Trích nội dung chương
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
TCF 733-747: S7S1
22 March – 6 April 2008
22 tháng 3 – 6 tháng 4 năm 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.
Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.
1. We now undertake the great theme of incarnation, but on a cosmic and planetary scale as well as the human scale.
1. Giờ đây chúng ta đảm nhận chủ đề lớn về sự nhập thể, nhưng trên quy mô vũ trụ và hành tinh cũng như trên quy mô con người.
c. On Incarnation.
c. Về sự nhập thể.
(a.) Cosmic, Planetary and Human. We leave now the consideration of self-consciousness, as it is produced through the medium of the particular type of deva substance which the Agnishvattas provided for the body of the Ego, and pass on to the study of incarnation, cosmic, planetary and human.
(a.) Vũ trụ, Hành tinh và Con người. Giờ đây chúng ta rời việc xem xét ngã thức, như nó được tạo ra qua trung gian của loại chất liệu thiên thần đặc thù mà các Agnishvatta đã cung cấp cho thể của chân ngã, và chuyển sang nghiên cứu sự nhập thể, ở cấp vũ trụ, hành tinh và con người.
2. If we study these words carefully, certain points emerge.
2. Nếu chúng ta nghiên cứu cẩn thận những lời này, một số điểm sẽ nổi lên.
a. Self-consciousness is produced through the medium of a particular type of deva substance. Self-consciousness is a modification of consciousness per se, and without this type of deva substance (inducing the quality of “I-ness”), the resultant consciousness would not be Self-consciousness.
a. Ngã thức được tạo ra qua trung gian của một loại chất liệu thiên thần đặc thù. Ngã thức là một biến đổi của chính tâm thức, và nếu không có loại chất liệu thiên thần này (gây ra phẩm tính “tính tôi”), thì tâm thức kết quả sẽ không phải là ngã-thức.
b. The Agnishvattas provided this type of substance.
b. Các Agnishvatta đã cung cấp loại chất liệu này.
c. The substance provided is part of the body of the Ego.
c. Chất liệu được cung cấp là một phần của thể của chân ngã.
d. The Ego is, therefore, not (as usually understood) an Agnishvatta or a collection of Agnishvattas, but is something which uses the substance provided by the Agnishvattas for its body.
d. Vì vậy, chân ngã không phải (như thường được hiểu) là một Agnishvatta hay một tập hợp các Agnishvatta, mà là một cái gì đó sử dụng chất liệu do các Agnishvatta cung cấp làm thể của mình.
e. The Ego, in fact, is the consciousness indwelling the body provided for it by the Agnishvattas. The Ego, really, is the spiritual triad which is an extension of the Monad but is often considered to be that which (as an extension of the Monad/Triad) expresses itself on the higher mental plane through the vehicle which the Agnishvattas have provided.
e. Thật ra, chân ngã là tâm thức ngự bên trong thể được các Agnishvatta cung cấp cho nó. Thực sự, chân ngã là Tam nguyên tinh thần, vốn là một sự mở rộng của chân thần nhưng thường được xem là cái mà (như một sự mở rộng của chân thần/Tam nguyên tinh thần) biểu lộ chính nó trên Cõi thượng trí qua vận cụ mà các Agnishvatta đã cung cấp.
A hint as to the constitution of these solar Pitris and Manasadevas may come to the student who ponders upon the place of the egoic unit in the body of the planetary Logos, and in the particular centre of which it forms a component part.
Một gợi ý về cấu tạo của các thái dương tổ phụ này và Manasadevas có thể đến với đạo sinh nào suy ngẫm về vị trí của đơn vị chân ngã trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế, và trong trung tâm đặc thù mà nó tạo thành một thành phần cấu thành.
3. Are we to consider Agnishvattas as distinct from Manasadevas? The use of the word “and” strongly suggests this possibility.
3. Chúng ta có nên xem các Agnishvatta là khác biệt với Manasadevas không? Việc dùng chữ “và” gợi ý mạnh mẽ khả năng này.
4. Monads are as cells within the centers of a Planetary Logos. Egoic units are also constituents of the centers of a Planetary Logos, but the centers are of a different (and, probably, lower) order.
4. Các chân thần như những tế bào bên trong các trung tâm của một Hành Tinh Thượng Đế. Các đơn vị chân ngã cũng là những thành phần cấu thành của các trung tâm của một Hành Tinh Thượng Đế, nhưng các trung tâm ấy thuộc một cấp khác (và có lẽ thấp hơn).
5. Whereas Monads may form centers found upon the monadic plane, egoic units are constituents of lower centers (on the higher mental plane) which are but reflections of the higher or monadic centers.
5. Trong khi các chân thần có thể tạo thành các trung tâm được tìm thấy trên cõi chân thần, thì các đơn vị chân ngã là những thành phần cấu thành của các trung tâm thấp hơn (trên Cõi thượng trí), vốn chỉ là những phản chiếu của các trung tâm cao hơn hay chân thần.
These Manasadevas and Dhyan Chohans who produce self-consciousness in man are indeed the energy and substance of the cosmic Man.
Các Manasadevas và các Dhyan Chohan tạo ra ngã thức nơi con người quả thật là năng lượng và chất liệu của Đấng Thiên Nhân vũ trụ.
6. A Heavenly Man is a cosmic Being.
6. Một Đấng Thiên Nhân là một Hữu thể vũ trụ.
7. Since Solar Angels, Manasadevas and Dhyan Chohans all produce self-consciousness in man, these three terms must (in this context) refer to the same type of being. We know little, however, about hierarchical rank within the Fifth Creative Hierarchy, so some of the terms we usually think of as identical may indicate beings of differing spiritual status within the same Creative Hierarchy.
7. Vì các Thái dương Thiên Thần, Manasadevas và các Dhyan Chohan đều tạo ra ngã thức nơi con người, nên ba thuật ngữ này phải (trong ngữ cảnh này) chỉ cùng một loại hữu thể. Tuy nhiên, chúng ta biết rất ít về thứ bậc huyền giai bên trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, nên một số thuật ngữ mà chúng ta thường nghĩ là đồng nhất có thể chỉ những hữu thể có địa vị tinh thần khác nhau trong cùng một Huyền Giai Sáng Tạo.
8. As the Solar Angels, Manasadevas and Dhyan Chohans all came into our planet from Venus and from the Heart of the Sun, we must question, “for which of the Heavenly Men are they energy and substance?” If for the Planetary Logos of the Earth-scheme, then it would seem that they would be appropriated energy and substance originating, for instance, within Venus or the Heart of the Sun.
8. Vì các Thái dương Thiên Thần, Manasadevas và các Dhyan Chohan đều đến hành tinh chúng ta từ Sao Kim và từ Trái Tim của Mặt Trời, nên chúng ta phải đặt câu hỏi: “chúng là năng lượng và chất liệu cho Đấng Thiên Nhân nào?” Nếu là cho Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Trái Đất, thì dường như chúng sẽ là năng lượng và chất liệu được chiếm dụng, chẳng hạn có nguồn gốc từ Sao Kim hay từ Trái Tim của Mặt Trời.
9. The origin (from within the Sun) of these great Beings is well established. The Solar Angels are Beings essentially more solar than planetary even though, after emanation from the Sun, they function as energy and substance within a Planetary Logos or “cosmic Heavenly Man”).
9. Nguồn gốc (từ bên trong Mặt Trời) của các Hữu thể vĩ đại này đã được xác lập rõ. Các Thái dương Thiên Thần về bản chất là những Hữu thể thái dương hơn là hành tinh, dù sau khi phát xạ từ Mặt Trời, các Ngài hoạt động như năng lượng và chất liệu bên trong một Hành Tinh Thượng Đế hay “Đấng Thiên Nhân vũ trụ”).
The word "incarnation" in its root meaning conveys the fundamental truth involved in the taking of a dense physical body, and should technically be applied only to that period of manifestation which concerns the three lower subplanes of the:
Từ “nhập thể” trong ý nghĩa gốc rễ của nó chuyển tải chân lý nềntảng liên quan đến việc tiếp nhận một thể xác đậm đặc, và về mặt kỹ thuật chỉ nên được áp dụng cho giai đoạn biểu hiện liên quan đến ba cõi phụ thấp của:
10. DK places certain limitations upon our understanding of the word “incarnation”. The terms always relates to the taking of a dense physical body within the lower three subplanes of a particular kind of etheric-physical plane.
10. Chân sư DK đặt ra một số giới hạn cho sự hiểu biết của chúng ta về từ “nhập thể”. Thuật ngữ này luôn liên hệ đến việc tiếp nhận một thể xác đậm đặc trong ba cõi phụ thấp của một loại cõi dĩ thái-hồng trần đặc thù.
a. Cosmic physical plane, in relation to a solar Logos and to a planetary Logos.
a. Cõi hồng trần vũ trụ, liên hệ với một Thái dương Thượng đế và với một Hành Tinh Thượng Đế.
11. For a Solar Logos, we would be dealing with the lower twenty-one subplanes.
11. Đối với một Thái dương Thượng đế, chúng ta sẽ bàn đến hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn.
12. For a Planetary Logos, we would be dealing with the lower eighteen subplanes.
12. Đối với một Hành Tinh Thượng Đế, chúng ta sẽ bàn đến mười tám cõi phụ thấp hơn.
b. Systemic physical plane, in relation to man.
b. Cõi hồng trần hệ thống, liên hệ với con người.
13. In this case, we are speaking of the lower three systemic subplanes—the densest systemic physical subplane, the liquid systemic physical subplane, and the gaseous systemic physical subplane.
13. Trong trường hợp này, chúng ta đang nói đến ba cõi phụ hệ thống thấp hơn — cõi phụ hồng trần hệ thống đậm đặc nhất, cõi phụ hồng trần hệ thống lỏng, và cõi phụ hồng trần hệ thống khí.
This connotation has been preserved where the cosmic entities are concerned, but when man is under consideration the term [incarnation] has been applied to the unification of the etheric double with the dense physical body, or to the appropriation by man of the vehicle composed of the [Page 733] substance of the lowest subplane of the cosmic physical plane in its lowest aspects.
Hàm nghĩa này đã được giữ nguyên khi liên quan đến các thực thể vũ trụ, nhưng khi xét đến con người thì thuật ngữ [incarnation] đã được áp dụng cho sự hợp nhất của bản sao dĩ thái với thể xác đậm đặc, hay cho việc con người chiếm dụng vận cụ được cấu thành từ chất [Trang 733]liệu của cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ trong các phương diện thấp nhất của nó.
14. The meaning of the term “incarnation” as it applies to man is slightly different from the meaning of the term when applied to a Solar Logos or Planetary Logos.
14. Ý nghĩa của thuật ngữ “nhập thể” khi áp dụng cho con người hơi khác với ý nghĩa của thuật ngữ này khi áp dụng cho một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng Đế.
15. According to this understanding, man is in incarnation when his consciousness is immersed in both the lower three (or densest) subplanes of the cosmic physical plane and the four etheric subplanes of the physical subplane of the cosmic physical plane.
15. Theo cách hiểu này, con người đang nhập thể khi tâm thức của y chìm đắm trong cả ba cõi phụ thấp hơn (hay đậm đặc hơn) của cõi hồng trần vũ trụ và bốn cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần thuộc cõi hồng trần vũ trụ.
This distinction has a certain significance and should be remembered. This appropriation is governed by the same laws which governed the appropriation by the Logos of His physical vehicle.
Sự phân biệt này có một ý nghĩa nhấtđịnh và nên được ghi nhớ. Sự chiếm dụng này được chi phối bởi cùng những định luật đã chi phối sự chiếm dụng vận cụ hồng trần của Thượng đế.
16. We are to remember that man’s incarnation includes the systemic ethers, but that the incarnation of the Solar Logos or Planetary Logos does not include the cosmic ethers.
16. Chúng ta cần nhớ rằng sự nhập thể của con người bao gồm các dĩ thái hệ thống, nhưng sự nhập thể của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng Đế thì không bao gồm các dĩ thái vũ trụ.
In order to get an idea of what the procedure is, it might be of value if we considered the different kinds of pralaya, and pondered upon those periods which ensue between incarnations.
Để có được một ý niệm về thủ tục này là gì, sẽ có giá trị nếu chúng ta xem xét các loại pralaya khác nhau, và suy ngẫm về những giai đoạn tiếp theo giữa các lần nhậpthể.
17. There are many such pralayas, the vast majority beyond our range of comprehension. How shall we speak of the pralaya of a Cosmic Logos or of a Super-Cosmic Logos, or of a Galactic Logos, and beyond?
17. Có rất nhiều pralaya như thế, đại đa số vượt ngoài tầm thấu hiểu của chúng ta. Làm sao chúng ta có thể nói về pralaya của một Thượng đế Vũ trụ hay của một Thượng đế Siêu Vũ trụ, hay của một Thượng đế Ngân Hà, và còn hơn thế nữa?
18. Fortunately, we do not have to consider such vast periods.
18. May thay, chúng ta không phải xem xét những giai đoạn bao la như vậy.
From the point of view of any unit involved, a pralaya is a period of quiescence, of cessation from a particular type of activity, involving objectivity, yet from the point of view of the great whole with which the unit may be involved, a pralaya may be considered merely as a transference of force from one direction into another.
Theo quan điểm của bất kỳ đơn vị nào có liên quan, một pralaya là một giai đoạn tĩnh lặng, ngưng dứt một loại hoạt động đặc thù, có liên quan đến tính khách quan, nhưng theo quan điểm của toàn thể lớn lao mà đơn vị ấy có thể dự phần, một pralaya có thể được xem chỉ đơn thuần như sự chuyển dịch mãnh lực từ một hướng sang một hướng khác.
19. A pralaya may be no quiescence at all. During pralaya there may be a cessation of objective activity, but what of subjective activity?
19. Một pralaya có thể hoàn toàn không phải là sự tĩnh lặng. Trong pralaya có thể có sự ngưng dứt hoạt động khách quan, nhưng còn hoạt động chủ quan thì sao?
Though the unit may be temporarily devitalised as regards its form, yet the greater Entity persists, and is still active.
Dù đơn vị có thể tạm thời bị mất sinh lực xét về hình tướng của nó, thực thể lớn hơn vẫn tồn tại và vẫn hoạt động.
20. And the lesser entity who has experienced a transference of force may be active in a new way within that “greater Entity”.
20. Và thực thể nhỏ hơn đã trải qua một sự chuyển dịch mãnh lực có thể hoạt động theo một cách mới bên trong “thực thể lớn hơn” ấy.
21. Pralaya and the dynamic of ‘objective devitalization’ go hand in hand.
21. Pralaya và động lực của “sự mất sinh lực khách quan” đi đôi với nhau.
Let us take up the matter first from the human standpoint, and study pralaya as it affects the Monad in incarnation.
Chúng ta hãy bàn đến vấn đề này trước hết từ quan điểm con người, và nghiên cứu pralaya khi nó ảnh hưởng đến chân thần đang nhập thể.
22. We recall that “incarnation” (as regards the human unit) includes expression within the systemic ethers as well as through the three lowest of the systemic physical subplanes.
22. Chúng ta nhớ rằng “nhập thể” (xét về đơn vị con người) bao gồm sự biểu lộ trong các dĩ thái hệ thống cũng như qua ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống.
Footnote 44 (See S. D., I, 397-398.)
Cước chú 44 (Xem G. L. B. N., I, 397-398.)
There are fundamentally three kinds of Pralaya.
Về căn bản có ba loại Pralaya.
1. Solar pralaya.This comes at the end of one hundred years of Brahma. It marks reabsorption into unity. It marks end of manifestation of solar system. Concerns the solar Logos.
1. Thái dương pralaya.Điều này đến vào cuối một trăm năm của Brahma. Nó đánh dấu sự tái hấp thu vào hợp nhất. Nó đánh dấu sự chấm dứt biểu hiện của hệ mặt trời. Liên quan đến Thái dương Thượng đế.
23. From the human perspective, this is a pralaya of vast duration, but from the truly cosmic perspective, it is a the blinking of an eye.
23. Từ góc nhìn con người, đây là một pralaya có thời lượng vô cùng lớn, nhưng từ góc nhìn thật sự vũ trụ, đó chỉ là một cái chớp mắt.
24. We can see that in this type of occultism, the period known as “one hundred years of Brahma” is taken very seriously. It is hard to conceive of it as a symbolic figure.
24. Chúng ta có thể thấy rằng trong loại huyền bí học này, giai đoạn được biết là “một trăm năm của Brahma” được xem trọng một cách nghiêm túc. Thật khó hình dung đó chỉ là một con số tượng trưng.
25. One the solar system has disappeared, it may be said that solar pralaya has begun, but perhaps the solar pralaya is not completed until the consciousness of the Solar Logos has returned to the solar logoic causal body.
25. Một khi hệ mặt trời đã biến mất, có thể nói rằng thái dương pralaya đã bắt đầu, nhưng có lẽ thái dương pralaya chưa hoàn tất cho đến khi tâm thức của Thái dương Thượng đế đã trở về thể nguyên nhân logoi thái dương.
2. Incidental pralaya.This succeeds the days of Brahma. It marks periods between manvantaras. Temporary form ceases but duality remains. Concerns a planetary Logos.
2. Pralaya ngẫu phát.Điều này tiếp nối các ngày của Brahma. Nó đánh dấu các giai đoạn giữa các giai kỳ sinh hóa. Hình tướng tạm thời chấm dứt nhưng nhị nguyên tính vẫn còn. Liên quan đến một Hành Tinh Thượng Đế.
26. We must wonder why the period known as the “year of Brahma” is not mentioned. From this perspective, “manvantaras” are “days of Brahma”.
26. Chúng ta phải tự hỏi vì sao giai đoạn được biết là “năm của Brahma” lại không được nhắc đến. Từ góc nhìn này, các “giai kỳ sinh hóa” là các “ngày của Brahma”.
27. Although the “day of Brahma” concerns a Planetary Logos, it is virtually impossible to think of the duration of a Planetary Logos as being less than a “year of Brahma”. In fact, it would seem that most Planetary Logoi must endure for many years of Brahma.
27. Mặc dù “ngày của Brahma” liên quan đến một Hành Tinh Thượng Đế, nhưng hầu như không thể nghĩ rằng thời lượng của một Hành Tinh Thượng Đế lại ít hơn một “năm của Brahma”. Thật ra, dường như phần lớn các Hành Tinh Thượng Đế phải tồn tại qua nhiều năm của Brahma.
28. Later, there is a discussion of the interval between globes as a “manvantara”. From this perspective, we must link what is here said about “incidental pralaya” with what is later said concerning the interval between globe activity.
28. Về sau, có một cuộc bàn luận về khoảng cách giữa các bầu hành tinh như một “giai kỳ sinh hóa”. Từ góc nhìn này, chúng ta phải liên kết điều được nói ở đây về “pralaya ngẫu phát” với điều được nói sau đó liên quan đến khoảng cách giữa hoạt động của các bầu hành tinh.
3. Individual pralaya.Achieved by a man at the fifth initiation. Marks attainment of perfection. Concerns the monad.
3. Cá nhân pralaya.Đạt được bởi một người ở lần điểm đạo thứ năm. Đánh dấu sự đạt đến hoàn hảo. Liên quan đến chân thần.
29. Mastership is here equated with “perfection”. What of Chohanship?
29. Ở đây, địa vị chân sư được đồng nhất với “sự hoàn hảo”. Thế còn địa vị Chohan thì sao?
30. What may the individual pralaya here discussed really be? May we say that it is the pralaya following the great cycle of incarnation in the fourth or human kingdom? Following this type of pralaya there would certainly be no need for incarnation in the fourth kingdom (and, thus, the idea of “devitalization” with respect to the lower three worlds). We may wonder why this type of pralaya would not begin at the fourth initiation. Perhaps only when there has been a ‘clearing of the debris’ remaining from the ‘fourth-initiation supernova’ is a man truly liberated from the lower twenty-one systemic subplanes.
30. Cá nhân pralaya được bàn ở đây thật sự có thể là gì? Chúng ta có thể nói rằng đó là pralaya tiếp theo sau chu kỳ lớn của sự nhập thể trong giới thứ tư hay giới nhân loại chăng? Sau loại pralaya này chắc chắn sẽ không còn cần sự nhập thể trong giới thứ tư nữa (và do đó, ý niệm về “mất sinh lực” đối với ba cõi thấp). Chúng ta có thể tự hỏi vì sao loại pralaya này lại không bắt đầu từ lần điểm đạo thứ tư. Có lẽ chỉ khi đã có một “sự dọn sạch đống đổ nát” còn lại từ “siêu tân tinh của lần điểm đạo thứ tư” thì con người mới thật sự được giải thoát khỏi hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp hơn.
31. Is much time spent in this particular type of pralaya? If so, how can we incorporate the idea that the duration between the fifth and sixth initiation may not be lengthy, though perhaps it may last a thousand years or two thousand years?
31. Có nhiều thời gian được trải qua trong loại pralaya đặc thù này không? Nếu có, làm sao chúng ta có thể dung hợp ý niệm rằng thời lượng giữa lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu có thể không dài, dù có lẽ có thể kéo dài một ngàn năm hay hai ngàn năm?
32. Or, does this type of pralaya simply indicate that, for the human Monad, life has now begun in earnest on the cosmic etheric planes and that life expression within the dense physical body of the Planetary Logos (and even Solar Logos) is no longer necessary. With respect to these lower subplanes, a kind of ‘death’ has ensued.
32. Hay loại pralaya này chỉ đơn giản cho thấy rằng, đối với chân thần con người, sự sống giờ đây đã thực sự bắt đầu trên các cõi dĩ thái vũ trụ và sự biểu lộ sự sống trong thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế (và ngay cả của Thái dương Thượng đế) không còn cần thiết nữa. Đối với các cõi phụ thấp hơn này, một loại “cái chết” đã xảy ra.
33. Some speculate that Master DK, Who took the fifth initiation in 1875 has already taken the sixth initiation. If this is the case, then the duration between the fifth and sixth initiations could be short, indeed. We may, however, speculate that the type of pralaya here discussed does not end with the onset of the sixth initiation or seventh, etc.
33. Một số người suy đoán rằng Chân sư DK, Đấng đã nhận lần điểm đạo thứ năm vào năm 1875, đã nhận lần điểm đạo thứ sáu rồi. Nếu đúng như vậy, thì thời lượng giữa lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu quả thật có thể ngắn. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy đoán rằng loại pralaya được bàn ở đây không chấm dứt khi bắt đầu lần điểm đạo thứ sáu hay thứ bảy, v.v.
34. In any case, what is the nature of a pralaya in which there is, apparently, no ‘rest’? If we are to consider the period following the fifth initiation as a pralayic period, we can see that within that pralaya there is a great deal of very useful activity, for a Master or Chohan is extremely busy on the cosmic etheric planes, though, perhaps, not so apparently active within the lower three worlds from which the fourth and fifth initiation have freed Him. Thus, He achieves a certain ‘rest’ with respect to the lower eighteen or twenty-one systemic subplanes.
34. Dù sao đi nữa, bản chất của một pralaya trong đó dường như không có “nghỉ ngơi” là gì? Nếu chúng ta xem giai đoạn sau lần điểm đạo thứ năm là một giai đoạn pralaya, chúng ta có thể thấy rằng bên trong pralaya ấy có rất nhiều hoạt động hết sức hữu ích, vì một Chân sư hay Chohan cực kỳ bận rộn trên các cõi dĩ thái vũ trụ, dù có lẽ không hoạt động rõ rệt đến thế trong ba cõi thấp mà lần điểm đạo thứ tư và thứ năm đã giải thoát Ngài khỏi đó. Như vậy, Ngài đạt được một sự “nghỉ ngơi” nhất định đối với mười tám hay hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp hơn.
35. Is this an example of the transference of energy from a sphere of objectivity to one of far deeper subjectivity? It would seem so.
35. Đây có phải là một ví dụ về sự chuyển dịch năng lượng từ một khối cầu khách quan sang một khối cầu chủ quan sâu xa hơn nhiều không? Dường như là như vậy.
36. One cannot specify too many details on these matters which are, at this time, beyond our ken.
36. Không thể nêu quá nhiều chi tiết về những vấn đề hiện nay còn vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.
There is also the pralaya in connection with human evolution which we call devachanic. It concerns the personality.
Cũng có pralaya liên quan đến tiến hoá con người mà chúng ta gọi là devachan. Nó liên quan đến phàm ngã.
37. It seemed curious that, when individual pralaya was mentioned, it was not the pralaya which occurs between human incarnations. We see that the name for such a pralaya is called “devachanic”.
37. Có vẻ lạ là khi cá nhân pralaya được nhắc đến, đó lại không phải là pralaya xảy ra giữa các lần nhập thể của con người. Chúng ta thấy rằng tên gọi của loại pralaya ấy là “devachan”.
38. May we, in a sense, assume that the true “Individual” is the Monad?
38. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể giả định rằng “Cá nhân” đích thực là chân thần chăng?
39. Presumably, if a disciple foregoes the type of experience called “devachan”, he does not experience this fourth type of pralaya. Once He is truly “on the Path”, ‘devachanic pralaya’ may become rare of non-existent.
39. Có lẽ, nếu một đệ tử từ bỏ loại kinh nghiệm được gọi là “devachan”, y không trải qua loại pralaya thứ tư này. Một khi Ngài thật sự “ở trên Con Đường”, “devachanic pralaya” có thể trở nên hiếm hoi hoặc không còn nữa.
There are five types of pralaya with which we may legitimately concern ourselves.
Có năm loại pralaya mà chúng ta có thể chính đángly quan tâm đến.
40. Thus far, four types have been mentioned.
40. Cho đến nay, bốn loại đã được nhắc đến.
41. We note the use of the word “legitimately”. Apparently there are types of pralaya which would be speculatively interesting, but our interest in them would not be spiritually profitable and, thus, legitimate.
41. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “chính đáng”. Rõ ràng có những loại pralaya mà việc quan tâm đến chúng sẽ thú vị về mặt suy đoán, nhưng sự quan tâm ấy sẽ không có lợi về mặt tinh thần và do đó không chính đáng.
We should notice first the fact that this condition is primarily one that concerns the relationship between Spirit and matter, in which a condition in substance is brought about through the action of the energising factor, the Spirit.
Trước hết chúng ta nên lưu ý sự kiện rằng trạng thái này chủ yếu là trạng thái liên quan đến mối quan hệ giữa Tinh thần và vật chất, trong đó một trạng thái trong chấtliệu được tạo ra qua tác động của nhân tố tiếp năng lượng, tức Tinh thần.
42. Here is a rather abstract definition of pralaya. Pralaya is a condition of abstraction from one condition of substance into another and higher, and this abstraction is brought about by the relation between Spirit and matter, and, more specifically, by the relationship of Spirit to matter.
42. Đây là một định nghĩa khá trừu tượng về pralaya. Pralaya là một trạng thái trừu xuất khỏi một điều kiện chất liệu sang một điều kiện khác và cao hơn, và sự trừu xuất này được tạo ra bởi mối quan hệ giữa Tinh thần và vật chất, và cụ thể hơn là bởi mối quan hệ của Tinh thần đối với vật chất.
It has, therefore, to do with the relation of the greater devas as They carry out Their work of form-building [Page 734] under the Law of Will of God to the lesser devas who represent living substance.
Vì vậy, nó liên quan đến mối quan hệ của các thiên thần lớn hơn khi Các Ngài thực hiện công việc kiến tạo hình tướng [Trang 734] dưới Định luật Ý Chí của Thượng Đế đối với các thiên thần nhỏ hơn là những vị đại diện cho chất liệu sống.
43. This is certainly an unusual angle on the subject. It is as if the “greater devas” are responsible for the abstraction of the Monad from the influence of the lesser devas.
43. Đây chắc chắn là một góc nhìn khác thường về chủ đề này. Dường như các “thiên thần lớn hơn” chịu trách nhiệm cho việc trừu xuất chân thần khỏi ảnh hưởng của các thiên thần nhỏ hơn.
44. We have to understand what it means to “represent” living substance. This is not necessarily the same as being living substance.
44. Chúng ta phải hiểu “đại diện cho” chất liệu sống có nghĩa là gì. Điều này không nhất thiết giống với việc là chất liệu sống.
45. Are the “greater devas” not, themselves, also working through living substance on the cosmic etheric planes?
45. Chẳng phải chính các “thiên thần lớn hơn” cũng đang hoạt động qua chất liệu sống trên các cõi dĩ thái vũ trụ sao?
46. From one perspective, the Solar Angel is a “greater deva”, and this Angel is (through the death process) responsible for cyclically abstracting the human consciousness from engagement with the lesser devas.
46. Từ một góc nhìn, Thái dương Thiên Thần là một “thiên thần lớn hơn”, và Thiên Thần này (qua tiến trình chết) chịu trách nhiệm trừu xuất theo chu kỳ tâm thức con người khỏi sự dấn nhập với các thiên thần nhỏ hơn.
47. What we call the human personality is, in a way, produced by the engagement of the Solar Angels with the Lunar Lords—i.e., the engagement of “greater devas” with lesser devas.
47. Điều mà chúng ta gọi là phàm ngã con người, theo một cách nào đó, được tạo ra bởi sự dấn nhập của các Thái dương Thiên Thần với các nguyệt tinh quân — tức là, sự dấn nhập của các “thiên thần lớn hơn” với các thiên thần nhỏ hơn.
It will be apparent to the student that it concerns the relation of the Holy Spirit to the Mother in the production of the Son, and then the relation of the Son to the Mother.
Đối với đạo sinh, sẽ hiển nhiên rằng điều này liên quan đến mối quan hệ của Chúa Thánh Thần với Mẹ trong việc tạo ra Người Con, và rồi đến mối quan hệ của Người Con với Mẹ.
48. The Holy Spirit, when compared to the energy or force of the Mother, is etheric.
48. Chúa Thánh Thần, khi được so sánh với năng lượng hay mãnh lực của Mẹ, là dĩ thái.
49. By means of the Holy Spirit, it becomes possible for the Son to manifest through the Mother.
49. Nhờ Chúa Thánh Thần, Người Con có thể biểu hiện qua Mẹ.
50. The Holy Spirit acts as a bridge of energy preparing the way for the coming of the Son.
50. Chúa Thánh Thần hoạt động như một cây cầu năng lượng chuẩn bị con đường cho sự xuất hiện của Người Con.
51. We should be alert to the fact that the subject of pralaya is being treated from a devic perspective, which is unusual.
51. Chúng ta nên tỉnh táo trước sự kiện rằng chủ đề pralaya đang được xử lý từ một góc nhìn thiên thần, điều này là khác thường.
52. From another perspective, the Holy Spirit energy is that of the cosmic ethers. When the energy of these ethers engages with the Mother energy (the energy of the lower eighteen systemic subplanes) the vehicle for the “Son” (the egoic lotus on the higher mental plane) is produced.
52. Từ một góc nhìn khác, năng lượng Chúa Thánh Thần là năng lượng của các dĩ thái vũ trụ. Khi năng lượng của các dĩ thái này dấn nhập với năng lượng Mẹ (năng lượng của mười tám cõi phụ hệ thống thấp hơn), vận cụ cho “Người Con” (hoa sen chân ngã trên Cõi thượng trí) được tạo ra.
53. From one perspective, the human physical body is a “son” caused by the interaction of systemic ether and the systemic dense subplanes.. From another perspective, the production of the egoic lotus is a “Son”.
53. Từ một góc nhìn, thể xác con người là một “người con” do sự tương tác của dĩ thái hệ thống và các cõi phụ đậm đặc hệ thống gây ra. Từ một góc nhìn khác, việc tạo ra hoa sen chân ngã là một “Người Con”.
54. There would be no physical body unless the etheric body engaged with Mother substance.
54. Sẽ không có thể xác nếu thể dĩ thái không dấn nhập với chất liệu Mẹ.
55. Analogously, it would seem that there would be no causal body unless cosmic etheric substance engaged with the Mother substance of the higher mental plane. We should perhaps recollect that the “true plane” of the Solar Angels is not the higher mental plane but that the Solar Angels are much more at home in the cosmic ethers. They are said, for instance, to embody the buddhic energy.
55. Tương tự, dường như sẽ không có thể nguyên nhân nếu chất liệu dĩ thái vũ trụ không dấn nhập với chất liệu Mẹ của Cõi thượng trí. Có lẽ chúng ta nên nhớ lại rằng “cõi đích thực” của các Thái dương Thiên Thần không phải là Cõi thượng trí mà là các Thái dương Thiên Thần ở trong các dĩ thái vũ trụ tự nhiên hơn nhiều. Chẳng hạn, các Ngài được nói là hiện thân của năng lượng Bồ đề.
56. Spirit (as it manifests on the cosmic physical plane) is represented by the higher ethers (the energy of the “Holy Spirit” cosmically considered) and Matter by the lower twenty-one subplanes (the dense physical body of the Solar Logos). The causal “Son”/Sun arises through this interaction expedited by the Solar Angels.
56. Tinh thần (khi biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ) được đại diện bởi các dĩ thái cao hơn (năng lượng của “Chúa Thánh Thần” xét theo vũ trụ) và Vật chất bởi hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn (thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế). “Người Con”/Mặt Trời nguyên nhân phát sinh qua sự tương tác này được các Thái dương Thiên Thần xúc tiến.
If the ideas formulated in this treatise have been carefully followed, it will be obvious that in studying the question of pralaya, we are studying the relation (in time and space) of the positive energy of the solar Logos, the planetary Logos, and of Man to the substance through which alone manifestation is possible.
Nếu những ý tưởng được hình thành trong bộ luận này đã được theo dõi cẩn thận, thì sẽ hiển nhiên rằng khi nghiên cứu vấn đề pralaya, chúng ta đang nghiên cứu mối quan hệ (trong thời gian và không gian) của năng lượng dương của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế, và của con người với chất liệu mà chỉ qua đó sự biểu hiện mới có thể có được.
57. In studying pralaya, we are studying a relationship.
57. Khi nghiên cứu pralaya, chúng ta đang nghiên cứu một mối quan hệ.
58. We appear to be discussing the relationship between the etheric energy/substance and dense matter. In the case of the section of text above, dense matter (cosmically considered) is named as “substance”.
58. Dường như chúng ta đang bàn về mối quan hệ giữa năng lượng/chất liệu dĩ thái và vật chất đậm đặc. Trong trường hợp của đoạn văn trên, vật chất đậm đặc (xét theo vũ trụ) được gọi là “chất liệu”.
59. The positive energy of a Solar Logos, Planetary Logos (if we confine our consideration to the cosmic physical plane) or of man (if we confine ourselves to the systemic physical plane) is etheric. In this context, however, the “substance through which alone manifestation is possible” is densely material. Technically, however, substance is that which substands the more material or objective force we know as dense matter.
59. Năng lượng dương của một Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế (nếu chúng ta giới hạn việc xem xét vào cõi hồng trần vũ trụ) hay của con người (nếu chúng ta giới hạn vào cõi hồng trần hệ thống) là dĩ thái. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, “chất liệu mà chỉ qua đó sự biểu hiện mới có thể có được” lại là vật chất đậm đặc. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, chất liệu là cái nằm bên dưới mãnh lực vật chất hơn hay khách quan hơn mà chúng ta biết là vật chất đậm đặc.
60. A pralaya is usually (and initially) a withdrawal from out that which is materially dense into that which is etheric in nature.
60. Một pralaya thường là (và lúc đầu là) một sự rút lui ra khỏi cái đậm đặc về vật chất để đi vào cái có bản chất dĩ thái.
Through this relation, existence on the objective planes can be brought about.
Qua mối quan hệ này, sự tồn tại trên các cõi khách quan có thể được tạo ra.
61. We are saying that through the relationship between etheric substance and dense physical matter, existence upon the objective planes can be brought about.
61. Chúng ta đang nói rằng qua mối quan hệ giữa chất liệu dĩ thái và vật chất hồng trần đậm đặc, sự tồn tại trên các cõi khách quan có thể được tạo ra.
62. There will be no existence on the dense physical planes without the engagement of etheric substance with dense physical matter.
62. Sẽ không có sự tồn tại trên các cõi hồng trần đậm đặc nếu không có sự dấn nhập của chất liệu dĩ thái với vật chất hồng trần đậm đặc.
63. The ethers are ultimately the vehicles for the first aspect, for life or Spirit.
63. Các dĩ thái rốt cuộc là các vận cụ cho phương diện thứ nhất, cho Sự sống hay Tinh thần.
64. The systemic and cosmic dense subplanes are vehicles for the third aspect.
64. Các cõi phụ đậm đặc hệ thống và vũ trụ là các vận cụ cho phương diện thứ ba.
(b.) The Nature of Pralaya. We can view pralaya as the work of "abstraction," and as the method which brings the form under the Destroyer aspect of Spirit, working ever under the Law of Attraction, of which the Law of Synthesis is but a branch.
(b.) Bản chất của Pralaya. Chúng ta có thể xem pralaya như công việc “trừu xuất,” và như phương pháp đưa hình tướng vào dưới phương diện Hủy Diệt của Tinh thần, luôn luôn hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, mà Định luật Tổng Hợp chỉ là một nhánh của nó.
65. We are given some significant relationships and a sense of priorities:
65. Chúng ta được trao cho một số mối liên hệ quan trọng và một ý thức về thứ tự ưu tiên:
a. The “work of abstraction” brings the form under the “Destroyer aspect of Spirit”.
a. “Công việc trừu xuất” đưa hình tướng vào dưới “phương diện Hủy Diệt của Tinh thần”.
b. The destroyer aspect is under the control of the Law of Attraction
b. phương diện hủy diệt nằm dưới sự kiểm soát của Định luật Hấp Dẫn
c. The Law of Synthesis is but a “branch” of the Law of Attraction
c. Định luật Tổng Hợp chỉ là một “nhánh” của Định luật Hấp Dẫn
d. It would seem that the “Destroyer aspect of Spirit” is directly related to the Law of Synthesis and that both are related to the “work of abstraction”.
d. Dường như “phương diện Hủy Diệt của Tinh thần” có liên hệ trực tiếp với Định luật Tổng Hợp và cả hai đều liên hệ với “công việc trừu xuất”.
e. Could the hierarchy be as follows?:
e. Huyền giai có thể như sau chăng?:
i. The Law of Attraction is preeminent
i. Định luật Hấp Dẫn là tối thượng
ii. The Law of Synthesis is a branch of the Law of Attraction
ii. Định luật Tổng Hợp là một nhánh của Định luật Hấp Dẫn
iii. The work of abstraction, bringing the form under the influence of the destroyer aspect, is actually working under the Law of Synthesis (as a branch of the Law of Attraction).
iii. Công việc trừu xuất, đưa hình tướng vào dưới ảnh hưởng của phương diện hủy diệt, thật ra đang hoạt động dưới Định luật Tổng Hợp (như một nhánh của Định luật Hấp Dẫn).
iv. Death and destruction are essentially caused by the urge towards synthesis which arises under the great Law of Attraction
iv. Cái chết và sự hủy diệt về bản chất được gây ra bởi xung lực hướng đến tổng hợp phát sinh dưới Định luật Hấp Dẫn vĩ đại
66. The planet Jupiter is here implicated. Jupiter is the planet, in our solar system, through which the Law of Attraction largely expresses. As the ruler of the monadic plane, Jupiter is also expressive of the Law of Synthesis. The Monad is the synthetic factor in the constitution of man.
66. Hành tinh Sao Mộc được hàm ý ở đây. Sao Mộc là hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta mà qua đó Định luật Hấp Dẫn phần lớn biểu lộ. Là chủ tinh của cõi chân thần, Sao Mộc cũng biểu lộ Định luật Tổng Hợp. Chân thần là nhân tố tổng hợp trong cấu tạo của con người.
The basic law of the system is that which governs the relation of all atoms to the aggregate of atoms, and of the Self to the Not-self.
Định luật căn bản của hệ thống là định luật chi phối mối quan hệ của mọi nguyên tử với tổng thể các nguyên tử, và của Bản Ngã với Phi-ngã.
67. DK is speaking, principally of the Law of Attraction, a great Law of Magnetism.
67. Chân sư DK đang nói chủ yếu về Định luật Hấp Dẫn, một Định luật lớn của từ điện.
It is (from the occult standpoint) the most powerful force-demonstration in the system, and should the law inconceivably cease to work, instantaneously the system and all forms therein, planetary, human and other would cease to be.
Đó là (theo quan điểm huyền bí học) sự biểu hiện mãnh lực mạnh mẽ nhất trong hệ thống, và nếu định luật ấy không thể tưởng tượng nổi mà ngưng hoạt động, thì tức khắc hệ thống và mọi hình tướng trong đó, hành tinh, con người và những loại khác, sẽ không còn hiện hữu nữa.
68. Cosmic and systemic laws sustain and substand the solar systemic form through which a Solar Logos expresses. Such laws are great ‘sustainers of relationship and without them, all that is related in a particular way would cease to be related.
68. Các định luật vũ trụ và hệ thống duy trì và làm nền cho hình tướng hệ thống thái dương mà qua đó một Thái dương Thượng đế biểu lộ. Những định luật ấy là những “đấng duy trì” lớn lao của mối quan hệ, và nếu không có chúng, tất cả những gì được liên hệ theo một cách đặc thù sẽ không còn được liên hệ nữa.
By an act of will the planetary schemes persist, by an act of will the system IS;
Bằng một hành vi ý chí, các hệ hành tinh tồn tại; bằng một hành vi ý chí, hệ thống HIỆN HỮU;
69. Laws are acts of will. Divine Will sustains Divine Relationship. Should will cease, law would cease. Should law cease, then relationship would cease and chaos ensue.
69. Các định luật là những hành vi của ý chí. Ý Chí thiêng liêng duy trì Mối Quan Hệ thiêng liêng. Nếu ý chí ngưng lại, định luật sẽ ngưng. Nếu định luật ngưng, thì mối quan hệ sẽ ngưng và hỗn loạn sẽ xảy ra.
70. That which sustains planetary schemes in existence is the will of the Solar Logos.
70. Điều duy trì các hệ hành tinh trong sự tồn tại là ý chí của Thái dương Thượng đế.
by an act of the egoic will man appears.
bằng một hành vi của ý chí chân ngã, con người xuất hiện.
71. This “egoic will” can be considered the will of the Monad through the spiritual triad, both expressive through the vehicle which the Solar Angel provides, so that monadic will (thus meditated) can create the personality of man.
71. “Ý chí chân ngã” này có thể được xem là ý chí của chân thần qua Tam nguyên tinh thần, cả hai biểu lộ qua vận cụ mà Thái dương Thiên Thần cung cấp, để ý chí chân thần (được tham thiền như thế) có thể tạo ra phàm ngã của con người.
72. Of course, the Solar Angel is involved in the generation of “egoic will”.
72. Dĩ nhiên, Thái dương Thiên Thần có dự phần vào việc phát sinh “ý chí chân ngã”.
When the Will of the Logos, of the Heavenly Man, and of the human divine Ego is turned to other ends, the substance of Their vehicles is affected, and disintegration sets in.
Khi Ý Chí của Thượng đế, của Đấng Thiên Nhân, và của chân ngã thiêng liêng con người được hướng đến những mục đích khác, chất liệu của các vận cụ của Các Ngài bị ảnh hưởng, và sự tan rã bắt đầu.
73. From this perspective, pralaya can be considered a redirection of attention. The will of any entity reaches the field upon which that will is to be imposed through the medium of directed attention.
73. Từ góc nhìn này, pralaya có thể được xem như một sự đổi hướng chú ý. Ý chí của bất kỳ thực thể nào cũng vươn đến trường mà trên đó ý chí ấy sẽ được áp đặt qua trung gian của sự chú ý có định hướng.
74. Will sustains relationship. There is no manifestation without relationship. The withdrawal of will is the removal of that which sustains relationship and “disintegration sets in”.
74. Ý chí duy trì mối quan hệ. Không có biểu hiện nếu không có mối quan hệ. Sự rút lại ý chí là sự loại bỏ cái duy trì mối quan hệ và “sự tan rã bắt đầu”.
The five types of pralaya which concern the human unit are as follows:
Năm loại pralaya liên quan đến đơn vị con người như sau:
75. Now we enter a more detailed description of the kinds of pralaya which the human unit can experience.
75. Giờ đây chúng ta đi vào một mô tả chi tiết hơn về các loại pralaya mà đơn vị nhân loại có thể kinh nghiệm.
76. We might as well list all five types of pralaya at the outset:
76. Ngay từ đầu, chúng ta cũng nên liệt kê cả năm loại pralaya:
a. The period of pralaya between two incarnations
a. Giai đoạn pralaya giữa hai lần nhập thể
b. The period between egoic cycles
b. Giai đoạn giữa các chu kỳ chân ngã
c. The period wherein the man has attained freedom
c. Giai đoạn trong đó con người đã đạt được tự do
d. Planetary pralaya
d. Pralaya hành tinh
e. The Great Pralaya
e. Đại Giai kỳ qui nguyên
(1) The period of pralaya between two incarnations.
(1) Giai đoạn pralaya giữa hai lần nhập thể.
77. This, we remember, is the least of the four types of pralaya originally mentioned:
77. Như chúng ta nhớ, đây là loại nhỏ nhất trong bốn loại pralaya được nêu ra ban đầu:
a. Solar pralaya (concerning occult centuries)
a. Thái dương pralaya (liên quan đến các thế kỷ huyền bí)
b. Planetary pralaya (concerning manvantaras)
b. Pralaya hành tinh (liên quan đến các giai kỳ sinh hóa)
c. Individual pralaya (appearing at the time of the fifth initiation).
c. Pralaya cá nhân (xuất hiện vào lúc lần điểm đạo thứ năm).
d. Finally, “devachanic” pralaya
d. Sau cùng, pralaya “devachan”
This is of a triple nature and affects the substance of the three vehicles, physical, astral and mental, reducing the form to its primitive substance, and dissipating its atomic structure.
Loại này có bản chất tam phân và ảnh hưởng đến chất liệu của ba vận cụ, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, làm giảm hình tướng về chất liệu nguyên sơ của nó, và làm tiêu tan cấu trúc nguyên tử của nó.
78. The nature of this type of pralaya is “triple” because of the three types of personality vehicles which must undergo disintegration.
78. Bản chất của loại pralaya này là “tam phân” vì ba loại vận cụ phàm ngã phải trải qua sự tan rã.
79. Pralaya seems a very complete process if all substance composing the personality vehicles is to be reduce to “primitive substance”.
79. Pralaya dường như là một tiến trình rất triệt để nếu toàn bộ chất liệu cấu thành các vận cụ phàm ngã đều phải bị giảm về “chất liệu nguyên sơ”.
80. By primitive substance, do we mean “atomic substance”?
80. Bởi chất liệu nguyên sơ, chúng ta có muốn nói đến “nguyên tử chất liệu” không?
81. There are many types of atoms to be found on the six subsidiary or molecular subplanes of any systemic plane. Are we to suppose that all matter composing the personality vehicles is reduced to atomic matter (characteristic of the plane in question) and then returned to the “great reservoir”. Or are we to suppose that the atoms of each vehicle are reduced to their original subplane nature and thence returned to the great reservoir as atoms of a particular subplane?
81. Có nhiều loại nguyên tử được tìm thấy trên sáu cõi phụ hay cõi phân tử của bất kỳ cõi hệ thống nào. Chúng ta có nên giả định rằng toàn bộ vật chất cấu thành các vận cụ phàm ngã đều được giảm về vật chất nguyên tử (đặc trưng cho cõi đang xét) rồi sau đó được hoàn trả về “kho chứa lớn” hay không? Hoặc chúng ta có nên giả định rằng các nguyên tử của mỗi vận cụ được giảm về bản chất cõi phụ nguyên thủy của chúng rồi từ đó được hoàn trả về kho chứa lớn như những nguyên tử của một cõi phụ đặc biệt?
82. If the substance of the three vehicles is to have its atomic structure dissipated, how thorough-going is this dissipation? Every subplane of the etheric, astral and lower mental plane (for instance) has its characteristic atomic structure. Is there any reason to suppose that the various types of subplane matter which went to the constitution of the personality vehicles of the human being should be reduced beyond its subplane identity?
82. Nếu chất liệu của ba vận cụ phải bị làm tiêu tan cấu trúc nguyên tử của nó, thì sự tiêu tan này triệt để đến mức nào? Mỗi cõi phụ của cõi dĩ thái, cõi cảm dục và cõi hạ trí chẳng hạn đều có cấu trúc nguyên tử đặc trưng của nó. Có lý do nào để giả định rằng các loại vật chất cõi phụ khác nhau đã góp phần vào sự cấu thành các vận cụ phàm ngã của con người lại phải bị giảm vượt quá bản sắc cõi phụ của chúng không?
83. The clue may lie in the fact that matter on the physical plane, for instance, is composed of vast aggregates of atoms—there are molecules, complex molecules, cells, etc. Such aggregations may also be found on the astral and lower mental plane, and may (through the processes of pralaya) be subjected to a de-aggregation to subplane substance (i.e., to atoms characteristic of the various subplanes) or, in the most drastic case, to the atomic matter of that particular systemic plane.
83. Manh mối có thể nằm trong sự kiện rằng vật chất trên cõi hồng trần, chẳng hạn, được cấu thành bởi những tập hợp nguyên tử khổng lồ—có các phân tử, các phân tử phức hợp, tế bào, v.v. Những sự kết tập như thế cũng có thể được tìm thấy trên cõi cảm dục và cõi hạ trí, và có thể (qua các tiến trình pralaya) bị giải kết tập thành chất liệu cõi phụ (tức là thành các nguyên tử đặc trưng của các cõi phụ khác nhau) hoặc, trong trường hợp quyết liệt nhất, thành vật chất nguyên tử của chính cõi hệ thống đặc biệt đó.
84. The degree to which the atoms characteristic of any particular subplane may be de-aggregated will require further investigation. Clearly the types of atomic structures which define the various subplanes of the etheric, astral and lower mental plane do not disappear when the human being experiences inter-incarnational pralaya. These subplanes and their unique atomic structure exist independently of the vehicles which are composed of such subplane matter.
84. Mức độ mà các nguyên tử đặc trưng của bất kỳ cõi phụ đặc biệt nào có thể bị giải kết tập sẽ cần được khảo cứu thêm. Rõ ràng các loại cấu trúc nguyên tử xác định các cõi phụ khác nhau của cõi dĩ thái, cõi cảm dục và cõi hạ trí không biến mất khi con người kinh nghiệm pralaya giữa hai lần nhập thể. Các cõi phụ này và cấu trúc nguyên tử độc đáo của chúng tồn tại độc lập với các vận cụ được cấu thành từ loại vật chất cõi phụ ấy.
85. A close study of pertinent chapters in Occult Chemistry and First Principles of Theosophy is recommended.
85. Nên nghiên cứu kỹ các chương thích hợp trong Occult Chemistry và First Principles of Theosophy.
The energy of the second aspect (that of the form-builder) is withdrawn by the will of the Ego, [Page 735] and the atoms composing the form become dissociated from each other, and are resolved into the reservoir of essence to be re-collected again when the hour strikes.
Năng lượng của phương diện thứ hai (phương diện của đấng kiến tạo hình tướng) được rút lại bởi ý chí của Chân ngã, [Page 735] và các nguyên tử cấu thành hình tướng trở nên phân ly khỏi nhau, và được phân giải vào kho chứa tinh chất để được thu gom lại khi giờ điểm đến.
86. There is reason to believe that the same atoms associated with the human being during incarnation are regathered for building the vehicles of his next incarnation.
86. Có lý do để tin rằng chính những nguyên tử đã kết hợp với con người trong thời kỳ nhập thể sẽ được tập hợp lại để xây dựng các vận cụ cho lần nhập thể kế tiếp của y.
87. The following quotation points to this regathering:
87. Đoạn trích dẫn sau đây chỉ ra sự tập hợp lại này:
The lesser lives (which are governed by the Moon) have been dispersed. They no longer respond to the ancient call of the reincarnating soul, which again and again has gathered to itself the lives which it has touched and coloured by its quality in the past. (R&I 101)
Các sự sống nhỏ hơn (được Mặt Trăng cai quản) đã bị phân tán. Chúng không còn đáp ứng với tiếng gọi xưa cũ của linh hồn tái sinh, linh hồn ấy hết lần này đến lần khác đã tập hợp về cho mình những sự sống mà nó đã chạm đến và nhuốm màu bằng phẩm tính của nó trong quá khứ. (R&I 101)
88. It seems logical to assume that the “reservoir of essence” includes atoms of all kinds—not just atoms of the kind which exist on the atomic subplane.
88. Có vẻ hợp lý khi giả định rằng “kho chứa tinh chất” bao gồm các nguyên tử thuộc mọi loại—không chỉ các nguyên tử thuộc loại tồn tại trên cõi phụ nguyên tử.
89. Ever since the Second Logos at the Second Outpouring did His work, atoms for each systemic plane have been built into six types subsidiary to the atoms of the first or atomic subplane (of any particular systemic plane) which Fohat differentiated.
89. Kể từ khi Thượng đế thứ hai trong Lần tuôn đổ thứ hai thực hiện công việc của Ngài, các nguyên tử cho mỗi cõi hệ thống đã được xây dựng thành sáu loại phụ thuộc vào các nguyên tử của cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử (của bất kỳ cõi hệ thống đặc biệt nào) mà Fohat đã biến phân.
90. We are speaking of the death process. The “will of the Ego” is involved in inducing that dissociation of atoms, which we call “death”, by withdrawing the magnetic or second aspect of divinity.
90. Chúng ta đang nói về tiến trình chết. “Ý chí của Chân ngã” có liên quan đến việc gây ra sự phân ly các nguyên tử mà chúng ta gọi là “cái chết”, bằng cách rút lại phương diện từ tính hay phương diện thứ hai của thiên tính.
91. It is as if the “will to cohesion” ceases, the subtle energy relationships which are the form in essence also cease and the form falls apart.
91. Dường như “ý chí cố kết” chấm dứt, các mối liên hệ năng lượng vi tế mà về bản chất chính là hình tướng cũng chấm dứt, và hình tướng tan rã.
This condition is brought about gradually by stages of which we are aware:
Tình trạng này được tạo ra dần dần qua các giai đoạn mà chúng ta ý thức được:
92. DK is beginning a preliminary discussion of the “death” process. As we know, He elaborates on this extensively in Esoteric Healing.
92. Chân sư DK đang bắt đầu một cuộc bàn luận sơ bộ về tiến trình “chết”. Như chúng ta biết, Ngài khai triển điều này rất rộng trong Trị Liệu Huyền Môn.
The first stage is the withdrawal of the life force in the etheric vehicle from the threefold (dense, liquid and gaseous) dense physical body and the consequent "falling into corruption," and becoming "scattered to the elements."
Giai đoạn thứ nhất là sự rút lui của sinh lực trong thể dĩ thái ra khỏi thể xác hồng trần tam phân (đậm đặc, lỏng và khí) và hậu quả là “rơi vào hư hoại”, và trở nên “phân tán vào các nguyên tố”.
93. This is what we (given our present level of ignorance of the esoteric facts) usually call “death”. There has been a great search in the occult and spiritual literature for the “body incorruptible”. The dense physical body has no part in the manifestation of this incorruptible inner body.
93. Đây là điều mà chúng ta (với trình độ vô minh hiện nay của mình về các sự kiện huyền bí) thường gọi là “cái chết”. Đã có một cuộc tìm kiếm lớn trong văn học huyền bí và tinh thần về “thể bất hoại”. Thể xác hồng trần đậm đặc không có phần nào trong sự biểu hiện của thể bên trong bất hoại này.
94. The strictly physical matter is, by one means or another, “scattered to the elements”. Clearly the process of cremation is mores successful at accomplishing this than burial in the earth. Mummification works in the opposite direction.
94. Vật chất thuần hồng trần, bằng cách này hay cách khác, bị “phân tán vào các nguyên tố”. Rõ ràng tiến trình hỏa táng thành công hơn việc chôn trong đất trong việc hoàn thành điều này. Ướp xác lại hoạt động theo chiều ngược lại.
Objective man fades out, and is no more seen by the physical eye, though still in his etheric body. When etheric vision is developed, the thought of death will assume very different proportions.
Con người khách quan mờ dần đi, và không còn được mắt hồng trần nhìn thấy nữa, dù vẫn còn trong thể dĩ thái của y. Khi linh thị dĩ thái được phát triển, ý niệm về cái chết sẽ mang những tỉ lệ rất khác.
95. The development of etheric vision, we are told, is imminent, and so a great change in the attitude to death is also imminent.
95. Chúng ta được bảo rằng sự phát triển của linh thị dĩ thái đang cận kề, và vì thế một thay đổi lớn trong thái độ đối với cái chết cũng đang cận kề.
96. If the thought of death “will assume very different proportions” then, speaking in terms of proportionality, it will not loom so large in the consciousness of man.
96. Nếu ý niệm về cái chết “sẽ mang những tỉ lệ rất khác”, thì nói theo ý nghĩa tỉ lệ, nó sẽ không còn hiện lớn đến thế trong tâm thức con người.
97. Much fear will be eliminated and with this elimination will come an effective change in human values.
97. Nhiều sợ hãi sẽ được loại bỏ và cùng với sự loại bỏ này sẽ đến một thay đổi hữu hiệu trong các giá trị của con người.
When a man can be seen functioning in his etheric physical body by the majority of the race, the dropping of the dense body will be considered just a "release."
Khi một người có thể được đa số nhân loại thấy đang hoạt động trong thể hồng trần dĩ thái của y, thì việc buông bỏ thể đậm đặc sẽ được xem chỉ là một “sự giải thoát”.
98. We are suffering from a major ‘inversion of thought’ when it comes to our attitude towards death. We consider it annihilation, whereas etheric vision will reveal it as “release”. Already, there are many who understand it to be thus.
98. Chúng ta đang chịu đựng một sự ‘đảo ngược tư tưởng’ lớn khi nói đến thái độ của mình đối với cái chết. Chúng ta xem nó là sự hủy diệt, trong khi linh thị dĩ thái sẽ cho thấy nó là “sự giải thoát”. Ngay từ bây giờ, đã có nhiều người hiểu nó là như vậy.
The next stage is the withdrawal of the life force from the etheric body or coil, and its devitalisation. The etheric coil is but an extension of one aspect of the sutratma or thread, and this thread is spun by the Ego from within the causal body much as a spider spins a thread.
Giai đoạn kế tiếp là sự rút lui của sinh lực khỏi thể dĩ thái hay cuộn dây, và sự mất sinh lực của nó. Cuộn dây dĩ thái chỉ là sự mở rộng của một phương diện của sutratma hay sợi dây, và sợi dây này được Chân ngã se ra từ bên trong thể nguyên nhân giống như con nhện se tơ.
99. Important ideas are here expressed. The etheric body is of one piece.
99. Những ý tưởng quan trọng được diễn đạt ở đây. Thể dĩ thái là một khối thống nhất.
100. We must not think of the sutratma as completely homogeneous; it has, so we see, more than one aspect.
100. Chúng ta không được nghĩ về sutratma như hoàn toàn đồng nhất; như vậy, ta thấy nó có nhiều hơn một phương diện.
101. Who or what is the “Ego” which spins this thread (which must already be an extension of the life thread emanating from the Monad?) Is this the real man (in the spiritual triad) working within the causal body and under the direction of the Solar Angel?
101. “Chân ngã” se ra sợi dây này là ai hay là gì (sợi dây vốn hẳn đã là một sự mở rộng của sinh mệnh tuyến phát ra từ chân thần)? Đây có phải là con người thực sự (trong Tam Nguyên Tinh Thần) đang hoạt động bên trong thể nguyên nhân và dưới sự chỉ đạo của Thái dương Thiên Thần không?
102. The Ego within the causal body is certainly vitalized from above, for the Monad is, through the Jewel in the Lotus, present within the causal body, and the Solar Angel (whether considered singular or plural) is/are ever sustaining that vehicle.
102. Chân ngã bên trong thể nguyên nhân chắc chắn được tiếp sinh lực từ phía trên, vì chân thần, thông qua Viên Ngọc trong Hoa Sen, hiện diện bên trong thể nguyên nhân, và Thái dương Thiên Thần (dù được xét là số ít hay số nhiều) luôn luôn duy trì vận cụ ấy.
103. We see that the etheric body is really an extension of the life within the causal body and that this life is part of a greater sutratma, ultimately emanating from the Monad.
103. Chúng ta thấy rằng thể dĩ thái thực sự là một sự mở rộng của sự sống bên trong thể nguyên nhân và sự sống này là một phần của một sutratma lớn hơn, rốt cuộc phát ra từ chân thần.
104. It would not be surprising to consider this portion of the sutratma as an extension of the energy and presence of the Jewel in the Lotus which, itself, is an extension of the energy and presence of the Monad.
104. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu xem phần này của sutratma như một sự mở rộng của năng lượng và sự hiện diện của Viên Ngọc trong Hoa Sen, mà chính nó lại là một sự mở rộng của năng lượng và sự hiện diện của chân thần.
105. It is when dealing with the term “Ego” that we find it to deal with a number of structures and centers. The term is, thus, very much “blinded”, occultly.
105. Chính khi đề cập đến thuật ngữ “Chân ngã” mà chúng ta thấy nó đề cập đến một số cấu trúc và trung tâm. Vì vậy, theo nghĩa huyền bí, thuật ngữ này rất được “che giấu”.
It can be shortened or extended at will,
Nó có thể được rút ngắn hay kéo dài theo ý chí,
106. What is it that can be “shortened or extended at will”? Are we not speaking of the vitalization or devitalization of the etheric body? Of the vitalization or devitalization of the “coil”?
106. Điều gì là cái có thể được “rút ngắn hay kéo dài theo ý chí”? Chẳng phải chúng ta đang nói về sự tiếp sinh lực hay mất sinh lực của thể dĩ thái sao? Về sự tiếp sinh lực hay mất sinh lực của “cuộn dây” sao?
107. We must consider well whose will is involved in this shortening or extension.
107. Chúng ta phải cân nhắc kỹ ý chí của ai có liên quan trong sự rút ngắn hay kéo dài này.
108. A life can be shortened or extended. A “thread”, too can be shortened or extended.
108. Một đời sống có thể bị rút ngắn hay kéo dài. Một “sợi dây” cũng có thể bị rút ngắn hay kéo dài.
109. Is the ‘shortening’ of the thread another way of speaking of the withdrawal of vitality from the dense physical body?
109. Việc ‘rút ngắn’ sợi dây có phải là một cách khác để nói về sự rút sinh lực khỏi thể xác hồng trần đậm đặc không?
110. We may judge that the will of the soul has a significant role to play in the shortening or extension of human life upon the physical plane.
110. Chúng ta có thể phán đoán rằng ý chí của linh hồn giữ một vai trò quan trọng trong việc rút ngắn hay kéo dài đời sống con người trên cõi hồng trần.
and when the period of pralaya has been decided upon,
và khi thời kỳ pralaya đã được quyết định,
111. Who is it that decides this? Is it the Monad through the true and the shrouded Ego (i.e., the spiritual triad and the Ego within the causal body)? Is it the Solar Angel who decides or is the decision performed in spiritual consultation with the supervising Solar Angel? Is man the personality (and his personality will) involved to some extent, especially as the personality consciousness begins to identify as the egoic consciousness?
111. Ai là kẻ quyết định điều này? Có phải là chân thần thông qua Chân ngã chân thực và Chân ngã bị che phủ (tức Tam Nguyên Tinh Thần và Chân ngã bên trong thể nguyên nhân) không? Có phải Thái dương Thiên Thần quyết định hay quyết định ấy được thực hiện trong sự tham vấn tinh thần với Thái dương Thiên Thần giám sát? Con người là phàm ngã (và ý chí phàm ngã của y) có tham dự phần nào không, nhất là khi tâm thức phàm ngã bắt đầu đồng hoá với tâm thức chân ngã?
112. We can see that the matter has the potential of being subtle and complex. This is why the ‘appointed time’ of death seems to be rather elastic.
112. Chúng ta có thể thấy rằng vấn đề này có tiềm năng trở nên vi tế và phức tạp. Đây là lý do vì sao ‘thời điểm được chỉ định’ của cái chết dường như khá co giãn.
this thread of light, or of solar fire (note the word "solar") is withdrawn, and gathered back to the atomic subplane where it will still vitalise the permanent atom and hold it connected within the causal body.
sợi dây ánh sáng này, hay sợi dây của lửa thái dương (lưu ý từ “thái dương”) được rút lại, và được thu hồi về cõi phụ nguyên tử nơi nó vẫn sẽ tiếp sinh lực cho nguyên tử trường tồn và giữ cho nó được nối kết bên trong thể nguyên nhân.
113. Some really important occult detail is given here. The sutratma is to be considered as a “thread of light”—not only a thread of life. Vibratorily, “light” and “life” may be considered equivalent. With regard to manifestation, all is vibration.
113. Ở đây có nêu ra một chi tiết huyền bí thật sự quan trọng. Sutratma phải được xem như một “sợi dây ánh sáng”—không chỉ là một sợi dây sự sống. Về mặt rung động, “ánh sáng” và “sự sống” có thể được xem là tương đương. Xét về biểu hiện, tất cả đều là rung động.
114. We note that, this aspect of the sutratma is composed of “solar fire” and not of electric fire.
114. Chúng ta lưu ý rằng phương diện này của sutratma được cấu thành bằng “lửa thái dương” chứ không phải bằng Lửa Điện.
115. So it is solar fire that vitalizes the etheric body principally and makes of it an extension of that solar vehicle we call the egoic lotus or causal body.
115. Vì vậy, chính lửa thái dương chủ yếu tiếp sinh lực cho thể dĩ thái và biến nó thành một sự mở rộng của vận cụ thái dương mà chúng ta gọi là hoa sen chân ngã hay thể nguyên nhân.
116. The “thread of light”, once withdrawn, is to vitalize the physical permanent atom. The permanent atom is not only connected to the causal body but is, in many respects, within the causal body. This “thread of light” plays a role, it seems, in sustaining this connection between the physical permanent atom and the causal body.
116. “Sợi dây ánh sáng”, một khi đã được rút lại, sẽ tiếp sinh lực cho nguyên tử trường tồn hồng trần. Nguyên tử trường tồn không chỉ được nối kết với thể nguyên nhân mà, trên nhiều phương diện, còn ở bên trong thể nguyên nhân. “Sợi dây ánh sáng” này dường như giữ một vai trò trong việc duy trì sự nối kết giữa nguyên tử trường tồn hồng trần và thể nguyên nhân.
The life impulses are then—as far as the physical plane is concerned—centralised within the atomic sphere.
Khi ấy các xung lực sự sống—xét theo phương diện cõi hồng trần—được tập trung bên trong khối cầu nguyên tử.
117. There are “life impulses”—not just a single life impulse. These impulses have reference to all the planes and not just the physical. We are, at present however, speaking of a portion of the withdrawal process which concerns the physical plane.
117. Có những “xung lực sự sống”—không chỉ một xung lực sự sống duy nhất. Những xung lực này liên hệ đến mọi cõi chứ không chỉ cõi hồng trần. Tuy nhiên hiện nay, chúng ta đang nói về một phần của tiến trình rút lui liên quan đến cõi hồng trần.
118. The “thread of light”, that portion of the sutratma which is made of solar fire, is withdrawn from the strictly physical body and is centralized in the physical permanent atom or atomic sphere where it continues to vitalize that atom.
118. “Sợi dây ánh sáng”, phần đó của sutratma được tạo bằng lửa thái dương, được rút khỏi thể hồng trần thuần túy và được tập trung trong nguyên tử trường tồn hồng trần hay khối cầu nguyên tử, nơi nó tiếp tục tiếp sinh lực cho nguyên tử ấy.
The third stage is the withdrawal of the life force from the astral form so that it disintegrates in a similar manner and the life is centralised within the astral permanent atom.
Giai đoạn thứ ba là sự rút lui của sinh lực khỏi hình tướng cảm dục để nó tan rã theo cách tương tự và sự sống được tập trung trong nguyên tử trường tồn cảm dục.
119. It is of significance that whenever the life force is withdrawn from a vehicle, the withdrawn life force is centralized in the permanent atom which is responsible for sustaining that particular vehicle.
119. Điều có thâm nghĩa là bất cứ khi nào sinh lực được rút khỏi một vận cụ, sinh lực được rút ấy sẽ được tập trung trong nguyên tử trường tồn chịu trách nhiệm duy trì vận cụ đặc biệt đó.
120. Presumably, the withdrawn life force plays its part in sustaining the connection between the astral permanent atom and the causal body.
120. Có lẽ sinh lực được rút ấy góp phần duy trì sự nối kết giữa nguyên tử trường tồn cảm dục và thể nguyên nhân.
It has gained an increase of vitality through physical plane existence, and added colour through astral experience.
Nó đã đạt được một sự gia tăng sinh lực nhờ sự tồn tại trên cõi hồng trần, và được thêm màu sắc nhờ kinh nghiệm cảm dục.
121. We are speaking of how the life force is modified by its expression through the various vehicles of the personality. It appears that the vitality of the life force is always increasing as a result of expression through the physical-etheric vehicle and that it gains colour through its astral expression.
121. Chúng ta đang nói về cách sinh lực được biến đổi bởi sự biểu lộ của nó qua các vận cụ khác nhau của phàm ngã. Có vẻ như sinh lực của mãnh lực sự sống luôn gia tăng do kết quả của sự biểu lộ qua vận cụ hồng trần-dĩ thái và rằng nó đạt được màu sắc qua sự biểu lộ cảm dục của nó.
122. What really is this gain of color? Perhaps it is the ability to respond and to express itself in a variety of contrasting ways.
122. Sự đạt được màu sắc này thực sự là gì? Có lẽ đó là khả năng đáp ứng và biểu lộ chính nó theo nhiều cách tương phản khác nhau.
The final stage for the human atom is its withdrawal [Page 736] from the mental vehicle.
Giai đoạn cuối cùng đối với nguyên tử nhân loại là sự rút lui của nó [Page 736] khỏi vận cụ trí tuệ.
123. Here we are speaking of the lower manasic vehicle.
123. Ở đây chúng ta đang nói về vận cụ manas hạ.
The life forces after this fourfold abstraction are centralised entirely within the egoic sphere;
Sau sự trừu xuất tứ phân này, các mãnh lực sự sống được tập trung hoàn toàn trong khối cầu chân ngã;
124. If we follow the analogy thus far established, we would expect some centralization (at least temporary) in the mental unit. Would this not be necessary for the devachanic experience?
124. Nếu chúng ta theo phép loại suy đã được thiết lập cho đến đây, chúng ta sẽ mong đợi có một sự tập trung nào đó (ít nhất là tạm thời) trong đơn vị hạ trí. Điều này chẳng phải cần thiết cho kinh nghiệm devachan sao?
125. Of course, we must remember that the physical permanent atom, the astral permanent atom and the mental unit have an occult ‘location’ entirely within the egoic sphere.
125. Dĩ nhiên, chúng ta phải nhớ rằng nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí đều có một ‘vị trí’ huyền bí hoàn toàn bên trong khối cầu chân ngã.
contact with the three lower planes is still inherently possible by means of the permanent atoms, the force centres of the three personality aspects.
sự tiếp xúc với ba cõi thấp vẫn vốn có thể thực hiện được nhờ các nguyên tử trường tồn, các trung tâm mãnh lực của ba phương diện phàm ngã.
126. We see that the Tibetan calls all three points of force by the name “permanent atoms”. Technically, the mental unit is not a permanent atom.
126. Chúng ta thấy rằng Chân sư Tây Tạng gọi cả ba điểm mãnh lực bằng tên “các nguyên tử trường tồn”. Về mặt kỹ thuật, đơn vị hạ trí không phải là một nguyên tử trường tồn.
127. Each permanent atom represents, as we have been taught, the seventh principle of that particular vehicle which it controls.
127. Mỗi nguyên tử trường tồn, như chúng ta đã được dạy, đại diện cho nguyên khí thứ bảy của vận cụ đặc biệt mà nó kiểm soát.
In each incarnation the life forces have gained through the utilisation of the vehicles,
Trong mỗi lần nhập thể, các mãnh lực sự sống đã đạt được nhờ sự sử dụng các vận cụ,
128. We are speaking of the intensification of the life forces through the utilization of the personality vehicles.
128. Chúng ta đang nói về sự tăng cường các mãnh lực sự sống qua việc sử dụng các vận cụ phàm ngã.
a. An increased activity, which is stored in the physical permanent atom.
a. Một hoạt động gia tăng, được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn hồng trần.
b. An added colouring, which is stored in the astral permanent atom.
b. Một sự nhuốm màu thêm, được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn cảm dục.
c. A developed quality of strength, or purpose in action, which is stored in the mental unit.
c. Một phẩm tính sức mạnh được phát triển, hay mục đích trong hành động, được lưu trữ trong đơn vị hạ trí.
129. Here, we see that DK does speak of the life force abstracted from the lower mental body as centralized in the mental unit (which is, of course, within the confines of the causal body).
129. Ở đây, chúng ta thấy rằng Chân sư DK quả thật có nói về mãnh lực sự sống được trừu xuất khỏi thể hạ trí như là được tập trung trong đơn vị hạ trí (dĩ nhiên nằm trong phạm vi của thể nguyên nhân).
130. It is very interesting to see how DK describes the nature of the energy or the quality of the energy which is centralized in the three constituents of the atomic triangle:
130. Thật rất thú vị khi thấy Chân sư DK mô tả bản chất của năng lượng hay phẩm tính của năng lượng được tập trung trong ba thành phần của tam giác nguyên tử như thế nào:
a. Activity or vitality is stored in the physical permanent atom
a. Hoạt động hay sinh lực được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn hồng trần
b. Added coloring (presumably the ability to respond to contrasts and express sentient contrasts) is stored in the astral permanent atom
b. Sự nhuốm màu thêm (có lẽ là khả năng đáp ứng với các tương phản và biểu lộ các tương phản cảm thụ) được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn cảm dục
c. Strength or purpose in action (qualities related to the will) are stored in the mental unit. The mental unit is, in fact, a vehicle for the personal will and with added soul infusion, for the egoic will.
c. Sức mạnh hay mục đích trong hành động (những phẩm tính liên hệ đến ý chí) được lưu trữ trong đơn vị hạ trí. Thật ra, đơn vị hạ trí là một vận cụ cho ý chí cá nhân và, với sự được linh hồn thấm nhuần nhiều hơn, cho ý chí chân ngã.
These are wrought into faculty in devachan.
Những điều này được chuyển thành năng lực trong devachan.
131. This is a sentence of real importance. It is not that devachan is a period of idle, pleasure-full enjoyment. It has a definite occult purpose—to develop the vitalized, colored, or will-enhanced life force, stored in the members of the atomic triangle, into an increase of faculty.
131. Đây là một câu thật sự quan trọng. Không phải devachan là một giai đoạn hưởng thụ nhàn rỗi, đầy khoái lạc. Nó có một mục đích huyền bí xác định—phát triển mãnh lực sự sống đã được tiếp sinh lực, được nhuốm màu, hay được tăng cường bởi ý chí, được lưu trữ trong các thành viên của tam giác nguyên tử, thành một sự gia tăng năng lực.
132. That increase of faculty can be expressed in the next incarnation. Without the devachanic processes, such expression would not be possible.
132. Sự gia tăng năng lực ấy có thể được biểu lộ trong lần nhập thể kế tiếp. Nếu không có các tiến trình devachan, sự biểu lộ như thế sẽ không thể có được.
133. This calls attention to the sacrifice which disciples undertake when they forego devachan in order to more rapidly re-enter their sphere of service on the dense physical subplane through the process of incarnation.
133. Điều này làm nổi bật sự hi sinh mà các đệ tử đảm nhận khi họ từ bỏ devachan để nhanh chóng tái nhập vào phạm vi phụng sự của mình trên cõi phụ hồng trần đậm đặc qua tiến trình nhập thể.
Devachan 45,46 is a state of consciousness, reflecting, in [Page 737] the life of the Personality, that higher state which we call nirvanic consciousness, and which is brought about by egoic action.
Devachan 45,46 là một trạng thái tâm thức, phản ánh, trong [Page 737] đời sống của Phàm ngã, trạng thái cao hơn mà chúng ta gọi là tâm thức Niết Bàn, và được tạo ra bởi hoạt động chân ngã.
134. Here is an excellent definition of devachan. We see that devachan is not really an egoic state even though it is brought about by egoic action.
134. Đây là một định nghĩa rất hay về devachan. Chúng ta thấy rằng devachan không thực sự là một trạng thái chân ngã dù nó được tạo ra bởi hoạt động chân ngã.
135. If the atmic plane is the “nirvanic plane”, then the devachanic state in some manner reflects it. There is a definite connection between the atmic and mental planes.
135. Nếu cõi atma là “cõi Niết Bàn”, thì trạng thái devachan phản ánh nó theo một cách nào đó. Có một mối liên hệ xác định giữa cõi atma và cõi trí.
136. Devachan occurs on the lower mental plane (still within the lower three worlds) just below the level of the Ego in the causal body; the atmic plane (still within the lower five worlds) is a sphere of consciousness found just ‘below’ the level of the Monad within the monadic vehicle.
136. Devachan xảy ra trên cõi hạ trí (vẫn ở trong ba cõi thấp) ngay dưới cấp độ của Chân ngã trong thể nguyên nhân; cõi atma (vẫn ở trong năm cõi thấp) là một khối cầu tâm thức được tìm thấy ngay ‘bên dưới’ cấp độ của chân thần trong vận cụ chân thần.
It is but a dim reflection in the separated units (and therefore tinged with selfishness and separative pleasure) of the group condition called nirvanic.
Nó chỉ là một phản ánh mờ nhạt trong các đơn vị biệt lập (và do đó nhuốm màu bởi tính ích kỷ và khoái lạc phân ly) của trạng thái nhóm được gọi là Niết Bàn.
137. We learn that for all its value (in the preparation of personal faculty), the devachanic experience is still tinged with selfness and separative pleasure, which is one of the reasons why true disciples forego the experience.
137. Chúng ta học được rằng, dù có giá trị của nó (trong việc chuẩn bị năng lực cá nhân), kinh nghiệm devachan vẫn còn nhuốm màu bởi tính vị ngã và khoái lạc phân ly, đó là một trong những lý do khiến các đệ tử chân chính từ bỏ kinh nghiệm này.
138. We learn, as well, that Nirvana is a group experience. It is not just a condition of individual release, though it is often discussed in that manner.
138. Chúng ta cũng học được rằng Niết Bàn là một kinh nghiệm nhóm. Nó không chỉ là một trạng thái giải thoát cá nhân, dù nó thường được bàn đến theo cách ấy.
In this high state of consciousness each separate identity, though self-realising, shares in the group realisation, and therein lies bliss for the unit. Separation is no longer felt, only unity and essential oneness is known.
Trong trạng thái tâm thức cao này, mỗi bản sắc biệt lập, dù tựchứng nghiệm, vẫn chia sẻ trong sự chứng nghiệm của nhóm, và chính trong đó có chí phúc cho đơn vị. Sự phân ly không còn được cảm thấy nữa, chỉ có hợp nhất và tính nhất thể cốt yếu được biết đến.
139. Here is an excellent description of nirvanic consciousness. Nirvana is a state of both Self-realization and group realization. It takes tremendous individual effort to achieve Nirvana, but unless the individual is growing in group consciousness at the same time as he attains individually, Nirvana will not be achieved.
139. Đây là một mô tả rất hay về tâm thức Niết Bàn. Niết Bàn là một trạng thái tâm thức của cả Tự-chứng-nghiệm lẫn chứng nghiệm nhóm. Cần một nỗ lực cá nhân to lớn để đạt đến Niết Bàn, nhưng nếu cá nhân ấy không tăng trưởng trong tâm thức nhóm đồng thời với việc đạt được một cách cá nhân, thì Niết Bàn sẽ không đạt được.
140. The state of consciousness in which we know there is “no my soul and thine” is a forerunner of the nirvanic consciousness.
140. Trạng thái tâm thức trong đó chúng ta biết rằng không có “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn” là một tiền thân của tâm thức Niết Bàn.
141. In Nirvana, one realizes oneself, one’s essential unity with others and the whole as well.
141. Trong Niết Bàn, người ta chứng nghiệm chính mình, sự hợp nhất cốt yếu của mình với những người khác và với toàn thể nữa.
142. Group consciousness is the prelude to bliss-consciousness (the consciousness of oneness).
142. Tâm thức nhóm là khúc dạo đầu của tâm thức chí phúc (tâm thức của nhất thể).
Footnote 45:
Chú thích 45:
Deva-Chan. "(3) 'Who goes to Deva Chan?' The personal Ego, of course, but beatified, purified, holy.
Deva-Chan. “(3) ‘Ai đi vào Deva Chan?’ Dĩ nhiên là Chân ngã cá nhân, nhưng đã được ban phúc, thanh lọc, thánh thiện.
143. It is significant to realize that devachan is not a state of consciousness of the transpersonal Ego, still less of the transcendental Ego (i.e., the Monad).
143. Điều có ý nghĩa là nhận ra rằng devachan không phải là một trạng thái tâm thức của Chân ngã siêu cá nhân, càng không phải của Chân ngã siêu việt (tức chân thần).
Every Ego—the combination of the sixth and seventh principles—which, after the period of unconscious gestation is reborn into the Deva-Chan, is of necessity as innocent and pure as a new-born babe.
Mọi Chân ngã—sự kết hợp của nguyên khí thứ sáu và thứ bảy—mà sau giai đoạn thai nghén vô thức được tái sinh vào Deva-Chan, tất yếu đều ngây thơ và thanh khiết như một hài nhi mới sinh.
144. Egos are combinations of atma and buddhi (the seventh and sixth principles, respectively). In this respect the Ego is very much the soul of the human being as it expresses on the levels of the cosmic ethers.
144. Các Chân ngã là những kết hợp của atma và Bồ đề (lần lượt là nguyên khí thứ bảy và thứ sáu). Về phương diện này, Chân ngã rất gần với linh hồn của con người khi nó biểu lộ trên các cấp độ của các dĩ thái vũ trụ.
145. We note the word “Deva-Chan” suggesting a ‘location’ in which the higher devic forces are very strong.’
145. Chúng ta lưu ý từ “Deva-Chan” gợi ý một ‘địa điểm’ trong đó các mãnh lực thiên thần cao hơn rất mạnh.
146. We note that entrance into devachan is a kind of “birth”. The lower ego has been purified through its passage through what the Catholics call “Purgatory”—probably a post-mortem astral state involving the purification of desire..
146. Chúng ta lưu ý rằng việc đi vào devachan là một loại “sinh ra”. Hạ ngã đã được thanh lọc qua việc đi qua điều mà người Công giáo gọi là “Luyện ngục”—có lẽ là một trạng thái cảm dục hậu tử liên quan đến sự thanh lọc dục vọng..
147. Every entrance into a new field of experience is a kind of “birth”. The human being who has died to the dense physical subplanes is faced with a number of births into higher vibratory realms.
147. Mỗi lần đi vào một lĩnh vực kinh nghiệm mới đều là một loại “sinh ra”. Con người đã chết đối với các cõi phụ hồng trần đậm đặc phải đối diện với một số lần sinh vào các cảnh giới rung động cao hơn.
The fact of his being reborn at all shows the preponderance of good over evil in his old personality.
Sự kiện y được tái sinh cho thấy sự trội hơn của điều thiện so với điều ác trong phàm ngã cũ của y.
148. The suggestion is that if evil preponderated over good, there would be no rebirth into devachan.
148. Hàm ý ở đây là nếu điều ác trội hơn điều thiện, sẽ không có sự tái sinh vào devachan.
And while the Karma (of evil)
Và trong khi nghiệp quả (của điều ác)