Trích nội dung chương
250. Let us say that the higher serpent in man arouses the serpent fire according to law. The rising of kundalini (the serpent coiled at the base of the spine) is inspired from above by the downflow of the energy of the higher serpent. 250. Chúng ta hãy nói rằng con rắn cao hơn trong con người khơi dậy xà hỏa theo quy luật. Sự trỗi dậy của kundalini (con rắn cuộn nơi đáy cột sống) được cảm hứng từ trên cao bởi dòng năng lượng tuôn xuống của con rắn cao hơn.
249. DK gives us an occult hint which will not be easy to follow.
249. Chân sư DK cho chúng ta một gợi ý huyền bí mà sẽ không dễ theo dõi.
250. Let us say that the higher serpent in man arouses the serpent fire according to law. The rising of kundalini (the serpent coiled at the base of the spine) is inspired from above by the downflow of the energy of the higher serpent.
250. Chúng ta hãy nói rằng con rắn cao hơn trong con người khơi dậy xà hỏa theo quy luật. Sự trỗi dậy của kundalini (con rắn cuộn nơi đáy cột sống) được cảm hứng từ trên cao bởi dòng năng lượng tuôn xuống của con rắn cao hơn.
251. The Planetary Logos is a Dragon of Wisdom and man-as-Master is a lesser or minor Dragon of Wisdom. When we express as a Monad we are expressing the dragon power of our Planetary Logos, in one of Whose centers of force the Monad holds place.
251. Đức Hành Tinh Thượng Đế là một Rồng Minh Triết và con người-trong-tư-cách-Chân sư là một Rồng Minh Triết nhỏ hơn hay thứ yếu. Khi chúng ta biểu hiện như một chân thần, chúng ta đang biểu hiện quyền năng rồng của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, trong một trong những trung tâm lực của Ngài mà chân thần giữ vị trí.
252. It is true that the serpent power is particularly related to the soul (which is animated principally by the undulatory, bi-polar second ray), however, it is possible to see the Monad as a representative of the Planetary Logos (the Dragon of Wisdom) and, thus, again as a dragon or serpent of lesser degree.
252. Đúng là xà lực đặc biệt liên hệ với linh hồn (vốn được làm sinh động chủ yếu bởi cung hai lưỡng cực, lượn sóng), tuy nhiên, có thể xem chân thần như một đại diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế (vị Rồng Minh Triết) và, như thế, lại là một rồng hay rắn ở cấp độ thấp hơn.
The secret of life lies hidden in the serpent stage,—not the life of the Spirit, but the life of the soul, and this will be revealed as the "serpent of the astral light" is truly approached, and duly studied.
Bí mật của sự sống ẩn kín trong giai đoạn rắn,—không phải sự sống của tinh thần, mà là sự sống của linh hồn, và điều này sẽ được mặc khải khi "con rắn của ánh sáng cảm dục" được tiếp cận một cách chân thực, và được nghiên cứu đúng đắn.
253. VSK asks: “Could we reword this and still be accurate? Thus, e.g.: The secret of the life of the soul is hidden in the serpent stage, and may be revealed by studying the astral light, in its serpentine nature.”
253. VSK hỏi: “Liệu chúng ta có thể diễn đạt lại điều này mà vẫn chính xác không? Thí dụ như: Bí mật của sự sống của linh hồn ẩn kín trong giai đoạn rắn, và có thể được mặc khải bằng cách nghiên cứu ánh sáng cảm dục, trong bản chất uốn lượn như rắn của nó.”
254. VSK continues with a number of illuminating points. “This is again evocative of the first Stanza, (and its three instances, of ‘the secret of fire”, i.e., TCF, 11, 172, and 1231.) Below are these six references to this phrase, “the secret of life”, whether the life of the spirit or the life of the soul, or what else may have a secret of life?”
254. VSK tiếp tục với một số điểm soi sáng. “Điều này lại gợi lên bài kệ thứ nhất, (và ba trường hợp của nó, về ‘bí mật của lửa’, tức TCF, 11, 172, và 1231.) Dưới đây là sáu tham chiếu này đến cụm từ, “bí mật của sự sống”, dù là sự sống của tinh thần hay sự sống của linh hồn, hay còn điều gì khác có thể có một bí mật của sự sống?”
a. The mystery of manas is hidden in existence itself, and holds the secret of life and conceals and veils those Entities Whose outstanding quality and characteristic it is. (TCF 394)
a. Huyền nhiệm của manas ẩn kín trong chính sự tồn tại, và nắm giữ bí mật của sự sống và che giấu, phủ màn những Thực Thể mà phẩm tính và đặc trưng nổi bật của Các Ngài chính là điều đó. (TCF 394)
b. The secret of life lies hidden in the serpent stage,—not the life of the Spirit, but the life of the soul, and this will be revealed as the "serpent of the astral light" (TCF 893)
b. Bí mật của sự sống ẩn kín trong giai đoạn rắn,—không phải sự sống của tinh thần, mà là sự sống của linh hồn, và điều này sẽ được mặc khải khi "con rắn của ánh sáng cảm dục" (TCF 893)
c. In man, God the Father has hidden the secret of life; (EPI, 312)
c. Trong con người, Thượng đế Cha đã ẩn giấu bí mật của sự sống; (EPI, 312)
d. The secret (so-called) of the Cardinal Cross is the secret of Life itself, just as that of the Fixed Cross is that of the soul or the mystery of self-conscious entity, whilst the Mutable Cross holds hid the mystery of form. (EA, 314)
d. Bí mật (được gọi như thế) của Thập Giá Chủ Yếu là bí mật của chính Sự sống, cũng như bí mật của Thập Giá Cố Định là bí mật của linh hồn hay huyền nhiệm của thực thể ngã thức, trong khi Thập Giá Biến đổi che giấu huyền nhiệm của hình tướng. (EA, 314)
e. a. The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. It is the secret of life itself and is known only to Him alone. In its initial phase of this new expression, it works through the Manu and the Master Morya; it is that which veils the central mystery which all esoteric schools—if true to their inaugurating impulse—will eventually reveal. What that is we do not yet know, but it is hinted at in Rule XIII. (R&I, 242)
e. a. Mục đích chưa biết, vô hình và không nghe thấy của Đức Sanat Kumara. Đó là bí mật của chính sự sống và chỉ một mình Ngài biết mà thôi. Trong giai đoạn khởi đầu của biểu hiện mới này, nó hoạt động qua Đức Manu và Chân sư Morya; đó là điều che phủ huyền nhiệm trung tâm mà mọi trường phái huyền bí học—nếu trung thành với xung lực khai sáng của mình—rốt cuộc sẽ mặc khải. Điều đó là gì thì chúng ta chưa biết, nhưng được ám chỉ trong quy luật XIII. (R&I, 242)
f. The Christ did not rise out of a rocky sepulchre and re-assume His discarded body. He passed through the great seventh initiation which we will consider today, and knew the secret of life, of which immortality is only one of its many attributes. (R&I, 730)
f. Đức Christ đã không bước ra khỏi một mộ đá và lại khoác lấy thể xác đã bỏ đi của Ngài. Ngài đã đi qua lần điểm đạo thứ bảy vĩ đại mà hôm nay chúng ta sẽ xem xét, và biết bí mật của sự sống, mà sự bất tử chỉ là một trong nhiều thuộc tính của nó. (R&I, 730)
255. The “serpent of the astral light” must come to reflect the “serpent of the soul”. The pulsations of the soul are to be registered in the undulations of the astral light.
255. “Con rắn của ánh sáng cảm dục” phải đi đến chỗ phản chiếu “con rắn của linh hồn”. Những nhịp đập của linh hồn phải được ghi nhận trong những làn sóng lượn của ánh sáng cảm dục.
256. We are dealing here with the overcoming of the serpent of illusion by the ‘Serpent of Wisdom’.
256. Ở đây chúng ta đang đề cập đến việc vượt thắng con rắn của ảo tưởng bởi ‘Con Rắn Minh Triết’.
One of the four Lipika Lords, Who stand nearest to our planetary Logos, is called "The Living Serpent," and His emblem is a serpent of blue with one eye, in the form of a ruby, in its head.
Một trong bốn Đấng Lipika, Đấng đứng gần nhất với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, được gọi là "Con Rắn Sống," và biểu tượng của Ngài là một con rắn màu lam với một con mắt, dưới hình thức một hồng ngọc, ở đầu nó.
257. VSK wisely suggests: “Blue is the colour of the love or second solar system and thus blue (dual, indigo-blue) is the colour of spiral-cyclic motion (a likely result of the electrical and magnetic waves of light). This is the serpent in living movement. His eye, being ruby-red, can be construed as related to the first aspect, a single eye, the eye of Shiva, as explained below, and to be opened during the final, or first aspect or red solar system to come.”
257. VSK khôn ngoan gợi ý: “Màu lam là màu của tình thương hay hệ mặt trời thứ hai và do đó màu lam (nhị nguyên, chàm-lam) là màu của chuyển động xoắn ốc-tuần hoàn (một kết quả có thể có của các làn sóng điện và từ của ánh sáng). Đây là con rắn trong chuyển động sống động. Con mắt của Ngài, mang màu đỏ hồng ngọc, có thể được hiểu là liên hệ với phương diện thứ nhất, một con mắt duy nhất, con mắt của Shiva, như được giải thích dưới đây, và sẽ được mở ra trong hệ mặt trời cuối cùng, hay hệ mặt trời của phương diện thứ nhất hoặc màu đỏ sẽ đến.”
258. She continues: “Pertinent question is, which Lipika Lord is this? Who stands nearest our Logos?”
258. Bà tiếp tục: “Câu hỏi thích đáng là, đây là Đấng Lipika nào? Đấng nào đứng gần nhất với Thượng đế của chúng ta?”
259. The Lipika Lords are Sirian Beings. May this Lipika Lord be one that works most closely with the Solar Angels of Earth in their role as karmic Agents?
259. Các Đấng Lipika là các Hữu thể Sirian. Liệu Đấng Lipika này có phải là Đấng làm việc mật thiết nhất với các Thái dương Thiên Thần của Trái Đất trong vai trò các Tác nhân nghiệp quả không?
260. Spiral-cyclic motion suggests an ascending serpent.
260. Chuyển động xoắn ốc-tuần hoàn gợi ra một con rắn đang đi lên.
261. The red eye is the eye of synthesis—the first aspect being correlated with the color red as stated.
261. Con mắt đỏ là con mắt của tổng hợp—phương diện thứ nhất được tương liên với màu đỏ như đã nói.
262. Through the agency of this Living Serpent, perhaps the Ego can ascend towards the Spirit.
262. Có lẽ qua tác động của Con Rắn Sống này, chân ngã có thể thăng lên hướng về tinh thần.
263. We know that the Lipika Lords are (outwardly at least) great first ray Beings Who are motivated by the second ray, and in order to achieve second ray objectives utilize third and fifth ray methods along with methods of the first ray.
263. Chúng ta biết rằng các Đấng Lipika là (ít nhất là về mặt bên ngoài) những Hữu thể cung một vĩ đại, được thúc đẩy bởi cung hai, và để đạt các mục tiêu cung hai thì sử dụng các phương pháp của cung ba và cung năm cùng với các phương pháp của cung một.
264. Our Planetary Logos has a first ray Monad, and “The Living Serpent” is strongly correlated in purpose and objective with the first ray, symbolized by His red eye.
264. Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có một chân thần cung một, và “Con Rắn Sống” tương liên mạnh mẽ trong mục đích và cứu cánh với cung một, được biểu tượng hóa bởi con mắt đỏ của Ngài.
265. On our planet, a fusion will eventually be sought between the second and first rays. This Serpent may be involved in promoting this fusion which will occur when the kundalini of our planet is fully aroused under the impression of His first ray Monad.
265. Trên hành tinh của chúng ta, rốt cuộc sẽ tìm kiếm một sự dung hợp giữa cung hai và cung một. Con Rắn này có thể dự phần vào việc thúc đẩy sự dung hợp ấy, điều sẽ xảy ra khi kundalini của hành tinh chúng ta được khơi dậy hoàn toàn dưới ấn tượng của chân thần cung một của Ngài.
266. The Four Lipika Lords (also called the “Four Maharajas”) are positioned within the solar system, in the form of a great Cross.. Some, it seems, stand closer to certain Planetary Logoi than others.
266. Bốn Đấng Lipika (cũng được gọi là “Bốn Maharaja”) được định vị trong hệ mặt trời, dưới hình thức một Thập Giá lớn. Có vẻ như một số Đấng đứng gần với một số Hành Tinh Thượng Đế nào đó hơn những Đấng khác.
267. The one nearest our Planetary Logos has primary second and first ray characteristics. It seems as if the third ray personality of our Planetary Logos is already a factor being overcome and is not related so much to His future:
267. Đấng gần nhất với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có các đặc tính chủ yếu của cung hai và cung một. Có vẻ như phàm ngã cung ba của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã là một yếu tố đang được vượt thắng và không liên hệ nhiều đến tương lai của Ngài:
Students who care to carry the symbology a little further can connect this idea with the "eye of Shiva" which sees and knows all, and records all,
Những đạo sinh nào muốn theo đuổi biểu tượng học xa hơn một chút có thể nối kết ý tưởng này với "con mắt của Shiva" vốn thấy và biết mọi sự, và ghi lại mọi sự,
268. The “Lipika Lords” are the “Recorders”. This is the meaning of the word “Lipika”.
268. Các “Đấng Lipika” là các “Đấng Ghi Chép”. Đó là ý nghĩa của từ “Lipika”.
269. The ‘Eye of Synthesis” is all-seeing. Nothing escapes it.
269. ‘Con Mắt của Tổng Hợp” là con mắt thấy tất cả. Không gì thoát khỏi nó.
270. Obviously, nothing escapes the Eye of a major Lipika Lord.
270. Hiển nhiên, không gì thoát khỏi Con Mắt của một Đấng Lipika lớn.
271. In a way, the One Eye is many eyes. That Observer is found within every being.
271. Theo một nghĩa nào đó, Con Mắt Duy Nhất là nhiều con mắt. Đấng Quan Sát ấy hiện diện trong mọi hữu thể.
272. The time of karmic freedom is approaching when the third initiation is taken and the “eye of Shiva” begins to open.
272. Thời điểm tự do khỏi nghiệp quả đang đến gần khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận và “con mắt của Shiva” bắt đầu mở ra.
as [Page 894] does the human eye in lesser degree;
cũng như [Page 894] con mắt người làm ở mức độ thấp hơn;
273. All experience which the human eye witnesses is seen and recorded even if not consciously registered. Hypnotism proves this.
273. Mọi kinh nghiệm mà mắt người chứng kiến đều được thấy và ghi lại ngay cả khi không được ghi nhận một cách hữu thức. Thuật thôi miên chứng minh điều này.
all is photographed upon the astral light, as the human eye receives impressions upon the retina.
mọi sự đều được chụp lại trên ánh sáng cảm dục, cũng như mắt người tiếp nhận các ấn tượng trên võng mạc.
274. This is an important piece of occultism. It would appear that that “astral light” is not “astral” at all, but rather etheric, since the ethers are physical and the human eye, in its subtle aspect, can reasonably be connected to them.
274. Đây là một mẩu huyền bí học quan trọng. Có vẻ như “ánh sáng cảm dục” ấy thực ra hoàn toàn không phải là “cảm dục”, mà đúng hơn là dĩ thái, vì các dĩ thái là hồng trần và mắt người, trong phương diện vi tế của nó, có thể được nối kết một cách hợp lý với chúng.
275. We are told, in similar vein, that the ability to see the ethers is an ability of the rightly focussed physical human eye.
275. Theo cùng một chiều hướng, chúng ta được bảo rằng khả năng thấy các dĩ thái là khả năng của con mắt hồng trần của con người khi được tập trung đúng cách.
276. What a Lord of Karma has developed in great measure, we have developed in small. Something within us ‘sees’ everything we do and such doings are registered with accuracy in the astral light and ‘read’ by karmic agents.
276. Điều mà một Đấng Nghiệp Quả đã phát triển ở mức độ lớn lao, chúng ta đã phát triển ở mức nhỏ. Có điều gì đó bên trong chúng ta ‘thấy’ mọi điều chúng ta làm và những hành vi ấy được ghi nhận chính xác trong ánh sáng cảm dục và được các tác nhân nghiệp quả ‘đọc’.
277. VSK asks several interesting questions: “See the astral light above. What could it be about the astral light that is serpent like? Does it rotate, spiral, cyclic. It is related to the motion of time and space, and, thus, how time itself must be unrolled?
277. VSK nêu ra vài câu hỏi thú vị: “Hãy xem ánh sáng cảm dục ở trên. Điều gì nơi ánh sáng cảm dục có thể giống rắn? Nó có quay, xoắn ốc, tuần hoàn không. Nó liên hệ với chuyển động của thời gian và không gian, và do đó, với cách chính thời gian phải được mở cuộn ra sao?
278. We gather that the astral light is as a great receptive film or plate, registering all that has transpired. It is also the medium through which the future can be created when it is impressed by thought. It is a magical agent or instrument.
278. Chúng ta hiểu rằng ánh sáng cảm dục giống như một tấm phim hay bản ghi tiếp nhận khổng lồ, ghi lại mọi điều đã xảy ra. Nó cũng là môi trường qua đó tương lai có thể được tạo ra khi được tư tưởng in dấu lên. Nó là một tác nhân hay công cụ huyền thuật.
279. This ‘light’ can be viewed somewhat in a semi-dark room when the ethers are highly activated. When viewing this phenomenon, one sees how difficult it would be to control this ever-moving ‘serpent’. The power of mental fixation is strongly needed.
279. ‘Ánh sáng’ này có thể được nhìn thấy phần nào trong một căn phòng nửa tối khi các dĩ thái được hoạt hóa mạnh. Khi quan sát hiện tượng này, người ta thấy việc kiểm soát ‘con rắn’ luôn chuyển động này sẽ khó đến mức nào. Quyền năng cố định trí tuệ là điều rất cần thiết.
The same thought is frequently conveyed in the Christian Bible, in the Hebrew and Christian recognition of the all-seeing eye of God.
Cùng một tư tưởng này thường được chuyển tải trong Kinh Thánh Cơ Đốc, trong sự thừa nhận của Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo về con mắt toàn kiến của Thượng đế.
280. We have the equivalence of the "eye of Shiva", the ‘Serpent Eye’ and the “all-seeing eye of God”, so strongly promoted in Masonic ritual.
280. Chúng ta có sự tương đương giữa "con mắt của Shiva", ‘Con Mắt Rắn’ và “con mắt toàn kiến của Thượng đế”, vốn được đề cao mạnh mẽ trong nghi lễ Tam Điểm.
281. Can we see how the cultivation of the attitude of the Observer leads eventually to the cultivation of the lesser “all-seeing eye” within man, the third eye, the “eye of Shiva”?
281. Chúng ta có thể thấy việc vun bồi thái độ của Đấng Quan Sát rốt cuộc dẫn đến việc vun bồi “con mắt toàn kiến” nhỏ hơn bên trong con người, con mắt thứ ba, “con mắt của Shiva”, như thế nào không?
The application and value of the hints here given may be apparent if the subject of the third eye is studied, and its relation to the spine, and the spinal currents investigated.
Sự áp dụng và giá trị của những gợi ý được đưa ra ở đây có thể trở nên hiển nhiên nếu chủ đề về con mắt thứ ba được nghiên cứu, và mối liên hệ của nó với cột sống, cùng các dòng chảy trong cột sống được khảo sát.
282. DK is suggesting that the third eye is awakened by the rising serpent power.
282. Chân sư DK đang gợi ý rằng con mắt thứ ba được đánh thức bởi xà lực đi lên.
283. The one who has awakened the third eye is like the “The Living Serpent”, the ‘Lipika Serpent’ with the ruby-red ‘Eye of Synthesis’. We human beings can become as serpents with the single eye. As we become so, we reflect our individual ‘Serpent in Heaven’, the Solar Angel.
283. Người đã đánh thức con mắt thứ ba thì giống như “Con Rắn Sống”, ‘Con Rắn Lipika’ với ‘Con Mắt Tổng Hợp’ đỏ hồng ngọc. Chúng ta, những con người, có thể trở thành như những con rắn với một con mắt duy nhất. Khi trở nên như thế, chúng ta phản chiếu ‘Con Rắn trên Trời’ cá nhân của mình, Thái dương Thiên Thần.
This third eye is one of the objects of kundalinic vivification,
Con mắt thứ ba này là một trong những đối tượng của sự tiếp sinh lực kundalini,
284. Note that it is not the only object of kundalinic vivification.
284. Lưu ý rằng nó không phải là đối tượng duy nhất của sự tiếp sinh lực kundalini.
and in the spinal territory there is first the centre at the base of the spine, the home of the sleeping fire.
và trong khu vực cột sống trước hết có trung tâm ở đáy cột sống, nơi cư ngụ của ngọn lửa đang ngủ.
285. The center at the base of the spine is a first ray center and the "eye of Shiva" is a first ray evocation—it is the “eye of synthesis”—really a blend of first and second ray attributes, for synthesis conveys the second aspect of the first ray.
285. Trung tâm ở đáy cột sống là một trung tâm cung một và "con mắt của Shiva" là một sự gợi lên cung một—nó là “con mắt của tổng hợp”—thực ra là một sự pha trộn các thuộc tính của cung một và cung hai, vì tổng hợp chuyển tải phương diện thứ hai của cung một.
286. DK is connecting for us the base of the spine center and the third eye. We can see that the kundalini serpent must rise with power if the third eye is to be opened. This requires the conservation of the energies of the body, purification and a general disciplining of the energy system.
286. Chân sư DK đang nối kết cho chúng ta trung tâm đáy cột sống và con mắt thứ ba. Chúng ta có thể thấy rằng xà kundalini phải trỗi dậy mạnh mẽ nếu con mắt thứ ba được mở ra. Điều này đòi hỏi sự bảo tồn các năng lượng của thể, sự thanh lọc và một sự kỷ luật tổng quát đối với hệ thống năng lượng.
287. VSK continues her speculations on the ‘Lipika Serpent’: “This third eye, is like that ruby eye of the blue serpent. Who is our kundalinic-like Lipika Lord, who is ‘the closest’ to our Logos? Could this be literal, that he is near is proximity, as if the Planetary Logos is a localized center? If a Logos is Head Center (heart in head), then is the pineal and pituitary relationship a decent analogy for the Logos and the Lipika Lord, with one ruby red eye, and a lovely blue serpent?”
287. VSK tiếp tục những suy đoán của bà về ‘Con Rắn Lipika’: “Con mắt thứ ba này giống như con mắt hồng ngọc của con rắn màu lam ấy. Đấng Lipika giống-kundalini của chúng ta, Đấng ‘gần nhất’ với Thượng đế của chúng ta, là ai? Điều này có thể là nghĩa đen không, rằng ông ở gần về khoảng cách, như thể Đức Hành Tinh Thượng Đế là một trung tâm được định vị cục bộ? Nếu một Thượng đế là Trung tâm Đầu (tim trong đầu), thì mối liên hệ giữa tuyến tùng và tuyến yên có phải là một phép loại suy thích đáng cho Thượng đế và Đấng Lipika, với một con mắt đỏ hồng ngọc, và một con rắn màu lam tuyệt đẹp không?”
288. Interestingly, however, the third eye may also be called the ‘eye of blue’.
288. Tuy nhiên, điều thú vị là con mắt thứ ba cũng có thể được gọi là ‘con mắt màu lam’.
The "Eye of Shiva," when perfected, is blue in colour, and as our solar Logos is the "Blue Logos" so do His children occultly resemble Him; but this colour must be interpreted esoterically. (TCF 1011)
Con Mắt của Shiva," khi được hoàn thiện, có màu lam, và cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta là "Thượng đế Lam", thì con cái của Ngài một cách huyền bí cũng giống Ngài; nhưng màu sắc này phải được giải thích một cách huyền bí. (TCF 1011)
289. Thus the first ray/second ray nature of this ‘Wisdom Eye’ is revealed.
289. Như vậy, bản chất cung một/cung hai của ‘Con Mắt Minh Triết’ này được mặc khải.
290. It would seem that man must perfect the blue before moving to the red. The powerful Lipika Lord under discussion, long ago perfected the second aspect symbolized by blue.
290. Có vẻ như con người phải hoàn thiện màu lam trước khi chuyển sang màu đỏ. Đấng Lipika quyền năng đang được bàn đến đã từ lâu hoàn thiện phương diện thứ hai được biểu tượng hóa bằng màu lam.
291. The name of one of the four Karmic Lords is “Pain”(cf. Externalization of the Hierarchy 116-117). Could this be the Lord most closely related to our Planetary Logos?
291. Tên của một trong bốn Đấng Nghiệp Quả là “Đau Đớn” (xem Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn 116-117). Liệu đây có phải là Đấng liên hệ mật thiết nhất với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta không?
Next we have the triple channel along which that fire will travel in due course of evolution, and finally we find at the summit of the column, and surmounting all, that small organ called the pineal gland, which when vivified causes the third eye to open, and the beauties of the higher, subtler planes to stand revealed.
Tiếp theo chúng ta có kênh tam phân mà theo đó ngọn lửa ấy sẽ di chuyển trong tiến trình tiến hoá đúng lúc, và cuối cùng chúng ta thấy ở đỉnh của trụ, và vượt lên trên tất cả, cơ quan nhỏ gọi là tuyến tùng, mà khi được tiếp sinh lực sẽ khiến con mắt thứ ba mở ra, và vẻ đẹp của các cõi cao hơn, vi tế hơn được mặc khải.
292. It must be evident that, in the occult anatomy depicted, we have the living structure upon which the Rod of Initiation is modelled.
292. Hiển nhiên là, trong giải phẫu huyền bí được mô tả, chúng ta có cấu trúc sống động mà trên đó Thần Trượng Điểm đạo được mô phỏng theo.
293. The diamond atop the Rod of Initiation can be construed as the pineal gland.
293. Viên kim cương trên đỉnh Thần Trượng Điểm đạo có thể được hiểu là tuyến tùng.
294. The triple channel suggests the structure of that particular Rod of Initiation called the “Flaming Diamond”.
294. Kênh tam phân gợi ra cấu trúc của Thần Trượng Điểm đạo đặc biệt được gọi là “Kim Cương Rực Lửa”.
The Rod of Sanat Kumara is far more intricate, and instead of the central Rod, or Serpent, standing on the tip of its tail, all the three serpents are interwoven in a spiral fashion, and the Flaming Diamond which surmounts it is of such radiance that the effect is produced of a spheroidal aura, cast around the interlaced serpents, typifying the form-building nature of the Vishnu activity. (TCF 1035-1036)
Thần Trượng của Đức Sanat Kumara còn phức tạp hơn nhiều, và thay vì cây Trượng trung tâm, hay Con Rắn, đứng trên chót đuôi của nó, cả ba con rắn đều đan xen nhau theo hình thức xoắn ốc, và Kim Cương Rực Lửa ở trên cùng của nó có độ rực sáng đến mức tạo ra hiệu quả của một hào quang hình cầu bao quanh các con rắn đan xen, tượng trưng cho bản chất kiến tạo hình tướng của hoạt động Vishnu. (TCF 1035-1036)
295. We will suspect that the application of the Rod of Initiation (especially at the third initiation) does much to open the third eye.
295. Chúng ta sẽ ngờ rằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo (đặc biệt ở lần điểm đạo thứ ba) góp phần rất nhiều vào việc mở con mắt thứ ba.
296. That part of the third eye correlated with synthesis and with the first ray is stimulated by the conscious touch of the Monad which occurs at that initiation.
296. Phần của con mắt thứ ba tương liên với tổng hợp và với cung một được kích thích bởi sự tiếp xúc hữu thức của chân thần xảy ra ở lần điểm đạo ấy.
All this physico-psychical occurrence is possible to man owing to certain events which happened to the Heavenly Serpent in the second, or serpent, round.
Tất cả biến cố hồng trần-thông linh này đều có thể xảy ra cho con người nhờ những biến cố nhất định đã xảy ra với Thiên Xà trong cuộc tuần hoàn thứ hai, hay cuộc tuần hoàn rắn.
297. We can see the profound hint offered even if it is difficult to understand.
297. Chúng ta có thể thấy gợi ý sâu xa được đưa ra dù khó hiểu.
298. It would seem that the entire program of initiation now possible to man had its origin (as far as our planetary chain is concerned) in events occurring during the second round of our Earth-chain.
298. Có vẻ như toàn bộ chương trình điểm đạo hiện nay có thể có đối với con người đã bắt nguồn (xét theo dãy hành tinh của chúng ta) từ những biến cố xảy ra trong cuộc tuần hoàn thứ hai của Dãy Địa Cầu.
299. Was it then that the Sirian influence was particularly potent, as it is the Sirian influence which impels the entire program of initiation, not only on this planet but in our solar system as well?
299. Có phải khi ấy ảnh hưởng Sirian đặc biệt mạnh mẽ, vì chính ảnh hưởng Sirian thúc đẩy toàn bộ chương trình điểm đạo, không chỉ trên hành tinh này mà cả trong hệ mặt trời của chúng ta nữa?
300. Initiation is both physical and psychical—DK calls it a “physico-psychical occurrence”.
300. Điểm đạo vừa là hồng trần vừa là thông linh—Chân sư DK gọi nó là một “biến cố hồng trần-thông linh”.
301. Is the “Heavenly Serpent” that particular great Solar Angel associated with our particular Planetary Logos upon the cosmic mental plane? Planetary Logoi have associated with them such Solar Angels (building and sustaining their egoic structure) as do Solar Logoi.
301. “Thiên Xà” có phải là Thái dương Thiên Thần vĩ đại đặc biệt ấy liên kết với Đức Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của chúng ta trên cõi trí vũ trụ không? Các Hành Tinh Thượng Đế có liên kết với các Thái dương Thiên Thần như thế (kiến tạo và duy trì cấu trúc chân ngã của các Ngài) cũng như các Thái dương Thượng đế vậy.
302. When we think of the motion of a round, we can easily envision the serpent swallowing its tail.
302. Khi nghĩ đến chuyển động của một cuộc tuần hoàn, chúng ta có thể dễ dàng hình dung con rắn nuốt đuôi mình.
These happenings necessitated the formation and evolution of that peculiar and mysterious family we call the reptilian.
Những biến cố này đòi hỏi sự hình thành và tiến hoá của gia đình đặc thù và huyền bí mà chúng ta gọi là loài bò sát.
303. It would seem that, as far as promoting the relationship between our Planetary Logos and the Planetary Logos of Venus (in relation to our Earth-chain), the second round of our chain would have offered a particularly propitious opportunity.
303. Có vẻ như, xét về việc thúc đẩy mối liên hệ giữa Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và Đức Hành Tinh Thượng Đế của Sao Kim (liên hệ với Dãy Địa Cầu của chúng ta), cuộc tuần hoàn thứ hai của dãy chúng ta hẳn đã đem lại một cơ hội đặc biệt thuận lợi.
304. Different types of animals originated in different rounds. The implication here is that the reptilian family originated in the second round.
304. Các loại động vật khác nhau phát sinh trong các cuộc tuần hoàn khác nhau. Hàm ý ở đây là gia đình bò sát phát sinh trong cuộc tuần hoàn thứ hai.
305. We could begin to wonder whether the reptile kingdom came into being as a result of the soul (the “Heavenly Serpent”) influence of our Planetary Logos and as a result of His interplay with the Planetary Logos of the Venus-scheme.
305. Chúng ta có thể bắt đầu tự hỏi liệu giới bò sát có xuất hiện như là kết quả của ảnh hưởng linh hồn (“Thiên Xà”) của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và như là kết quả của sự tương tác của Ngài với Đức Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Kim Tinh hay không.
306. According to contemporary scientific theory, that period for the arising of the reptile family may have been too many millions of years ago to be reasonable, for each round seems to take more than 300 million years, with the length of the earlier rounds being probably greater rather than equal or lesser. This could suggest a second round occurring more than 600 million years ago. As far as science is concerned, the reptiles arose much more recently.
306. Theo lý thuyết khoa học đương đại, thời kỳ cho sự xuất hiện của gia đình bò sát có thể đã là quá nhiều triệu năm trước để có vẻ hợp lý, vì mỗi cuộc tuần hoàn dường như kéo dài hơn 300 triệu năm, với độ dài của các cuộc tuần hoàn sớm hơn có lẽ lớn hơn chứ không phải bằng hay ngắn hơn. Điều này có thể gợi ý một cuộc tuần hoàn thứ hai xảy ra hơn 600 triệu năm trước. Theo khoa học, loài bò sát xuất hiện muộn hơn nhiều.
307. Yet, we can ask whether there might not have been a reptile family in the second round, the third round and in the fourth—all three. In such a case, the arising of the reptile family in our fourth round would simply be linked to predecessor reptile families in the third and second rounds.
307. Tuy vậy, chúng ta có thể hỏi liệu đã không thể có một gia đình bò sát trong cuộc tuần hoàn thứ hai, cuộc tuần hoàn thứ ba và trong cuộc tuần hoàn thứ tư—cả ba hay sao. Trong trường hợp như thế, sự xuất hiện của gia đình bò sát trong cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta đơn giản sẽ được nối kết với các gia đình bò sát tiền nhiệm trong các cuộc tuần hoàn thứ ba và thứ hai.
308. The mystery, really, is profound. Perhaps some deep meditation is needed to consider ourselves as a congery of serpents/reptiles of different kinds. The battle between the serpents (between the “Devil” and the “Angels”) is surely the predominating issue of human living.
308. Huyền nhiệm này thực sự sâu xa. Có lẽ cần một sự tham thiền sâu để xem xét chính chúng ta như một tập hợp hỗn tạp của những con rắn/loài bò sát thuộc nhiều loại khác nhau. Trận chiến giữa các con rắn (giữa “Quỷ” và “các Thiên Thần”) chắc chắn là vấn đề nổi trội của đời sống con người.
These forms of divine life [the reptile family] are very intimately connected with the second planetary scheme,
Những hình tướng của sự sống thiêng liêng này [gia đình bò sát] liên hệ rất mật thiết với hệ hành tinh thứ hai,
309. That planetary scheme is Venus. The “Feathered Serpent”, Quetzalquatal, may be considered Venusian in origin, and the coming of the ‘solar serpents’ (HPB calls this host “Satan” in the higher sense of the word) are strongly impulsed from Venus.
309. Hệ hành tinh đó là Sao Kim. “Con Rắn Có Lông Vũ”, Quetzalquatal, có thể được xem là có nguồn gốc Kim Tinh, và sự xuất hiện của các ‘thái dương xà’ (HPB gọi đạo quân này là “Satan” theo nghĩa cao hơn của từ này) được thúc đẩy mạnh mẽ từ Sao Kim.
310. Quetzalquatal is, in one manner of interpretation, the Christ and Christ is uniquely related to Venus, just as Buddha is to Mercury.
310. Quetzalquatal, theo một cách giải thích, là Đức Christ và Đức Christ có liên hệ độc đáo với Sao Kim, cũng như Đức Phật với Sao Thủy.
311. We might say that Venus rules the second or serpent round in which, ostensibly, the reptiles emerged.
311. Chúng ta có thể nói rằng Sao Kim cai quản cuộc tuần hoàn thứ hai hay cuộc tuần hoàn rắn, trong đó, bề ngoài, loài bò sát đã xuất hiện.
312. We might think that Scorpio (the serpent sign) was very influential in that round. In Scorpio occurs the great battle between the lesser serpents and the greater.
312. Chúng ta có thể nghĩ rằng Hổ Cáp (dấu hiệu con rắn) đã rất có ảnh hưởng trong cuộc tuần hoàn ấy. Trong Hổ Cáp xảy ra trận chiến lớn giữa những con rắn nhỏ hơn và những con rắn lớn hơn.
313. The entire battle between the Black Lodge and the White Lodge is the battle between two types of serpents or dragons, and this battle is waged strongly under the influence of Scorpio (in which, interestingly, Venus is detrimented).
313. Toàn bộ trận chiến giữa Hắc đoàn và Thánh đoàn là trận chiến giữa hai loại rắn hay rồng, và trận chiến này được tiến hành mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của Hổ Cáp (trong đó, điều thú vị là Sao Kim bị suy yếu).
314. Our image of Venus would not usually support the idea that it was connected with the reptilian family, but so it appears to be.
314. Hình ảnh của chúng ta về Sao Kim thường sẽ không ủng hộ ý tưởng rằng nó liên hệ với gia đình bò sát, nhưng dường như đúng là như vậy.
being responsive to energy emanating from that scheme, and reaching the earth via the second globe in the second chain.
đáp ứng với năng lượng phát ra từ hệ hành tinh ấy, và đến trái đất qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy thứ hai.
315. We must meditate upon the relationship of Venus to the reptile kingdom or family. We know already that Venus rules that Creative Hierarchy called the “Crocodiles”. Interestingly, Lakshmi (Venus) rides on the back of a crocodile! This is the symbol of the conquest of the lower reptile by the ‘Greater Serpent’, the soul.
315. Chúng ta phải tham thiền về mối liên hệ của Sao Kim với giới hay gia đình bò sát. Chúng ta đã biết rằng Sao Kim cai quản Huyền Giai Sáng Tạo được gọi là “Cá Sấu”. Điều thú vị là Lakshmi (Kim Tinh) cưỡi trên lưng một con cá sấu! Đây là biểu tượng của sự chinh phục loài bò sát thấp hơn bởi ‘Con Rắn Lớn Hơn’, linh hồn.
316. Those who would become Solar Angels are on the ‘Serpent Path’ and will be treading their way to Sirius (a star closely related to serpent symbolism just as Venus is).
316. Những ai sẽ trở thành các Thái dương Thiên Thần đang ở trên ‘Con Đường Rắn’ và sẽ bước đi trên con đường của mình đến Sirius (một ngôi sao liên hệ mật thiết với biểu tượng rắn cũng như Sao Kim vậy).
A group of special devas (connected with a particular open sound in the planetary Word), work with the reptile evolution.
Một nhóm thiên thần đặc biệt (liên hệ với một âm mở đặc biệt trong Linh từ hành tinh), làm việc với sự tiến hoá của loài bò sát.
317. Simply amazing information. We are not yet in a position to do much with it.
317. Thông tin thật đáng kinh ngạc. Chúng ta chưa ở vào vị thế có thể làm được nhiều với nó.
318. We note that the sound is “open” which means that it is not a consonant, nor is it likely to be a vowel produced through a small aperture. DK is hinting at much when calling the sound “open”.
318. Chúng ta lưu ý rằng âm ấy là “mở”, nghĩa là nó không phải là một phụ âm, cũng không có vẻ là một nguyên âm được tạo ra qua một khẩu độ nhỏ. Chân sư DK đang gợi ý rất nhiều khi gọi âm ấy là “mở”.
319. We could associate this sound with the letter “O” which is particularly open and can be seen as the serpent swallowing its tail.
319. Chúng ta có thể liên kết âm này với chữ “O”, vốn đặc biệt mở và có thể được xem như con rắn nuốt đuôi mình.
320. The letter would have to represent the second aspect.
320. Chữ ấy hẳn phải biểu thị phương diện thứ hai.
321. We do not know the Planetary Word. Even the Masters of the Wisdom do not. The OM, however, is a symbol of this Word, and the OM is the word of the second aspect.
321. Chúng ta không biết Linh từ Hành Tinh. Ngay cả các Chân sư Minh Triết cũng không biết. Tuy nhiên, OM là một biểu tượng của Linh từ này, và OM là linh từ của phương diện thứ hai.
322. Interestingly, the letter “O” is a Jupiterian sound and Jupiter is a expression on the soul level of the second ray.
322. Điều thú vị là, chữ cái “O” là một âm thanh thuộc Sao Mộc, và Sao Mộc là một biểu hiện trên cấp độ linh hồn của cung hai.
323. From another perspective, the letter A in AUM, is pronounced “ah” which, according to Rudolf Steiner, is the sound associated with Venus (and is surely the most “open” of sounds). Yet, in a way, the A is connected to the first aspect rather than the second.
323. Từ một góc nhìn khác, chữ A trong AUM được phát âm là “ah”, mà theo Rudolf Steiner, là âm liên hệ với Sao Kim (và chắc chắn là âm “mở” nhất trong các âm). Tuy vậy, theo một nghĩa nào đó, A liên hệ với phương diện thứ nhất hơn là phương diện thứ hai.
324. When thinking about the “U”, although a vowel sound, it is rather constrained and not particularly open.
324. Khi nghĩ về “U”, dù là một nguyên âm, nó khá bị hạn chế và không đặc biệt mở.
325. VSK offers her opinion regarding DK’s hints: “This is the “U”. (Again, similar to the ‘secret of fire lies hid in the second letter of the sacred word’.) Thus, how dissimilar is the secret of the life of the soul from that of the spirit as this ‘open sound’, O of OM, or U of AUM?”
325. VSK đưa ra ý kiến của bà về những gợi ý của Chân sư DK: “Đây là “U”. (Một lần nữa, tương tự như ‘bí mật của lửa ẩn kín trong chữ thứ hai của linh từ thiêng liêng’.) Vậy thì bí mật của sự sống của linh hồn khác với bí mật của tinh thần đến mức nào khi là ‘âm mở’ này, O của OM, hay U của AUM?”
326. We can definitely connect the “U” with the second aspect, but, again, it is not a particularly ‘open’ sound. Its aperture is smaller and it is more constrained.
326. Chúng ta chắc chắn có thể nối kết “U” với phương diện thứ hai, nhưng một lần nữa, nó không phải là một âm đặc biệt ‘mở’. Khẩu độ của nó nhỏ hơn và nó bị hạn chế hơn.
327. The “U”, however, does signify descent and re-ascent. When a dome is placed atop the “U”, capping it, the “U” becomes an oval suggesting the “O” but in a less rounded manner. When domed, the “U” becomes the symbol of the Egg out of which the ‘Heavenly Serpent” is hatched.
327. Tuy nhiên, “U” quả thực biểu thị sự giáng xuống và lại đi lên. Khi một mái vòm được đặt trên đỉnh chữ “U”, phủ lên nó, thì “U” trở thành một hình bầu dục gợi ra chữ “O” nhưng theo cách ít tròn hơn. Khi được chụp vòm, “U” trở thành biểu tượng của Quả Trứng mà từ đó ‘Thiên Xà” nở ra.
It should be noted here that this evolution on the etheric planes has a closer effect upon man than on the physical.
Cần lưu ý rằng ở đây sự tiến hoá này trên các cõi dĩ thái có tác động gần gũi lên con người hơn là lên cõi hồng trần.
328. The etheric planes are most probably the planes of the astral light. The undulatory motion of the ethers suggest the serpent and the stronger influence of the reptilian evolution on the ethers than on the physical plane.
328. Các cõi dĩ thái rất có thể là các cõi của ánh sáng cảm dục. Chuyển động gợn sóng của các dĩ thái gợi ra loài rắn và ảnh hưởng mạnh hơn của sự tiến hoá loài bò sát trên các dĩ thái hơn là trên cõi hồng trần.
If students will apply themselves to the consideration of these facts, to the investigation of the serpent lore in all lands, mythologies and scriptures, and if they will link up all this knowledge with that concerning those heavenly constellations which have a serpent appellation (such as, for instance, the Dragon), much [Page 895] illumination may come.
Nếu các đạo sinh chuyên tâm suy xét các sự kiện này, khảo cứu truyền thuyết về rắn ở mọi xứ sở, các thần thoại và kinh điển, và nếu họ liên kết tất cả tri thức này với tri thức liên quan đến những chòm sao thiên giới mang tên gọi của rắn (chẳng hạn như Rồng), thì nhiều [Page 895] sự soi sáng có thể đến.
329. VSK suggests that “This requires a full course”.
329. VSK gợi ý rằng: “Điều này đòi hỏi cả một khóa học đầy đủ”.
330. She is correct. It suggests a full book or thesis that could be written. Vast will be the research required, but great mysteries will be revealed. The serpent is surely (to man) the most mysterious of creatures.
330. Bà ấy đúng. Điều này gợi ra cả một cuốn sách hoặc luận án có thể được viết. Sẽ cần đến sự nghiên cứu rộng lớn, nhưng những huyền nhiệm lớn lao sẽ được mặc khải. Đối với con người, rắn quả thật là loài thụ tạo bí ẩn nhất.
If the intuition suffices, knowledge may then be imparted which will make clearer the connection between the physical bodies with their centres, and the psychic nature.
Nếu trực giác là đủ, tri thức khi ấy có thể được truyền đạt, điều sẽ làm sáng tỏ hơn mối liên hệ giữa các thể xác với các trung tâm của chúng, và bản chất thông linh.
331. We are looking for the relationship between the soul nature (the true psychic nature) and the various vehicles of the personality with their chakras.
331. Chúng ta đang tìm kiếm mối liên hệ giữa bản chất linh hồn (bản chất thông linh chân thực) và các vận cụ khác nhau của phàm ngã cùng với các luân xa của chúng.
332. It would appear that influence from the psychic nature travels to the centers in serpentine waves.
332. Dường như ảnh hưởng từ bản chất thông linh truyền đến các trung tâm theo những làn sóng uốn lượn như rắn.
333. Interestingly, some early depictions of the antahkarana (passed among the early groupings of students of Master DK) showed it to be a serpentine structure representing the letter “S”.
333. Điều thú vị là, một số hình mô tả ban đầu về antahkarana (được truyền trong các nhóm đạo sinh đầu tiên của Chân sư DK) cho thấy nó là một cấu trúc hình rắn biểu thị chữ “S”.
The bird kingdom is specifically allied to the deva evolution.
Giới chim được liên kết đặc biệt với sự tiến hoá thiên thần.
334. This is shown graphically in Jinarajadasa’s First Principles of Theosophy.
334. Điều này được trình bày bằng hình ảnh trong tác phẩm First Principles of Theosophy.
335. In the charts he presents, fishes and birds are destined to become devas.
335. Trong các biểu đồ ông trình bày, cá và chim được định sẵn sẽ trở thành thiên thần.
336. Interestingly, amphibians, reptiles and mammals are destined to become men.
336. Điều thú vị là, loài lưỡng cư, bò sát và thú có vú được định sẵn sẽ trở thành con người.
337. The common denominator between these two kingdoms is the possession of wings.
337. Mẫu số chung giữa hai giới này là việc sở hữu cánh.
It is the bridging kingdom between the purely deva evolution and two other manifestations of life.
Đó là giới bắt cầu giữa sự tiến hoá thiên thần thuần túy và hai biểu hiện khác của sự sống.
338. These two other manifestations of life are the human kingdom and the animal kingdom.
338. Hai biểu hiện khác của sự sống này là giới nhân loại và giới động vật.
First. Certain groups of devas who desire to pass into the human kingdom, having developed certain faculties, can do so via the bird kingdom,
Thứ nhất. Một số nhóm thiên thần mong muốn đi vào giới nhân loại, sau khi đã phát triển một số năng lực nhất định, có thể làm như vậy qua giới chim,
339. We note that only those devas who have “developed certain faculties” can pass into the human kingdom. It seems that there are not a great number of devas who undergo this type of transition.
339. Chúng ta lưu ý rằng chỉ những thiên thần đã “phát triển một số năng lực nhất định” mới có thể đi vào giới nhân loại. Dường như không có nhiều thiên thần trải qua loại chuyển tiếp này.
340. Are these devas self-conscious? It would seem not, as birds are not self-conscious. And yet the factor of desire is present. If they are not self-conscious, then the desire cannot be conscious desire. Animals have desire but not conscious desire, so that while they do desire, they do not know they desire.
340. Những thiên thần này có ngã thức không? Dường như là không, vì chim không có ngã thức. Tuy nhiên, yếu tố ham muốn vẫn hiện diện. Nếu họ không có ngã thức, thì ham muốn ấy không thể là ham muốn có ý thức/hữu thức. Động vật có ham muốn nhưng không có ham muốn có ý thức/hữu thức, nên tuy chúng có ham muốn, chúng không biết rằng chúng ham muốn.
341. VSK asks: “What sort of implication are here monadically. Are there not separate Human Monads and Deva Monads. How does the Monad ‘change’ kingdoms at this level? Curious. If it’s a buddhic level change (sub-monadic) then that may offer some changeover where ‘men and deva ‘meet’ on the buddhic? What does that mean? Are the birds most representative of the buddhic or plane of air, and that of messengers, Mercury (the ruler of the Buddhic Hierarchy)?”
341. VSK hỏi: “Ở đây hàm ý gì về mặt chân thần? Chẳng phải có các Chân thần Nhân loại riêng biệt và các Chân thần Thiên thần riêng biệt sao. Chân thần ‘thay đổi’ các giới ở cấp độ này như thế nào? Thật lạ. Nếu đó là một sự thay đổi ở cấp độ Bồ đề (dưới chân thần) thì điều đó có thể gợi ra một sự chuyển đổi nào đó nơi ‘con người và thiên thần’ ‘gặp nhau’ trên cõi Bồ đề chăng? Điều đó có nghĩa là gì? Có phải chim tiêu biểu nhất cho cõi Bồ đề hay cõi khí, và cho những sứ giả, Sao Thủy (chủ tinh của Huyền Giai Bồ đề) không?”
342. The implication in this first point seems to contradict that which Jinarajadasa tabulated—that birds enter the deva kingdom and not the human kingdom. From what DK here suggests, it would be possible to become a human being via the bird kingdom.
342. Hàm ý trong điểm thứ nhất này dường như mâu thuẫn với điều Jinarajadasa đã lập bảng — rằng chim đi vào giới thiên thần chứ không phải giới nhân loại. Theo điều DK gợi ra ở đây, sẽ có thể trở thành một con người qua giới chim.
343. In answer to VSK’s query, while there are human Monads and deva Monads, there is nothing in the lore which tells us that no crossover is possible. Whether a Monad manifests as a deva or a human depends upon the quality of the vehicle, and the vehicle can change.
343. Để trả lời câu hỏi của VSK, tuy có các Chân thần nhân loại và các Chân thần thiên thần, không có gì trong truyền thống huyền môn cho chúng ta biết rằng không thể có sự giao thoa. Một Chân thần biểu hiện như một thiên thần hay một con người tùy thuộc vào phẩm tính của vận cụ/hiện thể, và vận cụ ấy có thể thay đổi.
344. The highest type of Beings are consciously both deva and ‘man’ (for instance, Heavenly Man and Grand Heavenly Man). In this they are Hermaphrodites.
344. Loại Hữu thể cao nhất một cách hữu thức là cả thiên thần lẫn ‘con người’ (chẳng hạn, Đấng Thiên Nhân và Grand Heavenly Man). Trong điều này Các Ngài là lưỡng tính.
345. Monads are pure spirit. Pure spirit can manifest through any kind of vehicle provided it is suitably refined and strong.
345. Các chân thần là tinh thần thuần túy. Tinh thần thuần túy có thể biểu hiện qua bất kỳ loại vận cụ nào miễn là nó được tinh luyện thích đáng và đủ mạnh.
and certain devas who wish to get in communication with human beings can do so via the bird kingdom.
và một số thiên thần muốn liên lạc với con người có thể làm như vậy qua giới chim.
346. This type of communication would come under the category of ‘bird omens’. Black birds are considered ominous. Other birds, perhaps, more fortunate.
346. Loại giao tiếp này sẽ thuộc phạm trù ‘điềm chim’. Chim đen được xem là điềm gở. Những loài chim khác, có lẽ, may mắn hơn.
347. Presumably the types of devas who wish to get in communication with human beings would be transmitting devas, highly self-conscious and intelligent.
347. Có lẽ những loại thiên thần muốn liên lạc với con người sẽ là các thiên thần truyền đạt, có ngã thức cao và thông minh.
348. It must be that birds are especially sensitive to devic currents.
348. Ắt hẳn chim đặc biệt nhạy cảm với các dòng thiên thần.
This truth is hinted at in the Christian Bible and Christian religious representations by angels or devas being frequently represented as having wings.
Chân lý này được gợi ý trong Kinh Thánh Cơ Đốc và trong các hình tượng tôn giáo Cơ Đốc khi các thiên thần thường được biểu hiện là có cánh.
349. Both birds and angels, therefore, are closely related to the buddhic plane or “plane of air”.
349. Vì vậy, cả chim lẫn thiên thần đều có liên hệ mật thiết với cõi Bồ đề hay “cõi khí”.
350. Devas are “winged messengers”(Mercury) and, to a lesser degree, this can be true of responsive birds.
350. Thiên thần là “những sứ giả có cánh” (Sao Thủy) và, ở mức độ thấp hơn, điều này cũng có thể đúng với những loài chim có tính đáp ứng.
These cases are not many, as the usual method is for the devas gradually to work themselves towards individualisation through expansive feeling,
Những trường hợp này không nhiều, vì phương pháp thông thường là để các thiên thần dần dần tự tiến tới biệt ngã hóa qua cảm xúc mở rộng,
351. This is such an important statement and reveals to us the devic nature of great artists and their art.
351. Đây là một phát biểu rất quan trọng và mặc khải cho chúng ta bản chất thiên thần của các nghệ sĩ lớn và nghệ thuật của họ.
352. The statement also confirms that which was suggested above—that not many devas become self-conscious in this manner (i.e., reaching participation in the human kingdom through the kingdom of birds).
352. Phát biểu này cũng xác nhận điều đã được gợi ý ở trên — rằng không nhiều thiên thần trở nên có ngã thức theo cách này (tức là đạt đến sự tham dự vào giới nhân loại qua giới chim).
353. Any experience of unusual intensity calls attention to itself as being other than the customary experiences within the environment in which the experiencer is imbedded—and, thus, calls attention to the experiencer as a center within the field of experience. This calling of attention to itself is an intensification of attention promoting that state of self-realization or self-centering called “individualization”.
353. Bất kỳ kinh nghiệm nào có cường độ khác thường đều tự làm nổi bật mình như là khác với những kinh nghiệm thông thường trong môi trường mà kẻ trải nghiệm đang được đặt vào — và do đó làm nổi bật kẻ trải nghiệm như một trung tâm trong trường kinh nghiệm. Sự tự làm nổi bật này là một sự tăng cường chú ý, thúc đẩy trạng thái tự chứng nghiệm hay tự tập trung vào bản thân được gọi là “biệt ngã hóa”.
but in the cases which do occur these devas pass several cycles in the bird kingdom, building in a response to a vibration which will ultimately swing them into the human family.
nhưng trong những trường hợp có xảy ra các thiên thần này trải qua nhiều chu kỳ trong giới chim, xây dựng trong mình một sự đáp ứng đối với một rung động mà rốt cuộc sẽ đưa họ vào gia đình nhân loại.
354. One could wonder whether such devas transiting to the human kingdom as birds become those birds which have a close relation to man—parrots, falcons, carrier pigeons, parrots, songbirds of the domesticated type.
354. Người ta có thể tự hỏi liệu những thiên thần như thế đang chuyển sang giới nhân loại qua hình thức chim có trở thành những loài chim có quan hệ gần gũi với con người hay không — vẹt, chim ưng, bồ câu đưa thư, vẹt, chim hót loại được nuôi trong nhà.
355. It is clear from DK writes that the human kingdom can be reached via the bird kingdom.
355. Từ điều DK viết, rõ ràng là giới nhân loại có thể đạt đến qua giới chim.
356. When dealing with birds, one wonders which ones are particularly an expression of deva life and which are more normal.
356. Khi bàn đến chim, người ta tự hỏi loài nào đặc biệt là một biểu hiện của sự sống thiên thần và loài nào bình thường hơn.
357. While most birds cannot be as easily trained or domesticated as the usual domesticated mammals, there are many instances in which this does occur.
357. Dù phần lớn chim không thể được huấn luyện hay thuần hóa dễ dàng như các loài thú nuôi thông thường, vẫn có nhiều trường hợp điều này xảy ra.
358. We are led to ask about the duration of these “several cycles”. A cycle is not necessarily the same as a incarnation. In fact, a cycle may be of very long duration.
358. Chúng ta được dẫn đến chỗ đặt câu hỏi về thời lượng của “nhiều chu kỳ” này. Một chu kỳ không nhất thiết giống như một lần lâm phàm. Thật ra, một chu kỳ có thể kéo dài rất lâu.
In this way they become accustomed to the use of a gross form without the limitations, and impurities, which the animal kingdom engenders.
Theo cách này chúng trở nên quen với việc sử dụng một hình tướng thô nặng mà không có những giới hạn và tạp chất do giới động vật tạo ra.
359. DK is telling us about passageways into the human kingdom. The passage way via the animal kingdom is of lesser purity than the passageway via the bird kingdom.
359. DK đang cho chúng ta biết về những lối đi vào giới nhân loại. Lối đi qua giới động vật có độ thanh khiết thấp hơn lối đi qua giới chim.
360. It is interesting that birds, in this context, are not really considered to be members of the animal kingdom.
360. Điều thú vị là, trong bối cảnh này, chim thực ra không được xem là thành viên của giới động vật.
361. The form of birds is less gross than the animal.
361. Hình tướng của chim ít thô nặng hơn động vật.
362. VSK reflects: “Well, what limitations and impurities do other animals give that the bird has not? They both have digestive systems, and birds of prey are certainly carnivorous. Is this only certain birds in ‘the bird kingdom’. Only those that fly? Not ostriches? Kiwi’s? Parrots and blackbirds alike? Song birds? Birds of prey? Or, only those domesticated and living near to man? (I mean, are we going to have past life recall with, “When I was a budgie.”)
362. VSK suy ngẫm: “Những giới hạn và tạp chất nào mà các động vật khác có còn chim thì không? Cả hai đều có hệ tiêu hóa, và chim săn mồi chắc chắn là loài ăn thịt. Có phải điều này chỉ áp dụng cho một số loài chim nào đó trong ‘giới chim’ không? Chỉ những loài biết bay thôi sao? Không phải đà điểu? Kiwi? Vẹt và chim sáo đen như nhau chăng? Chim hót? Chim săn mồi? Hay chỉ những loài được thuần hóa và sống gần con người? (Ý tôi là, liệu chúng ta có hồi tưởng tiền kiếp với câu, “Khi tôi là một con vẹt yến phụng.”)
363. What vibration swings (devas in) birds into the human family?
363. Rung động nào đưa (các thiên thần trong) chim vào gia đình nhân loại?
364. May it be suggested that domestication is the royal road into the human kingdom? A form of life seeking to enter a higher kingdom must undergo sufficient exposure to that kingdom via at least a few of its members. This is undergone through association and domestication.
364. Có thể gợi ý rằng sự thuần hóa là con đường vương giả đi vào giới nhân loại chăng? Một hình thức sự sống tìm cách đi vào một giới cao hơn phải trải qua sự tiếp xúc đầy đủ với giới ấy qua ít nhất một vài thành viên của nó. Điều này được trải qua qua sự kết hợp và thuần hóa.
Second. Many devas pass out of the group of passive lives in the effort to become manipulating lives via the bird kingdom, and before becoming fairies, elves, gnomes, or other sprites, pass a certain number of cycles in the bird realm.
Thứ hai. Nhiều thiên thần đi ra khỏi nhóm các sự sống thụ động trong nỗ lực trở thành các sự sống thao tác qua giới chim, và trước khi trở thành tiên, yêu tinh, thần lùn, hay các tinh linh khác, họ trải qua một số chu kỳ nhất định trong cõi chim.
365. VSK explains: “This means, that lesser devas who are the elemental lives called “passive lives”, FIRST experience the bird lives and THEN become fairies or elves and gnomes or other sprites. So, we could say that any of these nature spirits or sprites may have been birds in their history. Passive devas become birds, and then become fairies, elves, gnomes and other sprites.
365. VSK giải thích: “Điều này có nghĩa là, các thiên thần thấp là những sự sống hành khí được gọi là ‘các sự sống thụ động’, TRƯỚC HẾT trải nghiệm các sự sống chim rồi SAU ĐÓ trở thành tiên hay yêu tinh và thần lùn hoặc các tinh linh khác. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng bất kỳ tinh linh tự nhiên hay tinh linh nào trong số này có thể đã từng là chim trong lịch sử của chúng. Các thiên thần thụ động trở thành chim, rồi trở thành tiên, yêu tinh, thần lùn và các tinh linh khác.
366. VSK continues: “Elves and gnomes and fairies manipulate matter. As devas do they not have direct-enough contact?”
366. VSK tiếp tục: “Yêu tinh, thần lùn và tiên thao tác vật chất. Là thiên thần, chẳng phải họ đã có sự tiếp xúc đủ trực tiếp rồi sao?”
367. The Tibetan offers some very interesting thoughts. We are still not told whether fairies, elves, gnomes and other sprites are to be considered self-conscious. However, lives which are their equivalent (found far under the Earth’s crust) have forms of government—a fact which seems to require them to be self-conscious and intelligent.
367. Chân sư Tây Tạng đưa ra một số tư tưởng rất thú vị. Chúng ta vẫn chưa được cho biết liệu tiên, yêu tinh, thần lùn và các tinh linh khác có nên được xem là có ngã thức hay không. Tuy nhiên, những sự sống tương đương với họ (được tìm thấy sâu dưới lớp vỏ Trái Đất) có các hình thức chính quyền — một sự kiện dường như đòi hỏi họ phải có ngã thức và thông minh.
368. We must infer that since certain birds are almost on the point of entry into the human kingdom (which implies individualization), their passage into the kingdom of sprites could bring with it a type of self-awareness—unless we assume that it requires a very highly developed bird to pass into the human kingdom (where self-consciousness is achieved) and that most birds (for instance, those who become sprites) are not sufficiently developed.
368. Chúng ta phải suy ra rằng vì một số loài chim gần như ở ngay điểm đi vào giới nhân loại (điều này hàm ý biệt ngã hóa), nên việc chúng đi vào giới các tinh linh có thể mang theo một loại tự nhận biết nào đó — trừ phi chúng ta giả định rằng cần phải là một loài chim phát triển rất cao mới có thể đi vào giới nhân loại (nơi đạt được ngã thức) và rằng phần lớn chim (chẳng hạn, những loài trở thành tinh linh) không phát triển đủ.
369. What we have learned so far is that certain devas become human by passage of several cycles through the bird kingdom. Also, certain lesser devas become manipulating devas via incarnation in the bird kingdom. Does this not suggest that the manipulating devas are at least ‘semi-self-conscious’ or vaguely self-conscious?
369. Điều chúng ta đã học được cho đến nay là một số thiên thần trở thành con người bằng cách trải qua nhiều chu kỳ qua giới chim. Ngoài ra, một số thiên thần thấp trở thành các thiên thần thao tác qua việc lâm phàm trong giới chim. Chẳng phải điều này gợi ý rằng các thiên thần thao tác ít nhất là ‘bán-ngã-thức’ hay mơ hồ có ngã thức sao?
370. Of course, to answer this, we would have to understand something about the relative degrees of consciousness to be found within the bird kingdom, as surely such consciousness is distributed over a range, just as in any other kingdom of grouping of lives.
370. Dĩ nhiên, để trả lời điều này, chúng ta sẽ phải hiểu điều gì đó về các mức độ tâm thức tương đối được tìm thấy trong giới chim, vì chắc chắn tâm thức như thế được phân bố trên một phổ rộng, cũng như trong bất kỳ giới hay nhóm sự sống nào khác.
Why the two above events occur will not be apparent to the casual reader, nor will the true connection between the birds and the devas be accurately realised by the occult student unless he applies himself to the consideration of the "bird or swan out of time and space,"
Lý do vì sao hai biến cố trên xảy ra sẽ không hiển nhiên đối với độc giả thông thường, và mối liên hệ chân thực giữa chim và thiên thần cũng sẽ không được chứng nghiệm một cách chính xác bởi đạo sinh huyền bí học trừ phi y chuyên tâm suy xét về "con chim hay thiên nga ngoài thời gian và không gian,"
371. Here we have mention of Hamsa (the “bird or swan out of time and space”) We have three constellational “gates” associated with the three Stymphalian Birds—Cygnus (the Swan related to Aquarius) Aquila (the Eagle related to Capricorn) and the “Falling Gryfe” related to Sagittarius (the sign in which Hercules kills the Stymphalian Birds).
371. Ở đây chúng ta thấy nhắc đến Hamsa ( “con chim hay thiên nga ngoài thời gian và không gian”). Chúng ta có ba “cổng” chòm sao gắn với ba Con Chim Stymphalian — Cygnus (Thiên Nga liên hệ với Aquarius), Aquila (Đại Bàng liên hệ với Capricorn) và “Falling Gryfe” liên hệ với Sagittarius (dấu hiệu hoàng đạo trong đó Hercules giết các Con Chim Stymphalian).
372. We have an implication here that some human beings are more bestial, having arisen from the animal kingdom, and some (far fewer) more refined having entered via the bird kingdom.
372. Ở đây có một hàm ý rằng một số con người mang tính thú vật hơn, vì đã phát sinh từ giới động vật, và một số khác (ít hơn nhiều) tinh luyện hơn vì đã đi vào qua giới chim.
373. Are the constellational gates active when such passage occurs from the bird kingdom into the human and from the lowest deva lives, via the bird kingdom, into the realm of manipulating sprites?
373. Các cổng chòm sao có hoạt động khi sự chuyển tiếp như thế xảy ra từ giới chim vào giới nhân loại và từ các sự sống thiên thần thấp nhất, qua giới chim, vào cõi của các tinh linh thao tác không?
and the place that birds play in the mysteries. Herein lies for him the clue.
và vai trò mà chim giữ trong các huyền nhiệm. Chính trong đó có đầu mối cho y.
374. VSK offers: “This swan is Hamsa. HPB refers to the Swan-man (Stanzas, VI, 22. SD Vol. II.)”
374. VSK nêu ra: “Thiên nga này là Hamsa. HPB nhắc đến Người-thiên-nga (Các bài kệ, VI, 22. SD Tập II.)”
He must remember likewise the fact that every life of every degree, from a god to the most [Page 896] insignificant of the lesser devas, or builders, must at some time or another pass through the human family.
Y cũng phải nhớ tương tự sự kiện rằng mọi sự sống ở mọi cấp độ, từ một vị thần cho đến kẻ [Page 896] nhỏ bé nhất trong các thiên thần thấp, hay các đấng kiến tạo, đều phải vào một lúc nào đó đi qua gia đình nhân loại.
375. This is an extraordinary statement. One could wonder whether this passage through the human family will be done by each lesser life singly or in group formation.
375. Đây là một phát biểu phi thường. Người ta có thể tự hỏi liệu sự đi qua gia đình nhân loại này sẽ được thực hiện bởi từng sự sống thấp riêng lẻ hay theo đội hình nhóm.
376. If in group formation, we must wonder about the extent to which the human being is a group being even now.
376. Nếu theo đội hình nhóm, chúng ta phải tự hỏi về mức độ mà con người là một hữu thể nhóm ngay cả bây giờ.
377. When looking at the lunar lords and Solar Lords who compose him, his group nature stands out.
377. Khi nhìn vào các nguyệt tinh quân và các nhật tinh quân cấu thành nên y, bản chất nhóm của y nổi bật lên.
378. DK’s statement may seem obvious, but it is problematic. It is like saying that ever human being must become a planet or a star. Will each human being do this singly or in groups? Solar Angels become Planetary Logoi in groups!
378. Phát biểu của DK có vẻ hiển nhiên, nhưng lại gây vấn đề. Nó giống như nói rằng mọi con người đều phải trở thành một hành tinh hay một ngôi sao. Mỗi con người sẽ làm điều này riêng lẻ hay theo nhóm? Các Thái dương Thiên Thần trở thành các Hành Tinh Thượng Đế theo nhóm!
379. VSK asks: “Does passing through the human family not make one (or require one to be) a human monad?
379. VSK hỏi: “Việc đi qua gia đình nhân loại chẳng phải làm cho một người (hay đòi hỏi một người phải là) một chân thần nhân loại sao?
380. May it be suggested that Monads are essentially unrelated to any kingdoms through which they may be manifesting. All Monads are, essentially, identical. What distinguishes them is the vehicles and the planes through which they manifest at any one time.
380. Có thể gợi ý rằng các chân thần về bản chất không liên hệ với bất kỳ giới nào mà qua đó chúng có thể đang biểu hiện. Mọi chân thần, về bản chất, đều đồng nhất. Điều phân biệt chúng là các vận cụ và các cõi qua đó chúng biểu hiện tại bất kỳ thời điểm nào.
381. We have to remember that the “human family” can be traversed without the use of that which we on Earth recognize as the human form. The “human family” is a state of consciousness arising from the union of an animal plus a living god.
381. Chúng ta phải nhớ rằng “gia đình nhân loại” có thể được đi qua mà không cần dùng đến điều mà chúng ta trên Trái Đất nhận ra là hình tướng con người. “Gia đình nhân loại” là một trạng thái tâm thức phát sinh từ sự hợp nhất của một con vật cộng với một vị thần sống động.
H.P.B. defines man accurately as an "animal plus a God". (TWM 38)
H.P.B. định nghĩa con người một cách chính xác là “một con vật cộng với một Thượng đế”. (TWM 38)
As H.P.B. has pointed out,80 [S.D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306] birds and serpents are closely connected with wisdom, and therefore with the psychic nature of God, of men, and of devas.
Như H.P.B. đã chỉ ra,80 [S.D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306] chim và rắn có liên hệ mật thiết với minh triết, và do đó với bản chất thông linh của Thượng đế, của con người, và của thiên thần.
382. Wisdom, buddhi, wings, devas and serpents are all related. There are “winged serpents” which suggests the adding of buddhi to manas.
382. Minh triết, Bồ đề, cánh, thiên thần và rắn đều có liên hệ với nhau. Có những “con rắn có cánh”, điều này gợi ra việc thêm Bồ đề vào manas.
383. Gods, men and devas all have a psychic nature.
383. Thượng đế, con người và thiên thần đều có một bản chất thông linh.
384. Wings and wisdom are intimately related. Mercury, God of Wisdom (in one respect) is winged and is a ruler of the buddhic plane—the plane of Wisdom.
384. Cánh và minh triết liên hệ mật thiết với nhau. Sao Thủy, Thượng đế của Minh triết (trong một phương diện), là có cánh và là một chủ tinh của cõi Bồ đề — cõi của Minh triết.
The study of mythology should reveal certain stages and relationships which will make this matter clearer.
Việc nghiên cứu thần thoại sẽ mặc khải một số giai đoạn và mối liên hệ nhất định, điều sẽ làm cho vấn đề này sáng tỏ hơn.
385. We see why a study of HPB is so important. She is so well attuned to the mythologies of various civilizations and cultures, both extant and long defunct.
385. Chúng ta thấy vì sao việc nghiên cứu HPB lại quan trọng đến thế. Bà rất hòa điệu với các thần thoại của nhiều nền văn minh và văn hóa khác nhau, cả còn tồn tại lẫn đã mất từ lâu.
386. The fourth ray (the ray which interprets the symbolism of mythology) is needed in this study. This ray is the ray of winged Mercury and a ray intimately related to buddhi (Wisdom) and the buddhic plane.
386. Cung bốn (cung diễn giải biểu tượng của thần thoại) là cần thiết trong việc nghiên cứu này. Cung này là cung của Sao Thủy có cánh và là một cung liên hệ mật thiết với Bồ đề (Minh triết) và cõi Bồ đề.
TCF 897-901 S13 Part I
15 - 29 September 2008
15 - 29 September 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
1. We continue our discussion of the lesser devas. During the last Commentary we focussed particularly on the devas of the earth, noting certain unusual man-like lives who lived in caverns within the Earth, several miles beneath the Earth’s crust.
1. Chúng ta tiếp tục cuộc thảo luận về các thiên thần thấp. Trong phần Bình Luận trước, chúng ta đặc biệt tập trung vào các thiên thần của đất, lưu ý một số sự sống khác thường giống người sống trong các hang động bên trong Trái Đất, sâu nhiều dặm dưới lớp vỏ Trái Đất.
The Elementals and Lesser Devas of Liquid Matter.
Các hành khí và các thiên thần thấp của vật chất lỏng.
2. We are now focussing particularly on the elementals found in liquid matter.
2. Hiện nay chúng ta đặc biệt tập trung vào các hành khí được tìm thấy trong vật chất lỏng.
A very interesting illustration of the interpenetration of all the living matter of creation can be seen in connection with the atmosphere surrounding our planet. In it is to be found:
Một minh họa rất thú vị về sự xuyên nhập lẫn nhau của toàn bộ vật chất sống của tạo thành có thể được thấy liên quan đến bầu khí quyển bao quanh hành tinh chúng ta. Trong đó có thể tìm thấy:
3. When we have come to an understanding of interpenetration, we will have a better understanding of the interplay between various lives and the planes in which they express.
3. Khi chúng ta đi đến chỗ thấu hiểu sự xuyên nhập lẫn nhau, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự tương tác giữa các sự sống khác nhau và các cõi mà trong đó chúng biểu hiện.
4. We remember that “air” is the symbol of the buddhic plane which is a plane of fusion, merging and blending.
4. Chúng ta nhớ rằng “khí” là biểu tượng của cõi Bồ đề, vốn là một cõi của sự dung hợp, hòa nhập và pha trộn.
5. “Air” itself, is a symbol of fusion and interconnectedness.
5. Bản thân “khí” là một biểu tượng của sự dung hợp và tính liên kết lẫn nhau.
a. Moisture, or those living essences which are the liquid elementals.
a. Độ ẩm, hay những tinh chất sống là các hành khí lỏng.
6. Note this term “living essences”, They are the “essence” of that which we consider to be matter or substance.
6. Hãy lưu ý thuật ngữ “tinh chất sống” này. Chúng là “tinh chất” của điều mà chúng ta xem là vật chất hay chất liệu.
7. It seems that we are here talking of substance, or of the receptive lives and not of the manipulating devas.
7. Dường như ở đây chúng ta đang nói về chất liệu, hay về các sự sống tiếp nhận chứ không phải các thiên thần thao tác.
b. Gaseous substance, or those lives which are linked to all fiery essences, being volatile and the result of heat.
b. Chất liệu khí, hay những sự sống được liên kết với mọi tinh chất lửa, vốn dễ bay hơi và là kết quả của nhiệt.
8. Yes, our subject is “substance”.
8. Đúng vậy, chủ đề của chúng ta là “chất liệu”.
9. We note that the gaseous essences (we can call them that, as the watery lives were called “essences”) are linked to the fiery essences (presumably of the etheric-physical plane, where latent and radiatory fires are to be found) and also linked to the mental elemental fires of the mental plane. Mind is fire, and from the cosmic physical perspective, the mental plane is the gaseous subplane, and the lives which express within it are a certain type of fire.
9. Chúng ta lưu ý rằng các tinh chất khí (chúng ta có thể gọi chúng như vậy, vì các sự sống thủy đã được gọi là “tinh chất”) được liên kết với các tinh chất lửa (có lẽ của cõi dĩ thái-hồng trần, nơi có thể tìm thấy các lửa tiềm ẩn và phóng xạ) và cũng liên kết với các lửa hành khí trí tuệ của cõi trí. Trí tuệ là lửa, và từ quan điểm hồng trần vũ trụ, cõi trí là cõi phụ khí, và các sự sống biểu hiện trong đó là một loại lửa nhất định.
10. Gas is volatile and the mental elementals are volatile.
10. Khí là dễ bay hơi và các hành khí trí tuệ cũng dễ bay hơi.
11. Gas is certainly volatile when compared to the same substance in the liquid or dense state.
11. Khí chắc chắn là dễ bay hơi khi so với cùng chất liệu ấy trong trạng thái lỏng hay đậm đặc.
12. The different states of matter exist because of differential applications of heat to the same fundamental substance. For instance, the molecules of liquid water, of ice and of steam are the same, but the differential application of heat has changed their “state”.
12. Các trạng thái khác nhau của vật chất tồn tại do những sự áp dụng nhiệt khác nhau lên cùng một chất liệu căn bản. Chẳng hạn, các phân tử của nước lỏng, của băng và của hơi nước là như nhau, nhưng sự áp dụng nhiệt khác nhau đã thay đổi “trạng thái” của chúng.
13. Essentially, the same type of matter can be found in a solid, liquid or gaseous state.
13. Về căn bản, cùng một loại vật chất có thể được tìm thấy trong trạng thái rắn, lỏng hay khí.
c. Etheric matter, or the lowest orders of the devas of the ethers.
c. Vật chất dĩ thái, hay các cấp thấp nhất của các thiên thần của các dĩ thái.
14. It is clear that within the ethers, devas of various orders exist. The lowest types are fundamentally substantial—devas which are passive recipients of impulses from higher types of devas. The devas which are the embodiment of prana must be of a higher order, though still substantial. The violet devas of four shades are, it would seem, etheric manipulating devas
14. Rõ ràng là trong các dĩ thái có các thiên thần thuộc nhiều cấp bậc khác nhau tồn tại. Những loại thấp nhất về căn bản là có tính chất liệu — các thiên thần là những kẻ tiếp nhận thụ động các xung lực từ những loại thiên thần cao hơn. Các thiên thần là hiện thân của prana hẳn phải thuộc một cấp cao hơn, dù vẫn còn có tính chất liệu. Các thiên thần tím thuộc bốn sắc độ, dường như, là các thiên thần thao tác dĩ thái
15. All three of these three types of lives are found interpenetrating within our atmosphere.
15. Cả ba loại sự sống này đều được tìm thấy đang xuyên nhập lẫn nhau trong bầu khí quyển của chúng ta.
This major triplicity, when in conjunction, produces that which we breathe, and that in which we live and move and have our being.
Bộ ba lớn này, khi kết hợp với nhau, tạo ra điều mà chúng ta hít thở, và điều trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu.
16. We breath, therefore, a combination of gaseous substance, watery substance and, importantly, etheric substance.
16. Vì vậy, chúng ta hít thở một sự kết hợp của chất liệu khí, chất liệu thủy và, quan trọng là, chất liệu dĩ thái.
17. The most subtle of the lives which we in-breathe are etheric. This may be a new thought to some.
17. Loại sự sống vi tế nhất mà chúng ta hít vào là dĩ thái. Điều này có thể là một ý tưởng mới đối với một số người.
To the thoughtful student the air is full of symbology, for it is a synthesis,
Đối với đạo sinh biết suy tư, khí đầy biểu tượng, vì nó là một tổng hợp,
18. And the buddhic plane (the plane of air) is the first plane of synthesis within the cosmic physical plane.
18. Và cõi Bồ đề (cõi khí) là cõi tổng hợp đầu tiên trong cõi hồng trần vũ trụ.
19. In a way, all the cosmic etheric planes are planes of synthesis.
19. Theo một nghĩa nào đó, mọi cõi dĩ thái vũ trụ đều là các cõi tổng hợp.
and that which bridges the higher and the lower strata of manifestation.
và là điều bắt cầu giữa các tầng cao và thấp của biểu hiện.
20. As the fourth of the seven cosmic physical subplanes, the buddhic plane is the plane which bridges the higher and lower strata of manifestation.
20. Là cõi phụ thứ tư trong bảy cõi phụ hồng trần vũ trụ, cõi Bồ đề là cõi bắt cầu giữa các tầng cao và thấp của biểu hiện.
We must centre our attention first upon those lives which constitute the sumtotal of all that is watery, and liquid throughout manifestation,
Trước hết chúng ta phải tập trung sự chú ý vào những sự sống cấuthành tổng số của mọi điều thuỷ và lỏng trong toàn thể biểu hiện,
21. We must pay attention to the quality of adhesion which produces liquidity.
21. Chúng ta phải chú ý đến phẩm tính kết dính tạo ra tính lỏng.
22. We note that this quality is missing from the gaseous plane. The usual adhesions are removed and, instead, we have a state of relative detachment and volatility.
22. Chúng ta lưu ý rằng phẩm tính này không có trên cõi khí. Những sự kết dính thông thường bị loại bỏ và thay vào đó, chúng ta có một trạng thái tách rời tương đối và dễ bay hơi.
and in dealing with this we must remember that we are concerned with the most occult of investigations,
và khi bàn đến điều này, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đang quan tâm đến những khảo cứu huyền bí nhất,
23. By comparison, such investigations make even the complex and intricate knowledge of present-day chemistry and physics look relatively simple.
23. So sánh mà nói, những khảo cứu như thế khiến ngay cả tri thức phức tạp và tinh vi của hóa học và vật lý hiện đại cũng có vẻ tương đối đơn giản.
24. DK uses the term “occult” advisedly as we have entered deeply into a consideration of the form and of the matter/substance which is built into form.
24. DK dùng thuật ngữ “huyền bí” một cách có chủ ý vì chúng ta đã đi sâu vào việc xem xét hình tướng và vật chất/chất liệu được xây dựng vào trong hình tướng.
and with matters which are very closely connected with man's evolution.
và với những vấn đề có liên hệ rất mật thiết với sự tiến hoá của con người.
25. The nature and quality of man’s substantial vehicles are intimately concerned with the manner of his evolution.
25. Bản chất và phẩm tính của các vận cụ bằng chất liệu của con người có liên hệ mật thiết với cách thức tiến hoá của y.
26. The chakras too are formed of devic essence and, as we know, the condition and unfoldment of the chakras are directly related to the unfoldment of man’s personality instrument and of soul consciousness within that instrument.
26. Các luân xa cũng được cấu tạo bằng tinh chất thiên thần và, như chúng ta biết, tình trạng và sự khai mở của các luân xa có liên hệ trực tiếp với sự khai mở của bộ máy phàm ngã của con người và của tâm thức linh hồn bên trong bộ máy ấy.
The many groups of the water devas of the manipulatory class have been roughly grouped by mythological writers, under the terms undines, mermaids, and other [Page 897] expressions,
Nhiều nhóm thiên thần của nước thuộc loại thao tác đã được các tác giả thần thoại học xếp đại khái dưới các thuật ngữ undines, mermaids, và những [Page 897] cách gọi khác,
27. Undines, mermaids and the others are not substantial, receptive devas. Rather, they are devas of the manipulating class receiving direction from the transmitting devas (which transmit the will of the Planetary Logos).
27. Undines, mermaids và các loại khác không phải là những thiên thần tiếp nhận có chất liệu. Đúng hơn, họ là các thiên thần thuộc loại thao tác, nhận chỉ đạo từ các thiên thần truyền dẫn (là những vị truyền đạt ý chí của Hành Tinh Thượng Đế).
28. Probably each of these types of devas has its own functions and ways of manifesting. Folklore may give us certain hints concerning their occult properties.
28. Có lẽ mỗi loại thiên thần này đều có những chức năng và cách biểu hiện riêng. Văn học dân gian có thể cho chúng ta một vài gợi ý về các đặc tính huyền bí của họ.
but their diversity is great,
nhưng tính đa dạng của họ thì rất lớn,
29. This is something for which ancient lore has not accounted.
29. Đây là điều mà tri thức cổ xưa chưa giải thích được.
and this will be necessarily apparent when it is remembered that the sumtotal of water upon the earth (oceans, seas, rivers, lakes and streams), far exceeds the dry portion, or land,
và điều này tất yếu sẽ hiển nhiên khi nhớ rằng tổng số nước trên trái đất (đại dương, biển, sông, hồ và suối) vượt xa phần khô, hay đất liền,
30. The amount of water (and, presumably, other liquids) on the surface of the Earth far exceeds dry portions of the Earth’s surface. But we might ask about water or liquid as found within the Earth? Does the same type of proportion of liquid to dry persist?
30. Lượng nước (và có lẽ cả các chất lỏng khác) trên bề mặt Trái Đất vượt xa các phần khô của bề mặt Trái Đất. Nhưng chúng ta có thể hỏi về nước hay chất lỏng được tìm thấy bên trong Trái Đất thì sao? Tỉ lệ giữa chất lỏng và phần khô có còn được duy trì như vậy không?
and every drop of moisture is in itself a tiny life, fulfilling its function and running its cycle.
và mỗi giọt ẩm ướt tự thân là một sự sống nhỏ bé, hoàn thành chức năng của nó và vận hành chu kỳ của nó.
31. Much will depend on what is meant by the term “drop”. It seems an imprecise term. Would it not be more accurate to say that each drop or droplet contains many tiny lives?
31. Phần lớn tùy thuộc vào điều được hàm ý bởi thuật ngữ “giọt”. Dường như đây là một thuật ngữ không chính xác. Có phải sẽ chính xác hơn nếu nói rằng mỗi giọt hay giọt nhỏ chứa nhiều sự sống nhỏ bé?
32. We have already become convinced that every tiny atom is a life, every molecule is a life. What is the smallest unit of life to be found in the ranks of manipulating water devas?
32. Chúng ta đã tin chắc rằng mỗi nguyên tử nhỏ bé đều là một sự sống, mỗi phân tử đều là một sự sống. Đơn vị sự sống nhỏ nhất được tìm thấy trong hàng ngũ các thiên thần của nước thuộc loại thao tác là gì?
The mythic forms above referred to are but those myriad lives built into a form through which an evolutionary deva is seeking expression.
Những hình tướng thần thoại được nhắc đến ở trên chỉ là những vô số sự sống được xây dựng vào trong một hình tướng, qua đó một thiên thần đang tiến hoá đang tìm cách biểu hiện.
33. In speaking of “those myriad lives”, is DK speaking of the third class of devas—namely, strictly substantial devas of the receptive kind?
33. Khi nói về “những vô số sự sống ấy”, có phải Chân sư DK đang nói đến loại thiên thần thứ ba—tức là các thiên thần thuần chất liệu thuộc loại tiếp nhận?
34. We remember DK’s description of such lives as follows:
34. Chúng ta nhớ mô tả của Chân sư DK về những sự sống như thế như sau:
The recipients of force, the sumtotal of the living substance of a plane. These lives are passive in the hands of the builders of greater degree” (TCF 890)
Những vị tiếp nhận mãnh lực, tổng thể của chất liệu sống của một cõi. Những sự sống này thì thụ động trong tay các đấng kiến tạo bậc cao hơn” (TCF 890)
35. In speaking of “an evolutionary deva”, is DK speaking of the following type of life?
35. Khi nói về “một thiên thần đang tiến hoá”, có phải Chân sư DK đang nói đến loại sự sống sau đây không?
The manipulators of the initiated energy. These are the myriads of workers with force who transmit the impulse in their turn to the elemental essence. They are the builders of lesser degree, but are on the evolutionary arc as are the first group.
Những vị thao tác năng lượng đã được điểm đạo. Đây là vô số những người hoạt động với mãnh lực, đến lượt mình truyền xung lực đến tinh chất hành khí. Họ là những vị tiểu kiến tạo, nhưng ở trên cung tiến hoá cũng như nhóm thứ nhất.
36. The manipulating devas are certainly “builders of greater degree” when compared with the “recipients of force”.
36. Các thiên thần thao tác chắc chắn là “các đấng kiến tạo bậc cao hơn” khi so với “những vị tiếp nhận mãnh lực”.
37. It seems important for us to bear in mind that “manipulating devas” are to be considered “on the evolutionary arc”. Presumably, this means the mermaids, undines, etc., are on the evolutionary arc.
37. Dường như điều quan trọng là chúng ta phải ghi nhớ rằng “các thiên thần thao tác” được xem là “ở trên cung tiến hoá”. Có lẽ điều này có nghĩa là mermaids, undines, v.v. đều ở trên cung tiến hoá.
38. There are differences in the forms through which the different manipulating devas on the evolutionary devas work. These different forms are all constructed of substantial devas—“recipients of force”.
38. Có những khác biệt trong các hình tướng mà qua đó các thiên thần thao tác khác nhau trên cung tiến hoá hoạt động. Những hình tướng khác nhau này đều được cấu tạo bằng các thiên thần chất liệu—“những vị tiếp nhận mãnh lực”.
The extreme interest of this subject
Mối quan tâm cực lớn của đề tài này