← Commentary_S7_733_747

TCF 905-910: S7S13 Part III

Trích nội dung chương

When they have done this [working “out the plan in objective perfection through the medium of the living substance of the lesser devas of the liquid or astral plane”] two results will be seen: first, the astral plane will perfectly reflect the buddhic plane Khi họ đã làm được điều này [triển khai “Thiên Cơ đến mức hoàn hảo khách quan qua trung gian của chất liệu sống của các thiên thần nhỏ hơn thuộc cõi lỏng hay cõi cảm dục”] thì sẽ thấy hai kết quả: thứ nhất, cõi cảm dục sẽ phản chiếu hoàn hảo cõi Bồ đề


When they have done this [working “out the plan in objective perfection through the medium of the living substance of the lesser devas of the liquid or astral plane”] two results will be seen: first, the astral plane will perfectly reflect the buddhic plane

Khi họ đã làm được điều này [triển khai “Thiên Cơ đến mức hoàn hảo khách quan qua trung gian của chất liệu sống của các thiên thần nhỏ hơn thuộc cõi lỏng hay cõi cảm dục”] thì sẽ thấy hai kết quả: thứ nhất, cõi cảm dục sẽ phản chiếu hoàn hảo cõi Bồ đề

14. We can speak of this development casually, but what, actually, does it mean? In general, we might say, that loving emotion and feeling will be expressed, but this comes nowhere near the complete truth.

14. Chúng ta có thể nói về sự phát triển này một cách dễ dãi, nhưng thực ra nó có nghĩa là gì? Nói chung, chúng ta có thể nói rằng cảm xúc và cảm giác đầy bác ái sẽ được biểu lộ, nhưng điều này còn rất xa mới chạm đến toàn bộ chân lý.

15. Certainly the resonant transmission of buddhi through astral substance will be accomplished.

15. Chắc chắn sự truyền dẫn cộng hưởng của Bồ đề qua chất liệu cảm dục sẽ được hoàn thành.

and, secondly, the result of that will be that the physical plane will produce the exact vehicle needed for microcosmic or macrocosmic expression through the force of water, or desire.

và, thứ hai, kết quả của điều đó sẽ là cõi hồng trần sẽ tạo ra đúng vận cụ cần thiết cho sự biểu lộ vi mô hay vĩ mô qua mãnh lực của nước, hay dục vọng.

16. The plane of buddhi is the plane of beauty. When the devas of the astral plane are manipulated properly by the manipulating devas of the buddhic plane, then desire will be of such a nature that “the exact vehicle needed for microcosmic or macrocosmic expression” will be produced.

16. Cõi Bồ đề là cõi của cái đẹp. Khi các thiên thần của cõi cảm dục được các thiên thần điều khiển của cõi Bồ đề điều khiển đúng cách, thì dục vọng sẽ có bản chất như thế nào đó để “đúng vận cụ cần thiết cho sự biểu lộ vi mô hay vĩ mô” được tạo ra.

17. We are informed that the quality of desire must be of a certain calibre if perfection of physical form is to be achieved.

17. Chúng ta được cho biết rằng phẩm chất của dục vọng phải đạt một mức độ nhất định nếu muốn đạt đến sự hoàn hảo của hình tướng hồng trần.

18. While water is equated with desire, it is possible that the tangible water of the physical plane will be involved in the production of the exactly needed vehicle on the physical plane.

18. Trong khi nước được đồng nhất với dục vọng, có thể nước hữu hình của cõi hồng trần cũng sẽ tham gia vào việc tạo ra vận cụ chính xác cần thiết trên cõi hồng trần.

All this is revealed to esotericists in the symbology of the circulatory system in man.

Tất cả điều này được mặc khải cho các nhà bí truyền học trong biểu tượng học của hệ tuần hoàn ở con người.

19. Water, the red of blood and the red of desire are all related. We see the participation of the planet Mars.

19. Nước, màu đỏ của máu và màu đỏ của dục vọng đều có liên hệ với nhau. Chúng ta thấy sự tham dự của hành tinh Sao Hỏa.

20. We may infer that circulatory systems, in general, have a responsibility in the building of forms or vehicles which reflect microcosmic or macrocosmic intent.

20. Chúng ta có thể suy ra rằng các hệ tuần hoàn, nói chung, có trách nhiệm trong việc xây dựng các hình tướng hay vận cụ phản chiếu ý định vi mô hay vĩ mô.

As the blood system, with its two types of channels (arteries and veins)

Khi hệ máu, với hai loại kênh của nó (động mạch và tĩnh mạch)

21. Arteries ruled by Mars and the veins by Venus…

21. Động mạch do Sao Hỏa cai quản và tĩnh mạch do Sao Kim cai quản…

and its two types of builders (the red and the white corpuscles),

và hai loại đấng kiến tạo của nó (các huyết cầu đỏ và trắng),

22. The red corpuscles, presumably, ruled by Mars and the white corpuscles more by Neptune…

22. Có lẽ các huyết cầu đỏ do Sao Hỏa cai quản và các huyết cầu trắng chịu ảnh hưởng nhiều hơn của Sao Hải Vương…

is studied from the occult standpoint, much will be ascertained of a revolutionary nature.

được nghiên cứu từ quan điểm huyền bí học, thì nhiều điều có tính cách cách mạng sẽ được xác định.

23. In other words, there will come a Uranian revelation.

23. Nói cách khác, sẽ có một sự mặc khải mang tính Uranus.

24. From such a study we might learn much about the path of outgoing and the path of return.

24. Từ một sự nghiên cứu như thế, chúng ta có thể học được nhiều điều về con đường đi ra và Con Đường Trở Về.

25. We see how much the sixth ray (working through both Mars and Neptune, and, really, through Venus as well) has to do with the blood stream.

25. Chúng ta thấy cung sáu (hoạt động qua cả Sao Hỏa lẫn Sao Hải Vương, và thực ra cả qua Sao Kim nữa) có liên hệ nhiều thế nào với dòng máu.

The laws of the path of outgoing, and of the path of return, with the two groups of deva lives therein concerned, will be apprehended by man.

Các định luật của con đường đi ra, và của Con Đường Trở Về, cùng với hai nhóm sự sống thiên thần liên hệ trong đó, sẽ được con người thấu hiểu.

26. As stated. Mars is usually involved with a penetration more deeply into matter. Neptune (with its sixth ray, second ray, and subtle first ray vibrations) is involved with the path of abstraction or return—synthesis, obscuration, absorption.

26. Như đã nói. Sao Hỏa thường liên hệ với sự xuyên nhập sâu hơn vào vật chất. Sao Hải Vương (với các rung động cung sáu, cung hai và cung một vi tế của nó) liên hệ với con đường trừu xuất hay trở về—tổng hợp, che khuất, hấp thụ.

A further hint may here be given. In the physical body of man in connection with the circulatory system, we find, in the three factors—the heart, the arteries, and the veins—the clue to the three types [Page 902] of devas,

Một gợi ý thêm nữa có thể được đưa ra ở đây. Trong thể xác của con người, liên quan đến hệ tuần hoàn, chúng ta tìm thấy, trong ba yếu tố—tim, động mạch và tĩnh mạch—manh mối về ba loại [Page 902] thiên thần,

27. Presumably the transmitting devas, the manipulating devas and the recipients of force, respectively, are implicated—the heart to be associated with the transmitting devas, the arteries with the manipulating devas and the veins with the “recipients of force”.

27. Có lẽ các thiên thần truyền dẫn, các thiên thần điều khiển và các kẻ tiếp nhận mãnh lực tương ứng đều được hàm ý—tim liên hệ với các thiên thần truyền dẫn, động mạch với các thiên thần điều khiển, và tĩnh mạch với “các kẻ tiếp nhận mãnh lực”.

28. Compared to the outward thrusting of the blood passing through the arteries, the returning flow of blood seems relatively passive.

28. So với lực đẩy ra ngoài của máu đi qua động mạch, dòng máu trở về dường như tương đối thụ động.

29. It may be that the three types of devas can be related to the three closely related planes we have been discussing—the monadic plane, the buddhic plane, and the astral plane.

29. Có thể ba loại thiên thần này có thể được liên hệ với ba cõi gắn bó mật thiết mà chúng ta đã bàn đến—cõi chân thần, cõi Bồ đề và cõi cảm dục.

30. The correlations of Mars with manipulating devas and Venus with “recipients of force” does not work out perfectly, as Venus is a more highly developed planet than Mars, and yet, “recipients of force” are not yet on the evolutionary arc.

30. Sự tương quan giữa Sao Hỏa với các thiên thần điều khiển và Sao Kim với “các kẻ tiếp nhận mãnh lực” không hoàn toàn khớp, vì Sao Kim là một hành tinh phát triển cao hơn Sao Hỏa, trong khi “các kẻ tiếp nhận mãnh lực” vẫn chưa ở trên cung tiến hoá.

and also to the systemic triangle which they represent, and further, to the three modes of divine expression.

và cũng với tam giác hệ thống mà chúng biểu trưng, và hơn nữa, với ba phương thức biểu lộ thiêng liêng.

31. Which should be considered the “systemic triangle”? Neptune and Venus, it seems, would have to be included. We have seen how closely related is Neptune to all questions concerning the blood stream. Venus (even through its bluish color—esoterically considered) is related to venous blood and its relatively darker color. Mars, it seems would have to be included for the outgoing, centrifugal nature of arterial blood—of a brighter red we are told.

31. “Tam giác hệ thống” nên được xem là gì? Có vẻ như Sao Hải Vương và Sao Kim phải được bao gồm. Chúng ta đã thấy Sao Hải Vương liên hệ mật thiết thế nào với mọi vấn đề liên quan đến dòng máu. Sao Kim (ngay cả qua màu xanh lam của nó—xét theo huyền bí học) liên hệ với máu tĩnh mạch và màu sắc tương đối sẫm hơn của nó. Có vẻ như Sao Hỏa cũng phải được bao gồm vì bản chất đi ra, ly tâm của máu động mạch—có màu đỏ sáng hơn như chúng ta được cho biết.

32. All matters of circulation are connected with the sign Aquarius and to its ruler Uranus, so closely related to the electrical impulses which stimulate the heart.

32. Mọi vấn đề về tuần hoàn đều liên hệ với dấu hiệu Bảo Bình và với chủ tinh của nó là Sao Thiên Vương, vốn liên hệ rất mật thiết với các xung điện kích thích tim.

33. When one thinks of the contractions of the heart muscle, it is impossible not to think of Vulcan which is related to the fist and its own tightening and release. The heart and the fist are related, the size of the fist said to correlate with the size of the heart.

33. Khi người ta nghĩ đến các co bóp của cơ tim, không thể không nghĩ đến Vulcan, vốn liên hệ với nắm tay và sự siết chặt rồi buông ra của chính nó. Tim và nắm tay có liên hệ với nhau; người ta nói kích thước của nắm tay tương ứng với kích thước của tim.

34. The three modes of expression work through the three major aspects. In this case the heart would represent the first ray dynamo; the activity of arterial blood would represent the third or activity aspect; the blood returning by magnetic draw could be related to the magnetic second aspect. There are several ways to look at apportioning the aspects to the processes.

34. Ba phương thức biểu lộ hoạt động qua ba phương diện chính. Trong trường hợp này tim sẽ tượng trưng cho động lực cung một; hoạt động của máu động mạch sẽ tượng trưng cho phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động; máu trở về nhờ lực hút từ tính có thể được liên hệ với phương diện từ tính thứ hai. Có nhiều cách để xem xét việc phân phối các phương diện vào các tiến trình này.

35. The gunas of tamas, rajas and sattva would also be implicated. Rajas would be represented by the forceful outgoing action of arterial blood; returning blood would be the symbol of tamasic response. The heart would sustain the sattvic rhythm.

35. Ba guna là tamas, rajas và sattva cũng được hàm ý. Rajas sẽ được biểu hiện bởi hành động đi ra đầy mãnh lực của máu động mạch; máu trở về sẽ là biểu tượng của đáp ứng tamas. Tim sẽ duy trì nhịp điệu sattva.

There is a planetary as well as a systemic circulation, and it is carried on through the medium of deva substance everywhere, macrocosmically as well as microcosmically.

Có một sự tuần hoàn hành tinh cũng như tuần hoàn hệ thống, và nó được thực hiện qua trung gian của chất liệu thiên thần ở khắp nơi, ở cấp vĩ mô cũng như vi mô.

36. DK is telling us of devic substance in circulation throughout the microcosm and macrocosm.

36. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về chất liệu thiên thần đang tuần hoàn khắp tiểu thiên địa và đại thiên địa.

I would here point out the connection or correspondence in this statement to an earlier one made when speaking of solar radiation, and the channels through which it can be felt. These currents or radiations we call

Ở đây tôi muốn chỉ ra mối liên hệ hay sự tương ứng trong phát biểu này với một phát biểu trước đó khi nói về bức xạ mặt trời, và các kênh qua đó nó có thể được cảm nhận. Những dòng hay bức xạ này chúng ta gọi là

a. Akashic.

a. Akashic.

b. Electrical.

b. Điện.

c. Pranic. (TCF 156)

c. Prana. (TCF 156)

37. The Sun is as a great heart. We can involve the synthesizing planets in a vision of how circulation proceed. From this perspective, the outgoing can be seen as related to Uranus and the ingathering to Neptune. Saturn would represent the formal channels through which this outgoing and incoming occurs.

37. Mặt Trời như một trái tim vĩ đại. Chúng ta có thể đưa các hành tinh tổng hợp vào một linh ảnh về cách sự tuần hoàn diễn ra. Từ góc nhìn này, chiều đi ra có thể được xem là liên hệ với Sao Thiên Vương và chiều thu về liên hệ với Sao Hải Vương. Sao Thổ sẽ tượng trưng cho các kênh hình tướng qua đó sự đi ra và đi vào này xảy ra.

38. We can easily see the analogy to the circulation of the kundalini within the solar system. Would this be the correspondence to the circulation of “electrical currents” in the microcosm and macrocosm? There would also be pranic circulation. As well, there would have to be an analogy to the circulation of the blood. Would this be akashic matter? We are speaking of the circulation of three types of currents.

38. Chúng ta có thể dễ dàng thấy sự tương đồng với sự tuần hoàn của kundalini trong hệ mặt trời. Liệu đây có phải là sự tương ứng với sự tuần hoàn của “các dòng điện” trong tiểu thiên địa và đại thiên địa không? Cũng sẽ có sự tuần hoàn prana. Ngoài ra, hẳn cũng phải có một sự tương đồng với sự tuần hoàn của máu. Liệu đây có phải là vật chất akashic không? Chúng ta đang nói về sự tuần hoàn của ba loại dòng.

39. That which circulates is deva substance. Circulation is the movement of substances.

39. Điều đang tuần hoàn là chất liệu thiên thần. Tuần hoàn là sự chuyển động của các chất liệu.

The devas of the sixth physical subplane can be divided into three groups, and these again into seven and into forty-nine, thus corresponding with all groups in the solar system.

Các thiên thần của cõi phụ hồng trần thứ sáu có thể được chia thành ba nhóm, và các nhóm này lại chia thành bảy và thành bốn mươi chín, do đó tương ứng với mọi nhóm trong hệ mặt trời.

40. The sixth physical subplane is the plane of water.

40. Cõi phụ hồng trần thứ sáu là cõi của nước.

41. DK proposes three major subdivisions of the devas of the watery plane; seven minor subdivisions and forty-nine minute subdivisions. There seems to be a correspondence of this type of division with the division of the chakra system into “major”, “minor” and “minute” chakras, though the numbers used are different..

41. Chân sư DK nêu ra ba phân bộ chính của các thiên thần thuộc cõi nước; bảy phân bộ phụ và bốn mươi chín phân bộ vi tế. Dường như có một sự tương ứng giữa kiểu phân chia này với sự phân chia hệ thống luân xa thành các luân xa “chính”, “phụ” và “vi tế”, dù các con số được dùng là khác nhau..

42. DK is not speaking of the sixth cosmic physical subplane, but only of the sixth subplane of the systemic physical plane.

42. Chân sư DK không nói về cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, mà chỉ nói về cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần hệ thống.

43. Each systemic subplane, has, it would seem, forty-nine lesser divisions. It seems that the three become seven and the seven become forty-nine. It does not seem that each of the three divide into seven lesser and each of the seven into forty-nine lesser. Were the latter the case, the number of subdivisions on a systemic subplane would be too great.

43. Mỗi cõi phụ hệ thống, dường như, có bốn mươi chín phân bộ nhỏ hơn. Có vẻ như ba trở thành bảy và bảy trở thành bốn mươi chín. Dường như không phải mỗi nhóm trong ba lại chia thành bảy nhóm nhỏ hơn và mỗi nhóm trong bảy lại chia thành bốn mươi chín nhóm nhỏ hơn. Nếu trường hợp sau là đúng, số lượng phân bộ trên một cõi phụ hệ thống sẽ quá lớn.

These groups (in their essential nature) respond to that "which lies above more than that which lies below,"

Những nhóm này (trong bản chất cốt yếu của chúng) đáp ứng với điều “nằm ở trên nhiều hơn điều nằm ở dưới,”

44. We are focussing on subplanes. The devas of the physical watery systemic subplane, are surrounded by physical gaseous devas which are fiery and by densely physical devas which are earthy.

44. Chúng ta đang tập trung vào các cõi phụ. Các thiên thần của cõi phụ nước hồng trần hệ thống được bao quanh bởi các thiên thần khí hồng trần, vốn có tính lửa, và bởi các thiên thần hồng trần đậm đặc, vốn có tính đất.

45. The dense watery devas are more closely allied to the gaseous devas than to the densely earthy devas. DK’s discussion of evaporation, condensation and precipitation may give a hint regarding this closer relationship between watery and gaseous devas.

45. Các thiên thần nước đậm đặc liên minh mật thiết với các thiên thần khí hơn là với các thiên thần đất đậm đặc. Thảo luận của Chân sư DK về sự bốc hơi, ngưng tụ và ngưng tụ thành hình có thể gợi ra một manh mối về mối liên hệ gần gũi hơn này giữa các thiên thần nước và các thiên thần khí.

46. If we spiral the relationship upward, we may infer that the devas of the astral waters are surrounded—‘above’ by the devas of mental fire and below by the devas of the earth—the etheric-physical devas. Yet the connection of astral water devas with earth devas would be less intimate than that between the water devas and the devas of the mental plane.

46. Nếu chúng ta xoắn ốc mối liên hệ này đi lên, chúng ta có thể suy ra rằng các thiên thần của nước cảm dục được bao quanh—‘ở trên’ bởi các thiên thần của lửa trí tuệ và ở dưới bởi các thiên thần của đất—các thiên thần dĩ thái-hồng trần. Tuy nhiên, mối liên hệ của các thiên thần nước cảm dục với các thiên thần đất sẽ kém mật thiết hơn mối liên hệ giữa các thiên thần nước và các thiên thần của cõi trí.

47. In these two sets of relationships we are dealing first with three systemic subplanes and then with three subplanes of the cosmic physical plane.

47. Trong hai bộ mối liên hệ này, trước hết chúng ta đang xử lý ba cõi phụ hệ thống rồi sau đó là ba cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

which is only an occult way of expressing a relationship of an intimate nature between the devas of fire and the devas of water,

điều này chỉ là một cách diễn đạt huyền bí về một mối liên hệ mật thiết giữa các thiên thần của lửa và các thiên thần của nước,

48. This, of course, is interesting considering that, usually, fire and water are considered to oppose each other, to neutralize or negate each other.

48. Điều này, dĩ nhiên, thật thú vị khi xét rằng thông thường lửa và nước được xem là đối nghịch nhau, trung hòa hay phủ định lẫn nhau.

and a negation of a close connection between the water devas and the earth.

và là sự phủ nhận một mối liên hệ gần gũi giữa các thiên thần nước và đất.

49. From the usual astrological perspective, the elements of water and earth are more closely related than the elements of water and fire.

49. Từ quan điểm chiêm tinh học thông thường, các nguyên tố nước và đất liên hệ với nhau mật thiết hơn các nguyên tố nước và lửa.

50. Perhaps in the formation of kama-manas (water and fire) we see an indication of what DK means—the easier and more intimate alliance between devas of desire/water and of mind,

50. Có lẽ trong sự hình thành thể trí cảm (nước và lửa) chúng ta thấy một chỉ dẫn về điều Chân sư DK muốn nói—sự liên minh dễ dàng và mật thiết hơn giữa các thiên thần của dục vọng/nước và của trí tuệ,

Occultly expressed,

Được diễn đạt theo huyền bí học,

51. And it is precisely occultism that were are here discussion as so much attention is being given to the lives which are matter and form…

51. và chính huyền bí học là điều chúng ta đang bàn đến ở đây vì quá nhiều chú ý đang được dành cho các sự sống là vật chất và hình tướng…

through the action of the fire devas, the water devas find liberation.

qua tác động của các thiên thần lửa, các thiên thần nước tìm thấy sự giải thoát.

52. The strictly watery devas of the forty-eighth subplane find liberation from the action of the gaseous fire devas of the forty-seventh subplane.

52. Các thiên thần thuần nước của cõi phụ thứ bốn mươi tám tìm thấy sự giải thoát khỏi tác động của các thiên thần lửa khí của cõi phụ thứ bốn mươi bảy.

53. On a higher turn of the spiral, the attachment of the water devas to material processes is loosened through the action of mind (i.e., through the action of the fire devas).

53. Trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, sự gắn chặt của các thiên thần nước vào các tiến trình vật chất được nới lỏng qua tác động của trí tuệ (tức là qua tác động của các thiên thần lửa).

54. This is also true in the life of man—through his mind (allied with his soul) he is able to free himself from the attachments caused and sustained by desire.

54. Điều này cũng đúng trong đời sống con người—qua trí tuệ của y (liên minh với linh hồn của y), y có thể giải thoát mình khỏi những ràng buộc do dục vọng gây ra và duy trì.

55. We note that fire devas are gaseous from the strictly material perspective and mental from a higher perspective. One may infer that on the third subplane of every systemic plane numbering from below) a fiery condition is to be found—i.e., the presence of devas which are fiery with respect to that particular systemic plane.

55. Chúng ta lưu ý rằng các thiên thần lửa là khí xét từ quan điểm vật chất thuần túy và là trí tuệ xét từ quan điểm cao hơn. Người ta có thể suy ra rằng trên cõi phụ thứ ba của mọi cõi hệ thống tính từ dưới lên) có thể tìm thấy một trạng thái rực lửa—tức là sự hiện diện của các thiên thần có tính lửa đối với cõi hệ thống đặc thù đó.

The devas of water find for themselves the path of service in their great work of nourishing all the vegetable and animal life upon the planet;

Các thiên thần của nước tự tìm cho mình con đường phụng sự trong công việc lớn lao là nuôi dưỡng mọi sự sống thực vật và động vật trên hành tinh;

56. If one thinks of the role of water on our planet, one sees immediately the outworking of the process DK here describes.

56. Nếu người ta nghĩ đến vai trò của nước trên hành tinh chúng ta, người ta sẽ lập tức thấy sự triển khai của tiến trình mà Chân sư DK mô tả ở đây.

57. All constructive, biological life-processes would cease were the devas of water to cease from their nurturing function.

57. Mọi tiến trình sự sống sinh học có tính xây dựng sẽ chấm dứt nếu các thiên thần nước ngừng chức năng nuôi dưỡng của họ.

the goal for them is to enter into that higher group of devas which we call the gaseous or fire devas.

mục tiêu của họ là đi vào nhóm thiên thần cao hơn mà chúng ta gọi là các thiên thần khí hay thiên thần lửa.

58. We see that among the devas of the elements there is a progression, with, apparently the devas of earth being the lowest, the devas of water higher and the gaseous devas of fire, still higher. Presumably, the devas of the air would be higher still and would be found upon the systemic etheric subplanes.

58. Chúng ta thấy rằng giữa các thiên thần của các nguyên tố có một sự tiến triển, trong đó, dường như các thiên thần đất là thấp nhất, các thiên thần nước cao hơn, và các thiên thần lửa khí còn cao hơn nữa. Có lẽ các thiên thần của khí sẽ còn cao hơn nữa và sẽ được tìm thấy trên các cõi phụ dĩ thái hệ thống.

59. May we say that plane after plane (and subplane after subplane) the calibre of the devas rises? If we say this, should it be said only of the evolutionary manipulating devas and not of the “recipients of force”, the lowest elementals?

59. Liệu chúng ta có thể nói rằng hết cõi này đến cõi khác (và hết cõi phụ này đến cõi phụ khác), mức độ của các thiên thần tăng lên không? Nếu nói như vậy, có nên chỉ nói điều đó về các thiên thần điều khiển tiến hoá chứ không phải về “các kẻ tiếp nhận mãnh lực”, tức các hành khí thấp nhất, hay không?

These, through the action of their fire upon the waters, produce that sequence of evaporation, condensation, and eventual precipitation which—through its constant activity—nourishes all life upon the earth.

Những vị này, qua tác động của lửa của họ lên nước, tạo ra chuỗi bốc hơi, ngưng tụ, và cuối cùng là ngưng tụ thành hình mà—qua hoạt động không ngừng của nó—nuôi dưỡng mọi sự sống trên trái đất.

60. Let us think of the higher correspondences of evaporation, condensation and eventual precipitation. We are speaking, in general, about the action of fire devas upon water devas. Can we think of this sequence as applying to the action of the Solar Angels (which are higher fire devas) upon the human personality (which is composed of the matter of the cosmic dense physical plane)? “Matter”, we should remember, is “water”.

60. Hãy nghĩ đến các tương ứng cao hơn của sự bốc hơi, ngưng tụ và cuối cùng là ngưng tụ thành hình. Nói chung, chúng ta đang nói về tác động của các thiên thần lửa lên các thiên thần nước. Liệu chúng ta có thể nghĩ đến chuỗi này như áp dụng cho tác động của các Thái dương Thiên Thần (là các thiên thần lửa cao hơn) lên phàm ngã con người (được cấu thành từ vật chất của cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ) không? Chúng ta nên nhớ rằng “vật chất” là “nước”.

61. Perhaps the ‘rising of quality’ from the life of the personality into the causal body can be considered a type of evaporation or distillation; the building-in of that quality into the causal body can be considered a type of condensation; as for precipitation, it could be seen as a kind of precipitation or return of the distilled quality (as capacity) to the realm from which it arose.

61. Có lẽ “sự thăng cao của phẩm tính” từ đời sống của phàm ngã vào thể nguyên nhân có thể được xem là một loại bốc hơi hay chưng cất; việc xây dựng phẩm tính đó vào thể nguyên nhân có thể được xem là một loại ngưng tụ; còn về sự ngưng tụ thành hình, nó có thể được xem như một loại sự ngưng tụ thành hình hay sự trở lại của phẩm tính đã được chưng cất (như năng lực) về cõi giới mà từ đó nó phát sinh.

Thus again can the psychic laws of love be seen at work in the deva kingdom as in the human; first, the withdrawal or segregation of the unit from the group (called individualisation in man, and evaporation in the water realm).

Như vậy, một lần nữa, có thể thấy các định luật thông linh của bác ái đang hoạt động trong giới thiên thần cũng như trong giới nhân loại; trước hết, sự rút lui hay tách biệt đơn vị ra khỏi nhóm (được gọi là biệt ngã hóa ở con người, và là sự bốc hơi trong giới nước).

62. DK offers His own more extensive analogy.

62. Chân sư DK đưa ra phép tương đồng rộng hơn của riêng Ngài.

63. The laws particularly associated with the psyche (considering the psyche as soul) are the “laws of love”. Note the plural. Evaporation occurs under the influence of fiery magnetism (a lower analogy to ‘love’).

63. Các định luật đặc biệt gắn với psyche (xét psyche như linh hồn) là “các định luật của bác ái”. Hãy lưu ý số nhiều. Sự bốc hơi xảy ra dưới ảnh hưởng của từ điện rực lửa (một tương đồng thấp hơn của ‘bác ái’).

64. DK points out a parallel in the human kingdom to the processes just discussed in relation to the deva kingdom.

64. Chân sư DK chỉ ra một sự song hành trong giới nhân loại với các tiến trình vừa được bàn đến liên quan đến giới thiên thần.

65. A parallel is cited between evaporation and individualization. Individualization occurs under the influence of fire as does evaporation.

65. Một sự song hành được nêu ra giữa sự bốc hơi và sự biệt ngã hóa. Sự biệt ngã hóa xảy ra dưới ảnh hưởng của Lửa cũng như sự bốc hơi.

66. With individualization, there is both a descent of essence (fiery essence) and a rising (eventually) of distilled essence into the causal body.

66. Với sự biệt ngã hóa, có cả một sự giáng xuống của tinh chất (tinh chất lửa) lẫn một sự vươn lên (rốt cuộc) của tinh chất được chưng cất vào thể nguyên nhân.

67. There is also a rising (‘evaporation’) of the consciousness of animal man (however feeble the consciousness) from animal preoccupation with the physical and astral planes onto the lower mental plane.

67. Cũng có một sự vươn lên (“bốc hơi”) của tâm thức của người thú (dù tâm thức ấy yếu ớt đến đâu) từ sự bận tâm của thú vật với cõi hồng trần và cõi cảm dục lên cõi hạ trí.

68. As matter is water, man is (considering the cosmic physical plane as a whole) being removed, through individualization/evaporation, from the crudest expression of the watery realm—the two lower cosmic physical subplanes.

68. Vì vật chất là nước, con người (nếu xét toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ) đang được đưa ra khỏi biểu hiện thô trược nhất của lĩnh vực nước—hai cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ—thông qua sự biệt ngã hóa/sự bốc hơi.

69. A certain type of adhesiveness within the realm of water is broken through the occurrence of evaporation. The binding quality of liquidity is overcome and the ‘evaporating’ (or individualizing) unit is elevated into a condition of greater freedom on the gaseous (i.e., mental) plane. Water vapour rises into the ‘air’

69. Một loại tính kết dính nào đó trong lĩnh vực nước bị phá vỡ do sự xuất hiện của sự bốc hơi. Phẩm tính ràng buộc của tính lỏng được vượt qua và đơn vị đang “bốc hơi” (hay đang biệt ngã hóa) được nâng lên một trạng thái tự do lớn hơn trên cõi khí (tức cõi trí). Hơi nước bốc lên vào “khí”

Next, condensation, or the amalgamation of the unit with a newer or higher group, this we call condensation for the devas of the waters, and initiation in man;

Tiếp theo là sự ngưng tụ, hay sự hòa nhập của đơn vị với một nhóm mới hơn hay cao hơn; điều này chúng ta gọi là sự ngưng tụ đối với các thiên thần của nước, và điểm đạo nơi con người;

70. Condensation is equated with initiation. In this case, initiation is a kind of merging or amalgamation. There is an emphasis upon a new type of bonding, free from the impurities left behind through the evaporation/distillation process.

70. Sự ngưng tụ được đồng nhất với điểm đạo. Trong trường hợp này, điểm đạo là một loại hợp nhất hay hòa nhập. Ở đây nhấn mạnh đến một loại liên kết mới, thoát khỏi những tạp chất bị bỏ lại qua tiến trình bốc hơi/chưng cất.

71. There are bonds of liquidity which unite members of the “newer or higher group”—for man, this group consists of the members of the Spiritual Hierarchy of the planet.

71. Có những mối liên kết của tính lỏng gắn kết các thành viên của “nhóm mới hơn hay cao hơn”—đối với con người, nhóm này gồm các thành viên của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh.

finally, the sacrifice of the group of human or deva atoms to the good of the whole.

sau cùng, là sự hi sinh của nhóm các nguyên tử người hay thiên thần vì lợi ích của toàn thể.

72. Sacrifice is a sort of precipitation. The sign Pisces, the ‘sign of tears’ is the astrological sign most closely related to sacrifice. We can think of sacrifice as the ‘precipitation of tears’ to nourish the realm of matter with a higher form of watery substance.

72. Sự hi sinh là một loại ngưng tụ. Dấu hiệu Song Ngư, “dấu hiệu của nước mắt”, là dấu hiệu hoàng đạo liên hệ mật thiết nhất với sự hi sinh. Chúng ta có thể nghĩ về sự hi sinh như “sự ngưng tụ của nước mắt” để nuôi dưỡng lĩnh vực vật chất bằng một dạng chất liệu nước cao hơn.

73. Master M. has suggested that the chemistry of tears must be investigated.

73. Chân sư M. đã gợi ý rằng hóa học của nước mắt cần phải được khảo cứu.

74. Through sacrifice, purified moisture from above merges again with the moisture to be found below and also moistens the arid places in the ‘great desert of life’ to be found upon the physical plane. The ‘desert’, in fact, includes the astral and lower mental planes—all planes within the physical body of the Planetary Logos.

74. Thông qua sự hi sinh, độ ẩm đã được thanh lọc từ bên trên lại hòa nhập với độ ẩm tìm thấy bên dưới và cũng làm ẩm những nơi khô cằn trong “sa mạc lớn của sự sống” hiện diện trên cõi hồng trần. Thật ra, “sa mạc” này bao gồm cả cõi cảm dục và cõi hạ trí—mọi cõi nằm trong thể hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế.

75. Just as water droplets precipitate in groups, so we may infer that human units ready for precipitation precipitate in groups in acts of group-sacrifice.

75. Cũng như những giọt nước ngưng tụ theo nhóm, chúng ta có thể suy ra rằng các đơn vị nhân loại sẵn sàng cho sự ngưng tụ cũng ngưng tụ theo nhóm trong những hành vi hi sinh nhóm.

So does the law of service and sacrifice govern all the second aspect divine in all its departments great [Page 903] or small. Such is the law.

Như vậy định luật phụng sự và hi sinh chi phối toàn bộ phương diện thứ hai thiêng liêng trong mọi bộ phận lớn [Page 903] hay nhỏ. Đó là định luật.

76. It would seem that the entire process of evaporation, condensation and precipitation takes place, generally, under the influence of the second aspect. The actions of drawing up (individualization), merging (initiation) and returning flow (sacrifice) all carry the quality of the second aspect.

76. Dường như toàn bộ tiến trình bốc hơi, ngưng tụ và ngưng tụ đều diễn ra, nói chung, dưới ảnh hưởng của phương diện thứ hai. Các hành động kéo lên (biệt ngã hóa), hòa nhập (điểm đạo) và dòng chảy trở lại (hi sinh) đều mang phẩm tính của phương diện thứ hai.

77. One can also look at the three phases in relation to the three major rays.

77. Người ta cũng có thể xem xét ba giai đoạn này trong liên hệ với ba cung chính.

78. There is something about considering the dynamics of individualization, initiation and sacrifice (through identification) in relation to the tangible watery element which brings a new level of clarity to the human developmental process.

78. Có điều gì đó trong việc xem xét động lực của sự biệt ngã hóa, điểm đạo và hi sinh (thông qua đồng hoá với) trong liên hệ với nguyên tố nước hữu hình, đem lại một cấp độ minh bạch mới cho tiến trình phát triển của con người.

79. It is clear that sacrificial precipitation occurs under the influence of love and because of a close identification of the precipitating factor with the watery element (‘below’) which is still insufficiently ‘heated’ to rise into an elevated state in which condensation (and later precipitation) become possible.

79. Rõ ràng là sự ngưng tụ hi sinh xảy ra dưới ảnh hưởng của bác ái và do sự đồng hoá mật thiết của yếu tố ngưng tụ với nguyên tố nước (“bên dưới”), vốn vẫn chưa được “nung nóng” đủ để vươn lên một trạng thái cao hơn, trong đó sự ngưng tụ (và về sau là ngưng tụ) trở nên khả hữu.

But in the human kingdom, though love is the fulfilling of the law, it is arrived at along the path of pain and sorrow,

Nhưng trong giới nhân loại, dù bác ái là sự hoàn tất của định luật, nó vẫn đạt đến dọc theo con đường đau đớn và buồn khổ,

80. This is especially the case upon our planet which is the “planet of releasing sorrow and purifying pain”.

80. Điều này đặc biệt đúng trên hành tinh của chúng ta, vốn là “hành tinh giải thoát buồn khổ và thanh lọc đau đớn”.

81. There is a very close relation between the second and fourth rays. On our planet, love is reached most directly via the “path of pain and sorrow”. (EA 361)

81. Có một mối liên hệ rất mật thiết giữa cung hai và cung bốn. Trên hành tinh của chúng ta, bác ái được đạt đến trực tiếp nhất qua “con đường đau đớn và buồn khổ”. (EA 361)

and every true lover and server of humanity is stretched upon the cross until for them the sixth principle dominates,

và mọi người yêu thương và phụng sự chân chính của nhân loại đều bị căng trên thập giá cho đến khi đối với họ nguyên khí thứ sáu chi phối,

82. The dominating sixth principle (the buddhic principle) brings relief from the cross of pain and sorrow and signals the beginning of release onto the Cardinal Cross.

82. Nguyên khí thứ sáu chi phối (nguyên khí Bồ đề) đem lại sự giải thoát khỏi thập giá của đau đớn và buồn khổ, đồng thời báo hiệu sự khởi đầu của việc được giải thoát lên Thập Giá Chủ Yếu.

83. The sixth principle dominates at the fourth initiation when the consciousness is released from the causal body and onto the buddhic plane.

83. Nguyên khí thứ sáu chi phối ở lần điểm đạo thứ tư khi tâm thức được giải thoát khỏi thể nguyên nhân và lên cõi Bồ đề.

and the sixth type of matter in their bodies is completely subjected to the higher energy.82

và loại vật chất thứ sáu trong các thể của họ hoàn toàn bị đặt dưới năng lượng cao hơn.82

84. Presumably the “sixth type of matter” is astral matter, and so we may presume that, as the fourth initiation approaches (at which time the buddhic principle dominates), astral matter still exists.

84. Có lẽ “loại vật chất thứ sáu” là vật chất cảm dục, và vì thế chúng ta có thể giả định rằng, khi lần điểm đạo thứ tư đến gần (vào lúc nguyên khí Bồ đề chi phối), vật chất cảm dục vẫn còn hiện hữu.

85. Yet, it may be necessary to look more closely at the nature of this “sixth type of matter”, for apparently it is found in more than one body (note the plural, “bodies”). So, we are probably talking about matter of the sixth subplane in each of the lower vehicles. This would involve matter of the physical liquid subplane, matter of the sixth subplane of the astral plane (though such matter we have been told should not constitute part of the astral body of man) and matter of the sixth subplane of the mental plane as found in the lower mental body of man (and probably associated with the expression of kama-manas).

85. Tuy nhiên, có lẽ cần xem xét kỹ hơn bản chất của “loại vật chất thứ sáu” này, vì dường như nó được tìm thấy trong nhiều hơn một thể (lưu ý số nhiều, “các thể”). Vì vậy, có lẽ chúng ta đang nói đến vật chất của cõi phụ thứ sáu trong mỗi vận cụ thấp. Điều này sẽ bao gồm vật chất của cõi phụ lỏng hồng trần, vật chất của cõi phụ thứ sáu của cõi cảm dục (dù chúng ta đã được cho biết rằng loại vật chất ấy không nên cấu thành một phần của thể cảm dục của con người) và vật chất của cõi phụ thứ sáu của cõi trí như được tìm thấy trong thể hạ trí của con người (và có lẽ liên kết với sự biểu lộ của trí-cảm).

86. In general, the entire astral body of man can be considered to be composed of “the sixth type of matter”, and, in general, all astral matter in the astral body of man should be subjected to the influence of the sixth or buddhic principle.

86. Nói chung, toàn bộ thể cảm dục của con người có thể được xem là được cấu thành bởi “loại vật chất thứ sáu”, và, nói chung, mọi vật chất cảm dục trong thể cảm dục của con người nên bị đặt dưới ảnh hưởng của nguyên khí thứ sáu hay nguyên khí Bồ đề.

Footnote 82:

Chú thích 82:

"Measure thy life by loss instead of gain,

“Hãy đo đời em bằng mất mát thay vì thu đạt,

Not by the wine drunk but by the wine poured forth;

Không bằng rượu đã uống mà bằng rượu đã rót ra;

For Love's strength standeth in Love's sacrifice;

Vì sức mạnh của Bác ái đứng vững trong sự hi sinh của Bác ái;

And he who suffers most has most to give."

Và ai chịu khổ nhiều nhất thì có nhiều nhất để cho đi.”

—The Disciples, by Mrs. Hamilton King.

—The Disciples, của bà Hamilton King.

87. A very beautiful little verse, seemingly under the influence of a high Piscean vibration or a high vibration of the planet Neptune.

87. Một bài thơ ngắn rất đẹp, dường như chịu ảnh hưởng của một rung động Song Ngư cao hoặc một rung động cao của hành tinh Sao Hải Vương.

88. One recalls that DK told an advanced disciple that he could be trusted because he had undergone enough pain and suffering. And this as well—

88. Người ta nhớ rằng Chân sư DK đã nói với một đệ tử tiến bộ rằng y có thể được tin cậy vì y đã trải qua đủ đau đớn và khổ đau. Và điều này nữa—

Hitherto this has never been possible on a large scale, owing to the fact that humanity had not suffered enough and therefore was not adequately sensitive to others. (EP II 729-730)

Cho đến nay điều này chưa bao giờ có thể thực hiện trên quy mô lớn, do sự kiện là nhân loại chưa chịu khổ đủ và vì thế chưa đủ nhạy cảm với người khác. (EP II 729-730)

In the case of the devas, love is the fulfilling of the law without pain or sorrow.

Trong trường hợp các thiên thần, bác ái là sự hoàn tất của định luật mà không có đau đớn hay buồn khổ.

89. If this is the case, the factor of resistance must be missing.

89. Nếu đúng như vậy, thì yếu tố kháng cự hẳn là vắng mặt.

It is for them the line of least resistance, for they are the mother aspect, the feminine side of manifestation, and the easy path for them is to give, to nourish, and to tend.

Đối với họ, đó là con đường ít trở ngại nhất, vì họ là phương diện mẹ, mặt nữ tính của biểu hiện, và con đường dễ dàng đối với họ là cho đi, nuôi dưỡng và chăm nom.

90. The factor of centralization, therefore, must be weaker in the deva kingdom than in the human.

90. Vì vậy, yếu tố tập trung hóa hẳn là yếu hơn trong giới thiên thần so với trong giới nhân loại.

91. We can see, then, that in the deva, the first and second aspects of divinity (law and love) work in greater harmony.

91. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng nơi thiên thần, phương diện thứ nhất và thứ hai của thiên tính (định luật và bác ái) hoạt động trong sự hài hòa lớn hơn.

92. The factor of individual desire complicates harmonious working in the case of man.

92. Yếu tố ham muốn cá nhân làm phức tạp sự hoạt động hài hòa trong trường hợp con người.

93. The lunar factor is very present in the devas’ approach. Astrologers will recognize the signature of the Moon in the tendency “to give, to nourish and to tend”.

93. Yếu tố nguyệt tính hiện diện rất rõ trong cách tiếp cận của các thiên thần. Các nhà chiêm tinh sẽ nhận ra dấu ấn của Mặt Trăng trong khuynh hướng “cho đi, nuôi dưỡng và chăm nom”.

Therefore, the devas of the waters pour themselves out in service to the vegetable and animal kingdoms,

Vì vậy, các thiên thần của nước tuôn đổ chính mình ra trong sự phụng sự đối với giới thực vật và giới động vật,

94. And also to sustain the animal aspect of man…

94. Và cũng để duy trì phương diện thú tính của con người…

and in the transmutative fires all that holds them on the sixth subplane will eventually be overcome,

và trong những ngọn lửa chuyển hoá, mọi điều giữ họ lại trên cõi phụ thứ sáu rốt cuộc sẽ được vượt qua,

95. That which holds them is that adhesive, binding factor which causes liquidity and prevents the evaporation which lifts them into what they might call (had they self-consciousness) ‘the gaseous kingdom’.

95. Điều giữ họ lại là yếu tố kết dính, ràng buộc ấy, yếu tố gây ra tính lỏng và ngăn cản sự bốc hơi vốn nâng họ lên điều mà họ có thể gọi là (nếu họ có ngã thức) “giới khí”.

96. The gaseous plane is the goal of the watery devas just as the lower mental plane is the goal for the animal on the verge of becoming man, and the higher mental plane is the goal for the human being.

96. Cõi khí là mục tiêu của các thiên thần nước, cũng như cõi hạ trí là mục tiêu của con thú đang ở ngưỡng trở thành người, và cõi thượng trí là mục tiêu của con người.

97. It is clear that transmutative fires elevate through evaporation. Where evaporation occurs there is a de facto distillation and, thus, purification, for in such a process the heavier particles (belonging to the earth element) are left behind.

97. Rõ ràng là những ngọn lửa chuyển hoá nâng lên thông qua sự bốc hơi. Nơi nào có sự bốc hơi, nơi đó trên thực tế có sự chưng cất và do đó là sự thanh lọc, vì trong một tiến trình như vậy các hạt nặng hơn (thuộc nguyên tố đất) bị bỏ lại phía sau.

and through occult "distillation and evaporation" these devas will eventually form part of the gaseous fiery group and become those fires which are the basis of the divine alchemy.

và thông qua “sự chưng cất và bốc hơi” huyền bí, các thiên thần này rốt cuộc sẽ tạo thành một phần của nhóm khí-lửa và trở thành những ngọn lửa là nền tảng của thuật luyện kim thiêng liêng.

98. It would seem that the watery devas are entering, through this process, a domain expressive of what for them is the second aspect.

98. Dường như các thiên thần nước đang đi vào, thông qua tiến trình này, một lĩnh vực biểu lộ điều mà đối với họ là phương diện thứ hai.

99. We note that DK mentions “distillation” along with “evaporation”. These two concepts are inseparable, though “distillation” carries the connotation of a more deliberate process.

99. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nhắc đến “sự chưng cất” cùng với “sự bốc hơi”. Hai khái niệm này không thể tách rời, dù “sự chưng cất” mang hàm ý của một tiến trình có chủ ý hơn.

100. We are given an important hint—that the “gaseous fiery group” is that group of devas or fires which “are the basis of divine alchemy”.

100. Chúng ta được trao cho một gợi ý quan trọng—rằng “nhóm khí-lửa” là nhóm các thiên thần hay các ngọn lửa “là nền tảng của thuật luyện kim thiêng liêng”.

101. Alchemy is, essentially, the transmutative process, and transmutation is “the passage across from one state of being to another through the agency of fire”. Transmutation requires fire.

101. Thuật luyện kim, về bản chất, là tiến trình chuyển hoá, và sự chuyển hoá là “sự vượt qua từ một trạng thái hiện hữu này sang một trạng thái khác thông qua tác nhân của Lửa”. Sự chuyển hoá đòi hỏi Lửa.

102. When we seek to help various forms of life rise to their next possible level of attainment, we must, in some matter, apply the fire.

102. Khi chúng ta tìm cách giúp các hình tướng sự sống khác nhau vươn lên cấp độ thành tựu khả hữu kế tiếp của chúng, chúng ta phải, theo một cách nào đó, áp dụng lửa.

Speaking generally, it must be remembered that the earth devas of densest matter become, in the course of evolution, the devas of the waters, and find their way eventually on to the astral plane, the cosmic liquid;

Nói chung, cần nhớ rằng các thiên thần đất của vật chất đậm đặc nhất trở thành, trong tiến trình tiến hoá, các thiên thần của nước, và rốt cuộc tìm được đường đi lên cõi cảm dục, chất lỏng vũ trụ;

103. This progression is as we would expect.

103. Sự tiến triển này đúng như điều chúng ta mong đợi.

104. Are we also to conclude that the manipulating devas of earth become the manipulating devas of the waters and, eventually, the manipulating devas of the cosmic gaseous or mental plane?

104. Chúng ta cũng có nên kết luận rằng các thiên thần thao tác của đất trở thành các thiên thần thao tác của nước và, rốt cuộc, các thiên thần thao tác của cõi khí vũ trụ hay cõi trí không?

105. We see that devas do, indeed, evolve, just as man does. Perhaps this is accomplished through the ability to build themselves into ever more pliant forms, or into forms which represent ever higher forms of life.

105. Chúng ta thấy rằng các thiên thần quả thực tiến hoá, cũng như con người vậy. Có lẽ điều này được thực hiện thông qua khả năng tự kiến tạo mình vào những hình tướng ngày càng mềm dẻo hơn, hay vào những hình tướng biểu hiện những dạng sự sống ngày càng cao hơn.

the devas of the waters of the physical plane find their way, through service,

các thiên thần của nước của cõi hồng trần tìm được đường đi, thông qua phụng sự,

106. We were not told by what means the devas of earth found their way onto the cosmic watery (systemic astral) plane,(via the systemic watery subplane) but we are told that the devas of the physical waters find their way first onto the physical gaseous plane and, thence, onto the cosmic gaseous subplane “through service”. That type of service—moisturizing, nurturing, sustaining of life—as been described above—may indicate how the physical watery devas find their way onto the physical gaseous plane, but we are not told how their continuing progression onto the cosmic gaseous plane (the systemic mental) is undertaken.

106. Chúng ta không được cho biết bằng phương tiện nào các thiên thần đất đã tìm được đường đi lên cõi nước vũ trụ (cõi cảm dục hệ thống), (qua cõi phụ nước của hệ thống) nhưng chúng ta được cho biết rằng các thiên thần của nước hồng trần trước hết tìm được đường đi lên cõi khí hồng trần và từ đó, lên cõi phụ khí vũ trụ “thông qua phụng sự”. Loại phụng sự ấy—làm ẩm, nuôi dưỡng, duy trì sự sống—đã được mô tả ở trên—có thể cho thấy cách các thiên thần nước hồng trần tìm được đường đi lên cõi khí hồng trần, nhưng chúng ta không được cho biết sự tiến triển tiếp tục của họ lên cõi khí vũ trụ (cõi trí hệ thống) được thực hiện như thế nào.

107. In general, we are dealing with a two step process. The devas of the watery systemic subplane find their way onto the gaseous systemic subplane plane. The gaseous systemic subplane is lower, however, than the cosmic subplane of water, and this cosmic subplane is lower than the cosmic subplane of gas (the mental plane). One wonders if the systemic astral plane is involved in the transition of the systemic gaseous devas (of subplane forty-seven) to the cosmic gaseous subplane (the systemic mental plane).

107. Nói chung, chúng ta đang xử lý một tiến trình hai bước. Các thiên thần của cõi phụ nước hệ thống tìm được đường đi lên cõi phụ khí hệ thống. Tuy nhiên, cõi phụ khí hệ thống lại thấp hơn cõi phụ vũ trụ của nước, và cõi phụ vũ trụ này lại thấp hơn cõi phụ vũ trụ của khí (cõi trí). Người ta tự hỏi liệu cõi cảm dục hệ thống có liên quan đến sự chuyển tiếp của các thiên thần khí hệ thống (của cõi phụ bốn mươi bảy) lên cõi phụ khí vũ trụ (cõi trí hệ thống) hay không.

on to the gaseous subplane, and then to the cosmic gaseous, becoming the devas of the mental plane.

lên cõi phụ khí, rồi đến cõi khí vũ trụ, trở thành các thiên thần của cõi trí.

108. We had been given the evolutionary objective of the watery lives of the dense systemic levels. Eventually they will become devas of the mental plane, passing first, it would seem, though the gaseous levels of the systemic gaseous subplane, thence (so it would seem, hypothetically) to the cosmic watery subplanes (the systemic astral plane) and thence to the cosmic gaseous subplanes (the systemic mental plane). We are asking if the astral plane is a plane of transition in this process by which the systemic watery devas reach the mental plane.

108. Chúng ta đã được trao cho mục tiêu tiến hoá của các sự sống nước thuộc các cấp độ hệ thống đậm đặc. Rốt cuộc chúng sẽ trở thành các thiên thần của cõi trí, trước hết dường như đi qua các cấp độ khí của cõi phụ khí hệ thống, rồi từ đó (dường như vậy, theo giả thuyết) đến các cõi phụ nước vũ trụ (cõi cảm dục hệ thống) và từ đó đến các cõi phụ khí vũ trụ (cõi trí hệ thống). Chúng ta đang đặt câu hỏi liệu cõi cảm dục có phải là một cõi chuyển tiếp trong tiến trình mà qua đó các thiên thần nước hệ thống đạt đến cõi trí hay không.

This literally and occultly constitutes the transmutation of desire into thought.

Điều này theo nghĩa đen và theo huyền bí cấu thành sự chuyển hoá ham muốn thành tư tưởng.

109. This method of describing the transmutation of desire into thought is given from the occult perspective. We are not given a mystical formula, but one that is expressed in terms of the occult development of devic/elemental lives.

109. Phương pháp mô tả sự chuyển hoá ham muốn thành tư tưởng này được đưa ra từ quan điểm huyền bí học. Chúng ta không được trao cho một công thức thần bí học, mà là một công thức được diễn đạt theo sự phát triển huyền bí của các sự sống thiên thần/hành khí.

110. Because we are speaking of the transmutation of desire into the thought, the astral plane (it seems) must be involved, for that plane is the plane of desire.

110. Vì chúng ta đang nói về sự chuyển hoá ham muốn thành tư tưởng, nên cõi cảm dục (dường như) phải có liên quan, vì cõi ấy là cõi của ham muốn.

111. We can see that the human being who gradually works his way from one who desires to one who thinks is experiencing an elevation of the devic lives which comprise his vehicles.

111. Chúng ta có thể thấy rằng con người dần dần tự mình đi từ kẻ ham muốn đến kẻ suy tư đang trải nghiệm một sự nâng cao của các sự sống thiên thần cấu thành các vận cụ của y.

112. One can wonder what happens to the astral body when the devic lives of that astral body have worked themselves onto the mental plane. Will this coincide with the taking of the fourth initiation and, even before this climactic moment, with the growing influence of the sixth principle upon the astral body?

112. Người ta có thể tự hỏi điều gì xảy ra với thể cảm dục khi các sự sống thiên thần của thể cảm dục ấy đã tự vận hành lên cõi trí. Liệu điều này có trùng hợp với việc tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư và, ngay cả trước thời điểm cao trào này, với ảnh hưởng ngày càng tăng của nguyên khí thứ sáu lên thể cảm dục hay không?

113. We can see that the gradual etherealization of the lower vehicles of man is related to the developmental elevation of the devic lives which comprise those vehicles. All evolutionary lives are “on their way up” and this has definite affects upon the vehicles in which they have played their part.

113. Chúng ta có thể thấy rằng sự dĩ thái hóa dần dần các vận cụ thấp của con người có liên hệ với sự nâng cao phát triển của các sự sống thiên thần cấu thành các vận cụ ấy. Mọi sự sống tiến hoá đều “đang trên đường đi lên” và điều này có những tác động xác định lên các vận cụ trong đó chúng đã đóng vai trò của mình.

The gaseous devas become eventually the devas of the fourth ether,

Các thiên thần khí rốt cuộc trở thành các thiên thần của dĩ thái thứ tư,

114. All proceeds in a sequential manner.

114. Mọi sự đều tiến hành theo trình tự.

115. We can judge (extrapolate) from these descriptions how the members of various Creative Hierarchies merge into what for them is the next higher Creative Hierarchy.

115. Từ những mô tả này, chúng ta có thể phán đoán (ngoại suy) cách các thành viên của những Huyền Giai Sáng Tạo khác nhau hòa nhập vào điều mà đối với họ là Huyền Giai Sáng Tạo cao hơn kế tiếp.

116. If, from what is here said, we analogize to the human condition, man entrapped within the causal body becomes man liberated onto the buddhic plane.

116. Nếu từ điều được nói ở đây chúng ta áp dụng phép tương đồng vào tình trạng con người, thì con người bị giam hãm trong thể nguyên nhân trở thành con người được giải thoát lên cõi Bồ đề.

and from thence in long aeons, find their way to the cosmic fourth ether, the buddhic plane.

và từ đó trong những đại kiếp dài lâu, tìm được đường đi đến dĩ thái thứ tư vũ trụ, cõi Bồ đề.

117. We are given the developmental process of gaseous devas. They move towards the fourth etheric plane and, eventually, from thence (so it would seem) to the buddhic plane.

117. Chúng ta được trao cho tiến trình phát triển của các thiên thần khí. Chúng tiến về cõi dĩ thái thứ tư và, rốt cuộc, từ đó (dường như vậy) đến cõi Bồ đề.

118. Again, we must ask if this movement from the fourth systemic ether to the fourth cosmic ether is direct or if intervening planes are involved. In all these cases of movement from a systemic subplane to a cosmic subplane this is the question—is the movement direct or meditated?

118. Một lần nữa, chúng ta phải hỏi liệu sự chuyển động từ dĩ thái thứ tư hệ thống đến dĩ thái thứ tư vũ trụ này có trực tiếp hay có những cõi xen giữa tham dự vào. Trong mọi trường hợp chuyển động từ một cõi phụ hệ thống đến một cõi phụ vũ trụ, đây là câu hỏi—sự chuyển động là trực tiếp hay được trung giới qua trung gian?

119. The phrase “find their way” seems to indicate a process meditated through intervening subplanes and planes.

119. Cụm từ “tìm được đường đi” dường như chỉ ra một tiến trình được trung giới qua các cõi phụ và cõi xen giữa.

120. Within the human kingdom, the analogy to such devic movement would be as follows: man moves from the higher mental plane to the systemic buddhic plane, and later, after many cycles, to the cosmic buddhic plane—a VERY long time in the future.

120. Trong giới nhân loại, phép tương đồng với sự chuyển động thiên thần như thế sẽ là như sau: con người chuyển từ cõi thượng trí lên cõi Bồ đề hệ thống, và về sau, sau nhiều chu kỳ, lên cõi Bồ đề vũ trụ—một thời gian RẤT dài trong tương lai.

121. We might question whether man will be involved with other (and lower) cosmic planes before reaching the cosmic buddhic plane, and it seems as if it must certainly be the case.

121. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu con người có sẽ liên quan đến những cõi vũ trụ khác (và thấp hơn) trước khi đạt đến cõi Bồ đề vũ trụ hay không, và dường như chắc chắn phải là như vậy.

122. This conclusion will have bearing on whether the movement of devas from systemic subplanes to cosmic subplanes is direct or mediated through subplanes and planes which intervene between the point of departure and the point of destination.

122. Kết luận này sẽ có ảnh hưởng đến việc liệu sự chuyển động của các thiên thần từ các cõi phụ hệ thống đến các cõi phụ vũ trụ là trực tiếp hay được trung giới qua các cõi phụ và cõi nằm xen giữa điểm khởi hành và điểm đến.

123. Can we see the value of analogizing between the developmental stages of the lesser devas and the developmental states of man? A new type of clarity is truly introduced.

123. Chúng ta có thể thấy giá trị của việc áp dụng phép tương đồng giữa các giai đoạn phát triển của các thiên thần nhỏ và các trạng thái phát triển của con người không? Quả thật một loại minh bạch mới được đưa vào.

These three groups are therefore cosmically connected with: [Page 904]

Vì vậy ba nhóm này có liên hệ vũ trụ với: [Page 904]

124. Now we venture into vast speculations.

124. Giờ đây chúng ta mạo hiểm đi vào những suy đoán bao la.

1. The cosmic astral plane and the constellation whence emotional and desire energy originates.

1. Cõi cảm dục vũ trụ và chòm sao từ đó năng lượng cảm xúc và ham muốn phát sinh.

125. One could wonder which of the great Constellational Logoi within the "One About Whom Naught May Be Said" may be meant.

125. Người ta có thể tự hỏi vị nào trong các Đấng Thượng đế Chòm sao vĩ đại bên trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị" được hàm ý ở đây.

126. Could it be our very own sevenfold constellation which includes our Sun, Sirius, Alpha and Beta Centauri, Procyon and others? In many ways it seems as if our particular Cosmic Logos serves a solar plexus center function.

126. Liệu đó có thể là chính chòm sao thất phân của chúng ta, bao gồm Mặt Trời của chúng ta, Sirius, Alpha và Beta Centauri, Procyon và những sao khác không? Theo nhiều phương diện, dường như Cosmic Logos đặc thù của chúng ta đảm nhiệm một chức năng trung tâm tùng thái dương.

127. Let us take note that we are dealing with emotion and desire of cosmic origin.

127. Chúng ta hãy lưu ý rằng chúng ta đang xử lý cảm xúc và ham muốn có nguồn gốc vũ trụ.

128. There is some sense in which the Pleiades could be involved in this origin and also the energy of Scorpio (featuring the central red star, Antares).

128. Có một ý nghĩa nào đó trong đó Pleiades có thể liên quan đến nguồn gốc này và cả năng lượng của Hổ Cáp (nổi bật với ngôi sao đỏ trung tâm, Antares).

2. The cosmic mental plane, and therefore with the constellation Sirius.

2. Cõi trí vũ trụ, và vì thế với chòm sao Sirius.

129. Those who venture towards the star, Sirius, make their way onto the cosmic astral plane. However, Sirius is as often associated with the cosmic mental plane.

129. Những ai mạo hiểm tiến về ngôi sao Sirius sẽ đi lên cõi cảm dục vũ trụ. Tuy nhiên, Sirius cũng thường được liên kết với cõi trí vũ trụ.

Path 1. The Path of Earth Service leads to the cosmic astral plane.

Con Đường 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ.

Path 2. The Path of Magnetic Work leads to the cosmic astral plane.

Con Đường 2. Con Đường Công Tác Từ Tính dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ.

Path 3. The Path for Training for Planetary Logoi leads to the higher levels of the cosmic mental plane.

Con Đường 3. Con Đường Huấn Luyện cho các Hành Tinh Thượng Đế dẫn đến các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ.

Path 4. The Path to Sirius leads to the cosmic astral plane.

Con Đường 4. Con Đường đến Sirius dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ.

Path 5. The Ray Path leads to the cosmic mental plane.

Con Đường 5. Con Đường Cung dẫn đến cõi trí vũ trụ.

Path 6. The Path the Logos Himself is on leads to the cosmic buddhic plane.

Con Đường 6. Con Đường mà chính Thượng đế đang đi dẫn đến cõi Bồ đề vũ trụ.

Path 7. The Path of Absolute Sonship leads to the cosmic mental plane. (TCF 399)

Con Đường 7. Con Đường của Cương vị Con tuyệt đối dẫn đến cõi trí vũ trụ. (TCF 399)

130. We note that DK does not speak of the star Sirius but of the “constellation” Sirius. This use of words may convey a quite specific meaning. Does the “constellation Sirius” include our Sun and a number of other local Suns in the major seven? It is possible, but there is no certain way to know if DK is indicating that cosmic group of stars of which our Sun and Sirius are a part.

130. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói về ngôi sao Sirius mà nói về “chòm sao” Sirius. Cách dùng từ này có thể chuyển tải một ý nghĩa khá đặc thù. Liệu “chòm sao Sirius” có bao gồm Mặt Trời của chúng ta và một số Mặt Trời địa phương khác trong bộ bảy lớn không? Điều đó có thể, nhưng không có cách chắc chắn nào để biết liệu Chân sư DK có đang chỉ đến nhóm sao vũ trụ mà Mặt Trời của chúng ta và Sirius là một phần của nó hay không.

3. The cosmic buddhic plane, and the constellation of the Pleiades.

3. Cõi Bồ đề vũ trụ, và chòm sao Pleiades.

131. The cosmic buddhic association of the Pleiades is definite. This association is also suggested on TCF, 1162. Because of this association, and because of the association any buddhic plane with its corresponding astral plane, we must infer that the Pleiades also have an important expression on the cosmic astral plane.

131. Sự liên kết Bồ đề vũ trụ của Pleiades là xác định. Sự liên kết này cũng được gợi ý ở TCF, 1162. Vì sự liên kết này, và vì sự liên kết của bất kỳ cõi Bồ đề nào với cõi cảm dục tương ứng của nó, chúng ta phải suy ra rằng Pleiades cũng có một biểu hiện quan trọng trên cõi cảm dục vũ trụ.

132. One wonders whether Sirius is both a member of our most local Cosmic Logos (i.e., the defining member) and yet is also a member of another Cosmic Logos more associated with the ajna center of the "One About Whom Naught May Be Said" than with the solar plexus center. Both associations seem to have validity.

132. Người ta tự hỏi liệu Sirius vừa là một thành viên của Cosmic Logos cục bộ nhất của chúng ta (tức thành viên xác định) mà lại cũng là một thành viên của một Cosmic Logos khác, liên kết với trung tâm ajna của "Đấng Bất Khả Tư Nghị" hơn là với trung tâm tùng thái dương. Cả hai liên kết dường như đều có giá trị.

133. Is Sirius as member of the "Seven Solar Systems of Which Ours is One"? It is so closely associated with our Solar Logos and so proximate to our solar system (only a bit more than eight light years away), that is would seem so. And yet, from the information on EA, 50, it would seem that Sirius is independent of the "Seven Solar Systems of Which Ours is One". This will, it seems, have to remain mysterious for us given our present stage of understanding.

133. Liệu Sirius có là thành viên của "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một" không? Nó liên kết mật thiết với Thái dương Thượng đế của chúng ta và ở rất gần hệ mặt trời của chúng ta (chỉ cách hơn tám năm ánh sáng một chút), nên dường như là như vậy. Tuy nhiên, từ thông tin ở EA, 50, dường như Sirius độc lập với "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một". Điều này, dường như, sẽ phải vẫn còn là điều huyền nhiệm đối với chúng ta xét theo giai đoạn thấu hiểu hiện nay của mình.

134. As for the Pleiades, they have a cosmic buddhic association certainly, but also a throat center association and, as the Pleiadian cluster, a completely central association within the "One About Whom Naught May Be Said" as, perhaps, its major head center.

134. Còn về Pleiades, chắc chắn chúng có một liên kết Bồ đề vũ trụ, nhưng cũng có một liên kết với trung tâm cổ họng và, với tư cách là cụm Pleiades, một liên kết hoàn toàn trung tâm bên trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị" như có lẽ là trung tâm đầu chính yếu của Ngài.

135. Usually, Sirius, the Pleiades and the Great Bear are mentioned as a great cosmic triangle. It would seem difficult, however, to associate the Great Bear with the cosmic astral plane. A much more likely association is the cosmic atmic plane.

135. Thông thường, Sirius, Pleiades và Đại Hùng Tinh được nhắc đến như một tam giác vũ trụ lớn. Tuy nhiên, dường như khó có thể liên kết Đại Hùng Tinh với cõi cảm dục vũ trụ. Một liên kết có khả năng hơn nhiều là cõi atma vũ trụ.

136. Ursa Minor must also fit into this picture as a kind of prototype of Sirius. Ursa Minor is hypothesized to be associated with the ajna center of the "One About Whom Naught May Be Said", and Sirius has a similar connection to that great chakra, though may only be resonant to rather than included within that chakra.

136. Tiểu Hùng Tinh cũng phải phù hợp với bức tranh này như một loại nguyên mẫu của Sirius. Tiểu Hùng Tinh được giả thuyết là liên kết với trung tâm ajna của "Đấng Bất Khả Tư Nghị", và Sirius có một liên hệ tương tự với đại luân xa ấy, dù có thể chỉ cộng hưởng với chứ không nằm bên trong luân xa đó.

Thus can the whole process be worked out, if man carefully studies his own nature, and the law of analogy.

Như vậy toàn bộ tiến trình có thể được khai triển, nếu con người cẩn thận nghiên cứu bản chất của chính mình, và định luật tương đồng.

137. It will take long to do so, but the result should be most profitable.

137. Sẽ mất nhiều thời gian để làm như vậy, nhưng kết quả hẳn sẽ rất hữu ích.

138. Naturally we cannot yet ascertain the truth of these great cosmic relations. We can, however, produce reasonable inferences.

138. Đương nhiên chúng ta chưa thể xác định chân lý của những mối liên hệ vũ trụ lớn lao này. Tuy nhiên, chúng ta có thể đưa ra những suy luận hợp lý.

TCF 905-910: S7S13 Part III

15 - 29 September 2008

15 - 29 tháng Chín 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

The Devas of the Gaseous Subplane.

Các thiên thần của Cõi Phụ Khí.

1. We now start the third in our series of explorations of the lesser devas—both “recipients of force” and manipulating devas.

1. Giờ đây chúng ta bắt đầu phần thứ ba trong chuỗi khảo cứu của mình về các thiên thần nhỏ—cả “những kẻ tiếp nhận mãnh lực” lẫn các thiên thần thao tác.

2. We are still focussed within the dense physical subplanes of the systemic physical plane.

2. Chúng ta vẫn đang tập trung trong các cõi phụ hồng trần đậm đặc của cõi hồng trần hệ thống.

In dealing with the elementals, or lesser devas,

Khi đề cập đến các hành khí, hay các thiên thần nhỏ,

3. The term “elementals” does not mean only one thing. “Recipients of force” are lower elementals and manipulating devas on the evolutionary arc can be thought of as higher elementals.

3. Thuật ngữ “hành khí” không chỉ có một nghĩa. “Những kẻ tiếp nhận mãnh lực” là các hành khí thấp, còn các thiên thần thao tác trên cung tiến hoá có thể được xem là các hành khí cao hơn.

4. It will be necessary to discriminate between elemental lives, elementals and elementaries. None of these terms has one and only one significance. Perhaps, the term “elementary” as indicative of disembodied souls upon the astral plane has the most specific meaning.

4. Cần phải phân biệt giữa sự sống hành khí, hành khí và các elemental. Không một thuật ngữ nào trong số này chỉ có một và chỉ một thâm nghĩa. Có lẽ thuật ngữ “elementary”, khi chỉ các linh hồn không còn thể xác trên cõi cảm dục, có ý nghĩa chuyên biệt nhất.

5. Overlapping in the use of terms can be confusing, but that overlapping cannot be ignored or clarity of thought will be compromised.

5. Sự chồng lấn trong cách dùng thuật ngữ có thể gây bối rối, nhưng không thể bỏ qua sự chồng lấn ấy, nếu không sự sáng tỏ của tư tưởng sẽ bị tổn hại.

under the manipulatory devas of this extensive group,

dưới các thiên thần điều khiển của nhóm rộng lớn này,

6. We remember that this group of lives outnumbers the devas of water and of earth.

6. Chúng ta nhớ rằng nhóm sự sống này đông hơn các thiên thần của nước và của đất.

we are dealing with the devas of fire,

chúng ta đang bàn đến các thiên thần của lửa,

7. The devas of the systemic gaseous plane are “devas of fire” and so are the devas of the mental plane.

7. Các thiên thần của cõi khí thuộc hệ thống là “thiên thần của lửa”, và các thiên thần của cõi trí cũng vậy.

and with the fiery essences of substantial nature which can be seen manifesting in myriads of forms.

và với các tinh chất rực lửa có bản chất chất liệu có thể được thấy đang biểu hiện trong vô số hình tướng.

8. The phrase “fiery essences of substantial nature” is quite precise. All “recipients of force” are essences of substantial nature. There are, we presume, watery essences of substantial nature and earthy essences of substantial nature.

8. Cụm từ “tinh chất rực lửa có bản chất chất liệu” khá chính xác. Mọi “vật tiếp nhận mãnh lực” đều là những tinh chất có bản chất chất liệu. Có lẽ, theo chúng ta giả định, cũng có những tinh chất thủy có bản chất chất liệu và những tinh chất thổ có bản chất chất liệu.

9. Are the manipulatory devas on the evolutionary arc to be considered “of substantial nature”. In one respect, yes.

9. Có phải các thiên thần điều khiển trên cung tiến hoá được xem là “có bản chất chất liệu” hay không. Xét trên một phương diện, đúng là như vậy.

10. It is as if the manipulating devas manipulate from within the forms with which they are associated.

10. Dường như các thiên thần điều khiển ấy điều khiển từ bên trong các hình tướng mà họ liên kết với.

Certain of the subdivisions of this group are known to students, such as:

Một số phân bộ của nhóm này đã được các đạo sinh biết đến, như:

The Salamanders, or the fiery lives which can be seen by clairvoyants leaping in the flames of a furnace or of a volcano;

Các Salamanders, hay những sự sống rực lửa mà các nhà thông nhãn có thể thấy nhảy múa trong ngọn lửa của lò nung hoặc núi lửa;

11. It would seem that the Salamanders are not the flames themselves but work within the field of flames. At least, this is what the language here used suggests.

11. Dường như các Salamanders không phải chính là ngọn lửa, mà hoạt động bên trong trường lửa. Ít nhất, đó là điều mà ngôn ngữ được dùng ở đây gợi ý.

12. In a certain respect it seems that the Salamanders tend the flames or give form to the flames.

12. Xét theo một phương diện nào đó, dường như các Salamanders chăm nom ngọn lửa hoặc ban hình cho ngọn lửa.

13. Salamanders are to be considered as gaseous devas.

13. Các Salamanders phải được xem là các thiên thần khí.

this group can be subdivided into four groups according to color—red, orange, yellow, and violet—the last of which approximate very closely to the devas of the fourth ether.

nhóm này có thể được chia thành bốn nhóm theo màu sắc—đỏ, cam, vàng và tím—nhóm cuối trong số đó rất gần với các thiên thần của dĩ thái thứ tư.

14. VSK states: “This is an interesting order given of the colours: red, orange, yellow and violet. A more probably spectral or order given in the chapter on colour in LOM, would be yellow, orange, red and violet. Perhaps the order doesn’t matter, but a relation of colour to subplane would be buddhi to yellow, orange/mental, red/astral, and violet, as mentioned here, to etheric. I don’t suggest these higher subplanes are related to the salamanders, but there could be some resonance to the etheric subplanes.”

14. VSK nói: “Đây là một trật tự màu sắc thú vị: đỏ, cam, vàng và tím. Một trật tự có lẽ mang tính quang phổ hơn, hay trật tự được nêu trong chương về màu sắc trong LOM, sẽ là vàng, cam, đỏ và tím. Có lẽ trật tự này không quan trọng, nhưng một mối liên hệ giữa màu sắc và cõi phụ có thể là Bồ đề với vàng, cam/cõi trí, đỏ/cõi cảm dục, và tím, như được nêu ở đây, với dĩ thái. Tôi không gợi ý rằng các cõi phụ cao hơn này có liên hệ với các salamanders, nhưng có thể có một sự cộng hưởng nào đó với các cõi phụ dĩ thái.”

15. It seems that DK is categorizing the Salamanders as physically-fiery substantial lives, particularly associated with the physical gaseous subplane.

15. Dường như Chân sư DK đang xếp loại các Salamanders như những sự sống chất liệu rực lửa thuộc cõi hồng trần, đặc biệt liên hệ với cõi phụ khí của cõi hồng trần hệ thống.

16. Although the mental plane is, technically, the plane of fire, it does not seem correct to associate the Salamanders with the mental plane, though on that plane there may be higher correspondences to Salamanders.

16. Mặc dù cõi trí, về mặt kỹ thuật, là cõi lửa, nhưng dường như không đúng khi liên kết các Salamanders với cõi trí, dù trên cõi ấy có thể có những tương ứng cao hơn với Salamanders.

17. It appears that the Salamanders in their violet category, while approximating the devas of the fourth ether, are not those devas. We can imagine that the classifications of these many lives are complex. Between some there may be similarity without identicality.

17. Dường như các Salamanders trong loại tím của chúng, tuy rất gần với các thiên thần của dĩ thái thứ tư, nhưng không phải là các thiên thần ấy. Chúng ta có thể hình dung rằng các cách phân loại của vô số sự sống này rất phức tạp. Giữa một số loại có thể có sự tương tự mà không đồng nhất.

18. It is clear that Master DK ‘sees’ these lives.

18. Rõ ràng là Chân sư DK “thấy” các sự sống này.

19. We will be tempted to correlate the colors given above with various subplanes of the systemic physical plane.

19. Chúng ta sẽ có xu hướng liên hệ các màu sắc nêu trên với các cõi phụ khác nhau của cõi hồng trần hệ thống.

20. The following can be said of a sequential treatment of the subplanes and colors. These thoughts can be added to and compared with the insights given by VSK above.

20. Có thể nói điều sau đây về một cách khảo sát tuần tự các cõi phụ và màu sắc. Những ý nghĩ này có thể được bổ sung và so sánh với các nhận định do VSK nêu ở trên.

a. Red can easily be associated with the first ray and the first subplane of the systemic etheric plane.

a. Màu đỏ có thể dễ dàng được liên kết với cung một và cõi phụ thứ nhất của cõi dĩ thái hệ thống.

b. Orange is usually associated with the fifth ray and we would expect it to connect with the fifth or gaseous subplane of the systemic etheric plane, but also with the third etheric subplane—the fifth from below.

b. Màu cam thường được liên kết với cung năm và ta sẽ chờ đợi nó nối kết với cõi phụ thứ năm hay cõi khí của cõi dĩ thái hệ thống, nhưng cũng với cõi phụ dĩ thái thứ ba—cõi phụ thứ năm tính từ dưới lên.

c. From another perspective however, orange is the complement of blue, which could connect it with the second subplane. We know that often a given colour is expressed in terms of its complementary colour.

c. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, màu cam là màu bổ sung của màu xanh lam, điều này có thể nối nó với cõi phụ thứ hai. Chúng ta biết rằng thường một màu sắc nhất định được biểu lộ theo màu bổ sung của nó.

d. Yellow often represents both the third and fifth rays, and so its connection with the third subplane (which is also the fifth from below) is reasonable.

d. Màu vàng thường biểu thị cả cung ba lẫn cung năm, và vì vậy sự nối kết của nó với cõi phụ thứ ba (cũng là cõi phụ thứ năm tính từ dưới lên) là hợp lý.

e. Violet has a definite connection with the lowest levels of manifestation. All the etheric subplanes are of a more or less violet hue, the fourth subplane having the darkest shade akin to purple.

e. Màu tím có một liên hệ xác định với các cấp độ thấp nhất của sự biểu hiện. Tất cả các cõi phụ dĩ thái đều có sắc tím ít nhiều, cõi phụ thứ tư có sắc độ đậm nhất, gần với màu tía.

The Agnichaitans; this is a term applied to the fiery lives, which are the sumtotal of the plane substance, [we are speaking primarily of the systemic physical plane] as seen in the first part of our treatise, and also to the tiny essences which compose the fires of manifestation. As the nature of physical plane electricity is understood and studied, and its true condition realised, the reality of the existence of these agnichaitans will stand revealed.

Các Agnichaitans; đây là một thuật ngữ được áp dụng cho các sự sống rực lửa, là tổng thể của chất liệu cõi, [chúng ta đang nói chủ yếu về cõi hồng trần hệ thống] như đã thấy trong phần đầu của luận thuyết chúng ta, và cũng áp dụng cho các tinh chất nhỏ bé cấu thành các ngọn lửa của sự biểu hiện. Khi bản chất của điện lực cõi hồng trần được thấu hiểu và nghiên cứu, và tình trạng chân thực của nó được chứng nghiệm, thì thực tại về sự hiện hữu của các agnichaitans này sẽ được mặc khải.

21. It seems that, in the matter of Agnichaitans, we are dealing with a vast array of lives.

21. Dường như, trong vấn đề Agnichaitans, chúng ta đang bàn đến một tập hợp vô cùng rộng lớn các sự sống.

22. When DK speaks of “plane substance” He may be speaking not only of the lowest levels of substance—the “recipients of force” but of all devas, not only of the systemic physical plane but of the cosmic physical plane as an entirety. This latter perspective would be a more comprehensive way of understanding the nature of Agnichaitans.

22. Khi Chân sư DK nói về “chất liệu cõi”, có thể Ngài không chỉ nói về các cấp độ thấp nhất của chất liệu—các “vật tiếp nhận mãnh lực”—mà còn nói về mọi thiên thần, không chỉ của cõi hồng trần hệ thống mà của toàn thể cõi hồng trần vũ trụ. Góc nhìn sau này sẽ là một cách thấu hiểu bao quát hơn về bản chất của Agnichaitans.

23. The plane with which the Agnichaitans are usually most closely connected is the systemic physical plane.

23. Cõi mà các Agnichaitans thường được nối kết chặt chẽ nhất là cõi hồng trần hệ thống.

24. Are we, according to the text given, to differentiate “the plane substance” from the “tiny essences which compose the fires of manifestation”. The word “also” makes it seem as if we must.

24. Theo đoạn văn đã cho, có phải chúng ta cần phân biệt “chất liệu cõi” với “các tinh chất nhỏ bé cấu thành các ngọn lửa của sự biểu hiện” hay không. Từ “cũng” khiến có vẻ như chúng ta phải làm vậy.

25. Because the Agnichaitans are involved in the manifestation of physical plane electricity, it is clear that there are Agnichaitans which are definitely etheric in nature.

25. Vì các Agnichaitans dự phần vào sự biểu hiện của điện lực cõi hồng trần, rõ ràng có những Agnichaitans chắc chắn mang bản chất dĩ thái.

26. We may presume that different strata of Agnichaitans can be found in relation to latent fire, akashic fire and also to pranic/radiatory fire.

26. Chúng ta có thể giả định rằng những tầng lớp khác nhau của Agnichaitans có thể được tìm thấy liên hệ với lửa tiềm tàng, lửa akasha và cả lửa prana/phóng xạ.

27. If Agnisuryans are to be found on both the buddhic and astral planes, then (following the probable pattern of reflection) Agnichaitans are to be looked for not only on the systemic physical plane but on the atmic plane. Also, as stated, from the cosmic perspective, all the devas of the cosmic physical plane can be considered Agnichaitans.

27. Nếu các Agnisuryans được tìm thấy trên cả cõi Bồ đề lẫn cõi cảm dục, thì (theo mô hình phản chiếu có thể có) các Agnichaitans phải được tìm kiếm không chỉ trên cõi hồng trần hệ thống mà còn trên cõi atma. Ngoài ra, như đã nói, từ góc nhìn vũ trụ, mọi thiên thần của cõi hồng trần vũ trụ đều có thể được xem là Agnichaitans.

28. This entire section of the book presents a vision of living substance.

28. Toàn bộ phần này của quyển sách trình bày một linh ảnh về chất liệu sống động.

As the race becomes clairvoyant, as it surely will in a great degree before the close of this rootrace,

Khi nhân loại trở nên thông nhãn, như chắc chắn sẽ xảy ra ở mức độ lớn trước khi giống dân gốc này kết thúc,

29. We are speaking of the close of the fifth rootrace which may occur many thousands of years into the future. We find ourselves, now, at the beginning of the sixth sub-race of the fifth rootrace.

29. Chúng ta đang nói về sự kết thúc của giống dân gốc thứ năm, điều có thể xảy ra sau nhiều ngàn năm nữa trong tương lai. Hiện nay, chúng ta đang ở đầu giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm.

30. We must remember that our particular rootrace is closely related to the development of both mind and vision.

30. Chúng ta phải nhớ rằng giống dân gốc đặc thù của chúng ta liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của cả trí tuệ lẫn tầm nhìn.

these gaseous devas will stand revealed,

các thiên thần khí này sẽ được mặc khải,

31. It is confirmed that Salamanders and Agnichaitans are gaseous devas—devas of the systemic gaseous subplane. Agnichaitans, however, come in more subtle categories related to the etheric subplanes of the systemic physical plane. Whether this is true of Salamanders has yet to be determined.

31. Điều này xác nhận rằng Salamanders và Agnichaitans là các thiên thần khí—các thiên thần của cõi phụ khí hệ thống. Tuy nhiên, Agnichaitans còn hiện hữu trong những loại tinh tế hơn liên hệ với các cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống. Điều này có đúng với Salamanders hay không thì vẫn còn phải xác định.

and men will realise that they are working with fiery lives,

và những người nam và nữ sẽ chứng nghiệm rằng họ đang làm việc với những sự sống rực lửa,

32. At the present time, we call these fiery lives by the crude term “matter”.

32. Hiện nay, chúng ta gọi những sự sống rực lửa này bằng thuật ngữ thô sơ là “vật chất”.

and that they are themselves closely allied to these lives through the fires of their own bodies.

và rằng họ chính họ có liên hệ mật thiết với những sự sống này qua các ngọn lửa trong chính các thể của họ.

33. The fires of the human body are devic in nature. How shall we discriminate the latent and radiatory fires within the human being from the Salamanders, Agnichaitans and “tiny essences” of a fiery nature—all now under discussion?

33. Các ngọn lửa của thể người mang bản chất thiên thần. Làm sao chúng ta sẽ phân biệt lửa tiềm tàng và lửa phóng xạ bên trong con người với các Salamanders, Agnichaitans và “các tinh chất nhỏ bé” mang bản chất rực lửa—tất cả hiện đang được bàn đến?

34. VSK inquires: “Does this suggests that gaseous level bodies require clairvoyance to be seen?”

34. VSK hỏi: “Điều này có gợi ý rằng các thể ở cấp độ khí cần phải có thông nhãn mới thấy được không?”

35. To this one might respond—“How well, presently, does one ‘see’ the air—the effects of pollution notwithstanding?”

35. Đối với điều này, người ta có thể đáp lại—“Hiện nay, người ta ‘thấy’ không khí rõ đến mức nào—bất chấp các tác động của ô nhiễm?”

The clairvoyance which is in process [Page 905] of developing in this rootrace is entirely physical,

Loại thông nhãn hiện đang trong tiến trình [Page 905] phát triển trong giống dân gốc này là hoàn toàn hồng trần,

36. There are obviously other more refined types of clairvoyance.

36. Hiển nhiên còn có những loại thông nhãn tinh tế hơn khác.

37. This physical clairvoyance is naturally a demonstration of etheric perception.

37. Loại thông nhãn hồng trần này tự nhiên là một biểu hiện của tri giác dĩ thái.

and, under the law, its development is to be anticipated, for the Aryan rootrace is that one wherein man—in this fourth round—comes to full self-consciousness.

và, theo định luật, sự phát triển của nó là điều có thể được dự liệu, vì giống dân gốc Arya là giống dân màtrong con người—trong cuộc tuần hoàn thứ tư này—đạt đến ngã thức trọn vẹn.

38. By “full self-consciousness” we may mean (ideally) consciousness of the processes of all lunar vehicles and also of those processes which occur within the causal body. However, such full self-consciousness may have to be deferred until other rootraces have elapsed.

38. Bởi “ngã thức trọn vẹn”, chúng ta có thể muốn nói (một cách lý tưởng) là tâm thức về các tiến trình của mọi vận cụ nguyệt tinh, và cả những tiến trình xảy ra bên trong thể nguyên nhân. Tuy nhiên, ngã thức trọn vẹn như thế có thể phải được hoãn lại cho đến khi các giống dân gốc khác đã trôi qua.

39. Obviously, etheric perception is only the beginning of “full self-consciousness”.

39. Hiển nhiên, tri giác dĩ thái chỉ mới là khởi đầu của “ngã thức trọn vẹn”.

40. It is also to be remembered that the Aryan rootrace is a very physical rootrace and not, particularly, at first, a psychic rootrace. The physical plane is a reflection of the mental plane on which the Aryan consciousness focusses.

40. Cũng cần nhớ rằng giống dân gốc Arya là một giống dân gốc rất hồng trần và không đặc biệt, ít nhất lúc đầu, là một giống dân gốc thông linh. Cõi hồng trần là sự phản chiếu của cõi trí, nơi tâm thức Arya tập trung vào.

This involves complete physical vision, and the use in perfection of the three physical plane senses of hearing, touch, and sight.

Điều này bao hàm linh thị hồng trần hoàn chỉnh, và việc sử dụng một cách hoàn hảo ba giác quan của cõi hồng trần là thính giác, xúc giác và thị giác.

41. The “use in perfection” of the three physical plane sense of hearing, touch and sight seems to apply principally to the extension of these senses onto the systemic etheric planes.

41. “Việc sử dụng một cách hoàn hảo” ba giác quan của cõi hồng trần là thính giác, xúc giác và thị giác dường như chủ yếu áp dụng cho sự mở rộng các giác quan này lên các cõi dĩ thái hệ thống.

42. Perhaps we might say that in the Aryan rootrace, man is to come to full self-consciousness on both the physical and etheric subplanes, but that truly full self-consciousness will have to be deferred until later rootrace development (except in the case of more advanced souls).

42. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng trong giống dân gốc Arya, con người sẽ đạt đến ngã thức trọn vẹn trên cả các cõi phụ hồng trần lẫn dĩ thái, nhưng ngã thức trọn vẹn thực sự sẽ phải được hoãn lại cho đến sự phát triển của các giống dân gốc về sau (trừ trường hợp các linh hồn tiến hoá hơn).

In the next rootrace, astral clairvoyance will be prevalent,

Trong giống dân gốc kế tiếp, thông nhãn cảm dục sẽ trở nên phổ biến,

43. We are speaking of the sixth rootrace. This statement almost certainly confirms that the type of clairvoyance to be widely developed during the Aryan root race will be of the physical-etheric kind.

43. Chúng ta đang nói về giống dân gốc thứ sáu. Phát biểu này gần như chắc chắn xác nhận rằng loại thông nhãn sẽ được phát triển rộng rãi trong giống dân gốc Arya sẽ thuộc loại hồng trần-dĩ thái.

44. Yet, of course, many disciples will achieve the second and third initiations during the Aryan root race, and so the types of clairvoyance available to them (as examples of more advanced types) will be deeper and more extensive.

44. Tuy nhiên, dĩ nhiên, nhiều đệ tử sẽ đạt lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba trong giống dân gốc Arya, và vì vậy các loại thông nhãn dành cho họ (như những ví dụ về các loại cao hơn) sẽ sâu hơn và rộng hơn.

though not universal,

dù không có tính phổ quát,

45. Many, after all, will, even then, not yet be upon the Path.

45. Rốt cuộc, ngay cả khi ấy, nhiều người vẫn chưa bước trên Con Đường.

and thus contact with the buddhic plane will be more easily achieved.

và do đó sự tiếp xúc với cõi Bồ đề sẽ đạt được dễ dàng hơn.