← Commentary_S7_733_747

TCF 916-925: S7S14 Part II

Trích nội dung chương

190. Let us note that nothing is said here about whether all of these beings are on the involutionary or evolutionary arc. In this paragraph, only one grouping are called “elementals”. Are we to assume that fairies and elves are also “elementals” and are on the involutionary arc as it seems all or most elementals are? Popular lore, however, seems to attribute a kind of selfhood to fairies and elves, a kind of consciousness closely akin to self-consciousness. The way Master DK describes them, their work seems purposeful and perhaps conscious. 190. Chúng ta hãy lưu ý rằng ở đây không nói gì về việc liệu tất cả các hữu thể này ở trên cung…


189. In this green group we have the following:

189. Trong nhóm xanh lục này, chúng ta có những loại sau:

a. The fairies of plant life

a. Các tiên của đời sống thực vật

b. The elves who build and paint the flowers

b. Các yêu tinh xây dựng và tô điểm hoa lá

c. The radiant little beings who inhabit the woods and the fields

c. Những hữu thể nhỏ bé rạng ngời cư ngụ trong rừng và đồng nội

d. The elementals who work with the fruits, vegetables

d. Các hành khí làm việc với trái cây, rau cỏ

e. All those whose work leads to the covering of the earth’s surface with verdure

e. Tất cả những vị có công việc dẫn đến việc phủ xanh bề mặt Trái Đất

190. Let us note that nothing is said here about whether all of these beings are on the involutionary or evolutionary arc. In this paragraph, only one grouping are called “elementals”. Are we to assume that fairies and elves are also “elementals” and are on the involutionary arc as it seems all or most elementals are? Popular lore, however, seems to attribute a kind of selfhood to fairies and elves, a kind of consciousness closely akin to self-consciousness. The way Master DK describes them, their work seems purposeful and perhaps conscious.

190. Chúng ta hãy lưu ý rằng ở đây không nói gì về việc liệu tất cả các hữu thể này ở trên cung giáng hạ tiến hoá hay cung tiến hoá. Trong đoạn này, chỉ có một nhóm được gọi là “hành khí”. Liệu chúng ta có nên giả định rằng các tiên và yêu tinh cũng là “hành khí” và ở trên cung giáng hạ tiến hoá như dường như tất cả hay phần lớn hành khí đều như vậy chăng? Tuy nhiên, truyền thuyết dân gian dường như quy cho các tiên và yêu tinh một loại tự ngã tính, một loại tâm thức rất gần với ngã thức. Theo cách Chân sư DK mô tả họ, công việc của họ dường như có mục đích và có lẽ là hữu thức.

191. So several questions we are holding in reserve—“What is the quality of consciousness of fairies and elves?” “Are they on the involutionary or evolutionary arc?” “Are fairies and elves not to be considered manipulating devas”? “Are manipulating devas not on the evolutionary arc?” “Can fairies and elves be called “elementals”, or, if they can be called “elementals”, in what sense are they so called?”

191. Vì vậy có một số câu hỏi chúng ta tạm giữ lại—“Phẩm tính tâm thức của các tiên và yêu tinh là gì?” “Họ ở trên cung giáng hạ tiến hoá hay cung tiến hoá?” “Các tiên và yêu tinh không được xem là các thiên thần thao tác sao?” “Các thiên thần thao tác không ở trên cung tiến hoá sao?” “Các tiên và yêu tinh có thể được gọi là ‘hành khí’ không, hay nếu có thể được gọi là ‘hành khí’, thì theo nghĩa nào họ được gọi như vậy?”

192. In the following description of those who are associated with the fairies, elves and others, the term “deva” is mentioned for the first time—in relation to group two. The association, in general, seems a higher type of association.

192. Trong phần mô tả tiếp theo về những vị liên kết với các tiên, yêu tinh và những hữu thể khác, thuật ngữ “thiên thần” được nhắc đến lần đầu tiên—trong liên hệ với nhóm hai. Nói chung, sự liên kết ấy dường như là một loại liên kết cao hơn.

Associated with them [fairies, elves, etc.] are the [Page 915] lesser devas of magnetisation, those attached to sacred spots, to talismans and to stones, and also a special group to be found around the habitations of the Masters wherever situated.

Liên kết với các vị ấy [fairies, elves, etc.] là các [Trang 915] thiên thần nhỏ hơn của sự từ điện hoá, những vị gắn với các nơi chốn thiêng liêng, với các bùa hộ mệnh và với đá, và cũng có một nhóm đặc biệt được tìm thấy quanh nơi cư ngụ của các Chân sư ở bất cứ nơi nào.

193. Again, let us tabulate to bring the eye maximum clarity.

193. Một lần nữa, chúng ta hãy lập bảng để đem lại cho mắt sự rõ ràng tối đa.

194. Associated, thus, with the elves and fairies are those which seem to be specifically “devas” and thus of higher rank than the “elementals” we have been discussing. These are:

194. Do đó, liên kết với elves và fairies là những vị dường như đặc biệt là “thiên thần”, và vì thế có cấp bậc cao hơn các “hành khí” mà chúng ta đã bàn đến. Đó là:

a. Lesser devas of magnetization. Presumably, there are greater devas of magnetization

a. Các thiên thần nhỏ hơn của sự từ điện hoá. Có lẽ có những thiên thần của sự từ điện hoá cao hơn.

b. Devas attached to sacred spots. Obviously this is a very responsible position and they are necessarily highly conscious and alert.

b. Các thiên thần gắn với các nơi chốn thiêng liêng. Hiển nhiên đây là một vị trí đầy trách nhiệm, và các vị ấy tất yếu có tâm thức cao và tỉnh thức.

c. Devas attached to talismans and to stones (hence the efficacy of these objects).

c. Các thiên thần gắn với các bùa hộ mệnh và với đá (do đó có hiệu lực của các vật này).

d. A special group of devas found around the habitations of the Masters.

d. Một nhóm thiên thần đặc biệt được tìm thấy quanh nơi cư ngụ của các Chân sư.

Under group 3 work the elementals of the air and the sea, the sylphs, the water fairies, and the devas who guard each human being.

Dưới nhóm 3 hoạt động các hành khí của không khí và biển cả, các sylphs, các thủy tiên, và các thiên thần canh giữ mỗi con người.

195. We see how often DK uses the word “elementals”. Our problem is to determine the scope of this term and whether it includes manipulating devas on the evolutionary arc.

195. Chúng ta thấy Chân sư DK dùng từ “hành khí” thường xuyên đến mức nào. Vấn đề của chúng ta là xác định phạm vi của thuật ngữ này và liệu nó có bao gồm các thiên thần thao tác trên cung tiến hoá hay không.

196. From the manner in which the entities who work “under” Group 3, we cannot know whether sylphs and water fairies are to be considered elementals of the air and the sea.. There could be five separate categories:

196. Từ cách thức các thực thể hoạt động “dưới” Nhóm 3, chúng ta không thể biết liệu sylphs và thủy tiên có nên được xem là các hành khí của không khí và biển cả hay không. Có thể có năm loại riêng biệt:

a. Elementals of the air

a. Các hành khí của không khí

b. Elementals of the sea

b. Các hành khí của biển cả

c. Sylphs (of the air)—possibly manipulating devas

c. Các sylphs (của không khí)—có thể là các thiên thần thao tác

d. Water fairies (of the sea)—possibly manipulating devas

d. Các thủy tiên (của biển cả)—có thể là các thiên thần thao tác

e. The devas who guard each human being (obviously not elementals)

e. Các thiên thần canh giữ mỗi con người (hiển nhiên không phải là hành khí)

197. From the following quotation (which light on our immediately foregoing consideration) we realize that fairies, sylphs, gnomes, sprites, etc. are to be considered “manipulating devas”:

197. Từ đoạn trích sau đây (đoạn soi sáng cho điều chúng ta vừa xét ngay trước đó), chúng ta nhận ra rằng fairies, sylphs, gnomes, sprites, v.v. phải được xem là “các thiên thần thao tác”:

Second. Many devas pass out of the group of passive lives [i.e., elementals or “recipients of force”] in the effort to become manipulating lives via the bird kingdom, and before becoming fairies, elves, gnomes, or other sprites, pass a certain number of cycles in the bird realm. (TCF 895)

Thứ hai. Nhiều thiên thần ra khỏi nhóm các sự sống thụ động [tức là, các hành khí hay “những kẻ tiếp nhận mãnh lực”] trong nỗ lực trở thành các sự sống thao tác qua giới chim, và trước khi trở thành fairies, elves, gnomes, hay các sprites khác, trải qua một số chu kỳ nhất định trong giới chim. (TCF 895)

198. So, from the perspective of the interpolated paragraph, fairies, elves, gnomes and other sprites are definitely manipulating devas (“manipulating lives”).

198. Vì vậy, từ quan điểm của đoạn văn nội suy, fairies, elves, gnomes và các sprites khác chắc chắn là các thiên thần thao tác (“các sự sống thao tác”).

199. Yet the following paragraph shows how tenuous may be the boundary between “elementals” and “manipulating devas”, and how these words must be studied carefully in every context:

199. Tuy nhiên, đoạn sau cho thấy ranh giới giữa “hành khí” và “thiên thần thao tác” có thể mong manh đến mức nào, và những từ này phải được nghiên cứu cẩn thận trong mọi ngữ cảnh:

The Dark Brothers who occasionally employ these elemental forces to wreak their will and vengeance on all opponents. Under their control work sometimes the elementals of the earth plane, the gnomes and the elemental essence as found in evil form, some of the brownies, and the fairy folk of colours brown, grey and sombre-hued. They cannot control the devas of high development, nor the fairies of colours blue, green and yellow, though a few of the red fairies can be made to work under their direction. The water elementals (though not the sprites or sylphs) move on occasion to their assistance, and in the control of these forces of involution they at times damage the furtherance of our work. (LOM 135)

Các huynh đệ bóng tối đôi khi sử dụng các mãnh lực hành khí này để thực hiện ý chí và sự báo oán của chúng trên mọi kẻ đối nghịch. Dưới sự kiểm soát của chúng đôi khi hoạt động các hành khí của cõi đất, các gnomes và tinh chất hành khí như được thấy trong hình thức ác độc, một số brownies, và dân fairy có màu nâu, xám và u tối. Chúng không thể kiểm soát các thiên thần đã phát triển cao, cũng không thể kiểm soát các fairies có màu xanh lam, xanh lục và vàng, mặc dù một vài fairies đỏ có thể bị khiến phải hoạt động dưới sự chỉ đạo của chúng. Các hành khí của nước (mặc dù không phải các sprites hay sylphs) đôi khi chuyển động để trợ giúp chúng, và trong việc kiểm soát các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá này, đôi lúc chúng gây tổn hại cho sự thúc đẩy công việc của chúng ta. (LOM 135)

200. This paragraph must be closely studied as, perhaps, many types of lives (elemental and deva) are grouped together. They may be related but may not be the same (i.e., may not all be on the involutionary arc).

200. Đoạn này phải được nghiên cứu kỹ lưỡng vì có lẽ nhiều loại sự sống (hành khí và thiên thần) được gom lại với nhau. Chúng có thể có liên hệ nhưng có thể không giống nhau (tức là, có thể không phải tất cả đều ở trên cung giáng hạ tiến hoá).

201. Because of the manner in which these different lives are associated, we cannot tell whether they all belong to one general category—“elementals” or “elemental forces”—or whether such beings as the gnomes are to be considered “elementals of the earth plane” or distinct from such elementals (distinct, because they are really “manipulating devas”).

201. Do cách thức các sự sống khác nhau này được liên kết, chúng ta không thể biết liệu tất cả chúng có thuộc về một loại tổng quát—“hành khí” hay “mãnh lực hành khí”—hay không, hoặc liệu những hữu thể như gnomes có phải được xem là “các hành khí của cõi đất” hay là khác biệt với các hành khí ấy (khác biệt, vì chúng thực sự là “các thiên thần thao tác”).

202. Although the terms “elementals”, “elemental lives” or “elemental forces” at times seem elastic and applicable to the manipulating devas (who, presumably, are on the evolutionary arc) it may be better to think of “elementals” as related mostly to the “passive lives”, the “recipients of force” who are definitely on the involutionary arc.

202. Mặc dù các thuật ngữ “hành khí”, “các sự sống hành khí” hay “các mãnh lực hành khí” đôi khi có vẻ linh hoạt và có thể áp dụng cho các thiên thần thao tác (những vị, có lẽ, ở trên cung tiến hoá), có lẽ tốt hơn nên nghĩ về “hành khí” như chủ yếu liên hệ với “các sự sống thụ động”, “những kẻ tiếp nhận mãnh lực”, là những kẻ chắc chắn ở trên cung giáng hạ tiến hoá.

203. We note in the paragraph above sprites and sylphs (presuming manipulating devas) are definitely distinguished form “water elementals” which can be swayed by the dark brother.

203. Chúng ta lưu ý rằng trong đoạn trên, sprites và sylphs (giả định là các thiên thần thao tác) được phân biệt rõ ràng với “các hành khí của nước”, những kẻ có thể bị huynh đệ bóng tối chi phối.

204. Let us again tabulate these elementals and devas to be found in the “third group” which is the white group:

204. Một lần nữa, chúng ta hãy lập bảng các hành khí và thiên thần được tìm thấy trong “nhóm thứ ba”, là nhóm trắng:

a. Elementals of the air

a. Các hành khí của không khí

b. Elementals of the sea

b. Các hành khí của biển cả

c. Sylphs

c. Các sylphs

d. Water fairies. We see that fairies are not only associated with the green group and with land.

d. Các thủy tiên. Chúng ta thấy rằng fairies không chỉ liên kết với nhóm xanh lục và với đất liền.

e. The devas who guard each human being. Presumably these devas are individualized and self-consciousness.

e. Các thiên thần canh giữ mỗi con người. Có lẽ các thiên thần này đã được biệt ngã hóa và có ngã thức.

Here only general hints are given.

Ở đây chỉ đưa ra những gợi ý tổng quát.

205. Yes, we can perceive that the subject is somewhat veiled.

205. Đúng vậy, chúng ta có thể nhận ra rằng chủ đề này phần nào được che phủ.

This list is not complete and does not include the grosser elementals, the brownies, and those that inhabit the dark spaces of the earth, the cities and the subterranean spots of the earth's crust.

Danh sách này chưa đầy đủ và không bao gồm các hành khí thô nặng hơn, các brownies, và những kẻ cư ngụ trong các khoảng tối của trái đất, các thành phố và các nơi chốn dưới lòng đất trong lớp vỏ Trái Đất.

206. Here we have three categories of beings:

206. Ở đây chúng ta có ba loại hữu thể:

a. The grosser elementals

a. Các hành khí thô nặng hơn

b. The brownies

b. Các brownies

c. Those who inhabit dark spaces and subterranean spots

c. Những kẻ cư ngụ trong các khoảng tối và các nơi chốn dưới lòng đất

We do not know whether DK is equating all these as elementals or whether He is distinguishing “brownies” (a term which suggests “manipulating devas”) from elementals. Probably when the names of groups appearing in folklore are mentioned—brownies, gnomes, undines, fairies, sylphs, elves, etc.—it is good to consider them as manipulating devas. As to their degree of consciousness, it is a matter which must be carefully researched

Chúng ta không biết liệu Chân sư DK có đồng nhất tất cả những loại này là hành khí hay không, hoặc liệu Ngài có đang phân biệt “brownies” (một thuật ngữ gợi ý “các thiên thần thao tác”) với hành khí hay không. Có lẽ khi các tên gọi của những nhóm xuất hiện trong dân gian được nhắc đến—brownies, gnomes, undines, fairies, sylphs, elves, v.v.—thì nên xem chúng là các thiên thần thao tác. Còn về mức độ tâm thức của chúng, đó là một vấn đề phải được nghiên cứu cẩn thận

TCF 916-925: S7S14 Part II

29 September - 15 October 2008

29 tháng Chín - 15 tháng Mười 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được để ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được để ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

The devas of the ethers

Các thiên thần của các cõi dĩ thái

1. We are now speaking of the devas of generically violet hue

1. Hiện nay chúng ta đang nói về các thiên thần có sắc tím nói chung

carry on their foreheads a translucent symbol

mang trên trán của họ một biểu tượng trong suốt

2. A symbol through which light passes or is radiated…

2. Một biểu tượng mà qua đó ánh sáng đi xuyên qua hoặc được phát ra…

3. One is also reminded of the lighted condition of the ethers which is desirable, even though these devas are called “devas of the shadows”.

3. Người ta cũng được nhắc nhớ đến trạng thái sáng rực của các cõi dĩ thái, là điều đáng mong muốn, dù các thiên thần này được gọi là “các thiên thần của bóng tối”.

in the form of a crescent moon,

dưới hình thức một trăng lưỡi liềm,

4. The Moon is the ruler of the sign Cancer, the color of which, as given by the Tibetan, is violet.

4. Mặt Trăng là chủ tinh của dấu hiệu hoàng đạo Cự Giải, mà màu sắc của nó, như Chân sư Tây Tạng đã cho biết, là tím.

5. The Moon is also the ruler of the seventh manifested Creative Hierarchy, ruled by the seventh ray (a ray so intimately related to the embodiment of the form). This, as well, is the meaning of the Moon—the “Mother of the form”. The color of the seventh ray is violet. The seventh ray is easily seen, therefore, to be associated with the rhythmically cyclic Moon.

5. Mặt Trăng cũng là chủ tinh của Huyền Giai Sáng Tạo thứ bảy biểu hiện, được cung bảy cai quản (một cung có liên hệ mật thiết đến sự nhập thể của hình tướng). Đây cũng là ý nghĩa của Mặt Trăng—“Mẹ của hình tướng”. Màu của cung bảy là tím. Vì vậy, dễ thấy cung bảy liên kết với Mặt Trăng có tính chu kỳ nhịp nhàng.

6. In this symbol we see the etheric, form-building significances of the Moon. It is also associated with the dense physical body, which is not considered a principle in this solar system.

6. Trong biểu tượng này, chúng ta thấy các ý nghĩa dĩ thái, kiến tạo hình tướng của Mặt Trăng. Nó cũng liên kết với thể xác đậm đặc, vốn không được xem là một nguyên khí trong hệ mặt trời này.

7. It would seem that the symbol designates the function of form production. As far as the physical plane is concerned, this function originates on the etheric plane and is facilitated by the violet devas.

7. Dường như biểu tượng này chỉ định chức năng sản sinh hình tướng. Xét về cõi hồng trần, chức năng này khởi nguồn trên cõi dĩ thái và được các thiên thần tím hỗ trợ.

and by this they may be distinguished from the astral devas by those able to see clairvoyantly.

và nhờ đó chúng có thể được phân biệt với các thiên thần cảm dục bởi những ai có thể thấy bằng thông nhãn.

8. This seems an important piece of occult information.

8. Điều này dường như là một mẩu thông tin huyền bí quan trọng.

9. We have been told that when the astral and etheric-physical planes begin to merge, it will be at first difficult to distinguish the devic lives of the two planes.

9. Chúng ta đã được cho biết rằng khi cõi cảm dục và các cõi dĩ thái-hồng trần bắt đầu hòa nhập, lúc đầu sẽ khó phân biệt các sự sống thiên thần của hai cõi ấy.

10. May we think that astral devas also carry a kind of symbol which suggests their function?

10. Liệu chúng ta có thể nghĩ rằng các thiên thần cảm dục cũng mang một loại biểu tượng gợi ra chức năng của chúng không?

11. It is significant that such devas (etheric devas specifically) actually have “foreheads”! Perhaps this tells us much about their appearance and their at least partial resemblance to the form of man. We have much to learn about devic form.

11. Điều đáng chú ý là những thiên thần như thế (đặc biệt là các thiên thần dĩ thái) thực sự có “trán”! Có lẽ điều này cho chúng ta biết nhiều về diện mạo của chúng và về sự giống với hình thể con người ít nhất là một phần. Chúng ta còn nhiều điều phải học về hình tướng thiên thần.

12. The directed vision of such violet devas (through the forehead, the place in man for the ajna vortex) is towards form production.

12. Tầm nhìn được định hướng của những thiên thần tím như thế (qua trán, nơi ở con người là xoáy ajna) hướng về việc sản sinh hình tướng.

As we consider the devas of the ethers, we find that they fall naturally—as far as manifestation is concerned—into two main groups.

Khi chúng ta xem xét các thiên thần của các cõi dĩ thái, chúng ta thấy rằng chúng tự nhiên rơi—xét theo phương diện biểu hiện—vào hai nhóm chính.

13. We are now, it seems, speaking of devas rather than elementals. We always have to monitor the focus of our topic carefully. The Tibetan seems to switch quickly between speaking of devas or of elementals.

13. Hiện nay, dường như chúng ta đang nói về các thiên thần hơn là các hành khí. Chúng ta luôn phải theo dõi cẩn thận trọng tâm của chủ đề. Chân sư Tây Tạng dường như chuyển rất nhanh giữa việc nói về thiên thần hay hành khí.

14. DK speaks of “two main groups”, but let us see how these groups relate to the four different kinds of devas—one type for each subplane of the etheric plane.

14. Chân sư DK nói về “hai nhóm chính”, nhưng hãy xem các nhóm này liên hệ thế nào với bốn loại thiên thần khác nhau—một loại cho mỗi cõi phụ của cõi dĩ thái.

Each group is represented on each of the four subplanes, and this grouping must be considered as but one method of differentiation out of the many possible.

Mỗi nhóm được biểu hiện trên mỗi một trong bốn cõi phụ, và sự phân nhóm này phải được xem chỉ là một phương pháp biến phân trong số nhiều phương pháp có thể có.

15. He seems to suggest that the two main groupings are each to be found on each of the etheric subplanes.

15. Ngài dường như gợi ý rằng mỗi một trong hai nhóm chính đều được tìm thấy trên mỗi cõi phụ dĩ thái.

16. If there are four main types of devas (of four distinct shades of purple or violet) then there will be, in all, eight different classifications.

16. Nếu có bốn loại thiên thần chính (thuộc bốn sắc độ tím khác biệt) thì tổng cộng sẽ có tám cách phân loại khác nhau.

17. Again, we must notice that there are many ways of differentiating the devas (and elementals) to be found on the systemic etheric subplanes. Before we could understand such ways, we would have to know just how many different types of devas and elementals are to be found on the systemic etheric subplanes.

17. Một lần nữa, chúng ta phải lưu ý rằng có nhiều cách để biến phân các thiên thần (và hành khí) được tìm thấy trên các cõi phụ dĩ thái của hệ thống. Trước khi có thể hiểu những cách ấy, chúng ta sẽ phải biết chính xác có bao nhiêu loại thiên thần và hành khí khác nhau được tìm thấy trên các cõi phụ dĩ thái của hệ thống.

18. It is always necessary to remind ourselves of the group of devas which are under discussion. We are speaking of the devas of the systemic ethers.

18. Luôn luôn cần phải nhắc mình về nhóm thiên thần đang được bàn đến. Chúng ta đang nói về các thiên thần của các cõi dĩ thái của hệ thống.

These groups are, first, those devas who are the transmitters of prana to all forms of life; they are a group of intermediary devas, and may be regarded as the energy providers in their various differentiations; secondly, those devas who form the etheric bodies of every form in manifestation. These constitute the bulk of the lesser devas.

Các nhóm này là, thứ nhất, những thiên thần là các vị truyền dẫn prana đến mọi hình thức sự sống; họ là một nhóm thiên thần trung gian, và có thể được xem là các nhà cung cấp năng lượng trong những sự biến phân khác nhau của họ; thứ hai, những thiên thần tạo nên các thể dĩ thái của mọi hình tướng đang biểu hiện. Những vị này cấu thành phần lớn các thiên thần nhỏ hơn.

19. When we look at the two main groups found on each etheric subplane, we realize that they are hierarchicalized. One group is higher or more evolved than the other.

19. Khi nhìn vào hai nhóm chính được tìm thấy trên mỗi cõi phụ dĩ thái, chúng ta nhận ra rằng chúng được phân cấp. Một nhóm cao hơn hay tiến hoá hơn nhóm kia.

20. The first group are “transmitters of prana to all forms of life”. It would seem that this is the more dynamic of the two main groups.

20. Nhóm thứ nhất là “các vị truyền dẫn prana đến mọi hình thức sự sống”. Dường như đây là nhóm năng động hơn trong hai nhóm chính.

21. We must see why DK calls them a “group of intermediary devas”. Between what and what are they intermediary? Usually, manipulating devas are considered intermediary between transmitting devas and more passive, devas who are part of established structures.

21. Chúng ta phải thấy vì sao Chân sư DK gọi họ là “một nhóm thiên thần trung gian”. Họ là trung gian giữa cái gì và cái gì? Thông thường, các thiên thần thao tác được xem là trung gian giữa các thiên thần truyền dẫn và các thiên thần thụ động hơn, là những vị thuộc về các cấu trúc đã được thiết lập.

22. We will visit the term “intermediary” later in the Commentary. We will see that these transmitters of prana are much associated with the second aspect and the second ray. They are influenced by the "Transmitter of the Word" (the transmitting devas associated with the Father aspect).

22. Chúng ta sẽ trở lại thuật ngữ “trung gian” ở phần sau của Bình Luận. Chúng ta sẽ thấy rằng các vị truyền dẫn prana này liên hệ rất nhiều với phương diện thứ hai và cung hai. Họ chịu ảnh hưởng của "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" (các thiên thần truyền dẫn liên kết với phương diện Cha).

23. This group of pranic transmitters is definitely differentiated. We can certainly understand that there would be at least four differentiations—one for each etheric subplane.

23. Nhóm các vị truyền dẫn prana này chắc chắn được biến phân. Chúng ta hẳn có thể hiểu rằng sẽ có ít nhất bốn sự biến phân—một cho mỗi cõi phụ dĩ thái.

24. The second type of deva within the two main groups are “those who form the etheric bodies of every form in manifestation”—biologically ‘living’ and also apparently inanimate.

24. Loại thiên thần thứ hai trong hai nhóm chính là “những vị tạo nên các thể dĩ thái của mọi hình tướng đang biểu hiện”—vừa sinh học ‘sống’, vừa cả những gì dường như vô sinh.

25. Here we are dealing with lesser devas. Notice they are still devas, apparently, and not elementals per se. This is an important distinction at this point.

25. Ở đây chúng ta đang đề cập đến các thiên thần nhỏ hơn. Hãy lưu ý rằng họ vẫn rõ ràng là thiên thần, chứ không phải hành khí chính chúng. Đây là một sự phân biệt quan trọng ở điểm này.

26. We must focus on the word “form”. Does it mean, “give form to”, or does it mean “go to the formation of”? Obviously the first wording suggests greater dynamism and the second wording, more passivity. The first wording suggest the possible function of manipulating devas. So we will have to be alert to this question.

26. Chúng ta phải tập trung vào từ “tạo nên hình tướng”. Nó có nghĩa là “ban hình tướng cho”, hay có nghĩa là “đi vào sự hình thành của”? Hiển nhiên, cách diễn đạt thứ nhất gợi ý tính năng động lớn hơn, còn cách thứ hai gợi ý tính thụ động hơn. Cách diễn đạt thứ nhất gợi ra chức năng có thể có của các thiên thần thao tác. Vì vậy chúng ta sẽ phải tỉnh táo với câu hỏi này.

27. It would seem that those devas “who form the etheric bodies of every form in manifestation” must be considered manipulating devas and not elementals of any kind.

27. Dường như những thiên thần “tạo nên các thể dĩ thái của mọi hình tướng đang biểu hiện” phải được xem là các thiên thần thao tác chứ không phải hành khí thuộc bất kỳ loại nào.

28. As for “transmitters of prana”, it would appear that we have to classify them as “transmitting devas”, along with those greater devas who are "Transmitters of the Word".

28. Còn đối với “các vị truyền dẫn prana”, có vẻ như chúng ta phải xếp họ vào loại “các thiên thần truyền dẫn”, cùng với những thiên thần cao cả hơn là "Đấng Truyền Dẫn Linh từ".

29. In earlier texts, DK spoke of transmitting devas, manipulating devas and “recipients of force” (are they devas at all or are they elementals).

29. Trong các văn bản trước đây, Chân sư DK đã nói về các thiên thần truyền dẫn, các thiên thần thao tác và “những kẻ tiếp nhận mãnh lực” (liệu họ có phải là thiên thần hay hoàn toàn là hành khí).

30. It is clear that in the important paragraph above, DK is speaking only of transmitting devas and of manipulating devas but not of elemental “recipients of force” or elemental essence on the involutionary arc.

30. Rõ ràng là trong đoạn quan trọng ở trên, Chân sư DK chỉ nói về các thiên thần truyền dẫn và các thiên thần thao tác, chứ không nói về các “kẻ tiếp nhận mãnh lực” là hành khí hay tinh chất hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá.

There are naturally many other organised intelligences in the great Army of the Voice in connection with this primary division of the physical plane,

Có một cách tự nhiên nhiều trí tuệ có tổ chức khác trong Đạo Quân của Âm Thanh vĩ đại liên hệ với sự phân chia sơ khởi này của cõi hồng trần,

31. Can a being be an “organized intelligence” and still not be self-conscious?

31. Liệu một hữu thể có thể là một “trí tuệ có tổ chức” mà vẫn không có ngã thức không?

32. In a large and general way we are dealing with the Army of the Voice. The devas and elementals under discussion in this section of text, are all members of the Army of the Voice because they respond to immediately to sound.

32. Theo một cách rộng lớn và tổng quát, chúng ta đang đề cập đến Đạo Quân của Âm Thanh. Các thiên thần và hành khí được bàn đến trong phần văn bản này đều là thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh vì chúng đáp ứng ngay lập tức với âm thanh.

33. As always, the question is, “whose voice”? There are great Voices and far lesser voices such as the voice of man.

33. Như mọi khi, câu hỏi là, “âm thanh của ai?” Có những Âm Thanh vĩ đại và những âm thanh nhỏ bé hơn rất nhiều như âm thanh của con người.

34. When dealing with the Army of the Voice, it would seem that some members are self-conscious and highly evolved and other are still somewhat in the category of blind forces—unconscious, passive, receptive, relatively inert.

34. Khi đề cập đến Đạo Quân của Âm Thanh, dường như một số thành viên có ngã thức và đã tiến hoá cao, còn những thành viên khác vẫn phần nào thuộc loại các mãnh lực mù quáng—vô thức, thụ động, tiếp nhận, tương đối trì trệ.

but if the student will consider these two groups, and will investigate their relationship to man and to the Heavenly Man within Whose body they are to be found, he will learn much which will enable him to comprehend problems hitherto considered insoluble,

nhưng nếu đạo sinh xem xét hai nhóm này, và sẽ khảo cứu mối liên hệ của chúng với con người và với Đấng Thiên Nhân mà trong thân thể của Ngài chúng được tìm thấy, y sẽ học được nhiều điều giúp y thấu hiểu những vấn đề từ trước đến nay vẫn được xem là không thể giải quyết,

35. This is very promising.

35. Điều này rất hứa hẹn.

36. In general we have devas responsible for the dynamic movement of energy (the energy of prana), and we have the devas responsible (either forming or going to the formation of) more stable etheric structures through which pranic energy is transmitted. The ‘structural and structuring devas’ (can we call them that) are of lower orders than the transmitting devas—whether it is the “Word” that is transmitted or prana.

36. Nói chung, chúng ta có các thiên thần chịu trách nhiệm cho sự vận động năng động của năng lượng (năng lượng của prana), và chúng ta có các thiên thần chịu trách nhiệm (hoặc tạo nên, hoặc đi vào sự hình thành của) những cấu trúc dĩ thái ổn định hơn qua đó năng lượng prana được truyền dẫn. Các ‘thiên thần cấu trúc và kiến tạo cấu trúc’ (chúng ta có thể gọi họ như vậy chăng) thuộc các cấp thấp hơn các thiên thần truyền dẫn—dù cái được truyền là “Linh từ” hay prana.

37. Perhaps it is because of these two main groups of devas that, in listings of man’s seven principles, both the etheric body and prana are listed as principles (though really, only one of them is).

37. Có lẽ chính vì hai nhóm thiên thần chính này mà trong các bảng liệt kê bảy nguyên khí của con người, cả thể dĩ thái lẫn prana đều được liệt kê là các nguyên khí (mặc dù thực ra chỉ một trong hai là như vậy).

38. Obviously, the principle known as “prana” is closely allied with the “transmitters of prana” and the principle known in some tabulations as the etheric body is closely allied with the ‘structural and structuring devas’.

38. Hiển nhiên, nguyên khí được gọi là “prana” liên hệ mật thiết với “các vị truyền dẫn prana”, và nguyên khí trong một số bảng được gọi là thể dĩ thái liên hệ mật thiết với các ‘thiên thần cấu trúc và kiến tạo cấu trúc’.

and will find many things [Page 916] revealed which will tend to revolutionise the findings of modern science, and bring about changes in the care of the physical body.

và sẽ thấy nhiều điều [Trang 916] được mặc khải sẽ có khuynh hướng cách mạng hoá những phát hiện của khoa học hiện đại, và đem lại những thay đổi trong việc chăm sóc thể xác.

39. We all realize that the health of the physical body lies in the proper care of the etheric body.

39. Tất cả chúng ta đều nhận ra rằng sức khỏe của thể xác nằm ở việc chăm sóc đúng đắn thể dĩ thái.

40. Modern science seeks to unlock the mysteries of the form. In the work of these two types of devas these secrets seem to be concealed.

40. Khoa học hiện đại tìm cách mở khóa các huyền nhiệm của hình tướng. Trong công việc của hai loại thiên thần này, những bí mật ấy dường như được che giấu.

41. As we consider the two groups and their relationship, we must remember that on all the systemic planes there are subplanes which correspond more to the systemic dense physical subplanes and those which correspond more to the etheric subplanes. In this respect, every systemic plane has its quasi-dense and quasi-etheric portion.

41. Khi xem xét hai nhóm và mối liên hệ của chúng, chúng ta phải nhớ rằng trên mọi cõi của hệ thống đều có những cõi phụ tương ứng nhiều hơn với các cõi phụ hồng trần đậm đặc của hệ thống và những cõi phụ tương ứng nhiều hơn với các cõi phụ dĩ thái. Về phương diện này, mỗi cõi của hệ thống đều có phần gần-đậm-đặc và phần gần-dĩ-thái của nó.

42. Latent heat accords with the quasi-dense portions and active or radiatory heat with the quasi-etheric portions.

42. Nhiệt tiềm ẩn tương ứng với các phần gần-đậm-đặc, còn nhiệt hoạt động hay bức xạ tương ứng với các phần gần-dĩ-thái.

The Devas and Energy. Before we take up the consideration of these two groups it might be wise here to emphasise the necessity of remembering that when we consider the etheric levels of the physical plane we are dealing with those planes upon which the true form is to be found, and are approaching the solution of the mystery of the Holy Spirit and the Mother.

Các thiên thần và Năng lượng. Trước khi chúng ta bắt đầu xem xét hai nhóm này, ở đây có lẽ khôn ngoan khi nhấn mạnh sự cần thiết phải nhớ rằng khi chúng ta xem xét các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, chúng ta đang đề cập đến những cõi mà trên đó hình tướng chân thực được tìm thấy, và đang tiến gần đến lời giải của huyền nhiệm về Chúa Thánh Thần và Mẹ.

43. What is “true form”? It is not the aggregation (or “congestion”) of dense physical matter that appears on the lowest two systemic subplanes. Rather, it is the energy-form on the etheric plane which causes such aggregations/concretions/congestions to appear.

43. “Hình tướng chân thực” là gì? Nó không phải là sự kết tập (hay “sự ùn tụ”) của vật chất hồng trần đậm đặc xuất hiện trên hai cõi phụ thấp nhất của hệ thống. Đúng hơn, đó là hình tướng-năng lượng trên cõi dĩ thái, cái gây ra sự xuất hiện của những kết tập/kết tinh/ùn tụ như thế.

44. The Holy Spirit, therefore, relates to the etheric levels and the Mother to the dense physical levels.

44. Do đó, Chúa Thánh Thần liên hệ với các cấp độ dĩ thái, còn Mẹ liên hệ với các cấp độ hồng trần đậm đặc.

In this realisation, and its extension to include an entire solar system, will come a clarifying of the connection between the four higher planes of the system and the three worlds of human endeavour.

Trong (sự)chứng nghiệm này, và trong sự mở rộng của nó để bao gồm toàn bộ một hệ mặt trời, sẽ đến một sự làm sáng tỏ mối liên hệ giữa bốn cõi cao hơn của hệ thống và ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại.

45. The cosmic etheric planes are formative, the home of true forms when considering the entirety of the cosmic physical plane. The lower three worlds are formed rather than formative. No true forms exist upon them, but only aggregations formed by the formative potencies of the cosmic physical plane.

45. Các cõi dĩ thái vũ trụ có tính tạo hình, là nơi cư ngụ của các hình tướng chân thực khi xét toàn thể cõi hồng trần vũ trụ. Ba cõi thấp là những cõi được tạo thành hơn là có tính tạo hình. Không có hình tướng chân thực nào tồn tại trên chúng, mà chỉ có những kết tập được tạo thành bởi các tiềm lực tạo hình của cõi hồng trần vũ trụ.

We have, in the macrocosm, the four planes of super-conscious life,

Trong Đại thiên địa, chúng ta có bốn cõi của sự sống siêu hữu thức,

46. These are the cosmic etheric planes, the four highest systemic subplanes on the cosmic physical plane.

46. Đó là các cõi dĩ thái vũ trụ, bốn cõi phụ cao nhất của hệ thống trên cõi hồng trần vũ trụ.

47. Technically, the systemic subplanes on which the causal body is to be found are not to be considered sub-planes of super-conscious life.

47. Về mặt kỹ thuật, các cõi phụ của hệ thống mà trên đó thể nguyên nhân được tìm thấy không nên được xem là các cõi phụ của sự sống siêu hữu thức.

or those four central vibrations which are the basis of the life and energy of the etheric body of a planetary Logos and of a solar Logos,

hay những rung động trung tâm bốnfold là nền tảng của sự sống và năng lượng của thể dĩ thái của một Hành Tinh Thượng Đế và của một Thái dương Thượng đế,

48. These cosmic etheric subplanes are certainly etheric with respect to the Solar Logos, but, as we have often pointed out, for the Planetary Logos another factor may be operative. Could it be that for the Planetary Logos, the higher mental plane is, in some sense, to be considered the ‘lowest ether’?

48. Các cõi phụ dĩ thái vũ trụ này chắc chắn là dĩ thái đối với Thái dương Thượng đế, nhưng như chúng ta thường chỉ ra, đối với Hành Tinh Thượng Đế có thể một yếu tố khác đang vận hành. Liệu có thể chăng rằng đối với Hành Tinh Thượng Đế, Cõi thượng trí, theo một nghĩa nào đó, được xem là ‘dĩ thái thấp nhất’?

49. There are pros and cons to this question and we cannot explore it extensively here.

49. Có những lý lẽ thuận và nghịch cho câu hỏi này, và chúng ta không thể khảo sát nó rộng rãi ở đây.

50. Note the phrase “four central vibrations”. It gives a different image from the apparent ‘stacking of the planes’—as planes are so often represented in two dimensional diagrams.

50. Hãy lưu ý cụm từ “bốn rung động trung tâm”. Nó gợi ra một hình ảnh khác với sự “xếp chồng các cõi” có vẻ bề ngoài—vì các cõi thường được trình bày trong các sơ đồ hai chiều.

and the three planes of conscious and of self-conscious life which form the dense physical vehicle of a Heavenly Man, and of the Grand Man of the Heavens.

và ba cõi của sự sống hữu thức và ngã thức, vốn tạo thành hiện thể hồng trần đậm đặc của một Đấng Thiên Nhân, và của Đại Nhân trên Thiên Giới.

51. On these three lower planes both conscious and self-conscious life exists. It goes without saying that it is possible to be conscious without being self-conscious.

51. Trên ba cõi thấp này, cả sự sống hữu thức lẫn ngã thức đều tồn tại. Không cần phải nói cũng rõ rằng có thể hữu thức mà không ngã thức.

52. Here again we have to proceed carefully. The dense physical vehicle of the Solar Logos is found upon the entirety of the lower three planes, and includes the higher mental subplanes.

52. Ở đây một lần nữa chúng ta phải tiến hành cẩn trọng. Hiện thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế được tìm thấy trên toàn bộ ba cõi thấp, và bao gồm các cõi phụ của Cõi thượng trí.

53. However, what are usually called the “lower three worlds” are the physical vehicle of the Heavenly Man and these do not include the subplanes of the higher mental plane. In other references this seems an irrefutable inference.

53. Tuy nhiên, điều thường được gọi là “ba cõi thấp” lại là hiện thể hồng trần của Đấng Thiên Nhân và những cõi này không bao gồm các cõi phụ của Cõi thượng trí. Trong những chỗ dẫn khác, điều này dường như là một suy luận không thể bác bỏ.

By a close scrutiny of these conditions in the macrocosm and in the microcosm will come a comprehension of the reason why the physical vehicle is never considered a principle at all by occultists.

Qua sự khảo sát kỹ lưỡng các điều kiện này trong Đại thiên địa và trong Tiểu thiên địa, sẽ xuất hiện sự thấu hiểu lý do vì sao hiện thể hồng trần không bao giờ được các nhà huyền bí học xem là một nguyên khí cả.

54. Presumably “close scrutiny” will reveal what is causative and what is caused. That which is relatively passive and has no originating energy in our solar system cannot be considered a principle (an integral energy-aspect of our solar system).

54. Có lẽ “sự khảo sát kỹ lưỡng” sẽ làm lộ ra điều gì là nguyên nhân và điều gì là kết quả. Điều tương đối thụ động và không có năng lượng khởi nguyên trong hệ mặt trời của chúng ta thì không thể được xem là một nguyên khí (một phương diện năng lượng toàn vẹn của hệ mặt trời chúng ta).

The Holy Spirit, the One Who overshadows and Who implants the germ of life in the waiting acquiescent Virgin Mother or matter (causing her to awaken and to commence her great work of producing the divine incarnation) is a primary factor from the standpoint of the second solar system.

Chúa Thánh Thần, Đấng phủ bóng và cấy mầm sống vào Đức Mẹ Đồng Trinh hay vật chất đang chờ đợi và thuận phục (khiến bà thức tỉnh và bắt đầu công việc vĩ đại của mình là sản sinh ra sự nhập thể thiêng liêng) là một nhân tố sơ yếu theo quanđiểm của hệ mặt trời thứ hai.

55. The Holy Spirit, therefore, presents (in relation to the dense physical plane) the third aspect of our present second ray solar system. The Mother presents the third aspect of the system preceding our own—a third ray solar system.

55. Do đó, Chúa Thánh Thần trình hiện (liên hệ với cõi hồng trần đậm đặc) phương diện thứ ba của hệ mặt trời cung hai hiện tại của chúng ta. Đức Mẹ trình hiện phương diện thứ ba của hệ thống đi trước hệ thống chúng ta—một hệ mặt trời cung ba.

56. When we think of the Holy Spirit, we must realize that it represents the second aspect and the second ray, even though presenting the third aspect and the third ray. This is not the case for dense physical matter per se.

56. Khi chúng ta nghĩ đến Chúa Thánh Thần, chúng ta phải nhận ra rằng Ngài đại diện cho phương diện thứ hai và cung hai, dù rằng Ngài đang trình hiện phương diện thứ ba và cung ba. Điều này không đúng đối với chính vật chất hồng trần đậm đặc.

In a way incomprehensible to modern thinkers,

Theo một cách mà các nhà tư tưởng hiện đại không thể hiểu được,

57. Incomprehensible certainly to those thinkers who know nothing of occultism, but also more than obscure even to the modern student of occultism…

57. Chắc chắn là không thể hiểu được đối với những nhà tư tưởng không biết gì về huyền bí học, nhưng cũng còn mơ hồ hơn nhiều ngay cả đối với đạo sinh huyền bí học hiện đại…

the Mother, or the divine Aspirant to the mysteries of the cosmic marriage, was (in a previous system) the dominant factor.

Đức Mẹ, hay người chí nguyện thiêng liêng hướng đến các huyền nhiệm của cuộc hôn phối vũ trụ, là (trong một hệ thống trước) nhân tố chi phối.

58. If there was an etheric body in the previous solar system (as it seems there must have been) it did not dominate, apparently, the matter aspect.

58. Nếu có một thể dĩ thái trong hệ mặt trời trước (và dường như hẳn phải có), thì rõ ràng nó đã không chi phối phương diện vật chất.

59. It is interesting to think of matter as Mother and Mother as the “divine Aspirant to the mysteries of the cosmic marriage”. DK seems to be speaking of the union of matter with Spirit. This we can interpret as the “cosmic marriage”.

59. Thật thú vị khi nghĩ về vật chất như là Mẹ và Mẹ như là “người chí nguyện thiêng liêng hướng đến các huyền nhiệm của cuộc hôn phối vũ trụ”. Chân sư DK dường như đang nói về sự hợp nhất của vật chất với tinh thần. Chúng ta có thể diễn giải điều này là “cuộc hôn phối vũ trụ”.

60. The Mother is the “divine Aspirant” (note, divine) because she must be uplifted through contact with Father Spirit. She aspires towards elevation and union with Spirit.

60. Đức Mẹ là “người chí nguyện thiêng liêng” (hãy lưu ý, thiêng liêng) vì bà phải được nâng lên nhờ tiếp xúc với Cha Tinh thần. Bà khát vọng hướng đến sự nâng cao và sự hợp nhất với Tinh thần.

61. This is another way of saying that that the energy-force of matter reaches upward towards Spirit, yearning to merge with it.

61. Đây là một cách khác để nói rằng mãnh lực-năng lượng của vật chất vươn lên hướng về Tinh thần, khao khát hòa nhập với Ngài.

62. When we think of this type of aspiration, the mode of individualization found within the first solar system and upon the Moon-chain comes to mind. It took place precisely through such aspiration or upreaching of matter towards Spirit.

62. Khi chúng ta nghĩ đến loại khát vọng này, phương thức biệt ngã hóa được tìm thấy trong hệ mặt trời thứ nhất và trên Dãy Mặt Trăng hiện ra trong tâm trí. Nó diễn ra chính xác qua loại khát vọng hay sự vươn lên của vật chất hướng về Tinh thần như thế.

In this system in connection with substance it is the Holy Spirit.

Trong hệ thống này, liên quan với chất liệu, đó là Chúa Thánh Thần.

63. DK is telling us that in this solar system, the Holy Spirit is the dominant factor—dominant, at least, over matter.

63. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng trong hệ mặt trời này, Chúa Thánh Thần là nhân tố chi phối—ít nhất là chi phối đối với vật chất.

64. Also, with respect to the union of Spirit and dense physical matter, that union is mediated via the Holy Spirit, the etheric energy which transmits the energy of Spirit to passive, dense matter.

64. Ngoài ra, xét về sự hợp nhất giữa Tinh thần và vật chất hồng trần đậm đặc, sự hợp nhất ấy được trung gian hoá qua Chúa Thánh Thần, năng lượng dĩ thái truyền năng lượng của Tinh thần đến vật chất đậm đặc thụ động.

65. We can say that the marriage of matter with Spirit is not yet complete. Perhaps this will occur towards the end of our present solar system.

65. Chúng ta có thể nói rằng cuộc hôn phối của vật chất với Tinh thần vẫn chưa hoàn tất. Có lẽ điều này sẽ xảy ra vào gần cuối hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

66. Will dense matter of the kind prevalent in our solar system remain after our solar system? May it be that in the next solar system the substance of the ethers will be the lowest type of matter extant?

66. Liệu vật chất đậm đặc thuộc loại phổ biến trong hệ mặt trời của chúng ta có còn tồn tại sau hệ mặt trời này không? Có thể chăng trong hệ mặt trời kế tiếp, chất liệu của các dĩ thái sẽ là loại vật chất thấp nhất hiện hữu?

The work, therefore, on etheric levels, and the energy and activity originating therefrom, are the factors that primarily are responsible on the physical [Page 917] plane for all that is tangible, objective, and manifested.

Do đó, công việc trên các cấp độ dĩ thái, và năng lượng cùng hoạt động phát sinh từ đó, là những nhân tố trước hết chịu trách nhiệm trên cõi hồng trần [Page 917] đối với mọi điều hữu hình, khách quan và biểu hiện.

67. While this is, in a sense, an occult platitude, it is necessary for us to really absorb its meaning.

67. Dù theo một nghĩa nào đó đây là một sáo ngữ huyền bí học, chúng ta vẫn cần thật sự hấp thụ ý nghĩa của nó.

68. Tangibility, objectivity and manifestation in dense matter are all etherically propelled.

68. Tính hữu hình, tính khách quan và sự biểu hiện trong vật chất đậm đặc đều được dĩ thái thúc đẩy.

69. If we want to live a causative life, we have to learn to manage physical plane life from an etheric point of polarization.

69. Nếu chúng ta muốn sống một đời sống nhân quả tác động, chúng ta phải học cách quản trị đời sống cõi hồng trần từ một điểm phân cực dĩ thái.

The accretion of matter around the vital body, and the densification of substance around the vital etheric nucleus are in themselves the result of interaction, and the final interchange of vibration between that which might be called the residue from an earlier manifestation, and the vibration of this present one.

Sự bồi tụ của vật chất quanh thể sinh lực, và sự làm đậm đặc của chất liệu quanh hạt nhân dĩ thái sinh lực, tự chúng là kết quả của sự tương tác, và của sự traođổi rung động sau cùng giữa điều có thể được gọi là tàndư từ một biểu hiện trước kia, và rung động của biểu hiện hiện tại này.

70. The description is straightforward. The words “accretion” and “densification” are highly descriptive of the relationship between dense physical matter and etheric substance.

70. Lời mô tả này rất trực tiếp. Các từ “bồi tụ” và “làm đậm đặc” diễn tả rất rõ mối liên hệ giữa vật chất hồng trần đậm đặc và chất liệu dĩ thái.

71. Dense physical matter is a “residue” from the previous solar system and it is being magnetised and reconditioned by the etheric vibration of the present solar system.

71. Vật chất hồng trần đậm đặc là một “tàn dư” từ hệ mặt trời trước và nó đang được từ hoá và được tác động định hình lại bởi rung động dĩ thái của hệ mặt trời hiện tại.

72. We are given an intriguing phrase—“the final interchange of vibration”. Two levels of vibration are, as it were, exchanging vibrations. There is a mutual conditioning in process. However, ultimately, it will be the residual substance of the previous solar system that is reconditioned and not the principled ethers of our present solar system.

72. Chúng ta được trao cho một cụm từ đầy gợi mở—“sự trao đổi rung động sau cùng”. Có thể nói, hai cấp độ rung động đang trao đổi rung động với nhau. Một sự tác động lẫn nhau đang diễn ra. Tuy nhiên, rốt cuộc, chính chất liệu tàn dư của hệ mặt trời trước sẽ được tác động định hình lại chứ không phải các dĩ thái nguyên khí của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

73. There may have been a recapitulatory time in our planetary scheme when dense matter was stronger than etheric matter, but that time has long passed. Initiatory achievement in the Lemurian period of our globe (in the third rootrace of this fourth round) concerned precisely the balance between etheric substance and dense physical matter. Initiation necessitated that etheric substance prevail.

73. Có thể đã từng có một thời kỳ tái diễn trong hệ hành tinh của chúng ta khi vật chất đậm đặc mạnh hơn vật chất dĩ thái, nhưng thời kỳ đó đã qua từ lâu. Thành tựu điểm đạo trong thời Lemuria của bầu hành tinh chúng ta (trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư này) liên hệ chính xác đến sự quân bình giữa chất liệu dĩ thái và vật chất hồng trần đậm đặc. Điểm đạo đòi hỏi chất liệu dĩ thái phải thắng thế.

It is here—in the relation between positive electrical energy in its fourfold differentiation, and the triple negative receptive lower substance—that scientists will eventually arrive at certain definite deductions and discover:

Chính ở đây—trong mối liên hệ giữa năng lượng điện dương trong sự biến phân tứ phân của nó, và chất liệu thấp tam phân âm, tiếp nhận—mà các nhà khoa học cuối cùng sẽ đi đến những suy luận xác định và khám phá ra:

74. Here are important prophecies.

74. Đây là những lời tiên tri quan trọng.

75. Scientists will study the interplay between positive and negative electrical energy.

75. Các nhà khoa học sẽ nghiên cứu sự tương tác giữa năng lượng điện dương và âm.

76. The systemic ethers are the proximate source (for the dense physical plane) of “positive electrical energy”.

76. Các dĩ thái hệ thống là nguồn gần nhất (đối với cõi hồng trần đậm đặc) của “năng lượng điện dương”.

77. The dense physical matter of the lowest three subplanes of the systemic physical plane is called “the triple negative receptive lower substance”.

77. Vật chất hồng trần đậm đặc của ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống được gọi là “chất liệu thấp tam phân âm, tiếp nhận”.

78. “Negative receptive lower substance” is identical with those types of involutionary lesser builders called “recipients of force”.

78. “Chất liệu thấp âm, tiếp nhận” đồng nhất với những loại vị tiểu kiến tạo giáng hạ tiến hoá được gọi là “những kẻ tiếp nhận mãnh lực”.

a. The secret of matter itself, that is, matter as we know and see it.

a. Bí mật của chính vật chất, tức là vật chất như chúng ta biết và thấy nó.

79. DK is speaking of dense physical matter and not of etheric substance.

79. Chân sư DK đang nói về vật chất hồng trần đậm đặc chứ không phải chất liệu dĩ thái.

80. He is speaking of a “secret”. May it be that we are dealing with the manner in which dense physical matter is constructed—a construction underlay by etheric constituents?

80. Ngài đang nói về một “bí mật”. Có thể chăng chúng ta đang đề cập đến cách thức vật chất hồng trần đậm đặc được cấu tạo—một cấu tạo được nâng đỡ bởi các thành phần dĩ thái?

81. We know today that matter and energy are equivalent. Dense physical matter can always be decomposed into etheric energy, and etheric energy densified into dense physical matter.

81. Ngày nay chúng ta biết rằng vật chất và năng lượng là tương đương. Vật chất hồng trần đậm đặc luôn có thể được phân giải thành năng lượng dĩ thái, và năng lượng dĩ thái được làm đậm đặc thành vật chất hồng trần đậm đặc.

b. The key to the process of creation upon the physical plane, and the method whereby density and concretion on the three lower levels are brought about.

b. Chìa khóa của tiến trình sáng tạo trên cõi hồng trần, và phương pháp nhờ đó sự đậm đặc và sự kết tụ trên ba cấp độ thấp được tạo ra.

82. This is somewhat understandable. With regard to the systemic physical plane, the truly formative forces are to be found upon the etheric subplanes of that plane.

82. Điều này phần nào có thể hiểu được. Xét về cõi hồng trần hệ thống, các mãnh lực thật sự tạo hình được tìm thấy trên các cõi phụ dĩ thái của cõi đó.

83. The present study of morphogenic fields is a step in this direction.

83. Nghiên cứu hiện nay về các trường tạo hình là một bước theo hướng này.

84. It is clear that, by pursuing this thought, we would be entering the field of practical magic—the precipitation into dense physical form of subtle, etheric patterns.

84. Rõ ràng là, nếu theo đuổi tư tưởng này, chúng ta sẽ bước vào lĩnh vực huyền thuật thực hành—sự ngưng tụ thành hình tướng hồng trần đậm đặc của các mô hình dĩ thái vi tế.

c. The formulas for organic transmutation, or the key to the processes whereby the elements as we know them can be disintegrated and recombined.

c. Các công thức cho sự chuyển hoá hữu cơ, hay chìa khóa cho những tiến trình nhờ đó các nguyên tố như chúng ta biết có thể bị phân rã và tái kết hợp.

85. The word “organic” is interesting. We are probably not speaking of the distinction between so-called “organic” and “in-organic” matter. It is likely that we are speaking of the manner in which matter is organized and disorganized.

85. Từ “hữu cơ” thật đáng chú ý. Có lẽ chúng ta không đang nói về sự phân biệt giữa vật chất được gọi là “hữu cơ” và “vô cơ”. Có khả năng là chúng ta đang nói về cách thức vật chất được tổ chức và giải tổ chức.

86. We are dealing with one of the secrets of alchemy—the transmutation of one element into another. This is elementary ‘shape-shifting’.

86. Chúng ta đang đề cập đến một trong những bí mật của thuật luyện kim—sự chuyển hoá từ nguyên tố này sang nguyên tố khác. Đây là sự “biến đổi hình dạng” ở mức sơ đẳng.

87. Of course, so-called “organic” forms of life can also be transmuted—the kingdom in which they express raised to the next higher kingdom.

87. Dĩ nhiên, những hình thức sự sống được gọi là “hữu cơ” cũng có thể được chuyển hoá—giới mà chúng biểu lộ trong đó được nâng lên giới cao hơn kế tiếp.

Only when scientists are prepared to admit the fact that there is a body of vitality which acts as a focal point in every organised form, and only when they are willing to consider each element and form of every degree as constituting part of a still greater vital body, will the true methods of the great goddess Nature become their methods.

Chỉ khi nào các nhà khoa học sẵn sàng thừa nhận sự kiện rằng có một thể sinh lực hoạt động như một tiêu điểm trong mọi hình tướng có tổ chức, và chỉ khi nào họ sẵn lòng xét đến mỗi nguyên tố và hình tướng ở mọi cấp độ như cấu thành một phần của một thể sinh lực còn lớn hơn nữa, thì các phương pháp chân chính của nữ thần vĩ đại Thiên Nhiên mới trở thành phương pháp của họ.

88. Scientists must admit not only the presence of a vital body in every organized form but the presence of a greater vital body of which each lesser vital body is a part. Can this realization of incorporation of the lesser into the greater can be considered an aspect of “unified field theory” from the occult perspective?

88. Các nhà khoa học không chỉ phải thừa nhận sự hiện diện của một thể sinh lực trong mọi hình tướng có tổ chức mà còn phải thừa nhận sự hiện diện của một thể sinh lực lớn hơn mà mỗi thể sinh lực nhỏ hơn là một phần của nó. Liệu sự chứng nghiệm này về việc cái nhỏ được bao hàm trong cái lớn có thể được xem là một phương diện của “lý thuyết trường thống nhất” theo quan điểm huyền bí học hay không?

89. Nature is called “the great goddess”, a representative it would seem, of the Divine Feminine aspect.

89. Thiên Nhiên được gọi là “nữ thần vĩ đại”, dường như là một đại diện của phương diện Nữ tính Thiêng liêng.

90. The implication is that the methods of present scientists are out of harmony with the “true methods of the great goddess”.

90. Hàm ý ở đây là các phương pháp của các nhà khoa học hiện nay không hài hòa với “các phương pháp chân chính của nữ thần vĩ đại”.

91. Nature, we are led to believe, works creatively and constructively through the etheric subplanes and their interactive relationship with the dense physical subplanes.

91. Chúng ta được dẫn đến chỗ tin rằng Thiên Nhiên hoạt động một cách sáng tạo và kiến tạo qua các cõi phụ dĩ thái và mối liên hệ tương tác của chúng với các cõi phụ hồng trần đậm đặc.

92. On a microcosmic level, it is time for all students of spirituality to attempt to focus with a requisite degree of ‘etheric attentiveness’ as they attempt to bring about desirable changes within the dense physical mechanism.

92. Ở cấp độ tiểu thiên địa, đã đến lúc mọi đạo sinh của tinh thần phải cố gắng tập trung với một mức độ “chú tâm dĩ thái” cần thiết khi họ tìm cách tạo ra những thay đổi mong muốn trong bộ máy hồng trần đậm đặc.

To do this they must be prepared to accept the sevenfold differentiation of the physical plane as stated by Eastern occultism, to recognise the triple nature of the septenary manifestation.

Để làm được điều này, họ phải sẵn sàng chấp nhận sự biến phân thất phân của cõi hồng trần như huyền bí học phương Đông đã nêu, phải nhận ra bản chất tam phân của biểu hiện thất phân.

93. Fortunately, there are many enlightened scientists today who are willing to do so. Gradually, confirmatory experimentation is made and resistance fades away.

93. May mắn thay, ngày nay có nhiều nhà khoa học giác ngộ sẵn lòng làm như vậy. Dần dần, các thực nghiệm xác nhận được tiến hành và sự kháng cự phai biến đi.

94. Every sevenfold system is resolvable into three primary parts. The seven rays can be derived from the major three.

94. Mọi hệ thống thất phân đều có thể được quy giải thành ba phần chính yếu. Bảy cung có thể được rút ra từ ba cung lớn.

95. Below DK differentiates the subplanes of the systemic physical plane according to the method 1—3—3.

95. Dưới đây Chân sư DK phân biệt các cõi phụ của cõi hồng trần hệ thống theo phương pháp 1—3—3.

a. The atomic or Shiva energy, the energy of the first subplane or the first etheric plane.

a. Năng lượng nguyên tử hay Shiva, năng lượng của cõi phụ thứ nhất hay cõi dĩ thái thứ nhất.

96. With respect to the systemic physical plane, the atomic subplane is the ‘archetypal subplane’. Correspondingly, and with respect to the cosmic physical plane, the systemic logoic plane is the archetypal plane.

96. Xét về cõi hồng trần hệ thống, cõi phụ nguyên tử là cõi phụ “nguyên mẫu”. Tương ứng như vậy, và xét về cõi hồng trần vũ trụ, cõi logoic hệ thống là cõi nguyên mẫu.

b. The vital form building energy of the three ensuing etheric levels.

b. Năng lượng kiến tạo hình tướng sinh lực của ba cấp độ dĩ thái tiếp theo.

97. If the archetypal pattern emerges on the first subplane, the building processes (correlated with the second aspect) occur within and upon the lower three systemic ethers.

97. Nếu mô hình nguyên mẫu xuất hiện trên cõi phụ thứ nhất, thì các tiến trình kiến tạo (tương quan với phương diện thứ hai) xảy ra trong và trên ba dĩ thái hệ thống thấp hơn.

98. From the chakric perspective, the head center found upon the atomic subplane is involved with the presentation of the ‘pattern of purpose’. The heart, throat and other chakras (the other six) are involved in various ways in building into form the pattern of that purpose.

98. Từ quan điểm các luân xa, trung tâm đầu nằm trên cõi phụ nguyên tử liên quan đến việc trình hiện “mô hình của mục đích”. Tim, cổ họng và các luân xa khác (sáu luân xa còn lại) tham gia theo nhiều cách khác nhau vào việc xây dựng mô hình của mục đích ấy thành hình tướng.

c. The negative receptive energy of the three planes [Page 918] of the dense physical, the gaseous, the liquid and the truly dense.

c. Năng lượng âm tiếp nhận của ba cõi [Page 918] của hồng trần đậm đặc, thể khí, thể lỏng và thể thật sự đậm đặc.

99. Here we have the work of the ‘structural and structuring devas’, the more passive builders. They are made to embody the etheric patterns which reflect the purpose/pattern emerging on the atomic subplane. Their response to the etheric pattern is quite automatic.

99. Ở đây chúng ta có công việc của các “thiên thần cấu trúc và tạo cấu trúc”, những đấng kiến tạo thụ động hơn. Họ được khiến phải thể hiện các mô hình dĩ thái phản chiếu mục đích/mô hình xuất hiện trên cõi phụ nguyên tử. Sự đáp ứng của họ đối với mô hình dĩ thái khá là tự động.

100. We must differentiate between those manipulating devas (on the evolutionary arc) who work on the lowest subplanes of matter and the elemental essences of those subplanes which is entirely passive, receptive and worked upon.

100. Chúng ta phải phân biệt giữa những thiên thần thao tác (trên cung tiến hoá) hoạt động trên các cõi phụ thấp nhất của vật chất và các tinh chất hành khí của những cõi phụ ấy, vốn hoàn toàn thụ động, tiếp nhận và bị tác động lên.

101. The ‘structural and structuring” devas are the lowest of the devas and are truly lesser builders, but they are far above the elemental essence which is truly passive and receptive and moulded into form by the manipulating devas.

101. Các thiên thần “cấu trúc và tạo cấu trúc” là thấp nhất trong các thiên thần và thật sự là các vị tiểu kiến tạo, nhưng họ cao hơn rất nhiều so với Tinh chất hành khí vốn thật sự thụ động, tiếp nhận và được nắn đúc thành hình tướng bởi các thiên thần thao tác.

102. These manipulating devas are ‘structuring energy fields’ which create form out of elemental essence.

102. Các thiên thần thao tác này là những “trường năng lượng tạo cấu trúc” tạo ra hình tướng từ Tinh chất hành khí.

They will also eventually consider the interplay between the lower three and the higher four in that great atom called the physical plane.

Cuối cùng họ cũng sẽ xem xét sự tương tác giữa ba thấp và bốn cao trong nguyên tử vĩ đại ấy được gọi là cõi hồng trần.

103. It appears that each systemic plane is to be considered a great atom. This would also apply to the entire cosmic physical plane as a cosmic atom.

103. Dường như mỗi cõi hệ thống đều phải được xem là một nguyên tử vĩ đại. Điều này cũng sẽ áp dụng cho toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ như một nguyên tử vũ trụ.

104. It appears that planes are not only atoms but spirillae as well. What we call a plane depends upon the context in which we are considering it.

104. Dường như các cõi không chỉ là các nguyên tử mà còn là các loa tuyến nữa. Điều chúng ta gọi là một cõi tùy thuộc vào bối cảnh mà chúng ta đang xem xét nó.

This can be seen duplicated in the atom of the physicist or chemist.

Điều này có thể được thấy lặp lại trong nguyên tử của nhà vật lý hay nhà hoá học.

105. There is a certain interchangeability, depending on the perspective, between the atom and a spirilla. What may be considered an atom from one perspective, may be a spirilla from another and higher perspective.

105. Có một mức độ hoán đổi nhất định, tùy theo góc nhìn, giữa nguyên tử và một loa tuyến. Điều có thể được xem là một nguyên tử từ một góc nhìn này, có thể là một loa tuyến từ một góc nhìn khác và cao hơn.

Scientific students who are interested in these matters will find it worth while to consider the correspondence between these three types of energy, and that which is understood by the words, atoms, electrons, and ions.

Những đạo sinh khoa học quan tâm đến các vấn đề này sẽ thấy đáng công khi xem xét sự tương ứng giữa ba loại năng lượng này, và điều được hiểu qua các từ nguyên tử, electron, và ion.

106. The details of this will have to be worked out by the more scientifically educated members of our group. There are such.

106. Chi tiết của điều này sẽ phải được các thành viên được đào tạo khoa học hơn trong nhóm chúng ta triển khai. Có những người như thế.

107. We are dealing with the forces of the atomic subplane, the three lesser etheric subplanes, and the three dense subplanes (in three “states” of matter).

107. Chúng ta đang đề cập đến các mãnh lực của cõi phụ nguyên tử, ba cõi phụ dĩ thái thấp hơn, và ba cõi phụ đậm đặc (trong ba “trạng thái” của vật chất).

108. It is quite clear that electrons will be associated with the forces of the dense subplanes. Ions are charged particles and represent polarity. Their position then, would seem to fit with the forces of the three lower ethers. The atom itself would seem best correlated with the forces of the atomic subplane.

108. Khá rõ ràng rằng electron sẽ được liên kết với các mãnh lực của các cõi phụ đậm đặc. Ion là các hạt mang điện và biểu thị cực tính. Khi đó, vị trí của chúng dường như phù hợp với các mãnh lực của ba dĩ thái thấp. Bản thân nguyên tử dường như tương quan tốt nhất với các mãnh lực của cõi phụ nguyên tử.

Insert from Dr. Jose Becerra:

Trích từ Tiến sĩ Jose Becerra:

I realized that "the words "proton" (discovered by Rutherford in 1919) and "neutron" (discovered by Chadwick in 1932) do not exist in the AAB-DK books."

Tôi nhận ra rằng "các từ "proton" (được Rutherford khám phá năm 1919) và "neutron" (được Chadwick khám phá năm 1932) không tồn tại trong các sách của AAB-DK."

So, I think that DK meant protons (positive), electrons (negatives) and neutrons (vital form building energy). "Ions" may be a loose term for isotopes of an element, but the analogy seems to fit better with the -1, 0, +1 symmetry of the electron (-1), neutron (0) and proton (+1). Interestingly, neutrons and protons are made up of 3 quarks each (to keep the 1: 3: 3).

Vì vậy, tôi nghĩ rằng Chân sư DK muốn nói đến proton (dương), electron (âm) và neutron (năng lượng kiến tạo hình tướng sinh lực). "Ion" có thể là một thuật ngữ lỏng để chỉ các đồng vị của một nguyên tố, nhưng phép loại suy dường như phù hợp hơn với tính đối xứng -1, 0, +1 của electron (-1), neutron (0) và proton (+1). Điều thú vị là neutron và proton đều được cấu tạo từ 3 quark mỗi hạt (để giữ tỉ lệ 1: 3: 3).

AAB and DK do mention "positive electricity"

AAB và Chân sư DK quả có nhắc đến "điện dương"

Life is as positive electricity, substance negative. Life is dynamic, substance static. Life is activity or spirit, and substance form or matter. Life is the father and begets, substance is the mother and conceives. -The Soul and its Mechanism 58

Sự sống là điện dương, chất liệu là âm. Sự sống là động, chất liệu là tĩnh. Sự sống là hoạt động hay tinh thần, còn chất liệu là hình tướng hay vật chất. Sự sống là người cha và sinh ra, chất liệu là người mẹ và thụ thai. -The Soul and its Mechanism 58

TCF 325: man is essentially positive in his own nature but his vehicles are negative; hence he is the central unit of positive electricity that draws and holds to him atoms of an opposite polarity.

TCF 325: con người về bản chất của mình thì chủ yếu là dương nhưng các hiện thể của y thì âm; do đó y là đơn vị trung tâm của điện dương, thứ thu hút và giữ lại nơi y các nguyên tử có cực tính đối nghịch.

TCF 482: positive electricity, or with the energy of the positive nucleus of force within the atom, whether it is the atom of chemistry, for instance, or the human atom.

TCF 482: điện dương, hay năng lượng của hạt nhân dương của mãnh lực bên trong nguyên tử, dù đó là nguyên tử hoá học chẳng hạn, hay nguyên tử con người.

TCF 492: Fire by friction, the negative electricity of substance, has been for some time the subject of the attention of exoteric science, and investigation of the nature of positive electricity has become possible through the discovery of radium.

TCF 492: Lửa ma sát, điện âm của chất liệu, đã từ lâu là đối tượng chú ý của khoa học ngoại môn, và việc khảo cứu bản chất của điện dương đã trở nên khả hữu nhờ sự khám phá ra radium.

[JB] As the nucleus of an atom contains both neutrons and protons (except for Hydrogen with a proton only), the nucleus of any atom is positive (because protons are positive and neutrons carry no charge).

[JB] Vì hạt nhân của một nguyên tử chứa cả neutron lẫn proton (ngoại trừ Hydrogen chỉ có một proton), nên hạt nhân của bất kỳ nguyên tử nào cũng là dương (vì proton là dương còn neutron không mang điện tích).

The word "ion" could have referred to the process of radioactive decay (as in radium, interestingly, atomic number =88=number of protons). As it decays, radium gives off alpha particles, beta particles (electrons or positron), and gamma rays (light). Alpha particles consist of two protons and two neutrons bound together into a particle identical to a helium nucleus, a highly ionizing form of particle radiation.

Từ "ion" có thể đã ám chỉ tiến trình phân rã phóng xạ (như trong radium, điều thú vị là số nguyên tử =88=số proton). Khi phân rã, radium phát ra các hạt alpha, các hạt beta (electron hay positron), và tia gamma (ánh sáng). Các hạt alpha gồm hai proton và hai neutron liên kết với nhau thành một hạt giống hệt hạt nhân helium, một dạng bức xạ hạt có tính ion hoá rất cao.

An ion is an atom which has lost or gained one or more electrons, giving it a positive or negative electrical charge. Ionization is the physical process of converting an atom into an ion by adding or removing charged particles such as electrons. Examples of ionizing radiation are beta particles, neutrons, and alpha particles (as described in the radioactive decay of radium).

Một ion là một nguyên tử đã mất hoặc nhận thêm một hay nhiều electron, khiến nó mang điện tích dương hoặc âm. Ion hoá là tiến trình hồng trần chuyển đổi một nguyên tử thành một ion bằng cách thêm vào hoặc lấy đi các hạt mang điện như electron. Ví dụ về bức xạ ion hoá là các hạt beta, neutron, và các hạt alpha (như được mô tả trong sự phân rã phóng xạ của radium).

-JB

-JB

All that manifests (from God to man)84 is the result of these three types of energy or force, of their combination, their interplay, and their psychic action and reaction.

Mọi điều biểu hiện (từ Thượng đế đến con người)84 đều là kết quả của ba loại năng lượng hay mãnh lực này, của sự kết hợp, sự tương tác, và tác động cùng phản ứng thông linh của chúng.

109. We are speaking generally of the interplay of positive force, negative force and equilibrizing force.

109. Nói chung, chúng ta đang nói về sự tương tác của mãnh lực dương, mãnh lực âm và mãnh lực quân bình hoá.

110. We are dealing with a manifestational trinity of forces—1—3—3. It has broad implications microcosmically and macrocosmically. If we wish to study and apply the magical/creative process, a study of the interplay of these three forces is inevitable.

110. Chúng ta đang đề cập đến một tam vị mãnh lực biểu hiện—1—3—3. Nó có những hàm ý rộng lớn trong tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Nếu chúng ta muốn nghiên cứu và áp dụng tiến trình huyền thuật/sáng tạo, thì việc nghiên cứu sự tương tác của ba mãnh lực này là điều không thể tránh khỏi.

Footnote 84: The Secret Doctrine says that:

Chú thích 84: Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:

God, Monad, and Atom are the correspondences of Spirit, Mind and Body.—S. D., I, 679.

Thượng đế, chân thần, và nguyên tử là những tương ứng của Tinh thần, Trí tuệ và Thể.—S. D., I, 679.

111. The really interesting correlation here is that of Monad with Mind. Of course, the Monad is the architect of all patterns which materialize on the lower five systemic planes.

111. Sự tương quan thật sự thú vị ở đây là giữa chân thần và Trí tuệ. Dĩ nhiên, chân thần là kiến trúc sư của mọi mô hình hiện hình trên năm cõi hệ thống thấp hơn.

The Logos is manifesting in this mahamanvantara as Manas (the Divine Manasaputras in their totality) utilising atomic sheaths for purposes of evolution and with the aim in view of developing the second aspect of buddhi or wisdom.

Thượng đế đang biểu hiện trong Đại giai kỳ sinh hóa này như Manas (các Manasaputra Thiêng liêng trong tính toàn thể của Các Ngài) sử dụng các vỏ bọc nguyên tử cho các mục đích tiến hoá và với mục tiêu phát triển phương diện thứ hai của Bồ đề hay minh triết.

112. We presume that DK is speaking of the Solar Logos as He mentions the mahamanvantara—the time unit which correlates with the life demonstration of the Solar Logos.

112. Chúng ta giả định rằng Chân sư DK đang nói về Thái dương Thượng đế vì Ngài đề cập đến Đại giai kỳ sinh hóa—đơn vị thời gian tương ứng với sự biểu lộ sự sống của Thái dương Thượng đế.

113. The “Divine Manasaputras in their totality” include all the Planetary Logoi and all the lesser Manasaputras such as Solar Angels.

113. “Các Manasaputras Thiêng liêng trong tính toàn thể của Các Ngài” bao gồm mọi Hành Tinh Thượng Đế và mọi Manasaputras nhỏ hơn như các Thái dương Thiên Thần.

114. There is something here that should not escape our notice: wisdom is given as the second aspect of buddhi. Presumably, love is the first aspect.

114. Ở đây có một điều không nên thoát khỏi sự chú ý của chúng ta: minh triết được nêu ra như là phương diện thứ hai của Bồ đề. Có lẽ bác ái là phương diện thứ nhất.

115. In a way, wisdom is ‘older’ than ‘love’, relating more to the previous solar system.

115. Theo một nghĩa nào đó, minh triết “cổ xưa” hơn “bác ái”, liên hệ nhiều hơn với hệ mặt trời trước đây.

Wisdom must have manas, or intelligent mind for its basis.

Minh triết phải có manas, hay trí tuệ thông minh, làm nền tảng của nó.

116. Manas, here, correlates with the material/substantial sheaths through which consciousness develops.

116. Ở đây, manas tương ứng với các thể vỏ vật chất/chất liệu mà qua đó tâm thức phát triển.

117. Buddhi is based upon manas just as wisdom is based upon knowledge.

117. Bồ đề được đặt nền trên manas cũng như minh triết được đặt nền trên tri thức.

He [the Solar Logos] is the sumtotal of Intelligence, evolving in order to develop Love.

Ngài [Thái dương Thượng đế] là tổng thể của Trí Tuệ, tiến hoá để phát triển Bác Ái.

118. We are speaking of the relationship between the Primordial Ray and the Divine Ray emerging from and through primordial processes.

118. Chúng ta đang nói về mối liên hệ giữa cung Nguyên Sơ và cung Thiêng liêng xuất hiện từ và xuyên qua các tiến trình nguyên sơ.

119. We are dealing with the relationship between the great third ray and third aspect and the emerging second ray and second aspect.

119. Chúng ta đang bàn đến mối liên hệ giữa cung ba vĩ đại và phương diện thứ ba với cung hai đang xuất hiện và phương diện thứ hai.

During the great cycle of logoic appearance it is the second type of energy which dominates

Trong chu kỳ lớn của sự sắc tướng logoic, chính loại năng lượng thứ hai là loại chi phối

120. The word “dominates” is all important as it points to the musical “dominant”—the tone known as the “fifth”, the note of the soul and of the second aspect and second ray.

120. Từ “chi phối” cực kỳ quan trọng vì nó chỉ đến “âm chủ” trong âm nhạc—âm được biết như là “quãng năm”, nốt của linh hồn và của phương diện thứ hai cùng cung hai.

and which is of evolutionary importance,

và điều vốn có tầm quan trọngtiến hoá,

121. It is the second ray and second aspect which must unfold.

121. Chính cung hai và phương diện thứ hai phải khai mở.

122. The focus of this particular solar system is not the evolution of matter but, rather, the evolution of consciousness.

122. Trọng điểm của hệ mặt trời đặc biệt này không phải là sự tiến hoá của vật chất mà đúng hơn là sự tiến hoá của tâm thức.

and this is why the etheric body which lies back of all that is visible is the most important.

và đây là lý do vì sao thể dĩ thái nằm phía sau mọi điều hữu hình là quan trọng nhất.

123. The etheric body and prana are often considered as principles. The etheric body represents the evolving second aspect. It has a close connection to both subtle and more tangible solar energy. In this instance solar energy represents the great second aspect.

123. Thể dĩ thái và prana thường được xem là các nguyên khí. Thể dĩ thái biểu hiện phương diện thứ hai đang tiến hoá. Nó có liên hệ mật thiết với cả năng lượng thái dương vi tế lẫn hữu hình hơn. Trong trường hợp này, năng lượng thái dương biểu hiện phương diện thứ hai vĩ đại.

124. The etheric body (in its higher functions) represents the Sun and the second aspect (though the violet devas of the systemic etheric subplanes are also related to the Moon). The dense physical body represents the Moon and the third aspect.

124. Thể dĩ thái (trong các chức năng cao hơn của nó) biểu hiện Mặt Trời và phương diện thứ hai (dù các thiên thần tím của các cõi phụ dĩ thái hệ thống cũng liên hệ với Mặt Trăng). Thể xác đậm đặc biểu hiện Mặt Trăng và phương diện thứ ba.

125. In our solar system and on our planet particularly, the second ray and second aspect must triumph over the third ray and third aspect.

125. Trong hệ mặt trời của chúng ta và đặc biệt trên hành tinh của chúng ta, cung hai và phương diện thứ hai phải chiến thắng cung ba và phương diện thứ ba.

This is equally true of gods, of men and of atoms.

Điều này cũng đúng như nhau đối với các vị thần, những người nam và nữ, và các nguyên tử.