Trích nội dung chương
86. We have here some very occult indications which emphasize our responsibility to the lower kingdoms and to the elements. 86. Ở đây chúng ta có một số chỉ dẫn rất huyền bí học nhấn mạnh trách nhiệm của chúng ta đối với các giới thấp và các nguyên tố.
86. We have here some very occult indications which emphasize our responsibility to the lower kingdoms and to the elements.
86. Ở đây chúng ta có một số chỉ dẫn rất huyền bí học nhấn mạnh trách nhiệm của chúng ta đối với các giới thấp và các nguyên tố.
87. What of storms—tornadoes and hurricanes. In the Bible we read of those who “reap the whirlwind” as a judgment upon their misdeeds.
87. Còn bão tố thì sao—lốc xoáy và cuồng phong? Trong Kinh Thánh chúng ta đọc về những kẻ “gặt lấy cơn lốc” như một sự phán xét đối với các hành vi sai trái của họ.
It is of no value to man to know the names of some of the "army of the voice"
Việc biết tên của một số thành phần trong “Đạo Quân của Âm Thanh” không có giá trị gì đối với con người
88. Presumably, through knowledge of the correct names of these lesser beings, they could be invoked into presence for either beneficent or maleficent purposes.
88. Có lẽ, nhờ biết đúng tên của các hữu thể thấp này, chúng có thể được khẩn cầu vào hiện diện vì những mục đích từ thiện hoặc độc hại.
unless he comprehends his relationship to that army,
trừ phi y hiểu được mối liên hệ của mình với đạo quân ấy,
89. It is a relationship which must one day cease. “Let the army of the voice be no more heard and let the brothers onward move within the Sound”. (Rule X, R&I 22) Meanwhile, it is a relationship which is inescapable.
89. Đó là một mối liên hệ mà một ngày kia nhất định phải chấm dứt. “Hãy để đạo quân của âm thanh không còn được nghe nữa và hãy để các huynh đệ tiến bước bên trong Âm Thanh”. (Quy luật X, R&I 22) Trong khi đó, đó là một mối liên hệ không thể tránh khỏi.
unless he apprehends the responsibility which is his to be a beneficent creator, working under the law of love, and not impelled to the creative act through selfish desire, or uncontrolled activity.
trừ phi y nhận thức được trách nhiệm của mình là phải là một đấng sáng tạo từ thiện, hoạt động dưới định luật bác ái, chứ không bị thúc đẩy vào hành vi sáng tạo bởi dục vọng ích kỷ hay hoạt động không được kiểm soát.
90. Here we encounter the ethical basis of occultism. Selfish or chaotic creativity will result unless the creator is motivated by beneficence.
90. Ở đây chúng ta gặp nền tảng đạo đức của huyền bí học. Sự sáng tạo ích kỷ hay hỗn loạn sẽ là kết quả trừ phi đấng sáng tạo được thúc đẩy bởi tính từ thiện.
91. To be a “beneficent creator” is to work under the influence of the second and third aspects united.
91. Là một “đấng sáng tạo từ thiện” tức là hoạt động dưới ảnh hưởng của phương diện thứ hai và thứ ba hợp nhất.
a. Physical Plane Elementals.
a. Các hành khí cõi hồng trần.
It should be remembered that the devas we have been considering are the originators of impulse, and the manipulators of energy in their own degree, and on their own plane.
Cần nhớ rằng các thiên thần mà chúng ta đã xem xét là những kẻ khởi phát xung lực, và là những kẻ điều khiển năng lượng theo cấp độ riêng của chúng và trên cõi riêng của chúng.
92. We have been considering “greater Builders”—high self-conscious Beings Who think, impel and manipulate the lesser forces.
92. Chúng ta đã xem xét “các Đấng Kiến Tạo lớn hơn”—những Hữu thể có ngã thức cao, Đấng suy tưởng, thúc đẩy và điều khiển các mãnh lực thấp hơn.
93. They are the impulsive factor in normal human evolution.
93. Các Ngài là yếu tố thúc đẩy trong tiến hoá nhân loại bình thường.
In connection with them are to be found, therefore, the recipients of force,
Do đó, liên hệ với các Ngài, người ta tìm thấy những kẻ tiếp nhận mãnh lực,
94. This is another way of considering the nature of the lowest of the lesser builders.
94. Đây là một cách khác để xem xét bản chất của hạng thấp nhất trong các vị tiểu kiến tạo.
or the multitude of lives of an elemental nature which form the sumtotal of the matter of a plane.
hay vô số sự sống có bản chất hành khí tạo thành tổng số vật chất của một cõi.
95. When lives are “of an elemental nature”, it is suggested that their nature is more simple than complex, and that they are to be built into more complex structures.
95. Khi các sự sống “có bản chất hành khí”, điều đó gợi ý rằng bản chất của chúng đơn giản hơn là phức tạp, và rằng chúng sẽ được kiến tạo thành những cấu trúc phức tạp hơn.
96. We might consider them as ‘foundational constituents’, the “building blocks of form”.
96. Chúng ta có thể xem chúng như những ‘thành phần nền tảng’, những “khối xây dựng của hình tướng”.
These are swept on waves of energy,
Chúng được cuốn đi trên những làn sóng năng lượng,
97. The word “swept” is apt for describing the effect of greater and positive energies upon lesser, receptive and responsive forces.
97. Từ “cuốn đi” rất thích hợp để mô tả tác động của các năng lượng lớn hơn và dương hơn lên các mãnh lực thấp hơn, có tính tiếp nhận và đáp ứng.
through the impulse of the Breath,
qua xung lực của Hơi Thở,
98. Every magician (great and logoic or small and human) breathes or vitalizes the substances through which he creates. We are also being given a hint regarding how to marshal substance which is to be built into form.
98. Mỗi nhà huyền thuật (vĩ đại và logoi hay nhỏ bé và nhân loại) đều thở hay tiếp sinh lực cho các chất liệu mà qua đó y sáng tạo. Chúng ta cũng đang được cho một gợi ý về cách tập hợp chất liệu sẽ được kiến tạo thành hình tướng.
99. We recall here the association of the creative Word, AUM with the “great breath” (here called the “Breath”) and its vitalizing power.
99. Ở đây chúng ta nhớ lại sự liên hệ của Linh từ sáng tạo AUM với “hơi thở vĩ đại” (ở đây được gọi là “Hơi Thở”) và quyền năng tiếp sinh lực của nó.
and as the result of [Page 890] vibratory action,
và như là kết quả của tác động [Page 890] rung động,
100. The vibratory characteristics of these lesser lives determines the type of form into which they will be built by the higher building agencies.
100. Các đặc tính rung động của những sự sống thấp này quyết định loại hình tướng mà chúng sẽ được các tác nhân kiến tạo cao hơn xây dựng thành.
into all forms as we know them on the physical plane.
vào trong mọi hình tướng như chúng ta biết trên cõi hồng trần.
101. We must notice the importance of the “Breath” in all form-building. As well we must learn the vibratory nature of the constituents which are to be built into form. Average man, an unconscious builder, cannot yet do this. The advanced initiate and Master can.
101. Chúng ta phải lưu ý tầm quan trọng của “Hơi Thở” trong mọi sự kiến tạo hình tướng. Đồng thời chúng ta phải học bản chất rung động của các thành phần sẽ được kiến tạo thành hình tướng. Con người trung bình, một đấng kiến tạo vô thức, chưa thể làm được điều này. Điểm đạo đồ cao cấp và Chân sư thì có thể.
Therefore, in connection with manifestation on the physical plane the devas may be divided into three groups:
Do đó, liên quan đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần thì các thiên thần có thể được chia thành ba nhóm:
102. Always note the context. We are classifying the devas, but only “in connection with manifestation on the physical plane”.
102. Luôn luôn lưu ý văn cảnh. Chúng ta đang phân loại các thiên thần, nhưng chỉ “liên quan đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần”.
1. The transmitters of the will of God, the originators of activity in deva substance. These are the greater builders in their various groups.
1. Các đấng truyền dẫn ý chí của Thượng đế, những đấng khởi phát hoạt động trong chất liệu thiên thần. Đây là các đấng đại kiến tạo trong những nhóm khác nhau của các vị.
103. These are great, self-conscious Devas. They are not deva substance as we normally understand such substance. They are higher. They convey the will of the Logos for Whom they act as agents.
103. Đây là những thiên thần vĩ đại, có ngã thức. Các vị không phải là chất liệu thiên thần như chúng ta thường hiểu về loại chất liệu ấy. Các vị cao hơn. Các vị chuyển đạt ý chí của Logos mà các vị hành động như những tác nhân của Ngài.
104. Their work corresponds to the sounding of that “WORD of Power” which is connected with the first aspect.
104. Công việc của các vị tương ứng với việc xướng “Quyền năng từ” được nối kết với phương diện thứ nhất ấy.
2. The manipulators of the initiated energy. These are the myriads of workers with force who transmit the impulse in their turn to the elemental essence. They are the builders of lesser degree, but are on the evolutionary arc as are the first group.
2. Các đấng vận dụng năng lượng đã được điểm đạo. Đây là vô số những người hoạt động với mãnh lực, đến lượt mình truyền xung lực đến Tinh chất hành khí. Họ là những vị tiểu kiến tạo ở cấp thấp hơn, nhưng ở trên cung tiến hoá cũng như nhóm thứ nhất.
105. This is a most important group and closer to the human being than the first group—the transmitters. We note that this group of manipulating devas was not mentioned in the foregoing text until this time. Attention was given to atomic substance.
105. Đây là một nhóm hết sức quan trọng và gần với con người hơn nhóm thứ nhất—các đấng truyền dẫn. Chúng ta lưu ý rằng nhóm thiên thần vận dụng này đã không được nhắc đến trong đoạn văn trước cho đến lúc này. Sự chú ý đã được dành cho chất liệu nguyên tử.
106. It is very important that we distinguish this group of builders from “elemental essence”.
106. Điều rất quan trọng là chúng ta phải phân biệt nhóm kiến tạo này với “Tinh chất hành khí”.
107. The will impulse reaches them and they, also, transmit it to involutionary elemental essence, i.e., to receptive substance.
107. Xung lực ý chí đến với họ và họ cũng truyền nó đến tinh chất hành khí giáng hạ tiến hoá, tức là đến chất liệu tiếp nhận.
108. It should be noted that these manipulating devas (though largely un-self-conscious) are still on the evolutionary arc. Some may have a degree of self-consciousness. We will have to proceed carefully in determining the extent and range of their consciousness.
108. Cần lưu ý rằng các thiên thần vận dụng này (dù phần lớn không có ngã thức) vẫn ở trên cung tiến hoá. Một số có thể có một mức độ ngã thức nào đó. Chúng ta sẽ phải tiến hành cẩn trọng khi xác định mức độ và phạm vi tâm thức của họ.
109. We will have to discover the names of those who belong to this group and learn how to assess the degree of consciousness of the various groupings within the overall group of manipulating devas.
109. Chúng ta sẽ phải khám phá tên gọi của những vị thuộc nhóm này và học cách đánh giá mức độ tâm thức của các phân nhóm khác nhau trong toàn bộ nhóm thiên thần vận dụng.
110. The first two categories of lunar pitris are found in this group. The third category of lunar pitri is roughly equivalent to elemental essence.
110. Hai loại đầu tiên của thái âm tổ phụ pitris được tìm thấy trong nhóm này. Loại thứ ba của thái âm tổ phụ pitri gần tương đương với Tinh chất hành khí.
3. The recipients of force, the sumtotal of the living substance of a plane. These lives are passive in the hands of the builders of greater degree.
3. Các đấng tiếp nhận mãnh lực, tổng thể chất liệu sống của một cõi. Những sự sống này thụ động trong tay các đấng kiến tạo ở cấp độ cao hơn.
111. Here we have the true “lesser builders”—the lowest categories of lunar pitris.
111. Ở đây chúng ta có những “vị tiểu kiến tạo” đích thực—những loại thấp nhất của thái âm tổ phụ pitris.
112. They are unconscious, passive, receptive and relatively inert.
112. Họ vô thức, thụ động, tiếp nhận và tương đối trì trệ.
113. They are directed and are manipulated rather than manipulating.
113. Họ được điều khiển và bị vận dụng hơn là tự vận dụng.
The three groups to be considered are:
Ba nhóm cần được xem xét là:
1. The elementals of densest matter.
1. Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất.
2. The elementals of liquid matter.
2. Các hành khí của vật chất lỏng.
3. The elementals of gaseous matter.
3. Các hành khí của vật chất khí.
114. Our consideration takes us to the lowest levels of the systemic physical plane.
114. Sự khảo cứu của chúng ta đưa chúng ta đến những cấp thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống.
115. When the term “elementals” is used, we must be careful to distinguish it from “elemental essence”. Elemental essence is the living substance of a plane. “Elementals” comprise a wide range of un-self-conscious and probably semi-self-conscious (as well as self-conscious) deva entities.
115. Khi thuật ngữ “hành khí” được dùng, chúng ta phải cẩn thận phân biệt nó với “Tinh chất hành khí”. Tinh chất hành khí là chất liệu sống của một cõi. “Hành khí” bao gồm một phạm vi rộng các thực thể thiên thần không có ngã thức và có lẽ bán ngã thức (cũng như có ngã thức).
116. All these three are to be considered as manipulators of force and “recipients of force” from the transmitting devas, though they are not passive as are the lives comprising elemental essence.
116. Cả ba loại này đều phải được xem như những đấng vận dụng mãnh lực và là “những đấng tiếp nhận mãnh lực” từ các thiên thần truyền dẫn, dù họ không thụ động như những sự sống cấu thành Tinh chất hành khí.
117. As suggested, the degree of self-consciousness of these manipulating devas is a matter for careful investigation. Some indications point to the thought that they are not self-conscious. Other indications point in the direction of their self-consciousness.
117. Như đã gợi ý, mức độ ngã thức của các thiên thần vận dụng này là một vấn đề cần được khảo cứu cẩn trọng. Một số dấu hiệu dẫn đến ý nghĩ rằng họ không có ngã thức. Những dấu hiệu khác lại chỉ theo hướng họ có ngã thức.
We must bear in mind as we study these three groups that we are not concerned with the transmitters, but with the manipulators and with the recipients of energy.
Khi nghiên cứu ba nhóm này, chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta không quan tâm đến các đấng truyền dẫn, mà đến các đấng vận dụng và các đấng tiếp nhận năng lượng.
118. Therefore, two categories of devas are coming under our consideration—the manipulators and the recipients of energy.
118. Do đó, có hai loại thiên thần đang được chúng ta xem xét—các đấng vận dụng và các đấng tiếp nhận năng lượng.
119. As human beings, our relationship to the “transmitters” involves obedience and conscious cooperation. Usually we are to direct the manipulators (once we learn to do so) and certainly direct the recipients of energy.
119. Là những người nam và nữ, mối liên hệ của chúng ta với các “đấng truyền dẫn” bao hàm sự vâng phục và hợp tác có ý thức. Thông thường chúng ta phải điều khiển các đấng vận dụng (một khi học được cách làm như vậy) và chắc chắn là điều khiển các đấng tiếp nhận năng lượng.
120. Our consideration takes us into the domains of the lunar lords and also into contact with monadic and elemental essence.
120. Sự khảo cứu của chúng ta đưa chúng ta vào các lĩnh vực của các nguyệt tinh quân và cũng vào sự tiếp xúc với tinh chất chân thần và tinh chất hành khí.
121. As we proceed through these descriptions, let us be cautious to differentiate when DK is speaking of “elementals” per se, and when of that living substance which is elemental essence.
121. Khi tiếp tục qua những mô tả này, chúng ta hãy cẩn trọng phân biệt khi nào Chân sư DK nói về “hành khí” chính chúng, và khi nào nói về chất liệu sống là Tinh chất hành khí ấy.
The Elementals of Densest Matter. These are the workers and builders
Các Hành Khí của Vật Chất Đậm Đặc Nhất. Đây là những người hoạt động và những đấng kiến tạo
122. The influence of the sign Virgo will never be far away from these considerations. Virgo is the sign of all “workers” and of those who discriminatively build under the will and direction of others.
122. Ảnh hưởng của dấu hiệu hoàng đạo Xử Nữ sẽ không bao giờ xa rời những khảo cứu này. Xử Nữ là dấu hiệu của mọi “người hoạt động” và của những ai xây dựng bằng sự phân biện dưới ý chí và sự chỉ đạo của kẻ khác.
which are concerned with the tangible and objective part of all manifestation.
liên quan đến phần hữu hình và khách quan của mọi sự biểu hiện.
123. We are speaking of the systemic dense physical plane, and not of the cosmic dense physical plane which includes the entirety of the systemic astral plane and the systemic mental plane.
123. Chúng ta đang nói về cõi hồng trần đậm đặc hệ thống, chứ không phải cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ, vốn bao gồm toàn bộ cõi cảm dục hệ thống và cõi trí hệ thống.
In their totality they literally form that which can be touched, seen, and contacted physically by man.
Trong tính toàn thể của họ, họ thực sự tạo thành điều có thể được chạm đến, nhìn thấy và tiếp xúc về mặt hồng trần bởi con người.
124. Here Master DK leaves no doubt about our focus. We are speaking about that which the average human being calls “real”, that which the five normal senses reveal.
124. Ở đây Chân sư DK không để lại chút nghi ngờ nào về trọng tâm của chúng ta. Chúng ta đang nói về điều mà con người trung bình gọi là “thực”, điều mà năm giác quan bình thường phơi bày.
In considering these matters we must never dissociate the various groups in our minds in a too literal sense, for they all interpenetrate and blend, in the same manner as man's physical body is compounded of dense, liquid, gaseous, and etheric matter.
Khi xem xét những vấn đề này, chúng ta không bao giờ được tách rời các nhóm khác nhau trong trí mình theo nghĩa quá sát mặt chữ, vì tất cả họ đều xuyên thấm và hòa trộn, cũng theo cách thể xác của con người được cấu thành từ vật chất đậm đặc, lỏng, khí và dĩ thái.
125. DK is advising us not to separate the physically dense from the physically liquid and gaseous subplanes and even from the etheric planes. We know that simple elevations of temperature may transform dense, crystallized matter in the liquid or gaseous states of matter. The reverse is also the case when temperature is lowered.
125. Chân sư DK đang khuyên chúng ta đừng tách biệt cõi phụ hồng trần đậm đặc với các cõi phụ hồng trần lỏng và khí, và ngay cả với các cõi dĩ thái. Chúng ta biết rằng chỉ cần tăng nhiệt độ đơn giản cũng có thể chuyển đổi vật chất đậm đặc, kết tinh sang trạng thái lỏng hay khí. Điều ngược lại cũng đúng khi nhiệt độ hạ xuống.
126. It bears repeating that, from the perspective of occultism, that which is systemically etheric is physical.
126. Cần nhắc lại rằng, từ quan điểm huyền bí học, điều gì thuộc dĩ thái hệ thống thì vẫn là hồng trần.
127. We have only to think of a human being’s dense physical body, and we will understand the interpenetration of solid, liquid and gas, as well, perhaps, as the interpenetration of the systemic ethers—at least the more sensitive human beings will realize the interpenetrating presence of the ethers.
127. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến thể xác hồng trần đậm đặc của một con người, và chúng ta sẽ hiểu sự xuyên thấm của chất rắn, chất lỏng và chất khí, cũng như có lẽ cả sự xuyên thấm của các dĩ thái hệ thống—ít nhất những con người nhạy cảm hơn sẽ nhận ra sự hiện diện xuyên thấm của các dĩ thái.
Diversity, producing a unity, is everywhere to be seen; this fact must constantly be borne [Page 891] in mind by the occult student when studying the subhuman forms of existence.
Sự đa dạng, tạo ra một hợp nhất, có thể được thấy ở khắp nơi; sự kiện này phải luôn được [Page 891] đạo sinh huyền bí ghi nhớ khi nghiên cứu các hình tướng tồn tại dưới nhân loại.
128. It would not serve to become caught in the perception of diversity without realizing the underlying unity of all diverse factors. Training in occultism allows this unity to be perceived.
128. Sẽ không ích gì nếu bị mắc kẹt trong nhận thức về sự đa dạng mà không nhận ra sự hợp nhất nền tảng của mọi yếu tố đa dạng. Sự huấn luyện trong huyền bí học cho phép sự hợp nhất này được tri nhận.
129. To perceive as the soul is to perceive unity.
129. Tri nhận như linh hồn là tri nhận sự hợp nhất.
There is a distinct danger in all tabulations, for they tend to the forming of hard and fast divisions, whereas unity pervades all.
Có một nguy hiểm rõ rệt trong mọi sự lập bảng, vì chúng có khuynh hướng tạo ra những phân chia cứng nhắc và cố định, trong khi sự hợp nhất thấm nhuần tất cả.
130. DK understands how the tendency to classification characteristic of the fifth ray can be misused. It produces clarity but does not much allow for the principle of overlap.
130. Chân sư DK hiểu cách mà khuynh hướng phân loại đặc trưng của cung năm có thể bị lạm dụng. Nó tạo ra sự sáng tỏ nhưng không cho phép nhiều đối với nguyên lý chồng lấn.
131. The true spiritual occultist lives in the sense of the unity that pervades all.
131. Nhà huyền bí học tinh thần chân chính sống trong cảm thức về sự hợp nhất thấm nhuần tất cả.
Among the manipulating devas of the lowest level of the dense physical plane are to be found certain subterranean forms of existence, of which hints are to be found in the ancient and occult books.
Trong số các thiên thần vận dụng ở cấp thấp nhất của cõi hồng trần đậm đặc có thể tìm thấy một số hình thức tồn tại dưới lòng đất nhất định, mà những gợi ý về chúng có thể được tìm thấy trong các sách cổ và huyền bí.
132. Again, let us note, we are not speaking here of the devas which are purely recipients of energy and influence. We are not speaking of passive but living substance.
132. Một lần nữa, chúng ta hãy lưu ý, ở đây chúng ta không nói về các thiên thần chỉ thuần túy là những đấng tiếp nhận năng lượng và ảnh hưởng. Chúng ta không nói về chất liệu sống nhưng thụ động.
133. These are presumably semi-intelligent beings, but the degree to which they are self-conscious remains to be seen.
133. Có lẽ đây là những hữu thể bán thông minh, nhưng mức độ ngã thức của họ đến đâu vẫn còn phải chờ xem.
134. The factual information offered in TCF now finds itself approaching the realm of folklore. Master M. has stated that all legend is based on truth.
134. Thông tin thực tế được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ giờ đây tiến gần đến lĩnh vực dân gian truyền thuyết. Chân sư M. đã nói rằng mọi huyền thoại đều dựa trên chân lý.
There is to be found in the very bowels of the earth, an evolution of a peculiar nature, with a close resemblance to the human. They have bodies of a peculiarly gross kind, which might be regarded as distinctly physical as we understand the term.
Trong chính lòng đất có thể tìm thấy một tiến hoá có tính chất đặc biệt, rất giống với con người. Họ có những thể thuộc loại thô nặng đặc biệt, có thể được xem là rõ rệt là hồng trần như chúng ta hiểu thuật ngữ này.
135. We must question whether the term “bowels of the earth” contains an anatomical hint.
135. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu thuật ngữ “lòng đất” có hàm chứa một gợi ý giải phẫu hay không.
136. VSK wonders whether “these are like dwarves or gnomes. Do they (can they) walk on the surface?”
136. VSK tự hỏi liệu “đây có phải giống như người lùn hay thần đất không. Họ có đi trên bề mặt được không?”
137. She further asks: “What does ‘distinctly physical’ mean, in distinction to ‘physical’; e.g., not as much water or air?”
137. Bà còn hỏi thêm: “‘rõ rệt là hồng trần’ có nghĩa gì, phân biệt với ‘hồng trần’; thí dụ, ít nước hay khí hơn chăng?”
138. It is possible that these forms of life have a physical body more dense than has the human being. There would be great pressures to be withstood within the caverns of the Earth.
138. Có thể những hình thức sự sống này có một thể xác đậm đặc hơn con người. Sẽ có những áp lực rất lớn phải chịu đựng trong các hang động của Trái Đất.
139. In some of the old stories they seem to live rather near the surface or, at least, to have access to the surface, but DK tells us that their habitat is miles below the Earth’s surface.
139. Trong một số truyện cổ, dường như họ sống khá gần bề mặt hoặc ít nhất có lối tiếp cận lên bề mặt, nhưng Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nơi cư trú của họ ở sâu nhiều dặm dưới bề mặt Trái Đất.
They dwell in settlements, or groups, under a form of government suited to their needs in the central caves several miles below the crust of the earth.
Họ cư ngụ trong những khu định cư, hay những nhóm, dưới một hình thức cai quản thích hợp với nhu cầu của họ trong các hang động trung tâm sâu nhiều dặm dưới lớp vỏ trái đất.
140. Here we have the a specific statement concerning the location of their habitat. Compared to the diameter of the Earth, several miles is not a very long distance, but if one imagines penetrating several miles beneath the crust of the Earth, there is as sense of those settlements as being ‘a long way down’.
140. Ở đây chúng ta có một phát biểu cụ thể về vị trí nơi cư trú của họ. So với đường kính Trái Đất, vài dặm không phải là khoảng cách quá lớn, nhưng nếu hình dung xuyên xuống vài dặm dưới lớp vỏ Trái Đất, người ta sẽ có cảm giác những khu định cư ấy ở “rất sâu bên dưới”.
141. VSK wonders: “Central caves?” Is the ‘hollow Earth theory” being suggested, or is DK speaking simply of a few or many deep underground caves.”
141. VSK tự hỏi: “Hang động trung tâm?” Có phải “thuyết Trái Đất rỗng” đang được gợi ý, hay Chân sư DK chỉ đơn giản nói về một vài hay nhiều hang động sâu dưới lòng đất?”
142. While estimates differ, the crust of the Earth, per se, is said to be some two miles thick. The Earth’s crust is to be differentiated from the Earth’s “mantle” which extends to a depth of some sixty miles. The caverns in which these existences live seems, therefore, to be within the mantle of the physical globe.
142. Dù các ước tính khác nhau, lớp vỏ Trái Đất, chính nó, được cho là dày chừng hai dặm. Lớp vỏ Trái Đất phải được phân biệt với “manti” của Trái Đất, kéo dài đến độ sâu khoảng sáu mươi dặm. Vì vậy, những hang động mà các hữu thể này sinh sống dường như nằm trong manti của bầu hành tinh hồng trần.
143. In any case, we can see that the settlements of these creatures would not be easily reached by surface dwellers and that is probably the way it is intended.
143. Dù sao đi nữa, chúng ta có thể thấy rằng những khu định cư của các sinh vật này sẽ không dễ gì được những cư dân bề mặt tiếp cận, và có lẽ đó chính là điều được dự định.
144. It is interesting that DK mentions their mode of “government”. Perhaps He is giving us this piece of information so that we can realize something about their consciousness and that they have a type of civilization with laws and rules.
144. Điều thú vị là Chân sư DK nhắc đến hình thức “cai quản” của họ. Có lẽ Ngài cho chúng ta mẩu thông tin này để chúng ta có thể nhận ra điều gì đó về tâm thức của họ và rằng họ có một loại văn minh với luật lệ và quy luật.
145. Since they do have a “government”, we must probably view them as being at least somewhat self-conscious. One can speak of instinct where there is no self-conscious, but how can one speak of “government”? If, however, “government” is meant to mean strict regimentation of unthinking creatures, then they would not need to be self-conscious. Their “close resemblance to the human”, however, suggests some degree of self-consciousness.
145. Vì họ quả có một “hình thức cai quản”, có lẽ chúng ta phải xem họ ít nhất là phần nào có ngã thức. Người ta có thể nói đến bản năng nơi không có ngã thức, nhưng làm sao có thể nói đến “cai quản”? Tuy nhiên, nếu “cai quản” được hiểu là sự quản thúc nghiêm ngặt đối với những sinh vật không suy nghĩ, thì họ sẽ không cần có ngã thức. Tuy vậy, “sự giống gần với con người” của họ gợi ý một mức độ ngã thức nào đó.
146. We might ask what role the planet Vulcan might play in qualifying their type of government.
146. Chúng ta có thể hỏi hành tinh Vulcan có thể đóng vai trò gì trong việc định tính loại hình cai quản của họ.
Their work is closely connected with the mineral kingdom, and the "agnichaitans" of the central fires are under their control.
Công việc của họ liên hệ chặt chẽ với giới kim thạch, và các "agnichaitans" của các lửa trung tâm nằm dưới sự kiểm soát của họ.
147. Their work with the mineral kingdom relates them closely to Vulcan and to the seventh, first and fifth rays (considering the fifth ray as the ‘Ray of Concretion’).
147. Công việc của họ với giới kim thạch liên kết họ chặt chẽ với Vulcan và với các cung bảy, một và năm (xét cung năm như “Cung của Sự Cụ Thể Hóa”).
148. It is often considered that the dwarves and gnomes work closely with the internal fire devas—the “Agnichaitans”.
148. Người ta thường cho rằng người lùn và thần đất làm việc chặt chẽ với các thiên thần của lửa nội tại—các “Agnichaitans”.
149. Again, in speaking of “control”, we must speak of self-consciousness.
149. Một lần nữa, khi nói đến “kiểm soát”, chúng ta phải nói đến ngã thức.
Their bodies are constituted so as to stand much pressure, and they are not dependent upon as free a circulation of air as man is, nor do they resent the great heat to be found in the earth's interior.
Thể của họ được cấu tạo để chịu được áp lực lớn, và họ không lệ thuộc vào sự lưu thông tự do của không khí nhiều như con người, cũng không khó chịu trước sức nóng lớn tìm thấy trong nội địa trái đất.
150. VSK muses: “Not so dependent upon free a circulation of air, at a minimum, involves some adaptation of the lungs, and perhaps a diminution of access to buddhi—the principle of which air is the symbol?”
150. VSK suy ngẫm: “Ít lệ thuộc hơn vào sự lưu thông tự do của không khí, tối thiểu, hàm ý một sự thích nghi nào đó của phổi, và có lẽ là sự giảm bớt khả năng tiếp cận Bồ đề—nguyên khí mà không khí là biểu tượng?”
151. It definitely sounds as if the gaseous and liquid aspects of their bodies are reduced in relation to the dense aspect.
151. Quả thật nghe như thể các phương diện khí và lỏng trong thể của họ bị giảm bớt so với phương diện đậm đặc.
152. Yet, it does seem as if they do require air even if the air is not as freely circulating.
152. Tuy nhiên, dường như họ quả thực cần không khí dù không khí ấy không lưu thông tự do đến thế.
153. Their environment is entirely different from our own. We can wonder about their relationship to the Sun and to prana. By what means are they vitalized?
153. Môi trường của họ hoàn toàn khác với môi trường của chúng ta. Chúng ta có thể tự hỏi về mối liên hệ của họ với Mặt Trời và với prana. Bằng phương tiện nào họ được tiếp sinh lực?
154. Recently, the film “Lord of the Rings” (based on a novel written by a Capricornian individual) offered a glimpse of this kind of creature and its environs.
154. Gần đây, bộ phim “Lord of the Rings” (dựa trên một tiểu thuyết do một cá nhân Ma Kết viết) đã đưa ra một thoáng nhìn về loại sinh vật này và môi trường của nó.
Little can here be communicated anent these existences, for they are connected with the lesser vital portions of the physical body of the planetary Logos, finding their microcosmic correspondence in the feet and legs of a man.
Ít điều có thể được truyền đạt ở đây liên quan đến các hữu thể này, vì họ liên hệ với những phần sinh lực nhỏ hơn của thể xác hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế, tìm thấy định luật tương ứng vi mô của mình trong bàn chân và cẳng chân của con người.
155. VSK comments: “This is similar to esoteric Maori lore, perhaps, in that the Maoris also have seven planes; however the match is only of the ‘lower five’ (i.e., atmic, buddhic, mental, astral, and etheric/physical) – as symbolism is similar. The Maoris also have two planes below, which may well equate to these lower centers, of knees, or legs and feet, etc.”
155. VSK bình luận: “Điều này có lẽ tương tự với truyền thuyết nội môn của người Maori, ở chỗ người Maori cũng có bảy cõi; tuy nhiên sự tương ứng chỉ là của ‘năm cõi thấp’ (tức atma, Bồ đề, trí tuệ, cảm dục, và dĩ thái/hồng trần) – vì biểu tượng học là tương tự. Người Maori cũng có hai cõi bên dưới, có thể rất tương ứng với các trung tâm thấp này, của đầu gối, hay chân và bàn chân, v.v.”
156. According to DK the feet and legs of man (not the arms and hands) are named “the lesser vital portions of the physical body”. We may remark that it is possible to live without feet and legs but not without those functions which are included in the ‘greater vital portions of the physical body’ found in the torso and head.
156. Theo Chân sư DK, bàn chân và cẳng chân của con người (không phải cánh tay và bàn tay) được gọi là “những phần sinh lực nhỏ hơn của thể xác hồng trần”. Chúng ta có thể nhận xét rằng có thể sống mà không có bàn chân và cẳng chân, nhưng không thể sống mà không có những chức năng được bao gồm trong các ‘phần sinh lực lớn hơn của thể xác hồng trần’ nằm trong thân và đầu.
157. This means that these creatures are not central to the planetary energy system, though their role, no doubt, is important in its own way.
157. Điều này có nghĩa là các sinh vật này không trung tâm đối với hệ thống năng lượng hành tinh, dù vai trò của họ, không nghi ngờ gì, là quan trọng theo cách riêng của nó.
158. In some manner, these existences must provide support and mobility, just as legs and feet do.
158. Theo một cách nào đó, các hữu thể này hẳn phải cung cấp sự nâng đỡ và tính động, cũng như chân và bàn chân vẫn làm.
159. We can wonder about the relation of these groups to earth tremors and earthquakes.
159. Chúng ta có thể tự hỏi về mối liên hệ của các nhóm này với các chấn động đất và động đất.
They are one of the factors which make possible the revolutionary progressive activity of a planet.
Họ là một trong những yếu tố làm cho hoạt động tiến bộ mang tính cách mạng của một hành tinh trở nên khả hữu.
160. VSK asks: “Does this refer to the earth rotating on its axis?”
160. VSK hỏi: “Điều này có ám chỉ việc Trái Đất quay trên trục của nó không?”
161. Usually the term “rotation” is used to indicate the turning of the Earth on its axis. (It was interesting when visiting a display given to Santa Claus and his workers and on the arctic circle, that a great wooden ratcheted pole was placed in the center of the display. The implication was that Santa and his helpers—all rather gnome-like—were somehow responsible for turning the Earth on its axis!)
161. Thông thường thuật ngữ “rotation” được dùng để chỉ sự quay của Trái Đất trên trục của nó. (Thật thú vị là khi viếng thăm một cuộc trưng bày dành cho Santa Claus và những người phụ việc của ông ở vòng Bắc Cực, một cột gỗ lớn có bánh cóc đã được đặt ở trung tâm cuộc trưng bày. Hàm ý là Santa và những người trợ giúp của ông—tất cả đều khá giống thần đất—bằng cách nào đó chịu trách nhiệm làm cho Trái Đất quay trên trục của nó!)
162. When we speak of “revolution”, however, it usually signifies the circling of a body around a more central body, such as the Earth around the Sun.
162. Tuy nhiên, khi chúng ta nói đến “revolution”, nó thường biểu thị sự quay vòng của một thiên thể quanh một thiên thể trung tâm hơn, như Trái Đất quanh Mặt Trời.
163. As well, the term “revolutionary progressive activity” suggests spiral-cyclic motion related to the second ray. When discussing the elementals of the lowest systemic subplanes, we are not dealing with particularly second ray existences.
163. Ngoài ra, thuật ngữ “hoạt động tiến bộ mang tính cách mạng” còn gợi ý chuyển động xoắn ốc-chu kỳ liên hệ với cung hai. Khi bàn về các hành khí của những cõi phụ hệ thống thấp nhất, chúng ta không đang xử lý những hữu thể đặc biệt thuộc cung hai.
164. It seems more reasonable to associate such existences with the rotary motion of the third aspect of divinity, so identified are they with the material aspect.
164. Có vẻ hợp lý hơn khi liên kết những hữu thể như thế với chuyển động quay tròn của phương diện thứ ba của thiên tính, vì họ được đồng hoá với phương diện vật chất đến thế.
165. We should note that these existences are only one of the factors which makes “revolutionary progressive activity” possible.
165. Chúng ta nên lưu ý rằng các hữu thể này chỉ là một trong những yếu tố làm cho “hoạt động tiến bộ mang tính cách mạng” trở nên khả hữu.
166. May it be that they tend certain internal fires which make the rotation of the Earth upon its axis possible?
166. Có thể chăng họ chăm nom một số lửa nội tại nào đó khiến cho sự quay của Trái Đất trên trục của nó trở nên khả hữu?
Allied with them are several other groups of low class entities, whose place in the scheme of things can only be described as having relation to the grosser planetary functions.
Liên minh với họ là một số nhóm thực thể hạ đẳng khác, mà vị trí của chúng trong hệ thống sự vật chỉ có thể được mô tả là có liên hệ với những chức năng hành tinh thô nặng hơn.
167. We can imagine that such beings as here mentioned are associated with the excretory functions of the planet. Every E/entity in cosmos intakes nourishment and excretes waste. What this waste may be, we do not know. May such entities and their processes be related to the eighth sphere, which is said to trail in the wake of Earth like a giant “dust hole—a place where all its garbage and filth are consumed”.
167. Chúng ta có thể hình dung rằng những hữu thể được nhắc đến ở đây có liên hệ với các chức năng bài tiết của hành tinh. Mọi Thực thể/thực thể trong vũ trụ đều tiếp nhận dinh dưỡng và bài tiết chất thải. Chúng ta không biết chất thải này có thể là gì. Liệu những thực thể như thế và các tiến trình của chúng có liên hệ với khối cầu thứ tám, vốn được nói là kéo theo sau Trái Đất như một “hố bụi” khổng lồ—một nơi mà mọi rác rưởi và ô uế của nó bị tiêu hủy?
Little is gained by enlarging upon these lives and their work; it is not possible for man in any way to contact them, nor would it be desirable.
Ít điều đạt được khi nói rộng thêm về những sự sống này và công việc của chúng; con người không thể bằng bất cứ cách nào tiếp xúc với chúng, và điều đó cũng không đáng mong muốn.
168. DK is emphatic about the point because He uses the phrase “in any way”.
168. Chân sư DK nhấn mạnh điểm này vì Ngài dùng cụm từ “bằng bất cứ cách nào”.
169. One wonders, given the increasingly deep penetration into the crust and mantle of the Earth now technologically possible, whether some form of contact is not possible now, however undesirable. It would seem that man now has the power to disturb the habitats of such existences.
169. Người ta tự hỏi, với sự xuyên sâu ngày càng lớn vào lớp vỏ và manti của Trái Đất hiện nay có thể thực hiện được về mặt công nghệ, liệu một hình thức tiếp xúc nào đó hiện nay có còn là không thể hay không, dù điều ấy không đáng mong muốn. Dường như con người hiện nay có quyền năng làm xáo trộn nơi cư trú của những hữu thể như thế.
170. The human race is not yet renown for its wisdom. Probably such existences would be considered almost as aliens and wrong relations might result.
170. Nhân loại chưa nổi tiếng về minh triết. Có lẽ những hữu thể như thế sẽ bị xem gần như người ngoài hành tinh và những quan hệ sai lầm có thể phát sinh.
171. The value of this knowledge is to expand man’s understanding of the amazing Earth on which he lives and in which others live!
171. Giá trị của tri thức này là mở rộng sự thấu hiểu của con người về Trái Đất kỳ diệu mà y đang sống trên đó và trong đó những kẻ khác cũng sống!
When they have pursued their evolutionary cycle, they will take their place in a later cycle in the ranks of certain deva bodies that are related to the animal kingdom. [Page 892]
Khi họ đã hoàn tất chu kỳ tiến hoá của mình, họ sẽ đảm nhận vị trí của mình trong một chu kỳ sau trong hàng ngũ của một số thể thiên thần có liên hệ với giới động vật. [Page 892]
172. VSK reflects: “Could be like worms, or bacteria involved with the breaking down of waste in the bowels of man. Certainly it would profit us little, in development of soul consciousness, to have a play with (the necessary function of) feces, and perhaps this is too literal of a correspondence, but what would be the analogy to grosser planetary functions, if not this?
172. VSK suy tư: “Có thể giống như giun, hay vi khuẩn liên quan đến việc phân hủy chất thải trong ruột của con người. Chắc chắn việc đùa nghịch với (chức năng cần thiết của) phân sẽ ít có lợi cho chúng ta trong sự phát triển tâm thức linh hồn, và có lẽ đây là một tương ứng quá sát nghĩa đen, nhưng nếu không phải thế thì phép loại suy với những chức năng hành tinh thô nặng hơn sẽ là gì?
173. We return to the question of whether such existences (the ones dwelling in settlements and groups and living under a type of government) and are self-conscious, especially since their dense physical bodies resemble those of man.
173. Chúng ta trở lại câu hỏi liệu những hữu thể như thế (những hữu thể sống trong các khu định cư và nhóm, và sống dưới một loại hình cai quản) có ngã thức hay không, nhất là vì thể xác hồng trần đậm đặc của họ giống với thể của con người.
174. If they are self-conscious (as the mention of government would suggest) then their progressive development would not likely see a regression into un-self-consciousness.
174. Nếu họ có ngã thức (như việc nhắc đến hình thức cai quản dường như gợi ý) thì sự phát triển tiến bộ của họ hẳn sẽ không có khả năng thoái lui vào tình trạng không có ngã thức.
175. Thus we may tentatively infer that these “certain deva bodies” related to the animal kingdom would exhibit some degree of self-consciousness.
175. Vì vậy, chúng ta có thể tạm thời suy ra rằng những “thể thiên thần nhất định” có liên hệ với giới động vật này sẽ biểu lộ một mức độ ngã thức nào đó.
176. The matter if the nature and quality of their consciousness is still shrouded in obscurity and we must remain alert to the solution.
176. Vấn đề về bản chất và phẩm tính của tâm thức họ vẫn còn bị che phủ trong mờ tối, và chúng ta phải luôn tỉnh táo đối với lời giải.
It is commonly supposed that all the fairies, gnomes, elves, and like nature spirits are to be found solely in etheric matter, but this is not so.
Người ta thường cho rằng tất cả các fairies, gnomes, elves, và những tinh linh tự nhiên tương tự chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái, nhưng điều này không đúng.
177. DK is clarifying our understanding of the manipulating devas, especially those which are found prominently in the folklore of many lands.
177. Chân sư DK đang làm sáng tỏ sự hiểu biết của chúng ta về các thiên thần vận dụng, đặc biệt là những vị nổi bật trong dân gian truyền thuyết của nhiều xứ sở.
178. Apparently, fairies, gnomes and elves and other similar nature spirits are to be found in etheric matter but not solely so.
178. Rõ ràng, fairies, gnomes và elves cùng những tinh linh tự nhiên tương tự quả có thể được tìm thấy trong vật chất dĩ thái nhưng không chỉ như vậy mà thôi.
They are to be found in bodies of gaseous and liquid substance likewise, …
Họ cũng được tìm thấy trong những thể bằng chất liệu khí và lỏng, …
179. DK is suggesting that the bodies of fairies, gnomes and elves may also be composed of gaseous and liquid substance. He does not go so far as to say that their bodies can be grossly physical as are the bodies of the kinds of intra-terrestrial existences which live several miles beneath the Earth’s crust.
179. Chân sư DK đang gợi ý rằng thể của fairies, gnomes và elves cũng có thể được cấu thành từ chất liệu khí và lỏng. Ngài không đi xa đến mức nói rằng thể của họ có thể thô nặng hồng trần như thể của những loại hữu thể nội địa cầu sống sâu nhiều dặm dưới lớp vỏ Trái Đất.
180. From this perspective, would we be going too far to name those with gross, pressure-resistant bodies as fairies, gnomes, elves or nature spirits? Because of their dense physicality, the first mentioned group of elementals seem distinct.
180. Từ góc nhìn này, liệu chúng ta có đi quá xa nếu gọi những hữu thể có thể thô nặng, chịu áp lực cao ấy là fairies, gnomes, elves hay tinh linh tự nhiên không? Vì tính hồng trần đậm đặc của họ, nhóm hành khí được nhắc đến trước dường như khác biệt.
… but the mistake has arisen for the reason that the basis of all that which can be objectively seen is the etheric structure, and these little busy lives frequently protect their dense physical activities through the agency of glamour, and cast a veil over their objective manifestation.
… nhưng sai lầm đã phát sinh vì lý do rằng nền tảng của mọi điều có thể được thấy một cách khách quan là cấu trúc dĩ thái, và những sự sống nhỏ bé bận rộn này thường xuyên bảo vệ các hoạt động hồng trần đậm đặc của mình qua tác nhân của ảo cảm, và phủ một bức màn lên sự biểu hiện khách quan của họ.
181. What we gather is that fairies, gnomes and elves are “little busy lives” and they do have physical activities which they can conceal if they wish to.
181. Điều chúng ta rút ra là fairies, gnomes và elves là những “sự sống nhỏ bé bận rộn” và họ quả có những hoạt động hồng trần mà họ có thể che giấu nếu muốn.
182. Had we thought that glamor could cast a veil over objective manifestation?
182. Liệu chúng ta đã từng nghĩ rằng ảo cảm có thể phủ màn lên sự biểu hiện khách quan chưa?
183. It appears that they can manipulate the forces of glamor at their will.
183. Dường như họ có thể vận dụng các mãnh lực của ảo cảm theo ý mình.
184. But do they wield glamor purposefully? Does the word “protect” suggest self-consciousness? We must remember that there are animals in nature who protect themselves in many ways (camouflage among them) and that these animals are not at all self-conscious.
184. Nhưng liệu họ có sử dụng ảo cảm một cách có chủ đích không? Từ “bảo vệ” có gợi ý ngã thức không? Chúng ta phải nhớ rằng trong thiên nhiên có những loài động vật tự bảo vệ mình bằng nhiều cách (ngụy trang là một trong số đó), và những động vật này hoàn toàn không có ngã thức.
185. We must still be cautious as their degree of self-conscious is yet to be proven.
185. Chúng ta vẫn phải thận trọng vì mức độ ngã thức của chúng vẫn còn phải được chứng minh.
186. We might additionally ask whether, when they use glamor as a veil, the veil is cast over only their physical activities or also over their etheric activities?
186. Ngoài ra, chúng ta có thể hỏi rằng liệu, khi chúng dùng ảo cảm như một bức màn che, thì bức màn ấy chỉ được phủ lên các hoạt động hồng trần của chúng hay cũng phủ lên các hoạt động dĩ thái của chúng?
187. In light of what DK says below, the first possibility seems more probable.
187. Dưới ánh sáng của điều Chân sư DK nói dưới đây, khả năng thứ nhất dường như có xác suất cao hơn.
When etheric vision is present then they can be seen, for the glamour, as we understand it, is only a veil over that which is tangible.
Khi có linh thị dĩ thái thì chúng có thể được nhìn thấy, vì ảo cảm, như chúng ta hiểu, chỉ là một bức màn che phủ điều gì đó hữu hình.
188. VSK speculates about etheric vision: “We recall that etheric vision is a function of the physical eye. What is it that inhibits or accelerates the development of etheric vision? And WHERE is the physical visual portion of the electro-magnetic spectrum activated? If etheric vision, using the physical eye, is not activated by (physical) light waves (and hence locatable on the spectrum), what may it be? (Could there be a ‘parallel etheric spectrum’?)
188. VSK suy đoán về linh thị dĩ thái: “Chúng ta nhớ rằng linh thị dĩ thái là một chức năng của mắt hồng trần. Điều gì ngăn trở hoặc thúc đẩy sự phát triển của linh thị dĩ thái? Và phần thị giác hồng trần của phổ điện từ được hoạt hóa ở ĐÂU? Nếu linh thị dĩ thái, sử dụng mắt hồng trần, không được hoạt hóa bởi các làn sóng ánh sáng (hồng trần) (và do đó có thể định vị trên phổ), thì nó có thể là gì? (Liệu có thể có một ‘phổ dĩ thái song song’ chăng?)
189. In the section of text above, the answer is given. It seems that the glamor which is under their control can only prevent objective vision or evade objective detection, but cannot mislead genuine etheric vision.
189. Trong phần văn bản trên, câu trả lời đã được đưa ra. Dường như ảo cảm nằm dưới sự kiểm soát của chúng chỉ có thể ngăn cản linh thị khách quan hoặc tránh bị phát hiện một cách khách quan, nhưng không thể đánh lừa linh thị dĩ thái chân chính.
190. Some of these little existences have been associated with thievery. Is it possible that missing objects may not be missing at all, but may simply be concealed by a veil of glamor cast over them?
190. Một số sự sống nhỏ bé này đã được gắn với hành vi trộm cắp. Có thể nào những vật bị mất thực ra không hề mất, mà chỉ đơn giản bị che giấu bởi một bức màn ảo cảm phủ lên chúng?
191. The true magician must be aware of the modus operandi of such methods.
191. Nhà huyền thuật chân chính phải nhận biết phương thức vận hành của những phương pháp như thế.
Students must at this juncture remember that all dense physical forms, whether of a tree, an animal, a mineral, a drop of water, or a precious stone, are in themselves elemental lives constructed of living substance by the aid of living manipulators, acting under the direction of intelligent architects.
Ở thời điểm này, các đạo sinh phải nhớ rằng mọi hình tướng hồng trần đậm đặc, dù là của một cái cây, một con vật, một khoáng vật, một giọt nước hay một viên đá quý, tự chúng đều là các sự sống hành khí được cấu tạo bằng chất liệu sống với sự trợ giúp của các đấng thao tác sống, hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đấng kiến trúc sư thông tuệ.
192. It seems that all three types of devic lives are mentioned in this section of text.
192. Dường như cả ba loại sự sống thiên thần đều được nhắc đến trong phần văn bản này.
193. The elemental lives (in this context) are the receptive forces of true lesser builders who are “living substance” itself.
193. Các sự sống hành khí (trong ngữ cảnh này) là những mãnh lực tiếp nhận của các vị tiểu kiến tạo chân chính, vốn chính là “chất liệu sống”.
194. The “living manipulators” are the interim group, such as those we have been discussing and they aid in the construction of these elemental lives.
194. Các “đấng thao tác sống” là nhóm trung gian, chẳng hạn như những vị chúng ta đã bàn đến, và họ trợ giúp trong việc cấu tạo các sự sống hành khí này.
195. Can the “transmitting devas” be associated with those which DK here calls the “intelligent architects”? It would seem so.
195. Liệu các “thiên thần truyền dẫn” có thể được liên kết với những vị mà Chân sư DK ở đây gọi là các “kiến trúc sư thông tuệ” chăng? Dường như là như vậy.
196. In fact, if we look closely at this paragraph, we may find that four kinds of deva lives are indicated:
196. Thật vậy, nếu chúng ta xem kỹ đoạn này, chúng ta có thể thấy rằng có bốn loại sự sống thiên thần được chỉ ra:
a. Living substance
a. Chất liệu sống
b. Elemental lives constructed of living substance
b. Các sự sống hành khí được cấu tạo từ chất liệu sống
c. Manipulating devas who aid in the construction of the elemental lives
c. Các thiên thần thao tác trợ giúp trong việc cấu tạo các sự sống hành khí
d. Intelligent architects who direct the entire process
d. Các kiến trúc sư thông tuệ chỉ đạo toàn bộ tiến trình
It will immediately become apparent why it is not possible in any way to tabulate in connection with this particular lowest group.
Sẽ lập tức trở nên hiển nhiên vì sao không thể bằng bất cứ cách nào lập bảng liên hệ với nhóm thấp nhất đặc biệt này.
197. We are speaking of the combination of “elemental lives” and “living substance”.
197. Chúng ta đang nói đến sự kết hợp của “các sự sống hành khí” và “chất liệu sống”.
198. The variety would be immense.
198. Sự đa dạng sẽ vô cùng lớn.
A beautiful diamond, a stately tree, or a fish in the water are but devas after all.
Một viên kim cương tuyệt đẹp, một cái cây uy nghi, hay một con cá trong nước, rốt cuộc cũng chỉ là các thiên thần mà thôi.
199. Devas of very different kinds but devas nonetheless…
199. Các thiên thần thuộc những loại rất khác nhau, nhưng dẫu sao vẫn là thiên thần…
200. It is interesting that the fish is mentioned. In some of the theosophical books, the fish is mentioned along with the bird as being on the path of entry into the Deva Kingdom. This is not the case with the amphibian, the reptile and the mammal.
200. Điều thú vị là con cá được nhắc đến. Trong một số sách Thông Thiên Học, cá được nhắc cùng với chim như đang ở trên con đường đi vào giới thiên thần. Điều này không đúng với loài lưỡng cư, loài bò sát và loài có vú.
It is the recognition of this essential livingness which constitutes the basic fact in all occult investigation, and is the secret of all beneficent magic.
Chính sự nhận biết về tính sống thiết yếu này tạo thành sự kiện căn bản trong mọi cuộc khảo cứu huyền bí, và là bí mật của mọi huyền thuật từ thiện.
201. At the center of every form, even the tiniest, is a point of “essential livingness”. Beneficent magic respects this point and seeks to draw it forth into expression. Black magic seeks to confine and imprison it.
201. Ở trung tâm của mọi hình tướng, dù nhỏ bé đến đâu, đều có một điểm của “tính sống thiết yếu”. Huyền thuật từ thiện tôn trọng điểm này và tìm cách rút nó ra để biểu hiện. Hắc thuật tìm cách giam hãm và cầm tù nó.
202. Planetarily, “beneficent magic” represents a union of the energies of Jupiter and Uranus.
202. Xét theo hành tinh, “huyền thuật từ thiện” biểu thị một sự hợp nhất của các năng lượng Sao Mộc và Sao Thiên Vương.
203. True occult investigation names nothing as “inanimate”. The essential livingness of all things is the object of search.
203. Khảo cứu huyền bí chân chính không gọi bất cứ điều gì là “vô sinh”. Tính sống thiết yếu của mọi sự vật là đối tượng được truy tìm.
204. VSK states: “This also re-emphasizes the seventh ray and plane aspect of magic, and is reminiscent of the daily ritual of Sanat Kumara”
204. VSK nói: “Điều này cũng một lần nữa nhấn mạnh phương diện cung bảy và cõi của huyền thuật, và gợi nhớ đến nghi lễ hằng ngày của Đức Sanat Kumara”
It is not my purpose, therefore, to deal more specifically with these lowest forms of divine life,
Vì vậy, mục đích của tôi không phải là bàn đến một cách cụ thể hơn về những hình thức thấp nhất này của sự sống thiêng liêng,
205. Presumably DK must mean elemental lives (composed of living substance) and not the manipulating devas.
205. Có lẽ Chân sư DK phải muốn nói đến các sự sống hành khí (được cấu tạo từ chất liệu sống) chứ không phải các thiên thần thao tác.
except to impart two facts, and thus give indication of the solution of two problems which have oft disturbed the average student;
ngoại trừ việc truyền đạt hai sự kiện, và như thế đưa ra chỉ dẫn về lời giải của hai vấn đề vốn thường làm xáo trộn đạo sinh trung bình;
206. DK hints at the solution of two problems which average students may not even have detected.
206. Chân sư DK gợi ý lời giải cho hai vấn đề mà các đạo sinh trung bình có thể thậm chí còn chưa nhận ra.
these are, first, the problem as to the purpose of all reptilian life, and, secondly, the specific connection of the bird evolution with the deva kingdom.
đó là, thứ nhất, vấn đề về mục đích của mọi sự sống bò sát, và thứ hai, mối liên hệ đặc thù của sự tiến hóa của loài chim với giới thiên thần.
207. VSK calls our attention to the following: “One thing we can note with both reptiles and birds is that they are egg-bearers (non mammals). They bear young in shells.”
207. VSK lưu ý chúng ta điều sau đây: “Một điều chúng ta có thể nhận thấy ở cả loài bò sát lẫn loài chim là chúng đều đẻ trứng (không phải loài có vú). Chúng sinh con trong vỏ.”
208. Scientists have noticed what they believe to be evolutionary links between reptiles and birds—certain bird-like reptiles and reptile-like birds which emerged within the evolutionary panorama towards the close of the Age of Reptiles. What shall we say of birds with teeth and scales instead of feathers?
208. Các nhà khoa học đã nhận thấy điều mà họ tin là những mắt xích tiến hóa giữa loài bò sát và loài chim—một số bò sát giống chim và chim giống bò sát đã xuất hiện trong toàn cảnh tiến hóa vào lúc gần cuối Kỷ Nguyên Bò Sát. Chúng ta sẽ nói gì về những loài chim có răng và có vảy thay vì lông vũ?
209. We also have the tradition of the “Feathered Serpent” Quetzalquatal.
209. Chúng ta cũng có truyền thống về “Con Rắn Có Lông Vũ” Quetzalquatal.
The secret of the reptile kingdom is one of the mysteries of the second round, and there is a profound significance connected with the expression "the serpents of wisdom" which is applied to all adepts of the good law. [Page 893]
Bí mật của giới bò sát là một trong những huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn thứ hai, và có một thâm nghĩa sâu xa gắn liền với cụm từ “những con rắn minh triết” vốn được áp dụng cho mọi chân sư của thiện luật. [Page 893]
210. There are many thoughts to put together in this regard. Sources like Draco, the Pleiades, Sirius and Venus are all connected with the dragon or serpent tradition. The Planetary Logoi, Themselves, are called “Dragons of Wisdom”.
210. Có nhiều điều đáng suy ngẫm cần được kết hợp lại về phương diện này. Các nguồn như Draco, Pleiades, Sirius và Venus đều có liên hệ với truyền thống rồng hay rắn. Chính các Hành Tinh Thượng Đế cũng được gọi là “Những Con Rồng Minh Triết”.
211. The four sources mentioned—Draco, the Pleiades, Sirius and Venus also have a profound second ray associated with them on some level of their energy system. The second ray and the second round are numerically connected.
211. Bốn nguồn được nhắc đến—Draco, Pleiades, Sirius và Venus—cũng có một cung hai sâu xa gắn với chúng ở một cấp độ nào đó trong hệ thống năng lượng của chúng. Cung hai và cuộc tuần hoàn thứ hai có liên hệ với nhau về mặt số học.
212. The “serpents of wisdom” are reflections of the Dragons of Wisdom Who are the Planetary Logoi.
212. “Những con rắn minh triết” là những phản chiếu của các Con Rồng Minh Triết, là các Hành Tinh Thượng Đế.
213. The Solar Angels, themselves, can be viewed under the guise of serpents as represented in the lore of many ancient civilizations.
213. Bản thân các Thái dương Thiên Thần có thể được nhìn dưới hình tượng những con rắn như được trình bày trong truyền thuyết của nhiều nền văn minh cổ đại.
214. The Secret Doctrine informs us that the Solar Angels or Agnishvattas “looked in” (during the second round of our fourth chain) on the forms which were to become human forms and decided that these forms were as yet unprepared for their immersion in them.
214. Giáo Lý Bí Nhiệm cho chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần hay Agnishvattas đã “nhìn vào” (trong cuộc tuần hoàn thứ hai của dãy thứ tư của chúng ta) các hình tướng sẽ trở thành hình tướng con người và quyết định rằng các hình tướng ấy vẫn chưa được chuẩn bị cho sự nhập vào của các Ngài.
215. Sanat Kumara also can be considered as a ‘Great Serpent’ or Naga. His closest Co-Workers (the three Buddhas of Activity) were Planetary Logoi in the previous solar system and, thus, were Dragons of Wisdom.
215. Đức Sanat Kumara cũng có thể được xem là một ‘Đại Xà’ hay Naga. Những Vị Cộng Tác Viên gần gũi nhất của Ngài (ba vị Phật Hoạt Động) là các Hành Tinh Thượng Đế trong hệ mặt trời trước, và do đó là các Con Rồng Minh Triết.
210. Có rất nhiều suy nghĩ được tập hợp lại về vấn đề này. Các nguồn như Draco, Pleiades, Sirius và Venus đều có liên quan đến truyền thống rồng hoặc rắn. Chính các Hành tinh Thượng Đế, được gọi là “Những con rồng trí tuệ”.
210. Có rất nhiều suy nghĩ được tập hợp lại về vấn đề này. Các nguồn như Draco, Pleiades, Sirius và Venus đều có liên quan đến truyền thống rồng hoặc rắn. Chính các Hành tinh Thượng Đế, được gọi là “Những con rồng trí tuệ”.
211. Bốn nguồn được đề cập—Draco, Pleiades, Sirius và Venus cũng có cung hai sâu sắc liên quan đến chúng ở một mức độ nào đó trong hệ thống năng lượng của chúng. Cung hai và vòng tuần hoàn thứ hai được kết nối theo số học.
211. Bốn nguồn được đề cập—Draco, Pleiades, Sirius và Venus cũng có cung hai sâu sắc liên quan đến chúng ở một mức độ nào đó trong hệ thống năng lượng của chúng. Cung hai và vòng tuần hoàn thứ hai được kết nối theo số học.
212. “Những con rắn trí tuệ” là hình ảnh phản chiếu của những Con Rồng Trí tuệ là Hành tinh Thượng Đế.
212. “Những con rắn trí tuệ” là hình ảnh phản chiếu của những Con Rồng Trí tuệ là Hành tinh Thượng Đế.
213. Bản thân các Thái dương Thiên Thần có thể được xem dưới hình dạng con rắn như được thể hiện trong truyền thuyết của nhiều nền văn minh cổ đại.
213. Bản thân các Thái dương Thiên Thần có thể được xem dưới hình dạng con rắn như được thể hiện trong truyền thuyết của nhiều nền văn minh cổ đại.
214. Giáo lý Bí truyền cho chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần hay Agnishvattas đã “nhìn vào” (vào lúc cuộc tuần hoàn thứ hai của chuỗi thứ tư của chúng ta) các hình tướng sẽ trở thành hình tướng con người,và quyết định rằng những hình tướng này vẫn chưa được chuẩn bị cho việc các Ngài nhập vào đó.
214. Giáo lý Bí truyền cho chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần hay Agnishvattas đã “nhìn vào” (vào lúc cuộc tuần hoàn thứ hai của chuỗi thứ tư của chúng ta) các hình tướng sẽ trở thành hình tướng con người,và quyết định rằng những hình tướng này vẫn chưa được chuẩn bị cho việc các Ngài nhập vào đó.
215. Đức Sanat Kumara cũng có thể được coi là 'Con rắn vĩ đại' hay Naga. Những Vị đồng sự thân cận nhất của Ngài (ba vị Phật Hoạt động) là Hành tinh Thượng Đế trong hệ mặt trời trước đó và do đó là những Con Rồng Trí tuệ.
215. Đức Sanat Kumara cũng có thể được coi là 'Con rắn vĩ đại' hay Naga. Những Vị đồng sự thân cận nhất của Ngài (ba vị Phật Hoạt động) là Hành tinh Thượng Đế trong hệ mặt trời trước đó và do đó là những Con Rồng Trí tuệ.
The reptile kingdom has an interesting place in all mythologies, and all ancient forms of truth impartation, and this for no arbitrary reason.
Giới bò sát có một vị trí thú vị trong mọi thần thoại, và trong mọi hình thức truyền đạt chân lý cổ xưa, và điều này không phải không có lý do.
216. We remember the serpent in the “Tree of Knowledge” found in the biblical “Garden of Eden”. This serpent has been much abused for the knowledge it imparted.
216. Chúng ta nhớ đến con rắn trong “Cây Tri Thức” được tìm thấy trong “Vườn Địa Đàng” của Kinh Thánh. Con rắn này đã bị lạm dụng rất nhiều vì tri thức mà nó truyền đạt.
217. The impartation of knowledge in the Garden of Eden can be considered symbolic of individualization. After that momentous happening (when Eve, following the serpent’s advice, took from the tree the ‘Fruit of Knowledge’ and tasted of it, proffering it also to Adam) it was impossible for human consciousness to return to its primitive “participation mystique”.
217. Sự truyền đạt tri thức trong Vườn Địa Đàng có thể được xem là biểu tượng của sự biệt ngã hóa. Sau biến cố trọng đại ấy (khi Eva, theo lời khuyên của con rắn, lấy từ cây “Trái Tri Thức” và nếm nó, rồi cũng đưa cho Adam), tâm thức con người không thể quay trở lại “participation mystique” nguyên thủy của nó nữa.
218. The Dragons of Wisdom (the Planetary Logoi Who are great spiritual ‘Serpents’) are already endowed with a powerful manas (and love). The Solar Angels represent them and are also as serpents.
218. Các Con Rồng Minh Triết (các Hành Tinh Thượng Đế là những ‘Con Rắn’ tinh thần vĩ đại) đã được phú cho một manas mạnh mẽ (và bác ái). Các Thái dương Thiên Thần đại diện cho các Ngài và cũng là những con rắn.
219. One learns to be “as wise as serpents” by listening carefully to the ‘Inner Serpent’, the Solar Angel, Who will reveal to man the secret of the “Serpent Power”, or the liberating kundalini.
219. Người ta học cách “khôn ngoan như rắn” bằng cách lắng nghe cẩn thận ‘Con Rắn Bên Trong’, Thái dương Thiên Thần, Đấng sẽ tiết lộ cho con người bí mật của “Mãnh lực Rắn”, hay kundalini giải phóng.
216. Chúng ta nhớ đến con rắn trong “Cây Tri thức” được tìm thấy trong “Vườn Địa đàng” trong Kinh thánh. Con rắn này đã bị lạm dụng rất nhiều vì kiến thức mà nó truyền đạt.
216. Chúng ta nhớ đến con rắn trong “Cây Tri thức” được tìm thấy trong “Vườn Địa đàng” trong Kinh thánh. Con rắn này đã bị lạm dụng rất nhiều vì kiến thức mà nó truyền đạt.
217. Việc truyền đạt kiến thức trong Vườn Địa Đàng có thể được coi là biểu tượng của sự biệt ngã hóa. Sau sự kiện quan trọng đó (khi Eva, theo lời khuyên của con rắn, lấy 'Trái Kiến thức' từ trên cây và nếm thử, rồi đưa cho Adam), ý thức của con người không thể quay trở lại "tham dự bí ẩn " nguyên thủy của nó.
217. Việc truyền đạt kiến thức trong Vườn Địa Đàng có thể được coi là biểu tượng của sự biệt ngã hóa. Sau sự kiện quan trọng đó (khi Eva, theo lời khuyên của con rắn, lấy 'Trái Kiến thức' từ trên cây và nếm thử, rồi đưa cho Adam), ý thức của con người không thể quay trở lại "tham dự bí ẩn " nguyên thủy của nó.
218. Những con Rồng Trí tuệ (Hành tinh Thượng đế là những ‘Con rắn’ tâm linh vĩ đại) đã được ban cho một manas (và tình yêu) mạnh mẽ. Các Thái dương Thiên Thần đại diện cho các Ngài và cũng giống như những con rắn.
218. Những con Rồng Trí tuệ (Hành tinh Thượng đế là những ‘Con rắn’ tâm linh vĩ đại) đã được ban cho một manas (và tình yêu) mạnh mẽ. Các Thái dương Thiên Thần đại diện cho các Ngài và cũng giống như những con rắn.
219. Người ta học cách “khôn ngoan như rắn” bằng cách lắng nghe cẩn thận ‘Con rắn bên trong’, Thái dương Thiên Thần, Đấng sẽ tiết lộ cho con người bí mật về “Sức mạnh của Rắn”, hay kundalini giải phóng.
219. Người ta học cách “khôn ngoan như rắn” bằng cách lắng nghe cẩn thận ‘Con rắn bên trong’, Thái dương Thiên Thần, Đấng sẽ tiết lộ cho con người bí mật về “Sức mạnh của Rắn”, hay kundalini giải phóng.
It is not possible to enlarge upon the underlying truth which is hidden in the karmic history of our planetary Logos,
Không thể khai triển thêm về chân lý nền tảng được ẩn giấu trong lịch sử nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta,
220. This history probably relates to our Planetary Logos’ relationship to the planet Venus, in relation to which the serpent mythology is very strong.
220. Lịch sử này có lẽ liên quan đến mối quan hệ của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta với hành tinh Venus, mà trong mối liên hệ ấy thần thoại về rắn rất mạnh.
221. A relationship with still greater Beings (who endowed the fire of manas to the Planetary Logoi and to the Solar Logos, Himself) is also probably indicated here.
221. Một mối quan hệ với những Đấng còn vĩ đại hơn nữa (những Đấng đã phú cho lửa của manas đối với các Hành Tinh Thượng Đế và đối với chính Thái dương Thượng đế) cũng có lẽ được chỉ ra ở đây.
220. Lịch sử này có lẽ liên quan đến mối quan hệ của Hành tinh Thượng Đế của chúng ta với hành tinh Sao Kim, mối liên hệ mà thần thoại về con rắn rất mạnh mẽ.
220. Lịch sử này có lẽ liên quan đến mối quan hệ của Hành tinh Thượng Đế của chúng ta với hành tinh Sao Kim, mối liên hệ mà thần thoại về con rắn rất mạnh mẽ.
221. Mối quan hệ với các Đấng còn vĩ đại hơn nữa (những Đấng ban lửa manas cho Hành tinh Thượng Đế và cho Chính Thái dương Thượng Đế) cũng có lẽ được chỉ ra ở đây.
221. Mối quan hệ với các Đấng còn vĩ đại hơn nữa (những Đấng ban lửa manas cho Hành tinh Thượng Đế và cho Chính Thái dương Thượng Đế) cũng có lẽ được chỉ ra ở đây.
and is revealed as part of the teaching given to initiates of the second degree.
và được mặc khải như một phần của giáo huấn được ban cho các điểm đạo đồ của cấp thứ hai.
222. Presumably, it is revealed in the chamber of initiation to those are taking the second degree. Such revelation could also occur through instruction on the inner planes to those who have passed through this initiation. Perhaps even now there are physical-plane instances of instruction in these matters for such initiates.
222. Có lẽ điều này được mặc khải trong phòng điểm đạo cho những ai đang nhận cấp thứ hai. Sự mặc khải như thế cũng có thể xảy ra qua sự huấn luyện trên các cõi bên trong cho những ai đã vượt qua lần điểm đạo này. Có lẽ ngay cả hiện nay cũng có những trường hợp được huấn luyện trên cõi hồng trần về những vấn đề này cho các điểm đạo đồ như thế.
223. Note the connection to the second round, to the solar serpents or Angels (strongly qualified by the second ray), and to the influence of Venus which is strongly conditioned by the second ray.
223. Hãy lưu ý mối liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ hai, với các rắn thái dương hay các Thiên Thần (được phẩm định mạnh mẽ bởi cung hai), và với ảnh hưởng của Venus vốn được tác động mạnh mẽ bởi cung hai.
224. It is at the second degree that one can earnestly being the process of becoming “as wise as serpents”.
224. Chính ở cấp thứ hai mà người ta có thể nghiêm túc bắt đầu tiến trình trở nên “khôn ngoan như rắn”.
225. The serpent sign, Scorpio, is involved, as is serpentine Mercury (the hierarchical ruler in Scorpio) with the building of the ‘serpentine’ antahkarana.
225. Dấu hiệu rắn, Hổ Cáp, có liên quan, cũng như Sao Thủy có tính rắn (chủ tinh của Huyền Giai trong Hổ Cáp) với việc xây dựng antahkarana ‘dạng rắn’.
226. At the second degree, via the antahkarana, one is building the “tree of knowledge” to the triadal realms.
226. Ở cấp thứ hai, thông qua antahkarana, người ta đang xây dựng “cây tri thức” hướng đến các cõi của Tam nguyên tinh thần.
222. Có lẽ nó được tiết lộ trong phòng điểm đạo đối với những người đang ở cấp độ thứ hai. Sự tiết lộ như vậy cũng có thể xảy ra thông qua sự hướng dẫn trên các cõi bên trong cho những người đã trải qua cuộc điểm đạo này. Có lẽ ngay cả bây giờ cũng có những trường hợp giảng dạy ở cõi trần về những vấn đề này cho những điểm đạo đồ như vậy.
222. Có lẽ nó được tiết lộ trong phòng điểm đạo đối với những người đang ở cấp độ thứ hai. Sự tiết lộ như vậy cũng có thể xảy ra thông qua sự hướng dẫn trên các cõi bên trong cho những người đã trải qua cuộc điểm đạo này. Có lẽ ngay cả bây giờ cũng có những trường hợp giảng dạy ở cõi trần về những vấn đề này cho những điểm đạo đồ như vậy.
223. Hãy lưu ý mối liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ hai, với các con rắn thái dương hoặc các Thiên thần (được phẩm định mạnh mẽ bởi cung hai), và với ảnh hưởng của sao Kim vốn bị chi phối mạnh mẽ bởi cung hai.
223. Hãy lưu ý mối liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ hai, với các con rắn thái dương hoặc các Thiên thần (được phẩm định mạnh mẽ bởi cung hai), và với ảnh hưởng của sao Kim vốn bị chi phối mạnh mẽ bởi cung hai.
224. Ở cấp độ thứ hai, người ta có thể nghiêm túc thực hiện quá trình trở nên “khôn ngoan như rắn”.
224. Ở cấp độ thứ hai, người ta có thể nghiêm túc thực hiện quá trình trở nên “khôn ngoan như rắn”.
225. Dấu hiệu rắn, Bò Cạp, có liên quan, cũng như Sao Thủy “rắn” (chủ tinh Huyền Giai của Bò Cạp) với việc xây dựng antahkarana ‘rắn’.
225. Dấu hiệu rắn, Bò Cạp, có liên quan, cũng như Sao Thủy “rắn” (chủ tinh Huyền Giai của Bò Cạp) với việc xây dựng antahkarana ‘rắn’.
226. Ở cấp độ thứ hai, thông qua antahkarana, người ta đang xây dựng “cây tri thức” về các cõi tam nguyên.
226. Ở cấp độ thứ hai, thông qua antahkarana, người ta đang xây dựng “cây tri thức” về các cõi tam nguyên.
The second great life impulse, or life wave, initiated by our planetary Logos, when brought in conjunction with the first, was the basis of that activity which we call evolutionary energy; it resulted in a gradual unrolling, or revelation, of the divine form.
Xung lực sự sống vĩ đại thứ hai, hay làn sóng sự sống, do Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta khởi xướng, khi được đưa vào kết hợp với xung lực thứ nhất, đã là nền tảng của hoạt động mà chúng ta gọi là năng lượng tiến hóa; nó dẫn đến một sự mở cuộn dần dần, hay sự mặc khải, của hình tướng thiêng liêng.
227. We are speaking of the union of the second and third aspects. Each of these aspects can be connected with serpent mythology. The sinuosity of the serpent is associated with the third aspect. The revelatory power of the serpent is connected with the second aspect as is its wave-like, undulatory movement.
227. Chúng ta đang nói đến sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba. Mỗi phương diện này đều có thể được nối kết với thần thoại về rắn. Tính uốn lượn của con rắn gắn với phương diện thứ ba. Quyền năng mặc khải của con rắn gắn với phương diện thứ hai, cũng như chuyển động gợn sóng, nhấp nhô của nó.
228. Life waves are initiated by the Solar Logos but also by our Planetary Logos.
228. Các làn sóng sự sống được khởi xướng bởi Thái dương Thượng đế nhưng cũng bởi Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.
229. The first life wave relates to the preparation and conditioning of matter and expresses the third aspect of divinity. The second life wave relates to the building of form out of the prepared matter and relates, naturally, to the second aspect of divinity.
229. Làn sóng sự sống thứ nhất liên hệ với việc chuẩn bị và tác động lên vật chất, và biểu lộ phương diện thứ ba của thiên tính. Làn sóng sự sống thứ hai liên hệ với việc xây dựng hình tướng từ vật chất đã được chuẩn bị, và dĩ nhiên liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính.
230. That aspect of will which is associated with the third aspect is called the Will to Evolve.
230. Phương diện ý chí gắn với phương diện thứ ba được gọi là Ý Chí Tiến Hóa.
231. The process of unrolling, or unfolding towards revelation of the divine form is under the influence of the progressively revelatory second aspect which holds the energy pattern upon which evolutionary unfoldment is based.
231. Tiến trình mở cuộn, hay khai mở hướng đến sự mặc khải của hình tướng thiêng liêng, nằm dưới ảnh hưởng của phương diện thứ hai ngày càng có tính mặc khải, phương diện này nắm giữ mô hình năng lượng mà sự khai mở tiến hóa dựa trên đó.
232. When the Solar Angel asserts its influence over the human being, we have a union of the second and third aspects of divinity.
232. Khi Thái dương Thiên Thần khẳng định ảnh hưởng của mình lên con người, chúng ta có sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính.
233. The unrolling of the divine pattern occurs in a serpentine manner. DK speaks of diamond design on the back of a serpent when discussing the interweaving of ray cycles.
233. Sự mở cuộn của mô hình thiêng liêng diễn ra theo cách uốn lượn như rắn. Chân sư DK nói về mô hình kim cương trên lưng một con rắn khi bàn về sự đan dệt của các chu kỳ cung.
234. The dynamic of weaving (the motion of the third ray) suggests the sinuous motion of the serpent.
234. Động lực của sự dệt (chuyển động của cung ba) gợi ra chuyển động uốn lượn của con rắn.
These coloured rings do not follow a straight unimpeded course, but interweave in a most curious manner, blending with each other, absorbing each other in stated cycles, and grouping themselves in groups of threes or fives, yet ever moving onwards. This is the real foundation to the diamond pattern upon the back of the serpent of wisdom. Three major lines of colour should be portrayed as forming the lattice work on the serpent's skin, with the four other colours interweaving. Some day some student of colour and of the Divine Wisdom should compile a large chart of the seven planes, and superimposed upon those planes should be placed a seven-coloured serpent of wisdom. If correctly drawn to scale some interesting geometrical patterns will be found as the circles cut across the planes, and some impression will be conveyed occularly of the complexity of the matter of the seven rays...... (LOM 212)
Những vòng màu này không đi theo một đường thẳng không bị cản trở, mà đan dệt theo một cách hết sức kỳ lạ, hòa lẫn với nhau, hấp thụ lẫn nhau trong những chu kỳ nhất định, và tự nhóm lại thành những nhóm ba hoặc năm, nhưng vẫn luôn tiến tới. Đây là nền tảng thực sự của mô hình kim cương trên lưng con rắn minh triết. Ba đường màu chính nên được mô tả như tạo thành mạng lưới trên da con rắn, với bốn màu kia đan xen vào. Một ngày nào đó, một đạo sinh về màu sắc và Minh Triết Thiêng Liêng nên biên soạn một biểu đồ lớn về bảy cõi, và chồng lên các cõi ấy một con rắn minh triết bảy màu. Nếu được vẽ đúng theo tỷ lệ, một số mô hình hình học thú vị sẽ được tìm thấy khi các vòng tròn cắt ngang các cõi, và một số ấn tượng sẽ được truyền đạt bằng mắt về tính phức tạp của vật chất của bảy cung...... (LOM 212)
235. The second ray holds hid the great revelation. The third ray uncoils, unrolls or unfolds this revelation. The two aspects are working closely together especially on our planet.
235. Cung hai giữ kín sự mặc khải vĩ đại. Cung ba tháo cuộn, mở cuộn hay khai mở sự mặc khải này. Hai phương diện ấy đang hoạt động chặt chẽ cùng nhau, đặc biệt trên hành tinh của chúng ta.
236. When the second and third aspects unite, we have spiral cyclic motion reconditioning rotary motion.
236. Khi phương diện thứ hai và thứ ba hợp nhất, chúng ta có chuyển động chu kỳ xoắn ốc tái tác động lên chuyển động quay.
The heavenly serpent manifested, being produced out of the egg, and began its convolutions, gaining in strength and majesty, and producing through its immense fecundity millions of lesser "serpents."
Con rắn thiên thượng biểu hiện, được sinh ra từ quả trứng, và bắt đầu những vòng cuộn của nó, lớn lên trong sức mạnh và uy nghi, và sản sinh qua khả năng sinh sản vô cùng lớn của nó hàng triệu “con rắn” nhỏ hơn.
237. This is the great Serpent which emerges from the World Egg. Through the process of emanation, the “heavenly serpent” produces many other versions of itself, each mind-born.
237. Đây là Đại Xà xuất hiện từ Thế Giới Noãn. Thông qua tiến trình xuất lộ, “con rắn thiên thượng” sản sinh ra nhiều phiên bản khác của chính nó, mỗi phiên bản đều do trí sinh ra.
238. The serpent and the egg is a symbol applicable to a wide range of creative processes—from the Ego’s creation of a man, to the creation of a planetary scheme, a solar system, and still greater creative processes.
238. Con rắn và quả trứng là một biểu tượng có thể áp dụng cho một phạm vi rộng các tiến trình sáng tạo—từ sự sáng tạo một con người của Chân ngã, cho đến sự sáng tạo một hệ hành tinh, một hệ mặt trời, và những tiến trình sáng tạo còn vĩ đại hơn nữa.
239. In a way the “serpent power” is “fire from Heaven”.
239. Theo một nghĩa nào đó, “mãnh lực rắn” là “lửa từ Thiên giới”.
240. One must research the relationship of the serpent to solar fire. From one perspective, the serpent is the symbol of duality expressed through the ‘positive-negative’ second aspect, the Vishnu aspect.
240. Người ta phải khảo cứu mối liên hệ giữa con rắn và Lửa Thái dương. Từ một góc nhìn, con rắn là biểu tượng của nhị nguyên tính được biểu lộ qua phương diện thứ hai ‘dương-âm’, phương diện Vishnu.
The reptile kingdom is the most important part of the animal kingdom in certain aspects, if such an apparently contradictory statement can be made.
Giới bò sát là phần quan trọng nhất của giới động vật trong một số phương diện, nếu có thể đưa ra một phát biểu có vẻ mâu thuẫn như thế.
241. Surely this is a mysterious statement. Dragons and serpents can be understood as immensely good, but also as deeply evil. The battle is on between the two dragons or serpents resident within every man, and crocodiles play their part as well.
241. Chắc chắn đây là một phát biểu đầy huyền nhiệm. Rồng và rắn có thể được hiểu là vô cùng thiện, nhưng cũng là sâu sắc ác. Cuộc chiến đang diễn ra giữa hai con rồng hay hai con rắn cư ngụ trong mỗi con người, và cá sấu cũng đóng vai trò của chúng.
242. The reptile in man suggests the mode of his redemption. It also suggests all in him that resists redemption—his crocodilian nature (negatively understood).
242. Loài bò sát trong con người gợi ra phương thức cứu chuộc của y. Nó cũng gợi ra mọi điều trong y chống lại sự cứu chuộc—bản chất cá sấu của y (được hiểu theo nghĩa tiêu cực).
For all animal life can be seen passing through it during the prenatal stage, or returning to it when the form is in advanced decomposition.
Vì mọi sự sống động vật đều có thể được thấy là đi qua nó trong giai đoạn trước khi sinh, hoặc trở về với nó khi hình tướng ở trong tình trạng phân hủy cao độ.
243. Man and all animals (in all animal groupings more advanced than the reptile—for instance, mammals) replicate the appearance of the reptile prenatally and in the post mortem state (when not cremated). The reptile represents transitions through which man (and mammalian life) must pass when entering the world and leaving it.
243. Con người và mọi loài vật (trong mọi nhóm động vật tiến hóa cao hơn loài bò sát—thí dụ, loài có vú) đều tái hiện hình dạng của loài bò sát trong giai đoạn trước khi sinh và trong trạng thái sau khi chết (khi không bị hỏa táng). Loài bò sát biểu thị những chuyển tiếp mà con người (và sự sống loài có vú) phải đi qua khi bước vào thế giới và khi rời khỏi nó.
244. Does embryology reveal, as well, the replication of still earlier forms of life in the embryo? It would seem so.
244. Liệu phôi thai học cũng cho thấy sự tái hiện của những hình thức sự sống còn sớm hơn trong bào thai chăng? Dường như là như vậy.
245. Profundities concerning the origin and influence of the true inner man are symbolized by the reptile kingdom.
245. Những thâm nghĩa liên quan đến nguồn gốc và ảnh hưởng của con người nội tại chân chính được biểu tượng hóa bởi giới bò sát.
246. On a macrocosmic level, the relationship between Venus and the Earth can be expressed as the interplay between higher and lower members of the reptile kingdom. The story of the origin, struggles and redemption of man can be expressed in terms of dragons, serpents and crocodiles.
246. Ở cấp độ đại thiên địa, mối quan hệ giữa Venus và Trái Đất có thể được biểu lộ như sự tương tác giữa những thành viên cao và thấp của giới bò sát. Câu chuyện về nguồn gốc, những cuộc đấu tranh và sự cứu chuộc của con người có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ rồng, rắn và cá sấu.
The connection is not purely a physical one, but it is also psychic.
Mối liên hệ này không thuần túy là một mối liên hệ hồng trần, mà còn là thông linh nữa.
247. The true psyche is the soul. The soul is, in one respect, the “solar serpent”, the conveyer of fire emanating from the cosmic mental plane (whereon the vast Solar Angel ensouling the causal body of the Solar Logos may be conceived as the solar systemic “Solar Serpent”).
247. Psyche chân thực là linh hồn. Linh hồn, theo một phương diện, là “thái dương xà”, kẻ chuyên chở lửa phát ra từ cõi trí vũ trụ (nơi mà Thái dương Thiên Thần bao la phú linh thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế có thể được quan niệm như “Thái Dương Xà” của hệ thống thái dương).
248. Man must discover his higher serpent nature (the soul) so as to redeem his lower serpent nature (his lunar nature, lower “Satan”, the “serpent of illusion”) through the arousal of the “serpent power”, the kundalini.
248. Con người phải khám phá bản chất xà cao hơn của mình (linh hồn) để cứu chuộc bản chất xà thấp hơn của mình (bản chất nguyệt của y, “Satan” thấp hơn, “con rắn của ảo tưởng”) thông qua sự khơi dậy “xà lực”, kundalini.
When the real nature and method of the kundalini, or serpent fire, is known, this relation will be better understood, and the history of the second round assume a new importance.
Khi bản chất thực sự và phương pháp của kundalini, hay xà hỏa, được biết đến, mối liên hệ này sẽ được thấu hiểu rõ hơn, và lịch sử của lần tuôn đổ thứ hai sẽ mang một tầm quan trọng mới.