← Commentary_S7_733_747

TCF 808- 816: S7S6

Trích nội dung chương

It will be apparent that when a man speaks of karma, he is dealing with something much wider than the interplay of effect and cause within the sphere of his own individual routine. He is, in all things, governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group, by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man, by force or purpose circulating through a triangle of centres, and by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself. Cần lưu ý rằng khi con người nói về nghiệp quả, y đang bàn đến một điều rộng lớn hơn rất nhiều so với sự tương tác giữa kết quả và nguyên nhân…


It will be apparent that when a man speaks of karma, he is dealing with something much wider than the interplay of effect and cause within the sphere of his own individual routine. He is, in all things, governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group, by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man, by force or purpose circulating through a triangle of centres, and by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself.

Cần lưu ý rằng khi con người nói về nghiệp quả, y đang bàn đến một điều rộng lớn hơn rất nhiều so với sự tương tác giữa kết quả và nguyên nhân trong phạm vi nếp sống cá nhân riêng của y. Trong mọi sự, y đều bị chi phối bởi các nguyên nhân phát sinh từ tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân, bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm, và bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng Đế.

Finally he is governed by the will of the solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity.

Sau cùng, y bị chi phối bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo.

403. DK has immensely extended the consideration of the origins of karma and the forces by which man is governed and conditioned. Let us tabulate:

403. Chân sư DK đã mở rộng vô cùng lớn việc xem xét các nguồn gốc của nghiệp quả và các mãnh lực chi phối và tác động lên con người. Chúng ta hãy lập bảng:

a. Man is conditioned by those karmic forces which are the result of the interplay of cause and effect within the sphere of his own individual routine

a. Con người bị tác động bởi những mãnh lực nghiệp quả là kết quả của sự tương tác giữa nguyên nhân và kết quả trong phạm vi nếp sống cá nhân riêng của y

b. Man is karmically governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group

b. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi các nguyên nhân phát sinh từ tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y

c. Man is karmically governed by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man. Here we have fresh light upon the manner in which egoic groups participate in the life of a center of a Heavenly Man: they form one petal in such a center.

c. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân. Ở đây chúng ta có ánh sáng mới về cách các nhóm chân ngã tham dự vào sự sống của một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân: chúng tạo thành một cánh hoa trong trung tâm ấy.

d. Man is karmically governed by force or purpose circulating through a triangle of centres

d. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm

e. Man is karmically governed by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself.

e. Con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng Đế.

f. Finally man is karmically governed by the will of the Solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity—setting fundamental rhythms to which all lives within a solar system must, perforce, respond.

f. Sau cùng, con người bị chi phối về mặt nghiệp quả bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo—thiết lập những nhịp điệu căn bản mà mọi sự sống trong một hệ mặt trời đều buộc phải đáp ứng.

Beyond this we need hardly go, but enough has been said to show that every human atom is under the dominance of forces outside his own consciousness, which sweep him and others into situations from which there is no escape, and which are to him incomprehensible.

Vượt quá điều này, chúng ta hầu như không cần đi xa hơn, nhưng như thế cũng đủ để cho thấy rằng mỗi nguyên tử nhân loại đều nằm dưới sự thống trị của những mãnh lực ở ngoài tâm thức riêng của y, cuốn y và những người khác vào những tình huốngkhông thể thoát ra, và đối với y thì không thể nào hiểu nổi.

404. There is no freewill in relation to such governance. There is no escape from it. And, there is no understanding of the true nature and origin of such karmic causes. Man has, perforce, to accept them and make the best of them, using them to improve the quality of his consciousness and skillful response to circumstance.

404. Không có tự do ý chí nào liên hệ đến sự chi phối như thế. Không có sự thoát khỏi nó. Và cũng không có sự thấu hiểu bản chất và nguồn gốc đích thực của những nguyên nhân nghiệp quả như thế. Con người, do bắt buộc, phải chấp nhận chúng và tận dụng tốt nhất có thể, dùng chúng để cải thiện phẩm tính tâm thức của mình và khả năng đáp ứng khéo léo với hoàn cảnh.

This has been at no time better illustrated than in the event of the late war and in present world conditions; these are effects of causes having their origin in the renewed activity of a certain planetary triangle, and in the vibration set up by our planetary Logos on the moon-chain, [Page 804] and which had a faint beginning in an earlier solar system.

Điều này chưa từng được minh họa rõ hơn qua biến cố của cuộc chiến vừa qua và trong các điều kiện thế giới hiện nay; đó là những kết quả của các nguyên nhân có nguồn gốc trong hoạt động được đổi mới của một tam giác hành tinh nào đó, và trong rung động do Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thiết lập trên Dãy Mặt Trăng, [Page 804] và đã có một khởi đầu mờ nhạt trong một hệ mặt trời trước đây.

405. When DK speaks here of a “certain planetary triangle” we do not know whether the triangle is intra-planetary (and thus within the planetary scheme and perchance involving planetary chains or certain globes) or extra-planetary (thus involving the Earth and two to three other Planetary Logoi.

405. Khi Chân sư DK nói ở đây về “một tam giác hành tinh nào đó”, chúng ta không biết tam giác ấy là tam giác nội-hành tinh (và như thế ở trong hệ hành tinh, có lẽ liên quan đến các Dãy hành tinh hay một số bầu hành tinh nào đó) hay ngoại-hành tinh (như thế liên quan đến Trái Đất và hai đến ba Hành Tinh Thượng Đế khác).

406. We are alerted to the fact that this triangle was active prior to the period of the First WW, perhaps ages ago for the activity of this triangle has been “renewed”.

406. Chúng ta được báo cho biết rằng tam giác này đã hoạt động trước thời kỳ Thế Chiến thứ Nhất, có lẽ từ nhiều thời đại trước, vì hoạt động của tam giác này đã được “đổi mới”.

407. We might expect that such planets as Mars, Vulcan and Pluto were active, and Venus as well (offering the ideal of the soul).

407. Chúng ta có thể chờ đợi rằng những hành tinh như Sao Hỏa, Vulcan và Sao Diêm Vương đã hoạt động, và cả Sao Kim nữa (cung ứng lý tưởng của linh hồn).

408. The vibration established upon on the Moon-chain was probably not a positive vibration and may have had its effective origin in the previous solar system.

408. Rung động được thiết lập trên Dãy Mặt Trăng có lẽ không phải là một rung động tích cực và có thể đã có nguồn gốc hữu hiệu của nó trong hệ mặt trời trước.

409. Thus, another triangle can be inferred: influences from the previous solar system; influences originating on the Moon-chain; conditions (resonant to both these antecedent causes) existent on our planet at the time of the war.

409. Như vậy, có thể suy ra một tam giác khác: các ảnh hưởng từ hệ mặt trời trước; các ảnh hưởng phát sinh trên Dãy Mặt Trăng; các điều kiện (cộng hưởng với cả hai nguyên nhân tiền nhiệm này) hiện hữu trên hành tinh chúng ta vào thời chiến tranh.

410. Is DK suggesting something about the functioning of our Planetary Logos in a previous solar system? We have many times gathered that the Planetary Logos of the Earth did, indeed, exist in the immediately previous solar system as did certain other planets, such as Mercury and, certainly, Saturn.

410. Có phải Chân sư DK đang gợi ý điều gì đó về hoạt động của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trong một hệ mặt trời trước đây chăng? Chúng ta đã nhiều lần nhận thấy rằng Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất quả thực đã hiện hữu trong hệ mặt trời ngay trước đó, cũng như một số hành tinh khác, như Sao Thủy và chắc chắn là Sao Thổ.

411. We gather that the forceful arising of certain ancient vibrations (possibly evoked by the approach of the Good—as “Perfection calls imperfection to the surface”) were responsible for WWI and its continuation as WWII—both constituting the “Great War”.

411. Chúng ta hiểu rằng sự trỗi dậy mãnh liệt của một số rung động cổ xưa nào đó (có thể được gợi lên bởi sự tiếp cận của Điều Thiện—vì “Sự Toàn Thiện gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt”) đã chịu trách nhiệm cho Thế Chiến I và sự tiếp diễn của nó thành Thế Chiến II—cả hai cùng cấu thành “Đại Chiến”.

This vibration impinged primarily upon certain atoms and groups of atoms in His body, principally those composing the human and animal kingdoms, and produced the apparently dire results which we have been witnessing.

Rung động này tác động chủ yếu lên một số nguyên tử và nhóm nguyên tử nào đó trong thân thể của Ngài, chủ yếu là những nguyên tử cấu thành giới nhân loại và giới động vật, và đã tạo ra những kết quả có vẻ thảm khốc mà chúng ta đã chứng kiến.

412. The atoms here mentioned are human and animal units.

412. Những nguyên tử được nhắc đến ở đây là các đơn vị người và động vật.

413. The atoms upon which the vibration impinged must have been peculiarly responsive to that vibration. May they have been atoms characterized to a high degree by selfishness (i.e., atoms highly conditioned by the lunar nature rather than the solar)?

413. Những nguyên tử mà rung động ấy tác động vào hẳn phải đáp ứng một cách đặc biệt với rung động đó. Có thể nào đó là những nguyên tử được đặc trưng ở mức độ cao bởi tính ích kỷ (tức là những nguyên tử bị tác động mạnh bởi bản chất nguyệt hơn là bản chất thái dương) chăng?

So great was the effect of His energy, that the vegetable kingdom was somewhat (though not so much) affected, and the mineral kingdom felt the effect in a startling manner,

Ảnh hưởng của năng lượng của Ngài lớn lao đến mức, giới thực vật cũng bị ảnh hưởng phần nào (dù không nhiều đến thế), và giới kim thạch cảm nhận ảnh hưởng ấy một cách đáng kinh ngạc,

414. Nuclear chain reactions are “startling”.

414. Các phản ứng dây chuyền hạt nhân là “đáng kinh ngạc”.

far more than the vegetable kingdom and almost as much as the animal.

nhiều hơn giới thực vật rất nhiều và gần như nhiều bằng giới động vật.

415. Mars is largely the ruler of the animal kingdom, and, thus, the thought of its involvement as part of the planetary triangle mentioned.

415. Sao Hỏa phần lớn là chủ tinh của giới động vật, và do đó có ý nghĩ rằng nó có liên hệ như một phần của tam giác hành tinh được nhắc đến.

416. Vulcan is the ruler of the mineral kingdom, hence, likewise, the reason for including it within the proposed planetary triangle.

416. Vulcan là chủ tinh của giới kim thạch, vì thế cũng là lý do để đưa nó vào trong tam giác hành tinh được đề nghị.

417. Or, perhaps there have been chains and globes responsive to such planetary influences.

417. Hoặc có lẽ đã có những Dãy và những bầu hành tinh đáp ứng với các ảnh hưởng hành tinh như thế.

418. The vegetable kingdom is ruled by Venus. To what extent should Venus be implicated in that war, except for the fact that it represents the emergent soul in humanity?

418. Giới thực vật được cai quản bởi Sao Kim. Sao Kim nên bị quy vào cuộc chiến ấy đến mức nào, ngoại trừ sự kiện rằng nó tượng trưng cho linh hồn đang nổi lên trong nhân loại?

419. We may further conclude that our Planetary Logos, Himself, was very much involved in impulsing the first phase of the Great War.

419. Chúng ta còn có thể kết luận thêm rằng chính Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã can dự rất nhiều vào việc thúc đẩy giai đoạn đầu của Đại Chiến.

Here we have a setting of circumstances outside human and even group control, which illustrates the helplessness of man in certain conditions,

Ở đây chúng ta có một sự an bài các hoàn cảnh nằm ngoài sự kiểm soát của con người và ngay cả của nhóm, điều này minh họa sự bất lực của con người trong một số điều kiện nhất định,

420. Millions of human beings were the victims of an enforced sacrifice, necessitated through the imposition of the Will of the Planetary Logos, and other equally high (and probably still greater) sources of Will.

420. Hàng triệu con người là nạn nhân của một sự hi sinh bị cưỡng bách, cần thiết do sự áp đặt của Ý Chí của Hành Tinh Thượng Đế, và của những nguồn Ý Chí cao cả khác tương đương (và có lẽ còn lớn hơn nữa).

421. Not only could man not control the circumstances which drove him into inevitable sacrifice, but groups, as well, could not exert any control.

421. Không những con người không thể kiểm soát các hoàn cảnh đã đẩy y vào sự hi sinh không thể tránh khỏi, mà các nhóm cũng không thể thực hiện bất kỳ sự kiểm soát nào.

and which serves to bring in factors apparently apart from the individual vibration of the fourth kingdom.

và điều này giúp đưa vào những yếu tố dường như tách biệt khỏi rung động cá nhân của giới thứ tư.

422. DK has been enumerating various energies and forces which affect the human unit and the human kingdom and over which no human control can possibly be exerted. This is part of His attempt to indicate the greater and often more remote causes of the karmic conditions presently facing the human kingdom and the individual human being.

422. Chân sư DK đã liệt kê nhiều năng lượng và mãnh lực khác nhau ảnh hưởng đến đơn vị người và giới nhân loại, và trên đó không thể nào có bất kỳ sự kiểm soát nào của con người. Đây là một phần trong nỗ lực của Ngài nhằm chỉ ra những nguyên nhân lớn hơn và thường xa hơn của các điều kiện nghiệp quả hiện đang đối diện giới nhân loại và từng con người.

Nevertheless, within limits, man definitely does "control his destiny," and can initiate action which produces effects recognisable by him as being dependent upon his activity along a particular line.

Tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, con người quả thực “kiểm soát số phận của mình,” và có thể khởi xướng hành động tạo ra những kết quả có thể nhậnbiết đối với y như là tùy thuộc vào hoạt động của y theo một đường lối nhất định.

423. Though individual man is helpless to alter the course of great causes arising from great systemic and cosmic sources, he does, at least, have some control over his individual destiny.

423. Dù cá nhân con người bất lực trong việc thay đổi tiến trình của những nguyên nhân lớn phát sinh từ các nguồn hệ thống và vũ trụ lớn lao, ít nhất y vẫn có một mức độ kiểm soát nào đó đối với số phận cá nhân của mình.

424. When dealing with karma, we are always dealing with the principle of limitation and the energy and force of the planet which sets limits—Saturn.

424. Khi bàn đến nghiệp quả, chúng ta luôn luôn đang bàn đến nguyên khí của sự giới hạn và năng lượng cùng mãnh lực của hành tinh đặt ra các giới hạn—Sao Thổ.

425. It is important for the human being to develop a balanced attitude, recognizing those conditions and circumstances over which he has no possible control and those over which he may exert a degree of control.

425. Điều quan trọng đối với con người là phát triển một thái độ quân bình, nhận ra những điều kiện và hoàn cảnh mà y hoàn toàn không thể kiểm soát, và những điều mà y có thể thực hiện một mức độ kiểm soát nào đó.

426. To say this reminds one of the Serenity Prayer of St. Francis, who, according to reasonable astrological hypothesis was a Libran—perhaps the major sign of karma and one in which the planet Saturn has unique potency.

426. Nói điều này khiến người ta nhớ đến Lời Cầu Nguyện về sự Tĩnh Lặng của Thánh Francis, người mà theo giả thuyết chiêm tinh hợp lý là một người Thiên Bình—có lẽ là dấu hiệu hoàng đạo chính yếu của nghiệp quả và là một dấu hiệu trong đó hành tinh Sao Thổ có uy lực độc đáo.

He does, on a miniature scale, repeat the procedure of the Logos on a vaster scale, and thus is the arbiter of his own destiny, the producer of his own drama, the architect of his own home, and the initiator of his own affairs.

Y quả thực, trên một quy mô thu nhỏ, lặp lại tiến trình của Thượng đế trên một quy mô rộng lớn hơn, và do đó là người phân xử số phận của chính mình, người tạo ra vở kịch của chính mình, kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình, và người khởi xướng những công việc của chính mình.

427. DK discusses the control which man may exert upon his own destiny in a variety of ways. Let us tabulate them for impact: Within limits, man is—

427. Chân sư DK bàn về sự kiểm soát mà con người có thể thực hiện đối với số phận của chính mình theo nhiều cách khác nhau. Chúng ta hãy lập bảng để tạo ấn tượng: Trong những giới hạn nhất định, con người là—

a. The arbiter of his own destiny

a. Người phân xử số phận của chính mình

b. The producer of his own drama. Is he the author and director as well?

b. Người tạo ra vở kịch của chính mình. Y có phải là tác giả và đạo diễn nữa không?

c. The architect of his own home. ‘You built your house. Now live in it.’ ‘You made your own bed. No lie in it.’

c. Kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình. ‘Bạn đã xây ngôi nhà của mình. Giờ hãy sống trong đó.’ ‘Bạn đã tự dọn giường cho mình. Giờ hãy nằm trên đó.’

d. The initiator of his own affairs.

d. Người khởi xướng những công việc của chính mình.

428. We gather from what is said that, as human beings, we are both controlling and controlled and that we must understand the balance between these two conditions.

428. Từ những gì được nói ra, chúng ta hiểu rằng, với tư cách những con người, chúng ta vừa kiểm soát vừa bị kiểm soát, và rằng chúng ta phải hiểu sự quân bình giữa hai điều kiện này.

429. It would behoove us to make lists of those conditions and circumstances over which we seem to have a degree of control and those over which we have none.

429. Chúng ta nên lập danh sách những điều kiện và hoàn cảnh mà dường như chúng ta có một mức độ kiểm soát nào đó, và những điều mà chúng ta không có chút nào.

Though he may be the meeting place of forces outside his control, yet he can utilize force, circumstance and environment and can turn them, if he so will, to his own ends.

Dù y có thể là nơi gặp gỡ của những mãnh lực nằm ngoài sự kiểm soát của mình, nhưng y vẫn có thể sử dụng mãnh lực, hoàn cảnh và môitrường, và có thể xoay chuyển chúng, nếu y muốn, theo những mục đích riêng của mình.

430. We are reminded of the sailor who must sail into the wind. If he knows what he is doing, he may utilize this counterforce to his advantage, thus propelling his craft forward.

430. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến người thủy thủ phải chèo thuyền ngược gió. Nếu biết mình đang làm gì, ông có thể sử dụng phản lực này để có lợi cho mình, nhờ đó đẩy con thuyền tiến lên phía trước.

431. Thus, even if man cannot stem the forces which will impact him, he can, to a degree, utilize such forces in a constructive manner. In his own little sphere, he can turn evil into good, and adversity into advantage.

431. Như vậy, ngay cả nếu con người không thể ngăn chặn những mãnh lực sẽ tác động đến mình, y vẫn có thể, ở một mức độ nào đó, sử dụng những mãnh lực ấy theo cách xây dựng. Trong khối cầu nhỏ bé của riêng mình, y có thể biến điều ác thành điều thiện, và nghịch cảnh thành lợi thế.

The working out of karmic law in a man's own life might be broadly divided into three divisions, in each of which a different type of energy is demonstrating, producing effects upon the lower and higher bodies of a definite nature.

Sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống riêng của một người có thể được chia rộng ra thành ba phần, trong mỗi phần một loại năng lượng khác nhau đang biểu lộ, tạo ra những kết quả có bản chất xác định trên các thể thấp và cao.

432. In this entire commentary we have been dealing with karma and its working out.

432. Trong toàn bộ phần bình luận này, chúng ta đã bàn đến nghiệp quả và sự vận hành của nó.

433. DK seeks to help us structure our thought process in relation to this subject.

433. Chân sư DK tìm cách giúp chúng ta cấu trúc tiến trình tư tưởng của mình liên hệ đến chủ đề này.

434. Now we are to consider three divisions applicable to the working out of karmic law in a man’s life.

434. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét ba phần áp dụng cho sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống của một người.

435. Division One:

435. Phần Một:

In the very early stages, when man is scarcely more than an animal,

Trong những giai đoạn rất sớm, khi con người hầu như chưa hơn gì một con vật,

436. This is the stage of individualized “animal-man”.

436. Đây là giai đoạn của “người thú” đã được biệt ngã hóa.

the vibratory activity of the atoms of his three sheaths (and of the lowest primarily)

hoạt động rung động của các nguyên tử trong ba thể của y (và chủ yếu là thể thấp nhất)

437. The physical body, primarily…

437. Chủ yếu là thể xác…

governs all actions on his part.

chi phối mọi hành động của y.

438. Man is entirely governed by his lunar nature and, especially, by the lowest of the four elementals—the physical elemental.

438. Con người hoàn toàn bị chi phối bởi bản chất nguyệt của mình và đặc biệt bởi hành khí thấp nhất trong bốn hành khí—tinh linh thể xác.

He is the victim of the vibratory activity of physical substance, and much that occurs is the [Page 805] consequence of the interaction between the Ego and its lowest manifestation, the physical sheath.

Y là nạn nhân của hoạt động rung động của chất liệu hồng trần, và phần lớn những gì xảy ra là [Page 805] hệ quả của sự tương tác giữa Chân ngã và biểu hiện thấp nhất của nó, thể xác.

439. Though the stage is primitive, the Ego nevertheless interacts with the man’s life in the three worlds.

439. Dù giai đoạn này còn nguyên sơ, Chân ngã vẫn tương tác với đời sống của con người trong ba cõi giới.

440. The attention of the Ego on its own plane (such attention as there is) is directed to the physical vehicle.

440. Sự chú ý của Chân ngã trên cõi riêng của nó (chừng nào còn có sự chú ý ấy) được hướng về vận cụ hồng trần.

441. We note that the man is considered a “victim”. He has very little or no control over his physical substance. He is not self-directing.

441. Chúng ta lưu ý rằng con người được xem là một “nạn nhân”. Y có rất ít hoặc không có sự kiểm soát nào đối với chất liệu hồng trần của mình. Y không tự định hướng được.

The centre of attention is the physical body and only faintly are the two subtler bodies responding.

Trung tâm của sự chú ý là thể xác và chỉ một cách mờ nhạt hai thể vi tế hơn mới đang đáp ứng.

442. The period of development indicated is principally that of the organizing and unfoldment of the first petal of the egoic lotus. The focus is definitely within the first tier of petals. The man is engaged in work within the Hall of Ignorance.

442. Thời kỳ phát triển được chỉ ra chủ yếu là thời kỳ tổ chức và khai mở cánh hoa thứ nhất của Hoa Sen Chân Ngã. Trọng điểm rõ rệt nằm trong tầng cánh hoa thứ nhất. Con người đang dấn thân vào công việc trong Phòng Vô Minh.

443. There is response from the astral body and mental body while within the Hall of Ignorance, but the astral and mental natures are not fully developed until subsequent tiers are unfolded.

443. Có sự đáp ứng từ thể cảm dục và thể trí khi còn ở trong Phòng Vô Minh, nhưng bản chất cảm dục và trí tuệ chưa phát triển đầy đủ cho đến khi các tầng tiếp theo được khai mở.

The egoic impulse is slow and heavy,

Xung lực chân ngã chậm chạp và nặng nề,

444. This means that the Ego is only rarely attending to the outer personality and that its impacts are not aimed at producing delicacy of response but only in establishing basic, necessitous conditions.

444. Điều này có nghĩa là Chân ngã chỉ hiếm khi chú ý đến phàm ngã bên ngoài và các tác động của nó không nhằm tạo ra sự tinh tế trong đáp ứng mà chỉ nhằm thiết lập những điều kiện căn bản và cần thiết.

and the vibration is directed to producing response between the egoic consciousness and the atoms of the physical body.

và rung động được hướng đến việc tạo ra sự đáp ứng giữa tâm thức chân ngã và các nguyên tử của thể xác.

445. The Ego is not attempting to influence or refine the astral and mental bodies. Its work is concentrated upon rendering the physical body increasingly responsive (albeit crudely responsive) to egoic impulses.

445. Chân ngã không tìm cách ảnh hưởng hay tinh luyện thể cảm dục và thể trí. Công việc của nó tập trung vào việc làm cho thể xác ngày càng đáp ứng hơn (dù là đáp ứng một cách thô sơ) với các xung lực chân ngã.

The physical permanent atom is more active than the other two.

Nguyên tử trường tồn hồng trần hoạt động mạnh hơn hai nguyên tử kia.

446. This is the case throughout development in the first tier of petals, and, in fact, even until the sixth petal is unfolded, at which time the astral permanent atom is equally vibrant as the physical permanent atom.

446. Điều này đúng trong suốt quá trình phát triển ở tầng cánh hoa thứ nhất, và thật ra còn kéo dài cho đến khi cánh hoa thứ sáu được khai mở; lúc ấy nguyên tử trường tồn cảm dục rung động ngang bằng với nguyên tử trường tồn hồng trần.

It is the aspect of "fire by friction" which is fanned by the egoic breath, with a triple object in view:

Đó là phương diện của "Lửa ma sát" được quạt lên bởi hơi thở chân ngã, với ba mục tiêu được nhắm đến:

447. We note the interesting term “egoic breath” connoting the outgoing influence of the Ego upon the lower sheaths.

447. Chúng ta lưu ý thuật ngữ thú vị “hơi thở chân ngã”, hàm ý ảnh hưởng hướng ngoại của Chân ngã lên các thể thấp.

448. The term “fanned” is also used. We recall the “fanning of the spark of mind” for which the Solar Angel is responsible.

448. Thuật ngữ “quạt lên” cũng được dùng. Chúng ta nhớ đến việc “quạt lên tia lửa của trí tuệ” mà Thái dương Thiên Thần chịu trách nhiệm.

449. We can conclude that the fanning which occurs in those early days occurs through the emanation of the egoic breath (or, perhaps we could call it the ‘Breath of the Solar Angel’). In this context, egoic breathing is fanning.

449. Chúng ta có thể kết luận rằng sự quạt lên xảy ra trong những ngày đầu ấy diễn ra qua sự phát xạ của hơi thở chân ngã (hay có lẽ chúng ta có thể gọi đó là ‘Hơi Thở của Thái dương Thiên Thần’). Trong bối cảnh này, hơi thở chân ngã là sự quạt lên.

450. We must remember that fire by friction is not only physical, but is an aspect of energy found within the astral body and lower mental body as well.

450. Chúng ta phải nhớ rằng Lửa ma sát không chỉ là hồng trần, mà còn là một phương diện của năng lượng được tìm thấy trong thể cảm dục và thể hạ trí nữa.

451. In the early days of the working out of karmic law, the Ego seeks to achieve three results.

451. Trong những ngày đầu của sự vận hành định luật nghiệp quả, Chân ngã tìm cách đạt được ba kết quả.

a. Co-ordinating the physical body.

a. Phối hợp thể xác.

452. The physical body of early man was, we are told, ill-coordinated. One of the first necessities was the coordination of the physical body with the etheric body. Success with respect to this coordination was the mark of an early form of initiation.

452. Thể xác của con người thời kỳ đầu, như chúng ta được cho biết, là thiếu phối hợp. Một trong những nhu cầu đầu tiên là sự phối hợp thể xác với thể dĩ thái. Thành công đối với sự phối hợp này là dấu hiệu của một hình thức điểm đạo sơ kỳ.

b. Increasing the resistance of the etheric web, a work which was only carried to the desired point by the middle of the Atlantean root-race.

b. Gia tăng sức kháng cự của màng dĩ thái, một công việc chỉ được đưa đến mức mong muốn vào khoảng giữa giống dân gốc Atlantis.

453. We see that millions of years were required to strengthen the resistance of the etheric web.

453. Chúng ta thấy rằng cần đến hàng triệu năm để tăng cường sức kháng cự của màng dĩ thái.

454. If the etheric web was not sufficiently resistant, may we conclude that man was very passive to influences reaching him via the astral plane. Such a condition may well have furthered the psychism for which the Atlanteans were renowned.

454. Nếu màng dĩ thái không đủ sức kháng cự, liệu chúng ta có thể kết luận rằng con người đã rất thụ động trước những ảnh hưởng đến với mình qua cõi cảm dục không? Một điều kiện như thế rất có thể đã thúc đẩy tính thông linh mà người Atlantis nổi tiếng.

455. May the sufficient strengthening of the etheric web have coincided with that period of man’s development when his mental apparatus was growing in strength. We have read that in the middle of the Atlantean rootrace, the foremost members of the human race were becoming increasingly mentally focussed.

455. Liệu việc tăng cường đầy đủ màng dĩ thái có trùng hợp với thời kỳ phát triển của con người khi bộ máy trí tuệ của y đang tăng trưởng sức mạnh không? Chúng ta đã đọc rằng vào giữa giống dân gốc Atlantis, những thành viên tiên tiến nhất của nhân loại ngày càng trở nên tập trung trí tuệ hơn.

c. Bringing certain of the lower centres to the necessary stage of expression.

c. Đưa một số trung tâm thấp đến giai đoạn biểu lộ cần thiết.

456. Why does DK not specify which centers? He may mean the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus center, but He may also be including the spleen. There are other, lesser and more ancient centers which it would not be the goal of early man to cultivate but, rather, to see subdued.

456. Tại sao Chân sư DK không chỉ rõ là những trung tâm nào? Ngài có thể muốn nói đến trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương, nhưng Ngài cũng có thể bao gồm cả luân xa lá lách. Còn có những trung tâm khác, nhỏ hơn và cổ xưa hơn, mà mục tiêu của con người thời kỳ đầu không phải là vun bồi, mà đúng hơn là thấy chúng bị chế ngự.

The heat of the atoms in the bodies is increased during this stage, and their atomic life co-ordinated, while the triangle between the three permanent atoms becomes a demonstrable fact and not a faint indication.

Nhiệt của các nguyên tử trong các thể được gia tăng trong giai đoạn này, và sự sống nguyên tử của chúng được phối hợp, trong khi tam giác giữa ba nguyên tử trường tồn trở thành một sự kiện có thể chứng minh được chứ không còn là một dấu hiệu mờ nhạt..

457. Three more effects are found during this first phase of the outworking of karmic law:

457. Ba hiệu quả nữa được tìm thấy trong giai đoạn đầu tiên này của sự vận hành định luật nghiệp quả:

a. The heat of the atoms in the three bodies in increased.

a. Nhiệt của các nguyên tử trong ba thể được gia tăng.

b. The atomic life of these atoms is coordinated

b. Sự sống nguyên tử của các nguyên tử này được phối hợp

c. The three permanent atoms are related in triangular formation. The triangle, however, is still weak, and will not be strong until the phase of initiation is reached.

c. Ba nguyên tử trường tồn được liên hệ trong sự hình thành tam giác. Tuy nhiên, tam giác này vẫn còn yếu, và sẽ không mạnh cho đến khi đạt đến giai đoạn điểm đạo.

458. Thus, six developments in all occur during this first period of karmic expression:

458. Như vậy, tổng cộng có sáu sự phát triển xảy ra trong thời kỳ đầu tiên này của sự biểu lộ nghiệp quả:

a. The physical body is coordinated

a. Thể xác được phối hợp

b. The resistance of the etheric web is increased

b. Sức kháng cự của màng dĩ thái được gia tăng

c. Certain of the lower centers are brought to a necessary level of expression

c. Một số trung tâm thấp được đưa đến mức biểu lộ cần thiết

d. The heat of the atoms in the three bodies is increased.

d. Nhiệt của các nguyên tử trong ba thể được gia tăng.

e. The atomic life of these atoms is coordinated

e. Sự sống nguyên tử của các nguyên tử này được phối hợp

d. The three permanent atoms are related in triangular formation

d. Ba nguyên tử trường tồn được liên hệ trong sự hình thành tam giác

459. We are reminded that in each of these three phases, the law of karma or of karmic influence is seeking to effect certain ends within the vehicles of man in the lower three worlds.

459. Chúng ta được nhắc rằng trong mỗi một trong ba giai đoạn này, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả đang tìm cách thực hiện những mục đích nhất định trong các vận cụ của con người ở ba cõi thấp.

460. Division Two:

460. Phần Hai:

During the second stage, the law of karma or karmic influence (through the inevitable reflex action produced by the increased activity of the sheaths) turns its attention to the working out of desire, and its transmutation into the higher aspiration.

Trong giai đoạn thứ hai, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả (qua phản ứng phản hồi tất yếu do hoạt động gia tăng của các thể tạo ra) chuyển sự chú ý của nó sang sự vận hành của dục vọng, và sự chuyển hoá của nó thành khát vọng cao hơn.

461. When the outworking with respect to the physical body has been sufficiently accomplished, a reflex action turns the direction and application of the law of karmic influence towards the astral body. The goal is the “working out of desire and its transmutation into the higher aspiration”.

461. Khi sự vận hành liên quan đến thể xác đã được hoàn thành đầy đủ, một phản ứng phản hồi sẽ chuyển hướng và sự áp dụng của định luật ảnh hưởng nghiệp quả về phía thể cảm dục. Mục tiêu là “sự vận hành của dục vọng và sự chuyển hoá của nó thành khát vọng cao hơn”.

462. We may judge that the major focus of egoic attention is the love petals (for the astral plane).

462. Chúng ta có thể phán đoán rằng trọng tâm chính của sự chú ý chân ngã là các cánh hoa bác ái (đối với cõi cảm dục).

Through experience, the pairs of opposites are recognised by the Thinker, and he becomes no longer the victim of the vibratory impulses of his physical body;

Qua kinh nghiệm, các cặp đối đãi được nhận ra bởi Kẻ Tư Tưởng, và y không còn là nạn nhân của các xung lực rung động của thể xác nữa;

463. We may recall that the recognition of the pairs of opposites is particularly associated with the development and unfoldment of the fourth petal.

463. Chúng ta có thể nhớ rằng sự nhận ra các cặp đối đãi đặc biệt gắn liền với sự phát triển và khai mở cánh hoa thứ tư.

1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. (TCF 540)

1. Cánh hoa tri thức, đối với cõi cảm dục; sự khai mở được mang lại bởi sự quân bình có ý thức các cặp đối đãi, và sự sử dụng dần dần Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. (TCF 540)

464. The astral plane is particularly that dimension in the life of man which presents the challenge of duality, and this even though it is the only unitary body of the three personality vehicles.

464. Cõi cảm dục đặc biệt là chiều kích trong đời sống con người trình bày thách thức của nhị nguyên tính, dù rằng nó là thể duy nhất trong ba vận cụ phàm ngã.

the factor of intelligent choice becomes apparent.

yếu tố của sự lựa chọn thông minh trở nên hiển nhiên.

465. We will naturally find the presence of Libra, Saturn and the third ray.

465. Chúng ta tự nhiên sẽ thấy sự hiện diện của Thiên Bình, Sao Thổ và cung ba.

466. Man is no longer ignorant. He understands that there are a higher and lower pair of opposites and that he has the choice regarding which of these he will emphasize.

466. Con người không còn vô minh nữa. Y hiểu rằng có một cặp đối đãi cao và thấp, và rằng y có sự lựa chọn về việc mình sẽ nhấn mạnh bên nào.

467. His first work is with horizontal pairs of opposites. Later he becomes aware of the vertical pair of opposites—soul and personality.

467. Công việc đầu tiên của y là với các cặp đối đãi theo chiều ngang. Về sau y nhận biết cặp đối đãi theo chiều dọc—linh hồn và phàm ngã.

The man begins to discriminate between the pairs of opposites, choosing ever in the early stages that which appeals most to his lower nature and that which he believes will bring him pleasure.

Con người bắt đầu phân biện giữa các cặp đối đãi, trong những giai đoạn đầu luôn chọn điều hấp dẫn nhất đối với bản chất thấp của mình và điều mà y tin sẽ đem lại khoái lạc cho mình.

468. Man is confronted with the choice between pleasure and responsibility (which leads ever to the soul).

468. Con người đối diện với sự lựa chọn giữa khoái lạc và trách nhiệm (điều luôn dẫn đến linh hồn).

469. DK emphasizes the thought that, in the beginning, man almost always fails to choose aright. He has not yet learned through bitter experience, to do otherwise.

469. Chân sư DK nhấn mạnh ý tưởng rằng, lúc ban đầu, con người hầu như luôn luôn không chọn đúng. Y chưa học được qua kinh nghiệm cay đắng để làm khác đi.

The centre of the attention of the Ego is the astral body,

Trung tâm chú ý của Chân ngã là thể cảm dục,

470. We note that the Ego (in this instance the Solar Angel as the Divine Supervisor) will concentrate progressively upon the different vehicles in ascending order. Now the solar angelic attention is focussed on the astral body.

470. Chúng ta lưu ý rằng Chân ngã (trong trường hợp này là Thái dương Thiên Thần với tư cách Đấng Giám Sát thiêng liêng) sẽ dần dần tập trung vào các vận cụ khác nhau theo thứ tự đi lên. Giờ đây sự chú ý của thiên thần thái dương được tập trung vào thể cảm dục.

and it becomes so closely co-ordinated with the physical body that the two form one united expression of desire.

và nó trở nên được phối hợp chặt chẽ với thể xác đến nỗi cả hai tạo thành một biểu hiện hợp nhất của dục vọng.

471. We witness the close coordination of the etheric-physical body and the astral body. This is completed in fulness when the sixth petal is opened, but that lies relatively far ahead of this stage.

471. Chúng ta chứng kiến sự phối hợp chặt chẽ của thể dĩ thái-hồng trần và thể cảm dục. Điều này được hoàn tất trọn vẹn khi cánh hoa thứ sáu mở ra, nhưng điều đó còn ở khá xa phía trước giai đoạn này.

472. At the stage under discussion, the physical body serves the behests of the astral body. The physical nature becomes the immediate servant of desire. Mind, however, slowly enters and provides the necessary “checks and balances”. Mind becomes the instrument of conscious choice.

472. Ở giai đoạn đang được bàn đến, thể xác phục vụ các đòi hỏi của thể cảm dục. Bản chất hồng trần trở thành người phục vụ trực tiếp của dục vọng. Tuy nhiên, trí tuệ chậm rãi đi vào và cung cấp những “kiểm soát và cân bằng” cần thiết. Trí tuệ trở thành công cụ của sự lựa chọn có ý thức.

The mental body [Page 806] remains comparatively inactive at this stage.

Thể trí [Page 806] vẫn còn tương đối bất hoạt ở giai đoạn này.

473. Yet, we have been told that the man is confronted with choice between the pairs of opposites, and this must be a growing tendency, even if, in the beginning, the outcome is a foregone conclusion.

473. Tuy nhiên, chúng ta đã được cho biết rằng con người đối diện với sự lựa chọn giữa các cặp đối đãi, và đây hẳn phải là một khuynh hướng đang tăng trưởng, dù rằng lúc ban đầu kết quả gần như đã được định sẵn.

The love nature of the Ego is in process of being developed, and this stage is the longest of the three.

Bản chất bác ái của Chân ngã đang trong tiến trình được phát triển, và đây là giai đoạn dài nhất trong ba giai đoạn.

474. We live within a love solar system and upon a planet which, under its second ray soul, will be expressive of love.

474. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời bác ái và trên một hành tinh mà, dưới cung linh hồn cung hai của nó, sẽ biểu lộ bác ái.

475. The love nature of the Ego begins its development even in the second petal (and in the Hall of Ignorance) and continues through the development of the sixth petal (the last of the petals of love for the astral plane). In fact the love nature continues to grow through the opening of all twelve petals.

475. Bản chất bác ái của Chân ngã bắt đầu phát triển ngay từ cánh hoa thứ hai (và trong Phòng Vô Minh) và tiếp tục qua sự phát triển của cánh hoa thứ sáu (cánh hoa cuối cùng trong các cánh hoa bác ái đối với cõi cảm dục). Thật ra, bản chất bác ái tiếp tục tăng trưởng qua sự mở ra của cả mười hai cánh hoa.

It deals with the evolution of the petals of the egoic lotus, and with the blending of solar fire and of fire by friction.

Nó liên quan đến sự tiến hoá của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và với sự hòa trộn của Lửa Thái dương và Lửa ma sát.

476. To a certain extent, all the petals of the egoic lotus relate to the love nature, just as the three permanent atoms (i.e., the atomic triangle) relate to the intelligence aspect and the Jewel in the Lotus to the will aspect.

476. Ở một mức độ nào đó, mọi cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã đều liên hệ đến bản chất bác ái, cũng như ba nguyên tử trường tồn (tức tam giác nguyên tử) liên hệ đến phương diện trí tuệ và Bảo Châu trong Hoa Sen liên hệ đến phương diện ý chí.

477. With the unfolding of the second tier of petals, solar fire is blended with fire by friction, but this blending continues throughout the unfoldment of the sacrifice petals during which the process of initiation commands the attention of the human being. Even between the third and fourth initiation, when the synthesizing planets are opening completely, the quality of love continues to grow.

477. Với sự khai mở tầng cánh hoa thứ hai, Lửa Thái dương được hòa trộn với Lửa ma sát, nhưng sự hòa trộn này tiếp tục suốt sự khai mở các cánh hoa hi sinh, trong thời gian đó tiến trình điểm đạo thu hút sự chú ý của con người. Ngay cả giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, khi các hành tinh tổng hợp đang mở ra hoàn toàn, phẩm tính bác ái vẫn tiếp tục tăng trưởng.

Reflex action between the lower and the higher during this middle period produces three effects, which will be seen, if carefully studied to convey much information anent the working out of the law of Karma.

Phản ứng phản hồi giữa cái thấp và cái cao trong thời kỳ giữa này tạo ra ba hiệu quả, mà nếu được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy là chuyển tải nhiều thông tin liên quan đến sự vận hành của định luật nghiệp quả.

478. During this second phase, man is far more conscious of karmic law and of the manner in which the quality of his choices determine the effects which he experiences as karmic repercussion or beneficence.

478. Trong giai đoạn thứ hai này, con người ý thức nhiều hơn về định luật nghiệp quả và về cách phẩm tính của những lựa chọn của mình quyết định các kết quả mà y trải nghiệm như sự dội lại nghiệp quả hay ân phúc.

479. During this stage man becomes increasingly aware of being torn between the pairs of opposites. He also recognizes that he need not be helplessly torn, but, upon the Battlefield of Kurukshetra, may throw his will upon the side of the soul and of spiritual values.

479. Trong giai đoạn này con người ngày càng ý thức hơn về việc bị giằng xé giữa các cặp đối đãi. Y cũng nhận ra rằng mình không nhất thiết phải bị giằng xé một cách bất lực, mà trên Chiến Trường Kurukshetra, có thể đặt ý chí của mình về phía linh hồn và các giá trị tinh thần.

These three effects are:

Ba hiệu quả này là:

1. The development of the astral permanent atom with a concurrent stimulation of the physical permanent atom, and thus the growth and evolution of the two sheaths concerned.

1. Sự phát triển của nguyên tử trường tồn cảm dục cùng với sự kích thích đồng thời của nguyên tử trường tồn hồng trần, và do đó là sự tăng trưởng và tiến hoá của hai thể liên quan.

480. In this second phase of the expression of karmic law, both the astral permanent atom and physical permanent atom are stimulated.

480. Trong giai đoạn thứ hai này của sự biểu lộ định luật nghiệp quả, cả nguyên tử trường tồn cảm dục lẫn nguyên tử trường tồn hồng trần đều được kích thích.

481. The astral permanent atom is stimulated to the fullest extent by the time the second tier is fully opened.

481. Nguyên tử trường tồn cảm dục được kích thích đến mức tối đa vào lúc tầng thứ hai được mở ra hoàn toàn.

2. The co-ordination of the threefold man through the innate vitality of the astral body and its effect upon the mental and the physical.

2. Sự phối hợp của con người tam phân qua sinh lực bẩm sinh của thể cảm dục và ảnh hưởng của nó lên thể trí và thể xác.

482. The first stages of personality integration are reached.

482. Những giai đoạn đầu của sự tích hợp phàm ngã đã đạt tới.

483. We note that the astral body has an effect both upon the physical body and mental body. The physical body is compelled by desire and the mental body is stimulated by focused desire and then aspiration.

483. Chúng ta lưu ý rằng thể cảm dục có ảnh hưởng cả lên thể xác lẫn thể trí. Thể xác bị dục vọng cưỡng bách và thể trí được kích thích bởi dục vọng tập trung rồi đến khát vọng.

484. In our study of the petals we noticed that a high stage of personality integration was reached with the development of the fifth petal.

484. Trong nghiên cứu của chúng ta về các cánh hoa, chúng ta nhận thấy rằng một giai đoạn cao của sự tích hợp phàm ngã đã đạt được với sự phát triển của cánh hoa thứ năm.

This is the kama-manasic period,

Đây là thời kỳ trí-cảm,

485. Thus it is ruled by Venus, just as the first period was ruled by Mars.

485. Vì vậy nó được cai quản bởi Sao Kim, cũng như thời kỳ thứ nhất được cai quản bởi Sao Hỏa.

and as this body is the only complete sphere in the threefold lower man,

và vì thể này là khối cầu hoàn chỉnh duy nhất trong phàm nhân tam phân,

486. The physical body and mental body are, we realize, divided into physical and etheric sections and into lower and higher mental sections.

486. Chúng ta nhận ra rằng thể xác và thể trí được phân chia thành các phần hồng trần và dĩ thái, và thành các phần hạ trí và thượng trí.

it is the most powerful body inherently for it embodies (as does the solar system) the heart aspect, or embryonic love nature,

nên tự thân nó là thể mạnh nhất vì nó thể hiện (cũng như hệ mặt trời) phương diện tim, hay bản chất bác ái phôi thai,

487. The soul nature is reflected in the astral body as the personality is in the physical body and the Monad in the mental body.

487. Bản chất linh hồn được phản chiếu trong thể cảm dục cũng như phàm ngã được phản chiếu trong thể xác và chân thần trong thể trí.

which it is the object of macrocosmic and microcosmic evolution to develop.

mà đó là mục tiêu của tiến hoá đại thiên địa và tiểu thiên địa nhằm phát triển.

488. Generically, the astral body is most attuned with the quality which the Planetary Logos seeks to develop upon the planet and which the Solar Logos seeks to express throughout His solar system—the quality of Love.

488. Nói chung, thể cảm dục hòa điệu nhất với phẩm tính mà Hành Tinh Thượng Đế tìm cách phát triển trên hành tinh và mà Thái dương Thượng đế tìm cách biểu lộ khắp hệ mặt trời của Ngài—phẩm tính Bác ái.

3. Finally the unfoldment of the nine egoic petals in three stages.

3. Sau cùng là sự khai mở của chín cánh hoa chân ngã trong ba giai đoạn.

489. The second division of karmic expression includes, it seems, the development of the nine petals of the egoic lotus, and thus leads to the third initiation.

489. Phân bộ thứ hai của sự biểu lộ nghiệp quả dường như bao gồm sự phát triển của chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và do đó dẫn đến lần điểm đạo thứ ba.

490. This second division or phase is, we see, not a strictly emotional phase, as during the stage of the unfoldment of the sacrifice petals, initiation is pursued and the mental nature is brought to a high stage of development.

490. Phân bộ hay giai đoạn thứ hai này, như chúng ta thấy, không phải là một giai đoạn hoàn toàn cảm xúc, vì trong giai đoạn khai mở các cánh hoa hi sinh, điểm đạo được theo đuổi và bản chất trí tuệ được đưa đến một giai đoạn phát triển cao.

491. Yet from a higher perspective, this phase may still be called “kama-manas”, and that stage may end only with the fourth initiation, when the causal body (under Venus, the planet of kama-manas) disappears.

491. Tuy nhiên, từ một viễn tượng cao hơn, giai đoạn này vẫn có thể được gọi là “trí-cảm”, và giai đoạn ấy có thể chỉ chấm dứt với lần điểm đạo thứ tư, khi thể nguyên nhân (dưới Sao Kim, hành tinh của trí-cảm) biến mất.

In the working out of the law we must therefore note that man is first of all the victim of the impulses of dense substance or of the brahma aspect, and thus repeats rapidly the evolutionary process of the preceding solar system; in the second stage he is the victim of desire, or of his own love nature.

Trong sự vận hành của định luật vì vậy chúng ta phải lưu ý rằng con người trước hết là nạn nhân của các xung lực của chất liệu đậm đặc hay của phương diện brahma, và do đó nhanh chóng lặp lại tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời trước; trong giai đoạn thứ hai, y là nạn nhân của dục vọng, hay của chính bản chất bác ái của mình.

492. In both phases thus far under discussion, the man if the victim of impulses he cannot control.

492. Trong cả hai giai đoạn được bàn đến cho đến nay, con người là nạn nhân của những xung lực mà y không thể kiểm soát.

493. In the Hall of Ignorance the man recapitulates the development pursued during the previous solar system (and for some, upon the Moon-chain).

493. Trong Phòng Vô Minh, con người lặp lại tóm tắt sự phát triển đã được theo đuổi trong hệ mặt trời trước (và đối với một số người, trên Dãy Mặt Trăng).

494. In the second phase of the working out of karmic law, the man is the victim of his desire nature, a reflection of his love nature.

494. Trong giai đoạn thứ hai của sự vận hành của định luật nghiệp quả, con người là nạn nhân của bản chất dục vọng của mình, một phản ảnh của bản chất bác ái của mình.

495. Shall we say that this is the case even as the last tier of petals is being unfolded? Until the will aspect comes strongly into prominence, it is, indeed, the case, even though during the development of the sacrifice tier, the man is developing a high mentality and responsiveness to the soul.

495. Chúng ta có nên nói rằng điều này vẫn đúng ngay cả khi tầng cánh hoa cuối cùng đang được khai mở chăng? Cho đến khi phương diện ý chí nổi bật mạnh mẽ, quả thật vẫn là như vậy, dù rằng trong khi phát triển tầng hi sinh, con người đang phát triển một trí tuệ cao và khả năng đáp ứng với linh hồn.

496. Division Three:

496. Phân bộ Ba:

In the third stage, the law of karma works through a man's mental nature, and awakens in him recognition of the law, and an intellectual apprehension of cause and of effect.

Trong giai đoạn thứ ba, định luật nghiệp quả vận hành qua bản chất trí tuệ của một người, và đánh thức trong y sự nhận biết về định luật, và một sự nắm bắt bằng trí tuệ về nguyên nhân và kết quả.

497. To a certain extent, this stage of development is occurring during the development of the final tier of petals, the sacrifice tier, yet there may be sufficient mentality even during the development of the second tier for a useful apprehension of cause and of effect to occur.

497. Ở một mức độ nào đó, giai đoạn phát triển này diễn ra trong khi tầng cánh hoa cuối cùng, tầng hi sinh, đang phát triển, tuy nhiên có thể có đủ trí tuệ ngay cả trong khi tầng thứ hai đang phát triển để một sự nắm bắt hữu ích về nguyên nhân và kết quả xuất hiện.

498. The man is becoming responsive to a higher will than his personal will, and is able to restrain both his desire and aspiration by conscious, intellectual realization reinforced by the power of spiritual will.

498. Con người đang trở nên đáp ứng với một ý chí cao hơn ý chí cá nhân của mình, và có thể kiềm chế cả dục vọng lẫn khát vọng của mình bằng sự chứng nghiệm trí tuệ có ý thức, được tăng cường bởi quyền năng của ý chí tinh thần.

This is the shortest stage but is also the most powerful; it concerns the evolution of the three inner [Page 807] petals shielding the "jewel,"

Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng cũng là giai đoạn mạnh mẽ nhất; nó liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa bên trong [Page 807] che chở “viên ngọc”,

499. If the second phase in the working out of karma leads to the unfoldment of all nine petals of the egoic lotus, then the final stage (concerned with the evolution of the three synthesis petals shielding the Jewel in the Lotus) must necessarily occur from the period of the third initiation until the fourth. At least this will be the focal period for stage three.

499. Nếu giai đoạn thứ hai trong sự vận hành của nghiệp quả dẫn đến sự khai mở của cả chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, thì giai đoạn cuối cùng (liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa tổng hợp che chở Viên Ngọc trong Hoa Sen) tất yếu phải diễn ra từ thời kỳ lần điểm đạo thứ ba cho đến lần điểm đạo thứ tư. Ít nhất đây sẽ là thời kỳ trọng tâm của giai đoạn ba.

500. This is the period of true mental polarization during which the man can actually spiritually discern causes and their effects—karmically considered.

500. Đây là thời kỳ của sự phân cực trí tuệ đích thực trong đó con người thực sự có thể một cách tinh thần phân biện các nguyên nhân và các kết quả của chúng—xét theo nghiệp quả.

501. We see that the period following the third initiation is highly mental in nature, even though the intuition is being cultivated.

501. Chúng ta thấy rằng thời kỳ tiếp theo sau lần điểm đạo thứ ba có bản chất rất trí tuệ, dù trực giác đang được vun bồi.

and their ability to disclose at the right moment that which lies hidden.

và khả năng của chúng trong việc tiết lộ vào đúng lúc điều đang ẩn giấu.

502. That “right moment” occurs just before the fourth initiation.

502. “Đúng lúc” ấy xảy ra ngay trước lần điểm đạo thứ tư.

It covers the period of the evolution of advanced man, and of the man upon the Path.

Nó bao trùm thời kỳ tiến hoá của con người tiến bộ, và của con người trên Con Đường.

503. In DK’s presentation of this subject we see that there is some overlap between the phases.

503. Trong cách trình bày của Chân sư DK về chủ đề này, chúng ta thấy rằng có một số chồng lấn giữa các giai đoạn.

504. Phase two takes a man to the unfoldment of nine of the petals and thus to the third initiation.

504. Giai đoạn hai đưa con người đến sự khai mở của chín cánh hoa và do đó đến lần điểm đạo thứ ba.

505. Yet, if it is true that phase three covers the period of evolution of “advanced man and of man upon the Path”, it includes all the work done on the sacrifice petals, at which time the first three initiations are experienced and the synthesis petals begin to open, disclosing as they do ever more of the central Jewel.

505. Tuy nhiên, nếu đúng là giai đoạn ba bao trùm thời kỳ tiến hoá của “con người tiến bộ và con người trên Con Đường”, thì nó bao gồm toàn bộ công việc được thực hiện trên các cánh hoa hi sinh, vào lúc mà ba lần điểm đạo đầu tiên được trải qua và các cánh hoa tổng hợp bắt đầu mở ra, nhờ đó ngày càng để lộ nhiều hơn Viên Ngọc trung tâm.

506. We can divide the three stages, basically, into physical, emotional and mental, but DK extends the second period to the third initiation, and includes in the third period those phases of development which begin even before the first initiation, for it is advance man who makes application to the first initiation.

506. Về cơ bản, chúng ta có thể chia ba giai đoạn thành hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, nhưng Chân sư DK kéo dài thời kỳ thứ hai đến lần điểm đạo thứ ba, và bao gồm trong thời kỳ thứ ba những giai đoạn phát triển bắt đầu ngay cả trước lần điểm đạo thứ nhất, vì chính con người tiến bộ là người nộp đơn cho lần điểm đạo thứ nhất.

507. The general picture, however, remains clear, if we retain the divisions of physical, emotional, mental.

507. Tuy nhiên, bức tranh tổng quát vẫn rõ ràng, nếu chúng ta giữ các phân chia thành hồng trần, cảm xúc, trí tuệ.

In connection with the human family it covers the first half of the next round, prior to the great separation.

Liên hệ với gia đình nhân loại, nó bao trùm nửa đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp, trước cuộc phân ly lớn.

508. It is at that time that man will truly be able to discriminate cause from effect and will be truly mentally focussed.

508. Chính vào lúc đó con người mới thực sự có thể phân biện nguyên nhân với kết quả và sẽ thực sự được tập trung trí tuệ.

509. This realization may cause us to pause and reflect. At his present stage of development, man is, largely, a very emotional being.

509. Sự chứng nghiệm này có thể khiến chúng ta dừng lại và suy ngẫm. Ở giai đoạn phát triển hiện nay, con người phần lớn là một hữu thể rất cảm xúc.

Electric fire is beginning to make its radiations felt,

Lửa Điện đang bắt đầu làm cho các bức xạ của nó được cảm nhận,

510. It does so at the first initiation, but even more emphatically at the third.

510. Điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ nhất, nhưng còn nhấn mạnh hơn ở lần điểm đạo thứ ba.

and the will or purpose of the Ego is now consciously realised upon the physical plane.

và ý chí hay mục đích của chân ngã giờ đây được chứng nghiệm một cách có ý thức trên cõi hồng trần.

511. It is the initiate of the third degree who realizes the will or purpose of the Ego while in his physical plane consciousness.

511. Chính điểm đạo đồ cấp ba là người chứng nghiệm ý chí hay mục đích của chân ngã trong khi ở trong tâm thức cõi hồng trần của mình.

The three permanent atoms form a triangle of light, and the petals of the lotus are rapidly unfolding.

Ba nguyên tử trường tồn tạo thành một tam giác ánh sáng, và các cánh hoa của hoa sen đang nhanh chóng khai mở.

512. This rapid unfoldment occurs as the third initiation is approached, with the synthesis petals unfolding more fully after the third degree.

512. Sự khai mở nhanh chóng này diễn ra khi lần điểm đạo thứ ba đang đến gần, với các cánh hoa tổng hợp khai mở đầy đủ hơn sau cấp ba.

When the will and purpose of the Ego are realised by man in his waking consciousness in the physical brain, then the law of karma in the three worlds is becoming neutralised, and man is on the verge of liberation.

Khi ý chí và mục đích của chân ngã được chứng nghiệm bởi con người trong tâm thức tỉnh thức của y nơi bộ não hồng trần, thì định luật nghiệp quả trong ba cõi giới đang được hoá giải, và con người đang ở bên bờ giải thoát.

513. To be “on the verge of liberation” is to have achieved the third degree and to be moving towards the fourth.

513. “Ở bên bờ giải thoát” là đã đạt đến cấp ba và đang tiến về cấp bốn.

514. It is not that the will and purpose of the Ego are inferred or imagined; they are actually realized. The power of Venus is (in relation to Capricorn) offsetting the personality effects of Saturn. Man is becoming a conscious soul in incarnation.

514. Không phải là ý chí và mục đích của chân ngã được suy ra hay tưởng tượng; chúng thực sự được chứng nghiệm. Quyền năng của Sao Kim (liên hệ với Ma Kết) đang hóa giải các hiệu ứng phàm ngã của Sao Thổ. Con người đang trở thành một linh hồn đang nhập thể có ý thức.

He has exhausted the initial vibration,

Y đã làm cạn kiệt rung động ban đầu,

515. This is the lunar vibration.

515. Đây là rung động thái âm.

and there is no response within his sheaths to the threefold vibration of the three worlds; he stands freed from the three kingdoms and the fourth.

và không còn sự đáp ứng nào trong các thể của y đối với rung động tam phân của ba cõi giới; y đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư.

516. The last sentence tells us that the man has achieved the fourth degree because even the initiate of the third degree does not stand free of the three kingdoms and the fourth.

516. Câu cuối cho chúng ta biết rằng con người đã đạt đến cấp bốn bởi vì ngay cả điểm đạo đồ cấp ba cũng chưa đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư.

TCF 808- 816: S7S6

4 - 19 June 2008

4 - 19 tháng Sáu 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.

Xin đề nghị rằng phần Bình giải này được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.

d. On the building of the Causal Body.

d. Về việc xây dựng thể nguyên nhân.

We enter now upon one of the most vitally practical parts of our Treatise on Fire, that which deals with the building of the causal body, or body of manifestation of the Ego.

Giờ đây chúng ta bước vào một trong những phần thực tiễn thiết yếu nhất của Luận về Lửa Vũ Trụ, phần bàn về việc xây dựng thể nguyên nhân, hay thể biểu lộ của chân ngã.

1. From this we see that the Ego is that center of power and consciousness which uses the causal body. What we may understand is that the Ego would exist without its body of manifestation.

1. Từ đây chúng ta thấy rằng chân ngã là trung tâm quyền năng và tâm thức sử dụng thể nguyên nhân. Điều chúng ta có thể hiểu là chân ngã vẫn sẽ hiện hữu mà không cần thể biểu lộ của nó.

2. Following the destruction of the causal body, the spiritual triad still exists.

2. Sau khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, Tam Nguyên Tinh Thần vẫn còn tồn tại.

It concerns the work of the solar Angels, or the true self-conscious Identity, man.

Điều này liên quan đến công việc của các Thái dương Thiên Thần, hay Bản Sắc ngã thức chân thực, con người.

3. We ask, “Is Master DK telling us that the Solar Angels are the “true self-conscious Identity, man? Is man to be considered a “Solar Angel”, and if so in what respect (that would contrast the nature of man from the nature of a “returning Nirvani” from a previous mahamanvantara) would this be so?

3. Chúng ta hỏi: “Có phải Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các Thái dương Thiên Thần là “Bản Sắc ngã thức chân thực, con người” không? Có phải con người được xem là một “Thái dương Thiên Thần” không, và nếu vậy thì theo phương diện nào (điều này sẽ đối chiếu bản chất của con người với bản chất của một “nirvani hồi quy” từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó) điều này mới đúng?

If the student has in any way apprehended the general trend of the earlier pages, he will now be in a condition of mind which will enable him to interpret all that is said in terms of energy,

Nếu đạo sinh bằng cách nào đó đã nắm bắt được xu hướng tổng quát của các trang trước, thì giờ đây y sẽ ở trong một trạng thái trí tuệ cho phép y diễn giải mọi điều được nói đến theo thuật ngữ năng lượng,

4. And this, rather than ‘anthropomorphizing’.

4. Và điều này, thay vì “nhân hình hóa”.

5. We see that DK builds certain conditions within the apprehending mind, so that a structure of knowledge may be progressively absorbed.

5. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK xây dựng những điều kiện nhất định trong trí tuệ đang nắm bắt, để một cấu trúc tri thức có thể được hấp thụ dần dần.

or of that vibratory activity which is produced by the three major phases of electrical phenomena,

hay theo hoạt động rung động được tạo ra bởi ba giai đoạn chính của các hiện tượng điện,

6. One suspects that there are also other phases of electrical phenomena.

6. Người ta ngờ rằng cũng còn có những giai đoạn khác của các hiện tượng điện.

7. All energy demonstrations associated with everyone of the seven rays are electrical.

7. Mọi biểu hiện năng lượng gắn liền với từng cung trong bảy cung đều có tính điện.

the union which produces that divine manifestation called Man, or, when the aggregated units are considered, the human kingdom.

sự hợp nhất tạo ra biểu lộ thiêng liêng được gọi là Con Người, hay, khi xét các đơn vị được tập hợp, là giới nhân loại.

8. If man is to be produced, it seems that all “major phases of electrical phenomena” must be present simultaneously.

8. Nếu con người được tạo ra, dường như mọi “giai đoạn chính của các hiện tượng điện” đều phải hiện diện đồng thời.

(a) Introductory remarks. We have studied somewhat the constitution of the Triangles, or Pitris, Who, through self-sacrifice, endow man with self-consciousness, building his egoic vehicle out of Their own essence.

(a) Những nhận xét mở đầu. Chúng ta đã nghiên cứu phần nào cấu tạo của các Tam Giác, hay các Pitri, Các Ngài, qua sự hi sinh bản thân, ban cho con người ngã thức, xây dựng vận cụ chân ngã của y từ chính tinh chất của Các Ngài.

9. These are the Solar Pitris, also called Solar Angels and Agnishvattas.

9. Đây là các thái dương tổ phụ, cũng được gọi là các Thái dương Thiên Thần và các Agnishvatta.

10. The Solar Pitris are called “Triangles”. In general, souls are called “Triangles”.

10. Các thái dương tổ phụ được gọi là “Tam Giác”. Nói chung, các linh hồn được gọi là “Tam Giác”.

11. The “essence” of these Pitris is a kind of energy, perhaps the energy which most distinguishes them. When we speak of “essence” we are speaking of an energy which is very close to the center of a particular being.

11. “Tinh chất” của các Pitri này là một loại năng lượng, có lẽ là năng lượng phân biệt các Ngài nhiều nhất. Khi chúng ta nói về “tinh chất”, chúng ta đang nói về một năng lượng rất gần với trung tâm của một hữu thể đặc thù.

We [Page 808] have touched briefly upon the lunar Pitris, who endow man with his lower sheaths and principles

Chúng ta [Page 808] đã chạm đến ngắn gọn các thái âm tổ phụ, những vị ban cho con người các thể và các nguyên khí thấp của y

12. We can see that the lunar pitris would definitely provide man with his lower sheaths, but principles are faculties which are essential aspects of man the Monad. So in what sense can it be said that the lunar pitris provide man with his lower “principles”? They certainly endow may with the vehicles for the expression of those lower principles.

12. Chúng ta có thể thấy rằng các thái âm tổ phụ chắc chắn sẽ cung cấp cho con người các thể thấp của y, nhưng các nguyên khí là những năng lực vốn là các phương diện thiết yếu của con người là chân thần. Vậy theo nghĩa nào có thể nói rằng các thái âm tổ phụ cung cấp cho con người các “nguyên khí” thấp của y? Chắc chắn các vị ấy ban cho con người các vận cụ để biểu lộ các nguyên khí thấp ấy.

through which the energy of the solar Lords may make itself felt, and we shall now proceed to study three things:

qua đó năng lượng của các nhật tinh quân có thể được cảm nhận, và giờ đây chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu ba điều:

13. The Solar Pitris are “solar Lords”, apparently. We want to assure ourselves that DK does not mean to differentiate the Solar Pitris from the “solar Lords”.

13. Các thái dương tổ phụ hiển nhiên là các “nhật tinh quân”. Chúng ta muốn tự bảo đảm rằng Chân sư DK không có ý phân biệt các thái dương tổ phụ với các “nhật tinh quân”.

14. Through the sheaths provided by the lunar pitris and through mans lower principles, the “solar Lords” are to express themselves.

14. Qua các thể do các thái âm tổ phụ cung cấp và qua các nguyên khí thấp của con người, các “nhật tinh quân” sẽ tự biểu lộ.

15. Three things are now to be studied.

15. Giờ đây sẽ nghiên cứu ba điều.

First, the effect of the higher energy upon the lower bodies, as it gradually makes itself felt during the evolutionary process, and thus simultaneously "redeems" man in an occult sense, and also "elevates" the lunar Pitris.

Thứ nhất, hiệu quả của năng lượng cao hơn lên các thể thấp, khi nó dần dần được cảm nhận trong tiến trình tiến hoá, và do đó đồng thời “cứu chuộc” con người theo nghĩa huyền bí, và cũng “nâng cao” các thái âm tổ phụ.

16. Two factors occur simultaneously:

16. Hai yếu tố xảy ra đồng thời:

a. The redemption of man. The consciousness of man is to be freed from attachment to and preoccupation with the lower vehicles.

a. Sự cứu chuộc con người. Tâm thức của con người sẽ được giải thoát khỏi sự gắn chặt vào và bận tâm với các vận cụ thấp.

b. The elevation of the lunar pitris

b. Sự nâng cao các thái âm tổ phụ

Second, the effect of this energy on the mental plane in the development and unfoldment of the egoic lotus.

Thứ hai, hiệu quả của năng lượng này trên cõi trí trong sự phát triển và khai mở của Hoa Sen Chân Ngã.

17. We are speaking of the effect of a higher energy, presumably upon the higher mental plane, contributing to the unfoldment of the egoic lotus.

17. Chúng ta đang nói về hiệu quả của một năng lượng cao hơn, có lẽ là trên Cõi thượng trí, góp phần vào sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã.

18. It is clear that the "solar Lords" are not the egoic lotus, per se.

18. Rõ ràng là các “nhật tinh quân” không phải là chính Hoa Sen Chân Ngã.

Third, the awakening to activity of the central Life within the lotus.

Thứ ba, sự thức tỉnh vào hoạt động của Sự sống trung tâm bên trong hoa sen.

19. Presumably, the central life within the lotus is that energy center known as the “Jewel in the Lotus”.

19. Có lẽ sự sống trung tâm bên trong hoa sen là trung tâm năng lượng được biết đến như “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

20. Again, it is clear that the "solar Lords" are not the “central Life within the lotus”.

20. Một lần nữa, rõ ràng là các “nhật tinh quân” không phải là “Sự sống trung tâm bên trong hoa sen”.

21. We see, then, that the higher energy of the “solar Lords” contributes to the awakening and unfoldment of all three aspects of the Ego—the members of the atomic triangle, the petals of the egoic lotus and the central “Jewel”.

21. Như vậy, chúng ta thấy rằng năng lượng cao hơn của các “nhật tinh quân” góp phần vào sự thức tỉnh và khai mở của cả ba phương diện của chân ngã—các thành viên của tam giác nguyên tử, các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã và “Viên Ngọc” trung tâm.

This activity demonstrates in a twofold manner:

Hoạt động này biểu lộ theo cách nhị phân:

22. It seems that we are now speaking of the effect of the “activity” of the Jewel in the Lotus.

22. Dường như giờ đây chúng ta đang nói về hiệu quả của “hoạt động” của Viên Ngọc trong Hoa Sen.

a. As the realisation by the man on the physical plane within the physical brain of his divine nature, resulting in a consequent demonstration of divinity upon earth, prior to liberation.

a. Như sự chứng nghiệm của con người trên cõi hồng trần trong bộ não hồng trần về bản chất thiêng liêng của mình, dẫn đến sự biểu lộ thiên tính trên Trái Đất trước khi giải thoát.

23. Apparently, it is only as the central life within the lotus awakens that man on the physical plane becomes truly aware within his physical brain of his divine nature. The Jewel in the Lotus is an identity point and physical brain awareness of man’s divine nature is also a matter of the realization of identity.

23. Hiển nhiên chỉ khi sự sống trung tâm bên trong hoa sen thức tỉnh thì con người trên cõi hồng trần mới thực sự nhận biết trong bộ não hồng trần của mình về bản chất thiêng liêng của mình. Viên Ngọc trong Hoa Sen là một điểm bản sắc và sự nhận biết trong bộ não hồng trần về bản chất thiêng liêng của con người cũng là một vấn đề của sự chứng nghiệm bản sắc.

24. As this type of awareness arises, divinity is demonstrated upon the physical plane.

24. Khi loại nhận biết này phát sinh, thiên tính được biểu lộ trên cõi hồng trần.

25. DK seems to be saying that during to this realization of one’s divine nature within the physical brain (a realization which precedes liberation) divinity is demonstrated on earth as it never before had been previously.

25. Chân sư DK dường như đang nói rằng trong sự chứng nghiệm bản chất thiêng liêng của mình trong bộ não hồng trần này (một sự chứng nghiệm đi trước giải thoát), thiên tính được biểu lộ trên Trái Đất theo cách chưa từng có trước đây.

b. As the conscious activity of the individual Ego on the mental plane in co-operation with its group or groups.

b. Như hoạt động có ý thức của chân ngã cá nhân trên cõi trí trong sự hợp tác với nhóm hay các nhóm của nó.

26. As the central life within the lotus awakens, ‘man-as-Ego’ becomes cooperative with his own egoic group or with other egoic groups.

26. Khi sự sống trung tâm bên trong hoa sen thức tỉnh, ‘con người-như-chân-ngã’ trở nên hợp tác với nhóm chân ngã riêng của mình hay với các nhóm chân ngã khác.

27. DK seems to be telling us that the awakening to activity of the central Life within the lotus produces a certain capacity to work subjectively upon the higher mental plane within an egoic group and/or in relation to other egoic groups.

27. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng sự thức tỉnh vào hoạt động của Sự sống trung tâm bên trong hoa sen tạo ra một năng lực nhất định để làm việc một cách chủ quan trên Cõi thượng trí trong một nhóm chân ngã và/hoặc trong liên hệ với các nhóm chân ngã khác.

In the first case, [of the demonstration of the Life activity of the central life within the lotus] we have the effect of the egoic life upon its sheaths, and their subsequent control, and in the second case we have the self-awakening of the egoic unit on its own plane; in the third case, we have a group realisation, or the entrance by the unit into the consciousness of the Heavenly Man.

Trong trường hợp thứ nhất, [of the demonstration of the Life activity of the central life within the lotus] chúng ta có hiệu quả của sự sống chân ngã lên các thể của nó, và sự kiểm soát tiếp theo của chúng; trong trường hợp thứ hai, chúng ta có sự tự thức tỉnh của đơn vị chân ngã trên chính cõi của nó; trong trường hợp thứ ba, chúng ta có một sự chứng nghiệm nhóm, hay sự đi vào của đơn vị ấy trong tâm thức của Đấng Thiên Nhân.

28. Here is the necessary summary.

28. Đây là phần tóm lược cần thiết.

29. Point “b.” it seems, contains both the second and third cases.

29. Điểm “b.” dường như bao gồm cả trường hợp thứ hai lẫn thứ ba.

30. As the man-as-Ego on the higher mental plane becomes interactive with the Egos within his own group or with other groups of Egos (which are centres within the energy system of the Heavenly Man), man-as-Ego is entering into the consciousness of the Heavenly Man. Egoic groups are lesser centers within the energy body of the Heavenly Man.

30. Khi con người-như-chân-ngã trên Cõi thượng trí trở nên tương tác với các chân ngã trong nhóm riêng của mình hay với các nhóm chân ngã khác (là những trung tâm trong hệ thống năng lượng của Đấng Thiên Nhân), con người-như-chân-ngã đang đi vào tâm thức của Đấng Thiên Nhân. Các nhóm chân ngã là những trung tâm nhỏ hơn trong thể năng lượng của Đấng Thiên Nhân.

31. It is interesting that true group activity arises as the central Life within the lotus awakens—the aspect of the lotus which corresponds to the first ray.

31. Thật thú vị khi hoạt động nhóm đích thực phát sinh khi Sự sống trung tâm bên trong hoa sen thức tỉnh—phương diện của hoa sen tương ứng với cung một.

32. We can see that the radiating energy of the “solar Lords” has a powerful effect. Progress of the egoic unit is dependent upon the reception of such energy.

32. Chúng ta có thể thấy rằng năng lượng bức xạ của các “nhật tinh quân” có một hiệu quả mạnh mẽ. Sự tiến bộ của đơn vị chân ngã tùy thuộc vào việc tiếp nhận năng lượng như thế.

It will not be possible to do more than indicate broad general lines of development. The subject of egoic evolution cannot be fully comprehended until after initiation,

Sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những đường nét phát triển tổng quát rộng lớn. Chủ đề về sự tiến hoá chân ngã không thể được thấu hiểu đầy đủ cho đến sau điểm đạo,

33. By this is meant the third initiation. This is the stage of development which very few of those surrounding the Bailey Work (during the time AAB was alive) had achieved.

33. Điều này có nghĩa là lần điểm đạo thứ ba. Đây là giai đoạn phát triển mà rất ít người trong số những người quanh Công việc Bailey (vào thời AAB còn sống) đã đạt được.

34. Thus, we are offered the opportunity to comprehend, but only in part.

34. Vì vậy, chúng ta được trao cơ hội để thấu hiểu, nhưng chỉ một phần.

but it is felt now by the Teachers on the inner side that the main principles had better be given out at once in view of the unexpected development (since the opening of this century) of two great sciences:

nhưng hiện nay các Huấn sư ở phía bên trong cảm thấy rằng các nguyên lý chính tốt hơn nên được công bố ngay lập tức vì sự phát triển bất ngờ (kể từ đầu thế kỷ này) của hai khoa học lớn:

35. DK is telling us that even the Hierarchy did not expect such developments.

35. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng ngay cả Thánh đoàn cũng không ngờ những sự phát triển như vậy.

36. We see how adaptive is the Hierarchy of Adepts. Because of the factor of free-will inherent in the unit, man, Hierarchy never knows exactly what will happen.

36. Chúng ta thấy Thánh đoàn các chân sư có tính thích ứng như thế nào. Vì yếu tố ý chí tự do vốn có trong đơn vị là con người, Thánh đoàn không bao giờ biết chính xác điều gì sẽ xảy ra.

37. In the following, the first of the great sciences is discussed.. Developments within the Science of Electricity have prompted the Masters to give out the main principles of egoic evolution.

37. Trong phần sau đây, khoa học lớn thứ nhất được bàn đến. Những phát triển trong Khoa Học Điện đã thúc đẩy các Chân sư công bố các nguyên lý chính của sự tiến hoá chân ngã.

The Science of Electricity. The investigations of scientists [Page 809] have been greatly stimulated by the discovery of radium, which is an electrical phenomenon of a certain kind,

Khoa Học Điện. Những cuộc khảo cứu của các nhà khoa học [Page 809] đã được kích thích mạnh mẽ bởi việc khám phá ra radium, vốn là một hiện tượng điện thuộc một loại nào đó,

38. This may be regarded as an unusual statement, as radioactivity is usually not considered related to what is scientifically known, conventionally, as “electricity”.

38. Điều này có thể được xem là một phát biểu khác thường, vì tính phóng xạ thường không được xem là có liên hệ với điều mà khoa học theo quy ước gọi là “điện”.

and by the knowledge this discovery brought of the radioactive substances;

và bởi tri thức mà khám phá này mang lại về các chất phóng xạ;

39. DK is speaking of the discovery of radium and other radioactive substances.

39. Chân sư DK đang nói về việc khám phá ra radium và các chất phóng xạ khác.

40. Are the major characteristics of these substances the result of the influence of electric fire? Since radioactive substances have a highly activated atomic nucleus, the link with electric fire may be warranted.

40. Có phải các đặc tính chính của những chất này là kết quả của ảnh hưởng của Lửa Điện không? Vì các chất phóng xạ có một hạt nhân nguyên tử được hoạt hóa cao, mối liên hệ với Lửa Điện có thể là hợp lý.

41. If so, it may have been regarded as necessary to balance the influence of electric fire by a growing knowledge of the central importance of solar fire in the life of man.

41. Nếu vậy, có thể điều đó đã được xem là cần thiết để quân bình ảnh hưởng của Lửa Điện bằng một tri thức ngày càng tăng về tầm quan trọng trung tâm của Lửa Thái dương trong đời sống con người.

the development of the many methods of utilising electricity has also greatly aided.

sự phát triển của nhiều phương pháp sử dụng điện cũng đã hỗ trợ rất nhiều.

42. What has been aided?

42. Điều gì đã được hỗ trợ?

This science [presumably, the science of electricity] has brought man to the threshold of a discovery which will revolutionise world thought on these matters, and which will eventually solve a great part of the economic problem, thus leaving many more persons free for mental growth and work.

Khoa học này [có lẽ là khoa học điện] đã đưa con người đến ngưỡng của một khám phá sẽ cách mạng hóa tư tưởng thế giới về những vấn đề này, và điều đó cuối cùng sẽ giải quyết một phần lớn vấn đề kinh tế, nhờ đó để lại nhiều người hơn được tự do cho sự phát triển trí tuệ và công việc.

43. This foreseen development has not yet occurred.

43. Sự phát triển được tiên liệu này vẫn chưa xảy ra.

44. The fifth ray Ashram will contribute to the imminent creation of far more leisure time. It would seem that humanity has “paid its dues” in relation to the struggle for mere existence. The prevailing question, however, is whether man can yet be trusted with new sources of cheap and abundant energy. The lower ego has not yet been subdued, and for many, not even built.

44. Ashram cung năm sẽ góp phần vào việc sắp tạo ra nhiều thời gian nhàn rỗi hơn rất nhiều. Dường như nhân loại đã “trả xong món nợ” liên quan đến cuộc đấu tranh chỉ để tồn tại. Tuy nhiên, câu hỏi đang chi phối là liệu con người đã có thể được tin cậy với những nguồn năng lượng mới rẻ và dồi dào hay chưa. Phàm ngã vẫn chưa bị khuất phục, và đối với nhiều người, thậm chí còn chưa được xây dựng.

This expansion of knowledge can be looked for before one hundred and fifty years have transpired.

Có thể mong đợi sự mở rộng tri thức này trước khi một trăm năm mươi năm trôi qua.

45. One hundred fifty years is a relatively short time as the Masters count time. Since the writing of A Treatise on Cosmic Fire, eighty years have already transpired. Only seventy years remain before the discovery prophesied may be expected.

45. Một trăm năm mươi năm là một thời gian tương đối ngắn theo cách các Chân sư tính thời gian. Kể từ khi viết Luận về Lửa Vũ Trụ, tám mươi năm đã trôi qua. Chỉ còn bảy mươi năm trước khi khám phá được tiên tri có thể được mong đợi.

46. This following discussion concerns the second of the great sciences, and apparently, from what is said below, somewhat adverse developments within the Science of Psychology have also prompted the Masters to give out the main principles of egoic evolution.

46. Phần thảo luận tiếp theo này liên quan đến khoa học lớn thứ hai, và hiển nhiên, từ những gì được nói dưới đây, những phát triển phần nào bất lợi trong Khoa Học Tâm Lý cũng đã thúc đẩy các Chân sư công bố các nguyên lý chính của sự tiến hoá chân ngã.

The Science of Psychology. The psycho-analytic theories which (though indicative of progress) are yet tending in a wrong direction,

Khoa Học Tâm Lý. Các lý thuyết phân tâm học, tuy có chỉ ra sự tiến bộ, nhưng vẫn đang có khuynh hướng đi sai hướng,

47. DK is even-handed in His assessment.

47. Chân sư DK rất công bằng trong sự đánh giá của Ngài.

48. At least psychoanalysis has brought “the unconscious” to man’s attention. He can no longer quite so conveniently overlook his lower nature.

48. Ít nhất phân tâm học đã đưa “vô thức” vào sự chú ý của con người. Y không còn có thể dễ dàng bỏ qua bản chất thấp của mình như trước nữa.

may prove disastrous to the higher development of the race unless the true nature of the "psyche" is elucidated.

có thể chứng tỏ là tai hại cho sự phát triển cao hơn của nhân loại trừ khi bản chất chân thực của “psyche” được làm sáng tỏ.

49. Why would this be the case? What could the ‘disaster’ be?

49. Tại sao điều này lại như vậy? “Tai họa” ấy có thể là gì?

50. Might we say that the concept of the higher reaches of “psyche” are completely ignored by the purely psycho-analytic approach, or explained away as illusory and representative of psycho-pathology?

50. Chúng ta có thể nói rằng khái niệm về những tầng cao hơn của “psyche” bị cách tiếp cận thuần phân tâm học hoàn toàn phớt lờ, hoặc bị giải thích đi như là ảo tưởng và là biểu hiện của bệnh lý tâm thần chăng?

51. Given the prevalence of the psychoanalytic approach, man could come to be conceived as a strictly material/personal being, devoid of any truly spiritual dimension. In the case of the great Communist experiments of the 20th century, this actually did occur.

51. Với sự phổ biến của cách tiếp cận phân tâm học, con người có thể bị quan niệm như một hữu thể thuần vật chất/cá nhân, không có bất kỳ chiều kích tinh thần đích thực nào. Trong trường hợp các cuộc thử nghiệm Cộng sản lớn của thế kỷ 20th, điều này thực sự đã xảy ra.

52. It is interesting that in the Agni Yoga books the founder of Psychoanalysis was referred to as “the materialist”.

52. Thật thú vị khi trong các sách Agni Yoga, người sáng lập Phân tâm học được gọi là “nhà duy vật”.

53. When man is considered a strictly material entity, morality and social cohesion decline.

53. Khi con người được xem là một thực thể thuần vật chất, đạo đức và sự cố kết xã hội suy giảm.

When the public mind has apprehended, even cursorily, the following briefly stated facts, the trend of popular education, the object of political science, and the goal of economic and social endeavour will take a new and better direction.

Khi trí tuệ công chúng đã nắm bắt, dù chỉ sơ lược, những sự kiện được phát biểu ngắn gọn sau đây, xu hướng của giáo dục đại chúng, mục tiêu của khoa học chính trị, và mục đích của nỗ lực kinh tế và xã hội sẽ đi theo một hướng mới và tốt đẹp hơn.