← Commentary_S7_733_747

a. Either we think of Brahma, Vishnu and Shiva as expressing through the cosmic etheric planes. This is a somewhat cosmic perspective.

Trích nội dung chương

a. Either we think of Brahma, Vishnu and Shiva as expressing through the cosmic etheric planes. This is a somewhat cosmic perspective. a. Hoặc là chúng ta nghĩ về Brahma, Vishnu và Shiva như biểu lộ qua các cõi dĩ thái vũ trụ. Đây là một viễn tượng phần nào mang tính vũ trụ.


a. Either we think of Brahma, Vishnu and Shiva as expressing through the cosmic etheric planes. This is a somewhat cosmic perspective.

a. Hoặc là chúng ta nghĩ về Brahma, Vishnu và Shiva như biểu lộ qua các cõi dĩ thái vũ trụ. Đây là một viễn tượng phần nào mang tính vũ trụ.

b. Or, we spread the influence of Brahma, Vishnu and Shiva across the entire cosmic physical plane, which would ‘locate’ Brahma’s expression in that part of the cosmic physical plane which is not principled—i.e., within the lower three worlds. If we think in this manner, we will think of Brahma, Vishnu and Shiva as the Three Logoi Who surround the Solar Logos jus as the three Buddhas of Activity surround Sanat Kumara.

b. Hoặc là chúng ta trải ảnh hưởng của Brahma, Vishnu và Shiva khắp toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, điều này sẽ “định vị” sự biểu lộ của Brahma trong phần của cõi hồng trần vũ trụ vốn không phải nguyên khí—tức là, trong ba cõi thấp. Nếu chúng ta suy nghĩ theo cách này, chúng ta sẽ nghĩ về Brahma, Vishnu và Shiva như Ba Thượng đế bao quanh Thái dương Thượng đế cũng như ba Đức Phật Hoạt Động bao quanh Đức Sanat Kumara.

289. From one perspective (a higher one), the throat center of Brahma must necessarily be found only within the cosmic etheric planes.

289. Từ một viễn tượng (cao hơn), trung tâm cổ họng của Brahma tất yếu chỉ có thể được tìm thấy duy nhất trong các cõi dĩ thái vũ trụ.

290. From another perspective, however, that throat center could be found within the lower three worlds which are (cosmically considered) unprincipled planes of density rather than etheric planes.

290. Tuy nhiên, từ một viễn tượng khác, trung tâm cổ họng ấy có thể được tìm thấy trong ba cõi thấp, là những cõi (xét theo vũ trụ) không phải là các cõi nguyên khí mà là các cõi đậm đặc thay vì các cõi dĩ thái.

291. It seems to be this latter approach that DK is taking.

291. Dường như chính cách tiếp cận sau này là điều Chân sư DK đang áp dụng.

An interesting tabulation of the threefold centres

Một bảng liệt kê thú vị về các trung tâm tam phân

292. We will have to see what Master DK means by “the threefold centers”. Certainly each center has three divisions: the jewel, the petals and the support or foundation.

292. Chúng ta sẽ phải xem Chân sư DK muốn nói gì qua “các trung tâm tam phân”. Chắc chắn mỗi trung tâm đều có ba phân bộ: viên ngọc, các cánh hoa và phần nâng đỡ hay nền tảng.

293. As well, it is important to realize that Brahma, Vishnu and Shiva are all actually or potentially threefold.

293. Ngoài ra, điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng Brahma, Vishnu và Shiva tất cả đều thực sự hay tiềm tàng là tam phân.

and the three divine aspects might here be given which may prove of use to the student, though he should carefully bear in mind that these centres are for the purpose of generating and transmitting energy.

và ở đây có thể nêu ra ba phương diện thiêng liêng, điều có thể tỏ ra hữu ích cho đạo sinh, mặc dù y nên cẩn thận ghi nhớ rằng các trung tâm này nhằm mục đích tạo ra và truyền dẫn năng lượng.

294. DK is always watchful lest we over-materialize our concept of the centers, regarding them as objects rather than as energy-fields participating in the transmission and passage of energy.

294. Chân sư DK luôn cảnh giác để chúng ta không vật chất hóa quá mức khái niệm của mình về các trung tâm, xem chúng như những vật thể thay vì như những trường năng lượng tham dự vào sự truyền dẫn và sự đi qua của năng lượng.

1. The transmitter of energy on the physical plane forms the throat centre in the body of Brahma, the third aspect.

1. Đấng truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần tạo thành trung tâm cổ họng trong thể của Brahma, phương diện thứ ba.

295. What we are here discussing is all occurring with the dense physical body of the Solar Logos. This is not where solar logoic chakras are usually said to be found.

295. Điều chúng ta đang bàn đến ở đây đều đang xảy ra trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Đây không phải là nơi các luân xa logoic mặt trời thường được nói là tọa lạc.

296. We are speaking of a great deva who works upon the systemic physical plane.

296. Chúng ta đang nói về một vị thiên thần vĩ đại hoạt động trên cõi hồng trần hệ thống.

297. We remember that when speaking of the “body” of Brahma, we are speaking of the twenty-one lower subplanes (in the case of the Solar Logos) and, probably, of the eighteen lower subplanes (in the case of our Planetary Logos).

297. Chúng ta nhớ rằng khi nói về “thể” của Brahma, chúng ta đang nói về hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn (trong trường hợp của Thái dương Thượng đế) và có lẽ là mười tám cõi phụ thấp hơn (trong trường hợp của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta).

298. All the many throat centers upon the third subplane of the etheric-physical plane are as one throat center in the body of Brahma.

298. Tất cả các trung tâm cổ họng trên cõi phụ thứ ba của cõi dĩ thái-hồng trần đều như một trung tâm cổ họng trong thể của Brahma.

299. It should not be ignored however, that there are also throat centers to be found upon the third subplane of the systemic astral plane.

299. Tuy nhiên, cũng không nên bỏ qua rằng còn có các trung tâm cổ họng được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục hệ thống.

300. Yet there is no assurance that our attention should be focused on the super-etheric subplane, because the transmitters of energy are, we have been told, principally associated with atomic subplanes.

300. Tuy vậy, không có gì bảo đảm rằng sự chú ý của chúng ta nên tập trung vào cõi phụ siêu dĩ thái, bởi vì như đã được cho biết, các đấng truyền dẫn năng lượng chủ yếu liên hệ với các cõi phụ nguyên tử.

301. In anticipation of what we will discover shortly below, are we saying that the Raja Deva Lord Kshiti (or His higher systemic correspondence) is the throat center in the body of Brahma (considering Brahma as one of the three Logoi subsidiary to the Solar Logos)?

301. Để đón trước điều chúng ta sẽ khám phá ngay bên dưới, phải chăng chúng ta đang nói rằng Raja Deva Chúa Tể Kshiti (hay tương ứng hệ thống cao hơn của Ngài) là trung tâm cổ họng trong thể của Brahma (xét Brahma như một trong ba Thượng đế phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế)?

2. The transmitter of energy upon the astral plane forms the heart centre of Brahma.

2. Đấng truyền dẫn năng lượng trên cõi cảm dục tạo thành trung tâm tim của Brahma.

302. We are speaking of a great deva who works upon the systemic astral plane.

302. Chúng ta đang nói về một vị thiên thần vĩ đại hoạt động trên cõi cảm dục hệ thống.

303. Typically the heart center is to be found upon the second ether, the sub-atomic ether.

303. Thông thường trung tâm tim được tìm thấy trên dĩ thái thứ hai, dĩ thái hạ-nguyên tử.

304. Throughout the solar system, the many heart centers to be found upon the second subplane of the systemic astral plane form the heart center of Brahma (if we confine Brahma to the dense physical body of the Solar Logos)

304. Xuyên suốt hệ mặt trời, nhiều trung tâm tim được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục hệ thống tạo thành trung tâm tim của Brahma (nếu chúng ta giới hạn Brahma trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế)

305. We cannot ignore, however, the presence of a second subplane heart center upon the second subplane of the etheric-physical plane.

305. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua sự hiện diện của một trung tâm tim cõi phụ thứ hai trên cõi phụ thứ hai của cõi dĩ thái-hồng trần.

306. Just as stated in relation to the throat center of Brahma, we must look for the major focus of the transmitter of energy upon the astral plane as the atomic level of the astral plane.

306. Cũng như đã nói liên quan đến trung tâm cổ họng của Brahma, chúng ta phải tìm tiêu điểm chính yếu của đấng truyền dẫn năng lượng trên cõi cảm dục như là cấp độ nguyên tử của cõi cảm dục.

307. Obviously, the centers thus far discussed and the one discussed in the follow section, are all to be correlated with planetary and solar logoic centers found within the cosmic ethers (centers within the body of the Logos, Vishnu).

307. Hiển nhiên, các trung tâm được bàn đến cho đến nay và trung tâm được bàn trong phần tiếp theo, tất cả đều phải được tương quan với các trung tâm logoic hành tinh và mặt trời được tìm thấy trong các dĩ thái vũ trụ (các trung tâm trong thân thể của Thượng đế, Vishnu).

308. In anticipation of what we will discover shortly below, are we saying that the Raja Deva Lord Varuna (or His higher systemic correspondence) is the heart center in the body of Brahma (considering Brahma as one of the three Logoi subsidiary to the Solar Logos)?

308. Để đón trước điều chúng ta sẽ khám phá ngay bên dưới, phải chăng chúng ta đang nói rằng Raja Deva Chúa Tể Varuna (hay tương ứng hệ thống cao hơn của Ngài) là trung tâm tim trong thể của Brahma (xét Brahma như một trong ba Thượng đế phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế)?

3. The transmitter of the Word on the mental plane forms the head centre of this, the third aspect.

3. Đấng Truyền Dẫn Linh từ trên cõi trí tạo thành trung tâm đầu của phương diện thứ ba này.

309. We do not know whether this Word is transmitted upon the higher mental plane or within the lower mental plane.

309. Chúng ta không biết liệu Linh từ này được truyền trên Cõi thượng trí hay trong cõi hạ trí.

310. It is probable that we must think in terms of the Solar Logos and the fact that the higher mental plane is included within the dense physical body of the Solar Logos. In this case the transmitter concerned will work centrally on the atomic subplane of the higher mental plane.

310. Có lẽ chúng ta phải suy nghĩ theo Thái dương Thượng đế và sự kiện rằng Cõi thượng trí được bao gồm trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Trong trường hợp này, đấng truyền dẫn liên hệ sẽ hoạt động trung tâm trên cõi phụ nguyên tử của Cõi thượng trí.

311. Until the causal body of man is destroyed, we cannot speak of a head center being located on the highest level of the higher mental plane, however, there are associated head centers located on the highest levels of the systemic astral plane and the systemic physical plane. Taken all together, these head centers could be considered as contributing to the head center of Brahma (expressive within the physical body of Brahma—the lower twenty-one systemic subplanes).

311. Cho đến khi thể nguyên nhân của con người bị hủy diệt, chúng ta không thể nói về một trung tâm đầu nằm trên cấp độ cao nhất của Cõi thượng trí; tuy nhiên, có những trung tâm đầu liên hệ nằm trên các cấp độ cao nhất của cõi cảm dục hệ thống và cõi hồng trần hệ thống. Gộp tất cả lại, các trung tâm đầu này có thể được xem là góp phần vào trung tâm đầu của Brahma (biểu lộ trong thể hồng trần của Brahma—hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp hơn).

312. Perhaps there are certain petal functions within the egoic lotus (or even “jewel” functions) which should be considered part of the expression of the head center of Brahma (if we confine Brahma to the dense physical body of the Solar Logos).

312. Có lẽ có những chức năng cánh hoa nào đó trong Hoa Sen Chân Ngã (hay thậm chí những chức năng của “viên ngọc”) nên được xem là một phần của sự biểu lộ của trung tâm đầu của Brahma (nếu chúng ta giới hạn Brahma trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế).

313. It must be obvious that (in this section of text) we are considering Brahma from a very material perspective, associating Him, as we are, with the dense physical body of the Solar Logos (a body which is, cosmically, not a principle).

313. Hiển nhiên là (trong phần văn bản này) chúng ta đang xét Brahma từ một viễn tượng rất vật chất, khi liên hệ Ngài với thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế (một thể mà, xét theo vũ trụ, không phải là một nguyên khí).

314. In anticipation of what we will discover immediately below, are we saying that the Raja Deva Lord Agni (or his higher systemic correspondence) is the head center in the body of Brahma (considering Brahma as one of the three Logoi subsidiary to the Solar Logos)?

314. Để đón trước điều chúng ta sẽ khám phá ngay bên dưới, phải chăng chúng ta đang nói rằng Raja Deva Chúa Tể Agni (hay tương ứng hệ thống cao hơn của ngài) là trung tâm đầu trong thể của Brahma (xét Brahma như một trong ba Thượng đế phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế)?

These three Raja Lords, devas, or transmitters, form the three centres of logoic force in the three worlds.

Ba Raja Chúa Tể này, các thiên thần hay các đấng truyền dẫn, tạo thành ba trung tâm của mãnh lực logoic trong ba cõi thấp.

315. We have jut come to a most important statement.

315. Chúng ta vừa đi đến một phát biểu hết sức quan trọng.

316. We have approached this entire subject without mentioning that the greatest or ‘ultimate’ “Transmitters of the Word” are really Raja Deva Lords!

316. Chúng ta đã tiếp cận toàn bộ chủ đề này mà không nhắc đến rằng các “Đấng Truyền Dẫn Linh từ” lớn nhất hay ‘tối hậu’ thực ra chính là các Raja Deva Chúa Tể!

317. Since in the foregoing pages we are begin taught something of the origin of the “Transmitters of the Word”, we are also being taught about the origin of the Raja Deva Lords, for the “Transmitters” are the Raja Deva Lords! The seven "Transmitters of the Word" found on each systemic atomic subplane are not the Raja Deva Lords. They are lesser though powerful Beings. The Raja Deva Lord is the ‘ultimate’ “Transmitter” for each systemic plane and subsumes the seven within His Being.

317. Vì trong các trang trước chúng ta đang được dạy đôi điều về nguồn gốc của các “Đấng Truyền Dẫn Linh từ”, nên chúng ta cũng đang được dạy về nguồn gốc của các Raja Deva Chúa Tể, bởi các “Đấng Truyền Dẫn” chính là các Raja Deva Chúa Tể! Bảy "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" được tìm thấy trên mỗi cõi phụ nguyên tử hệ thống không phải là các Raja Deva Chúa Tể. Các Ngài là những Đấng thấp hơn nhưng đầy quyền năng. Raja Deva Chúa Tể là “Đấng Truyền Dẫn” ‘tối hậu’ cho mỗi cõi hệ thống và bao hàm bảy vị ấy trong Bản thể của Ngài.

318. Thus, so it appears, the Raja Deva Lords have origin within the "One About Whom Naught May Be Said", within the three Major Constellations, within the seven major stars of the Great Bear, within the Sun and probably are related to Planetary Logoi in our solar system senior to the Logos of our Earth. Let us ponder on this.

318. Như vậy, dường như các Raja Deva Chúa Tể có nguồn gốc trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị", trong ba Chòm Sao Chính Yếu, trong bảy ngôi sao chính yếu của Đại Hùng Tinh, trong Mặt Trời và có lẽ liên hệ với các Đức Hành Tinh Thượng Đế trong hệ mặt trời của chúng ta cao cấp hơn Đấng Logos của Trái Đất chúng ta. Hãy suy ngẫm điều này.

319. So, in DK’s statement above, we have been given a very elucidating and synthetic thought.

319. Vì vậy, trong phát biểu trên của Chân sư DK, chúng ta đã được trao cho một tư tưởng rất sáng tỏ và tổng hợp.

They are the lowest energy aspect of Brahma. [Page 922]

Các Ngài là phương diện năng lượng thấp nhất của Brahma. [Page 922]

320. Since we have just been told that the three "Transmitters of the Word" working upon the lower three systemic planes are the throat, heart and head centers of Brahma, the statement above seeks a little perplexing.

320. Vì chúng ta vừa được cho biết rằng ba "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" hoạt động trên ba cõi hệ thống thấp hơn là các trung tâm cổ họng, tim và đầu của Brahma, nên phát biểu trên có vẻ hơi khó hiểu.

321. To make sense of it, we will have to expand our conception of Brahma and the reach of His expression. There is, we see, far more to Brahma than the suggested in the foregoing discussion.

321. Để hiểu được điều đó, chúng ta sẽ phải mở rộng quan niệm của mình về Brahma và tầm với của sự biểu lộ của Ngài. Như chúng ta thấy, Brahma còn nhiều hơn rất nhiều so với điều được gợi ra trong cuộc bàn luận trước đó.

322. There are four higher Raja Deva Lords Who, presumably, are the higher energy aspect of Brahma—if we greatly expand the idea of Brahma, thinking of Him from a more cosmic perspective.

322. Có bốn Raja Deva Chúa Tể cao hơn, mà theo giả định, là phương diện năng lượng cao hơn của Brahma—nếu chúng ta mở rộng rất nhiều ý niệm về Brahma, suy nghĩ về Ngài từ một viễn tượng vũ trụ hơn.

323. From the higher perspective, Brahma rules over the entire cosmic physical plane, not just the lower three subplanes, but in such a case, we would be considering Brahma cosmically rather than systemically.

323. Từ phối cảnh cao hơn, Brahma cai quản toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, không chỉ ba cõi phụ thấp, nhưng trong trường hợp như thế, chúng ta sẽ xét Brahma theo vũ trụ luận hơn là theo hệ thống.

324. Thus, there is a cosmic way of looking at Brahma which sees Him include that which we have been calling Brahma, Vishnu and Shiva.

324. Do đó, có một cách nhìn vũ trụ về Brahma, theo đó thấy Ngài bao gồm điều mà chúng ta đã gọi là Brahma, Vishnu và Shiva.

4. The Transmitter of the Word upon the buddhic plane forms the throat centre of Vishnu, the second aspect. From thence the Word goes forth that builds the dense physical form of a Heavenly Man or of a solar Logos.

4. Đấng Truyền Dẫn Linh từ trên cõi Bồ đề tạo thành trung tâm cổ họng của Vishnu, phương diện thứ hai. Từ đó Linh từ phát ra để xây dựng hình tướng hồng trần đậm đặc của một Đấng Thiên Nhân hay của một Thái dương Thượng đế.

325. Notice we have switched our focus to Vishnu, the Lord of the second aspect and the second ray.

325. Hãy lưu ý rằng chúng ta đã chuyển trọng tâm sang Vishnu, Chúa Tể của phương diện thứ hai và cung hai.

326. We will note as we progress that the sequence of the planes will not match with the sequence of the centers.

326. Khi tiếp tục, chúng ta sẽ nhận thấy rằng trình tự các cõi sẽ không khớp với trình tự các trung tâm.

327. The buddhic plane is the lowest of the cosmic ethers and consequently relates to the lowest of the three major centers—the throat center.

327. Cõi Bồ đề là cõi thấp nhất trong các dĩ thái vũ trụ và vì thế liên hệ với trung tâm thấp nhất trong ba trung tâm chính—trung tâm cổ họng.

328. Each of the three aspects has three major centers, though it may be that the first aspect, not entirely developed in this solar system, still expresses through an undifferentiated union of the three.

328. Mỗi một trong ba phương diện đều có ba trung tâm chính, dù có thể phương diện thứ nhất, chưa phát triển hoàn toàn trong hệ mặt trời này, vẫn còn biểu lộ qua một sự hợp nhất chưa phân hoá của cả ba.

329. In the next solar system, will there be nine systemic planes for each cosmic plane? This may not be as far fetched as it may seem to be at first.

329. Trong hệ mặt trời kế tiếp, liệu sẽ có chín cõi hệ thống cho mỗi cõi vũ trụ chăng? Điều này có thể không xa vời như thoạt đầu tưởng vậy.

330. Vishnu is a “Singer” and from Him a great building “Word” goes forth. The second aspect of divinity is the building aspect, and the energy of the buddhic plane is essentially unitive and constructive.

330. Vishnu là một “Đấng Ca Xướng” và từ Ngài một “Linh từ” kiến tạo vĩ đại phát ra. Phương diện thứ hai của thiên tính là phương diện kiến tạo, và năng lượng của cõi Bồ đề về bản chất là hợp nhất và xây dựng.

331. The dense physical form of the Heavenly Man or Solar Logos is found on the lower eighteen or twenty-one subplanes.

331. Hình tướng hồng trần đậm đặc của Đấng Thiên Nhân hay Thái dương Thượng đế được tìm thấy trên mười tám hay hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn.

332. Mercury, profoundly related to the third aspect, is also related to buddhi. Mercury also is a planet of speech and articulation. We can see the function of Mercury expressive of the throat center of Vishnu on the buddhic plane.

332. Sao Thủy, liên hệ sâu xa với phương diện thứ ba, cũng liên hệ với Bồ đề. Sao Thủy cũng là một hành tinh của lời nói và sự phát âm. Chúng ta có thể thấy chức năng của Sao Thủy biểu lộ trung tâm cổ họng của Vishnu trên cõi Bồ đề.

333. The name of the Raja Deva Lord of the buddhic plane is Indra.

333. Danh xưng của Raja Deva Lord của cõi Bồ đề là Indra.

334. Indra then embodies the throat center of that one of the Three Logoi (subsidiary to the Solar Logos) Who expresses the second aspect or second ray.

334. Như vậy, Indra hiện thân cho trung tâm cổ họng của một trong Ba Thượng đế (phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế), Đấng biểu lộ phương diện thứ hai hay cung hai.

335. Another way of saying this is that Indra is the throat center of Vishnu (if we understand Vishnu to be confined to the cosmic physical plane, which really, He is not).

335. Một cách khác để nói điều này là Indra là trung tâm cổ họng của Vishnu (nếu chúng ta hiểu Vishnu bị giới hạn trong cõi hồng trần vũ trụ, điều mà thật ra Ngài không phải như vậy).

5. The Transmitter of energy upon the monadic plane forms the heart centre of Vishnu, the second aspect.

5. Đấng Truyền Dẫn năng lượng trên cõi chân thần tạo thành trung tâm tim của Vishnu, phương diện thứ hai.

336. Shall we call the Raja Deva Lord of the monadic plane, Surya?

336. Chúng ta có nên gọi Raja Deva Lord của cõi chân thần là Surya chăng?

337. Notice, we have changed the sequence of systemic planes in relation to systemic centers. This is justified considering that in our second solar system the heart aspect is preeminent over the head and will aspect.

337. Hãy lưu ý, chúng ta đã thay đổi trình tự các cõi hệ thống trong tương quan với các trung tâm hệ thống. Điều này là chính đáng nếu xét rằng trong hệ mặt trời thứ hai của chúng ta, phương diện tim là nổi trội hơn phương diện đầu và ý chí.

338. In case we might think that the Monad expresses only will, DK’s statement will show it as the expression of love as well.

338. Trong trường hợp chúng ta có thể nghĩ rằng chân thần chỉ biểu lộ ý chí, phát biểu của Chân sư DK sẽ cho thấy nó cũng là biểu lộ của bác ái.

339. Shamballa, we realize, is an expression of both head and heart, and on the monadic plane the heart expression may be stronger than the head expression, just as on the logoic plane the head expression may be stronger than the heart expression. Both of these higher two planes are ‘located’ in Shamballa (though, from another perspective, all the cosmic etheric planes are Shamballic ‘domains’).

339. Shamballa, như chúng ta nhận ra, là một biểu lộ của cả đầu lẫn tim, và trên cõi chân thần biểu lộ tim có thể mạnh hơn biểu lộ đầu, cũng như trên cõi logoic biểu lộ đầu có thể mạnh hơn biểu lộ tim. Cả hai cõi cao này đều ‘tọa lạc’ trong Shamballa (dù từ một phối cảnh khác, tất cả các cõi dĩ thái vũ trụ đều là những ‘lãnh vực’ Shamballa).

6. The Transmitter of force upon the atmic plane forms the head centre of Vishnu.

6. Đấng Truyền Dẫn mãnh lực trên cõi atma tạo thành trung tâm đầu của Vishnu.

340. Head is subservient to heart—in this solar system; atma is subservient to the pure Spirit expressed through the Monad.

340. Đầu phụ thuộc vào tim—trong hệ mặt trời này; atma phụ thuộc vào Tinh thần thuần khiết được biểu lộ qua chân thần.

341. The atmic plane is the home of spiritual will, which relates to the head center.

341. Cõi atma là nơi cư ngụ của ý chí tinh thần, vốn liên hệ với trung tâm đầu.

342. Interestingly, when the major chakras are being aligned with the systemic planes, the head center is assigned to the atmic plane. (cf. TCF 165)

342. Điều đáng chú ý là khi các luân xa chính được chỉnh hợp với các cõi hệ thống, trung tâm đầu được gán cho cõi atma. (xem TCF 165)

5. That above the top of the head, which is the crown, and has relation with the atmic plane. (TCF 165)

5. Cái ở phía trên đỉnh đầu, tức là vương miện, và có liên hệ với cõi atma. (TCF 165)

343. From another perspective, the second aspect (the solar fire aspect) of Agni expresses through the monadic plane, the atmic plane and the buddhic plane. This is confirmed in the discussion we are undertaking.

343. Từ một phối cảnh khác, phương diện thứ hai (phương diện lửa thái dương) của Agni biểu lộ qua cõi chân thần, cõi atma và cõi Bồ đề. Điều này được xác nhận trong cuộc bàn luận mà chúng ta đang tiến hành.

He [Lord Agni] shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as 'fire by friction' on the fifth, sixth and seventh. (TCF 521-522)

Ngài [Lord Agni] biểu lộ như lửa thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như 'Lửa ma sát' trên cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522)

This tabulation will be confusing to students unless it is realised that we are here considering these aspects only as dualities, and are dealing with one of the dual parts.

Bảng liệt kê này sẽ gây bối rối cho các đạo sinh trừ phi người ta chứng nghiệm rằng ở đây chúng ta đang xét các phương diện này chỉ như những nhị nguyên tính, và đang bàn đến một trong hai phần của nhị nguyên ấy.

344. Every time we have a three we have a nine. The Brahma and Vishnu aspects have been divided into three. The Shiva aspect has, perhaps, not yet been divided into three, though such a division is potential (and more than likely to be expressed in the next solar system).

344. Mỗi khi chúng ta có một bộ ba, chúng ta có một bộ chín. Các phương diện Brahma và Vishnu đã được chia thành ba. Phương diện Shiva có lẽ chưa được chia thành ba, dù sự phân chia như thế là tiềm tàng (và rất có thể sẽ được biểu lộ trong hệ mặt trời kế tiếp).

345. The duality here discussed concerns “man” and “deva”. We are only discussing the deva part of this duality. The deva kingdom is a feminine kingdom. Could it be that the attribution of the centers in relation to planes would change for the “man” aspect of the duality?

345. Nhị nguyên tính được bàn ở đây liên quan đến “người” và “deva”. Chúng ta chỉ đang bàn đến phần deva của nhị nguyên tính này. Giới deva là một giới nữ tính. Có thể chăng sự quy thuộc các trung tâm trong tương quan với các cõi sẽ thay đổi đối với phương diện “người” của nhị nguyên tính?

346. For devas, at least, heart is preeminent over will/mind and our Solar Logos is much more a Deva than a Man (though He is called the Grand Heavenly Man). Self-consciousness deva life within our Solar Logos outnumbers by far human life.

346. Ít nhất đối với các deva, tim nổi trội hơn ý chí/trí tuệ và Thái dương Thượng đế của chúng ta là Deva nhiều hơn là Người (dù Ngài được gọi là Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại). Sự sống deva có ngã thức bên trong Thái dương Thượng đế của chúng ta đông hơn rất nhiều so với sự sống nhân loại.

347. We have discussed six "Transmitters of the Word" and there will be, correspondingly, six “Men” to complete the duality. This gives us the number twelve.

347. Chúng ta đã bàn đến sáu "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" và tương ứng sẽ có sáu “Người” để hoàn tất nhị nguyên tính. Điều này cho chúng ta con số mười hai.

348. If we ascend to the logoic plane, and find there another duality, we shall have fourteen.

348. Nếu chúng ta thăng lên cõi logoic, và ở đó tìm thấy một nhị nguyên tính khác, chúng ta sẽ có mười bốn.

349. It is always difficult to relate systems of twelve to systems of fourteen, but the pattern we have been discussing shows one potentially significant relation between these two numbers.

349. Luôn luôn khó liên hệ các hệ thống mười hai với các hệ thống mười bốn, nhưng mô hình mà chúng ta đã bàn cho thấy một tương quan có ý nghĩa tiềm tàng giữa hai con số này.

It will be apparent that in the Vishnu aspect, for instance, which manifests upon the second plane, the energy of that plane will act as the head centre to the succeeding planes, and this apprehension, rightly grasped, will clarify the others.

Hiển nhiên là trong phương diện Vishnu, chẳng hạn, biểu lộ trên cõi thứ hai, năng lượng của cõi đó sẽ hoạt động như trung tâm đầu đối với các cõi kế tiếp, và sự lĩnh hội này, nếu được nắm bắt đúng đắn, sẽ làm sáng tỏ những điều khác.

350. DK offers a point of clarification.

350. Chân sư DK đưa ra một điểm làm sáng tỏ.

351. Every superior plane directs the processes of the planes inferior to it. The head center is the center of direction.

351. Mỗi cõi cao hơn đều định hướng các tiến trình của những cõi thấp hơn nó. Trung tâm đầu là trung tâm của sự định hướng.

352. So even though the “Transmitter of Force” upon the atmic plane forms the head center of Vishnu, the head center function (the directing function) in relation to this center is found upon the monadic plane.

352. Vì vậy, dù “Đấng Truyền Dẫn Mãnh Lực” trên cõi atma tạo thành trung tâm đầu của Vishnu, chức năng trung tâm đầu (chức năng định hướng) trong tương quan với trung tâm này lại được tìm thấy trên cõi chân thần.

353. The major center within the head center is the heart in the head—a major twelve petalled lotus. We can easily associate the heart in the head center with the monadic plane, as that center is a major second ray center within the overall field of a first-ray purpose-center.

353. Trung tâm chính yếu bên trong trung tâm đầu là tim trong đầu—một hoa sen mười hai cánh chính yếu. Chúng ta có thể dễ dàng liên kết trung tâm tim trong đầu với cõi chân thần, vì trung tâm ấy là một trung tâm cung hai chính yếu trong toàn bộ trường của một trung tâm mục đích cung một.

354. The function of a center is always relative. That which serves as a lesser center in relation to a center higher than itself, may serve as a major center in relation to a center lower than itself.

354. Chức năng của một trung tâm luôn luôn có tính tương đối. Điều phục vụ như một trung tâm nhỏ hơn trong tương quan với một trung tâm cao hơn chính nó, có thể phục vụ như một trung tâm chính trong tương quan với một trung tâm thấp hơn chính nó.

The Transmitter of the Word on the first plane of Adi is the embodiment of the throat centre of a cosmic entity.

Đấng Truyền Dẫn Linh từ trên cõi thứ nhất của Adi là hiện thân của trung tâm cổ họng của một thực thể vũ trụ.

355. The occultism continues to deepen. We are no longer speaking of a Solar Logos or Planetary Logos. The next order of Logos is a Cosmic Logos, with seven major Solar Logoi as seven major centers.

355. Huyền bí học tiếp tục đi vào chiều sâu. Chúng ta không còn nói về một Thái dương Thượng đế hay Chân Linh Hành Tinh nữa. Cấp Thượng đế kế tiếp là một Cosmic Logos, với bảy Thái dương Thượng đế chính như bảy trung tâm chính.

356. While this is the case, we cannot be sure that the “cosmic entity” is so August as a Cosmic Logos. Perhaps, the Entity is simply a Solar Logos superior to our Solar Logos.

356. Dù là như vậy, chúng ta không thể chắc rằng “thực thể vũ trụ” ấy cao cả đến mức là một Cosmic Logos. Có lẽ Thực Thể ấy chỉ đơn giản là một Thái dương Thượng đế cao hơn Thái dương Thượng đế của chúng ta.

357. Could that superior Solar Logos be the Logos of Sirius?

357. Liệu Thái dương Thượng đế cao hơn ấy có thể là Thượng đế của Sirius chăng?

358. That the “Transmitter” on the seventh/first plane represents the throat center (of Shiva) suggests a ninefold pattern. We immediately think of an allied heart and head center and wonder about their ‘location’ in relation to the planes.

358. Việc “Đấng Truyền Dẫn” trên cõi thứ bảy/thứ nhất tượng trưng cho trung tâm cổ họng (của Shiva) gợi ý một mô hình chín phân. Chúng ta lập tức nghĩ đến một trung tâm tim và trung tâm đầu tương ứng, và tự hỏi về ‘vị trí’ của chúng trong tương quan với các cõi.

359. We remember that five is the number of Brahma, seven of Vishnu and nine of Shiva.

359. Chúng ta nhớ rằng năm là con số của Brahma, bảy của Vishnu và chín của Shiva.

360. We must presume that only in the next solar system will the heart center and head center of Shiva appear. Again, will there be nine systemic planes?

360. Chúng ta phải giả định rằng chỉ trong hệ mặt trời kế tiếp thì trung tâm tim và trung tâm đầu của Shiva mới xuất hiện. Một lần nữa, liệu sẽ có chín cõi hệ thống chăng?

361. From another perspective, we remember that the "Transmitters of the Word" on the logoic plane works only on the lowest three subplanes (associated with the third ray and third aspect). We will want to find two higher types of transmitters on the second, third and fourth logoic subplanes, and a still higher type upon the atomic subplane of the logoic plane. It is on this atomic subplane that Shiva (considering His as a Raja Deva Lord) would be found.

361. Từ một phối cảnh khác, chúng ta nhớ rằng các "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" trên cõi logoic chỉ hoạt động trên ba cõi phụ thấp nhất (gắn với cung ba và phương diện thứ ba). Chúng ta sẽ muốn tìm hai loại đấng truyền dẫn cao hơn trên cõi phụ logoic thứ hai, thứ ba và thứ tư, và một loại còn cao hơn nữa trên cõi phụ nguyên tử của cõi logoic. Chính trên cõi phụ nguyên tử này mà Shiva (xét Ngài như một Raja Deva Lord) sẽ được tìm thấy.

362. We may ask whether a certain cosmic Entity embodies the entire logoic plane of our cosmic physical plane. The logoic plane has a close connection to Leo and Leo to Sirius. The link is there.

362. Chúng ta có thể hỏi liệu một Thực Thể vũ trụ nào đó có hiện thân cho toàn bộ cõi logoic của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta hay không. Cõi logoic có liên hệ mật thiết với Leo và Leo với Sirius. Mối liên kết ở đó.

From this statement will come a just realisation of our place in the cosmic scheme, and the fundamentally physical nature of the seven planes of the solar system is also here demonstrated, the nature of Brahma, or the Holy Spirit, becoming apparent.

Từ phát biểu này sẽ đến một sự chứng nghiệm đúng đắn về vị trí của chúng ta trong hệ vũ trụ, và bản chất căn bản là hồng trần của bảy cõi của hệ mặt trời cũng được chứng minh ở đây, bản chất của Brahma, hay Chúa Thánh Thần, trở nên hiển nhiên.

363. We are presented here with the possibility of an advanced realization.

363. Ở đây chúng ta được trình bày một khả năng về sự chứng nghiệm cao cấp.

364. The highest source of transmission upon our cosmic physical plane is a kind of throat center transmission, related to the third aspect. This tells us something about the third ray nature or cosmic materiality of our entire cosmic physical plane.

364. Nguồn truyền dẫn cao nhất trên cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta là một loại truyền dẫn trung tâm cổ họng, liên hệ với phương diện thứ ba. Điều này cho chúng ta biết điều gì đó về bản chất cung ba hay tính vật chất vũ trụ của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta.

365. A “just realization” (are Libra and the third ray involved?) may dawn upon us, but the matter at first is vague.

365. Một “sự chứng nghiệm đúng đắn” (có phải Thiên Bình và cung ba có liên quan chăng?) có thể lóe sáng nơi chúng ta, nhưng lúc đầu vấn đề còn mơ hồ.

366. When speaking of the throat center upon the logoic systemic plane, there may be an inference that an extension onto the cosmic astral plane is required to express the heart center and head center of Shiva.

366. Khi nói về trung tâm cổ họng trên cõi hệ thống logoic, có thể có một hàm ý rằng cần có một sự mở rộng sang cõi cảm dục vũ trụ để biểu lộ trung tâm tim và trung tâm đầu của Shiva.

367. Interestingly, the Trident of Shiva, is the same as the symbol for Neptune, Who is, in a way, one of the rulers of the cosmic astral plane.

367. Điều đáng chú ý là Tam Xoa Kích của Shiva cũng chính là biểu tượng của Sao Hải Vương, Đấng theo một nghĩa nào đó là một trong những chủ tinh của cõi cảm dục vũ trụ.

368. Seven is a material number, a number of form. Nine is a number of consciousness though also related to the third ray of matter.

368. Bảy là một con số vật chất, một con số của hình tướng. Chín là một con số của tâm thức, dù cũng liên hệ với cung ba của vật chất.

369. In the expression of Brahma and Vishnu, systemically considered, we are still very much working in the world of matter (cosmically considered).

369. Trong sự biểu lộ của Brahma và Vishnu, xét theo hệ thống, chúng ta vẫn còn đang hoạt động rất nhiều trong thế giới vật chất (xét theo vũ trụ).

370. DK seems to be pointing to the cosmic nature of Brahma or the Holy Spirit. From the cosmic perspective, the higher four systemic subplanes (i.e., the cosmic etheric planes) are the domain of Brahma/Holy Spirit.

370. Chân sư DK dường như đang chỉ đến bản chất vũ trụ của Brahma hay Chúa Thánh Thần. Từ phối cảnh vũ trụ, bốn cõi phụ hệ thống cao hơn (tức các cõi dĩ thái vũ trụ) là lãnh vực của Brahma/Chúa Thánh Thần.

371. We see that it is important to consider the context when considering the Holy Spirit, for instance. We are not only considering systemic etheric energies, but cosmic etheric energies as well.

371. Chúng ta thấy rằng điều quan trọng là phải xét ngữ cảnh khi xem xét Chúa Thánh Thần, chẳng hạn. Chúng ta không chỉ xét các năng lượng dĩ thái hệ thống, mà còn cả các năng lượng dĩ thái vũ trụ nữa.

372. From this perspective, the energy of the Holy Spirit is cosmic etheric, and the energy of the Christ aspect is an emanation of the cosmic astral plane.

372. Từ phối cảnh này, năng lượng của Chúa Thánh Thần là dĩ thái vũ trụ, và năng lượng của phương diện Christ là một phát xạ của cõi cảm dục vũ trụ.

373. From this cosmic perspective, the entire cosmic physical plane is under the sway of the third ray and the Holy Spirit.

373. Từ phối cảnh vũ trụ này, toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ nằm dưới sự chi phối của cung ba và Chúa Thánh Thần.

The old Commentary says:

Cổ Luận nói rằng:

"Brahma is One, yet includes His brother. Vishnu is One, yet existeth not apart from His brother, younger in point of time yet older far. Shiva is One, and antedates Them both, yet He appeareth not nor is He seen, until They both have cycled through Their courses."

"Brahma là Một, nhưng bao gồm huynh đệ của Ngài. Vishnu là Một, nhưng không hiện hữu tách rời huynh đệ của Ngài, trẻ hơn về thời gian nhưng lại cổ xưa hơn rất nhiều. Shiva là Một, và có trước cả Hai Vị, nhưng Ngài không xuất hiện cũng không được thấy, cho đến khi cả Hai Vị đã tuần hoàn qua các chu kỳ của Các Ngài."

374. Each of the three aspects expressing through the Gods Brahma, Vishnu and Shiva embodies the other two.

374. Mỗi một trong ba phương diện biểu lộ qua các Thượng đế Brahma, Vishnu và Shiva đều hiện thân cho hai phương diện kia.

375. From an emanationist point of view, Shiva appears first and emanates Vishnu Who emanates Brahma. Thus, with regard to origin, Shiva is oldest and Brahma is youngest.

375. Từ quan điểm xuất lộ luận, Shiva xuất hiện trước và phát xạ Vishnu, Đấng phát xạ Brahma. Do đó, xét về nguồn gốc, Shiva là cổ xưa nhất và Brahma là trẻ nhất.

376. Yet Brahma (with regard to the lower planes) manifests first, and Vishnu second.

376. Tuy nhiên Brahma (xét về các cõi thấp) biểu lộ trước, và Vishnu biểu lộ thứ hai.

377. One can, therefore, be “younger in point of time” on the planes of manifestation, but older in terms of subjective duration.

377. Vì vậy, một Đấng có thể “trẻ hơn về thời gian” trên các cõi biểu lộ, nhưng cổ xưa hơn xét theo thời lượng chủ quan.

378. We all know that the Spirit or Shiva aspect doest not express within the fields of manifestation until a vehicle for manifestation and a consciousness suitable for such manifestation has been built by both Brahma and Vishnu. Yet, for all that, Shiva appeared on the highest planes first.

378. Tất cả chúng ta đều biết rằng phương diện Tinh thần hay Shiva không biểu lộ trong các trường biểu lộ cho đến khi một vận cụ biểu lộ và một tâm thức thích hợp cho sự biểu lộ ấy đã được cả Brahma lẫn Vishnu xây dựng. Tuy vậy, bất chấp điều đó, Shiva đã xuất hiện trên các cõi cao nhất trước tiên.

The above sevenfold tabulation can be, under the law of correspondences, applied equally to every plane,

Bảng thất phân trên đây, theo định luật tương ứng, có thể được áp dụng đồng đều cho mọi cõi,

379. This we have suspected and suggestions have been made.

379. Điều này chúng ta đã nghi ngờ và những gợi ý cũng đã được đưa ra.

380. Are we to locate the highest Transmitters of the Word for a particular systemic plane on the three lowest sub-subplanes of the atomic subplane of a particular plane? The analogy is clear, is it not? Though clear, we cannot know whether the assumption is true.

380. Liệu chúng ta có phải định vị các Đấng Truyền Dẫn Linh từ cao nhất cho một cõi hệ thống nhất định trên ba cõi phụ-phụ thấp nhất của cõi phụ nguyên tử của một cõi nhất định chăng? Sự tương đồng thì rõ ràng, phải không? Dù rõ ràng, chúng ta không thể biết giả định ấy có đúng hay không.

381. If we are to take the large cosmic physical plane picture and collapse it onto the systemic planes, naturally the sub-subplanes will have to play their role.

381. Nếu chúng ta lấy bức tranh lớn của cõi hồng trần vũ trụ và thu gọn nó xuống các cõi hệ thống, dĩ nhiên các cõi phụ-phụ sẽ phải đóng vai trò của chúng.

for the transmitters and workers on each plane form similar groups.

vì các đấng truyền dẫn và những người hoạt động trên mỗi cõi tạo thành những nhóm tương tự.

382. Parallel groups…

382. Các nhóm song song…

Equally well can man consider this tabulation in connection with his seven centres, and from a study [Page 923] of the two together he will gain knowledge as to the type of energy which flows through any particular centre.

Con người cũng có thể xét bảng liệt kê này trong liên hệ với bảy trung tâm của mình, và từ việc nghiên cứu [Page 923] cả hai cùng nhau, y sẽ đạt được tri thức về loại năng lượng chảy qua bất kỳ trung tâm đặc thù nào.

383. We will try to follow the parallels existing between the macrocosm and the microcosm.

383. Chúng ta sẽ cố gắng theo dõi những sự song hành hiện hữu giữa Đại thiên địa và Tiểu thiên địa.

384. Man’s three lower centers representing the World of Brahma, are the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus center.

384. Ba trung tâm thấp của con người, tượng trưng cho Thế Giới của Brahma, là trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương.

385. With regard to the microcosm, the throat center of Brahma will correlate with man’s etheric mechanism and etheric centers in general.

385. Xét về Tiểu thiên địa, trung tâm cổ họng của Brahma sẽ tương ứng với bộ máy dĩ thái của con người và các trung tâm dĩ thái của y nói chung.

386. The heart center of Brahma will correlate with man’s astral body and his astral centers.

386. Trung tâm tim của Brahma sẽ tương ứng với thể cảm dục của con người và các trung tâm cảm dục của y.

387. The head center of Brahma will correlate with man’s mental centers and with his mental body.

387. Trung tâm đầu của Brahma sẽ tương ứng với các trung tâm trí tuệ của con người và với thể trí của y.

388. Man’s life as Vishnu begins on the higher mental plane in his soul nature. The spiritual triad as a whole is an instrument of Vishnu.

388. Sự sống của con người như Vishnu bắt đầu trên Cõi thượng trí trong bản chất linh hồn của y. Tam Nguyên Tinh Thần như một toàn thể là một công cụ của Vishnu.

389. However, if we follow the pattern previously laid out, we will have to look to man’s buddhic vehicle as the areas of expression for the throat center of Vishnu. This will involve man’s heart center, the organ of buddhi.

389. Tuy nhiên, nếu chúng ta theo mô hình đã được trình bày trước đó, chúng ta sẽ phải tìm nơi thể Bồ đề của con người như những khu vực biểu lộ cho trung tâm cổ họng của Vishnu. Điều này sẽ liên quan đến trung tâm tim của con người, cơ quan của Bồ đề.

390. The head center of Vishnu will express through the atmic vehicle and through the head center in general.

390. Trung tâm đầu của Vishnu sẽ biểu lộ qua vận cụ atma và qua trung tâm đầu nói chung.

391. The heart center of Vishnu will express through his monadic vehicle and through the heart in the head center.

391. Trung tâm tim của Vishnu sẽ biểu lộ qua vận cụ chân thần của y và qua tim trong trung tâm đầu.

392. Chakras are like planets. Through every planet all energies flow—ray energies, planetary energies, zodiacal energies and of course the energy of the great “Transmitters” and their numerous emanative subdivisions. Thus it will be for the chakras of the human being.

392. Các luân xa giống như các hành tinh. Qua mỗi hành tinh, mọi năng lượng đều lưu chuyển—năng lượng cung, năng lượng hành tinh, năng lượng hoàng đạo và dĩ nhiên là năng lượng của các “Đấng Truyền Dẫn” vĩ đại cùng vô số phân bộ phát xạ của Các Ngài. Đối với các luân xa của con người cũng sẽ như vậy.

393. We have been trying to see which particular "Transmitter of the Word" sends forth a major conditioning energy to a particular chakra in man.

393. Chúng ta đã cố gắng xem "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" đặc thù nào phát ra một năng lượng tác động chính yếu đến một luân xa đặc thù nơi con người.

These transmitters likewise can be heard sounding forth the Word with particular force and power in that planetary scheme which corresponds to their note and is keyed to their vibration.

Các đấng truyền dẫn này cũng có thể được nghe thấy đang xướng Linh từ với mãnh lực đặc thù và quyền năng trong hệ hành tinh tương ứng với âm điệu của các Ngài và được điều chỉnh theo rung động của các Ngài.

394. The "Transmitters of the Word" are, effectively, solar systemic Beings regardless of their threefold cosmic origin. In an ‘ultimate’ sense, there are seven of them and there are seven major planets. One of the major planets will correlate with one particular "Transmitter of the Word" (i.e., with one particular Raja Deva Lord), just as one particular planet correlates with one particular star in the Great Bear and with one particular constellation within the chakra system of the "One About Whom Naught May Be Said" (though three constellational chakras are major and may subsume all the seven, just as there are only three Techniques of Fusion operative for all seven soul types).

394. Các "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" thực chất là những Hữu thể hệ thống mặt trời, bất kể nguồn gốc vũ trụ tam phân của các Ngài. Theo nghĩa ‘tối hậu’, có bảy vị như thế và có bảy hành tinh chính. Một hành tinh chính sẽ tương ứng với một "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" đặc thù (tức với một Raja Deva Lord đặc thù), cũng như một hành tinh đặc thù tương ứng với một ngôi sao đặc thù trong Đại Hùng Tinh và với một chòm sao đặc thù trong hệ luân xa của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” (dù ba luân xa chòm sao là chính và có thể bao hàm cả bảy, cũng như chỉ có ba Kỹ Thuật Dung Hợp hoạt động cho cả bảy loại linh hồn).

395. One wonders, given the cosmic astral polarization of our Planetary Logos and His second ray soul, whether the "Transmitter of the Word" for the astral plane is not the one sounding with particular force and power upon our planet—at this time.

395. Người ta tự hỏi, xét đến sự phân cực cảm dục vũ trụ của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và linh hồn cung hai của Ngài, liệu "Đấng Truyền Dẫn Linh từ" cho cõi cảm dục có phải là vị đang xướng lên với mãnh lực và quyền năng đặc thù trên hành tinh của chúng ta—vào lúc này—hay không.

The planetary schemes, therefore, will fall into a similar grouping, and this will open up for students a vast field of conjecture.

Do đó, các hệ hành tinh sẽ rơi vào một cách phân nhóm tương tự, và điều này sẽ mở ra cho các đạo sinh một lãnh vực phỏng đoán rộng lớn.

396. Well, great vistas are unfolding. We are working through quite an extraordinary part of TCF. Great extensions of thought are possible.

396. Những viễn cảnh lớn lao đang mở ra. Chúng ta đang làm việc qua một phần thật phi thường của TCF. Những mở rộng lớn lao của tư tưởng là điều có thể.

397. DK is asking us to divide the planets according to the pattern of 1—3—3.

397. Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta phân chia các hành tinh theo mô hình 1—3—3.

398. It is easier to divide the planets into 3—3—3 with Mercury retaining its mobile, relational function.

398. Sẽ dễ hơn nếu chia các hành tinh thành 3—3—3 với Sao Thủy vẫn giữ chức năng linh động và liên hệ của nó.

a. Uranus/Neptune/Saturn (Synthesizing)

a. Sao Thiên Vương/Sao Hải Vương/Sao Thổ (Tổng hợp)

b. Jupiter/Venus/Vulcan (Sacred but not Synthesizing)

b. Sao Mộc/Sao Kim/Vulcan (Thiêng liêng nhưng không Tổng hợp)

c. Earth/Mars/Pluto (Non-sacred)

c. Trái Đất/Sao Hỏa/Sao Diêm Vương (Không thiêng liêng)

399. When it comes to a division within a field of seven—seven sacred planets for instance, we might have—

399. Khi nói đến một sự phân chia trong một trường bảy—chẳng hạn bảy hành tinh thiêng liêng—chúng ta có thể có—

a. Neptune, the hypothetical ultimate synthesizers in the second ray solar system

a. Sao Hải Vương, đấng tổng hợp tối hậu giả định trong hệ mặt trời cung hai

b. Uranus/Saturn/Jupiter

b. Sao Thiên Vương/Sao Thổ/Sao Mộc

c. Mercury/Venus/Vulcan

c. Sao Thủy/Sao Kim/Vulcan

400. If we wish to correlate these planets with the planes involved in the activities of the "Transmitters of the Word", we might have

400. Nếu chúng ta muốn tương quan các hành tinh này với các cõi liên quan trong hoạt động của các "Đấng Truyền Dẫn Linh từ", chúng ta có thể có

a. Uranus representing the logoic plane—the "Sea of Fire" related to Leo

a. Sao Thiên Vương tượng trưng cho cõi logoic—“Biển Lửa” liên hệ với Leo

b. Neptune representing the monadic plane, the ‘Home’ of the love aspect of Sanat Kumara, the Great Sacrifice

b. Sao Hải Vương tượng trưng cho cõi chân thần, ‘Quê Nhà’ của phương diện bác ái của Đức Sanat Kumara, Đại Hy Sinh

c. Saturn representing the atmic plane which it is said to rule (cf. EA 35)

c. Sao Thổ tượng trưng cho cõi atma mà nó được nói là cai quản (xem EA 35)

d. Jupiter representing the buddhic plane, fittingly

d. Sao Mộc tượng trưng cho cõi Bồ đề, thật thích hợp

e. Mercury (the planet of mentality) representing the mental plane

e. Sao Thủy (hành tinh của trí tuệ) tượng trưng cho cõi trí

f. Venus (with its sixth ray Monad) representing the astral plane,

f. Sao Kim (với chân thần cung sáu của nó) tượng trưng cho cõi cảm dục,

g. Vulcan (so related to material processes) representing the systemic physical plane.

g. Vulcan (liên hệ rất nhiều với các tiến trình vật chất) tượng trưng cho cõi hồng trần hệ thống.

401. There is no way for us to presently ascertain which is the final synthesizing planet—Neptune or Uranus. There would be good reasons to select either one.

401. Hiện nay chúng ta không có cách nào xác định hành tinh tổng hợp cuối cùng là Sao Hải Vương hay Sao Thiên Vương. Có những lý do xác đáng để chọn một trong hai.

The seven Prajapatis fall into two groups of three, with one dominating.

Bảy Prajapatis rơi vào hai nhóm ba, với một vị chi phối.

402. We can consider these Prajapatis are related to the planets conventionally considered:

402. Chúng ta có thể xem các Prajapatis này có liên hệ với các hành tinh được quy ước xem xét như sau:

a. Sun (veiling Uranus—the “mystery planet”)

a. Mặt Trời (che giấu Sao Thiên Vương—“hành tinh bí ẩn”)

b. Mercury

b. Sao Thủy

c. Venus

c. Sao Kim

d. Earth

d. Trái Đất

e. Mars

e. Sao Hỏa

f. Jupiter

f. Sao Mộc

g. Saturn

g. Sao Thổ

403. Or we can consider them in relation to the seven sacred planets.

403. Hoặc chúng ta có thể xem xét chúng trong tương quan với bảy hành tinh thiêng liêng.

a. Vulcan

a. Vulcan

b. Mercury

b. Sao Thủy

c. Venus

c. Sao Kim

d. Jupiter

d. Sao Mộc

e. Saturn

e. Sao Thổ

f. Uranus

f. Sao Thiên Vương

g. Neptune

g. Sao Hải Vương

404. If we look at the entire solar system, there are certainly more than seven Prajapatis or “Mind-born Sons”.

404. Nếu chúng ta nhìn vào toàn bộ hệ mặt trời, chắc chắn có nhiều hơn bảy Prajapatis hay “Các Con sinh ra từ Trí Tuệ”.

Students will do well to remember in studying the solar system, the planes, the schemes, man and the atom, that the groupings of the lines or streams of energy during the evolutionary cycles fall naturally into four divisions:

Khi nghiên cứu hệ mặt trời, các cõi, các hệ hành tinh, con người và nguyên tử, các đạo sinh sẽ làm tốt nếu ghi nhớ rằng các nhóm đường hay dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hoá tự nhiên rơi vào bốn phân chia:

405. And there are other divisions as well, involving the figures 5 and 2, as well as 6 and 1.

405. Ngoài ra còn có những phân chia khác nữa, liên quan đến các con số 5 và 2, cũng như 6 và 1.

1. 1-3-3

1. 1-3-3

406. This is the division which we have been studying.

406. Đây là phân chia mà chúng ta đã nghiên cứu.

407. It represents the dominant Shiva aspect over the equally balanced Vishnu and Brahma aspects.

407. Nó biểu thị phương diện Shiva trội vượt trên các phương diện Vishnu và Brahma đang ở thế quân bình ngang nhau.

2. 4-3

2. 4-3

408. This is the etheric subdivision. It represents the four systemic ethers preeminent over the three denser systemic subplanes of the systemic etheric-physical plane.

408. Đây là phân khu dĩ thái. Nó biểu thị bốn dĩ thái hệ thống trội vượt trên ba cõi phụ hệ thống đậm đặc hơn của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.

409. This division also suggests the four cosmic ethers in their relation to the three lower systemic planes.

409. Phân chia này cũng gợi ra bốn dĩ thái vũ trụ trong tương quan của chúng với ba cõi hệ thống thấp hơn.

3. 3-4

3. 3-4

410. This division suggests the triangle of spirit hovering over the quaternary.

410. Phân chia này gợi ra tam giác của tinh thần lơ lửng trên bộ tứ.

411. It is outpictured for us on the mental plane with the division of the threefold higher mental plane above the four concrete subplanes.

411. Điều này được biểu hiện thành hình ảnh cho chúng ta trên cõi trí với sự phân chia của cõi thượng trí tam phân ở trên bốn cõi phụ cụ thể.

412. We can imagine this as the triangle over the square.

412. Chúng ta có thể hình dung điều này như tam giác ở trên hình vuông.

4. 3-1-3

4. 3-1-3

413. This division suggests the fourth plane or subplane as the central meeting point for the higher and lower triad. The fourth ether and the fourth or buddhic plane thus become important.

413. Phân chia này gợi ra cõi thứ tư hay cõi phụ thứ tư như điểm gặp gỡ trung tâm cho tam nguyên tinh thần cao hơn và tam nguyên thấp hơn. Vì thế dĩ thái thứ tư và cõi thứ tư hay cõi Bồ đề trở nên quan trọng.

Division 1 can be understood under the law of correspondences when the nature of the atomic plane of the solar system, the three cosmic etheric planes, and the three planes of human endeavour are investigated in connection with each other.

Phân chia 1 có thể được thấu hiểu theo định luật tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của hệ mặt trời, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi của nỗ lực nhân loại được khảo cứu trong mối liên hệ với nhau.

414. This is the mode of division which we have been examining through a greater part of this commentary.

414. Đây là phương thức phân chia mà chúng ta đã khảo sát trong phần lớn bản luận giải này.

Division 2 becomes easier of comprehension when the close relation between the four cosmic etheric planes and the three lower planes is grasped. This can be illuminated by a study of the four physical ethers and the three lower subplanes of our physical plane.

Phân chia 2 trở nên dễ hiểu hơn khi mối liên hệ chặt chẽ giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp hơn được nắm bắt. Điều này có thể được soi sáng bằng việc nghiên cứu bốn dĩ thái hồng trần và ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần của chúng ta.

415. As stated.

415. Như đã nói.

416. This is the division towards which we are all striving during the coming Aquarian Age in which the seventh ray (the etheric ray) will become so important.

416. Đây là phân chia mà tất cả chúng ta đang phấn đấu hướng tới trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp đến, trong đó cung bảy (cung dĩ thái) sẽ trở nên rất quan trọng.

417. We have been engrossed (literally) in the lower three subplanes. We are trying to shift our attention into the four etheric subplanes—at least into the first two which are relatively exoteric. Ideally, the shift will involve the second subplane whereon the heart center will be found.

417. Chúng ta đã bị cuốn chặt (theo nghĩa đen) vào ba cõi phụ thấp hơn. Chúng ta đang cố gắng chuyển sự chú ý của mình vào bốn cõi phụ dĩ thái—ít nhất là vào hai cõi đầu vốn tương đối ngoại môn. Lý tưởng nhất, sự chuyển dịch sẽ bao gồm cõi phụ thứ hai, nơi trung tâm tim sẽ được tìm thấy.

418. DK suggests that we should study the relationship between etheric subplanes and dense subplanes on our systemic etheric-physical plane if we wish more deeply to understand our cosmic etheric planes.

418. Chân sư DK gợi ý rằng chúng ta nên nghiên cứu mối liên hệ giữa các cõi phụ dĩ thái và các cõi phụ đậm đặc trên cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống của chúng ta nếu muốn thấu hiểu sâu hơn các cõi dĩ thái vũ trụ của mình.

Division 3 finds the clue to its mystery in the constitution of the mental plane, with its three formless levels, and its four levels of form.

Phân chia 3 tìm thấy manh mối cho huyền nhiệm của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cấp độ vô tướng và bốn cấp độ hữu tướng.

419. As stated.

419. Như đã nói.

420. Here we find our first really meaningful division into rupa (form) and arupa (formless) worlds.

420. Ở đây chúng ta tìm thấy sự phân chia đầu tiên thật sự có ý nghĩa thành các thế giới rupa (hình tướng) và arupa (vô tướng).

421. The higher three levels of the mental plane are not really an arupa world (at least from the perspective of the Solar Logos), but, relatively, they are when compared to the concrete nature of the eighteen lower subplanes.

421. Ba cấp độ cao hơn của cõi trí thật ra không phải là một thế giới arupa (ít nhất từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế), nhưng một cách tương đối, chúng là như vậy khi so với bản chất cụ thể của mười tám cõi phụ thấp hơn.

422. The whole question of approaching the soul comes up in the relation between the higher three and the lower four. This involves the first section of the antahkarana and admits of a growing soul infusion.

422. Toàn bộ vấn đề tiếp cận linh hồn xuất hiện trong mối liên hệ giữa ba phần cao hơn và bốn phần thấp hơn. Điều này bao hàm phần đầu tiên của antahkarana và cho phép sự thấm nhuần linh hồn ngày càng tăng.

423. The goal is the achievement of the triangle within the square.

423. Mục tiêu là đạt được tam giác bên trong hình vuông.

Division 4 can be grasped as the student arrives at a comprehension of his own nature as a spiritual triad, an egoic body and a threefold lower man.

Phân chia 4 có thể được nắm bắt khi đạo sinh đi đến chỗ thấu hiểu bản chất của chính mình như là một Tam Nguyên Tinh Thần, một thể chân ngã và một phàm nhân thấp hơn tam phân.

424. Here the division is slightly different from that suggested above.

424. Ở đây sự phân chia hơi khác với điều đã được gợi ra ở trên.

425. The division here suggested concerns the vehicles within man’s energy system rather than the planes, although focus on the etheric subplane and the buddhic plane as the middle point between the three and three is also legitimate.

425. Sự phân chia được gợi ra ở đây liên quan đến các vận cụ bên trong hệ thống năng lượng của con người hơn là các cõi, mặc dù việc tập trung vào cõi phụ dĩ thái và cõi Bồ đề như điểm giữa giữa ba và ba cũng là chính đáng.

426. Notice in relation to Division 4, the Monad is left out of the picture.

426. Hãy lưu ý rằng trong tương quan với Phân chia 4, chân thần bị bỏ ra ngoài bức tranh.

He can likewise approach the first division in a similar manner, and view himself as a primary force or Monad, a triple secondary [Page 924] force or Ego, and a threefold lower energy, or personality,

Y cũng có thể tiếp cận phân chia thứ nhất theo cách tương tự, và xem chính mình như một mãnh lực sơ cấp hay chân thần, một mãnh lực thứ cấp tam phân [Page 924] hay chân ngã, và một năng lượng thấp hơn tam phân, hay phàm ngã,

427. Yes, this fits very well. We would be dealing then with the three periodical vehicles.

427. Đúng vậy, điều này rất phù hợp. Khi đó chúng ta sẽ đề cập đến ba hiện thể chu kỳ.

428. The more permanent Ego, let us remember, is the spiritual triad.

428. Xin nhớ rằng chân ngã bền vững hơn chính là Tam Nguyên Tinh Thần.

429. We see there are number of ways for us to apply these divisions.

429. Chúng ta thấy có nhiều cách để áp dụng các phân chia này.

remembering that we are here dealing only with creative energy and with the Brahma aspect of manifestation as it co-ordinates itself with the Vishnu aspect.

hãy nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang đề cập đến năng lượng sáng tạo và đến phương diện Brahma của biểu hiện khi nó tự phối hợp với phương diện Vishnu.

430. The emphasis in this section of the book is very much on the deva kingdom which represents the deva aspect of the duality “man and deva”.

430. Trọng tâm trong phần này của cuốn sách đặt rất nhiều vào giới thiên thần, giới này biểu thị phương diện thiên thần của nhị nguyên tính “con người và thiên thần”.

431. The devas as a whole represent largely the third or creative aspect. The name which Master DK prefers for the third ray is the “Ray of Creative Intelligence”.

431. Các thiên thần nói chung phần lớn biểu thị phương diện thứ ba hay phương diện sáng tạo. Tên gọi mà Chân sư DK ưa dùng cho cung ba là “Cung của Trí Tuệ Sáng Tạo”.

432. The devas are related most to the third and second aspects of divinity whereas man is related to the second and first aspects.

432. Các thiên thần liên hệ nhiều nhất với các phương diện thứ ba và thứ hai của thiên tính, trong khi con người liên hệ với các phương diện thứ hai và thứ nhất.

The Transmitters of Prana. We have in an earlier section of this treatise considered somewhat the devas who are the transmitters of prana for the etheric body of man and of the planet.

Các Đấng Truyền Dẫn Prana. Trong một phần trước của luận thuyết này, chúng ta đã phần nào xem xét các thiên thần là những đấng truyền dẫn prana cho thể dĩ thái của con người và của hành tinh.

433. This group was called an “intermediary” group. They were called “a group of intermediary devas”.

433. Nhóm này được gọi là một nhóm “trung gian”. Họ được gọi là “một nhóm thiên thần trung gian”.

434. We can see that the "Transmitters of the Word" are related to the first aspect.

434. Chúng ta có thể thấy rằng "Các Đấng Truyền Dẫn Linh từ" liên hệ với phương diện thứ nhất.

435. We may assume that the “Transmitters of Prana” are to be related to the second or solar aspect.

435. Chúng ta có thể giả định rằng “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” phải được liên hệ với phương diện thứ hai hay phương diện thái dương.

436. The third group consists of those devas who form (or ‘structure’) the physical body of every form in manifestation. They are still devas and not elementals.

436. Nhóm thứ ba gồm những thiên thần tạo thành (hay ‘cấu trúc’) thể xác của mọi hình tướng trong biểu hiện. Họ vẫn là thiên thần chứ không phải hành khí.

They are the reflection upon the lowest plane of the Vishnu aspect of divinity;

Họ là sự phản chiếu trên cõi thấp nhất của phương diện Vishnu của thiên tính;

437. We are returning to our consideration of the etheric-physical plane and especially its etheric aspect.

437. Chúng ta đang quay lại việc xem xét cõi dĩ thái-hồng trần và đặc biệt là phương diện dĩ thái của nó.

438. The lowest plane of the Vishnu aspect of divinity is the buddhic plane.

438. Cõi thấp nhất của phương diện Vishnu của thiên tính là cõi Bồ đề.

439. The lowest plane, the etheric-physical plane (and, in this case, especially the etheric levels of the etheric-physical plane) receives the reflection of the buddhic plane. The fourth plane of the cosmic physical plane is reflected in the fourfold systemic etheric subplanes.

439. Cõi thấp nhất, cõi dĩ thái-hồng trần (và trong trường hợp này, đặc biệt là các cấp độ dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần) tiếp nhận sự phản chiếu của cõi Bồ đề. Cõi thứ tư của cõi hồng trần vũ trụ được phản chiếu trong bốn cõi phụ dĩ thái hệ thống.

440. Naturally, the “Transmitters of Prana” work within the systemic etheric planes.

440. Một cách tự nhiên, “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” hoạt động trong các cõi dĩ thái hệ thống.

the seven subplanes of our physical plane reflect in a dim and distorted fashion the three aspects,

bảy cõi phụ của cõi hồng trần của chúng ta phản chiếu một cách mờ nhạt và méo mó ba phương diện,

441. We are speaking of the systemic physical plane.

441. Chúng ta đang nói về cõi hồng trần hệ thống.

442. The Brahmic aspect is reflected in the three dense subplanes (solid, liquid and gaseous).

442. Phương diện Brahma được phản chiếu trong ba cõi phụ đậm đặc (rắn, lỏng và khí).

443. The Vishnu aspect is reflected in the etheric, super-etheric and sub-atomic subplanes of the etheric-physical plane.

443. Phương diện Vishnu được phản chiếu trong các cõi phụ dĩ thái, siêu dĩ thái và hạ nguyên tử của cõi dĩ thái-hồng trần.

444. The Shiva aspect of divinity is reflected upon the systemic atomic etheric plane.

444. Phương diện Shiva của thiên tính được phản chiếu trên cõi dĩ thái nguyên tử hệ thống.

445. In proposing this, we are simply collapsing the pattern of expression found upon the cosmic physical plane and bringing it down to the systemic physical plane.

445. Khi đề xuất điều này, chúng ta chỉ đơn giản là thu gọn mô hình biểu hiện được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ và đưa nó xuống cõi hồng trần hệ thống.

and are a shadow, dark and unrevealing, of the Godhead.

và là một cái bóng, tối tăm và không mặc khải, của Thượng đế.

446. More, however, can be revealed through the ethers than through the very lowest physical subplanes.

446. Tuy nhiên, nhiều điều có thể được mặc khải qua các dĩ thái hơn là qua các cõi phụ hồng trần thấp nhất.

This group of transmitters are responsible for three principal results, and are active along three main lines.

Nhóm các đấng truyền dẫn này chịu trách nhiệm về ba kết quả chính, và hoạt động theo ba đường lối chủ yếu.

447. We are speaking of the Transmitters of Prana, of that intermediate group of devas working between the "Transmitters of the Word" and the ‘devas of structure and formation’, as we might call them.

447. Chúng ta đang nói về Các Đấng Truyền Dẫn Prana, về nhóm thiên thần trung gian hoạt động giữa "Các Đấng Truyền Dẫn Linh từ" và các ‘thiên thần của cấu trúc và tạo thành’, như chúng ta có thể gọi họ.

They are the devas who vitalise and produce the energy of all forms of sentient life. Theirs is the life which pulsates through the etheric body of every plant and animal and of all intermediate forms of life, and which constitutes the raging fire which is seen circulating through all etheric vehicles.

Họ là những thiên thần tiếp sinh lực và tạo ra năng lượng của mọi hình thái sự sống hữu cảm. Sự sống của họ là sự sống đang đập nhịp xuyên qua thể dĩ thái của mọi thực vật và động vật cùng mọi hình thái sự sống trung gian, và cấu thành ngọn lửa dữ dội được thấy đang lưu chuyển qua mọi hiện thể dĩ thái.

448. Let us tabulate for clarity:

448. Hãy lập bảng cho rõ ràng:

a. These pranic transmitters vitalize and produce the energy of all forms of sentient life

a. Các đấng truyền dẫn prana này tiếp sinh lực và tạo ra năng lượng của mọi hình thái sự sống hữu cảm

b. Their life pulsates through the etheric body of every plant, animal, and intermediate form of life. (DK has spoken of these transitional life forms acting as bridges between adjacent kingdoms.)

b. Sự sống của họ đập nhịp xuyên qua thể dĩ thái của mọi thực vật, động vật, và hình thái sự sống trung gian. (Chân sư DK đã nói về các hình thái sự sống chuyển tiếp này như những cây cầu nối giữa các giới kế cận.)

c. Their life is seen as the raging fire circulating through the form of the etheric body.

c. Sự sống của họ được thấy như ngọn lửa dữ dội đang lưu chuyển qua hình tướng của thể dĩ thái.

Among many other functions they produce the warmth of the sun and of all bodies; they are the cause of solar, planetary, and human radiation, and they nourish and preserve all forms. They occultly mediate between the Father and the Mother on each plane, whether cosmic or systemic.

Trong nhiều chức năng khác, họ tạo ra hơi ấm của mặt trời và của mọi thể; họ là nguyên nhân của bức xạ thái dương, hành tinh và nhân loại, và họ nuôi dưỡng cũng như bảo tồn mọi hình tướng. Một cách huyền bí, họ làm trung gian giữa Cha và Mẹ trên mỗi cõi, dù là vũ trụ hay hệ thống.

449. Again let us tabulate with respect to their functions:

449. Một lần nữa, hãy lập bảng liên quan đến các chức năng của họ:

a. They produce the warmth of the sun

a. Họ tạo ra hơi ấm của mặt trời

b. They produce the warmth of all bodies

b. Họ tạo ra hơi ấm của mọi thể

c. They cause solar, planetary and human radiation

c. Họ gây ra bức xạ thái dương, hành tinh và nhân loại

d. They nourish and preserve all forms

d. Họ nuôi dưỡng và bảo tồn mọi hình tướng

e. They mediate between Father and Mother on each plane.

e. Họ làm trung gian giữa Cha và Mẹ trên mỗi cõi.

450. We can see, by examining their functions, that these devas are closely connected to the Solar Angels. Within this devic world they represent the mediating second aspect.

450. Qua việc khảo sát các chức năng của họ, chúng ta có thể thấy rằng các thiên thần này liên hệ chặt chẽ với các Thái dương Thiên Thần. Trong thế giới thiên thần này, họ biểu thị phương diện thứ hai mang tính trung gian.

They originate in the sun,

Họ phát nguyên trong mặt trời,

451. Here we seem to be talking of the physical sun and not of higher planes associated with the Sun or Solar Logos.

451. Ở đây dường như chúng ta đang nói về mặt trời hồng trần chứ không phải các cõi cao hơn liên hệ với Mặt Trời hay Thái dương Thượng đế.

and are closely related to the logoic and planetary solar plexus, for the evolutionary process, as in all manifestation, is the result of desire, acting upon the creative faculties and producing that which is objective.

và liên hệ chặt chẽ với tùng thái dương logoic và hành tinh, vì tiến trình tiến hoá, cũng như trong mọi biểu hiện, là kết quả của dục vọng tác động lên các năng lực sáng tạo và tạo ra điều khách quan.

452. We might say that we human beings have energy (prana) for that which we desire. When the desire ceases, prana seems less available to us.

452. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta, những con người, có năng lượng (prana) cho điều mà chúng ta ham muốn. Khi ham muốn chấm dứt, prana dường như ít sẵn có hơn đối với chúng ta.

453. We note that that solar plexus is the solar plexus and is a source of considerable animation within the energy system of man.

453. Chúng ta lưu ý rằng tùng thái dương ấy là tùng thái dương thái dương và là một nguồn sinh động hóa đáng kể trong hệ thống năng lượng của con người.

454. People with a highly activated solar plexus center are considered to be ‘alive’ and demonstrate enthusiasm and energy in the pursuit of what they desire.

454. Những người có trung tâm tùng thái dương được hoạt hóa mạnh được xem là ‘đầy sức sống’ và biểu lộ nhiệt tâm cùng năng lượng trong việc theo đuổi điều họ ham muốn.

They are the devas who energise the myriads of minute lives which build the etheric bodies of all that is seen and tangible,

Họ là những thiên thần tiếp năng lượng cho vô số sự sống nhỏ bé xây dựng các thể dĩ thái của mọi điều được thấy và sờ chạm được,

455. Presumably these “myriads of minute lives” are elemental in their nature, yet they could be devic.

455. Có lẽ những “vô số sự sống nhỏ bé” này có bản chất hành khí, tuy nhiên chúng có thể là thiên thần.

456. They have, however, not been called “devic”—at least not in this context.

456. Tuy nhiên, chúng đã không được gọi là “thuộc thiên thần”—ít nhất không phải trong ngữ cảnh này.

457. Devas, however, are true builders whereas elementals are built into rather than building.

457. Tuy nhiên, các thiên thần là những đấng kiến tạo đích thực, trong khi hành khí là những gì được xây vào trong hơn là tự xây dựng.

458. Yet, we are missing a discussion of those devas which go to the formation of etheric structures.

458. Tuy vậy, chúng ta đang thiếu một cuộc bàn đến về những thiên thần góp phần vào việc hình thành các cấu trúc dĩ thái.

and who are the instigators of the creative processes on the three lowest subplanes of the physical plane.

và là những vị khởi xướng các tiến trình sáng tạo trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần.

459. The Transmitters of Prana are here called “instigators” in relation to the processes on the lower subplanes of the physical plane.

459. Ở đây Các Đấng Truyền Dẫn Prana được gọi là những “vị khởi xướng” trong tương quan với các tiến trình trên các cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần.

460. Prana drives the physical form forward. Interestingly, the Rising-sign is said to animate the human being and to be possessed of “driving energies”. We might, therefore, think of them as ‘animators’ or ‘life givers’, if we understand life as vitality.

460. Prana thúc đẩy hình tướng hồng trần tiến lên. Điều thú vị là dấu hiệu mọc được nói là sinh động hóa con người và sở hữu “các năng lượng thúc đẩy”. Vì vậy, chúng ta có thể nghĩ về họ như những ‘đấng sinh động hóa’ hay ‘đấng ban sự sống’, nếu chúng ta hiểu sự sống là sinh lực.

461. Without these “Transmitters of Prana” there would be no creative processes on the three lowest subplanes of the physical plane.

461. Nếu không có những “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” này thì sẽ không có các tiến trình sáng tạo trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần.

Systemically, the devas engaged in this line of activity can be subdivided into two groups: [Page 925]

Về mặt hệ thống, các thiên thần tham gia vào đường hoạt động này có thể được phân thành hai nhóm: [Page 925]

462. So many divisions and subdivisions! It becomes necessary to keep the entire structure clear. Diagramming is needed.

462. Quá nhiều phân chia và phân chia phụ! Cần phải giữ cho toàn bộ cấu trúc được rõ ràng. Cần có sơ đồ hóa.

a. Those who work on the four higher systemic planes and from thence influence in the three worlds, producing through reflex action the desired results.

a. Những vị hoạt động trên bốn cõi hệ thống cao hơn và từ đó ảnh hưởng trong ba cõi giới, tạo ra qua tác động phản xạ các kết quả mong muốn.

463. Here our perspective is the cosmic physical plane. These “Transmitters of Prana” work upon the cosmic etheric planes.

463. Ở đây góc nhìn của chúng ta là cõi hồng trần vũ trụ. Những “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” này hoạt động trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

464. We remember that the "Transmitters of the Word" on the logoic plane worked only on the lowest three levels of that plane.

464. Chúng ta nhớ rằng "Các Đấng Truyền Dẫn Linh từ" trên cõi logoic chỉ hoạt động trên ba cấp độ thấp nhất của cõi ấy.

465. Yet “Transmitters of Prana” are lower in their nature than "Transmitters of the Word". We can see that some need of clarification lies before us.

465. Tuy nhiên, “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” lại thấp hơn về bản chất so với "Các Đấng Truyền Dẫn Linh từ". Chúng ta có thể thấy rằng trước mắt chúng ta có một nhu cầu cần được làm sáng tỏ.

466. On which of the subplanes of the logoic plane do the “Transmitters of Prana” resident on that plane actually work?

466. Trên những cõi phụ nào của cõi logoic mà các “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” cư ngụ trên cõi ấy thực sự hoạt động?

467. If we follow the analogy (remembering the “Transmitters of Prana” to be an “intermediary group”), we would expect them to be at work on the second, third and fourth subplanes of the “four higher systemic planes” under discussion, yet there are "Transmitters of the Word" working beneath those levels.

467. Nếu chúng ta theo phép tương đồng (nhớ rằng “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” là một “nhóm trung gian”), chúng ta sẽ mong đợi họ hoạt động trên các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của “bốn cõi hệ thống cao hơn” đang được bàn đến, tuy nhiên lại có những "Các Đấng Truyền Dẫn Linh từ" hoạt động bên dưới các cấp độ ấy.

b. Those who work in the three worlds of human endeavour, producing directly dense physical manifestation.

b. Những vị hoạt động trong ba cõi của nỗ lực nhân loại, trực tiếp tạo ra biểu hiện hồng trần đậm đặc.

468. Presumably these “Transmitters of Prana” do not only work on the systemic physical plane. DK here discusses the “three worlds of human endeavour”.

468. Có lẽ những “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” này không chỉ hoạt động trên cõi hồng trần hệ thống. Ở đây Chân sư DK bàn đến “ba cõi của nỗ lực nhân loại”.

469. All systemic planes must be pranically vitalized.

469. Mọi cõi hệ thống đều phải được tiếp sinh lực prana.

470. Just how ‘etheric’ are the higher four subplanes of the astral and mental planes?

470. Bốn cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi trí thật sự “dĩ thái” đến mức nào?

471. Certainly, however, the second and lower group of these “Transmitters of Prana” work within the four systemic ethers, from there “producing directly dense physical manifestation”.

471. Tuy nhiên, chắc chắn nhóm thứ hai và thấp hơn của những “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” này hoạt động trong bốn dĩ thái hệ thống, từ đó “trực tiếp tạo ra biểu hiện hồng trần đậm đặc”.

472. It becomes necessary to see on which planes the Army of the Voice work. Then, maybe, we can clarify the planes of focus for the “Transmitters of Prana”.

472. Cần phải thấy Đạo Quân của Âm Thanh hoạt động trên những cõi nào. Khi đó, có lẽ chúng ta có thể làm sáng tỏ các cõi tập trung của “Các Đấng Truyền Dẫn Prana”.

473. The following statement about the Army of the Voice must be factored into our considerations:

473. Phát biểu sau đây về Đạo Quân của Âm Thanh phải được đưa vào các cân nhắc của chúng ta:

They work only on etheric levels—either upon our physical plane or on the cosmic etheric levels. They are therefore active in the realm of maya, which is the etheric plane as we usually understand it, or upon the planes of the Spiritual Triad. They are not active on the three gross physical levels or upon the astral or mental planes, nor are they active upon the highest or logoic plane. There they are implicit or latent but not active. (R&I 179)

Họ chỉ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái—hoặc trên cõi hồng trần của chúng ta hoặc trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ. Vì vậy họ hoạt động trong lĩnh vực của ảo lực, tức là cõi dĩ thái như chúng ta thường hiểu, hoặc trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Họ không hoạt động trên ba cấp độ hồng trần thô trược, cũng không hoạt động trên cõi cảm dục hay cõi trí, và cũng không hoạt động trên cõi cao nhất hay cõi logoic. Tại đó họ hàm ẩn hay tiềm tàng nhưng không hoạt động. (R&I 179)

474. “Transmitters of Prana” work on all the four cosmic ethers, and yet, the highest members of the Army of the Voice do not. Yet earlier, “Transmitters of Prana” were to be considered members of the Army of the Voice.

474. “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” hoạt động trên tất cả bốn dĩ thái vũ trụ, thế nhưng các thành viên cao nhất của Đạo Quân của Âm Thanh thì không. Tuy nhiên trước đó, “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” đã được xem là các thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh.

All the etheric devas who transmit energy on the physical plane belong to the second division [a lower division] above enumerated, and according to the subplane on which they work come under the guidance of a greater intelligence on a corresponding plane.

Tất cả các thiên thần dĩ thái truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần đều thuộc về phân chia thứ hai [một phân chia thấp hơn] đã được liệt kê ở trên, và tùy theo cõi phụ mà họ hoạt động, họ chịu sự hướng dẫn của một trí tuệ lớn hơn trên một cõi tương ứng.

475. We are speaking of etheric devas who transmit energy on the physical plane. By this is meant the etheric-physical plane.

475. Chúng ta đang nói về các thiên thần dĩ thái truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần. Điều này có nghĩa là cõi dĩ thái-hồng trần.

476. All such devas belong to the second division, “Group b.”

476. Mọi thiên thần như thế đều thuộc về phân chia thứ hai, “Nhóm b.”

477. We are speaking here of linking the systemic etheric subplanes with the cosmic etheric planes. There are four cosmic ethers and four systemic ethers.

477. Ở đây chúng ta đang nói về việc nối kết các cõi phụ dĩ thái hệ thống với các cõi dĩ thái vũ trụ. Có bốn dĩ thái vũ trụ và bốn dĩ thái hệ thống.

478. Upon and within the cosmic ethers, there are greater intelligences than are to be found upon and within the systemic etheric subplanes. No lesser form of life is left without guidance.

478. Trên và trong các dĩ thái vũ trụ có những trí tuệ lớn hơn những gì được tìm thấy trên và trong các cõi phụ dĩ thái hệ thống. Không một hình thái sự sống thấp hơn nào bị bỏ mặc mà không có sự hướng dẫn.

479. We are being told that the various “Transmitters of Prana” on the systemic etheric subplanes are being guided by higher, and corresponding Transmitters of Prana on the cosmic etheric planes.

479. Chúng ta đang được cho biết rằng các “Các Đấng Truyền Dẫn Prana” khác nhau trên các cõi phụ dĩ thái hệ thống đang được hướng dẫn bởi các Đấng Truyền Dẫn Prana cao hơn và tương ứng trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

There are also the devas who form the attractive force of all subhuman forms, holding the forms of the three lower kingdoms of nature together in coherency,

Cũng có các thiên thần tạo thành lực hấp dẫn của mọi hình tướng dưới nhân loại, giữ cho các hình tướng của ba giới thấp trong thiên nhiên kết hợp với nhau một cách cố kết,

480. Here we may have the necessary distinction between devic life and elemental life.

480. Ở đây chúng ta có thể có được sự phân biệt cần thiết giữa sự sống thiên thần và sự sống hành khí.

481. DK seems to be speaking of a third kind of deva—not a “Transmitter of Prana” (though prana does serve coherency) but one that holds the substantial forms of all subhuman entities together.

481. Dường như Chân sư DK đang nói đến một loại thiên thần thứ ba—không phải một “Đấng Truyền Dẫn Prana” (dù prana quả có phụng sự sự cố kết) mà là một loại giữ cho các hình tướng bằng chất liệu của mọi thực thể dưới nhân loại được kết hợp với nhau.

482. Such a devic type would essential hold the elemental lives in coherency. This type of deva would be closely related to the third aspect of divinity and yet use the force of coherency which functions of the second aspect.

482. Một loại thiên thần như thế về căn bản sẽ giữ các sự sống hành khí trong trạng thái cố kết. Loại thiên thần này sẽ có liên hệ mật thiết với phương diện thứ ba của thiên tính, nhưng lại sử dụng lực cố kết vốn hoạt động thuộc phương diện thứ hai.

483. We have ben calling such devas “structural, structuring or formative” devas.

483. Chúng ta đã gọi các thiên thần như thế là các thiên thần “cấu trúc, kiến tạo cấu trúc hay tạo hình”.

and thus producing the body of manifestation of the great Entity who is the sumtotal of the life of the kingdom, and of the lesser beings who ensoul different families and groups within any specific kingdom.

và nhờ đó tạo ra thể biểu hiện của Thực Thể vĩ đại là tổng thể sự sống của giới ấy, và của các hữu thể nhỏ hơn phú linh cho những họ và nhóm khác nhau bên trong bất kỳ giới đặc thù nào.

484. This type of devic being can hold together bodies of manifestation for very great entities and for all the many differentiated lives within the “great Entity”.

484. Loại hữu thể thiên thần này có thể giữ kết hợp các thể biểu hiện cho những thực thể rất vĩ đại và cho tất cả vô số sự sống đã được biến phân bên trong “Thực Thể vĩ đại”.

485. Thus, in the course of this Commentary, we have discussed great devas who are "Transmitters of the Word", those who are “Transmitters of Prana” and those who hold in coherency those etheric forms through which the “Word” and prana are to be transmitted.

485. Vì vậy, trong tiến trình của phần Cổ Luận này, chúng ta đã bàn đến các thiên thần vĩ đại là "Đấng Truyền Dẫn Linh từ", những vị là “Đấng Truyền Dẫn Prana” và những vị giữ cho các hình tướng dĩ thái mà qua đó “Linh từ” và prana sẽ được truyền dẫn ở trong trạng thái cố kết.

486. We have been given many classifications of devas, yet some steps and links have been deliberately left out. Our task is to piece things together from what we have been given, and, indeed, we have been given enough to erect a useful hypothetical structure of inter-devic relations and deva-human relations.

486. Chúng ta đã được trao cho nhiều cách phân loại các thiên thần, tuy nhiên một số bước và mối liên kết đã được cố ý lược bỏ. Nhiệm vụ của chúng ta là ghép nối mọi điều lại với nhau từ những gì đã được trao cho, và quả thật, chúng ta đã được trao đủ để dựng nên một cấu trúc giả thuyết hữu ích về các tương quan giữa các thiên thần với nhau và giữa thiên thần với con người.