậy. Họ là những quần chúng mù chữ, các nhân loại còn man dã, và những con người cấp thấp hiện diện với số lượng hàng triệu trên hành tinh của chúng ta.
The cause for the momentous situation which calls for a re-alignment of our educational systems and processes, and for a readjustment of our present concepts of education, is to be found in the fact that the light of knowledge and the benefits which accrue from it have penetrated to the lowest grades of these slowly evolving people; all three groups are now strictly human and not simply the first two. The highest of them is therefore nearing the stage of demonstrating that which is superhuman and the lowest is separating itself (by almost imperceptible stages) from the animal condition. This necessarily causes a cleavage but it is one of which the highest group and the Hierarchy itself is cognisant, and which they “heal by their own inclusiveness.” Forget not, that the greater can always include the lesser and thus bridge all gaps.
Nguyên nhân của tình thế trọng đại đang đòi hỏi một sự chỉnh hợp lại các hệ thống và tiến trình giáo dục của chúng ta, và một sự điều chỉnh lại các quan niệm hiện nay của chúng ta về giáo dục, được tìm thấy trong sự kiện rằng ánh sáng tri thức và những lợi ích phát sinh từ đó đã thâm nhập đến những cấp thấp nhất của những con người đang tiến hoá chậm chạp này; hiện nay cả ba nhóm đều hoàn toàn là con người chứ không chỉ đơn thuần là hai nhóm đầu. Vì vậy, nhóm cao nhất trong số họ đang tiến gần đến giai đoạn biểu lộ điều siêu nhân, còn nhóm thấp nhất đang tách mình ra khỏi trạng thái động vật (qua những giai đoạn hầu như không thể nhận thấy). Điều này tất yếu gây ra một sự phân rẽ, nhưng đó là điều mà nhóm cao nhất và chính Thánh đoàn đều nhận biết, và họ “chữa lành bằng chính tính bao gồm của mình.” Đừng quên rằng cái lớn hơn luôn có thể bao gồm cái nhỏ hơn và nhờ đó bắt cầu qua mọi khoảng cách.
It is the education of these three groups which will be considered by the fourth group which has as its project education in the new age. Here again we touch the threefold purpose which each group has to hold before itself and which in the present instance consists of:
Chính việc giáo dục ba nhóm này sẽ được nhóm thứ tư xem xét, nhóm có dự án là giáo dục trong kỷ nguyên mới. Ở đây một lần nữa chúng ta chạm đến mục đích tam phân mà mỗi nhóm phải giữ trước mình, và trong trường hợp hiện tại gồm có:
1. The educating of the lowest of these groups into which humanity divides itself, so that they can become strictly and consciously human. This was the objective of the impulse which inspired the Renaissance and which lay behind the work of Rousseau, that great initiate, and this is the impulse which is today responsible for modern Humanism with its apparent materialism and yet its deeply spiritual subjective programme and purpose. This eventually produces civilisation by the inflow of the light of knowledge. [50]
1. Giáo dục nhóm thấp nhất trong các nhóm mà nhân loại tự phân chia, để họ có thể trở nên hoàn toàn và hữu thức là con người. Đây là mục tiêu của xung lực đã truyền cảm hứng cho thời Phục Hưng và nằm sau công trình của Rousseau, điểm đạo đồ vĩ đại ấy, và đây cũng là xung lực ngày nay chịu trách nhiệm cho Chủ nghĩa Nhân văn hiện đại với vẻ ngoài duy vật của nó nhưng lại có chương trình và mục đích chủ quan sâu sắc mang tính tinh thần. Điều này cuối cùng tạo ra nền văn minh nhờ sự tuôn đổ vào của ánh sáng tri thức. [50]
2. The education of the second group so that it may be stimulated by the inflow of the light of wisdom and thus constitute a bridging group between the other two, being—as it is—strictly human and self-conscious. This process will make of its members cultural aspirants, with a new sense of values, with a recognition of spiritual objectives and with a developed ability to make them the moulders of public opinion. They will then be the most important group, expressing the culture of the new age. They will set the standard of values for the masses.
2. Giáo dục nhóm thứ hai để nhóm này có thể được kích thích bởi sự tuôn đổ vào của ánh sáng minh triết và nhờ đó cấu thành một nhóm bắt cầu giữa hai nhóm kia, vì—như thực tế là vậy—nhóm này hoàn toàn là con người và có ngã thức. Tiến trình này sẽ biến các thành viên của nó thành những người chí nguyện có văn hóa, với một ý thức mới về các giá trị, với sự nhận biết các mục tiêu tinh thần và với khả năng phát triển để trở thành những người nhào nặn dư luận quần chúng. Khi đó họ sẽ là nhóm quan trọng nhất, biểu hiện nền văn hóa của kỷ nguyên mới. Họ sẽ đặt ra tiêu chuẩn giá trị cho quần chúng.
3. The education of the advanced thinkers, of the aspirants and world disciples in applied knowledge, expressed wisdom and occult understanding. This group synthesises all that is available in the other two groups and thus forms the nucleus of the Kingdom of God, of the fifth kingdom which is so rapidly coming into being.
3. Giáo dục các nhà tư tưởng tiến bộ, những người chí nguyện và các đệ tử thế gian trong tri thức được áp dụng, minh triết được biểu lộ và sự thấu hiểu huyền bí học. Nhóm này tổng hợp tất cả những gì sẵn có trong hai nhóm kia và nhờ đó hình thành hạt nhân của Thiên Giới, của giới thứ năm đang xuất hiện rất nhanh chóng.
I cannot do more than indicate these points, for their proper theme and their elucidation will be dealt with in the group’s instructions. What I have stated, however, will serve to indicate to you the general theme of the new education and point the way to some of the considerations which are prompting my handling of this subject.
Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những điểm này, vì chủ đề thích hợp của chúng và sự làm sáng tỏ chúng sẽ được đề cập trong các chỉ dẫn của nhóm. Tuy nhiên, điều tôi đã trình bày sẽ giúp chỉ cho các bạn thấy chủ đề tổng quát của nền giáo dục mới và chỉ ra con đường đến một số cân nhắc đang thúc đẩy tôi xử lý đề tài này.
The work to be done (political service) by the fifth group of disciples is by far the most difficult of any for it is in many ways far less advanced. This is due to two facts:
Công việc phải làm (phụng sự chính trị) của nhóm đệ tử thứ năm là khó khăn nhất trong tất cả, vì theo nhiều phương diện nó kém tiến bộ hơn nhiều. Điều này là do hai sự kiện:
1. The masses of men are, as yet, relatively so little evolved that the task of this group of workers must therefore necessarily be dependent upon the success of the educational work of the world, as it will eventually be exemplified by the ideals and point of view of the fourth group and similar groups everywhere.
1. Quần chúng nhân loại cho đến nay còn tương đối ít tiến hoá, vì vậy nhiệm vụ của nhóm người hoạt động này tất yếu phải phụ thuộc vào sự thành công của công việc giáo dục của thế giới, như cuối cùng sẽ được nêu gương bởi các lý tưởng và quan điểm của nhóm thứ tư và các nhóm tương tự ở khắp nơi.
2. So few truly first ray people are manifesting on the planet at this time and, when they do, their work perforce proves destructive, owing to the unevolved condition of the masses of men. That is why revolutions [51] so seldom, if ever, can be carried out without bloodshed, for the intended ideas have to be imposed upon the masses and are not immediately recognised and adopted by those masses, they evoke counter responses which arouse those in authority to wrong activity. The above ideas should arouse you to careful thought.
2. Hiện nay có quá ít người thực sự thuộc cung một đang biểu hiện trên hành tinh, và khi họ biểu hiện, công việc của họ tất nhiên tỏ ra có tính phá hủy, do tình trạng chưa tiến hoá của quần chúng nhân loại. Đó là lý do tại sao các cuộc cách mạng [51] hiếm khi, nếu từng có, có thể được thực hiện mà không đổ máu, vì những ý tưởng được dự định phải được áp đặt lên quần chúng và không được quần chúng ấy ngay lập tức nhận ra và chấp nhận; chúng gợi lên những đáp ứng đối kháng, kích động những người cầm quyền đi đến hoạt động sai lầm. Những ý tưởng trên nên khơi dậy nơi các bạn sự suy nghĩ cẩn trọng.
Let it not be forgotten that the objective of all true governmental control is right synthesis, leading to right national and interior group activity. The problem resolves itself into a dual one. First of all, we have the problem of the type of authority which should be recognised by the peoples; and secondly, we have the problem of the methods which should be employed, so that the chosen authoritative measures will proceed either by the method of enforced control, or would be of such a nature that they will evoke a generously rendered and recognised cooperation. Between these two ways of working, many changes can be rung, though the system of cooperation, willingly rendered by an intelligent majority, has never yet been seen. But we are moving towards such a condition of world consciousness and are on our way towards experimenting with it.
Đừng quên rằng mục tiêu của mọi sự kiểm soát chính quyền chân chính là sự tổng hợp đúng đắn, dẫn đến hoạt động quốc gia và hoạt động nhóm nội tại đúng đắn. Vấn đề tự phân giải thành một vấn đề nhị nguyên. Trước hết, chúng ta có vấn đề về loại thẩm quyền nào nên được các dân tộc công nhận; và thứ hai, chúng ta có vấn đề về những phương pháp nên được sử dụng, để các biện pháp có thẩm quyền được chọn sẽ tiến hành hoặc bằng phương pháp kiểm soát cưỡng bức, hoặc có bản chất sao cho sẽ gợi lên một sự hợp tác được hiến dâng rộng lượng và được công nhận. Giữa hai cách làm việc này có thể tạo ra nhiều biến thể, mặc dù hệ thống hợp tác được một đa số thông minh tự nguyện hiến dâng vẫn chưa từng được thấy. Nhưng chúng ta đang tiến tới một tình trạng tâm thức thế giới như vậy và đang trên đường thử nghiệm nó.
Let me here briefly indicate to you some of the modes of government which have been tried out, or will be tried out in the future.
Ở đây, hãy để tôi ngắn gọn chỉ cho các bạn một số phương thức cai trị đã được thử nghiệm, hoặc sẽ được thử nghiệm trong tương lai.
1. Government by a recognised Spiritual Hierarchy. This Hierarchy will be related to the masses of the people by a chain of developed men and women who will act as the intermediaries between the ruling spiritual body and a people who are oriented to a world of right values. This form of world control lies indefinitely ahead. When it becomes possible so to govern, the planetary Hierarchy will have made a major Approach to earth, and there will then be thousands of men and women in touch with Their organisation because they will be developed enough to be sensitive to Its thoughts and ideas. [52]
1. Sự cai trị bởi một Thánh đoàn Tinh Thần được công nhận. Thánh đoàn này sẽ liên hệ với quần chúng nhân dân qua một chuỗi những người nam và nữ phát triển, những người sẽ hành động như các trung gian giữa cơ quan tinh thần cai trị và một dân tộc được định hướng đến một thế giới của những giá trị đúng đắn. Hình thức kiểm soát thế giới này còn ở rất xa phía trước. Khi việc cai trị như vậy trở nên khả thi, Thánh đoàn hành tinh sẽ đã thực hiện một cuộc Tiếp Cận lớn lao đến trái đất, và khi đó sẽ có hàng ngàn người nam và nữ tiếp xúc với tổ chức của Các Ngài vì họ sẽ đủ phát triển để nhạy cảm với các tư tưởng và ý tưởng của tổ chức ấy. [52]
2. Government by an oligarchy of illumined minds, recognised as such by the massed thinkers, and therefore chosen by them to rule. This they will do through the education of the thinkers of the race in group ideas and in their right application. The system of education, then prevalent, will be utilised as the medium of reaching the masses and swinging them into line with the major ideas and this will be done not by force, but through right understanding, through analysis, discussion and experiment. Curiously enough (from the point of view of many) the spiritual Hierarchy will then work largely through the world scientists who, being by that time convinced of the factual reality of the soul and wise in the uses of the forces of the soul and of nature, will constitute a linking body of occultists.
2. Sự cai trị bởi một tập đoàn đầu sỏ của những trí tuệ được soi sáng, được quần thể các nhà tư tưởng công nhận như vậy, và do đó được họ chọn để cai trị. Họ sẽ làm điều này thông qua việc giáo dục các nhà tư tưởng của nhân loại trong các ý tưởng nhóm và trong sự áp dụng đúng đắn của chúng. Khi đó, hệ thống giáo dục đang thịnh hành sẽ được sử dụng như phương tiện để tiếp cận quần chúng và đưa họ vào hàng ngũ với các ý tưởng chủ yếu, và điều này sẽ được thực hiện không phải bằng vũ lực, mà bằng sự thấu hiểu đúng đắn, bằng phân tích, thảo luận và thử nghiệm. Thật kỳ lạ thay (theo quan điểm của nhiều người), khi đó Thánh đoàn Tinh Thần sẽ hoạt động phần lớn thông qua các nhà khoa học thế giới, những người vào lúc ấy, do đã xác tín về thực tại sự kiện của linh hồn và minh triết trong việc sử dụng các mãnh lực của linh hồn và của bản chất, sẽ cấu thành một cơ thể liên kết của các nhà huyền bí học.
3. Government by a true democracy. This again will be made possible through a right use of the systems of education and by a steady training of the people to recognise the finer values, the more correct point of view, the higher idealism, and the spirit of synthesis and of cooperative unity. Cooperative unity differs from an enforced unity in that the subjective spirit and the objective form are functioning towards one recognised end. Today, such a thing as a true democracy is unknown, and the mass of the people in the democratic countries are as much at the mercy of the politicians and of the financial forces as are the people under the rule of dictatorships, enlightened or unenlightened. These latter might be regarded as selfish idealists. But I would have you here note the word “idealist”! When, however, the world has in it more truly awakened people and more thinking men and women, we shall see a purification of the political field taking place, and a cleansing of our processes of representation instituted, as well as a more exacting accounting required from the people of those whom they have chosen to put in authority. There must eventually be a closer tie-up between the educational system, the legal system and the government, but it will all be directed to an effort to work out the best ideals of the thinkers of the [53] day. This period does not lie so far ahead as you might imagine, particularly if the first move in this direction is made by the New Group of World Servers.
3. Sự cai trị bởi một nền dân chủ chân chính. Điều này một lần nữa sẽ được làm cho khả thi nhờ việc sử dụng đúng đắn các hệ thống giáo dục và bằng sự huấn luyện bền bỉ cho con người để nhận ra các giá trị tinh tế hơn, quan điểm đúng đắn hơn, lý tưởng cao hơn, và tinh thần tổng hợp cùng hợp nhất hợp tác. Sự hợp nhất hợp tác khác với sự hợp nhất cưỡng bức ở chỗ tinh thần chủ quan và hình tướng khách quan đang hoạt động hướng tới một cứu cánh được công nhận. Ngày nay, một điều như nền dân chủ chân chính vẫn chưa được biết đến, và quần chúng ở các quốc gia dân chủ cũng lệ thuộc vào các chính trị gia và các mãnh lực tài chính chẳng kém gì những người dân dưới sự cai trị của các chế độ độc tài, dù được soi sáng hay không được soi sáng. Những chế độ sau này có thể được xem như những nhà lý tưởng ích kỷ. Nhưng ở đây tôi muốn các bạn lưu ý đến từ “nhà lý tưởng”! Tuy nhiên, khi thế giới có nhiều người thực sự thức tỉnh hơn và nhiều người nam và nữ biết suy nghĩ hơn, chúng ta sẽ thấy một sự thanh lọc diễn ra trong lĩnh vực chính trị, một sự tẩy sạch các tiến trình đại diện của chúng ta được thiết lập, cũng như một sự đòi hỏi trách nhiệm nghiêm ngặt hơn từ phía nhân dân đối với những người mà họ đã chọn đưa vào quyền lực. Cuối cùng phải có một sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa hệ thống giáo dục, hệ thống pháp luật và chính quyền, nhưng tất cả sẽ được hướng đến một nỗ lực nhằm triển khai những lý tưởng tốt đẹp nhất của các nhà tư tưởng của [53] thời đại. Giai đoạn này không ở quá xa phía trước như các bạn có thể tưởng, đặc biệt nếu bước đi đầu tiên theo hướng này được thực hiện bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
This first move involves a right comprehension of goodwill. These three systems, which are the three major systems, correspond to the three major rays of synthesis, of idealism, and of intelligence, which are only other names for the rays of Will or Power, of Love-Wisdom and of Active Intelligence.
Bước đi đầu tiên này bao hàm một sự thấu hiểu đúng đắn về thiện chí. Ba hệ thống này, là ba hệ thống chủ yếu, tương ứng với ba cung chủ yếu của tổng hợp, của lý tưởng, và của trí tuệ, vốn chỉ là những tên gọi khác của các cung Ý Chí hay Quyền Năng, của Bác Ái – Minh Triết và của Trí Tuệ Hoạt Động.
4. Government by dictatorship. This type of government divides itself into three parts:
4. Sự cai trị bằng độc tài. Loại chính quyền này tự chia thành ba phần:
a. Rule by a monarchy, limited usually today by the will of the people, or rather by the politicians of the period, but symbolic of the ultimate rule of the Hierarchy under the Kingship of the Lord of the World.
a. Sự cai trị bởi một chế độ quân chủ, ngày nay thường bị giới hạn bởi ý chí của nhân dân, hay đúng hơn là bởi các chính trị gia của thời kỳ đó, nhưng mang tính biểu tượng cho sự cai trị tối hậu của Thánh đoàn dưới Vương quyền của Đức Chúa Tể Thế Giới.
b. Rule by the leader of some democratic country, who is usually called a president, or by some statesman (no matter by what name he may choose to be called) who is frequently an idealist, though limited by his faulty human nature, by the period in which he lives, by his advisors, and by the widespread corruption and selfishness. A study of such men who have held office in this capacity, made by a fair-minded neutral, will usually demonstrate the fact that they held office under the influence of some idea, which was in itself intrinsically right (no matter how applied), which was forward-moving in its concept, and belonged to the then new age. This relates them to the second ray.
b. Sự cai trị bởi người lãnh đạo của một quốc gia dân chủ nào đó, người thường được gọi là tổng thống, hoặc bởi một chính khách nào đó (bất kể ông có thể chọn được gọi bằng tên gì) thường là một nhà lý tưởng, dù bị giới hạn bởi bản chất con người đầy khiếm khuyết của ông, bởi thời kỳ ông sống, bởi các cố vấn của ông, và bởi sự bại hoại cùng ích kỷ lan rộng. Một nghiên cứu về những người như vậy đã nắm giữ chức vụ trong cương vị này, do một người trung lập công tâm thực hiện, thường sẽ chứng minh sự kiện rằng họ nắm giữ chức vụ dưới ảnh hưởng của một ý tưởng nào đó, vốn tự thân là đúng đắn về bản chất (bất kể được áp dụng ra sao), có tính tiến bộ trong quan niệm, và thuộc về kỷ nguyên mới lúc bấy giờ. Điều này liên hệ họ với cung hai.
c. Rule by dictators, whose animating principle is not one of the new age ideals, emerging in their particular time, but an idealism of a more material kind—a generally recognised present idealism. They are not usually reactionary nor are they found among the intuitive workers of their age, but they take what is grounded, settled and easily available—made so by the thinkers of their time—and then give it a material, national and selfish twist and objective, and so force it on the masses [54] by fear, warlike means and material promises. They belong, therefore, more practically to the third ray methods of work, for they are intelligent, expedient, and materially constructive. True idealism, involving as it must the new age patterns, and religious incentives are lacking in their techniques. Nevertheless, they do lead the race on another step, for they have a mass effect in evoking thought, and sometimes eventual resistance, as the result of that thought.
c. Sự cai trị bởi các nhà độc tài, mà nguyên lý thúc đẩy của họ không phải là một trong những lý tưởng của kỷ nguyên mới đang xuất hiện trong thời đại riêng của họ, mà là một thứ lý tưởng mang tính vật chất hơn—một lý tưởng hiện tại được công nhận rộng rãi. Họ thường không phải là những kẻ phản động, cũng không được tìm thấy giữa những người hoạt động trực giác của thời đại họ, nhưng họ lấy những gì đã được đặt nền, ổn định và dễ có sẵn—được làm như vậy bởi các nhà tư tưởng của thời họ—rồi trao cho nó một sự bẻ cong và mục tiêu vật chất, quốc gia và ích kỷ, và như thế áp đặt nó lên quần chúng [54] bằng sợ hãi, phương tiện chiến tranh và những hứa hẹn vật chất. Vì vậy, trên thực tế họ thuộc nhiều hơn về các phương pháp làm việc của cung ba, vì họ thông minh, quyền biến và có tính xây dựng về mặt vật chất. Chủ nghĩa lý tưởng chân chính, vốn tất yếu bao hàm các mô hình của kỷ nguyên mới, và các động lực tôn giáo, đều thiếu vắng trong kỹ thuật của họ. Tuy nhiên, họ vẫn dẫn dắt nhân loại tiến thêm một bước nữa, vì họ có tác động quần chúng trong việc khơi dậy tư tưởng, và đôi khi là sự kháng cự cuối cùng, như kết quả của tư tưởng đó.
Later we shall study these and other ways of governing, and analyse their ordinary modern expressions and future spiritual correspondences. These will some day appear on earth as a result of the many experiments today going on. Remember this.
Về sau chúng ta sẽ nghiên cứu những cách cai trị này và những cách khác, và phân tích các biểu hiện hiện đại thông thường của chúng cùng các tương ứng tinh thần trong tương lai. Một ngày nào đó những điều này sẽ xuất hiện trên trái đất như kết quả của nhiều cuộc thử nghiệm đang diễn ra ngày nay. Hãy nhớ điều này.
As I earlier said, the processes of education, of law and of government are so closely allied and so definitely related that if ever the work of this fifth group reaches a stage where it is indeed a germ of a new age organism (and many such groups will necessarily appear in the different countries of the world), it will be found that they will act as a clearing house or a linking body between the educators of the time, those whose task it is to enforce the law, and the statesmen who are chosen by the educated masses to formulate the laws whereby they should be governed. It will be apparent, therefore, along what three lines of study and work the members of this fifth group will proceed. These I will not further elaborate in this place.
Như tôi đã nói trước đây, các tiến trình giáo dục, pháp luật và chính quyền liên kết chặt chẽ với nhau và liên hệ xác định đến mức nếu công việc của nhóm thứ năm này có bao giờ đạt đến một giai đoạn mà nó thực sự là mầm của một cơ thể của kỷ nguyên mới (và tất yếu sẽ có nhiều nhóm như vậy xuất hiện ở các quốc gia khác nhau trên thế giới), thì người ta sẽ thấy rằng họ sẽ hoạt động như một trung tâm thanh toán bù trừ hay một cơ thể liên kết giữa các nhà giáo dục của thời đại, những người có nhiệm vụ thực thi pháp luật, và các chính khách được quần chúng có học thức chọn để hình thành các luật lệ theo đó họ phải được cai trị. Vì vậy, sẽ rõ ràng là các thành viên của nhóm thứ năm này sẽ tiến hành theo ba đường lối nghiên cứu và công việc nào. Tôi sẽ không khai triển thêm điều này ở đây.
In view of the steady progress towards religious unity which has proceeded apace during the past 150 years, the work of the sixth group (religion in the new age), as is also the case with the first group (telepathic communication) promises rapid results. This is, however, necessarily dependent upon the “skill in action” and the willingness of the group members and allied groups to proceed with slowness and tact.
Xét theo sự tiến bộ vững chắc hướng tới sự hợp nhất tôn giáo đã diễn ra nhanh chóng trong suốt 150 năm qua, công việc của nhóm thứ sáu (tôn giáo trong kỷ nguyên mới), cũng như trường hợp của nhóm thứ nhất (giao tiếp viễn cảm), hứa hẹn những kết quả nhanh chóng. Tuy nhiên, điều này tất yếu phụ thuộc vào “kỹ năng trong hành động” và sự sẵn lòng của các thành viên nhóm cùng các nhóm liên kết để tiến hành một cách chậm rãi và khéo léo.
The moment any idea enters the religious field, it gains immediate momentum from the fact that the outstanding [55] characteristic of the human consciousness is the sense of the Innermost or the Real, a recognition of subjective destiny, and an innate knowledge of and reaching out to the Unknown God. Therefore, any truth or presentation of truth or method which has in it the possibility of producing a nearer approach to divinity or a more rapid understanding of the “deeper Being” evokes an immediate response and reaction. There is consequently much need for caution and considered action.
Ngay khi bất kỳ ý tưởng nào đi vào lĩnh vực tôn giáo, nó lập tức có được đà tiến từ sự kiện rằng đặc tính nổi bật [55] của tâm thức con người là cảm nhận về Đấng Nội Tại Nhất hay Thực Tại, một sự nhận biết định mệnh chủ quan, và một tri thức bẩm sinh về Thượng đế Vô Danh cùng sự vươn tới Ngài. Vì vậy, bất kỳ chân lý hay sự trình bày chân lý hay phương pháp nào có trong nó khả năng tạo ra một sự tiếp cận gần hơn với thiên tính hoặc một sự thấu hiểu nhanh hơn về “Bản Thể sâu xa hơn” đều gợi lên một đáp ứng và phản ứng tức thì. Do đó, rất cần sự thận trọng và hành động cân nhắc.
I have already indicated to you the form that the religion of the new age will take (See The Reappearance of the Christ). It will be built around the periods of the Full Moon, wherein certain great Approaches will be made to the world of reality, also around two periods of massed Approaches to be made at the time of the major eclipse of the moon and of the sun during the year. The two major Full Moon Approaches will be those of the Wesak Full Moon and the Full Moon of June—one hitherto consecrated to the Buddha Who embodied the wisdom of God, and the other to the Bodhisattva (known to Christians as the Christ) Who embodied the love of God.
Tôi đã chỉ cho các bạn hình thức mà tôn giáo của kỷ nguyên mới sẽ mang lấy (Xem The Reappearance of the Christ). Nó sẽ được xây dựng quanh các thời kỳ Trăng Tròn, trong đó một số cuộc Tiếp Cận lớn lao sẽ được thực hiện đến thế giới thực tại, và cũng quanh hai thời kỳ của những cuộc Tiếp Cận tập thể sẽ được thực hiện vào lúc nguyệt thực lớn và nhật thực lớn trong năm. Hai cuộc Tiếp Cận Trăng Tròn chủ yếu sẽ là Trăng Tròn Wesak và Trăng Tròn tháng Sáu—một từ trước đến nay được thánh hiến cho Đức Phật, Đấng hiện thân minh triết của Thượng đế, và cuộc kia cho Đức Bồ Tát (được các tín đồ Cơ Đốc biết đến là Đức Christ), Đấng hiện thân tình thương của Thượng đế.
The platform of the new world religion will have in it three major presentations of truth, or three major doctrines, if such an undesirable word can be permitted. It is with the elaboration of these three points of view, or evocations of truth, that the work of the sixth group of disciples will be concerned. They are:
Nền tảng của tôn giáo thế giới mới sẽ có trong nó ba sự trình bày chân lý chủ yếu, hay ba giáo lý chủ yếu, nếu có thể cho phép dùng một từ không mấy đáng mong muốn như vậy. Chính với việc khai triển ba quan điểm này, hay ba sự gợi lên chân lý này, mà công việc của nhóm đệ tử thứ sáu sẽ liên quan. Chúng là:
1. The fact of the Spirit of God, both transcendent and immanent, will be demonstrated, and also a similar fact in relation to man. The mode of their approach to each other, via the soul, will be indicated. This aspect of the emerging truth might be called Transcendental Mysticism.
1. Sự kiện về Tinh thần của Thượng đế, vừa siêu việt vừa nội tại, sẽ được chứng minh, và một sự kiện tương tự cũng sẽ được chứng minh liên quan đến con người. Phương thức tiếp cận lẫn nhau của họ, qua linh hồn, sẽ được chỉ ra. Phương diện này của chân lý đang xuất hiện có thể được gọi là Thần Bí Học Siêu Việt.
2. The fact of the divine quality of the Forces in nature and in man and the method of their utilisation for divine purposes by man. This might be called Transcendental Occultism. [56]
2. Sự kiện về phẩm tính thiêng liêng của các mãnh lực trong bản chất và trong con người, cùng phương pháp con người sử dụng chúng cho các mục đích thiêng liêng. Điều này có thể được gọi là Huyền Bí Học Siêu Việt. [56]
3. The fact, implied in the first, that Humanity, as a Whole, is an expression of divinity, a complete expression, plus the allied fact of the divine nature and work of the planetary Hierarchy, and the mode of the Approach of these two groups, in group form, to each other. This might be called Transcendental Religion.
3. Sự kiện, được hàm ý trong điểm thứ nhất, rằng Nhân loại, như một Tổng Thể, là một biểu hiện của thiên tính, một biểu hiện trọn vẹn, cộng với sự kiện liên hệ về bản chất thiêng liêng và công việc của Thánh đoàn hành tinh, và phương thức Tiếp Cận của hai nhóm này, trong hình thức nhóm, đến với nhau. Điều này có thể được gọi là Tôn Giáo Siêu Việt.
More than this I will not here indicate as I seek to touch briefly upon the remaining three groups. I will, however, point out that we shall elaborate somewhat the Technique of the Presence of God, approaching it from a new angle, that of the Group, and also upon the Technique of Light. Two lesser Techniques I have at times called to your attention and with these we will later deal, for they are in the nature of approaches to the other two—the Technique of Indifference and the Technique of Service (See Glamour: A World Problem). As we study the divine Approaches, we shall see that they involve two parties or two groups—those found on the objective and those on the subjective side of life.
Ngoài điều này tôi sẽ không chỉ thêm ở đây vì tôi tìm cách chạm ngắn gọn đến ba nhóm còn lại. Tuy nhiên, tôi sẽ chỉ ra rằng chúng ta sẽ khai triển phần nào Kỹ Thuật của Hiện Diện của Thượng đế, tiếp cận nó từ một góc độ mới, đó là góc độ của Nhóm, và cũng sẽ khai triển Kỹ Thuật Ánh sáng. Có hai Kỹ Thuật nhỏ hơn mà đôi khi tôi đã gọi sự chú ý của các bạn đến, và về sau chúng ta sẽ đề cập đến chúng, vì chúng có bản chất là những sự tiếp cận đến hai Kỹ Thuật kia—Kỹ Thuật Điềm Nhiên và Kỹ Thuật Phụng sự (Xem Glamour: A World Problem). Khi chúng ta nghiên cứu các cuộc Tiếp Cận thiêng liêng, chúng ta sẽ thấy rằng chúng bao hàm hai bên hay hai nhóm—những người ở phía khách quan và những người ở phía chủ quan của sự sống.
The work of the seventh group, which is in the field of science, is closely allied to that of the seventh ray and is one with a most practical physical purpose. It is strictly magical in its technique, and this technique is intended to produce a synthesis between the three aspects of divinity upon the physical plane, or between life, the solar energies and the lunar forces. This involves a difficult task and much understanding; the work to be done is not easy to comprehend. It will be carried forward by first ray workers, assisted by seventh ray aspirants, but using fifth ray methods. They will thus combine, in their personnel, the work of the destroyer of outgrown forms, the findings of the scientists who penetrated behind the outer form to its motivating energy, and the practical work of the magician who—under the law—creates the new forms, as expressions of the inflowing life.
Công việc của nhóm thứ bảy, hoạt động trong lĩnh vực khoa học, liên hệ chặt chẽ với cung bảy và là một công việc có mục đích hồng trần hết sức thực tiễn. Nó hoàn toàn mang tính huyền thuật trong kỹ thuật của nó, và kỹ thuật này nhằm tạo ra một sự tổng hợp giữa ba phương diện của thiên tính trên cõi hồng trần, hay giữa sự sống, các năng lượng thái dương và các lực thái âm. Điều này bao hàm một nhiệm vụ khó khăn và nhiều sự thấu hiểu; công việc phải làm không dễ lĩnh hội. Nó sẽ được tiến hành bởi những người hoạt động cung một, được các người chí nguyện cung bảy trợ giúp, nhưng sử dụng các phương pháp cung năm. Như vậy, trong nhân sự của mình, họ sẽ kết hợp công việc của kẻ hủy diệt các hình tướng đã lỗi thời, các phát hiện của các nhà khoa học đã xuyên qua phía sau hình tướng bên ngoài đến năng lượng thúc đẩy nó, và công việc thực tiễn của nhà huyền thuật, người—dưới định luật—tạo ra các hình tướng mới như những biểu hiện của sự sống đang tuôn vào.
[57] This group of disciples will make a close study of the problem of evil, and they will bring about a better understanding of the purpose existing in matter or substance, and the inflowing enlightened and different purpose of the soul aspect. That is why (in my earlier discussion of the subject) I linked the results of religion and of science together; religion is concerned with the awakening to conscious purpose of the soul in man or form, whilst science is concerned with the activity of the outer form as it lives its own life, yet slowly becomes subservient to that purpose and to soul impress. This is the thought contained in the words “scientific service” as used by me. The work of this group is therefore a triple one:
[57] Nhóm đệ tử này sẽ nghiên cứu kỹ vấn đề điều ác, và họ sẽ mang lại một sự thấu hiểu tốt hơn về mục đích hiện hữu trong vật chất hay chất liệu, và mục đích được soi sáng và khác biệt đang tuôn vào của phương diện linh hồn. Đó là lý do tại sao (trong phần bàn luận trước đây của tôi về đề tài này) tôi đã liên kết các kết quả của tôn giáo và khoa học với nhau; tôn giáo liên quan đến sự thức tỉnh đến mục đích hữu thức của linh hồn trong con người hay hình tướng, trong khi khoa học liên quan đến hoạt động của hình tướng bên ngoài khi nó sống đời sống riêng của nó, nhưng chậm rãi trở nên phục tùng mục đích ấy và sự ghi nhận của linh hồn. Đây là tư tưởng chứa đựng trong các từ “phụng sự khoa học” như tôi đã dùng. Vì vậy, công việc của nhóm này có tính tam phân:
1. They will take the most advanced inferences of the workers in the field of science, and will then formulate the new hypotheses upon which the next immediate steps forward in any particular scientific field will be founded.
1. Họ sẽ lấy những suy luận tiến bộ nhất của những người hoạt động trong lĩnh vực khoa học, rồi hình thành những giả thuyết mới trên đó các bước tiến tức thời tiếp theo trong bất kỳ lĩnh vực khoa học riêng biệt nào sẽ được đặt nền.
2. They will avail themselves of the sensitive reactions which the new spiritual Approaches (as taught by the world religion of the time) will have made possible and—utilising the inferences thus made available in connection with the inner world of spirit—will outline the nature of the incoming forces which will determine and motivate the culture of the time.
2. Họ sẽ tận dụng những phản ứng nhạy bén mà các cuộc Tiếp Cận tinh thần mới (như được giảng dạy bởi tôn giáo thế giới của thời đại) sẽ làm cho khả thi và—sử dụng những suy luận nhờ đó trở nên sẵn có liên quan đến thế giới nội tại của tinh thần—sẽ phác họa bản chất của các mãnh lực đang đi vào, những mãnh lực sẽ quyết định và thúc đẩy nền văn hóa của thời đại.
3. Taking the substance or material, and the spiritual inferences and the scientific hypotheses, they will formulate those forms of service on the physical plane which will precipitate with rapidity the Plan for the immediate present. They will release through this blend of scientific knowledge and intuitive idealism, those energies which will further human interests, relate the subhuman to the human through a right interplay of forces, and thus clear the way of those intellectual impediments which will (and always have) blocked man’s approach to the superhuman world.
3. Lấy chất liệu hay vật liệu, cùng những suy luận tinh thần và các giả thuyết khoa học, họ sẽ hình thành những hình thức phụng sự trên cõi hồng trần, những hình thức sẽ ngưng tụ nhanh chóng Thiên Cơ cho hiện tại trước mắt. Qua sự pha trộn giữa tri thức khoa học và chủ nghĩa lý tưởng trực giác này, họ sẽ giải phóng những năng lượng sẽ thúc đẩy các lợi ích của nhân loại, liên hệ cái dưới nhân loại với cái nhân loại qua một sự tương tác đúng đắn của các mãnh lực, và nhờ đó dọn đường khỏi những chướng ngại trí tuệ vốn sẽ (và luôn luôn đã) ngăn cản sự tiếp cận của con người đến thế giới siêu nhân.
I doubt that it will be possible to do much in connection with the forming of this group, and this for several reasons. [58] The first is that such a group cannot be formed until a certain scientific discovery has been made of such moment that our present scientific inhibition in recognising the fact of the soul as a creative factor, will disappear. This discovery will be part of the acknowledged “facts of science” by the year 1975. Secondly, A.A.B. has not the necessary scientific knowledge to do more than grasp the broader outlines of the intended work, and then only primarily from the angle of the more mystical and philosophical approaches. Nor, my brothers, have I. It will take a fifth or seventh ray initiate to deal with this matter, and though I could invoke the assistance of such a brother, it does not seem to me a profitable expenditure of force at this time. The sigh of relief from A.A.B. as she grasps the fact that there is one less group to tackle on my and your behalf would almost warrant my making this a major reason!
Tôi nghi ngờ rằng sẽ có thể làm được nhiều điều liên quan đến việc hình thành nhóm này, và điều đó vì vài lý do. [58] Lý do thứ nhất là một nhóm như vậy không thể được hình thành cho đến khi một khám phá khoa học nào đó có tầm quan trọng đến mức sự ức chế khoa học hiện nay của chúng ta trong việc công nhận sự kiện linh hồn như một yếu tố sáng tạo sẽ biến mất. Khám phá này sẽ là một phần của các “sự kiện khoa học” được thừa nhận vào năm 1975. Thứ hai, A.A.B. không có tri thức khoa học cần thiết để làm hơn là nắm được những nét đại cương của công việc được dự định, và ngay cả như vậy cũng chủ yếu từ góc độ của những tiếp cận thần bí và triết học hơn. Huynh đệ của Tôi, tôi cũng vậy. Sẽ cần đến một điểm đạo đồ cung năm hoặc cung bảy để xử lý vấn đề này, và dù tôi có thể khẩn cầu sự trợ giúp của một huynh đệ như vậy, điều đó dường như không phải là một sự tiêu dùng mãnh lực có lợi vào lúc này. Tiếng thở phào nhẹ nhõm của A.A.B. khi bà nắm được sự kiện rằng có bớt đi một nhóm để giải quyết thay cho tôi và các bạn gần như đủ để biện minh cho việc tôi biến điều này thành một lý do chính!
Let us now pass on to a brief indication of the work of the eighth group, which is psychological service. In this field the work will be lifted out of the realm of the strictly human and will concern itself with wider issues—for, my brothers—there are wider issues than those which concern the human family alone. The work of these disciples will cover the following three issues:
Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang một chỉ dẫn ngắn gọn về công việc của nhóm thứ tám, tức phụng sự tâm lý học. Trong lĩnh vực này, công việc sẽ được nâng ra khỏi phạm vi hoàn toàn nhân loại và sẽ quan tâm đến những vấn đề rộng lớn hơn—vì, Huynh đệ của Tôi—có những vấn đề rộng lớn hơn những vấn đề chỉ liên quan đến riêng gia đình nhân loại. Công việc của các đệ tử này sẽ bao gồm ba vấn đề sau:
1. The relation of the human soul to the subhuman kingdoms in nature and the place of the human kingdom as an intermediary between the three higher kingdoms and the three lower.
1. Mối liên hệ của linh hồn con người với các giới dưới nhân loại trong bản chất và vị trí của giới nhân loại như một trung gian giữa ba giới cao hơn và ba giới thấp hơn.
2. The quality of the soul in the three subhuman kingdoms, with particular emphasis upon the animal and the vegetable kingdoms. The consciousness of the mineral kingdom is so far removed from the human that it is not possible for us to formulate anything about it in words, or to identify ourselves with it until after the expansion of consciousness which takes place after the third initiation—that of the Transfiguration. [59]
2. Phẩm tính của linh hồn trong ba giới dưới nhân loại, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào giới động vật và giới thực vật. Tâm thức của giới kim thạch quá xa với con người đến mức chúng ta không thể diễn đạt điều gì về nó bằng ngôn từ, hay đồng hoá với nó cho đến sau sự mở rộng tâm thức diễn ra sau lần điểm đạo thứ ba—đó là Biến hình. [59]
3. A study of the Plan, as it appears at this time to be working out in the five kingdoms in nature. It will be apparent to you that the teaching connected with this group will be more definitely and academically occult in its significance than will be the case in the others, for it will be based upon information contained in The Secret Doctrine and in A Treatise on Cosmic Fire. It will be founded upon certain premises contained in those volumes. Therefore, the members of this group of disciples will be of the more orthodox persuasion; they will be theosophists by nature, and academic by disposition.
3. Một nghiên cứu về Thiên Cơ, như hiện nay dường như đang được triển khai trong năm giới trong bản chất. Các bạn sẽ thấy rõ rằng giáo huấn liên hệ với nhóm này sẽ xác định hơn và có tính huyền bí học hàn lâm hơn về ý nghĩa so với các nhóm khác, vì nó sẽ dựa trên thông tin chứa trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Nó sẽ được đặt nền trên một số tiền đề chứa trong các bộ sách ấy. Vì vậy, các thành viên của nhóm đệ tử này sẽ thuộc khuynh hướng chính thống hơn; họ sẽ là những nhà Thông Thiên Học theo bản chất, và có khuynh hướng hàn lâm theo thiên hướng.
The nature of the anima mundi, the fact of the subjective consciousness found in all forms without exception, and the existence of an interplay between these forms, through the medium of the soul, will be the major theme. Soul sensitivity and reaction to the energy in any form will be the training objective of the group members. Owing to the difficulty of this task, the members of this eighth group will be chosen from the personnel of the other groups, for they will have had a fair measure of training in their preliminary work. Two groups will then be interlocking groups—that which is formed of the key people in all the groups, and this one.
Bản chất của anima mundi, sự kiện về tâm thức chủ quan được tìm thấy trong mọi hình tướng không ngoại lệ, và sự hiện hữu của một sự tương tác giữa các hình tướng này, qua trung gian của linh hồn, sẽ là chủ đề chính. Sự nhạy cảm của linh hồn và phản ứng với năng lượng trong bất kỳ hình tướng nào sẽ là mục tiêu huấn luyện của các thành viên nhóm. Do tính khó khăn của nhiệm vụ này, các thành viên của nhóm thứ tám này sẽ được chọn từ nhân sự của các nhóm khác, vì họ sẽ đã có một mức huấn luyện khá trong công việc sơ bộ của mình. Khi đó sẽ có hai nhóm đan xen nhau—nhóm được hình thành từ những người chủ chốt trong tất cả các nhóm, và nhóm này.
The ninth group, whose project is financial service, will be one of the most practical and interesting from the standpoint of the present world situation and modern conditions. I may begin to organise this group before long, provided some of my disciples show me the subjective signs for which I look, which involves a right understanding and spiritual appreciation of money. By this I do not mean that any of you who do show such signs will be in this group, but you will provide the right conditions which will make its inception possible; one or two of the key people, however, may form part of the financial service group if the plan works out as hoped and intended.
Nhóm thứ chín, có dự án là phụng sự tài chính, sẽ là một trong những nhóm thực tiễn và thú vị nhất xét theo quan điểm của tình hình thế giới hiện nay và các điều kiện hiện đại. Có lẽ chẳng bao lâu nữa tôi sẽ bắt đầu tổ chức nhóm này, với điều kiện một số đệ tử của tôi cho tôi thấy những dấu hiệu chủ quan mà tôi đang tìm kiếm, điều này bao hàm một sự thấu hiểu đúng đắn và một sự đánh giá tinh thần về tiền bạc. Bởi điều này tôi không có ý rằng bất kỳ ai trong các bạn biểu lộ những dấu hiệu như vậy sẽ ở trong nhóm này, nhưng các bạn sẽ cung cấp những điều kiện đúng đắn làm cho sự khởi đầu của nó trở nên khả thi; tuy nhiên, một hoặc hai người chủ chốt có thể tạo thành một phần của nhóm phụng sự tài chính nếu kế hoạch diễn ra như hy vọng và dự định.
The task to be undertaken by this group is to study the significance of money as directed and appropriated [60] energy. This direction of force produces concretisation, and the work is then in the field of magical endeavour. As with the work of the other groups, the task to be carried out falls into three categories of endeavour:
Nhiệm vụ mà nhóm này sẽ đảm nhận là nghiên cứu ý nghĩa của tiền bạc như năng lượng được định hướng và được chiếm dụng [60]. Sự định hướng mãnh lực này tạo ra sự cụ thể hóa, và khi đó công việc nằm trong lĩnh vực nỗ lực huyền thuật. Cũng như công việc của các nhóm khác, nhiệm vụ phải thực hiện rơi vào ba loại nỗ lực:
1. The effort to understand the nature of prana or of vital etheric energy, and the three qualities which distinguish it; these are (as you well know) inertia, activity and rhythm or—giving them their Hindu names—tamas, rajas and sattva. When the mineral wealth of the world was undiscovered and unused, we had the stage of tamas at its deepest and most inert point. Much concerning money today is related to the karma and destiny of the mineral kingdom. With this, however, we need not here concern ourselves. The processes of the pranic life were originally carried out in the realm of barter and the exchange of that which is found upon the surface of the earth and later went down into the depths, thus bringing into fluidity the deepest and densest expression (from the human standpoint) of divinity. This is a point to be remembered.
1. Nỗ lực thấu hiểu bản chất của prana hay năng lượng dĩ thái sinh lực, và ba phẩm tính phân biệt nó; đó là (như các bạn đều biết rõ) quán tính, hoạt động và nhịp điệu hay—nêu tên theo tiếng Hindu của chúng—tamas, rajas và sattva. Khi của cải khoáng sản của thế giới chưa được khám phá và chưa được sử dụng, chúng ta có giai đoạn tamas ở điểm sâu nhất và trì trệ nhất của nó. Nhiều điều liên quan đến tiền bạc ngày nay có liên hệ với nghiệp quả và định mệnh của giới kim thạch. Tuy nhiên, ở đây chúng ta không cần quan tâm đến điều đó. Các tiến trình của sự sống prana ban đầu được thực hiện trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa và sự trao đổi những gì được tìm thấy trên bề mặt trái đất, rồi về sau đi xuống các chiều sâu, nhờ đó đưa vào tính linh động biểu hiện sâu nhất và đậm đặc nhất (theo quan điểm con người) của thiên tính. Đây là một điểm cần ghi nhớ.
Today the process is being reversed and money is connected with the produce of the vegetable kingdom in the form of paper money, founded upon the mineral wealth of the world. This is an interesting subjective reality to have in mind.
Ngày nay tiến trình đang bị đảo ngược và tiền bạc được liên kết với sản phẩm của giới thực vật dưới hình thức tiền giấy, đặt nền trên của cải khoáng sản của thế giới. Đây là một thực tại chủ quan thú vị cần ghi nhớ.
2. A study of the processes whereby money has been steadily deflected from personal uses, both in the good and in the evil sense.
2. Một nghiên cứu về các tiến trình nhờ đó tiền bạc đã đều đặn bị chuyển hướng khỏi các mục đích cá nhân, cả theo nghĩa tốt lẫn nghĩa xấu.
I do not, however, intend to write a treatise upon finance. It would largely be a record of man’s dire selfishness, but I seek to deal with money as the Hierarchy sees the problem, and to consider it as a form of energy, prostituted at this time to material ends or to the selfish aspirations and ambitions of well-meaning servers. They are limited in their view and need to get a picture of the possibilities inherent in the present situation which could deflect much of this form of concretised divine energy into constructive channels and “ways of light.” [61]
Tuy nhiên, tôi không có ý viết một luận thuyết về tài chính. Phần lớn nó sẽ là một bản ghi chép về tính ích kỷ khủng khiếp của con người, nhưng tôi tìm cách bàn đến tiền bạc như Thánh đoàn nhìn thấy vấn đề, và xem nó như một hình thức năng lượng, hiện đang bị làm đồi bại để phục vụ các mục đích vật chất hoặc các khát vọng và tham vọng ích kỷ của những người phụng sự đầy thiện ý. Họ bị giới hạn trong tầm nhìn của mình và cần có được một bức tranh về những khả năng vốn có trong tình thế hiện nay, điều có thể chuyển hướng phần lớn hình thức năng lượng thiêng liêng đã cụ thể hóa này vào những kênh xây dựng và “những con đường ánh sáng.” [61]
3. A study of the Law of Supply and Demand, so that there can be made available for the Masters’ work through the medium of the world disciples (of pure motive and skill in action and tried responsibility) that which is needed, and, my brothers, sorely needed by Them.
3. Một nghiên cứu về Định luật Cung và Cầu, để điều cần thiết có thể được làm cho sẵn có cho công việc của các Chân sư qua trung gian các đệ tử thế gian (có động cơ thanh khiết, kỹ năng trong hành động và trách nhiệm đã được thử thách), và, Huynh đệ của Tôi, là điều Các Ngài đang rất cần.
Money has been deflected into entirely material ends, even in its philanthropic objectives. The most spiritual use now to be found in the world is the application of money to the purposes of education. When it is turned away from the construction of the form side and the bringing about solely of material well-being of humanity and deflected from its present channels into truly spiritual foundations much good will be done, the philanthropic ends and the educational objectives will not suffer, and a step forward will be made. This time is not yet, but the spiritualising of money and its massing in quantities for the work of the Great Ones, the Disciples of the Christ, is part of a much needed world service and can now make a satisfactory beginning; but it must be carried forward with spiritual insight, right technique and true understanding. Purity of motive and selflessness are taken for granted.
Tiền bạc đã bị chuyển hướng vào những mục đích hoàn toàn vật chất, ngay cả trong các mục tiêu từ thiện của nó. Việc sử dụng có tính tinh thần nhất hiện nay được tìm thấy trong thế giới là việc áp dụng tiền bạc cho các mục đích giáo dục. Khi nó được chuyển khỏi việc xây dựng mặt hình tướng và chỉ mang lại phúc lợi vật chất cho nhân loại, và được chuyển khỏi các kênh hiện tại của nó vào những nền tảng thực sự tinh thần, nhiều điều tốt đẹp sẽ được thực hiện, các mục đích từ thiện và các mục tiêu giáo dục sẽ không bị tổn hại, và một bước tiến sẽ được thực hiện. Thời điểm này vẫn chưa đến, nhưng việc tinh thần hóa tiền bạc và tập trung nó với số lượng lớn cho công việc của Các Đấng Cao Cả, các Đệ tử của Đức Christ, là một phần của sự phụng sự thế giới rất cần thiết và hiện nay có thể bắt đầu một cách thỏa đáng; nhưng nó phải được tiến hành với linh thị tinh thần, kỹ thuật đúng đắn và sự thấu hiểu chân chính. Sự thanh khiết của động cơ và tính vô ngã được xem là điều đương nhiên.
~
~
THE IMMEDIATE TASK
NHIỆM VỤ TRƯỚC MẮT
September 28, 1938
Ngày 28 tháng 9 năm 1938
The Hierarchy is deeply concerned over world events. I am asked to request you to continue with the goodwill work at all costs and in the face of all obstacles. The nucleus already formed must be preserved. The New Group of World Servers must preserve its integrity and work undismayed. All is not yet lost. The steadiness of those who know God’s Plan will help humanity and aid the efforts of the Elder Brothers. They are those who love and do not hate and who work for unity—both subjective and spiritual.
Thánh đoàn hết sức quan tâm đến các biến cố thế giới. Tôi được yêu cầu đề nghị các bạn tiếp tục công việc thiện chí bằng mọi giá và trước mọi chướng ngại. Hạt nhân đã được hình thành phải được bảo tồn. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải giữ gìn tính toàn vẹn của mình và làm việc không nao núng. Mọi sự vẫn chưa mất. Sự kiên định của những người biết Thiên Cơ của Thượng đế sẽ giúp nhân loại và hỗ trợ các nỗ lực của các Huynh Trưởng. Họ là những người yêu thương và không thù ghét, và làm việc cho sự hợp nhất—cả chủ quan lẫn tinh thần.
This is all I can say at this time, for the Hierarchy itself knows not which forces will prevail. They know that good must ultimately triumph but They do not know what [62] the immediate future holds for humanity because men determine their own courses. The Law of Cause and Effect can seldom be offset. In those cases where it has been offset, it has required the intervention of Forces greater than those available at this time upon the planet. Those greater Forces can intervene if the world aspirants make their voices penetrate. Will this be possible? The forces of destruction, militating against the Forces of good, have (to use your American phrase) “cornered” the money assets of the world and have turned the tide of prana—which automatically crystallises into money and in the financial wealth of the world—towards entirely material, separative and personal ends. It is not easily available, therefore, for the spread and culture of goodwill and this applies equally to the money which is in the hands of aspirants, as in the hands of those who are purely selfishly minded. So many aspirants have not learnt to give with sacrifice. If you can reach some of the financial abundance and deflect it towards the ends of the Great White Lodge of which the Christ is the Master, it will be, at this time, one of the most constructive things you can do to help.
Đó là tất cả những gì tôi có thể nói vào lúc này, vì chính Thánh đoàn cũng không biết lực lượng nào sẽ thắng thế. Các Ngài biết rằng điều thiện cuối cùng phải chiến thắng nhưng Các Ngài không biết [62] tương lai trước mắt nắm giữ điều gì cho nhân loại vì con người tự quyết định con đường của mình. Định luật Nhân Quả hiếm khi có thể được hóa giải. Trong những trường hợp nó đã được hóa giải, điều đó đòi hỏi sự can thiệp của những Mãnh Lực lớn hơn những mãnh lực hiện có sẵn trên hành tinh vào lúc này. Những Mãnh Lực lớn hơn ấy có thể can thiệp nếu những người chí nguyện thế giới làm cho tiếng nói của họ xuyên thấu. Điều này có thể chăng? Các lực lượng hủy diệt, chống lại các Mãnh Lực của điều thiện, đã (dùng cụm từ của người Mỹ các bạn) “thâu tóm” các tài sản tiền bạc của thế giới và đã chuyển dòng prana—vốn tự động kết tinh thành tiền bạc và thành của cải tài chính của thế giới—về phía những mục đích hoàn toàn vật chất, phân ly và cá nhân. Vì vậy, nó không dễ sẵn có cho sự lan truyền và nuôi dưỡng thiện chí, và điều này áp dụng ngang nhau cho tiền bạc trong tay những người chí nguyện cũng như trong tay những kẻ hoàn toàn có tâm trí ích kỷ. Quá nhiều người chí nguyện chưa học được cách cho đi với sự hi sinh. Nếu các bạn có thể tiếp cận một phần sự dồi dào tài chính và chuyển hướng nó về các mục đích của Thánh đoàn, mà Đức Christ là Chân sư của đoàn ấy, thì vào lúc này đó sẽ là một trong những điều có tính xây dựng nhất mà các bạn có thể làm để giúp đỡ.
In this time of stress and strain, my brothers, I would remind all aspirants and disciples that there is no need for the sense of futility or for the registration of littleness. The seed groups that will function in the new age are, at this time, in the dark and growing stage and in the process of expansion, working silently. This stage is, however, most important for according to the healthiness of the seeds and their ability to cast strong roots downwards and to penetrate slowly and steadily upwards into the light, so will be the adequacy of their contribution to the new age which is upon us. I would emphasise that fact to you. The New Age is upon us and we are witnessing the birth pangs of the new culture and the new civilisation. This is now in progress. That which is old and undesirable must go and of these undesirable things, hatred and the spirit of separation must be the first to go.
Trong thời kỳ căng thẳng và áp lực này, Huynh đệ của Tôi, tôi muốn nhắc tất cả những người chí nguyện và các đệ tử rằng không cần có cảm giác vô ích hay sự ghi nhận về sự nhỏ bé. Các nhóm hạt giống sẽ hoạt động trong kỷ nguyên mới hiện đang ở trong giai đoạn tối tăm và tăng trưởng, và trong tiến trình mở rộng, làm việc trong im lặng. Tuy nhiên, giai đoạn này cực kỳ quan trọng vì tùy theo sự lành mạnh của các hạt giống và khả năng của chúng đâm rễ mạnh xuống dưới và xuyên lên chậm rãi nhưng vững chắc vào ánh sáng, thì sự đóng góp của chúng cho kỷ nguyên mới đang ở trước mắt chúng ta sẽ tương xứng như vậy. Tôi muốn nhấn mạnh sự kiện đó với các bạn. Kỷ Nguyên Mới đang ở trước mắt chúng ta và chúng ta đang chứng kiến những cơn đau sinh nở của nền văn hóa mới và nền văn minh mới. Điều này hiện đang diễn ra. Điều gì cũ kỹ và không đáng mong muốn phải ra đi, và trong những điều không đáng mong muốn ấy, thù hận và tinh thần phân ly phải là những điều đầu tiên ra đi.
I told you before that accidents to individuals are the [63] result, usually, of an explosion of force and that these explosions are caused by the hatreds and the unkind thoughts and the critical words of those involved in the accident. The world situation today is not caused by the ambitions of any one person or race, or by the materialism, aggression and pride of any particular nation. It is not basically the result of the wrong economic conditions existing in the world at this time. It is caused entirely by the widespread hatred in the world—hatred of people and of races, hatred of individuals and of those in power, or of influence, and hatred of ideas and of religious beliefs. Fundamentally, it is caused by the separative attitudes of all peoples and races who, down the centuries and also today, have hated each other and loved themselves. It is caused by people in every country, who have sought to cast the blame for conditions on everyone except themselves, and who have diligently sought for scapegoats whereby they may feel personal immunity for their share in the wrong thinking, the wrong speaking and the wrong doing.
Trước đây tôi đã nói với các bạn rằng những tai nạn đối với cá nhân [63] thường là kết quả của một sự bùng nổ mãnh lực và rằng những sự bùng nổ này do những hận thù, những tư tưởng bất thiện và những lời nói chỉ trích của những người liên quan đến tai nạn gây ra. Tình hình thế giới ngày nay không do tham vọng của bất kỳ một cá nhân hay nhân loại nào, hay do chủ nghĩa duy vật, sự xâm lược và kiêu hãnh của bất kỳ quốc gia riêng biệt nào gây ra. Về căn bản, nó không phải là kết quả của những điều kiện kinh tế sai lầm đang tồn tại trong thế giới vào lúc này. Nó hoàn toàn do sự thù ghét lan rộng trong thế giới gây ra—thù ghét con người và các nhân loại, thù ghét các cá nhân và những người nắm quyền lực hay có ảnh hưởng, và thù ghét các ý tưởng cùng các tín ngưỡng tôn giáo. Về căn bản, nó do các thái độ phân ly của mọi dân tộc và mọi nhân loại gây ra, những kẻ qua nhiều thế kỷ và cả ngày nay đã ghét nhau và yêu chính mình. Nó do những người ở mọi quốc gia gây ra, những kẻ đã tìm cách đổ lỗi cho mọi người trừ chính họ về các điều kiện hiện tại, và đã siêng năng tìm kiếm những vật tế thần để nhờ đó họ có thể cảm thấy mình được miễn trách nhiệm cá nhân đối với phần của họ trong tư tưởng sai lầm, lời nói sai lầm và hành động sai lầm.
This fact should be grasped and faced by all aspirants and disciples, including the members of the seed groups. They are not immune from the prevalent failings and many of them have sought to apportion the blame for world conditions and to criticise those who are seeking, in their own way and fashion, to deal with the situation. Clear thinking, a clear appraisal of causes and a loving outgoing to all, should distinguish all disciples at this time. Where this attitude does not exist, there is ever the danger of absorption into the vortex of hatred and separativeness and the divorcing of the person by this (even if only temporarily) from the vortex of love. This spells danger and glamour. The very fact that disciples are all so pronouncedly individual, intensifies their reactions, good and bad.
Sự kiện này nên được tất cả những người chí nguyện và các đệ tử nắm bắt và đối diện, kể cả các thành viên của các nhóm hạt giống. Họ không miễn nhiễm với những lỗi lầm phổ biến và nhiều người trong số họ đã tìm cách phân chia trách nhiệm về các điều kiện thế giới và chỉ trích những người đang tìm cách, theo cách thức và phương pháp riêng của họ, xử lý tình hình. Tư duy sáng suốt, sự đánh giá sáng suốt về các nguyên nhân, và sự tuôn ra đầy yêu thương đến với tất cả, nên là những điều phân biệt mọi đệ tử vào lúc này. Nơi nào thái độ này không hiện hữu, ở đó luôn có nguy cơ bị cuốn vào xoáy nước của hận thù và tính phân ly, và do đó con người bị tách khỏi xoáy nước của tình thương (dù chỉ tạm thời). Điều này báo hiệu nguy hiểm và ảo cảm. Chính sự kiện rằng tất cả các đệ tử đều quá rõ rệt là những cá nhân riêng biệt làm tăng cường các phản ứng của họ, cả tốt lẫn xấu.
I stand almost bewildered (did I not know and love human nature so well) at the little advance in loving thinking that some disciples have shown. It is time now, in the face of the difficulty and seeming inadequacy, to begin the intended group work, if such a beginning is ever to be made. [64] Each group has been organised to fulfil a specific task. This united group work has not yet been started. That task must be begun.
Tôi gần như bối rối (nếu tôi không biết và yêu bản chất con người quá rõ) trước sự tiến bộ ít ỏi trong tư tưởng yêu thương mà một số đệ tử đã biểu lộ. Giờ đây đã đến lúc, trước khó khăn và sự bất cập dường như hiện hữu, bắt đầu công việc nhóm đã được dự định, nếu một sự khởi đầu như vậy có bao giờ được thực hiện. [64] Mỗi nhóm đã được tổ chức để hoàn thành một nhiệm vụ chuyên biệt. Công việc nhóm hợp nhất này vẫn chưa được bắt đầu. Nhiệm vụ ấy phải được khởi sự.
Group One can telepathically influence leading people and speak to their minds so that they may be impressed with the need which has been described by one of the Great Ones as “the loving salvage of the world.” They must be led to realise that their policies must be determined by world good. The success that the group had in helping... indicated their ability to be constructively useful.
Nhóm Một có thể ảnh hưởng viễn cảm đến những người lãnh đạo và nói với trí tuệ của họ để họ có thể được ghi nhận bởi nhu cầu đã được một trong Các Đấng Cao Cả mô tả là “sự cứu vớt thế giới bằng tình thương.” Họ phải được dẫn dắt để chứng nghiệm rằng các chính sách của họ phải được quyết định bởi thiện ích thế giới. Thành công mà nhóm đã có trong việc giúp... cho thấy khả năng của họ trong việc hữu ích một cách xây dựng.
Group Two can work, if they are willing, in a constructive fashion to end some of the world glamour. This they can do because several of the group members have successfully fought glamour in their lives.
Nhóm Hai có thể làm việc, nếu họ sẵn lòng, theo cách xây dựng để chấm dứt một phần ảo cảm của thế giới. Họ có thể làm điều này vì một số thành viên của nhóm đã chiến đấu thành công với ảo cảm trong đời sống của họ.
Group Three can begin group healing under direction, once certain interior adjustments have been made.
Nhóm Ba có thể bắt đầu chữa lành theo nhóm dưới sự chỉ đạo, một khi một số điều chỉnh nội tại đã được thực hiện.
Group Four can attempt to aid in the building of the world antahkarana, working of course in group formation. This they can do if they divorce themselves, as individuals, from all separative ideas and learn to work in the spirit of love and with a conscious decentralisation of their personalities.
Nhóm Bốn có thể cố gắng hỗ trợ trong việc xây dựng antahkarana của thế giới, dĩ nhiên làm việc trong hình thức nhóm. Họ có thể làm điều này nếu họ tách mình, với tư cách cá nhân, khỏi mọi ý tưởng phân ly và học cách làm việc trong tinh thần tình thương và với một sự phi tập trung vào bản thân hữu thức của các phàm ngã của họ.
There are, my brothers, weaknesses to be found in all the group members. Personality tendencies and errors exist and the mistakes which involve, primarily, a man’s own interests and his own internal life; but these constitute no serious detriment to group work, for they can be overcome or rendered entirely superficial with a very little effort. Impatience with the results already achieved, a feeling of smug superiority, certain physical failings and personal ambitions of a superficial kind are present in several members in all of the groups. And in each group, at this time, there is one member whose difficulties are of a more serious nature, because they constitute a true detriment to the group life, providing (as they do) entrance for forces which do, most definitely, hold back the flow of spiritual life and prevent the work of a group nature moving forward to accomplishment. In these cases, what can I do?
Có, Huynh đệ của Tôi, những yếu kém được tìm thấy trong tất cả các thành viên nhóm. Các khuynh hướng và sai lầm của phàm ngã hiện hữu, và những lỗi lầm chủ yếu liên quan đến lợi ích riêng của một người và đời sống nội tại riêng của y; nhưng những điều này không cấu thành sự tổn hại nghiêm trọng cho công việc nhóm, vì chúng có thể được vượt qua hoặc trở nên hoàn toàn hời hợt chỉ với một nỗ lực rất nhỏ. Sự thiếu kiên nhẫn với những kết quả đã đạt được, cảm giác tự mãn về sự vượt trội, một số khiếm khuyết thể xác và những tham vọng cá nhân thuộc loại hời hợt hiện diện nơi một số thành viên trong tất cả các nhóm. Và trong mỗi nhóm, vào lúc này, có một thành viên mà những khó khăn của người ấy có bản chất nghiêm trọng hơn, vì chúng cấu thành một sự tổn hại thực sự cho đời sống nhóm, tạo ra (như chúng đang làm) lối vào cho những lực lượng thật sự, rất xác định, kìm hãm dòng chảy của sự sống tinh thần và ngăn cản công việc có tính nhóm tiến tới thành tựu. Trong những trường hợp này, tôi có thể làm gì?
[65] First of all, I must exert infinite patience and give to each person full time for change. This I have done—for years in some cases, and have thereby taxed the patience of the group members who were not implicated in the particular situation and weakness, and who longed to begin group work. The lesson of patience has not been lost and I would remind the group members that if they ever hope to have hierarchical standing, they must learn that love and that patience which can wait—thinking no evil and fostering only good.
[65] Trước hết, tôi phải vận dụng sự kiên nhẫn vô hạn và dành cho mỗi người trọn thời gian để thay đổi. Điều này tôi đã làm—trong nhiều năm ở một số trường hợp, và nhờ đó đã thử thách sự kiên nhẫn của các thành viên nhóm không dính líu đến tình huống và yếu kém riêng biệt ấy, và những người mong mỏi bắt đầu công việc nhóm. Bài học về sự kiên nhẫn đã không bị mất đi, và tôi muốn nhắc các thành viên nhóm rằng nếu họ có bao giờ hy vọng có được vị thế trong Thánh đoàn, họ phải học tình thương và sự kiên nhẫn có thể chờ đợi ấy—không nghĩ điều ác và chỉ nuôi dưỡng điều thiện.
I made clear to you this year that a drastic reorganisation might be in order and that the groups might have to be rearranged somewhat before the united group work could be carried forward. This reorganisation seems now to me to be unavoidable. It is not final. It does not touch the enduring, unchanging relation which has been established and which will persist among all of you eternally. Nothing can basically separate you.
Năm nay tôi đã nói rõ với các bạn rằng một sự tái tổ chức quyết liệt có thể là cần thiết và rằng các nhóm có thể phải được sắp xếp lại phần nào trước khi công việc nhóm hợp nhất có thể được tiến hành. Giờ đây đối với tôi sự tái tổ chức này dường như là không thể tránh khỏi. Nó không phải là cuối cùng. Nó không đụng chạm đến mối liên hệ bền vững, bất biến đã được thiết lập và sẽ tồn tại giữa tất cả các bạn một cách vĩnh cửu. Không gì có thể tách rời các bạn về căn bản.
The objective of the work of these seed groups is to familiarise people with the hierarchical Plan as it is working out today in this time of crisis. In these last three words you have the theme which is of paramount importance to you at this time. Is it? Your work is partly to dispel illusion, but primarily to impress the Plan upon the consciousness of the leading people in the world. It has seemed to us that this crisis is more keenly realised by worldly people than it is by world aspirants, who do have a slight vision of the objectives. Those who are not oriented to the spiritual Hierarchy and to the Path are now largely dedicated to activities of a world nature (either good or what you call bad) and this is not true of the world aspirants. They, instead of working actively to bring about the accomplishment of the ends indicated by the Plan (which are of a spiritual nature and unifying in their effect, breeding not hatred and separativeness, but world understanding and fusion) spend their time in speculation, in criticism of the various world leaders and in fearful foreboding—none of which is in the least helpful and, in the last analysis, is definitely [66] harmful. This harmfulness is due to a powerfully directed thoughtform, constructed by men and women of a certain aptitude in spiritual advancement.
Mục tiêu của công việc của các nhóm hạt giống này là làm cho con người quen thuộc với Thiên Cơ của Thánh đoàn như nó đang được triển khai ngày nay trong thời kỳ khủng hoảng này. Trong ba từ cuối cùng ấy các bạn có chủ đề có tầm quan trọng tối thượng đối với các bạn vào lúc này. Có phải vậy không? Công việc của các bạn một phần là làm tiêu tan ảo tưởng, nhưng chủ yếu là ghi khắc Thiên Cơ lên tâm thức của những người lãnh đạo trong thế giới. Đối với chúng tôi, dường như cuộc khủng hoảng này được những người thế tục nhận ra sâu sắc hơn là những người chí nguyện thế giới, những người quả có một linh thị nhỏ về các mục tiêu. Những người không được định hướng đến Thánh đoàn Tinh Thần và đến Con Đường hiện nay phần lớn đang hiến mình cho các hoạt động có tính thế giới (hoặc tốt hoặc điều các bạn gọi là xấu), và điều này không đúng với những người chí nguyện thế giới. Thay vì hoạt động tích cực để mang lại sự hoàn thành các cứu cánh được Thiên Cơ chỉ ra (vốn có bản chất tinh thần và có tác dụng hợp nhất, không sinh ra hận thù và tính phân ly mà là sự thấu hiểu thế giới và sự dung hợp), họ lại dành thời gian vào suy đoán, chỉ trích các nhà lãnh đạo thế giới khác nhau và lo sợ điềm gở—không điều nào trong số đó giúp ích dù chỉ chút ít và, xét cho cùng, rõ ràng là [66] có hại. Tính có hại này là do một hình tư tưởng được định hướng mạnh mẽ, do những người nam và nữ có một năng lực nhất định trong sự tiến bộ tinh thần xây dựng nên.
The responsibility of thought is little grasped as yet by those who are numbered among the world aspirants; yet their thought-making activity is now either definitely constructive or potentially destructive. I hesitate to enlarge upon this theme, owing to the probable personality reactions which those who read these words may generate. I am, therefore, speaking here of the world in general and not so specifically of the world aspirants and pledged workers.
Trách nhiệm của tư tưởng vẫn còn ít được nắm bắt bởi những người được kể vào số những người chí nguyện thế giới; tuy nhiên, hoạt động tạo tư tưởng của họ hiện nay hoặc rõ ràng có tính xây dựng hoặc tiềm tàng có tính hủy diệt. Tôi ngần ngại khai triển thêm chủ đề này, do những phản ứng phàm ngã có thể xảy ra mà những người đọc các lời này có thể tạo ra. Vì vậy, ở đây tôi đang nói về thế giới nói chung chứ không quá chuyên biệt về những người chí nguyện thế giới và những người hoạt động đã cam kết.