← Commentary_S7_733_747

With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre.

Trích nội dung chương

With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre. Với đầu mối này, đạo sinh khi ấy có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã, vị trí của nó giữa các nhóm chân ngã khác, và cuối cùng là cung của mình hay trung tâm nhóm của mình.


With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre.

Với đầu mối này, đạo sinh khi ấy có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã, vị trí của nó giữa các nhóm chân ngã khác, và cuối cùng là cung của mình hay trung tâm nhóm của mình.

236. With a knowledge of one’s astral family, what may be ascertained?:

236. Với tri thức về gia đình cảm dục của mình, điều gì có thể được xác định?:

a. The characteristics of one’s group on egoic levels

a. Các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã

b. The place of one’s egoic group among other egoic groups

b. Vị trí của nhóm chân ngã của mình giữa các nhóm chân ngã khác

c. One’s ray

c. Cung của mình

d. The ray of one’s group center. (Here we may be speaking of lesser and greater Ashrams.)

d. Cung của trung tâm nhóm của mình. (Ở đây chúng ta có thể đang nói đến các ashram nhỏ hơn và lớn hơn.)

As time elapses, the true study of heredity and esoteric transmission will open up, and the whole fabric of thought built up around such modern expressions as:

Khi thời gian trôi qua, sự nghiên cứu chân chính về di truyền và sự truyền đạt huyền bí sẽ được khai mở, và toàn bộ cấu trúc tư tưởng được xây dựng quanh những cách diễn đạt hiện đại như:

237. “Esoteric transmission” is something deeper than “heredity” as heredity is usually understood.

237. “Sự truyền đạt huyền bí” là điều gì đó sâu xa hơn “di truyền” như di truyền thường được hiểu.

a. Consanguinity or blood ties

a. Huyết thống hay ràng buộc máu mủ

238. Blood ties run deeper than physical relationships. They are to some extent based upon inner, subjective relations. Blood and water (i.e., the astral nature, as it reflects the egoic nature) are here related.

238. Những ràng buộc máu mủ đi sâu hơn các quan hệ thể xác. Ở một mức độ nào đó, chúng dựa trên những quan hệ nội tại, chủ quan. Máu và nước (tức bản chất cảm dục, khi nó phản chiếu bản chất chân ngã) ở đây có liên hệ với nhau.

b. Physical heredity

b. Di truyền thể xác

239. Some find themselves physically related to those to whom they have no strong inner or subjective relationship.

239. Một số người thấy mình về mặt thể xác có liên hệ với những người mà họ không có mối quan hệ nội tại hay chủ quan mạnh mẽ.

240. Psychologically and spiritually, even human being inherits himself! Physically, there is inheritance from parents.

240. Về mặt tâm lý và tinh thần, ngay cả con người cũng thừa hưởng chính mình! Về mặt thể xác, có sự thừa hưởng từ cha mẹ.

c. Atavism

c. Hiện tượng hồi tổ

241. This suggests the idea of a “throw back”—the demonstration of traits which are ancient and should long have been outlived.

241. Điều này gợi ra ý niệm về một “sự thoái lui” — sự biểu lộ những đặc tính cổ xưa lẽ ra từ lâu đã phải được vượt qua.

242. Egoic groups are not all equally evolved. Some groups still demonstrate characteristics which have a dwindling place in humanity’s modern expression.

242. Các nhóm chân ngã không phải tất cả đều tiến hóa ngang nhau. Một số nhóm vẫn còn biểu lộ những đặc tính chỉ còn giữ một vị trí ngày càng thu hẹp trong sự biểu hiện hiện đại của nhân loại.

d. Intermarriage

d. Hôn phối khác nhóm

243. This is not just a question of blending differing races in the physical marriage relationship. There are inner groups which differ greatly from each other. When one marries into a group which, subjectively, is very different from the group to which he or she belongs spiritually and psychologically, then one may speak occultly of “intermarriage”.

243. Đây không chỉ là vấn đề hòa trộn các nhân loại khác nhau trong quan hệ hôn nhân thể xác. Có những nhóm nội tại rất khác biệt nhau. Khi một người kết hôn vào một nhóm mà, về mặt chủ quan, rất khác với nhóm mà y thuộc về về mặt tinh thần và tâm lý, thì khi ấy người ta có thể nói theo huyền bí học là “hôn phối khác nhóm”.

e. Family relationships

e. Quan hệ gia đình

244. Such relationships are certainly physical but they may be, as well, emotional, mental or egoic. Usually, with the average family, it is rare to find relationship based upon all four criteria.

244. Những quan hệ như thế chắc chắn là thể xác, nhưng cũng có thể là cảm xúc, trí tuệ hay chân ngã. Thông thường, trong gia đình trung bình, hiếm khi tìm thấy mối quan hệ dựa trên cả bốn tiêu chuẩn ấy.

f. The family unit

f. Đơn vị gia đình

245. Such a unit may be draw together for reasons which are principally karmic. Such a unit, later in the process of evolution, may also reflect established inner relationships.

245. Một đơn vị như thế có thể được tập hợp lại vì những lý do chủ yếu là nghiệp quả. Về sau trong tiến trình tiến hoá, một đơn vị như thế cũng có thể phản chiếu những mối quan hệ đã được thiết lập ở bên trong.

g. Soul mates

g. Bạn đồng điệu linh hồn

246. There is much glamor surrounding this subject. When individuals representing the same soul group, partner, merge or marry on the outer planes, they have more than usual justification for considering themselves “soul mates”.

246. Có rất nhiều ảo cảm bao quanh chủ đề này. Khi những cá nhân đại diện cho cùng một nhóm linh hồn, cùng bạn đồng hành, hòa nhập hay kết hôn trên các cõi bên ngoài, họ có nhiều cơ sở hơn bình thường để xem mình là “bạn đồng điệu linh hồn”.

247. It may also be that long and close incarnational association contributes to the sense of being “soul mates”.

247. Cũng có thể là sự gắn bó lâu dài và gần gũi qua nhiều lần nhập thể góp phần tạo nên cảm giác là “bạn đồng điệu linh hồn”.

h. Divorce and many other terms

h. Ly hôn và nhiều thuật ngữ khác

248. While there arise many reasons for divorce, it frequently occurs when the souls of the individuals involved remove these individuals from each others influence because the possibility for soul growth no longer exists.

248. Dù có nhiều lý do dẫn đến ly hôn, điều này thường xảy ra khi linh hồn của những cá nhân liên hệ rút những cá nhân ấy ra khỏi ảnh hưởng của nhau vì khả năng tăng trưởng linh hồn không còn nữa.

will be shifted to higher planes, and will be recognised and used in connection with soul relationships.

sẽ được chuyển lên các cõi cao hơn, và sẽ được nhìn nhận và sử dụng trong mối liên hệ với các quan hệ linh hồn.

249. We need a higher perspective from which to interpret these subjects. When the human being understands himself principally as a soul, new light will be shed upon the formation, sustainment and severing of his relationship.

249. Chúng ta cần một quan điểm cao hơn để diễn giải những chủ đề này. Khi con người hiểu chính mình chủ yếu như một linh hồn, ánh sáng mới sẽ được rọi vào sự hình thành, duy trì và cắt đứt các mối quan hệ của y.

They are, as yet, but a faint realisation on the physical plane of [Page 798] certain inner relations, which are seeking outer response.

Cho đến nay, chúng chỉ là một sự chứng nghiệm mờ nhạt trên cõi hồng trần về [Page 798] một số quan hệ nội tại đang tìm kiếm sự đáp ứng bên ngoài.

250. As human beings, our attitude to life developments and events is insufficiently subjective. This is in process of remedy. When looking for the reasons why our relationships change, we have to look largely to inner causes.

250. Là những con người, thái độ của chúng ta đối với các diễn biến và biến cố của đời sống chưa đủ tính chủ quan. Điều này đang được sửa chữa. Khi tìm lý do vì sao các mối quan hệ của chúng ta thay đổi, chúng ta phần lớn phải nhìn vào các nguyên nhân bên trong.

When all aggregates of ideas are interpreted in terms of force and energy, in terms of attraction and repulsion, or the vibratory response of units to each other, and of aggregates of units to other groups, we shall have the clearing up of many problems and a simplification of life.

Khi mọi tập hợp ý tưởng đều được diễn giải theo mãnh lực và năng lượng, theo hấp dẫn và đẩy lùi, hay theo sự đáp ứng rung động của các đơn vị với nhau, và của các tập hợp đơn vị với các nhóm khác, thì chúng ta sẽ làm sáng tỏ được nhiều vấn đề và đơn giản hóa đời sống.

251. DK is asking us to interpret “aggregates of ideas” in certain terms. Which terms?

251. Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta diễn giải “các tập hợp ý tưởng” theo một số thuật ngữ nhất định. Đó là những thuật ngữ nào?

a. In terms of force and energy

a. Theo mãnh lực và năng lượng

b. In terms of attraction and repulsion

b. Theo hấp dẫn và đẩy lùi

c. In terms of the vibratory response of units to each other

c. Theo sự đáp ứng rung động của các đơn vị với nhau

d. In terms of the vibrator response of aggregates of units to other groups

d. Theo sự đáp ứng rung động của các tập hợp đơn vị đối với các nhóm khác

252. In short, we are to interpret all life in terms of the “language of energy”. This will lead to a clarification of all our relationships.

252. Tóm lại, chúng ta phải diễn giải toàn bộ đời sống theo “ngôn ngữ của năng lượng”. Điều này sẽ dẫn đến sự làm sáng tỏ mọi mối quan hệ của chúng ta.

253. What are “things”, really, but “aggregates of ideas” and, more specifically, aggregations of thoughts which represent those ideas.

253. Rốt cuộc, “sự vật” là gì nếu không phải là “các tập hợp ý tưởng”, và cụ thể hơn, là những tập hợp tư tưởng biểu hiện các ý tưởng ấy.

Men will be true to their group affiliations, and the present misgrouping and mismating will gradually, through knowledge, die out.

Con người sẽ trung thành với những liên hệ nhóm của mình, và sự xếp nhóm sai sai nhóm và kết đôi sai hiện nay sẽ dần dần, nhờ tri thức, biến mất.

254. Misgrouping and mismating turns out to be an impediment to spiritual progress and, essentially, a waste of time.

254. Sự xếp nhóm sai và kết đôi sai hóa ra là một chướng ngại đối với tiến bộ tinh thần và, về bản chất, là một sự phí thời gian.

255. “Let the disciple merge himself within the circle of his other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated.” (Rule 9 for Applicants to Initiation—IHS 202)

255. “Hãy để người đệ tử hòa nhập chính mình vào trong vòng tròn của những bản ngã khác của y. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ xuất hiện. Chỉ khi nhóm được biết đến và được cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát xạ một cách khôn ngoan.” (Quy luật 9 dành cho những người Thỉnh Cầu Điểm Đạo—IHS 202)

256. DK is telling us that aggregation and de-aggregation must be based upon occult knowledge. Presently, this is far from the case.

256. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng sự kết tập và giải kết tập phải dựa trên tri thức huyền bí. Hiện nay, điều này còn rất xa thực tế.

We can now take up the consideration of karma in its relation to the act of reincarnation.

Giờ đây chúng ta có thể bàn đến việc xem xét nghiệp quả trong mối liên hệ của nó với hành vi tái sinh.

257. Notice that we speak of the “act of reincarnation” and not, generally, of the process.

257. Hãy lưu ý rằng chúng ta nói về “hành vi tái sinh” chứ không nói, nói chung, về tiến trình.

As we are well aware, the law of karma is the most stupendous law of the system and one which it is impossible for the average man in any way to comprehend, for, if traced back along its central root and its many ramifications, one eventually reaches the position where causes antedating the solar system have to be dealt with,

Như chúng ta đều biết rõ, định luật nghiệp quả là định luật kỳ vĩ nhất của hệ thống và là điều mà con người trung bình không thể nào thấu hiểu được theo bất kỳ cách nào, vì nếu lần ngược theo cội rễ trung tâm của nó và vô số nhánh phụ của nó, thì cuối cùng người ta sẽ đi đến chỗ phải đề cập đến những nguyên nhân có trước cả hệ mặt trời,

258. We are even now acting on effects which antedate our present solar system.

258. Ngay cả lúc này, chúng ta vẫn đang hành động dưới những hiệu quả có trước hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

259. Some of our most pressing and immediate international problems are based upon such ancient causes.

259. Một số vấn đề quốc tế cấp bách và trực tiếp nhất của chúng ta dựa trên những nguyên nhân cổ xưa như thế.

260. Therefore, we should not consider what is here said merely as an abstraction. It has very immediate and pressing effects.

260. Vì vậy, chúng ta không nên xem điều được nói ở đây chỉ như một sự trừu tượng. Nó có những hiệu quả rất trực tiếp và cấp bách.

and this point of view can only be usefully grasped by a high initiate.

và quan điểm này chỉ có thể được nắm bắt một cách hữu ích bởi một điểm đạo đồ cao cấp.

261. We presume that it is not enough to be simply an initiate of the third degree, but either an Arhat or a Master—one who has transcended karma as it is applied in the three lower worlds.

261. Chúng ta giả định rằng chỉ là một điểm đạo đồ bậc ba thì chưa đủ, mà phải là một Arhat hay một Chân sư — một Đấng đã vượt qua nghiệp quả như nó được áp dụng trong ba cõi thấp.

262. Some of lower rank may grasp something of the subject but not “usefully”—that is, they will not be in any position, really, to do anything about what they faintly understand.

262. Một số người ở cấp thấp hơn có thể nắm bắt được phần nào chủ đề này nhưng không phải một cách “hữu ích” — nghĩa là, họ thực sự sẽ không ở vào vị thế có thể làm được điều gì đối với điều họ chỉ hiểu lờ mờ.

This great law really concerns, or is based on causes which are inherent in the constitution of matter itself

Định luật vĩ đại này thực sự liên quan đến, hay dựa trên, những nguyên nhân cố hữu trong chính cấu tạo của vật chất

263. Karma and the law that wields it are closely related to the effect of the already conditioned matter aspect (condition in the first solar system) upon the life and consciousness attempting to express itself in the present solar system.

263. Nghiệp quả và định luật vận dụng nó có liên hệ chặt chẽ với tác động của phương diện vật chất đã được định hình từ trước (được định hình trong hệ mặt trời thứ nhất) lên sự sống và tâm thức đang cố gắng biểu hiện trong hệ mặt trời hiện tại.

and on the interaction between atomic units whether we use this expression in connection with an atom of substance, a human being, a planetary atom or a solar atom.

và trên sự tương tác giữa các đơn vị nguyên tử dù chúng ta dùng cách diễn đạt này trong mối liên hệ với một nguyên tử chất liệu, một con người, một nguyên tử hành tinh hay một nguyên tử thái dương.

264. The Law of Karma concerns not only the conditioning of matter, but the quality of relationship. It is the purpose of the Law of Karma to improve the quality of all relationship so that such relationship corresponds to archetypes meant to condition and control the present solar system.

264. Định luật Nghiệp quả không chỉ liên quan đến sự định hình của vật chất, mà còn liên quan đến phẩm tính của mối quan hệ. Mục đích của Định luật Nghiệp quả là cải thiện phẩm tính của mọi mối quan hệ để mối quan hệ ấy tương ứng với những nguyên mẫu vốn được dự định để tác động lên và kiểm soát hệ mặt trời hiện tại.

265. The condition of matter is related to the third aspect of divinity, and relationship (and its quality) to the second aspect.

265. Tình trạng của vật chất liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, còn mối quan hệ (và phẩm tính của nó) liên hệ với phương diện thứ hai.

266. As we presently experience karma on this planet and this solar system, we might say that its function is to bring the third aspect into right relationship with the second.

266. Khi xét nghiệp quả như chúng ta hiện đang trải nghiệm trên hành tinh này và trong hệ mặt trời này, chúng ta có thể nói rằng chức năng của nó là đưa phương diện thứ ba vào mối quan hệ đúng đắn với phương diện thứ hai.

We might express it also in saying that the will aspect or initiatory impulse is primarily that which produces cause, which is cause itself.

Chúng ta cũng có thể diễn đạt điều đó bằng cách nói rằng phương diện ý chí hay xung lực khởi phát trước hết chính là điều tạo ra nguyên nhân, chính là nguyên nhân tự thân.

267. The first aspect of divinity is impulsive and causal.

267. Phương diện thứ nhất của thiên tính có tính xung động và nhân quả.

It should be remembered ever that cause involves the idea of duality, i.e., that which initiates, and that which is produced simultaneously by the initiation.

Cần luôn ghi nhớ rằng nguyên nhân bao hàm ý niệm về nhị nguyên tính, tức là điều khởi phát, và điều được tạo ra đồng thời bởi sự khởi phát ấy.

268. From one perspective, we are being told that the first aspect of divinity (when exercised) leads inevitably to the appearance of the second aspect—i.e., to the appearance of duality.

268. Từ một góc nhìn, chúng ta đang được cho biết rằng phương diện thứ nhất của thiên tính (khi được vận dụng) tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của phương diện thứ hai — tức là, dẫn đến sự xuất hiện của nhị nguyên tính.

269. We note the virtual simultaneity of the two—of that which initiates and that which is produced by the act of initiation.

269. Chúng ta lưu ý tính gần như đồng thời của hai điều ấy — của điều khởi phát và điều được tạo ra bởi hành vi khởi phát.

The two ideas are inseparable,

Hai ý niệm này không thể tách rời,

270. We are dealing with the cause and that which is caused—with the act of initiation and that which results from the act of initiation.

270. Chúng ta đang bàn đến nguyên nhân và điều được gây ra — đến hành vi khởi phát và điều phát sinh từ hành vi khởi phát.

yet nevertheless the second idea in its most abstract connotation must not be considered literally as an effect; true effect involves a third idea.

tuy nhiên ý niệm thứ hai, trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó, không được hiểu theo nghĩa đen như một hiệu quả; hiệu quả đích thực bao hàm một ý niệm thứ ba.

271. DK is here entering an abstruse consideration.

271. Ở đây Chân sư DK đang đi vào một sự khảo sát thâm áo.

272. We are not to consider the second idea in any concrete connotation, but only “in its most abstract connotation”. Abstractly, according to the Tibetan, that which is “produced simultaneously by the initiation” is not a true “effect”.

272. Chúng ta không được hiểu ý niệm thứ hai theo bất kỳ hàm nghĩa cụ thể nào, mà chỉ “trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó”. Theo cách trừu tượng, theo Chân sư Tây Tạng, điều “được tạo ra đồng thời bởi sự khởi phát” không phải là một “hiệu quả” đích thực.

273. Let us search for this third idea.

273. Hãy tìm kiếm ý niệm thứ ba này.

Some appreciation of the problem may be gleaned by a consideration of phenomena which ever involves this dual initiatory cause and its objective effect: [Page 799]

Một phần sự cảm nhận về vấn đề có thể được rút ra bằng cách xem xét những hiện tượng vốn luôn bao hàm nguyên nhân khởi phát nhị nguyên này và hiệu quả khách quan của nó: [Page 799]

a. Spirit-matter in dual activity produces the objective universe.

a. Tinh thần-vật chất trong hoạt động nhị nguyên tạo ra vũ trụ khách quan.

274. From this perspective, the objective universe is the “Son” and is related to the second aspect of divinity embodied by the third.

274. Từ góc nhìn này, vũ trụ khách quan là “Con” và liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính được hiện thân qua phương diện thứ ba.

275. We will learn that a dual activity is associated with both Spirit and matter—two activities for each, making four.

275. Chúng ta sẽ học rằng một hoạt động nhị nguyên gắn liền với cả tinh thần lẫn vật chất — hai hoạt động cho mỗi bên, thành bốn.

b. Electric fire and fire by friction when brought into contact produce solar fire; it flashes forth from darkness, yet a darkness which is potent with energy.

b. Lửa Điện và Lửa ma sát khi được đưa vào tiếp xúc sẽ tạo ra Lửa Thái dương; nó bừng lóe ra từ bóng tối, nhưng là một bóng tối đầy quyền năng với năng lượng.

276. To us, Shamballa is inconceivably potent yet also resides (for us) in darkness.

276. Đối với chúng ta, Shamballa có quyền năng không thể nghĩ bàn nhưng cũng ngự trong bóng tối (đối với chúng ta).

277. It is evident that, in looking for the third factor, that which arises from the interaction of the principal duality (Spirit/Matter) must be considered.

277. Rõ ràng là, khi tìm kiếm yếu tố thứ ba, phải xét đến điều phát sinh từ sự tương tác của nhị nguyên tính chính yếu (Tinh thần/Vật chất).

c. Will-desire is the cause of incarnation; the will-to-be reacting on substance (whose main quality is desire or responsiveness to sensation) produces the forms through which the central Life or Existence seeks expression.

c. Ý chí-dục vọng là nguyên nhân của sự nhập thể; ý chí-tồn tại tác động lên chất liệu (mà phẩm tính chính của nó là dục vọng hay sự đáp ứng với cảm giác) tạo ra những hình tướng qua đó Sự sống trung tâm hay Hiện hữu tìm cách biểu hiện.

278. DK is expressing the same idea in a number of different ways.

278. Chân sư DK đang diễn đạt cùng một ý tưởng theo nhiều cách khác nhau.

279. We note here, interestingly, that the “Will-to-Be” is contrasted with desire. The Will-to-Be is connected with Spirit and desire with substance.

279. Ở đây, điều thú vị là chúng ta lưu ý rằng “Ý chí-Tồn tại” được đặt đối lập với dục vọng. Ý chí-Tồn tại liên hệ với Tinh thần còn dục vọng liên hệ với chất liệu.

280. Form is that which arises as the third in a sequence of three, and yet is most closely related to the second aspect of divinity.

280. Hình tướng là điều phát sinh như yếu tố thứ ba trong một chuỗi ba, nhưng lại liên hệ mật thiết nhất với phương diện thứ hai của thiên tính.

d. Ideas and thought-matter together produce thoughtforms.

d. Ý tưởng và vật chất tư tưởng cùng nhau tạo ra các Hình tư tưởng.

281. Ideas pertain to the first aspect and thought-matter to the third. The thoughtform represents the second aspect.

281. Ý tưởng thuộc về phương diện thứ nhất và vật chất tư tưởng thuộc về phương diện thứ ba. Hình tư tưởng biểu hiện phương diện thứ hai.

If the student considers these points, it will become apparent that it is not possible for him to do more than study the effects produced by the juxtaposition of the pairs of opposites;

Nếu đạo sinh suy xét những điểm này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng y không thể làm gì hơn ngoài việc nghiên cứu những hiệu quả được tạo ra bởi sự đặt kề nhau của các cặp đối lập;

282. Spirit in its purity and matter in its pure essence are beyond his comprehension.

282. Tinh thần trong sự thuần khiết của nó và vật chất trong tinh túy thuần khiết của nó đều vượt ngoài sự thấu hiểu của y.

he cannot dissociate them in his mind and deal with Spirit per se, or with matter per se any more than the atom of substance in man's physical body can dissociate itself from that body, and consider itself independently of form influences.

y không thể tách chúng ra trong trí tuệ của mình và đề cập đến Tinh thần chính nó, hay đến chính vật chất, cũng như nguyên tử chất liệu trong thể xác của con người không thể tách chính nó ra khỏi thể ấy và xem xét chính nó một cách độc lập với các ảnh hưởng của hình tướng.

283. DK is telling us that (at our present stage of unfoldment) we cannot dissociate Spirit from matter and study the two independently.

283. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng (ở giai đoạn khai mở hiện nay của chúng ta) chúng ta không thể tách Tinh thần khỏi vật chất và nghiên cứu hai điều ấy một cách độc lập.

284. If the student cannot dissociate Spirit and matter “in his mind”, is there any vehicle through which this dissociation can be achieved, or is it just that the mind of man, as presently developed, is inadequate to the task?

284. Nếu đạo sinh không thể tách Tinh thần và vật chất “trong trí tuệ của mình”, thì có hiện thể nào qua đó sự tách biệt này có thể đạt được chăng, hay chỉ là trí tuệ của con người, như hiện đang phát triển, không đủ cho nhiệm vụ ấy?

285. DK is telling us that we are too imbedded in matter to study the true nature of matter or of Spirit. If we were deeply and consciously imbedded in Spirit we could study the nature of both Spirit and matter.

285. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta bị cắm quá sâu trong vật chất nên không thể nghiên cứu bản chất đích thực của vật chất hay của Tinh thần. Nếu chúng ta được cắm sâu và có ý thức trong Tinh thần thì chúng ta có thể nghiên cứu bản chất của cả Tinh thần lẫn vật chất.

All atoms are always controlled by the following factors, just as a man in the body of a planetary Logos, and a planetary Logos within His greater Whole will be equally controlled by the same basic principles:

Mọi nguyên tử luôn luôn bị kiểm soát bởi những yếu tố sau đây, cũng như một con người trong thân thể của một Hành Tinh Thượng Đế, và một Hành Tinh Thượng Đế trong Toàn Thể lớn hơn của Ngài cũng sẽ bị kiểm soát tương tự bởi cùng những nguyên lý căn bản ấy:

286. We are examining the factors which control man, a Planetary Logos or a Solar Logos. These controlling factors arise within a number of dimensions.

286. Chúng ta đang khảo sát những yếu tố kiểm soát con người, một Hành Tinh Thượng Đế hay một Thái dương Thượng đế. Những yếu tố kiểm soát này phát sinh trong một số chiều kích.

287. In the following list of influences, influences playing upon the atom of substance are compared with influences playing upon the atom, man.

287. Trong danh sách các ảnh hưởng sau đây, những ảnh hưởng tác động lên nguyên tử chất liệu được so sánh với những ảnh hưởng tác động lên nguyên tử là con người.

The influence and quality of the organ or unit in which it finds a place. In the human atom this means his group force or influence.

Ảnh hưởng và phẩm tính của cơ quan hay đơn vị mà trong đó nó tìm thấy vị trí của mình. Trong nguyên tử con người, điều này có nghĩa là mãnh lực hay ảnh hưởng nhóm của y.

288. The larger and embracing whole controls that which it includes and embraces.

288. Toàn thể lớn hơn và bao trùm kiểm soát điều mà nó bao gồm và ôm chứa.

289. The larger group controls the units which comprise it. This applies to the tiny atom of substance, to man, to a Planetary Logos, a Solar Logos, and Entities of still greater scope.

289. Nhóm lớn hơn kiểm soát các đơn vị cấu thành nó. Điều này áp dụng cho nguyên tử chất liệu cực nhỏ, cho con người, cho một Hành Tinh Thượng Đế, một Thái dương Thượng đế, và cho các Thực Thể có tầm mức còn lớn hơn nữa.

290. Man, for instance, is affected by the group or groups to which he belongs egoically and monadically.

290. Chẳng hạn, con người bị ảnh hưởng bởi nhóm hay các nhóm mà y thuộc về về mặt chân ngã và chân thần.

The life influence of the entire physical body of which any atom is a corporate part. In the human atom this means the influence of the particular centre in which his egoic group has a place, and the type of energy which it embodies.

Ảnh hưởng sự sống của toàn bộ thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành của nó. Trong nguyên tử con người, điều này có nghĩa là ảnh hưởng của trung tâm đặc thù mà nhóm chân ngã của y có một vị trí trong đó, và loại năng lượng mà nó hiện thân.

291. The tiny atom of substance is influenced powerfully by the quality of the physical body of which that atom is a corporate part. It lives not unto itself alone.

291. Nguyên tử chất liệu cực nhỏ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phẩm tính của thể xác mà nguyên tử ấy là một phần hợp thành của nó. Nó không sống chỉ cho riêng mình.

292. Similarly, each group of human egos is a part of a certain centre in a Globe Lord, Chain Lord or a Planetary Logos.

292. Tương tự như vậy, mỗi nhóm chân ngã nhân loại là một phần của một trung tâm nào đó trong một Chúa Tể của Bầu hành tinh, Chúa Tể của Dãy hay một Hành Tinh Thượng Đế.

293. Can human egoic groups be found in all seven major centers of any of these entities, or only in the highest three? Probably, all seven, but one of those centers in the Planetary Logos which are comprised of Monads?

293. Có thể tìm thấy các nhóm chân ngã nhân loại trong cả bảy trung tâm chính của bất kỳ thực thể nào trong số này không, hay chỉ trong ba trung tâm cao nhất? Có lẽ là cả bảy, nhưng một trong những trung tâm ấy trong Hành Tinh Thượng Đế lại được cấu thành bởi các Chân thần chăng?

294. The human unit is, of course, physically, part of the physical body of humanity as a whole. This greater physical aggregation naturally has an effect upon the individual human unit.

294. Dĩ nhiên, đơn vị nhân loại, về mặt thể xác, là một phần của thể xác của toàn thể nhân loại. Sự kết tập thể xác lớn hơn này tự nhiên có ảnh hưởng lên đơn vị nhân loại cá biệt.

The life influence of the desire or astral body, the strongest karmic agency which has to be considered.

Ảnh hưởng sự sống của thể dục vọng hay thể cảm dục, tác nhân nghiệp quả mạnh nhất cần phải được xem xét.

295. The atom of substance in the human physical body is strongly affected by the influence of the human astral body. The frequency of vibration and the quality of relationship experienced by that tiny atom (whether karmically desirable or not) is largely affected by the quality of emotion or desire demonstrated in the human astral body.

295. Nguyên tử chất liệu trong thể xác con người bị ảnh hưởng mạnh bởi ảnh hưởng của thể cảm dục con người. Tần số rung động và phẩm tính của mối quan hệ mà nguyên tử cực nhỏ ấy trải nghiệm (dù có đáng mong muốn về mặt nghiệp quả hay không) phần lớn bị ảnh hưởng bởi phẩm tính của cảm xúc hay dục vọng được biểu lộ trong thể cảm dục con người.

[Page 800] In the human atom, this involves the influence of the three centres in the body of the Heavenly Man which form any specific "force triangle," and which have much to do with the liberation of groups of Egos from manifestation.

[Page 800] Trong nguyên tử con người, điều này bao hàm ảnh hưởng của ba trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân tạo thành bất kỳ “tam giác lực” đặc thù nào, và có liên quan rất nhiều đến sự giải thoát các nhóm Chân ngã khỏi biểu hiện.

296. When speaking of the “entire physical body of the which any atom is a corporate part”, it could be inferred that each atom had a particularly close relationship with one or other of the seven centers in such a body, but we did not specifically isolate “three centres in the body of the Heavenly Man”.

296. Khi nói về “toàn bộ thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành của nó”, có thể suy ra rằng mỗi nguyên tử có một mối liên hệ đặc biệt gần gũi với một hay trung tâm nào đó trong bảy trung tâm của một thể như thế, nhưng chúng ta đã không đặc biệt tách riêng “ba trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân”.

297. The desire or aspiration for liberation is an important ingredient in the liberation process.

297. Dục vọng hay khát vọng giải thoát là một thành phần quan trọng trong tiến trình giải thoát.

298. When looking for the three centers in the body of a Heavenly Man which have to do with the liberation of egoic groups from manifestation, should we choose those centers closely related to the astral body—such as the solar plexus center, the heart center and, perhaps, the ajna center?

298. Khi tìm ba trung tâm trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân có liên quan đến sự giải thoát các nhóm chân ngã khỏi biểu hiện, liệu chúng ta có nên chọn những trung tâm liên hệ chặt chẽ với thể cảm dục — như trung tâm tùng thái dương, trung tâm tim và, có lẽ, trung tâm ajna?

299. In what is said by the Tibetan above, there are levels of obscurity which are not easy to penetrate.

299. Trong điều được Chân sư Tây Tạng nói ở trên, có những mức độ tối nghĩa không dễ xuyên thấu.

300. Egos and egoic groups are liberated at the fourth initiation. We may presume that the triangles here discussed (perhaps one triangle, perhaps more than one) are influential in helping Egos and egoic groups achieve their fourth initiation and, thus, liberation from what is usually considered “manifestation”.

300. Các Chân ngã và các nhóm chân ngã được giải thoát ở lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta có thể giả định rằng các tam giác được bàn đến ở đây (có lẽ một tam giác, có lẽ nhiều hơn một) có ảnh hưởng trong việc giúp các Chân ngã và các nhóm chân ngã đạt đến lần điểm đạo thứ tư của mình và do đó được giải thoát khỏi điều thường được xem là “biểu hiện”.

301. If we were to try to arrive at one particular triangle involved in liberation, we might choose crown, ajna and alta, or head, heart and throat.

301. Nếu chúng ta cố gắng đi đến một tam giác đặc thù liên quan đến sự giải thoát, chúng ta có thể chọn đỉnh đầu, ajna và alta major, hoặc đầu, tim và cổ họng.

The life influences of the mental body, or of that principle which imposes upon the atom the quality of activity in form, which governs the reaction of the atom to its group life, and which enables the quality of its life to be demonstrated.

Những ảnh hưởng sự sống của thể trí, hay của nguyên khí áp đặt lên nguyên tử phẩm tính hoạt động trong hình tướng, điều chi phối phản ứng của nguyên tử đối với sự sống nhóm của nó, và điều làm cho phẩm tính của sự sống nó có thể được biểu lộ.

302. We note that each influence controlling the atom of substance or the human unit is called a “life” influence

302. Chúng ta lưu ý rằng mỗi ảnh hưởng kiểm soát nguyên tử chất liệu hay đơn vị nhân loại đều được gọi là một ảnh hưởng “sự sống”

303. We must note that the “life influences of the mental body” are closely associated with the quality of imposition. The mind conveys the will.

303. Chúng ta phải lưu ý rằng “những ảnh hưởng sự sống của thể trí” gắn liền chặt chẽ với phẩm tính của sự áp đặt. Trí tuệ chuyển tải ý chí.

304. The mind aspect is also closely related to the activity aspect.

304. Phương diện trí tuệ cũng liên hệ chặt chẽ với phương diện hoạt động.

305. The mind is closely related to the unit’s group functioning, whether that unit is a tiny atom or a human being.

305. Trí tuệ liên hệ chặt chẽ với chức năng nhóm của đơn vị, dù đơn vị ấy là một nguyên tử cực nhỏ hay một con người.

306. The mental nature of the human being is decisively impressive upon the tiny atom of substance in the human body. The tiny atom has its own type of “group life”. The mental nature of the human being imposes upon that tiny atom a certain “quality of activity in form”, affecting the aggregations and de-aggregations of that atom of substance. The mind is, after all, closely associated with the third aspect of divinity and so is the tiny atom.

306. Bản chất trí tuệ của con người tạo ấn tượng quyết định lên nguyên tử chất liệu cực nhỏ trong thể người. Nguyên tử cực nhỏ ấy có loại “sự sống nhóm” riêng của nó. Bản chất trí tuệ của con người áp đặt lên nguyên tử cực nhỏ ấy một “phẩm tính hoạt động trong hình tướng” nào đó, ảnh hưởng đến các sự kết tập và giải kết tập của nguyên tử chất liệu ấy. Rốt cuộc, trí tuệ liên hệ chặt chẽ với phương diện thứ ba của thiên tính và nguyên tử cực nhỏ ấy cũng vậy.

In the human atom this concerns those causes which are incident to a man's Ray, or literally the influence of the life of the planetary Logos as He functions as a self-conscious Life on His Own plane, as He works out His Own plans, and consequently sweeps into activity the cells of His body as mere incidents where He (the basic central life) is concerned.

Trong nguyên tử con người, điều này liên quan đến những nguyên nhân gắn liền với cung của một người, hay theo nghĩa đen là ảnh hưởng của sự sống của Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài hoạt động như một Sự sống tự ý thức trên cõi riêng của Ngài, khi Ngài triển khai các kế hoạch riêng của Ngài, và do đó cuốn các tế bào trong thể Ngài vào hoạt động như những sự việc phụ thuộc đơn thuần xét theo phương diện Ngài (Sự sống trung tâm căn bản).

307. As we consider the analogue in human life of the “life influences of the mental body”, we may infer that the monadic ray is involved. Usually when we speak of “a man’s Ray”, the monadic ray is meant. The lower mind, we remember, is (in some fundamental sense) an expression of the monadic ray just as the astral body expresses the soul ray.

307. Khi xem xét sự tương đồng trong đời sống con người của “những ảnh hưởng sự sống của thể trí”, chúng ta có thể suy ra rằng cung chân thần có liên quan. Thông thường khi chúng ta nói về “cung của một người”, cung chân thần được hàm ý. Chúng ta nhớ rằng hạ trí (theo một ý nghĩa căn bản nào đó) là một biểu hiện của cung chân thần cũng như thể cảm dục biểu hiện cung linh hồn.

308. It is the monadic ray which connects the human unit specifically to the Planetary Logos, for the human Monad is a “cell” in one of the centers of his Planetary Logos.

308. Chính cung chân thần nối kết đơn vị nhân loại một cách đặc thù với Hành Tinh Thượng Đế, vì Chân thần nhân loại là một “tế bào” trong một trong các trung tâm của Hành Tinh Thượng Đế của y.

309. We can see that monadic impulsions, which affect matters egoic and personal, are impelled by the Planetary Logos as He seeks to work out His own plans. The Monads are driven into activity simply the Planetary Logos’ act of will. They have, it seems, no ‘say’ about being driven forward. They are mere “incidents” in the willed-impulsions emanating from the Planetary Logos.

309. Chúng ta có thể thấy rằng những xung lực chân thần, vốn ảnh hưởng đến các vấn đề chân ngã và cá nhân, được Hành Tinh Thượng Đế thúc đẩy khi Ngài tìm cách triển khai các kế hoạch riêng của Ngài. Các Chân thần bị đẩy vào hoạt động đơn giản bởi hành vi ý chí của Hành Tinh Thượng Đế. Có vẻ như họ không có “tiếng nói” nào về việc bị thúc đẩy tiến lên. Họ chỉ là những “sự việc phụ thuộc” trong các xung lực ý chí phát ra từ Hành Tinh Thượng Đế.

310. The causes with which we are here concerned originate with the Planetary Logos, affect the Monad and are mediated through the lower mental nature which, in turn, affects the tiny atoms of substance.

310. Những nguyên nhân mà ở đây chúng ta quan tâm phát sinh từ Hành Tinh Thượng Đế, ảnh hưởng đến Chân thần và được trung giới qua bản chất hạ trí, rồi đến lượt nó ảnh hưởng đến các nguyên tử chất liệu cực nhỏ.

311. We see, therefore, a line emanating from the Planetary Logos all the way ‘down’ to the tiny atom of substance.

311. Vì vậy, chúng ta thấy một đường phát xuất từ Hành Tinh Thượng Đế đi suốt xuống tới nguyên tử chất liệu cực nhỏ.

The life impulse of the Thinker functioning in the causal body who—though a great abstraction or the Absolute where the cellular life is concerned—is nevertheless a potent and active factor in the imposition of rhythm upon the atom in every body.

Xung lực sự sống của Đấng Tư Tưởng hoạt động trong thể nguyên nhân, Đấng mà—dù là một sự trừu tượng lớn lao hay Đấng Tuyệt Đối xét theo sự sống tế bào—vẫn là một yếu tố mạnh mẽ và hoạt động trong việc áp đặt nhịp điệu lên nguyên tử trong mọi thể.

312. We have, we see, being considering a basic analogy: how the atom in the human being responds to impulses originating within the higher aspects of the human being, expressing through the physical body of which the cell is a part; and, also, how the human unit responds to the impulsions arising from the greater Life of which it is a corporate part.

312. Như vậy, chúng ta đã xét đến một sự tương đồng căn bản: nguyên tử trong con người đáp ứng thế nào với những xung lực phát sinh trong các phương diện cao hơn của con người, biểu hiện qua thể xác mà tế bào là một phần của nó; và đồng thời, đơn vị nhân loại đáp ứng thế nào với những xung lực phát sinh từ Sự sống lớn hơn mà nó là một phần hợp thành của Sự sống ấy.

313. We note that the Tibetan has introduced the term “cellular life” when speaking of the atom of substance. Surely, they are related, but the atom is tiny constituent of the physical cell.

313. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng đã đưa vào thuật ngữ “sự sống tế bào” khi nói về nguyên tử chất liệu. Chắc chắn chúng có liên hệ với nhau, nhưng nguyên tử là thành phần cực nhỏ của tế bào thể xác.

314. As the Thinker in the causal body is to the tiny atom in the human body, so the Solar Logos on the cosmic mental plane is to the human unit in its entirety.

314. Cũng như Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân đối với nguyên tử cực nhỏ trong thể người, thì Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ cũng như vậy đối với toàn bộ đơn vị nhân loại.

315. DK is telling us that the atom in the human body experiences an imposition of rhythm emanating from the Thinker in the causal body. For that tiny atom, the Thinker in the causal body is as the “Absolute”.

315. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nguyên tử trong thể người trải nghiệm một sự áp đặt nhịp điệu phát ra từ Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân. Đối với nguyên tử cực nhỏ ấy, Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân giống như “Đấng Tuyệt Đối”.

316. If we extend the analogy, we will find the Solar Logos serving in the role of “Absolute” for the human atom. We will also find that the Solar Logos is responsible for the imposition of certain rhythms upon the life of the human unit in the three worlds.

316. Nếu mở rộng sự tương đồng, chúng ta sẽ thấy Thái dương Thượng đế đảm nhiệm vai trò của “Đấng Tuyệt Đối” đối với nguyên tử con người. Chúng ta cũng sẽ thấy rằng Thái dương Thượng đế chịu trách nhiệm áp đặt những nhịp điệu nhất định lên sự sống của đơn vị nhân loại trong ba cõi giới.

In the human atom, this brings in the influence of the life of the solar Logos, for that Life imposes rhythm upon every human atom in the system, and does so through the agency of substance and its inherent quality, sensation.

Trong nguyên tử con người, điều này đưa vào ảnh hưởng của sự sống của Thái dương Thượng đế, vì Sự sống ấy áp đặt nhịp điệu lên mọi nguyên tử con người trong hệ thống, và làm như vậy thông qua tác nhân của chất liệu và phẩm tính cố hữu của nó là cảm giác.

317. DK affirms that, a human units, we are greatly affected by the Solar Logos through the rhythms that the Logos imposes. We think immediately of the “heart beat” of the Solar Logos as a fundamental rhythm which is, in some mediated manner, imposed. In our solar system, we are dealing with the occult rhythm of the heartbeat of the Heart of the Sun.

317. Chân sư DK khẳng định rằng, với tư cách các đơn vị nhân loại, chúng ta bị ảnh hưởng rất lớn bởi Thái dương Thượng đế thông qua những nhịp điệu mà Ngài áp đặt. Chúng ta lập tức nghĩ đến “nhịp tim” của Thái dương Thượng đế như một nhịp điệu căn bản được áp đặt theo một cách trung giới nào đó. Trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta đang xử lý nhịp điệu huyền bí của nhịp tim của Trái Tim Mặt Trời.

318. The solar logoic rhythm reaches the human being through the “agency of substance and its inherent quality, sensation”. We may infer that the human astral body is involved in mediating these rhythms to the human being on the physical plane.

318. Nhịp điệu logoi thái dương đến với con người qua “môi giới của chất liệu và phẩm tính cố hữu, cảm giác của nó”. Chúng ta có thể suy ra rằng thể cảm dục của con người có liên quan đến việc trung gian các nhịp điệu này đến con người trên cõi hồng trần.

In these thoughts, we have but approached the study of karma from a fresh angle, and endeavoured to show the sources of the "influences" which play upon all atomic lives.

Trong những tư tưởng này, chúng ta chỉ mới tiếp cận việc nghiên cứu nghiệp quả từ một góc độ mới mẻ, và đã nỗ lực chỉ ra các nguồn của những “ảnh hưởng” tác động lên mọi sự sống nguyên tử.

319. Indeed, the angle is “fresh” and requiring much reconfiguration of customary thought.

319. Quả thật, góc độ này “mới mẻ” và đòi hỏi phải tái cấu hình rất nhiều lối tư duy quen thuộc.

320. Just at the tiny atom of matter is conditioned karmically, so is the tiny unit man karmically conditioned by influences emanating from much greater sources.

320. Cũng như nguyên tử vật chất nhỏ bé bị nghiệp quả tác động, thì đơn vị con người nhỏ bé cũng bị nghiệp quả tác động bởi những ảnh hưởng phát ra từ các nguồn lớn lao hơn nhiều.

321. “Karma” means action, and DK is informing us of various relatively subjective actions which impact the unit experiencing karma.

321. “Nghiệp quả” có nghĩa là hành động, và Chân sư DK đang cho chúng ta biết về nhiều hành động tương đối chủ quan khác nhau tác động đến đơn vị đang kinh nghiệm nghiệp quả.

322. The principle is simple: all lives are atoms embedded within the body corporate of still greater atoms. Influences emanating from these still greater atoms affect the lesser atoms. In such cases the karma experienced cannot be called strictly individual. The human unit, as part of larger corporate units, experiences the karma due such larger units.

322. Nguyên lý thì đơn giản: mọi sự sống đều là những nguyên tử được bao hàm trong cơ thể tập thể của những nguyên tử còn lớn hơn nữa. Những ảnh hưởng phát ra từ các nguyên tử còn lớn hơn ấy tác động đến các nguyên tử nhỏ hơn. Trong những trường hợp như thế, nghiệp quả được kinh nghiệm không thể được gọi là hoàn toàn cá nhân. Đơn vị con người, với tư cách là một phần của những đơn vị tập thể lớn hơn, kinh nghiệm nghiệp quả thuộc về các đơn vị lớn hơn ấy.

The atom likewise is controlled by its own "esse," or by its own inherent nature or vibration, which was the quality of matter itself before it was aggregated into a solar system,

Nguyên tử cũng vậy, bị kiểm soát bởi “esse” riêng của nó, hay bởi bản chất hay rung động cố hữu riêng của nó, vốn là phẩm tính của chính vật chất trước khi nó được kết tập thành một hệ mặt trời,

323. This quality of vibration resonates to the note of the solar system which preceded our own.

323. Phẩm tính rung động này cộng hưởng với âm điệu của hệ mặt trời đã có trước hệ mặt trời của chúng ta.

and which was the vibratory activity produced through the rhythmic life of an earlier solar system.

và vốn là hoạt động rung động được tạo ra qua sự sống nhịp điệu của một hệ mặt trời trước đó.

324. Greater rhythms are imposed upon lesser beings with their own lesser rhythms.

324. Những nhịp điệu lớn hơn được áp đặt lên những hữu thể nhỏ hơn với các nhịp điệu nhỏ hơn riêng của chúng.

325. All life in the previous solar system vibrated in some manner to the note FA or F.

325. Mọi sự sống trong hệ mặt trời trước đây đã rung động theo một cách nào đó với nốt FA hay F.

326. The human unit has its own inherent “esse”, inherited from a previous incarnation.

326. Đơn vị con người có “esse” cố hữu riêng của mình, được thừa hưởng từ một kiếp lâm phàm trước.

[Page 801] This is equally true of all atoms of all grades, but only in connection with the atom of substance, and to some degree with the human atom, is it in any way possible to ascertain the predisposing causes.

[Page 801] Điều này cũng đúng như vậy đối với mọi nguyên tử ở mọi cấp độ, nhưng chỉ liên quan đến nguyên tử của chất liệu, và ở một mức độ nào đó với nguyên tử con người, thì mới có thể bằng cách nào đó xác định được các nguyên nhân tiềnđịnh.

327. We can only imagine the nature of the larger systems of which our Solar Logos and His fellow Logoi are a part. As to the antecedents of these Entities and systems of Entities, we can have no reasonable notion.

327. Chúng ta chỉ có thể hình dung bản chất của những hệ thống lớn hơn mà Thái dương Thượng đế của chúng ta và các Thượng đế đồng hàng của Ngài là một phần trong đó. Còn về các tiền thân của những Thực Thể và những hệ thống các Thực Thể này, chúng ta không thể có một quan niệm hợp lý nào.

328. It is being impressed upon us that predisposing causes conditioning the human atom are many are often remote from our understanding. Still more remote are the predisposing causes which condition a Planetary Logos, a Solar Logos or a Cosmic Logos, etc.

328. Điều đang được nhấn mạnh nơi chúng ta là các nguyên nhân tiền định tác động lên nguyên tử con người thì rất nhiều và thường xa ngoài sự thấu hiểu của chúng ta. Còn xa hơn nữa là các nguyên nhân tiền định tác động lên một Hành Tinh Thượng Đế, một Thái dương Thượng đế hay một Vũ trụ Thượng đế, v.v.

329. We may judge that all in cosmos is in some condition or other and there are predisposing causes for such a condition.

329. Chúng ta có thể phán đoán rằng mọi sự trong vũ trụ đều ở trong một điều kiện nào đó, và đều có những nguyên nhân tiền định cho điều kiện ấy.

330. While the principle may be clear to us, the ability to trace such causes in the case of greater Entities is necessarily lacking.

330. Tuy nguyên lý có thể rõ ràng đối với chúng ta, nhưng khả năng truy nguyên những nguyên nhân như thế trong trường hợp các Thực Thể lớn hơn thì tất yếu là không có.

331. We may emerge from this discussion with the sense that our human lives, here and now, are greatly affected by causes which lie far beyond our own Ego and the egoic group to which it belongs. Even the Solar Logos is involved in the imposition upon our lives of certain basic rhythms, and upon that Logos, still greater rhythms, of far more remote origin, are imposed.

331. Chúng ta có thể bước ra khỏi cuộc thảo luận này với cảm nhận rằng đời sống con người của chúng ta, ở đây và ngay lúc này, bị tác động rất lớn bởi những nguyên nhân nằm vượt xa ngoài chân ngã riêng của chúng ta và nhóm chân ngã mà nó thuộc về. Ngay cả Thái dương Thượng đế cũng có liên quan đến việc áp đặt lên đời sống chúng ta một số nhịp điệu căn bản, và lên Thượng đế ấy, những nhịp điệu còn lớn hơn nữa, có nguồn gốc xa xôi hơn nhiều, cũng được áp đặt.

Until the mystery of the Great Bear is revealed and is known as it is, and until the influence of the Pleiades is comprehended, and the true significance of the cosmic triangle formed by

Cho đến khi huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh được mặc khải và được biết đúng như nó là, và cho đến khi ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh được thấuhiểu, và thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được hìnhthành bởi

a. The seven Rishis of the Great Bear,

a. bảy Rishi của Đại Hùng Tinh,

b. The seven planetary Logoi of our solar system,

b. bảy Hành Tinh Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta,

c. The seven Pleiades or Sisters,

c. bảy Thất Nữ Tinh hay bảy Chị Em,

is revealed, the karma of the seven sacred planets will remain unknown.

được mặc khải, thì nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng sẽ vẫn còn chưa được biết.

332. This is an amazingly abstruse section of prophecy.

332. Đây là một đoạn tiên tri cực kỳ thâm áo.

333. Three things must occur before the karma of the seven sacred planets can be known:

333. Ba điều phải xảy ra trước khi nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng có thể được biết đến:

a. The mystery of the Great Bear must be revealed and known as it is

a. Huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh phải được mặc khải và được biết đúng như nó là

b. The influence of the Pleiades must be comprehended

b. Ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh phải được thấu hiểu

c. The true significance of the cosmic triangle formed between the Great Bear, the seven Planetary Logoi of our solar system and the Pleiades must be understood. This is, in a sense, a constellational triangle.

c. Thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được hình thành giữa Đại Hùng Tinh, bảy Hành Tinh Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta và Thất Nữ Tinh phải được thấu hiểu. Theo một nghĩa nào đó, đây là một tam giác thuộc chòm sao.

334. Such knowledge is not to be ascertained in our present round. Who knows whether it will be ascertainable in the next when these deeper cosmic matters will be more assiduously studied?

334. Tri thức như thế không thể được xác định trong cuộc tuần hoàn hiện nay của chúng ta. Ai biết được liệu nó có thể được xác định trong cuộc tuần hoàn kế tiếp hay không, khi những vấn đề vũ trụ sâu xa hơn này sẽ được nghiên cứu chuyên cần hơn?

All that we can see is its working out in the solar system.

Tất cả những gì chúng ta có thể thấy là sự triển khai của nó trong hệ mặt trời.

335. Obviously, the source of such causes lies far ‘above’ (or interior to) our solar system, on the cosmic astral plane, cosmic mental plane and beyond.

335. Hiển nhiên, nguồn gốc của những nguyên nhân như thế nằm rất xa “bên trên” (hay bên trong) hệ mặt trời của chúng ta, trên cõi cảm dục vũ trụ, cõi trí vũ trụ và vượt xa hơn nữa.

The intricacy of the whole subject will be apparent when it is borne in mind that not only do these three groups form a cosmic triangle, but that within that triangle many lesser triangles have to be studied.

Sự phức tạp của toàn bộ chủ đề sẽ trở nên hiển nhiên khi ghi nhớ rằng không những ba nhóm này tạo thành một tam giác vũtrụ, mà bên trong tam giác đó còn có nhiều tam giác nhỏ hơn phải được nghiên cứu.

336. The lesser triangles involve, for instance, one of the stars in the Great Bear, one of the stars the Pleiades and one (or other) of the Seven Heavenly Men. We can see that a great number of secondary triangles could emerge from such combinations.

336. Chẳng hạn, các tam giác nhỏ hơn liên quan đến một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh, một trong các ngôi sao của Thất Nữ Tinh và một (hay một vị khác) trong Bảy Đấng Thiên Nhân. Chúng ta có thể thấy rằng một số lượng rất lớn các tam giác thứ cấp có thể xuất hiện từ những tổ hợp như thế.

337. There is probably one star in the Great Bear most related to one star in the Pleiades and these two are probably most related to only one of the seven principal Heavenly Men, however, the two stars could have a relationship which each and every one of the Seven Heavenly Men. Not only that, but each star in the Great Bear (though most related to only one of the stars in the Pleiades) has a relationship with each and every star in the Pleiades, and vise versa.

337. Có lẽ có một ngôi sao trong Đại Hùng Tinh liên hệ nhiều nhất với một ngôi sao trong Thất Nữ Tinh, và hai ngôi sao này có lẽ liên hệ nhiều nhất chỉ với một trong bảy Đấng Thiên Nhân chính yếu; tuy nhiên, hai ngôi sao ấy có thể có một mối liên hệ với từng và mọi Đấng Thiên Nhân trong Bảy Đấng. Không chỉ vậy, mà mỗi ngôi sao trong Đại Hùng Tinh (dù liên hệ nhiều nhất chỉ với một trong các ngôi sao của Thất Nữ Tinh) vẫn có một mối liên hệ với từng và mọi ngôi sao trong Thất Nữ Tinh, và ngược lại.

338. Effective studies of this nature lie far into the future.

338. Những nghiên cứu hữu hiệu thuộc loại này còn nằm rất xa trong tương lai.

Any one of the seven Rishis with one of our planetary Logoi and one of the seven Sisters may form a subsidiary triangle, and all must thus be studied.

Bất kỳ một trong bảy Rishi nào cùng với một trong các Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và một trong bảy Chị Em đều có thể tạo thành một tam giác phụ, và vì thế tất cả đều phải được nghiên cứu.

339. DK informs us of some of the possible combinations—the most powerful subsidiary triangles.

339. Chân sư DK cho chúng ta biết một số tổ hợp khả dĩ—những tam giác phụ mạnh mẽ nhất.

340. We do not know that all of these subsidiary triangles are of equal strength or even fully formed, but at some point in time, all such triangles will be fully functioning.

340. Chúng ta không biết rằng tất cả các tam giác phụ này có sức mạnh ngang nhau hay thậm chí đã hoàn toàn thành hình hay chưa, nhưng vào một thời điểm nào đó, mọi tam giác như thế sẽ vận hành trọn vẹn.

341. Before we can study the triangles, we must understand the qualitative nature the stars and planets involved, which is, thus far, hardly the case.

341. Trước khi có thể nghiên cứu các tam giác, chúng ta phải hiểu bản chất phẩm tính của các ngôi sao và hành tinh liên quan, điều mà cho đến nay hầu như chưa phải là trường hợp.

In connection with the karma of the solar Logos, the subject is even more abstract and incomprehensible.

Liên quan đến nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, chủ đề này còn trừu tượng và bất khả hiểu hơn nữa.

342. We have discussed the relationship between the stars in the Great Bear, the stars in the Pleiades and the various Planetary Logoi.

342. Chúng ta đã bàn đến mối liên hệ giữa các ngôi sao trong Đại Hùng Tinh, các ngôi sao trong Thất Nữ Tinh và các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau.

343. There are certainly triangles, as well, between certain stars in the Great Bear, stars in the Pleiades and our Solar Logos, but these are not the relationships which DK is about to discuss.

343. Chắc chắn cũng có những tam giác giữa một số ngôi sao trong Đại Hùng Tinh, các ngôi sao trong Thất Nữ Tinh và Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng đó không phải là những mối liên hệ mà Chân sư DK sắp bàn đến.

344. In the examples above involving the Heavenly Men, we discussed the relationship between certain stars and our Heavenly Men (Planetary Logoi). Below, we shall discuss the relationship between certain constellations (not simply stars taken singly) and our Solar Logos (a Solar God)

344. Trong các ví dụ trên liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, chúng ta đã bàn đến mối liên hệ giữa một số ngôi sao và các Đấng Thiên Nhân của chúng ta (các Hành Tinh Thượng Đế). Bên dưới, chúng ta sẽ bàn đến mối liên hệ giữa một số chòm sao (không chỉ đơn giản là các ngôi sao được xét riêng lẻ) và Thái dương Thượng đế của chúng ta (một Thượng đế Thái dương)

It lies hidden —not in the seven constellations—but in the three constellations which concern the three bodies of His Personality and which in themselves are but manifestations of a central LIFE past our concept and our recognition.

Nó ẩn giấu —không phải trong bảy chòm sao—mà trong ba chòmsao liên quan đến ba thể của Phàm ngã của Ngài và tự chúng chỉ là những biểu hiện của một SỰ SỐNG trung tâm vượt ngoài khái niệm và sự nhận biết của chúng ta.

345. Our Solar Logos has a physical body, an astral body and a lower mental body.

345. Thái dương Thượng đế của chúng ta có một thể xác, một thể cảm dục và một thể hạ trí.

346. There are three entire constellations, which are probably chakras in the "One About Whom Naught May Be Said", which are specifically related to the three personality vehicles of our Solar Logos.

346. Có ba chòm sao trọn vẹn, có lẽ là các luân xa trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị", có liên hệ đặc biệt với ba vận cụ phàm ngã của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

347. May these be the Great Bear, the Sirian System and the Pleiades or, perhaps, the Great Bear, the Little Bear and the Pleiades—considered as constellations and not from the perspective of the individual stars within these constellations?

347. Có thể đó là Đại Hùng Tinh, Hệ Sirius và Thất Nữ Tinh, hoặc có lẽ là Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh và Thất Nữ Tinh—được xét như những chòm sao chứ không phải từ góc nhìn của các ngôi sao riêng lẻ bên trong những chòm sao này chăng?

It concerns the manifestation in time and space of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and Whose relationship to the solar Logos finds a faint analogy in that of the planetary Logos to man, the human unit.

Điều này liên quan đến sự biểuhiện trong thời gian và không gian của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và mối liên hệ của Ngài với Thái dương Thượng đế có một sự tương đồng mờ nhạt với mối liên hệ của Hành Tinh Thượng Đế với con người, đơn vị nhân loại.

348. If man as a Monad is but a cell in a Heavenly Man, is DK suggesting that the Solar Logos is as a cell when compared to the "One About Whom Naught May Be Said"?

348. Nếu con người với tư cách là một chân thần chỉ là một tế bào trong một Đấng Thiên Nhân, thì Chân sư DK có đang gợi ý rằng Thái dương Thượng đế cũng như một tế bào khi so với "Đấng Bất Khả Tư Nghị" chăng?

349. This seems quite a reduction of the status of the Solar Logos, for usually the Solar Logos is considered as a chakra within a chakra (which chakra is one of the major centers in the "One About Whom Naught May Be Said"). Thus, the Solar Logos would be as a minor chakra which is certainly far greater than a cell.

349. Điều này dường như làm giảm khá nhiều địa vị của Thái dương Thượng đế, vì thông thường Thái dương Thượng đế được xem như một luân xa bên trong một luân xa (mà luân xa ấy là một trong những trung tâm chính yếu trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị"). Như vậy, Thái dương Thượng đế sẽ như một luân xa nhỏ, điều chắc chắn lớn lao hơn nhiều so với một tế bào.

350. HOWEVER, if the "One About Whom Naught May Be Said" here referenced is a Galactic Logos, then it would make sense (in terms of scale) for our Solar Logos to be considered as a cell in the expression of such a great BEING.

350. TUY NHIÊN, nếu "Đấng Bất Khả Tư Nghị" được nhắc đến ở đây là một Thượng đế Ngân Hà, thì sẽ hợp lý (xét theo quy mô) khi Thái dương Thượng đế của chúng ta được xem như một tế bào trong sự biểu lộ của một HỮU THỂ vĩ đại như thế.

351. Certainly our GALACTIC LOGOS is a "One About Whom Naught May Be Said".

351. Chắc chắn THƯỢNG ĐẾ NGÂN HÀ của chúng ta là một "Đấng Bất Khả Tư Nghị".

352. We must note, however, that the analogy is “faint” and thus, must not be pressed too far.

352. Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý rằng sự tương đồng này là “mờ nhạt” và vì thế không được đẩy đi quá xa.

353. Nevertheless, it is important to note the problem of scale with which we seem to be presented.

353. Dẫu vậy, điều quan trọng là phải lưu ý đến vấn đề về quy mô mà dường như chúng ta đang được đặt trước.

It profits not to extend the thought any further.

Không ích gì khi mở rộng tư tưởng này thêm nữa.

354. DK well knows the limits of our minds.

354. Chân sư DK biết rất rõ những giới hạn của trí tuệ chúng ta.

We are but seeking to emphasise the fact of the interdependence of all atoms and forms,

Chúng ta chỉ đang tìm cách nhấn mạnh sự kiện về tính phụ thuộc lẫnnhau của mọi nguyên tử và hình tướng,

355. If an atom is included in a form, it is conditioned by the energy which the form expresses.

355. Nếu một nguyên tử được bao hàm trong một hình tướng, nó bị tác động bởi năng lượng mà hình tướng ấy biểu lộ.

to lay stress upon the reality of the variety of influences which play upon all [Page 802] that is manifesting,

để nhấn mạnh thực tại của sự đa dạng các ảnh hưởng tác động lên mọi [Page 802] đang biểu hiện,

356. So that we may be more alert to the reasons for the effects we experience in the three lower worlds…

356. Để chúng ta có thể tỉnh thức hơn đối với những lý do của các hiệu quả mà chúng ta kinh nghiệm trong ba cõi thấp…

357. Usually, we think there are far fewer effective influences that there really are.

357. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng có ít ảnh hưởng hữu hiệu hơn nhiều so với thực tế.

and to call attention to the fact of the karma of the past aeons, kalpas and that unknowable period in which the initiatory impulses were set up which are still persisting, and which God, man and atoms are still working out and off.

và để lưu ý đến sự kiện về nghiệp quả của các đại kiếp quá khứ, các kalpa và thời kỳ bất khả tri ấy trong đó các xung lực điểm đạo đã được thiết lập, vẫn còn đang tồn tại, và Thượng đế, con người và các nguyên tử vẫn còn đang giải quyết và thanh toán.

358. We are presented with many impulsive effects which (now serving as causes) have been generated in circumstances which cannot possibly be understood—they occurred so long ago.

358. Chúng ta được đặt trước nhiều hiệu quả xung động mà (nay đang phục vụ như những nguyên nhân) đã được tạo ra trong những hoàn cảnh hoàn toàn không thể hiểu được—chúng đã xảy ra từ quá lâu rồi.

359. In the distant, remote past, patterns of energy and force interaction have arisen and still have not been neutralized or brought into conformity with the prevailing archetypes of our present solar system. Imbalance still exists.

359. Trong quá khứ xa xăm, những mô hình tương tác của năng lượng và mãnh lực đã phát sinh và vẫn chưa được trung hòa hay đưa vào sự phù hợp với các nguyên mẫu đang chi phối của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta. Sự mất cân bằng vẫn còn tồn tại.

360. In summary, DK has just called our attention to three factors:

360. Tóm lại, Chân sư DK vừa lưu ý chúng ta đến ba yếu tố:

a. The interdependence of all atoms and forms

a. Tính phụ thuộc lẫn nhau của mọi nguyên tử và hình tướng

b. The great variety of influences which play upon all that is manifesting

b. Sự đa dạng lớn lao của các ảnh hưởng tác động lên mọi sự đang biểu hiện

c. The remote arising of still persistent effective causes and causative effects

c. Sự phát sinh xa xôi của những nguyên nhân hữu hiệu và những hiệu quả nhân quả vẫn còn tồn tại

Influences or vibrations, calling forth response, play upon every form and atom in the solar system and all that can be predicated of them is that they tend to develop consciousness of some kind, impose certain rhythms according to that conscious response, and produce aggregations or group activity.

Những ảnh hưởng hay rung động, khơi dậy sự đáp ứng, tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời, và tất cả những gì có thể được nói về chúng là rằng chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó, áp đặt những nhịp điệu nhất định tùy theo sự đáp ứng có ý thức ấy, và tạo ra những sự kết tập hay hoạt động nhóm.

361. What can be said of the influences or vibrations (often very subtle and undetectable) which play upon every form and atom in the solar system?

361. Có thể nói gì về những ảnh hưởng hay rung động (thường rất vi tế và không thể phát hiện) tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời?

a. They tend to develop consciousness of some kind. Although we cannot trace the origins of these influences and vibrations, we must use their impact wisely for the development of consciousness. Every encounter with energy and force (whether considered constructive or destructive) can be used to augment the extent and quality of consciousness.

a. Chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó. Dù chúng ta không thể truy nguyên nguồn gốc của những ảnh hưởng và rung động này, chúng ta vẫn phải sử dụng tác động của chúng một cách khôn ngoan cho sự phát triển của tâm thức. Mọi cuộc gặp gỡ với năng lượng và mãnh lực (dù được xem là xây dựng hay phá hoại) đều có thể được sử dụng để tăng cường phạm vi và phẩm tính của tâm thức.

b. These influences and forces impose certain rhythms upon our lives and upon the conditions which surround us—i.e., upon circumstance. Depending upon the nature of the conscious response with which we meet these influences and forces, so will be the nature of the rhythms imposed.

b. Những ảnh hưởng và mãnh lực này áp đặt những nhịp điệu nhất định lên đời sống chúng ta và lên những điều kiện bao quanh chúng ta—tức là lên hoàn cảnh. Tùy theo bản chất của sự đáp ứng có ý thức mà chúng ta dùng để gặp gỡ những ảnh hưởng và mãnh lực này, bản chất của các nhịp điệu được áp đặt cũng sẽ như thế.

c. These influences and forces affect all relationships: they produce aggregations and group activity. Can we meet them with such intelligence that the aggregations and group activity produced serve the Plan?

c. Những ảnh hưởng và mãnh lực này tác động đến mọi mối liên hệ: chúng tạo ra những sự kết tập và hoạt động nhóm. Chúng ta có thể gặp gỡ chúng với một trí tuệ như thế nào để những sự kết tập và hoạt động nhóm được tạo ra có thể phụng sự Thiên Cơ?

362. In short, all that we encounter can be used to promote an enhanced quality of life or consciousness.

362. Nói ngắn gọn, mọi điều chúng ta gặp phải đều có thể được sử dụng để thúc đẩy một phẩm tính cao hơn của sự sống hay tâm thức.

The liberation from karma about which would-be occult students so glibly talk

Sự giải thoát khỏi nghiệp quả mà những đạo sinh huyền bí học tương lai thường nói đến một cách quá dễ dãi

363. Notice, that not only is DK not taking about “occultists”, per se, but He is not even talking about “occult students”. He speaks only of “would-be occult students”…quite a reduction from the genuine article—the occultist.

363. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK không chỉ không nói về các “nhà huyền bí học”, chính họ, mà Ngài thậm chí cũng không nói về “đạo sinh huyền bí học”. Ngài chỉ nói về “những đạo sinh huyền bí học tương lai”… một sự hạ thấp khá nhiều so với hàng thật—nhà huyền bí học.

is after all but the freeing of the atom from its own personal problem (the problem of response to unitary sensation), and its conscious acquiescence in group response and work.

rốt cuộc chỉ là sự giải thoát nguyên tử khỏi vấn đề cá nhân riêng của nó (vấn đề đáp ứng với cảm giác đơn nhất), và sự thuận nhận có ý thức của nó đối với sự đáp ứng nhóm và công việc nhóm.

364. DK offers us another slant on the meaning of liberation from karma.

364. Chân sư DK cống hiến cho chúng ta một cách nhìn khác về ý nghĩa của sự giải thoát khỏi nghiệp quả.

365. The atom is enmeshed in a certain context from which its usual, individual responses do not serve to free it. Instead, it must generate those kinds of responses which extricate it from that particular context. Eventually, the unit achieves a necessary degree of harmony with and imperviousness to his previously imprisoning context. One of the methods to achieve this, is to acquiesce in the necessity for group response and group work.

365. Nguyên tử bị mắc kẹt trong một bối cảnh nhất định mà từ đó những đáp ứng cá nhân thông thường của nó không giúp giải thoát nó. Thay vào đó, nó phải tạo ra những loại đáp ứng có thể đưa nó ra khỏi bối cảnh đặc thù ấy. Cuối cùng, đơn vị đạt được một mức độ cần thiết của sự hài hòa với, và tính không bị xuyên thấu bởi, bối cảnh trước đây đã giam hãm nó. Một trong những phương pháp để đạt được điều này là thuận nhận sự cần thiết của sự đáp ứng nhóm và công việc nhóm.

366. Another way of saying this is that strictly selfish, individualistic response will not achieve for the unit harmony with its environment. Without harmony with the environment and with the group life, which necessarily surrounds and enfolds the unit, there can be no true, karmically effective liberation from that environment.

366. Một cách khác để nói điều này là: sự đáp ứng hoàn toàn ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa sẽ không đem lại cho đơn vị sự hài hòa với môi trường của nó. Không có sự hài hòa với môi trường và với sự sống nhóm, vốn tất yếu bao quanh và bao bọc đơn vị, thì không thể có sự giải thoát chân thực, có hiệu lực về mặt nghiệp quả, khỏi môi trường ấy.

367. The unit which achieves true harmony with its environment and with its group owes nothing more to either its environment or group. That unit is free—free to serve both the environment and the group.

367. Đơn vị đạt được sự hài hòa chân thực với môi trường và với nhóm của mình không còn nợ gì nữa đối với cả môi trường lẫn nhóm. Đơn vị ấy được tự do—tự do để phụng sự cả môi trường lẫn nhóm.

It marks the dissociation

Điều đó đánh dấu sự tách rời

368. Hence, the ongoing necessity for detachment…

368. Do đó, có sự cần thiết liên tục của việc tách rời…

of the human atom from the rhythm imposed upon him by the lower "influences" which find their channel of approach through his vehicles, or lunar bodies, and his consequent willing recognition of the will-impulse of his greater whole, or the life of the egoic group—a centre in the planetary body.

của nguyên tử con người khỏi nhịp điệu bị áp đặt lên y bởi những “ảnh hưởng” thấp hơn tìm thấy kênh tiếp cận qua các vận cụ của y, hay các thể thái âm, và sự nhận biết đầy thiện chí tiếp theo của y đối với xung lực-ý chí của toàn thể lớn hơn của y, hay sự sống của nhóm chân ngã—một trung tâm trong thể hành tinh.

369. The liberated human unit is freed from the confines of lunar life. That unit recognizes within himself the solar, will-impulse which emanates from the greater whole of which it is a part. That will-impulse is really the impulse emanating from the life of the egoic group which includes the unit.

369. Đơn vị con người được giải thoát thì thoát khỏi những giới hạn của sự sống thái âm. Đơn vị ấy nhận ra bên trong chính mình xung lực-ý chí thái dương phát ra từ toàn thể lớn hơn mà nó là một phần trong đó. Xung lực-ý chí ấy thực ra là xung lực phát ra từ sự sống của nhóm chân ngã bao gồm đơn vị ấy.

370. Notice that DK speaks of a “willing recognition” of higher will-impulses. It is not enough simply to recognize these impulses. One must be ready and willing to carry them out as if they were one’s own.

370. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến một “sự nhận biết đầy thiện chí” đối với các xung lực ý chí cao hơn. Chỉ đơn giản nhận ra những xung lực này thì chưa đủ. Người ta phải sẵn sàng và thiện chí thực hiện chúng như thể chúng là của chính mình.

371. To live as a selfish individual is to live a life prompted by lunar impulse. To live harmoniously and in group consciousness is to live the solar or egoically-impulsed life. The Ego serves the will of the greater whole. It is responsive to the will of the Planetary Logos and seeks to promote the proper functioning of that center within the Planetary Logos of which it forms a corporate part.

371. Sống như một cá nhân ích kỷ là sống một đời sống được thúc đẩy bởi xung lực thái âm. Sống hài hòa và trong tâm thức nhóm là sống đời sống thái dương hay được thúc đẩy bởi chân ngã. Chân ngã phụng sự ý chí của toàn thể lớn hơn. Nó đáp ứng với ý chí của Hành Tinh Thượng Đế và tìm cách thúc đẩy sự vận hành đúng đắn của trung tâm ấy bên trong Hành Tinh Thượng Đế mà nó tạo thành một phần tập thể.

372. When lunar selfishness ceases, the human unit can become increasingly responsive to the higher will impulses which emanate from its egoic nature.

372. Khi tính ích kỷ thái âm chấm dứt, đơn vị con người có thể ngày càng đáp ứng với các xung lực ý chí cao hơn phát ra từ bản chất chân ngã của nó.

373. Let us impress upon ourselves that an egoic group is a center (probably very minor) in the planetary body. An egoic group is a relatively greater center in the body of a Globe-Lord, a smaller center in the body of the Chain-Lord and a still smaller center in the body of the Heavenly Man or Planetary Logos.

373. Chúng ta hãy khắc sâu nơi mình rằng một nhóm chân ngã là một trung tâm (có lẽ rất nhỏ) trong thể hành tinh. Một nhóm chân ngã là một trung tâm tương đối lớn hơn trong thể của một Chúa Tể bầu hành tinh, một trung tâm nhỏ hơn trong thể của Chúa Tể Dãy và một trung tâm còn nhỏ hơn nữa trong thân thể của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng Đế.

It involves atomic control, but involves also conscious subjection to the karma of the Heavenly Man.

Điều này bao hàm sự kiểm soát nguyên tử, nhưng cũng bao hàm sự quy phục có ý thức đối với nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân.

374. The human unit in process of liberation is no longer enmeshed by karma of its own making. Since that unit has begun to identify with the life of the Heavenly Man Who includes it, the unit can begin to play a role in working out the karma of the Heavenly Man. Only human beings who can begin to live the impersonal life can become constructively involved in neutralizing the karma of the Heavenly Man.

374. Đơn vị con người trong tiến trình giải thoát không còn bị mắc kẹt bởi nghiệp quả do chính mình tạo ra nữa. Vì đơn vị ấy đã bắt đầu đồng hoá với sự sống của Đấng Thiên Nhân bao gồm nó, nên đơn vị ấy có thể bắt đầu đóng một vai trò trong việc giải quyết nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. Chỉ những con người có thể bắt đầu sống đời sống vô ngã mới có thể tham gia một cách xây dựng vào việc trung hòa nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân.

Man is no longer the slave of the rhythm of matter per se,

Con người không còn là nô lệ của nhịp điệu của chính vật chất,

375. A close understanding of what is here said will reveal that we are enslaved by rhythms. We are also liberated through the expression of more goalfitting rhythms.

375. Sự thấu hiểu sát sao điều được nói ở đây sẽ cho thấy rằng chúng ta bị nô dịch bởi những nhịp điệu. Chúng ta cũng được giải thoát nhờ sự biểu lộ của những nhịp điệu phù hợp với mục tiêu hơn.

but controls it in the three worlds of his endeavour; he is still nevertheless controlled by the group karma of the planetary centre, by its influence, life and vibratory impulse.

mà kiểm soát nó trong ba cõi giới của nỗ lực của y; tuy nhiên, y vẫn còn bị kiểm soát bởi nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh, bởi ảnh hưởng, sự sống và xung lực rung động của nó.

376. It is clear that a Master or Chohan (both of Them still very much part of the planetary process) are controlled by the “group karma of the planetary centre) of which They form a part. A Chohan is, after all, a “Planetary Life”.

376. Rõ ràng là một Chân sư hay một Chohan (cả hai Vị này vẫn còn là phần rất lớn của tiến trình hành tinh) đều bị kiểm soát bởi “nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh” mà Các Ngài là một phần trong đó. Rốt cuộc, một Chohan là một “Sự Sống Hành tinh”.

377. At the onset of what we usually call “liberation” there is no true escape from karma. There is only escape from personal karma generated within the three lower worlds. Working constructively with planetary karma is very much focus of the Master or the Chohan.

377. Khi khởi đầu điều mà chúng ta thường gọi là “giải thoát”, không có sự thoát khỏi nghiệp quả theo nghĩa chân thực. Chỉ có sự thoát khỏi nghiệp quả cá nhân được tạo ra trong ba cõi thấp. Làm việc một cách xây dựng với nghiệp quả hành tinh chính là trọng tâm của Chân sư hay Chohan.

The same can be predicated of a Heavenly Man, and of a solar Logos.

Điều tương tự cũng có thể được nói về một Đấng Thiên Nhân và về một Thái dương Thượng đế.

378. These great Beings also achieve liberation and free themselves from a relatively individual context. They do not free themselves from the influence and karma of still greater Beings Who include them as centers, cells and atoms.

378. Những Hữu Thể vĩ đại này cũng đạt được sự giải thoát và tự giải phóng mình khỏi một bối cảnh tương đối cá biệt. Các Ngài không tự giải phóng khỏi ảnh hưởng và nghiệp quả của những Hữu Thể còn lớn hơn nữa, là những Đấng bao gồm Các Ngài như những trung tâm, tế bào và nguyên tử.

379. The purpose of all self-conscious B/beings is to free themselves from limiting karma, and through the freedom achieved, attain a greater expression of intended dharma.

379. Mục đích của mọi hữu thể tự ý thức là tự giải phóng mình khỏi nghiệp quả giới hạn, và qua sự tự do đạt được, đạt đến một sự biểu lộ lớn hơn của dharma dự định.

380. Masters and Chohans serve the Planetary Logos as both karmic and dharmic agents.

380. Các Chân sư và Chohan phụng sự Hành Tinh Thượng Đế như những tác nhân vừa nghiệp quả vừa dharma.

We might, in closing, express the same thought in terms of fire, remembering that words only limit and confine the thought, and that the main reason for this mode of approach is to bring pictorially before man some aspects of the central idea.

Khi kết thúc, chúng ta có thể diễn đạt cùng một tư tưởng theo thuật ngữ của lửa, nhớ rằng ngôn từ chỉ giới hạn và giam hãm tư tưởng, và rằng lý do chính của lối tiếp cận này là để đưa ra trước con người một cách hình tượng một số phương diện của ý tưởng trung tâm.

381. DK, we see, tries many ways to impress the true nature of His thought upon us. There are so many different kinds of minds. Some will grasp the idea behind the thought through one presentation and some through another.

381. Như chúng ta thấy, Chân sư DK thử nhiều cách để khắc ghi bản chất chân thực của tư tưởng Ngài vào chúng ta. Có rất nhiều loại trí tuệ khác nhau. Một số người sẽ nắm được ý tưởng đằng sau tư tưởng qua cách trình bày này, và một số khác qua cách trình bày khác.

"Electric fire, or will-impulse" in conjunction with "fire by friction" produces light or "solar fire."

"Lửa Điện, hay xung lực-ý chí" kết hợp với "Lửa masát" tạo ra ánh sáng hay "Lửa Thái dương."

382. This is the ongoing and familiar presentation.

382. Đây là cách trình bày quen thuộc và liên tục.

Electric fire is force or energy of some kind,

Lửa Điện là mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại nào đó,

383. Here, DK does not differentiate between force and energy.

383. Ở đây, Chân sư DK không phân biệt giữa mãnh lực và năng lượng.

and hence in itself [Page 803] is fundamentally an emanation.

và do đó tự nó [Page 803] về cănbản là một phát xạ.

384. Electric fire is a radiation or emanation. It goes forth from a source.

384. Lửa Điện là một bức xạ hay một phát xạ. Nó phát ra từ một nguồn.

"Fire by friction" is substance with the quality of heat as its predominant characteristic;

"Lửa ma sát" là chất liệu với phẩm tính nhiệt là đặc tính nổi trội của nó;

385. It is heat which produces activity (the nature of the third aspect of divinity), and heat which, from another perspective, is activity.

385. Chính nhiệt tạo ra hoạt động (bản chất của phương diện thứ ba của thiên tính), và nhiệt cũng là, từ một góc nhìn khác, chính hoạt động.

it is latent heat or sensation.

nó là nhiệt tiềm ẩn hay cảm giác.

386. Because of heat/activity, there exists the power to respond. Response involves movement and movement implies activity which does not exist unless there is heat (at least this is so within our three lower worlds).

386. Vì có nhiệt/hoạt động nên tồn tại quyền năng đáp ứng. Đáp ứng bao hàm chuyển động, và chuyển động hàm ý hoạt động, điều không tồn tại nếu không có nhiệt (ít nhất điều này đúng trong ba cõi thấp của chúng ta).

Both these ideas, therefore, convey the idea of duality.

Do đó, cả hai ý tưởng này đều chuyển tải ý niệm về nhị nguyên tính.

387. In the first instance and concerning electric fire, we have the source and that force or energy which emanates from the source.

387. Trong trường hợp thứ nhất và liên quan đến Lửa Điện, chúng ta có nguồn và mãnh lực hay năng lượng phát ra từ nguồn ấy.

388. In relation to fire by friction, we have both latent heat and sensation.

388. Liên quan đến Lửa ma sát, chúng ta có cả nhiệt tiềm ẩn lẫn cảm giác.

389. What we have to grasp is that without heat/activity, sensation cannot exist. When something is “cold and lifeless” there is no sensation or response.

389. Điều chúng ta phải nắm bắt là: không có nhiệt/hoạt động thì cảm giác không thể tồn tại. Khi một cái gì đó “lạnh và vô sinh”, sẽ không có cảm giác hay đáp ứng.

390. The factor of sensation also implies the presence of a conscious, experiencing E/entity which is impressed by a form of activity.

390. Yếu tố cảm giác cũng hàm ý sự hiện diện của một Thực Thể có ý thức, đang kinh nghiệm, bị gây ấn tượng bởi một hình thức hoạt động.

An emanation must have its originating source,

Một phát xạ phải có nguồn phát sinh của nó,

391. Hence the duality.

391. Do đó có nhị nguyên tính.

and heat is but the result of friction,

và nhiệt chỉ là kết quả của ma sát,

392. From one perspective, heat is based upon activity and that disruptive interplay we call “friction”. Friction, of course, necessitates motion.

392. Từ một góc nhìn, nhiệt dựa trên hoạt động và sự tương tác gây xáo trộn mà chúng ta gọi là “ma sát”. Dĩ nhiên, ma sát đòi hỏi chuyển động.

and is necessarily dual.

và tất yếu là nhị nguyên.

393. DK seems to be telling us that heat is necessarily dual.

393. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng nhiệt tất yếu là nhị nguyên.

Both these concepts involve facts long antedating the solar system, and hidden in the Universal Mind.

Cả hai khái niệm này đều bao hàm những sự kiện có trước hệ mặt trời từ rất lâu, và ẩn giấu trong Vũ Trụ Trí.

394. Electric fire and fire by friction are energy states which long antedate the arising of the solar system. They are understood from the perspective of the Universal Mind (presumably on the cosmic mental plane).

394. Lửa Điện và Lửa ma sát là những trạng thái năng lượng có trước rất lâu sự xuất hiện của hệ mặt trời. Chúng được thấu hiểu từ góc nhìn của Vũ Trụ Trí (có lẽ trên cõi trí vũ trụ).

395. DK seems to be suggesting that unless we can penetrate the Universal Mind, we will not understand electric fire or fire by friction, per se.

395. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng trừ phi chúng ta có thể xuyên nhập vào Vũ Trụ Trí, chúng ta sẽ không hiểu Lửa Điện hay Lửa ma sát, chính chúng.

All that we can scientifically ascertain is the nature of that which is produced by their approximation, and this is solar fire or light.

Tất cả những gì chúng ta có thể xác định một cách khoa học là bản chất của điều được tạo ra bởi sự tiếp cận gần của chúng, và đó là Lửa Thái dương hay ánh sáng.

396. DK is telling us that electric fire, per se, and fire by friction, per se and in its own essence, are not ascertainable by our science. That which science can register is the result of the approximation of electric fire and fire by friction—namely, the solar system, demonstrating solar fire or light.

396. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Lửa Điện, chính nó, và Lửa ma sát, chính nó và trong bản chất riêng của nó, không thể được khoa học của chúng ta xác định. Điều mà khoa học có thể ghi nhận là kết quả của sự tiếp cận gần giữa Lửa Điện và Lửa ma sát—tức là hệ mặt trời, biểu lộ Lửa Thái dương hay ánh sáng.

397. We note that, in this context, solar fire and light are equated.

397. Chúng ta lưu ý rằng, trong bối cảnh này, Lửa Thái dương và ánh sáng được đồng nhất với nhau.

These thoughts may make clear somewhat the significance of the number five, esoterically considered. Electric fire, being an emanation is essentially dual in concept, and so is fire by friction; they together produce solar fire, and thus the esoteric fifth.

Những tư tưởng này có thể phần nào làm sáng tỏ thâm nghĩa của số năm, khi được xét một cách huyền bí. Lửa Điện, vì là một phát xạ, về bản chất là nhị nguyên trong khái niệm, và Lửa ma sát cũng vậy; cả hai cùng nhau tạo ra Lửa Thái dương, và như thế tạo nên số năm huyền bí.

398. Here we have dual Spirit and dual substance, producing a unitary vehicle. Earlier in TCF we had dual material fire (latent and active), dual mental fire (mental elemental fire and solar fire), and unitary Spirit!

398. Ở đây chúng ta có tinh thần nhị nguyên và chất liệu nhị nguyên, tạo ra một vận cụ đơn nhất. Trước đó trong Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta đã có lửa vật chất nhị nguyên (tiềm ẩn và hoạt động), lửa trí tuệ nhị nguyên (lửa của hành khí trí tuệ và Lửa Thái dương), và Tinh thần đơn nhất!

399. There are many ways of deriving numbers. In the foregoing discussion both electric fire and fire by friction have been considered dual, and solar fire (deriving from the approximation and interplay of the two) is considered unitary. Sometimes, however, solar fire is also considered dual, for it represents the dualistic second ray.

399. Có nhiều cách để suy ra các con số. Trong cuộc thảo luận trên, cả Lửa Điện lẫn Lửa ma sát đều được xem là nhị nguyên, còn Lửa Thái dương (phát sinh từ sự tiếp cận gần và tương tác của hai thứ ấy) được xem là đơn nhất. Tuy nhiên, đôi khi Lửa Thái dương cũng được xem là nhị nguyên, vì nó biểu hiện cung hai nhị nguyên.

400. Solar fire is the second which arises third in order. The numbers two and five are closely related, and here we see one reason why this should be the case. That which represents the second aspect (i.e., solar fire) is the “esoteric fifth”.

400. Lửa Thái dương là cái thứ hai xuất hiện thứ ba theo thứ tự. Các số hai và năm có liên hệ mật thiết với nhau, và ở đây chúng ta thấy một lý do vì sao điều này lại như vậy. Điều biểu hiện phương diện thứ hai (tức là Lửa Thái dương) là “số năm huyền bí”.

401. Interestingly, the second Cosmic Path (of Magnetic Work), which relates to the reconditioning of the second or astral plane, is pursued by man of those whose monadic ray is the fifth.

401. Điều thú vị là Con đường Vũ trụ thứ hai (của Công Tác Từ Tính), liên quan đến việc tái tác động lên cõi thứ hai hay cõi cảm dục, được theo đuổi bởi những con người có cung chân thần là cung năm.

402. The numbers two and five are also closely related in the expression of the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels.

402. Các số hai và năm cũng liên hệ mật thiết với nhau trong sự biểu lộ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của các Thái dương Thiên Thần.