← Commentary_S7_733_747

149. And, presumably not the karma of good…

Trích nội dung chương

to follow him in his future earth-reincarnation, he brings along with him but the Karma of his good deeds, words, and thoughts into this Deva-Chan. để theo y trong lần tái sinh tương lai trên Trái Đất, y chỉ mang theo với mình nghiệp quả của những việc làm, lời nói và ý nghĩ tốt lành của mình vào Deva-Chan này.


149. And, presumably not the karma of good…

149. Và, có lẽ không phải nghiệp quả của điều thiện…

steps aside for the time being

tạm thời lùi sang một bên

150. i.e., is held in abeyance…

150. tức là bị đình chỉ…

to follow him in his future earth-reincarnation, he brings along with him but the Karma of his good deeds, words, and thoughts into this Deva-Chan.

để theo y trong lần tái sinh tương lai trên Trái Đất, y chỉ mang theo với mình nghiệp quả của những việc làm, lời nói và ý nghĩ tốt lành của mình vào Deva-Chan này.

151. A beautiful system of compensation is here described. The effects of evil actions temporarily do not reach the ‘deceased’ in this devachanic condition conducive to the augmentation of faculty and quality.

151. Một hệ thống bù đắp đẹp đẽ được mô tả ở đây. Tác động của những hành động xấu tạm thời không chạm đến người ‘đã chết’ trong trạng thái devachan này, vốn thuận lợi cho sự gia tăng năng lực và phẩm tính.

152. Thus, it is the goodness in any man that expressed in this relatively blissful state upon the lower mental plane—probably the fourth level of the lower mental plane.

152. Vì vậy, chính điều thiện trong bất kỳ con người nào được biểu lộ trong trạng thái tương đối chí phúc này trên cõi hạ trí—có lẽ là cấp thứ tư của cõi hạ trí.

3. The fourth mental sub-plane is the plane of devachan. (TWM 374)

3. Cõi phụ trí tuệ thứ tư là cõi devachan. (TWM 374)

153. We note, however, that the effect of “evil” still remains and awaits the reincarnating personal ego in the lower worlds

153. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng tác động của “điều ác” vẫn còn tồn tại và chờ đợi phàm ngã cá nhân tái sinh trong các cõi thấp

'Bad' is a relative term for us—as you were told more than once before, —and the Law of Retribution is the only law that never errs.

‘Xấu’ là một thuật ngữ tương đối đối với chúng ta—như bạn đã được nói hơn một lần trước đây,—và Định luật Báo Ứng là định luật duy nhất không bao giờ sai lầm.

154. Is it being suggested that there are other laws which do err?

154. Có phải ở đây đang gợi ý rằng có những định luật khác quả thật sai lầm không?

155. Sinnett suggests the infallible accuracy of this law. Perhaps such accuracy is the result of the extraordinary mathematical acumen of the Lords of Karma, and of the Lipika Lords especially.

155. Sinnett gợi ý sự chính xác vô ngộ của định luật này. Có lẽ sự chính xác ấy là kết quả của năng lực toán học phi thường của các Đấng Nghiệp Quả, và đặc biệt là các Đấng Lipika.

Hence all those who have not slipped down into the mire of unredeemable sin and bestiality—go to the Deva-Chan.

Do đó tất cả những ai chưa trượt xuống vũng lầy của tội lỗi không thể cứu chuộc và tính thú vật—đều đi vào Deva-Chan.

156. Sinnett seems to be suggesting that those who are not firmly upon the left hand path go to Deva-Chan. It is not clear however that those who tread the left hand path slip into the mire of “bestiality”, nor that that their sins astral elemental “unredeemable”. Perhaps, of true black magicians, it could be sad that their sins are “unredeemable”—at least temporarily so.

156. Sinnett dường như đang gợi ý rằng những ai không đứng vững trên tả đạo thì đi vào Deva-Chan. Tuy nhiên, không rõ rằng những ai bước trên tả đạo có trượt vào vũng lầy của “tính thú vật” hay không, cũng không rõ rằng tội lỗi của hành khí cảm dục của họ là “không thể cứu chuộc”. Có lẽ, đối với các nhà hắc thuật chân chính, có thể nói rằng tội lỗi của họ là “không thể cứu chuộc”—ít nhất là tạm thời như vậy.

157. Is there any sin which is utterly unredeemable? Redemption depends upon time. It would seem that all sin is redeemable in a sufficient length of time. Certainly before the final Universal Pralaya, all sin must be redeemable. This conclusion is based upon philosophical thought which necessitates that no one and nothing can be excluded from a universe’s Final Pralaya.

157. Có tội lỗi nào hoàn toàn không thể cứu chuộc không? Sự cứu chuộc tùy thuộc vào thời gian. Có vẻ như mọi tội lỗi đều có thể được cứu chuộc trong một khoảng thời gian đủ dài. Chắc chắn trước Đại Giai kỳ qui nguyên cuối cùng của Thượng đế Vũ Trụ, mọi tội lỗi đều phải có thể được cứu chuộc. Kết luận này dựa trên tư tưởng triết học, vốn đòi hỏi rằng không ai và không gì có thể bị loại trừ khỏi Giai kỳ qui nguyên Cuối cùng của một vũ trụ.

They will have to pay for their sins, voluntary and involuntary, later on. Meanwhile they are rewarded; receive the effects of the causes produced by them.

Họ sẽ phải trả giá cho những tội lỗi của mình, tự nguyện và không tự nguyện, về sau. Trong khi đó họ được tưởng thưởng; nhận lấy các tác động của những nguyên nhân do chính họ tạo ra.

158. Thus, Deva-Chan is a condition of spiritual reward or compensation. From this perspective, we can think of it as very much under the influence of Jupiter with some admixture of Venusian energy.

158. Vì vậy, Deva-Chan là một trạng thái tưởng thưởng hay bù đắp tinh thần. Từ góc nhìn này, chúng ta có thể nghĩ về nó như chịu ảnh hưởng rất nhiều của Sao Mộc với một ít pha trộn của năng lượng Sao Kim.

"Of course it is a state, one, so to say, of intense selfishness during which an Ego reaps the reward of his unselfishness on earth.

“Dĩ nhiên đó là một trạng thái, có thể nói, của tính ích kỷ mãnh liệt trong đó một Chân ngã gặt hái phần thưởng cho tính vô ngã của y trên trần thế.

159. This is a paradoxical thought. It becomes clear that in the state of Deva-Chan, one’s higher desires are fulfilled, but altruism does not play a big part.

159. Đây là một ý tưởng nghịch lý. Rõ ràng là trong trạng thái Deva-Chan, những khát vọng cao hơn của một người được hoàn thành, nhưng lòng vị tha không giữ vai trò lớn.

He is completely engrossed in the bliss of all his personal earthly affections, preferences, thoughts, and gathers in the fruit of his meritorious actions.

Y hoàn toàn đắm chìm trong chí phúc của mọi tình cảm, sở thích, tư tưởng trần thế cá nhân của y,và thu hoạch quả của những hành động công đức của mình.

160. We may say that the essential selfishness of Deva-Chan lies in the idea of engrossment.

160. Chúng ta có thể nói rằng tính ích kỷ cốt yếu của Deva-Chan nằm trong ý niệm về sự đắm chìm.

No pain, no grief nor even the shadow of a sorrow comes to darken the bright horizon of his unalloyed happiness; for, it is a state of perpetual 'Maya.',.

Không có đau đớn, không có buồn phiền, thậm chí không có cả bóng dáng của một nỗi sầu nào đến làm u ám chân trời rực sáng của hạnh phúc thuần khiết của y; vì đó là một trạng thái ‘ảo lực’ vĩnh viễn.,.

161. The term “Maya” is being used in a general rather than specific sense. In a general sense, the term “Maya” means “Illusion” rather than referring to the chaotic patterning of the etheric-physical plane.

161. Thuật ngữ “ảo lực” đang được dùng theo nghĩa tổng quát hơn là nghĩa chuyên biệt. Theo nghĩa tổng quát, thuật ngữ “ảo lực” có nghĩa là “ảo tưởng” hơn là chỉ mô thức hỗn loạn của cõi dĩ thái-hồng trần.

162. Because there are, in Deva-Chan, no obstacles to fulfillment of one’s personal earthly affections, preferences, thoughts and enjoyments, we might think of it as a condition in which the influence of the planet Saturn (the major planetary Lord of Karma) has little of its usual effects.

162. Bởi vì trong Deva-Chan không có chướng ngại nào đối với việc hoàn thành những tình cảm, sở thích, tư tưởng và sự hưởng thụ trần thế cá nhân của một người, chúng ta có thể nghĩ về nó như một trạng thái trong đó ảnh hưởng của hành tinh Sao Thổ (Đấng Chúa Tể Hành tinh lớn của nghiệp quả) có rất ít tác dụng thông thường của nó.

. Since the conscious perception of one's personality on earth is but an evanescent dream that sense will be equally that of a dream in the Deva-Chan—only a hundredfold intensified."

. Vì sự tri giác có ý thức về phàm ngã của một người trên trần gian chỉ là một giấc mộng phù du nên cảm giác ấy trong Deva-Chan cũng sẽ tương tự như một giấc mộng—chỉ là được tăng cường lên gấp trăm lần."

163. Life upon the physical plane is as a dream. We learn that Deva-Chan is as a much intensified dream state—far more enjoyable than the often painful ‘dreams’ of earthly life which are confused with realities.

163. Sự sống trên cõi hồng trần giống như một giấc mộng. Chúng ta biết rằng Deva-Chan giống như một trạng thái mộng được tăng cường rất mạnh—dễ chịu hơn nhiều so với những ‘giấc mộng’ thường đau đớn của đời sống trần thế vốn bị lẫn lộn với thực tại.

"'Bardo' is the period between death and rebirth—and may last from a few years to a kalpa.

"'Bardo' là giai đoạn giữa cái chết và tái sinh—và có thể kéo dài từ vài năm đến một kalpa.

164. What an extraordinary statement! For what type of being may the period between death and rebirth last a kalpa? A human being? It would not usually seem so.

164. Thật là một phát biểu phi thường! Đối với loại hữu thể nào mà giai đoạn giữa cái chết và tái sinh có thể kéo dài một kalpa? Một hữu thể nhân loại chăng? Điều đó thường dường như không phải vậy.

165. However, if a kalpa is equal to a manvantara, and a manvantara is designated as a period between the activity of two globes, or even more expansively, as the period between two chains, then we must remember that some human beings who incarnated on the Moon-chain did not reincarnate until they reached the Earth-chain. Under such circumstances, the duration of a kalpa between incarnations would be reasonable

165. Tuy nhiên, nếu một kalpa bằng một Giai kỳ sinh hóa, và một Giai kỳ sinh hóa được chỉ định là một giai đoạn giữa hoạt động của hai bầu hành tinh, hoặc thậm chí rộng hơn nữa, là giai đoạn giữa hai Dãy, thì chúng ta phải nhớ rằng một số con người đã lâm phàm trên Dãy Mặt Trăng đã không tái sinh cho đến khi họ đạt tới Dãy Địa Cầu. Trong những hoàn cảnh như thế, thời lượng của một kalpa giữa các lần lâm phàm sẽ là điều hợp lý

166. As well, we must define the true duration of a kalpa. HPB gives precise figures for the duration of the kalpa but we learn that such units as a kalpa or manvantara can have several meanings. The figure given on TCF 39 is 4,320,000,000 years.

166. Đồng thời, chúng ta cũng phải xác định thời lượng thực sự của một kalpa. HPB đưa ra những con số chính xác cho thời lượng của kalpa nhưng chúng ta biết rằng những đơn vị như một kalpa hay Giai kỳ sinh hóa có thể có nhiều ý nghĩa. Con số được nêu trong TCF 39 là 4.320.000.000 năm.

167. We should also remember that the term “manvantara” may not only equal a period between globes but can be considered the duration of an entire chain round.

167. Chúng ta cũng nên nhớ rằng thuật ngữ “Giai kỳ sinh hóa” không chỉ có thể bằng một giai đoạn giữa các bầu hành tinh mà còn có thể được xem là thời lượng của trọn một cuộc tuần hoàn của Dãy.

It is divided into three sub-periods

Nó được chia thành ba giai đoạn phụ

168. We are here speaking of the divisions of a the Bardo period.

168. Ở đây chúng ta đang nói về các phân chia của giai đoạn Bardo.

(1) when the Ego delivered of its mortal coil enters into Kama-Loka (the abode of Elementaries);

(1) khi chân ngã, được giải thoát khỏi vỏ bọc phàm tử của nó, đi vào Kama-Loka (nơi cư ngụ của các Elementaries);

169. We are being told that the astral plane is the abode of the earth-bound souls of certain types of deceased human beings. Such souls are called Elementaries.

169. Chúng ta được cho biết rằng cõi cảm dục là nơi cư ngụ của những linh hồn bị trói buộc vào trái đất thuộc một số loại người đã chết nhất định. Những linh hồn như thế được gọi là Elementaries.

170. If we remember what DK said about the etheric body as a “coil”, the term “mortal coil” becomes very interesting. The coiled thread of energy we understand as the etheric body also becomes ‘chains’ of a kind or “coils”.

170. Nếu chúng ta nhớ điều Chân sư DK đã nói về thể dĩ thái như một “vòng cuộn”, thì thuật ngữ “vỏ bọc phàm tử” trở nên rất thú vị. Sợi chỉ năng lượng cuộn xoắn mà chúng ta hiểu là thể dĩ thái cũng trở thành những ‘chuỗi’ theo một nghĩa nào đó hay những “vòng cuộn”.

171. It would seem, however, that stage (1) may include astral experience, since the abode of “Elementaries” is mentioned.

171. Tuy nhiên, dường như giai đoạn (1) có thể bao gồm kinh nghiệm cảm dục, vì nơi cư ngụ của các “Elementaries” được nhắc đến.

(2) when it enters into '';

(2) khi nó đi vào '';

172. It is hinted that this state may be an unconscious one.

172. Có ám chỉ rằng trạng thái này có thể là một trạng thái vô thức.

173. We may imagine that this gestation period occurs either upon the higher astral plane or upon the lower three subplanes of the mental plane.

173. Chúng ta có thể hình dung rằng giai đoạn thai nghén này xảy ra hoặc trên cõi cảm dục cao hơn hoặc trên ba cõi phụ thấp của cõi trí.

174. We gather, from what is said below, that the ‘Gestation State’ can be a long one.

174. Từ những gì được nói bên dưới, chúng ta rút ra rằng ‘Trạng thái Thai nghén’ có thể là một trạng thái kéo dài.

(3) when it is reborn in the Rupa-Loka of Deva-Chan.

(3) khi nó được tái sinh trong Rupa-Loka của Deva-Chan.

175. A “Rupa-Loka” is still a state of form—the meaning of the word “Rupa”.

175. Một “Rupa-Loka” vẫn là một trạng thái của hình tướng—đó là ý nghĩa của từ “Rupa”.

176. Not much is made of the personal ego’s experience within the etheric body, which is still, relatively, a very physical state. Yet, delivery from the “mortal coil” will necessarily involve etheric experience, however brief.

176. Không có nhiều điều được nói đến về kinh nghiệm của phàm ngã trong thể dĩ thái, vốn vẫn còn, tương đối, là một trạng thái rất hồng trần. Tuy nhiên, việc được giải thoát khỏi “vỏ bọc phàm tử” tất yếu sẽ bao hàm kinh nghiệm dĩ thái, dù ngắn ngủi đến đâu.

Sub-period (1) may last from a few minutes

Giai đoạn phụ (1) có thể kéo dài từ vài phút

177. This would be an ideal delivery and may be expected when cremation is practiced.

177. Đây sẽ là một sự giải thoát lý tưởng và có thể được mong đợi khi hỏa táng được thực hành.

to a number of years —

đến một số năm —

178. One thinks of hauntings when the disembodied ego hovers near the dense physical plane and within the etheric worlds and the lower astral worlds.

178. Người ta nghĩ đến những sự ám ảnh khi chân ngã không còn thân xác lảng vảng gần cõi hồng trần đậm đặc và trong các thế giới dĩ thái cùng các thế giới cảm dục thấp.

179. It is not entirely clear, however, whether the experience upon the astral plane is meant to be included in period (1). Probably it is since the “abode of the Elementaries” is mentioned. There are some souls who can make short work of the astral experience because their consciousness is so little focussed astrally.

179. Tuy nhiên, vẫn chưa hoàn toàn rõ liệu kinh nghiệm trên cõi cảm dục có được bao gồm trong giai đoạn (1) hay không. Có lẽ là có, vì “nơi cư ngụ của các Elementaries” được nhắc đến. Có một số linh hồn có thể nhanh chóng vượt qua kinh nghiệm cảm dục vì tâm thức của họ rất ít tập trung trên cõi cảm dục.

the phrase 'a few years' becoming puzzling and utterly worthless without a more complete explanation;

cụm từ 'vài năm' trở nên khó hiểu và hoàn toàn vô giá trị nếu không có một lời giải thích đầy đủ hơn;

180. This explanation is not here given.

180. Lời giải thích này không được đưa ra ở đây.

181. If sub-period (1) includes the astral plane, we can speak of “wandering in the wilderness”, for forty symbolic ‘days’.

181. Nếu giai đoạn phụ (1) bao gồm cõi cảm dục, chúng ta có thể nói đến việc “lang thang trong hoang địa” trong bốn mươi ‘ngày’ tượng trưng.

Sub-period 2nd is 'very long'; as you say, longer sometimes than you may even imagine, yet proportionate to the Ego's spiritual stamina;

Giai đoạn phụ thứ 2 là 'rất dài'; như bạn nói, đôi khi còn dài hơn cả điều bạn có thể tưởng tượng, tuy vậy vẫn tương xứng với sức bền tinh thần của chân ngã;

182. This second period occurs presumably upon the astral plane or upon the lower three subplanes of the mental plane.

182. Giai đoạn thứ hai này có lẽ xảy ra trên cõi cảm dục hoặc trên ba cõi phụ thấp của cõi trí.

183. The comment about the Ego’s “spiritual stamina” is very interesting. We might understand this as meaning that the greater and stronger the personal ego’s aspiration and power of thought, the longer the period of preparation for the devachanic period. If this is the case, we are not told why it should be.

183. Lời bình về “sức bền tinh thần” của chân ngã rất đáng chú ý. Chúng ta có thể hiểu điều này là khát vọng và quyền năng tư tưởng của phàm ngã càng lớn và càng mạnh thì giai đoạn chuẩn bị cho thời kỳ devachan càng dài. Nếu đúng như vậy, chúng ta không được cho biết tại sao lại như thế.

184. One must wonder whether it is really a question of the higher Ego’s spiritual stamina or whether the acquired strength of the higher Ego influences the stamina of the lower personal ego.

184. Người ta phải tự hỏi liệu đây thực sự là vấn đề về sức bền tinh thần của Chân ngã cao hơn hay là sức mạnh đã đạt được của chân ngã cao hơn ảnh hưởng đến sức bền của phàm ngã cá nhân thấp hơn.

185. The Teaching of Master DK through AAB corrected a number of theosophical misconceptions. Theosophists had begun to think that the more spiritually developed they were, the longer they would spend in Deva-Chan. DK has informed us that the most spiritually developed human beings forego the Deva-Chan experience for the sake of applied service upon the physical plane. If Deva-Chan is essentially a ‘selfish’ state, it is inconceivable that those who are highly developed spiritually would desire to spend prolonged periods in a state of blissful self-absorption.

185. Giáo huấn của Chân sư DK qua AAB đã sửa chữa một số ngộ nhận của Thông Thiên Học. Những người theo Thông Thiên Học đã bắt đầu nghĩ rằng họ càng phát triển về tinh thần bao nhiêu thì họ sẽ càng ở lâu trong Deva-Chan bấy nhiêu. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng những con người phát triển tinh thần cao nhất từ bỏ kinh nghiệm Deva-Chan vì mục đích phụng sự được áp dụng trên cõi hồng trần. Nếu Deva-Chan về bản chất là một trạng thái ‘ích kỷ’, thì không thể hình dung rằng những người phát triển cao về tinh thần lại mong muốn trải qua những thời kỳ kéo dài trong một trạng thái tự đắm chìm đầy chí phúc.

186. We are, however, discussing a period of ‘Gestation’ which is rarely mentioned in descriptions of the progress of the human soul after physical plane death.

186. Tuy nhiên, ở đây chúng ta đang bàn đến một giai đoạn ‘Thai nghén’ hiếm khi được nhắc đến trong các mô tả về sự tiến triển của linh hồn con người sau cái chết trên cõi hồng trần.

Sub-period 3rd lasts in proportion to the good Karma, after which the monad is again reincarnated."

Giai đoạn phụ thứ 3 kéo dài tương ứng với nghiệp quả tốt, sau đó chân thần lại tái sinh."

187. Here we are speaking of Deva-Chan proper. The role of the Ego’s “spiritual stamina” in relation to the period of ‘gestation’ remains, for the moment, uncertain, however, it is clear that the greater the “good Karma”, the higher the human soul’s aspirations, the greater the wealth of thought generated by human being, the greater the potential length of the devachanic period.

187. Ở đây chúng ta đang nói về Deva-Chan đúng nghĩa. Vai trò của “sức bền tinh thần” của chân ngã liên hệ với giai đoạn ‘thai nghén’ hiện vẫn chưa chắc chắn, tuy nhiên rõ ràng là “nghiệp quả tốt” càng lớn, khát vọng của linh hồn con người càng cao, sự phong phú của tư tưởng do con người tạo ra càng nhiều, thì thời gian tiềm tàng của giai đoạn devachan càng dài.

188. The remaining mystery concerns the ‘Period of Gestation’ and the exact meaning of the Ego’s “spiritual stamina” in relation to this ‘Period of Gestation’.

188. Điều bí ẩn còn lại liên quan đến ‘Giai đoạn Thai nghén’ và ý nghĩa chính xác của “sức bền tinh thần” của chân ngã trong mối liên hệ với ‘Giai đoạn Thai nghén’ này.

..."Every effect must be proportionate to the cause. And, as man's terms of incarnate existence bear but a small proportion to his periods of inter-natal existence in the manvantaric cycle, so the good thoughts, words, and deeds of any one of these 'lives' on a globe are causative of effects, the working out of which requires far more time than the evolution of the causes occupied."

..."Mọi kết quả phải tương xứng với nguyên nhân. Và cũng như những thời kỳ tồn tại lâm phàm của con người chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với những giai đoạn tồn tại giữa hai lần sinh của y trong chu kỳ Giai kỳ sinh hóa, thì những tư tưởng, lời nói và hành động tốt đẹp của bất kỳ một ‘kiếp sống’ nào trong số ấy trên một bầu hành tinh đều là nguyên nhân của những kết quả mà sự triển khai của chúng đòi hỏi thời gian lâu hơn nhiều so với thời gian đã dùng để tiến hoá các nguyên nhân ấy."

189. The idea is clear. It takes a certain amount of time to generate causes and a far greater time (during the period of “inter-natal existence”) to work out the effects of those generated causes.

189. Ý tưởng thì rõ ràng. Cần một khoảng thời gian nhất định để tạo ra các nguyên nhân và cần một khoảng thời gian lớn hơn nhiều (trong giai đoạn “tồn tại giữa hai lần sinh”) để triển khai các kết quả của những nguyên nhân đã được tạo ra ấy.

190. The following excerpt suggests that when a human being begins to achieve triadal consciousness (which could mean, when the human being cannot only build but use the antahkarana) then the devachanic period is transcended.

190. Đoạn trích sau đây gợi ý rằng khi một con người bắt đầu đạt được tâm thức tam nguyên tinh thần (điều này có thể có nghĩa là khi con người không chỉ có thể xây dựng mà còn có thể sử dụng antahkarana) thì giai đoạn devachan được vượt qua.

The "devachan" of the occult books is connected with the consciousness of the logoic planetary body, and with the gaseous subplane of the cosmic physical plane. It is, consequently, transcended the moment a man begins to function in the cosmic ethers, such as the fourth cosmic ether, the buddhic plane. (TCF 1108)

Devachan của các sách huyền bí học có liên hệ với tâm thức của thể hành tinh logoic, và với cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ. Do đó, nó được vượt qua ngay khi con người bắt đầu hoạt động trong các dĩ thái vũ trụ, chẳng hạn như dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề. (TCF 1108)

191. We must establish what it means to “function in the cosmic ethers”. One can be impressionable to the energy of the cosmic ethers before one can truly function in them. The building of the antahkarana seems a definite necessity if one is to “function in the cosmic ethers”.

191. Chúng ta phải xác định điều có nghĩa là gì khi “hoạt động trong các dĩ thái vũ trụ”. Người ta có thể nhạy cảm với năng lượng của các dĩ thái vũ trụ trước khi thật sự có thể hoạt động trong chúng. Việc xây dựng antahkarana dường như là một điều kiện tất yếu rõ rệt nếu người ta muốn “hoạt động trong các dĩ thái vũ trụ”.

—From Mahatma Letters to A. P. Sinnett, pp. 100, 105-106.

—Trích từ Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 100, 105-106.

192. These “Letters”, we have been told, contain much of value and yet DK suggests that many of them were penned by HPB, herself. Therefore, it is important to examine their contents very carefully.

192. Chúng ta đã được cho biết rằng những “Lá thư” này chứa đựng nhiều điều có giá trị, tuy nhiên Chân sư DK gợi ý rằng nhiều lá thư trong số đó do chính HPB chấp bút. Vì vậy, điều quan trọng là phải khảo sát nội dung của chúng thật cẩn thận.

Footnote 46:

Chú thích 46:

Devachan. A state intermediate between two earth lives into which the Ego enters after its separation from its lower aspects or sheaths.

Devachan. Một trạng thái trung gian giữa hai kiếp sống trên trái đất mà chân ngã đi vào sau khi tách khỏi các phương diện hay các vỏ bọc thấp của nó.

193. What do we mean by “the lower aspects or sheaths”. Apparently, all subplanes with the exception of the fourth subplane of the mental plane are included in this description.

193. Chúng ta muốn nói gì bởi “các phương diện hay các vỏ bọc thấp”. Rõ ràng, mọi cõi phụ ngoại trừ cõi phụ thứ tư của cõi trí đều được bao gồm trong mô tả này.

194. We notice that the term “Ego”, as here used, does not distinguish between the Ego in incarnation (the human soul) and the Ego on the higher mental plane. From this perspective, the soul in incarnation may also be considered the “Ego”.

194. Chúng ta nhận thấy rằng thuật ngữ “chân ngã”, như được dùng ở đây, không phân biệt giữa chân ngã đang lâm phàm (linh hồn con người) và chân ngã trên cõi thượng trí. Từ góc nhìn này, linh hồn đang lâm phàm cũng có thể được xem là “chân ngã”.

Therefore, as might be naturally deduced, there is no devachan for the savage or little evolved man, as they merit it not, and have not the mentality to realise it;

Vì vậy, như có thể được suy ra một cách tự nhiên, không có devachan đối với người man dã hay con người ít tiến hoá, vì họ không xứng đáng với nó, và không có đủ trí tuệ để chứng nghiệm nó;

195. We are reminded that the ‘bliss’ of devachan is based upon mentality and the fulfillment of what we might call mental aspirations and objectives.

195. Chúng ta được nhắc rằng ‘chí phúc’ của devachan dựa trên trí tuệ và sự hoàn thành của điều mà chúng ta có thể gọi là những khát vọng và mục tiêu trí tuệ.

hence, therefore, the rapidity of their incarnations, and the brevity of the pralayic period. There is little in their case for the Ego, on its own plane, to assimilate in the residue of incarnations,

do đó, vì thế, sự nhanh chóng của các lần lâm phàm của họ, và sự ngắn ngủi của giai đoạn Giai kỳ qui nguyên. Trong trường hợp của họ, có rất ít điều để chân ngã, trên cõi riêng của nó, đồng hoá trong phần cặn dư của các lần lâm phàm,

196. In this case “the Ego on its own plane” is the Ego within the causal body. We could even speak of the ‘Ego within the egoic lotus’. The egoic lotus, however, is not the Ego.

196. Trong trường hợp này “chân ngã trên cõi riêng của nó” là chân ngã trong thể nguyên nhân. Chúng ta thậm chí có thể nói đến ‘chân ngã trong Hoa Sen Chân Ngã’. Tuy nhiên, Hoa Sen Chân Ngã không phải là chân ngã.

197. The brevity of the intervals between incarnations for those who are little evolved serves the purpose of more rapidly conferring experiences from the three lower worlds upon such souls in incarnation.

197. Sự ngắn ngủi của các khoảng cách giữa những lần lâm phàm đối với những người ít tiến hoá phục vụ mục đích nhanh chóng ban cho những linh hồn đang lâm phàm ấy các kinh nghiệm từ ba cõi thấp.

198. Assimilation of the residue of experience occurs, as we can realized, upon the higher mental plane.

198. Sự đồng hoá phần cặn dư của kinh nghiệm xảy ra, như chúng ta có thể chứng nghiệm, trên cõi thượng trí.

and hence the life principle withdraws rapidly from out of the mental form,

và do đó nguyên khí sự sống rút ra nhanh chóng khỏi hình tướng trí tuệ,

199. Even for such relatively primitive human beings, there is a “mental form”.

199. Ngay cả đối với những con người tương đối nguyên thủy như vậy, vẫn có một “hình tướng trí tuệ”.

with the resulting impulse of the Ego to reincarnate almost immediately.

với xung lực kết quả khiến chân ngã tái lâm phàm gần như ngay lập tức.

200. In the case of all human beings, the life principle withdraws into the Ego demonstrating on the higher mental plane. It is from the Ego on the higher mental plane that the impulse towards incarnation arises.

200. Trong trường hợp của mọi con người, nguyên khí sự sống rút vào chân ngã đang biểu lộ trên cõi thượng trí. Chính từ chân ngã trên cõi thượng trí mà xung lực hướng tới lâm phàm phát sinh.

201. This impulse is associated with the sign Aries, the mantram of which is “I come forth and from the plane of mind, I rule*.

201. Xung lực này gắn liền với dấu hiệu hoàng đạo Bạch Dương, mantram của nó là “Tôi xuất hiện và từ cõi trí Tôi cai quản.*.

When the life of the personality has been full and rich, yet has not reached the stage wherein the personal self can consciously co-operate with the ego, periods of personality nirvana are undergone, their length depending upon the interest of the life, and the ability of the man to meditate upon experience.

Khi đời sống của phàm ngã đã đầy đủ và phong phú, nhưng chưa đạt đến giai đoạn mà phàm ngã có thể hợp tác một cách có ý thức với chân ngã, thì những giai đoạn niết bàn của phàm ngã sẽ được trải qua, độ dài của chúng tùy thuộc vào mối quan tâm của đời sống, và khả năng của con người trong việc tham thiền về kinh nghiệm.

202. We are told something of great importance: devachan is foregone when the personal self can consciously cooperate with the ego (Ego). This means that when the Spiritual Kingdom is entered, the man foregoes devachan.

202. Chúng ta được cho biết một điều hết sức quan trọng: devachan bị từ bỏ khi phàm ngã có thể hợp tác một cách có ý thức với chân ngã. Điều này có nghĩa là khi giới tinh thần được bước vào, con người từ bỏ devachan.

203. May we then say that when a personality can consciously cooperate with the Ego he can also function in the cosmic ethers? This link needs close examination.

203. Vậy chúng ta có thể nói rằng khi một phàm ngã có thể hợp tác một cách có ý thức với chân ngã thì y cũng có thể hoạt động trong các dĩ thái vũ trụ chăng? Mối liên hệ này cần được khảo sát kỹ lưỡng.

204. The “personal self” and the “ego” (Ego) are distinct, yet both are projections of the one Monad.

204. “Phàm ngã” và “chân ngã” là khác biệt, tuy vậy cả hai đều là những phóng chiếu của một Chân thần duy nhất.

205. An aspect of the Solar Angel is present within the Ego with which the personal self must learn to cooperate.

205. Một phương diện của Thái dương Thiên Thần hiện diện trong chân ngã mà phàm ngã phải học cách hợp tác cùng.

206. We notice the important statement about the length of the devachanic experience. It depends upon—

206. Chúng ta lưu ý đến phát biểu quan trọng về độ dài của kinh nghiệm devachan. Nó tùy thuộc vào—

a. The “interest of the life”—presumably, that which has interested the human being whilst in incarnation

a. “mối quan tâm của đời sống”—có lẽ là điều đã khiến con người quan tâm trong khi đang lâm phàm

b. The ability of the human being when focussed on the fourth subplane of the mental plane to meditate upon the experience he has undergone in the previous incarnation.

b. khả năng của con người, khi tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, tham thiền về kinh nghiệm mà y đã trải qua trong lần lâm phàm trước.

Later, when the Ego dominates the personality life, the interest of the man is raised to higher levels, and the nirvana of the soul becomes [Page 738] his goal.

Về sau, khi chân ngã chi phối đời sống phàm ngã, mối quan tâm của con người được nâng lên những cấp độ cao hơn, và niết bàn của linh hồn trở thành [Page 738] mục tiêu của y.

207. “Nirvana”, we see, is a generic term. The ‘nirvana’ of the personality is devachan. The “nirvana of the soul” is presumably that state of consciousness which exists on the higher mental plane.

207. Chúng ta thấy “Niết bàn” là một thuật ngữ tổng quát. ‘Niết bàn’ của phàm ngã là devachan. “Niết bàn của linh hồn” có lẽ là trạng thái tâm thức tồn tại trên cõi thượng trí.

208. The Ego dominates the personality life as the antahkarana becomes functional—and we remember that there are two stages to the antahkarana—the first uniting the personality with the Ego in the causal body and the second uniting the soul-infused personality with the spiritual triad.

208. Chân ngã chi phối đời sống phàm ngã khi antahkarana trở nên hoạt động—và chúng ta nhớ rằng antahkarana có hai giai đoạn—giai đoạn thứ nhất hợp nhất phàm ngã với chân ngã trong thể nguyên nhân và giai đoạn thứ hai hợp nhất phàm ngã được linh hồn thấm nhuần với Tam Nguyên Tinh Thần.

209. This domination increases during the period from the first to the fourth initiation. We would expect a third degree initiate to have no interest in devachan. We must remember, however, that the buddhic energy is increasing significantly in the human consciousness from the time of the first initiation.

209. Sự chi phối này gia tăng trong giai đoạn từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta sẽ mong đợi một điểm đạo đồ cấp ba không còn quan tâm đến devachan. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng năng lượng Bồ đề đang gia tăng đáng kể trong tâm thức con người kể từ lần điểm đạo thứ nhất.

210. The third degree initiate can consciously focus on the higher mental plane and, presumably, can, therefore, consciously cooperate with the Ego.

210. Điểm đạo đồ cấp ba có thể tập trung một cách có ý thức trên cõi thượng trí và, có lẽ vì vậy, có thể hợp tác một cách có ý thức với chân ngã.

211. Progress towards this achievement begins, however, at the first initiation.

211. Tuy nhiên, sự tiến bộ hướng tới thành tựu này bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất.

He has no interest in devachan.

Y không còn quan tâm đến devachan.

212. This, of course, reverses the usual position taken in the standard literature of the Theosophical Society.

212. Dĩ nhiên, điều này đảo ngược lập trường thường thấy trong văn liệu tiêu chuẩn của Hội Thông Thiên Học.

Therefore, those upon the Path (either the probationary Path, or the Path of Initiation) do not, as a rule, go to devachan, but immediate incarnation becomes the rule in the turning of the wheel of life;

Vì vậy, những người ở trên Con Đường (hoặc là Con Đường Dự Bị, hoặc là Con Đường Điểm Đạo) theo quy luật, không đi vào devachan, mà sự lâm phàm tức thời trở thành quy luật trong sự xoay chuyển của bánh xe sự sống;

213. DK suggests that the period of foregoing devachan begins even before the period of the first initiation—in fact, upon the Probationary Path.

213. Chân sư DK gợi ý rằng giai đoạn từ bỏ devachan bắt đầu ngay cả trước thời kỳ của lần điểm đạo thứ nhất—thực ra là trên Con Đường Dự Bị.

214. Of course, the use of the term “Path” can signify the first initiation and, in a sense, a man is said to be on the Probationary Path until the time he becomes an accepted disciple. As one rarely becomes an accepted disciple until several incarnations after the taking of the first initiation, we could again say that conscious cooperation with the Ego cannot really begin before the first initiation, even it is definite and achieved at will at the third.

214. Dĩ nhiên, việc dùng thuật ngữ “Con Đường” có thể biểu thị lần điểm đạo thứ nhất, và theo một nghĩa nào đó, một người được nói là ở trên Con Đường Dự Bị cho đến khi y trở thành một đệ tử được chấp nhận. Vì người ta hiếm khi trở thành một đệ tử được chấp nhận cho đến vài lần lâm phàm sau khi nhận lần điểm đạo thứ nhất, nên chúng ta lại có thể nói rằng sự hợp tác có ý thức với chân ngã thực sự không thể bắt đầu trước lần điểm đạo thứ nhất, dù nó trở nên xác định và đạt được theo ý muốn ở lần thứ ba.

215. Given what is said, we may suppose that for persistent students of the books of the Tibetan, entry into devachan is not the rule.

215. Với những gì được nói ra, chúng ta có thể giả định rằng đối với những đạo sinh kiên trì của các sách của Chân sư Tây Tạng, việc đi vào devachan không phải là quy luật.

216. When we focus on the words “as a rule”, it may still be possible that some quite advanced people may take a devachanic interlude.

216. Khi chúng ta chú ý đến các từ “theo quy luật”, vẫn có thể một số người khá tiến bộ vẫn có một quãng nghỉ devachan.

this time it is brought about by the conscious co-operation of the personal Self with the divine Self or Ego.

lần này điều đó được mang lại bởi sự hợp tác có ý thức của phàm ngã với Chân ngã thiêng liêng hay chân ngã.

217. We gather that most incarnations are not brought about by the conscious cooperation of the personal self with the divine Self or Ego.

217. Chúng ta rút ra rằng phần lớn các lần lâm phàm không được mang lại bởi sự hợp tác có ý thức của phàm ngã với Chân ngã thiêng liêng hay chân ngã.

218. As a man becomes capable of registering the impulses of the Solar Angel and carrying out those impulses, we can say that the cooperation of the personal self with the “divine Self or Ego” begins.

218. Khi một người trở nên có khả năng ghi nhận các xung lực của Thái dương Thiên Thần và thực hiện những xung lực ấy, chúng ta có thể nói rằng sự hợp tác của phàm ngã với “Chân ngã thiêng liêng hay chân ngã” bắt đầu.

219. For persistent students of the AAB books this will probably mean that they foresaw the purpose and conditions of their present incarnation and worked (on the inner planes) with the Solar Angel, and in reflection of their own Monad, to plan and engineer the incarnation.

219. Đối với những đạo sinh kiên trì của các sách AAB, điều này có lẽ có nghĩa là họ đã thấy trước mục đích và các điều kiện của lần lâm phàm hiện tại của mình và đã làm việc (trên các cõi bên trong) với Thái dương Thiên Thần, và trong sự phản chiếu của chính Chân thần của họ, để hoạch định và kiến tạo lần lâm phàm ấy.

220. We must realize the implication of the section of text above. The “personal Self” still exists during the period before incarnation. We can think of it as that portion of the higher consciousness which will descend and which is sometimes called “the soul in incarnation”.

220. Chúng ta phải chứng nghiệm hàm ý của đoạn văn trên. “Phàm ngã” vẫn tồn tại trong giai đoạn trước khi lâm phàm. Chúng ta có thể nghĩ về nó như phần tâm thức cao hơn sẽ giáng xuống và đôi khi được gọi là “linh hồn đang nhập thể”.

221. With whom or with what does this “personal Self” work to plan the next incarnation? May we say that it works in cooperation with the reflection of the Monad/Triad within the etheric body and also in consultation with the supervising Solar Angel which has pervaded the causal body with a fragment of itself.

221. “Phàm ngã” này làm việc với ai hay với điều gì để hoạch định lần lâm phàm kế tiếp? Chúng ta có thể nói rằng nó làm việc trong sự hợp tác với sự phản chiếu của Chân thần/Tam nguyên tinh thần trong thể dĩ thái và cũng tham khảo Thái dương Thiên Thần giám sát, Đấng đã thấm nhuần thể nguyên nhân bằng một mảnh của chính mình chăng.

222. In this process the advanced man intending to reincarnate has two Masters—his own higher monadic/triadal nature and the Solar Angel, itself.

222. Trong tiến trình này, người tiến bộ có ý định tái lâm phàm có hai Chân sư—bản chất chân thần/tam nguyên tinh thần cao hơn của chính y và bản thân Thái dương Thiên Thần.

(2) The period between egoic Cycles.

(2) Giai đoạn giữa các chu kỳ chân ngã.

223. May we say that the period between personality cycles can be likened to the period between globes in a chain and that the period between egoic cycles can be likened to the period between chains in a scheme. The Monads, it would seem, it related to the planetary scheme itself.

223. Chúng ta có thể nói rằng giai đoạn giữa các chu kỳ phàm ngã có thể được ví với giai đoạn giữa các bầu hành tinh trong một Dãy và giai đoạn giữa các chu kỳ chân ngã có thể được ví với giai đoạn giữa các Dãy trong một hệ hành tinh. Dường như các Chân thần có liên hệ với chính hệ hành tinh ấy.

Herein is hid the mystery of the 777 incarnations and concerns the relation of the unit to his group on the egoic plane,

Chính trong đây ẩn giấu bí nhiệm của 777 lần lâm phàm và liên quan đến mối quan hệ của đơn vị với nhóm của y trên cõi chân ngã,

224. We should recognize that we are not speaking of those cycles called personality incarnations.

224. Chúng ta nên nhận ra rằng ở đây chúng ta không nói về những chu kỳ được gọi là các lần lâm phàm của phàm ngã.

225. The number 777, while indicative of duration of the entire series of incarnations in the fourth kingdom, is to be considered symbolical. This is, perhaps, one of the reasons why the number 777 is considered a “mystery”.

225. Con số 777, tuy biểu thị thời lượng của toàn bộ chuỗi lâm phàm trong giới thứ tư, vẫn phải được xem là có tính biểu tượng. Có lẽ đây là một trong những lý do khiến con số 777 được xem là một “bí nhiệm”.

226. Every egoic unit is part of a group of egos on the higher mental plane. What, at any one time, is the relation of any egoic unit to that group. Will such a group contain Egos at many different stages of development?

226. Mỗi đơn vị chân ngã là một phần của một nhóm các chân ngã trên cõi thượng trí. Vào bất kỳ thời điểm nào, mối quan hệ của bất kỳ đơn vị chân ngã nào với nhóm ấy là gì? Một nhóm như vậy có chứa các Chân ngã ở nhiều giai đoạn phát triển rất khác nhau không?

prior to the unfoldment of the fifth petal.

trước sự khai mở của cánh hoa thứ năm.

227. When the fifth petal is unfolding, the Solar Angel takes an active interest in the developing human personality.

227. Khi cánh hoa thứ năm đang khai mở, Thái dương Thiên Thần dành một sự quan tâm tích cực đến phàm ngã nhân loại đang phát triển.

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. (TCF 543)

Chân ngã không dành sự quan tâm tích cực nào đến sự phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong chuỗi thứ hai bắt đầu mở ra. (TCF 543)

228. In this case we must consider the Solar Angel’s role in creating the manifestation of the Ego on the higher mental plane.

228. Trong trường hợp này, chúng ta phải xem xét vai trò của Thái dương Thiên Thần trong việc tạo ra sự biểu lộ của chân ngã trên cõi thượng trí.

229. During the unfoldment of the fourth and fifth petal, DK tells us that the human unit is in process of entering the fifth or spiritual kingdom.

229. Trong thời kỳ khai mở cánh hoa thứ tư và thứ năm, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng đơn vị nhân loại đang trong tiến trình bước vào giới thứ năm hay giới tinh thần.

The fifth or spiritual kingdom is entered when the units of the fourth kingdom have succeeded in vitalizing the fifth spirilla in all the atoms of the threefold lower man; when they [Page 698] have unfolded three of the egoic petals and are in process of unfolding the fourth and fifth and when they are becoming conscious of the pranic force of the Heavenly Man.(TCF 697-698)

Giới thứ năm hay giới tinh thần được bước vào khi các đơn vị của giới thứ tư đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho loa tuyến thứ năm trong mọi nguyên tử của phàm nhân tam phân; khi họ [Page 698] đã khai mở ba cánh hoa chân ngã và đang trong tiến trình khai mở cánh hoa thứ tư và thứ năm và khi họ đang trở nên có ý thức về mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân.(TCF 697-698)

230. Note in regard to this excerpt, that while the fourth and fifth petals are unfolding, the human being may, in fact, we working at vitalizing and organizing the petals within the sacrifice tier, even if they have not yet been unfolded through the process of the initiation ceremony.

230. Xin lưu ý về đoạn trích này rằng trong khi cánh hoa thứ tư và thứ năm đang khai mở, con người trên thực tế có thể đang làm việc để tiếp sinh lực và tổ chức các cánh hoa trong tầng hi sinh, ngay cả khi chúng chưa được khai mở qua tiến trình của nghi lễ điểm đạo.

231. The complete unfoldment of the fifth petal may signal the taking of the first initiation at which point a man becomes a true disciple.

231. Sự khai mở hoàn toàn của cánh hoa thứ năm có thể báo hiệu việc nhận lần điểm đạo thứ nhất, tại thời điểm đó một người trở thành một đệ tử chân chính.

On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan, and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness, but also of the consciousness of the group wherein a man is found. It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation. (TCF 696)

Trên cõi Bồ đề, khi lóe sáng ra trong điểm đạo, con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của chân ngã trên năm cung dưới quyền Đức Mahachohan, và sự đồng hoá mọi điều cần được học trên các cung ấy, cùng sự đạt được—không chỉ ngã thức trọn vẹn, mà còn cả tâm thức của nhóm mà trong đó một người được tìm thấy. Nó hàm ý sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã, để lại bốn cánh sẽ mở ra trước lần điểm đạo cuối cùng. (TCF 696)

232. In this context, that “final initiation” must necessarily be the fourth. After that, there are no more petals to open; they have been destroyed.

232. Trong ngữ cảnh này, “lần điểm đạo cuối cùng” ấy tất yếu phải là lần thứ tư. Sau đó, không còn cánh hoa nào để mở nữa; chúng đã bị hủy diệt.

It concerns man in the period between the savage stage and that of the disciple, when he is an average man but still in the two Halls.

Nó liên quan đến con người trong giai đoạn giữa thời kỳ man dã và thời kỳ đệ tử, khi y là một người bình thường nhưng vẫn còn ở trong hai Phòng.

233. We are speaking of those periods of human unfoldment to which the 777 incarnations are relevant.

233. Chúng ta đang nói về những giai đoạn khai mở của con người mà 777 lần lâm phàm có liên hệ.

234. The stage of consciousness immediately above must be closely studied as some apparent contradictions may emerge.

234. Giai đoạn tâm thức ngay bên trên phải được nghiên cứu kỹ, vì có thể xuất hiện một số mâu thuẫn bề ngoài.

235. Later we will see that the “7 incarnations” are implicated in the processes of the Probationary Path and yet here we are told that all of the 777 incarnations concern a period before man becomes a disciple.

235. Về sau chúng ta sẽ thấy rằng “7 lần lâm phàm” có liên can đến các tiến trình của Con Đường Dự Bị, vậy mà ở đây chúng ta lại được cho biết rằng toàn bộ 777 lần lâm phàm đều liên quan đến một giai đoạn trước khi con người trở thành một đệ tử.

236. What we may gather from the above is that the man treading the Probationary Path is still, in a sense, considered an “average man” or, at least, not a disciple.

236. Điều chúng ta có thể rút ra từ trên là người đang bước đi trên Con Đường Dự Bị vẫn, theo một nghĩa nào đó, được xem là một “người bình thường” hoặc ít nhất không phải là một đệ tử.

237. Any developmental period preceding the stage of “disciple” is to be considered “average man”, yet the term “average man” usually implies some reasonable degree of mental/emotional development.

237. Bất kỳ giai đoạn phát triển nào trước giai đoạn “đệ tử” đều được xem là “người bình thường”, tuy nhiên thuật ngữ “người bình thường” thường hàm ý một mức độ phát triển cảm xúc/trí tuệ hợp lý nào đó.

238. In this context, the disciple is definitely being distinguished from the probationer.

238. Trong ngữ cảnh này, đệ tử rõ ràng đang được phân biệt với người dự bị.

239. From the above we may also gather that a disciple is no longer in the “two Halls—either of Ignorance or of Learning.

239. Từ trên, chúng ta cũng có thể rút ra rằng một đệ tử không còn ở trong “hai Phòng”—hoặc Phòng Vô Minh hoặc Phòng Hiểu Biết nữa.

240. Just how many petals have to be organized, awakened and in the process of unfolding before one can be considered as having stepped upon the Probationary Path is a matter for close scrutiny as different references indicate different possibilities. Here is one possibility:

240. Chính xác có bao nhiêu cánh hoa phải được tổ chức, thức tỉnh và đang trong tiến trình khai mở trước khi một người có thể được xem là đã bước lên Con Đường Dự Bị là một vấn đề cần được khảo sát kỹ, vì những dẫn chiếu khác nhau cho thấy những khả năng khác nhau. Đây là một khả năng:

“…pass on to the probationary path, having unfolded one tier of petals, and organised the second.” (TCF 842)

“…bước lên Con Đường Dự Bị, đã khai mở một tầng cánh hoa, và tổ chức tầng thứ hai.” (TCF 842)

The mystery of all root races lies here,

Bí nhiệm của mọi giống dân gốc nằm ở đây,

241. The number 777 concerns egoic cycles, but there are further divisions of such cycles than are expressed in this number.

241. Con số 777 liên quan đến các chu kỳ chân ngã, nhưng còn có những phân chia sâu hơn của các chu kỳ ấy ngoài điều được biểu thị trong con số này.

242. If we divide the number 777 into the suggested categories of 700, 70 and 7, we shall see that there are three such cycles, coinciding with divisions given in the excerpt below.

242. Nếu chúng ta chia con số 777 thành các loại được gợi ý là 700, 70 và 7, chúng ta sẽ thấy rằng có ba chu kỳ như thế, trùng hợp với các phân chia được nêu trong đoạn trích dưới đây.

The egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, and not in groups of fours and sevens as do the personality cycles, and the same ratio must be predicated of the central cycles of a Heavenly Man and of a solar Logos (TCF 304)

Các chu kỳ chân ngã diễn tiến theo những nhóm bảy và nhóm ba, chứ không theo những nhóm bốn và nhóm bảy như các chu kỳ phàm ngã, và cùng một tỉ lệ ấy phải được khẳng định đối với các chu kỳ trung tâm của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế (TCF 304)

and the egoic cycles coincide with the building of racial forms, and civilisations.

và các chu kỳ chân ngã trùng hợp với việc xây dựng các hình tướng nhân loại, và các nền văn minh.

243. We have been told that egoic cycles occur in sevens and threes.

243. Chúng ta đã được cho biết rằng các chu kỳ chân ngã xảy ra theo bảy và ba.

244. It is clear that egoic cycles are connected with the emergence with the rootraces of man (the “lesser seven” as distinct from the “greater seven” and the “planetary seven”).

244. Rõ ràng là các chu kỳ chân ngã có liên hệ với sự xuất hiện của các giống dân gốc của con người (“bảy nhỏ” phân biệt với “bảy lớn” và “bảy hành tinh”).

The causal cycles or the egoic cycles, which include all the groups of lesser cycles in the three worlds correspond to a complete round in the cycles of a Heavenly Man. There are seven such cycles, but the number of lesser cycles (included within the seven) is one of the secrets of Initiation. (TCF 303-304)

Các chu kỳ nguyên nhân hay các chu kỳ chân ngã, bao gồm mọi nhóm chu kỳ nhỏ hơn trong ba cõi giới, tương ứng với một cuộc tuần hoàn trọn vẹn trong các chu kỳ của một Đấng Thiên Nhân. Có bảy chu kỳ như thế, nhưng số lượng các chu kỳ nhỏ hơn (nằm trong bảy chu kỳ ấy) là một trong những bí mật của Điểm đạo. (TCF 303-304)

245. DK is drawing a correspondence between the seven rounds (whether chain rounds or scheme rounds) experienced by a Planetary Logos and the seven major cycles experienced by an Ego in the higher mental plane.

245. Chân sư DK đang rút ra một sự tương ứng giữa bảy cuộc tuần hoàn (dù là các cuộc tuần hoàn của Dãy hay của hệ hành tinh) mà một Hành Tinh Thượng Đế trải qua và bảy chu kỳ lớn mà một chân ngã trải qua trên cõi thượng trí.

A man will reincarnate again and again in the various subraces of a root race until a certain cycle has been covered;´

Một người sẽ tái lâm phàm hết lần này đến lần khác trong các giống dân phụ khác nhau của một giống dân gốc cho đến khi một chu kỳ nhất định đã được hoàn tất;´

246. We can look at such a cycle as a developmental cycle.

246. Chúng ta có thể xem một chu kỳ như thế là một chu kỳ phát triển.

247. May we consider the “cycle” here referenced as composed of the entirety of seven sub-cycles, with each sub-cycle consisting of a number of incarnations in each sub-race of a rootrace? This is probable.

247. Chúng ta có thể xem “chu kỳ” được nhắc đến ở đây là bao gồm toàn bộ bảy chu kỳ phụ, với mỗi chu kỳ phụ gồm một số lần lâm phàm trong mỗi giống dân phụ của một giống dân gốc chăng? Điều này có vẻ đúng.

248. Or shall we consider the words “a certain cycle” as pertaining only to a particular sub-race?

248. Hay chúng ta nên xem các từ “một chu kỳ nhất định” là chỉ riêng một giống dân phụ cụ thể?

249. No doubt there are many incarnations taken in each of the subraces, and the conclusion of each series in each sub-race can be considered a cycle of a kind.

249. Chắc chắn có nhiều lần lâm phàm được thực hiện trong mỗi giống dân phụ, và sự kết thúc của mỗi chuỗi trong từng giống dân phụ có thể được xem là một loại chu kỳ.

then he may undergo a pralayic condition until in a later (and sometimes much later) root race he will respond to its vibratory call, and the egoic impulse to incarnate will again be felt.

sau đó y có thể trải qua một trạng thái Giai kỳ qui nguyên cho đến khi trong một giống dân gốc về sau (và đôi khi muộn hơn rất nhiều) y sẽ đáp ứng với tiếng gọi rung động của nó, và xung lực chân ngã hướng tới lâm phàm sẽ lại được cảm nhận.

250. DK seems to be suggesting that after the completion of all sub-race cycles within a rootrace, a long interval (“a pralayic condition”) may elapse before incarnation is again taken, but this time in a succeeding rootrace.

250. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng sau khi hoàn tất mọi chu kỳ giống dân phụ trong một giống dân gốc, có thể trôi qua một khoảng cách dài (“một trạng thái Giai kỳ qui nguyên”) trước khi việc lâm phàm lại được thực hiện, nhưng lần này là trong một giống dân gốc kế tiếp.

251. It may be necessary to pay attention to the unusual wording in this excerpt. If we do so, we may perhaps wonder whether there comes a time when a man, now incarnating in a later rootrace, feels the vibratory call to incarnate again in an earlier rootrace. This happens, no doubt, from time to time, but is probably not the major meaning DK means to convey in the above section of text.

251. Có lẽ cần chú ý đến cách diễn đạt khác thường trong đoạn trích này. Nếu làm như vậy, có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi liệu có đến một lúc nào đó khi một người, hiện đang lâm phàm trong một giống dân gốc về sau, lại cảm thấy tiếng gọi rung động để lâm phàm lần nữa trong một giống dân gốc sớm hơn hay không. Điều này hẳn thỉnh thoảng có xảy ra, nhưng có lẽ không phải là ý nghĩa chính mà Chân sư DK muốn truyền đạt trong đoạn văn trên.

In illustration of this, we should bear in mind that the more advanced humanity of today did not incarnate until the fourth root race.

Để minh hoạ điều này, chúng ta nên ghi nhớ rằng nhân loại tiến bộ hơn của ngày nay đã không nhập thể cho đến giống dân gốc thứ tư.

252. In the example DK uses, He seems to emphasize the possibility of a very long interval between incarnations in a earlier type of rootrace and those taken in a much later one—one so ‘late’, in fact, that it occurs on the chain which succeeds the chain in which the earlier rootrace incarnations occurred.

252. Trong ví dụ mà Chân sư DK sử dụng, Ngài dường như nhấn mạnh khả năng có một khoảng cách rất dài giữa các lần nhập thể trong một loại giống dân gốc sớm hơn và những lần nhập thể diễn ra trong một giống dân muộn hơn rất nhiều—thực ra “muộn” đến mức nó xảy ra trên Dãy kế tiếp Dãy mà trong đó các lần nhập thể của giống dân gốc sớm hơn đã xảy ra.

These cycles are one of the mysteries of initiation,

Các chu kỳ này là một trong những huyền nhiệm của điểm đạo,

253. Hence, the obscurity surrounding the subject.

253. Do đó, có sự tối nghĩa bao quanh chủ đề này.

though one of the earlier mysteries,

dù là một trong những huyền nhiệm sớm hơn,

254. As obscure as the truth of these cycles may be to us, they are still considered relatively early revelations.

254. Dù chân lý về các chu kỳ này có tối nghĩa đối với chúng ta đến đâu, chúng vẫn được xem là những mặc khải tương đối sớm.

and are revealed at the second initiation as they enable the initiate to comprehend his position, to see somewhat the nature of the karmic impulse, and to read his own record in the astral light.

và được tiết lộ vào lần điểm đạo thứ hai vì chúng giúp điểm đạo đồ thấu hiểu vị trí của mình, thấy phần nào bản chất của xung lực nghiệp quả, và đọc hồ sơ của chính mình trong ánh sáng cảm dục.

255. It may reasonably be surmised that much conveyed in the chamber of initiation is not clearly remembered in the brain-consciousness.

255. Có thể suy đoán một cách hợp lý rằng phần lớn những gì được truyền đạt trong phòng điểm đạo không được ghi nhớ rõ ràng trong tâm thức não bộ.

256. At the second initiation one must express the Plan. Therefore, we can see why the following achievements are important at that initiation and why reception of information concerning rootrace cycles allows the initiate to--

256. Ở lần điểm đạo thứ hai, người ta phải biểu đạt Thiên Cơ. Vì vậy, chúng ta có thể thấy vì sao những thành tựu sau đây lại quan trọng ở lần điểm đạo ấy và vì sao việc tiếp nhận thông tin liên quan đến các chu kỳ giống dân gốc cho phép điểm đạo đồ—

a. Comprehend his position

a. Thấu hiểu vị trí của mình

b. See somewhat the nature of the karmic impulse

b. Thấy phần nào bản chất của xung lực nghiệp quả

c. Read his own record in the astral light

c. Đọc hồ sơ của chính mình trong ánh sáng cảm dục

257. As souls we know somewhat of our own record. It is obvious that in the case of even quite advanced human beings, this record is ‘forgotten’ in the brain consciousness though, subliminally at least, access to it may certainly exist.

257. Là các linh hồn, chúng ta biết phần nào hồ sơ của chính mình. Rõ ràng là trong trường hợp ngay cả những con người khá tiến bộ, hồ sơ này bị “quên” trong tâm thức não bộ dù, ít nhất ở mức dưới ngưỡng, việc tiếp cận nó chắc chắn có thể tồn tại.

258. We can imagine why, at the second initiation and following, life becomes much more purposeful and directed—according to the Divine Plan.

258. Chúng ta có thể hình dung vì sao, bắt đầu từ lần điểm đạo thứ hai và về sau, đời sống trở nên có mục đích và có định hướng hơn nhiều—theo Thiên Cơ.

These might be considered the two lesser pralayic periods and concern primarily life in the three worlds.

Những điều này có thể được xem là hai giai kỳ qui nguyên nhỏ hơn và chủ yếu liên quan đến đời sống trong ba cõi giới.

259. We are speaking of: (1) the period between two incarnations and (2) the period between two egoic cycles.

259. Chúng ta đang nói đến: (1) giai đoạn giữa hai lần nhập thể và (2) giai đoạn giữa hai chu kỳ chân ngã.

260. In relation to this latter type of pralaya, it would seem that we must also consider not only pralayas between rootraces, but, perhaps, minor pralayas between subraces before incarnation occurs in the succeeding sub-race of the same rootrace.

260. Liên quan đến loại pralaya sau này, dường như chúng ta cũng phải xét không chỉ các pralaya giữa các giống dân gốc, mà có lẽ cả những pralaya nhỏ giữa các giống dân phụ trước khi sự nhập thể xảy ra trong giống dân phụ kế tiếp của cùng một giống dân gốc.

261. Of course, if certain groups of human beings transfer from an earlier chain to a later one (i.e., one activated later in time), there will naturally be a lengthy pralaya. We could call this an ‘inter-chain pralaya’.

261. Dĩ nhiên, nếu một số nhóm người chuyển từ một Dãy sớm hơn sang một Dãy muộn hơn (tức một Dãy được hoạt hóa muộn hơn theo thời gian), thì tự nhiên sẽ có một pralaya kéo dài. Chúng ta có thể gọi đây là một “pralaya liên-Dãy”.

262. As well, there are some human beings who transferred from an earlier solar system to the present one. Between these two periods of solar manifestation there will be a very long pralaya, relatively speaking. We could call this type of pralaya an ‘inter-systemic pralaya’.

262. Ngoài ra, có một số con người đã chuyển từ một hệ mặt trời trước sang hệ hiện tại. Giữa hai thời kỳ biểu hiện mặt trời này sẽ có một pralaya rất dài, xét theo tương quan. Chúng ta có thể gọi loại pralaya này là một “pralaya liên-hệ thống”.

263. When we consider human pralayas, it is clear that between the rootraces and, perhaps, subraces through which man passes, there will exist pralayas. Are there also pralayas of some kind between the 700, the 70 and the 7 incarnations?

263. Khi xét các pralaya của con người, rõ ràng là giữa các giống dân gốc và có lẽ các giống dân phụ mà con người đi qua, sẽ tồn tại các pralaya. Liệu cũng có những pralaya nào đó giữa 700, 70 và 7 lần nhập thể hay không?

264. It becomes difficult to chart a man’s developmental course over millions of years because we are not at all certain concerning the number of intervals of ‘rest’ or pralaya and their duration.

264. Việc vạch ra tiến trình phát triển của một người qua hàng triệu năm trở nên khó khăn vì chúng ta hoàn toàn không chắc chắn về số lượng các quãng “nghỉ” hay pralaya và thời lượng của chúng.

(3) Next comes the period wherein the man has attained freedom.

(3) Tiếp theo là giai đoạn trong đó con người đã đạt được tự do.

265. During the 777 incarnations he has not yet attained freedom. So the number 777 does not indicate all of a human being’s incarnations.

265. Trong 777 lần nhập thể, y vẫn chưa đạt được tự do. Vì vậy, con số 777 không chỉ ra tất cả các lần nhập thể của một con người.

266. We remember that his incarnations as a true disciple or initiation are not included in the 777.

266. Chúng ta nhớ rằng các lần nhập thể của y với tư cách một đệ tử đích thực hay một điểm đạo đồ không được tính trong số 777.

A man has at this stage succeeded, under law, in "abstracting" himself, the freed soul, from out of the matter of the three worlds.

Ở giai đoạn này, con người đã thành công, dưới định luật, trong việc “rút” chính mình, linh hồn được giải thoát, ra khỏi vật chất của ba cõi giới.

267. We may consider the “freed soul” as the spiritual triad or as the unit of consciousness focussed successfully within the spiritual triad.

267. Chúng ta có thể xem “linh hồn được giải thoát” là Tam Nguyên Tinh Thần hoặc là đơn vị tâm thức được tập trung thành công bên trong Tam Nguyên Tinh Thần.

268. If we consider all the “matter of the three worlds”, we must include the higher mental plane.

268. Nếu chúng ta xét toàn bộ “vật chất của ba cõi giới”, chúng ta phải bao gồm cả Cõi thượng trí.

269. The consciousness of the MONAD (in a way, the truest soul) is not yet “freed” when confined to the higher mental plane.

269. Tâm thức của CHÂN THẦN (theo một nghĩa nào đó, linh hồn đích thực nhất) vẫn chưa được “giải thoát” khi bị giới hạn trong Cõi thượng trí.

He has used and worked with deva substance and has gained all the vibratory [Page 739] contact possible, and has secured all the intended "realisations" and "revelations";

Y đã sử dụng và làm việc với chất liệu thiên thần và đã đạt được mọi tiếp xúc rung động [Page 739] có thể có, và đã đạt được tất cả những “chứng ngộ” và “mặc khải” được dự định;

270. These are the realizations and revelations intended to be gathered from experience within the lower three worlds.

270. Đây là những chứng ngộ và mặc khải được dự định thu thập từ kinh nghiệm trong ba cõi thấp.

he can no longer be held imprisoned by the devas.

y không còn có thể bị các thiên thần giam cầm nữa.

271. Here we are speaking only of the devas of these lower three worlds.

271. Ở đây chúng ta chỉ nói đến các thiên thần của ba cõi thấp này.

272. For the soul of man, all the four lunar elementals and the evolutionary devas which tend them, provide a temporary prison.

272. Đối với linh hồn con người, cả bốn hành khí thái âm và các thiên thần tiến hoá chăm sóc chúng đều tạo nên một nhà tù tạm thời.

273. All these are symbolically ruled by the Moon and the Moon, in esoteric astrology, represents the “prison of the soul”

273. Tất cả những điều này được cai quản một cách biểu tượng bởi Mặt Trăng, và Mặt Trăng, trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, tượng trưng cho “nhà tù của linh hồn”

He is free until, consciously and willingly, and in another round, he can return as a member of a Hierarchy to continue His work of service for the little evolved humanity of that distant time.

Y được tự do cho đến khi, một cách có ý thức và tự nguyện, và trong một cuộc tuần hoàn khác, y có thể trở lại với tư cách là một thành viên của một Huyền Giai để tiếp tục công việc phụng sự của Ngài cho nhân loại ít tiến hoá của thời kỳ xa xôi ấy.

274. This is an interesting idea. Elsewhere we gather that a man who has achieved the fourth initiation may go on to Mastership and Chohanship, and leave the Earth far behind as he treads the Path of Higher Evolution.

274. Đây là một ý tưởng thú vị. Ở nơi khác, chúng ta thu thập được rằng một người đã đạt lần điểm đạo thứ tư có thể tiếp tục đến Chân sư vị và Chohan vị, và bỏ lại Trái Đất rất xa phía sau khi y bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

275. Normally, there seems to be no need to wait for another round in order to serve humanity as a member of the Hierarchy.

275. Thông thường, dường như không cần phải chờ một cuộc tuần hoàn khác để phụng sự nhân loại với tư cách một thành viên của Thánh đoàn.

276. Will the man of whom we are speaking come forth to serve as a Solar Angel? We cannot be sure this is possible as, when the “returning Nirvanis” are discussed, we are told that they achieved human status in an earlier mahamanvantara. The duration of one round, however, is not sufficient to make a Solar Angel out of a man.

276. Liệu con người mà chúng ta đang nói đến có xuất hiện để phụng sự như một Thái dương Thiên Thần không? Chúng ta không thể chắc rằng điều này là có thể, vì khi các “nirvani trở lại” được bàn đến, chúng ta được cho biết rằng họ đã đạt địa vị con người trong một sớm hơn Đại giai kỳ sinh hóa. Tuy nhiên, thời lượng của một cuộc tuần hoàn không đủ để biến một con người thành một Thái dương Thiên Thần.

277. Interestingly, we are not told whether the future service here mentioned is to be service in relation to our planet, Earth.

277. Điều đáng chú ý là chúng ta không được cho biết liệu sự phụng sự tương lai được nhắc đến ở đây có phải là sự phụng sự liên quan đến hành tinh của chúng ta, Trái Đất, hay không.

278. We also note that the liberated human being can return. It does not necessarily say that he will.

278. Chúng ta cũng lưu ý rằng con người được giải thoát có thể trở lại. Điều đó không nhất thiết nói rằng y sẽ.

279. The words “as a member of a Hierarchy” may also give us pause. “A Hierarchy” is, perhaps, a Creative Hierarchy higher than the present Human Creative Hierarchy. Yet the next higher Creative Hierarchy is the Hierarchy of Solar Angels and it may require an interval between solar systems to train a human being as a Solar Angel.

279. Các từ “với tư cách là một thành viên của một Huyền Giai” cũng có thể khiến chúng ta dừng lại suy nghĩ. “Một Huyền Giai” có lẽ là một Huyền Giai Sáng Tạo cao hơn Huyền Giai Sáng Tạo Nhân Loại hiện tại. Tuy nhiên, Huyền Giai Sáng Tạo cao hơn kế tiếp là Huyền Giai của các Thái dương Thiên Thần, và có thể cần một khoảng thời gian giữa các hệ mặt trời để huấn luyện một con người thành một Thái dương Thiên Thần.

280. In any case, we gather the idea that a liberated human being may be free of involvement with humanity for a very long time—perhaps even until the next round—whether a chain round or a scheme round we are not told.

280. Dù sao đi nữa, chúng ta thu nhận được ý tưởng rằng một con người được giải thoát có thể thoát khỏi sự dính líu với nhân loại trong một thời gian rất dài—có lẽ thậm chí cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp—dù là một cuộc tuần hoàn của Dãy hay của hệ hành tinh thì chúng ta không được cho biết.

As this concerns the seven paths of opportunity for a Master we will not deal with it here.47

Vì điều này liên quan đến bảy con đường cơ hội dành cho một Chân sư nên chúng ta sẽ không bàn đến nó ở đây.47

281. In this context we are speaking of the Path of Higher Evolution.

281. Trong ngữ cảnh này, chúng ta đang nói về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

282. There are probably a number of ways that a liberated human being can ‘return’ to the field of Earth-service in a future round. To return as a Solar Angel is only one possibility and may require ‘schooling’ in the stellar system of Sirius. Such re-entry may not occur until the advent of the next mahamanvantara.

282. Có lẽ có một số cách để một con người được giải thoát có thể “trở lại” trường phụng sự Trái Đất trong một cuộc tuần hoàn tương lai. Trở lại như một Thái dương Thiên Thần chỉ là một khả năng và có thể đòi hỏi được “đào luyện” trong hệ sao Sirius. Sự tái nhập như vậy có thể không xảy ra cho đến khi cuộc Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp xuất hiện.

283. It is possible that one may tread one of the Seven Paths and make sufficient progress on that Path to return to help a future humanity well before the present solar system has finished its cycle.

283. Có thể một người bước trên một trong Bảy Con Đường và đạt đủ tiến bộ trên Con Đường ấy để trở lại giúp một nhân loại tương lai rất lâu trước khi hệ mặt trời hiện tại hoàn tất chu kỳ của nó.

284. Concerning the Seven Paths, we may have been told something of ‘ultimate destinations’, but we have not been told of all the various substance-periods upon such Paths, nor of the possibility of intermittent ‘returns’ for the sake of service.

284. Liên quan đến Bảy Con Đường, có thể chúng ta đã được cho biết đôi điều về những “đích đến tối hậu”, nhưng chúng ta chưa được cho biết về tất cả các giai đoạn chất liệu khác nhau trên những Con Đường ấy, cũng như về khả năng có những “sự trở lại” gián đoạn vì mục đích phụng sự.

This is the great human pralaya.

Đây là đại pralaya của con người.

285. The pralaya here under discussion is still a human pralaya. It does not concern rootraces or their subraces. It concerns an interval between rounds. This interval can, however, be many millions of years.

285. Pralaya đang được bàn đến ở đây vẫn là một pralaya của con người. Nó không liên quan đến các giống dân gốc hay các giống dân phụ của chúng. Nó liên quan đến một khoảng cách giữa các cuộc tuần hoàn. Tuy nhiên, khoảng cách này có thể kéo dài nhiều triệu năm.

286. The “great human pralaya” does not concern intervals between incarnations as a human being; it does not concern intervals between various egoic cycles; rather, it concerns release from the human kingdom at the fourth and fifth initiations.

286. “Đại pralaya của con người” không liên quan đến các khoảng cách giữa những lần nhập thể với tư cách con người; nó không liên quan đến các khoảng cách giữa những chu kỳ chân ngã khác nhau; đúng hơn, nó liên quan đến sự giải thoát khỏi giới nhân loại ở lần điểm đạo thứ tư và thứ năm.

Footnote 47: The seven Paths upon one of which all must pass:—

Chú thích 47: Bảy Con Đường mà trên một trong số đó tất cả đều phải đi qua:—

Path 1. The Path of Earth Service.

Con Đường 1. Con Đường Phụng Sự Trái Đất.

Path 2. The Path of Magnetic Work.

Con Đường 2. Con Đường của Công Tác Từ Tính.

Path 3. The Path of the Planetary Logoi.

Con Đường 3. Con Đường của các Hành Tinh Thượng Đế.

Path 4. The Path to Sirius.

Con Đường 4. Con Đường đến Sirius.

Path 5. The Ray Path.

Con Đường 5. Con Đường Cung.

Path 6. The Path of the Solar Logos.

Con Đường 6. Con Đường của Thái dương Thượng đế.

Path 7. The Path of Absolute Sonship.

Con Đường 7. Con Đường của Tư Cách Con tuyệt đối.

287. These Seven Cosmic Paths are discussed in IHS as well as later in TCF and in R&I. It seems that the Tibetan was given permission to reveal more and more about these Seven Paths.

287. Bảy Con Đường Vũ Trụ này được bàn đến trong IHS cũng như về sau trong TCF và trong R&I. Dường như Chân sư Tây Tạng đã được cho phép tiết lộ ngày càng nhiều hơn về Bảy Con Đường này.

288. While it is a Master Who is concerned with which of the Seven Paths to tread, the idea of the Seven Paths offers a great incentive to those of us who, as disciples, are struggling along the way.

288. Dù chính một Chân sư là Đấng quan tâm đến việc sẽ bước trên Con Đường nào trong Bảy Con Đường, ý tưởng về Bảy Con Đường vẫn mang lại một động lực lớn cho những người trong chúng ta, là các đệ tử, đang nỗ lực tiến bước trên đường.

289. Later in The Rays and the Initiations, we learn that two more Paths have been added to the seven, though their names are not given.

289. Về sau trong Các Cung và Điểm Đạo, chúng ta biết rằng đã có thêm hai Con Đường được thêm vào bảy Con Đường ấy, dù tên của chúng không được nêu ra.

“…the supreme Directors of the seven cosmic Paths are today in the same position as was the Hierarchy then; the word has gone forth to our three Great Lords—the Manu, the Christ and the Mahachohan—via the three Buddhas of Activity, to act in order to tighten up on requirements, to make the sixth initiation and not the fifth, the decisive one, and to present those on the seven rays with [Page 412] a wider range of choices and a greater diversity of choice. Thus the Masters will have nine choices to face when They face Their decision; there will then be no need for Those on certain rays to pass to certain already determined Paths, but They can move forward under Their Own inspiration and with greater freedom. The cosmic mental plane is not barred to Them, as has hitherto been the case. (R&I 411-412)

“…các Đấng Chỉ Đạo tối cao của bảy Con Đường vũ trụ ngày nay đang ở trong cùng một vị thế như Thánh đoàn khi xưa; mệnh lệnh đã được ban ra cho ba Đấng Lớn của chúng ta—Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan—thông qua ba Đức Phật của Hoạt Động, để hành động nhằm siết chặt các yêu cầu, làm cho lần điểm đạo thứ sáu chứ không phải lần thứ năm trở thành quyết định, và trình bày cho những người trên bảy cung một phạm vi lựa chọn rộng lớn hơn [Page 412] và một sự đa dạng lớn hơn trong lựa chọn. Do đó, các Chân sư sẽ có chín lựa chọn để đối diện khi Các Ngài đưa ra quyết định của mình; khi đó sẽ không còn nhu cầu đối với Những Đấng trên một số cung phải đi theo những Con Đường đã được định sẵn, mà Các Ngài có thể tiến bước dưới sự cảm hứng riêng của mình và với tự do lớn hơn. Cõi trí vũ trụ không bị ngăn cản đối với Các Ngài, như đã từng là trường hợp trước đây. (R&I 411-412)”

(4) Planetary Pralaya. Man, after these cyclic happenings, is now a conscious part of his group, and a vibrant point in a centre in the body of a Heavenly Man, consciously alive and consciously aware of his place in the great whole.

(4) Pralaya Hành Tinh. Sau những diễn biến chu kỳ này, con người giờ đây là một phần hữu thức của nhóm mình, và là một điểm rung động trong một trung tâm trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân, sống động một cách hữu thức và nhận biết một cách hữu thức vị trí của mình trong toàn thể vĩ đại.

290. At this point we might conclude that man has become a conscious Monad.

290. Ở điểm này, chúng ta có thể kết luận rằng con người đã trở thành một Chân thần hữu thức.

291. The normal centers of the Planetary Logos are not to be found on the systemic monadic plane, yet there are centers in the Planetary Logos there to be found (follow the inference from TCF, Chart V, 344). What is their nature? Are they to be considered, perhaps, as seven head centers?

291. Các trung tâm bình thường của Hành Tinh Thượng Đế không được tìm thấy trên cõi chân thần của hệ, tuy nhiên ở đó có những trung tâm trong Hành Tinh Thượng Đế có thể được tìm thấy (hãy theo suy luận từ TCF, Biểu đồ V, 344). Bản chất của chúng là gì? Có lẽ chúng nên được xem như bảy trung tâm đầu chăng?

292. In this context, we might also ask the relation between the seven stars of the Great Bear and the seven higher centers of the Planetary Logos to be found upon the systemic monadic plane.

292. Trong ngữ cảnh này, chúng ta cũng có thể hỏi về mối liên hệ giữa bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh và bảy trung tâm cao hơn của Hành Tinh Thượng Đế được tìm thấy trên cõi chân thần của hệ.

293. With respect to man, his etheric centers are to be found upon all the four systemic ethers. This is probably true of the Solar Logos with respect to the cosmic ethers.

293. Đối với con người, các trung tâm dĩ thái của y được tìm thấy trên cả bốn dĩ thái của hệ. Điều này có lẽ cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế xét theo các dĩ thái vũ trụ.

294. But what of the Planetary Logos? The structure of man is more directly analogous to the structure of the Solar Logos than to the Planetary Logos. May it be that the etheric centers of the Planetary Logos extend no higher than the second cosmic ether—i.e., the systemic monadic plane?

294. Nhưng còn Hành Tinh Thượng Đế thì sao? Cấu trúc của con người tương đồng trực tiếp với cấu trúc của Thái dương Thượng đế hơn là với Hành Tinh Thượng Đế. Có thể nào các trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế không vươn cao hơn dĩ thái vũ trụ thứ hai—tức cõi chân thần của hệ?

295. Since the seven head centers are, in a sense, incorporated within the major head center (itself found for man on the systemic atomic ether), it may be that these seven human head centers are located precisely on this systemic atomic ether.

295. Vì bảy trung tâm đầu, theo một nghĩa nào đó, được bao hàm trong trung tâm đầu chính (bản thân nó được tìm thấy đối với con người trên dĩ thái nguyên tử của hệ), nên có thể bảy trung tâm đầu của con người này nằm chính xác trên dĩ thái nguyên tử của hệ ấy.

296. From the point of view of the Planetary Logos, it may be that His head center is located on the systemic monadic plane and that the seven head centers ‘within’ (the aura of) that major head center are also there to be located.

296. Từ quan điểm của Hành Tinh Thượng Đế, có thể trung tâm đầu của Ngài nằm trên cõi chân thần của hệ và bảy trung tâm đầu “bên trong” (hào quang của) trung tâm đầu chính ấy cũng nằm ở đó.

297. A little thought about these matters will reveal to us how little we really know about the occult location of these planetary (and solar) energy centers.

297. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút về những vấn đề này sẽ cho chúng ta thấy chúng ta thực sự biết ít đến mức nào về vị trí huyền bí của các trung tâm năng lượng hành tinh (và mặt trời) này.

This involves a realisation as to the centre of which he is a point of energy,

Điều này bao hàm một sự chứng nghiệm về trung tâm mà y là một điểm năng lượng của nó,

298. This will involve, initially, three major centres and eventually the possibility of involvement in any of seven subsidiary centers.

298. Điều này lúc đầu sẽ bao hàm ba trung tâm chính và cuối cùng là khả năng tham dự vào bất kỳ một trong bảy trung tâm phụ nào.

299. The Monad may reasonable be considered the “point of energy” here discussed.

299. Chân thần có thể được xem một cách hợp lý là “điểm năng lượng” đang được bàn đến ở đây.

300. From another perspective, man-as-Triad (in any one of his triadal vehicles) can be considered to express himself within one of the centers located on at least three of the cosmic ethers of the cosmic physical plane.

300. Từ một góc nhìn khác, con người-với-tư-cách-Tam nguyên tinh thần (trong bất kỳ một vận cụ tam nguyên nào của mình) có thể được xem là biểu hiện chính mình trong một trong các trung tâm nằm trên ít nhất ba dĩ thái vũ trụ của cõi hồng trần vũ trụ.

301. Just as in the body of a human being there are greater and lesser chakras (seven major chakras and seven superior head centers) so this should, analogously be the case of the Planetary Logos and the Solar Logos.

301. Cũng như trong thân thể của một con người có các luân xa lớn và nhỏ (bảy luân xa chính và bảy trung tâm đầu cao hơn), thì theo định luật tương ứng, điều này cũng phải đúng đối với Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế.

a knowledge of the type of force he is to transmit, and to manipulate from cosmic levels, and a conscious relation with the six other centres in the planetary Life with which he is associated.

một tri thức về loại mãnh lực mà y phải truyền dẫn và thao tác từ các cấp độ vũ trụ, và một mối liên hệ hữu thức với sáu trung tâm khác trong Sự sống hành tinh mà y được liên kết.

302. We seem to be speaking of ‘man-the-Monad’.

302. Dường như chúng ta đang nói về “con người-với-tư-cách-Chân thần”.

303. Man as a Monad awakens to the knowledge of that center within a Planetary Logos of which he forms a constituent part.

303. Con người như một Chân thần thức tỉnh đối với tri thức về trung tâm ấy bên trong một Hành Tinh Thượng Đế mà y tạo thành một phần cấu thành của nó.

304. Thus man, in a state of high spiritual realization realizes:

304. Như vậy, con người, trong một trạng thái chứng ngộ tinh thần cao, nhận ra:

a. The center within his Planetary Logos in which he has the greatest part to play

a. Trung tâm bên trong Hành Tinh Thượng Đế của mình mà trong đó y có phần vai trò lớn nhất để đảm đương

b. Knowledge of the force which he is to transmit and manipulate from cosmic levels. What are these “cosmic levels”? May we say that we are speaking of the manipulation of force from levels of the cosmic ethers?

b. Tri thức về mãnh lực mà y phải truyền dẫn và thao tác từ các cấp độ vũ trụ. Những “cấp độ vũ trụ” này là gì? Chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang nói về việc thao tác mãnh lực từ các cấp độ của các dĩ thái vũ trụ chăng?

c. A conscious relation with the six other centers in the planetary Life with which he is associated.

c. Một mối liên hệ hữu thức với sáu trung tâm khác trong Sự sống hành tinh mà y được liên kết.

305. We see that even though a liberated human being functions primarily through one or other centers of his Planetary Logos, he still has a relation to the other six centers of that Logos.

305. Chúng ta thấy rằng dù một con người được giải thoát hoạt động chủ yếu qua một hay một trung tâm khác của Hành Tinh Thượng Đế của mình, y vẫn có một mối liên hệ với sáu trung tâm còn lại của Thượng đế ấy.

306. A human being, having achieved monadic consciousness, is not encapsulated in only one center.

306. Một con người, sau khi đạt được tâm thức chân thần, không bị khép kín chỉ trong một trung tâm duy nhất.

307. According to his monadic ray, man may have a specific focus within his spiritual triad, and through this focus, he may express through one or other of the chakras of his Planetary Logos. We are approaching speculatively and the matter is intricate.

307. Theo cung chân thần của mình, con người có thể có một tiêu điểm đặc thù trong Tam Nguyên Tinh Thần của mình, và qua tiêu điểm này, y có thể biểu hiện qua một hay một luân xa khác của Hành Tinh Thượng Đế của mình. Chúng ta đang tiếp cận theo lối suy đoán và vấn đề này rất phức tạp.

This period of conscious activity in etheric substance (of which the planetary body is formed) persists according to the karma of the planetary Lord, for the unit is now consciously associated with planetary karma,

Giai đoạn hoạt động hữu thức này trong chất liệu dĩ thái (mà thể hành tinh được tạo thành từ đó) kéo dài tùy theo nghiệp quả của Chúa Tể hành tinh, vì đơn vị giờ đây được liên kết một cách hữu thức với nghiệp quả hành tinh,

308. We are speaking of the human unit.

308. Chúng ta đang nói về đơn vị con người.

309. The man is associated with planetary karma because he is in process of becoming a “Planetary Life”—a member of the sixth kingdom.

309. Con người được liên kết với nghiệp quả hành tinh vì y đang trong tiến trình trở thành một “Sự Sống Hành Tinh”—một thành viên của giới thứ sáu.

310. A man may spend a long time working in the cosmic ethers of his particular Planetary Logos.

310. Một người có thể trải qua một thời gian dài làm việc trong các dĩ thái vũ trụ của Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của mình.

and is a participant in the working out of the will and purpose of the Lord of His Ray.

và là một người tham dự vào sự triển khai ý chí và mục đích của Chúa Tể Cung của Ngài.

311. The “Lord of His Ray” may, from one perspective, be considered the Planetary Logos. From another perspective, each type of human Monad is related to one or other of the seven major Ray Lords (Beings ‘resident’ in Shamballa and attuned to the still greater Ray Lords Who ensoul the seven sacred planets).

311. “Chúa Tể Cung của Ngài” có thể, từ một góc nhìn, được xem là Hành Tinh Thượng Đế. Từ một góc nhìn khác, mỗi loại Chân thần con người có liên hệ với một hay một Đấng Chúa Tể Cung lớn trong bảy vị (các Đấng “cư ngụ” tại Shamballa và được chỉnh hợp với các Đấng Chúa Tể Cung còn vĩ đại hơn nữa, là những Đấng phú linh cho bảy hành tinh thiêng liêng).

312. A liberated human being works within the “etheric substance” of a Planetary Logos—i.e., within the cosmic ethers, perhaps with the exception of the first cosmic ether which can be considered more solar than planetary.

312. Một con người được giải thoát làm việc bên trong “chất liệu dĩ thái” của một Hành Tinh Thượng Đế—tức bên trong các dĩ thái vũ trụ, có lẽ ngoại trừ dĩ thái vũ trụ thứ nhất, vốn có thể được xem là mang tính mặt trời hơn là hành tinh.

313. Such an advanced human being is no longer personal. His entire purpose is to carry out the will and purpose of the Lord of his Ray. We are speaking here of the impersonal life of the liberated Arhat, Master or Chohan.

313. Một con người tiến bộ như vậy không còn mang tính cá nhân nữa. Toàn bộ mục đích của y là thực hiện ý chí và mục đích của Chúa Tể Cung của mình. Ở đây chúng ta đang nói về đời sống phi cá nhân của vị A La Hán, Chân sư hay Chohan được giải thoát.

314. We are speaking of activity following the “great human pralaya”. The term of such activity is at least partially determined by the life-span of a Planetary Logos and the onset of His pralaya. Of course, we remember that incarnation for a Planetary Logos does not include expression on the cosmic ethers, but only expression through His dense physical body. Therefore, when a Planetary Logos withdraws from His dense physical body and focussed instead through His cosmic etheric body, He is technically considered in pralaya or at least in the beginning phases of pralaya.

314. Chúng ta đang nói về hoạt động tiếp theo sau “đại pralaya của con người”. Thời hạn của hoạt động như vậy ít nhất phần nào được quyết định bởi tuổi thọ của một Hành Tinh Thượng Đế và sự khởi đầu pralaya của Ngài. Dĩ nhiên, chúng ta nhớ rằng sự nhập thể đối với một Hành Tinh Thượng Đế không bao gồm sự biểu hiện trên các dĩ thái vũ trụ, mà chỉ bao gồm sự biểu hiện qua thể xác đậm đặc của Ngài. Vì vậy, khi một Hành Tinh Thượng Đế rút khỏi thể xác đậm đặc của Ngài và thay vào đó tập trung qua thể dĩ thái vũ trụ của Ngài, về mặt kỹ thuật Ngài được xem là đang ở trong pralaya hoặc ít nhất trong các giai đoạn đầu của pralaya.

On the higher planes of the system, this stage persists for the length of the life of a scheme;

Trên các cõi cao hơn của hệ, giai đoạn này kéo dài suốt thời gian sống của một hệ hành tinh;

315. We are being told of the field of expression of a liberated human being. The cosmic ethers may provide the focus for such a being for the duration of that scheme in which he achieved liberation.

315. Chúng ta đang được cho biết về trường biểu hiện của một con người được giải thoát. Các dĩ thái vũ trụ có thể cung cấp tiêu điểm cho một hữu thể như vậy trong suốt thời lượng của hệ hành tinh mà trong đó y đã đạt được giải thoát.

316. It may be, however, that this is the case only when the human unit is treading the Path of Earth Service. How long this Path lasts we do not know. Some human units may, perhaps, take one or other of the other six Cosmic Paths and then return in a later round for service to that group of lives which has become the humanity of that future period.

316. Tuy nhiên, có thể điều này chỉ đúng khi đơn vị con người đang bước trên Con Đường Phụng Sự Trái Đất. Chúng ta không biết Con Đường này kéo dài bao lâu. Có lẽ một số đơn vị con người đi theo một hay một trong sáu Con Đường Vũ Trụ khác rồi trở lại trong một cuộc tuần hoàn sau để phụng sự nhóm sự sống đã trở thành nhân loại của thời kỳ tương lai ấy.

to which a period of pralaya succeeds that has its beginning towards the end of the seventh round in any scheme

mà sau đó là một giai đoạn pralaya tiếp nối khởi đầu vào gần cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy trong bất kỳ hệ hành tinh nào