← Commentary_S7_733_747

4. Start rapidly, then slow down and then speed up again

Trích nội dung chương

viii. The mathematics of relative round speed and duration (assuming that there are a number of good reasons to believe that they are not simply uniform and sequential) is certainly one of the deep secrets of initiation. Within each system (whether a chain, a scheme or a solar system) it would seem that a unique algorithm is being worked out. viii. Toán học về tốc độ và thời lượng tương đối của các cuộc tuần hoàn (giả sử rằng có nhiều lý do xác đáng để tin rằng chúng không đơn giản là đồng đều và tuần tự) chắc chắn là một trong những bí mật sâu xa của điểm đạo. Trong mỗi hệ thống (dù là một dãy, một hệ hành tinh hay một hệ mặt trời), dường…


4. Start rapidly, then slow down and then speed up again

4. Bắt đầu nhanh, rồi chậm lại, rồi lại tăng tốc

viii. The mathematics of relative round speed and duration (assuming that there are a number of good reasons to believe that they are not simply uniform and sequential) is certainly one of the deep secrets of initiation. Within each system (whether a chain, a scheme or a solar system) it would seem that a unique algorithm is being worked out.

viii. Toán học về tốc độ và thời lượng tương đối của các cuộc tuần hoàn (giả sử rằng có nhiều lý do xác đáng để tin rằng chúng không đơn giản là đồng đều và tuần tự) chắc chắn là một trong những bí mật sâu xa của điểm đạo. Trong mỗi hệ thống (dù là một dãy, một hệ hành tinh hay một hệ mặt trời), dường như một thuật toán độc nhất đang được triển khai.

ix. All we can hope to do is understand, however vaguely, the principles involved.

ix. Tất cả những gì chúng ta có thể hy vọng làm là thấu hiểu, dù mơ hồ đến đâu, các nguyên lý liên hệ.

l. It also seems likely that round activity continues within higher chakras after it has ceased on the lower.

l. Dường như cũng có khả năng là hoạt động cuộc tuần hoàn tiếp tục trong các luân xa cao hơn sau khi nó đã chấm dứt ở các luân xa thấp hơn.

m. As well, we must determine whether the full activation of a lower chakra depends upon its own internal development or upon stimulation from other parts of the larger system in which it is imbedded.

m. Ngoài ra, chúng ta phải xác định liệu sự hoạt hóa trọn vẹn của một luân xa thấp có tùy thuộc vào sự phát triển nội tại của chính nó hay vào sự kích thích từ những phần khác của hệ thống lớn hơn mà nó được đặt trong đó.

n. For instance, could it be that the petals of the base of the spine center may be fully unfolded long before the full development of the petals of the head center, and yet that the base of the spine center would not be fully activated until receiving stimulation from the head center or other higher centers?

n. Chẳng hạn, có thể nào các cánh hoa của trung tâm đáy cột sống có thể khai mở hoàn toàn rất lâu trước khi các cánh hoa của trung tâm đầu phát triển trọn vẹn, nhưng trung tâm đáy cột sống vẫn chưa được hoạt hóa hoàn toàn cho đến khi nhận được sự kích thích từ trung tâm đầu hoặc các trung tâm cao hơn khác?

o. Perhaps, the full activation of any chakra depends not so much on petal unfoldment as on a particular type of activation of the central jewel. I.e., perhaps many chakras are already fully activated from the perspective of petal unfoldment but not activated in terms of the stimulation of the central jewel.

o. Có lẽ sự hoạt hóa trọn vẹn của bất kỳ luân xa nào không tùy thuộc nhiều vào sự khai mở cánh hoa bằng vào một loại hoạt hóa đặc biệt của viên ngọc trung tâm. Tức là, có lẽ nhiều luân xa đã được hoạt hóa hoàn toàn xét từ góc độ khai mở cánh hoa nhưng không được hoạt hóa xét theo sự kích thích của viên ngọc trung tâm.

p. Once full round development on any planetary scheme has been achieved, how long could it be sustained before stimulation came from elsewhere in the larger system of chakras (bringing, perhaps, final and full activation of the chakra concerned).

p. Một khi sự phát triển cuộc tuần hoàn trọn vẹn trên bất kỳ hệ hành tinh nào đã đạt được, nó có thể được duy trì bao lâu trước khi sự kích thích đến từ nơi khác trong hệ thống luân xa lớn hơn (có lẽ mang lại sự hoạt hóa cuối cùng và trọn vẹn của luân xa liên hệ).

q. OR, does the fullest activation for all chakras occur simultaneously towards the end of the development of the larger system? This latter seems unlikely, as Venus, it seems is presently very near to full unfoldment whereas other, greater planets are very far from full unfoldment. (Permanent atoms, we notice, achieve full activation sequentially and not all at the same time). Yet, who among us is to speak authoritatively of final ‘jewel dynamics’?

q. HAY, phải chăng sự hoạt hóa đầy đủ nhất cho mọi luân xa xảy ra đồng thời vào gần cuối sự phát triển của hệ thống lớn hơn? Điều sau này có vẻ không chắc, vì Sao Kim dường như hiện đang rất gần sự khai mở trọn vẹn, trong khi các hành tinh khác lớn hơn lại còn rất xa sự khai mở trọn vẹn. (Các Nguyên tử trường tồn, như chúng ta nhận thấy, đạt đến sự hoạt hóa trọn vẹn một cách tuần tự chứ không phải tất cả cùng một lúc). Tuy nhiên, ai trong chúng ta có thể nói một cách có thẩm quyền về “động lực học của viên ngọc” tối hậu?

r. Probably, the various planetary schemes reach full petal unfoldment at different times, and thus, reach full completing of round cycles at different times. Yet, because planets are chakras, they must remain functional until the very latter days of solar systemic development. Perhaps, then, full activation of the central jewel is withheld until the later stages of solar systemic development, OR, perhaps the fullest activation of any chakra occurs as a result of relationship between the chakras and not because of the chakras own internal processes.

r. Có lẽ các hệ hành tinh khác nhau đạt đến sự khai mở cánh hoa trọn vẹn vào những thời điểm khác nhau, và do đó hoàn tất các chu kỳ cuộc tuần hoàn trọn vẹn vào những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, vì các hành tinh là các luân xa, chúng phải vẫn còn hoạt động cho đến những ngày rất muộn của sự phát triển hệ mặt trời. Vậy thì có lẽ sự hoạt hóa trọn vẹn của viên ngọc trung tâm bị trì hoãn cho đến các giai đoạn sau của sự phát triển hệ mặt trời, HOẶC, có lẽ sự hoạt hóa đầy đủ nhất của bất kỳ luân xa nào xảy ra như là kết quả của mối liên hệ giữa các luân xa chứ không phải do các tiến trình nội tại của chính luân xa đó.

60. The mysteries (to us) are many and the possible intricacies staggering. What is being suggested here are factors which may have to be taken into consideration. There are still (for us) too many uncertainties to offer just one reasonably coherent hypothesis regarding

60. Những huyền nhiệm (đối với chúng ta) thì nhiều, và những phức tạp khả dĩ thì choáng ngợp. Điều được gợi ý ở đây là những yếu tố có thể phải được đem vào cân nhắc. Vẫn còn (đối với chúng ta) quá nhiều điều bất định để đưa ra chỉ một giả thuyết tương đối mạch lạc về

a. round activity,

a. hoạt động cuộc tuần hoàn,

b. petal unfoldment,

b. sự khai mở cánh hoa,

c. sequence of chakra development,

c. trình tự phát triển luân xa,

d. sequence or simultaneity of final chakra development,

d. trình tự hay tính đồng thời của sự phát triển luân xa cuối cùng,

e. inter-chakra dynamics which may contribute to final chakra unfoldment.

e. động lực liên-luân-xa có thể góp phần vào sự khai mở luân xa cuối cùng.

61. Probably, we shall achieve some greater degree of understanding if we think that a combination of simultaneity and sequentiality is always occurring. All chakras (i.e., all globes, chains and schemes) exist and function simultaneously, but the L/logos in question directs His principal focus to the various parts of His system in a sequential process.

61. Có lẽ, chúng ta sẽ đạt được một mức độ thấu hiểu lớn hơn nào đó nếu nghĩ rằng một sự kết hợp giữa tính đồng thời và tính tuần tự luôn luôn đang xảy ra. Mọi luân xa (tức là mọi bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh) đều tồn tại và hoạt động đồng thời, nhưng L/logos liên hệ lại hướng sự tập trung chính của Ngài đến các phần khác nhau của hệ thống của Ngài trong một tiến trình tuần tự.

62. A further refinement of this principle of simultaneity is to consider overlapping activity. In other words, though activity upon/within all seven chakras of a seven-chakra system may be simultaneous, it may not be of the same intensity and speed within each chakra. This seems very likely.

62. Một sự tinh luyện thêm của nguyên lý đồng thời này là xét đến hoạt động chồng lấn. Nói cách khác, dù hoạt động trên/trong cả bảy luân xa của một hệ thống bảy luân xa có thể là đồng thời, nhưng nó có thể không có cùng cường độ và tốc độ trong mỗi luân xa. Điều này có vẻ rất có khả năng.

d. One day of Brahma… The occult period of a round.

d. Một ngày của Brahma… Chu kỳ huyền bí của một cuộc tuần hoàn.

63. Again, we are familiar with this idea.

63. Một lần nữa, chúng ta quen thuộc với ý tưởng này.

64. Probably, we are speaking of a round which occurs within chains and involves progress from globe to globe (within a chain of, normally, seven globes).

64. Có lẽ, chúng ta đang nói về một cuộc tuần hoàn xảy ra trong các dãy và bao gồm sự tiến triển từ bầu hành tinh này sang bầu hành tinh khác (trong một dãy, thông thường, gồm bảy bầu hành tinh).

65. We might also wonder what is being hinted by the term “occult period”. Is there an exoteric “period” of a round and, also, something different called an “occult period”?

65. Chúng ta cũng có thể tự hỏi điều gì đang được ám chỉ bởi thuật ngữ “chu kỳ huyền bí”. Có phải có một “chu kỳ” ngoại môn của một cuộc tuần hoàn và đồng thời cũng có một điều gì khác được gọi là một “chu kỳ huyền bí” hay không?

66. In this context, a “round” is a “manvantara”—though the latter term is often used with some elasticity.

66. Trong ngữ cảnh này, một “cuộc tuần hoàn” là một “Giai kỳ sinh hóa”—dù thuật ngữ sau thường được dùng với một độ co giãn nào đó.

67. If a Year of Brahma represents the completion of the development of a planetary scheme, then, the usual method of counting forty-nine rounds per scheme (a nominal seven per chain in the scheme), plus equal rest periods, does not give us enough “Brahmic Days” to complete the “Brahmic Year”. We would have 98 time periods (“Days”) and would be in need of approximately 360.

67. Nếu một Năm của Brahma tượng trưng cho sự hoàn tất sự phát triển của một hệ hành tinh, thì phương pháp thông thường tính bốn mươi chín cuộc tuần hoàn cho mỗi hệ hành tinh (danh nghĩa là bảy cho mỗi dãy trong hệ hành tinh), cộng với các thời kỳ nghỉ bằng nhau, không cho chúng ta đủ số “Ngày Brahma” để hoàn tất “Năm Brahma”. Chúng ta sẽ có 98 thời kỳ (“Ngày”) và sẽ cần khoảng 360.

68. If a “Year of Brahma” represented (as suggested in one of the hypotheses above which considered schemes as solar systemic “chains”) but one ‘touch’ of the solar systemic life-wave (i.e., the solar systemic life wave touching one scheme, with seven such touches eventually necessary) then the discrepancy between “Days” elapsed during one such ‘touch’ and the number of “Days” in a “Year” grows far greater. We are assuming that 360 "Days of Brahma" complete one "Year of Brahma". If a "Year of Brahma" represents, perhaps, only one one-hundreth of the total completion of a planetary scheme, then only a very few planetary “Days” would elapse in such a “Year” (representing, as it does, but a fraction of the total development of a planetary scheme).

68. Nếu một “Năm của Brahma” tượng trưng (như được gợi ý trong một trong các giả thuyết trên, giả thuyết xem các hệ hành tinh như những “dãy” của hệ mặt trời) chỉ cho một lần “chạm” của làn sóng sự sống hệ mặt trời (tức là làn sóng sự sống hệ mặt trời chạm vào một hệ hành tinh, và rốt cuộc cần đến bảy lần chạm như thế) thì sự chênh lệch giữa các “Ngày” trôi qua trong một lần “chạm” như vậy và số “Ngày” trong một “Năm” còn lớn hơn rất nhiều. Chúng ta giả định rằng 360 "Ngày của Brahma" hoàn tất một "Năm của Brahma". Nếu một "Năm của Brahma" có lẽ chỉ tượng trưng cho một phần một-trăm của toàn bộ sự hoàn tất của một hệ hành tinh, thì chỉ có rất ít “Ngày” hành tinh trôi qua trong một “Năm” như vậy (vì nó chỉ tượng trưng cho một phần nhỏ của toàn bộ sự phát triển của một hệ hành tinh).

e. One hour of Brahma… Concerns interchain affairs.

e. Một giờ của Brahma… Liên quan đến các công việc liên-dãy.

69. There are twenty-four hours in a day. Perhaps interchain contacts are expressed in such “hours”.

69. Có hai mươi bốn giờ trong một ngày. Có lẽ các tiếp xúc liên-dãy được biểu hiện bằng những “giờ” như thế.

70. If a "Day of Brahma" entails the progress of a life-wave through seven globes, perhaps a certain number of such “Hours” are spent in relation to each globe (and the pralaya of that globe), with the number of “Hours” not necessarily equally apportioned.

70. Nếu một "Ngày của Brahma" bao hàm sự tiến triển của một làn sóng sự sống qua bảy bầu hành tinh, thì có lẽ một số “Giờ” như vậy được dành cho mỗi bầu hành tinh (và giai kỳ qui nguyên của bầu hành tinh đó), với số “Giờ” không nhất thiết được phân chia bằng nhau.

f. One Brahmic minute…Concerns the planetary centres, and therefore egoic groups.

f. Một phút Brahma… Liên quan đến các trung tâm hành tinh, và do đó đến các nhóm chân ngã.

71. Here the word “planetary” seems to refer to the “globe” level.

71. Ở đây từ “hành tinh” dường như ám chỉ cấp độ “bầu hành tinh”.

72. The cycles of egoic groups would then be expressed in terms of “Brahmic Minutes”.

72. Khi ấy, các chu kỳ của các nhóm chân ngã sẽ được biểu hiện bằng “Những Phút Brahma”.

73. We must remember, to retain the operative analogy, that there are sixty minutes in every hour and 1440 minutes in every day. We might be able to determine how many egoic group periods there are on every globe (probably seven), and then, perhaps, some approximation of their duration. We must not necessarily assume, however, that they would be of equal duration.

73. Chúng ta phải nhớ, để giữ phép loại suy còn hiệu lực, rằng có sáu mươi phút trong mỗi giờ và 1440 phút trong mỗi ngày. Chúng ta có thể xác định được có bao nhiêu thời kỳ nhóm chân ngã trên mỗi bầu hành tinh (có lẽ là bảy), và rồi có lẽ ước lượng được phần nào thời lượng của chúng. Tuy nhiên, chúng ta không nhất thiết phải giả định rằng chúng có thời lượng bằng nhau.

74. Perhaps some new respect for the intricacy of the planetary and systemic arrangement will be gathered from these considerations.

74. Có lẽ từ những suy xét này sẽ nảy sinh một sự kính trọng mới đối với tính phức tạp của sự sắp xếp hành tinh và hệ thống.

g. One Brahmic moment…Concerns an egoic group, and its relation to the whole.

g. Một khoảnh khắc Brahma… Liên quan đến một nhóm chân ngã, và mối liên hệ của nó với toàn thể.

75. Large groups consisting of many egoic groups are expressed in terms of “Brahmic Minutes”. The affairs of a particular egoic group are expressed its ‘Brahmic Moments’.

75. Những nhóm lớn gồm nhiều nhóm chân ngã được biểu hiện bằng “Những Phút Brahma”. Các công việc của một nhóm chân ngã riêng biệt được biểu hiện bằng các ‘Khoảnh Khắc Brahma’ của nó.

76. The term “moment” is very vague and could be a second of time, shorter or longer. Probably there are many categories of “Brahmic moments”.

76. Thuật ngữ “khoảnh khắc” rất mơ hồ và có thể là một giây thời gian, ngắn hơn hoặc dài hơn. Có lẽ có nhiều loại “khoảnh khắc Brahma”.

77. All these periods are expressed in terms of Earth cycles and so, although referring to processes within the larger system, are somehow relative to our planet and its rates of motion (relative to itself and relative to the Sun).

77. Tất cả những thời kỳ này đều được biểu hiện theo các chu kỳ của Trái Đất và vì vậy, dù ám chỉ các tiến trình trong hệ thống lớn hơn, chúng bằng cách nào đó vẫn tương đối với hành tinh của chúng ta và các tốc độ chuyển động của nó (tương đối với chính nó và tương đối với Mặt Trời).

78. If such cycles were considered from the perspective of other planets, the number of “Years”, “Months”, “Weeks” and “Days”, etc., would be different, IF we consider that an “Occult Century” (as this period applies to a particular solar system) has the same duration for all units of life within the solar system (which is reasonable to assume).

78. Nếu các chu kỳ như vậy được xét từ góc nhìn của các hành tinh khác, thì số “Năm”, “Tháng”, “Tuần” và “Ngày”, v.v., sẽ khác đi, NẾU chúng ta cho rằng một “Thế Kỷ Huyền Bí” (vì thời kỳ này áp dụng cho một hệ mặt trời nhất định) có cùng thời lượng đối với mọi đơn vị sự sống trong hệ mặt trời (điều này là hợp lý để giả định).

These are the greater periods of time, and when their significance is comprehended, much that is now obscure [Page 793] will be revealed.

Đây là những thời kỳ lớn của thời gian, và khi thâm nghĩa của chúng được thấu hiểu, nhiều điều hiện nay còn tối nghĩa sẽ được mặc khải [Page 793].

79. These are the periods of time as seen from the perspective of ”Brahma” conceived as the Solar Logos.

79. Đây là những thời kỳ thời gian được nhìn từ góc độ của ”Brahma” được quan niệm như Thái dương Thượng đế.

80. It seems we are a long way from truly comprehending these greater periods of time. Therefore, much will remain obscure, it seems, for some time.

80. Dường như chúng ta còn rất xa mới thực sự thấu hiểu được những thời kỳ lớn lao này của thời gian. Vì vậy, dường như còn nhiều điều sẽ vẫn tối nghĩa trong một thời gian nữa.

81. Yet, if we understand the apparent contradictions and take note of that which we do not understand, we are coming closer to understanding.

81. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được những mâu thuẫn bề ngoài và lưu ý đến điều mình không hiểu, thì chúng ta đang tiến gần hơn đến sự thấu hiểu.

As yet, it is only to initiates that the true figures are given, the figures in the Secret Doctrine, such as the 100 years of Brahma, strike the general average

Cho đến nay, chỉ các điểm đạo đồ mới được trao cho những con số chân thực; các con số trong Giáo Lý Bí Nhiệm, chẳng hạn như 100 năm của Brahma, chỉ đánh trúng mức trung bình tổng quát

82. There are no doubt: we are not given the true figures for the actual number of Earth-years in any of these greater cycles. We are only given an indication which helps us understand at least something of their relative duration.

82. Hẳn nhiên là: chúng ta không được trao cho những con số chân thực về số năm Trái Đất thực sự trong bất kỳ chu kỳ lớn nào trong số này. Chúng ta chỉ được trao một chỉ dẫn giúp chúng ta hiểu ít nhất điều gì đó về thời lượng tương đối của chúng.

but it must be ever remembered that in considering the figures where a scheme, for instance, is concerned, much latitude has to be allowed for individual planetary karma, and idiosyncrasy.

nhưng phải luôn luôn ghi nhớ rằng khi xét đến các con số ở nơi, chẳng hạn, một hệ hành tinh được bàn đến, thì phải chừa ra một khoảng co giãn lớn cho nghiệp quả hành tinh cá biệt và tính đặc thù riêng.

83. We suggested this in our foregoing discussion. In relation to the manifestation of the Planetary Logos of the Earth-scheme, for instance, we do not know whether that manifestation lasts throughout the mahamanvantara or not. We do not know (from the occult perspective) the period of its inception or its termination. We also do not know the speed or duration of chain round cycles or the various chains (whether they are uniform from chain to chain or, even, uniform within the Earth-scheme’s seven chains) of the Earth-scheme nor the duration of scheme round cycles.

83. Chúng ta đã gợi ý điều này trong phần thảo luận trước. Chẳng hạn, liên quan đến sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng Đế của hệ Địa Cầu, chúng ta không biết liệu sự biểu hiện ấy có kéo dài suốt Đại giai kỳ sinh hóa hay không. Chúng ta không biết (từ góc độ huyền bí) thời kỳ khởi đầu hay chấm dứt của nó. Chúng ta cũng không biết tốc độ hay thời lượng của các chu kỳ cuộc tuần hoàn của dãy hoặc của các dãy khác nhau (liệu chúng có đồng đều từ dãy này sang dãy khác hay thậm chí đồng đều trong bảy dãy của hệ Địa Cầu hay không) của hệ Địa Cầu, cũng như thời lượng của các chu kỳ cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.

84. Naturally, for students at our stage of unfoldment, these secrets of initiate will not be imparted—especially not in a printed book which can be read by the general public.

84. Đương nhiên, đối với các đạo sinh ở giai đoạn khai mở như chúng ta, những bí mật của điểm đạo này sẽ không được truyền đạt—đặc biệt không phải trong một cuốn sách in mà công chúng nói chung có thể đọc được.

The following points are worthy of consideration when upon this subject, and deal with some interesting factors.

Những điểm sau đây đáng được suy xét khi bàn đến chủ đề này, và đề cập đến một số yếu tố thú vị.

All the planetary Rishis are not equally "long-lived," in the occult sense of the term,

Không phải mọi Rishi hành tinh đều “sống lâu” như nhau, theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy,

85. We must pause when DK uses the phrase, “in the occult sense of the term”. We must remember from The Secret Doctrine that Martanda (the Sun) and His seven Brothers all came into physical existence at the same time.

85. Chúng ta phải dừng lại khi Chân sư DK dùng cụm từ “theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy”. Chúng ta phải nhớ từ Giáo Lý Bí Nhiệm rằng Martanda (Mặt Trời) và bảy Huynh Đệ của Ngài đều đi vào sự tồn tại hồng trần cùng một lúc.

86. With regard, at least, to seven major planets, we may have an apparent contradiction on our hands.

86. Ít nhất đối với bảy hành tinh chính, có thể chúng ta đang đối diện với một mâu thuẫn bề ngoài.

87. Note the use of the term “Rishis”: it applies to the Logoi of planets as well as to the Logoi of great stars such as the seven major stars of the Great Bear.

87. Hãy lưu ý việc dùng thuật ngữ “Rishis”: nó áp dụng cho các Thượng đế của các hành tinh cũng như cho các Thượng đế của những ngôi sao lớn như bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh.

and the seven planetary Logoi of the seven sacred planets are at different stages of evolution;

và bảy Hành Tinh Thượng Đế của bảy hành tinh thiêng liêng đang ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau;

88. This we well understand by consulting the following chart:

88. Điều này chúng ta hiểu rõ khi tham khảo biểu đồ sau:

"The Dense Physical Planets:

"Các Hành Tinh Hồng Trần Đậm Đặc:

Earth4th Chain4th Globe

Trái ĐấtDãy Thứ TưBầu Hành Tinh Thứ Tư

Jupiter3rd Chain4th Globe

Sao MộcDãy thứ baBầu Hành Tinh Thứ Tư

Saturn3rd Chain4th Globe

Sao ThổDãy thứ baBầu Hành Tinh Thứ Tư

Mars4th Chain4th Globe

Sao HỏaDãy Thứ TưBầu Hành Tinh Thứ Tư

Vulcan3rd Chain4th Globe

VulcanDãy thứ baBầu Hành Tinh Thứ Tư

Venus5th Chain5th Globe

Sao KimDãy thứ nămBầu Hành Tinh Thứ Năm

Mercury4th Chain5th Globe" (EA 673)

Sao ThủyDãy Thứ TưBầu Hành Tinh Thứ Năm" (EA 673)

89. We notice how the Planetary Logoi representing the lower solar systemic chakras, such as the Earth and Mars, are farther ahead in Their development than the far greater Planetary Logoi of Jupiter and Saturn.

89. Chúng ta nhận thấy các Hành Tinh Thượng Đế tượng trưng cho các luân xa thấp của hệ mặt trời, như Trái Đất và Sao Hỏa, lại tiến xa hơn trong sự phát triển của Các Ngài so với các Hành Tinh Thượng Đế vĩ đại hơn nhiều là Sao Mộc và Sao Thổ.

90. We also notice that the Planetary Logoi of Mercury and, above all, of Venus, are most fully developed. In the case of Venus, representing, we hypothesize, the solar plexus (and eventually the heart center) of our astral-buddhic Solar Logos, this could be expected.

90. Chúng ta cũng nhận thấy các Hành Tinh Thượng Đế của Sao Thủy và trên hết là của Sao Kim là phát triển đầy đủ nhất. Trong trường hợp Sao Kim, theo giả thuyết của chúng ta, tượng trưng cho tùng thái dương (và cuối cùng là trung tâm tim) của Thái dương Thượng đế cảm dục-Bồ đề của chúng ta, điều này có thể được trông đợi.

Their vibratory response, therefore, differs, producing varying effects in time.

Do đó, đáp ứng rung động của Các Ngài khác nhau, tạo ra những hiệu quả khác nhau trong thời gian.

91. The vibratory response is, presumably, the response of the various Planetary Logoi to the energy of the Solar Logos.

91. Đáp ứng rung động ấy, có lẽ, là đáp ứng của các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau đối với năng lượng của Thái dương Thượng đế.

92. From the tabulation given in TCF 373, may we infer that the planets Uranus and Neptune are the least unfolded though, spiritually, the most developed Planetary Logoi?

92. Từ bảng liệt kê được đưa ra trong TCF 373, liệu chúng ta có thể suy ra rằng các hành tinh Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là ít khai mở nhất dù, về mặt tinh thần, lại là các Hành Tinh Thượng Đế phát triển nhất chăng?

The three major planetary schemes (Uranus, Neptune, and Saturn) have not, as yet, received their fullest stimulation,

Ba hệ hành tinh chính (Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ) cho đến nay vẫn chưa nhận được sự kích thích đầy đủ nhất của Các Ngài,

93. These are the synthesizing planets.

93. Đây là các hành tinh tổng hợp.

94. Why is there no information given on Uranus and Neptune? May we assume, because They are mentioned in the same breath as Saturn, that They are unfolded to the same extent as Saturn is?

94. Tại sao không có thông tin nào được đưa ra về Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương? Liệu chúng ta có thể giả định rằng, vì Các Ngài được nhắc đến cùng một hơi với Sao Thổ, nên Các Ngài được khai mở đến cùng mức độ như Sao Thổ chăng?

95. Or is the planet Saturn, for which we are given the knowledge that it is in its third chain, fourth globe, not the same Saturn as is here being discussed? (c.f. Chart VI, TCF 373, for indications of two or even three Saturns).

95. Hay hành tinh Sao Thổ, mà chúng ta được cho biết là ở dãy thứ ba, bầu hành tinh thứ tư, lại không phải là cùng một Sao Thổ như Sao Thổ đang được bàn đến ở đây? (xem Biểu đồ VI, TCF 373, để thấy những chỉ dấu về hai hay thậm chí ba Sao Thổ).

96. Presumably, the stimulation to be received comes from the Solar Logos.

96. Có lẽ, sự kích thích sẽ được tiếp nhận đến từ Thái dương Thượng đế.

97. As none of the planets (discounting, for the moment, Saturn, Neptune and Uranus) except Venus are really anywhere nearly fully unfolded, can it really be assumed that any of them have, indeed, received “their fullest stimulation”. Perhaps They have, but have not yet responded fully to the fulness of stimulation They have received.

97. Vì không hành tinh nào (tạm thời không kể Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương) ngoại trừ Sao Kim thực sự ở gần đâu mức khai mở trọn vẹn, nên liệu có thể thật sự giả định rằng bất kỳ hành tinh nào trong số đó quả thực đã nhận được “sự kích thích đầy đủ nhất của chúng” hay không? Có lẽ Các Ngài đã nhận được, nhưng chưa đáp ứng trọn vẹn với sự đầy đủ của kích thích mà Các Ngài đã tiếp nhận.

and will not do so until the "energy of the sacred seven" has been transferred to Them.

và sẽ không làm như vậy cho đến khi “năng lượng của bảy hành tinh thiêng liêng” được chuyển dịch đến Các Ngài.

98. The planet Saturn, here mentioned alongside Uranus and Neptune, must be that which we have been calling ‘Greater Saturn’—a greater Being which, according to the chart on TCF 373, includes seven lesser planets, including the planet we normally call Saturn.

98. Hành tinh Sao Thổ, ở đây được nhắc đến bên cạnh Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, hẳn phải là điều mà chúng ta đã gọi là ‘Đại Sao Thổ’—một Hữu thể lớn hơn mà, theo biểu đồ ở TCF 373, bao gồm bảy hành tinh nhỏ hơn, kể cả hành tinh mà chúng ta thường gọi là Sao Thổ.

Figures, therefore, as regards their duration and persistence are not in order.

Do đó, các con số liên quan đến thời lượng và sự tồn tại bền lâu của Các Ngài không phải là điều có thể xác định đúng đắn.

99. Will may infer that the three synthesizing planets endure beyond the point when the lesser planets ‘disappear’ into Them. It seems reasonable to conclude that They ‘outlast’ the planets they absorb—at least in physical or physical-etheric form.

99. Chúng ta có thể suy ra rằng ba hành tinh tổng hợp tồn tại vượt quá điểm mà các hành tinh nhỏ hơn “biến mất” vào trong Các Ngài. Có vẻ hợp lý để kết luận rằng Các Ngài “sống lâu hơn” các hành tinh mà Các Ngài hấp thu—ít nhất là trong hình thức hồng trần hay hồng trần-dĩ thái.

100. May we also assume that Saturn (probably ‘Greater Saturn’), Neptune and Uranus were present since the beginning of the solar system? One cannot imagine a Being in which the highest chakras are not present and functioning from the first—functioning, at least, at a maintenance level.

100. Liệu chúng ta cũng có thể giả định rằng Sao Thổ (có lẽ là ‘Đại Sao Thổ’), Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương đã hiện diện từ lúc khởi đầu của hệ mặt trời hay không? Người ta khó có thể hình dung một Hữu thể mà trong đó các luân xa cao nhất lại không hiện diện và hoạt động ngay từ đầu—ít nhất hoạt động ở mức duy trì.

The figures for the planets concerned with the "inner round" differ as to length of time but not as to space location from those of other planets.

Các con số đối với những hành tinh liên hệ đến “cuộc tuần hoàn nội tại” khác nhau về độ dài thời gian nhưng không khác về vị trí trong không gian so với những hành tinh khác.

101. The inner round concerns, in one respect, etheric development.

101. Cuộc tuần hoàn nội tại, ở một phương diện, liên quan đến sự phát triển dĩ thái.

102. DK seems to be telling us that the ‘spatial location’ of the inner round is not separate from that of the planets with which we are familiar.

102. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng “vị trí không gian” của cuộc tuần hoàn nội tại không tách biệt khỏi vị trí của những hành tinh mà chúng ta quen thuộc.

103. In any case, the cycles we call the ‘cycles of the inner round’ have their own duration, the figures of which will not be given out.

103. Dù sao đi nữa, các chu kỳ mà chúng ta gọi là “các chu kỳ của cuộc tuần hoàn nội tại” có thời lượng riêng của chúng, và các con số ấy sẽ không được tiết lộ.

The true figures in connection with any planetary scheme and its occult activity are not ascertainable by the man who cannot be trusted with the significance of the other planetary bodies (of great number) within the solar ring-pass-not.

Những con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào và hoạt động huyền bí của nó không thể được xác định bởi con người không thể được tín nhiệm với thâm nghĩa của các thiên thể hành tinh khác (với số lượng lớn) bên trong vòng-giới-hạn mặt trời.

104. DK is telling us that there are a “great number” of planetary bodies within the “solar ring-pass-not”. He would not mention them if they were not significant. The term “great number” suggests, one would think, at least a hundred or more.

104. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng có một “số lượng lớn” các thiên thể hành tinh bên trong “vòng-giới-hạn mặt trời”. Ngài hẳn đã không nhắc đến chúng nếu chúng không có ý nghĩa. Thuật ngữ “số lượng lớn” gợi ý, người ta sẽ nghĩ, ít nhất là một trăm hay hơn.

105. It would seem that until we know what these bodies are, their location and significance, we will not be given the “true figures” regarding the planetary schemes which are more familiar to us.

105. Dường như cho đến khi chúng ta biết những thiên thể này là gì, vị trí và thâm nghĩa của chúng ra sao, thì chúng ta sẽ không được trao cho “những con số chân thực” liên quan đến các hệ hành tinh quen thuộc hơn với chúng ta.

106. Anyone who wishes to ascertain the true figures as regards any planetary scheme must study the solar system (visible and invisible) with occult care. This is not yet possible to us.

106. Bất kỳ ai muốn xác định những con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào đều phải nghiên cứu hệ mặt trời (hữu hình và vô hình) bằng sự cẩn trọng huyền bí. Điều này hiện chưa thể đối với chúng ta.

107. We understand something of the exoteric activity of various of the planetary schemes, but not the “occult activity” of those schemes.

107. Chúng ta hiểu đôi điều về hoạt động ngoại môn của nhiều hệ hành tinh khác nhau, nhưng không hiểu “hoạt động huyền bí” của các hệ hành tinh ấy.

108. It is also clear that information regarding the other planetary bodies within our solar ring-pass-not is contained within the secrets of initiation, because the ‘initiatory word’ “trusted” is used.

108. Cũng rõ ràng rằng thông tin liên quan đến các thiên thể hành tinh khác trong vòng-giới-hạn mặt trời của chúng ta nằm trong các bí mật của điểm đạo, bởi vì từ ngữ mang tính điểm đạo “được tín nhiệm” đã được dùng.

The entire solar sphere is full of such bodies, characterised by the same features as are the seven and the ten, and each of them in some degree has an effect upon the whole.

Toàn bộ khối cầu mặt trời đầy những thiên thể như thế, được đặc trưng bởi cùng những nét như bảy và mười, và mỗi thiên thể trong một mức độ nào đó đều có ảnh hưởng lên toàn thể.

109. The “seven and the ten” are probably the ten planets with which we are now familiar if Vulcan is included. The “ten” would include the three synthesizing planets.

109. “Bảy và mười” có lẽ là mười hành tinh mà hiện nay chúng ta quen thuộc nếu kể cả Vulcan. “Mười” sẽ bao gồm ba hành tinh tổng hợp.

110. We must remember, however, that this book was written before Pluto was discovered, and so Saturn may be counted twice—once in its exoteric aspect and once as ‘Greater Saturn’, as we have called it.

110. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng cuốn sách này được viết trước khi Sao Diêm Vương được khám phá, và vì vậy Sao Thổ có thể được tính hai lần—một lần trong phương diện ngoại môn của nó và một lần như ‘Đại Sao Thổ’, như chúng ta đã gọi.

Figures, therefore, cannot be considered as final until the effect of the lesser planetary bodies upon their immediate neighbours is known,

Do đó, các con số không thể được xem là tối hậu cho đến khi ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn lên các láng giềng gần nhất của chúng được biết đến,

111. Among these “immediate neighbors” may be the normally considered planets.

111. Trong số những “láng giềng gần nhất” này có thể có các hành tinh thường được xét đến.

112. These lesser planetary bodies probably affect each other as well.

112. Những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này có lẽ cũng ảnh hưởng lẫn nhau.

and the extent of their planetary radiation has been gauged.

và mức độ bức xạ hành tinh của chúng đã được đo lường.

113. These lesser planetary bodies are certainly not dead or ineffective. They have their effective radiation and their influence.

113. Những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này chắc chắn không chết hay vô hiệu lực. Chúng có bức xạ hữu hiệu và ảnh hưởng của chúng.

114. Any complete understanding of esoteric psychology must take their influence into consideration.

114. Bất kỳ sự thấu hiểu trọn vẹn nào về Tâm Lý Học Nội Môn đều phải đem ảnh hưởng của chúng vào cân nhắc.

There are more than 115 of such bodies to be reckoned with, and all are at varying stages of vibratory [Page 794] impulse.

Có hơn 115 thiên thể như thế phải được tính đến, và tất cả đều ở những giai đoạn khác nhau của xung động rung động [Page 794].

115. We note that DK tells us that there are more than 115. Somehow the number 115 must be significant if it is singled out.

115. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK cho chúng ta biết là có hơn 115. Bằng cách nào đó con số 115 hẳn phải có ý nghĩa nếu nó được nêu riêng ra.

116. From one perspective, 115 suggests Uranus, Neptune and the other five sacred planets which include Brahma and come under Brahma.

116. Từ một góc nhìn, 115 gợi đến Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và năm hành tinh thiêng liêng khác bao gồm Brahma và thuộc dưới Brahma.

117. This number also suggests a way of highlighting the highest two subplanes of any seven plane system, and distinguishing them from the lower five subplanes.

117. Con số này cũng gợi ra một cách làm nổi bật hai cõi phụ cao nhất của bất kỳ hệ thống bảy cõi nào, và phân biệt chúng với năm cõi phụ thấp hơn.

118. We are learning that the more than 115 planetary bodies are all at different stages of unfoldment or of “vibratory impulse”.

118. Chúng ta đang học rằng hơn 115 thiên thể hành tinh ấy đều ở những giai đoạn khác nhau của sự khai mở hay của “xung động rung động”.

119. We would imagine that, among the 115, planetoids are to be included, but not necessarily moons.

119. Chúng ta sẽ hình dung rằng, trong số 115 ấy, các tiểu hành tinh được bao gồm, nhưng không nhất thiết là các mặt trăng.

120. We also think that the asteroids are not included as they are mentioned separately below (as are moons).

120. Chúng ta cũng nghĩ rằng các asteroid không được bao gồm vì chúng được nhắc đến riêng ở dưới (cũng như các mặt trăng).

121. If we add the number of known planets (excluding those few recently discovered) to the number 115, we have 125, and clearly there are more planets and planetoids than this relatively larger figure indicates.

121. Nếu chúng ta cộng số hành tinh đã biết (không kể vài hành tinh mới được khám phá gần đây) vào con số 115, chúng ta có 125, và rõ ràng là có nhiều hành tinh và tiểu hành tinh hơn con số tương đối lớn hơn này biểu thị.

They have definite orbits,

Chúng có những quỹ đạo xác định,

122. The orbits of some may be around the conventionally known planets, or perhaps, around some larger planets (perhaps beyond the orbit of Pluto) not yet discovered.

122. Quỹ đạo của một số thiên thể có thể ở quanh các hành tinh được biết đến theo quy ước, hoặc có lẽ quanh một số hành tinh lớn hơn (có lẽ vượt ngoài quỹ đạo của Sao Diêm Vương) chưa được khám phá.

123. On the other hand, their orbits may be around the Sun, as are the orbits of conventionally known planets.

123. Mặt khác, quỹ đạo của chúng có thể quanh Mặt Trời, như quỹ đạo của các hành tinh được biết đến theo quy ước.

they turn upon their axis, they draw their "life" and substance from the sun,

chúng quay trên trục của mình, chúng rút lấy “sự sống” và chất liệu của mình từ mặt trời,

124. Does the fact that the Lives informing these lesser planetary bodies “draw their ‘life’ and substance from the sun” indicate that their orbits are principally around the sun?

124. Việc các Sự Sống phú linh cho những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này “rút lấy ‘sự sống’ và chất liệu của chúng từ mặt trời” có cho thấy rằng quỹ đạo của chúng chủ yếu là quanh mặt trời hay không?

but owing to their relative insignificance, they have not yet been considered factors of moment.

nhưng do tính không đáng kể tương đối của chúng, chúng chưa được xem là những yếu tố quan trọng.

125. DK is not telling us that the radiation of these lesser planetary bodies is insignificant, but only that these Lives and the planets or planetoids through which they function are relatively insignificant. They will still have to be factored-in to any true psychological assessment of self-conscious beings within our solar system.

125. Chân sư DK không nói với chúng ta rằng bức xạ của những thiên thể hành tinh nhỏ hơn này là không đáng kể, mà chỉ nói rằng các Sự Sống này và các hành tinh hay tiểu hành tinh mà qua đó chúng hoạt động là tương đối không đáng kể. Dù vậy, chúng vẫn sẽ phải được tính đến trong bất kỳ sự đánh giá tâm lý chân thực nào về các hữu thể có ngã thức trong hệ mặt trời của chúng ta.

126. They have also not been considered “factors of moment” because the vast majority of them has not yet been discovered.

126. Chúng cũng chưa được xem là “những yếu tố quan trọng” vì đại đa số trong số chúng vẫn chưa được khám phá.

This attitude of mind will change when etheric vision is a fact, and the reality of the existence of an etheric double of all that is in manifestation will be recognised by scientists.

Thái độ trí tuệ này sẽ thay đổi khi linh thị dĩ thái trở thành một sự kiện, và thực tại về sự hiện hữu của một bản sao dĩ thái của mọi sự trong biểu hiện sẽ được các nhà khoa học công nhận.

127. DK is telling us, it seems, that many of these planetary bodies do not have dense physical bodies but only etheric bodies as their lowest vehicle.

127. Dường như Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng nhiều thiên thể hành tinh này không có thể hồng trần đậm đặc mà chỉ có thể dĩ thái như vận cụ thấp nhất của chúng.

This fact will be demonstrated towards the close of the century, and, during the early part of the next century a revolution in astronomical circles will occur which will result in the study of the "etheric planets."

Sự kiện này sẽ được chứng minh vào gần cuối thế kỷ, và, trong phần đầu của thế kỷ kế tiếp, một cuộc cách mạng trong giới thiên văn học sẽ xảy ra, đưa đến việc nghiên cứu các “hành tinh dĩ thái”.

128. We cannot fully know to what extent such a demonstration has been made in inner astronomical circles. Perhaps, there are some astronomers who are working on planetary energy sources which are not associated with apparent dense physical vehicles.

128. Chúng ta không thể biết trọn vẹn sự chứng minh như vậy đã được thực hiện đến mức nào trong các giới thiên văn học nội môn. Có lẽ có một số nhà thiên văn đang nghiên cứu các nguồn năng lượng hành tinh không gắn với những vận cụ hồng trần đậm đặc biểu kiến.

129. The phrase “revolution in astronomical circles” may have more than one meaning. Could DK be referring to a deeper understanding of the orbital dynamics of apparently ‘hidden’ planets?

129. Cụm từ “cuộc cách mạng trong giới thiên văn học” có thể có hơn một nghĩa. Liệu Chân sư DK có đang ám chỉ đến một sự thấu hiểu sâu hơn về động lực quỹ đạo của những hành tinh dường như ‘ẩn giấu’ hay không?

130. We know that radio sources far outside our solar system are presently studied by certain astronomers. Often astronomers are far more interested in what is occurring in “deep space” than they are in what is occurring within the confines of our solar system. It would seem that even now, they would have the capacity to detect etheric planets within the solar system.

130. Chúng ta biết rằng hiện nay một số nhà thiên văn đang nghiên cứu các nguồn vô tuyến ở rất xa ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Các nhà thiên văn thường quan tâm đến điều đang xảy ra trong “không gian sâu” hơn là điều đang xảy ra trong giới hạn của hệ mặt trời chúng ta. Dường như ngay cả bây giờ họ cũng có khả năng phát hiện các hành tinh dĩ thái trong hệ mặt trời.

As these bodies are organs of energy,

Vì những thiên thể này là những cơ quan năng lượng,

131. Chakras are “organs of energy”. These lesser bodies represent, then, lesser chakras within the chakric system of our Solar Logos.

131. Các luân xa là “những cơ quan năng lượng”. Vậy thì những thiên thể nhỏ hơn này tượng trưng cho những luân xa nhỏ hơn trong hệ thống luân xa của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

permeating the dense form,

thấm nhập hình tướng đậm đặc,

132. Chakras permeate the dense form. Some of them have noticeable externalizations in the form of organs and glands.

132. Các luân xa thấm nhập hình tướng đậm đặc. Một số trong chúng có những sự ngoại hiện đáng chú ý dưới hình thức các cơ quan và tuyến.

the study of the interaction of solar energy, and the occult "give and take" of planetary bodies will assume a new significance.

việc nghiên cứu sự tương tác của năng lượng mặt trời, và sự “cho và nhận” huyền bí của các thiên thể hành tinh sẽ mang một thâm nghĩa mới.

133. DK is pointing to a new science for the future.

133. Chân sư DK đang chỉ ra một khoa học mới cho tương lai.

134. We know, for instance, that there has been a significant interplay or “give and take” between Venus and the Earth. This type of interchange probably occurs on a wide scale throughout the solar system between many of the known and presently unknown planetary bodies.

134. Chẳng hạn, chúng ta biết rằng đã có một sự tương tác đáng kể hay “cho và nhận” giữa Sao Kim và Trái Đất. Loại trao đổi này có lẽ xảy ra trên quy mô rộng khắp hệ mặt trời giữa nhiều thiên thể hành tinh đã biết và hiện chưa biết.

135. It will become evident to analogical thinkers that to study the exoteric and esoteric solar system, we are studying a vast system of interrelated chakras and their externalizations.

135. Đối với những nhà tư tưởng theo định luật tương đồng, sẽ trở nên hiển nhiên rằng khi nghiên cứu hệ mặt trời ngoại môn và nội môn, chúng ta đang nghiên cứu một hệ thống bao la gồm những luân xa liên hệ lẫn nhau và các sự ngoại hiện của chúng.

Certain planetary bodies (both greater and lesser) are "absorbers,"

Một số thiên thể hành tinh (cả lớn lẫn nhỏ) là những “kẻ hấp thu”,

136. The “take”, occultly.

136. “Nhận”, theo nghĩa huyền bí.

others are "radiators,"

những thiên thể khác là những “kẻ bức xạ”,

137. The “give” occultly.

137. “Cho”, theo nghĩa huyền bí.

while some are in the stage of demonstrating a dual activity, and are being "transmuted."

trong khi một số đang ở giai đoạn biểu lộ một hoạt động kép, và đang được “chuyển hoá”.

138. Is DK saying that some of these lesser bodies are both giving and taking? Venus and the Earth both give and take—at least They did so at the time of the individualization of animal man upon this planet.

138. Có phải Chân sư DK đang nói rằng một số thiên thể nhỏ hơn này vừa cho vừa nhận hay không? Sao Kim và Trái Đất đều cho và nhận—ít nhất Các Ngài đã làm như vậy vào thời kỳ biệt ngã hóa của người thú trên hành tinh này.

139. In any case, transmutation occurs on a planet when its life forms (and especially its self-conscious life forms) are being ‘solarized’.

139. Dù sao đi nữa, sự chuyển hoá xảy ra trên một hành tinh khi các hình tướng sự sống của nó (và đặc biệt là các hình tướng sự sống có ngã thức của nó) đang được ‘thái dương hóa’.

140. For instance, while only one fifth of the human units on Earth have been transmuted, two-fifths of the units on Vulcan have been so. Each planet (and probably each planetoid) has a fraction which describes the degree to which the process of transmutation has occurred upon or within it.

140. Thí dụ, trong khi chỉ một phần năm các đơn vị nhân loại trên Trái Đất đã được chuyển hoá, thì hai phần năm các đơn vị trên Vulcan đã như vậy. Mỗi hành tinh (và có lẽ mỗi tiểu hành tinh) đều có một phân số mô tả mức độ mà tiến trình chuyển hoá đã xảy ra trên hoặc bên trong nó.

141. A planetary or planetoid which has been completed “transmuted” is, we would infer, ready for absorption.

141. Một hành tinh hay tiểu hành tinh đã được “chuyển hoá” hoàn tất thì, chúng ta có thể suy ra, đã sẵn sàng để được hấp thu.

All these circumstances require to be considered by the initiate who is dealing with cycles.

Tất cả những hoàn cảnh này cần được điểm đạo đồ đang bàn đến các chu kỳ xem xét.

142. The initiate who is dealing with cycles must be both an astronomer and an astrologer.

142. Điểm đạo đồ đang bàn đến các chu kỳ phải vừa là một nhà thiên văn học vừa là một nhà chiêm tinh học.

143. To achieve “All Knowledge” on the third level of the atmic plane is to have a great and extensive knowledge of the Science of Cycles. May we say that the most advanced form of the study of astrology and astronomy possible to us as man is atmic in nature and requires atmic consciousness?

143. Đạt được “Mọi Tri Thức” trên cấp độ thứ ba của cõi atma là có được một tri thức lớn lao và bao quát về Khoa Học về các Chu Kỳ. Chúng ta có thể nói rằng hình thức nghiên cứu chiêm tinh học và thiên văn học cao cấp nhất có thể có đối với chúng ta với tư cách con người có bản chất atma và đòi hỏi tâm thức atma chăng?

Figures also must be computed when the effect upon the planets of what are called "asteroids" is known.

Các con số cũng phải được tính đến khi ảnh hưởng của những gì được gọi là “các tiểu hành tinh” lên các hành tinh được biết đến.

144. It is clear that DK is distinguishing the “asteroids” from the more than 115 lesser planetary bodies within the solar ring-pass-not.

144. Rõ ràng là Chân sư DK đang phân biệt “các tiểu hành tinh” với hơn 115 thiên thể hành tinh nhỏ hơn bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời.

145. Just because these bodies are called “asteroids” does not mean that this is the best or most indicative name for them.

145. Chỉ vì những thiên thể này được gọi là “các tiểu hành tinh” không có nghĩa rằng đó là tên gọi tốt nhất hay có tính chỉ dấu nhất cho chúng.

This is much greater than exoteric science has so far admitted,

Điều này lớn hơn rất nhiều so với những gì khoa học ngoại môn cho đến nay đã thừa nhận,

146. Exoteric science hardly acknowledges the “effect” of the asteroids, and certainly not any psychological effect.

146. Khoa học ngoại môn hầu như không thừa nhận “ảnh hưởng” của các tiểu hành tinh, và chắc chắn không thừa nhận bất kỳ ảnh hưởng tâm lý nào.

147. Could DK be speaking of exoteric astrological science? In some forms of exoteric astrology, the asteroids are considered effective, and perhaps we, too, have noticed their effects in our own astrological charts and the charts of those we know.

147. Có thể Chân sư DK đang nói về khoa học ngoại môn chiêm tinh học chăng? Trong một số hình thức chiêm tinh học ngoại môn, các tiểu hành tinh được xem là có hiệu lực, và có lẽ chính chúng ta cũng đã nhận thấy các ảnh hưởng của chúng trong các lá số chiêm tinh của mình và của những người chúng ta quen biết.

but the significance of this must eventually be interpreted in terms of energy and on etheric levels.

nhưng ý nghĩa của điều này rốt cuộc phải được diễn giải theo phương diện năng lượng và trên các cấp độ dĩ thái.

148. Really, the effect of all astrological factors is far more etheric than physical.

148. Thật ra, ảnh hưởng của mọi yếu tố chiêm tinh mang tính dĩ thái nhiều hơn là hồng trần.

149. Our microcosmic energy system reflects the energy system of the macrocosm in which we live. Every factor within that macrocosm must, eventually, be considered, but we are not yet in a position to do so.

149. Hệ thống năng lượng vi mô của chúng ta phản chiếu hệ thống năng lượng của đại thiên địa mà trong đó chúng ta sống. Mọi yếu tố bên trong đại thiên địa ấy rốt cuộc đều phải được xem xét, nhưng chúng ta chưa ở vào vị thế để làm điều đó.

150. It is clear that we will not completely know ourselves until we know far more about the macrocosm in which we live and move and have our being.

150. Rõ ràng là chúng ta sẽ không hoàn toàn biết chính mình cho đến khi biết nhiều hơn nữa về đại thiên địa mà trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu.

Another factor in computation which must also be considered is the effect of the various moons upon any planetary scheme,

Một yếu tố khác trong sự tính toán cũng phải được xem xét là ảnh hưởng của các mặt trăng khác nhau lên bất kỳ hệ hành tinh nào,

151. Let us be clear that DK is bringing three different factors into consideration:

151. Chúng ta hãy rõ ràng rằng Chân sư DK đang đưa ba yếu tố khác nhau vào sự xem xét:

a. The effect of the lesser planetary bodies of which there are more than 115

a. Ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn mà có hơn 115 thiên thể như vậy

b. The effect of the asteroids

b. Ảnh hưởng của các tiểu hành tinh

c. The effect of the “various moons”.

c. Ảnh hưởng của “các mặt trăng khác nhau”.

152. It becomes clear that all three are distinct from each other.

152. Rõ ràng là cả ba đều khác biệt với nhau.

and the true meaning of the eighth sphere in connection with dense substance.

và ý nghĩa chân thực của khối cầu thứ tám trong mối liên hệ với chất liệu đậm đặc.

153. We cannot dissociate the nature of the “eighth sphere” from our Moon.

153. Chúng ta không thể tách rời bản chất của “khối cầu thứ tám” khỏi Mặt Trăng của chúng ta.

154. Our Moon is a “point of corruption” and so is the “eighth sphere” (a sphere of limitless decay and decomposition)

154. Mặt Trăng của chúng ta là một “điểm hư hoại” và “khối cầu thứ tám” cũng vậy (một khối cầu của sự mục rữa và phân huỷ vô hạn)

155. There is probably an interesting link between the “eighth sphere”, the Moon and Saturn.

155. Có lẽ có một mối liên hệ thú vị giữa “khối cầu thứ tám”, Mặt Trăng và Sao Thổ.

Every moon is occultly a "point of corruption," or that which is passing off in noxious gases.

Mỗi mặt trăng, về mặt huyền bí, là một “điểm hư hoại”, hay cái đang tan biến thành những khí độc hại.

156. Our Moon and every other moon is in process of decomposition.

156. Mặt Trăng của chúng ta và mọi mặt trăng khác đều đang trong tiến trình phân huỷ.

157. With regard to moons in general, there are no longer internal principles (expressing the second and first aspects) to hold them in healthy coherence.

157. Đối với các mặt trăng nói chung, không còn những nguyên khí nội tại nào nữa (biểu lộ phương diện thứ hai và thứ nhất) để giữ chúng trong sự cố kết lành mạnh.

The transmutation of the form has been proceeded with in their case to a point where all that represents vital energy has left,

Sự chuyển hoá của hình tướng trong trường hợp của chúng đã được tiến hành đến một điểm mà mọi điều biểu hiện cho năng lượng sinh động đều đã rời đi,

158. All “solar” energy has left them. They are no longer animated. The soul factor is now absent. They are like decaying, dead bodies.

158. Mọi năng lượng “thái dương” đã rời khỏi chúng. Chúng không còn được linh hoạt hoá nữa. Yếu tố linh hồn nay vắng mặt. Chúng giống như những tử thi đang phân rã.

159. The Logos informing our Moon had His life-course interrupted by the timely interference of the Solar Logos. This has probably not been the case for all moons. Some may be the result of successful transmutation and the natural departure of the vital and coherent solar principles.

159. Thượng đế phú linh cho Mặt Trăng của chúng ta đã bị gián đoạn lộ trình sự sống của Ngài bởi sự can thiệp đúng lúc của Thái dương Thượng đế. Điều này có lẽ không phải là trường hợp của mọi mặt trăng. Một số có thể là kết quả của sự chuyển hoá thành công và sự ra đi tự nhiên của các nguyên khí thái dương sinh động và cố kết.

all solar life has passed off, no remnants of pranic energy remain,

mọi sự sống thái dương đã rời đi, không còn tàn dư nào của năng lượng prana,

160. Prana, in this context, is to be considered as “solar”.

160. Trong ngữ cảnh này, prana phải được xem là “thái dương”.

161. We must remember how prana contributes to the just coherence of the form it animates.

161. Chúng ta phải nhớ prana góp phần như thế nào vào sự cố kết đúng đắn của hình tướng mà nó linh hoạt hoá.

and that which is to be seen is simply the decay of the physical body,—a decay which is proceeding on etheric levels as well as [Page 795] on physical.

và điều có thể được thấy chỉ đơn giản là sự phân rã của thể xác,—một sự phân rã đang diễn ra trên các cấp độ dĩ thái cũng như [Page 795] trên hồng trần.

162. With respect to any moon, we are witnessing not only physical decay but etheric decay as well.

162. Đối với bất kỳ mặt trăng nào, chúng ta đang chứng kiến không chỉ sự phân rã hồng trần mà còn cả sự phân rã dĩ thái nữa.

163. We might remember here that when occult principles are listed, the etheric body and prana are usually both listed and differentiated from each other. Of these two principles, it seems that prana is the higher and, abstracting itself from the etheric body of a moon, causes that etheric body to decay and with that decay, the decay of the physical vehicle as well.

163. Ở đây chúng ta có thể nhớ rằng khi các nguyên khí huyền bí được liệt kê, thể dĩ thái và prana thường đều được liệt kê cả hai và được phân biệt với nhau. Trong hai nguyên khí này, dường như prana là cao hơn và, khi tự rút ra khỏi thể dĩ thái của một mặt trăng, gây ra sự phân rã của thể dĩ thái ấy và cùng với sự phân rã đó là sự phân rã của vận cụ hồng trần nữa.

The decay of a moon has as great an evil effect upon all that contacts it as a decaying body on earth has upon its surroundings.

Sự phân rã của một mặt trăng có ảnh hưởng xấu lớn lao lên mọi thứ tiếp xúc với nó, cũng như một tử thi đang phân rã trên Trái Đất có ảnh hưởng lên môi trường xung quanh nó.

164. This must be obvious. Does our Moon in our astrological chart represent that in us which is in process of decay and decomposition? Or, perhaps, that which should be in process of decay or decomposition?

164. Điều này hẳn phải hiển nhiên. Phải chăng Mặt Trăng trong lá số chiêm tinh của chúng ta biểu thị điều gì đó trong chúng ta đang trong tiến trình phân rã và phân huỷ? Hoặc có lẽ, điều gì đó nên được đặt vào tiến trình phân rã hay phân huỷ?

It is occultly "offensive."

Về mặt huyền bí, nó là “xúc phạm”.

165. This means that such an influence challenges the integrity of that which is spiritually legitimate. Moons are no longer ‘spiritually legitimate’. They are no longer principled and, instead, correlate with that which is no longer ‘lawful’ and, in the moral sense, ‘principled’.

165. Điều này có nghĩa là một ảnh hưởng như vậy thách thức tính toàn vẹn của điều gì là hợp pháp về mặt tinh thần. Các mặt trăng không còn ‘hợp pháp về mặt tinh thần’ nữa. Chúng không còn có nguyên khí nữa, và thay vào đó tương ứng với điều gì không còn ‘hợp luật’ và, theo nghĩa đạo đức, không còn ‘nguyên khí’.

This will be more truly apprehended when the etheric double of our moon is studied.

Điều này sẽ được lĩnh hội chân thực hơn khi bản sao dĩ thái của Mặt Trăng chúng ta được nghiên cứu.

166. This type of study lies ahead.

166. Loại nghiên cứu này còn ở phía trước.

167. Within us and contravening our best efforts is a kind of “death instinct” which will one day be proved to be associated with the Earth’s decaying Moon. There may be other, now invisible, moons in our local vicinity, each with its own deleterious effect. Some astrologers work with such invisible bodies. One such is called the “black moon”, and attracts the attention of those interested in morbidity.

167. Bên trong chúng ta và đi ngược lại những nỗ lực tốt đẹp nhất của chúng ta là một loại “bản năng chết” mà một ngày kia sẽ được chứng minh là có liên hệ với Mặt Trăng đang phân rã của Trái Đất. Có thể còn có những mặt trăng khác, hiện nay vô hình, trong vùng lân cận địa phương của chúng ta, mỗi mặt trăng đều có ảnh hưởng tai hại riêng. Một số nhà chiêm tinh làm việc với những thiên thể vô hình như vậy. Một trong số đó được gọi là “mặt trăng đen”, và thu hút sự chú ý của những người quan tâm đến tính bệnh hoạn.

As the moon becomes small through the process of disintegration,

Khi mặt trăng trở nên nhỏ bé qua tiến trình tan rã,

168. By the end of the seven round (probably scheme round) of our planetary scheme, it will have disappeared; so we learn below.

168. Vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy (có lẽ là cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh) của hệ hành tinh chúng ta, nó sẽ biến mất; như vậy chúng ta sẽ biết ở dưới.

its effect upon the Earth will be correspondingly lessened, and this stage will be paralleled by a consequent greater freedom from evil impulse of the sons of men.

ảnh hưởng của nó lên Trái Đất sẽ tương ứng giảm đi, và giai đoạn này sẽ song hành với một sự giải thoát lớn hơn khỏi xung lực xấu xa nơi những người con của nhân loại.

169. As the sacral center of our planet becomes less energized (its energy transferred to the solar plexus center) much criminal activity upon our planet will lessen.

169. Khi trung tâm xương cùng của hành tinh chúng ta trở nên ít được tiếp năng lượng hơn (năng lượng của nó được chuyển dịch đến trung tâm tùng thái dương), nhiều hoạt động tội phạm trên hành tinh chúng ta sẽ giảm bớt.

170. These two processes may be considered correlated:

170. Hai tiến trình này có thể được xem là có tương quan:

a. The gradual minimizing and disappearance of the Moon

a. Sự giảm thiểu dần dần và biến mất của Mặt Trăng

b. The transfer of energy from the planetary sacral center to the planetary solar plexus center.

b. Sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng của hành tinh đến trung tâm tùng thái dương của hành tinh.

g. When the Heavenly Man, Who is at present demonstrating through the Earth scheme, has succeeded in vitalising His middle centre, or in directing the force of planetary kundalini away from the lower centres to the solar plexus centre, a new cycle will be reached, and much of the present distress will be ended. (TCF 297)

g. Khi Đấng Thiên Nhân, Đấng hiện đang biểu lộ qua hệ Địa Cầu, đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho trung tâm giữa của Ngài, hay trong việc hướng mãnh lực kundalini hành tinh ra khỏi các trung tâm thấp đến trung tâm tùng thái dương, một chu kỳ mới sẽ đạt tới, và phần lớn nỗi khốn khổ hiện nay sẽ chấm dứt. (TCF 297)

Better conditions among the animals will be another result above all else, and the dying out of that which is noxious in the animal kingdom.

Những điều kiện tốt đẹp hơn nơi giới động vật sẽ là một kết quả khác trên hết mọi sự, và sự diệt mất của điều gì độc hại trong giới động vật.

171. Here we have the suggestion that the Moon is associated with the poisons found in some species in the animal kingdom.

171. Ở đây chúng ta có gợi ý rằng Mặt Trăng có liên hệ với các chất độc được tìm thấy trong một số loài thuộc giới động vật.

172. The Moon and Mars are definitely associated with the animal kingdom and with all that is ‘animal’ and ‘animal-like’ in man.

172. Mặt Trăng và Sao Hỏa chắc chắn có liên hệ với giới động vật và với mọi điều ‘thú tính’ và ‘giống thú’ trong con người.

173. The effect of cosmic evil upon our planet (a process, from one perspective, through which the third ray inhibits the expression of the second) is reflected in the poor relations between the animal and human kingdoms. The animal kingdom is, we know, the third kingdom. The animal nature within man inhibits the expression of his soul nature (vibrating to the second aspect or ray).

173. Ảnh hưởng của cái ác vũ trụ lên hành tinh chúng ta (một tiến trình mà, từ một góc nhìn, qua đó cung ba ức chế sự biểu lộ của cung hai) được phản chiếu trong các quan hệ kém cỏi giữa giới động vật và giới nhân loại. Giới động vật, như chúng ta biết, là giới thứ ba. Bản chất thú tính bên trong con người ức chế sự biểu lộ của bản chất linh hồn của y (rung động theo phương diện hay cung thứ hai).

By the time the seventh round is reached, the evil effect of the then moon (which will have to all intents and purposes practically disappeared) will be finished.

Vào lúc cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt tới, ảnh hưởng xấu của mặt trăng khi ấy (vốn trên thực tế hầu như đã biến mất) sẽ chấm dứt.

174. It is not that we can ever expect good effects from the Moon. It is simply that the physical and etheric decomposition of the Moon will be, for all practical purposes, completed.

174. Không phải là chúng ta có thể mong đợi những ảnh hưởng tốt từ Mặt Trăng. Chỉ là sự phân huỷ hồng trần và dĩ thái của Mặt Trăng, trên thực tế, sẽ được hoàn tất.

175. Every planet must outlive its moon or moons and so must every human being on our planet.

175. Mọi hành tinh đều phải sống lâu hơn mặt trăng hay các mặt trăng của nó, và mọi con người trên hành tinh chúng ta cũng vậy.

During the fifth round, men will discover how to neutralise any remaining effects through scientific achievement and knowledge of the necessary sounds and mantrams, and thus much evil will be offset.

Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, con người sẽ khám phá cách hóa giải bất kỳ ảnh hưởng còn lại nào nhờ thành tựu khoa học và tri thức về những âm thanh và mantram cần thiết, và như thế nhiều điều ác sẽ được hóa giải.

176. Here we have the fifth round and, thus, the fifth ray engaged in the neutralizing of evil. The fifth round will reflect, very much, both Mercury and Venus (advanced planets and Planetary Logoi) conveying the power to offset evil.

176. Ở đây chúng ta có cuộc tuần hoàn thứ năm và, như vậy, cung năm tham gia vào việc hóa giải điều ác. Cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ phản chiếu rất nhiều cả Sao Thủy lẫn Sao Kim (những hành tinh và các Hành Tinh Thượng Đế tiến bộ) truyền đạt quyền năng để hóa giải điều ác.

177. It seems a long wait—millions of years, really.

177. Điều đó dường như là một sự chờ đợi dài—thật sự là hàng triệu năm.

178. A hint is given, however, which may be utilized even now. By the correct use of thought and speech much evil (unnecessary even now) may be offset.

178. Tuy nhiên, một gợi ý đã được đưa ra, và có thể được sử dụng ngay cả bây giờ. Bằng cách sử dụng đúng đắn tư tưởng và lời nói, nhiều điều ác (ngay cả bây giờ là không cần thiết) có thể được hóa giải.

The etheric moon is included in these remarks.

Mặt trăng dĩ thái được bao gồm trong những nhận xét này.

179. DK seeks to have us remember that the effects of the Moon are not only densely physical but etheric as well.

179. Chân sư DK muốn chúng ta nhớ rằng các ảnh hưởng của Mặt Trăng không chỉ đậm đặc hồng trần mà còn dĩ thái nữa.

180. We know that black magicians work with etheric energies and with certain devas of the ether who carry out their behests. Understanding that there are negative etheric conditions associated with our Moon helps us understand why the Moon figures in certain types of black magic.

180. Chúng ta biết rằng các nhà hắc thuật làm việc với các năng lượng dĩ thái và với một số thiên thần của dĩ thái, những vị thực hiện mệnh lệnh của họ. Hiểu rằng có những điều kiện dĩ thái tiêu cực gắn liền với Mặt Trăng của chúng ta giúp chúng ta hiểu vì sao Mặt Trăng xuất hiện trong một số loại hắc thuật nhất định.

The greatest effect of moon conditions is to be seen working out predominantly in the terror, and present distress in the animal kingdom.58 [Bible. Romans, 8:22]

Ảnh hưởng lớn nhất của các điều kiện mặt trăng được thấy biểu hiện chủ yếu trong nỗi kinh hoàng, và sự khốn khổ hiện nay trong giới động vật.58 [Bible. Romans, 8:22]

181. This terrorizing effect of the Moon reminds one of the two satellites of Mars—Phobos and Demos—“fear” and “dread”.

181. Ảnh hưởng gây kinh hoàng này của Mặt Trăng khiến người ta nhớ đến hai vệ tinh của Sao Hỏa—Phobos và Demos—“sợ hãi” và “kinh hoàng”.

182. Mars and the Moon are intimately related to the animal nature in man.

182. Sao Hỏa và Mặt Trăng có liên hệ mật thiết với bản chất động vật trong con người.

A further factor in cyclic computation lies in the effect of the following stars and constellations upon our system and upon any particular scheme within the system:

Một yếu tố nữa trong sự tính toán chu kỳ nằm ở ảnh hưởng của các ngôi sao và chòm sao sau đây lên hệ thống chúng ta và lên bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào bên trong hệ thống:

183. Here are listed effects of far greater moment that the effect of the Moon (which, we are told, has no true radiation).

183. Ở đây liệt kê những ảnh hưởng có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng của Mặt Trăng (mà chúng ta được bảo là không có bức xạ chân thực).

184. The great sources listed below affect not only the solar system but particular planetary schemes within the solar system.

184. Những nguồn lớn được liệt kê dưới đây không chỉ ảnh hưởng đến hệ mặt trời mà còn đến các hệ hành tinh đặc thù bên trong hệ mặt trời.

a. The Great Bear.

a. Đại Hùng Tinh.

185. The will aspect of the seven rays emanate from this source.

185. Phương diện ý chí của bảy cung phát xuất từ nguồn này.

b. The Little Bear.

b. Tiểu Hùng Tinh.

186. The Little Bear is the correspondence to the “Son” just as the Great Bear is to the “Father”.

186. Tiểu Hùng Tinh là sự tương ứng với “Người Con” cũng như Đại Hùng Tinh là với “Người Cha”.

187. The connection between the Little Bear, Sirius and Leo (all of them related to the second aspect) is to be explored.

187. Mối liên hệ giữa Tiểu Hùng Tinh, Sirius và Leo (tất cả đều liên hệ với phương diện thứ hai) cần được khảo cứu.

c. The Pole Star, especially where our planet is concerned.

c. Sao Bắc Cực, đặc biệt khi liên quan đến hành tinh chúng ta.

188. Our present Pole Star is found within the Little Bear. Naturally the Polar Star changes with the gyration of the axis of our Earth. Presently the Polar Star is “Polaris”. What may be its other names?

188. Sao Bắc Cực hiện nay của chúng ta nằm trong Tiểu Hùng Tinh. Đương nhiên, sao cực thay đổi theo sự quay lắc của trục Trái Đất chúng ta. Hiện nay sao cực là “Polaris”. Những tên gọi khác của nó có thể là gì?

d. The Pleiades.

d. Pleiades.

189. The feminine aspect of the seven rays emanates from this source. It is also the Hub of the Wheel as far as our local cosmo system is concerned. With respect to our local cosmo-system, probably no influence is more powerful than that of the Pleiades.

189. Phương diện nữ tính của bảy cung phát xuất từ nguồn này. Nó cũng là Trục của Bánh Xe xét theo hệ vũ trụ địa phương của chúng ta. Đối với hệ vũ trụ địa phương của chúng ta, có lẽ không có ảnh hưởng nào mạnh hơn ảnh hưởng của Pleiades.

e. The constellation of Capricorn.

e. Chòm sao Ma Kết.

190. This is one of the twelve signs of the zodiac and, one may infer, a senior Constellational Logos among the twelve.

190. Đây là một trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo và, người ta có thể suy ra, là một Thượng đế Chòm Sao cao cấp trong số mười hai vị.

191. Just as not all the Planetary Logoi are equally evolved, so not all the Constellational Lords are equally evolved.

191. Cũng như không phải mọi Hành Tinh Thượng Đế đều tiến hoá ngang nhau, thì không phải mọi Chúa Tể Chòm Sao đều tiến hoá ngang nhau.

f. Draco.

f. Draco.

192. Draco is to be associated with cosmic kundalini—risen into the area of the Head of the "One About Whom Naught May Be Said".

192. Draco phải được liên kết với kundalini vũ trụ—đã dâng lên vùng Đầu của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

193. Draco is, for us, the ultimate source of “Serpent Power” within our solar system.

193. Đối với chúng ta, Draco là nguồn tối hậu của “Hỏa Xà” bên trong hệ mặt trời của chúng ta.

g. Sirius.

g. Sirius.

194. So much is said about the power of Sirius in relation to our solar system and our planet. Yet, when compared to the other sources here listed, it is, overall, a relatively minor one.

194. Rất nhiều điều được nói về quyền năng của Sirius trong liên hệ với hệ mặt trời và hành tinh chúng ta. Tuy nhiên, khi so với các nguồn khác được liệt kê ở đây, nhìn chung nó là một nguồn tương đối nhỏ.

h. The various constellations and stars of the Zodiac.

h. Các chòm sao và ngôi sao khác nhau của Hoàng Đạo.

195. So much attention is usually given to the twelve signs of the zodiac. Yet, for a more complete picture of sources which are effective in influencing our planet and humanity, a number of extra-zodiacal sources must be included.

195. Thông thường người ta dành rất nhiều chú ý cho mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Tuy nhiên, để có một bức tranh đầy đủ hơn về các nguồn có hiệu lực trong việc ảnh hưởng đến hành tinh chúng ta và nhân loại, cần phải bao gồm một số nguồn ngoài hoàng đạo.

196. These twelve, constellations, we remember are the heart within the head center of the "One About Whom Naught May Be Said".

196. Chúng ta nhớ rằng mười hai chòm sao này là trái tim bên trong trung tâm đầu của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

[Page 796]

[Page 796]

The mystery is hidden in esoteric astrology, and until the subject of energy working through the etheric body, of radioactivity, and of the transmutation of all bodies from a lower state into a higher is better comprehended, the true mystery of the "influence" of these various bodies upon each other will remain at its present stage—an unrevealed secret.

Mầu nhiệm được ẩn giấu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, và cho đến khi chủ đề năng lượng vận hành qua thể dĩ thái, phóng xạ, và sự chuyển hoá của mọi thể từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao được thấu hiểu tốt hơn, thì mầu nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau này lên nhau sẽ vẫn ở nguyên giai đoạn hiện tại của nó—một bí mật chưa được mặc khải.

197. We may presume then, that there are revealed secrets.

197. Vậy thì chúng ta có thể giả định rằng có những bí mật đã được mặc khải.

198. An “unrevealed secret” is doubly hidden.

198. Một “bí mật chưa được mặc khải” bị che giấu gấp đôi.

199. Let us remember with the writing of A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan had not yet written Esoteric Astrology.

199. Chúng ta hãy nhớ rằng khi viết Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư Tây Tạng vẫn chưa viết Chiêm Tinh Học Nội Môn.

200. What must be known before the true mystery of the “influence” of the various bodies upon each other may be more fully understood?:

200. Điều gì phải được biết trước khi mầu nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau lên nhau có thể được thấu hiểu đầy đủ hơn?:

a. Energy as it works through the etheric body

a. Năng lượng khi nó vận hành qua thể dĩ thái

b. Radioactivity

b. Phóng xạ

c. Knowledge concerning transmutation of all bodies from a lower state into a higher

c. Tri thức liên quan đến sự chuyển hoá của mọi thể từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn

If the radiatory effect of a human being or of a group of human beings upon each other is as yet practically an unknown thing from the standpoint of practical science, so the occult effect of these greater forms upon each other remains unknown.

Nếu hiệu quả bức xạ của một con người hay của một nhóm người lên nhau, xét từ quan điểm của khoa học thực tiễn, vẫn còn thực tế là một điều chưa được biết đến, thì ảnh hưởng huyền bí của những hình tướng lớn hơn này lên nhau cũng vẫn chưa được biết đến.

201. This is obvious. DK is giving us some extraordinary material for our contemplation. Much remedial work remains to be done within the realm of humanity before any wide registration of these greater influences comes into human consciousness.

201. Điều này là hiển nhiên. Chân sư DK đang trao cho chúng ta một số chất liệu phi thường để chiêm ngưỡng. Còn rất nhiều công việc chữa lành phải được thực hiện trong phạm vi nhân loại trước khi có bất kỳ sự ghi nhận rộng rãi nào về những ảnh hưởng lớn lao hơn này đi vào tâm thức con người.

202. As we are unaware of the effect of these great sources upon ourselves, how much less so are we aware of their effect upon each other!

202. Vì chúng ta không nhận biết ảnh hưởng của những nguồn lớn này lên chính mình, thì chúng ta lại càng ít nhận biết ảnh hưởng của chúng lên nhau biết bao!

Science recognises certain effects, leading and tending to the general coherence of the universe, just as the general laws of the social order among men are theoretically apprehended,

Khoa học thừa nhận một số hiệu quả nhất định, dẫn đến và hướng về sự cố kết tổng quát của vũ trụ, cũng như các định luật tổng quát của trật tự xã hội giữa con người về mặt lý thuyết được lĩnh hội,

203. Science knows that the universe is coherent, but does not know the inner, subjective causes of such coherence.

203. Khoa học biết rằng vũ trụ có tính cố kết, nhưng không biết các nguyên nhân nội tại, chủ quan của sự cố kết ấy.

204. Man is aware of certain generalities but not of deep causes.

204. Con người nhận biết một số tính khái quát nhưng không nhận biết các nguyên nhân sâu xa.

but the true scientific realisation of energy-radiations emanating from the etheric bodies of all these suns and groups of suns, and from all these planets and groups of planets is little understood.

nhưng sự chứng nghiệm khoa học chân thực về các bức xạ năng lượng phát ra từ các thể dĩ thái của tất cả những mặt trời và nhóm mặt trời này, và từ tất cả những hành tinh và nhóm hành tinh này thì ít được thấu hiểu.

205. We might say that among the ranks of conventional scientists it is not understood at all.

205. Chúng ta có thể nói rằng trong hàng ngũ các nhà khoa học quy ước, điều này hoàn toàn không được thấu hiểu.

206. Even astrologers who should understand something more about the sources and effects of these energies, understand but little—from the occult perspective.,

206. Ngay cả các nhà chiêm tinh, những người lẽ ra phải hiểu thêm phần nào về các nguồn và hiệu quả của những năng lượng này, cũng hiểu rất ít—từ góc nhìn huyền bí.,

Their atomic activity is recognised, but that department of their being, which finds its correspondence in "animal magnetism" in man, is little realised,

Hoạt động nguyên tử của chúng được thừa nhận, nhưng phương diện ấy trong bản thể của chúng, phương diện tìm thấy sự tương ứng của nó trong “từ điện động vật” nơi con người, thì ít được chứng nghiệm,

207. The outer and material effect of such sources is comprehended to a degree. The subjective nature of the sources is not understood at all.

207. Hiệu quả bên ngoài và vật chất của những nguồn như vậy được hiểu đến một mức độ nào đó. Bản chất chủ quan của các nguồn ấy thì hoàn toàn không được hiểu.

208. Animal magnetism, we can understand as a kind of ‘etheric magnetism’.

208. Chúng ta có thể hiểu từ điện động vật như một loại ‘từ điện dĩ thái’.

while the even more potent factor of the magnetic radiation of their astral bodies is totally uncalculated, nor is it admitted.

trong khi yếu tố còn mạnh hơn nữa là bức xạ từ tính của các thể cảm dục của chúng thì hoàn toàn không được tính đến, cũng không được thừa nhận.

209. These sources also all have astral bodies, the effect of which is magnetic. This is not registered, or the possibility of its existence acknowledged.

209. Những nguồn này cũng đều có các thể cảm dục, mà ảnh hưởng của chúng là từ tính. Điều này không được ghi nhận, cũng không được thừa nhận khả năng tồn tại của nó.

210. As modern scientists are mostly materialists, etheric energy (which is closer to material energy than is astral energy) may begin to be acknowledged.

210. Vì các nhà khoa học hiện đại phần lớn là những người duy vật, năng lượng dĩ thái (gần với năng lượng vật chất hơn năng lượng cảm dục) có thể bắt đầu được thừa nhận.

All these factors have to be allowed for in any consideration of the factor of time and cycles, and the true esoteric knowledge is not to be gained by the study of figures by the lower mind.

Tất cả những yếu tố này đều phải được tính đến trong bất kỳ sự xem xét nào về yếu tố thời gian và các chu kỳ, và tri thức huyền bí chân thực không thể đạt được bằng việc nghiên cứu các con số bằng hạ trí.

211. DK is telling us that without the antahkarana, we will not attain “true esoteric knowledge”.

211. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nếu không có antahkarana, chúng ta sẽ không đạt được “tri thức huyền bí chân thực”.

212. Really, He is telling us of the various factors which must be grasped if we are to make our way to that highest of all presented siddhis, “All Knowledge” (cf. TCF 188-189)

212. Thật ra, Ngài đang nói với chúng ta về các yếu tố khác nhau phải được nắm bắt nếu chúng ta muốn tiến đến siddhi cao nhất trong tất cả các siddhi được trình bày, “Mọi Tri Thức” (xem TCF 188-189)

213. DK is warning us concerning the strictly mathematical, concrete-minded approach.

213. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta về cách tiếp cận thuần túy toán học, thiên về trí cụ thể.

It comes as the result of the intuition and is stimulated at initiation.

Nó đến như kết quả của trực giác và được kích thích vào lúc điểm đạo.

214. We require the buddhic sense to fathom the secrets of cycles. Without passing through initiation, these secrets will evade our grasp.

214. Chúng ta cần cảm quan Bồ đề để thấu suốt các bí mật của các chu kỳ. Nếu không đi qua điểm đạo, những bí mật này sẽ thoát khỏi sự nắm bắt của chúng ta.

215. The opening of the heart is related both to initiation and to intuition. The heart is a ‘rhythmic organ’ and we are here speaking of the fundamental rhythms of the great energy sources related to our solar system and the Earth.

215. Sự khai mở của trái tim có liên hệ cả với điểm đạo lẫn trực giác. Trái tim là một ‘cơ quan nhịp điệu’ và ở đây chúng ta đang nói về những nhịp điệu căn bản của các nguồn năng lượng lớn liên hệ với hệ mặt trời và Trái Đất.

All that has here been pointed out, can be applied equally (though in a very finite sense) to the ego and its cycles, and also equally, considerations other than the purely "personal" will enter into its time periods.

Tất cả những gì đã được chỉ ra ở đây có thể được áp dụng tương tự (dù theo một nghĩa rất hữu hạn) cho chân ngã và các chu kỳ của nó, và cũng tương tự như vậy, những sự xem xét khác ngoài cái thuần túy “cá nhân” sẽ đi vào các chu kỳ thời gian của nó.

216. For every star or source in the heavens there is a star or source in man. The analogies can be drawn. The various great stellar sources will have their analogies in the chakra system of man.

216. Với mỗi ngôi sao hay nguồn trên trời đều có một ngôi sao hay nguồn trong con người. Có thể rút ra các tương đồng. Những nguồn sao lớn khác nhau sẽ có các tương đồng của chúng trong hệ thống luân xa của con người.

217. We recall that cycles of planetary centers/egoic groups and specific, egoic groups (and their constituent Egos) were related to Brahmic “minutes” and “moments” respectively. The great sources have an effect even upon our egoic nature.

217. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ của các trung tâm hành tinh/các nhóm chân ngã và các nhóm chân ngã đặc thù (và các Chân ngã cấu thành của chúng) lần lượt liên hệ với các “phút” và “khoảnh khắc” Brahma. Những nguồn lớn có ảnh hưởng ngay cả lên bản chất chân ngã của chúng ta.

218. The time cycles of our Ego are not dictated by purely personal considerations. Impulsions from great sources are also involved. At this, DK hints.

218. Các chu kỳ thời gian của Chân ngã chúng ta không bị quyết định bởi những xem xét thuần túy cá nhân. Những xung lực từ các nguồn lớn cũng có liên quan. Chân sư DK gợi ý điều này.

219. “Personal” factors are lunar factors; DK, however, has been speaking of the impulsive, influential effects of stellar (thus solar) sources. We are connected to the stars.

219. Những yếu tố “cá nhân” là những yếu tố nguyệt; tuy nhiên, Chân sư DK đã nói về những ảnh hưởng xung động, có tác động của các nguồn sao (do đó là thái dương). Chúng ta được nối kết với các vì sao.

The influence of other groups and of other units, the effects of radiation from other rays, and of certain types of force as yet unrevealed, and thus outside our consideration, are concerned with its appearing, with the duration of its [Page 797] manifestation, its subsequent obscuration, and final pralayic interval.

Ảnh hưởng của các nhóm khác và của các đơn vị khác, các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác, và của một số loại mãnh lực hiện còn chưa được mặc khải, do đó nằm ngoài sự xem xét của chúng ta, đều liên quan đến sự xuất hiện của nó, thời lượng của sự [Page 797] biểu lộ của nó, sự che khuất tiếp theo của nó, và khoảng pralaya cuối cùng.

220. DK is speaking of that which influences the Ego—influences other than those which are “purely personal”. Let us list these for easier apprehension:

220. Chân sư DK đang nói về điều gì ảnh hưởng đến Chân ngã—những ảnh hưởng khác với những gì là “thuần túy cá nhân”. Chúng ta hãy liệt kê chúng để dễ lĩnh hội hơn:

a. The influence of other groups

a. Ảnh hưởng của các nhóm khác

b. The influence of other units

b. Ảnh hưởng của các đơn vị khác

c. The effects of radiation from other rays

c. Các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác

d. The effects of certain types of force as yet unrevealed

d. Các hiệu quả của một số loại mãnh lực hiện còn chưa được mặc khải

221. The effects upon the human Ego of greater sources are many, most of them not to be ascertained by the human mind in its present inadequate state of development.

221. Những ảnh hưởng của các nguồn lớn hơn lên Chân ngã con người thì rất nhiều, phần lớn không thể được trí tuệ con người xác định trong tình trạng phát triển hiện nay còn bất toàn của nó.

As the Ego has time periods corresponding to those of Brahma, and its "100 years", and its "777 incarnations" have a solar analogy, so equally groups of Egos differ as to time, just as the planetary schemes are analogous in evolution but differ where their periods are concerned.

Cũng như Chân ngã có những chu kỳ thời gian tương ứng với các chu kỳ của Brahma, và “100 năm” cùng “777 lần nhập thể” của nó có một sự tương đồng thái dương, thì tương tự như vậy các nhóm Chân ngã cũng khác nhau về thời gian, cũng như các hệ hành tinh tương đồng trong tiến hoá nhưng khác nhau về các chu kỳ của chúng.

222. DK is telling us something of importance.

222. Chân sư DK đang nói với chúng ta điều gì đó quan trọng.

223. One hundred “Years of Brahma” correspond to the incarnation of a Solar Logos upon the eighteen lower cosmic subplanes. It does not seem accurate to say that this period corresponds only to the duration of the physical-etheric solar system.

223. Một trăm “Năm của Brahma” tương ứng với sự nhập thể của một Thái dương Thượng đế trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp. Có vẻ không chính xác khi nói rằng giai đoạn này chỉ tương ứng với thời lượng của hệ mặt trời hồng trần-dĩ thái.

224. It may be that our Solar Logos, through His present solar system, passes through an analogy to the “777 incarnations” through which the incarnating human being passes.

224. Có thể là Thái dương Thượng đế của chúng ta, qua hệ mặt trời hiện tại của Ngài, đi qua một sự tương đồng với “777 lần nhập thể” mà con người đang nhập thể trải qua.

225. Interestingly, the number 777 corresponds particularly to the Earth-scheme. Why then, should it have a “solar analogy”? Is there some particular connection between our Solar Logos and the Earth-scheme?

225. Điều thú vị là con số 777 đặc biệt tương ứng với hệ Địa Cầu. Vậy tại sao nó lại có một “sự tương đồng thái dương”? Có phải có một mối liên hệ đặc biệt nào đó giữa Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ Địa Cầu chăng?

226. May we say that “100 years of Brahma” correspond to the entire incarnational cycle of a human being? Or should we shorten the period to which 100 Brahmic years applies to the period of one incarnation? After all, 100 Years of Brahma applies only to one solar systemic incarnation! Yet, such a shortening does not seem quite legitimate.

226. Chúng ta có thể nói rằng “100 năm của Brahma” tương ứng với toàn bộ trọn vẹn chu kỳ nhập thể của một con người chăng? Hay chúng ta nên rút ngắn giai đoạn mà 100 năm Brahma áp dụng vào giai đoạn của một lần nhập thể? Rốt cuộc, 100 Năm của Brahma chỉ áp dụng cho một lần nhập thể hệ mặt trời mà thôi! Tuy nhiên, sự rút ngắn như vậy dường như không hoàn toàn chính đáng.

227. In any case, between similar E/entities, there may be a general similarity of process, but the details of the cyclic duration of their expression in manifestation may differ greatly. Each egoic group is conditioned by a different ray and substance-ray, and each ray has its own distinctive cycles.

227. Dù sao đi nữa, giữa các Thực thể/thực thể tương tự, có thể có một sự tương đồng tổng quát về tiến trình, nhưng các chi tiết về thời lượng chu kỳ của sự biểu lộ của chúng trong biểu hiện có thể khác nhau rất nhiều. Mỗi nhóm chân ngã được tác động bởi một cung khác nhau và cung-chất liệu khác nhau, và mỗi cung có các chu kỳ đặc thù riêng của nó.

The Law of Periodicity is one,

Định luật Chu Kỳ là một,

228. That is, the Law of Periodicity applies to all human beings, Egos, Planetary Logoi and Solar Logos—in general.

228. Nghĩa là, Định luật Chu Kỳ áp dụng cho mọi con người, các Chân ngã, các Hành Tinh Thượng Đế và các Thái dương Thượng đế—nói chung.

but as it is based upon initial impulse, and upon the rhythmic beat of the "central heart" or the "central sun" of any organism (solar system, planetary scheme, planetary chain, egoic group or individual egoic life)

nhưng vì nó dựa trên xung lực ban đầu, và trên nhịp đập của “trái tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể sống nào (hệ mặt trời, hệ hành tinh, dãy hành tinh, nhóm chân ngã hay sự sống chân ngã cá biệt)

229. The expression of the Law of Periodicity through any particular being depends upon the rhythm of the heart beat of the ‘central sun’ of that being.

229. Sự biểu lộ của Định luật Chu Kỳ qua bất kỳ hữu thể đặc thù nào tùy thuộc vào nhịp điệu của nhịp tim của “mặt trời trung tâm” của hữu thể ấy.

230. When we speak of the “central sun” or “central heart” we may be speaking of a monadic pulsation which is reflected in the egoic nature—specifically in the Jewel in the Lotus.

230. Khi chúng ta nói về “mặt trời trung tâm” hay “trái tim trung tâm”, có thể chúng ta đang nói về một sự rung động của chân thần được phản chiếu trong bản chất chân ngã—cụ thể là trong Bảo Châu trong Hoa Sen.

the true nature or "family" of any such organism must be ascertained before cyclic pronouncements can be made with any hope of approximate accuracy.

thì bản chất chân thực hay “gia đình” của bất kỳ cơ thể sống nào như vậy phải được xác định trước khi có thể đưa ra những tuyên bố về chu kỳ với bất kỳ hy vọng nào về độ chính xác gần đúng.

231. To which particular “central heart” does any B/being respond? This must be ascertained, along with the rhythm of the “beat” of that “central heart”.

231. Bất kỳ Hữu thể/hữu thể nào đáp ứng với “trái tim trung tâm” đặc thù nào? Điều này phải được xác định, cùng với nhịp điệu của “nhịp đập” của “trái tim trung tâm” ấy.

232. All cyclic pronouncement must be based upon the ascertainment of a fundamental frequency or beat. This differs for each B/being.

232. Mọi tuyên bố theo chu kỳ đều phải dựa trên sự xác định một tần số hay nhịp đập căn bản. Điều này khác nhau đối với mỗi B/sự sống.

233. Another way of saying this is that our knowledge of ray cycles is, thus far, scant. We may know something about ray cycles as presented in EP I, 26, but how can we generalize about the starting or ending points of vaster and vaster ray cycles (even though they may be based upon expansions or reductions of the same numbers found in the lesser ones)? For instance, while we may know that the 500 year cycle of the second ray began in 1575 AD, how do we know the starting point of a 5000 year or 50,000 year, or 500,000 year ray cycle also related to the second ray?

233. Một cách khác để nói điều này là: cho đến nay, tri thức của chúng ta về các chu kỳ cung vẫn còn ít ỏi. Chúng ta có thể biết đôi điều về các chu kỳ cung như được trình bày trong EP I, 26, nhưng làm sao chúng ta có thể khái quát hóa về những điểm khởi đầu hay kết thúc của các chu kỳ cung ngày càng lớn hơn nữa (dù chúng có thể dựa trên sự mở rộng hay thu giảm của cùng những con số được tìm thấy trong các chu kỳ nhỏ hơn)? Chẳng hạn, trong khi chúng ta có thể biết rằng chu kỳ 500 năm của cung hai bắt đầu vào năm 1575 SCN, thì làm sao chúng ta biết được điểm khởi đầu của một chu kỳ cung 5.000 năm, hay 50.000 năm, hay 500.000 năm cũng liên hệ với cung hai?

This was why H.P.B. sought to emphasise the need of studying the "astral family" and occult heredity of any person, for in the astral is to be found the clue to the "egoic family or group."

Đó là lý do vì sao H.P.B. đã tìm cách nhấn mạnh nhu cầu phải nghiên cứu “gia đình cảm dục” và di truyền huyền bí của bất kỳ người nào, vì trong cõi cảm dục có thể tìm thấy đầu mối dẫn đến “gia đình hay nhóm chân ngã”.”

234. The astral body reflects the egoic body, just as the lower mind reflects the monadic nature.

234. Thể cảm dục phản chiếu thể chân ngã, cũng như hạ trí phản chiếu bản chất chân thần.

235. Once the “egoic family or group” is ascertained, something about the ray cycle to which that family responds may be known. Incarnation, we realize, is not strictly an individual matter. Egoic groups incarnate together.

235. Một khi “gia đình hay nhóm chân ngã” được xác định, thì có thể biết được đôi điều về chu kỳ cung mà gia đình ấy đáp ứng. Chúng ta nhận ra rằng sự nhập thể không hoàn toàn là một vấn đề cá nhân. Các nhóm chân ngã cùng nhập thể với nhau.