← From Bethlehem to Calvary – Alice A. Bailey song ngữ_fixed

THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN

Table of Contents

Mục Lục

Title

Tiêu đề

Contents

Nội dung

THE GREAT INVOCATION

ĐẠI KHẤN NGUYỆN

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

From Bethlehem to Calvary

Từ Bethlehem đến Calvary

CHAPTER ONE - Introductory Remarks on Initiation

CHƯƠNG MỘT - Những nhận xét mở đầu về điểm đạo

CHAPTER TWO - The First Initiation . . . The Birth at Bethlehem

CHƯƠNG HAI - Lần điểm đạo thứ nhất... Sự giáng sinh tại Bethlehem

CHAPTER THREE - The Second Initiation . . . The Baptism in Jordan

CHƯƠNG BA - Lần điểm đạo thứ hai... Phép rửa tại Jordan

CHAPTER FOUR - The Third Initiation . . . The Transfiguration on a High Mountain

CHƯƠNG BỐN - Lần điểm đạo thứ ba... Sự Biến hình trên Núi Cao

CHAPTER FIVE - The Fourth Initiation . . . The Crucifixion

CHƯƠNG NĂM - Lần điểm đạo thứ tư... Sự Đóng Đinh

CHAPTER SIX - The Fifth Initiation . . . The Resurrection and Ascension

CHƯƠNG SÁU - Lần điểm đạo thứ năm... Sự Phục Sinh và Thăng Thiên

CHAPTER SEVEN - Our Immediate Goal . . . The Founding of the Kingdom

CHƯƠNG BẢY - Mục tiêu trước mắt của chúng ta... Sự thiết lập Thiên Giới

THE ARCANE SCHOOL

TRƯỜNG ARCANE

INDEX

MỤC LỤC TRA CỨU

FROM BETHLEHEM

TỪ BETHLEHEM

TO CALVARY

ĐẾN CALVARY

THE INITIATIONS OF JESUS

NHỮNG CUỘC ĐIỂM ĐẠO CỦA ĐỨC JESUS

by

bởi

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

Index Edition

Ấn bản có Mục lục tra cứu

Published by the Lucis Publishing Companies

Do các Công ty Xuất bản Lucis ấn hành

Dedicated to

Kính tặng

M. VICTOR FOX

M. VICTOR FOX

in affectionate recognition

với sự ghi nhận trìu mến

of comradeship in service

về tình đồng chí trong phụng sự

and of an understanding heart

và về một trái tim thấu hiểu

BOOKS BY ALICE A. BAILEY

CÁC SÁCH CỦA ALICE A. BAILEY

Initiation, Human and Solar

Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương

Letters on Occult Meditation

Thư Về Tham thiền Huyền môn

The Consciousness of the Atom

Tâm Thức của Nguyên Tử

A Treatise on Cosmic Fire

Luận về Lửa Vũ Trụ

The Light of the Soul

Ánh Sáng của Linh Hồn

The Soul and its Mechanism

Linh Hồn và Bộ Máy của Nó

From Intellect to Intuition

Từ Trí Năng đến Trực Giác

A Treatise on White Magic

Luận về Chánh Thuật

From Bethlehem to Calvary

Từ Bethlehem đến Calvary

Discipleship in the New Age–Vol. I

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển I

Discipleship in the New Age–Vol. II

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển II

Problems of Humanity

Những Vấn Đề của Nhân Loại

The Reappearance of the Christ

Sự Tái Lâm của Đức Christ

The Destiny of the Nations

Định Mệnh của Các Quốc Gia

Glamour: A World Problem

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới

Telepathy and the Etheric Vehicle

Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái

The Unfinished Autobiography

Tự Truyện Chưa Hoàn Tất

Education in the New Age

Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới

The Externalisation of the Hierarchy

Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn

A Treatise on the Seven Rays:

Luận về Bảy Cung:

Vol. I–Esoteric Psychology

Quyển I–Tâm Lý Học Nội Môn

Vol. II–Esoteric Psychology

Quyển II–Tâm Lý Học Nội Môn

Vol. III–Esoteric Astrology

Quyển III–Chiêm Tinh Học Nội Môn

Vol. IV–Esoteric Healing

Quyển IV–Trị Liệu Huyền Môn

Vol. V–The Rays and the Initiations

Quyển V–Các Cung và Những Cuộc Điểm Đạo

Contents

Mục lục

Cover

Bìa

THE GREAT INVOCATION

ĐẠI KHẤN NGUYỆN

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

From Bethlehem to Calvary

Từ Bethlehem đến Calvary

CHAPTER ONE - Introductory Remarks on Initiation

CHƯƠNG MỘT - Những Nhận Xét Dẫn Nhập về Điểm Đạo

CHAPTER TWO - The First Initiation . . . The Birth at Bethlehem

CHƯƠNG HAI - Lần điểm đạo thứ nhất... Sự Giáng Sinh tại Bethlehem

CHAPTER THREE - The Second Initiation . . . The Baptism in Jordan

CHƯƠNG BA - Lần điểm đạo thứ hai... Phép Rửa tại Jordan

CHAPTER FOUR - The Third Initiation . . . The Transfiguration on a High Mountain

CHƯƠNG BỐN - Lần điểm đạo thứ ba... Cuộc Biến Hình trên Núi Cao

CHAPTER FIVE - The Fourth Initiation . . . The Crucifixion

CHƯƠNG NĂM - Lần điểm đạo thứ tư... Cuộc Đóng Đinh

CHAPTER SIX - The Fifth Initiation . . . The Resurrection and Ascension

CHƯƠNG SÁU - Lần điểm đạo thứ năm... Sự Phục Sinh và Thăng Thiên

CHAPTER SEVEN - Our Immediate Goal . . . The Founding of the Kingdom

CHƯƠNG BẢY - Mục Tiêu Trước Mắt của Chúng Ta... Sự Thiết Lập Thiên Giới

THE ARCANE SCHOOL

TRƯỜNG ARCANE

INDEX

MỤC LỤC TRA CỨU

THE GREAT INVOCATION – ĐẠI KHẤN NGUYỆN

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

FOREWORD – LỜI NÓI ĐẦU

[vii] This book goes out with the earnest wish that its effect may be wholly constructive and result in a deepening of our belief in Christ and a broader recognition of the work which He came to initiate. Many years of work as an evangelist and as a teacher in the field of Christian principles, and a difficult cycle in which I faced the problem of my own relation to Christ and to Christianity, have brought me to two definitely clear and clean cut recognitions: first, a recognition of the reality of the Individuality of Christ and of His Mission; and secondly, a recognition that the development of the Christ Consciousness and the Christ Nature in individual man, and in the race as a whole, carries with it the solution of our world problem. Most heartily do I endorse the words of Arthur Weigall when he says:

[vii] Quyển sách này ra đời với ước nguyện tha thiết rằng ảnh hưởng của nó có thể hoàn toàn mang tính xây dựng và đưa đến việc làm sâu sắc thêm niềm tin của chúng ta nơi Đức Christ, cùng một sự công nhận rộng rãi hơn đối với công trình mà Ngài đã đến để khởi xướng. Nhiều năm hoạt động với tư cách là một nhà truyền giảng và một huấn sư trong lĩnh vực các nguyên lý Ki-tô giáo, cùng một chu kỳ khó khăn trong đó tôi đối diện với vấn đề về mối liên hệ của chính tôi với Đức Christ và với Ki-tô giáo, đã đưa tôi đến hai nhận thức dứt khoát rõ ràng và rành mạch: trước hết, nhận thức về thực tại của Cá Thể Đức Christ và Sứ Mệnh của Ngài; và thứ hai, nhận thức rằng sự phát triển Tâm Thức Christ và Bản Chất Christ trong từng con người, cũng như trong toàn thể nhân loại, mang theo nó lời giải cho vấn đề thế giới của chúng ta. Tôi hết lòng tán thành những lời của Arthur Weigall khi ông nói:

“Yet the Jesus of History as distinct from the Jesus of Theology, remains ‘the way, the truth, and the life’; and I am convinced that concentration upon the historic figure of our Lord and upon His teaching can alone inspire in this Twentieth Century that fervent adherence and service which in former ages could be obtained from the average layman by the expounding of theological dogmas, the threat of hell, and the performance of elaborate rites and ceremonies.”

“Tuy nhiên, Đức Jesus của Lịch sử, khác với Đức Jesus của Thần học, vẫn là ‘con đường, chân lý và sự sống’; và tôi tin chắc rằng chỉ sự tập trung vào nhân vật lịch sử là Chúa của chúng ta và vào giáo huấn của Ngài mới có thể khơi dậy trong Thế kỷ Hai mươi này lòng gắn bó và phụng sự nhiệt thành, điều mà trong các thời đại trước kia có thể đạt được nơi người tín đồ bình thường bằng việc giảng giải các tín điều thần học, bằng lời đe dọa về địa ngục, và bằng việc cử hành những nghi lễ và nghi thức phức tạp.”

THE PAGANISM IN OUR CHRISTIANITY, BY ARTHUR WEIGALL, P. 16.

NGOẠI GIÁO TRONG KI-TÔ GIÁO CỦA CHÚNG TA, CỦA ARTHUR WEIGALL, TR. 16.

The kingdom of God is now in process of rapid formation, as all those with forward-seeing vision and a realisation of the rapidly emerging beauty and divinity of man can bear testimony. We are passing through the transition period between the old age and the new, and the true mission of Christ, so deeply and frequently obscured by theological implications and disputations, embodies in itself the coming revelation. The development of humanity guarantees the recognition of Christ and His work and its participation, consciously, in the kingdom of God.

Thiên Giới hiện đang trong tiến trình hình thành nhanh chóng, như tất cả những ai có tầm nhìn hướng về tương lai và nhận biết vẻ đẹp cùng thiên tính đang nhanh chóng hiển lộ của con người đều có thể làm chứng. Chúng ta đang đi qua giai đoạn chuyển tiếp giữa thời đại cũ và thời đại mới, và sứ mệnh đích thực của Đức Christ, vốn thường xuyên và sâu sắc bị che mờ bởi những hàm ý và tranh luận thần học, tự nó hiện thân sự mặc khải sắp đến. Sự phát triển của nhân loại bảo đảm việc công nhận Đức Christ và công trình của Ngài, cũng như sự tham dự có ý thức của nhân loại vào Thiên Giới.

The conscious evocation of the Christ Life in the human heart and our rapid integration into the kingdom of God are the immediate tasks ahead, embodying our responsibility, opportunity and destiny.

Việc gợi lên một cách có ý thức Sự Sống Christ trong trái tim con người và sự tích hợp nhanh chóng của chúng ta vào Thiên Giới là những nhiệm vụ trước mắt, hiện thân trách nhiệm, cơ hội và định mệnh của chúng ta.

In closing, I would like to offer my grateful thanks to Mr. William Cummings and Mr. Alan Murray for the willing and intelligent help they have given me. They have made the writing of this book possible. [ix]

Để kết thúc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến ông William Cummings và ông Alan Murray vì sự trợ giúp tự nguyện và sáng suốt mà các ông đã dành cho tôi. Các ông đã làm cho việc viết quyển sách này trở nên khả hữu. [ix]

From Bethlehem to Calvary

Từ Bethlehem đến Calvary

Of those who sought my crib at Bethlehem

Trong những người đã tìm máng cỏ của tôi tại Bethlehem

Heeding a voice and following a star,

Lắng nghe một tiếng gọi và đi theo một vì sao,

How many walked with me to Calvary?

Có bao nhiêu người đã cùng tôi bước đến Calvary?

It was too far.

Đường ấy quá xa.

~

~

Glory surrounded that once mangered babe,

Vinh quang đã bao quanh hài nhi từng nằm trong máng cỏ ấy,

And hope for men who struggled with their loss.

Và niềm hy vọng cho những người đang vật lộn với mất mát của mình.

But hope, fulfilled, came through my thorny crown

Nhưng hy vọng, khi thành tựu, đã đến qua mão gai của tôi

And through my cross.

Và qua thập giá của tôi.

~

~

Truth was my sword and pain the accolade

Chân lý là thanh gươm của tôi, và đau khổ là nghi lễ phong hiệp sĩ

Which I bestowed on those who followed on,

Mà tôi trao cho những ai tiếp tục đi theo,

A tethered ass the charger which I chose

Một con lừa bị buộc dây là chiến mã tôi chọn

To ride upon.

Để cưỡi lên.

~

~

Gone was the glory, then, of Bethlehem,

Bấy giờ vinh quang của Bethlehem đã qua rồi,

The gifts of Kings and Magi from the East;

Những lễ vật của các Vua và các Đạo sĩ từ phương Đông cũng qua rồi;

Gone were the multitudes and only twelve

Đám đông đã qua rồi, và chỉ mười hai người

Were at the feast.

Có mặt trong bữa tiệc.

~

~

Of humble bread served in the upper room

Bữa bánh khiêm nhường được dọn trong căn phòng trên lầu

Where that sad cup was passed from hand to hand

Nơi chiếc chén buồn ấy được chuyền từ tay này sang tay khác

In token of my love for all mankind

Như dấu chỉ tình thương của tôi dành cho toàn thể nhân loại

Within the land.

Trong xứ sở này.

~

~

When, at Gethsemane, I prayed alone

Khi, tại Gethsemane, tôi cầu nguyện một mình

That a more bitter cup might be withdrawn,

Xin chiếc chén đắng hơn được cất đi,

Ye could not watch with me one little hour

Các ngươi đã không thể thức với tôi dù chỉ một giờ ngắn ngủi

Until the Dawn!

Cho đến Bình Minh!

~

~

So many sought my crib at Bethlehem

Biết bao người đã tìm máng cỏ của tôi tại Bethlehem

Heeding a voice and following a star,

Lắng nghe một tiếng gọi và đi theo một vì sao,

But only Simon walked to Calvary—

Nhưng chỉ có Simon bước đến Calvary—

It was too far.

Đường ấy quá xa.

H. LE GALLIENNE.

H. LE GALLIENNE.

REPRINTED WITH THE KIND PERMISSION OF

ĐƯỢC TÁI IN VỚI SỰ CHO PHÉP TỬ TẾ CỦA

THE NEW YORK TIMES AND THE AUTHOR.

THE NEW YORK TIMES VÀ TÁC GIẢ.

CHAPTER ONE - Introductory Remarks on Initiation – CHƯƠNG MỘT - Những Nhận Xét Dẫn Nhập về Điểm Đạo

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG THEN CHỐT

“There is a human desire for God; but there is also a Divine desire for man. God is the supreme idea, the supreme concern and the supreme desire of man. Man is the supreme idea, the supreme concern and the supreme desire of God. The problem of God is a human problem. The problem of man is a Divine problem.... Man is the counterpart of God and His beloved from whom He expects the return of love. Man is the other person of the Divine mystery. God needs man. It is God’s will not only that He should Himself exist, but man also, the Lover and beloved.”

“Có một khát vọng của con người hướng về Thượng đế; nhưng cũng có một khát vọng Thiêng liêng hướng về con người. Thượng đế là ý tưởng tối thượng, mối quan tâm tối thượng và khát vọng tối thượng của con người. Con người là ý tưởng tối thượng, mối quan tâm tối thượng và khát vọng tối thượng của Thượng đế. Vấn đề của Thượng đế là một vấn đề của con người. Vấn đề của con người là một vấn đề Thiêng liêng.... Con người là Đối phần của Thượng đế và là kẻ được Ngài yêu thương, người mà từ đó Ngài mong chờ sự đáp trả của tình thương. Con người là ngôi vị kia của mầu nhiệm Thiêng liêng. Thượng đế cần con người. Ý Chí của Thượng đế không chỉ là Ngài tự hiện hữu, mà con người cũng hiện hữu, vừa là Người Yêu vừa là kẻ được yêu.”

WRESTLERS WITH CHRIST, BY KARL PFLEGER, P. 236.

NHỮNG NGƯỜI VẬT LỘN VỚI ĐỨC CHRIST, CỦA KARL PFLEGER, TR. 236.

1

1

[3] We are in process of passing from one religious age into another. The spiritual trends of today are steadily becoming more defined. The hearts of men have never been more open to spiritual impression than they are at this time, and the door into the very centre of reality stands wide open. Paralleling, however, this significant development is a trend in the counter direction, and materialistic philosophies and doctrines of negation are becoming increasingly prevalent. To many, the whole question of the validity of the Christian religion remains to be determined. Claims are made that Christianity has failed and that man does not need the Gospel story with its implications of divinity and its urge to service and sacrifice.

[3] Chúng ta đang trong tiến trình chuyển từ một thời đại tôn giáo này sang một thời đại tôn giáo khác. Những khuynh hướng tinh thần của ngày nay đang dần trở nên rõ nét hơn. Trái tim con người chưa bao giờ rộng mở trước ấn tượng tinh thần hơn lúc này, và cánh cửa đi vào chính trung tâm của thực tại đang mở rộng. Tuy nhiên, song hành với sự phát triển đầy thâm nghĩa này là một khuynh hướng theo chiều ngược lại, và các triết thuyết duy vật cùng những học thuyết phủ định đang ngày càng trở nên phổ biến. Đối với nhiều người, toàn bộ vấn đề về tính xác thực của tôn giáo Ki-tô vẫn còn phải được xác định. Người ta đưa ra những tuyên bố rằng Ki-tô giáo đã thất bại và con người không cần câu chuyện Phúc Âm với những hàm ý về thiên tính, cùng sự thôi thúc phụng sự và hi sinh của nó.

Is the Gospel story historically true? Is it a mystical tale of great beauty and of real teaching value but nevertheless of no vital import to the intelligent men and women of today, who pride themselves on their reasoning powers and upon their independence of ancient mental trammels and of old and dusty traditions? As to the perfection of the portrayed character of Christ there is never any question. The enemies of Christianity admit His uniqueness, His basic profundity and His understanding of the hearts of men. They recognise the intelligence of His ideas and sponsor them in their own philosophies. The developments which the Carpenter of Nazareth brought about in the fabric of human life, His social and economic ideals, and the beauty of the civilisation which could be founded upon the ethical teaching of the [4] Sermon on the Mount are frequently emphasised by many who refuse to recognise His mission as an expression of divinity. From the rational point of view, the question as to the historical accuracy of His story remains as yet unsolved, though His teaching upon the Fatherhood of God and the brotherhood of man is endorsed by the best minds of the race. Those who can move in the world of ideas, of faith and of living experience testify to His divinity and to the fact that He can be approached. But such testimony is often passed over lightly as being mystical, futile and incapable of proof. Individual belief is, after all, of no value to anyone except to the believer himself, or as it tends to increase testimony until the total assumes such proportions that it eventually becomes proof. To fall back upon the “way of belief” can be indicative of a living experience, but it can also be a form of self-hypnotism and a “way of escape” from the difficulties and problems of daily life. The effort to understand, to experiment, to experience and to express what is known and believed is frequently too difficult for the majority, and they then fall back upon a belief which is based upon the testimony of the trusted, as the easiest way out of the impasse.

Câu chuyện Phúc Âm có thật về mặt lịch sử không? Đó có phải là một câu chuyện thần bí đầy vẻ đẹp lớn lao và có giá trị giáo huấn thật sự, nhưng dẫu vậy không có tầm quan trọng thiết yếu nào đối với những người nam và nữ thông minh của ngày nay, những người tự hào về năng lực lý luận và sự độc lập của mình đối với những xiềng xích trí tuệ cổ xưa cùng các truyền thống cũ kỹ phủ bụi? Về sự hoàn hảo của tính cách được mô tả nơi Đức Christ thì không bao giờ có vấn đề gì. Những kẻ thù của Ki-tô giáo cũng thừa nhận tính độc nhất của Ngài, chiều sâu căn bản của Ngài và sự thấu hiểu của Ngài đối với trái tim con người. Họ công nhận trí tuệ trong các ý tưởng của Ngài và đưa chúng vào các triết thuyết của riêng họ. Những phát triển mà Người Thợ Mộc thành Nazareth đã đem lại trong kết cấu của đời sống nhân loại, những lý tưởng xã hội và kinh tế của Ngài, cùng vẻ đẹp của nền văn minh có thể được thiết lập trên giáo huấn đạo đức của [4] Bài Giảng trên Núi thường được nhiều người nhấn mạnh, dù họ từ chối công nhận sứ mệnh của Ngài như một biểu hiện của thiên tính. Từ quan điểm duy lý, vấn đề về độ chính xác lịch sử của câu chuyện Ngài cho đến nay vẫn chưa được giải quyết, mặc dù giáo huấn của Ngài về Tình Phụ Tử của Thượng đế và tình huynh đệ của con người được những trí tuệ ưu tú nhất của nhân loại tán thành. Những ai có thể vận hành trong thế giới của các ý tưởng, của đức tin và của kinh nghiệm sống đều làm chứng cho thiên tính của Ngài và cho sự thật rằng có thể tiếp cận Ngài. Nhưng lời chứng như thế thường bị xem nhẹ như là thần bí, vô ích và không thể chứng minh. Rốt cuộc, niềm tin cá nhân không có giá trị đối với bất cứ ai ngoài chính người tin, hoặc chỉ có giá trị khi nó có xu hướng gia tăng lời chứng cho đến khi tổng thể đạt đến những tỉ lệ lớn lao đến mức cuối cùng trở thành bằng chứng. Việc quay về “con đường của niềm tin” có thể là dấu hiệu của một kinh nghiệm sống, nhưng cũng có thể là một hình thức tự thôi miên và một “con đường thoát thân” khỏi những khó khăn và vấn đề của đời sống hằng ngày. Nỗ lực để thấu hiểu, thử nghiệm, trải nghiệm và biểu đạt điều đã biết và đã tin thường quá khó đối với đa số, và khi ấy họ quay về với một niềm tin dựa trên lời chứng của những người được tín nhiệm, như lối thoát dễ dàng nhất khỏi bế tắc.

The problem of religion and the problem of orthodox Christianity are not one and the same thing. Much that we see around us today of unbelief and criticism, and the negation of our so-called truths, is based upon the fact that religion has been largely superseded by creed, and doctrine has taken the place of living experience. It is this living experience which is the keynote of this book.

Vấn đề tôn giáo và vấn đề Ki-tô giáo chính thống không phải là một và cùng một điều. Phần lớn những gì chúng ta thấy quanh mình ngày nay về sự vô tín và phê phán, cùng sự phủ định các chân lý được gọi là của chúng ta, đều dựa trên sự kiện rằng tôn giáo phần lớn đã bị tín điều thay thế, và giáo lý đã chiếm chỗ của kinh nghiệm sống. Chính kinh nghiệm sống này là chủ âm của quyển sách này.

Perhaps another reason why humanity at this time believes so little, or questions so unhappily what is believed, may be the fact that theologians have attempted to lift Christianity out of its place in the scheme of things and have overlooked its position in the great continuity of divine revelation. They have endeavoured to emphasise its uniqueness, and to regard it as an isolated and entirely separated expression of spiritual religion. They thereby destroy its background, remove its foundations, and make it difficult for the steadily developing [5] mind of man to accept its presentation. Yet St. Augustine tells us that “that which is called the Christian religion existed among the ancients, and never did not exist from the beginning of the human race until Christ came in the flesh, at which time the true religion, which already existed, began to be called Christianity.” (Quoted by W. Kingsland in ‘Religion in the Light of Theosophy’). The Wisdom which expresses relationship to God, the rules of the road which guide our wandering footsteps back to the Father’s home, and the teaching which brings revelation have ever been the same, down the ages, and are identical with that which Christ taught. This body of inner truths and this wealth of divine knowledge have existed since time immemorial. It is the truth which Christ revealed; but He did more than this. He revealed in Himself and through His life history what this wisdom and knowledge could do for man. He demonstrated in Himself the full expression of divinity, and then enjoined upon His disciples that they should go and do likewise.

Có lẽ một lý do khác khiến nhân loại vào lúc này tin quá ít, hoặc bất hạnh nghi vấn điều được tin, có thể là sự kiện rằng các nhà thần học đã cố gắng nâng Ki-tô giáo ra khỏi vị trí của nó trong trật tự của vạn vật và đã bỏ qua vị trí của nó trong dòng liên tục vĩ đại của sự mặc khải thiêng liêng. Họ đã cố nhấn mạnh tính độc nhất của nó, và xem nó như một biểu hiện cô lập và hoàn toàn tách biệt của tôn giáo tinh thần. Bằng cách ấy, họ phá hủy bối cảnh của nó, loại bỏ nền tảng của nó, và khiến cho trí tuệ [5] đang phát triển vững chắc của con người khó chấp nhận cách trình bày của nó. Tuy nhiên, Thánh Augustine nói với chúng ta rằng “điều được gọi là tôn giáo Ki-tô đã tồn tại giữa người xưa, và chưa bao giờ không tồn tại từ buổi đầu của nhân loại cho đến khi Đức Christ đến trong xác thịt, vào thời điểm đó tôn giáo chân chính, vốn đã tồn tại, bắt đầu được gọi là Ki-tô giáo.” (Được W. Kingsland trích trong ‘Tôn Giáo dưới Ánh Sáng của Thông Thiên Học’). Minh triết biểu đạt mối liên hệ với Thượng đế, các quy luật của Đường Đạo hướng dẫn những bước chân lang thang của chúng ta trở về nhà Cha, và giáo huấn đem lại sự mặc khải đã luôn luôn như nhau qua các thời đại, và đồng nhất với điều Đức Christ đã dạy. Khối chân lý bên trong này và kho tàng tri thức thiêng liêng này đã tồn tại từ thời xa xưa không thể nhớ. Đó là chân lý mà Đức Christ đã mặc khải; nhưng Ngài còn làm nhiều hơn thế. Trong chính Ngài và qua lịch sử đời Ngài, Ngài đã mặc khải điều mà minh triết và tri thức này có thể làm cho con người. Trong chính Ngài, Ngài đã biểu lộ sự biểu đạt trọn vẹn của thiên tính, rồi truyền cho các đệ tử của Ngài hãy đi và làm như vậy.

In the continuity of revelation, Christianity enters upon its cycle of expression under the same divine law which governs all manifestation—the Law of Cyclic Appearance. This revelation passes through the phases of all form-manifestation, or appearance, then growth and development, and finally (when the cycle draws towards its close) crystallisation and a gradual but steady emphasis of the letter and the form, till the death of that form becomes inevitable and wise. But the spirit remains to live on and take to itself new forms. The Spirit of Christ is undying, and as He lives to all eternity, so that which He incarnated to demonstrate must also live. The cell in the womb, the stage of littleness, the development of the child into the man—to all this He submitted Himself, and underwent all the processes which are the destiny of every son of God. Because of this submission and because He “learned obedience by the things which he suffered,” (Hebrews, V, 8.) He could be trusted to reveal God to man, and (may we say it?) the divine in man to God. For the Gospels [6] show us that continuously Christ called forth this recognition from the Father.

Trong dòng liên tục của sự mặc khải, Ki-tô giáo bước vào chu kỳ biểu đạt của nó dưới cùng một định luật thiêng liêng chi phối mọi biểu hiện—Định luật Xuất Hiện Theo Chu Kỳ. Sự mặc khải này đi qua các giai đoạn của mọi biểu hiện-hình tướng, hay sắc tướng, rồi tăng trưởng và phát triển, và sau cùng, khi chu kỳ tiến gần đến hồi kết, là sự kết tinh và một sự nhấn mạnh dần dần nhưng vững chắc vào chữ nghĩa và hình tướng, cho đến khi cái chết của hình tướng ấy trở nên tất yếu và minh triết. Nhưng tinh thần vẫn tiếp tục sống và khoác lấy những hình tướng mới. Tinh Thần của Đức Christ là bất diệt, và vì Ngài sống đến muôn đời, nên điều mà Ngài đã nhập thể để biểu lộ cũng phải sống. Tế bào trong dạ mẹ, giai đoạn bé nhỏ, sự phát triển của đứa trẻ thành người trưởng thành—Ngài đã tự thuận phục tất cả những điều này, và trải qua mọi tiến trình vốn là định mệnh của mỗi Con của Thượng đế. Nhờ sự thuận phục này và vì Ngài “đã học sự vâng phục bởi những điều Ngài chịu khổ,” (Thư gửi tín hữu Hebrew, V, 8.) Ngài có thể được tin cậy để mặc khải Thượng đế cho con người, và chúng ta có thể nói chăng, mặc khải điều thiêng liêng trong con người cho Thượng đế. Vì các sách Phúc Âm [6] cho chúng ta thấy rằng Đức Christ liên tục gợi lên sự công nhận này từ Đức Cha.

The great continuity of revelation is our most priceless possession, and into it the religion of Christ must, and does, fit. God has never left Himself without witness, and He never will. The place of Christianity as the fulfilment of the past and as a stepping-stone to the future, is often forgotten, and this perhaps is one of the reasons why people speak of a failing Christianity, and look forward to that spiritual revelation which seems so sorely needed. Unless this continuity is emphasised and the place of the Christian faith in it, revelation may come and pass unrecognised.

Dòng liên tục vĩ đại của sự mặc khải là sở hữu vô giá nhất của chúng ta, và tôn giáo của Đức Christ phải, và thật sự, hòa nhập vào đó. Thượng đế chưa bao giờ để chính Ngài không có chứng nhân, và Ngài sẽ không bao giờ như thế. Vị trí của Ki-tô giáo như sự hoàn thành của quá khứ và như một bậc thềm dẫn đến tương lai thường bị quên lãng, và có lẽ đây là một trong những lý do khiến người ta nói về một Ki-tô giáo đang suy tàn, và mong chờ sự mặc khải tinh thần dường như hết sức cần thiết ấy. Nếu dòng liên tục này và vị trí của đức tin Ki-tô trong đó không được nhấn mạnh, sự mặc khải có thể đến rồi đi qua mà không được nhận ra.

“There was,” we are told, “in every ancient country having claims to civilisation, an Esoteric Doctrine, a system which was designated WISDOM, and those who were devoted to its prosecution were first denominated sages, or wise men.... Pythagoras termed this system ... the Gnosis or Knowledge of things that are. Under the noble designation of WISDOM, the ancient teachers, the sages of India, the magians of Persia and Babylon, the seers and prophets of Israel, the hierophants of Egypt and Arabia, and the philosophers of Greece and the West, included all knowledge which they considered as essentially divine; classifying part as esoteric and the remainder as exterior.”

“Chúng ta được cho biết rằng trong mọi quốc gia cổ xưa có quyền tự nhận là văn minh, đều có một Giáo Lý Nội Môn, một hệ thống được gọi là MINH TRIẾT, và những ai tận hiến cho việc theo đuổi nó lúc đầu được gọi là hiền giả, hay những người minh triết.... Pythagoras gọi hệ thống này là... Gnosis hay Tri thức về những sự vật hiện hữu. Dưới danh xưng cao quý là MINH TRIẾT, các huấn sư cổ xưa, các hiền giả của Ấn Độ, các pháp sư của Ba Tư và Babylon, các nhà thông nhãn và tiên tri của Israel, các tư tế điểm đạo của Ai Cập và Arabia, cùng các triết gia của Hy Lạp và phương Tây, đã bao gồm mọi tri thức mà họ xem là cốt yếu thiêng liêng; phân loại một phần là nội môn và phần còn lại là ngoại môn.”

THE SECRET DOCTRINE’, BY H. P. BLAVATSKY, VOL. III, P.55.

GIÁO LÝ BÍ NHIỆM’, CỦA H. P. BLAVATSKY, QUYỂN III, TR.55.

We know much of the exoteric teaching. Orthodox and theological Christianity is founded on it, as are all the orthodox formulations of the great religions. When, however, the inner wisdom teaching is forgotten and the esoteric side is ignored, then the spirit and the living experimental experience disappear. We have been occupied with the details of the outer form of the faith, and have sadly forgotten the inner meaning which carries life and salvation to the individual and also to humanity. We have been busy fighting over the non-essentials of traditional interpretation and have omitted to teach the secret and the technique of the Christian life. We have over-emphasised the doctrinal and dogmatic aspects, and have deified the letter, whilst all the time the soul [7] of man was crying out for the spirit of life, which the letter veiled. We have agonised over the historical aspects of the Gospel narrative, over the time element, and over the verbal accuracy of the many translations, while failing to see the real magnificence of Christ’s accomplishment and the significant teaching it holds for the individual and for the race. The drama of His life and its practical application to the lives of His followers have been lost to sight in the undue importance attached to certain phrases which He is supposed to have uttered, whilst that which He expressed in His life, and the relationships which He emphasised and regarded as implicit in His revelation have been totally ignored.

Chúng ta biết nhiều về giáo huấn ngoại môn. Ki-tô giáo chính thống và thần học được đặt nền trên đó, cũng như mọi công thức chính thống của các tôn giáo lớn. Tuy nhiên, khi giáo huấn minh triết bên trong bị quên lãng và phương diện nội môn bị bỏ qua, thì tinh thần và kinh nghiệm thực nghiệm sống động biến mất. Chúng ta đã bận tâm với các chi tiết của hình tướng bên ngoài của đức tin, và đáng buồn thay đã quên mất ý nghĩa bên trong vốn đem sự sống và cứu rỗi đến cho cá nhân cũng như cho nhân loại. Chúng ta đã bận rộn tranh đấu về những điều không thiết yếu của lối diễn giải truyền thống và đã bỏ sót việc dạy bí mật cùng kỹ thuật của đời sống Ki-tô. Chúng ta đã nhấn mạnh quá mức các phương diện giáo lý và tín điều, và đã thần thánh hóa chữ nghĩa, trong khi suốt thời gian ấy linh hồn [7] con người kêu cầu tinh thần của sự sống, điều mà chữ nghĩa che phủ. Chúng ta đã đau đáu về các phương diện lịch sử của trình thuật Phúc Âm, về yếu tố thời gian, và về độ chính xác từng lời của nhiều bản dịch, trong khi không thấy được sự huy hoàng thật sự trong thành tựu của Đức Christ và giáo huấn đầy thâm nghĩa mà nó chứa đựng cho cá nhân và cho nhân loại. Tấn kịch của đời Ngài và sự ứng dụng thực tiễn của nó vào đời sống của những người theo Ngài đã bị khuất khỏi tầm nhìn bởi tầm quan trọng quá mức gán cho một số cụm từ mà người ta cho rằng Ngài đã thốt ra, trong khi điều Ngài đã biểu đạt trong đời sống của Ngài, và những mối liên hệ mà Ngài nhấn mạnh và xem là hàm chứa trong sự mặc khải của Ngài, đã hoàn toàn bị bỏ qua.

We have fought over the historical Christ, and thus fighting, have lost sight of His message of love to all beings. Fanatics quarrel over His words, and fail to remember that He was “the Word made flesh.” We argue about the Virgin Birth of the Christ, and forget the truth which the Incarnation is intended to teach. Evelyn Underhill points out in her most valuable book, Mysticism, that “The Incarnation, which is for popular Christianity synonymous with the historical birth and earthly life of Christ, is for the mystic not only this but also a perpetual cosmic and personal process.”

Chúng ta đã tranh đấu về Đức Christ lịch sử, và trong khi tranh đấu như thế, đã đánh mất thông điệp tình thương của Ngài dành cho mọi sinh linh. Những kẻ cuồng tín cãi vã về lời Ngài, và quên nhớ rằng Ngài là “Linh từ trở nên xác thịt.” Chúng ta tranh luận về Sự Sinh Ra Bởi Đồng Trinh của Đức Christ, và quên mất chân lý mà sự Nhập Thể nhằm dạy. Evelyn Underhill chỉ ra trong quyển sách vô cùng giá trị của bà, Thần bí học, rằng “Sự Nhập Thể, đối với Ki-tô giáo phổ thông đồng nghĩa với sự giáng sinh lịch sử và đời sống trần thế của Đức Christ, đối với nhà thần bí không chỉ là điều này mà còn là một tiến trình vũ trụ và cá nhân thường hằng.”

Scholars spend their lives in proving that the whole story is only a myth. It should, however, be pointed out that a myth is the summarised belief and knowledge of the past, handed down to us for our guidance and forming the foundation of a newer revelation, and that it is a stepping-stone to the next truth. A myth is a valid and proven truth which bridges, step by step, the gap between the past gained knowledge, the present formulated truth, and the infinite and divine possibilities of the future. The ancient myths and the old mysteries give us a sequential presentation of the divine message as it went forth from God in response to the need of man, down the ages. The truth of one age becomes the myth of the next, but its significance and its reality remain untouched, and require only re-interpretation in the present.

Các học giả dành cả đời để chứng minh rằng toàn bộ câu chuyện chỉ là một huyền thoại. Tuy nhiên, cần chỉ ra rằng huyền thoại là niềm tin và tri thức được tóm kết của quá khứ, được truyền lại cho chúng ta để hướng dẫn chúng ta và tạo nên nền tảng của một sự mặc khải mới hơn, và rằng nó là một bậc thềm dẫn đến chân lý kế tiếp. Một huyền thoại là một chân lý xác đáng và đã được chứng nghiệm, bắc cầu từng bước qua khoảng cách giữa tri thức đã đạt được trong quá khứ, chân lý được công thức hóa trong hiện tại, và những khả năng vô hạn và thiêng liêng của tương lai. Những huyền thoại cổ xưa và các huyền nhiệm cũ đem lại cho chúng ta một trình bày tuần tự về thông điệp thiêng liêng khi nó phát ra từ Thượng đế để đáp ứng nhu cầu của con người qua các thời đại. Chân lý của một thời đại trở thành huyền thoại của thời đại kế tiếp, nhưng thâm nghĩa và thực tại của nó vẫn nguyên vẹn, và chỉ cần được diễn giải lại trong hiện tại.

[8] We are free to choose and to reject; but let us see to it that we choose with eyes opened by that sagacity and wisdom which are the hallmark of those who have penetrated a considerable way along the path of return. There is life and truth and vitality in the Gospel story yet to be re-applied by us. There is dynamic and divinity in the message of Jesus.

[8] Chúng ta tự do chọn lựa và bác bỏ; nhưng hãy bảo đảm rằng chúng ta chọn lựa với đôi mắt được mở ra bởi sự khôn ngoan và minh triết vốn là dấu ấn của những ai đã thâm nhập một quãng đáng kể trên Con Đường Trở Về. Trong câu chuyện Phúc Âm vẫn còn sự sống, chân lý và sinh lực để chúng ta áp dụng lại. Trong thông điệp của Đức Jesus có năng lực động và thiên tính.

Christianity is, for us today, a culminating religion. It is the greatest of the later divine revelations. Much of it, since its inception two thousand years ago, has come to be regarded as myth, and the clear outlines of the story have dimmed and have come frequently to be regarded as symbolic in their nature. Yet behind symbol and myth stands reality—an essential, dramatic and practical truth.

Đối với chúng ta ngày nay, Ki-tô giáo là một tôn giáo đạt tới đỉnh điểm. Nó là sự mặc khải thiêng liêng vĩ đại nhất trong các mặc khải về sau. Kể từ khi khởi đầu hai nghìn năm trước, phần lớn của nó đã được xem là huyền thoại, và những đường nét rõ ràng của câu chuyện đã mờ đi, thường được xem là mang bản chất biểu tượng. Tuy nhiên, đằng sau biểu tượng và huyền thoại là thực tại—một chân lý cốt yếu, kịch tính và thực tiễn.

Our attention has been engrossed by the symbol and by the outer form, whilst the meaning has remained obscured and fails sufficiently to affect our lives. In our myopic study of the letter we have lost the significance of the Word itself. We need to get behind the symbol to that which it embodies, and to shift our attention away from the world of outer forms to that of inner realities. Keyserling points this out in these words:

Sự chú ý của chúng ta đã bị cuốn hút bởi biểu tượng và hình tướng bên ngoài, trong khi ý nghĩa vẫn bị che mờ và không đủ sức ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta. Trong việc nghiên cứu chữ nghĩa một cách thiển cận, chúng ta đã đánh mất thâm nghĩa của chính Linh từ. Chúng ta cần đi vào phía sau biểu tượng đến điều mà nó hiện thân, và chuyển sự chú ý của chúng ta khỏi thế giới của các hình tướng bên ngoài sang thế giới của các thực tại bên trong. Keyserling chỉ ra điều này bằng những lời sau:

“The process of shifting levels from the letter to the inner meaning in the matter of spiritual attitudes can be clearly set forth by one single proposition. It consists in ‘seeing through’ the phenomenon. Every living phenomenon is, first and last, a symbol; for the essence of life is meaning. But every symbol which is the ultimate expression of a state of consciousness is in itself transparent for another deeper one, and so on into eternity; for all things in the sense-connexion of life are inwardly connected, and their depths have their roots in God.

“Tiến trình chuyển cấp độ từ chữ nghĩa sang ý nghĩa bên trong trong vấn đề các thái độ tinh thần có thể được trình bày rõ ràng bằng một mệnh đề duy nhất. Nó hệ tại việc ‘nhìn xuyên qua’ hiện tượng. Mọi hiện tượng sống động, từ đầu đến cuối, đều là một biểu tượng; vì bản chất của sự sống là ý nghĩa. Nhưng mọi biểu tượng vốn là sự biểu đạt tối hậu của một trạng thái tâm thức, tự nó lại trong suốt đối với một trạng thái sâu hơn khác, và cứ thế đến vĩnh cửu; vì mọi sự trong mối liên kết ý nghĩa của sự sống đều liên hệ bên trong với nhau, và các chiều sâu của chúng có gốc rễ nơi Thượng đế.

“Therefore, no spiritual form can ever be an ultimate expression; every meaning, when it has been penetrated, becomes automatically a mere letter-expression of a deeper one, and herewith the old phenomenon takes on a new and different meaning. Thus, Catholicism, Protestantism, Greek-Catholic, Islamism and Buddhistic religiousness can in principle continue, on the plane of this life, what they were and yet signify something entirely new.”

“Vì vậy, không hình tướng tinh thần nào có thể từng là một sự biểu đạt tối hậu; mọi ý nghĩa, khi đã được thâm nhập, tự động trở thành chỉ là một biểu đạt bằng chữ nghĩa của một ý nghĩa sâu hơn, và cùng với điều này, hiện tượng cũ khoác lấy một ý nghĩa mới và khác. Như vậy, Công giáo, Tin Lành, Công giáo Hy Lạp, Hồi giáo và tính tôn giáo Phật giáo, về nguyên tắc, có thể tiếp tục trên cõi đời này đúng như chúng từng là, nhưng lại hàm nghĩa một điều hoàn toàn mới.”

‘THE RECOVERY OF TRUTH’, BY HERMANN KEYSERLING, PP 91-92.

‘SỰ PHỤC HỒI CHÂN LÝ’, CỦA HERMANN KEYSERLING, TR. 91-92.

[9] The only excuse for this book is that it is an attempt to penetrate to that deeper meaning underlying the great events in the life of Christ, and to bring into renewed life and interest the weakening aspiration of the Christian. If it can be shown that the story revealed in the Gospels has not only an application to that divine Figure Which dwelt for a time among men, but that it has also a practical significance and meaning for the civilised man today, then there will be some objective gained and some service and help rendered. It is possible that today—owing to our more advanced evolution and the ability to express ourselves through more finely developed shades of consciousness—we can appropriate the teaching with a clearer vision and a wiser use of the indicated lesson. This great Myth belongs to us—for let us be courageous and use this word in its true and right connotation. A myth is capable of becoming a fact in the experience of an individual, for a myth is a fact which can be proven. Upon the myths we take our stand, but we must seek to re-interpret them in the light of the present. Through self-initiated experiment we can prove their validity; through experience we can establish them as governing forces in our lives; and through their expression we can demonstrate their truth to others. This is the theme of this book, dealing as it does with the facts of the Gospel story, that fivefold sequential myth which teaches us the revelation of divinity in the Person of Jesus Christ, and which remains eternally truth, in the cosmic sense, in the historical sense, and in its practical application to the individual. This myth divides itself into five great episodes:

[9] Lý do duy nhất biện minh cho quyển sách này là vì nó là một nỗ lực nhằm thâm nhập vào ý nghĩa sâu xa hơn nằm bên dưới những biến cố lớn trong đời sống của Đức Christ, và nhằm đem lại sức sống cùng sự quan tâm mới cho khát vọng đang suy yếu của người tín đồ Cơ Đốc. Nếu có thể cho thấy rằng câu chuyện được mặc khải trong các sách Phúc Âm không chỉ áp dụng cho Nhân Vật thiêng liêng ấy, Đấng đã sống một thời gian giữa loài người, mà còn có thâm nghĩa và ý nghĩa thực tiễn đối với con người văn minh ngày nay, thì khi ấy sẽ đạt được một mục tiêu nào đó và thực hiện được một sự phụng sự cùng trợ giúp nào đó. Có thể ngày nay—nhờ sự tiến hoá tiến xa hơn của chúng ta và khả năng biểu lộ chính mình qua những sắc thái tâm thức được phát triển tinh tế hơn—chúng ta có thể tiếp nhận giáo huấn ấy với tầm nhìn sáng rõ hơn và với việc sử dụng bài học được chỉ ra một cách minh triết hơn. Huyền thoại vĩ đại này thuộc về chúng ta—vì chúng ta hãy can đảm và dùng từ này theo đúng hàm nghĩa chân thật và thích đáng của nó. Một huyền thoại có khả năng trở thành một sự kiện trong kinh nghiệm của một cá nhân, vì huyền thoại là một sự kiện có thể được chứng minh. Trên các huyền thoại, chúng ta đứng vững, nhưng chúng ta phải tìm cách diễn giải lại chúng dưới ánh sáng của hiện tại. Qua thử nghiệm do chính mình khởi xướng, chúng ta có thể chứng minh giá trị của chúng; qua kinh nghiệm, chúng ta có thể xác lập chúng như những mãnh lực chi phối trong đời sống mình; và qua sự biểu lộ của chúng, chúng ta có thể chứng minh chân lý của chúng cho người khác. Đây là chủ đề của quyển sách này, vì nó bàn đến các sự kiện của câu chuyện Phúc Âm, huyền thoại tuần tự ngũ phân ấy vốn dạy chúng ta về sự mặc khải của thiên tính trong Ngôi vị của Đức Jesus Christ, và vốn vẫn vĩnh viễn là chân lý, theo nghĩa vũ trụ, theo nghĩa lịch sử, và trong sự áp dụng thực tiễn của nó đối với cá nhân. Huyền thoại này tự phân chia thành năm giai đoạn lớn:

1. The Birth at Bethlehem.

1. Sự Giáng Sinh tại Bethlehem.

2. The Baptism in Jordan.

2. Phép Rửa tại Jordan.

3. The Transfiguration on Mount Carmel.

3. Sự Biến Hình trên Núi Carmel.

4. The Crucifixion on Mount Golgotha.

4. Sự Đóng Đinh trên Núi Golgotha.

5. The Resurrection and Ascension.

5. Sự Phục Sinh và Thăng Thiên.

Their significance for us and their re-interpretation in modern terms is our task.

Thâm nghĩa của chúng đối với chúng ta và việc diễn giải lại chúng bằng những thuật ngữ hiện đại là nhiệm vụ của chúng ta.

[10] A point of crisis and of culmination has been reached in the history of man, and man owes this to the influence of Christianity. As a member of the human family, he has reached a level of integration unknown in the past, except in the case of a select few in every nation. He is, as the psychologists have indicated, a sum total of physical organisms, of vital force, of psychical states or emotional conditions, and of mental or thought reactions. He is now ready to have indicated to him his next transition, development or unfoldment. Of this he is expectant, standing in readiness to take advantage of the opportunity. The door into a world of higher being and consciousness stands wide open; the way into the kingdom of God has been clearly pointed out. Many in the past have passed into that kingdom and awakened there to a world of being and of understanding which is, to the multitude, a sealed mystery. The glory of the present moment lies in the fact that many thousands stand thus prepared, and (given the needed instruction) could be initiated into the mysteries of God. A new unfoldment in consciousness is now possible; a new goal has arisen and governs the intentions of many. We are, as a race, definitely on our way towards some new knowledge, some fresh recognitions, and some deeper world of values. What happens on the outer plane of experience is indicative of a similar happening in a more subtle world of meaning. For this we must prepare.

[10] Một điểm khủng hoảng và đỉnh điểm đã đạt đến trong lịch sử con người, và con người có được điều này là nhờ ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo. Với tư cách một thành viên của gia đình nhân loại, y đã đạt đến một cấp độ tích hợp chưa từng được biết trong quá khứ, ngoại trừ nơi một số ít người được tuyển chọn trong mỗi quốc gia. Như các nhà tâm lý học đã chỉ ra, y là tổng thể của các cơ thể vật chất, của mãnh lực sinh lực, của các trạng thái tâm lý hay các điều kiện cảm xúc, và của các phản ứng trí tuệ hay tư tưởng. Giờ đây y đã sẵn sàng để được chỉ ra cho mình bước chuyển tiếp, sự phát triển hay sự khai mở kế tiếp. Y đang mong đợi điều này, đứng trong tư thế sẵn sàng để tận dụng cơ hội. Cánh cửa vào một thế giới của Bản Thể và tâm thức cao hơn đang mở rộng; con đường vào Thiên Giới đã được chỉ ra rõ ràng. Nhiều người trong quá khứ đã bước vào giới ấy và tại đó đã thức tỉnh trước một thế giới của Bản Thể và của sự thấu hiểu, vốn đối với đám đông vẫn là một huyền nhiệm bị niêm kín. Vinh quang của khoảnh khắc hiện tại nằm ở sự kiện rằng nhiều ngàn người đang đứng trong tình trạng được chuẩn bị như thế, và nếu được ban sự hướng dẫn cần thiết, họ có thể được điểm đạo vào các huyền nhiệm của Thượng đế. Một sự khai mở mới trong tâm thức nay đã có thể xảy ra; một mục tiêu mới đã xuất hiện và đang chi phối các ý định của nhiều người. Với tư cách một nhân loại, chúng ta chắc chắn đang trên đường hướng tới một tri thức mới nào đó, những nhận biết mới mẻ nào đó, và một thế giới giá trị sâu xa hơn nào đó. Điều xảy ra trên cõi bên ngoài của kinh nghiệm là dấu hiệu của một diễn biến tương tự trong một Thế giới của ý nghĩa tinh tế hơn. Chúng ta phải chuẩn bị cho điều này.

We have seen that the Christian revelation unified in itself the teachings of the past. This, Christ Himself pointed out when He said, “Think not that I am come to destroy the law or the prophets: I am not come to destroy, but to fulfil” (St. Matt., V,17.). He embodied all the past, and revealed the highest possibility to man. The words of Dr. Berdyaev, in Freedom and the Spirit, throw light on this:

Chúng ta đã thấy rằng sự mặc khải Cơ Đốc tự nó đã hợp nhất các giáo huấn của quá khứ. Chính Đức Christ đã chỉ rõ điều này khi Ngài nói: “Đừng nghĩ rằng Ta đến để phá bỏ luật pháp hay các tiên tri: Ta không đến để phá bỏ, mà để hoàn thành” (Thánh Matthew, V,17.). Ngài hiện thân cho toàn bộ quá khứ, và mặc khải khả năng cao nhất cho con người. Những lời của Tiến sĩ Berdyaev, trong Tự Do và Tinh Thần, soi sáng điều này:

“The Christian revelation is universal, and everything analogous to it in other religions is simply a part of that revelation. Christianity is not a religion of the same order as the others; it is, as Schleiermacher said, the religion of religions. What does it matter if within [11] Christianity, supposedly so different from other faiths, there is nothing original at all apart from the coming of Christ and His Personality; is it not precisely in this particular that the hope of all religions is fulfilled?”

“Sự mặc khải Cơ Đốc có tính phổ quát, và mọi điều tương tự với nó trong các tôn giáo khác chỉ đơn giản là một phần của sự mặc khải ấy. Cơ Đốc giáo không phải là một tôn giáo cùng trật tự với các tôn giáo khác; như Schleiermacher đã nói, nó là tôn giáo của các tôn giáo. Có gì là quan trọng nếu bên trong [11] Cơ Đốc giáo, vốn được cho là khác biệt đến thế so với các tín ngưỡng khác, hoàn toàn không có gì độc đáo ngoài sự xuất hiện của Đức Christ và Phàm ngã của Ngài; chẳng phải chính trong điểm đặc thù ấy mà niềm hy vọng của mọi tôn giáo được hoàn thành hay sao?”

FREEDOM AND THE SPIRIT, BY NICHOLAS BERDYAEV, PP. 88-89.

TỰ DO VÀ TINH THẦN, CỦA NICHOLAS BERDYAEV, TR. 88-89.

Each great period of time and each world cycle will have—through the loving-kindness of God—its religion of religions, synthesising all the past revelations and indicating the future hope. The world expectancy today shows that we stand on the verge of a new revelation. It will be a revelation which will in no way negate our divine spiritual heritage, but will add the clear vision of the future to the wonder of the past. It will express what is divine but has been hitherto unrevealed. It is therefore possible that an understanding of some of the deeper significances of the Gospel story may enable the modern seeker to grasp the wider synthesis.

Mỗi thời kỳ lớn và mỗi chu kỳ thế giới sẽ có—nhờ lòng nhân từ yêu thương của Thượng đế—tôn giáo của các tôn giáo của riêng nó, tổng hợp mọi sự mặc khải trong quá khứ và chỉ ra niềm hy vọng tương lai. Sự mong đợi của thế giới ngày nay cho thấy rằng chúng ta đang đứng bên bờ một sự mặc khải mới. Đó sẽ là một sự mặc khải tuyệt nhiên không phủ nhận di sản tinh thần thiêng liêng của chúng ta, mà sẽ thêm tầm nhìn sáng rõ về tương lai vào sự kỳ diệu của quá khứ. Nó sẽ biểu lộ điều thiêng liêng nhưng cho đến nay vẫn chưa được mặc khải. Do đó, có thể một sự thấu hiểu về một số thâm nghĩa sâu xa hơn của câu chuyện Phúc Âm sẽ giúp người tìm đạo hiện đại nắm bắt được tổng hợp rộng lớn hơn.

Some of these deeper implications were touched upon in a book published many years ago, entitled The Crises of the Christ, by that veteran Christian, Dr. Campbell Morgan. Taking the five major episodes in the life of the Saviour, around which the entire Gospel narrative is built, he gave them a wide and general application, leaving one with the realisation that Christ had not only passed through these dramatic experiences, in deed and in truth, but had left us with the definite command that we should “follow His steps.” (I Peter, II.21.) Is it not possible that these great facts in the experience of Christ, these five personalised aspects of the universal myth, may have for us, as individuals, more than an historical and personal interest? Is it not possible that they may embody some experience and some initiated undertaking through which many Christians may now pass, and thus obey His injunction to enter into new life? Must we not all be born again, baptised into the Spirit, and transfigured upon the mountain top of living experience? Does not the crucifixion lie ahead for many of us, leading on to the resurrection and the ascension? And is it not also possible [12] that we have interpreted these words in too narrow a sense, with too sentimental and ordinary an implication, whereas they may indicate to those who are ready a special way and a more rapid following in the footsteps of the Son of God? This is one of the points which concern us and with which this book will attempt to deal. If this more intensive meaning can be found, and if the drama of the Gospels can become in some peculiar way the drama of those souls who are ready, then we shall see the resurrection of the essentials of Christianity and the revivifying of the form which is so rapidly crystallising.

Một vài hàm ý sâu xa hơn này đã được đề cập trong một quyển sách xuất bản nhiều năm trước, nhan đề Các Cuộc Khủng Hoảng của Đức Christ, của vị tín đồ Cơ Đốc kỳ cựu, Tiến sĩ Campbell Morgan. Lấy năm giai đoạn chính trong đời sống của Đấng Cứu Thế, quanh đó toàn bộ câu chuyện Phúc Âm được xây dựng, ông đã trao cho chúng một sự áp dụng rộng rãi và tổng quát, khiến người ta nhận ra rằng Đức Christ không chỉ đã trải qua những kinh nghiệm đầy kịch tính này, thật sự và đúng thực, mà còn để lại cho chúng ta mệnh lệnh rõ ràng rằng chúng ta phải “theo bước chân Ngài.” (I Peter, II.21.) Chẳng phải có thể những sự kiện lớn này trong kinh nghiệm của Đức Christ, năm phương diện được cá nhân hoá này của huyền thoại phổ quát, đối với chúng ta, với tư cách cá nhân, còn có ý nghĩa hơn cả sự quan tâm lịch sử và cá nhân hay sao? Chẳng phải có thể chúng hiện thân cho một kinh nghiệm nào đó và một công cuộc điểm đạo nào đó mà nhiều tín đồ Cơ Đốc nay có thể trải qua, và như thế tuân theo huấn lệnh của Ngài để bước vào đời sống mới hay sao? Chẳng phải tất cả chúng ta đều phải được tái sinh, được rửa trong Tinh thần, và được biến hình trên đỉnh núi của kinh nghiệm sống động hay sao? Chẳng phải sự đóng đinh đang ở phía trước đối với nhiều người trong chúng ta, dẫn tới sự phục sinh và thăng thiên hay sao? Và chẳng phải cũng có thể [12] chúng ta đã diễn giải những lời này theo một nghĩa quá hẹp, với một hàm ý quá đa cảm và thông thường, trong khi chúng có thể chỉ ra cho những ai đã sẵn sàng một con đường đặc biệt và một sự theo bước Con của Thượng đế nhanh chóng hơn hay sao? Đây là một trong những điểm liên quan đến chúng ta và quyển sách này sẽ cố gắng đề cập đến. Nếu ý nghĩa mãnh liệt hơn này có thể được tìm thấy, và nếu vở kịch của các sách Phúc Âm có thể, theo một cách đặc biệt nào đó, trở thành vở kịch của những linh hồn đã sẵn sàng, thì chúng ta sẽ chứng kiến sự phục sinh của các yếu tính của Cơ Đốc giáo và sự làm sống lại hình tướng đang kết tinh quá nhanh chóng.

2

2

It is of interest to recall that other teachings besides that of Christianity have emphasised these five important crises that occur, if so desired, in the life of those human beings who take their stand upon their essential divinity. Both the Hindu teaching and the Buddhist faith have emphasised them as evolutionary crises which we may not ultimately escape; and a right understanding of the interrelation of these great world religions may eventually bring about a truer understanding of all of them. The religion of the Buddha, though preceding that of the Christ, expresses the same basic truths, but phrases them in a different manner, which can help us nevertheless to a larger interpretation of Christianity.

Thật đáng chú ý khi nhớ lại rằng ngoài Cơ Đốc giáo, các giáo huấn khác cũng đã nhấn mạnh năm cuộc khủng hoảng quan trọng này, vốn xảy ra, nếu được mong muốn, trong đời sống của những con người đứng vững trên thiên tính cốt yếu của mình. Cả giáo huấn Ấn Độ giáo lẫn tín ngưỡng Phật giáo đều đã nhấn mạnh chúng như những cuộc khủng hoảng tiến hoá mà rốt cuộc chúng ta không thể tránh khỏi; và một sự thấu hiểu đúng đắn về mối tương quan giữa các tôn giáo lớn của thế giới này cuối cùng có thể đem lại một sự thấu hiểu chân thật hơn về tất cả chúng. Tôn giáo của Đức Phật, dù có trước tôn giáo của Đức Christ, biểu lộ cùng những chân lý căn bản, nhưng diễn đạt chúng theo một cách khác, tuy vậy vẫn có thể giúp chúng ta có một sự diễn giải rộng lớn hơn về Cơ Đốc giáo.

“Buddhism and Christianity find their origins respectively in two inspired moments of history: the life of the Buddha, and the life of Christ. The Buddha gave his doctrine to enlighten the world: Christ gave his life. It is for Christians to discern the doctrine. Perhaps in the end the most valuable part of the doctrine of the Buddha is its interpretation of his life.”

“Phật giáo và Cơ Đốc giáo lần lượt tìm thấy nguồn gốc của mình trong hai khoảnh khắc được cảm hứng của lịch sử: đời sống của Đức Phật, và đời sống của Đức Christ. Đức Phật trao giáo lý của Ngài để soi sáng thế gian: Đức Christ trao đời sống của Ngài. Việc phân biện tinh thần giáo lý là trách nhiệm của các tín đồ Cơ Đốc. Có lẽ rốt cuộc phần giá trị nhất trong giáo lý của Đức Phật là sự diễn giải của nó về đời sống của Ngài.”

‘RELIGION IN THE MAKING’, BY A. N. WHITEHEAD, P.55.

‘TÔN GIÁO ĐANG HÌNH THÀNH’, CỦA A. N. WHITEHEAD, TR.55.

The teaching of Lao-Tzu can also serve the same purpose. Religion must eventually be composite, gathered from many [13] sources and composed of many truths. Yet it is legitimate to feel that if one had to choose, at this time, one faith, one might choose Christianity, and for this specific reason: the central problem of life is to lay hold upon our divinity and to make it manifest. In the life of Christ we have the most complete and perfect demonstration and example of divinity lived successfully on earth, and lived—as most of us have to live—not in retirement, but in the full tide of storm and stress.

Giáo huấn của Lão Tử cũng có thể phụng sự cùng mục đích ấy. Rốt cuộc, tôn giáo phải mang tính tổng hợp, được gom góp từ nhiều [13] nguồn và cấu thành từ nhiều chân lý. Tuy nhiên, ta có quyền cảm thấy rằng nếu vào lúc này phải chọn một tín ngưỡng, người ta có thể chọn Cơ Đốc giáo, và vì lý do đặc biệt này: vấn đề trung tâm của đời sống là nắm lấy thiên tính của chúng ta và làm cho nó biểu hiện. Trong đời sống của Đức Christ, chúng ta có sự chứng minh và mẫu mực hoàn chỉnh nhất, hoàn hảo nhất về thiên tính được sống thành công trên Trái Đất, và được sống—như phần lớn chúng ta phải sống—không phải trong ẩn dật, mà ngay giữa dòng thác đầy bão tố và căng thẳng.

Exponents of all faiths are today meeting to discuss the possibility of finding a platform of such universality and truth that upon it all men may unite, and on which the coming world religion may be based. This may perhaps be found in a clearer interpretation and understanding of these five outstanding episodes, and in their practical and unique relationship not only to the individual but to humanity as a whole. This realisation will bind us more definitely to the past, anchoring us in the truth that was; it will indicate to us our immediate goal and duty, which when understood will enable us to live more divinely, to serve more adequately, and thus to bring the will of God into fruition on earth. It is their inner meaning and our individual relation to them that are of importance.

Ngày nay, những người đại diện cho mọi tín ngưỡng đang gặp gỡ để thảo luận khả năng tìm ra một nền tảng có tính phổ quát và chân lý đến mức trên đó mọi người có thể hợp nhất, và trên đó tôn giáo thế giới sắp đến có thể được đặt nền. Điều này có lẽ có thể được tìm thấy trong một sự diễn giải và thấu hiểu sáng rõ hơn về năm giai đoạn nổi bật này, và trong mối liên hệ thực tiễn, độc đáo của chúng không chỉ với cá nhân mà còn với toàn thể nhân loại. Sự nhận ra này sẽ ràng buộc chúng ta rõ ràng hơn với quá khứ, neo chúng ta trong chân lý đã từng có; nó sẽ chỉ cho chúng ta mục tiêu và bổn phận trước mắt, những điều khi được thấu hiểu sẽ giúp chúng ta sống thiêng liêng hơn, phụng sự đầy đủ hơn, và như thế đem Ý Chí của Thượng Đế đến chỗ thành tựu trên Trái Đất. Chính ý nghĩa bên trong của chúng và mối liên hệ cá nhân của chúng ta với chúng mới là điều quan trọng.

There is nothing but a valuable gain to us, an enriching of our consciousness, when we realise the unity, and at times the uniformity of the teaching as it is given in both the East and the West. For instance, the fourth event in Christ’s life, the Crucifixion, finds a parallel in the fourth initiation of the Oriental teaching which is called the Great Renunciation. There is an initiation, called in the Buddhist terminology the “entering of the stream,” and there is in the life of Jesus an episode which we call the “baptism in Jordan.” The story of Christ’s birth at Bethlehem can be paralleled in practically every detail in the lives of earlier messengers from God. These proved facts should surely evoke from us the recognition that though there are many messengers there is only one Message; but this recognition in no way [14] detracts from the unique task of the Christ and the unique function which He came forth to fulfil.

Chúng ta chỉ có được lợi ích quý giá, một sự làm phong phú tâm thức của mình, khi nhận ra sự thống nhất, và đôi khi sự đồng dạng của giáo huấn như nó được trao ở cả Đông phương lẫn Tây phương. Chẳng hạn, biến cố thứ tư trong đời sống của Đức Christ, sự Đóng Đinh, có một tương ứng trong lần điểm đạo thứ tư của giáo huấn Đông phương, được gọi là Sự Từ Bỏ Vĩ Đại. Có một cuộc điểm đạo, trong thuật ngữ Phật giáo gọi là “nhập lưu,” và trong đời sống của Đức Jesus có một giai đoạn mà chúng ta gọi là “phép rửa tại Jordan.” Câu chuyện về sự giáng sinh của Đức Christ tại Bethlehem có thể được song chiếu gần như trong mọi chi tiết với đời sống của các sứ giả trước đó từ Thượng đế. Những sự kiện đã được chứng minh này chắc chắn phải gợi lên nơi chúng ta sự nhận biết rằng dù có nhiều sứ giả, chỉ có một Thông Điệp; nhưng sự nhận biết này tuyệt nhiên [14] không làm giảm giá trị nhiệm vụ độc đáo của Đức Christ và chức năng độc đáo mà Ngài đã xuất hiện để hoàn thành.

It is interesting also to bear in mind that these two outstanding Individualities, the Buddha and the Christ, have set Their seal upon both hemispheres—the Buddha being the Teacher for the Orient, and Christ the Saviour of the Occident. Whatever may be our personal conclusions as to Their relations to the Father in Heaven or to each other, the fact stands out past all controversy that They gave the revelation of divinity to Their particular civilisations, and that in a most significant manner They worked together for the eventual benefit of the race. Their two systems are interdependent, and Buddha prepared the world for the message and the mission of Christ.

Cũng thật thú vị khi ghi nhớ rằng hai Cá Thể nổi bật này, Đức Phật và Đức Christ, đã đóng ấn của Các Ngài lên cả hai bán cầu—Đức Phật là Huấn sư của Đông phương, và Đức Christ là Đấng Cứu Thế của Tây phương. Dù các kết luận cá nhân của chúng ta về mối quan hệ của Các Ngài với Cha trên Trời hay với nhau là gì, sự kiện vượt ngoài mọi tranh cãi vẫn nổi bật rằng Các Ngài đã trao sự mặc khải về thiên tính cho các nền văn minh riêng của Các Ngài, và rằng theo một cách hết sức có thâm nghĩa, Các Ngài đã cùng làm việc vì lợi ích cuối cùng của nhân loại. Hai hệ thống của Các Ngài phụ thuộc lẫn nhau, và Đức Phật đã chuẩn bị thế giới cho thông điệp và sứ mạng của Đức Christ.

Both embodied in Themselves certain cosmic principles, and by Their work and sacrifice certain divine potencies poured through and upon mankind. The work done by the Buddha, and the message which He sounded, stimulated intelligence into wisdom. Wisdom is a cosmic principle, and a divine potency. This the Buddha embodied.

Cả hai đều tự mình hiện thân cho một số nguyên khí vũ trụ, và nhờ công việc cùng sự hi sinh của Các Ngài, một số quyền năng thiêng liêng đã tuôn qua và tuôn xuống nhân loại. Công việc do Đức Phật thực hiện, và thông điệp mà Ngài đã xướng lên, đã kích thích trí thông minh thành minh triết. Minh triết là một nguyên khí vũ trụ, và là một quyền năng thiêng liêng. Đức Phật đã hiện thân cho điều này.

But love came to the world through Christ, and He, through His work, transmuted emotion into Love. As “God is Love,” the comprehension that Christ revealed the love of God makes clear the magnitude of the task He undertook—a task far beyond the powers of any teacher or messenger who had preceded Him. The Buddha, when He achieved illumination, “let in” a flood of light upon life and upon our world problems, and this intelligent understanding of the causes of world distress He endeavoured to formulate into the Four Noble Truths. These are, as most of us well know:

Nhưng tình thương đã đến với thế giới qua Đức Christ, và qua công việc của Ngài, Ngài đã chuyển hoá cảm xúc thành Tình thương. Vì “Thượng đế là Tình thương,” nên sự thấu hiểu rằng Đức Christ đã mặc khải tình thương của Thượng đế làm sáng tỏ tầm vóc lớn lao của nhiệm vụ Ngài đảm nhận—một nhiệm vụ vượt xa quyền năng của bất kỳ huấn sư hay sứ giả nào đã đi trước Ngài. Đức Phật, khi đạt giác ngộ, đã “đưa vào” một dòng lũ ánh sáng trên đời sống và trên các vấn đề thế giới của chúng ta, và sự thấu hiểu thông minh này về các nguyên nhân của nỗi thống khổ thế giới, Ngài đã cố gắng diễn đạt thành Bốn Chân Lý Cao Quý. Những chân lý này, như hầu hết chúng ta đều biết rõ, là:

1. That existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and from sorrow.

1. Rằng sự tồn tại trong vũ trụ hiện tượng không thể tách rời khỏi đau khổ và sầu não.

2. That the cause of suffering is desire for existence in the world of phenomena.

2. Rằng nguyên nhân của đau khổ là dục vọng đối với sự tồn tại trong thế giới hiện tượng.

3. That cessation of suffering is brought about by eradicating all desire for existence in this universe of phenomena.[15]

3. Rằng sự chấm dứt đau khổ được đem lại bằng cách nhổ tận gốc mọi dục vọng đối với sự tồn tại trong vũ trụ hiện tượng này.[15]

4. That the way to the cessation of suffering is by treading the noble Eightfold Path, wherein are expressed right belief, right intentions, right speech, right actions, right living, right endeavour, right-mindedness and right concentration.

4. Rằng con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ là bằng cách bước đi trên Bát Chánh Đạo cao quý, trong đó được biểu lộ niềm tin đúng, ý định đúng, lời nói đúng, hành động đúng, sinh sống đúng, nỗ lực đúng, tâm hướng đúng và tập trung đúng.

He provided a structure of truth, of dogma and of doctrine which has enabled many thousands, down the centuries, to see the light. Today Christ and His disciples are occupied (as they have been for two thousand years) with the same task of bringing enlightenment and salvation to men; blows are being struck at the world illusion, and the minds of humanity are arriving, en masse, at an increasing clarity of thought. Through the message, therefore, of the Buddha, man can, for the first time, grasp the cause of his eternal discontent, of his constant distaste and dissatisfaction, and of his endless nostalgia. From the Buddha he can learn that the way of release is to be found in detachment, dispassion and discrimination. These are the first steps on the road to Christ.

Ngài đã cung cấp một cấu trúc của chân lý, tín điều và giáo lý, nhờ đó nhiều ngàn người qua các thế kỷ đã có thể thấy ánh sáng. Ngày nay Đức Christ và các đệ tử của Ngài đang bận rộn với cùng nhiệm vụ đem giác ngộ và sự cứu rỗi đến cho con người, như Các Ngài đã làm suốt hai ngàn năm; những đòn đánh đang giáng vào ảo tưởng thế giới, và trí tuệ của nhân loại, trên quy mô tập thể, đang đạt đến một sự sáng rõ tư tưởng ngày càng tăng. Do đó, qua thông điệp của Đức Phật, lần đầu tiên con người có thể nắm bắt nguyên nhân của sự bất mãn vĩnh viễn của mình, của sự chán ghét và không thoả mãn thường trực, và của nỗi hoài vọng bất tận của mình. Từ Đức Phật, y có thể học rằng con đường giải thoát được tìm thấy trong sự tách rời, sự vô dục và sự phân biện. Đây là những bước đầu tiên trên đường đến với Đức Christ.

Through the message of Christ three general concepts emerged into the racial consciousness:

Qua thông điệp của Đức Christ, ba quan niệm tổng quát đã nổi lên trong tâm thức nhân loại:

First, that the individual, as an individual, is of value. This was a truth which the general Eastern doctrine of rebirth had tended to negate. Time was long; opportunity would endlessly recur; the evolutionary process would do its work. Let mankind therefore drift as a whole with the tide, and eventually all would be well. Hence the general attitude of the East was failure to emphasise the supreme value of any individual. But Christ came and emphasised the work of the individual, saying, “Let your light so shine before men, that they may see your good works.” (St. Matt., V, 16.)

Thứ nhất, rằng cá nhân, với tư cách một cá nhân, có giá trị. Đây là một chân lý mà giáo lý Đông phương tổng quát về tái sinh đã có khuynh hướng phủ nhận. Thời gian thì dài; cơ hội sẽ tái diễn vô tận; tiến trình tiến hoá sẽ làm công việc của nó. Vì vậy, hãy để nhân loại như một toàn thể trôi theo dòng nước, và cuối cùng mọi sự sẽ tốt đẹp. Do đó, thái độ chung của Đông phương là không nhấn mạnh giá trị tối thượng của bất kỳ cá nhân nào. Nhưng Đức Christ đã đến và nhấn mạnh công việc của cá nhân, phán rằng: “Hãy để ánh sáng của các con chiếu rạng trước loài người, để họ thấy những việc lành của các con.” (Thánh Matthew, V, 16.)

Second, the opportunity was presented to the race as a whole to take a tremendous step forward, to undergo the “new birth” or take the first initiation. This we shall deal with in our next chapter.

Thứ hai, cơ hội đã được trao cho toàn thể nhân loại để thực hiện một bước tiến vĩ đại, trải qua “sự tái sinh” hay nhận lần điểm đạo thứ nhất. Điều này chúng ta sẽ bàn đến trong chương kế tiếp.

[16] The third concept which was taught by the Christ was that which embodied the technique of the new age, which was to come when individual salvation and the new birth had been properly grasped. This was the message or command to love our neighbour as ourselves. (St.Matt., XIX, 19). Individual effort, group opportunity, and identification with each other—this was the message of the Christ.

[16] Quan niệm thứ ba do Đức Christ dạy là quan niệm hiện thân cho kỹ thuật của kỷ nguyên mới, vốn sẽ đến khi sự cứu rỗi cá nhân và sự tái sinh đã được nắm bắt đúng đắn. Đây là thông điệp hay mệnh lệnh phải yêu thương người lân cận như chính mình. (Thánh Matthew., XIX, 19). Nỗ lực cá nhân, cơ hội tập thể, và sự đồng hoá với nhau—đó là thông điệp của Đức Christ.

In the teaching of the Buddha we have the three ways in which the lower nature can be changed and prepared to be a conscious expression of divinity. Through detachment man learns to withdraw his interest and his consciousness from the things of the senses, and to turn a deaf ear to the calls of the lower nature. Detachment imposes a new rhythm upon the man. Through learning the lesson of dispassion he becomes immune to the suffering of the lower nature as he detaches his interest from secondary things and the non-essentials, and centres it upon the higher realities. Through the practice of discrimination the mind learns to select the good, the beautiful and the true. These three practices, leading to a changed attitude towards life and reality, will, when held sanely, bring in the rule of wisdom and prepare the disciple for the Christ life.

Trong giáo huấn của Đức Phật, chúng ta có ba cách nhờ đó bản chất thấp có thể được thay đổi và chuẩn bị để trở thành một sự biểu lộ có ý thức của thiên tính. Qua sự tách rời, con người học cách rút sự quan tâm và tâm thức của mình khỏi các sự vật của giác quan, và bịt tai trước những tiếng gọi của bản chất thấp. Sự tách rời áp đặt một nhịp điệu mới lên con người. Qua việc học bài học về sự vô dục, y trở nên miễn nhiễm với nỗi đau khổ của bản chất thấp khi y tách sự quan tâm của mình khỏi những điều thứ yếu và không cốt yếu, và tập trung nó vào các thực tại cao hơn. Qua việc thực hành sự phân biện, trí tuệ học cách chọn điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Ba thực hành này, dẫn đến một thái độ đổi khác đối với đời sống và thực tại, khi được giữ một cách lành mạnh, sẽ đem vào quyền cai quản của minh triết và chuẩn bị đệ tử cho đời sống Đức Christ.

Upon this racial teaching follows the work of the Christ with humanity, resulting in an understanding of the value of the individual and his self-initiated efforts at release and illumination, with the final objective of group love and group good. We learn to perfect ourselves in consonance with Christ’s injunction, “Be ye therefore perfect,” (St.Matt.,V, 48.) in order to have somewhat to contribute to the group good, and in order to serve Christ perfectly. Thus that spiritual reality, spoken of by St. Paul as “Christ in you, the hope of glory,” (Col.,I, 27.) is released in man and can manifest in full expression. When a sufficient number of people have grasped this ideal, the entire human family can stand for the first time before the portal [17] which leads to the Path of Light, and the life of Christ will flower forth in the human kingdom. Personality then fades out, dimmed by the glory of the soul, which, like the rising sun, disperses the darkness, reveals the life-situation, and irradiates the lower nature. It leads to group activity, and self, as we usually understand it, disappears. This is already happening. The final result of the work of the Christ can be seen portrayed for us in His words to be found in St. John XVII, which it would be of value to all of us to read.

Theo sau giáo huấn dành cho nhân loại này là công việc của Đức Christ với nhân loại, đưa đến sự thấu hiểu giá trị của cá nhân và các nỗ lực tự khởi xướng của y nhằm giải thoát và soi sáng, với mục tiêu cuối cùng là tình thương tập thể và lợi ích tập thể. Chúng ta học cách hoàn thiện chính mình phù hợp với huấn lệnh của Đức Christ, “Vậy các con hãy nên hoàn thiện,” (Thánh Matthew,V, 48.) để có điều gì đó đóng góp cho lợi ích tập thể, và để phụng sự Đức Christ một cách hoàn hảo. Như thế, thực tại tinh thần ấy, được Thánh Paul nói đến như “Đức Christ trong các con, niềm hy vọng của vinh quang,” (Col.,I, 27.) được giải phóng trong con người và có thể biểu hiện trọn vẹn. Khi một số lượng đủ lớn người đã nắm bắt lý tưởng này, toàn thể gia đình nhân loại lần đầu tiên có thể đứng trước cổng [17] dẫn đến Con Đường Ánh sáng, và đời sống của Đức Christ sẽ nở hoa trong giới nhân loại. Khi ấy phàm ngã mờ dần, bị làm lu mờ bởi vinh quang của linh hồn, vốn như mặt trời mọc, xua tan bóng tối, mặc khải tình thế của đời sống, và chiếu sáng bản chất thấp. Nó dẫn đến hoạt động tập thể, và cái ngã, như chúng ta thường hiểu, biến mất. Điều này đã đang xảy ra. Kết quả cuối cùng của công việc của Đức Christ có thể được thấy phác hoạ cho chúng ta trong những lời của Ngài được tìm thấy trong Thánh John XVII, mà tất cả chúng ta nên đọc.

Individuality, Initiation, Identification—in these terms the message of the Christ can be expressed. This He epitomised when on earth in the words: “I and my Father are one” (St.John., X, 30.). That great Individuality, the Christ, through the process of the five great Initiations, gave to us a picture of the stages and method whereby identification with God can be brought about. This sentence gives us the keynote of the entire Gospel story, and constitutes the theme of this book.

Cá thể tính, Điểm đạo, Đồng hoá—bằng những thuật ngữ này, thông điệp của Đức Christ có thể được diễn đạt. Điều này Ngài đã tóm lược khi còn trên Trái Đất trong những lời: “Ta và Cha Ta là một” (Thánh John., X, 30.). Cá Thể vĩ đại ấy, Đức Christ, qua tiến trình năm cuộc Điểm Đạo lớn, đã trao cho chúng ta một bức tranh về các giai đoạn và phương pháp nhờ đó sự đồng hoá với Thượng đế có thể được đem lại. Câu này trao cho chúng ta chủ âm của toàn bộ câu chuyện Phúc Âm, và cấu thành chủ đề của quyển sách này.

The interrelation of the work of the past and of the present, as given to us by the great Teacher of the East and by the Saviour of the West, can be expressed as follows:

Mối tương quan giữa công việc của quá khứ và của hiện tại, như đã được trao cho chúng ta bởi vị Huấn sư vĩ đại của Đông phương và Đấng Cứu Thế của Tây phương, có thể được diễn đạt như sau:

Đức Phật

Phương pháp

Sự dứt bỏ. Sự vô dục. Sự phân biện.

The Buddha

The Method

Detachment. Dispassion. Discrimination.

ĐỨC CHRIST

Kết quả

Chủ nghĩa cá nhân. Điểm đạo. Sự đồng nhất hóa.

The Christ

The Result

Individualism. Initiation. Identification.