← Commentary_S7_733_747

TCF 817-822: S7S7 Part I

Trích nội dung chương

c. A “devotion” (note this) to the work of bringing about a domination of the lunar lords through the radiant control of the "solar Lord" c. Một sự “sùng tín” (hãy lưu ý điều này) đối với công việc đem lại sự thống trị các nguyệt tinh quân thông qua sự kiểm soát rạng ngời của “nhật tinh quân”


c. A “devotion” (note this) to the work of bringing about a domination of the lunar lords through the radiant control of the "solar Lord"

c. Một sự “sùng tín” (hãy lưu ý điều này) đối với công việc đem lại sự thống trị các nguyệt tinh quân thông qua sự kiểm soát rạng ngời của “nhật tinh quân”

198. We might say that the mystical approach is an ‘art’ and the occult approach, a ‘science’, but, truly, there will be many opportunities for overlap and the mutual supplementation of parallel methods.

198. Chúng ta có thể nói rằng tiếp cận thần bí là một ‘nghệ thuật’ và tiếp cận huyền bí học là một ‘khoa học’, nhưng thật ra sẽ có nhiều cơ hội chồng lấn và bổ sung lẫn nhau giữa các phương pháp song hành.

It is the method of studying the constitution of those entities who form the [Page 816] fourfold lower nature, the personality, and a close investigation of those divine Essences Who build the body of the Ego or higher self.

Đó là phương pháp nghiên cứu cấu tạo của những thực thể tạo thành [Page 816] bản chất thấp tứ phân, phàm ngã, và sự khảo sát chặt chẽ những Tinh Chất thiêng liêng xây dựng thể của chân ngã hay chân ngã cao hơn.

199. A close study of the entities which constitute and underlie the vehicles of man is undertaken. The matter of form and its function is of considerable importance.

199. Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng về những thực thể cấu thành và làm nền cho các vận cụ của con người được tiến hành. Vấn đề hình tướng và chức năng của nó có tầm quan trọng đáng kể.

200. We note that the lunar lords are called “entities”, and the Agnishvattas “Essences”—“divine Essences”. Since the word “Essences” seems to be deliberately capitalized, something of the spiritual status of the Agnishvattas is conveyed.

200. Chúng ta lưu ý rằng các nguyệt tinh quân được gọi là “những thực thể”, còn các Agnishvatta được gọi là “Tinh Chất”—“Tinh Chất thiêng liêng”. Vì từ “Tinh Chất” dường như được viết hoa một cách có chủ ý, nên phần nào địa vị tinh thần của các Agnishvatta được truyền đạt.

201. Again, we seem to have a plural to consider, indicating that the egoic body of the human being is built by a number of “divine Essences”—perhaps, a number of Solar Angels Who function in close cooperation with each other. Perhaps each of them may be considered an emanation of a greater and presiding Solar Angel.

201. Một lần nữa, dường như chúng ta phải xét đến một dạng số nhiều, cho thấy rằng thể chân ngã của con người được xây dựng bởi một số “Tinh Chất thiêng liêng”—có lẽ là một số Thái dương Thiên Thần hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với nhau. Có lẽ mỗi vị trong số họ có thể được xem là một phát xạ của một Thái dương Thiên Thần lớn hơn và chủ trì.

To this must be added a severe application of the laws of nature to the individual problem.

Vào đó phải thêm sự áp dụng nghiêm khắc các định luật của bản chất vào vấn đề cá nhân.

202. The laws of nature relate to the third aspect of divinity. Presumably, the application of the Laws of the Soul must also be applied though the foundational laws of nature cannot be ignored.

202. Các định luật của bản chất liên hệ đến phương diện thứ ba của thiên tính. Có lẽ các Định luật của Linh hồn cũng phải được áp dụng, dù các định luật nền tảng của bản chất không thể bị bỏ qua.

203. We simply must not gloss over the word “severe” which appears, not only in this context, but in the text discussing the approach of the mystic. Master DK is not given to overstatement, so when He uses a term like “severe” it should alert us to the demands of occult and mystical attainment.

203. Chúng ta tuyệt đối không được lướt qua từ “nghiêm khắc”, từ này xuất hiện không chỉ trong ngữ cảnh này mà còn trong đoạn văn bàn về tiếp cận của nhà thần bí. Chân sư DK không có thói quen cường điệu, vì thế khi Ngài dùng một thuật ngữ như “nghiêm khắc”, điều đó phải cảnh báo chúng ta về những đòi hỏi của thành tựu huyền bí học và thần bí.

What is proposed in this Treatise is to follow the latter method, as the aim is to make clear the rationale of the process.

Điều được đề xuất trong Luận này là theo phương pháp sau, vì mục tiêu là làm sáng tỏ cơ sở hợp lý của tiến trình.

204. A Treatise on Cosmic Fire is a book which sets forth a decidedly occult perspective and offers, for the sincere student, tried and true methods of occult practice.

204. Luận về Lửa Vũ Trụ là một cuốn sách trình bày một quan điểm rõ rệt huyền bí học và cống hiến, cho đạo sinh chân thành, những phương pháp thực hành huyền bí học đã được thử nghiệm và xác thực.

205. The earnest and persistent student of this book will have been a sincere mystic in earlier times. Such a student will have little more to learn from the strictly mystical approach, but much to learn from the Science of Occultism. Through a close study of A Treatise on Cosmic Fire he has the opportunity to learn that approach in considerable detail.

205. Đạo sinh nghiêm túc và kiên trì của cuốn sách này hẳn đã từng là một nhà thần bí chân thành trong những thời kỳ trước. Một đạo sinh như vậy sẽ không còn nhiều điều để học từ tiếp cận thuần thần bí, nhưng còn nhiều điều để học từ Khoa Học Huyền Bí Học. Qua việc nghiên cứu kỹ Luận về Lửa Vũ Trụ, y có cơ hội học tiếp cận ấy một cách khá chi tiết.

TCF 817-822: S7S7 Part I

Part I

Phần I

19 June – 3 Jul 2008

19 tháng 6 – 3 tháng 7 năm 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.

1. During the past year seven classes have been given exclusively on the subject of the egoic lotus. This material is being worked into a book, and so what is said below will be an indicative rather than exhaustive treatment of the subject.

1. Trong năm qua đã có bảy lớp học được dành riêng cho chủ đề Hoa Sen Chân Ngã. Tài liệu này đang được biên soạn thành một quyển sách, vì thế những gì được nói dưới đây sẽ là một cách xử lý có tính chỉ dẫn hơn là bao quát trọn vẹn chủ đề.

2. When looking in the Commentaries to round out our consideration of the subject, the Commentary for S5S9 deals with the subject of the egoic lotus extensively.

2. Khi xem trong các phần Bình Luận để hoàn chỉnh việc khảo cứu của chúng ta về chủ đề này, phần Bình Luận cho S5S9 bàn đến chủ đề Hoa Sen Chân Ngã một cách rộng rãi.

(b) The evolution of the petals.

(b) Sự tiến hoá của các cánh hoa.

The building of the causal body is the result of dual energy, that of the lower self with its reflex action upon the higher unit,

Việc kiến tạo thể nguyên nhân là kết quả của năng lượng kép, năng lượng của phàm ngã với tác động phản chiếu của nó lên đơn vị cao hơn,

3. The ”higher unit”, in this case, is the egoic lotus which, in itself, is an integral unity. That which occurs ‘below’ is registered ‘above’. Every worthy thought, feeling or action goes automatically to the building the causal body.

3. “Đơn vị cao hơn”, trong trường hợp này, là Hoa Sen Chân Ngã, vốn tự nó là một hợp nhất toàn vẹn. Điều gì xảy ra “bên dưới” đều được ghi nhận “bên trên”. Mọi tư tưởng, cảm xúc hay hành động xứng đáng đều tự động góp phần xây dựng thể nguyên nhân.

and that of the natural energy of the self as it makes its direct impress upon the substance of the egoic lotus.

và năng lượng tự nhiên của bản ngã khi nó tạo ấn tượng trực tiếp lên chất liệu của Hoa Sen Chân Ngã.

4. The “self” is other than the substance of the egoic lotus. The true Self is the Monad and it has an ‘extension-in-presence’ into the egoic lotus (as the Jewel in the Lotus) and, for that matter, into all the vehicles of the personality.

4. “Bản ngã” là cái khác với chất liệu của Hoa Sen Chân Ngã. Chân Ngã đích thực là chân thần và nó có một “sự mở-rộng-trong-hiện-diện” vào trong Hoa Sen Chân Ngã (như Viên Ngọc trong Hoa Sen) và, xét rộng ra, vào trong mọi vận cụ của phàm ngã.

5. It is important to remember that the causal body is a sheath for the true Ego and the Ego is an expression of the EGO or the Self (Monad).

5. Điều quan trọng là phải nhớ rằng thể nguyên nhân là một vỏ bọc cho chân ngã đích thực và chân ngã là một biểu hiện của CHÂN NGÃ hay Bản Ngã (chân thần).

6. We cannot assume that every time we see the word “EGO” in full capitals it means the Monad, but that would be a good way of representing our highest center.

6. Chúng ta không thể giả định rằng mỗi khi thấy từ “EGO” viết toàn chữ hoa thì nó đều có nghĩa là chân thần, nhưng đó sẽ là một cách tốt để biểu thị trung tâm cao nhất của chúng ta.

It should here be remembered that, subtle though the material may be, the egoic lotus is as truly substance of a particular vibration as is the physical body,

Ở đây cần nhớ rằng, dù chất liệu có vi tế đến đâu, Hoa Sen Chân Ngã cũng thật sự là chất liệu của một rung động đặc thù chẳng khác gì thể xác,

7. The relative physicality of the egoic lotus is to be remembered. Compared with the matter of the cosmic ethers, it is very tangible (in fact, physical—from the solar logoic perspective).

7. Cần ghi nhớ tính chất tương đối hồng trần của Hoa Sen Chân Ngã. So với vật chất của các dĩ thái vũ trụ, nó rất hữu hình (thật ra là hồng trần—từ quan điểm của Thái dương Thượng đế).

only (owing to its rarity) physical plane man regards it practically as nonsubstantial.

chỉ vì con người cõi hồng trần (do tính hiếm của nó) mới xem nó trên thực tế là phi chất thể.

8. “Practically” as nonsubstantial, but not entirely so. The deeper the human being penetrates into the world of occult energies, the more tangible the causal body seems.

8. “Trên thực tế” là phi chất thể, nhưng không phải hoàn toàn như vậy. Con người càng thâm nhập sâu vào thế giới của các năng lượng huyền bí, thể nguyên nhân càng có vẻ hữu hình hơn.

It is in fact,

Thật ra, nó là,

9. We are speaking of the causal body or egoic lotus…

9. Chúng ta đang nói về thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã…

as earlier pointed out, the result of the dual vibration of the fivefold Dhyanis or Gods in conjunction with the fourfold Quaternary, or the Pitris of the lower vehicles.

như đã chỉ ra trước đây, kết quả của rung động kép của năm vị Dhyanis hay các Thượng đế kết hợp với Bộ Tứ tứ phân, hay các tổ phụ của các vận cụ thấp.

10. The “fivefold Dhyanis” are the Solar Angels. Their status is very high relative to man’s, or they would not be called “Gods”.

10. “Năm vị Dhyanis” là các Thái dương Thiên Thần. Địa vị của các Ngài rất cao so với con người, nếu không thì các Ngài đã không được gọi là “các Thượng đế”.

11. The Dhyanis or Gods are also Pitris, but Solar Pitris. The Pitris of the “fourfold Quaternary” are lunar pitris.

11. Các Dhyanis hay các Thượng đế cũng là các tổ phụ, nhưng là các thái dương tổ phụ. Các tổ phụ của “Bộ Tứ tứ phân” là các thái âm tổ phụ.

12. It must be evident that something other than man’s higher Ego is at work in the creation of the causal body. Man, per se, does not create the causal body of egoic lotus. If he were capable of doing so, there would be no need for the divine intervention of the Solar Angels.

12. Hiển nhiên phải thấy rằng có một điều gì khác ngoài chân ngã cao hơn của con người đang hoạt động trong việc tạo ra thể nguyên nhân. Chính con người không tạo ra thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. Nếu y có khả năng làm như vậy, thì đã không cần đến sự can thiệp thiêng liêng của các Thái dương Thiên Thần.

Through a conscious effort of the planetary Logoi, these Dhyanis and lower Pitris are brought into a close relationship.

Qua một nỗ lực có ý thức của các Các Thượng đế hành tinh, các Dhyanis này và các tổ phụ thấp được đưa vào một mối liên hệ mật thiết.

13. The Solar Angels, “Gods” or Dhyanis do not, of their own volition only, decide to enter into close relationship with the lunar pitris. A Planetary Logos is the deeper cause of such a union. It is the will of a Planetary Logos that the two orders of Pitris enter into cooperation.

13. Các Thái dương Thiên Thần, “các Thượng đế” hay các Dhyanis không chỉ do ý chí riêng của các Ngài mà quyết định đi vào mối liên hệ mật thiết với các thái âm tổ phụ. Một Hành Tinh Thượng Đế là nguyên nhân sâu xa hơn của sự kết hợp ấy. Chính ý chí của một Hành Tinh Thượng Đế khiến hai cấp tổ phụ đi vào hợp tác.

This produces (upon the third subplane of the mental plane) a ninefold vibration or whorl in the gaseous matter of the plane—

Điều này tạo ra (trên cõi phụ thứ ba của cõi trí) một rung động hay xoáy lực cửu phân trong vật chất thể khí của cõi ấy—

14. We see that the ninefold vibration is the result of the union of the five and the four vibrations.

14. Chúng ta thấy rằng rung động cửu phân là kết quả của sự hợp nhất giữa năm rung động và bốn rung động.

15. Of the nine usual vibrations within the egoic lotus, we may infer that five of them are solar and four of them are more closely related to the lunar pitris. This would discriminate the modus operandi of the first four petals from that of the latter five.

15. Trong chín rung động thông thường bên trong Hoa Sen Chân Ngã, chúng ta có thể suy ra rằng năm trong số đó là thái dương và bốn rung động kia liên hệ mật thiết hơn với các thái âm tổ phụ. Điều này sẽ phân biệt phương thức hoạt động của bốn cánh hoa đầu với năm cánh hoa sau.

16. In this instance, the terms “vibration” and “whorl” are equivalent.

16. Trong trường hợp này, các thuật ngữ “rung động” và “xoáy lực” là tương đương.

17. Below, we are not speaking of the third systemic subplane as “gaseous” but of the entire mental plane.

17. Ở dưới đây, chúng ta không nói về cõi phụ thứ ba của hệ thống như là “thể khí” mà nói về toàn bộ cõi trí.

for this is the cosmic gaseous subplane—which, after a certain period of persistence, assumes the form of a nine-petalled lotus.

vì đây là cõi phụ thể khí vũ trụ—cõi mà, sau một thời kỳ tồn tại nhất định, mang hình thức của một hoa sen chín cánh.

18. The form of the egoic lotus does not appear immediately. The vibrations or whorls must first assume the form of petals.

18. Hình thức của Hoa Sen Chân Ngã không xuất hiện ngay lập tức. Trước hết các rung động hay xoáy lực phải mang hình thức của các cánh hoa.

19. What is the duration of this “certain period of persistence”? Of that we can hardly be certain. The stage of “lotus in bud” is probably the period of which we are speaking—before the appearance of the form of petals.

19. “Thời kỳ tồn tại nhất định” này kéo dài bao lâu? Chúng ta khó có thể chắc chắn về điều đó. Giai đoạn “hoa sen còn nụ” có lẽ là thời kỳ mà chúng ta đang nói đến—trước khi hình thức các cánh hoa xuất hiện.

This lotus is folded over in bud shape upon the central point, or heart of the lotus—that spark of electric fire

Hoa sen này khép lại trong hình nụ quanh điểm trung tâm, hay trái tim của hoa sen—tia lửa của Lửa Điện ấy

20. Let us seek to understand some of the different names (gathered above and from other sections of text) for the center of the lotus:

20. Chúng ta hãy tìm cách hiểu một số tên gọi khác nhau (được tập hợp ở trên và từ các phần khác của văn bản) dành cho trung tâm của hoa sen:

a. The central point

a. Điểm trung tâm

b. The “heart of the lotus”

b. “Trái tim của hoa sen”

c. The spark of electric fire

c. Tia lửa của Lửa Điện

d. The Jewel in the Lotus

d. Viên Ngọc trong Hoa Sen

e. The central flame

e. Ngọn lửa trung tâm

f. The central energy (appearing later in text)

f. Năng lượng trung tâm (xuất hiện về sau trong văn bản)

g. The “dynamo of force” (appearing later in text)

g. “Máy phát lực” (xuất hiện về sau trong văn bản)

h. The “generator of activity” (appearing later in text)

h. “Nguồn phát sinh mọi hoạt động” (xuất hiện về sau trong văn bản)

i. A “central unit of force” (appearing later in text)

i. “Một đơn vị lực trung tâm” (xuất hiện về sau trong văn bản)

21. In all cases this central energy represents the Spirit (the Monad), as that Spirit expresses itself within its “heart center”, the egoic lotus

21. Trong mọi trường hợp, năng lượng trung tâm này biểu thị Tinh thần (chân thần), khi Tinh thần ấy biểu lộ chính nó bên trong “trung tâm tim” của nó, tức Hoa Sen Chân Ngã

22. The evolution of form and consciousness is out-pictured through the unfolding of the lotus.

22. Sự tiến hoá của hình tướng và tâm thức được biểu hiện ra ngoài qua sự khai mở của hoa sen.

which by its [i.e., the spark of electric fire] action or innate vitality working upon the substance of the lotus, attracts to itself sufficient of that substance [of the higher mental plane] to form three inner petals, which closely shield the central spark; these are nevertheless of the same substance or essence as the nine other petals.

mà bằng [tức là tia lửa của Lửa Điện] tác động hay sinh lực bẩm sinh của nó hoạt động trên chất liệu của hoa sen, hút về phía nó đủ chất liệu ấy [của Cõi thượng trí] để tạo thành ba cánh hoa bên trong, che chở sát sao tia lửa trung tâm; tuy vậy, các cánh hoa này vẫn cùng một chất liệu hay tinh chất như chín cánh hoa kia.

23. This is a most important little section of text. Elsewhere we have learned that the three innermost petals, the petals of synthesis, are formed (in pat, at least) under buddhic influence:

23. Đây là một đoạn văn ngắn cực kỳ quan trọng. Ở nơi khác chúng ta đã học rằng ba cánh hoa trong cùng nhất, tức các cánh hoa tổng hợp, được hình thành (ít nhất là một phần) dưới ảnh hưởng Bồ đề:

A downflow of buddhi takes place along the line of the manasic triangle until it reaches a point at the very centre of the lotus. There, by the power of its own vibration, it causes a change in the appearance of the lotus. At the very heart of the lotus, three more petals appear which close in on the central flame, covering it closely, and remaining closed until the time comes for the revelation of the "jewel in the Lotus." (TCF 709)

Một dòng tuôn đổ của Bồ đề diễn ra dọc theo đường của tam giác manas cho đến khi nó đạt tới một điểm ngay tại trung tâm của hoa sen. Tại đó, bằng quyền năng của chính rung động của nó, nó gây ra một sự thay đổi trong sắc tướng của hoa sen. Ngay nơi trái tim của hoa sen, ba cánh hoa nữa xuất hiện, khép lại quanh ngọn lửa trung tâm, che phủ nó sát sao, và vẫn khép kín cho đến khi thời điểm đến cho sự mặc khải của "Viên Ngọc trong Hoa Sen." (TCF 709)

24. In the section of text we are now considering, we receive an additional hint concerning the formation of the innermost, or synthesis petals. Even though they might be formed under the impulse of buddhi (as buddhi impacts the very center of the lotus), these innermost petals are formed of the same substance or essence as the other nine petals.

24. Trong phần văn bản mà hiện nay chúng ta đang khảo cứu, chúng ta nhận được một gợi ý bổ sung liên quan đến sự hình thành của các cánh hoa trong cùng nhất, hay các cánh hoa tổng hợp. Dù chúng có thể được hình thành dưới xung lực của Bồ đề (khi Bồ đề tác động vào chính trung tâm của hoa sen), các cánh hoa trong cùng nhất này vẫn được tạo thành từ cùng một chất liệu hay tinh chất như chín cánh hoa kia.

25. Sometimes it is advisable to remember that, as so often presented, there is no great difference between “substance” and “essence”. “Devic substance” is sometimes called “devic essence” and devas are frequently called “essences”.

25. Đôi khi nên nhớ rằng, như thường được trình bày, không có khác biệt lớn giữa “chất liệu” và “tinh chất”. “Chất liệu thiên thần” đôi khi được gọi là “tinh chất thiên thần” và các thiên thần thường được gọi là các “tinh chất”.

26. It is the innate vitality of the “spark of electric fire” which attracts from the substance of the higher mental plane sufficient material for the formation of the innermost petals.

26. Chính sinh lực bẩm sinh của “tia lửa của Lửa Điện” hút từ chất liệu của Cõi thượng trí đủ vật liệu để hình thành các cánh hoa trong cùng nhất.

27. We do not know from what subplane such substance is attracted, but we may infer that (at first at least) the subplane is the third. We may also gather that the substance of the petals changes subplane as the egoic lotus as a whole ‘move up’—i.e., refocuses upon the second subplane.

27. Chúng ta không biết chất liệu ấy được hút từ cõi phụ nào, nhưng có thể suy ra rằng (ít nhất lúc đầu) đó là cõi phụ thứ ba. Chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng chất liệu của các cánh hoa thay đổi cõi phụ khi toàn bộ Hoa Sen Chân Ngã “đi lên”—tức là tái tập trung trên cõi phụ thứ hai.

28. The final three petals, however, would not be formed without the buddhic stimulation conveyed to the manasic permanent atom and the central point.

28. Tuy nhiên, ba cánh hoa cuối cùng sẽ không được hình thành nếu không có sự kích thích Bồ đề được truyền đến nguyên tử trường tồn manas và điểm trung tâm.

29. We should note carefully the phrase “spark of electric fire” as it seems to suggest not only the Jewel in the Lotus (which at this stage of egoic-lotus development, may be more in process of formation than formed) but also the Monad, itself. The true “Jewel” is the Monad, and the Jewel in the Lotus is only a representation within the lotus of the true “Jewel” of Spirit.

29. Chúng ta nên lưu ý cẩn thận cụm từ “tia lửa của Lửa Điện” vì dường như nó không chỉ gợi đến Viên Ngọc trong Hoa Sen (vào giai đoạn phát triển này của Hoa Sen Chân Ngã, có thể đang trong tiến trình hình thành hơn là đã hình thành) mà còn gợi đến chính chân thần. “Viên Ngọc” đích thực là chân thần, và Viên Ngọc trong Hoa Sen chỉ là một biểu tượng bên trong hoa sen của “Viên Ngọc” đích thực của Tinh thần.

This identification does not concern the form nor the soul but only the spiritual point of positive life which in the human unit we call the "Jewel in the Lotus." It should be remembered in this connection that there is a jewel at the heart of every atom. Every jewel has seven facets which are the seven doorways to the seven Paths (TCF 1245)

Sự đồng hoá này không liên quan đến hình tướng cũng không liên quan đến linh hồn mà chỉ liên quan đến điểm tinh thần của sự sống dương tính mà trong đơn vị nhân loại chúng ta gọi là "Viên Ngọc trong Hoa Sen." Cần nhớ trong mối liên hệ này rằng có một viên ngọc ở trái tim của mỗi nguyên tử. Mỗi viên ngọc có bảy mặt, là bảy cửa ngõ dẫn đến bảy Con Đường (TCF 1245)

30. The following chart, Chart VIII, is one of the most useful in A Treatise on Cosmic Fire—useful, especially, for understanding the nature of man.

30. Biểu đồ sau đây, Biểu đồ VIII, là một trong những biểu đồ hữu ích nhất trong Luận về Lửa Vũ Trụ—đặc biệt hữu ích cho việc hiểu bản chất của con người.

[Page 817]

[Page 817]

CHART VIII—THE EGOIC LOTUS AND THE CENTRES

BIỂU ĐỒ VIII—HOA SEN CHÂN NGÃ VÀ CÁC TRUNG TÂM

31. One could write extensively about this Chart, but perhaps it will serve just to draw attention to a few of the main features which should be noticed.

31. Người ta có thể viết rất nhiều về Biểu đồ này, nhưng có lẽ chỉ cần lưu ý đến một vài đặc điểm chính cần được chú ý.

a. The Monad is threefold and is reflected in the spiritual triad.

a. Chân thần là tam phân và được phản chiếu trong Tam Nguyên Tinh Thần.

b. For man, the Monad is the supreme ‘Higher Triad’.

b. Đối với con người, chân thần là “Tam Nguyên Cao Hơn” tối thượng.

c. The monadic triangle seems to span the entire monadic plane with the two faculties of Wisdom and Activity drawn on the lowest monadic subplane.

c. Tam giác chân thần dường như trải rộng trên toàn bộ cõi chân thần với hai năng lực Minh triết và Hoạt động được vẽ trên cõi phụ chân thần thấp nhất.

d. The “heart of the Monad”(i.e., the center of the egoic lotus) receives a direct line of communication from the Monad.

d. “Trái tim của chân thần” (tức trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã) nhận một đường giao tiếp trực tiếp từ chân thần.

e. The highest subplane of the mental plane is called “the Plane of the Ego; the Solar Angel”. We must ask whether this highest subplane has a particular connection to the major Solar Angel involved in the manifestation of the egoic lotus. We have often searched for the true plane of the soul, and the true plane of the Solar Angel. Are we being given a hint?

e. Cõi phụ cao nhất của cõi trí được gọi là “Cõi của Chân ngã; Thái dương Thiên Thần”. Chúng ta phải tự hỏi liệu cõi phụ cao nhất này có một liên hệ đặc biệt nào với Thái dương Thiên Thần chính yếu tham gia vào sự biểu hiện của Hoa Sen Chân Ngã hay không. Chúng ta thường tìm kiếm cõi thực sự của linh hồn, và cõi thực sự của Thái dương Thiên Thần. Phải chăng ở đây chúng ta đang được cho một gợi ý?

f. It appears that the third subplane of the mental plane is identified with “The Egoic Lotus; the Soul; the Causal Body”. Yet, for advanced man, the egoic lotus is focussed on the second subplane.

f. Có vẻ như cõi phụ thứ ba của cõi trí được đồng nhất với “Hoa Sen Chân Ngã; linh hồn; thể nguyên nhân”. Tuy nhiên, đối với con người tiến hoá cao, Hoa Sen Chân Ngã được tập trung trên cõi phụ thứ hai.

g. If we consider the wording related to the first subplane and that related to the second, is there a significant difference? It seems that the “Ego”, per se, is found upon the first subplane and the egoic lotus or causal body upon the third. The first is an identity; the second is a vehicle.

g. Nếu chúng ta xét cách diễn đạt liên quan đến cõi phụ thứ nhất và cách diễn đạt liên quan đến cõi phụ thứ hai, có sự khác biệt đáng kể nào không? Có vẻ như chính “Chân ngã” được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất và Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ ba. Cái thứ nhất là một bản sắc; cái thứ hai là một vận cụ.

h. Another point which has often been brought forward is the suggestion that not all chakras are found upon the fourth ether of the etheric-physical plane and the astral plane. The head, heart and throat centers are found on the first, second and third subplanes, respectively. The remaining chakras (excluding the ajna center—which may be ‘mobile’, as one could convincingly connect its function with all the four etheric subplanes) are all found upon the fourth subplane, with the spleen introduced here, even though it is not a major chakra.

h. Một điểm khác thường được nêu ra là gợi ý rằng không phải mọi luân xa đều được tìm thấy trên dĩ thái thứ tư của cõi dĩ thái-hồng trần và cõi cảm dục. Các trung tâm đầu, tim và cổ họng lần lượt được tìm thấy trên các cõi phụ thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Các luân xa còn lại (không kể trung tâm ajna—có thể là “linh động”, vì người ta có thể nối chức năng của nó một cách thuyết phục với cả bốn cõi phụ dĩ thái) đều được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư, với luân xa lá lách được đưa vào đây, dù nó không phải là một luân xa chính.

i. The reason the subplane location of the chakras is important is that this pattern of location may tell us something about the location of the chakras of our Planetary Logos and those of the Solar Logos.

i. Lý do vị trí cõi phụ của các luân xa là quan trọng là vì mô hình vị trí này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về vị trí của các luân xa của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và của Thái dương Thượng đế.

j. We cannot be sure about the vibrational ‘location’ of the three sets of petals of the egoic lotus. It would seem that all three petals are located on whatever mental subplane may be the focus of the soul—ostensibly the third or the second. We may gather this because all the nine whorls in the bud lotus are originally found upon the third subplane. The inference is that when the lotus ‘moves’ or is ‘moved’ to the second subplane, all parts of the lotus including the Jewel in the Lotus move or are moved as well. This may well be the case, but we do not know to what extent the first subplane of the mental plane is ‘out of bounds’ for the egoic lotus or aspects of it, such as the “Jewel”. This has yet to be determined, even though the probability is that the egoic lotus ends its career as an integrated structure on the second subplane.

j. Chúng ta không thể chắc chắn về “vị trí” rung động của ba bộ cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Có vẻ như cả ba bộ cánh hoa đều nằm trên bất cứ cõi phụ trí tuệ nào có thể là tiêu điểm của linh hồn—bề ngoài là cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai. Chúng ta có thể suy ra điều này vì cả chín xoáy lực trong hoa sen nụ ban đầu đều được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba. Suy luận là khi hoa sen “di chuyển” hay được “di chuyển” lên cõi phụ thứ hai, thì mọi phần của hoa sen, kể cả Viên Ngọc trong Hoa Sen, cũng di chuyển hay được di chuyển theo. Điều này rất có thể là như vậy, nhưng chúng ta không biết đến mức nào cõi phụ thứ nhất của cõi trí là “ngoài giới hạn” đối với Hoa Sen Chân Ngã hay các phương diện của nó, chẳng hạn như “Viên Ngọc”. Điều này vẫn còn phải được xác định, dù khả năng lớn là Hoa Sen Chân Ngã kết thúc sự nghiệp của nó như một cấu trúc tích hợp trên cõi phụ thứ hai.

The student must be careful not to materialise his concept too much and it might therefore be wise for him to view [Page 818] this manifestation from other angles and employ other terms to express the same idea.

Đạo sinh phải cẩn thận đừng hiện hình khái niệm của mình quá mức và vì vậy có lẽ sẽ khôn ngoan nếu y nhìn [Page 818] sự biểu hiện này từ những góc độ khác và dùng những thuật ngữ khác để diễn đạt cùng một ý tưởng.

32. DK is watchful lest we use certain words which are unsuitable in our attempt to convey the true reality of the energy structure of the egoic lotus.

32. Chân sư DK cảnh giác để chúng ta không dùng một số từ ngữ không thích hợp trong nỗ lực truyền đạt thực tại chân chính của cấu trúc năng lượng của Hoa Sen Chân Ngã.

33. To materialize a concept is to prevent the apprehension of truth.

33. Hiện hình một khái niệm là ngăn cản sự nắm bắt chân lý.

For instance, the body of the Ego may be viewed in the following four ways:

Chẳng hạn, thể của chân ngã có thể được nhìn theo bốn cách sau đây:

34. The information presented here should be combined with that offered in IHS on the manner in which the Solar Angel is ‘seen’ by the candidate during the initiation ceremony.

34. Thông tin được trình bày ở đây nên được kết hợp với thông tin được đưa ra trong IHS về cách Thái dương Thiên Thần được ứng viên “nhìn thấy” trong nghi lễ điểm đạo.

35. DK speaks of vibration, petals, spokes and types.

35. Chân sư DK nói về rung động, cánh hoa, nan hoa và các loại.

As nine vibrations, emanating from a central point, which, in its pulsation or radiations produces three major vibrations of great force pursuing a circular activity around the centre;

Như chín rung động, phát ra từ một điểm trung tâm, mà trong sự rung nhịp hay các phát xạ của nó tạo ra ba rung động chính có mãnh lực lớn vận hành theo vòng tròn quanh trung tâm;

36. The three tiers of petals are to be considered “three major vibrations of great force pursuing a circular activity around the centre.”

36. Ba tầng cánh hoa phải được xem là “ba rung động chính có mãnh lực lớn vận hành theo vòng tròn quanh trung tâm.”

37. It is the pulsations of the central point which produce the three major vibrations pursuing their circular activity around the center.

37. Chính những rung nhịp của điểm trung tâm tạo ra ba rung động chính đang vận hành theo hoạt động vòng tròn quanh trung tâm.

38. There is something about this definition which suggests the first ray.

38. Có điều gì đó trong định nghĩa này gợi đến cung một.

39. The terms “vibrations”, “pulsation” and “radiations” all have a first ray character, as does the term “point”, especially “central point”.

39. Các thuật ngữ “rung động”, “rung nhịp” và “phát xạ” đều mang tính chất cung một, cũng như thuật ngữ “điểm”, đặc biệt là “điểm trung tâm”.

the nine vibrations pursue a diagonal path until they reach the periphery of the egoic sphere of influence. At this point they swing around, thus forming the well-known spheroidal form of the causal body.

chín rung động đi theo một đường chéo cho đến khi chúng đạt tới chu vi của khối cầu ảnh hưởng chân ngã. Tại điểm này chúng xoay vòng lại, nhờ đó tạo thành hình cầu quen thuộc của thể nguyên nhân.

40. This is a most important and technical statement regarding the formation of the causal body.

40. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng và có tính kỹ thuật liên quan đến sự hình thành của thể nguyên nhân.

41. We learn that it is the original nine vibrations which cause the spheroidal form of the causal body.

41. Chúng ta học được rằng chính chín rung động nguyên thủy gây ra hình cầu của thể nguyên nhân.

42. If we think clearly, we will realize that the number nine, as the number of completeness, is closely related to the sphere when understood as the geometric shape representing completeness.

42. Nếu suy nghĩ rõ ràng, chúng ta sẽ nhận ra rằng con số chín, với tư cách là con số của sự hoàn chỉnh, liên hệ mật thiết với khối cầu khi được hiểu như hình dạng hình học biểu thị sự hoàn chỉnh.

43. Can we find a way to relate the number nine to the meaning of the planet Jupiter?

43. Chúng ta có thể tìm ra một cách để liên hệ số chín với ý nghĩa của Sao Mộc không?

As nine petals of a lotus, radiating from a common centre,

Như chín cánh hoa của một hoa sen, toả ra từ một trung tâm chung,

44. It is important to realize that the nine petals all radiate from a common center just as the nine vibrations did.

44. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng cả chín cánh hoa đều toả ra từ một trung tâm chung, cũng như chín rung động đã làm như vậy.

45. When we speak of “petals” we are referencing a form or symbol which suggests the second ray more than the first.

45. Khi nói đến “cánh hoa”, chúng ta đang quy chiếu đến một hình thức hay biểu tượng gợi đến cung hai nhiều hơn cung một.

and hiding within themselves three central petals, which conceal a central point of fire.

và che giấu bên trong chúng ba cánh hoa trung tâm, những cánh hoa che khuất một điểm lửa trung tâm.

46. The three central petals remain hidden until the initiation process begins, and are only fully revealed following the third initiation. The outer nine petals hide the three inner petals.

46. Ba cánh hoa trung tâm vẫn ẩn kín cho đến khi tiến trình điểm đạo bắt đầu, và chỉ được bộc lộ trọn vẹn sau lần điểm đạo thứ ba. Chín cánh hoa bên ngoài che giấu ba cánh hoa bên trong.

47. Philosophically considered, the reality of synthesis is ‘hidden’ within the process of sequential development.

47. Xét về mặt triết học, thực tại của sự tổng hợp được “ẩn giấu” bên trong tiến trình phát triển tuần tự.

48. The phrase “central point of fire” is synonymous with the Jewel in the Lotus.

48. Cụm từ “điểm lửa trung tâm” đồng nghĩa với Viên Ngọc trong Hoa Sen.

The radiations from the tip of each petal are those which cause the illusion of a spheroidal shape.

Các phát xạ từ đầu nhọn của mỗi cánh hoa là những gì gây ra ảo tưởng về một hình cầu.

49. Here we have another important piece of technical information. We must combine it with the statement that the nine vibrations pursue a “diagonal path” towards the periphery of the lotus, swinging around which they reach the periphery of the egoic sphere of influence.

49. Ở đây chúng ta có thêm một mẩu thông tin kỹ thuật quan trọng. Chúng ta phải kết hợp nó với phát biểu rằng chín rung động đi theo một “đường chéo” hướng về chu vi của hoa sen, rồi xoay vòng lại khi chúng đạt tới chu vi của khối cầu ảnh hưởng chân ngã.

50. Interestingly, DK speaks of the “illusion” of the spheroidal shape of the egoic lotus. It seems more a visual phenomenon than a reality in any deeper sense.

50. Điều thú vị là Chân sư DK nói về “ảo tưởng” của hình cầu của Hoa Sen Chân Ngã. Nó dường như là một hiện tượng thị giác hơn là một thực tại theo bất kỳ ý nghĩa sâu xa nào.

As nine spokes of a wheel,

Như chín nan hoa của một bánh xe,

51. This formation suggests the third ray. A wheel turns and is the embodiment of rotary motion.

51. Cấu tạo này gợi đến cung ba. Một bánh xe quay và là hiện thân của chuyển động xoay tròn.

52. The term “spokes” suggests a connection from the center to the periphery, just like the radiations and the diagonal paths. The center is always connected to the periphery of the sphere.

52. Thuật ngữ “nan hoa” gợi ý một sự nối kết từ trung tâm đến chu vi, cũng như các phát xạ và các đường chéo. Trung tâm luôn luôn được nối với chu vi của khối cầu.

converging towards a central hub,

hội tụ về một trục trung tâm,

53. We have here the idea that the lines of force emanate from the periphery and converge towards a central hub, but such a thought is more pictorial than factual. All energy within a sphere must necessarily emanate from a center.

53. Ở đây chúng ta có ý tưởng rằng các đường lực phát ra từ chu vi và hội tụ về một trục trung tâm, nhưng ý tưởng ấy mang tính hình ảnh hơn là thực tế. Mọi năng lượng bên trong một khối cầu tất yếu phải phát ra từ một trung tâm.

54. Yet, when considering the manner in which those conditioned by the third ray pursue development, it is so often from the center to the periphery.

54. Tuy nhiên, khi xét cách những người được cung ba tác động theo đuổi sự phát triển, thì rất thường là từ trung tâm ra chu vi.

which is in itself threefold,

mà tự nó là tam phân,

55. In this case the “central hub” is equivalent to the three synthesis petals surrounding the “Jewel”.

55. Trong trường hợp này “trục trung tâm” tương đương với ba cánh hoa tổng hợp bao quanh “Viên Ngọc”.

56. We see that DK is giving us many different images by means of which we may grasp the nature of this heavenly structure.

56. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang cho chúng ta nhiều hình ảnh khác nhau nhờ đó chúng ta có thể nắm bắt bản chất của cấu trúc thiên thượng này.

and which hides the central energy or dynamo of force—the generator of all the activity.

và che giấu năng lượng trung tâm hay máy phát lực—nguồn phát sinh mọi hoạt động.

57. Here we have additional names for the central factor within the egoic lotus. Each of the various names proposed gives us different insights into the nature of the central energy.

57. Ở đây chúng ta có thêm những tên gọi cho yếu tố trung tâm bên trong Hoa Sen Chân Ngã. Mỗi tên gọi khác nhau được đề xuất đều cho chúng ta những nhận thức khác nhau về bản chất của năng lượng trung tâm.

58. Such words, obviously, suggest the presence and influence of the Monad.

58. Hiển nhiên, những từ ngữ như thế gợi đến sự hiện diện và ảnh hưởng của chân thần.

As nine types of energy which produce definite emanations from a threefold unit, again itself an outgoing from a central unit of force.

Như chín loại năng lượng tạo ra những xuất lộ xác định từ một đơn vị tam phân, mà bản thân nó lại là một sự phát ra từ một đơn vị lực trung tâm.

59. The term “energy” is generic and seems to repeat the general trend expressed in the three previous formulations of the nine.

59. Thuật ngữ “năng lượng” là tổng quát và dường như lặp lại xu hướng chung được diễn tả trong ba công thức trước về chín.

For all purposes, the second definition will be the one of the most use to us in our attempt to picture the constitution, nature, method of development and true evolution of the Ego, functioning in the causal body.

Xét về mọi phương diện, định nghĩa thứ hai sẽ là định nghĩa hữu ích nhất cho chúng ta trong nỗ lực hình dung cấu tạo, bản chất, phương pháp phát triển và sự tiến hoá đích thực của chân ngã, đang hoạt động trong thể nguyên nhân.

60. This second definition is of the nine petals of a lotus.

60. Định nghĩa thứ hai này là về chín cánh hoa của một hoa sen.

61. Since our approach is largely upon the second ray, and since the unfoldment of petals suggest the unfoldment of consciousness, it seems most evocative to use the petal approach.

61. Vì cách tiếp cận của chúng ta phần lớn là theo cung hai, và vì sự khai mở của các cánh hoa gợi đến sự khai mở của tâm thức, nên có vẻ gợi mở nhất là dùng cách tiếp cận bằng cánh hoa.

In terms of fire, the same truths may be expressed as follows, and this should be carefully pondered upon by the student of this Treatise:

Xét theo lửa, những chân lý ấy có thể được diễn đạt như sau, và điều này cần được đạo sinh của bộ Luận này suy ngẫm cẩn thận:

1. Electric fire......Spirit........Will aspect........Jewel in the lotus.

1. Lửa Điện......Tinh thần........Phương diện Ý chí........Viên Ngọc trong hoa sen.

2. Solar fire..........Consciousness.Love aspect....The nine petals.

2. Lửa Thái dương..........Tâm thức.Phương diện Bác ái....Chín cánh hoa.

3. Fire by friction..Substance........Activity aspect..The three permanent atoms.

3. Lửa ma sát..Chất liệu........Phương diện Hoạt động..Ba nguyên tử trường tồn.

62. This is a fundamental division and has been either hinted or discussed in numerous contexts.

62. Đây là một phân chia căn bản và đã được gợi ý hoặc bàn đến trong nhiều bối cảnh.

63. The egoic lotus contains the trinity. It may seem strange to include the members of the atomic triangle in the egoic lotus, but this is the case. We note here that, apparently for convenience, DK calls the three members of the atomic triangle “the three permanent atoms”.

63. Hoa Sen Chân Ngã chứa đựng tam vị. Có thể có vẻ lạ khi bao gồm các thành viên của tam giác nguyên tử trong Hoa Sen Chân Ngã, nhưng đúng là như vậy. Chúng ta lưu ý ở đây rằng, dường như để tiện lợi, Chân sư DK gọi ba thành viên của tam giác nguyên tử là “ba nguyên tử trường tồn”.

64. In a deeper meaning of the term “substance”, we must recognize that both Spirit and Consciousness are substantial.

64. Trong một ý nghĩa sâu hơn của thuật ngữ “chất liệu”, chúng ta phải nhận ra rằng cả Tinh thần lẫn Tâm thức đều là thực chất.

[Page 819]

[Page 819]

In electric fire, the Monad is represented in its threefold nature,

Trong Lửa Điện, chân thần được biểu thị trong bản chất tam phân của nó,

65. The threefold nature of the Monad must not be forgotten.

65. Bản chất tam phân của chân thần không được quên.

66. Is electric fire, itself, to be considered threefold?

66. Bản thân Lửa Điện có phải được xem là tam phân không?

and stands for that type of manifestation which will be brought to its highest stage of development in the next solar system.

và tượng trưng cho loại biểu hiện sẽ được đưa đến giai đoạn phát triển cao nhất của nó trong hệ mặt trời kế tiếp.

67. This does not mean that the type of manifestation under discussion will not be brought to some stage of development in the present solar system.

67. Điều này không có nghĩa là loại biểu hiện đang được bàn đến sẽ không được đưa đến một vài giai đoạn phát triển nào đó trong hệ mặt trời hiện tại.

In solar fire, these solar Pitris in their ninefold formation represent and make possible the unfolding of the consciousness of the Monad through the medium of the Ego in the three worlds of human evolution.

Trong Lửa Thái dương, các thái dương tổ phụ này trong cấu tạo cửu phân của các Ngài biểu thị và làm cho có thể sự khai mở của tâm thức của chân thần qua trung gian của chân ngã trong ba cõi thấp của sự tiến hoá nhân loại.

68. Here we have an excellent summary statement.

68. Ở đây chúng ta có một phát biểu tóm lược rất xuất sắc.

69. The petals of the egoic lotus are definitely formed by a combination of solar pitric essence/substance and the matter of the higher mental plane.

69. Các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã chắc chắn được hình thành bởi sự kết hợp giữa tinh chất/chất liệu thái dương tổ phụ và vật chất của Cõi thượng trí.

70. When DK speaks of the “solar Pitris in their ninefold formation” He is speaking of the forms through which these great beings express. He is not saying that they are form.

70. Khi Chân sư DK nói về “các thái dương tổ phụ trong cấu tạo cửu phân của các Ngài”, Ngài đang nói về những hình tướng qua đó các hữu thể vĩ đại này biểu lộ. Ngài không nói rằng các Ngài là hình tướng.

71. We note here that the Monad does, indeed, have consciousness. Sometimes it is suggested that high beings posses the life aspect but not the consciousness aspect.

71. Chúng ta lưu ý ở đây rằng chân thần quả thật có tâm thức. Đôi khi người ta gợi ý rằng các hữu thể cao cả sở hữu phương diện sự sống nhưng không có phương diện tâm thức.

72. We see that it is not only the consciousness of the Ego which unfolds but the consciousness of the Monad as well.

72. Chúng ta thấy rằng không chỉ tâm thức của chân ngã khai mở mà cả tâm thức của chân thần cũng vậy.

73. The Ego is a “medium” for the Monad—a means of unfolding monadic consciousness or “awareness” as it is sometimes called.

73. Chân ngã là một “trung gian” cho chân thần—một phương tiện để khai mở tâm thức chân thần hay “sự nhận biết” như đôi khi nó được gọi như vậy.

In fire by friction, the lunar Pitris are represented and constitute the lower self, the personality, or those vehicles by means of which the Ego in turn is to acquire experience on the lower planes.

Trong Lửa ma sát, các thái âm tổ phụ được biểu hiện và cấu thành phàm ngã, phàm ngã, hay những vận cụ nhờ đó chân ngã đến lượt mình sẽ thu nhận kinh nghiệm trên các cõi thấp.

74. The personality is more than form. It is, as well, consciousness of a definite type—a type which is a limitation upon the egoic consciousness.

74. Phàm ngã còn hơn cả hình tướng. Nó cũng là tâm thức của một loại xác định—một loại là sự giới hạn đối với tâm thức chân ngã.

75. When the Ego acquires experience on the lower planes, it is not the Solar Angel that is doing so (i.e., acquiring human consciousness). Long ago (in another mahamanvantara we are told) the Solar Angel acquired human experience.

75. Khi chân ngã thu nhận kinh nghiệm trên các cõi thấp, không phải Thái dương Thiên Thần đang làm điều đó (tức là đang thu nhận tâm thức nhân loại). Từ lâu rồi (trong một Đại giai kỳ sinh hóa khác như chúng ta được cho biết) Thái dương Thiên Thần đã thu nhận kinh nghiệm nhân loại.

76. The Ego is man as a higher being. The nature of the Ego includes the conscious presence of the Solar Angel but not its full consciousness.

76. Chân ngã là con người như một hữu thể cao hơn. Bản chất của chân ngã bao gồm sự hiện diện hữu thức của Thái dương Thiên Thần nhưng không bao gồm toàn bộ tâm thức của nó.

Yet these three are one in manifestation within the egoic auric egg, and the interchange of energy and vitality proceeds steadily.

Tuy nhiên ba điều này là một trong biểu hiện bên trong noãn hào quang chân ngã, và sự trao đổi năng lượng cùng sinh lực vẫn tiếpdiễn đều đặn.

77. We have an important statement suggesting that electric fire, solar fire and fire by friction are one—at least “in manifestation within the egoic auric egg”.

77. Chúng ta có một phát biểu quan trọng gợi ý rằng lửa điện, lửa thái dương và lửa ma sát là một—ít nhất là “trong biểu hiện bên trong noãn hào quang chân ngã”.

78. We note that manifestation is not confined to the lowest systemic planes (with the very lowest of the systemic planes usually know as “the plane of manifestation”) but occurs upon the higher mental plane as well, which (as seen from a higher perspective) is a plane of manifestation as well. The egoic body is to spiritual triad what the dense physical body is to the lower mental, astral an etheric-physical vehicles.

78. Chúng ta lưu ý rằng biểu hiện không bị giới hạn trong các cõi thấp nhất của hệ thống (trong đó cõi thấp nhất của hệ thống thường được biết là “cõi biểu hiện”) mà còn xảy ra trên Cõi thượng trí nữa, cõi này (khi được nhìn từ một viễn tượng cao hơn) cũng là một cõi biểu hiện. Thể chân ngã đối với Tam Nguyên Tinh Thần cũng như thể xác đậm đặc đối với các vận cụ hạ trí, cảm dục và dĩ thái-hồng trần.

Spirit uses the Soul, or the Ego, as a vehicle of enlightenment, and the Ego uses the lower Quaternary as its medium of expression.

Tinh thần dùng linh hồn, hay chân ngã, như một vận cụ của giác ngộ, và chân ngã dùng Bộ Tứ thấp làm trung gian biểu lộ của nó.

79. Here the contrast is most interesting. Generically, it is reasonable to think of the Ego as a medium of expression for the Spirit or Monad, but DK is more specific. He tells us the Ego becomes a “vehicle of enlightenment” for the Spirit. Via the Ego, the Monad experiences a growing light within the lower worlds. These lower worlds “come to light” through egoically induced reincarnation.

79. Ở đây sự tương phản thật đáng chú ý. Nói chung, hợp lý khi nghĩ về chân ngã như một trung gian biểu lộ cho tinh thần hay chân thần, nhưng Chân sư DK còn nói cụ thể hơn. Ngài cho chúng ta biết chân ngã trở thành một “vận cụ của giác ngộ” cho tinh thần. Thông qua chân ngã, chân thần kinh nghiệm một ánh sáng ngày càng tăng trong các thế giới thấp. Những thế giới thấp này “được đưa ra ánh sáng” nhờ sự tái sinh do chân ngã gây ra một cách chân ngã.

80. We can understand this contrast between enlightenment and expression by thinking that the Spirit must learn to see (within the world of Soul and the world of personality) and the Ego must learn to act—in the lower three worlds.

80. Chúng ta có thể hiểu sự tương phản này giữa giác ngộ và biểu lộ bằng cách nghĩ rằng tinh thần phải học cách thấy (trong thế giới của linh hồn và thế giới của phàm ngã) còn chân ngã phải học cách hành động—trong ba cõi thấp.

81. The most important function of the Ego is as the Knower. It acts through the power of meditation.

81. Chức năng quan trọng nhất của chân ngã là như thức giả. Nó hành động qua quyền năng của tham thiền.

82. One day the mayavirupic reproduction of the lower quaternary may serve as the means of the Monad to act as well.

82. Một ngày kia sự tái tạo mayavirupa của bộ tứ thấp cũng có thể phục vụ như phương tiện để chân thần hành động nữa.

The evolution of Spirit can really therefore be divided into three stages:

Vì vậy, sự tiến hoá của tinh thần thực sự có thể được chia thành ba giai đoạn:

83. Even in the earliest stages of evolution, it is really the Spirit which is evolving. Every evolution of lower consciousness is really an evolution of Spirit consciousness. Every evolution of lower form it really an evolution of Spirit form.

83. Ngay cả trong những giai đoạn sớm nhất của tiến hoá, thực ra chính tinh thần đang tiến hoá. Mọi sự tiến hoá của tâm thức thấp thực ra là một sự tiến hoá của tâm thức tinh thần. Mọi sự tiến hoá của hình tướng thấp thực ra là một sự tiến hoá của hình tướng tinh thần.

84. Spirit is the great “Common Denominator” in all lower forms of expression.

84. Tinh thần là “Mẫu số chung” vĩ đại trong mọi hình thức biểu lộ thấp hơn.

First. The stage in which the lunar Pitris function primarily, and prepare the lower sheaths for occupancy.

Thứ nhất. Giai đoạn trong đó các thái âm tổ phụ hoạt động chủ yếu, và chuẩn bị các thể vỏ thấp cho sự cư ngụ.

85. The lunar pitris both are and are not the lower sheaths. We recall sections of the book in which the two higher classes of lunar pitris work upon the lower sheaths via the permanent atoms and their spirillae.

85. Các thái âm tổ phụ vừa là vừa không là các thể vỏ thấp. Chúng ta nhớ lại những phần trong sách nơi hai lớp cao hơn của các thái âm tổ phụ pitris làm việc trên các thể vỏ thấp thông qua các nguyên tử trường tồn và các loa tuyến của chúng.

86. The substance of the sheaths, we may recall, is composed of certain relatively negative lives which are somewhat mistakenly called “lunar pitris”.

86. Chúng ta có thể nhớ rằng chất liệu của các thể vỏ được cấu thành bởi một số sự sống tương đối âm tính, phần nào bị gọi nhầm là các “thái âm tổ phụ”.

87. The impending occupancy is of the higher consciousness. The process of soul-infusion is the process by means of which the higher consciousness ‘occupies’ and expresses through the lower vehicles.

87. Sự cư ngụ sắp đến là của tâm thức cao hơn. Tiến trình được linh hồn thấm nhuần là tiến trình nhờ đó tâm thức cao hơn “cư ngụ” và biểu lộ qua các vận cụ thấp.

The lower vibrations control, and "fire by friction" is that which warms and nourishes to the practical exclusion of all else.

Các rung động thấp kiểm soát, và "lửa ma sát" là điều sưởi ấm và nuôi dưỡng, trên thực tế loại trừ hầu như mọi thứ khác.

88. Here is one of the important functions of “fire by friction”. It both “warms” and “nourishes”. This type of fire sustains the self-development of all lower forms of live but not so much their affiliation (soul affiliation) with other groups of lives.

88. Đây là một trong những chức năng quan trọng của “lửa ma sát”. Nó vừa “sưởi ấm” vừa “nuôi dưỡng”. Loại lửa này duy trì sự tự phát triển của mọi hình thức sự sống thấp nhưng không nhiều lắm sự liên kết của chúng (sự liên kết linh hồn) với các nhóm sự sống khác.

89. The warming and nourishing function is directly related to the function of “latent heat”, even more than to “active heat”, for the description of which we may carefully examine the early sections of A Treatise on Cosmic Fire.

89. Chức năng sưởi ấm và nuôi dưỡng liên hệ trực tiếp với chức năng của “nhiệt ẩn”, thậm chí còn hơn với “nhiệt hoạt động”; để mô tả điều này, chúng ta có thể khảo sát cẩn thận những phần đầu của Luận về Lửa Vũ Trụ.

Second. The stage in which the solar Pitris gradually become predominant, in which the egoic consciousness is developed.

Thứ hai. Giai đoạn trong đó các thái dương tổ phụ dần dần trở nên trội hơn, trong đó tâm thức chân ngã được phát triển.

90. There has been a type of consciousness characterizing the human being but it has not been egoic consciousness.

90. Đã có một loại tâm thức đặc trưng cho con người nhưng đó chưa phải là tâm thức chân ngã.

91. We note the plural, “solar Pitris”.

91. Chúng ta lưu ý số nhiều, “thái dương tổ phụs”.

92. The Solar Pitris have been active, in some significant respect, from the first but they have been subservient (in expression, at least) to the lunar lords

92. Các thái dương tổ phụ đã hoạt động, trong một phương diện quan trọng nào đó, ngay từ đầu nhưng chúng đã ở vị thế phụ thuộc (ít nhất là trong biểu lộ) đối với các nguyệt tinh quân

The sheaths are occupied by the Thinker,

Các thể vỏ được thức giả cư ngụ,

93. Occupation and control are two different issues. We recall that the lunar lords prepare the sheaths of occupancy.

93. Sự cư ngụ và sự kiểm soát là hai vấn đề khác nhau. Chúng ta nhớ rằng các nguyệt tinh quân chuẩn bị các thể vỏ cho sự cư ngụ.

94. The Thinker occupies the sheaths when the Solar Pitris become predominant.

94. Thức giả cư ngụ trong các thể vỏ khi các thái dương tổ phụ trở nên trội hơn.

are gradually controlled by him, are bent to his will and purpose, and are eventually discarded.

dần dần được y kiểm soát, được uốn theo ý chí và mục đích của y, và cuối cùng bị loại bỏ.

95. The Ego on the higher mental plane is the “Thinker”.

95. Chân ngã trên Cõi thượng trí là “Thức giả”.

96. The operative sequence presented is: occupation, control and discarding. At what stage in this sequence do we find ourselves?

96. Trình tự tác động được nêu ra là: cư ngụ, kiểm soát và loại bỏ. Chúng ta đang ở giai đoạn nào trong trình tự này?

The middle vibrations control and solar fire irradiates;

Các rung động trung gian kiểm soát và lửa thái dương chiếu rọi;

97. This is the goal of all spiritually advancing human beings. The origin of solar fire is high indeed—a cosmic mental origin, in fact.

97. Đây là mục tiêu của mọi con người đang tiến bộ về tinh thần. Nguồn gốc của lửa thái dương quả thật rất cao—thực ra là một nguồn gốc trí tuệ vũ trụ.

it lights up in due course of evolution the lower sheaths;

đến đúng tiến trình tiến hoá, nó soi sáng các thể vỏ thấp;

98. Long before the lower sheaths are set alight, they are influenced by the irradiation of solar fire. The substance of those sheaths is at first resistant to this unifying fire.

98. Từ rất lâu trước khi các thể vỏ thấp được bốc cháy, chúng đã chịu ảnh hưởng bởi sự chiếu rọi của lửa thái dương. Chất liệu của các thể vỏ ấy lúc đầu kháng cự loại lửa hợp nhất này.

it gradually increases its heat, and eventually aids in the destruction of the forms.

nó dần dần gia tăng nhiệt của mình, và cuối cùng trợ giúp vào sự hủy diệt các hình tướng.

99. “The heat induced by the group love permits the warmth of energetic moving out.”

99. “Nhiệt do tình thương nhóm gây ra cho phép sự ấm áp của năng lượng chuyển động đi ra ngoài.”

100. It is interesting that solar fire is closely involved in the destruction of both the lunar and egoic forms. We should remember that, from the perspective of Agni, solar fire is ‘located’ on the monadic, atmic and buddhic planes.

100. Thật thú vị khi lửa thái dương liên hệ mật thiết với sự hủy diệt cả các hình tướng thái âm lẫn chân ngã. Chúng ta nên nhớ rằng, từ viễn tượng của Agni, lửa thái dương được ‘định vị’ trên các cõi chân thần, atma và Bồ đề.

He [Lord Agni] shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as 'fire by friction' on the fifth, sixth and seventh. (TCF 521-522)

Ngài [Chúa Tể Agni] biểu hiện như lửa thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như 'lửa ma sát' trên cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522)

Third. The stage in which electric fire is revealed,

Thứ ba. Giai đoạn trong đó lửa điện được mặc khải,

101. Electric fire is always ‘there’ but needs to be disclosed or revealed at the right moment—which is long, long into the developmental process of the egoic lotus.

101. Lửa điện luôn luôn ‘ở đó’ nhưng cần được bộc lộ hay mặc khải vào đúng thời điểm—một thời điểm rất, rất xa trong tiến trình phát triển của Hoa Sen Chân Ngã.

102. The factor of timing is intimately related to the first ray which controls the beginning and ending of all cycles.

102. Yếu tố thời điểm liên hệ mật thiết với cung một, cung kiểm soát sự bắt đầu và kết thúc của mọi chu kỳ.

and through the intensity of its blaze puts out the other fires.

và qua cường độ bùng cháy của nó dập tắt các lửa khác.

103. We may judge that the destruction of the causal body is caused by a union of electric fire and solar fire (which “aids in the destruction of the forms”).

103. Chúng ta có thể phán đoán rằng sự hủy diệt thể nguyên nhân là do sự hợp nhất của lửa điện và lửa thái dương (lửa này “trợ giúp vào sự hủy diệt các hình tướng”).

104. A principle emerges here: an energy of greater intensity vanquishes or extinguishes an energy of lesser intensity. Or, intense light subdues or renders invisible, light of a lesser intensity.

104. Ở đây xuất hiện một nguyên lý: một năng lượng có cường độ lớn hơn sẽ chế ngự hay dập tắt một năng lượng có cường độ thấp hơn. Hoặc, ánh sáng mãnh liệt khuất phục hay làm cho vô hình ánh sáng có cường độ thấp hơn.

The lunar Pitris have fulfilled their work, the solar Pitris [Page 820] have developed the self-conscious unit, man, and the monad (having utilised both) discards both, and withdraws into itself, this time plus the gain of material existence, and plus developed love-wisdom.

Các thái âm tổ phụ đã hoàn tất công việc của mình, các thái dương tổ phụ [Page 820] đã phát triển đơn vị tự ý thức, con người, và chân thần (sau khi đã sử dụng cả hai) loại bỏ cả hai, và rút vào chính nó, lần này cộng thêm thành quả của sự tồn tại vật chất, và cộng thêm Bác Ái – Minh Triết đã phát triển.

105. Here we have one of those excellent summaries which epitomizes the work of millions of years.

105. Ở đây chúng ta có một trong những bản tóm lược tuyệt vời cô đọng công việc của hàng triệu năm.

106. The phrase “withdraws into itself” is important and signals a period of post-triadal development. We cannot expect that immediately following the fourth initiation the Monad will withdraw into itself. At the fourth initiation, the fire within the Jewel in the Lotus is moved into the Triad and not immediately into the Monad.

106. Cụm từ “rút vào chính nó” rất quan trọng và báo hiệu một giai đoạn phát triển hậu tam nguyên tinh thần. Chúng ta không thể mong rằng ngay sau lần điểm đạo thứ tư chân thần sẽ rút vào chính nó. Ở lần điểm đạo thứ tư, lửa bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen được chuyển vào Tam nguyên tinh thần chứ không lập tức vào chân thần.

“Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad,…” (R&I 22)

“Hãy để nhóm cùng nhau chuyển ngọn lửa bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen vào Tam nguyên tinh thần,…” (R&I 22)

In terms of the old Commentary, the truth is thus stated:

Theo Cổ Luận, chân lý được phát biểu như sau:

107. Here we have a marvelously poetic and fully descriptive rendition of the process through which three Creative Hierarchies (principally important to man) pass in the development and transcendence of the human kingdom.

107. Ở đây chúng ta có một bản diễn đạt đầy chất thơ và hoàn toàn mô tả tiến trình mà ba Huyền Giai Sáng Tạo (chủ yếu quan trọng đối với con người) đi qua trong sự phát triển và siêu vượt giới nhân loại.

"The Lord of Life Himself sits at the heart and watches.

"Chúa Tể của Sự sống đích thân ngự tại tim và quan sát.

108. The Monad is the “Lord of Life” and it “sits” at the heart of the egoic lotus.

108. Chân thần là “Chúa Tể của Sự sống” và nó “ngự” tại tim của Hoa Sen Chân Ngã.

109. From a still higher perspective, we might think of the Monad on its own permanent atom as the ‘Great Observer’.

109. Từ một viễn tượng còn cao hơn nữa, chúng ta có thể nghĩ về chân thần trên nguyên tử trường tồn riêng của nó như ‘Đấng Quan Sát Vĩ Đại’.

The Lords of solar fire pursue their task and sacrifice themselves to the lunar Lords of all the lower planes.

Các chúa tể của lửa thái dương theo đuổi nhiệm vụ của mình và hi sinh chính mình cho các chúa tể thái âm của mọi cõi thấp.

110. The Agnishvattas are ‘Lords of Sacrificial Love’. In one respect, they are deeply involved in the process of elevating human consciousness and the vibrational level of the “lunar Lords”.

110. Các Agnishvatta là ‘Các Chúa Tể của Tình Thương Hi Sinh’. Trong một phương diện, các ngài can dự sâu xa vào tiến trình nâng cao tâm thức nhân loại và cấp độ rung động của các “chúa tể thái âm”.

111. These Agnishvattas ‘tend’ the lower fires, and their attentiveness is a form of sacrifice.

111. Các Agnishvatta này “chăm nom” các lửa thấp, và sự chuyên chú của các ngài là một hình thức hi sinh.

They die, but resurrect. They pass without, and come again. Yet the Lord of Life sits still.

Các ngài chết, nhưng phục sinh. Các ngài đi ra ngoài, rồi lại đến. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn ngồi yên.

112. There is perpetual stillness at the center, for much work must be accomplished before the Monad (working through the Jewel in the Lotus) can assert its power.

112. Có sự tĩnh tại vĩnh viễn tại trung tâm, vì còn phải hoàn thành nhiều công việc trước khi chân thần (hoạt động qua Viên Ngọc trong Hoa Sen) có thể khẳng định quyền năng của nó.

113. Certainly the lunar lords apparently die and resurrect (or come again to life). Can this be said of the "solar Lords”? At the very end of development in the human kingdom there is a resurrection of the "solar Lords"—they return to the Heart of the Sun or to the Central Spiritual Sun, but they are not resurrected following every human incarnation.

113. Chắc chắn các chúa tể thái âm dường như chết và phục sinh (hay sống lại). Điều này có thể nói về các "chúa tể thái dương" không? Vào chính lúc kết thúc sự phát triển trong giới nhân loại có một sự phục sinh của các "chúa tể thái dương"—các ngài trở về Tim Mặt Trời hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương, nhưng các ngài không phục sinh sau mỗi lần lâm phàm của con người.

114. The "solar Lords" do appear again through every re-incarnated form and this is a ‘kind’ of resurrection.

114. Các "chúa tể thái dương" quả thật xuất hiện trở lại qua mỗi hình tướng tái sinh và đây là một ‘loại’ phục sinh.

115. Probably we know very little concerning the life cycle of devic lives and the degree to which they experience “death”.

115. Có lẽ chúng ta biết rất ít về chu kỳ sống của các sự sống thiên thần và mức độ mà chúng kinh nghiệm “cái chết”.

116. In any case, it seems to be the reincarnational process which is discussed and, especially in relation to the revitalization and re-association of the lunar lords with every fresh incarnation.

116. Dù sao đi nữa, dường như điều đang được bàn đến là tiến trình tái sinh, và đặc biệt là liên hệ đến sự tiếp sinh lực và tái liên kết của các chúa tể thái âm với mỗi lần lâm phàm mới.

117. When the lunar lords “pass without” they return to the reservoir of substance which pertains to them. When they “come again”, they are drawn back into association with each other and with the Ego (with whom they are associated life after life).

117. Khi các chúa tể thái âm “đi ra ngoài”, chúng trở về kho chứa chất liệu thuộc về chúng. Khi chúng “lại đến”, chúng bị kéo trở lại vào sự liên kết với nhau và với chân ngã (mà chúng liên kết cùng qua hết đời này sang đời khác).

The lunar Lords begin to die;

Các chúa tể thái âm bắt đầu chết;

118. This happens at a later stage in the developmental process.

118. Điều này xảy ra ở một giai đoạn muộn hơn trong tiến trình phát triển.

119. They “die” in terms of their influence on human consciousness.

119. Chúng “chết” xét theo ảnh hưởng của chúng lên tâm thức nhân loại.

their power begins to wane with each successive cycle.

quyền năng của chúng bắt đầu suy giảm qua mỗi chu kỳ kế tiếp.

120. We are speaking of incarnational cycles.

120. Chúng ta đang nói về các chu kỳ lâm phàm.

The solar Lords shine forth in triumph and consign the fourfold ones to fire,—the fire which burns and dissipates the form.

Các chúa tể thái dương chiếu sáng trong chiến thắng và giao phó những kẻ tứ phân cho lửa,—ngọn lửa thiêu đốt và làm tiêu tan hình tướng.

121. The fourfold ones can be considered the four types of elemental lives composing the personality of man.

121. Những kẻ tứ phân có thể được xem là bốn loại sự sống hành khí cấu thành phàm ngã của con người.

122. Shining forth in triumph occurs as soul-infusion increases.

122. Sự chiếu sáng trong chiến thắng xảy ra khi tiến trình được linh hồn thấm nhuần gia tăng.

123. It is not clear whether we are speaking of a gradual process or a dynamic, climactic process or both. Perhaps, over time, the “solar Lords” gradually consign the fourfold ones to fire, and finally, do so climactically. This is another way of saying that the experience of the burning ground does not occur all at once, but there is a climactic conflagration on the “final burning ground”.

123. Không rõ liệu chúng ta đang nói về một tiến trình dần dần hay một tiến trình năng động, cao trào, hay cả hai. Có lẽ theo thời gian, các “chúa tể thái dương” dần dần giao phó những kẻ tứ phân cho lửa, và cuối cùng làm như vậy một cách cao trào. Đây là một cách khác để nói rằng kinh nghiệm của vùng đất cháy không xảy ra tất cả cùng một lúc, nhưng có một trận bùng cháy cao trào trên “vùng đất cháy cuối cùng”.

124. A fiery process of refinement is,thus, steadily occurring in the personality, but as for the final burning and dissipation of the personality form, it occurs but once.

124. Vì vậy, một tiến trình tinh luyện bằng lửa vẫn đang diễn ra,đều đặn trong phàm ngã, nhưng còn sự thiêu đốt và làm tiêu tan cuối cùng của hình tướng phàm ngã thì chỉ xảy ra một lần mà thôi.

125. Please note that in the section of text above the plural, “solar Lords” are used while, below, “the solar Lord”.

125. Xin lưu ý rằng trong đoạn văn trên, số nhiều “các chúa tể thái dương” được dùng, trong khi bên dưới là “chúa tể thái dương”.

126. The structure of the egoic lotus is a combination of a number of "solar Lords" (Agnishvattas) and one "solar Lord" (a “solar Pitri” or, as well, an Agnishvatta). This is a mystery, but the multiplicity and yet the unity of the egoic lotus structure and of the solar lives which create and tend that structure seems inescapable.

126. Cấu trúc của Hoa Sen Chân Ngã là sự kết hợp của một số "chúa tể thái dương" (Agnishvattas) và một "chúa tể thái dương" (một “thái dương tổ phụ” hay cũng là một Agnishvatta). Đây là một huyền nhiệm, nhưng tính đa thể nhưng vẫn là đơn vị của cấu trúc Hoa Sen Chân Ngã và của các sự sống thái dương tạo ra và chăm nom cấu trúc ấy dường như không thể phủ nhận.

Many times the work repeats itself; the cycles wax and wane, until the day triumphant when the solar Lord acclaims himself and knows himself the ruler.

Nhiều lần công việc lặp lại; các chu kỳ tăng rồi giảm, cho đến ngày chiến thắng khi chúa tể thái dương tự xưng mình và biết chính mìnhlà kẻ cai quản.

127. The one "solar Lord", who is, we hypothesize, the emanative Source of all the participating "solar Lords", now dominates the lunar lords and has imparted the pre-intended measure of His egoic power to the human egoic consciousness.

127. Một "chúa tể thái dương", mà theo giả thuyết của chúng ta là Nguồn phát xạ của mọi "chúa tể thái dương" tham dự, giờ đây thống trị các chúa tể thái âm và đã truyền đạt mức quyền năng chân ngã đã được dự định từ trước của Ngài vào tâm thức chân ngã của con người.

128. This is a brilliant Leo phase and one that occurs from the time of the transfiguration onwards, with increasing intensity.

128. Đây là một giai đoạn Sư Tử rực rỡ và là giai đoạn xảy ra từ lúc Biến hình trở đi, với cường độ ngày càng tăng.

129. Is the “day triumphant” the microcosmic “Day Be With Us”? It may well be.

129. “Ngày chiến thắng” có phải là “Ngày Hãy Ở Cùng Chúng Ta” ở cấp vi mô không? Rất có thể là như vậy.

130. Really, once the third initiation is reached the “solar Lord acclaims himself and knows himself as the ruler”.

130. Thực ra, một khi lần điểm đạo thứ ba đạt được thì “chúa tể thái dương tự xưng mình và biết mình là kẻ cai quản”.

The Lord of Life then turns Himself,

Khi ấy Chúa Tể của Sự sống quay Chính Ngài,

131. This phrase may have something to do with the ‘orientation’ of monadic consciousness within the Jewel in the Lotus. It is not said for poetic reasons only.

131. Cụm từ này có thể liên quan đến “định hướng” của tâm thức chân thần bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen. Nó không chỉ được nói ra vì lý do thi vị.

132. The Lord of Life is the Monad or the Monad as represented within the egoic lotus through the Jewel in the Lotus.

132. Chúa Tể của Sự sống là chân thần hay chân thần như được biểu hiện bên trong Hoa Sen Chân Ngã qua Viên Ngọc trong Hoa Sen.

133. The turning of Himself is to impulse the process of liberation.

133. Sự quay Chính Ngài là để thúc đẩy tiến trình giải thoát.

and arises in His might.

và đứng dậy trong quyền năng của Ngài.

134. We are dealing with the first aspect of divinity—the will and power aspect.

134. Chúng ta đang bàn đến phương diện thứ nhất của thiên tính—phương diện ý chí và quyền năng.

135. There is an intensification of the power pouring through the Jewel in the Lotus within the egoic lotus.

135. Có một sự tăng cường quyền năng tuôn qua Viên Ngọc trong Hoa Sen bên trong Hoa Sen Chân Ngã.

He consumes the solar Lords, and they perish as did the lunar Lords.

Ngài thiêu hủy các chúa tể thái dương, và các ngài tiêu vong như các chúa tể thái âm đã tiêu vong.

136. It is as if the lunar lords have died first. Certainly their power has waned first, even though the final dying of both "solar Lords" and lunar lords (so we are told) occurs at the time of the final destruction of the causal body.

136. Dường như các chúa tể thái âm đã chết trước hết. Chắc chắn quyền năng của chúng đã suy giảm trước hết, mặc dù sự chết cuối cùng của cả "các chúa tể thái dương" lẫn các chúa tể thái âm (như chúng ta được cho biết) xảy ra vào lúc sự hủy diệt cuối cùng của thể nguyên nhân.

137. We have to balance the thought that the Monad or the representation of the Monad within the Jewel in the Lotus “consumes the solar Lords”, with the thought that they return to the Heart of the Sun and the Central Spiritual Sun (the major periodical vehicles within the Solar Logos).

137. Chúng ta phải cân bằng tư tưởng rằng chân thần hay sự biểu hiện của chân thần bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen “thiêu hủy các chúa tể thái dương”, với tư tưởng rằng các ngài trở về Tim Mặt Trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương (những vận cụ tuần hoàn lớn bên trong Thái dương Thượng đế).

138. Certainly the forms in which the "solar Lords" had invested themselves perish. As essences they do not perish, but rather are released into greater life. We remember, again, that the “solar Lords” (the Agnishvattas) are more than the petals of the egoic lotus which they inform).

138. Chắc chắn các hình tướng mà trong đó các "chúa tể thái dương" đã đầu tư chính mình đều tiêu vong. Với tư cách là các tinh túy, các ngài không tiêu vong mà đúng hơn được giải phóng vào sự sống lớn hơn. Chúng ta lại nhớ rằng các “chúa tể thái dương” (các Agnishvattas) còn hơn cả những cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã mà các ngài thấm nhuần).

He speaks a Word; the fire descends.

Ngài nói ra một Linh từ; lửa giáng xuống.

139. This is the manner in which destruction descends from the heart of the lotus.

139. Đây là cách mà sự hủy diệt giáng xuống từ tim của hoa sen.

140. That ‘Word of destruction’ comes only when there is full readiness for it. Again, the beginning and ending of cycles is controlled by the first ray.

140. “Quyền năng từ” hủy diệt ấy chỉ đến khi có sự sẵn sàng trọn vẹn cho nó. Một lần nữa, sự bắt đầu và kết thúc của các chu kỳ được kiểm soát bởi cung một.

141. This ‘Word of Death’ here suggested is a higher correspondence of the ‘Word of Death’ spoken by the Ego/Soul at the point of termination of each human incarnation, assuming that the end of purposeful.

141. “Linh từ của Cái Chết” được gợi ý ở đây là một tương ứng cao hơn của “Linh từ của Cái Chết” do chân ngã/linh hồn phát ra tại điểm chấm dứt của mỗi lần lâm phàm của con người, giả sử rằng sự kết thúc là có chủ đích.

The blaze bursts forth.

Ngọn lửa bùng phát.

142. This is the consuming of the causal body.

142. Đây là sự thiêu hủy thể nguyên nhân.

Gone is the lower fire through the flame of solar burning, gone is the middle fire through the intensity of fire from Heaven.

Lửa thấp đã mất qua ngọn lửa thiêu đốt thái dương, lửa trung gian đã mất qua cường độ của lửa từ Thiên giới.

143. When speaking of the fiery consumption of various types of vehicles, it is the "solar Lords" who consume the lower fires by friction and the fire of the Lord of Life, electric fire, (that Lord of Life being seated at the heart of the lotus) which consumes the middle fire.

143. Khi nói về sự thiêu hủy bằng lửa của các loại vận cụ khác nhau, chính các "chúa tể thái dương" thiêu hủy các lửa thấp do ma sát, còn lửa của Chúa Tể của Sự sống, lửa điện, (Chúa Tể của Sự sống ấy ngự tại tim của hoa sen) thiêu hủy lửa trung gian.

144. It is interesting and instructive to see electric fire discussed as “fire from Heaven”. When we see this descriptive phrase, we are forced to think of the energy of Uranus—the “Heavenly One” Who is the “home of electric fire”.

144. Thật thú vị và giàu tính chỉ dạy khi thấy lửa điện được bàn đến như “lửa từ Thiên giới”. Khi thấy cụm từ mô tả này, chúng ta buộc phải nghĩ đến năng lượng của Sao Thiên Vương—“Đấng Thiên Thượng” là “nơi cư ngụ của lửa điện”.

Naught remaineth save a threefold flame of violet, indigo and yellow.

Không gì còn lại ngoài một ngọn lửa tam phân màu tím, chàm và vàng.

145. The remaining colors are interesting and seem to suggest the three colors which the Tibetan has associated with buddhi

145. Những màu còn lại thật đáng chú ý và dường như gợi ý ba màu mà Chân sư Tây Tạng đã liên kết với Bồ đề

a. Violet—the color of buddhi in relation to the Solar Logos

a. Tím—màu của Bồ đề trong liên hệ với Thái dương Thượng đế

b. Blue or (in this case, perhaps indigo)—the color of buddhi in relation to the Planetary Logos

b. Xanh lam hay (trong trường hợp này, có lẽ là chàm)—màu của Bồ đề trong liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế

c. Yellow—the color of buddhi in relation to the human being.

c. Vàng—màu của Bồ đề trong liên hệ với con người.

146. It is as if the threefold flame which is, we have learned, buddhic in origin, carries a representation of buddhic man, and, as well, of the buddhic natures of both the Planetary Logos and the Solar Logos.

146. Dường như ngọn lửa tam phân này, mà như chúng ta đã biết, có nguồn gốc Bồ đề, mang một sự biểu hiện của con người Bồ đề, và đồng thời cả bản chất Bồ đề của Hành Tinh Thượng Đế lẫn Thái dương Thượng đế.

THAT disappears. Then darkness reigns.

ĐIỀU ĐÓ biến mất. Rồi bóng tối ngự trị.

147. Darkness reigns upon the higher mental plane at least.

147. Ít nhất bóng tối ngự trị trên Cõi thượng trí.

148. May we say that “THAT” is the Monad and its representation within the Jewel in the Lotus, which is absorbed into the spiritual triad?

148. Chúng ta có thể nói rằng “ĐIỀU ĐÓ” là chân thần và sự biểu hiện của nó bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen, vốn được hấp thu vào Tam Nguyên Tinh Thần chăng?

149. When “THAT” disappears, it only disappears from a certain dimension on the higher mental plane. It does not disappear entirely. It cannot.

149. Khi “ĐIỀU ĐÓ” biến mất, nó chỉ biến mất khỏi một chiều kích nào đó trên Cõi thượng trí. Nó không biến mất hoàn toàn. Nó không thể.

150. When “THAT” is considered “LIFE ITSELF” it can never disappear.

150. Khi “ĐIỀU ĐÓ” được xem là “CHÍNH SỰ SỐNG” thì nó không bao giờ có thể biến mất.

Yet the Lord of Life persists, though invisible."

Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn tồn tại, dù vô hình."

151. The Lord of Life persists upon the monadic plane and still within and behind the points of focus within the spiritual triad into which the fire of the Jewel in the Lotus has been ‘translated’.

151. Chúa Tể của Sự sống vẫn tồn tại trên cõi chân thần và vẫn ở bên trong cũng như phía sau các điểm tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần, nơi ngọn lửa của Viên Ngọc trong Hoa Sen đã được ‘chuyển dịch’ vào.

152. Invisibility is only valid (with respect to “THAT”) from the perspective of the physical body of the Solar Logos, which includes the higher mental plane.

152. Tính vô hình chỉ có giá trị (đối với “ĐIỀU ĐÓ”) từ viễn tượng của thể xác của Thái dương Thượng đế, vốn bao gồm Cõi thượng trí.

153. It does not make sense to think that the Monad, withdrawing from the egoic lotus (by means of the process of destruction) returns entirely to a subjective state un-invested within the spiritual triad. It would make more sense to think of the monadic withdrawal as gradual, awaiting the day of the destruction of the spiritual triad for its final withdrawal within itself.

153. Thật không hợp lý khi nghĩ rằng chân thần, rút khỏi Hoa Sen Chân Ngã (bằng tiến trình hủy diệt), lại hoàn toàn trở về một trạng thái chủ quan không đầu tư vào Tam Nguyên Tinh Thần. Hợp lý hơn nếu nghĩ về sự rút lui của chân thần như một tiến trình dần dần, chờ đến ngày sự hủy diệt của Tam Nguyên Tinh Thần để có sự rút lui cuối cùng vào chính nó.

154. VSK remarks: “Interesting, these three colours are those of the sacrifice/sacrifice petal, minus the rose and orange (which …? may remain fallen? As said, gone is the lower and middle, so the orange and rose are burned, and all that remains is an essentialized ‘utter sacrifice of all forever’)”.

154. VSK nhận xét: “Thật thú vị, ba màu này là những màu của cánh hoa hi sinh/sự hi sinh, trừ màu hồng và cam (những màu này …? có thể vẫn còn sa ngã? Như đã nói, cái thấp và cái trung gian đã mất, nên màu cam và hồng bị thiêu cháy, và tất cả những gì còn lại là một ‘sự hi sinh tuyệt đối của tất cả mãi mãi’ đã được tinh túy hóa)”.

155. The petal for which this is focally true is the eighth petal. Of its five colors, orange and rose are gone, and only yellow, violet and blue remain.

155. Cánh hoa mà điều này đúng một cách tiêu điểm là cánh hoa thứ tám. Trong năm màu của nó, màu cam và hồng đã mất, và chỉ còn vàng, tím và xanh lam.

As we know, the egoic lotus consists of three circles,—each circle being composed of three petals, and all shielding the inner bud where hides the jewel.

Như chúng ta biết, Hoa Sen Chân Ngã gồm ba vòng,—mỗi vòng gồm ba cánh hoa, và tất cả đều che chở nụ bên trong nơi viên ngọc ẩn náu.

156. This is a review statement.

156. Đây là một phát biểu ôn tập.

157. We are dealing with three circles of differentiated energy, each circle an emanation of the central fire or nucleus within the lotus.

157. Chúng ta đang bàn đến ba vòng năng lượng biến phân, mỗi vòng là một phát xạ của lửa trung tâm hay hạt nhân bên trong hoa sen.

158. We have already reviewed names of the central fire sometimes identified as the “Jewel”.

158. Chúng ta đã ôn lại các tên gọi của lửa trung tâm đôi khi được đồng nhất với “Viên Ngọc”.

It is with the evolution of these petals that we are concerned, with their formation, their vitalisation, their nurturing, and eventual unfoldment.

Chính với sự tiến hoá của các cánh hoa này mà chúng ta quan tâm, với sự hình thành của chúng, sự tiếp sinh lực, sự nuôi dưỡng, và sự khai mở cuối cùng của chúng.

159. Let us list the types of processes through which the petals pass, as understanding their sequence is very important. The last word is not said here, but something of importance is said, and can be collated with other statements for a more complete picture:

159. Hãy liệt kê các loại tiến trình mà các cánh hoa đi qua, vì việc hiểu trình tự của chúng là rất quan trọng. Lời cuối cùng chưa được nói ra ở đây, nhưng có điều gì đó quan trọng đã được nói ra, và có thể được đối chiếu với những phát biểu khác để có một bức tranh đầy đủ hơn:

a. The formation of the petals

a. Sự hình thành của các cánh hoa

b. The vitalisation of the petals

b. Sự tiếp sinh lực của các cánh hoa

c. The nurturing of the petals (mostly accomplished by solar fire).

c. Sự nuôi dưỡng các cánh hoa (phần lớn được hoàn thành bởi lửa thái dương).

d. The eventual unfoldment of the petals.

d. Sự khai mở cuối cùng của các cánh hoa.

e. Not mentioned is their “organization” which either follows the state of vitalization or precedes it.

e. Không được nhắc đến là sự “tổ chức” của chúng, điều này hoặc theo sau trạng thái tiếp sinh lực hoặc đi trước nó.